Vào ngày 10 tháng 12 năm 2022, Viện trưởng trường Đại học Phật giáo Hoàng gia Thái Lan (Mahachulalongkorn Rajavidyalaya University-MCU) đã trao bằng Tiến sĩ danh dự trong lĩnh vực công tác xã hội cho Ni Trưởng Làng Mai-Sư cô Thích Nữ Chân Không để vinh danh những đóng góp của Sư cô vì hạnh phúc và lợi ích cộng đồng cho đất nước Việt Nam cũng như trên toàn thế giới.
Sư cô Chân Không sinh ngày 9/4/1938 tại Bến Tre, miền đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. Sư cô được xuất gia với Thiền sư Thích Nhất Hạnh năm 1988 trên núi Linh Thứu, Ấn Độ. Từ khi còn là cư sĩ, Sư cô đã tích cực trong các hoạt động xã hội và công tác từ thiện giúp người nghèo và trẻ em cơ nhỡ. Sau khi xuất gia, Sư cô tiếp tục hạnh nguyện giúp đời của mình qua Chương trình Hiểu và Thương với những chương trình xây cầu, đào giếng, làm nhà và trường học tình thương, cứu trợ lũ lụt,…Nay ở tuổi 84, Sư cô đang làm đẹp cho cuộc đời bằng chất liệu vững chãi, thảnh thơi và sự có mặt đầy bình an, thương yêu của mình.
Trong bài diễn văn tại buổi lễ, Viện trưởng Phra Phromwachchirathibodhi thay mặt Ban Giám học của Trường phát biểu rằng: “Từ năm 1969 đến năm 1972, Sư cô đã làm việc cùng với Thiền sư Thích Nhất Hạnh để tổ chức Phái đoàn Phật giáo Việt Nam ở Paris, Pháp nhằm vận động cho hòa bình ở Việt Nam. Sau đó, cùng với Thầy, Sư cô thành lập cộng đồng tu học đầu tiên mang tên Phương Vân Am và tiếp đến là Đạo tràng Mai Thôn vào năm 1982. Sư cô luôn là cánh tay đắc lực hỗ trợ Thầy trong công việc hoằng hóa khắp nơi. Ngoài ra, Sư cô còn tổ chức những công tác từ thiện ở Việt Nam bằng cách gửi những gói thực phẩm cứu trợ cho trẻ em nghèo và thuốc men cho người bệnh cũng như giúp thiết lập các chương trình tu học ở Làng Mai. Sư cô đã gìn giữ và góp phần nâng cao vị thế của người phụ nữ trong xã hội. Sư cô giữ kỉ luật nghiêm túc và hành xử ngay thẳng, thực tập hạnh từ bi, rộng lượng, bình đẳng đối với tất cả mọi người, mọi loài.”
Trên phương diện một người thầy tâm linh, bằng hoa trái của sự thực tập, Sư cô cũng cống hiến nhiều phương pháp thực tập thiết thực, cụ thể để giúp con người của thời đại mới đối diện với những khó khăn, tìm thấy hạnh phúc trong đời sống. Sư cô là tác giả của những cuốn sách như Làm mới, Bốn bước để thiết lập lại truyền thông, 60 năm theo thầy học đạo và phụng sự,…
Với những đóng góp của Sư cô cho đạo Bụt và xã hội, Hội đồng Trường đại học MCU đã đồng lòng trao cho Sư cô Chân Không bằng Tiến sĩ danh dự về Công tác xã hội.
Trường đại học cũng bày tỏ lòng trân trọng bằng việc cử người đại diện đến đón mừng Sư cô tại Sân bay Quốc tế Suvarnabhumi, Băng Cốc.
Vào ngày 03 tháng 09 năm 2022, tại Tu viện Bích Nham, sư cô Chân Không đã thay mặt tăng thân trao kệ truyền đăng cho hai vị xuất sĩ là sư cô Chân Nhất Nghiêm và sư cô Chân Trăng Thủy Tiên. Buổi lễ đã diễn ra trang nghiêm và ấm cúng với sự có mặt của tứ chúng.
Vào ngày 03 tháng 09 năm 2022, tại tu viện Bích Nham, Làng Mai Mỹ đã diễn ra lễ truyền đăng cho hai sư cô Chân Nhất Nghiêm và Chân Trăng Thủy Tiên. Trong buổi lễ, sư cô Chân Không thay mặt tăng thân trao đèn và kệ truyền đăng cho hai vị tân giáo thọ. Hai vị tân giáo thọ đã chia sẻ bài pháp thoại đầu tiên trong niềm hoan hỷ của đại chúng.
Dưới đây là vài hình ảnh trong ngày vui của đại chúng Bích Nham:
Đại chúng vân tập tại thiền đường Đại Đồng
Sư cô Hoa Nghiêm thỉnh đèn từ chư Tổ
Sư cô Nhất Nghiêm trình kệ kiến giải
Tiếp nhận ánh sáng của chư Tổ để tiếp nối
Sư cô Trăng Thuỷ Tiên trình kệ kiến giải của mình
Truyền đèn từ Ni trưởng Làng Mai
Bài pháp thoại chia sẻ đầu tiên của hai sư cô tân giáo thọ
Có rất nhiều vị đã từng hỏi và vẫn còn nhiều người còn đang thắc mắc rằng: sau khi Sư Ông Làng Mai viên tịch thì ai sẽ là người tiếp nối của Sư Ông? Trong một thời vấn đáp, Sư Ông mỉm cười và trả lời cho chính vị đã đặt câu hỏi rằng con chính là sự tiếp nối của Thầy, tăng thân là sự tiếp nối của Thầy.
Mạch nguồn chánh pháp vẫn lưu chuyển dù Sư Ông, Thầy Bổn Sư của quý thầy quý sư cô Làng Mai đã ẩn tàng dưới nhiều hình thức khác. Vừa qua, ngày 12 tháng 6 năm 2022, tăng thân tu viện Vườn Ươm tại Thái Lan đã có lễ xuất gia cho ba người con trai tóc còn xanh, tuổi còn trẻ. Họ đã trở thành sư chú Chân Nhất Nguyện, Chân Nhất Niệm, Chân Nhất Lưu với sự chứng minh và hộ niệm của toàn thể đại chúng xuất sĩ. Lễ xuất gia này đánh dấu một bước đi mới của toàn thể đại chúng Làng Mai, là sự tiếp nối đẹp đẽ của Thầy. Ba sư chú đã có thời gian tập sự xuất gia để được học hỏi, quan sát và sống nếp sống thiền môn cùng với tăng thân trong thời gian khó khăn của đại địch Covid 19 và cùng tham dự đại lễ Tâm Tang của Sư Ông. Trải qua bao nắng mưa, tâm bồ đề càng được nuôi lớn trong tình thương và sự nâng đỡ của tăng thân. Nay quý sư chú với nụ cười an nhiên rạng rỡ đã khoác lên mình chiếc áo của vị “xuất trần thượng sĩ”, cạo bỏ mái tóc để phát nguyện dứt hết phiền não, độ thoát cho đời.
Tại Làng Mai, lễ xuất gia thường được tổ chức cho ba vị, năm hay bảy vị, cho vài chục vị hay nhiều hơn thế nữa thì những vị ấy được gọi chung bằng một gia đình xuất gia và được tăng thân đặt tên cho gia đình ấy. Gia đình xuất gia này mang tên Cây Tùng Lọng, đây là một loài cây cao, vững chãi, với tán lá xoè ra rất rộng như một tán lọng che mát. Tên gọi của mỗi gia đình xuất gia đều mang theo niềm tin yêu, những gửi gắm của Thầy và tăng thân. Cầu chúc quý sư chú tu tập gặt hái được nhiều hoa trái, và đem yêu thương hiến tặng cho đời.
Lễ xuất gia, thọ giới Sa Di của ba sư chú Gia đình xuất gia Cây Tùng Lọng
Thầy Pháp Niệm đang làm nghi thức cắt tóc
Quý sư chú nhận Y Sadi của mình
Ba sư chú mới chụp hình cùng huynh đệ và người thân
Thiền trà mừng các vị xuất sĩ mới gia nhập vào tăng đoàn
Người mẹ nào cũng hạnh phúc với niềm vui của con mình
Nụ cười an nhiên của ba sư chú mới Chân Nhất Nguyện, Chân Nhất Niệm, Chân Nhất Lưu
(Tríchpháp thoại ngày 14 tháng 08 năm 1997của Thiền sư Thích Nhất Hạnh)
Trong các pháp môn thực tập, chúng ta có thiền tọa, thiền hành và nhiều pháp môn khác. Khi tới Làng Mai, quý vị học được cách ngồi thiền, đi thiền, cách ăn cơm, lắng nghe và nói năng có chánh niệm. Những phương pháp đó chúng ta phải học và phải nắm cho vững.
Theo kinh nghiệm của những người thực tập ở đây thì ngồi thiền không đủ sức để chuyển hóa tập khí của mình, dù cho mỗi ngày mình ngồi 4-5 giờ. Đó là điều chắc chắn. Vì nếu ngồi 5 hoặc 6 giờ một ngày mà những giờ còn lại không thực tập thì những tập khí vẫn thúc đẩy, dẫn dắt mình đi theo những nẻo xấu như thường. Có những người ngồi thiền rất gắt, rất nghiêm túc, ngồi như một tảng đá, nhưng đến khi hết ngồi thiền thì họ lại lăng xăng như cũ. Dường như sự sống trong giờ ngồi thiền không ảnh hưởng gì đến sự sống trong những giờ không ngồi thiền. Muốn cho sự thực tập có chuyển hóa, chúng ta phải thực tập cả 24 giờ một ngày và thiền tọa chỉ là một phần nhỏ của sự thực tập mà thôi. Cơ thể chúng ta có nhiều tư thế. Chúng ta có thể đặt cơ thể trong tư thế ngồi, nằm, đứng, đi hay làm việc. Bất kể trong tư thế nào cũng phải có sự thực tập. Chỉ thực tập cả ngày mới chuyển hóa được bởi vì tập khí và thói quen trong ta rất mạnh.
Thực tập trong mỗi giây phút
Những người học trò biết thực tập cả ngày là những học trò thương của tôi. Đó là những người trong khi đi, đứng, làm việc đều theo dõi hơi thở, có thực tập quán chiếu cảm thọ, tri giác của mình. Tôi không tin lắm vào những người chỉ ngồi thiền mà không thực tập trong các giây phút khác của đời sống hằng ngày. Những người nào nghe lời Thầy mà thực tập thiền hành, theo dõi hơi thở trong lúc làm việc trong bếp, ngoài vườn hay trong văn phòng thì những người đó là những người được Thầy tin cậy nhất tại vì người đó sẽ đi tới chuyển hóa được. Có những người có thể rất đảm đang, làm việc rất giỏi, ngồi thiền và tụng kinh rất nghiêm túc, nhưng nếu những người đó không thực tập trong đời sống hằng ngày thì tôi không tin tưởng những người đó mấy. Vì tôi biết rằng thực tập 2, 3 hay 5 giờ đồng hồ một ngày không đủ để chuyển hóa. Vậy nên nếu quý vị muốn đi tới sự chuyển hóa trong chiều sâu tâm thức của mình thì không thể nào thực tập sơ sơ, mỗi ngày ngồi thiền nửa giờ, một giờ hoặc là hai giờ được. Quý vị phải thực tập lái xe, nấu cơm, quét nhà, rửa chén, lên hay xuống cầu thang trong chánh niệm thì mới có thể đạt tới sự chuyển hóa.
Nếu may mắn có một tăng thân hay một gia đình cùng thực tập với mình thì quý vị có thể đi đến chuyển hóa rất mau chóng. Còn nếu quý vị “đơn thân độc mã”, thực tập một mình thì trong một vài tuần hoặc vài tháng, quý vị sẽ rơi vào quên lãng và bị kéo theo nếp sống gọi là thất niệm của xã hội mà thôi. Quý vị đã tới Làng, sau một tháng những tâm tư trong lòng đã nhẹ đi rất nhiều và nghĩ rằng về nhà mình có thể giữ được sự nhẹ nhàng, sự chuyển hóa đó nhưng cũng chưa chắc. Ở đây mọi thứ đều dễ dàng vì người nào cũng biết đi thiền hành, thiền tọa và giữ năm giới. Không ai buông lung cho những hình ảnh hay âm thanh trái với chánh pháp xâm nhập lỗ tai và con mắt của mình, thành ra mình thực tập giống như chơi. Khi về tới nhà, năng lượng mình có do thực tập với tăng thân có thể giúp mình an trú được trong vài tuần nhưng từ từ mình bị những thứ trong đời sống hằng ngày kéo đi. Mình đánh mất sự thực tập trong vài tháng sau. Cho nên thực tập với tăng thân rất quan trọng.
Chúng ta phải tổ chức đời sống sao cho cả gia đình cùng thực tập và duy trì sự thực tập thì mới mong đạt tới sự chuyển hóa lâu bền và sâu đậm. Mình biết rằng phải hiểu mới thương được nhưng đâu phải chỉ muốn là được. Muốn hiểu được người kia mình phải có công phu, phải sống ngày này qua ngày khác, phải quán chiếu, tìm tòi và nhìn sâu để hiểu tại sao người đó có tật xấu, có thói quen đó và nó bắt đầu từ lúc nào. Mình nhận diện những thói quen, tật xấu của người kia và đồng thời thấy được những thói quen, tật xấu của chính mình. Mình phải nói với người kia rằng: “Em đang có những thói quen, tật xấu như vậy và em đang cố gắng để chuyển hóa. Mỗi lần anh thấy thói quen, tật xấu đó của em hiện ra thì anh hãy giúp em bằng cách giơ ngón tay lên và mỉm cười thì em sẽ biết. Em cũng rất muốn chuyển hóa nó nên thay vì trách móc thì xin anh hãy làm như vậy để giúp em ngừng lại. Em sẽ trở về ôm lấy nó để chuyển hóa.” Đó là phương pháp rất hay. Mình là người thương của nhau, muốn giúp cho nhau thì mình phải làm một cách thông minh như vậy. “Em cũng hứa rằng khi thói quen, tật xấu của anh bắt đầu hiện ra thì em sẽ không buồn, không la lối hay phản đối mà em sẽ giơ ngón lên và mỉm cười để giúp anh”.
Đem tuệ giác áp dụng vào đời sống
Khi nghe Thầy giảng, ta có thể hiểu và bớt khổ liền lập tức. Điều đó có thể xảy ra vì chúng ta bắt đầu có tuệ. Tuệ tức là những cái thấy sáng. Nhưng mà chỉ thấy thôi vẫn chưa đủ. Chúng ta phải đem chúng áp dụng vào đời sống hằng ngày. Những cái thấy đó phải được sống trong lúc mình rửa chén, nấu cơm, làm vườn hay lái xe. Nhờ sự thực tập trong đời sống hằng ngày mà mình đi tới sự chuyển hóa vững chãi. Không chỉ nghe và hiểu được những lời Thầy giảng, cởi mở được trái tim là đã đủ. Tập khí có thể trở lại và làm mất đi tuệ giác, mất đi sự giác ngộ của mình. Trong lúc mình đọc kinh, nghe băng giảng, nghe Thầy giảng hay đi thiền hành mà có một cái thấy nào đó đi lên thì mình phải lập tức viết cái thấy của mình lại. Tuệ giác đó là một điều rất cụ thể. Ví dụ mình đang có khó khăn, khổ đau khi sống với một người nào đó. Hôm nay đi thiền hành, mình thấy ra rằng nếu mình nói năng, hành xử với người đó theo cách khác thì sẽ bớt khó khăn cho đôi bên, giúp người đó và mình bớt khổ. Thấy được như vậy thì mình phải lập tức viết cái thấy đó xuống một trang giấy. Cái thấy đó có thể cứu mình ra khỏi tình trạng khó khăn của bản thân. Mỗi buổi sáng mình có thể đem nó ra đọc hoặc trong giờ ngồi thiền có thể đem ra để ôn lại. Mình quyết tâm sống ngày hôm nay theo đúng tuệ giác mà mình đã thấy khi đọc kinh hay ngồi thiền.
Nhiều khi sự giác ngộ đó có thể không phải do Thầy nói mà do chính mình tìm ra. Nhưng dù cho cái thấy đó là từ tâm phát ra mà mình không đem áp dụng vào đời sống hằng ngày thì cũng không có sự chuyển hóa. Thấy đạo nhưng phải hành đạo. Thấy thôi thì chưa đủ. “Kiến đạo” cần đi kèm với “tu đạo” rồi mới “chứng đạo” được. Ví dụ khi sống với một người, thỉnh thoảng mình hay bực bộivới lời nói và việc làm của người đó. Hôm nay, lúc đang rửa chén trong chánh niệm mình tìm ra cách là mỗi khi người đó nói mà mình thấy hơi bực thì mình lập tức thở, không tiếp tục suy nghĩ đến lời nói của người đó nữa. Chỉ thở và mỉm cười. Có những bài hát có thể giúp mình thực tập như bài “Quay về nương tựa”. Khi thấy sự bực bội bắt đầu nhen nhóm trong tâm, mình có thể thở theo bài hát:
Quay về nương tựa hải đảo tự thân
Chánh niệm là Bụt soi sáng xa gần…
Hay: Thở vào, thở ra là hoa tươi mát..
Nếu nắm được lời của bài hát mà thở thì mình không nói ra những điều tai hại có thể làm đổ vỡ mối liên hệ của mình và người đó. Trong khi rửa chén mình quyết định như vậy thì lúc rửa chén, lau tay xong, mình viết và bỏ vào trong túi, để nó làm vật tùy thân như là chiếc đồng hồ của mình vậy. Mỗi khi người đó nói hay làm một điều gì khiến mình bực thì mình lấy nó ra, nhìn vào những gì đã viết và mỉm cười. Người đó không biết là tại sao mình mỉm cười và mỉm cười với cái gì. Người đó chỉ thấy rằng sau khi mỉm cười thì mình bắt đầu thực tập thở. “Thở vào, thở ra là hoa tươi mát”. Chúng ta có thể ngồi đó hay là đi ra ngoài vườn để thực tập. Thực tập như vậy là thực tập Ba La Mật và mình vượt ra khỏi sự bực bội trong tâm. Nếu làm được thành công một lần rồi thì mình có thể làm lần thứ hai. Mình có thể bỏ miếng giấy đó trở lại vào túi để mỗi khi cần thì lấy ra lại. Giống như mỗi khi đi làm về, mình lấy chìa khóa ra mở cửa và vào nhà, miếng giấy nhỏ đó cũng là một loại chìa khóa giúp mình mở cửa bước vào căn nhà “vô sân”, nghĩa là căn nhà của sự không sân giận. Cái đó gọi là tụng kinh. Mỗi khi người đó tưới hạt giống giận của mình thì mình nhắc người kia: ”Anh đã được nghe Thầy giảng rồi mà, nếu anh thương em thì đừng tưới hạt giống đó của em”. Sau khi nhìn vào tờ giấy, sự sân giận đã dịu bớt, mình ngẩng đầu lên, vừa cười vừa nói như vậy với người kia thì mình tước khí giới của người kia liền lập tức vì người kia cũng đã được nghe giảng, cũng đã biết sự thực tập rằng thương nhau thì không nên tưới tẩm hạt giống tiêu cực của nhau. Sống với nhau mà mỗi ngày mình tưới tẩm hạt giống giận cho nhau thì không thể ở với nhau lâu dài được.
Thiền lái xe và thiền rửa chén
Những cái thấy, những tuệ giác đó nhiều khi mình có nhưng mình không sống được với nó. Lâu lâu tới chùa để nghe Thầy giảng cho bớt khổ nhưng nếu chùa hơi xa, Thầy hơi xa thì mình than phiền rằng mười mấy năm nay Thầy hứa mà Thầy không trở về nước Úc gì cả. Kỳ thực Thầy nằm ở trong túi mình đó. Mỗi khi muốn có Thầy thì lấy tờ giấy ấy ra, nhìn vào, thở và mỉm cười thì Thầy có mặt với mình ngay lập tức và mình giải quyết được vấn đề. Mình không cần phải chạy đến Làng Mai mới giải quyết được. Làng Mai nằm trong túi của mình, nằm trong trái tim của mình. Vì vậy phải tổ chức đời sống một cách thông minh. Khi từ Làng về tới thành phố, về tới nơi ở rồi, mình ngồi xuống và làm ra một phương án để áp dụng những gì đã học được vào đời sống. Ví dụ mỗi khi lái xe đến ngã tư, gặp đèn đỏ, thay vì bực bội, mình ngả lưng ra ghế, buông thư hai chân và hai tay, mỉm cười với đèn đỏ và thở theo bài “Quay về nương tựa hải đảo tự thân”. Thầy đã dạy như vậy rồi mà. Có những người nhìn đèn nhấp nháy của xe trước mặt thấy như là Thầy đang nháy mắt với mình, đang ra hiệu cho mình thở. Có những người thực tập được như vậy thì tại sao mình không thực tập như vậy. Ban đầu khi chưa nhớ thực tập, mình có thể dán một tờ giấy với dòng chữ “Đèn đỏ thì thở” trên vô lăng hay trên kính xe. Mỗi lúc gặp đèn đỏ, nhìn miếng giấy đó, mình nhớ thở. Mình làm cho đến khi nào việc thở khi gặp đèn đỏ trở thành một thói quen thì mình lấy miếng giấy đó xuống và bỏ đi. Mỗi khi tới một cái đèn đỏ là mình có cơ hội để thở. Những lúc như vậy thì Thầy ngồi bên cạnh mình chứ không đâu xa.
Thầy cũng dạy cho mình cách rửa chén sao cho có an lạc và hạnh phúc ngay trong khi rửa chén. Mình có thể rửa chén lâu hơn một chút nhưng trong đó có sự sống, có an lạc. Nếu trong lúc đó mà bực bội, giận hờn, buồn bã thì mình đang đánh mất và tiêu diệt sự sống, đánh mất sự an lạc của mình. Như vậy là mình chưa học được gì từ Thầy. Khi đã ý thức rồi thì mình bắt đầu rửa chén một cách kính cẩn như là đang tắm cho một đức Bụt sơ sinh. Mình có an lạc, hạnh phúc ngay trong khi rửa chén. Ngày xưa Thầy rửa chén cho đại chúng một trăm người mà không có nước nóng hay xà phòng, chỉ có tro bếp và xơ dừa thôi. Bây giờ mình rửa chén có xà phòng, nước nóng, có đủ thứ hết mà tại sao không có hạnh phúc trong lúc đó. Nếu mình tự hỏi câu hỏi đó thì rửa chén trở thành ra một phương pháp thực tập. Mình có thể viết một mảnh giấy nhỏ “Rửa chén cho có hạnh phúc” ngay nơi rửa. Chỉ khi nào đạt tới thói quen rửa chén có hạnh phúc rồi, mình mới gỡ tờ giấy ấy ra. Thực tập được như vậy thì bất cứ lúc nào mình mở nước ra chuẩn bị rửa chén thì Thầy, Bụt cũng đứng đó rửa chén với mình và mình có hạnh phúc.
Thiền điện thoại
Thầy đã dạy và mình đã học được phương pháp nghe chuông điện thoại. Mỗi khi có người gọi đến là một cơ hội cho mình dừng lại để thở, mỉm cười. Khi về nhà, mình nên tìm cách thuyết phục mọi người thực tập chánh niệm khi nghe chuông điện thoại. Nếu thực tập được điều này trong gia đình thì chỉ nội trong vài ngày không khí gia đình đã dễ chịu hơn rồi. Khi chuông điện thoại vang lên thì tất cả mọi người đều ngồi yên tại chỗ của mình. Người nào cũng thở và mỉm cười hết. Và nếu trong nhà của mình đang có một người khách, người đó có thể sẽ ngạc nhiên và hỏi rằng tại sao tiếng chuông điện thoại vang lên mà ai cũng ngồi yên, không nói năng gì cả. Mình có cơ hội giải thích cho người đó về thiền điện thoại. Lần tới, khi người đó gọi đến, nghe tiếng đổ chuông thì biết là mọi người trong gia đình đang thở. Vào lúc ấy, người ấy cũng sẽ thở vì biết rằng trước khi ba tiếng chuông kết thúc thì sẽ không ai nhấc máy lên. Ai cũng thở và mỉm cười thì tại sao mình không làm tương tự? Và sự thực tập sẽ lan tới những người khác.
Trong một khóa tu trước, Thầy có kể chuyện về cái cầu thang. Nhiều sư cô, sư chú ở Làng đã kí Hiệp ước với cái cầu thang. Mỗi khi đi lên hay xuống cầu thang là họ đi trong chánh niệm. Đi từng bước thong thả để có sự sống, an lạc, thanh tịnh và sự dừng lại. Nếu đi nửa chừng mà biết rằng mình đã bước một, hai bước trong thất niệm thì không bước tiếp nữa, đi trở lui xuống để bước lên lại. Nếu nhà mình không có cầu thang, mình có thể kí hiệp ước với một đoạn đường nào đó. Mỗi khi đi trên đoạn đường đó, mình phải đi những bước có chánh niệm, thảnh thơi và vững chãi. Nếu đi được nửa chừng mà mình thấy phẩm chất của những bước chân không được như vậy thì mình không đi tiếp nữa mà quay trở lui lại về nơi bắt đầu để bước lại những bước chân thật sự có ý thức. Sau một thời gian thực tập, đi bất cứ đâu mình cũng bước được những bước chân vững chãi như vậy, nắm được thân và tâm của mình. Thầy cũng kí hiệp ước với cầu thang và thực tập đi như vậy trong suốt hai mươi năm mà chưa bao giờ phản bội lời ước nguyện của mình với cái cầu thang cả. Đi đâu Thầy cũng đi thảnh thơi, an lạc, không chạy như bị ma đuổi nữa vì Thầy đã thành công trong hiệp ước với cái cầu thang. Nhà nào không có cầu thang, ít nhất cũng có con đường đi từ ngoài cổng vào nhà. Tại sao mình không dùng để làm nấc thang cho con đường chuyển hóa của mình? Đừng nói rằng ở chỗ của tôi không tu được. Chỗ nào cũng tu được.
Chúng ta để cho ai quản lý cuộc đời của mình? Cuộc đời chúng ta, chúng ta phải tự quản lý. Chúng ta phải dùng hết tài năng, sự thông minh để tổ chức cuộc đời của mình. Chúng ta không thể đi tìm sự giải thoát ở một nơi nào khác. Trong gia đình không có hạnh phúc nên mình tìm tới học đường. Ở học đường không có hạnh phúc, mình tìm tới nhà thờ. Tới nhà thờ không có hạnh phúc, mình tìm đến chùa. Nếu tới chùa không có hạnh phúc nữa thì mình đi đâu? Bất cứ trong một trường hợp hay hoàn cảnh nào, chúng ta cũng phải phá một đường thoát, tìm nó ngay trong hoàn cảnh đó chứ đừng chạy trốn. Nếu chúng ta chạy quanh thì chúng ta sẽ đi về đâu? Chúng ta sẽ không đi về đâu hết. Khi về tới nhà chúng ta tổ chức như thế nào để có thể tiếp tục áp dụng những pháp môn mà chúng ta học được ở Làng Mai như thiền điện thoại, thiền lái xe, thiền hành vào trong đời sống hằng ngày. Nếu biết tu thì bất kì một gốc cây, tảng đá, một con đường hay một mảnh trời xanh đều có thể trở thành ra một phương tiện cho mình tu học cả.
Lễ Phó pháp truyền đăng là một truyền thống sinh hoạt rất đẹp, rất đặc thù và có ý nghĩa trong đạo Bụt. Ở Làng Mai, trong buổi lễ này mỗi vị giáo thọ đắc pháp đều được nhận một cây đèn và một bài kệ truyền đăng. Cây đèn tượng trưng cho ánh sáng chánh pháp, là ngọn đèn tuệ giác chư Bụt, chư Tổ và Thầy trao truyền lại. Bài kệ với tên của người được truyền đăng là những hạnh nguyện, những lời gửi gắm, nhắn nhủ từ Thầy và tăng thân đến vị giáo thọ mới.
Dưới đây là những bài kệ truyền đăng trong khóa tu An cư diễn ra vào ngày 13 tháng 11 năm 2022 tại Làng Mai Pháp:
Mùa an cư đã đi được hai phần ba chặng đường. Đại chúng ai cũng hết lòng đầu tư thời gian và năng lượng vào sự thực tập. Dù cho nắng hay mưa, yên bình hay gió bão, nhịp sống vẫn trôi chảy và thời khóa cứ miên mật đưa con thuyền Tăng thân đi tới. Kho tàng của nếp sống tỉnh thức Thầy trao, chúng con đang cùng nhau gìn giữ. Ngọn đèn tâm ngày trước Thầy thắp sáng giờ đây tiếp tục được cháy lên trong lòng tăng thân khắp chốn.
Vào ngày 13 tháng 11, thầy Pháp Ứng và sư cô Chân Không đã thay mặt tăng thân thực hiện truyền đăng phó pháp cho 5 vị giáo thọ xuất sĩ và cư sĩ mới. Từ giây phút ngọn đèn tuệ giác được tiếp nhận, dòng chảy chánh pháp có cơ hội lưu nhuận xa hơn đến mọi nẻo đường sự sống nhờ vào nếp sống tỉnh thức và ngọn lửa bồ đề tâm nơi mỗi người con Bụt.
Trong buổi lễ, sư cô Chân Không đã gửi những những lời chia sẻ đầy tình thương và niềm tin đến những vị giáo thọ mới: “Ngọn đèn trí tuệ này đã được gìn giữ qua nhiều thế kỉ bằng sự thực tập Giới, Định, Tuệ của liệt vị tiền nhân. Hãy mang nó về đất nước của con để nó lan tỏa đến với mọi người thuộc những truyền thống tâm linh khác nhau.”
Dưới đây là một vài hình ảnh của buổi lễ:
“Trầm hương xông ngát điện. Sen nở Bụt hiện thân”
Năm vóc sát đất, con tiếp xúc với hai dòng tổ tiên tâm linh và huyết thống
Thầy Pháp Hữu thay mặt tăng thân thỉnh Tổ đăng
Lửa truyền lửa, tâm ấn tâm, ngọn đèn chánh pháp tiếp tục soi sáng thế gian
Thở vào, con thấy rằng đây là giây phút huyền thoại
Sư cô Trăng Tin Yêu trình kệ kiến giải
“Con xin phép trình lên Bụt, liệt vị Tổ sư, Thầy và tăng thân bài kệ kiến giải của con”
“Ngọn đèn này được các thế hệ Tổ sư giữ gìn bằng chính đời sống của liệt vị, nay trao lại cho con”
Đệ tử tâm thành hướng về Tam Bảo
Tiếp Hiện Chân Quang Trang trình kệ kiến giải
Bài kệ được minh họa bằng hình vẽ Đất Mẹ xanh tươi, đầy sức sống
Tiếp Hiện Chân Hạnh Toàn trình kệ kiến giải
Tiếp Hiện Chân An Đạo trình kệ kiến giải
Các vị tân Giáo thọ cùng thị giả đảnh lễ Tam bảo
Thầy Pháp Hữu thỉnh Tổ đăng trở lại bàn thờ Tổ sư
Niềm vui thắp sáng nụ cười
Hạnh phúc lan tỏa trên những gương mặt rạng rỡ
Các vị tân Giáo thọ lưu giữ khoảnh khắc đẹp cùng Sư cô Chân Không
Tăng thân khắp chốn đoàn tụ một nhà trong ngày Lễ truyền đăng
Những năm gần đây, Black Friday (Ngày thứ 6 đen tối) đã dần trở nên quen thuộc hơn với nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Black Friday là ngày thứ sáu ngay sau Lễ Tạ Ơn (một ngày lễ hằng năm được tổ chức chủ yếu tại Mỹ và Canada, rơi vào thứ năm cuối cùng của tháng 11), đây được coi là ngày mở đầu cho mùa mua sắm Giáng sinh ở Mỹ. Các doanh nghiệp, các cửa hàng đều giảm giá mạnh để khuyến khích người tiêu dùng mua sắm. Việc mua sắm này thường được miêu tả là dấu hiệu của một nền kinh tế phát triển và là một hình thức tận hưởng ngày nghỉ lễ.
Tuy vậy, dồn hết năng lượng và bỏ nhiều thì giờ vào việc mua sắm có thể tưới tẩm những hạt giống thèm khát, giận dữ và cả lo lắng trong chúng ta. Cảnh tượng những bảng giảm giá có mặt khắp nơi hay người người chen chúc, đổ xô vào các cửa hàng trong ngày Black Friday ngày càng phổ biến trên các đường phố. Sự sản xuất và tiêu thụ thiếu chánh niệm của xã hội hiện nay đang làm dấy lên những lo ngại về sinh môi cũng như tương lai của Trái đất. Sức hút của sự tiêu thụ rất lớn, chỉ có năng lượng chánh niệm và ý thức chung của cộng đồng mới đủ khả năng kháng cự lại.
Vào ngày 25/11/2022, lúc 9h00 sáng (giờ ở tu viện Lộc Uyển), tương đương với khoảng 00h00 (giờ Việt Nam) ngày 26/11/2022, quý thầy, quý sư cô tại Tu viện Lộc Uyển, Làng Mai, Mỹ sẽ hiến tặng một buổi gặp gỡ trực tuyến với chủ đề “Brown Friday” (ngày thứ 6 màu nâu). Với việc thắp sáng ngọn đuốc chánh niệm nơi tự thân, mỗi cá nhân sẽ góp phần chuyển đổi nếp sống tiêu thụ của xã hội đi về hướng giản đơn, chừng mực với tượng trưng là màu nâu bình dị-màu áo của những người nông dân cũng như của những vị xuất sĩ Làng Mai.
Trong khung cảnh một buổi tối đầm ầm chúng ta sẽ có mặt, thưởng thức một tách trà nóng, chia sẻ về hành trình tâm linh hay những kinh nghiệm xung quanh việc sở hữu hay buông bỏ một món đồ. Cùng nhau, chúng ta chống lại cám dỗ của nhu yếu tiêu thụ, thiết lập lại chủ quyền cũng như có cơ hội khám phá ra rằng mình đã có đủ những điều kiện hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại.
Buổi gặp mặt sẽ chủ yếu bằng tiếng Anh với thông dịch tiếng Việt, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp.
(Bài viết được chuyển ngữ bởi An Ban Team, Wakeup schools Việt Nam)
Richard Brady (Chân Pháp Kiều) là một giáo viên toán trung học đã nghỉ hưu, và là một giáo thọ cư sĩ của Làng Mai. Richard cũng là người hướng dẫn khóa tu, là nhà văn, nhà tư vấn giáo dục và điều phối viên của Chương trình Wake Up Schools (cấp độ II) ở Bắc Mỹ. Gần đây ông đã viết một cuốn sách có tựa đề “Walking the Teacher’s Path with Mindfulness” (tạm dịch: “Bước đi trên con đường nhà giáo cùng chánh niệm”). Đây là đoạn trích của một cuộc phỏng vấn do Kaira Jewel Lingo thực hiện vào tháng 8 năm 2021, được tổ chức bởi Wake Up Schools, Làng Mai. Các bạn có thể xem toàn bộ cuộc phỏng vấn tại youtu.be/o68kYh2N_U4.
Đi tìm con đường chánh niệm
Thưa bác, nhân duyên nào đưa bác đến với con đường chánh niệm và sự thực tập chánh niệm đã giúp bác thay đổi ra sao?
Năm 1987, tôi tìm thấy cuốn sách Phép lạ của sự tỉnh thức. Khi đọc câu chuyện đầu tiên trong cuốn sách về cách làm sao tìm được thời gian không có giới hạn cho chính bản thân, tôi đã nghĩ, tôi cần mang cuốn sách này vào lớp toán và đọc cho học sinh của mình. Tôi tin các em sẽ nhận được rất nhiều lợi ích từ việc này. Học sinh có quá nhiều bài vở và chịu áp lực học hành khá lớn nên việc chạm vào được thời gian không giới hạn cho bản thân sẽ là món quà tuyệt vời nhất mà tôi có thể dành cho các em.
Mỗi ngày đến lớp, tôi bắt đầu tiết học với một trích đoạn trong cuốn sách. Khi nghe hết cuốn sách đó, các em nói là thích nghe một cuốn sách khác. Vậy là tôi đọc tiếp cuốn Trái tim mặt trời. Lúc đó, đọc sách của Thầy đối với tôi giống như đọc sách khoa học viễn tưởng vậy, bởi tôi không thấy bất kỳ ai sống theo cách Thầy mô tả, và cũng không biết làm thế nào mà có thể sống theo cách đó.
Vào cuối năm học, các học sinh cuối cấp được phép thực hiện các dự án đặc biệt, sau đó báo cáo kết quả dự án với cả lớp. Tôi rất xúc động khi nghe một em chia sẻ về hai tuần của mình tại một trung tâm thiền ở Washington, DC, nơi em đến mỗi ngày để thực tập và phụ giúp công việc. Quay trở lại trường, em ấy nhìn thật rạng rỡ và tràn đầy năng lượng. Trong phần hỏi đáp, một bạn trong lớp hỏi em: “Chris, mình thấy bạn dường như đã thay đổi sau trải nghiệm này. Bạn đã dành rất nhiều thời gian để ngồi thiền, nhưng điều gì thật sự làm cuộc sống của bạn thay đổi?” Chris suy nghĩ một phút và trả lời: “Chánh niệm đã làm thay đổi cuộc sống của mình theo nhiều cách. Rất khó diễn đạt thành lời! Nhưng mình có thể nói là mình bớt nóng tính hơn”. Khi nghe câu trả lời của Chris, tôi nghĩ: “Đây là người thầy của tôi!” Tôi nói với Chris, “Thầy cần phải làm những gì em đang làm. Thầy cần bắt đầu thực tập thiền”.
Đó là khởi đầu dẫn dắt tôi đến với Thầy – Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Mọi thứ sau đó dường như là định mệnh.
Đem chánh niệm vào trường học
Thưa bác, bác đã bắt đầu đưa sự thực tập chánh niệm vào trường học như thế nào và nó tác động đến các học sinh ra sao?
Khi gặp được Thầy và bắt đầu con đường thiền tập, tôi vẫn chưa sẵn sàng mang pháp môn này vào trường Quaker, nơi tôi giảng dạy. Lúc ấy, tôi chưa thấy cơ hội nào thuận tiện và sự thực tập của tôi còn rất non yếu. Vì vậy, tôi chỉ chuyên tâm thực tập. Một vài năm sau, trường đưa ra một khóa học mới, có tính bắt buộc, dành cho học sinh lớp chín. Khóa học này có một học phần về sức khỏe. Tôi đến gặp giáo viên dạy môn đó và hỏi liệu tôi có thể dạy một buổi về cách giảm căng thẳng không? Cô bạn đồng nghiệp hoan hỷ yểm trợ. Thế là tôi bắt tay soạn giáo án.
Tôi chỉ có 45 phút, vì vậy bất cứ điều gì tôi làm cần phải gây một ấn tượng đáng nhớ trong lòng các em. Tôi tự hỏi, các em thực sự quan tâm đến điều gì? Frank McCourt, tác giả của cuốn “Teacher Man” (Người thầy – Hồi ức của một nhà giáo Mỹ), cho rằng có hai thứ mà học sinh trung học của ông quan tâm: tình dục và thức ăn. Còn đối với tôi, tôi muốn thêm một điều, đó là các em rất muốn tìm hiểu chính mình. Các em là những đứa trẻ mười bốn tuổi đang cố hình dung xem mình là ai. Vậy thì tại sao tôi không thử mời các em khám phá tâm trí của chính các em?
Tâm trí thường là một phần chưa được biết, chưa được khám phá của chính chúng ta. Chúng ta biết cách sử dụng nó nhưng lại không biết điều gì đang diễn ra bên trong. Vì vậy, tôi mời các em học sinh làm một bài thực hành, đó là quan sát điều gì xảy ra trong tâm trí của mình trong vòng năm phút. Tôi so sánh tâm trí như một sân khấu nơi sẽ xuất hiện những vai diễn khác nhau. Nhân vật sẽ ở đó một lúc, rồi sẽ rời đi. Sau đó, tôi mời cả lớp cùng chia sẻ về những gì các em có thể nhìn thấy trên sân khấu của chính mình. Các em nhận ra là mình có ý thức hơn về những cảm xúc, suy tư, những cảm giác đến từ bên trong cũng như từ những tác động của thế giới bên ngoài.
Các em được hướng dẫn là chỉ tập trung chú ý đến những gì đi lên trong tâm trí mà thôi. Tôi hỏi: Các em có nghĩ là trên sân khấu có thể có nhiều diễn viên xuất hiện cùng một lúc không? Hầu như các em đều trả lời rằng điều đó có thể xảy ra, nhưng các em không chắc. Sau đó tôi lại hỏi: liệu sân khấu có thể để trống trong một thời gian hay không? Chỉ có một vài em nghĩ rằng điều này là có thể. Sau khi cả lớp thử nghiệm quan sát tâm trí của mình, tôi chuyển sang câu hỏi: Có bao nhiêu người đã có suy nghĩ hoặc cảm xúc tiêu cực trong năm phút vừa qua? Hầu như các em đều trả lời có. Những suy nghĩ đều liên quan đến những việc chưa xảy ra, những việc đã xảy ra, hoặc một vấn đề có thể liên quan đến bạn bè hoặc cha mẹ, và đôi khi là một vấn đề đang xảy ra ngay thời điểm hiện tại khi mà các em không thích những gì mình đang làm. Vì vậy, thật dễ dàng để tôi bắt đầu chia sẻ với các em về những gì đang diễn ra trong tâm trí ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống của các em.
Khi có nhiều suy nghĩ tiêu cực đi lên trong tâm trí, có thể ta sẽ cảm thấy chán nản nếu ta chú ý quá nhiều đến chúng, trừ khi ta có thể làm gì đó với những suy nghĩ này. Vì vậy, tôi đã nói: “Có một điều các em có thể làm!” Và chúng tôi đã cùng nhau thực hành một bài thiền tập ngắn:
Thở vào, tôi thấy tôi là bông hoa. Thở ra tôi cảm thấy tươi mát. Thở vào, tôi thấy tôi là trái núi. Thở ra, tôi cảm thấy vững vàng.
Qua bài thực hành, các em bắt đầu nhận thấy tâm trí có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến cuộc sống của mình. Và các em biết rằng mình có thể làm một điều gì đó để tâm trí trở nên cởi mở, tích cực hơn.
Nhiều năm sau, một số em khi về thăm tôi còn nhắc lại kỷ niệm cả lớp cùng nghe một đoạn trích trong các tác phẩm của Thầy vào đầu buổi học. Có em thì nhớ những điều tôi đã chia sẻ trong các tiết học về giảm căng thẳng. Tôi nhận thấy rằng giảm căng thẳng không chỉ là vấn đề của trường học mà thôi. Thực ra, cả thế giới đang trong tình trạng căng thẳng. Tôi có thể thấy chánh niệm sẽ trở thành một con đường hết sức quan trọng, giúp ta chủ động đối diện với những khó khăn, thách thức trong thế giới mà tất cả chúng ta đang bước vào.
Trong hai năm cuối trước khi về hưu, tôi đã bước thêm một bước nữa. Tôi được nhà trường cho phép bắt đầu mỗi tiết học của mình với năm phút thực tập chánh niệm. Đôi khi tôi cho các em đọc một bài thơ hoặc một truyện ngắn của Thầy cũng như của nhiều tác giả khác. Mỗi tuần một lần, các em có giờ “tự do sáng tác” (“free writing”). Trong giờ đó, các em được hướng dẫn ghi lại bất cứ cái gì đi lên trong đầu mình trong vòng năm phút. Đây là một trải nghiệm có tính cách mạng đối với nhiều em. Cuối năm học, các em đã viết thư kể cho tôi nghe những đột phá quan trọng, cũng như những điều các em thấy được về chính mình trong quá trình viết hay sáng tác trong chánh niệm.
Chánh niệm và toán học
Thưa bác, là một giáo viên dạy toán, làm thế nào mà bác có thể kết nối chánh niệm với toán học trong việc giảng dạy của mình?
Ban đầu, việc kết nối chánh niệm với toán học quả là một thách thức đối với tôi. Bởi vì toán học tập trung vào việc phân tích và tìm câu trả lời. Toán học hướng đến điểm cuối cùng, đến kết quả. Trong khi đó, chánh niệm lại là sự có mặt trong từng khoảnh khắc và có mặt cho bất cứ điều gì đang biểu hiện. Điều quan trọng đối với tôi trong việc giảng dạy là giúp các em học được cách ngồi yên và nhìn sâu vào một bài toán, mặc dù chưa có đáp án, hoặc chưa tìm ra phương pháp để giải nó. Em chỉ cần ngồi với bài toán mà không cảm thấy rằng em sẽ bị phạt nếu em không tìm ra đáp án.
Trên thực tế, đôi khi tôi sẽ hỏi: “Câu hỏi nào đi lên trong các em khi nhìn vào bài toán này? Cái gì đi lên trong đầu các em?” Tôi muốn các em học cách suy tư và thấy rằng các em có thể ngồi với một vấn đề nào đó và để cho những câu hỏi tự đi lên trong mình, chỉ cần như vậy thôi. Tôi phải thừa nhận rằng đây không phải là một quá trình dễ dàng đối với những học sinh đã quen với việc tìm ra đáp án và không quen với việc tự đặt ra các câu hỏi.
Tôi thấy mình thành công trong lớp học khi bày cho học sinh cách hiểu bản thân mình hơn, cho dù các em chưa hẳn có nhiều tiến bộ trong việc học toán. Trước khi bắt đầu tiết học, chúng tôi đều thực tập chánh niệm trong năm phút. Sau đó, các em sẽ làm việc theo nhóm bốn người. Sự tập trung mà các em dành cho nhau khi làm việc nhóm, sự chú ý mà các em dành cho bài học đã làm chất lượng của cuộc thảo luận tăng cao hơn. Đó là nhờ các em có cơ hội ngồi yên và viết xuống giấy những gì làm các em vướng bận từ tiết học trước đó hay bất cứ một cái gì trong lòng.
Cả lớp cũng sẽ ngồi thiền năm phút trước khi làm bài kiểm tra. Nửa đầu của bài thiền tập, tôi mời các em chú ý xem mình đang cảm giác như thế nào, đang suy nghĩ gì trước khi bước vào bài kiểm tra. Đối với những học sinh không cảm thấy thoải mái hay tự tin, tôi muốn gửi đến các em một thông điệp rằng: không có gì sai với những cảm xúc đó. Điều đó hoàn toàn có thể hiểu được do khối lượng bài vở và áp lực của bài kiểm tra trước đó đã có ảnh hưởng đến thân tâm của các em. Thông điệp của tôi là “Không sao cả! Những cảm xúc đó không phải là thứ có thể chế ngự các em trong 45 phút tới”.
Sau đó, tôi hướng dẫn các em chú ý đến một điều gì mà các em đã làm liên quan đến toán học khiến các em cảm thấy tự hào và hạnh phúc. Đó có thể là khi các em giải được một bài toán khó, hoặc hiểu được một khái niệm toán học phức tạp. Tôi mời các em nhắm mắt lại, ngồi với cảm xúc đó và ý thức rằng những giây phút hào hứng với toán học vẫn còn đó trong các em, cho dù ngay lúc này đây các em đang cảm thấy lo lắng. Tôi cũng mời các em làm tương tự khi các em cảm thấy đầu óc mình căng lên, không nhớ được điều gì hết trong quá trình làm bài kiểm tra.
Khát vọng chia sẻ sự thực tập chánh niệm với các nhà giáo
Thưa bác, điều gì khiến cho bác có ước muốn chia sẻ chánh niệm với các thầy cô giáo và tạo động lực để bác viết nên cuốn sách ‘Bước đi trên con đường nhà giáo cùng chánh niệm’?
Ở trường trung học nơi tôi từng giảng dạy, tôi là giáo viên duy nhất biết đến sự thực tập chánh niệm và cũng là người tìm đủ cách để khéo léo chia sẻ sự thực tập này với các em học sinh. Giờ đây nhìn lại, tôi thấy sở dĩ điều này đã có thể làm được như vậy là nhờ tôi đã thay đổi cách tiếp cận của mình đối với việc dạy học. Đây là điều khá quan trọng. Tôi cho mình đủ thời gian để thong thả làm những việc cần làm mà không phải là làm cho xong. Và tôi cũng dạy các em thực tập như vậy đối với những gì các em đang làm.
Có khi, tôi bắt đầu buổi học bằng cách cho các em ăn một trái nho khô, trong năm phút. Sau đó, chúng tôi cùng chia sẻ về cách ăn và làm thế nào để ý thức trọn vẹn những gì đang xảy ra trong khi ăn. Tôi gợi ý rằng các em có thể áp dụng sự thực tập đó trong khi làm bài tập: đừng vội vàng làm cho xong mà hãy dành ba mươi hay bốn mươi phút để làm bài tập, cho dù các em chưa hoàn thành cũng không sao. Cách các em làm quan trọng hơn là số lượng bài vở mà các em hoàn thành.
Khi viết cuốn sách Bước đi trên con đường nhà giáo cùng chánh niệm, tôi mong muốn các giáo viên cảm nhận được quyền tự chủ của mình trong việc chọn lựa những gì mình muốn truyền đạt cho học sinh. Tôi đã làm điều đó bằng cách kể lại những câu chuyện của chính tôi, những gì đã nuôi dưỡng và giúp cho tôi lớn lên trong quá trình dạy học. Sau mỗi câu chuyện, tôi đưa ra ba hoặc bốn câu hỏi để người đọc chiêm nghiệm. Hy vọng cuốn sách này giúp các giáo viên bắt đầu dành nhiều thời gian hơn để suy ngẫm về cuộc sống của chính họ. Điều quan trọng mà tôi muốn hiến tặng cho các giáo viên qua cuốn sách này không phải là những lời hướng dẫn, chỉ bày những gì họ cần làm khi đến lớp, mà là lời khích lệ các giáo viên nuôi dưỡng sự thực tập chánh niệm cho chính mình. Một khi giáo viên đã nếm được lợi lạc của chánh niệm, bắt đầu cảm thấy thoải mái và sẵn sàng chia sẻ sự thực tập đó, họ sẽ tìm ra những cách phù hợp để trao truyền cho học sinh của mình.
Gần đây, tôi làm ra một bài thực tập có tên “Tự do trong làm việc” (“Free at work”), dành cho bất kỳ ai đi làm và đặc biệt là dành cho các giáo viên. Bài tập này giúp ta nhìn sâu vào cách làm việc của mình để xem ta có đủ tự do hay không. Từ đó, ta bắt đầu nhận thấy hầu hết các rào cản khiến cho ta không có cảm giác tự do trong công việc đều đến từ bên trong. Khi các giáo viên biết thực tập để nhận diện và tháo gỡ những rào cản bên trong chính mình, điều đó sẽ làm thay đổi cách dạy học của họ và những gì họ dạy sẽ có tác động rất lớn đối với học sinh. Đây là những gì tôi mong muốn truyền đạt cho các giáo viên qua cuốn sách của mình.
Mạng lưới chánh niệm trong giáo dục
Năm 2001, Mạng lưới Chánh niệm trong Giáo dục (Mindfulness in Education Network) được thành lập với hơn 1000 thành viên trên khắp thế giới. Là một trong những giáo viên đi tiên phong trong lĩnh vực này, tôi thường nhận được nhiều câu hỏi qua email từ các giáo viên về sự thực tập chánh niệm. Tôi chỉ có thể trả lời một ít câu hỏi trong số đó từ kinh nghiệm của chính mình. Khi không có câu trả lời hữu ích, tôi sẽ mời người đã viết thư cho tôi truy cập trang web của Mạng lưới Chánh niệm trong Giáo dục (mindfuled.org), tham gia vào danh sách email chung của cộng đồng và đăng câu hỏi của mình lên đó. Quý vị sẽ nhận được câu trả lời từ tuệ giác tập thể của mạng lưới các nhà giáo khắp nơi trên thế giới.
Trung tâm thực tập chánh niệm Morning Sun, New Hampshire
Ngày chị đến Làng, cách đây 30 năm, em mới lên một tuổi. Em sẽ không tưởng tượng được Làng Mai lúc đó ra sao và cũng không hình dung được chị là một cô gái 22 tuổi, phải không em? Em sẽ hỏi lý do vì sao chị đến Làng trong thời điểm dân chúng Làng Mai rất ít và nhà cửa rất đơn sơ. Cái gì đã khiến chị chọn Làng Mai làm nơi nương tựa và sống đời xuất sĩ. Ba mươi năm thật dài nhưng cũng trôi qua thật nhanh!
Lần đầu chị đến Làng Mai, lúc đó còn gọi là Làng Hồng, vào khoá tu mùa Hè năm 1992. Làng tổ chức ăn mừng 10 tuổi. Ấn tượng đầu tiên của chị là được trở về quê hương Việt Nam. Lớn lên ở Mỹ từ năm 10 tuổi nhưng chị luôn thấy mình không thực sự hòa nhập được vào môi trường và xã hội ở đó. Mình không thể được công nhận là người Mỹ vì mái tóc đen và nước da vàng của mình. Đến Làng năm ấy, chị đã làm quen với những người trẻ Việt Nam lớn lên từ nhiều nước Tây phương. Có thể ai cũng có tâm trạng như chị, vì vậy khi đến với nhau, ai cũng thấy được chấp nhận hoàn toàn con người của mình. Ai cũng mở lòng để yểm trợ, nâng đỡ và thương yêu nhau. Không khí của Làng, cũng như những bài pháp thoại của Sư Ông và sự hiện diện của các thầy, các sư cô đã tạo nên một môi trường thật hiền lành, thật trong sáng, đầy bình an, yên ổn và thương yêu. Trong một tuần thôi, chị và những người trẻ đã trở thành bạn rất thân. Tình thương và tình bạn đó nuôi dưỡng chị rất nhiều suốt 30 năm qua. Đây là quê hương đích thực của chị vì ở đây có tình thương, có tình người, có sự chấp nhận, có niềm vui, có sự an toàn, có giáo pháp giúp chị ôm ấp khó khăn và sống hiền lành.
Sư Ông thích người trẻ mặc áo dài, dù đó là con gái hay con trai. Mỗi tuần, trong các buổi sinh hoạt, mình có nhiều cơ hội mặc áo dài: khi đi nghe pháp thoại Sư Ông giảng bằng tiếng Việt, hay trong buổi thiền trà và trong những buổi lễ. Lần đầu tiên trong đời chị mặc áo dài thường xuyên như vậy đó em. Sau giờ cơm trưa và chiều, các bạn trẻ xúm lại với nhau để ca hát dưới hai cây sồi ở xóm Hạ, bên cạnh khóm trúc. Mỗi ngày chị được nuôi lớn bằng tiếng ca, bằng những lời nhạc thiền và những tiếng cười giòn tan trong tình thương bè bạn. Sau một tháng chị trở về Mỹ với rất nhiều niềm vui và một trái tim ấm áp khi biết rằng mình đã có con đường đẹp và lành. Lại có thêm những người bạn rất dễ thương, hiền lành từ Âu châu, Mỹ châu cùng đi với mình.
Chị quyết định trở lại Làng sống một năm vì đây là thời gian để chị khám phá cuộc đời sau khi tốt nghiệp đại học và trước khi tiếp tục việc học của mình. Chị về Làng trước khóa tu mùa Đông. Sự khác biệt giữa mùa hè và mùa đông quá rõ ràng. Lần này chỉ có khoảng 15 thầy và sư cô cùng một vài cư sĩ. Chị là người trẻ duy nhất ở xóm Hạ. Không khí lạnh lẽo, mưa ẩm ướt, bùn lầy. Không có những người bạn bao quanh, không tivi, phim ảnh, không internet, không bận rộn để trốn tránh đối diện con người của mình. Chị đã đi qua giai đoạn này rất nhọc nhằn. Những khó khăn trong lòng, những khổ đau xưa đã có đủ điều kiện và không gian để biểu hiện. Không còn cách nào khác, chị phải tìm cách xoa dịu những khó khăn và khổ đau đó. May quá, những lời dạy của Sư Ông, tình thương của quý sư cô cũng như của người anh ruột là thầy Pháp Đăng đã giúp chị có đủ dũng cảm để trở về ôm ấp và nhìn vào tâm mình.
Một yếu tố giúp chị rất nhiều chính là thiên nhiên, là đất Mẹ. Cả ngày, ngoài giờ ngủ nghỉ, ăn, hoặc ngồi thiền, chị đã sống ngoài thiên nhiên với cây cối, trời đất. Thiên nhiên trở thành người bạn giúp chị có đủ niềm vui, đủ sức mạnh để đối diện với những khổ đau trong lòng.
Lúc đó, Làng còn nghèo lắm. Nhà cửa đơn sơ, nghèo nàn. Chị ngủ trong căn nhà mà trước đó là nơi người ta phơi thuốc lá. Căn nhà này có vách tường gạch đỏ và sàn bằng xi măng. Giường ngủ cũng chỉ là một tấm ván kê trên bốn tấm gạch đỏ. Giữa đêm lạnh buốt mà muốn đi vệ sinh thì phải đi ra ngoài trời mới đến được nhà vệ sinh. Không có nước nóng ở những vòi rửa mặt. Có nước nóng để tắm đã là một sự nhiệm mầu và hạnh phúc lắm rồi. Em tưởng tượng đi, một điều chị luôn luôn trân quý và biết ơn là những căn phòng này có máy sưởi trung ương (central heating). Có những căn nhà khác chỉ dùng lò đốt củi thôi. Giữa đêm mà củi đốt hết thì căn phòng lạnh như ngoài trời vậy.
Quý sư cô: Định Nghiêm, Tuệ Nghiêm và Giải Nghiêm
Tuy chỉ mười mấy thầy và sư cô thôi nhưng không khí như một gia đình ấm cúng. Ngày nào cũng có tiếng hát, tiếng ngâm thơ, tiếng cười. Trước khi thiền hành, đại chúng hát với nhau. Đôi khi sau bữa ăn cũng ngồi lại để uống ly trà thơm, ca hát, ngâm thơ, kể chuyện. Mỗi thời khóa của chúng, ai cũng có mặt. Tuy Làng nghèo và thiếu đủ điều nhưng rất giàu tình thương, tình huynh đệ, tình bạn. Chị được nuôi dưỡng mỗi ngày trong không khí bình an, thương yêu, trong cái đẹp và lành của đời sống tâm linh. Trái tim chị mở ra rất nhiều. Chị trân quý mỗi ngày, trân quý mọi cơ hội trở về nếp sống đơn giản, lành mạnh mà nhờ đó chị có nhiều thì giờ để làm mới tự thân. Nếp sống này đã làm cho chị thấy rất mãn nguyện, giống như đã thực hiện được một ước mơ gì đó trong mình.
Sau một năm ở Làng, chị trở về Mỹ. Trở về nhà như là đi xuống núi để vào cuộc đời nhiều phiền phức và rắc rối. Lần này, rất khác, chị đã đi vào cuộc đời với đôi mắt sáng để thấy những gì trước kia mình không thấy hoặc đã coi đó là chuyện thường. Điều đầu tiên chị thấy là ai cũng lo làm để có nhiều tiền. Hình như đó là cách đi tìm hạnh phúc của mọi người. Sự tiêu thụ tạo ra nhiều rác thải trên đất Mẹ mà ít ai lưu tâm. Điều thứ hai, chị thấy rằng ai cũng có những khó khăn và khổ đau nhưng không biết cách xử lý mà chỉ tìm cách chạy trốn để quên lãng, rồi từ đó làm khổ chính mình và những người mình thương. Chị cũng thấy các anh chị của chị khổ đau rất nhiều trong liên hệ vợ chồng và con cái, trong khi người anh xuất gia của chị lại có nhiều niềm vui và giúp nhiều người khác hạnh phúc. Nếp sống đơn giản và sâu sắc của một xuất sĩ ở Làng Mai trở thành hướng đi, là con đường chị chọn lựa. Đó là những nguyên do mà chị đã quyết định trở về Làng Mai và xin trở thành một người xuất sĩ.
Ba mươi năm trôi qua là một quãng đường dài. Nhìn lại, môi trường ở Làng đã có nhiều thay đổi và chị cũng đã đi qua nhiều giai đoạn trong lòng. Chị nhớ trước khi bước vào đời sống tâm linh, chị cũng có những lo sợ. Liệu chị có hạnh phúc suốt đời và đi trọn con đường này không? Tuy vậy, khi nhìn vào anh của chị và Sư Ông – những người đang bước đi vững chãi, có hạnh phúc và giúp được bao người bớt khổ – chị vững niềm tin để bước vào đời sống của một xuất sĩ trẻ. Có những thăng trầm đến trong cuộc đời tu của chị. Những lúc như vậy giúp chị thấy rằng: mình đi tu cũng vì muốn hiểu được gốc gác của những khó khăn trong mình và chuyển hóa chúng. Có những lúc chị thấy mình hơi yếu trước những liên hệ tình cảm. Chị đã tranh đấu với nội tâm rất nhiều và chị xác định rất rõ rằng chị đi tu là để được tự do khỏi những tình cảm vướng bận, để nuôi lớn tình thương của Bụt trong mình. Dần dần chị thấy được mục đích cao cả của đời sống xuất gia là chuyển hóa khổ đau, đi đến vùng ánh sáng của hạnh phúc và tự do, trở thành pháp khí để giúp nhiều người thấy con đường đẹp và lành. Nhìn lại, chị thấy những khó khăn đó là chất liệu củng cố và nuôi lớn tâm ban đầu, giúp chị tiếp xúc được không gian trong lòng và hiểu sâu hơn về chính mình.
Khó khăn có đó, nhưng đồng thời niềm vui, hạnh phúc và bình an luôn có mặt. Chị đã được nuôi lớn mỗi ngày bằng những chất liệu lành mạnh của những bài thiền ca, những bài thơ, những bài thi kệ, thiên nhiên, tiếng cười và tình huynh đệ. Chị đâu cần gì nữa. Chị đã có những gì mình ước mơ cho cuộc đời mình rồi. Chị đâu phải chạy quanh để tìm hạnh phúc nữa. Hạnh phúc, bình an là chất liệu chị có thể tiếp xúc và nếm được mỗi ngày. Dần dần những khó khăn xưa kia của chị được chuyển hóa khi nào không hay.
Càng sống lâu trong tăng thân, chị càng thấy mình được lột xác. Càng thực tập, chị càng thấy những nhiệm mầu biểu hiện xung quanh và bên trong mình, cũng như hiểu được những điều mà xưa nay chỉ hiểu trên lý thuyết. Mẹ qua đời là điều đánh động sâu sắc nhất trong cuộc đời chị. Mẹ chị đã bị bệnh sáu năm trước khi qua đời. Thân thể mẹ càng ngày càng yếu và hết khả năng hoạt động bình thường. Khi mẹ qua đời, tuy rằng chị biết đã đến lúc mẹ phải bỏ cái thân già bệnh đó và mẹ đang tiếp nối trong các con, các cháu nhưng chị vẫn cảm thấy trống vắng, mất mát và buồn nhớ vô cùng. Chị sẽ không còn thấy hình dáng của mẹ, nghe tiếng nói của mẹ, ôm mẹ, và chạm đến thân thể mẹ. Khi mới tới Làng, chị được dạy rằng chỉ khi nào ôm ấp được cảm giác buồn nhớ và mất mát này thì mới có thể hiểu, làm lắng dịu và chuyển hóa được. Những bài học đó đã trở thành tiếng chuông chánh niệm cho chị trở về và nhận ra rằng: mẹ đang có mặt trong mình. Chị đã chạm được vào mẹ. Mẹ đang có mặt. Mẹ luôn luôn có mặt. Mình là sự tiếp nối của mẹ qua những đức hạnh và tập khí của mình. Chỉ cần trở về với hơi thở, với thân tâm, với giây phút hiện tại để thấy mẹ trong mình. Đây là một sự thật, sự thật tương tức, mẹ và con là một. Con là sự tiếp nối của mẹ.
Khi chạm được sự thật này, niềm buồn nhớ, cảm giác mất mát đã dần dần chuyển hóa. Mỗi khi bất an, chị trở về với thân thể và hơi thở, thầm gọi “Mẹ ơi mẹ” thì mẹ có mặt ngay để thương yêu và giúp chị đối diện với những tâm hành bất an đó. Chị thấy chị tu cho chị, mà đồng thời cũng tu cho mẹ. Thấy được mẹ con tương tức là cửa ngõ để chị có thể đi tới cái thấy tương tức giữa mình và mọi người, giữa mình và vũ trụ.
Em à, nếu mình nếm được tuệ giác vô ngã và tương tức nơi thân tâm mình thì mình có thể nếm được hạnh phúc và tự do lớn ngay bây giờ và ở đây. Đây chính là con đường của một người xuất sĩ đó em.