Trăng sao vẫn đẹp đêm rằm

Cô Chân Bảo Nguyện, thọ giới Tiếp Hiện năm 1994, đã theo Thầy Làng Mai phụng sự gần như từ những năm đầu của Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Hiện giờ cô là một trong những thành viên nòng cốt của tăng thân Tiếp Hiện ở Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, và cũng là “cánh tay nối dài của Thầy”, là “trạm dừng chân của Làng” ở Paris. Cô nhận truyền đăng từ Thầy năm 2011, tiếp tục con đường tu học và phụng sự với tấm lòng đầy yêu thương và nhiệt huyết.

 

Thầy thương kính của con,

Thấm thoắt đã 50 năm trôi qua! Một nửa đời người với biết bao tang thương, biến đổi, song hành trang và lý tưởng Thầy truyền trao vẫn không hề đổi thay, vẫn luôn cháy bỏng trong tim con. Đó là tình thương và lòng phụng sự tha nhân. Ánh mắt Thầy luôn rực sáng niềm tin và bao dung độ lượng, tấm lòng Thầy luôn chất ngất tình thương. Thầy mãi mãi là ánh đuốc soi đường cho chúng con noi theo tiến bước.

Con vẫn còn giật mình khi nhớ lại tâm trạng bơ vơ, lạc lõng trong một đất nước đang khổ đau cùng cực vì chiến tranh bom đạn. Tuổi trẻ chúng con khi ấy mất cả niềm tin và phương hướng. May thay chúng con tìm đọc được Nói với tuổi hai mươi của Thầy và từ đấy chúng con đã chọn con đường đi cho đến hôm nay. Đó là con đường của tình thương và sự hiểu biết, con đường phụng sự để đem lại bình an hạnh phúc cho tự thân và cho mọi người.

Trường TNPSXHNgày ấy, lần đầu tiên được tiếp xúc với các anh chị tác viên thuộc trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (TNPSXH), con thật vô cùng hạnh phúc. Cả một thế hệ thanh niên thật trong sáng với bao nhiệt huyết đóng góp cho quê hương. Tiêu chí của Trường gồm 3 chữ T thật đẹp: Tình thương, Trách nhiệm và Tự nguyện. Đây chính là hạnh nguyện của những vị Bồ tát suốt đời dấn thân giúp đời vì tình thương lớn. Con đã bị thuyết phục vô điều kiện và đã tâm nguyện rằng, con sẽ đi theo con đường phụng sự của Thầy cho đến trọn đời và mãi mãi về sau.

Bằng thơ ca, Thầy đã thay mọi người nói lên ước vọng của dân tộc, ước vọng hòa bình mà trong hoàn cảnh bi đát của chiến tranh, bao nhiêu người bất lực không thể nói được:

Sáng nay vừa thức dậy
Nghe tin em gục ngã nơi chiến trường
Nhưng trong vườn tôi, vô tình,
Khóm tường vi vẫn nở thêm một đóa
Tôi vẫn sống, vẫn ăn và vẫn thở
Nhưng đến bao giờ mới được nói thẳng điều tôi ước mơ?

(Hòa bình, tập thơ Cho bồ câu trắng hiện)

Chính niềm ước mơ ấy mà Thầy lên đường bôn ba nơi xứ người để kêu gọi chấm dứt chiến tranh và xây dựng hòa bình cho quê hương. Vì lẽ đó, Thầy bị lưu vong nơi xứ người ngót 40 năm. Thầy đã sống như một tế bào phải tách rời khỏi cơ thể, lẻ loi, cô đơn vì bao nỗi nhớ nhà, nhớ người, nhớ quê nhà tuổi nhỏ thân thương.

Chúng con nơi quê nhà, thỉnh thoảng được truyền cho nhau đọc thư Thầy gửi về gói ghém biết bao nhớ nhung, thương yêu cho quê hương, cho hàng cau, vườn chuối… Thầy nhắc chúng con phải nhớ “rửa mắt” trên những cánh đồng lúa xanh. Lãng mạn và thơ mộng quá! Bài thơ Chỗ đứng của Thầy đã nằm lòng trong ký ức của con:

Quê hương tôi là đây
Chỉ có dòng sông, hàng cau, bụi tre, vườn chuối
Mặt trái đất dù mang đầy cát bụi
Nhưng trăng sao vẫn đẹp những đêm rằm.
 

Các anh chị tác viên đã thay mặt Thầy đi vào những xóm nghèo để chia sớt nỗi cơ cực, lầm than của đồng bào. Chúng con mỗi cuối tuần đều đến thăm Làng Tình Thương ở bên kia cầu Thị Nghè và Làng Thảo Điền qua khỏi cầu Xa Lộ. Chỉ cách thành phố không xa mà cuộc sống người dân nơi đây thật lạc hậu không tưởng: ăn ở mất vệ sinh, đi tiêu tiểu khắp nơi, không có trường học cho con nít học chữ, trẻ em nhỏ đã tập tành người lớn uống rượu, hút thuốc mỗi khi đi giăng câu…

Con vẫn đi dạy học ở Tân Uyên, một vùng quê giáp ranh chiến khu D, vẫn đi thu học bổng cho trường TNPSXH và cuối tuần vẫn về Làng tham gia công tác cùng các anh chị. Chiến tranh bom đạn cứ lan dần tàn phá quê hương mình. Người dân phải đứt ruột rời bỏ xóm làng để tập trung vào những trại tị nạn hoặc những vùng tương đối an ninh hơn. Các tác viên xã hội lại ngày đêm cùng đồng bào xây dựng lại xóm làng, dựng trường, mở lớp, trồng lúa, chăn nuôi…

Rồi tai ương cứ tiếp tục dồn dập xảy đến: Sáu tác viên trong lúc đi thực tập đã bị mất tích, trường TNPSXH bị kẻ lạ vào tấn công lúc ban đêm khiến hai chị Liên, Vui bị tử nạn, chị Hương bị cưa mất một chân và anh Vinh bị bắn vào đầu nên phải nằm liệt một thời gian dài, sau đó được sang Đức điều trị.

Mọi người vẫn không nao núng, vẫn tiếp tục dấn thân, các tác viên vẫn đi vào làng để giúp đồng bào và rồi lại thêm một mất mát lớn: Năm tác viên trong khi đi công tác ở Thủ Đức đã bị bắn chết lúc trời chạng vạng tối, chỉ có một người bị thương nặng song thoát chết trở về mà thôi.

Trước những thảm trạng ngày càng bi đát cho quê hương, người chị cả của dòng tu Tiếp Hiện Nhất Chi Mai đã nguyện đem thân làm đuốc để thắp sáng lương tri mọi người trên thế giới và để kêu gọi hòa bình cho dân tộc.    

Tết Mậu Thân với cảnh nhà cháy, chết chóc bất ngờ xảy ra cùng khắp trong thành phố và ngoại ô. Đồng bào quanh vùng Phú Thọ Hòa đều tập trung về khuôn viên chùa Lá và trường TNPSXH để tạm trú. Thầy Thanh Văn khi ấy đang là giám đốc trường và các anh chị tác viên phải đối phó với biết bao bất trắc không lường được khi bỗng nhiên có hàng vài ngàn gia đình đến ở bên cạnh chùa. Giữa bao khó khăn chồng chất thì có tin một sản phụ đang chuyển bụng, các anh chị tác viên phải bất đắc dĩ làm “bà mụ” đỡ đẻ giúp cho người thiếu phụ trẻ được mẹ tròn con vuông ngay trong khuôn viên Trường.

Các vấn nạn như lương thực, thuốc men, nước uống, vệ sinh hàng ngày luôn là gánh nặng mà mọi người phải trăn trở giải quyết. Các cơ quan xã hội của chính quyền vì ngại xa xôi nguy hiểm nên không ai đến cứu trợ. Chỉ có các thân hữu của Trường đi quyên góp và xông pha vượt qua hiểm nguy bom đạn để đem quần áo, thực phẩm, thuốc men đến chùa Lá tiếp tế. Trong công tác này, con đã được anh Hảo, giám đốc trường Anh văn quốc tế đặt cho biệt danh là “nữ hoàng ăn xin” vì tài đi xin hàng cứu trợ ở chợ cho đồng bào.

Nhà con buôn bán sơn dầu ở trước chợ Nguyễn Tri Phương, quận 10 nên quen biết hầu hết các cô bác buôn bán trong chợ. Do vậy con chỉ vừa khóc vừa kể tình trạng thảm khốc của đồng bào tị nạn là xin được vô số thức ăn như gạo, mì, tương, chao, khoai, đậu… Anh Hảo có xe hơi và tình nguyện cùng con khuân vác lương thực lên xe, chuyên chở, mạo hiểm chạy qua vùng vừa ngưng tiếng súng để đem đến chùa Lá cùng các tác viên TNPSXH phân phát cho đồng bào.

Ngoài ra chúng con còn tham gia vào việc giúp nhân viên Sở Vệ sinh đi chôn xác chết. Trong cơn lửa đạn ngất trời, mạng sống con người như chỉ mành treo chuông nên cái chết đến bất ngờ cho tất cả mọi người. Xác chết vô thừa nhận cứ lăn lóc ngoài đường qua bao ngày không ai chôn cất. Thầy Thanh Văn và chị Chín (sư cô Chân Không) đã mạnh dạn đề xướng việc kêu gọi mọi người giúp Sở Vệ sinh đi thu dọn các xác chết để phòng ngừa bệnh dịch lây lan trong thành phố.

Những đau thương tang tóc rồi cũng qua đi, cuộc sống bình yên dần dần trở lại. Mọi người như tạm quên đi quá khứ buồn đau để hướng về tương lai tươi sáng hơn.

Trong một dịp coi thi Tú tài, con và anh Đức quen nhau, tình yêu chúng con chớm nở từ đây. Con có giới thiệu anh về trường TNPSXH và dẫn anh về thăm Làng (khi ấy con gọi trường TNPSXH là Làng). Anh Đức được ăn cơm chung với thầy Thanh Văn hai lần và có trao đổi khá thân mật với thầy. Có lẽ nhờ nhân duyên này mà khi định cư tại Pháp, anh đã đóng góp thật đắc lực cho Làng Mai mỗi khi có việc cần. Hai chúng con luôn vui sướng kề vai giúp Làng một tay.

Vài năm sau đó, trong một chuyến đi cứu trợ đồng bào tại các trại định cư Biên Hòa, thầy Thanh Văn đã qua đời vì tai nạn xe. Con được một chị bạn làm y tá ở phòng cấp cứu bệnh viện Biên Hòa thuật lại, có một vị sư trẻ bị tai nạn trầm trọng được đưa vào cấp cứu trong tình trạng hôn mê. Ít lâu sau đó, thầy có tỉnh lại và hỏi thăm các đệ tử đã có ai thay thầy lo việc cứu trợ đồng bào ở trại định cư chưa? Mọi người đều cảm động ứa nước mắt vì tấm lòng của thầy, cho đến khi sắp lìa đời vẫn còn mang những nỗi lo cho tha nhân.

Bên này chúng con buồn lắm và khóc thật nhiều. Chúng con được tin Thầy bên phương trời xa cũng nhập thất cả tháng khi hay tin một biến cố lớn đã xảy ra nơi quê nhà! Quả thật con đường cho lý tưởng từ bi thật đẹp nhưng cũng đầy gian nan, khốc liệt, mất mát!

Thầy Châu Toàn lên thay thầy Thanh Văn tiếp tục công việc. Thầy năng nổ làm việc hết mình cho đồng bào được no cơm ấm áo. Trong dịp mừng lễ Tết cuối năm, thầy Châu Toàn phát biểu mơ ước của thầy khiến con ngồi rưng rưng nước mắt: “Chúng ta sẽ cố gắng làm thế nào để đến cuối năm, đằng trước sân mỗi gia đình là một đống lúa vàng cao ngất ngưởng”. Trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng của quê hương mà thầy vẫn cháy bỏng những ước mơ cao đẹp cho đồng bào như thuở thanh bình thì bảo sao con không khóc cho được! Ngồi phía đằng sau ngôi chùa Lá, nhìn qua những hàng cau xanh là cánh đồng bát ngát một màu vàng của bông lúa chín, con chợt nhớ đến hai câu thơ tuyệt đẹp của Thầy trong bài Đường quê:

Cô gái đồng quê về lối xóm
Tươi cười gánh cả một hoàng hôn
 

Có lẽ vì làm việc quá sức nên trong buổi lễ tổng kết sinh hoạt cuối năm, khi đang trình bày những việc làm của trường cho cử tọa, thầy kiệt sức và xin ra ngoài hội trường nghỉ đôi phút. Sau đó thầy vào đọc hết bản tường trình để rồi gục xuống bàn và vĩnh viễn ra đi.

Chúng con thật ngỡ ngàng đau xót. Thư Thầy gửi về an ủi nhưng chúng con biết Thầy cũng đứt từng khúc ruột: “Nhận được tin dữ, tôi đóng cửa phòng một ngày. Tôi như một gốc cây bị đốn ngã. Tôi đánh điện về an ủi các em nhưng tôi thì không an ủi được. Sao trên đời có những chuyện “lỡ hẹn” đớn đau đến thế, hả em?”.

Trải qua bao cuộc thăng trầm bể dâu, chúng con may mắn được gặp lại Thầy vừa lúc thiền đường Hoa Xương Rồng mới hình thành ngày 03.09.1985, sau này đổi thành thiền đường Hoa Quỳnh và hiện tại là thiền đường Hơi Thở Nhẹ. Gia đình con và các cháu nhờ vậy có nơi nương tựa như quê hương tâm linh tại Paris, sau quê hương lớn hơn là Làng Mai. Quả thật chúng con có phước báu quá lớn!

Tăng thân Thiền đường Hơi thở nhẹ, Paris

Ròng rã suốt 30 năm qua, chúng con luôn được Thầy thương yêu, nhắc nhở và chỉ dẫn tường tận hành trang sẵn có để thực tập, đó là hơi thở ý thức, bước chân chánh niệm và nụ cười bình an. Pháp môn chánh niệm trong từng giây phút của cuộc sống giúp chúng con nhận biết những điều kiện hạnh phúc đang có để nâng niu trân quý, đã cho chúng con biết bao niềm an lạc, tự do.

Việc xây dựng tăng thân cũng gian nan, lên xuống bao phen nay mới được hình thành tương đối tạm ổn, mặc dù đôi lúc cũng trải qua sóng gió. Chúng con nghĩ đây là những thử thách đo lường nghị lực và kiên nhẫn của chúng con mà thôi, vì Thầy đã trao cho chúng con chiếc đũa thần “Hiểu và Thương” rồi.

Khi Làng Mai kỷ niệm 20 năm, tăng thân Hơi Thở Nhẹ chỉ mới có 3 thành viên Tiếp Hiện. Hiện nay tăng thân chúng con đã có gần 30 thành viên, năng nổ trong tu tập và đóng góp công sức xây dựng tăng thân, nuôi dưỡng tình huynh đệ.

Con thật sự ngỡ ngàng và hạnh phúc đến lặng người khi nhận được bài kệ truyền trao của Thầy trong buổi lễ trao đèn, vì bài kệ Thầy trao cho con và bài kệ con kính dâng lên Thầy và chư Bụt đã ăn khớp một cách tuyệt vời, mặc dù cho đến khi được quỳ trước mặt Thầy con mới đọc lên:

Bài kệ Thầy truyền trao:

Nâng niu pháp bảo nguyện hành trì
Hoa lá bên đường mở lối đi
An trú thân tâm vào giới định
Quê hương trong mỗi bước chân về

Bài kệ của con kính dâng lên Thầy:

Từng bước chân chánh niệm
Từng hơi thở ý thức
Từng nụ cười bình an
Đây gia tài thiêng liêng
Thầy ân cần trao gửi
Đây hành trang mầu nhiệm
Cùng tăng thân vun bồi”.
 

Con xúc động mãnh liệt khi Thầy hướng đôi mắt đầy thương yêu trìu mến và ân cần nhắn nhủ: “Chiếc đèn này là để trao cho cả gia đình chứ không phải cho một mình Chân Bảo Nguyện đâu. Trong kinh có nói đức Bồ tát có rất nhiều cánh tay vươn ra rất dài, và con là cánh tay của Thầy ở Paris. Cánh tay Thầy rất dài, do đó khi nào có việc cần là có con ở đó, không kể đêm ngày, không kể có thì giờ hay không có thì giờ, luôn luôn có mặt cho tăng thân, phụng sự tăng thân. Một cánh tay không đủ, phải có nhiều cánh tay. Thầy trò mình biết thực tập theo bài kệ trên sẽ mang lại nhiều hạnh phúc. Thầy trò ta làm việc rất nhiều và đều không có lương gì cả, nhưng có rất nhiều niềm vui trong khi phụng sự. Đó là pháp lạc có công năng nuôi dưỡng và trị liệu. Con hãy cùng tăng thân thực tập và nuôi dưỡng tình huynh đệ…”

Qua 50 năm âm thầm theo con đường Thầy chỉ dạy, con vẫn luôn tự hỏi: Con có phải là tri kỷ của Thầy chưa? Con đã quá hạnh phúc và may mắn khi được bơi lội trong dòng suối thơm tho, mát trong chứa đầy tuệ giác và từ bi mà Thầy kính thương đã dày công tạo dựng bằng cả một đời dấn thân đầy truân chuyên và bi hùng.

Việc thị hiện bệnh của Thầy cũng đã cho chúng con biết bao bài học để thực tập, để cố gắng. Chúng con chỉ biết cúi đầu đảnh lễ Thầy với tất cả tình thương và kính ngưỡng.

Thầy kính yêu ơi, chúng con thương Thầy nhiều lắm, Thầy có biết không!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

       

 

Ngày 14.01.2016

Nước mắt ngày xưa nay đã thành mưa

Này em, một lần trong buổi vấn đáp, em đã đặt câu hỏi: “Làm sao có thể an trú được trong hiện tại khi em đang có quá nhiều buồn khổ?”.

Em đã được nghe Thầy dạy cách thực tập dừng lại, đừng rong ruổi về quá khứ hay mơ tưởng đến tương lai, mà hãy trở về với hiện tại. Quá khứ đã không còn, tương lai thì chưa tới, chỉ khi nào thân và tâm an trú trong hiện tại thì mới có thể thật sự tiếp xúc được với sự sống, mới nhận diện và thưởng thức được những mầu nhiệm ngay trong con người mình và xung quanh mình như tuổi trẻ, cặp mắt sáng, như mây trắng, trời xanh… Và chỉ khi nào tiếp xúc được những mầu nhiệm ấy thì ta mới có thể được nuôi dưỡng, chuyển hóa và trị liệu.

Nhưng trong cuộc đời này, đâu phải chỉ có những mầu nhiệm của sự sống không đâu? Còn cái chết của những người thương, bệnh tật và bao nhiêu buồn khổ khác nữa? Em nghi ngờ. Sống ngoài đời khổ gấp trăm gấp ngàn lần sống trong tu viện. Có phải pháp môn này chỉ phù hợp cho giới xuất gia, hay cho những người có nhiều may mắn, có được một nếp sống thoải mái, có thì giờ rảnh rỗi để đi thiền hành mỗi ngày, để ngắm trời, ngắm hoa chăng? Còn em, nhìn lại cuộc sống hằng ngày của mình, em chỉ thấy phiền muộn. Đối với em, trở về với giây phút hiện tại chỉ có nghĩa là trở về với phiền muộn thôi. Là con người, dù sống ở đâu, ngay cả ở trong tu viện, thì cũng có những tâm tư của con người, như phiền muộn, khổ đau… Vì vậy mới phải thực tập để chuyển hóa. Tuy vậy, những phiền muộn trong tu viện chỉ giống như “sóng gió trong một bát canh”, đâu có thấm thía gì với những khổ đau tràn ngập ngoài đời!

Vì vậy tôi đã giữ im lặng và chưa bao giờ trả lời câu hỏi của em. Tôi biết, dù cố gắng trả lời như thế nào đi nữa thì cũng chỉ có thể chạm đến phần lý thuyết mà thôi. Khi chưa đi ngang qua kinh nghiệm sống thì nói gì cũng chỉ là lý thuyết. Và tôi đã đợi mãi đến hôm nay mới dám trả lời câu hỏi của em.

Này em, em có đồng ý rằng một trong những nỗi buồn khổ lớn nhất và sâu đậm nhất là khi mình đang mất, hay sắp mất một người thương không? Tôi đã đi qua nỗi khổ này hai lần trong đời rồi. Lần thứ nhất cách đây 24 năm lúc Ba tôi mất, lúc đó tôi chưa đi tu. Lần thứ hai là cách đây một năm, lúc mọi người tưởng rằng Thầy tôi sắp tịch. Lúc mới biết tin Thầy đang nằm hôn mê sau khi bị xuất huyết não, anh của tôi chỉ biết xuýt xoa trên điện thoại: “Tội sư cô quá! Ba đã mất vì đột quỵ, bây giờ Thầy cũng bị đột quỵ. Sao mà tội sư cô quá! Sư cô lại phải đi qua thêm một lần nữa”. Tôi là người đầu tiên trong gia đình phát hiện ra Ba bị đột quỵ đêm đó. Đứng ngoài hành lang cạnh bác sĩ Moinard trong bệnh viện, tôi cũng là người đầu tiên biết tin Thầy tôi bị xuất huyết não sáng hôm đó. Anh tôi biết cái khổ khi có người thương bị đột quỵ. Anh tôi cũng biết nguyên nhân gì đã đưa tôi đến con đường xuất gia, cũng biết Thầy là người cha tâm linh đã dìu dắt tôi ra khỏi cơn buồn khổ và ra khỏi nếp sống hệ lụy. Thầy có phải chỉ là người cha tâm linh của tôi không đâu? Anh tôi và em út tôi không xuất gia, nhưng đến khi anh tôi lấy vợ và em út tôi xuất giá thì cũng níu áo Thầy, xin Thầy làm lễ Thành hôn cho họ. Các chị của tôi đã lập gia đình hết rồi, nếu không thì chắc cũng vậy.

Một buổi khuya khi vừa thức giấc, tôi nằm yên trong bóng tối, định thần để nhớ lại xem mình đang ở đâu. Khi nhớ ra rằng mình đang ngủ tại khách sạn Bordeaux và Thầy thì đang nằm ở phòng cấp cứu tại bệnh viện, sống chết không biết ra sao, trong khoảnh khắc ấy, cả người tôi tràn ngập một cảm giác buồn tê tái. Đi theo cảm giác này là một năng lượng bệnh hoạn, chết chóc nặc mùi nhà thương mà tôi đã tiếp xúc trong những ngày trước đó. Bàng hoàng trước cảm giác nặng trĩu này, tôi hiểu được tâm trạng của những người tìm cách khỏa lấp những vấn đề khó khăn trong cuộc đời của họ mà tôi đã từng nghe. Sau đó, khi phải đối diện lại với thực tại thì họ không bớt khổ chút nào, trái lại, càng khổ hơn trước rất nhiều. Tôi đã không cố ý chạy trốn, ngược lại, tôi đã trông đợi tin tức mỗi giây mỗi phút vì muốn biết chính xác những gì đang xảy ra cho Thầy tôi. Nhưng trong khi thiếp đi vài giờ đồng hồ, tâm trí tôi không còn ý thức và quên đi những gì đang tiếp diễn, cũng giống như một người đang dùng giấc ngủ để trốn tránh niềm sầu khổ. Giờ đây, với kinh nghiệm bản thân, tôi có thể khẳng định với bạn rằng, chạy trốn giây phút hiện tại không giúp được gì cả.

Năng lượng nặng nề này đã đè chụp lên cả con người tôi, từ đỉnh đầu cho đến gót chân, từ ngoài da đi thật sâu vào tận xương thịt. Nó kéo tôi đi thật xa vào một cái hố to tối hù. Tôi phải ngồi bật dậy, thầm đọc bài kệ trong khi đưa chân vào đôi giày. Bước ra khỏi giường, tôi đi rửa mặt và tiếp tục thực tập thi kệ trong mỗi động tác kế tiếp.

Tình ruột thịt lúc nào cũng thiêng liêng và vượt thoát thời gian, không gian. Dẫu cho sống xa nhau nửa vòng trái đất, hay nói theo cách nôm na là cách biệt nhau giữa hai cõi âm dương, cũng không thể nào phai nhạt được. Bởi vì tình này nằm trong ruột, trong thịt, trong máu và trong mủ của mình. Vậy mới được gọi là tình ruột thịt, máu mủ. Lúc đó tôi tự hỏi: tôi và Thầy tôi đâu phải là ruột thịt mà sao Thầy tôi hôn mê, cảm giác của tôi không khác gì khi chính Ba tôi hay Mẹ tôi hôn mê?

Khi cạo đầu xuất gia, tôi lại được sinh ra một lần nữa để làm em bé trong gia đình tâm linh. Thầy tôi sinh ra tôi, và đóng vai trò làm mẹ cũng như làm cha.

Ở ngoài đời, con cái cần đến cha mẹ khi còn bé. Lớn lên rồi, sống trong xã hội, đi theo quy luật chung thì con cái phải tự lập, phải có một nếp sống riêng và một sự nghiệp riêng. Thầy trò chúng tôi cho đến bây giờ vẫn có cùng một nếp sống chung và một sự nghiệp chung. Là người xuất gia, chắc chắn là tôi phải tiếp tục học và hành suốt đời. Và nếu còn học thì vẫn còn cần đến Thầy. Không những cần Thầy dạy học mà còn cần Thầy soi sáng những lầm lỡ của mình nữa.

Như một người mẹ, Thầy tôi rất quan tâm đến nếp sống vật chất của chúng tôi như cái ăn, cái mặc, chỗ ở, tiền túi… Có một lần đi khóa tu, thấy tôi mặc chiếc áo nhật bình bạc màu, Thầy hỏi sư chị trụ trì xóm tôi một cách rất nhẹ nhàng: “Sao sư chị để cho sư em mặc áo cũ đi ra ngoài vậy?”. Tánh tôi không bao giờ để ý đến chuyện ăn mặc, nhưng vì thương sư chị, từ đó tôi luôn để dành những chiếc áo mới nhất để đi khóa tu và đi ra ngoài.

Mỗi sinh hoạt trong thời khóa thường nhật của chúng tôi từ đầu ngày cho đến cuối ngày đều có liên hệ trực tiếp đến Thầy. Bởi vì Thầy dạy chúng tôi cách bắt đầu một ngày mới với sự thực tập thi kệ lúc thức dậy, cách mang dép, cách đi nhà vệ sinh, vặn vòi nước, đánh răng, rửa mặt, cách ngồi thiền, tụng kinh, lạy Bụt, cách ăn sáng, cách đi, cách làm việc… Trong mỗi sinh hoạt, mỗi động tác, Thầy hướng dẫn chúng tôi cách thức để có thể tự nuôi dưỡng thân tâm và chuyển hóa khổ đau cho chính mình. Thầy chỉ dạy và soi sáng đời sống tu học cá nhân, cho đến cộng đồng. Thầy dạy cách sống hòa hợp trong một cộng đồng mà mỗi người đến từ mỗi quốc gia khác nhau, có văn hóa và tuổi tác khác nhau. Từ những năm đầu, Thầy đã làm mới và chỉ dạy cho chúng tôi cách tổ chức, sinh hoạt trong chúng xuất gia. Chính Thầy đề cử ra Ban chăm sóc, đã dạy chúng tôi vai trò cũng như cách thức làm việc của Ban chăm sóc, rồi của Hội đồng Tỳ kheo, Hội đồng Tỳ kheo ni, cho đến Hội đồng Giáo thọ, và vị Trụ trì. Viết đến đây, tôi còn cảm được năng lượng hớn hở và phấn khởi của các chị em tôi mỗi mùa đông giá lạnh, một tuần ba buổi, vào thiền đường sớm để có được một chỗ ngồi tốt, chuẩn bị để nghe buổi pháp thoại sắp tới. Nghe pháp hoài cũng vẫn muốn nghe thêm. Rồi còn bao nhiêu là những sinh hoạt khác với Thầy nữa!

Này em, chắc em đã hiểu vì sao những gì xảy ra cho Thầy đã ảnh hưởng tôi nhiều như vậy. Tôi có quyền buồn đau khi Thầy tôi bệnh nặng phải không em? Nhưng cái gì đã giúp cho tôi ra khỏi cái hố to tối hù vào buổi khuya hôm đó?

Sau khi thực tập thi kệ một hồi, lòng dịu lại được phần nào, đầu óc tôi sáng suốt hơn để nhớ rằng Thầy đang có mặt khắp mọi nơi, trong tăng thân xuất sĩ cũng như cư sĩ, trong tất cả những ai đang thực tập hơi thở chánh niệm, những ai đang bước những bước thiền hành trên quả địa cầu này, và nhất là trong chính tôi. Tôi cũng đã từng thực tập tiếp xúc với Ba tôi trong bàn tay tôi lúc Ba tôi mới mất. Nhưng lần này, có lẽ nhờ được nhắc nhở thường xuyên trong đời sống tu tập hằng ngày trong suốt 22 năm, đây là lần đầu tiên tôi thấy hiệu lực thần kỳ của cách nhìn sự vật dưới ánh sáng của tương tức. Nhận thức này đã kéo tôi ra khỏi hầm hố của sự đau buồn, hố càng sâu thì tôi được thoát ra càng mạnh. Đúng như những gì em cũng đã từng được nghe, chỉ có tuệ giác mới giúp mình vượt thoát khổ đau. Và nếu mình chưa có tuệ giác, mình cũng có thể nương theo tuệ giác mà mình đã được học thì cũng đỡ khổ rồi, phải không em?

Khi nhớ rằng Thầy tôi đang tiếp tục sống mạnh khỏe dưới hình tướng của tôi, bỗng nhiên một sức mạnh chưa từng có dâng lên trong lòng, phát khởi thành một lời nguyện. Lời nguyện này còn mạnh mẽ gấp nhiều lần so với lúc tôi phát nguyện xuất gia, lúc thọ giới lớn và cả lúc nhận truyền đăng từ Thầy. Tôi ngạc nhiên vô cùng! Tôi đã từng đi qua trạng thái thương nhớ, chán nản, không còn một chút năng lượng để làm gì khi sầu khổ. Giờ đây, chỉ cần thấy tôi là sự tiếp nối của Người thì tôi lại tràn đầy năng lượng và niềm ước vọng. Trước mặt tôi có bao nhiêu điều tôi muốn làm để tiếp tục sự nghiệp của Người. Chính cái nhìn này đã làm cho niềm khổ đau trong tôi thoát hình thành một nguồn năng lượng dũng mãnh để tạo ra lời phát nguyện đó. Càng khổ thì lời phát nguyện càng dũng mãnh. Tôi đã chứng kiến nét mặt và ánh mắt của Thầy chuyển từ trạng thái xuất huyết não qua đến trạng thái hôn mê, ruột gan tôi vẫn còn thắt lại khi viết đến đây. Tôi cảm thấy thấm thía những gì tôi đã được học về Lợi lạc của khổ đau (the goodness of suffering). Nếu em lấy khổ đau làm phân bón, từ bùn, em sẽ gặt hái được những đóa sen xinh tươi và thơm ngát nhất.

Này em, đây là lần đầu tiên tôi dám trả lời câu hỏi của em. Tôi không biết tôi có giúp được gì cho em không, nhưng ít nhất, tôi không nói lý thuyết suông. Và tôi cảm được rằng Thầy tôi cũng như Ba tôi đang mỉm cười, hài lòng về tôi lắm.

 

 

Mối tình Việt Nam

Con xa đất nước thời thơ ấu
Giọng nói quê hương vẫn ngọt ngào
Nề nếp tổ tông cha nắm giữ
Hương sắc quê nhà mẹ chuyển trao.

Thầy thường nói rằng quê hương của Thầy không phải chỉ là Việt Nam, quê hương của Thầy là cả trái đất này, là bây giờ và ở đây, là vượt thoát thời gian và không gian. Tôi biết dù nói thế nhưng trong lòng Thầy vẫn có một mối tình đặc biệt đối với Việt Nam, đơn giản vì Thầy là người con Việt Nam. Trong cái nhìn của một vị thiền sư thì ở đâu cũng là quê hương, nhưng trong một con người thì nơi sinh ra và lớn lên là quê hương của mình, và Thầy vẫn luôn luôn tự hào vì điều đó. Dân tộc, tổ tiên của chúng ta là một dân tộc thuần từ, có một ngôn ngữ Việt rất ngọt ngào, đầy chất liệu thi ca. Nền đạo đức thuần từ thể hiện rõ nhất ở hai thời đại Lý-Trần. Những điều hay đẹp ấy được Thầy khai triển và cống hiến cho xã hội Tây phương – một tinh thần đạo Bụt Dấn thân (Engaged Buddhism) đã và đang được nơi này đón nhận nồng nhiệt.

Thầy và Tăng thân Làng Mai thiền hành tại Vĩnh Phúc trong chuyến về Việt Nam năm 2007

Sáu anh chị em chúng tôi trở về Việt Nam lần đầu tiên sau nhiều năm sinh sống và hành đạo tại Tây phương. Chuyến đi ấy gồm có sư cô Định Nghiêm, sư cô Thuần Nghiêm, sư cô Thiều Nghiêm, thầy Pháp Ứng, thầy Pháp Trú và tôi, tất cả đều đã rời đất nước từ khi còn nhỏ, đều đã lớn lên và tiếp thu văn hóa phương Tây. Thầy biết chúng tôi là những đứa trẻ Việt của thế hệ “trái chuối” – ngoài da thì vàng nhưng trong ruột thì trắng, nghĩa là đã bị Tây hóa. Tuy vậy, ở trong tu viện, Thầy đã dạy cho chúng tôi nhiều cái hay, cái đẹp về văn hóa Việt. Thầy cho chúng tôi tiếp xúc với một nền đạo đức tâm linh, văn hóa, văn minh Việt để chúng tôi không bị mất gốc và có thể tự hào mình là người Việt Nam. Nhiều người trẻ lớn lên ở Tây phương có mặc cảm cô độc vì tuy họ là người Việt mà không biết gì về con người và văn hóa Việt, trong khi đó lại có cảm giác không được chấp nhận như người Tây, do đó rất đau khổ. Khi được học cả hai nền văn hóa thì mình có thể tự hào hơn, hạnh phúc hơn vì mình mang trong mình cả hai nền văn hóa. Tuy đã được Thầy trao truyền những cái hay, cái đẹp về văn hóa Việt nhưng Thầy muốn các con của Thầy trở về Việt Nam để tiếp xúc trực tiếp và cảm nhận bằng xương bằng thịt, bằng cả trái tim của mình, và Thầy đã tặng cho sáu anh chị em chúng tôi bài thơ trên. Chúng tôi ai nấy đều hớn hở, hồi hộp lên đường về thăm quê cha đất tổ.

Đĩa trái cây chín thơm

Đứng về phương diện tâm linh, Thầy luôn luôn dạy chúng tôi nhớ về nguồn gốc của mình. Ở bàn thờ tổ tiên trong thiền đường xóm Hạ có hai câu đối do Thầy viết: “Gốc rễ tâm linh xin bồi đắp. Suối nguồn huyết thống nguyện khai thông”. Người hạnh phúc là người có khả năng nối kết được với gốc rễ tâm linh và huyết thống của mình. Mình có hai gốc rễ: tâm linh và huyết thống. Ngoài chuyện trở về tiếp xúc và bồi đắp gốc rễ huyết thống, mình cũng về để kết nối với gốc rễ tâm linh, mà gần nhất là chư Tổ ở Tổ đình Từ Hiếu, nơi Thầy đã xuất gia học đạo. Thầy bảo: “Các con là những cây thầy trồng nay đã kết trái, đã chín thơm, đẹp và thầy muốn dâng lên chư Tổ như một kết quả của sự tu học của mình. Thầy về chưa được nên các con về giùm thầy vậy. Các con về cũng là thầy về. Về chùa Tổ các con nhớ bước những bước chân chánh niệm trên đất Tổ cho thầy, nhớ thăm những nơi mà thầy đã sống, như phòng ngủ, những cái giếng, chuồng bò, đồi Dương Xuân, và nhất là phòng của Sư Cố. Các con đi đảnh lễ tháp Tổ Liễu Quán và nếu có cơ hội thì ra Hà Nội để chiêm bái núi Yên Tử và đảnh lễ các tháp của Tam Tổ Trúc Lâm”.

Tháng Hai năm 2000, sau khi đã được Thầy truyền đăng làm giáo thọ, chúng tôi được Thầy cho phép về thăm Việt Nam. Chuyến đi ấy dài hơn hai tháng và chúng tôi đã được tiếp xúc với ba miền của đất nước. Tại Huế, chúng tôi được ở lại chùa Tổ. Thời gian ở chùa Tổ có thể nói là thời gian hạnh phúc nhất vì được đảnh lễ tháp Tổ, được tiếp xúc với năng lượng của chư Tổ, được Sư Thúc và các thầy yêu thương, chăm sóc tận tình, được đi đảnh lễ tháp Tổ Liễu Quán, nhưng cũng nhiều phen “đau tim”… Ra Bắc, chúng tôi được Thầy dạy đi thăm và đảnh lễ các tháp Tổ ở miền Bắc, đặc biệt là đi thăm núi Yên Tử. Đây là nơi mà các vị vua đời Trần đã rũ bỏ “áo mão cân đai” để lui về tu tập, trong đó có vua Trần Nhân Tông, sau này là người đã khai sáng thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một thiền phái đặc thù Việt Nam, một thiền phái của đạo Bụt Dấn thân mà bây giờ Thầy trò chúng tôi đang tiếp nối. Thầy bảo: “Chuyến đi này là chuyến đi thăm quê, ngoài việc tiếp xúc với tổ tiên, với quê hương đất nước, xã hội và trải nghiệm, các con sẽ có thể không được phép tổ chức những ngày tu chánh niệm như bên này, các con cũng sẽ tiếp xúc với những mặt trái của đất nước, xã hội và có những cái có thể làm cho các con bị sốc, nhưng các con đã được chuẩn bị kỹ, lại có sự thực tập nên sẽ không đau khổ và thất vọng như những người trẻ khác khi họ về Việt Nam lần đầu. Mỗi bước chân thảnh thơi, an lạc, mỗi nụ cười tươi sáng, hiền hòa, mỗi cử chỉ yêu thương đều là những bài pháp thoại không lời, sống động mà các con có thể cống hiến cho quê hương”.

Chuyến đi ấy đã khơi dậy trong lòng những người trẻ lớn lên ở hải ngoại như chúng tôi tình yêu thương đất nước vô bờ bến. Ai cũng sẵn sàng về lại nhiều lần để góp sức xây dựng quê hương của mình được đẹp đẽ như tổ tiên đã làm trong thời đại Lý-Trần. Mỗi lần được ngồi chơi với Thầy, Thầy luôn quan tâm đến Việt Nam. Thầy nói nếu Thầy về không được thì sau này các con sẽ về giùm cho Thầy. Đất nước của mình đã trải qua quá nhiều khổ đau, đổ vỡ và đang đối mặt với nhiều thách thức. Hơn một nửa dân số được sinh ra sau chiến tranh và có khi trải nghiệm những cái khổ mà không biết tại sao mình khổ. Thế hệ trước thì vẫn mang nhiều hiềm hận, thương tích, chia rẽ, còn thế hệ sau lại đang có cảm giác lạc hậu và choáng ngợp trước những phát triển của thế giới công nghệ, và nhiều người không định hướng được mình sẽ ứng phó như thế nào.

Chuyến đi khép lại với những niềm vui, sự hãnh diện và bao điều thao thức đối với anh chị em chúng tôi. Trước hết là cái đẹp về núi non, sông nước hữu tình. Chúng tôi khi còn ở Việt Nam, vì điều kiện không cho phép nên chưa bao giờ được vân du trên khắp các vùng đất nước, nhưng sau chuyến đi chúng tôi đã giật mình hãnh diện, không ngờ đất nước của mình lại đẹp như thế. Hèn chi Thầy đã viết bốn câu thơ ca tụng Việt Nam để tặng cho các bạn trẻ Việt Nam như chúng tôi khi tới Làng:

Lắng lòng nghe tiếng gọi quê hương

Sông núi trông ra đẹp lạ thường

Về tới quê xưa tìm gốc rễ

Qua rồi cầu hiểu tới cầu thương.

Tiếng gọi quê hương

Quả đúng như thế. Chúng tôi không ngớt đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Thật là một đất nước với núi non, sông hồ thơ mộng. Con người hình như thân thiện hơn, niềm nở hơn, tươi vui hơn. Điều này do một du khách Tây phương đã nói với tôi khi tôi gặp bà ở bãi biển Nha Trang. Có nhiều thứ để nói về đất nước và con người Việt Nam lắm. Những cái hay, cái đẹp ấy đang được ông bà, cha mẹ gìn giữ. Ông bà, cha mẹ là những chiếc cầu để con cháu được kết nối với tổ tiên.

Song, bên cạnh đó, nhiều trải nghiệm khác đã khiến chúng tôi nghĩ là sẽ tiếp tục trở về để góp sức xây dựng đất nước bằng chính nếp sống đạo đức tâm linh mà bao thế hệ tổ tiên đã dày công bồi đắp. Chúng tôi thấy đất nước còn quá nhiều khó khăn, khổ đau, nghèo đói, bức xúc, lo lắng, sợ hãi, tranh đua, nghi kỵ, bạo động; tuổi trẻ chán nản, tuyệt vọng, mất phương hướng; dư âm của những vết thương chiến tranh, hận thù và bất công còn đọng lại nơi từng tế bào của mình, không có gì mất đi cả. Tôi nhớ có lần ngồi trên xe lửa đi ra Hà Nội, tôi gặp một anh thanh niên với khuôn mặt thanh tú đang bán trứng vịt lộn. Tôi bắt chuyện hỏi thăm và được biết là anh đã tốt nghiệp đại học kinh tế nhưng không tìm được việc làm, cuối cùng phải đi bán trứng vịt lộn để kiếm sống. Tôi thật xót xa. Chúng tôi chợt hiểu được trái tim của Thầy, hiểu được tình yêu thương mà Thầy luôn dành cho Việt Nam, luôn khuyến khích các học trò sau này phải về Việt Nam để thay Thầy xây dựng đất nước bằng sự tu học của mình. Niềm thương cảm quê hương dâng tràn, trong lòng mỗi anh chị em chúng tôi, ngọn lửa yêu thương đã được nhen lên cùng với lời phát nguyện sẽ tiếp tục về Việt Nam. Chúng tôi nhận thấy, đất nước của mình còn có nhiều nghèo đói, còn lạc hậu nhiều khía cạnh, và điều quan trọng hơn cả chính là thiếu đi sự thống nhất lòng người, thiếu chất liệu hiểu và thương vốn là một chất liệu quan trọng mà tổ tiên của mình trong thời Lý-Trần đã sử dụng để xây dựng non sông. Chúng tôi luôn lạc quan về đất nước của mình vì hạt giống của đạo Bụt, của hiểu và thương đã được gieo bởi tổ tiên của mình qua nhiều thế hệ vẫn còn đó trong chiều sâu tâm thức người dân. Chỉ cần tưới tẩm là nó sẽ nảy mầm. Niềm tin về đạo Bụt trong lòng người Việt là không thể nghi ngờ.

Tới năm 2003, tôi lại có cơ duyên về Việt Nam để mở khóa tu cùng với các sư anh, sư chị và sư em của tôi. Chúng tôi đã về quê hương với một trái tim thuần khiết và tràn ngập yêu thương. Niềm ước mơ duy nhất là chung tay xây dựng và bồi đắp, làm đẹp quê hương với nếp sống đạo đức tâm linh của mình. Mọi việc không hề dễ dàng như chúng tôi nghĩ. Kể từ đó, chúng tôi đã có thêm nhiều chuyến về nữa kể cả những chuyến trở về cùng với Thầy. Sau ba chuyến trở về của Thầy và tăng thân, đã có nhiều người trẻ xuất gia. Chỉ trong vòng gần 4 năm, số lượng người trẻ xuất gia đã lên tới gần 400 người. Nhiều cơ hội đã mở ra và cũng không ít những khó khăn, thách thức mà chúng tôi phải đối mặt. Giấc mơ đồng hành với những người trẻ Việt Nam trên con đường hiểu và thương để xây dựng một đất nước Việt Nam, một dân tộc Việt Nam đẹp đẽ hơn, thuần từ hơn, hạnh phúc hơn và an vui hơn đã bị tổn thương trầm trọng. Dù vậy, chúng tôi không giữ một niềm thù hận nào, không chán nản và tuyệt vọng. Tình yêu của chúng tôi cho Việt Nam vẫn còn nguyên vẹn.

Giờ đây, những người xuất sĩ trẻ chúng tôi đang tu tập và cống hiến cho hàng trăm ngàn người ở ngoài nước, nhưng trong lòng vẫn ấp ủ một ngày nào đó, nếu nhân duyên đầy đủ cũng sẽ trở về để tiếp tục thực hiện giấc mơ Việt Nam. Những gì huynh đệ chúng tôi đang làm ở nước ngoài cũng là đang làm cho Việt Nam. Chúng tôi luôn có niềm tin và hy vọng đối với đất nước mình. Chúng tôi vẫn tự hào là mình đang cống hiến cho xã hôi Tây phương một đạo Bụt phát xuất từ Việt Nam, đạo Bụt Dấn thân, một đạo Bụt Ứng dụng đáp ứng được những đòi hỏi thực tiễn trong đời sống.

Tại Trung tâm Làng Mai quốc tế Thái Lan

(Hết phần 1)

Thăm Thầy

Con đến thăm Thầy một sớm mai
Vườn xuân thanh vắng, nắng rơi đầy
Chén trà thơm ngát căn phòng nhỏ
Yên lặng bên Thầy trong phút giây
 
Con đến thăm Thầy một sớm mai
Đàn chim ríu rít, suối reo cười
Lẳng lặng bên Thầy con nhẹ bước
Năng lượng Thầy hiền con thở yên
 
Con đến thăm Thầy một sớm mai
Vườn hoa trời rét tưới cùng Thầy
Hiên nhà hoa rụng trong màu nắng
Buổi mai hiền như một khúc thơ
 
Con đến thăm Thầy lúc khổ đau
Thầy dạy con: “Nhớ gọi tên Thầy
Tin rằng Thầy vẫn cùng con đó
Trên nẻo đường con gặp gian nguy
 
Hôm nay như sớm mai xưa ấy
Con lại qua đây, đến thăm Thầy
Gió vẫn còn lay hoa vẫn nở
Bước chân Thầy trong bước chân con.

Tình thầy trò

Còn nguyên sơ, còn trọn vẹn

Có những con đường mình tự trả

Mình thấy thích, mình làm thôi

Mình đâu có tính toán gì đâu.

 

 

Đàn voi của Thầy

Các sư em thương,

Chị vẫn nhớ những ngày đầu mới về Bát Nhã, mỗi khi có dịp ngồi chơi với các sư em, chị đều được yêu cầu kể chuyện ở Làng cho các sư em nghe. Mà đâu phải riêng chi mình chị, hễ có sư cô hay thầy nào từ Làng hay các trung tâm khác của Làng về thăm hay nhập chúng, các sư em cũng đều thích được nghe kể chuyện ở Làng. Một trong những chuyện các sư em thích nghe nhất và thậm chí nghe hoài không biết chán, đó là những câu chuyện về Thầy, hẳn rồi vì Thầy là Thầy của chúng ta mà. Bây giờ Làng mình có nhiều trung tâm và các sư em thì đông hơn ngày trước nhiều, dù ở cách xa nhau nhưng không vì vậy mà chị em mình mất đi cơ hội kể chuyện cho nhau nghe, các sư em có thấy vậy không?

Mấy năm nay, Làng mình có thêm các trung tâm ở Thái Lan, Mộc Lan, Bích Nham, Hồng Kông, Nhập Lưu, Học Viện Vô Ưu ở Đức, v.v.. Những trung tâm khác thì chị chưa đến, nhưng Học Viện Vô Ưu ở Đức và Thái Lan thì chị đã đến trong những khóa tu lớn, hay những lần đưa các sư em sang Thái dự lễ xuất gia, thọ giới. Lúc đó đại chúng ở Thái chưa dọn lên đất mới nhưng chị đã có mặt trong ngày đặt đá ở đất mới, khởi đầu cho công trình xây dựng trung tâm về mặt cơ sở hạ tầng. Và từ khi có các trung tâm mới, chị đã được nghe rất nhiều câu chuyện của các anh chị em mình. Câu chuyện nào cũng hay, cũng nuôi dưỡng chị. Dù chưa đến những nơi ấy, nhưng với đầu óc tưởng tượng khá phong phú, chị có thể hình dung được khung cảnh của các trung tâm ấy, mà sự thật thì chị đâu có giỏi tưởng tượng, bởi trung tâm nào cũng có hình và có cả phim nữa.

Được nghe những câu chuyện từ các anh chị em mình, chị thấy hạnh phúc lắm. Ở yên một chỗ, không tốn vé máy bay mà ai cũng biết được rất nhiều chuyện về các sinh hoạt của tăng thân khắp chốn, cảnh vật, thời tiết thay đổi bốn mùa v.v. Được nuôi dưỡng qua những câu chuyện của các anh chị em, chị thấy mình cũng nên mở lòng kể chuyện cho các sư em nghe. Phải rồi, có những câu chuyện đẹp đã nuôi dưỡng chị nhiều lắm các sư em, chị thấy mình không nên cất giữ cho riêng mình và chị muốn chia sẻ với các sư em của chị. Đang ở Làng nên chị sẽ kể về Làng cho các sư em nghe nhé! Chuyện ở Làng thì nhiều lắm, kể không bao giờ hết, viết không bao giờ cùng. Câu chuyện chị sắp kể ra đây đã đi qua ba mùa đông rồi, đó là mùa đông năm 2012, một trong những câu chuyện đẹp mà chị có trong những lúc ở bên Thầy, giây phút ấy giờ đã trở thành huyền thoại rồi, các sư em.

Các sư em đã nghe kể về các xóm ở Làng rồi phải không, để chị kể sơ một chút về lộ trình của ba xóm cho các sư em nghe trước khi bắt đầu câu chuyện nhé. Đường lên xóm Thượng từ xóm Hạ không xa lắm, đủ một vòng thể thao 45 phút đi bộ thong thả, đó chỉ là đi thôi. Muốn dừng lại lâu hơn để tiếp xúc với cảnh vật hai bên đường, ngắm trời mây thì chừng đó thời gian không đủ, nhất là đối với những người yêu thích thiên nhiên. Trước khi vào hẳn trong xóm phải đi qua rừng sồi và bên kia là vườn nho. Những cây sồi lâu năm nên thân và gốc cây to lắm. Rừng sồi còn có tên Đồi thỏ do các chị em tự đặt, vì nơi đây có nhiều thỏ. Những hang thỏ nằm dưới hoặc bên cạnh các gốc cây sồi. Những mùa thời tiết đẹp, ngày quán niệm ở xóm Thượng, các chị em thường rủ nhau đi sớm hơn, mang theo thức ăn và trà nước lên rừng sồi ngắm cảnh rồi ăn sáng, uống trà. Giờ đó những chú thỏ đã chịu chui ra khỏi hang để dạo chơi và ăn cỏ. Sóc thì dạn hơn, lúc nào cũng thể hiện tài nhảy phóc của mình, người ngồi dưới gốc cây, sóc nhảy trên cành, nai thì gặm cỏ trong các vườn nho cạnh mé rừng, hòa bình quá phải không các sư em. Cũng nơi rừng sồi này, vào tháng ba, hoa Thủy tiên biểu hiện vàng rực cả một vùng.

Vào những ngày quán niệm ở xóm Thượng hay xóm Hạ, quý thầy, quý sư cô và thiền sinh hai xóm có dịp đi bộ. Xóm Mới ở cách xa nên các chị em, ngoài đi bộ qua Sơn Cốc trong những ngày dành cho chúng xuất sĩ trong mùa An cư, phải đi xe qua hai xóm trong những ngày quán niệm. Và khi quán niệm ở xóm Mới thì hai xóm kia cũng phải đi xe. Sơn Hạ thuộc chúng xóm Thượng nên ngày quán niệm sinh hoạt chung tại xóm Thượng.

Các anh chị em ngoài những ngày quán niệm vẫn có những buổi đi bộ chơi trong những ngày làm biếng. Nhiều người thích khám phá những con đường mới hơn, xa hơn và mỗi lần khám phá ra con đường mới hay một đám hoa dại lạ, một lâu đài cổ kính, một hồ nước thiên nhiên v.v… vậy là truyền tin cho nhau biết và rủ nhau đi cùng. Chị không biết đây có phải là sở thích chung của nhiều người, ưa đi tìm những cái mới lạ. Đôi khi ưa thích đi tìm những cái mới lạ, chị đã thờ ơ và quên đi những cái rất bình thường, rất thật đang ở ngay bên cạnh mình. Và tình trạng ấy đã xảy ra cho chị đó các sư em.

Hôm ấy chị cùng Đàn Nghiêm và Tập Nghiêm lên cốc Thầy, cốc Ngồi Yên ở xóm Thượng. Lúc nào cũng vậy, trước khi bắt đầu một công việc gì, Thầy trò cũng có thì giờ uống trà trước khi làm. Hôm đó, trong lúc ngồi uống trà, Thầy nhìn ba chị em và hỏi: “Trên đường vào đây các con có thấy đàn voi của Thầy không?”. Câu hỏi hơi bất ngờ khiến ba chị em không hẹn mà đưa mắt nhìn nhau. Nụ cười thay cho câu trả lời là thượng sách của những lúc bí. Các sư em biết đó, kiểu hỏi của các thiền sư luôn mang tính chân đế mà học trò thì còn tục đế quá, hỏi làm sao mà lãnh hội được liền, nghĩ vậy nên chị tự than thầm: “Chúng con còn tục đế lắm Thầy ơi!”. Hiểu được tâm trạng của những đệ tử chưa thấm tương chao, Thầy mỉm cười một cách rộng lượng. Thầy trò ngồi yên uống trà. Nâng ly trà trong hai tay, sau khi nhấp một ngụm trà, Thầy nói tiếp: “Các con nhìn thấy đàn voi đó là mỗi khi đi qua đó Thầy sẽ nhớ tới các con. Lát nữa trên đường về các con nhớ nhìn cho kỹ, qua khỏi cái bảng Arrival và nhìn về phía bên trái, các con sẽ thấy có hơn năm chục con voi đứng ở bên đường chào đón các con”. Rồi Thầy cười và tiếp: “Chỉ có Thầy mới thấy được những con voi đó!”.

Có chuông sinh hoạt, Thầy đứng dậy và bảo: “Đi chơi với thầy các con!”. Câu này thì ba chị em lãnh hội được ngay liền. Dù biết kiểu “đi chơi” của Thầy rồi nhưng ba chị em không một ai lên tiếng, cứ bước theo Thầy ra hướng thiền đường. Vào những giờ này, nếu chị em nào lên làm thị giả Thầy đều được Thầy “mời” đi chơi, tức là đi ngồi thiền đó các sư em. Thầy biết các chị em không thích ngồi thiền chung ở xóm quý thầy khi không có chúng lớn ba xóm. Biết vậy, Thầy dành luôn những gối cạnh Thầy cho các chị em, điều này còn ngại hơn vì chị ý thức là mình đang ngồi trên cả quý thầy lớn tuổi hạ hơn mình. Vậy mà cũng phải ngồi đó các sư em, bởi cung kính không bằng nghe lời mà. Thầy thì vượt thoát, là an khi thở, lạc khi ngồi, một ngồi xuống dứt trầm luân, còn chị thì sau vài phút chơi với cảm thọ mới ý thức rằng mình đang được ngồi thiền có Thầy bên cạnh và với các sư anh, sư em của mình. Vậy đó mà đôi lúc chánh niệm trốn đi chơi, chị đã vật lộn với hạt giống ưa thích và chống cự, để mất thời gian trân quý Thầy và đại chúng lúc ấy. Tệ hơn nữa là bài học phá chấp theo tinh thần Bát Nhã mà Thầy đang gởi đến cho toàn chúng: “không trên không dưới, không trước không sau” ấy, chị nào thấu hiểu để “ngộ” liền.

Nhưng hôm đó, không biết Bụt có nghe câu gọi thầm của chị “Bụt ơi, cứu con!” không mà khi ra tới các bậc cấp dẫn lên thiền đường, Thầy dừng lại và quay ra hỏi ba chị em: “Sao thiền đường tối vậy con, sao không thấy ai trong đó hết vậy?”. Ba chị em ở xóm Hạ mà, Thầy hỏi vậy thôi chứ Thầy biết là ba chị em cũng giống Thầy, chẳng biết tại sao thiền đường vắng người. May quá, lúc ấy có một sư chú đi tới, Thầy hỏi sư chú đó thì biết là tối nay không có ngồi thiền mà sinh hoạt y chỉ sư, y chỉ đệ. Phải nói là chị mừng… hết lớn và chị biết hai sư em kia cũng vậy. Thầy nhìn ba chị em và nói: “Không có ngồi thiền” và Thầy cười rất tươi như đọc được những gì các chị em đang có. “Mình đi chơi các con, đi thăm đàn voi của thầy!”. Nói rồi Thầy đi về hướng cốc Ngồi Yên. Ba chị em nhìn Thầy rồi nhìn nhau, không biết màn kế tiếp là gì nhưng vẫn cứ đi theo Thầy. Chị nghĩ chắc có ai đó mới cúng dường Thầy bộ sưu tập voi đang để trong cốc, Thầy lúc nào cũng vậy, có cái gì vui cũng muốn chia sẻ cùng đệ tử. Thầy đi từ từ tới xe, mở cửa lên xe ngồi, thắt dây an toàn đàng hoàng. Ba chị em, trước khi lên xe còn đứng đưa mắt nhìn nhau trông như người ngớ ngẩn. Tới đây thì chị hết dám đoán mò nhưng vẫn không thôi thắc mắc. Ba chị em cũng ngồi vào xe, thắt dây an toàn và… hồi hộp, không biết Thầy đang đưa mình đi đâu. Thầy bảo Đàn Nghiêm lái xe ra hướng đầu đường.

Chị ngồi trong xe mà bao nhiêu câu hỏi khởi lên, bởi có bao giờ chị nghe ai nói có sở thú ở vùng này đâu. Qua bãi đậu xe cạnh vườn rau, Thầy bảo cho xe chạy chầm chậm và hỏi: “Sao, các con có thấy đàn voi của thầy không, có thấy gì không?”. Thầy hết nhìn sang Đàn Nghiêm lại quay ra sau nhìn hai chị em. “Nhìn đi, nhìn ra bên ngoài đi con! Sao, các con có thấy con voi nào không?”. Chịu. Ba chị em vẫn không thấy con voi nào của Thầy đâu cả. Vẫn con đường đó, một bên là rừng sồi già, một bên là vườn nho. Chị không biết các vị thiền sư ngày xưa hành xử như thế nào với những người đệ tử chậm tiến, nhưng chị biết kiểu độn căn cỡ chị mà gặp Tổ Lâm Tế thì chắc phải ăn vài hèo. Nhưng may cho chị, Thầy là Thầy, vì vậy không những Thầy không cho ăn hèo nào mà còn từ bi kiên nhẫn với học trò vô cùng. Cuối cùng Thầy chỉ vào từng gốc sồi và nói: “Đó, đàn voi của Thầy đó, các con coi cái gốc cây có giống như chân của con voi không. Nhiều chân voi lắm, cả một bầy voi đang đứng bên nhau đó con, nhìn đi, nhìn cho kỹ!”. Bụt ơi! Tới đây thì chị chỉ biết thở và cười để buông bỏ những nghi hoặc từ khi đặt chân vào cốc Thầy.

Các sư em thương! Lâu nay chị ưa thích đi khám phá những điều mới lạ: những con đường mới lạ, lâu đài mới lạ, một câu chuyện mới lạ, loài hoa dại mới lạ, khu rừng mới lạ… mà vô tình với những gì quen thuộc thân thương đang có mặt chung quanh mình. Từ khi được Thầy dạy nhìn kỹ, chị đã thấy đàn voi của Thầy một cách sâu sắc hơn. Và mỗi lần có dịp đi ngang qua rừng sồi, chị lại bắt gặp ánh mắt Thầy đang mỉm cười. Trong cuộc sống còn biết bao nhiêu điều chúng ta chưa nhìn thấy được, các sư em, có phải do chúng ta chưa thật sự nhìn kỹ? Nhìn kỹ mẹ, nhìn kỹ ba, nhìn kỹ anh chị em, nhìn kỹ những người đang có đó cho mình, nhìn kỹ một bàn tay, nhìn kỹ một đám mây, một nụ hoa… và nhìn kỹ lại mình, chúng ta sẽ khám phá ra nhiều cái hay, cái đẹp trong tự thân của mỗi loài. Nhìn cho kỹ, chúng ta sẽ thấy niềm biết ơn dâng tràn, sự trân quý dâng tràn và niềm thương cũng dâng tràn. Biết nhìn kỹ thì cuộc sống sẽ sâu sắc hơn, giây phút hiện tại rõ ràng và thật hơn. Nhìn kỹ để thấy thực tại mầu nhiệm đang có mặt đó cho mình.

Xe chạy ra đầu đường, Thầy bảo quay ngược xe trở lại. Lần này xe chạy chậm hơn, Thầy trò đang tiếp xúc với những gì đang thật có trong im lặng. Và kể từ giờ phút ấy, chị học nhìn cho kỹ, học tiếp xúc với mọi cảnh, mọi vật chung quanh bằng con mắt của Thầy, con mắt vô tướng hiện thật tướng.

Nhìn cho kỹ, đó là thông điệp chị đã nhận được từ Thầy hôm ấy, chị xin gởi tới cho các sư em của chị.

Thầy ơi!…

Hươu nai ưa đồng quê,

Chim chóc ưa trời mây…”

Con rất thích được Thầy gọi chúng con là những con hươu con về cánh đồng quê nội. Được Thầy đặt cho biệt danh “Hươu Con” con rất được nuôi dưỡng. Con thấy con là chú hươu con hạnh phúc được nằm trong vòng tay yêu thương của nội. Mỗi ngày chúng con luân phiên nhau đem cơm lên nhà nội và được dùng cơm chung với nội. Đó cũng là thời gian con được làm thị giả cho Thầy, được mang cơm cho Thầy, những ngày ấy đã để lại cho con nhiều kỷ niệm đẹp.

Thầy ơi! viết xuống những dòng này bao nhiêu kỷ niệm về Thầy sống lại trong con. Thầy đã từng dạy chúng con rằng: “có những giây phút nếu như mình biết sống cho trọn vẹn và trân quý thì giây phút đó sẽ trở thành bất diệt”. Con nuôi dưỡng những giây phút được sống gần Thầy. Và mỗi lần gọi hai tiếng “Thầy ơi!”, con lại thấy Thầy đang có mặt cho con ngay trong giây phút ấy. Tiếng gọi ấy cũng là bài học Thầy đã dạy con trong thời gian con làm thị giả.

Mỗi lần được ngồi bên Thầy con thật hạnh phúc, đôi khi Thầy trò không cần nói gì cả. Có khi Thầy kể chuyện cho chúng con nghe. Có một buổi chiều hai chị em con vào thư viện của Thầy để thỉnh Thầy ra dùng cơm. Thầy đang ngồi trên võng đọc sách, Thầy dạy hai chị em con ngồi xuống chơi với Thầy. Thầy dạy hai chị em con cách gọi “Thầy ơi!”. Con được bắt đầu trước. Thầy dạy con nói theo Thầy:

– “Thầy ơi…! ơi…!…ơi!”

Con chưa nói theo được. Con thưa:

– Thưa Thầy, khó quá con không nói được.

– Không khó mô, con cứ nói theo Thầy đi! Con nói được. Con đọc theo Thầy này: “Thầy ơi!…ơi!…ơi!”

Lần này con đọc theo:

– Thầy ơi!

– Không, chưa hay, chưa giống Thầy, dài hơn, nhẹ nhàng hơn nữa, con đọc lại đi! Phải đọc cho diễn đạt, cho hay như Thầy vậy đó.

– Thầy ơi…! ơi…!

– Con tập đọc theo Thầy nhiều lần. Con thầm nghĩ, con phải nói cho được để Thầy vui và đỡ mất sức phải chỉ cho mình nên con tiếp tục gọi:

– Thầy ơi…! ơi…! ơi…!

– Ơi … ơi… ơi! – Thầy đáp lại.

Con cảm nhận như có nguồn yên vui, hạnh phúc, trân quý, thương kính trào dâng, không thể nào nói được thành lời. Con thấy mình may mắn được làm đệ tử của Thầy và được Thầy chỉ dạy.

Đến phiên sư em con, sư em ngại ngùng không chịu nói, sư em thưa:

– Bạch Thầy, con không nói được.

Thầy dạy: – Con nói được, con cứ xem Thầy như Ba của con đi! Ở nhà con có nói như vậy với Ba con không?

– Dạ không, bạch Thầy!

– Vậy thì bây giờ con tập nói đi. Thầy ơi…! ơi…! ơi…!

– Bạch Thầy, con không nói được đâu.

– Bây giờ con không chịu nói, đợi đến khi Thầy thành nắm tro rồi mới chịu nói cho Thầy nghe thì muộn rồi!

Sư em đã cố gắng, nhưng hơi khó cho sư em. Sư em không làm được. Cuối cùng Thầy không ép sư em con nữa. Thầy cho sư em con mắc nợ, lần sau sẽ đọc.

Rồi Thầy dạy: “Khi nào các con có khó khăn, chỉ cần các con gọi thầy ơi thôi, là khó khăn đã nhẹ đi nhiều lắm rồi. Con sẽ có thầy bên cạnh, yểm trợ và giúp mình vượt qua khó khăn. Và cứ mỗi khi các con gọi thầy như vậy thì thầy sẽ âm thầm đáp lại “ơi!” liền cho các con”.

Ba Thầy trò ra phòng ăn. Trong bữa ăn, có thêm hai sư em con cùng ăn cơm nữa nên Thầy lại dạy chúng con tập gọi Thầy như lúc nãy. Sư chị, sư em nào gọi xong được Thầy thưởng cho một miếng đậu hủ, sư em chưa gọi được nhưng Thầy cũng thưởng cho sư em một miếng.

Thầy kính thương!

Chị em con mỗi người lớn lên với nhiều hoàn cảnh khác nhau! Chúng con thương Thầy, thương Tăng thân và có chung lý tưởng. Có những sư chị, sư em con đến với Thầy rất dễ dàng, nhưng cũng có những sư con của Thầy chỉ thích đứng từ xa nhìn Thầy, nghe Thầy nói pháp thoại mà không dám lại gần. Thầy đã giúp chúng con phá đi cái hàng rào ấy để chúng con có được tình Thầy trò rất đẹp. Sư em con vẫn đang tập gọi “Thầy ơi” mỗi ngày, chúng con thường kể lại chuyện này cho nhau nghe và chúng con nói với nhau rằng “Sư Phụ” của chúng mình dễ thương quá!

Mùa đông này con tu tập có hạnh phúc hơn rất nhiều. Con không biết tình thương của Mẹ là gì nhưng tình thương của Thầy đối với con ngọt ngào quá! Con thương Thầy nên cố gắng tu cho thật tốt. Khi con làm điều gì đó sai, con thật sự thấy có lỗi với Thầy. Con đã cố gắng làm bất cứ cái gì mình có thể để giúp chúng và giúp các sư chị sư em khi các chị em cần đến con. Và mỗi lần gọi “Thầy ơi”, con biết Thầy đang âm thầm đáp lại “Ơi!” cho con và Thầy đang mỉm cười.

Thầy gọi con về

Thầy gọi con về trong từng hơi thở
Thầy gọi con về trong mỗi bước chân.
Hòn sỏi nào
Hạt cát nào
Con đường nào
Không từng lưu dấu chân xưa…
Dẫu thầy trò ta
Chưa một lần gặp mặt
Nhưng tình Thầy có bao giờ ngăn cách
Mãi dạt dào sưởi ấm trái tim con.
Để sáng nay con bước đi giữa lòng đất Tổ
Ấm áp tình người, nghĩa đệ tình huynh.
Giờ phút này trời đất lặng thinh
Để hồn người rơi vào tĩnh mặc

Rảo bước rong chơi, lối cũ con về…

Con đã thấy hoa thông vàng rụng đầy trước ngõ,
Những cây mưng đang mùa thay lá,
Một nụ đào hồng còn sót lại giữa ngày xuân.
Con đã nghe tiếng chim ríu rít gọi bầy,

Và ngửi thấy hoa mộc hương thơm ngát.

Sáng nay đất trời dịu mát
Thầy gọi con về vững một niềm tin.
Nhà mình đây rồi, con còn đi đâu nữa!
Bụt Tổ trong con
Ba mẹ trong con
Thầy trong con
Huynh đệ trong con.
Vũ trụ cũng cùng góp mặt
Con là biểu hiện của sự sống nhiệm mầu,
Của mạch nguồn tiếp nối.
Trở về thôi!
Con trở về thôi.

Giấc mơ trưa

Ngày làm biếng, tôi muốn mình ngồi thật yên và viết một cái gì đó. Tôi leo lên một ngọn đồi nhỏ, lối đi là những khối đá nhọn hoắc. Mùa đông với những chiếc lá vàng rụng đầy. Có những chiếc lá vàng còn tươi, có những chiếc đã mục, chúng nằm chồng chất lên nhau, đẹp. Lên tới đỉnh đồi, tiếng cười của anh em từ những ngọn đồi khác vọng lên văng vẳng. Lòng tôi yên lạ, cảm giác nhẹ tênh, như ở nhà. Tôi muốn viết một cái gì đó, mà chưa biết viết gì cả. Đầu vừa rỗng vừa đầy. Ngồi trên đỉnh đồi, đồi ngập nắng, tôi nhìn thung lũng dưới chân núi Khao Yai trước mắt, lòng đã bắt đầu thênh thang. Nét bút bây giờ thoáng đãng, nhịp nhàng hơn.

Giấc mơ trưa

Tôi chợt nhớ ngày xưa khi còn bé, có những giấc mơ mình được chạy chơi thoải mái trên đồng cỏ. Những đồng cỏ xa tít, bao la. Gần đây, những buổi trưa đầy nắng, những giấc mơ na ná như vậy hiện về. Có khi tôi thấy mình đang trên một cuộc hành trình giữa một phố người đông đúc, xa lạ. Tình cờ gặp được biết bao nhiêu là người, những con người gần gũi, thân thương. Họ đưa tay vẫy chào như muốn mời tôi ghé thăm, tôi bắt gặp nụ cười đầm ấm, ánh mắt nhẹ nhàng, muốn nói điều gì sâu thăm thẳm. Chỉ đến đó thôi, tôi choàng tỉnh, nhìn ra cửa sổ, nắng chiều nghiêng nghiêng, tự nhiên mắt mình bỗng nhòe đi – vì thấy sự sống này mầu nhiệm quá!

Những giấc mơ như vậy cứ đến với tôi vào những buổi trưa yên ắng, khoảng thời gian mà chỉ có một vài tiếng chim, vài tiếng gió lay động hàng cây. Buổi trưa trong tôi tinh khôi, trong lắng. Tôi cũng có những câu hát về buổi trưa như thế:

“Trưa đong đưa giấc ngủ võng ru chợt tỉnh giấc ôi phượng thắm rụng đầy trên lối đi

Lòng nhẹ theo mây trắng thong dong đến thời thơ ấu vút cao cánh diều

Chốn thần tiên nào trong giấc mơ ai ngủ thoáng lên nhẹ lòng một lữ khách qua”.

Những giấc mơ trưa là được ngồi chung với Thầy, được cùng anh em đi chơi trên những con đường nhỏ. Những giấc mơ ngắn, đến rồi đi như hơi thở, là thông điệp mà chính từ tâm thức mình trao gửi. Tôi trở nên bình yên, nhưng mạnh dạn và cứng rắn hơn sau những buổi trưa đề huề như thế.

Thầy và thơ

Bỗng tôi nhớ đến những vần thơ về buổi trưa của Thầy:

“Trưa! Ôi những buổi trưa nắng vào tuyệt đối, trời cao xanh ngắt

Bâng khuâng nghe tiếng gọi tôi về

Tiềm thức dâng tràn những nét thăng trầm mấy kiếp…”

Hồi Thầy còn trẻ, buổi trưa làm Thầy buồn lắm, Thầy đã chuyển hóa “những nét thăng trầm mấy kiếp” đó bằng cách nào nhỉ? Tôi thấy mình thênh thang với buổi trưa, chắc là nhờ vào công trình chuyển hóa của Thầy.

Những bài thơ của Thầy là đỉnh cao, là kho tàng tuệ giác mà tôi có thể dành cả đời để khám phá. Những cái thấy của Thầy mãnh liệt, nhưng lại rất “thơ”:

“Nỗi vui của tôi thanh thoát như trời xuân, ấm áp cỏ hoa muôn lối

Niềm đau của tôi đọng thành nước mắt, ngập về bốn đại dương sâu.

Hãy nhớ gọi đúng tên tôi, cho tôi được nghe một lần tất cả, những tiếng tôi khóc tôi cười

Cho tôi thấy nỗi đau và niềm vui là một”.

Cuộc đời Thầy có nhiều niềm vui ngập tràn, lan tỏa, muôn cây cỏ cũng cảm nhận được hơi ấm ấy. Thầy cũng có những niềm đau rất lớn, bốn biển cũng đầy vơi. Nhưng dù hạnh phúc hay khổ đau, vi tế hay thô sơ, Thầy đã ôm tất cả vào lòng, như nâng niu em bé. Có những lần pháp thoại, Thầy đã chia sẻ về giấc mơ của Thầy, những giấc mơ về tình huynh đệ, điều mà Thầy đã nhận ra là quý giá nhất. Những hoài bão đó của Thầy đang được thực hiện khắp nơi, những dòng thơ với nội dung như thế sẽ được tiếp tục chào đời, tiếp tục bay cao.

Kho tình thương

Tôi nghĩ đến ba và mẹ tôi, chắc năm nay hai người cũng gần sáu mươi rồi. Năm ngoái ba tôi bị tai nạn, phải ở nhà, không đi được. Tôi thở cho ba, những hơi thở đều, ôm cả mây trời vào trong đó. Tôi cũng thở cho mẹ, cảm thông những nhọc nhằn người đã đi qua. Nhìn thung lũng, tôi ước mong cho hai người cũng có những giây phút được mở lòng đón nhận một không gian bao la như vậy. Tất bật nhiều rồi, ba mẹ cần có thời gian tận hưởng cuộc sống chứ! Tôi gửi cho ba mẹ những gì đẹp nhất!

Ba mẹ là người thế nào? Hai người là một kho tình thương của tôi, cũng sống giữa đời, đơn sơ, chân chất. Những xung đột và hàn gắn của ba mẹ cứ đến, cứ đi, chỉ những vết thương trong tôi ở lại. Nhưng khi nhìn thật kỹ, tôi thấy hai người mầu nhiệm biết bao! Vì sao nhỉ? Tôi tự hỏi rồi tự trả lời: “À! Vì họ là ba, là mẹ của mình!” Tôi nhìn lên bàn tay mình, thấy bàn tay mẹ đang viết, lòng tôi thảnh thơi hơn khi những con chữ được ra đời. Mỗi lúc tôi nhỏ nhen với ai đó là tôi đến xin lỗi liền, đó cũng là đức tính của ba tôi ngày xưa. Bây giờ ba khỏe lại, nhận ra những gì không tốt cho sức khỏe rồi từ bỏ chúng, cả nhà đều vui. Mẹ cũng bớt dần những đòi hỏi, tập trung dung hơn khi hành xử, tôi thấy mẹ đang tu cho cả nhà. Sáng nào thấy ba mẹ cùng thắp nhang lạy Bụt, khói hương làm vết thương quá khứ trong tôi tan thành từng mãnh, vụn dần. Những lời ba dặn khi đi đâu xa, kí ức tôi còn giữ. Tiếng mẹ tôi hát khi nấu ăn cho cả nhà, kí ức tôi còn giữ. Chúng đã trở thành bất hủ, thân quen.

Trải nghiệm từ chiếc lá

Viết được một lúc, tôi nhìn ra phía trước, nắng đã về ngập trời thung lũng. Sương tan dần, gió về làm những chiếc lá vàng đua nhau rơi, quanh co, thích mắt. Tôi cười và tự hỏi: “Chúng đã làm gì với cuộc đời của chúng? Liệu chúng có được đi vào một lịch sử thanh cao?” Những chiếc lá rơi xuống, tịch tĩnh. Nhìn kỹ một chiếc lá trong khoảng lặng, dừng lại những lao xao nghi vấn, chợt tôi thấy chiếc lá không còn đến từ cái nhận thức đơn thuần trong ý thức như tôi đã có từ xưa. Nó là cái gì đó không dựa vào những nhận định mà tôi thường nghĩ lúc trước. Bây giờ nó tóm thâu cả muôn trùng. Nhìn kĩ vào gân lá, tôi chẳng thể tìm ra điểm nào là nhỏ nhất, khoảng không giữa hai gân lá phải chăng là cả một vũ trụ bao la? Chiếc lá trong tôi lúc đó không vui không buồn, không vàng không xanh, hình như nó đang hát, hát cho tôi nghe:

“Ta vẫn còn đến đi thong dong
Có không còn mất chẳng băn khoăn
Bước chân con hãy về thanh thản

Không tròn không khuyết một vầng trăng”.

Một chiếc lá, một trải nghiệm, một niềm vui. Cuộc sống là một chuỗi những trải nghiệm, không có trải nghiệm nào của riêng tôi cả, tôi thấy Thầy có đó – rõ ràng – sinh động. Càng trải nghiệm, tôi thấy mình sao thật ngây ngô, nhưng mật thiết, niềm vui trở thành giản đơn và sâu lắng hơn.

Khu vườn hôm nay

Làng Mai Thái – Vườn Ươm đã dọn về đất mới gần hai năm rồi. Đất mới, bao nhiêu mặt trời đi ngủ, bao nhiêu con trăng qua đồi? Ngày ngày tôi đi học, những con chim sẻ kiếm ăn hai bên đường chẳng hề bay, chúng cũng xem tôi như người bạn. Những hòn đá bây giờ cũng không còn hoang vu, hôm nay chúng gọn gàng, có dáng, chúng đang thi hành một sứ mạng riêng. Chớ nghĩ nơi đây chỉ là những chói chang mùa hạ, có những tháng mưa về ngập cả núi đồi, có những mùa rất lạnh, rất trong. Tiếng tụng kinh mỗi buổi sáng, khói bếp lên cao trong những sớm chiều. Những khóa tu đều đặn đi qua trong năm. Trẻ em đến tu chung với ba mẹ, chúng chơi xích đu thoải mái dưới gốc me già. Nơi đây đã trở thành một ngôi làng chung. Có sư chú mới xuất gia học tiếng Anh, tiếng Thái thật nhanh, có sư chú ngày nào cũng về cuối cùng để dọn dẹp nhà bếp sạch sẽ, phải chăng đức hy sinh và tận tụy của sư chú đang lớn dần cùng cây cối nơi đây?

Thiền ca là trở về

Tôi thở, thấy những bình an chảy dài trong huyết quản. Tôi dừng bút, nhận ra mình đã hát tự khi nào. Mỗi khi hát, trời mây với tôi hòa làm một, mọi người với tôi hòa làm một. Nhớ tới những khóa tu Wake Up, thiền ca là pháp môn đi vào lòng người dễ nhất. Nhiều bạn trẻ đã khóc khi hát cùng quý thầy, quý sư cô. Thiền sinh chia sẻ hạnh phúc, trị liệu, tìm được lối thoát khổ đau sau khóa tu, quý thầy quý sư cô ai cũng vui theo. Tôi thấy sự mầu nhiệm của Thầy, của Tăng thân đang xua tan những mệt mỏi, những yếu kém của tôi trong khi làm việc. Nương vào năng lượng tập thể, tôi thấy mình có niềm tin thật nhiều. Cuộc sống như một bài hát, có lúc trầm lắng, có lúc vút cao. Tôi gửi tất cả những thanh âm đó đến Thầy. Nắm bàn tay mình thật chặt, mắt nhìn thẳng về thung lũng, niềm tin ngập tràn rằng Thầy sẽ khỏe lại. Lá vàng lại rơi, giấc mơ trưa là thật, Thầy và thơ đang về uyên nguyên trong nắng, ba mẹ cũng đang ngồi chơi thảnh thơi. Tất cả cùng tôi đang tận hưởng một ngày làm biếng thật thênh thang!

Giây phút cùng Thầy

Thầy kính thương!

Con biết là Thầy đang có mặt đó cho con nên con rất hạnh phúc. Con hạnh phúc vì thật sự nhận diện được sự có mặt của Thầy chung quanh con và ngay cả trong con. Sự ấm áp, sự bình an bởi tình thương của Thầy đã nâng bước cho con, tiếp sức cho con, làm lớn mạnh niềm tin và hạnh phúc cho con.

Con nhớ Thầy nhiều. Và vì nhớ Thầy nên con đào sâu hơn vào sự thực tập. Con dành 100% sự chú tâm vào hơi thở và bước chân của mình. Con thấy Thầy trong mỗi bước chân an lạc, con thấy Thầy trong mỗi hơi thở bình an, và vì thấy Thầy, con càng tận hưởng được nhiều hạnh phúc hơn trong mỗi bước chân, mỗi hơi thở của mình. Cứ thế, sự tương tức giữa nhớ thương Thầy và hạnh phúc trong sự thực tập đang lớn dần trong con. Hai khía cạnh ấy hòa làm một trong con, giúp con không còn phân biệt sự nhớ thương hay niềm hạnh phúc nữa Thầy ạ. Con chỉ sống với chúng một cách bình dị vậy thôi.

Hồi con còn là một sinh viên ở Sài Gòn, mạ con đã tham dự khóa tu của Thầy tại Huế rồi gởi hình Thầy vào làm quà cho con. Con mở bì thư ra, nhìn vào hình Thầy rồi ngạc nhiên tự hỏi: “vì răng mà mạ gởi hình Ôn ni vô cho mình?” Hồi đó con chưa biết Thầy, con chưa có được một mối liên hệ nào với Thầy hết, con như chú hổ con chưa nhận ra mình đang gặp lại hổ mẹ, vì vậy con đã tặng hình của Thầy cho một người bạn của con, giống như chú hổ con vẫn thỏa mãn với gia đình khỉ của mình.

Nhưng dường như Thầy đã có mặt cho con từ thuở ấy, dường như Thầy đã gieo hạt giống bồ đề trong con từ dạo ấy, để rồi con tìm ra tu viện Bát Nhã năm 2007 và tham gia vào con đường hạnh phúc. Con nếm được pháp lạc của sự thực tập, và hạnh phúc càng lớn dần đến ngày con trở thành con của Thầy trong gia đình Sen Hồng. Vì hoàn cảnh cách trở, con trở thành con của Thầy trong khi chưa được gần Thầy, chưa được tiếp xúc với Thầy. Từng ngày, từng ngày, con nhận được tình thương của Thầy, sự có mặt của Thầy qua các sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị, sư em và Ôn Phước Huệ. Con nhận được tình thương của Thầy qua những lời nhắn nhủ đầy tình thương yêu trong mỗi bài pháp thoại. Và con đã gặp Thầy trong những hạnh phúc nho nhỏ mà con có được trong mỗi bước chân và hơi thở của mình. Con luôn chờ đợi đến ngày được gặp Thầy bằng xương bằng thịt, được kinh nghiệm trực tiếp mối liên hệ giữa Thầy và con… Theo thời gian, con đã được gặp Thầy, tiếp xúc với Thầy, và con biết Thầy luôn có mặt cho con, nhất là những lúc con thật sự cần Thầy.

Con nhớ một đêm mùa đông năm 2010 (con chỉ mới tới tu viện Bích Nham vài tháng), hệ thống sưởi hết ga và sư cô trong phòng con chuyển qua tòa nhà dành cho khách, nhưng con làm biếng nên đã thưa với sư cô cho phép con ở lại, một đêm qua nhanh lắm và con thường ngủ rất dễ dàng. Thế nhưng, đến nửa đêm thì con bắt đầu rét run và sợ (vì con chưa quen lắm với Bích Nham). Con đang lơ mơ trong tâm trạng bất an ấy thì con bỗng thấy Thầy. Thầy đã xoa đầu con và bảo “Thầy đây con!”. Dù là trong giấc mơ, con cũng ngạc nhiên tự hỏi sao Thầy biết là mình đang ở trong tâm trạng bất an như thế. Nhờ tình thương của Thầy, con đã ngủ một giấc thật ngon lành, ấm áp. Sáng hôm sau, sư cô phòng con quay về thật sớm để xem con có ổn không. Khi thấy con không bị ảnh hưởng gì thì sư cô rất ngạc nhiên. Con đã kể giấc mơ của con cho sư cô nghe, và sư cô cũng hạnh phúc không kém gì con. Sư cô bảo rằng Thầy luôn có trong tâm con, vì vậy mà con đã có một giấc mơ đẹp như thế. Và con nhận ra, Thầy đã ở trong con từ lâu rồi.

Một lần khác con gặp khó khăn với một sư anh của mình. Khối nội kết lớn đến nỗi mỗi lần đang đi thiền hành cùng đại chúng mà con nhìn thấy sư anh là con đi thật nhanh để tránh xa người ấy ra. Nhưng rồi, con nghĩ đến Thầy. Con thấy con và sư anh là những tế bào trong cơ thể của Thầy, con không thể cắt một tế bào nào ra khỏi cơ thể của Thầy hết, vì như thế sẽ làm Thầy đau. Nhờ nghĩ đến Thầy, con đã dần dần hòa giải được khối nội kết đó. Và thêm một lần nữa, con biết Thầy quan trọng đối với con đến nhường nào.

Mùa thu 2011 con được gặp Thầy. Thầy biết đó là lần đầu tiên con được gặp Thầy từ lúc xuất gia nên Thầy đã dành thời gian, không gian và tình thương cho con rất nhiều. Lúc đó, con chỉ muốn ngồi yên để tận hưởng giây phút huyền diệu, thiêng liêng mà ấm cúng ấy mà thôi. Dường như Thầy hiểu con nên Thầy đã không dạy con hát cho đại chúng nghe, mặc dù quý sư cô đã quảng cáo là con hát nghe cũng được. Và con hạnh phúc lắm vì con thấy Thầy hiểu con. Thầy cũng đã bao dung, không trách con vì con đã lỡ dại theo các sư chị mình leo núi ngay khi vừa đặt chân đến Lộc Uyển, thay vì đến chào Thầy trước. Thầy chỉ nhẹ nhàng hỏi: “Đi núi vui không con?”, làm con vừa cảm động vừa hối hận và con thầm nhắc mình đừng có lầm lỡ lần sau.

Lần khác, con thấy Thầy và thị giả đi ngang qua ni xá trong những ngày đại chúng làm biếng, và con đã lẳng lặng đi theo Thầy. Không biết vì sao, mặc dù Thầy đi thật thong dong, thật chậm mà con bước hoài không kịp. Trong lòng con như muốn gọi “Thầy ơi chờ con với!”, nhưng con không dám gọi ra. Rồi lạ thay, Thầy dừng lại chờ con, và đưa tay ra nắm tay con cùng đi. Con như được trở về tuổi thơ của mình, cùng nắm tay Ông của mình đi chơi. Giây phút ấy bình yên quá Thầy ơi! Còn những lần khác nữa, mỗi khi có dịp gần Thầy, con đã được đón nhận những lời dạy bảo đầy tình thương của Thầy. Thầy đã lắng nghe con chia sẻ về gia đình mình và đã dạy cho con về cách thích ứng với môi trường mới. Thầy đã giúp con được trở về là chính mình và sống an nhiên cùng đại chúng. Con thấy bình an biết bao, con tự hứa với chính con là sẽ thực tập hết lòng để không phụ tình thương của Thầy.

Năm 2012, con đã gởi đến Thầy một bài hát kèm theo lời tâm nguyện của con trước khi thọ giới Thức Xoa Ma Na. Vậy mà khi về lại tu viện Bích Nham, con đã nhận được tin nhắn từ Thầy qua một sư chị rằng Thầy đã nhận được thư con và rất thích bài hát ấy. Con thật ngạc nhiên và cảm động biết bao. Con biết nhạc của con chỉ tự phát mà thôi vì con có qua trường lớp gì đâu, nhưng Thầy luôn khuyến khích các sư con của mình có niềm vui và hạnh phúc trong sự tu tập. Thầy không bao giờ bỏ qua một lá thư nào của các sư con, dù Thầy có quá nhiều sư con và có rất nhiều khóa tu. Nhưng con biết, đó là cách Thầy dành sự có mặt của mình cho các sư con.

Mùa thu năm 2013, con được gặp lại Thầy. Thầy đã viết cho con câu thư pháp “Thầy đây con” khi nghe con kể lại giấc mơ của con. Thầy đã để tâm chăm chút chỉ dạy cho con về cung cách của người thị giả khi con được làm thị giả Sư cô Chân Không. Thầy luôn có mặt và yểm trợ con hết lòng. Mỗi khi con mang thức ăn đến, Thầy luôn để ý xem có thiếu gì không để nhắc con trước, vì vậy mà con chưa bao giờ làm Sư cô buồn. Có lần Sư cô con tiếp khách ở bên thiền đường Đại Đồng, con đã qua cốc của Thầy cầu cứu vì đi về ni xá thì xa quá. Thầy đã từ bi cho con mượn ly, bình thủy, trà và cả … bình trà “sơ cua” của Thầy nữa. Con chỉ biết để tâm vào các vật dụng ấy mà quên mất sự có mặt của Thầy. Đến khi con chuẩn bị rời cốc thì Thầy mới nhắc nhẹ nhàng :”Xong việc thì về chơi với Thầy nghe con!”.

Thầy còn dành thời gian để chuẩn bị tinh thần cho chúng con thọ giới Lớn. Thầy dạy cho con cách làm việc trong chúng, cách thực tập trong các buổi họp… và quan trọng nhất là đường hướng của người xuất gia. Con đã được chuẩn bị tư trang đầy đủ và được tiếp thêm năng lượng từ Thầy. Vì vậy mà năm 2014, con thật an nhiên khi tiếp nhận giới Lớn do Thầy truyền trao.

Thầy dường như hiểu được con thích gì, cần gì, nghĩ gì; Thầy như biết được lúc nào con cần Thầy để luôn luôn đáp ứng được cho con… Thầy luôn cho con giải pháp kịp thời trong những lúc con gặp phải khó khăn. Đối với con, Thầy vừa là một người Ông, vừa là một người Cha, vừa là một người Thầy. Thầy vừa hiền từ như người mẹ vừa nghiêm khắc như người cha. Thầy vừa là dòng suối ngọt ngào vừa là ngọn núi hùng vĩ che chắn cho con. Thầy luôn có mặt cho con, và sự có mặt lúc nào cũng tròn đầy. Con chỉ biết tận hưởng tình thương ấy và đào sâu sự thực tập cho mình mà thôi. Mỗi ngày con luôn nghĩ đến Thầy, để được hạnh phúc, và để giúp con buông những cảm thọ nho nhỏ khởi lên trong cuộc sống hàng ngày mà con lỡ có với sư anh, sư chị, sư em của mình. Con tập sống không đòi hỏi, không tìm cầu, không vọng tưởng. Thầy đã chuẩn bị hành trang cho con trước khi thọ giới lớn quá đầy đủ. Mỗi ngày nhìn lại, con thấy Thầy đã trao cho con một túi gấm chứa đầy cẩm nang. Mỗi khi cần lời khuyên của Thầy là con có ngay câu giải đáp. Và từng mỗi phút giây trong đời sống, con luôn nhận được sự có mặt của Thầy. Giờ đây con không còn sợ hãi hay băn khoăn gì cả. Niềm tin và tình thương vào Thầy không hề suy giảm. Con cứ thế thích chí rong chơi trong khung trời phương ngoại mà Thầy đã mở ra cho con; khung trời chứa đầy hạnh phúc, chứa đầy sự hiểu biết và thương yêu. Con nguyện gắng sức, bền lòng đi trọn con đường để đem giáo pháp nhiệm mầu đến cho người người đang mong đợi.

 

Con của Thầy