Thư gởi Thầy

 

Thầy thương,
Chúng con, một nhóm huynh đệ từ Thái Lan về thăm chùa Từ Đức ngày 25.09.2014. Chùa nay sáng đẹp hơn nhiều. Ngày 04-05.10.2014 là quán niệm và giỗ thân mẫu chúng con.

Qua các pháp thoại, trước tiên chúng con nói sơ về mẹ. Ba và ba anh chị lớn của con mất trong vòng ba tháng, lúc đó mẹ khoảng 40 tuổi, con mới được bảy tháng. Gia sản tiêu sạch, vất vả và đảm đang lắm mẹ mới nuôi nổi hai anh em con và dần dần dựng lại sự nghiệp. Có một lần lính Việt – Pháp bắt mẹ, đánh đập tra tấn một cách tàn nhẫn rồi giam cầm một thời gian không rõ lý do. Đi buôn, mỗi lần mẹ mua vài đôi dép để bán cho bất cứ ai. Dép này mặt trận đánh đuổi Pháp thường dùng nhưng ít ai buôn nên mẹ buôn dễ có lời mà rất gọn nhẹ. Lúc được tha về nhà, mẹ đau ốm nặng và rất buồn một thời gian lâu. Năm 1966, học hết lớp 9 thì con đi tu. Trước đó, anh của con đi lính và mất năm 1974. Năm 1972 để tránh bom đạn, mẹ vào Nha Trang sống, cách nơi con tu học là Phật Học Viện Hải Đức khoảng 500 mét. Buổi sáng mẹ thường nấu cháo đậu đỏ và bí ngô cho con dùng để giảm đau đầu.

Năm 1975, mẹ vào sống với con ở Chùa Từ Đức – Cam Ranh. Mẹ rất kính ngưỡng người tu và thích cúng dường. Mẹ tinh chuyên niệm Phật và ăn trường trai. Mẹ rất chu đáo, lo cho con ăn uống và cùng con trồng cây lương thực để sống. Mẹ bị bệnh sa tử cung độ 3 và thiếu máu trầm trọng, mỗi tuần phải chuyền máu một lần. Nhờ bác sĩ Luông khám chữa tận tình nên bệnh mẹ lành hẳn. Có lần mẹ té giếng bể đầu gối, bác sĩ Kỳ đã chăm sóc cho mẹ, một thời gian thì mẹ đi lại được nhưng khó khăn hơn trước. Sau tai nạn một thời gian mẹ mất, đó là năm 1988, thọ 80 tuổi. Ngày 28.09 Mậu Thìn, lúc 5h chiều mẹ không ăn uống gì, đến 8h tối thì mẹ đi rất nhẹ nhàng an ổn, không thấy có một dấu hiệu đau đớn nào. Con cùng với năm đạo hữu cư sĩ đã có mặt bên mẹ. Năng lượng yên tĩnh từ sự thực tập của mọi người được duy trì suốt cả đám tang. Có thầy Tâm Minh và các đạo hữu tụng kinh. Rạp lo đám được trang trí bằng kinh Pháp Cú và tượng Bồ Tát gánh mẹ và cha. Đêm trước, tối 29 tháng 09 Mậu Thìn, con nói pháp thoại với chủ đề báo ân như những đám tang khác ở đây.

Sáng hôm sau, ngày 01.10 tiến hành lễ di quan và mai táng, có 17 vị xuất sĩ và một vị linh mục, bà con cùng đạo hữu xa gần đông đảo đến dự. Dù ngày 27.09 có bão lớn, vườn cây điều cao khoảng bốn mét trong chùa nghiêng ngửa, đám tang vẫn đi trong tiếng niệm Bụt phát từ loa lớn qua băng cattsette để trên xe tang đẩy bằng sức người. Mỗi người cầm một cây hương, lần đầu tiên ở đây có một đám tang như vậy. Các ngày cúng và giỗ năm đầu của mẹ cho đến bây giờ, năm nào cũng được tổ chức như ngày quán niệm. Mọi người tham dự mỗi năm mỗi đông. Giỗ ba con cũng vậy. Trước mộ, con ghi hai câu nhắc con thực tập gởi niềm tri ân đến Thầy bổn sư và mẹ con, hai bậc sinh thành tâm linh và huyết thống đã chăm sóc chu đáo đầu đời của con đã cho con cảm hứng:
Trông xác vữa mẹ già chết để lại
Nhắc thân hèn trẻ mọn sống cho đi
Giỗ năm nay, huynh đệ chúng con ra thăm mộ và thắp hương. Ngôi mộ giản đơn như khung cảnh miền quê đã gây một ấn tượng đẹp trong lòng chúng con hôm ấy. Mười ba năm sống trong chùa, hai mẹ con đầy đủ mọi thứ. Chùa có hơn hai mẫu đất, nhờ các bạn tu cư sĩ trực tiếp phụ giúp trồng cây lương thực và chăm sóc mẹ con trong những lúc tai nạn, dù các vị rất khó khăn về mặt kinh tế và lao động vất vả suốt ngày thâu đêm.
Hằng năm, ba mẹ và anh chị của con được giỗ chung một ngày với ba mẹ của những người thân trong tăng thân xuất sĩ Làng Mai Thái Lan. Chị dâu con và con chị lại ở gần Từ Đức, ngoài quê nội, ngoại, làng xã, bà con xa gần đều được hướng dẫn thực tập đạo Bụt dấn thân một cách cụ thể, nhiều người trẻ đã xuất gia với Thầy, có vị đã xuất gia trên mười năm.
Con thấy rằng con đang từng bước tu tập và đã góp được một phần nhỏ vào việc nâng đỡ gia đình huyết thống và xã hội, nên con rất trân quý sự nghiệp này và biết ơn Thầy bổn sư, các huynh đệ của con và Thầy cũng như Tăng thân đã cho con rất nhiều cơ hội tốt để thực tập đạo Bụt dấn thân.
Chúng con chia sẻ niềm vui và lòng biết ơn những cái sáng đẹp của chùa về hình thức lẫn nội dung. Đó là nhờ sự tiếp nối đầy năng lượng của các sư em xuất sĩ trẻ và sự nuôi dưỡng của tất cả các bạn tu cư sĩ gần xa. Tất cả đều hết lòng miên mật hành trì nương tựa lẫn nhau, thuận dòng để cùng về biển cả. Nếu chùa không có năng lượng dựng tăng thuận dòng ấy thì khó mà được như thế, khó mà tiếp tục phát triển, trao truyền cho tới hôm nay.

Chúng con ôn lại vài nét của chùa Từ Đức trong 40 năm qua. Hồi ấy quý bạn xuất sĩ và cư sĩ chúng con còn trẻ như các bạn bây giờ, niềm tin chưa sáng, cách hành xử còn vụng về; bao nhiêu khó khăn từ bên ngoài đến bên trong đều do sự hạn chế này đã nảy sinh liên tục. Nhưng nhờ sự nâng đỡ của nguồn tuệ giác tiền nhân, chúng con đã cùng nhau thực tập xây dựng với những gì có trong tầm tay, nên đạo tràng chuyển hóa giúp đời tuy còn non yếu song vẫn được nuôi dưỡng. May mắn nữa là giờ đây có lớp trẻ kế tục, thừa hưởng và nuôi lớn tuổi già chúng con.

Lớp già bây giờ không còn năng nổ linh hoạt như xưa, song cách hành xử chín chắn hơn, cái nhìn sâu rộng hơn, đức kham nhẫn lớn hơn, lại được lớp trẻ tiếp sức dưỡng nuôi nên vẫn đến chùa, thấy cần đến chùa để được tắm mình trong năng lượng tin yêu thân kính ấy. Các vị chỉ cần có mặt, thường biết nhìn bằng cái nhìn chan chứa tin yêu đã là một đóng góp lớn lao rồi. Lớp trẻ cũng ý thức được, cảm nhận được, nên đã hết lòng tận hưởng, trân quý và nuôi dưỡng lớp già. Nhờ thế mà đại chúng có thêm sức để đi xa, đi sâu vào lòng sự sống trong mỗi phút giây. Quả là “Măng vươn xanh lũy tre già”.

Ôn lại quá khứ, tuổi già chúng con càng trân quý, thương cảm tuổi trẻ sâu sắc như mình thuở ấy, lòng con chợt cảm thấy lâng lâng, nhận được sức sống xuân thì trong ánh hoàng hôn của tuổi tác.

Sư chị CĐ, KN, ĐN, Sư em PL, PC, TK, ĐL và con, tất cả đều sinh hoạt với chùa, với huynh đệ nhịp nhàng mà vẫn có rộng thời gian và đầy đủ năng lực. Đó là nhờ sự bảo hộ của Tăng thân trong sự vận hành của tăng nhãn.

Ngày 12.10 (19.09 Giáp Ngọ), ngày vía đức Quan Âm, nhằm ngày quán niệm, đại chúng thiền hành đến bảo tượng Bồ tát, mọi người thiền tọa có hướng dẫn của thầy Pháp Huân, thầy Pháp Côn khởi niệm danh hiệu để làm lễ đặt đá cho việc xây cất tăng xá và chánh điện. Sau đó, đại chúng vào thiền đường để nghe pháp thoại. Chúng con chia sẻ với nhau kinh nghiệm và giáo lý thực tập chánh niệm từ bi, chuyển hóa tà kiến để hiểu và thương, biểu lộ trong các sinh hoạt hằng ngày, là sống cùng Đức Thế Tôn ngay bây giờ và ở đây qua hơi thở, việc làm có ý thức.

Buổi lễ và ngày tu đơn giản nhưng đã cho nhau thấy rằng, sống như vậy là chế tác năng lượng hộ quốc an dân rất cụ thể và nhiệm mầu mà các bậc tiền bối của chúng con đã sống qua các thời đại. Đặc biệt vào thời đại Lý – Trần là thời đại thuần từ nhất của nước Việt chính cũng nhờ vào năng lượng hộ quốc an dân đầy tuệ giác này. Năng lượng ấy hiện tại vẫn được tiếp nối và lan rộng khắp năm châu. Cuối pháp thoại, chúng con cùng ôn lại chuyến về nước của Thầy và huynh đệ thế giới, đã đến vun bồi năng lượng hiểu thương tại chùa Từ Đức vào chiều 13.04.2007 (26.02 Đinh Hợi). Chúng con cùng nghe bài thơ “Thầy thương” được làm vào dịp ấy:

Thầy thương

Bụt ở đó, Tăng muôn nơi,
Ngàn sao lấp lánh thảnh thơi muôn lòng.
Đường về mây bạc thong dong,
Từng buông xả, lại rõ từng bên nhau.
Bước chân huyền thoại ngàn sau,
Dâu ngàn xanh, ngát hương mầu thường nhiên.
Cúi đầu thâm tạ triều lên,
Suối ngàn trong mát mọi miền núi sông.
(Chùa Từ Đức kính dâng)
Chúng con đã cung đón Thầy và huynh đệ năm châu bằng tấm lòng trân quý đầy tình thâm của đại gia đình tâm linh có phẩm chất mà không phải là chủ nhà đón thượng khách. Năng lượng thuở ấy được sống dậy và nuôi dưỡng chúng con hiện tại rất nhiều. Sự nuôi dưỡng ấy cho chúng con thêm khả năng thưởng thức hoa trái sau bảy năm đã hiện rõ ở đây và làm vững chãi thêm sự tu học để  chúng con tiếp tục phát triển sâu rộng hơn.
Trong những ngày tu ấy, các sư em ở Huế, Đồng Nai cùng các bạn tu cư sĩ các nơi về dự. Sự họp mặt ấy tạo thêm năng lượng cho nhau. Qua mấy ngày tu, các sư em, huynh đệ ở đây đàm đạo rất hạnh phúc. Các em trẻ ở Đà Nẵng, các bác ở Đà Lạt, Ninh Hòa, Bình Phước chia sẻ về sự chuyển hóa rõ rệt của mình. Sự chuyển hóa ấy đã giúp các em ở Đà Nẵng nói ra được những khó khăn đau thương sâu thẳm rất khó tỏ lộ cùng ai từ trước tới nay. Nhờ vậy, các em “mới” hẳn, lại phát khởi tâm nguyện thiết tha là nuôi dưỡng cái “mới” ấy mỗi ngày ở tự thân, gia đình và xã hội để chuyển hóa tận gốc khổ đau và để có năng lượng an lạc hiến tặng cho người thương. Điều này đã nuôi dưỡng chúng con, làm tăng thêm niềm tin vào sức mạnh của pháp môn hiện pháp lạc trú trong dòng sức mạnh, lành đẹp của Tăng thân, một dòng sức mạnh mà thân hữu khắp nơi đang thụ hưởng, tán dương và mở rộng.
Sau đó, bốn huynh đệ chúng con được phép đi biển nghỉ dưỡng, cơ hội được sống với nhau trong tình huynh đệ và nuôi dưỡng được năng lượng tương tục tương tức, để cùng hòa nhập vào lòng đại dương giải thoát, trong đó có sư em mới về nhập chúng. Chúng con có cơ hội để nhìn lại, thưởng thức những hạnh phúc đã có và nhận diện những yếu kém để cùng nhau thẩm định lại thật hư, hầu dắt dìu nhau đi tới. Điều này giúp chúng con có thêm chiều sâu thời gian vui với biển rộng mây ngàn, có mặt cho nhau, cho các bạn đồng tu và cho các sư em thương kính ở Đồng Nai.
Trở lại chùa, những ngày tiếp theo chúng con lại có dịp chia sẻ một vài yếu kém trong sự tu học đã được huynh đệ nhận thấy, từ đó huynh đệ giúp nhau phương pháp vượt thoát, đồng thời cho nhau không gian thông thoáng để mỗi người tự quán chiếu sâu hơn mà dễ dàng cùng nhau chuyển hóa. Ngày 30.10, chúng con có buổi thiền trà, sư em KN chia sẻ hạnh phúc về sự chuyển hóa của bà con miền Tây mộc mạc, cụ thể mà ích lợi quá nhiều qua chuyến đi của các sư em về thăm quê ở đó. Có thầy P.L, sư em H.Ph, sư chị KN cùng đi về thăm mấy tuần. Điều này giúp huynh đệ cùng nhau ôn lại rằng, mở khóa tu là để tu học, trưởng thành chứ không phải bị đuối sức. Trong buổi thiền trà, huynh đệ chia sẻ niềm vui trong thời gian sống với nhau và nói lên những nhu cầu cần quan tâm, nâng đỡ đối với chùa trong các ngày tu đông người sắp tới.
Buổi ngồi bên nhau ấy, chúng con đều thấy rõ, tuổi trẻ giàu năng lượng là tài sản quý báu cần được chăm sóc và nuôi lớn mỗi ngày. Phần lớn nhờ vào sự thực tập Luật nghi và sự dẫn đạo của tăng nhãn. Với thực tập căn bản này, Tăng thân mới đủ sức thực hiện sự nghiệp dấn thân khế lý, khế cơ trước sự thay đổi nhanh chóng, tinh xảo rất tiện ích, song chứa đựng nhiều cám dỗ của cuộc sống đa dạng toàn cầu. Vì vậy, huynh đệ đều ý thức rằng tất cả cần nương tựa nhau, rất cần có nhau mới đủ điều kiện tốt để hiểu thương được bản thân, góp phần xây dựng nếp sống gia đình, xã hội một cách có trách nhiệm và tự do. Một điều kỳ diệu của Tăng thân là biết nương tựa sự tiêu cực như sen nương vào bùn. Vì chúng con đã có A-lại-gia thức tự do vượt thoát thời – không và có đủ điều kiện để giúp sáu thức phát khởi niệm – định – tuệ không những ở mỗi người mà còn được yểm trợ bởi mọi người trong mọi lúc, mọi nơi, nên sự thực tập ‘biết nương tựa’ ấy ít khó khăn, như Thầy dạy “không bùn là không sen”. Một ít khó khăn là bùn. Tình huynh đệ có thực là sen.
Ngày 02.11, chúng con về Thái Lan để tiếp tục nương tựa và nghỉ ngơi trong lòng đại chúng giàu năng lượng tu tập. Hay tin Thầy yếu sức rồi bệnh nặng, chúng con cùng nhau thực tập chung hai xóm để cùng hòa nhịp với tất cả các trung tâm khác, xuất sĩ cũng như cư sĩ, nên năng lượng nguyện cầu tỏa chiếu cụ thể qua các thời khóa mỗi ngày. Năng lượng này đi vào nguồn chung, tạo nên nhiều thuận lợi trong việc Thầy đang điều trị nơi chốn gốc Làng Mai. Xót xa với những cảm xúc có đó, song chúng con vẫn thấy được rằng, bệnh theo nhân duyên thường nhiên của Thầy vẫn tạo ra nhiều năng lượng lớn lao, giúp chúng con tu tập tinh chuyên, nhẹ nhàng vượt qua các khó khăn, lại trân quý những gì đang có một cách cụ thể hơn.

Nhân duyên này lại đánh động rất nhiều người đang lưu tâm cần hiểu sâu, hiểu rõ và thấy sáng, thật và lành hơn về Thầy, về Tăng thân, về Tam Bảo sinh động đang có thật bây giờ, ở đây và mỗi lúc mỗi lan tỏa gần xa khắp thế giới. Từ đó, mọi người có thêm hiểu biết, thương yêu cho sự tu học đi tới vững chãi, thảnh thơi trong các sinh hoạt hằng ngày.

Tối ngày 02.12.2014, lần đầu tiên chúng con ở đây được thăm Thầy qua mạng. Ai cũng lắng lòng theo dõi. Thấy được Thầy bệnh như vậy, tiếp nhận sự nuôi dưỡng trong vòng cho phép hạn chế như vậy, qua một thời gian khá dài như vậy mà sắc diện Thầy không suy giảm như thường tình. Thầy đang thở theo tiếng tích tắc của đồng hồ mà không thở bằng máy trợ lực ô xy. Thầy đã vượt qua được thời gian đầy hiểm nghèo và các đệ tử cũng như thị giả của Thầy đủ sáng suốt để thực tập giúp Thầy chữa trị cùng y bác sĩ mà không ảnh hưởng theo sức đẩy của tập quán đời thường. Tất cả đều từ nguồn tuệ giác tương tức tương tục biểu hiện, mà Thầy là bậc Thầy từ lâu đã sống với tuệ giác ấy một cách nhuần nhuyễn.

Thầy thị hiện bệnh như vậy là lời kinh sinh động, một thông điệp quý hiếm được trao đến cho tất cả chúng con và mọi giới. Thầy xuất huyết não mà các sư em Sồi Đỏ bụ bẫm ra đời vào ngày 18.12.2014 sung mãn với cả hình thức lẫn nội dung. Ở xóm Thượng có mặt của Sư Thúc Đà Nẵng và đại chúng, bên này chúng con cùng với một số huynh đệ lớn từ các nơi về, cùng thừa hưởng năng lượng Tam bảo qua Thầy, tĩnh lặng trao truyền giới pháp. Thập tử nhất sinh mà Thầy vẫn an nhàn đưa đàn con vào sự sống mới, 42 sư em được chăm sóc, được mớm bằng dòng sữa pháp từ đầu tới cuối như cùng tham dự một khóa tu, nên thân tâm sáng rỡ.

Thầy ơi! đúng như Thầy đã dạy cặn kẽ, năm uẩn là Niết bàn, Niết bàn không hữu dư, không vô dư. Chúng con có cảm nhận rằng, có niệm, định, tuệ thì sinh, trẻ, khỏe, già, bệnh, phục hồi hay viên tịch đều là Niết bàn, là sự sống vượt thoát mọi ý niệm, đều là tự tính vô thường, vô ngã luôn vận hành biểu hiện qua đủ mọi tướng sinh động nhiệm mầu. Trong năng lượng tự do Niết bàn, cái nhìn về tướng không bị vướng mắc, qua tướng là thấy rõ tự do, sống là tự do. Các chuyển thức thì còn vướng mắc vào các tướng, nên thức thứ sáu cần được giúp đỡ để phát khởi, nuôi lớn niệm, định và tuệ liên tục mỗi phút giây, mới vận hành, biểu hiện năng lượng tự do này trong mọi thời gian, không gian. Điều này rất cần đến minh sư hướng dẫn, Tăng thân có phẩm chất bảo hộ thường xuyên và sự tinh chuyên thực tập của mình để sự sống là tự do. Sự sống ấy chuyên chở tự tính tương tục tương tức, vượt thoát ý niệm sinh diệt, có không, đoạn diệt hay vĩnh hằng. Đây là nội dung Thầy dạy chúng con sống làm sao để vượt thoát được cái nhìn nhị thủ qua ba nghiệp của mình ngay ở cuộc đời này. Nhờ vậy, chúng con thấy lúc Thầy khỏe, Thầy nuôi chúng con tu tập giúp đời. Khi Thầy bệnh, Thầy phục hồi, vẫn liên tục nuôi dưỡng chúng con. Thời gian này, chúng con đã thực tập sâu sắc hơn rồi, thì mai đây giữa biển sóng nhấp nhô vô tận, chúng con đã có vốn liếng quý báu của ngày hôm nay để duy trì, nâng đỡ và nuôi lớn định tuệ cho tự thân, Tăng thân và tất cả qua mọi tình huống. Giờ phút này đây, chúng con cùng nhau thắp sáng ý thức ấy mọi lúc, mọi nơi, để tương lai trở thành hiện thực. Đây cũng là điều mà mọi người trông vào và kỳ vọng, lại cùng hòa đồng nhịp thở thắp sáng ấy với chúng con. Chúng con giàu có vô cùng trong đại gia đình tâm linh bốn chúng.

Có một điều mà ai cũng đồng lòng cầu nguyện và mong cầu là Thầy được bình phục trở lại trong sinh hoạt bình thường. Đó là niềm vui thanh thản khôn lường, để tất cả đều được nương tựa. Trong sự bình phục này, Thầy lại tâm sự cho mọi người rõ, Thầy thực tập trong lúc bệnh, nhất là lúc hiểm nguy nhất giữa sống và chết một cách rất là con người mà lại rất là tự do ra sao, lại là một chấn động lớn, một sự thúc đẩy mọi người trở về nương tựa tuệ giác tương tức sâu sắc không thể hình dung được cho con người, cho muôn loại và cho đến cả đất đá trăng sao. Cảm nhận này lại giúp chúng con thực tập ngay trong hiện tại một cách hết lòng và thảnh thơi. Năng lượng ấy là chúng con, là Thầy giữa ngôn từ sự tướng vô thường, vô ngã mà chuyên chở tự tính, tuệ giác vô ngã, vô thường.

Thầy là bậc Thầy thương yêu chúng con và thương yêu tất cả trọn đời. Chúng con là học trò, là sự tiếp nối năng lượng hiểu thương, là thương kính Thầy, cùng nhau mang Thầy đi về tương lai. Thầy trò và tất cả là Tăng thân. Thầy luôn trân quý và nương tựa Tăng thân. Chúng con thường được trao truyền năng lượng suốt đời trân quý nương tựa Tăng thân. Cốt lõi của Tăng thân là tình huynh đệ, là niệm, định, tuệ, là tăng nhãn.

Đặt mình vào sự dẫn đường của tăng nhãn, một cái nhìn tổng hợp mọi cái nhìn qua quyết định của chúng Khất sĩ về những việc quan trọng, chúng con được bảo hộ, nuôi lớn và đi xa; đó là uy đức của Tam Bảo, là uy đức của Luật nghi, đó là ý hòa và kiến hòa, uy đức của hiểu và thương. Tình thương và cái thấy vô thỉ vô chung, là Thầy của chúng con. Chúng con cùng dắt dìu nhau từng bước cẩn trọng hướng về trong sự bảo hộ của Tăng thân.

PakChong, 10.01.2015 – Cẩn ghi

 

Xuân Ất Mùi 2015

Sư đệ Thích Giác Viên

Khoảnh khắc bên Thầy

Thầy kính thương,

Con nhớ có lần tại cốc Thầy, cốc Tùng Bút ở tu viện Lộc Uyển, Thầy nói với con: “Này con, con làm một bài thơ và phổ nhạc rồi hát bài của mình, đừng hát bài Sông và Biển nữa.” Con thưa: “Bạch Thầy con không biết làm thơ, mà phổ nhạc thì con càng không biết nhạc lý gì cả”. Thầy nhìn con cười và nói: “Mỗi bước chân của con bước hãy làm biểu hiện những vần thơ, mỗi hơi thở vào ra của con đó chính là nốt nhạc”.

Ngay giây phút ấy, con chưa lĩnh hội được ý của Thầy một cách sâu sắc, con nghĩ thầm: “Ô, sướng quá! làm thơ như vậy đâu có khó”. Rồi Thầy dạy con hát cho Thầy nghe. Con thưa Thầy con không biết hát. Thầy lại dạy: “Sư cô Chân Đức làm thơ, làm nhạc rồi hát nữa, thế nào con cũng sẽ làm được như sư cô Chân Đức”. Con ngồi bên Thầy yên lặng, chưa biết trả lời ra sao thì Thầy dạy tiếp: “Con hát bài Lòng Không Bận Về cho Thầy nghe đi!” Con nhớ lúc ấy con thật lúng túng và thưa là con không thuộc bài đó. Thầy đâu có tha, Thầy nói không thuộc để Thầy nhắc cho. Thế là con chịu trận phải hát, hát tới câu nào quên là Thầy nhắc. Hát xong, con thấy mình như được thoát nợ.

Thầy ơi, con đâu có ngờ rằng chính bài hát mà Thầy nhắc cho con hát từng câu ấy đã giúp con rất nhiều. Những ngày tháng sống xa Thầy, về nơi đất mới đóng góp xây dựng chúng, có những khó khăn đến với con và đôi lúc làm cho lòng con chùng xuống. Chính những giây phút như vậy, câu thơ “Gió reo tám hướng lòng không bận về” trong bài hát ngày trước và hình ảnh Thầy lại hiện về trong con, giúp cho con mạnh mẽ hơn để đi tới. Sau mỗi lần lòng con chùng xuống, chỉ một lát sau tinh thần con được phấn chấn trở lại, lúc ấy con mới nhận ra và thốt lên một mình rằng: Ôi, tuệ giác và phương tiện của Thầy sao tuyệt vời quá! Ấy vậy mà ngày trước con nào có hiểu. Thầy dạy hát thì con “phải hát” như trả bài chứ đâu có nắm được yếu chỉ như nhà thiền thường nói tới “Tâm truyền tâm”. Và kể từ đó, con nhận ra Thầy đã trang bị hành trang cho con rõ ràng và cụ thể, con chỉ cần nắm lấy và khéo sử dụng để mỗi ngày làm nên chất liệu thơ, nhạc và hát cho Thầy nghe. Nhờ vậy, dẫu sống xa hình hài Thầy, nhưng không gian và thời gian chưa bao giờ ngăn cách tâm thức khi con muốn tiếp xúc với Thầy.

“Chúng ta xa cách nhau
Từ ngàn vạn kiếp lâu
Nhưng không hề xa nhau
Dẫu một phút giây nào.”

Thầy kính thương, mười chín năm về trước khi quyển sách “Bước Tới Thảnh Thơi” ra đời, Thầy tặng cho mỗi người con tâm linh của Thầy một quyển. Thầy nói các con muốn Thầy đề câu gì vào sách của mình thì cho Thầy biết để Thầy ghi vào. Con đã xin Thầy ghi cho con câu “Tình thương là chất liệu nhiệm mầu, Chư Bụt, Chư Tổ và Thầy truyền trao cho con, con hãy nắm lấy gìn giữ để nuôi dưỡng lại thế hệ tương lai”.

Thầy ơi, mười chín năm qua con rất thích câu này nên nó vẫn còn bừng sáng trong con, mỗi ngày con thực tập sâu sắc hơn với lòng biết ơn để không cô phụ suối nguồn.

Hướng đến Thầy với lòng thương kính.

Con của Thầy.

Có dễ hiểu không con

Thường sau các buổi pháp thoại, Thầy tôi hay hỏi: “Có dễ hiểu không con?”. Đối với tôi, bài pháp nào Thầy giảng cũng thật dễ hiểu, kể cả những đề tài khó học như giáo lý Trung Quán hay Duy Biểu. Ngay cả bọn con nít cũng hiểu được sự thật về vô sinh bất diệt khi Thầy đưa ra những ví dụ cụ thể như hạt bắp không bao giờ chết mà vẫn tiếp tục nơi cây bắp, hay đám mây không bao giờ mất mà luôn còn có mặt trong tuyết, trong mưa, v.v.

Tuy pháp Thầy dạy dễ hiểu như vậy, nhưng tôi không bao giờ dại gì nói hớ: “Bạch Thầy, con đã hiểu!”. Đó là vì có lần chúng tôi đã từng được nghe câu chuyện đức Thế Tôn dạy thầy A Nan: “Này thầy A Nan, thầy đừng vội nói rằng thầy đã hiểu giáo lý duyên khởi. Giáo lý này thậm thâm vi diệu vô cùng, cần phải học và hành cả đời mới mong hiểu thấu”. Tuy rằng chưa từng trả lời hớ với Thầy lần nào, trong thâm tâm tôi cũng ngấm ngầm tin rằng mình đã hiểu, ít nhất là những điều căn bản mà Thầy thường dạy. Mãi cho đến gần đây, mới gần đây thôi, tôi mới phát hiện ra rằng ngay cả những điều căn bản nhất, xưa nay tôi cũng chẳng hiểu gì cả.

Như các bạn đã biết, cuối năm ngoái Thầy bị xuất huyết não và nằm trong hôn mê nhiều tuần. Trước đó hơn ba tháng, Thầy bắt đầu yếu và ngã bệnh, vì vậy các thị giả luôn túc trực bên Thầy từ lúc đó. Một trong những điều mà các vị thị giả không bao giờ được quên là Thầy ở đâu thì cái đồng hồ nhỏ kêu tích tắc phải ở đó. (Những cái đồng hồ kêu tích tắc bây giờ rất hiếm có. Ngoài chợ, họ chỉ toàn quảng cáo và bán các loại đồng hồ không gây tiếng động). Như bạn đã từng nghe trong nhiều bài pháp thoại, Thầy dạy chúng ta cách dùng tiếng tích tắc của đồng hồ để duy trì hơi thở chánh niệm. Một hơi thở vào có thể kéo dài 5 hay 7 giây và hơi thở ra 7 hay 9 giây, hoặc lâu hơn nữa. Nếu bạn đã từng thử phối hợp hơi thở với tiếng tích tắc của đồng hồ, chắc hẳn bạn cũng đã cảm được thực tập như vậy thì dễ dàng và dễ chịu như thế nào phải không? Trong thời gian Thầy bệnh, các thị giả mới có cơ hội ở bên Thầy 24 trên 24 giờ, và đã chứng kiến Thầy đã thực tập như vậy ngày cũng như đêm, Thầy chưa bao giờ rời cái đồng hồ. Trong nhà, bất kỳ khi Thầy ngồi hay nằm ở đâu thì cái đồng hồ cũng được đặt trên chiếc bàn thấp ngay sát đó. Ngoài trời, trong khi Thầy ngồi nghỉ ngơi dưới những cây tùng hùng vĩ ở Sơn Cốc hay dạo chơi trong sân hoa của Nội viện, Thầy luôn đặt cái đồng hồ trong chiếc nón len nâu ngay phía trên lỗ tai.

Vì vậy trong khi Thầy hôn mê, các thị giả đã không quên đặt chiếc đồng hồ bên cạnh Thầy. Trước kia, ngay cả trong những giấc mơ khi ngủ, Thầy cũng đã thấy mình thực tập an ban thủ ý và đi thiền hành. Trong lúc hôn mê, Thầy đã luôn tiếp tục thở thật sâu, khi tất cả các thức, trừ mỗi một tàng thức, đều đã ngưng hoạt động. Thầy đã không hề cần đến máy thở như đa số các bệnh nhân ở tình trạng nặng như thế. Theo các bác sĩ chuyên môn về não bộ, sau cơn xuất huyết não, từ ngày thứ ba đến ngày thứ năm bộ óc bệnh nhân sưng to nhất và họ thường chết trong khoảng thời gian này. Mặc cho những gì xảy ra trong những ngày ấy, tàng thức của Thầy cứ thản nhiên tiếp tục thực tập an ban thủ ý một cách miên mật, không ngừng nghỉ.

Trong khi hôn mê, người bệnh mất đi khả năng nuốt. Trong khi đó thì hai lá phổi và hệ thống hô hấp phản ứng bằng cách tiết ra rất nhiều đàm. Vì không được nuốt, đàm có thể chảy vào phổi và gây nhiễm trùng phổi. Do đó có nhiều bệnh nhân chết không phải vì xuất huyết não hay hôn mê mà vì bị nhiễm trùng phổi sau đó. Trong suốt thời gian này, các thị giả liên tục hút đàm cho Thầy ngày cũng như đêm. Tuy nhiên, vẫn còn đàm rất sâu dưới cổ họng không hút tới được, vì vậy có một hôm, hình phổi của Thầy cho thấy rằng lá phổi bên trái vừa bị nghẽn bởi đàm. Lúc bấy giờ, Thầy chỉ thở bằng mỗi lá phổi bên phải. May thay, bác sĩ đã phát hiện kịp thời và đặt một cái máy để giúp Thầy thở vào sâu và mạnh. Khi đẩy dưỡng khí vào đầy phổi thì màng phổi hai bên tự động tách ra và lá phổi sẽ được thông trở lại. Đây không phải là máy thở, và nếu dùng máy này lâu, bệnh nhân sẽ đánh mất khả năng tự thở. Vì vậy Thầy chỉ được dùng máy trong vòng vài giờ đồng hồ chiều hôm đó, ngưng vài giờ rồi lại được tiếp tục chỉ trong một đêm. Kết quả ra sao thì sáng hôm sau, hình phổi sẽ cho biết.

Trong suốt khoảng thời gian thập tử nhất sinh, đây là lần đầu tiên tôi thật sự cảm nhận được ý nghĩa của: “Hơi thở là trị liệu”, “hơi thở là phép lạ”. Chưa bao giờ tôi biết trân quý hơi thở như vậy, hơi thở của người bệnh, hơi thở của chính mình, hơi thở đơn thuần mà không cần biết hơi thở của ai. Trong phòng cấp cứu, tôi hạnh phúc khi thấy Thầy vẫn còn thở. Tiếng thở đều của Thầy hòa vào và trở thành một với tiếng thở của các thị giả, với tiếng thở của tất cả các huynh đệ gần xa và của tất cả các bạn cư sĩ trên thế giới, những người cùng thực tập để cầu nguyện cho Thầy. Tất cả những lo lắng, tuyệt vọng, những lời tuyên bố của bác sĩ về kết quả hình chụp, v.v. đều đã được bỏ lại ngoài cửa. Trong phòng Thầy chỉ có hơi thở chánh niệm. (Sau này nghe kể lại, chúng tôi mới biết rằng các bác sĩ và y tá đã thường vào phòng Thầy để thâu nạp năng lượng bình an vào những giây phút căng thẳng nhất trong công việc).

Tôi đã tập nhìn thấy sự có mặt của Thầy khắp nơi chứ không phải chỉ trong hình hài này, nhưng tôi cũng vô cùng biết ơn Thầy đã tiếp tục thở. Tôi biết ơn mẹ tôi ở bên kia vòng trái đất. Mẹ tôi không cần phải làm gì, chỉ cần thở thôi cũng đủ làm cho tôi tràn đầy hạnh phúc rồi. Những người tôi thương cũng vậy. Và chính bản thân tôi, tôi biết rằng khi tôi thở giỏi, tôi cũng làm cho mọi người yên lòng.

Có những biến cố đau thương trong cuộc đời làm chúng ta lớn lên và thay đổi hoàn toàn, như da cây hé nứt đau đớn để cho những chồi non mới chào đời. Nếu cái “chết” của ba tôi đã làm tôi tái sanh để bắt đầu một cuộc sống mới, thì giờ đây cơn bệnh của Thầy cũng đang làm tôi lột xác để trở thành một con người mới.

Con gặp Thầy

Sư chú Chân Trời Đại Đồng là người Việt, sinh viên du học tại Paris – Pháp. Mùa hè năm 2013, sư chú về Làng lần đầu và đã tìm ra cho mình một hướng đi mới. Ngày 2/7/2014, sư chú chính thức trở thành người xuất sĩ trong gia đình xuất gia Cây Trắc Bá. Bài chia sẻ dưới đây đã nói lên được sự thực tập tiếp xúc với Thầy trong tự thân của sư chú.

Cây hoa lan nhỏ bé,

Từ ngày em về phòng, tôi có thêm một thói quen mới. Khi rảnh rỗi, thắp lên một cây nến, pha một ấm trà, tôi ngồi nhấp từng ngụm trà và ngắm từng bông hoa xinh xắn trong ánh nến lung linh. Có khi với một ly trà nhỏ, vậy mà tôi đã nhấm nháp đến mười lăm, hai mươi phút, chỉ đơn giản vậy thôi nhưng tôi có được rất nhiều niềm vui.

Hầu như mọi lần tôi chỉ ngồi ngắm em trong im lặng. Hôm nay tôi sẽ kể cho em nghe vài câu chuyện nho nhỏ của tôi. Những câu chuyện tuy nhỏ nhưng đem đến cho tôi những hạnh phúc rất lớn. Đó là những kỷ niệm của tôi khi tôi được gặp Thầy – vị Thầy kính yêu của tất cả chúng ta.

Em biết không, bông hoa xinh đẹp! Lần đầu tiên tôi gặp Thầy cách đây chừng sáu năm, lúc ấy tôi còn chưa biết Thầy là ai, thậm chí tôi chưa bao giờ nghe tới tên Thầy. Đó là khi tôi tình cờ được nghe đĩa thu âm của tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng, một cuốn sách do Thầy viết. Khi tôi nghe đến tựa đề của chương thứ nhất – Đi để mà đi – tôi thực sự bị tác động mạnh. Hồi còn học tập và công tác ở ngoài đời, tôi làm việc về lĩnh vực kỹ thuật. Những người làm về kỹ thuật chúng tôi thường nói với nhau về tác phong công nghiệp. Ai làm gì lề mề, chậm chạp là bị nhắc nhở “tác phong công nghiệp đâu?” hay khi luộm thuộm, cẩu thả cũng bị nhắc “tác phong công nghiệp đâu?” Tôi cũng có thói quen kiểu tác phong công nghiệp như vậy, đi đâu cũng hấp tấp vội vàng như bị ma đuổi, lên xuống cầu thang là cứ phải hai hay ba bậc mỗi bước mới chịu, làm gì cũng phải thật nhanh, thật chóng mới được.

Ấy thế mà lần đầu tiên nghe câu đi để mà đi, tôi sửng sốt vô cùng. Lối suy nghĩ cũ của tôi – nghĩa là dù không gấp gáp nhưng đi đâu cũng phải bước thoăn thoắt, đi cho mướt mồ hôi ra mới gọi là hay – đã bị đánh đổ hoàn toàn nhờ câu nói giản dị của Thầy. Từ đó tôi bỏ thói quen cũ, tập đi đứng và làm việc khoan thai, từ tốn hơn. Trong tôi đã có những biến đổi rất lớn kể từ khi tôi thay đổi phong cách sinh hoạt hằng ngày. Khi đi, tôi có thể cảm nhận được vẻ đẹp của những hàng cây, những phong cảnh xung quanh. Khi làm việc, tôi bớt được những căng thẳng và còn có thể cảm nhận được sự nhẹ nhàng và niềm vui trong công việc.

Đó em, tôi đã gặp Thầy lần đầu tiên như vậy đấy. Rồi từ đó tôi say mê sách của Thầy, tôi tìm đọc hết cuốn này đến cuốn khác. Càng đọc tôi càng kính trọng Thầy, càng quý mến Thầy, vì Thầy đã mở cho tôi những chân trời hoàn toàn mới lạ về cuộc sống mà tôi chưa từng được biết. Tôi ao ước có ngày được gặp Thầy trực tiếp, được cùng Thầy thực tập những điều mà Thầy dạy trong sách.

Bông lan xinh tươi, ngắm em, tôi thấy em có nhiều phước đức lắm. Em đang được ở đây, bên ánh nến lung linh và bên ly trà thơm, giữa lòng tăng thân của Thầy, được thấm nhuần tình thương của Thầy và những người học trò yêu quý của Thầy. Tôi thấy tôi cũng có rất nhiều phước đức, cơ duyên mầu nhiệm đã đưa tôi từ Việt Nam xa xôi qua bên Pháp và được về Làng gặp Thầy và tu học với tăng thân của Thầy.

Ngày được lên xóm Thượng nghe Thầy giảng pháp thoại, tôi vô cùng phấn khích, lại còn sắp được thực tập thiền hành với Thầy nữa chứ. Tôi tự nhủ mình phải tìm cách đi cho thật gần Thầy mới được. Nhưng vì lạ lẫm nên tôi không biết đại chúng tập trung ở đâu. Khi tới nơi thì Thầy cùng mọi người đã đi được một đoạn, Thầy đi đầu còn tôi ở phía sau cách hàng trăm người. Tôi thất vọng não nề mặc dù tôi vẫn tiếp tục đi cùng đại chúng. Biết là không thể nào chen lên nổi để tới gần Thầy, tôi đành chờ dịp khác. Bây giờ tôi chỉ có thể thực hiện theo lời Thầy dạy là quay về với từng bước chân và từng hơi thở. Rồi nỗi hậm hực trong lòng cũng tan đi, cảm xúc của tôi cũng lắng dịu và nhẹ nhàng trở lại.

Bất chợt câu hát Bụt là lá chín khởi lên trong tâm tôi. Lần này tôi cũng sửng sốt không kém lần trước khi nghe câu đi để mà đi. Lòng tôi bỗng phơi phới lạ kỳ. Khi tôi đem ý thức về với mỗi bước chân và hơi thở, tôi thấy Thầy đang đi ngay bên cạnh mình. Mỗi chiếc lá đung đưa trong gió, mỗi bông hoa long lanh dưới ánh nắng đều thấp thoáng nụ cười hiền từ của Thầy. Tôi dường như quên hẳn ai kia đang dẫn đầu đoàn thiền hành, tôi đang cảm nhận hạnh phúc khi đi thiền với Thầy qua từng ngọn cỏ, từng cánh hoa. Lần thứ hai tôi được gặp Thầy với niềm hạnh phúc dâng tràn như vậy đấy.

Khi nhìn về bản thân, tôi tin rằng cha mẹ, ông bà và tổ tiên của tôi hẳn đã gieo trồng rất nhiều phước đức từ ngày trước để ngày nay tôi có cơ duyên gặp Thầy, được học hỏi những điều Thầy dạy. Sau hai tuần về Làng thực tập như một thiền sinh, một hạt giống mầu nhiệm trong tôi được Thầy tưới từng giọt mưa; được những người học trò của Thầy ôm ấp và vun vén đã nảy mầm – tôi phát nguyện gia nhập tăng đoàn xuất gia của Thầy. Được Thầy và tăng thân chấp thuận, tôi sung sướng vô cùng. Mỗi ngày niềm vui, niềm hạnh phúc và lòng biết ơn của tôi đối với Thầy và tăng thân đều được nuôi lớn.

Trong cuộc sống hằng ngày, tôi vẫn thường xuyên trở về gặp Thầy. Tôi có thể gặp Thầy trong mỗi hơi thở, mỗi bước chân chánh niệm. Khi đang làm việc, thỉnh thoảng bên tai tôi vẳng lên câu hỏi “con đang làm gì vậy?” và tôi mỉm cười, lúc đó có lẽ nụ cười của tôi cũng đẹp gần bằng nụ cười của Thầy nhỉ. Tôi có thể gặp Thầy trong các học trò thương yêu của Thầy, những người đã nguyện sẽ hết lòng tu tập để có thể trở thành sự tiếp nối xứng đáng của Thầy. Ngay khi ngồi đây, ý thức rằng tôi đang được sống giữa những người anh em có tình thương, có sự gắn kết, ý thức rằng tôi có thể ngồi thảnh thơi mà ngắm từng cánh hoa, nhấp từng ngụm trà trong tĩnh lặng, là tôi có thể gặp được nụ cười đầy từ bi của Thầy. Tôi có thể gặp Thầy trong những hạnh phúc, trong sự chuyển hóa những niềm đau nỗi khổ của những thiền sinh tới với Làng. Tôi cũng có thể gặp Thầy trong tôi, trong những niềm vui tôi có hằng ngày, trong những sự chuyển hóa nội tâm của tôi.

Em thấy đấy, bông hoa mầu nhiệm, tôi và em may mắn lắm chứ. Lúc nào Thầy cũng ở ngay bên cạnh chúng ta, Thầy chỉ chờ chúng ta trở về gặp Thầy, và chúng ta có thể gặp Thầy ngay lập tức. Mỗi giây phút chúng ta gặp Thầy đều là những giây phút kỳ diệu, đem lại cho chúng ta niềm hạnh phúc vô bờ. Tôi và em nhớ đừng bỏ lỡ những cơ hội quý giá để về gặp Thầy em nhé, điều này không phải ai cũng may mắn có được. Tôi còn tin chắc rằng, mỗi khi chúng ta về gặp Thầy là Thầy hạnh phúc nhiều lắm. Còn gì vui sướng hơn khi được làm cho Thầy hạnh phúc, phải không em?

Chúng con đang uống thuốc

Thầy bệnh

Từ hồi tôi xuất gia đến giờ, mùa đông nào cũng có Thầy ở nhà. Ở nhà có nghĩa là Thầy An cư kiết đông ở Xóm Thượng. Tứ chúng Làng Mai mỗi tuần được gặp Thầy hai lần vào ngày Thứ năm và Chủ nhật, là hai ngày Quán niệm. Ngoài ra ngày thứ Ba, ngày xuất sĩ, anh chị em tôi được gặp Thầy tại Sơn Cốc để nghe Thầy giảng sâu thêm về kinh điển hoặc được Thầy dạy những vấn đề trong chúng. Tôi mới xuất gia được vài năm nên còn rất cần nương tựa Thầy. Tôi được dạy là năm năm đầu tiên trong cuộc đời xuất gia là những năm tuổi thơ, một vị xuất sĩ cần được ở gần Thầy của mình để học hỏi và được chỉ dạy. Dù Thầy ở Xóm Thượng hay ở Sơn Cốc, tôi vẫn thấy mình được ở gần Thầy, bình an và vui tươi, như một bé thơ được ở bên cạnh người cha hiền của mình, cảm thấy thật an toàn.

Năm nay Thầy bệnh nặng, phải nằm bệnh viện rất lâu, phải đón Giáng Sinh, Tết Tây và Tết Ta ở đó. Khi Thầy trở bệnh, có tin đồn là Thầy đã mất. Ở bên nhà (bên nhà là tiếng Thầy hay dùng để chỉ bên Việt Nam) và ở các nơi khác nhiều người rất lo lắng. Nhất là quý tôn túc có giao tình sâu nặng với Thầy và với Làng trong nhiều năm qua. Quý tôn túc lo cho các con xuất sĩ của Thầy lắm. Nghĩ là bên Làng chắc mọi người đang cuống lên, không khí u buồn bao trùm, không ai có lòng dạ nào để làm gì nữa hết. Nhiều vị đã vội mua vé máy bay về Làng gấp. Cả những đệ tử xuất gia lâu năm của Thầy hiện đang sống ở nơi xa cũng lần lượt về Làng trong dịp này. Trước là để thăm Thầy, sau để có mặt và làm chỗ nương tựa cho tứ chúng.

Hôm nghe tin Thầy bệnh nặng, trưa đó tôi cùng một sư chị rủ nhau đi thiền. Trên đường đi tôi thấy có rất nhiều bóng áo nâu cũng đang đi thiền như chúng tôi. Tin Thầy bệnh khi ấy chưa được chính thức báo trong chúng, tin chỉ mới được chuyền tai nhau trong chúng xuất sĩ mà thôi. Chúng tôi được dặn dò là nên chờ quý sư cô lớn sắp xếp công việc đâu ra đó rồi mới thông báo chính thức để không bị động chúng. Ở trong chùa, bất cứ một việc gì mình làm, mình cũng đều cẩn thận để không bị động chúng. Điều này rất là quan trọng, vì đôi khi những tin thông báo sớm khi chưa đúng lúc sẽ gây ra những hoang mang và xáo trộn không cần thiết. Vì vậy khi trông thấy các bóng áo nâu đang đi thiền trưa hôm ấy, chúng tôi đều ngầm hiểu là những vị đó cũng đã biết tin rồi.

Thầy vẫn thường dạy là khi có khó khăn hay có một cảm xúc mạnh đi lên thì nên đi thiền cho tâm lắng lại, sau đó mới đủ bình an để nhìn vào hoàn cảnh. Ngoài đời, khi có chuyện, ông bà mình hay nói: “Chuyện đâu còn có đó, ngồi xuống ăn miếng bánh, uống miếng nước rồi từ từ nói chuyện”. Tin Thầy trở bệnh nặng dĩ nhiên gây cho chúng tôi những cảm xúc mạnh. Vì thế, ai cũng biết là mình cần chăm sóc những cảm xúc đó bằng cách làm theo lời dạy của Thầy.

Thiền hành là một pháp môn “ruột”, pháp môn căn bản mà Thầy chúng tôi rất tâm đắc. Có một lần khi tôi được dùng cơm với Thầy, Thầy bảo là mình phải đi làm sao cho bước chân của mình trở nên thật tự nhiên, bước chân của mình phải có hạnh phúc. Hễ đi là thấy hạnh phúc, cái hạnh phúc đó phải thật tự nhiên thì mới được. Đi từ nhà bếp lên phòng ăn, đi từ phòng ngủ ra nhà vệ sinh, đi từ thiền đường xuống hồ sen, phải biết thưởng thức mỗi bước chân. Tôi thưa với Thầy là không hiểu sao tôi vẫn chưa làm như thế được, thực tập nghe chuông thì tôi đã làm được một cách tự nhiên, nhưng thiền hành thì chưa. Nghe vậy, Thầy nói: “Không sao đâu con, thực tập một hồi thì mình sẽ làm được”. Thầy bao giờ cũng rất kiên nhẫn với chúng tôi.

Thầy tâm huyết với pháp môn thiền hành nên dù trời mưa hay nắng, có tuyết hay không có tuyết, Thầy đều thưởng thức thiền hành. Đôi khi tôi hơi lười, thấy trời mưa, trời lạnh, người hơi mỏi mệt một chút là muốn bỏ thiền hành. Nghĩ tới Thầy, tôi thấy mình không thể lấy lý do này hay lý do kia mà không đi thiền được. Tôi chưa được như Thầy, tôi chưa thấy háo hức trông đợi đến giờ thiền hành. Tôi vẫn còn phải nương vào cái lực của Thầy để tự sách tấn mình. Tuy nhiên khi đã bắt đầu đi, tôi thấy mình hạnh phúc, thấy cả Thầy và trò cùng có mặt cho nhau.

Hạ thủ công phu

Mấy ngày Thầy bệnh nặng, có khi tưởng Thầy không qua được, cả tăng thân ai cũng ý thức là nếu mình thực tập miên mật thì Thầy sẽ không bao giờ thật sự mất đi. Nếu Thầy mất đi thì chỉ có nghĩa là Thầy xả bỏ báo thân này mà thôi. Thầy sẽ vẫn còn mãi mãi trong từng bước chân, hơi thở của các con Thầy, của các bạn thiền sinh, của tăng thân. Tăng thân là một tác phẩm để đời của Thầy. Và tăng thân này phải là một tăng thân có sự hòa hợp, thương yêu, có tình huynh đệ mới đích thực là tăng thân mà Thầy tâm huyết, là “kiệt tác” (masterpiece) của Thầy. Vì thế, tăng thân còn là chắc chắn Thầy còn. Một tăng thân nếu muốn có tình huynh đệ, có hòa hợp, thương yêu thì chắc chắn tăng thân ấy phải thực tập, nếu không thì những phẩm chất ấy có lẽ sẽ không tồn tại lâu dài, không phát triển được và rất chông chênh. Một tăng thân như thế sẽ là nơi nương tựa cho biết bao người. Thầy đã dạy không biết bao nhiêu lần như thế.

Ai cũng ý thức được điều này nên cố gắng “hạ thủ công phu”: Thiền tọa, thiền hành, tham gia thời khóa của chúng, hai ngày quán niệm, ngày xuất sĩ đầy đủ và đều đặn. An cư kiết đông vẫn diễn ra một cách bình thường, đúng như Thầy mong muốn. Quý thầy, quý sư cô giáo thọ lớn, mà ở Làng chúng tôi gọi một cách thân thương là quý sư cha, sư mẹ đã cho những bài pháp thoại rất súc tích và thực tế, chạm được tới ý thức của sự tiếp nối Thầy một cách đích thực trong mỗi cá nhân và trong cả tăng thân. Do vậy chúng tôi thấy mình được sách tấn và nâng đỡ tinh thần, không còn lo sợ cho tương lai không có Thầy nữa. Ngoài ra trong thời gian ấy, sự có mặt và các lời chỉ dạy quý báu của các bậc tôn túc khắp nơi về tụ hội càng làm cho tăng thân thêm tinh tấn và vững chãi.

Tôi thấy mình thật may mắn được nương tựa nơi năng lượng yêu thương, bao dung và nâng đỡ của quý tôn túc. Tất cả các vị chia sẻ khi nghe tin Thầy Làng Mai bệnh nặng như thế, ai cũng lo lắng cho tăng thân, do vậy nên quý tôn túc vội sang ngay để nâng đỡ tinh thần. Thế nhưng khi sang đến đây, thấy đại chúng vẫn thực tập miên mật, mọi việc vẫn diễn ra bình thường, các thầy các sư cô ở Làng vẫn nhẹ nhàng, vui vẻ, quý tôn túc đều thấy an lòng và có niềm tin ở pháp môn mà Thầy đã truyền trao, có niềm tin ở sự tiếp nối của Thầy nơi tăng thân.

Trong thời gian Thầy bệnh, dù không có khóa tu lớn, thiền sinh vẫn tới Làng đông hơn thường lệ. Chúng tôi lại có quý tôn túc và quý thầy quý, sư cô ở các trung tâm khắp nơi về thăm Thầy, về dự An cư kiết đông rất là ấm áp. Nhất là bây giờ đang vào dịp Giáng Sinh và Tết Tây, thiền sinh về một ngày một đông.

Thầy đang có mặt cho con đây

Sáng nay, 25.12, quý thầy, quý sư cô theo thông lệ hàng năm sang mừng Giáng Sinh ở Sơn Cốc. Sơn Cốc năm nay không có Thầy vì Thầy đang ở bệnh viện. Thế nhưng chúng tôi vẫn có Thầy rất tròn đầy trong mỗi trái tim, trong từng hơi thở, trong mỗi bước chân. Mỗi tấc đất ở Sơn Cốc trong 32 năm qua đều in dấu chân thiền hành của Thầy. Mỗi ngày Thầy đều đi thiền ít nhất là hai lần. Buổi chiều, Thầy hay nằm võng đong đưa dưới rặng tre, nghe chim hót, nghe suối reo, nghe tiếng gió xào xạc qua những tán lá sồi, nhìn những con chim nhỏ nhảy nhót tới lui, bận rộn. Có khi mấy con sóc, con nai cũng tới gần cho Thầy ngắm. Mấy con sóc hay leo thoăn thoắt trên những cây sồi già lâu năm, rong rêu bám đầy, có cây đã bị rỗng ruột vì sâu mọt nhưng vẫn còn là chỗ nương náu cho rất nhiều chim và sóc. Chính vì thế nên chúng tôi đã bắt đầu ngày họp mặt ở Sơn Cốc sáng nay bằng thiền hành. Chúng tôi đi trên những bước chân mà Thầy đã in dấu khắp nơi ở Phương Khê. Phương Khê là tên một con suối nhỏ chảy dọc theo rặng tre, bên cạnh Sơn Cốc.

Tôi nắm tay một sư em cùng thiền hành. Sư em mới xuất gia cách đây một tuần. Tôi cầm tay sư em đi và thấy tay mình với tay Thầy là một. Thầy đã nắm tay tôi thiền hành và bây giờ tôi nắm tay sư em. Đây là lần đầu tiên sư em được sang Sơn Cốc, được thiền hành ở Sơn Cốc. Tôi muốn để lại cho sư em một cảm giác đẹp và ấm áp cho lần đầu tiên này. Tôi và sư em đi trong lòng tăng thân, bước những bước nhẹ và đều một nhịp. Thỉnh thoảng, tôi siết tay sư em một chút, giống như Thầy hay làm để nhắc tôi trở về giây phút hiện tại, biết trân quý sự có mặt của Thầy đang đi bên cạnh, đồng thời cũng cho biết là “Thầy đang có mặt cho con đây”. Tôi thấy bàn tay Thầy đang siết tay sư em. Đi đến một góc vườn tôi thầm nói với sư em: “Chỗ này có một bụi hành dại”. Đó là tiếng nói thầm trong đầu khi tôi chạm vào kỷ niệm…

Mùa đông năm đó một sư chị và tôi làm thị giả cho Thầy. Tuyết rơi phủ trắng cả vườn. Thầy nắm tay hai chị em tôi đi thiền, khi đi đến chỗ đó, Thầy nói: “Chỗ này có một bụi hành”. Tôi chẳng thấy hành đâu cả vì khi ấy tuyết phủ đầy, nhưng đến mùa xuân, khi thiền hành ngang chỗ ấy quả nhiên có một bụi hành. Tôi hay nhớ về Thầy qua những kỷ niệm nho nhỏ như thế. Ai trong chúng tôi cũng có những kỷ niệm nho nhỏ với Thầy (dĩ nhiên là quý sư cha sư mẹ xuất gia với Thầy mười mấy hai mươi năm thì những kỷ niệm nho nhỏ như thế là vô số, mà những kỷ niệm lớn thì cũng đếm không xuể). Những kỷ niệm ấy bao giờ đối với tôi cũng là vô giá bởi chúng không đơn thuần là những ký ức mà chúng chính là những bài học về chánh niệm, về sự có mặt 100% của Thầy ở giây phút hiện tại.

Chúng con đang uống thuốc

Trong các pháp thoại, thỉnh thoảng Thầy kể chuyện về một ông thầy thuốc rất giỏi, bốc thuốc cho nhiều người và giúp họ hết bệnh. Tuy nhiên con của ông thầy thuốc, khi bệnh lại không chịu uống thuốc do cha bốc. Một lần ông thầy thuốc buồn con không chịu uống thuốc để lành bệnh nên ông bỏ nhà đi. Ông đi một thời gian rồi nhờ người mang tin về, nói là ông đã chết. Khi ấy các con của ông mới giật mình và bắt đầu uống thuốc. Thầy bảo chúng tôi đừng để tình trạng đó xảy ra, đừng để đến khi Thầy không còn nữa thì mới chịu thực tập bước chân, hơi thở. Bây giờ Thầy bệnh, lâu lâu tôi tự nhủ biết đâu Thầy cũng như ông thầy thuốc nọ, đang nhắn tin về, báo là mình bệnh nặng để các con lo mà thực tập, chịu uống thuốc, những bài thuốc về bước chân, hơi thở mà Thầy đã ra toa không mỏi mệt trong mấy chục năm qua.

Cứ hai năm một lần, Thầy đi hoằng pháp ở Bắc Mỹ. Chuyến đi thường kéo dài đến mấy tháng. Gần đây, từ hồi có trung tâm Làng Mai ở Thái Lan, Thầy lại còn vòng qua Á châu trước khi sang Mỹ nên chuyến đi của Thầy dài hơn. Ngoài ra còn các khóa tu tại các nước châu Âu, trong đó có Đức và Anh nên năm nào có chuyến đi Mỹ thì Thầy ở nhà ít hơn. Có năm Thầy nói: “Năm nay Thầy không đi đâu hết, Thầy ở nhà chơi với các con!”. Nhưng điều đó vẫn chưa thực hiện được!

Khi Thầy đi xa như thế, chúng tôi ở nhà duy trì thời khóa thực tập bình thường và chúng tôi thường dùng thời gian hơi rảnh hơn một chút đó để học thêm nội điển hoặc học thêm ngôn ngữ, học tụng kinh … Nhưng chúng tôi không quên dõi theo từng bước chân của Thầy ở nơi xa, vui với từng cái tin nho nhỏ gửi về vì biết rằng có nhiều người đang được thực tập pháp môn cùng tăng đoàn xuất gia tháp tùng Thầy trong chuyến đi, được tưới tẩm hạt giống hướng thiện qua các bài pháp thoại sống động của Thầy.

Mùa Đông này Thầy vắng nhà, cũng giống như Thầy đang đi một chuyến hoằng pháp dài ngày. Chỉ khác hơn một chút là lần này, chuyến hoằng pháp của Thầy là một chuyến hoằng pháp vượt qua giới hạn của không gian. Pháp thoại của Thầy là pháp thoại qua hơi thở, qua cách Thầy vượt qua cơn bệnh. Thầy đang hoằng pháp nhưng cũng là đang nghỉ ngơi. Tôi thấy Thầy không hề vắng mặt. Chúng tôi cũng đang dõi theo từng bước chân Thầy như thường lệ, và vui với những tin nho nhỏ về Thầy như thường lệ. Chúng tôi đang thực tập tiếp bước Thầy ở nơi tự thân, làm cho tác phẩm để đời của Thầy được duy trì, phát triển và luôn tươi mới. Chúng tôi có thể báo cho Thầy một tin vui: “Bạch Thầy, chúng con hiện giờ đang chăm chỉ uống thuốc, xin Thầy cứ an lòng”.

Mùa Giáng Sinh 2014

Kính dâng Thầy

Tình thầy trò nghĩa tăng thân

“Tăng là đoàn thể đẹp
Cùng đi trên đường vui
Tu tập giải thoát
Làm an lạc cuộc đời”

Thầy kính thương,

Sáng nay thức dậy, con đốt trầm, pha trà rồi thực tập lạy Bụt và tổ tiên. Trước mặt con là cửa sổ kính rộng lớn. Con ngồi tĩnh lặng thưởng thức trà trong hương trầm thoảng dịu và nhìn làn khói nhỏ đang bay lên nhè nhẹ. Con ý thức được Thầy đang có mặt trong con, bởi vì con đang thưởng thức một tách trà có chánh niệm và có hạnh phúc.

Bầu trời sáng nay thật đẹp. Con ngồi ngắm những đám mây bạc đang thong dong dạo chơi, nhìn những chú chim bay qua bay lại trên bầu trời. Cuối thu, những cành cây đang khoe mình với những chiếc áo muôn màu rực rỡ. Trong không khí yên tĩnh của một buổi sáng, tâm con rất nhẹ nhàng và trong sáng. Đây là giây phút thiêng liêng mà con dành riêng cho chính con. Con được ngồi yên và cảm thấy vô cùng hạnh phúc.

Sáng nay trong khi uống trà, có lúc tàng thức của con gợi lên những hình ảnh thật tuyệt đẹp. Con chỉ ngồi đó, nhận diện và tận hưởng những hình ảnh muôn màu muôn vẻ mà tàng thức của con đang chiếu lại. Thầy có biết sáng nay tàng thức của con chiếu lại những hình ảnh gì không? Đó là những hình ảnh đẹp của thầy trò mình, hình ảnh của tăng thân mình trong chuyến hoằng pháp vừa qua tại châu Á cũng như châu Mỹ.

Trong chuyến hoằng pháp vừa qua tại Thái Lan, thầy trò mình đã làm được biết bao nhiêu việc và đem lại nhiều sự lợi lạc cho đất nước này. Trong mấy năm qua, việc tranh chấp giữa hai đảng áo Vàng và áo Đỏ đã đem lại cho người dân Thái Lan nhiều bất an. Thầy trò mình đã qua hướng dẫn một ngày quán niệm cho giới lãnh đạo chánh trị và lãnh đạo xã hội, trong đó có hai đảng áo Vàng và áo Đỏ tại trường đại học Mahidol trong tháng 3 năm 2013 vừa qua. Sự kiện này làm con nhớ đến những câu chuyện ngày xưa vào thời của Bụt. Khi có sự tranh chấp giữa hai phe hoặc hai nước thì Bụt cũng đến giúp hòa giải. Bụt không có làm lơ và Thầy bây giờ cũng thế. Thầy đã mở lòng từ bi dùng phương tiện giúp họ ngồi lại, lắng nghe và hòa giải với nhau. Một hành động rất cách mạng có tính cách lịch sử với chất liệu từ bi và tấm lòng bao dung cao cả của Thầy, một việc mà ít ai dám làm.

Cũng trong chuyến đi này, vào một buổi trưa trong một khóa tu, ba thầy trò mình (Thầy, sư anh Pháp Hữu và con) ngồi làm việc bên nhau rất vui. Ba thầy trò cùng dùng chung một cái bàn ăn dài để làm việc. Thầy ngồi đầu bàn viết thư pháp, sư anh Pháp Hữu ngồi cuối bàn làm chứng chỉ truyền đăng, còn con thì ngồi ở khoảng giữa làm sổ sách. Hôm ấy bên ngoài mưa gió rất lớn, vậy mà thầy trò mình vẫn ngồi làm việc bên nhau rất bình thản ở bên trong. Sau khi thầy trò làm việc một hồi, con đứng dậy đi pha trà rồi ba thầy trò ngồi bên nhau uống trà, ngắm mưa và nghe gió hú bên ngoài cửa sổ. Thật hạnh phúc!

Con nhớ có một chuyện vui con xin kể cho Thầy nghe. Trong một buổi thầy trò mình đang dùng cơm chiều tại trung tâm mới ở Thái Lan, có một sư em vào báo là có các thầy ở Thái Lan đến xin đảnh lễ Thầy. Con bảo sư em ấy ra thưa lại với các thầy là Thầy đang dùng cơm chiều và chút nữa thị giả sẽ ra gặp các thầy đó sau. Sau khi thầy trò mình dùng cơm chiều xong, sư anh Pháp Hữu và con đi ra gặp các thầy đó. Chúng con thấy có một thầy Thái Lan, một chú cư sĩ người Đại Hàn và một chú cư sĩ người Tích Lan. Chúng con xá chào và thưa không biết chúng con có giúp được gì cho quý vị không. Họ cho biết họ đi đường sá xa xôi đến đây để xin đảnh lễ và cúng dường Thầy. Chúng con cảm ơn lòng hảo tâm và sự tôn kính của họ đối với Thầy, nhưng chúng con từ chối vì bây giờ khá tối và chúng con cho họ biết hôm nay Thầy đã làm quá nhiều việc, đặc biệt là trong 30 phút nữa Thầy sẽ có một buổi họp với các vị giáo thọ. Họ kèo nài đủ cách để được vào gặp Thầy và chúng con cũng tìm đủ cách để từ chối. Con nói: “Tối nay dù quý vị nói như thế nào thì chúng tôi cũng không thể sắp xếp cho quý vị vào gặp Thầy chúng tôi được và Thầy chúng tôi chỉ còn ở đây thêm 2 ngày nữa là sẽ đi qua Đại Hàn.”

Con nói chưa xong thì chú cư sĩ Đại Hàn ngắt lời và nói: “Nhưng mà chúng tôi không thể trở lại đây vào ngày khác, bởi vì tối nay chúng tôi cũng phải có việc đi xa.”

Con thưa: “Như vậy chúng tôi mời quý vị về Làng Mai chơi. Nếu có cơ hội và sức khỏe của Thầy chúng tôi cho phép chúng tôi sẽ sắp xếp cho quý vị vào gặp Thầy, còn bây giờ thì không thể nào được.”

Chú cư sĩ Đại Hàn lại nói: “Bây giờ hai thầy còn không cho chúng tôi vào gặp Thiền sư thì có thể khi về Làng hai thầy cũng nói như thế.”

Sư anh Pháp Hữu tiếp lời: “Nếu quý vị thật tình tôn kính Thầy của chúng tôi thì quý vị cũng phải tôn trọng sức khỏe của Thầy tôi. Quý vị không nên ép anh em chúng tôi.”

Nghe sư anh Pháp Hữu lên tiếng mạnh, họ chuyển sang đề tài khác. Thầy Thái Lan nói: “Ai cắt móng tay và cạo tóc cho Thiền Sư?”

Con tự hỏi tại sao thầy ấy lại hỏi câu này, việc này có liên quan gì với thầy? Nhưng để cho lịch sự, con trả lời: “Anh em chúng tôi hớt tóc cho Thầy.”

Thầy ấy lại hỏi: “Vậy quý vị làm gì với móng tay và tóc của Thiền sư?”

Con lại nghĩ ông thầy này thật là kỳ lạ. Thật ra thầy muốn gì đây? Con cũng tiếp tục lịch sự trả lời: “Chúng tôi giữ lại để dành lưu trữ.”

Thầy Thái Lan bây giờ mới phát lộ: “Xin lỗi nãy giờ chúng tôi phải hỏi dài dòng. Mục đích của chúng tôi đến đây để xin vài cái móng tay, vài cọng tóc và một bộ đồ của Thiền Sư về trưng bày trong bảo tàng mới thành lập của chúng tôi tại Chiang Mai.”

Thì ra là thế! Họ có một bảo tàng ở Chiang Mai (một thành phố lớn ở miền bắc Thái Lan) chuyên môn sưu tầm và trưng bày những vật sở hữu của các thiền sư nổi tiếng trên thế giới dù đang còn tại thế hay đã qua đời. Con mỉm cười rồi trả lời: “Chuyện này hả? Chắc phải hỏi lại tăng thân. Quý vị cứ viết thư và gửi cho chúng tôi đi. Chúng tôi sẽ trình cho tăng thân và sẽ trả lời cho quý vị sau. Còn bây giờ chúng tôi xin phép về lo cho Thầy chúng tôi để chuẩn bị cho buổi họp.”

Chú cư sĩ Đại Hàn lên tiếng: “Ngày xưa trước khi Bụt nhập Niết bàn, thầy Anan đã được Bụt cho phép để người cư sĩ vào gặp Ngài lần cuối. Còn bây giờ tại sao hai thầy không cho chúng tôi vào gặp Thiền sư?”

Chúng con thì thầm: “Nhưng mà Thầy của chúng tôi không phải là Bụt, chúng tôi cũng không phải là thầy Anan và Thầy chúng tôi cũng chưa dự định nhập Niết bàn sớm như vậy.”

Tới đây chúng con xin tạm biệt và chúc họ ra về thượng lộ bình an.

Khi tới Đại Hàn, sức khỏe của Thầy đi xuống rất nhiều, lý do vì Thầy làm việc quá nhiều ở Thái Lan, một phần do khí hậu thay đổi bất thường từ mùa Hè nóng bức ở Thái Lan cho đến mùa Xuân lành lạnh ở Đại Hàn. Và cũng như ở Thái Lan, chương trình giảng dạy ở Đại Hàn cũng khá đầy. Dù sức khỏe rất yếu nhưng Thầy vẫn ra hướng dẫn khóa tu và những buổi sinh hoạt đều đặn mà không bỏ buổi nào. Có những hôm nhìn Thầy khá yếu, ăn không ngon và ngủ không được khiến anh em chúng con cảm thấy rất xót xa. Chúng con biết làm gì hơn ngoài việc nguyện cầu chư Tổ gia hộ cho sức khỏe Thầy được tốt và chúng con thực tập có mặt đó cho Thầy.

Tại thành phố Busan miền Nam Đại Hàn, trước giờ pháp thoại mà Thầy vẫn còn nằm trên giường, thân thể yếu hẳn, trông Thầy kiệt sức không đứng dậy nổi. Chúng con rất bối rối không biết nên phải làm gì vì buổi giảng hôm nay có hơn 10.000 người tham dự. Chúng con phân vân không biết nên báo cho ban tổ chức biết để hủy bỏ buổi giảng không, hay kiên nhẫn chờ đợi sự mầu nhiệm xuất hiện. Chúng con biết Thầy thấy được sự lo lắng và lòng phân vân trong ánh mắt của chúng con. Và cuối cùng thì sự mầu nhiệm ấy cũng xuất hiện. Thầy tự mình đứng dậy được, mặc áo và thầy trò bước ra xe. Khi đến giảng đường, chúng con biết tất cả đại chúng ai cũng đều lo, vì thính chúng đến nghe quá đông và đang chờ đợi Thầy ban cho một bài pháp nhũ. Hôm ấy Thầy cho một bài pháp thoại thật tuyệt vời. Thầy đã nói đúng tim đen của họ. Thật là một liều thuốc hữu ích cho người dân địa phương nói riêng cũng như người Đại Hàn toàn quốc nói chung. Thật mầu nhiệm! Con có cảm tưởng rằng bài pháp thoại hôm ấy là do chư tổ Đại Hàn nói. Sau buổi giảng, con có nói nhỏ với cô Emi trong ban tổ chức là chư tổ Đại Hàn đã cho bài pháp thoại qua Thầy hôm nay. Cô ta cảm thấy rất ngạc nhiên và hỏi: “Ô, thiệt không?”

Cũng trong một khóa tu ở Đại Hàn, một hôm Thầy dẫn đại chúng đi thiền hành bên bờ suối. Con nhớ hôm ấy trời rất đẹp. Nắng đã lên, tiếng suối chảy mạnh, những cành cây đang khoác lên mình những chiếc áo xanh mới tinh đón chào mùa Xuân, những nụ hoa Đỗ Quyên đủ màu đang vươn mình khoe sắc dưới ánh nắng ban trưa. Thầy dẫn đại chúng đến ngồi bên cạnh mé rừng. Khung cảnh thật thanh tịnh, mọi người ngồi yên ngắm cảnh và đang tận hưởng những giây phút hiện tại tuyệt vời. Sau buổi thiền hành, một cô thiền sinh Đại Hàn đến ngồi nói chuyện với sư cô Chân Không. Cô thiền sinh thưa: “Con chưa bao giờ nếm được giây phút an lạc và hạnh phúc trong cuộc đời con như lúc đi thiền hành ngày hôm nay. Ngồi bên Thầy và đại chúng con thấy con không còn mong cầu gì nữa. Lúc ấy con nhìn vào chiếc nhẫn hột xoàn mà con đang đeo trên ngón tay. Con bỗng thấy nó không còn giá trị nữa và con muốn buông bỏ nó đi. Con muốn tặng chiếc nhẫn này cho Sư cô để gây quỹ cho chương trình trẻ em nghèo mà Sư cô đang làm.”

Sư cô Chân Không rất cảm động trước lời chia sẻ ấy. Sư cô bình thản trả lời: “Nhưng tôi phải làm gì với chiếc nhẫn này?”

Cô thiền sinh tiếp lời: “Sư cô có thể đem đi bán.”

Nói xong cô ta mới nhớ lại Sư cô là người tu thì đâu có thể nào nhận đồ nữ trang quý giá được. Cô liền nói: “Để con đem đi bán rồi đem tiền lại cúng dường cho Sư cô.”

Đúng như thế, vài hôm sau cô đem đến ba phong bì lì xì đỏ: một cái cúng dường Thầy, một cúng dường cho Sư cô và cái to nhất còn lại cho chương trình trẻ em nghèo. Con nhớ hôm ấy Thầy rất hoan hỉ khi nghe câu chuyện này và chia sẻ với chúng con rằng: “Người này đã nếm được thế nào là an lạc. Giây phút buông bỏ ấy là giây phút giác ngộ.” Thầy hoan hỉ vì thấy rằng những hạt giống mà thầy trò mình đã và đang gieo trồng đang được đâm chồi nẩy lộc. Đó là những hạt giống yêu thương, an lạc, hạnh phúc và giác ngộ.

Tại Hồng Kông, mình có khóa tu hơn 1.300 người tham dự và một buổi pháp thoại công cộng có gần đến 12.000 người đến nghe. Công trình hoằng pháp của thầy trò mình thật là rộng lớn. Thiền sinh đến tham dự khóa tu có nhiều chuyển hóa và an lạc. Buổi pháp thoại công cộng Thầy dạy về Tứ Niệm Thực (Bốn loại thức ăn), rất thích hợp với căn cơ thời đại ở Hồng Kông, đặc biệt là khi Thầy dạy về sự ảnh hưởng của đường lối tiêu thụ. Buổi giảng hôm ấy đã để lại nhiều suy tư và ấn tượng cho người đến nghe.

Về Hồng Kông, thầy trò mình được nghỉ ngơi nhiều hơn. Thầy trò lại có cơ hội leo núi rồi đi biển. Có một hôm Thầy trò đi dạo chơi dưới biển. Tất cả đều đi chân không. Thầy đặt bàn chân xuống biển và Thầy dạy con thế nào là quán cảm thọ trong cảm thọ. Ngày hôm ấy thật vui! Nhưng Thầy trò mình phải đi về vì Thầy có hẹn với ông Dương (người cúng dường Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Á). Trong mấy năm qua, mỗi lần Thầy đến Hồng Kông, ông Dương thường đến xin đảnh lễ và cúng dường. Lần này cũng thế, ông đến với bà Dương cùng một số bạn bè. Họ bay từ Lục Địa về Hồng Kông và sau khi xuống máy bay thì đoàn đến thẳng thăm Thầy. Ông Dương và mọi người vào đảnh lễ Thầy và được Thầy mời xuống trà.

Ông Dương chia sẻ: “Trước khi “ngọ” đến đây, “ngọ” có cho những người bạn của “ngọ” biết là “ngọ” sẽ đến thăm Thầy. Bạn của “ngọ” hỏi có phải Thầy Nhất Hạnh là thầy đi rất chậm, nửa tiếng chỉ có vài bước đó phải không?”

Mọi người cười ầm lên và Thầy cũng cười. Sư cô Chân Không tiếp lời: “Bạn của ông nói đúng lắm. Thầy của chúng tôi đi rất chậm, nhưng khi nói tới chuyện chuyển hóa thì rất nhanh.”

Mọi người lại cười lên, cuộc đàm thoại giữa Thầy và ông Dương hôm ấy rất vui và thân thiện, cho thấy sự gần gũi giữa Thầy trò và cũng chứng tỏ rằng ông Dương rất thoải mái với Thầy.

Ngoài chuyến hoằng pháp ở châu Á vào mùa Xuân năm 2013, thầy trò mình còn đi giảng dạy ở châu Mỹ vào mùa Thu. Chuyến hoằng pháp bắt đầu ở Toronto, Canada, xuống New York, qua Washington D.C., sang Boston, rồi qua tu viện Mộc Lan ở Mississippi và kết thúc chuyến hoằng pháp ở California. Chuyến đi kéo dài hơn hai tháng rưỡi. Trong chuyến hoằng pháp ở Bắc Mỹ kỳ này sức khỏe của Thầy khá hơn so với những chuyến hoằng pháp khác. Khóa tu cho giới giáo chức ở Toronto quá thành công. Khóa tu có hơn 1300 người tham dự, trong khi đó có khoảng 700 người trong danh sách chờ đợi. Con rất hạnh phúc khi khóa tu đem lại rất nhiều lợi lạc cho thiền sinh, nhưng con hơi tiếc là mình không có đủ chỗ cho 700 người trên danh sách chờ đợi kia tham dự. Hơn 20 năm rồi Thầy mới trở lại thành phố Toronto. Thiền sinh ở vùng Bắc Mỹ này thương kính Thầy lắm. Hy vọng những người không có cơ hội tham dự khóa tu kỳ này sẽ có cơ hội tham dự những khóa tu khác của Thầy.

Điều làm cho con nhớ nhất là mấy ngày đầu đến thành phố Toronto. Huynh đệ đến từ khắp nơi: có người đến từ Làng, có người tới từ các trung tâm ở Mỹ, có người tới từ Phật Học Viện ở Đức, có người tới từ tu viện ở Thái Lan và có người tới từ Việt Nam. Huynh đệ gặp nhau một nhà, tay bắt mặt mừng, kể cho nhau nghe biết bao nhiêu là chuyện quanh những ly trà và tặng cho nhau những tiếng cười giòn. Không khí thật vui, con thấy tình huynh đệ là một cái gì đó rất thật, sống động đang thật sự xảy ra.

Về tới tu viện Bích Nham ai cũng vui, cũng cảm thấy như được về nhà. Cốc của Thầy đã được thầy Pháp Chiếu, anh Lộc và các huynh đệ chuẩn bị rất khang trang và sạch sẽ. Những con đường nhỏ rẽ vào cốc Thầy, đi qua thiền đường, đi vào tăng xá và đi ra nhà ăn đều được tráng nhựa. Các huynh đệ ở Bích Nham làm việc rất hết lòng để chuẩn bị đón Thầy và đại chúng về cũng như cho khóa tu. Có người nói rằng: “Tu viện Bích Nham nhìn giống như nơi nghỉ mát quá! Cái mà con nhớ nhất là mùa thu ở Bích Nham. Khu rừng của Bích Nham mùa thu thật sống động. Những cây lá vươn mình khoe những chiếc áo đủ màu trước khi ẩn mình vào mùa Đông lạnh lẽo. Thầy thường dẫn chúng con thiền hành trong khu rừng này. Rất tiếc là kỳ này mình về lại Bích Nham quá sớm nên không có dịp thưởng thức hết vẻ đẹp thiên nhiên của rừng. Nhưng cái mà thầy trò mình cũng như thiền sinh thưởng thức được là một bức tranh sống động của tình huynh đệ. Nhìn cách quý thầy và quý sư cô sinh hoạt, chơi và làm việc trong niềm vui, thiền sinh cảm được điều này và họ rất hạnh phúc.

Trên đường đi xe buýt từ New York qua Washington D.C., con nhớ Thầy có hỏi con: “Con nghĩ là Đức Thế Tôn có ngồi trong xe với mình hay không?” Con ngập ngừng nhưng hiểu được ý Thầy. Con trả lời: “Dạ thưa có!” Thầy hỏi: “Có chắc hay không?” Hôm ấy phái đoàn của mình tổng cộng có tới ba chiếc xe buýt. Thầy trò mình ngồi trong một chiếc và còn hai chiếc kia là quý thầy và quý sư cô. Thầy dạy: “Muốn biết là có Bụt ngồi trong xe hay không, chuyện đó cũng dễ thôi. Nếu năm chục người ngồi trong xe mà có một người thôi, đang thở trong chánh niệm thì có nghĩa là Bụt đang ngồi trong xe. Mà nếu có hai người, ba người, năm người cùng thở, cùng ngắm phong cảnh trong chánh niệm thì sự có mặt của Bụt rất là rõ ràng. Và nếu tất cả năm chục người đều đang thở thì chuyện đó là chuyện rất mầu nhiệm. Có Bụt ở trong xe thì tất cả mọi người trong xe đều được bảo hộ bởi năng lượng đó và trong xe có an ninh hơn nhiều.

Đi được nửa đường, xe ghé lại trạm nghỉ giải lao. Sau khi thầy trò mình dùng nhà vệ sinh xong, hai anh em con đi mua đồ ăn. Sư anh Pháp Hữu mua ‘French fries’ và bánh ‘veggie burger’. Hôm ấy Thầy chỉ ăn ‘French fries’ thôi, còn con và sư anh Pháp Hữu ăn bánh ‘veggie burger’. Thầy trò ngồi trong xe thưởng thức thật ngon lành. Tuy nhìn Thầy thưởng thức ‘French fries’ thật ngon miệng, nhưng trong con vẫn cứ lo lo. Con sợ không biết Thầy dùng rồi chút nữa có bị đau bụng không. Nhưng con lại nghĩ: “Thôi kệ đi! Lo cái gì? Để Thầy thưởng thức đi. Chừng nào đau bụng rồi tính sau.” Thật may mắn, hôm ấy Thầy không bị gì cả.

Thầy trò mình tới Washington D.C. và ở lại đó ba ngày. Ngày quán niệm tại World Bank rất thành công và đã để lại những hình ảnh rất đẹp trong mỗi người nhân viên của World Bank. Ông Chủ tịch Jim Young Kim rất hạnh phúc, được Thầy và tăng đoàn đến Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) hướng dẫn ngày quán niệm cho nhân viên và ông càng thỏa mãn hơn khi được tham vấn riêng với Thầy.

Mỗi lần thầy trò mình về tới tu viện Lộc Uyển, con hạnh phúc lắm. Con nghĩ bởi vì thầy trò mình có rất nhiều kỷ niệm ở tu viện Lộc Uyển. Mỗi buổi sáng thầy trò mình thường đi thiền hành lên xóm Vững Chãi uống trà với quý thầy và thường ghé qua phòng trà của Ôn Phước Tịnh. Trà của Ôn pha rất ngon. Có một hôm thầy trò đi thiền hành dưới những hàng sồi. Thầy thấy có rất nhiều lá sồi rụng xuống mặt đất. Thầy nhẹ nhàng đưa tay chỉ con: “Đây là cuộc tình giữa cây và đất.” Câu nói nghe rất thi vị và chứa đầy tuệ giác. Đất có khả năng nuôi dưỡng làm hạnh phúc cho cây và cây cũng có khả năng vun bón cho đất được mầu mỡ. Qua đó, con học được bài học về tình thương chân thật của cây và đất. Thương là hiến tặng cho nhau những cái hay, cái đẹp và cái hạnh phúc của mình cho đối phương.

Hôm ấy trên đường về lại cốc Tùng Bút, thầy trò mình đi qua thiền đường Thái Bình Dương. Hai bên đường có rất nhiều mùi hương của  cây ‘sage’. Thầy hái vài đọt ‘sage’ đem về, mùi ‘sage’ rất dễ chịu. Bầu trời sáng nay thật thanh bình nhưng có nhiều sương mù. Xóm Trong Sáng đang chìm dưới biển mây mù. Xa xa chỉ thấy được mấy ngọn cây Tùng Bút, Thầy đưa ngón tay chỉ về hướng Tùng Bút và đùa rằng: “Bây giờ Thầy trò mình đi xuống kia thăm ông Đạo.” Con như hiểu được ý Thầy, nên thưa rằng: “Bạch Thầy! Ông Đạo vừa đi vắng! Chỉ tại núi này thôi, mây mù không thấy được.” Thầy hoan hỷ mỉm cười.

Kỳ này trở lại Google, thầy Pháp Hải và sư cô Kính Nghiêm tổ chức rất khéo. Mọi thứ đều được sắp xếp rất chu đáo. Con nhớ khi Thầy và đại chúng tới trụ sở Google, cô Olivia và một số người của Google ra đón Thầy. Con rất vui khi gặp lại cô Olivia, người mà con có cơ hội làm việc chung để tổ chức ngày quán niệm tại Google kỳ trước vào năm 2011. Cô Olivia là nhân viên của Google và cũng là người chính giúp tổ chức ngày quán niệm tại Google. Cô đến xá Thầy và chào đón Thầy đến trụ sở Google. Con hỏi thăm cô có khỏe không. Cô cười rồi đáp: “Căng thẳng như thường xuyên!” Câu nói ấy xác nhận vì sao thầy trò mình có mặt ở đây.

Trong buổi thuyết giảng, con ngồi ở dưới nghe mà lòng cảm thấy thương Thầy quá. Con nghĩ những người lãnh đạo tâm linh như Thầy bây giờ trên thế giới, có thể đếm trên đầu mấy ngón tay. Mấy ai với độ tuổi như Thầy mà vẫn còn đi khắp nơi giảng dạy, đặc biệt là đi đến những nơi như World Bank, Google, v.v. Cũng như chú Chade-Meng Tan hôm ấy giới thiệu Thầy trước thính chúng rằng: “Một Thiền Sư như Thầy có thể an trú trong định (một nơi ẩn cư nào đó) mà không cần phải đi vào cuộc đời, nhưng Thầy đã chọn đi vào cuộc đời để độ chúng sanh.” Sự có mặt của Thầy tại Google cũng như World Bank thật là một cuộc cách mạng vô cùng lớn và là cửa ngõ mới để đưa đạo Bụt đi vào cuộc đời. Con cảm thấy vô cùng trân quý và biết ơn Thầy, vì chỉ có Thầy mới có thể giúp mở được những cánh cửa như vậy để thế hệ chúng con dễ dàng tiếp nối.

Cuộc đối thoại giữa Thầy và bác sĩ James Doty tại trường đại học Stanford về đề tài tâm từ bi đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc cho thính chúng trong đêm hôm ấy. Thầy đã dạy làm thế nào để chế tác tâm từ bi qua phương pháp thực tập chánh niệm. Tâm từ bi là những gì có thể chế tác được, chớ không phải là một cái gì đó nói suông hay dùng phương pháp khoa học để đo lường. Ví dụ như dùng máy móc để đo lường tâm từ bi. Thầy cũng dạy tâm từ bi là một loại năng lượng và loại năng lượng ấy cần phải chế tác mới có được. Người có tâm từ bi là người có hạnh phúc. Cuộc đối thoại rất vui và rất hào hứng. Những lời giảng dạy của Thầy đã mở mắt và chinh phục được nhiều người trong đêm hôm ấy, trong đó có bác sĩ Doty. Thầy đã hiến tặng hết mức của mình. Con ngồi đằng sau nghe và thật sung sướng.

Trong các chuyến hoằng pháp vừa qua, con học hỏi được rất nhiều từ nhiều khía cạnh: trước nhất là từ một bậc Thầy đầy khả kính của chúng con, sau là từ các sư anh, sư chị, sư em và cả những người cư sĩ mà con có cơ hội được tiếp xúc và làm việc chung. Ở bên Thầy, con cảm được tình thương vô bờ bến của Thầy. Chúng con là những đứa con còn non dại, tuổi đời cũng như tuổi đạo còn non nớt, nên đôi lúc còn thích ăn mê ngủ nhiều. Có những lúc Thầy dậy sớm, thấy chúng con còn ngủ, Thầy nhẹ nhàng trở lại vào phòng để chúng con có thể ngủ thêm. Cũng có lúc Thầy nhẹ nhàng ra ngoài đi thiền mà không làm động đến giấc ngủ của chúng con. Có khi trong buổi ăn, chúng con không đủ đồ ăn thì Thầy lại chia hết phần ăn của Thầy cho chúng con. Tình Thầy, lòng từ bi của Thầy thật vô lượng, làm cho chúng con vô cùng cảm kích. Thầy mãi mãi là tấm gương sáng để chúng con noi theo.

Bạch Thầy! Tối qua trong giấc chiêm bao, con thấy Thầy không còn nữa. Thầy đã lìa khỏi chúng con đi vào kiếp ngoại. Khi thức dậy con biết rằng đó chỉ là giấc mơ, con vô cùng hạnh phúc, đặc biệt là ý thức rằng Thầy vẫn còn đó cho chúng con. (How wonderful it is to have Thay in the present form and how fortunate we are that Thầy is still here physically with us.)  Chúng con biết lúc nào Thầy cũng có đó cho chúng con, dù bằng hình thức này hay hình thức khác. Nhưng vô thường cho chúng con thấy rõ và biết trân quý sự hiện hữu của Thầy hơn tất cả. Hơn một năm qua con cũng đang thực tập chăm sóc và vun trồng Thầy ở trong con. Con thường xuyên trở về với hơi thở và bước chân, và con cũng biết chăm sóc cho thân tâm mình nhiều hơn. Con biết chăm sóc cho mình là chăm sóc cho Thầy và cho tăng thân. Mỗi ngày con học nuôi lớn tình thương và lý tưởng mà Thầy đã trao truyền. Nhờ cảm được tình thương vô bờ bến của Thầy, nó đã cho con một cái thấy rằng, nơi nào có tình thương, có tình huynh đệ, có tăng thân, có sự thực tập (hơi thở và bước chân) là nơi đó có Thầy. Con biết làm được như thế thì con sẽ mãi mãi có Thầy.

Trong chuyến đi này con chơi nhiều lắm! Con chơi với các anh chị em của con nhiều hơn những chuyến đi trước đây. Trong chuyến hoằng pháp tại Bắc Mỹ năm nay, chúng con có kêu gọi tổ chức một chuyến Viet Wake Up tour 2014. Thầy và tăng thân rất từ bi yểm trợ cho chúng con. Đi đến đâu chúng con cũng nhận được rất nhiều tình thương và sự yểm trợ của các vị cư sĩ. Anh chị em chúng con đến với nhau, làm việc với nhau, chơi với nhau và cùng nhau tu học thật vui. Chúng con lo cho nhau và yểm trợ cho nhau rất hết lòng.

Bạch Thầy! Nghĩa đồng môn đang được hiện hữu trong tăng thân mình. Anh chị em chúng con nguyện đi hết con đường này với Thầy và với tăng thân. Xin Thầy an lòng! Con thấy tu học theo tăng thân thật là khỏe và vui. Mọi thứ là của tăng thân dù đó là lý tưởng. Khi mình có lý tưởng thì mình phải học cách làm thế nào để lý tưởng ấy trở thành lý tưởng của tăng thân, và khi nó đã trở thành lý tưởng của tăng thân rồi thì mình rất khỏe và rất nhẹ. Bởi vì bây giờ lý tưởng ấy có rất nhiều người cùng chung sức đóng góp và xây dựng. Có nhiều bàn tay cùng đóng góp, thì công việc sẽ được thuận lợi và vui hơn. Chúng con nói với nhau rằng, “Chuyến Viet Wake Up tour 2014 đã bắt đầu bây giờ rồi đó.” Điều này làm chúng con thấy rất rõ là khi làm việc và tu học bên nhau có tình huynh đệ, có sự hòa hợp và có hạnh phúc thì kết quả sẽ được biểu hiện ra rất lớn. Con có những sư anh, sư chị lẫn sư em tu tập cũng như làm việc và hướng dẫn rất giỏi. Mỗi khi thấy sư anh, sư chị cũng như sư em của con chia sẻ thì con lại thấy Thầy. Và con thấy rất rõ là tất cả đều được đúc ra từ ‘một lò’. Anh chị em của con, ai cũng là con của Thầy, là học trò của Thầy và con thấy ai cũng có khả năng để tiếp nối Thầy. Chúng con tiếp nối Thầy về nhiều phương diện khác nhau.

Cuối chuyến đi, con được về thăm gia đình huyết thống của con.  Con có cơ hội được nghỉ ngơi và nạp thêm năng lượng cho mình sau chuyến đi dài ngày. Con rất hạnh phúc được về nhà, ngồi trong lòng của gia đình với biết bao nhiêu là ánh mắt và tình thương mà người nhà dành cho con. Nhìn các cháu của con lúc này sao lớn quá, thấm thoát mà đứa nào cũng đã vào đại học. Trong thời gian thăm nhà, con có tổ chức một buổi thiền trà cho gia đình. Gia đình, anh chị em và các cháu ngồi bên nhau tận hưởng những tách trà nóng và sự có mặt cho nhau dưới những ngọn nến lấp lánh như đang đưa mọi nguời vào không gian tĩnh lặng. Sau khoảng 15 phút, con tưới hoa cho các cháu và gia đình, sau cùng, mọi người thay phiên nhau chia sẻ. Bạch Thầy! Có đi xa thì mới biết trân quý những giây phút bên nhau như vầy và có được những giây phút bên nhau như vầy thì mới thật sự biết trân quý sự có mặt của nhau nhiều hơn bao giờ hết. Cuộc đời quả thật là quý báu. Về thăm nhà kỳ này con được nuôi dưỡng rất nhiều.

Từ ngày xa nhà đi tu cho tới giờ, con thấy càng ngày con thương gia đình huyết thống của con nhiều hơn. Khi trái tim mình mở rộng thì tự nhiên tình thương của mình cũng lớn theo, nghĩa là mình thương thêm được rất nhiều người. Với tình thương không hạn hẹp ấy, mình lại càng thương những người thương của mình ngày xưa nhiều hơn bao giờ hết. Đó là sự mầu nhiệm của đại bi tâm. Con thấy đi tu có lời nhiều lắm, mà người có nhiều lợi lạc nhất trước tiên là mình, sau là tới gia đình mình rồi tới tất cả những người xung quanh. Khi mình đi tu mình sẽ trở thành một cột trụ tâm linh cho gia đình nương tựa. Mình được tu và mình cũng có cơ hội dìu dắt và hướng dẫn cho người nhà cùng tu. Từ ngày con đi tu đến nay, gia đình của con ít có chuyện xào xáo trong nhà và họ có nhiều bình an và hạnh phúc hơn. Điều đó cho con một cái thấy rất rõ về sự tương tức; nếu con ở chùa tu cho thật vững và ngồi cho thật yên thì gia đình của con ở nhà cũng được yên theo.

Trên đường bay về Làng, con nghĩ đến các anh chị em tâm linh của con ở Làng thật nhiều, đặc biệt là các anh chị em xuất gia cùng một lượt với con. Con rất thương quý các anh chị em cùng gia đình xuất gia của con. Con nhớ lúc mới xuất gia, có vài sư em chỉ có chút xíu, vậy mà bây giờ sư em nào cũng cao lớn hơn con nhiều. Thầy biết không, mỗi ngày quán niệm Chủ Nhật, trong giờ ăn cơm quả đường con thường nhìn hai bên xem các anh chị em con có vào ngồi đầy đủ hay chưa. Bữa nào đầy đủ thì trong lòng con cảm thấy vui lắm. Chắc các huynh đệ của con không biết chuyện này đâu, Thầy giữ bí mật cho con nhé. Bạch Thầy! Các huynh đệ của con tu tập rất giỏi và đóng góp được rất nhiều cho tăng thân. Các huynh đệ rất quan tâm cho nhau, hễ có người này bệnh thì người kia lại chăm sóc. Chúng con thực tập gìn giữ cho nhau. Gia đình tâm linh của mình bây giờ đông quá nên tháng nào chúng con cũng có bánh sinh nhật để ăn. Các huynh đệ rất dễ thương đã để thì giờ làm bánh chúc mừng nhau trong ngày tiếp nối. Thật ra đó chỉ là cái cớ để anh chị em chúng con ngồi lại chơi với nhau thôi. Chúng con hay thường nói với nhau rằng: “Cây Lê này đúng là có biệt danh ‘lê lết’.”

Được tham dự vào sự nghiệp của tăng đoàn là một phước đức lớn và con luôn luôn ý thức và trân quý điều đó. Đi theo tăng thân tới đâu con cũng cảm thấy hạnh phúc, cũng cảm thấy là về nhà. Tăng thân của mình khắp chốn. Ở Làng cũng hạnh phúc, đi qua Thái Lan, Hồng Kông, Đại Hàn, Gia Nã Đại, Bích Nham, Mộc Lan, Lộc Uyển và thậm chí khi về thăm gia đình huyết thống cũng như khi đi sinh hoạt ở nhà của tăng thân cư sĩ cũng hạnh phúc. Khi mình ở đâu thì nơi đó là nhà (home is where we are). Bạch Thầy! Con đang thực tập mỗi nơi tới là mỗi nơi về. Con tới với tăng thân, có mặt cho tăng thân ngay bây giờ và ở đây, cống hiến cho tăng thân và đồng thời con cũng thực tập trở về với chính con trong mỗi lúc tới.

Trong kinh nghiệm, con thấy khi đi ra ngoài, đặc biệt là những môi trường có sức cám dỗ cao, nếu không biết trở về thì rất dễ dàng bị kéo đi. Ví dụ, ABC (chỗ triển lãm thư pháp của Thầy ở thành phố New York) là một cửa hàng buôn bán dành riêng cho giới thượng lưu. Con được Thầy và đại chúng tin cậy gửi đến đây để giúp tổ chức buổi triển lãm thư pháp của Thầy. Ngày đầu tiên khi bước vào cửa hàng này, con mỉm cười và tự hỏi mình: “Một ông thầy tu như mình đang làm gì ở đây? Thế giới này hình như không phải là của mình?” Trước khi bước tiếp, con dừng lại, thở vào và thở ra vài hơi thì câu trả lời trong con đi lên rất rõ: “Mình đến đây để làm công việc mình cần phải làm, đó là độ đời.” Đó là tiếng chuông chánh niệm cảnh tỉnh con đang làm gì và cần phải làm như thế nào cho đúng pháp. Nghĩ như thế nên con ung dung đi vào với sứ mạng của con. Con thấy sự thực tập này bảo hộ cho con rất nhiều trong mỗi khi con có việc đi ra ngoài làm Phật sự.

Bạch Thầy! Biết bao nhiêu là hình ảnh tuyệt vời đã lần lượt lượt đi qua, giúp con nhìn lại và thấy rõ con đường và lý tưởng của tăng thân mình. Trong thời gian qua, thầy trò mình có rất nhiều kỷ niệm bên nhau. Thầy trò mình đã rong chơi rất nhiều và làm được biết bao nhiêu việc: đem lại hạnh phúc cho vô số người và giúp biết bao nhiêu người bớt khổ. Những lúc như vầy cho con thấy rất rõ, quá khứ đang nằm trong hiện tại và ta tiếp tục đem hiện tại đi về tương lai trong giây phút mầu nhiệm này. Tình Thầy, nghĩa tăng thân đã và đang in đậm trong trái tim con. Và con biết nó là hành trang thiết yếu giúp con lớn mạnh trên con đường tâm linh. Nguyện cầu hồng ân Tam Bảo luôn gia hộ cho sức khỏe của Thầy và cầu xin chư Tổ luôn soi sáng và gia hộ cho đàn cháu con tu tập càng ngày càng thêm vững chãi để làm chỗ nương tựa cho mọi loài.

Cung kính ôm Thầy với tất cả tấm lòng và niềm biết ơn của con.

Con của Thầy

Cùng Thầy rong chơi

“Tăng là đoàn thể đẹp
Cùng đi trên đường vui
Tu tập giải thoát
Làm an lạc cuộc đời”
Thầy kính thương, Sáng nay thức dậy, con đốt trầm, pha trà rồi thực tập lạy Bụt và tổ tiên. Trước mặt con là cửa sổ kính rộng lớn. Con ngồi tĩnh lặng thưởng thức trà trong hương trầm thoảng dịu và nhìn làn khói nhỏ đang bay lên nhè nhẹ. Con ý thức được Thầy đang có mặt trong con, bởi vì con đang thưởng thức một tách trà có chánh niệm và có hạnh phúc. Bầu trời sáng nay thật đẹp. Con ngồi ngắm những đám mây bạc đang thong dong dạo chơi, nhìn những chú chim bay qua ...
Thầy bệnh Từ hồi tôi xuất gia đến giờ, mùa đông nào cũng có Thầy ở nhà. Ở nhà có nghĩa là Thầy An cư kiết đông ở Xóm Thượng. Tứ chúng Làng Mai mỗi tuần được gặp Thầy hai lần vào ngày Thứ năm và Chủ nhật, là hai ngày Quán niệm. Ngoài ra ngày thứ Ba, ngày xuất sĩ, anh chị em tôi được gặp Thầy tại Sơn Cốc để nghe Thầy giảng sâu thêm về kinh điển hoặc được Thầy dạy những vấn đề trong chúng. Tôi mới xuất gia được vài năm nên còn rất cần nương tựa Thầy. Tôi được dạy là năm năm đầu tiên trong cuộc đời xuất gia là những năm tuổi ...
Sư chú Chân Trời Đại Đồng là người Việt, sinh viên du học tại Paris – Pháp. Mùa hè năm 2013, sư chú về Làng lần đầu và đã tìm ra cho mình một hướng đi mới. Ngày 2/7/2014, sư chú chính thức trở thành người xuất sĩ trong gia đình xuất gia Cây Trắc Bá. Bài chia sẻ dưới đây đã nói lên được sự thực tập tiếp xúc với Thầy trong tự thân của sư chú. Cây hoa lan nhỏ bé, Từ ngày em về phòng, tôi có thêm một thói quen mới. Khi rảnh rỗi, thắp lên một cây nến, pha một ấm trà, tôi ngồi nhấp từng ngụm trà và ngắm từng bông hoa xinh xắn ...
Thường sau các buổi pháp thoại, Thầy tôi hay hỏi: “Có dễ hiểu không con?”. Đối với tôi, bài pháp nào Thầy giảng cũng thật dễ hiểu, kể cả những đề tài khó học như giáo lý Trung Quán hay Duy Biểu. Ngay cả bọn con nít cũng hiểu được sự thật về vô sinh bất diệt khi Thầy đưa ra những ví dụ cụ thể như hạt bắp không bao giờ chết mà vẫn tiếp tục nơi cây bắp, hay đám mây không bao giờ mất mà luôn còn có mặt trong tuyết, trong mưa, v.v. Tuy pháp Thầy dạy dễ hiểu như vậy, nhưng tôi không bao giờ dại gì nói hớ: “Bạch Thầy, con đã hiểu!”. Đó ...
Thầy kính thương, Con nhớ có lần tại cốc Thầy, cốc Tùng Bút ở tu viện Lộc Uyển, Thầy nói với con: “Này con, con làm một bài thơ và phổ nhạc rồi hát bài của mình, đừng hát bài Sông và Biển nữa.” Con thưa: “Bạch Thầy con không biết làm thơ, mà phổ nhạc thì con càng không biết nhạc lý gì cả”. Thầy nhìn con cười và nói: “Mỗi bước chân của con bước hãy làm biểu hiện những vần thơ, mỗi hơi thở vào ra của con đó chính là nốt nhạc”. Ngay giây phút ấy, con chưa lĩnh hội được ý của Thầy một cách sâu sắc, con nghĩ thầm: “Ô, sướng quá! làm thơ ...
  Thầy thương,
Chúng con, một nhóm huynh đệ từ Thái Lan về thăm chùa Từ Đức ngày 25.09.2014. Chùa nay sáng đẹp hơn nhiều. Ngày 04-05.10.2014 là quán niệm và giỗ thân mẫu chúng con. Qua các pháp thoại, trước tiên chúng con nói sơ về mẹ. Ba và ba anh chị lớn của con mất trong vòng ba tháng, lúc đó mẹ khoảng 40 tuổi, con mới được bảy tháng. Gia sản tiêu sạch, vất vả và đảm đang lắm mẹ mới nuôi nổi hai anh em con và dần dần dựng lại sự nghiệp. Có một lần lính Việt – Pháp bắt mẹ, đánh đập tra tấn một cách tàn nhẫn rồi giam cầm một thời gian không ...
Thầy kính thương! Con biết là Thầy đang có mặt đó cho con nên con rất hạnh phúc. Con hạnh phúc vì thật sự nhận diện được sự có mặt của Thầy chung quanh con và ngay cả trong con. Sự ấm áp, sự bình an bởi tình thương của Thầy đã nâng bước cho con, tiếp sức cho con, làm lớn mạnh niềm tin và hạnh phúc cho con. Con nhớ Thầy nhiều. Và vì nhớ Thầy nên con đào sâu hơn vào sự thực tập. Con dành 100% sự chú tâm vào hơi thở và bước chân của mình. Con thấy Thầy trong mỗi bước chân an lạc, con thấy Thầy trong mỗi hơi thở bình an, và ...
Ngày làm biếng, tôi muốn mình ngồi thật yên và viết một cái gì đó. Tôi leo lên một ngọn đồi nhỏ, lối đi là những khối đá nhọn hoắc. Mùa đông với những chiếc lá vàng rụng đầy. Có những chiếc lá vàng còn tươi, có những chiếc đã mục, chúng nằm chồng chất lên nhau, đẹp. Lên tới đỉnh đồi, tiếng cười của anh em từ những ngọn đồi khác vọng lên văng vẳng. Lòng tôi yên lạ, cảm giác nhẹ tênh, như ở nhà. Tôi muốn viết một cái gì đó, mà chưa biết viết gì cả. Đầu vừa rỗng vừa đầy. Ngồi trên đỉnh đồi, đồi ngập nắng, tôi nhìn thung lũng dưới chân núi Khao ...
Thầy gọi con về trong từng hơi thở Thầy gọi con về trong mỗi bước chân. Hòn sỏi nào Hạt cát nào Con đường nào Không từng lưu dấu chân xưa… Dẫu thầy trò ta Chưa một lần gặp mặt Nhưng tình Thầy có bao giờ ngăn cách Mãi dạt dào sưởi ấm trái tim con. Để sáng nay con bước đi giữa lòng đất Tổ Ấm áp tình người, nghĩa đệ tình huynh. Giờ phút này trời đất lặng thinh Để hồn người rơi vào tĩnh mặc Rảo bước rong chơi, ...
Hươu nai ưa đồng quê, Chim chóc ưa trời mây…” Con rất thích được Thầy gọi chúng con là những con hươu con về cánh đồng quê nội. Được Thầy đặt cho biệt danh “Hươu Con” con rất được nuôi dưỡng. Con thấy con là chú hươu con hạnh phúc được nằm trong vòng tay yêu thương của nội. Mỗi ngày chúng con luân phiên nhau đem cơm lên nhà nội và được dùng cơm chung với nội. Đó cũng là thời gian con được làm thị giả cho Thầy, được mang cơm cho Thầy, những ngày ấy đã để lại cho con nhiều kỷ niệm đẹp. Thầy ơi! viết xuống những dòng này bao nhiêu kỷ niệm về Thầy ...
Các sư em thương, Chị vẫn nhớ những ngày đầu mới về Bát Nhã, mỗi khi có dịp ngồi chơi với các sư em, chị đều được yêu cầu kể chuyện ở Làng cho các sư em nghe. Mà đâu phải riêng chi mình chị, hễ có sư cô hay thầy nào từ Làng hay các trung tâm khác của Làng về thăm hay nhập chúng, các sư em cũng đều thích được nghe kể chuyện ở Làng. Một trong những chuyện các sư em thích nghe nhất và thậm chí nghe hoài không biết chán, đó là những câu chuyện về Thầy, hẳn rồi vì Thầy là Thầy của chúng ta mà. Bây giờ Làng mình có nhiều trung ...
Còn nguyên sơ, còn trọn vẹn Có những con đường mình tự trả Mình thấy thích, mình làm thôi Mình đâu có tính toán gì đâu. ...
Con đến thăm Thầy một sớm mai Vườn xuân thanh vắng, nắng rơi đầy Chén trà thơm ngát căn phòng nhỏ Yên lặng bên Thầy trong phút giây Con đến thăm Thầy một sớm mai Đàn chim ríu rít, suối reo cười Lẳng lặng bên Thầy con nhẹ bước Năng lượng Thầy hiền con thở yên Con đến thăm Thầy một sớm mai Vườn hoa trời rét tưới cùng Thầy Hiên nhà hoa rụng trong màu nắng Buổi mai hiền như một khúc thơ Con đến thăm Thầy lúc khổ đau Thầy dạy con: “Nhớ gọi tên Thầy Tin rằng Thầy vẫn cùng con đó Trên nẻo đường con gặp gian nguy” Hôm nay như sớm mai xưa ấy Con ...
Con xa đất nước thời thơ ấu Giọng nói quê hương vẫn ngọt ngào Nề nếp tổ tông cha nắm giữ Hương sắc quê nhà mẹ chuyển trao.” Thầy thường nói rằng quê hương của Thầy không phải chỉ là Việt Nam, quê hương của Thầy là cả trái đất này, là bây giờ và ở đây, là vượt thoát thời gian và không gian. Tôi biết dù nói thế nhưng trong lòng Thầy vẫn có một mối tình đặc biệt đối với Việt Nam, đơn giản vì Thầy là người con Việt Nam. Trong cái nhìn của một vị thiền sư thì ở đâu cũng là quê hương, nhưng trong một con người thì nơi sinh ra và lớn ...
Này em, một lần trong buổi vấn đáp, em đã đặt câu hỏi: “Làm sao có thể an trú được trong hiện tại khi em đang có quá nhiều buồn khổ?”. Em đã được nghe Thầy dạy cách thực tập dừng lại, đừng rong ruổi về quá khứ hay mơ tưởng đến tương lai, mà hãy trở về với hiện tại. Quá khứ đã không còn, tương lai thì chưa tới, chỉ khi nào thân và tâm an trú trong hiện tại thì mới có thể thật sự tiếp xúc được với sự sống, mới nhận diện và thưởng thức được những mầu nhiệm ngay trong con người mình và xung quanh mình như tuổi trẻ, cặp mắt sáng, như ...
Cô Chân Bảo Nguyện, thọ giới Tiếp Hiện năm 1994, đã theo Thầy Làng Mai phụng sự gần như từ những năm đầu của Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Hiện giờ cô là một trong những thành viên nòng cốt của tăng thân Tiếp Hiện ở Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, và cũng là “cánh tay nối dài của Thầy”, là “trạm dừng chân của Làng” ở Paris. Cô nhận truyền đăng từ Thầy năm 2011, tiếp tục con đường tu học và phụng sự với tấm lòng đầy yêu thương và nhiệt huyết. Thầy thương kính của con, Thấm thoắt đã 50 năm trôi qua! Một nửa đời người với biết bao tang thương, biến đổi, song ...
Nếu không viết được về Thầy tôi trước khi chuyển hóa sang một kiếp sống khác, thì đó sẽ là điều tôi ân hận và tiếc nhất đời. Dù chỉ viết được một bài thay vì một cuốn sách, tôi cũng phải bắt đầu hôm nay… Trước khi được gặp mặt Thầy lần đầu tiên, một buổi sáng mùa Xuân năm 1982 tại thiền viện Mount Tremper thuộc tiểu bang Nữu Ước, tôi không hình dung được là tác giả vĩ đại mà hai thập niên qua, tôi từng đọc say mê hầu hết mọi tác phẩm của ông, lại là một ông thầy tu nhỏ bé, đi đứng và ngôn từ nhẹ nhàng như vậy. Tôi đã có ý ...
Khung cửa sổ phòng tôi nhìn xuống vườn cỏ rộng, nơi có cái nhà kính và vườn rau. Ngay cạnh cửa sổ, tôi kê một tấm ván gỗ coi như là bộ phản để ngồi uống trà. Từ chỗ ngồi này, mỗi ngày tôi nhìn xuống những thay hình đổi dạng của vườn rau. Nhưng những thay hình đổi dạng liên tục của vườn không phải là đề tài tôi muốn nói, mà điều tôi muốn nói tới là những người làm vườn. Mùa Xuân và mùa Hè vừa rồi, một người em Tây phương của tôi đảm nhận việc làm vườn. Làm vườn, đối với người em ấy của tôi là một niềm hạnh phúc. Một lần, có người ...
(Thưởng thức một tuần làm biếng ở Sơn Cốc) Chân Minh Hy Chỗ tôi đang ngồi viết đây là trước cái lò củi ở Sơn Cốc, đêm nay là đêm cuối tôi ở Sơn Cốc, sáng mai tôi về lại Xóm Thượng rồi. Một tuần ở đây thật thú vị. Tôi chẳng làm gì hết. Chỉ có mặt và để cho năng lượng bình an ở đây thấm vào lòng. Có bốn huynh đệ cùng đi chung. Thầy Pháp Đường đã về chiều hôm qua, thầy Pháp Siêu, thầy Pháp Linh đã về hai hôm trước, chỉ còn tôi ở lại. Chỉ có tôi là ăn cơm mỗi ngày ba bữa, còn ba Thầy kia thì nhịn đói theo phương ...
20.06.2012 Hôm ni là ngày đầu tiên con tập sự làm thị giả cho Thầy. Con thấy trong con có một chút hồi hộp, mừng rỡ, sung sướng, mắc cỡ và hơi lo lắng… Quý Sư mẹ nở hoa cười tươi khi biết con được làm thị giả, quý sư chị thì căn dặn con đừng làm bể đồ gì của Thầy nghe, con chỉ “nhe răng” cười. Thầy ơi! Răng mà con “hậu đậu” quá, con không biết phải làm gì cả. Mấy bữa ni, con hay đi khoe với Bụt là con được làm thị giả cho Thầy và con xin Bụt yểm trợ. Thầy là nơi bình an nhất rồi, sao con còn run nữa? Sáng ni, ...
Về Sơn Cốc, ngôi nhà nhỏ bình yên với rừng tre Ca Lan Đà râm mát, bên suối Tào Khê róc rách, thầy tôi nằm đưa võng và chúng tôi ngồi quây quần bên Thầy. Tiếng chim líu lo trong một ngày nắng đẹp, tôi thấy tuổi thơ mình trở về gần gũi và thân quen như những ngày về quê ngoại. Tịnh Độ hay ta bà, mơ hay thật? Khi Thầy tôi ngồi đó vẽ những vòng tròn thư pháp như đang chơi một trò chơi trẻ con. Thầy nói: “Thầy đang trồng những quả bí, quả cam”. Hai chị em tôi đỡ lấy những “quả bí”, “quả cam” ấy đem phơi cho ráo mực. Phút chốc tôi thấy ...
(Viết khi nghĩ về Thầy Làng Mai, người đã giúp sự sống trong con được tái sinh nhiệm mầu.) (Hình ảnh Sư Ông về Việt Nam năm 2005) Chàng hiệp sĩ lên đường
Không ngựa, không gươm, không súng đạn
Với đôi tay trần
Và bờ mắt tấm lòng tràn đầy tình thương giống nòi nhân loại
Nửa đêm vẫn nằm nghe mình giỡn đùa rong chơi giữa mênh mông đồng cỏ quê hương
Giữa ngọt ngào quen thuộc
Thức giấc khi lưng chừng đồi mới biết mình mơ mộng vụt qua
Bốn mươi năm quê hương không từ bỏ
Nhưng chẳng thể thân xác trở về
Chàng hiệp sĩ lên đường
Mang quê hương trong từng bước chân
...
Bích Nham, mùa thu… Bạch Thầy kính thương, Sáng nay, một buổi sáng làm biếng yên tĩnh và hiền lành, con đang ngồi uống trà, nhìn ra cảnh vật núi đồi phía xa xa thấy một cội cây lớn, nổi bật lên nền trời, con nhớ đến Thầy… Cội cây rất can trường. Bầu trời đang rạng dần, phía sau cội cây, núi đồi một màu xanh thẫm sắp sửa ánh lên những tia nắng đầu tiên. Con nhớ đến bài “Buổi sáng” của Thầy… Không có buổi sáng nào giống buổi sáng nào… Con đang uống từng ngụm ban mai tinh khiết, trong lành mà đất trời và buổi sáng ban tặng. Con nhớ đến Thầy nhiều và ...
Khi con ngồi viết bức thư này, khoảng không gian trước mắt con tràn ngập nắng vàng, gió heo may của mùa thu. Khung cảnh nơi con đang ngồi là những cây xoài tươi tốt, lá xoài rung rinh trong gió, là sắc tím hồng của hoa khế, là tiếng véo von của những chú chim trong vòm lá… Thực sự, cho đến khi gặp Thầy, con mới nhận ra cảnh vật quanh mình đẹp đẽ, nhiệm mầu biết bao. Thầy kính thương, con có một giỏ hoa thanh tú đang trổ bông, sắc xanh tím khá đẹp. Đã có lúc con tưởng chừng cây hoa đã chết, khô héo từ gốc đến ngọn, vậy mà chỉ sau một đêm ...
Xóm Mới 18.01.2013 “Đi đâu rồi cũng về, trong Tăng thân, anh em ta về, ngồi bên Thầy, rong chơi ngày nắng đầy…” Lời bài hát cứ ngân lên trong con khi cầm bút viết cho Thầy. Thầy ơi, con đã về rồi trong Tăng thân, về bên Thầy, và đang rong chơi những ngày thật đẹp. Con rất thích không khí tĩnh lặng đầu ngày, trong khung cảnh đó con thấy mình dễ yên lắng để trở về với mình hơn. Thắp lên ngọn bạch lạp tự nhiên con thấy vui và trân quí. Một đời bạch lạp cũng như một kiếp sống, từ giây phút được thắp lên cho đến lúc kết thúc, mỗi giây phút đều ...
  Trong văn học có nhiều môn học khác Con thường hay hỏi Thầy rằng sao con không thích môn Văn mà Thầy lại đặt tên con là Văn Nghiêm. Rồi con kể Thầy nghe là hồi nhỏ con thích môn Toán như thế nào… và muốn sau này mình sẽ là giáo viên dạy toán như mẹ con vậy. Thầy chỉ cười hiền lành và nói: “Nếu con nhìn kỹ thì thấy trong Văn có Toán. Mình không được có sự phân biệt thiên lệch như thế. Tên Văn rất là hay. Ngày xưa có những ông quan văn giúp nước rất nhiều. Một nhà văn giỏi là phải nắm rõ tình hình đất nước. Nếu ông vua biết ...
08.09.20 Bạch Thầy thương kính của chúng con! Tối qua con mơ một giấc mơ thật đẹp mà sáng nay ngủ dậy, miệng con vẫn cười ngây ngô một mình… Đó là Thầy ngồi dạy hát thơ Thầy cho chị em con, mặc dù chúng con hát dở ẹc và sai nhạc nhưng Thầy vẫn kiên nhẫn ngồi nghe và mỉm cười. Thầy ơi! Thầy là người Thầy chỉ lối tâm linh, vừa là người cha bao dung vĩ đại, vừa làm người bạn thấu hiểu tâm tư mọi lứa tuổi… Nếu không gặp Thầy, gặp tăng thân thì con đã không đi tu và không tái sanh trong một kiếp sống mới, lành, ý nghĩa và giá trị như ...
Nhân ngày Tiếp nối lần thứ 94 của Sư Ông Làng Mai (11.10.2020), nhiều thiền sinh Tây phương đã gửi đến Sư Ông mà các bạn quen gọi là “Thầy” lòng biết ơn và những chuyển hóa của mình như một món quà dâng lên người Thầy mà họ vô cùng thương kính. Dưới đây là một số chia sẻ mà BBT đã chuyển ngữ: Thầy kính thương,
Mừng Ngày Tiếp nối của Thầy! Con không biết nói sao cho hết lòng biết ơn của con đối với Thầy và những lời dạy của Thầy. Con đã sống một cuộc đời đầy khổ đau vì nghiện ngập. Không hiểu sao cuộc đời lại cho con được gặp ...
    Thầy kính thương, Kể từ lần đầu tiên con tình cờ nghe được một câu nói trích từ sách của Thầy nhiều năm về trước, con biết con đã tìm thấy vị thầy đích thực của mình. Lúc ấy, dù sống ở một nơi không có tăng thân thực tập theo pháp môn của Thầy nhưng con cứ đọc đi đọc lại các sách của Thầy. Và cuối cùng năm 2017, con đã đến được Làng Mai. Chuyến đi ấy đã thay đổi cuộc đời con. Con cảm nhận được sự có mặt của Thầy nơi mỗi bông hoa, nơi tiếng chim hót, nơi mỗi thầy, mỗi sư cô mà con được gặp. Và từ đó sự ...
  Huế buổi sáng trời se lạnh, thoang thoảng trong gió làn hương hoa dịu ngọt. Hôm trước nhận được gói cốm tươi bọc trong lá sen từ Hà Nội gửi vào, tôi bỗng thấy man mác trong lòng. Nhớ thời còn đi học, những buổi sáng mùa thu đạp xe đến trường, dù đường nhựa ngắn và dễ đi hơn nhưng đầy xe cộ ồn ào, tôi thường chọn đường vòng, đi xuyên qua những cánh đồng thơm ngát hương lúa, hai bên vệ cỏ lung linh những giọt sương vui đùa trong nắng sớm. Ai cũng nói tuổi học trò là tuổi đẹp nhất trong cuộc đời. Nhiều người đến khi trưởng thành, đi làm, xây dựng gia ...
  (Trích nhật ký thị giả của thầy Chân Trời Lĩnh Nam) Sáng hôm nay trời lạnh. Đồng hồ reo lúc 4 giờ 30 phút. Tôi thức dậy và thắp lên ngọn nến cúng dường vị Bụt trên bàn học. Thời gian này không khí buổi sáng ở chùa Tổ khá lạnh nhưng khi nến được thắp lên đã làm sáng một vùng nhỏ trong phòng và Bụt hiện ra mờ mờ ảo ảo, ngồi nghiêm trang trên đài sen trắng với bình nước cam lồ trên tay như xua tan đi cái lạnh trấn ngự trong phòng. Hôm nay, phiên trực của tôi là từ 5 giờ – 8 giờ sáng. Từ phòng quý thầy thị giả đến Thất ...
Trong cuộc đời hành đạo của mình, Sư Ông đã dành nhiều tâm huyết để trao truyền, giảng dạy và nhấn mạnh về sự tương tức giữa chúng ta và đất Mẹ. Đất Mẹ là chúng ta, chúng ta là đất Mẹ. Sư Ông dạy chúng ta thương yêu đất Mẹ như chính bản thân mình, bởi vì đất Mẹ là hiện tại và cũng là tương lai của chúng ta và con cháu chúng ta. Cuốn sách Tâm tình với Đất Mẹ là một hướng dẫn cụ thể của Sư Ông về sự thực tập thương yêu, tôn trọng và bảo hộ đất Mẹ. Từ những năm đầu của thập niên 70, Sư Ông đã tiên phong trong lĩnh vực ...
(Sư chú Chân Trời Bát Nhã) Thầy kính thương,  Đặt chân xuống đất Tổ tâm linh lúc 08 giờ 12 phút sáng ngày 08 tháng 01 năm 2024, niềm vui biểu hiện trên khuôn mặt khi con đón nhận những hình ảnh ấm áp trên mảnh đất thiêng. Tiếng chổi quét lá xào xạc trước cổng Tổ đình, những nụ cười nhẹ thấp thoáng trong ánh nắng đầu ngày. Hình ảnh giản dị và thân thương quá. Những cái cúi chào với hai tay hình sen búp, những lời hỏi thăm, sẻ chia trong tình gia đình tâm linh làm dịu nhẹ những cơn mệt mỏi của một đêm dài ngồi trên xe. Quê nhà chúng con đã về tới. Niềm ...
Thầy thương kính,
Mười một rưỡi đêm rồi, con đã trở lại Hà Nội thật là khuya, sau mấy ngày “công phu” sáng tối; lòng con thao thức mãi, không biết con đã có “tay Thầy trong tay con” chưa. Về với Huế, với núi đồi Dương Xuân, con “đi gặp mùa xuân” để “tiếp nhận gia tài”. Mấy ngày này nước mắt cứ lặng lẽ đua nhau rơi, những cơn xúc động cứ dâng lên, chừng như mưa bay buổi sớm, nhẹ như thinh không, mà thấm đủ nhớ thương vơi đầy. Con thấy đi lên trong con một tình thương sâu nặng, một lòng hàm ơn với Thầy, người đưa đường chỉ lối cho con đi trong cuộc đời ...
(Chân Xuân Linh Sơn – Chân Xuân Tản Viên) Châu báu chất đầy thế giới Tôi đem tặng bạn sáng nay Một vốc kim cương sáng chói Long lanh suốt cả đêm ngày.  Chúng con đáp chuyến bay về lại Sài Gòn sau năm ngày an trú nơi chốn Tổ Từ Hiếu cùng tăng thân tứ chúng trong lễ Đại Tường của Thầy. Hành trang mang theo là nguồn năng lượng chánh niệm vô cùng hùng hậu của hàng ngàn con người trong mấy ngày cùng nhau thực tập hơi thở bình an và bước chân tỉnh thức, sống với nhau trong sự hiểu biết và thương yêu. Trong tâm con lúc này vẫn còn vang vọng hai chữ “Thầy ...
(Tâm An) Thầy kính thương, Những khoảnh khắc xúc động vẫn còn đó trong con, dù những ngày chúng con được cùng nhau có mặt trong các sinh hoạt xuất sĩ trong lễ Đại tường Thầy đã qua. Con muốn kể cho Thầy nghe một chút niềm vui của con trong buổi talkshow (chương trình trò chuyện) của các sư em. Con bước lên thiền đường và nhìn thấy bức hình Thầy ngồi thiệt tự tại với cái micro trên tay, mắt nheo nheo và cười rất thoải mái, lòng con đã rộn vui rồi. Mặc dù đêm qua con gởi cho sư chị con bức hình đó, nhưng sáng lên tới thiền đường nhìn bức hình thật to còn ...
(Thầy Chân Trời Giác Sơn) Kính bạch Sư Ông! Chúng con được ngồi đây Trong phút giây hiện tại Bao bọc bởi tăng thân Thấy mình thật may mắn: Sinh ra được làm người Con sớm gặp chánh pháp Hạt Bồ Đề tưới tẩm Lại có duyên được sống Hòa hợp trong tăng thân. (Bài tụng Hạnh phúc – Nhật tụng Thiền môn 2015) Lời dạy của Sư Ông về nếp sống vui trong đoàn thể Tăng thân chưa bao giờ chúng con không cầm chắc trong tay. Nhiều lúc chúng con có rất nhiều hạnh phúc trong sự thực tập, lòng biết ơn sống động, giúp chúng con bước được những bước nhẹ nhàng vững chãi và thở yên, ...
(Thư viết dâng Thầy nhân ngày tiếp nối 11/10/2024) Lộc Uyển, ngày 05 tháng 10 năm 2024 Thầy kính thương! Còn ít ngày nữa là kỷ niệm ngày của Thầy. Mấy hôm nay trong con đi lên vài hình ảnh kỷ niệm cũ ở Làng hồi Thầy còn khoẻ. Con nhớ có một lần quý sư cô xóm Hạ tập múa cùng nhau bài “Thầy đi tìm con” để làm quà dâng lên Thầy nhân ngày tiếp nối. Sư cô Thuần Tiến con đóng vai Thầy, sư cô mặc chiếc áo ấm y như của Thầy, đội mũ len, đi đôi guốc cũng giống của Thầy nữa. Ngay khi sư cô xuất hiện Thầy ngạc nhiên đến tròn xoe mắt, ...

Làm biếng

Người thương công việc chứ?
Làm biếng có giỏi không?
Ngoài trời trăng sáng lắm,

Soi rõ cả đường rừng.

Người mỉm cười nhiều chứ?
Có nhăn mặt nhiều không?
Sen đầu mùa đã nở,

Sáng rỡ cả tầng không.

Bên bờ, hồ tâm vắng
Hai vầng sáng nhìn nhau
Đôi mắt cười ươm nắng

Tay buông, hóa tâm đầu!

Việc theo việc còn mãi,
Già bỗng đến bạc đầu!
Người về theo bốn đại,

Để lại những gì đâu?

Trùng dương ngàn sóng bạc
Ngại gì trước với sau
Cứ làm như làm biếng
Hề gì chậm với mau.

Trinh bạch một niềm thương

Giọt sương trên nhành cỏ biếc

Em đến từ muôn phương biền biệt

Mang theo thông điệp nhiệm mầu

Ta về giữa Phương Khê ngập nắng

Cho lòng trinh bạch một niềm thương!

Nắng lên rồi

Giọt sương hòa nhịp với vô thường

Tan vào trời rộng thênh thang

Mưa về tới

Giọt sương mỉm nụ yêu thương

Thấm sâu vào đất mẹ dịu dàng

Hạt nắng và cơn mưa

Long lanh giữa lòng sương cỏ biếc

Có và không đến đi còn cách biệt?

Mỉm nụ cười hiền dịu

Ta về giữa Phương Khê

Mênh mang…

 

(Mùa Sương, Mây Đầu Núi 27.06.2008)