Chương 6: Làng Tình Thương

52 năm theo thầy học đạo và phụng sự – Hồi kí của Sư cô Chân Không



Bài thơ của thầy mà tôi thuộc lòng mãi là Đừng biến mảnh vườn xanh xưa thành mồi ngon lửa dữ. Khi đọc đến câu :

Những đêm bên ướt mẹ nằm
Bên ráo con lăn,
Từng miếng cơm nhai,
Từng bầu sữa cạn,
Bao nhiêu ngày
Bao nhiêu tháng
Bao nhiêu năm
Lo lắng cho con nên hình nên vóc,
Sáng nay một viên đạn đồng làm anh ngã gục
Một viên đạn đồng ghim vào giữa tim, thân em lăn lóc
Mẹ sống làm sao được nữa, con ơi?
Chị làm sao sống được nữa, em ơi?
Đau thương chừng nào vơi, bên cạnh dĩa dầu hao xóm cũ?

Hay là :

Ngực tôi đây anh bắn đi. Mạch máu của mẹ truyền cho đây, em cắt đi để mà xây dựng lâu đài em mơ ước.
Tôi không thể nào cầm được nước mắt vì tin tức chiến trường tới tấp mỗi ngày.

Ba điều thỉnh nguyện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Khi về tới Việt Nam thầy đã đi gặp nhiều thành phần dân tộc trong giới trí thức, giới bình dân, giới không Phật giáo và lắng nghe tiếng nói của giới tăng ni trẻ. Sinh viên học sinh rất quý kính thầy. Sau nhiều ngày thiền quán thầy đã trình lên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (viết tắt GHPGVNTN) ba điều thỉnh nguyện, xin Giáo Hội cố gắng thực hiện để giữ lại niềm tin cho toàn dân. Sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm đổ, toàn dân đã quy ngưỡng thật nhiều nơi Giáo Hội, nhưng chư tôn đức chưa có dịp ngồi lại để chuẩn bị những chương trình về lâu về dài.

Thứ nhất:

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nên đứng lên kêu gọi anh em miền Nam và miền Bắc Việt Nam ngồi lại tìm giải pháp chung để chấm dứt chiến tranh cốt nhục tương tàn.

Lúc này, quân đội Hoa Kỳ chưa có mặt tại Việt Nam, mới chỉ có những nhóm cố vấn nhỏ mà thôi. Thế quân bình của Nam và Bắc còn cân nhau. Giáo Hội Phật Giáo còn uy tín lớn, hai bên lâm chiến có thể lắng nghe.

Thứ hai:

Giáo Hội xây dựng gấp Viện Cao Đẳng Phật Học để xây dựng lớp trí thức mới có tu có học rành mạch những điều Phật dạy hầu hướng dẫn đất nước đi về hướng đại trí đại bi, khoan dung, và biết lắng nghe tiếng nói của toàn dân.

Thầy nhắc hoài là trong thời đại Lý và Trần, con em những vị lãnh đạo đất nước, cả những vua chúa đều đến học tại Quốc Tử Giám, ở đó họ được học ba nguồn tuệ giác lớn của dân tộc là đạo Phật, đạo Khổng và đạo Lão. Học đạo Khổng để trị nước, đạo Phật để phá chấp và từ bi, nắm quyền bính trong tay mà không bị kẹt vào danh lợi; đừng làm như các trường học gần đây chỉ bàn cãi quanh quanh chuyện nên học theo giáo dục Pháp hay giáo dục Hoa Kỳ.

Thứ ba:

Giáo Hội thành lập ngay một trung tâm đào tạo Tác Viên Xã Hội đi về nông thôn chăm sóc cho đại đa số quần chúng nghèo thiếu ăn thiếu học và thiếu cách tổ chức. Nói một cách khác là xây dựng cơ cấu hạ tầng xã hội cho công bằng, căn cứ trên nhiều điều Phật dạy.

Ý của thầy không phải bảo GHPGTN chỉ làm chuyện từ thiện đi giúp đỡ người nghèo. Ý của thầy là Giáo Hội huấn luyện người có học có kiến thức về y tế, giáo dục, kinh tế và tổ chức để giúp người dân quê tự đứng lên làm cách mạng thay đổi cho chính cuộc đời mình. Người trí thức về nhà quê giúp nông dân, nhưng không nghĩ mình là “người giúp đỡ” và người dân là người “được giúp”, cả hai bên tương tức như cánh tay mặt và cánh tay trái, cùng đứng lên, cùng trách nhiệm, cùng tự nguyện thay đổi cuộc sống chung.

Những vị lãnh đạo trong Giáo Hội chỉ ủng hộ cho thầy mục thứ hai là lập Viện Cao Đẳng Phật Học. Điểm thứ nhất kêu gọi chấm dứt cốt nhục tương tàn, quý vị không đồng ý. Quý vị bảo miền Nam chưa có cơ cấu dân chủ, cần có quốc hội rồi quốc hội sẽ lập hiến pháp trước. Lập hiến pháp xong rồi thì ta mới kêu gọi chấm dứt chiến tranh được. Mới nghe qua dường như đúng về phần lý luận và lý thuyết nhưng nhìn kỹ lại thì các tướng lãnh quân đội đang nắm quyền, đến khi nào họ mới chịu đứng ra tổ chức quốc hội lập hiến đây? Thầy có thưa với Viện Hóa Đạo rằng chuyện Quốc Hội Lập Hiến là chuyện của các chính trị gia. Chúng ta là người tu, khi anh em một nhà – miền Bắc và miền Nam – đang chém giết nhau, hay bị đẩy vào thế chém giết nhau, lấy vũ khí người ngoài – chủ nghĩa Mác Lê và chủ Nghĩa Chống Cộng theo thế cờ Domino của Hoa Kỳ – cả hai đều là ý thức hệ ngoại lai, chúng ta kêu gọi họ ngừng chém giết nhau tức khắc thôi. Chuyện Quốc Hội Lập Hiến và ngưng chiến tranh như thế nào thì các chính trị gia sẽ biết cách tự đề nghị, tự giải quyết tuần tự như thế nào cho hợp lý. Ông thầy tu chỉ làm việc ông thầy tu là kêu gọi ngưng chém giết. Chuyện chính trị để hai bên lâm chiến lo. Ngày tháng qua mau, niềm tin đối với Giáo Hội Phật Giáo càng ngày càng xuống vì thiếu cán bộ lãnh đạo có uy tín, có đủ đạo đức và tài ba. Nếu để quá lâu khi Phật giáo lên tiếng kêu gọi, e chẳng còn ai nghe. Mà thật thế, không bao lâu sau đó, GHPGVNTN bị chia thành hai khối, uy tín xuống trầm trọng.

Điểm thứ ba quý thầy cũng không chấp nhận vì Phật Giáo làm sao mà làm cách mạng xã hội được? Trong khi bên khối quốc gia chống cộng thì có sự ủng hộ của Hoa Kỳ, bên Cộng Sản thì có khối Trung Quốc và Cộng Hòa Liên Bang Xô Viết đứng phía sau. Còn nếu Phật giáo chúng ta muốn làm cách mạng xã hội thì phải có khối Phật giáo như Thái Lan, Sri Lanka, Miến Điện, Đại Hàn, Nhật Bản ủng hộ mà khối này thì… yếu xìu… Quý thầy còn nói: Thầy Nhất Hạnh thì làm thơ hay lắm nhưng quá lý tưởng. Đừng nói chuyện cách mạng, không thể nào thành đâu.

Bốn chục năm sau tôi càng thấy rõ hơn là nếu hồi ấy Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đứng ra kêu gọi chấm dứt cốt nhục tương tàn, chấm dứt chiến tranh thì sẽ không có quân đội Hoa Kỳ vào nước, không có mấy triệu người dân chết oan. Lúc ấy cả hai miền Nam Bắc đều chỉ có những ông cố vấn Hoa Kỳ, Nga Xô và Trung Quốc. Bên Quốc Gia đủ mạnh để thương thuyết với miền Bắc chấm dứt chiến tranh. Tình trạng điển hình là anh Bùi Thanh Thủy, chồng chị thứ Bảy của tôi. Anh là đại úy quận trưởng Giá Rai tỉnh Bạc Liêu. Chị tôi thì theo truyền thống ông bà họ Cao và họ Bùi, hay đi vào các thôn làng nghèo khó mà giúp đỡ người dân. Khi bên “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” (hồi này không có quân đội Hoa Kỳ nên những khẩu hiệu này không có giá trị) lùa cả làng ở vùng sâu vùng xa đi ra quận Giá Rai biểu tình “đòi hòa bình” thì bên cảnh sát an ninh quốc gia lùa mấy trăm người vào sân vận động bắt họ phơi nắng, nhịn đói tới chiều mới tha về. Chị Bảy tôi là bà quận trưởng nên tự do đi vào sân vận động có lính canh gác, đem nước cho mấy trăm người “bị“ đi biểu tình uống, và trưa thấy họ đói bụng thì đi mua xôi, bắp hay nấu cơm vắt vào phát cho họ ăn. Dân chúng rất thương ông bà quận trưởng nên mỗi khi bên du kích kháng chiến về thì họ tự động, âm thầm, đến báo tin cho ông quận trưởng và ông đại úy quận trưởng đã đến dẹp rất nhanh. Quận Giá Rai bình an, số người biểu tình không còn nữa. Nhưng anh Bảy của tôi có than là bên du kích sao mà súng của họ tốt quá. Còn bên quốc gia thì chỉ có cấp “úy” (thiếu úy, trung úy, đại úy) mới có tiểu liên. Binh sĩ chỉ có súng cũ của Pháp, bắn từng viên rất tồi. Nếu anh giữ bình yên quận Gia Rai là vì dân thương, họ tình báo ngay khi bên kia về. Nhưng từ khi Hoa Kỳ cung cấp súng tốt thì các ông cố vấn Hoa Kỳ ngày càng đông và vì thế bên quốc gia mất chính nghĩa, anh tôi bị bắn chết trong một trận đánh có vài người cố vấn Mỹ. Có lẽ dân chúng ngày càng mất niềm tin nơi giới lãnh đạo có người nước ngoài (Hoa Kỳ) giúp đỡ vì người dân Việt Nam nào cũng biết thành ngữ “cõng rắn cắn gà nhà”. Việt Nam Cộng Hòa của miền Nam từ từ mất chính nghĩa khi cố vấn Hoa Kỳ đến rất đông và cuối cùng thì có đến hàng chục ngàn, trăm ngàn binh sĩ Hoa Kỳ.

Khi các thầy lớn trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nói rằng mình phải có Quốc Hội Lập Hiến mới kêu gọi hòa bình được thì thầy Nhất Hạnh im lặng không cãi lại, nhưng sau đó thầy dạy chúng tôi rằng mình cứ tự thắp đuốc lên mà đi thôi. Tổ tiên ta ngày xưa chỉ có tấm lòng thương dân, thương nhân loại mà dựng quốc, giữ nước, xây dần từng nấc thang đạo đức và văn hóa dân tộc. Ta cũng cứ thế mà làm, chúng ta cứ y theo như lời Phật dạy, chúng ta tự thắp đuốc lên mà đi. Nếu chúng ta làm đúng thì sẽ có nhiều tấm lòng ủng hộ. Tháng 3 năm 1965 thầy đã viết bài kêu gọi ngưng chém giết nhau giữa hai miền Nam Bắc thành một bài Editorial đăng nguyên trang đầu trên tuần báo Hải Triều Âm, tiếng nói chính thức của Viện Hóa Đạo mà thầy là chủ bút. Mỗi tuần tờ báo ra năm mươi nghìn số. Nhà nước chưa nói gì thì thượng tọa Tâm Châu và nhiều vị lớn trong Viện Hóa Đạo bắt tuần báo Hải Triều Âm đóng cửa. Thầy Châu Toàn, tổng thư ký Hải Triều Âm đã đau khổ như người mất hồn khi tuần báo bị Giáo Hội cho ngưng hoạt động.

Viện Cao Đẳng Phật Học, tiền thân của Đại Học Phật Giáo đầu tiên, Viện Vạn Hạnh.

GHPGVNTN nói sẽ ủng hộ điểm thứ hai là lập Viện Cao Đẳng Phật Học, nhưng quý tôn túc trong Giáo Hội cũng quá bận bịu nên chẳng giúp được gì. Thầy Nhất Hạnh, tuy phải làm tất cả từ đầu đến cuối, nhưng thầy có rất nhiều thanh niên trí thức và nhiều sinh viên các trường Đại Học Sài Gòn hết lòng ủng hộ. Thầy mượn được chùa Pháp Hội mới xây, khá khang trang làm văn phòng và làm những lớp học các chứng chỉ đầu. Thầy mời hòa thượng Thích Trí Thủ làm viện trưởng, kỹ sư Trịnh Sâm làm tổng thư ký, thầy Thích Thanh Văn đệ tử của thầy làm trưởng văn phòng. Bác Trịnh Sâm rất thương quý thầy nên chuyện gì cũng đem tới bàn bạc rất kỹ với thầy. Thầy viết thư mời thầy Minh Châu đang ở Ấn Độ, thầy Thiên Ân và thầy Mãn Giác ở Nhật về để cùng chuyển Viện Cao Đẳng thành Viện Đại Học Phật Giáo Vạn Hạnh.

Ngày khai giảng Viện Cao Đẳng Phật Học tháng Tư năm 1964, chỉ bốn tháng sau khi về nước, thầy đã chiếm được hết cảm tình của các nhân sĩ trí thức Sài Gòn. Viện chưa có ngân sách để làm lại con đường trước chùa đầy những vũng lầy trước cổng, nhưng bác Trịnh Sâm cười hả hê sau buổi lễ, bảo rằng trong bài diễn văn khiêm cung và khéo léo thầy đã lấp được vũng nước trước chùa thật là dễ thương. Ai nghe cũng muốn tìm cách giúp ngay.

Thầy xin được khu đất sát cầu Trương Minh Giảng và xin giấy phép thành lập ngay Viện Đại Học Vạn Hạnh, thầy sắp xếp để thượng tọa Thích Minh Châu, khi về nước sẽ được mời làm viện trưởng, thượng tọa Thích Thiên Ân sẽ làm khoa trưởng Khoa Nhân Văn và thượng tọa Thích Mãn Giác khoa trưởng Khoa Sinh Ngữ. Riêng trung tâm đào tạo tác viên đi làm cuộc cách mạng xã hội bằng con đường tự nguyện và tình thương thì thầy phải đứng ra thôi. Thầy chỉ nhận làm chủ tịch Hội Đồng Quản Trị còn đại đức Thích Thanh Văn sẽ làm giám đốc điều hành.

Nhà xuất bản Lá Bối xuất hiện

Cũng trong năm này thầy dạy thầy Thanh Tuệ, chị Nguyễn Thu Hà và em Cao Ngọc Thanh đứng lên làm nhà xuất bản Lá Bối. Thầy Thanh Tuệ trình bày sách, chị Hà đứng thủ quỹ và Ngọc Thanh lo sổ sách. Tiền vốn bỏ ra là 20.000 đồng do bà bác sĩ Ngô Văn Hiệu cúng dường. Bà Hiệu là người Phật tử duy nhất trong số các Phật tử giàu có đến chùa Ấn Quang thấy được giá trị của thầy. Chính bà đưa thầy đi bác sĩ khi thầy nóng sốt nằm vùi. Cuốn sách đầu tiên của Lá Bối là Bông Hồng Cài ÁoĐạo Phật đi vào cuộc đời. Sách bán rất chạy và nhờ thế có đủ tiền tiếp tục in các cuốn sách khác.

Tac vien PSXH

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bà bác sĩ Hiệu, chị Nga, chị Nhất Chi Mai và tác viên PSXH


Làng Tình Thương, tiền thân của trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội

Tháng 9 năm 1965 trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội mới chính thức thành lập như một phân khoa của Đại Học Vạn Hạnh. Nhưng ngay những ngày đầu về tới Việt Nam ngày 18 tháng 12 năm 1963 thầy đã cho một số anh chị em trong Ban Xã Hội của đoàn Sinh Viên Phật Tử đi điều nghiên một số thí điểm để làm Làng Tình Thương thí nghiệm gọi là làng hoa tiêu.

Ngày 17 tháng 6 năm 1964, tôi trình xong luận án đệ tam cấp về rong nước ngọt với hạng Ưu. Viện Đại Học Paris V cấp cho tôi một chỗ làm tại Muséum d’Histoire Naturelle và một học bổng khá cao để làm tiếp luận án Tiến Sĩ Quốc Gia. Nhưng tôi đành từ chối tấm lòng ưu ái của các giáo sư Bourrelly và Feldmann và xin phép về nước ngày 18 tháng 06 năm 1964 để có mặt ngay ở Việt Nam ngày 19 tháng 06 năm 1964.

Y phuc ve lang 1964

Y phục khi tôi về Làng năm 1964

Bước chân vào Làng Tình Thương hoa tiêu Cầu Kinh tôi như cá gặp nước. Việc nào cũng làm thật dễ dàng không khó khăn như ở xóm ổ chuột ngày xưa. Thiên hạ ở nông thôn chí thú làm ăn, không ai tính lường gạt chúng tôi để đi đánh bài, ăn cắp. Các cháu ham học, các bác nông dân hợp tác tất cả những dự án chúng tôi đề xướng.

Không có trường học cho trẻ con? Thì mình phải tự đứng lên lập lấy cái trường của chính mình. Mới bước chân vào Làng Cầu Kinh, đếm được 77 thiếu nhi từ 5 đến 12 tuổi mà không đứa nào biết đọc, biết viết hết. Chúng tôi đi gặp ông quận trưởng để yêu cầu nhà nước cất trường học cho các cháu. Ông quận trưởng nói, theo ngân sách của Bộ Quốc Gia Giáo Dục thì nơi nào có ít nhất là 200 thiếu nhi mới được cho mở trường học. Chúng tôi áp dụng ngay ba phương châm thầy dạy là TRÁCH NHIỆM, TỰ NGUYỆN và TÌNH THƯƠNG. Chúng tôi tới chơi nhà bác Ba là người lớn tuổi nhất trong làng và thưa rằng: Bác ba ơi, vì chúng cháu thấy 77 đứa bé ở làng mình không có trường học, chúng cháu có tới xin nhà nước, nhưng ông quận trưởng nói không đủ ngân sách, chúng cháu thấy trách nhiệm đối với các em nhỏ nên tự nguyện đứng lên kêu gọi mọi người giúp một tay. Vì tình thương mà làng Cầu Kinh mình phải lập ngay trường học cho con em mình bác Ba đồng ý không? Mình đã không biết đọc biết viết rồi, các con trai con gái mình cũng dốt, mà bây giờ tới đời cháu nội cháu ngoại cũng dốt thì tội nghiệp quá. Thôi chưa có trường cho chúng cháu dạy, các cháu học dưới gốc cây vậy. Thưa bác Ba, thưa cô Bảy, cô bác hy sinh bớt việc nhà để các cháu có thể đến trường nhé. Việc nhà của phần đông các cháu là đi câu cá để có chút thức ăn cho bữa cơm. Có khi câu được con cá to thì đem đi đổi thêm gạo cho gia đình. Chúng tôi dạy ngoài trời chừng mươi ngày thì gặp hôm trời mưa phải đem cả lớp học chạy xin trú ẩn trong nhà bác Hai, nhà nóc ngói, khá giả nhất trong làng. Bác Hai thấy các cháu lóp ngóp dưới mưa thì thương, nhân đó hôm sau chúng tôi đi mời cả làng tới để trình bày là cần sự góp sức cả làng mới thành tựu được một trường học. Bác Hai cho ba thiên lá dừa nước, bác Ba cho bốn chục cây tre to. Cô bác khác hứa sẽ góp công góp sức. Thế là vài tuần sau chúng tôi có được ngôi trường nóc lá vách đất và tre với ba lớp học và một phòng làm trạm y tế. Chị Trà Mi mới tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm nhưng bị bổ đi dạy ở Trung Học Bến Tre, Phùng Thăng có việc nhà phải về Huế, anh Tôn Thất Chiểu cũng thế. Chị Lê Kim Chi tốt nghiệp trường Dược phải về Cao Lãnh mở hiệu thuốc tây. Chú Nhất Trí, em Tâm Thái và Tâm Quang đều quá trẻ, còn thầy thì lúc sau này phải ở luôn chùa Pháp Hội để lo các lớp Phật học vừa khai giảng. Tôi được các bạn giao hết mọi việc điều động Làng Tình Thương. Đầy nhiệt huyết mới về nước, tôi kéo các bạn bè mới cũ vào hết trong ban điều động. Lê Khắc Phương Thảo ăn nói mềm mỏng và đầy nhiệt huyết, nên để chị nằm trong Ban Phổ Triển, ngoại giao để tìm người tham gia. Chính Phương Thảo đã mời được ba anh nội trú vừa tốt nghiệp Y Khoa bác sĩ là Trần Tấn Trâm, Hồ Văn Quyền và Nguyễn Thành Nguyên đó mà. Người đứng tên trường tiểu học của làng đáng lý là chị Trà Mi vừa tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm nhưng vì chị bị đi dạy ở Bến Tre nên làng nhờ chị Cao Ngọc Thanh, đang học Dược, đứng tên làm hiệu trưởng và xin phép cho trường Tiểu Học Chim Sơn Ca chính thức hoạt động. Trường có tất cả năm lớp. Thế thì mỗi ngày chúng tôi cần 5 người tình nguyện ngồi chơi và dạy các cháu học từ lớp năm (tức lớp 1 bây giờ) đến lớp tư, lớp ba, lớp nhì và lớp nhất. Cao Ngọc Thanh, Phạm Thúy Uyên và tôi là ba người có bổn phận điều động 30 anh chị sinh viên, mỗi bạn dạy một ngày, dạy sáng và dạy luôn buổi chiều một trong năm lớp. Vì trường dạy 6 ngày trong tuần thành ra phải cần đến 30 người tình nguyện là vậy. Đó là dịp rất hay để quy tụ hết các bạn cũ trở về xây dựng tăng thân: dược sỹ Mỹ Hạnh – hoa khôi của đoàn sinh viên Phật tử, dược sỹ Lê Kim Chi, dược sỹ Lê Khắc Phương Thảo, dược sỹ Phạm Thị Thục và các bạn các ban ngành khác như thẩm phán Bùi Văn Thanh, tiến sĩ toán Lê Khắc Tích, chị Trương Thị Nhiên đang làm luận án tiến sĩ sinh học, chị Nghiêm Thị Kim Chi, giáo viên, chị Nghiêm Thị Bạch Tuyết, học Dược, chị Phan Thị Mai, giáo viên, anh Lương Hữu Định, luật sư, anh Đỗ Văn Khôn, anh Ngô Vĩnh Thành, anh Ngô Lương Phú, v.v… Mỗi người nhận dạy một buổi hay trọn ngày tùy tâm. Chỗ nào trống thì tôi, Thanh và Thúy Uyên đều tự nguyện lãnh hết những chỗ thiếu người ấy. Bên Y Tế thì đã có các anh bác sĩ Trâm, Quyền, Nguyên, Đỗ Tuấn Khanh và Đặng Ngọc Cương cùng dược sỹ Nguyễn Văn Bảy rồi. Nhưng trùm lên trên mọi người bằng tình thương và sự ưu ái là bác sĩ Ngô Văn Hiệu và chị dược sĩ Đỗ Thị Nga. Hai vị này cúng cho làng những vật dụng thiết yếu mà dân làng dù đầy lòng tự nguyện cũng không có tiền mua là thuốc tây và trọn bộ bàn ghế cho học sinh, những dụng cụ cần thiết bên y khoa cho một trạm xá nhỏ.

Nếu cháu sốt là vì bị ông bà quở

Khi tôi về thăm Làng Cầu Kinh lần đầu, lòng tôi rất bất nhẫn, Cầu Kinh chỉ cách Sài Gòn có 7 cây số mà dân ở đây sống như thuộc về thế kỷ trước. Con thím Năm sốt nặng, thím nhất định là tại bà bắt, tại vì nó đi câu cá xa quá, tận trên gần Miếu Bà, bây giờ phải cúng Bà thôi. Anh bác sĩ Trâm nhìn tôi cười khi nghe tôi nói tỉnh bơ: “Bác nói đúng quá, vậy để cháu sẽ đi mua nải chuối về cúng Bà nhưng bác cho em Trung uống viên thuốc này cũng giúp cho bớt sốt”. Anh Trâm nói nhỏ với tôi: “Sốt cao quá có thể bị thương hàn, nhưng để xem”. May quá là hôm sau, bé Trung đã hết sốt và ăn được cháo. Tôi quên mua nải chuối nhưng thấy Trung hết bịnh dân làng bắt đầu tin thầy Tư (Trâm). Trâm, Nguyên và Quyền cũng không xưng là bác sĩ, chỉ xem mạch rồi phát vài viên thuốc trắng trắng xanh xanh là người bệnh hết bệnh khiến dân làng cứ khen thầy Tư, thầy Bảy, thầy Tám mát tay! Thầy Quyền và thầy Nguyên cũng thay phiên nhau tới xem mạch và cho thuốc. Đồng bào bắt đầu tin tưởng ba cái “chú biết chữa bệnh” của Làng.

Rã bành tô

Một bữa khi đi xe máy về lại Sài Gòn sau một ngày làm việc vất vả, bác sỹ Quyền đi song song và hỏi tôi: Chị Phượng đã có người yêu chưa? Tôi hỏi dùm một người bạn chứ tôi đã có fiancée rồi, xin chị đừng hiểu lầm tôi. Tôi mỉm cười nhẹ nhàng nói: “Dạ có rồi, thưa anh”. Trong tâm tôi nghĩ là tôi nói thiệt vì tôi nhớ tới Khá, tôi đã phụ tấm lòng trung hậu đó thì tôi chỉ có một người yêu bất diệt duy nhất là lý tưởng phụng sự người nghèo khổ của tôi thôi. Nếu tôi ưng ai tức là tôi phụ lòng người con trai hiền lành trung hậu ấy, tôi phụ người yêu bất diệt là lý tưởng phụng sự của tôi. Tôi có thuật điều này cho bạn tôi là Lê Kim Chi nghe. Nghe điều ấy Chi bèn đi mách với thầy Nhất Hạnh khiến thầy thấy tội nghiệp tôi quá. Chiều đó thầy gửi các bạn đem cho tôi một bức thư và căn dặn khi nào buồn lắm thì mở bức thư “cấp cứu”của thầy ra mà đọc. Tôi rất can đảm và không cần mở bức thư cấp cứu đó ra, sau này có dịp, tôi đem trả lại thầy, thầy bảo tôi mở ra xem. Thì ra chỉ có mấy câu thầy dạy tôi cách đi thiền hành để ôm ấp niềm xót xa trong lòng!

Ngày hôm sau, các bạn trong giới y khoa (bạn của Trâm) Sài Gòn, nhiều người được anh Trâm hỏi: Có biết cô Cao Ngọc Phượng bên Đại Học Khoa Học không? Các bạn hỏi lại: Biết, thì sao? Trâm nói: Tui “rã bành tô” rồi bồ ơi, tôi buồn quá, cô ấy đã có người yêu. “Bành tô” là tiếng người bình dân miền Nam gọi trại chữ manteau của Pháp tức là áo khoác dày bên ngoài khi trời lạnh. Nếu bành tô của mình mà rã thì tả tơi lắm. Đúng ra phải nói: Tôi tả tơi quá bạn ơi.

Với một bạn khác của làng thì anh chia sẻ: Bạn biết không. Vừa gặp Phượng thì tôi biết đây là người mà tôi chờ đợi từ lâu rồi, lâu lắm rồi. Đúng là người con gái có cái dáng ốm ốm thanh thanh đó, đúng là cái người thiếu nữ tóc dài có nước da xanh mét đó… Buồn quá, bạn nghĩ có thật cô ấy đã có hôn phu rồi không?

Trâm buồn được vài tuần thì bỗng nhiên vui vẻ trở lại và lại tiếp tục đi cùng tôi thăm từng gia đình dân làng Cầu Kinh và Thảo Điền, xem mạch, cho thuốc và bàn bạc với tôi về những việc chung của làng. Tôi cũng vui vì nghĩ rằng anh ấy đã bình thường hóa lại cái tình đồng chí với tôi trong công tác làm mới xã hội nghèo khó này.

Hoi lis scckVài tháng sau tôi nghe nguồn tin là Phương Thảo đã bật mí cho anh ấy biết tôi chẳng có anh chàng nào hết, trừ chàng Nguyễn Khá, cố nhân rồi! Thế là anh ấy lại hy vọng. Nhưng hôm đó tại nhà Phương Thảo tôi nhất định cho Trâm biết người yêu của tôi là lý tưởng phụng sự đồng bào nghèo khổ, xin đừng hy vọng bỏ tôi vào lại cung điện của tình yêu thường tình. Mấy hôm sau tôi bị các bạn của anh Trâm “tấn công” khá kỹ. Họ nói: Cái chị Phượng đó hả? Thà cạo đầu đi tu làm ni cô cho người ta không mơ tưởng. Ai kêu chị ấy để tóc dài mơ mộng quá để cho người khác bể trái tim, tội chết! Không biết chị ấy có biết không? Tôi cười buồn, cũng muốn cạo đầu quách cho rồi nhưng không có chùa thì làm sao mà tu được? Tôi đâu muốn vào chùa của ni sư Vĩnh Bửu, vì tôi không cho nghiệp phụ nữ là nặng và không cần tu để kiếp sau thành con trai cho nhẹ nghiệp. Con trai mà cứ vướng mắc tình cảm như anh Trâm thì còn nặng nghiệp hơn. Gia đình tôi đa số đều chấm Trâm thi đậu làm rể, ai cũng bàn vào đề nghị tôi đồng ý cho rồi, nhưng cái đầu cứng của cô cọp con này ai mà bóp cho mềm được. Sáng sớm tôi đã mất hút vào làng, khi thì làng Cầu Kinh, khi thì làng Thảo Điền, và tối khuya mới về lại nhà. Má tôi trách: Hồi ở Pháp, con nói con nhớ má, thương má, vậy mà khi về tới đây, sáng sớm là con đi mất, tối khuya con mới về, con đi đâu mà đi dữ vậy? Tôi nằm kề bên ôm chặt má và nói: Con thương má lắm nên mới không lấy chồng, nếu con lấy chồng thì bụng mang con, tay này lo cho chồng, tay kia lo cho cả giang san gia đình bên chồng, còn đâu thì giờ ngồi ôm má ban đêm như vầy đâu?

Nghe thế má tôi cười vui trở lại. Má tôi thật dễ thương, dễ nghe lời con gái quá à! Tôi ôm hôn má thật ngon, rúc đầu vào má mà ngủ, hai mẹ con hạnh phúc nằm bên nhau. Hôm sau tôi lại phải đi sớm và má vẫn vui.

Khi nào thì tôi mới gửi thiếp mời mọi người đi dự lễ xuất gia của tôi đây?

Bảy tháng sau, tôi nghe nói Trâm thật tình hiểu là tôi quyết đi tu nên anh không theo đuổi nữa và quyết định trở lại với người con gái rất xinh đẹp đã thương anh từ lâu. Lòng tôi rất vui mừng cho anh ấy vì làm sao mà tôi vui nổi khi có người khổ vì mình mà mình thì nhất định không thể ưng anh ta được. Tôi hỏi các bạn sao không rủ chị ấy đi làng mình cùng với anh Trâm. Chị Nhiên ở chung cùng cư xá Trần Quý Cáp với cô kia nói: Trời ơi, chị Phượng ơi, tội nghiệp cô kia lắm! Cô cứ khóc với tụi tui hoài hà. Cứ mỗi lần anh Trâm gặp cô ấy thì hay đề nghị em nên để tóc dài như chị Phượng, em nên mặc áo trắng như chị Phượng… Mấy tháng sau nữa chúng tôi nhận được thiệp cưới của Trâm. Bỗng nhiên tôi thấy thật buồn!

Lạ quá, tại sao từ chối người ta khi người ta hai lần cầu hôn rồi bây giờ được thiếp cưới của người ta thì buồn, tôi yêu Trâm ư? Nhìn sâu lại tâm mình tôi mới nhận ra một sự thật rất bình thường là: Người con gái nào cũng xem ngày cưới của mình là trọng đại, là ngày đi lập cuộc đời mới với người con trai mình thương yêu và gửi gắm niềm tin. Nhưng con đường của tôi, không phải là con đường đó. Tôi đã chọn lý tưởng làm người xuất gia theo Phật. Lấy sự dấn thân phụng sự cho người nghèo khổ làm tương lai cho mình. Vậy thì khi nào tôi mới mời được bạn bè đến dự ngày xuất gia của tôi đây? Tôi buồn là phải! Đất nước đầy khổ đau, nội chiến lăm le cùng khắp nước, một ngôi chùa ni theo lối tu mới, dấn thân theo lối tôi mơ ước, chẳng biết khi nào lập được. Thế thì chẳng bao giờ tôi có được cái hạnh phúc gửi thiệp cho ai hết để mời đến dự ngày tôi xuất… gia. Tôi buồn không phải năm phút mà… gần cả ngày!

Ngày hôm sau tôi lấy xe mobylette chạy tới hỏi chị Hà: Tiền tụi mình dành dụm để cất chùa ni được bao nhiêu rồi hả chị ? Chị Hà cười: “Còn chờ lâu lắm Phượng ơi! Nhưng nếu cất chùa lá chắc là đủ. Tôi nghĩ: Tại sao không? Một ngôi chùa bằng lá? Cách mạng lắm chứ! Tôi nghĩ đến ngày cất chùa xong tôi mời thầy tới xuống tóc cho mấy chị em tôi. Thiệp mời sẽ làm thật đẹp. Thế nào cũng gửi cho vợ chồng anh Trâm, anh Quyền và Xuân Lan, anh Nguyên, Phương Thảo, Bích, Kim Chi, Nhiên… Thiệp xuất gia của bảy tám chị em chúng tôi cùng một lúc. Vui quá! Người xuất gia chắc chắn sẽ có chị Hà, Phượng, Thanh, Uyên, Trà Mi, Phùng Thăng, chị Liên, chị Điệp… Chắc chắn là vui hơn đám cưới nhiều!

Tránh kịp một vụ Mỹ Lai

Sáng đó tôi vào đến làng Thảo Điền bỗng thấy không khí có vẻ kỳ lạ quá. Cái làng hiền lành của tôi hôm nay đầy lính Mỹ. Anh Mỹ nào cũng nhìn tôi với ánh mắt vừa sợ hãi, vừa ngây thơ. Tuy cao lớn dềnh dàng – có anh cao bằng hai tôi – nhưng mặt anh nào cũng non choẹt. Tôi nhìn vào mắt một anh và hỏi: Các anh định làm gì ở đây? Anh ta hơi giật mình! Có người biết tiếng Mỹ! Ngập ngừng một chút anh ta nói: Chúng tôi đến tìm cộng sản. Với ánh mắt thật trong sáng và chân thật, tôi trả lời ngay là ở đây không có Cộng Sản đâu. Cách đây ba hôm, có một toán du kích vào trói gô ông xã trưởng lại và nói: Mày làm việc cho ngụy, ta phải đốt nhà mày. Dân làng lạy lục năn nỉ họ đừng đốt nhà ông xã trưởng vì ở đây nhà nào cũng bằng lá. Đốt một nhà là đốt hết cả làng. Họ do dự… rồi sau đó bỏ đi. Mừng quá, thế là chúng tôi yên tâm mấy ngày nay. Thế các anh tới đây làm gì? Tại sao trước đây không tới mà bây giờ đến? Họ nói: Cái cầu dài ngoài kia suýt bị mìn nổ vì có du kích đem mìn tới. A thì ra thế! Một lát sau, một người sĩ quan Hoa Kỳ hình như là trưởng nhóm lại đến hỏi tôi lần thứ hai. Sau đó, toán lính Mỹ này có đi lùng soát rất kỹ và hình như thấy đúng như lời tôi khai báo, không có súng, vỏ đạn, không có gì khả nghi. Nhờ thế nên khoảng một giờ sau thì họ rút đi. Tôi chợt nghĩ nếu sáng hôm đó mà tôi không tới kịp, nếu có chú bé nào dại dột vác hèo tới đập anh lính Mỹ nào đó thì sự cố có thể rất tệ. Cái ánh mắt sợ sệt kia sẽ nhanh chóng biến thành hoảng hốt và những loạt súng bắn bừa vì sợ hãi sẽ kéo theo một vụ Mỹ Lai thứ hai thì sao? Mỹ Lai là một làng nhỏ của Quảng Ngãi bị lính Hoa Kỳ (sĩ quan Calley) bắn ria chết mấy trăm người dân vô tội, toàn là trẻ em và ông bà già cùng phụ nữ, báo chí Hoa Kỳ đang phanh phui tội ác lớn này. Lòng tôi rất thương, có khi người ta không ác nhưng vì sợ hãi – như mấy anh lính Mỹ hồi sáng nay ở Thảo Điền đã nhìn dân làng với đôi mắt đầy ngây thơ nhưng sợ hãi – vì nghĩ là phải tự vệ nên người ta tàn sát. Ôi tôi mong mỏi chiến tranh này chấm dứt càng sớm càng tốt để con người không phải gây nghiệp ác với nhau dài dài vì vô minh và sợ hãi như tôi đã chứng kiến sáng nay và kịp thời tránh giúp cho họ. Nhưng ở các làng xa của Việt Nam có bao nhiêu nông dân nói được tiếng Hoa Kỳ để tránh tai nạn kịp thời như tôi đã làm?

Tết Trung Thu

Chỉ còn có một tuần nữa là tới rằm tháng Tám. Tôi rất phục sư chú Nhất Trí là đệ tử xuất gia đầu của thầy chúng tôi. Làng Thảo Điền là làng hoa tiêu thứ hai mà sư chú và tôi tìm ra, nó chỉ cách Làng Cầu Kinh chúng tôi có một con sông lớn. Đây là một làng hoàn toàn bị cô lập với thế giới văn minh từ Sài Gòn mà chúng tôi đang sống. Không có trường học, không trạm y tế, không hàng quán. Nông dân làm nghề thuần túy trồng lúa. Mỗi nhà có được giàn bầu, giàn bí, giàn khổ qua, giàn dưa và có trồng rau húng và khoai lang, khoai sọ, khoai mì. Họ chèo ghe qua bên kia sông tới Cầu Kinh mua dầu hôi đốt đèn, dầu ăn, nước mắm và muối. Mỗi khi về làng Thảo Điền, tôi phải đi xe mobylette khoảng bảy cây số từ nhà chị Tám tôi ở Nguyễn Bỉnh Khiêm tới cầu Xa Lộ, chạy thêm nửa cây số thì rẽ vào đường đê, băng ngang ruộng lúa độ hai cây số thì tới cổng Làng. Hình như đây là ấp chiến lược của ông Ngô Đình Nhu muốn đưa dân vào ở chung một nơi cho dễ kiểm soát. Mỗi khi sư chú Nhất Trí về làng là trẻ con gọi nhau ơi ới: Thầy Năm về, đi học, đi học, bây ơi. Không khí này khiến tôi nhớ xóm Quốc Thanh của tôi mỗi khi tôi vào thăm. Các cháu mừng tôi như mẹ đi chợ về. Lúc nào tôi vào các cháu cũng gọi nhau ơi ới như thế, tôi ưa đem bong bóng và kẹo dừa cho các cháu. Còn ở đây các cháu gọi nhau chỉ là để đi học. Thương không? Con nít thành phố đâu có ham đi học như vậy đâu? Các bé đủ lứa tuổi, đứa nào cũng ham học. Có đứa phải ở nhà giữ em nhưng có thầy Năm (tên mà dân Làng đặt cho sư chú) về dạy học, dạy hát mà không đi học sao được. Các bé bồng em vào lớp để cùng học chung. Bờ a ba, bờ a ba huyền bà…đứa bé một tuổi đòi tụt xuống đất để bò lê trên sàn nhà, cô chị mới sáu tuổi ráng níu em lại. Chợt có tiếng khóc thét của đứa bé đòi tụt xuống sàn. Chị nó là Ổi, phải miễn cưỡng bồng em ra ngoài kẻo làm ồn lớp học. Sư chú nhìn tôi lắc đầu, chắc phải tổ chức giữ em vần công mới được chị ơi. Sư chú đọc lớn và bảo các em đọc theo: Bờ a ba huyền bà. Bà ru em ngủ. Bỗng có tiếng la lớn: Xíu ơi, em mầy ị dưới nền lớp học rồi! Thúi hoắc hà! Thế là lớp học tạm ngưng để Xíu đi lau phân của em nó, ị trên sàn đất, lau trên sàn đất thì làm sao mà sạch được !

Ở chơi đến chiều, tôi học được rất nhiều bài hát của chú tự sáng chế để dạy cho trẻ em.

Em ra ngoài đồng,
em thấy một con trâu,
sừng trâu to lớn
nước da xám xỉ
năm chì ỉ trên đường đi
gặp chi ăn nấy
em thấy hai con trâu.
Em ra ngoài đường, em thấy hai con trâu

Sư chú Nhất Trí nhờ tôi dạy các em bài:

Tết Trung Thu em xách đèn đi chơi
Em xách đèn đi khắp phố phường
Tùng dinh dinh cắc tùng dinh dinh
Tùng dinh dinh cắc tùng dinh dinh
Em xách đèn cùng đến cung trăng
Đèn ông sao với đèn cá chép
Đèn xanh xanh với đèn tím tím
Em múa đèn cùng với chị Hằng.

Chị Hằng là ai? Sư chú chịu khó chỉ mặt trăng mới lên và giải thích, kể chuyện Hằng Nga và Chú Cuội cho các cháu nghe, giải thích là vì trăng tròn tháng Tám trời không lạnh không nóng, mới gọi là lúc tận hưởng trăng tròn giữa Mùa Thu. Người lớn thì khoe tài khéo làm bánh, làm kẹo; trẻ em thì được xách đèn đi múa dưới trăng Trung Thu rất mát mẻ và vui tươi. Mình sẽ tập múa chèo thuyền để trình diễn văn nghệ cho cô bác xem, các anh chị bạn của cô Chín (là tôi) sẽ mang quà về cho tụi con. Mình sẽ mời dân làng Cầu Kinh sang đây trình diễn chung coi bên nào có tiết mục hay nhất.

Ngày hôm đó, Mỹ Hạnh phối hợp việc thu quà, Phương Thảo lo điều động toàn chương trình; Thanh, Uyên, Bạch Tuyết đã về đây tập hát với các cháu nhiều lần nên đang tập dượt với các cháu. Tôi với sư chú rút vào hậu trường để các bạn từ Sài Gòn xuống đứng ra chủ động cho họ vui. Sau khi các cháu trai trình diễn điệu múa mới với mái chèo, dân làng vỗ tay tán thưởng thật lâu khiến các cháu lại múa lại lần nữa.

Bỗng chúng tôi nghe tiếng hát reo vui của một đoàn thiếu nhi dẫn đầu là sư chú Nhất Trí đã có đèn trong tay, vừa đi vừa hát:

Tết Trung Thu em xách đèn đi chơi

Em xách đèn đi khắp phố phường

Tùng dinh dinh cắc tùng dinh dinh

Tùng dinh dinh cắc tùng dinh dinh

Rồi ở góc kia của Làng lại một đoàn thiếu nhi khác, dẫn đầu là Tâm Thái, cũng vừa đi vừa hát:

Em xách đèn cùng đến cung trăng

Đèn ông sao với đèn cá chép

Rồi ở góc làng khác một đoàn thiếu nhi dẫn đầu là Tâm Quang:

Đèn xanh xanh với đèn tím tím

Em múa đèn cùng với chị Hằng

Các cụ già nhìn các cháu xách đèn đi chơi cười rung rung hàm râu trắng nói: Trăng tròn năm nay nhờ có thầy Năm và cô Chín về, các cháu sướng ghê, lâu lắm rồi, chưa bao giờ làng này vui như vậy.

Nhưng sau đó sư chú vào Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, đi làm công tác ở Bình Điền, mất tích cùng với bảy người bạn khác. Đêm đó ở Bình Điền, nếu tôi không sợ mẹ tôi buồn, ở lại ngủ đêm tại cái làng bình yên đó thì chắc tôi cũng bị mất tích theo.

Chương 5: Cuộc đấu tranh bất bạo động chống độc tài

52 năm theo thầy học đạo và phụng sự – Hồi kí của Sư cô Chân Không


Chương 5: Đoàn Sinh Viên Phật Tử  và cuộc đấu tranh bất bạo động chống độc tài

 

Đoàn Sinh Viên Phật Tử Việt Nam đầu tiên tại Sài Gòn

Thầy đi rồi chúng tôi cũng có ý định theo học giáo lý với thầy Quảng Liên tại chùa Ấn Quang. Nhưng do dự bàn tính xong thì không hăng say lắm. Lý do là vì thấy có một sự khác biệt giữa thầy Quảng Liên và thầy Nhất Hạnh. Ngày xưa, tới giờ pháp đàm, chúng tôi mỗi đứa một ý, ý nào cũng có lý, cũng hay (!) theo hướng thấy của mình, nhưng mười ba đứa thì mười ba ý. Tới khi thầy Nhất Hạnh nói, vì thầy lắng nghe rất kỹ và rất sâu ý của từng người nên khi đưa ý thầy ra thì ý thầy bao trùm từng mảnh tuệ giác của ý mỗi chúng tôi, mỗi đứa mỗi khác. Xong thầy cộng thêm cái thấy thâm sâu của thầy trùm lên trên, nên ai cũng thỏa mãn. Nhưng khi học với thầy Quảng Liên thì khi nghe xong ý chúng tôi, thầy cho thêm ý của thầy và không đứa nào đồng ý với thầy hết. Vì ý của thầy chỉ là một ý thứ 14 khác với 13 ý của 13 đứa chúng tôi. Ý thầy không vượt lên trên nên chúng tôi không hài lòng, không nghe theo. Có khi thầy giận. Rồi chúng tôi lẳng lặng rút lui và không xin theo học với thầy nữa. Khi thầy Nhất Hạnh còn ở nhà thì thầy tưởng thầy Nhất Hạnh xúi chúng tôi cứng đầu, nhưng thầy Nhất Hạnh đã đi thì chúng tôi cũng không còn dịp học với thầy nữa. Rồi khi thầy Thiện Minh từ Huế vào Sài Gòn (lúc này thầy Nhất Hạnh đã ở Princeton, Hoa Kỳ) bảo phải lập ngay Đoàn Sinh Viên Phật Tử thì thầy Quảng Liên rất đồng ý với chúng tôi là phải học giáo lý cho vững trước đã rồi hãy mở rộng ra. Nhưng rồi chiều ý các thầy lớn nên cuối cùng chúng tôi lập ngay Đoàn Sinh Viên Phật Tử Sài Gòn đầu năm 1962. Khi mở lớn chúng tôi mới thấy là sinh viên theo đạo Phật khá đông ở Sài Gòn và làm như thế chúng tôi có dịp làm lớn những hoạt động phụng sự của chúng tôi hơn. Nhờ thế mà 13 cây tùng trở thành một trăm cây rồi ba trăm cây tức là ba trăm đoàn sinh Đoàn Sinh Viên Phật Tử. Lúc đó tôi có bạn mới là Lê Khắc Phương Thảo, Nguyễn Thị Trà Mi, Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng, Lê Hữu Bôi, Tôn Thất Tuệ, Trương Văn Niên, Nguyễn Thị Mỹ Hạnh – người đẹp của Đoàn Sinh Viên Phật Tử Sài Gòn, Nguyễn Thị Bích (Đà Lạt), chị Thanh Cam, Phạm Thúy Uyên, Phạm Thị Thục, Phạm Mạnh Hương…

Bảy mươi người bạn lo cho các xóm nghèo

Công tác ở xóm nghèo của tôi trước đó có trên dưới hai mươi người, sau này nhờ được thầy khuyến khích và tác động chúng tôi đã lập thành một nhóm lớn hơn, nhưng khi có Đoàn Sinh Viên Phật tử mà tôi là Trưởng Ban Từ Thiện Xã Hội thì chúng tôi có được 70 người đi vào các xóm nghèo của thành phố Sài Gòn làm việc rất có phương pháp. Ngày xưa chúng tôi chỉ làm việc ở xóm Mả Lạng thôi nhưng bây giờ có các bạn, tôi đã chia ra làm năm nhóm đi vào năm xóm ổ chuột của thành phố: xóm Mả Lạng sau rạp hát Quốc Thanh, xóm Bàn Cờ, xóm Cầu Bông, xóm Chợ Ông Tạ và xóm gần chợ Bà Chiểu. Phùng Thăng, Trà Mi và Ngọc Thanh… đều là những nữ kiệt trong Ban Từ Thiện của chúng tôi nên mỗi người chăm sóc nguyên một xóm cùng với các bạn khác.

Mỗi tháng một lần, chúng tôi tổ chức để mỗi sinh viên bạn chúng tôi có dịp đưa một cháu thiếu nhi nghèo đi Sở Thú, đi ăn kem, đi xem xi nê và đi ăn mì, hủ tiếu ở các hiệu ăn bình dân mà chưa cháu nào có diễm phúc được vào. Sau khi cấp học bổng bằng 15 ký gạo cho gia đình mỗi cháu, các bạn đặc trách xóm nào còn phải chạy lo làm giấy khai sinh cho từng cháu thì mới ghi tên cho các cháu vào trường học gần nhà được. Đối với chúng tôi thì việc này thật dễ dàng, chỉ cần ra phường làm đơn xin lập thế vì khai sinh cho các cháu vì hồi sinh cháu ra bố mẹ không đi làm khai sinh. Phường sẽ gửi lên quận, rồi quận gửi lên tòa án. Một thời gian sau, tòa án sẽ mời ba mẹ các cháu đến, và hai người chứng lên tuyên thệ là cháu đã sinh đúng ngày đó và có hai người làm nhân chứng. Thế là xong. Nhưng đối với dân nghèo làm như thế quá rắc rối và khó khăn. Ở xóm Mả Lạng tôi tổ chức cho bốn bà có con mọn, giữ con dùm cho nhau để ba bà kia đi buôn bán, và cứ như thế vần công ba ngày bán một ngày nghỉ giữ con cho nhau, đi bán tới chiều mới đón con về.

Mỗi bạn chăm sóc xóm của mình như là lo cho chính gia đình mình, đưa chị này đi bệnh viện, đưa cháu kia đi chữa mắt, tìm nghề buôn bán dạo, như tôi đang làm cho xóm Mả Lạng cho những người thất nghiệp ngồi không cờ bạc, nhậu nhẹt, móc túi hay làm những việc tiêu cực khác. Ở xóm Bàn Cờ, Phùng Thăng và Trà Mi mở lớp dạy đêm cho trẻ em lớn, suốt ngày phải đi bán dạo hay đánh giày để nuôi gia đình. Xóm Cầu Bông của em Thanh thì có rất nhiều người bị lao phổi, chúng tôi vào ra bệnh viện Hồng Bàng của người lao hoài. Nhờ có học chung với các bạn Y Khoa hồi năm thứ nhất PBC (Physique, Biologie, Chimie), lớp này học chung Sciences Naturelles, Physiques et Chimiques với tôi, nên khi chở bệnh nhân đi tới bệnh viện nào, chúng tôi đều có các bạn đang học y khoa giúp.

Khơi màu kỳ thị

Một ngày tháng Tư năm 1963 một người phụ tá của bà Ngô Đình Nhu lên phòng làm việc của tôi tại Đại Học Khoa Học và mời tôi vào đảng Phụ Nữ Cộng Hòa. Họ hứa khi tôi trở thành đảng viên thì họ sẽ đưa tôi lên làm trưởng ngành Phụ Nữ Cộng Hòa vùng Sài Gòn Gia Định. Ông Nhu là em ruột Tổng Thống Ngô Đình Diệm đương thời, ông bà Nhu lập ra đảng Thanh Niên và Phụ Nữ Cộng Hòa như là một đảng thuộc chính quyền và họ mời hết những nhân viên năng nổ của chính phủ vào đảng ấy. Tôi từ chối, nói rằng vì công việc lo cho Đoàn Sinh Viên Phật Tử và lo cho năm xóm nghèo của chúng tôi đã lấy hết giờ của tôi rồi. Đoàn Sinh Viên Phật Tử lúc này làm việc giỏi lắm. Có nhóm chỉ lo về hội thảo do anh Lê Hữu Bôi làm trưởng nhóm. Nhóm tu học và pháp đàm giáo lý do anh Huệ Dương làm trưởng nhóm. Nhóm báo chí có ra tờ Tin Tưởng như là tiếng nói của đoàn do anh Lê Hữu Bôi làm chủ bút. Khi nghe tôi từ chối “ân huệ “ như thế của bà Ngô Đình Nhu, bà liên lạc viên có nói: Sự từ chối của cô có thể bị xem như là một thách thức với bà “cố “ (ông bà Ngô Đình Nhu có tên là ông bà Cố Vấn cho tổng thống, thiên hạ gọi là “ông Cố Cố “), một thái độ chống đối chính quyền đương thời. Xin cô suy nghĩ lại. Bà ấy có đưa cho tôi tấm danh thiếp và căn dặn tôi liên lạc khi đổi ý chịu hợp tác. Ở Đại Học Khoa Học nơi tôi làm giảng nghiệm viên ai cũng biết tôi dấn thân vào các xóm nghèo và câu chuyện với người phụ tá bà Ngô Đình Nhu. Có người nói: Cô mà làm việc cho người nghèo là đã bị xem như là “thân cộng” rồi, nay mà cô từ chối vào Phụ Nữ Cộng Hòa là nguy hiểm cho cô lắm đấy. Tôi vẫn mỉm cười im lặng và không bao giờ gọi cho bà ấy cả.

Tôi có báo cáo lại chuyện đó cho các bạn biết trong buổi họp Đoàn thì mới biết ra là trên cùng khắp đất nước, những người Phật tử đã quá bực vì sự đàn áp ngấm ngầm của chính quyền Ngô Đình Diệm. Ai xứng đáng làm trưởng ty, hay giám đốc một chương trình, một bộ trưởng đều phải đi rửa tội, vô đạo Chúa thì mới được lên chức đó được. Nghe nói ở các tỉnh Phú Yên, Bình Định, Kontum, Ban Mê Thuột, Quảng Ngãi, Quảng Nam, sự đàn áp âm thầm thương tâm lắm. Không theo đạo là bị kết tội cộng sản. Bao nhiêu Phật tử đã chết oan, thà trốn nhà vào chiến khu còn hơn là ở lại mà không theo đạo Chúa thì bị vào tù.

Sau này, khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, người ta mời dân chúng đến xem nhiều hầm bí mật ở Phú Yên, ở Quảng Ngãi, mà các vị tỉnh trưởng hay quận trưởng Công giáo cho đào dưới đất để nhốt những người Phật tử không theo đạo Chúa nhưng cũng không phải là Cộng Sản nên không có cớ đem ra xử trị họ. Các bạn đi xem cho biết, có những hầm trên vách có viết những dòng chữ viết bằng máu “Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm“ rất thương tâm.

Chùa Lá Vằng hay nhà thờ La Vang?

Ở Quảng Trị, huyện Cam Lộ, từ thế kỷ trước đã có những xuất hiện linh thiêng của một người phụ nữ mặc áo trắng cứu một cháu bé trai rơi xuống giếng mà không chết chìm cho tới khi người làng tới cứu kịp. Cháu nói thấy một người phụ nữ giống như hình Phật Quan Âm trên bàn thờ, kéo cháu lên khi cháu ngộp. Cuối cùng cháu víu được một khối đá bên vách giếng chờ người tới cứu. Một thôn với mấy mươi nóc nhà sát bên giếng bị một cơn trốt nổi lên nhưng có một phụ nữ mặc áo trắng đi qua đi lại rồi cơn cuồng phong bị đưa ra đồng cuốn một cái chòi bỏ trống lên không. Riêng mấy mươi căn nhà sát bên cơn cuồng phong vẫn bình yên. Dân trong thôn quyết định lập nên ngôi chùa có tên là chùa Lá Vằng. Chùa đã hiện diện cả trăm năm, bỗng nhiên anh của tổng thống là Ngô Đình Thục nói người phụ nữ mặc áo trắng là Đức Mẹ Đồng Trinh, mẹ chúa Giê Su, và ra lệnh lập nơi đó làm nơi thánh địa và sẽ xây thành Vương Cung Thánh Đường La Vang. Khi xây nhà thờ La Vang, các công nhân viên nhà nước đều được “mời” đóng góp. Ngay tại Trường Đại Học Khoa Học, khi tôi đi lãnh lương, anh kế toán viên có đưa sổ xin tiền đóng góp cho nhà thờ La Vang. Tôi từ chối nhưng tôi biết ở các vùng xa, với một giám đốc là người mới vào đạo Thiên chúa để lên chức, nếu nhân viên từ chối đóng tiền xây cất theo lệnh rất cao bên trên thì sẽ không dễ cho họ!

Cờ Phật giáo bị cấm treo trong ngày Phật Đản. Tám thiếu niên Phật tử bị xe tăng cán chết

Một tuần lễ trước Phật Đản vào tháng Năm năm 1963, chính phủ Ngô Đình Diệm ban ra một sắc lệnh cấm treo cờ Phật giáo trong ngày Phật Đản, và ngày này không còn được xem là ngày Quốc Lễ nữa. Phật tử 12 tỉnh miền Trung rất thuần thành, tin Phật. Ngày Phật Đản ở Huế thì chợ không bao giờ bán cá thịt, các hàng quán các tiệm cơm nấu cá thịt đều đóng, chỉ có các quầy bán thức ăn chay. Ai cũng có thể đi chùa và cũng có thể ăn cơm chay tại chùa. Chùa nào cũng treo cờ vui như ngày hội lớn. Phật tử từng khuôn hội, tỉnh hội đều có xe hoa mừng Phật ra đời. Ngay cả quân nhân Phật tử vùng một chiến thuật cũng có xe hoa. Khi nghe tin cấm treo cờ, cấm mừng Phật Đản, Phật tử rất bức xúc, họ trông tới ngày Rằm để nghe thượng tọa Trí Quang dạy dỗ gì. Năm nào thượng tọa Trí Quang cũng thuyết pháp cho đồng bào trên đài phát thanh Huế. Bài thuyết pháp năm nay đã thu thanh và đưa lên đài nhưng đến sáu giờ chiều, Phật tử quy tụ quanh đài phát thanh để nghe pháp thì chỉ nghe lệnh công an cảnh sát nói trên loa là phải giải tán ngay. Đồng bào tới ngày càng đông, không ai muốn ra về. Bỗng nhiên mấy chiếc xe tăng ầm ầm tiến tới, mọi người hoảng hốt nhưng muốn chạy cũng không dễ, vì người đông nghẹt. Xe tăng tiến tới cán nát tám em oanh vũ và thiếu niên Gia Đình Phật Tử Thừa Thiên. Máu chảy, tiếng người khóc. 10.000 người đi biểu tình đòi tự do tôn giáo ngay rạng ngày mồng mười tháng Năm năm 1963. Tổng thống Diệm hoàn toàn không đếm xỉa gì tới lời kêu gọi của Phật tử, trái lại còn ra lệnh bắt những “tên Cộng Sản” quấy rối an ninh quốc gia. Các thanh niên sinh viên Phật tử Thừa Thiên bị bắt rất nhiều.

Sài Gòn tỉnh dậy kêu gọi tự do tôn giáo

Sau khi thu thập những hình ảnh, tên tuổi các cháu bị cán chết, các dữ kiện do Phật tử đưa vào từ Thừa Thiên và những chứng nhân bị đàn áp ở Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Phú Yên…, đoàn Sinh Viên Phật Tử chúng tôi quyết định gia nhập phong trào đòi hỏi bình đẳng tôn giáo của Phật tử Thừa Thiên. Quý thầy tập họp tại chùa Ấn Quang yêu cầu chính quyền thực thi năm điểm của người Phật tử. Chúng tôi đi phổ biến năm điểm đòi hỏi của Phật tử Việt Nam:

1/ Chính quyền phải thu hồi lệnh cấm treo cờ Phật giáo trong ngày Phật Đản.

2/ Mỗi công dân Việt Nam phải có quyền bình đẳng hưởng tự do tôn giáo như chính quyền đô hộ Pháp đã dành riêng cho người Công giáo nhất là quyền tự do tập họp. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam phải được hưởng quy chế tự do tôn giáo như Giáo Hội Công Giáo chứ không bị giới hạn, chỉ được xem như một hội đoàn nhỏ của các hiệp hội nhỏ thiết lập bởi dụ số 10 do người đô hộ Pháp lập ra.

3/ Phải chấm dứt sự bắt bớ người Phật tử.

4/ Người Phật tử phải có tự do thực tập những điều Phật dạy.

5/ Phải bồi thường cho những nạn nhân bị cán chết tại Huế và những kẻ giết người phải được đưa ra tòa xét xử.

Hòa thượng hội chủ Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc cũng gửi đến chính quyền và toàn thể tín đồ Phật giáo những điểm sau đây:

1/ Người Phật tử không bao giờ có chủ tâm muốn lật đổ chính quyền. Chúng tôi chỉ mong chính quyền thay đổi chính sách kỳ thị người Phật tử.

2/ Người Phật tử không có kẻ thù, sự đấu tranh của chúng tôi hoàn toàn không nhằm chống đối đồng bào Công giáo mà chỉ chống sự kỳ thị. Người Phật tử không bao giờ muốn chống đối các tôn giáo bạn.

3/ Người Phật tử tranh đấu cho một chính sách công bằng như là một phần của sự tranh đấu cho công bằng xã hội trên toàn cõi Việt Nam.

4/ Suốt quá trình đấu tranh, người Phật tử nguyện đi con đường bất bạo động mà đức Phật đã dạy. Vì quyết tâm đi con đường bất bạo động nên người Phật tử sẵn sàng hy sinh cho lý tưởng hiểu biết và thương yêu. Chúng tôi mong rằng hành động của chúng tôi chẳng những khiến cho chính quyền đổi thay chính sách mà còn cầu mong sao cho tình thương và trí tuệ thể hiện qua hành động của chúng tôi có thể gây niềm tin và chuyển hóa tâm tư của toàn dân và cả những người đang cầm quyền.

5/ Người Phật tử nhất định không cho các thế lực chánh trị lợi dụng sự đấu tranh này.

Bản tường trình 45 trang về đàn áp Phật Giáo

Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo

Báo chí hoàn toàn bị kiểm duyệt hoặc bị bắt buộc đăng những tin nhà nước bóp méo đưa ra

Ngày 15 tháng 05 năm 1963, phái đoàn Phật Giáo đã trao lên cho chính quyền và báo chí một Bản tường trình 45 trang về những bằng cớ đàn áp những người Phật tử có tên tuổi ghi rõ nơi nào chính quyền địa phương tỉnh đó, huyện đó, xã đó đã bắt bớ, bỏ tù oan ức những người nọ, tên họ nọ đã từ chối không theo đạo của chính quyền. Báo chí và chính quyền vẫn im lặng không trả lời, không đăng tin đàn áp; và sự bắt bớ những Phật tử tích cực, giỏi giắn vẫn tiếp tục âm thầm diễn ra khắp nước.

Ngày 21 tháng 05 năm 1963, một nghìn người xuất gia đã tập họp tại Chùa Ấn Quang nhịn ăn để cầu nguyện cho các Phật tử đã bị cán chết trước đài phát thanh Huế. Hàng ngàn Phật tử cư sĩ cũng tập họp chung quanh chùa để cùng cầu nguyện. Cảnh sát của ông Ngô Đình Diệm đã dùng dây kẽm gai để ngăn đường, dùng lựu đạn cay để giải tán. Ngày 23 tháng 05, năm trăm người xuất gia khoác y vàng xuất hiện trước chợ Bến Thành đòi hỏi tự do tôn giáo và yêu cầu chính quyền trả lời những thỉnh nguyện của Phật Giáo. Lựu đạn cay, gậy gộc của cảnh sát không giải tán được họ nên công an cho mười xe bít bùng đến bắt, kéo níu thô bạo các tăng ni bỏ lên xe tải chở về chùa.

Ngày 25 tháng 05 năm 1963 Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo đã được thành lập, trụ sở đặt tại chùa Xá Lợi và một phái đoàn của Ủy Ban xin gặp chính quyền để lắng nghe chính quyền trả lời về yêu sách của Phật tử Việt Nam. Nhà nước vẫn không đếm xỉa gì đến nguyện vọng của người dân. Cuộc đấu tranh tiếp tục, sự bắt bớ tiếp tục, biểu tình đột xuất chỗ này, tuyệt thực của tăng ni chỗ kia. Báo chí hoàn toàn bị kiểm duyệt nên chúng tôi phải dùng hệ thống thông tin truyền miệng và phân phát những bản tin quay ronéo tại chùa Xá Lợi, thông báo cho đồng bào biết thế giới đã chú ý đến chúng ta như thế nào, cho đồng bào biết ngày nào có biểu tình ở đâu, tuyệt thực ở đâu, v.v…

Ủy Ban Liên Phái là một nhóm quý thượng tọa thật tài ba. Thượng tọa Tâm Châu nói năng mềm mỏng khéo léo, nhưng thượng tọa Thiện Minh mới thật là nhà ngoại giao đại tài, cuộc thương thuyết nào mà thầy đi thì đối phương là phó thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ luôn bị thầy khéo léo đưa đến sự hoàn toàn đồng ý tất cả những điều kiện Phật giáo yêu cầu. Nhưng sau đó thì chính quyền (nghe lời ông bà Ngô Đình Nhu) lại phủ nhận, lại nuốt lời hứa, lại làm ngược hết những điều đã thỏa thuận. Thầy Quảng Độ, rất giỏi sinh ngữ, thầy nói được tiếng Quan Thoại, Quảng Đông, Thái, Lào, Miên và Anh văn nên đã nghe các đài phát thanh ngoại quốc, rồi dịch ra Việt và viết xuống để cho thầy Châu Toàn quay Ronéo phân phát cho toàn quốc. Đoàn Sinh Viên Phật Tử chúng tôi làm việc sát cánh với thầy Châu Toàn vốn là văn phòng trưởng Phòng Thông Tin của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật giáo tại chùa Xá Lợi, đem tin tức tới từng trường trung học, từng chợ, từng công sở. Anh Huệ Dương như đầu não của bọn Sinh Viên Phật Tử chúng tôi lúc ấy đã lên hơn 1000 người. Anh đi lập Thanh Niên Phật Tử tại các trường trung học, tiểu thương Phật tử tại các chợ… để tiện bề phân phát và phổ biến tin tức vào hạ tầng cơ sở, bẻ gẫy lập luận tuyên truyền bóp méo của nhà nước về phong trào Phật giáo. Chùa Xá Lợi bị bao vây, anh Huỳnh Bá Huệ Dương có chiếc máy ronéo lưu động, lấy tin từ Xá Lợi và chúng tôi về tự lắng nghe đài BBC, VOA rồi thảo tin và quay ra phân phát cùng khắp. Chúng tôi lập ngay một gia đình đặt tên anh Huệ Dương là anh Hai, tôi là chị Ba, chị Thảo là chị Tư… như mật mã để trao đổi tin tức. Nếu công an bắt được chiếc máy Ronéo thì chúng tôi đi tù rục xương nên chiếc máy cứ chuyền từ nhà này sang nhà khác khi rục rịch có tin sắp bị phát hiện. Chị Thảo rất gan dạ, can đảm sát cánh làm việc in ấn phát truyền đơn của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật giáo cùng anh Huệ Dương nên khi hai người bị cảnh sát ông Diệm bắt, cai tù đã tra tấn thật dã man chị Thảo để bắt bí anh Huệ Dương. Họ buộc anh phải khai hết tên những anh em nào đã sát cánh với anh. Họ để điện vào âm hộ chị Thảo cho điện giựt trước mắt anh Dương, chị Thảo chết đi sống lại nhiều lần nhưng vẫn khai là chỉ có một mình chị mà thôi, anh Dương không làm gì hết! Anh Dương cũng bị đánh hộc máu, bị treo chổng ngược đầu, bất tỉnh nhiều lần… tàn ác vô cùng. Vì ân tình đó mà sau khi ra tù và sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm đổ, anh Huệ Dương quyết định lấy chị Thảo làm vợ dù trước đó anh đã có người yêu là một người bạn khác của chúng tôi. Biết tin đó nhiều bạn trong chúng tôi ai cũng muốn “nghỉ chơi” với anh Hai Huệ Đà Lạt vì coi anh là người phụ bạc. Chỉ có mình tôi là hiểu và thương tất cả ba người! Tôi khuyên các bạn đừng trách anh Dương vì ân tình nghĩa nặng với người con gái, biết mình đang có người yêu mà vẫn yêu mình và hy sinh cho mình! Tôi với anh Huệ Dương là đồng chí, đồng minh lớn. Có khi nào tôi nhớ mình là phụ nữ đâu? Nhưng hạt giống âm nhạc nhận được từ mẹ đã khiến tôi hát nho nhỏ khi tôi họp các bạn đổ gạo và chia từng phần cho trẻ em nghèo khiến các bạn giật mình: Trời! Chị Phượng mà cũng biết hát nhạc tình Histoire d’un Amour nữa sao? Ý muốn nói tôi như con trai, như đại tướng chỉ biết chỉ huy và ra trận, đâu có biết nhạc tình như các tiểu thư. Tôi cười tủm tỉm hơi mắc cỡ vì vào chùa mà hát nhạc tình. Tại vì cái đầu tôi sao mà đầy âm nhạc, hễ để trống không suy tư là có một đoạn nhạc hiện ra khiến miệng tôi ca nho nhỏ hết bài này đến bài khác vì nghe loáng thoáng các đài phát thanh chớ không phải sống chết vì bài nhạc đó bao giờ. Công tác giúp các thiếu nhi nghèo vẫn tiếp tục, trong khi đấu tranh kịch liệt với ông Ngô Đình Diệm, nên cũng giúp được chúng tôi rất nhiều. Cứ mỗi lần bị công an chìm của ông Diệm rượt theo bắt, chúng tôi cứ chui hút vào các hẻm các xóm ổ chuột của chúng tôi thì công an không tài nào tìm ra. Nhà các cháu nghèo sẵn sàng che chở, nói láo chỉ đường sai để Công An không rượt theo chúng tôi được.

Ngọn lửa thiêng từ bi

Ngày 11 tháng 06 năm 1963, tôi mới ra khỏi nhà cậu của tôi ở đường Trần Quý Cáp, vừa tới gần ngã tư Lê Văn Duyệt – Phan Đình Phùng thì thấy nhiều áo vàng tập họp rồi chợt thấy ngọn lửa bừng cháy xa xa. Tôi chạy xe đến sát ngã tư thì thấy một nhà sư đang ngồi yên, uy nghi và bình an trong lửa đỏ thật bi hùng và đứt ruột. Thương quá là thương thầy ơi, con quỳ xuống lạy và phát nguyện sẽ không bao giờ quên ngọn lửa từ bi này và quyết tâm chỉ có thể đi theo con đường từ bi này để tranh đấu cho nhân quyền mà thôi. May mắn là một đài truyền hình đã thu được cảnh Hòa Thượng Thích Quảng Đức ngồi yên trong lửa đỏ nên lúc đó toàn thế giới mới giật mình. Dù cho bà Ngô Đình Nhu có nói thô tháo là: Bọn Phật giáo đồ đang làm thịt nướng sư sãi, thì thế giới cũng không thể để cho anh em ông Ngô Đình Diệm làm mắt ngơ tai điếc được. Lòng dân cả nước Việt Nam lúc bấy giờ thật căng thẳng, ai cũng muốn đập phá nổ tung cả quả địa cầu! Ngay hai giờ trưa ngày 16 tháng 06, ngày làm tang lễ cho Hòa Thượng, chính quyền và Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo mới đi đến thỏa thuận năm điểm để chấm dứt cuộc tranh chấp. Nhà nước yêu cầu hoãn ngày tang lễ lại bốn ngày cho lòng dân êm dịu lại. Thượng tọa Tâm Giác đứng trên một chiếc ô tô chạy dài theo đoàn người đi dự tang lễ báo tin nhà nước thỏa thuận năm điểm yêu sách của Phật tử, nhưng vì nhà nước Diệm đã nhiều lần thỏa thuận rồi nuốt lời nên rất đông Phật tử không tin là thật. Ngày 20 tháng 6, sau sáu giờ thiêu, tất cả nhục thân Hòa Thượng đã ra tro nhưng thật mầu nhiệm là trái tim Hòa Thượng vẫn còn nguyên màu nâu đỏ mà không bị cháy. Lò thiêu lại bỏ trái tim vào lò 1.000 độ C, nung thêm hai giờ nữa nhưng trái tim chỉ sẫm màu hơn một chút chứ không biến thành tro. Văn phòng ông Ngô Đình Nhu lại âm thầm ra một công lệnh cho nhân viên âm thầm chuẩn bị một cuốc tấn công Phật giáo. Khi bắt được tài liệu trên, Ủy Ban Liên Phái đã công bố và yêu cầu nhà nước phải giữ lời hứa thực thi năm điểm yêu sách của Phật tử. Cùng ngày đó nhà nước Diệm cho lập một Giáo Hội Phật Giáo giả chỉ gồm những sư sãi Cổ Sơn Môn. Nhóm người này cũng cạo đầu, cũng tụng kinh cầu siêu cho người chết được, nhưng họ ăn thịt cá và có vợ mà trong nước ai cũng gọi là “thầy cúng” để đứng bên chính quyền. Với mạng lưới báo chí bóp méo sự thật, nhà nước muốn chứng tỏ cả phong trào Phật Giáo đang đấu tranh là nhóm Cộng sản giả danh Phật tử.

Cách làm việc tráo trở gian lận như thế của chính quyền Ngô Đình Diệm khiến cho lòng dân thật nản, chỉ muốn đi hết về phía Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam của chính quyền cộng sản Bắc Việt mà thôi. Một số lớn tướng lãnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa vì thấy nguy cơ đó nên đã muốn lật đổ chính quyền Diệm, nhưng họ sợ Hoa Thịnh Đốn sẽ ngưng viên trợ thì rất nguy cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa miền Nam. Miền Bắc có viện trợ của Nga và Trung Quốc nên nếu Miền Nam không còn viện trợ của Hoa Kỳ thì e Miền Nam sẽ thua ngay quân đội miền Bắc. Nhưng Tổng Thống Kennedy vẫn chưa chấp nhận buông chỗ đứng của ông Ngô Đình Diệm. Phẫn uất quá, thầy Nguyên Hương đã theo gương Hòa Thượng Quảng Đức ngồi yên trong lửa đỏ ở Phan Thiết ngày 04 tháng 08. Ni sư Diệu Quang cũng tự thiêu cùng ngày ở Nha Trang, còn thầy Thanh Tuệ hy sinh ngày 13 tháng 08 ở Huế và Đào Thị Yến Phi ở Khánh Hòa. Nhiều bạn Tây phương đã hỏi tại sao người Việt Nam dám làm hành động tự thiêu giống như là bạo động với chính mình vậy.

Tự thiêu có phải là tự sát không?

Theo cái nhìn của tôi, dựa theo tuệ giác mà tôi học được từ Bụt Thích Ca thì mạng sống của người chỉ là những biểu hiện trong một giai đoạn trên đại dương của sự sống mênh mông. Sự biểu hiện đó tùy thuộc vào những kết quả của hành động của mình, kết quả hành động của cha mẹ và tổ tiên (nghiệp báo của tổ tiên huyết thống, tổ tiên đất đai và tổ tiên tâm linh) của mình. Mình có thể xoay chiều sự biểu hiện từ xấu thành khá hơn, đỡ hơn rồi tốt hơn nhờ bắt đầu tu sửa ngay cách tư duy, nói năng và hành động về hướng tốt đẹp hơn. Khi tình trạng chung của xã hội đi về hướng độc ác xấu xa, người học hạnh tỉnh thức sẽ gắng tạo một hành động nào có tính cách đánh mạnh vào lòng từ bi của mọi người, đánh thức mọi người tỉnh dậy trước bao nhiêu tình huống mê mờ.

Hàng ngàn tăng ni Việt Nam lúc ấy đã thực hiện chung bao nhiêu lần nhịn ăn cầu nguyện… Tại chợ Bến Thành, trước cửa chùa Xá Lợi, trên đường Bà Huyện Thanh Quan,… cả trăm tu sĩ ngồi im thở giữa đường khi đoàn binh sĩ chĩa súng vào mình. Có những thầy trong đoàn biểu tình khi bị thảy lựu đạn cay vẫn cố gắng đi đến người cảnh sát để tặng hoa cho người thảy lựu đạn cay ấy, tặng hoa cho người đang cầm gậy gộc đánh mình… Tu tập bất bạo động từng ấy, tăng ni Việt Nam vẫn chưa cảm hóa được chính quyền Ngô Đình Diệm nên Hòa Thượng Quảng Đức phải dùng hành động kêu gọi thống thiết nhất, bi thương nhất nhưng vẫn không mất bớt lòng từ bi. Thư để lại của ngài Quảng Đức không một tiếng nặng lời với những người đối xử tệ với Phật tử Việt Nam. Một mình Hòa Thượng Quảng Đức đốt lên ngọn lửa thiêng như thế chắc cũng đủ. Nhưng đối với các bạn Tây Phương chưa hiểu nhiều về văn hóa Á Đông, tôi hay giải thích một cách đơn giản hơn. Tôi nói: khi ta cần mua vật gì ta phải trả bằng một giá. Mà giá cả cao nhất mà ta có thể trả là mạng sống của chính mình. Người Việt chúng tôi thấy không phải chết là hết. Niềm tin, tình thương lớn của Hòa Thượng Quảng Đức đang bừng cháy nơi bao con tim Việt Nam và thế giới. Ngài cũng như Gandhi, vẫn còn sống, còn đang biểu hiện trong nhiều người chúng ta. Người tự thiêu đã không chết mà còn tái sinh ngay trong những người chứng kiến, hay nghe đến sự hiến tặng sự sống kia, bằng một loại năng lượng vô cùng tỉnh táo và tràn đầy thương yêu.

Bắt hơn hai nghìn tăng ni và sinh viên Phật tử

Ngày 20 tháng 08 năm 1963, lúc hai giờ sáng, cảnh sát công an đánh úp tất cả những chùa lớn vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định và các thành phố lớn của Việt Nam, nơi có phong trào Phật tử đấu tranh. Họ đánh úp các chùa và bắt hết tất cả những ai có mặt trong chùa Xá Lợi, Ấn Quang, Từ Nghiêm, Dược Sư (Sài Gòn), Từ Đàm, Báo Quốc (Huế), Linh Sơn (Đà Lạt), v.v… Hơn 2.000 tăng ni cư trú trong các ngôi chùa lớn này bị còng tay bỏ lên xe bít bùng đưa đi đâu mất. Cùng ngày ấy, tất cả những ai có tên trong danh sách Đoàn Sinh Viên Phật Tử đều có công an đến tận nhà còng tay bắt đi. Mười hai người công an bao vây nhà tôi ở tại đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Từ năm 1962, sau khi ba tôi chết, má tôi lên Sài Gòn ở với em Mười và tôi tại nhà anh chị Tám. Khi họ đập cửa và anh Tám tôi ra đón họ thì họ cho biết cần vào đây bắt thằng Cao Ngọc Phượng gian tặc phá rối an ninh quốc gia. Anh Tám tôi nói: Ở đây không có thằng gian tặc nào tên Cao Ngọc Phương nhưng có cô Cao Ngọc Phượng, nữ giảng nghiệm viên Đại Học Khoa Học, là em vợ tôi. Tôi là Nguyễn Trung Ngôn, tổng giám đốc Nha Hàng Không Dân Sự của chính phủ, anh ruột của anh Nguyễn Trung Trương làm việc ở Bộ Nội Vụ, Trưởng Nha Thanh Tra Cảnh Sát Công An trên toàn quốc. Hai anh thanh tra công an nhìn nhau và nói nhỏ “Sếp của mình”. Thế là họ đứng dậy xin lỗi chào giã từ. Khi anh Tám đưa sáu người ra cửa thì thấy bốn người khác đi ra từ bốn góc vườn nhà và hai người nhảy từ trên nóc nhà xuống. Thì ra quyết định bắt cho được gian tặc nên từng đó người họ phải chia ra, người vào nhà, người leo lên nóc, cố tóm cho được con người ghê gớm… là tôi! Chiều ngày hôm đó khi bắt các bạn tôi lên tra tấn, công an đã nói với các bạn tôi rằng chính tôi giao hết hồ sơ và điểm chỉ cho họ bắt hết các bạn. Thử tưởng tượng các bạn tôi khổ đau dường nào khi nghĩ lầm rằng chính tôi – người mà họ đặt hết niềm tin – lại phản phúc họ! Sau này nhiều bạn có thuật cho thầy Nhất Hạnh nghe về sự kiện đó và nói, họ không tin là tôi tố cáo họ nhưng có thể là các anh chị tôi đã làm điều đó. Nghe vậy tôi rất đau và chắc chắn 100% không hề có chuyện đó. Thứ nhất là anh Nguyễn Trung Trương, Trưởng Nha Thanh Tra Bộ Nội Vụ chưa bao giờ tới nhà anh chị Tám tôi chơi và không hề biết tôi rất năng nổ trong phong trào Phật giáo. Các anh chị khác của tôi thì hết lòng ủng hộ phong trào, cũng đi biểu tình, tuyệt thực cầu nguyện và tôi cũng chưa lần nào làm danh sách các bạn trong Đoàn Sinh Viên Phật Tử dù là để làm tài liệu.

Sáng đó vừa nghe tin quý thầy ở chùa Xá Lợi và Ấn Quang bị bắt mà còn nghe tiếp tất cả các bạn tôi đều vào tù, tôi điên tiết chỉ muốn tự thiêu như ngài Quảng Đức, chỉ muốn la hét hay đi vào tù như các bạn. Trưa đó vào trường đại học tôi thưa với giáo sư Phạm Hoàng Hộ là tôi chỉ muốn xé bỏ hết công trình nghiên cứu về rong nước ngọt của tôi, chỉ muốn tự thiêu hay đi vào tù thôi. Giáo sư Hộ là một khoa học gia mẫu mực, suốt ngày giáo sư chỉ vùi đầu vào nghiên cứu. Nhưng giáo sư ngồi lắng nghe tôi vừa nói vừa khóc xong thì giáo sư tự ngồi xuống thảo một thỉnh nguyện thư yêu cầu chánh quyền ngưng đàn áp tôn giáo và chính giáo sư là người ký tên đầu tiên vào danh sách. Giáo sư Phạm Hoàng Hộ là một khoa học gia lớn thuần túy ưu tư về khoa học nên chữ ký của người rất có giá trị. Trong một buổi sáng tôi đã xin được 79 chữ ký của thành phần giảng huấn các đại học. Ngày 21 tháng 08 năm 1963 chúng tôi đã họp báo công bố danh sách này rồi gửi ngay cho chính quyền Ngô Đình Diệm và sẵn sàng vào tù ngồi khi cần. Cùng ngày này, bộ trưởng Bộ Ngoại Giao chính phủ Ngô Đình Diệm là ông Vũ Văn Mẫu đã cạo đầu, đệ đơn từ chức và đứng ra họp báo tố cáo sự dã man của chính quyền Diệm.

Phong trào thanh niên và học sinh các trường trung học tranh đấu cho tự do tín ngưỡng

Vì các vị xuất gia đã bị bắt và những vị lãnh đạo tinh thần của sinh viên cũng bị bắt nên học sinh các trường trung học và thanh niên các chợ, các công sở quyết định đứng ra tranh đấu. Ngày 25 tháng 08 năm 1963 hàng ngàn học sinh Phật tử các trường trung học Trưng Vương, Chu Văn An, và các trường tư thục tập họp tại chợ Bến Thành để biểu tình đòi tự do tôn giáo. Cảnh sát đã nổ súng vào đoàn người trẻ biểu tình, nhiều em bị thương và một nữ sinh trường Trưng Vương mười sáu tuổi tên Quách Thị Trang đã chết ngay tại công trường chợ. Thù hận và phẫn uất ngút ngàn, nhiều thanh niên, dù gia đình đã từng là nạn nhân của cộng sản từ miền Bắc vào cũng phải giã từ bạn bè đi vào chiến khu của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thôi.

Ngày 09 tháng 09 năm 1963, sinh viên, học sinh lại đổ xuống đường biểu tình đòi tự do tín ngưỡng nữa khi vừa hay tin nữ sinh Mai Tuyết An ngã quỵ tại cổng chùa Xá Lợi vì cô bé tự lấy búa chặt nguyên bàn tay của cô để cúng dường tổng thống Ngô Đình Diệm và ông bà Ngô Đình Nhu, cầu mong họ tỉnh dậy, đừng làm khổ dân lành nữa.

Khi hay tin Mai Tuyết An chặt tay, giáo sư Phạm Hoàng Hộ nhìn tôi thật buồn và hỏi: Cô Phượng có muốn đi Pháp để hoàn tất luận án của cô không? Tôi sẽ lo giấy tờ giới thiệu cô như nhân viên của nhà nước (trường đại học) để đi công tác khoa học, giấy tờ sẽ đi rất nhanh, đi ngả ngoại giao, không qua đường bộ Nội Vụ thông thường. Qua đấy tôi sẽ gửi gắm cô cho giáo sư Bourrelly vốn là chuyên viên rong nước ngọt để tiếp tục hướng dẫn cô và cả giáo sư đỡ đầu luận án tiến sĩ của tôi là giáo sư Feldmann để chánh thức đỡ đầu luận án luôn cho cô. Tôi im lặng xin chờ vài ngày để suy nghĩ lại. Vài giờ sau tôi đã có ý mới, vì không còn làm gì ở đây được để tranh đấu cho quyền làm người Phật tử nữa, chi bằng tôi đi Pháp để họp báo nói rõ những gì xảy ra ở Việt Nam cho thế giới biết và làm áp lực với chánh quyền Ngô Đình Diệm. Tuy tôi không tự thiêu nhưng tôi cũng sẽ làm một hành động rất xúc động lòng người: tôi sẽ cạo mái tóc đen dài óng mượt của tôi mà gửi tặng tổng thống Diệm cầu xin ông nghe được tiếng nói đau thương của dân tộc mà sống cho xứng đáng với kỳ vọng của toàn dân. Nghĩ đến đây tôi có nhiều hy vọng và quyết định trở vào xin giáo sư Hộ cho phép tôi được đi Pháp trình luận án. Nghe tin này và nghe ý định của tôi, mẹ tôi phát tâm đan ngay cho tôi chiếc mũ len để che đầu trong cơn gió rét mùa đông Paris.

Giáo Hội Phật Giáo giả hiệu

Ngày tôi sắp ra đi chợt nghe nhiều Phật tử điên lên vì giận khi hay tin nhà nước Ngô Ðình Diệm lập ra một Giáo Hội Phật Giáo giả hiệu, quy tụ các ông thầy cúng thuộc Phái Cổ Sơn Môn không biết kinh điển, không biết những điều Phật dạy gì hết, cũng có vợ, cũng ăn thịt cá như mọi người cư sĩ. Song song với việc đó, lại nghe nhà nước thuyết phục được thầy Thích Thiện Hòa là vị thầy rất đạo cao đức trọng, người đứng ra bảo lãnh cho 2.000 tăng ni mới bị nhà nước hốt, bỏ tù và tra tấn, những người được xem là cốt cán… Sự phẫn uất càng cao chừng nào thì thanh niên Phật tử lại càng có ý ngả theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chừng ấy. Nhiều thanh niên sinh viên trong đường đại học tôi dạy đã đến chào tôi đi vào chiến khu. Em đi cứu nước khỏi chế độ độc tài này trước, rồi sau này sẽ giải quyết chuyện chống cộng sau.

Thầy Nhất Hạnh nhịn ăn và cầu nguyện tại Liên Hiệp Quốc

Trong thời gian này, thầy Nhất Hạnh đang ở Hoa Kỳ, thầy nhận được tập tài liệu 45 trang về sự vi phạm nhân quyền do Giáo Hội gửi qua. Thầy đã dịch ra tiếng Anh, lập 111 tập hồ sơ để gửi cho 111 thành viên LHQ và đã trình lên Hội Đồng Liên Hiệp Quốc yêu cầu cứu xét gấp. Để được sự chú tâm của Hội Đồng LHQ, thầy đã nhịn ăn cầu nguyện cho Việt Nam tại một ngôi chùa gần đấy và có mời báo chí tới nói chuyện. Thầy cũng đã đi gặp riêng một số nhân vật quan trọng trong Hội Đồng LHQ để nói chuyện riêng, yêu cầu họ đưa ra bàn cãi gấp trong Hội Đồng.

Tôi đến Paris

Tôi đến Paris ngày 24 tháng 10 năm 1963. Tôi gặp được một số bạn Phật tử hứa sẽ cùng tổ chức cho tôi cuộc họp báo nói về sự vi phạm tự do tôn giáo tại Việt Nam vào ngày 04 tháng 11 năm 1963, và cắt mái tóc dài của tôi mà tặng cho ông Ngô Đình Diệm. Tuy ở Pháp nhưng tôi vẫn giữ chiếc áo dài Việt Nam, vẫn giữ mái tóc dài nên có thể khi họp báo, cắt mái tóc dài cũng đánh động được dư luận.

Ngày 01 tháng 11 năm 1963, chỉ bốn ngày trước ngày tôi định họp báo, thì quân đội Việt Nam Cộng Hòa đảo chính được chính quyền Ngô Đình Diệm. Nghe nói hai anh em ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị một sĩ quan được lệnh lái xe cho hai anh em nhà Ngô đi trốn, đã quay súng lại bắn chết hai vị này ngay trên xe. Tôi đến nhà thờ quận Latin Paris để dự lễ cầu hồn cho hai ông. Lòng tôi bình an không một chút oán thù. Tôi thương cho hai người là nạn nhân của cái thấy sai lầm về đất nước và dân tộc Việt Nam, bị cái nhìn sai lệch kia đưa họ đi quá xa trên con đường tội lỗi. Thảm kịch nhà Ngô Đình Diệm đã qua nhưng bài học đau thương còn đó cho những vị lãnh đạo hàng triệu người dân Việt. Ta phải rất khiêm cung về cái thấy của mình về tình trạng đất nước, về văn hóa, về lịch sử và về tín ngưỡng của toàn dân. Phải lắng nghe, phải quán chiếu lại thường xuyên cách hành xử của mình, phải hỏi thăm thường xuyên xem cách hành xử của mình có đúng tâm tư nguyện vọng của đại đa số không.

Sau này tài liệu bí mật về Ngũ Giác Đài được phanh phui, và người ta đọc được những dòng như là: Ngũ Giác Đài đã ra lệnh cho tướng lãnh Việt Nam lật đổ Ngô Đình Diệm. Đó chỉ là cái thấy đứng về phía Ngũ Giác Đài. Thật ra chúng tôi được biết khi chính sách đàn áp dã man tráo trở của anh em nhà Ngô đối với Phật giáo xảy ra, nhiều người yêu nước thấy chỉ có một con đường thoát là theo cộng sản, làm cho một số tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa thấy tình trạng quá nguy kịch. Bên cộng sản thì được sự ủng hộ vũ khí của Nga và Trung Quốc, còn bên quốc gia chống cộng thì ít nhất phải có sự ủng hộ vũ khí của Hoa Kỳ, nên các tướng lãnh có lời đề nghị chính quyền Hoa Kỳ nên tiếp tục ủng hộ miền Nam nếu họ lật đổ Ngô Đình Diệm. Hoa Kỳ đã nhiều lần không đồng ý cho tới khi tình trạng quá tệ, cả thế giới đều thấy toàn dân Việt Nam quá đau khổ vì sự tàn ác của nhà họ Ngô nên mới “đồng ý” để tướng lãnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa đảo chính ông Diệm. Thật ra không ai ra lệnh lật đổ ai, chính gia đình Ông Ngô Đình Diệm tự lật đổ mình bằng cái thấy hẹp hòi của chính mình, bằng cách làm việc độc tài, muốn biến một nền văn hóa dân tộc thành một nền văn hóa lai căng phương Tây.

Biết rằng chế độ độc tài đã chấm dứt, tôi hủy cuộc họp báo tặng mái tóc cho nhà họ Ngô và để hết thì giờ lo việc làm cho xong luận án rong nước ngọt của tôi. Bỗng một tối kia tôi nhận được cú điện thoại liên Đại Tây Dương do thầy Nhất Hạnh gọi sang. Khi vừa đặt chân lên đất Pháp ngày 24 tháng 10 năm 1963, tôi đã viết ngay cho thầy một bức thư thuật đầy đủ những đàn áp xảy ra mà ở Việt Nam tôi không thể viết, e bị kiểm duyệt và có thể nguy hiểm cho những người trong nước quanh tôi. Tôi cũng báo tin là tôi sẽ họp báo và cúng dường mái tóc cho nhà Ngô. Vì mới tới, chưa biết cách, tôi đã gửi thư đi Hoa Kỳ mà chỉ dán con tem dành gửi thư trong nước Pháp nên ba tuần sau thư mới tới!

Ði New York lần đầu

Câu đầu tiên mà thầy hỏi tôi: Con đã cạo mái tóc chưa? – Dạ thưa chưa! Thầy có vẻ vui và cố thuyết phục tôi đi thăm thầy một tuần thôi ở Nữu Ước. Thầy bảo thầy cần sự góp ý của tôi vì tôi đại diện cho thế hệ trẻ tin tưởng nơi thầy, quyết chí đi theo con đường làm mới Phật giáo của thầy để xây dựng đất nước dân tộc. Thầy mới được ông viện trưởng Viện Đại Học Columbia Nữu Ước Hoa Kỳ mời làm khoa trưởng Khoa Việt Học mà trong đó thầy có thể lập nhiều ban ngành như văn chương, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng dân gian… để dạy cho thế giới biết về văn minh Việt Nam. Ông viện trưởng nói rằng trong tình trạng Việt Nam hiện tại, rất khó cho những người trí thức sống đời trung thực như thầy sống sót ở đất nước đó. Ở đây, làm Phân Khoa Việt Học cho Viện Đại Học nổi tiếng này cũng là một cách phụng sự cho đất nước Việt Nam. Thầy không nói tiếp nhưng tôi cũng “nghe” được tiếng thở dài của thầy là sẽ không về vì những ông thầy tu quá thủ cựu kia cứ ngăn chặn những cố gắng của thầy và làm khó dễ với thầy trăm cách! Tôi quyết định xin nghỉ hai tuần để đi New York gặp thầy, bàn bạc kỹ về cách làm mới đạo Phật và thiết lập những cơ cấu xây nền cho một cuộc xây dựng công bằng xã hội cho Việt Nam. Mục đích chuyến đi này là nhất định thuyết phục thầy bỏ cái chương trình ở lại Hoa Kỳ lập Phân Khoa về Việt Học tại Columbia, một trong những đại học lớn nhất ở đây. Tôi chưa biết rõ tầm quan trọng của chương trình này nhưng tôi biết rất rõ là Việt Nam cần thầy. Chúng tôi, những người trẻ thao thức về tương lai Phật giáo, về sự làm mới đạo Phật để làm cái gì cấp thiết giúp cho đồng bào đau khổ Việt Nam, đang và sẽ rất cần thầy. Mặt khác thì tôi cũng quá vui vì sắp gặp lại vị thầy quý kính của tôi.

Khi đến Nữu Ước ngày 15 tháng 11 năm 1963, tôi chờ đợi sẽ tiếp tục phải ăn những món ăn Tây phương như là khoai tây tán, yaourt, fromage… như những món tôi thường dùng trong các quán cơm cho sinh viên ở Paris. Nhưng tôi đã vô cùng ngạc nhiên khi bước vào appartment nơi thầy và anh Steve, một sinh viên làm luận án tiến sĩ đã chia tiền mướn ở số 306 W đường 109 trung tâm Mahattan. Không khí căn nhà thật Việt Nam với cơm trắng, với rau luộc và món đậu hũ rim mặn với nấm đông cô thật đậm đà đang chờ ba thầy trò. Suốt thời gian tôi ở Nữu Ước thầy đã dạy tôi nấu nhiều món ăn chay thật ngon và thật khéo. Thầy, Steve và tôi đêm nào cũng ngồi hát chung vài bản nhạc Pháp, Anh hay Việt. Khi Steve đi ngủ, tôi lại kể cho thầy nghe từng chi tiết những diễn trình tranh đấu bên nhà. Thầy trò thức thật khuya. Nên về hay không nên về? Ai xây dựng công bằng xã hội đây thưa thầy? Thầy sẽ thỏa chí phụng sự văn minh Việt Nam trên công trình nghiên cứu và dạy dỗ thế giới, còn tại Việt Nam ai sẽ xây dựng công bằng xã hội đây thưa thầy? Chúng con ở nhà sẽ tiếp tục tự mình đi thôi dù không có thầy, nhưng liệu chúng con có đủ tuệ giác và đủ uy tín khi không có thầy hướng dẫn không? Cuộc tranh đấu vừa qua chứng tỏ chúng con cũng không tệ lắm! Nhưng tuệ giác của thầy bằng một trăm lần tuệ giác của mấy chục đứa con nhập lại ngày xưa ở chùa Ấn Quang khi có pháp đàm thầy nhớ không? Thầy cười tươi vì thấy niềm tin của chúng tôi nơi thầy không suy giảm. Ông Ngô Đình Diệm đổ, các bạn tới tấp gửi thư khẩn khoản thầy về. Mục đích tôi đi New York cũng chỉ từng ấy nguyện vọng: Thầy phải về. Dạy văn minh Việt Nam cho thế giới làm gì? Khi mà Việt Nam ngày nay vẫn chưa đủ văn minh. Khi tôi vừa tới New York, thầy có viết tặng chúng tôi, thế hệ trẻ có niềm tin nơi thầy bài Bướm Bay Vườn Cải Hoa Vàng. Bài này thầy dặn đem ra đọc khi làm việc nhiều quá mệt nhọc và căng thẳng. Đọc để tiếp xúc lại với những hình ảnh ngọt ngào tươi mát của bản môn rồi lại tiếp tục công tác dấn thân:

Mười năm vườn xưa xanh tốt

Hai mươi năm nắng dọi lều tranh

Mẹ tôi gọi tôi về

Bên bếp nước rửa chân

Hơ tay trên bếp lửa hồng,

Đợi cơm chiều khi màn đêm buông xuống.

 

Tôi không bao giờ khôn lớn,

Kể gì mười năm hai mươi năm ba mươi năm

Mới hôm qua đây, tôi thấy bướm bay từng đàn rộn rã trong khu vườn cải hoa vàng

Mẹ và em còn đó

Gió chiều như hơi thở

Mơ gì một mảnh tương lai xa xôi?

 

Gió mang tiếng ca. Ngày ra đi em dặn:

“Nếu ngày về thấy khung trời đổ nát,

Thì tìm tôi trong tận đáy hồn anh!

Tôi đã về, có tiếng hát ca, bàn tay trên liếp cửa

Hỏi rằng:Có tôi hôm nay đây, tôi giúp được gì?

Gió thì thầm: em nên hát ca

Bởi vì hiện hữu nhiệm mầu.

Hãy là đóa hoa, hãy là nụ cười

Hạnh phúc có bao giờ được dựng xây bằng vôi với gạch?

Hãy thôi là nguồn khổ đau cho nhau

Tôi tìm em.

(Như đêm giống tố loạn cuồng

Rừng sâu đen tối

Những cành cây sờ soạng,

Đợi ánh chớp loè ngắn ngủi

Thấy cần được hiện hữu bên nhau, tìm nhau)

Em hãy là đóa hoa đứng yên bên hàng dậu

Hãy là nụ cười, là một phần của hiện hữu nhiệm mầu.

 

Tôi đứng đây. Chúng ta không cần khởi hành

Quê hương chúng tôi đẹp như quê hương của tuổi thơ,

Xin đừng ai xâm phạm – tôi vẫn còn hát ca.

Đầu còn gối trên thánh kinh,

sáng nay tôi nghe xôn xao trong nắng mai vũ trụ

đang được những con ong vàng siêng năng bắt đầu khởi công tạo dựng

Công trình xây dựng ngàn đời

Nhưng công trình, em xem, đã được ngàn đời hoàn tất.

Bánh xe nhiệm mầu chuyển hoài đưa chúng ta đi tới

Nắm lấy tay tôi em sẽ thấy chúng ta đã cùng có mặt từ ngàn xưa trong hiện hữu nhiệm mầu.

Tóc mẹ tôi còn xanh và dài chấm gót

Áo em tôi phơi còn phất phơ bay trước dậu

Nắng ấm mùa thu

Tôi ở đây. Chính thực là vườn xưa

Những cây ổi trái chín thơm

Những lá bàng khô thắm

Đẹp

Rụng

Còn chạy chơi la cà trên sân gạch

Tiêng hát vẳng bên sông

Những gánh rơm thơm vàng óng ả

Trăng lên quây quần trước ngõ

Vườn cải hoa vàng, chính mắt tôi vừa thấy sáng qua

Tôi không ngủ mơ đâu,

Ngày hôm nay đẹp lắm thật mà

Em không về chơi trò bắt tìm nơi quá khứ

Chúng mình còn đây, hôm nay, và ngày mai nữa,

Đến đây

Khi khát ta cùng uống ở một giếng nước thơm trong.

Ai nói cho em nghe rằng Thượng Đế đã bằng lòng cho con người khổ đau đứng dậy hợp tác cùng người?

Chúng ta đã từng nắm tay nhau từ muôn vạn kiếp,

Khổ đau vì không tự biết là lá là hoa

Em hát ca đi. Bông cúc cười theo em bên hàng dậu

Đừng bắt chúng tôi nhúng hai tay vào vôi cát,

Những ngôi sao trời không bao giờ xây ngục thất cho chính mình

Để cho chúng tôi hát ca. Để cho chúng tôi là những đóa hoa.

Chúng tôi đang ở trong cuộc đời – mắt chúng tôi chứng minh cho điều ấy.

Bàn tay cũng là hoa. Đừng biến bàn tay em thành dây chằng

Thành khớp rằng cưa

Thành móc sắt.

Hiện hữu không kêu gọi tình thương.

Hiện hữu không cần ai phải thương ai

Nhưng em phải là em, là đóa hoa, là bình minh hát ca, không đắn đo suy tính

Xin ghi vào đây một tân ước nữa của tất cả chúng ta

Và xin vẫn nghe lời tôi như nghe suối reo, như nhìn trăng sáng

Em về, đưa Mẹ về cho tôi thăm

Cho tôi hát em nghe, để tóc em sẽ dài xanh như tóc Mẹ.

Một tuần sau khi tôi đến Nữu Ước, thầy nhận được điện tín của thầy Trí Quang viết: Nhất Hạnh phải về gấp, Phật giáo và đất nước đang cần thầy. Tôi thấy được nỗi cảm động của thầy khi cầm điện tín trong tay. Thật là vô thường! Mới hôm nào thầy khổ đau vì cấp lãnh đạo không bao giờ nâng đỡ những cố gắng của thầy trong công trình làm mới đạo Phật, nhất là thầy Trí Quang bậc trưởng thượng mà thầy trông đợi. Mấy hôm sau, một bức thư gửi qua bưu điện do chính tay thầy Trí Quang viết gửi những dòng sau đây: Nhất Hạnh nên về lo Phật sự, tôi già rồi không lo nổi trách vụ lớn lao này.

Bức thư thầy Trí Quang là giọt nước cuối, thúc đẩy thầy quyết định về thôi. Hy vọng lần này có sự yểm trợ của thầy Trí Quang, chuyện làm mới đạo Bụt sẽ hanh thông hơn.

Tôi hứa trở lại Paris trình thật sớm luận án rong nước ngọt để trả nợ ơn nghĩa với giáo sư Phạm Hoàng Hộ, sau đó sẽ về nước ngay để hợp tác cùng thầy trong công trình làm mới đạo Bụt và xây dựng công bình xã hội cho Việt Nam.

Trên đường về nước vào tháng 12, thầy ghé lại Paris cùng với chị Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh, chị của Phùng Thăng. Sau này xuất gia chị trở thành ni sư Trí Hải.

Thầy có thuyết pháp cho đồng bào tại Paris và ngày 16 tháng 12 năm 1963 thầy bay về Việt Nam.

Chương 4: Khoa học và lý tưởng phụng sự người khổ

52 năm theo thầy học đạo và phụng sự – Hồi kí của Sư cô Chân Không


Như đã nói trên, không hiểu sao mà mùa hè năm 1959, trong số hơn 1.000 thí sinh SPCN mà chỉ có năm người thi đậu và tôi đứng hạng thứ hai.

Tôi may mắn có được di thể nhớ dai của ông ngoại nên chừng non hai tháng trước khi thi, tôi bắt đầu nghĩ là nếu mà tôi thi rớt chắc là ba tôi sẽ buồn lắm! Nhớ gương mặt hớn hở của ba tôi đi báo tin từ làng trên đến xóm dưới mỗi khi tôi giựt được một mảnh bằng, nên tôi phải lên kế hoạch gấp để học bài thi. Tuần thứ nhất tôi dò khoảng 1.000 trang những bài Sinh Động Vật Học, tuần thứ hai dò cũng từng ấy trang các bài Sinh Thực Vật Học, tuần thứ ba tôi lại vùi đầu trong một ngàn trang về Địa Chất Học và tuần thứ tư về lý và hóa học. Hai môn này thường có ít bài học nhưng phải làm nhiều lý giải. Tôi đâu có giờ ngồi làm lý giải và cũng không có Khá ngồi làm bài với tôi. Tuần thứ năm tôi ôn lại vừa Sinh Thực Vật vừa Sinh Động Vật lần thứ hai, tuần thứ sáu vừa Địa Chất vừa Hóa lần thứ hai, tuần thứ bảy tôi ôn lại tất cả các môn lần thứ ba và tuần thứ tám tất cả các môn lần thứ tư. Tôi say mê thiên nhiên nhất là những tuổi đá của địa chất, cách cấu trúc của từng loại đá nên nghe nói bài của tôi về địa chất trong kỳ thi đó được 19 trên 20 điểm. Nhờ thế tôi được là người cao điểm thứ hai. Cũng nhờ thế tôi được tuyển ngay vào làm trong phòng thí nghiệm Sinh Thực Vật sau mùa hè năm đó.

Khoa học thiên nhiên và đạo Phật

Song song với hạnh phúc sống trọn trong các xóm nghèo, tôi cũng hạnh phúc khi có dịp đi nghe thuyết pháp hay được nghe giảng Phật pháp nơi này nơi kia. Được làm phụ tá phòng thí nghiệm (chế nghiệm viên) Sinh Thực Vật, tôi được theo giáo sư Phạm Hoàng Hộ đi cùng với sinh viên toàn ban Sinh Vật Học đi du khảo cây cỏ vùng Suối Lồ Ô, cây cỏ vùng đèo Chuối, Bảo Lộc, Di Linh, đèo Prenn, cả vùng Đà Lạt, đèo Ngoạn Mục, Phan Rang Phan Rí, Nha Trang, Đại Lãnh, Rừng Lá, Vũng Tàu… Đi nơi nào cũng là niềm vui lớn được nhìn sâu vào cây cỏ, sự tương tức, tồn vong, sinh thái của từng vùng. Giáo sư Hộ thích đưa tôi đi theo vì nhờ có trí nhớ tốt, tôi thuộc ngay các tên La Tinh, thuộc từng gia đình thực vật cây cỏ nào mà giáo sư đọc lên phân tách. Tôi cho vào “đĩa cứng” trong đầu tôi rồi sau đó tôi giải thích lại rành rọt cho các sinh viên, rất đỡ việc cho thầy Hộ. Nhưng song song với việc được đi học về cỏ cây hoa lá tôi còn có dịp đi thăm các chùa mỗi nơi tôi đến. Tại Đà Lạt tôi được gặp vị trú trì ngôi chùa Linh Sơn trên đỉnh đồi thành phố: thầy Mãn Giác. Khi thầy Mãn Giác mà cười trông thật vui mắt, vì toàn người thầy đều cười theo! Tôi đến để hỏi đạo nhưng thầy thì rất lười trả lời theo lối thầy Thanh Từ. Tôi hỏi về tự biến cộng biến. Thầy không trả lời mà đi vào mở tủ sách đem tặng cho tôi một bài báo của thầy Nhất Hạnh viết trong nguyệt san Liên Hoa xuất bản tại Đà Lạt và bảo: “Đọc xong, con sẽ có đủ câu trả lời hết trong ấy trong đó dĩ nhiên là có bài Tự Biến Cộng Biến”. Tôi lại hỏi về những từ ngữ khác của đạo Phật mà khi đọc sách Phật pháp tôi không hiểu. Ví dụ như chánh kiến khác với chánh tư duy ra sao? Thầy Mãn Giác lại cũng không trả lời mà đi vào lấy cho tôi thêm quyển Để Hiểu Đạo Phật của Phương Bối (sau này tôi mới biết cũng là của thầy Nhất Hạnh). Tôi chia sẻ những ưu tư của tôi về Thiên chúa, Cộng sản, Phật giáo… thầy lại đi tìm cho tôi quyển sách thứ ba: Đạo Phật Qua Nhận Thức Mới của Thạc Đức (sau này tôi mới biết, lại cũng là thầy Nhất Hạnh). Tôi hơi chán cái ông thầy không trả lời cho mình mà chỉ tặng sách của người khác! Thầy hỏi và được biết tôi từ Bến Tre, thầy bèn cho tôi địa chỉ chị Thu Hà cũng là người Bến Tre và học kỹ sư ở Trường Nông Lâm Bảo Lộc. Khi chào thầy ra về, tôi thấy vui vui vì sắp được làm quen với một người bạn đạo. Chị Thu Hà vốn là bạn học cùng lớp với chị Bảy tôi, hơn tôi đến sáu tuổi. Mấy chị của tôi có khi nào thích cái chuyện đi chùa tìm hiểu đạo của tôi đâu. Về Sài Gòn tôi liên lạc ngay với chị Hà và được chị báo tin là sắp có một lớp học giáo lý 10 tuần liên tiếp do thầy Nhất Hạnh dạy tại chùa Xá Lợi, dành riêng cho sinh viên các phân khoa. Chùa Xá Lợi rất gần nhà cậu Bảy của tôi mà tôi được cưu mang từ ba năm nay, vì lúc đó chị Ba của tôi giận anh Ba và đưa các cháu về Bến Tre nên tôi không thể ở một mình với anh Ba. Tượng Phật chùa Xá Lợi – hồi đó – là tượng Phật mà tôi thích nhất trong đời. Tượng đức Bổn Sư ngồi thật yên, chiếm hết cả bức tường trên chánh điện, bằng thạch cao màu da người. Không phải là những tượng Phật mặt sơn trắng, môi sơn son đỏ, áo sơn màu vàng ròng, ngồi trên hoa sen cũng bằng vàng màu mè quá sặc sỡ, không tỏa rạng sự bình an. Tới chùa Xá Lợi, tôi chỉ không thích các sinh hoạt của Gia Đình Phật Tử tại đây, rất ồn ào, thổi tu huýt hoét hoét như cảnh sát la các bà bán hàng rong, nhiều người tuổi đã lớn mà nắm tay chạy quanh, quây một vòng, nhảy mà chơi. Nhưng chúng tôi cũng nhờ chùa này mà họp bạn bảo trợ các xóm nghèo, đổ gạo xin được từng bao nhỏ ra, đong lại thành bao 15 ký để phân phát học bổng cho các em đường phố có dịp cắp sách đến trường.

Bài thuyết pháp rúng động tâm can

Sáng chủ nhật ngày 15 tháng 11 năm 1959, tôi đến chùa Xá Lợi dự lớp học đầu tiên với thầy Nhất Hạnh trong giảng đường nhỏ bên hông phải giảng đường lớn chùa này. Nghe chị Thu Hà nói thầy này giỏi lắm, rất nhiều sinh viên thích đi học với thầy nên tôi rủ được hai người sinh viên bạn là Đái Thị Minh và Võ thị Cưu cùng đến nghe thầy giảng. Cưu là bạn hàng xóm cùng tỉnh Bến Tre với tôi, từ khi Cưu lên Sài Gòn học Đại Học Văn Khoa, Cưu không còn dùng tên Võ thị Cưu nữa mà lấy tên lại là Võ Thư Cưu trích từ một bài thơ cổ: Quan quan thư cưu, tại hà chi chu, yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu... Thầy này sẽ giảng hay hay không, đối với tôi không quan trọng, vì tôi đã có thầy hay là thầy Thanh Từ rồi. Nhưng thầy tôi ở tận Trà Vinh. Tôi muốn cho các cô bạn vô thần của tôi là Minh và Cưu có dịp yêu đạo Phật.

Suốt trọn buổi giảng của thầy Nhất Hạnh, tôi cứ bồi hồi cảm động, chưa bao giờ tôi nghe một giảng sư Phật học nào mà nói về Phật pháp một cách thâm sâu như vậy, như đi vào tận chiều sâu nhất của tâm. Tôi nghe mà rúng động cả tâm can. Trời ơi, sao Phật có thể hay như thế, những điều Phật dạy đi vào thực tế gần gũi thế sao? Vậy mà lâu nay tôi chỉ nghe giảng được một loại đạo Phật quá lý thuyết. Tôi liếc nhìn Cưu và Minh. Hai cô cũng gục gật đầu thích thú. Nhưng hình như họ không có tàng thức tu học như của tôi nên tuy gật đầu thích thú, tuần sau Minh và Cưu bận học nên chẳng bao giờ trở lại học với thầy nữa. Còn thầy giảng sư thì cứ tưởng tôi tên là Võ Thư Cưu vì sau buổi giảng thầy có dạy mỗi người sinh viên ghi tên họ và vài hàng về phân khoa mình đang theo học và trao hết để thầy biết về người đến học khóa này. Tôi quá cảm động về bài giảng của thầy, nên về nhà có ngồi viết lại từ những ghi chú của mình, thành một bài Phật pháp hẳn hoi. Tôi vẫn làm như thế mỗi khi nghe một bài giảng quá hay của thầy Thanh Từ và có khi thầy sử dụng bài tôi viết để đăng báo Từ Quang, xem như của thầy viết. Chủ nhật tuần sau, tôi đến sớm, trước giờ giảng, tôi có lên thưa với thầy Nhất Hạnh là bài thầy giảng tuần qua quá hay, con có viết lại, thành một bài giảng và nếu thầy thích con xin trình để thầy chữa lại và sử dụng tùy nghi. Thầy nhìn tôi gật đầu, và quay sang nói chuyện với anh Võ Đình Cường. Suốt buổi giảng và sau buổi giảng, không nghe thầy nói gì về bài tôi viết nên tôi nghĩ rằng thầy chẳng cần, nên bỏ qua. Sau này tôi mới biết thầy đã là nhà văn viết bao nhiêu cuốn sách rồi, quả thực là tôi như người “điếc không sợ súng”. Ba tuần sau, một hôm trong phòng giảng nhỏ bên hông giảng đường to chùa Xá Lợi, tôi đang ngồi dò bài Sinh Thực Vật trong khi chờ đến giờ thầy giảng, thầy đã đến gần tôi và nhỏ nhẹ hỏi: Bài con viết và hứa đưa cho thầy đâu? Tôi giật mình cười tươi: A, dạ thưa… để con đem trình thầy tuần sau, con tưởng thầy không thích. Sau giờ giảng thầy bảo chị Thu Hà đưa các bạn tới giới thiệu thầy. Chị Hà giới thiệu: Dạ đây là Phượng, thầy hơi ngạc nhiên, sau này thầy có nói là trong lòng thầy cứ đinh ninh tôi là Võ Thư Cưu. Tôi có một lời cầu xin: Bạch thầy, bạn con tại đại học Khoa Học, toàn là người vô thần hay đạo Thiên Chúa. Họ nhìn đạo Phật rất cạn, con mong thầy cho chúng con được gặp sau mùa thi, vì mùa này chúng con phải học thi. Con xin gặp thầy vào thứ bảy cuối tháng ba, khi chúng con đã thi xong rồi mà chưa đi nghỉ hè, tại chùa này, được không bạch thầy? Thầy gật đầu. Tôi không bỏ sót một buổi giảng nào của thầy nhưng giảng xong là tôi chạy nhanh về để học thi, để lo việc của xóm nghèo của tôi. Tôi phải thi đậu để ba tôi vui lòng và tôi phải theo dõi sự làm ăn lương thiện của các bạn có khuynh hướng cờ bạc nhậu nhẹt ở xóm nghèo Quốc Thanh, vì thế ngày nào tôi cũng ghé qua xóm, hỏi thăm các bạn buôn bán ra sao và đi thu tiền “nợ” một hay hai đồng mỗi ngày để các bà con không ỷ lại. Tiền này, tôi đã dùng cho người khác làm vốn buôn bán hàng rong nho nhỏ, hay trả lại cho họ khi họ thua lỗ. Bây giờ khi nghĩ lại tôi cũng vui, đúng là tôi đã tiếp nối sự nghiệp giúp đất cho những người tá điền của ba tôi. Tôi đã phụng sự đồng bào như nội tôi căn dặn.

Gặp vị thầy mong đợi

Cuối tháng ba 1960, thi đậu xong chứng chỉ Sinh Thực Vật, tôi đưa các bạn Duy, Tân Anh, Minh, Georgette, Đào… tới gặp thầy Nhất Hạnh ở Xá Lợi (Tôi nghĩ đơn giản, thầy thì phải ở chùa này vì mình học thầy ở đây, mới chấm dứt khóa học mười buổi chủ nhật vào đầu tháng hai dương lịch thì nay là cuối tháng ba thầy ở đây chứ đâu nữa?) Tôi tới trước hỏi thăm thì thiên hạ ở chùa cho biết thầy Nhất Hạnh đâu có ở đây. Hiện tại chỉ có thầy Thiện Châu cũng là giảng sư nổi tiếng miền Trung đang ở chùa Xá Lợi lúc này. Tôi đành lấy hẹn để đưa các bạn vào hỏi đạo. Thầy Thiện Châu giảng cũng hấp dẫn như thầy Huyền Vi, nhưng không sâu như thầy Nhất Hạnh. Thầy Thiện Châu trả lời cho các bạn của tôi cũng tàm tạm. Thôi kệ, có còn hơn không. Tháng Bảy tôi được tin thầy Thanh Từ sắp lên Sài Gòn khám bệnh, tôi vào thăm thầy ở chùa Ấn Quang. Đi ngang phòng tổ, tôi gặp được thầy Nhất Hạnh, tôi đến xá thầy và cũng để trách thầy đã không giữ lời hứa sẽ gặp tôi và các bạn tại Chùa Xá Lợi sau khi chúng tôi thi xong. Thầy giương mắt ngạc nhiên vì quên hẳn. Rồi thầy bảo tôi ghi địa chỉ thường trú của thầy là Phương Bối Am ở Bảo Lộc. Am ở trong rừng, thư không đưa tới nên phải gửi qua thầy Thanh Tuệ ở trường Bồ Đề Bảo Lộc. Thầy cũng bảo tôi cho thầy địa chỉ. Tôi giữ địa chỉ của thầy nhưng chẳng có bao nhiêu giờ để viết cho thầy. Sau khi tôi thi đậu Chứng Chỉ Sinh Thực Vật Học, giáo sư Phạm Hoàng Hộ khuyến khích tôi nên nghiên cứu ngay một công trình khảo cứu về rong nước ngọt. Trường đại học cho tôi số tiền hằng tháng, không phải để làm nhân viên sáng đi tối về mà để cho tiện việc tôi khảo cứu về khoa học. Giáo sư Hộ chuyên môn về rong biển và Việt Nam hiện nay đang thiếu chuyên môn về rong nước ngọt. Giáo sư sẵn sàng làm thầy bảo trợ và hướng dẫn cho tôi về công trình khảo cứu này. Tôi dạ dạ cho giáo sư Hộ vui nhưng tâm tôi đang ở xóm Mả Lạng Quốc Thanh và tôi cũng đang dành dụm tiền để lập một ni viện riêng cho chính mình sau khi thi xong cử nhân (cho ba tôi vui lòng). Xong cử nhân là tôi sẽ cạo đầu làm sư cô và giúp người đói khổ! Quê ơi là quê, tôi dốt nát về lễ nghi đạo Phật nên nghĩ thật đơn giản là muốn làm ni cô thì cứ tự cạo đầu là được!

Phước và Huệ hai sự thực tập cần thiết trên đường tu

Bỗng một hôm vào khoảng tháng Mười có một bức thư gửi cho tôi, nét chữ thật đặc biệt, tôi chưa từng thấy ai có nét chữ thanh tú và lạ lẫm rất đặc biệt như thế. Người gửi: Thầy, Phương Bối Am, Bảo Lộc. Tôi mở ra, trong thư chỉ có vài dòng ngắn ngủi: “Con, trời Phương Bối Am trên núi này đã trở lạnh, thầy đang bửa ci để nấu nước và nấu ăn. Đốt củi ướt có khá nhiều khói, nhưng rất dễ chịu khi bên trong am, lửa nổ lách tách và bên ngoài gió hú từng hồi.” Tôi cảm động và hối hận… Thầy đã dạy viết thư cho thầy mà tôi đã không viết gì hết, lại để cho thầy phải tự viết cho mình! Tôi bèn biên một thư thật dài trút hết ruột gan mà tôi “ấm ức” bấy lâu nay. Tôi thuật những chuyện tôi làm cho trẻ em đường phố, tôi tìm công ăn việc làm cho cô bác ở xóm Mả Lạng Quốc Thanh, tôi viết: Con thấy có cái gì bất công trong việc con có cơm ăn áo mặc, mà các đứa trẻ vô tội kia lại bị cái nghiệp quả gì mà khổ sở như kia. Giải thích về nghiệp báo cũng là một cách giải thích thôi, nhưng con phải làm ngay một việc gì cho các em đỡ khổ thì trái tim con mới bình an được. Nhiều thầy nhiều ni sư nói nếu con đi làm việc cứu kẻ sa cơ hoạn nạn là chỉ tu phước thôi. Không tu huệ, không thành Phật được. Con thì cảm thấy ngược lại, những điều kia, càng làm chuyện hữu ích nào cho ai thì con thấy mình gần Phật hơn và có bình an hơn. Con không cần tu phước tu huệ gì hết. Sự khổ đau vật chất và tinh thần của đồng bào con ở xóm lao động kia là có thật, con chỉ muốn chia sớt gánh nặng cho họ. Con không cần kiếp sau được sinh ra làm con gái nhà giàu, không cần làm công chúa giàu sang kiếp sau… Con không có thì giờ viết cho thầy chỉ để thăm hỏi. Con rất cần gặp thầy để hỏi vì sao Phật thì giỏi như vậy mà con Phật chẳng làm gì hết ?

Thầy đã trả lời thật dễ thương cho tôi, nói rằng: “Cái nhìn mà chia ra tu phước khác với tu huệ là còn nhị nguyên. Con cứ làm việc mà con ưu tư thao thức nhất. Con làm việc với tất cả tâm con trong chánh niệm, con sẽ luyện được định tâm trong từng hành động, có niệm có định rồi thì cái thấy sâu sắc sẽ xuất hiện, đó là bước đầu của tuệ giác, của giác ngộ. Ngày xưa có một vị tu sĩ chỉ phát nguyện vá lại hết những áo cũ của các bạn tu, nhưng thầy vừa vá áo vừa định tâm trong khi vá áo, không để tâm suy nghĩ thất tán trong khi vá cho tới một ngày, khi tâm định của thầy thật lớn thì thầy đã ngộ ra những công án sâu sắc mà thầy dày công tìm kiếm mà chưa tìm ra khi ngồi thiền. Và cứ thế thầy đạt được đến đại ngộ khi vá liên tiếp sáu mũi kim.’’

Ðược thầy soi sáng như thế tôi quá hạnh phúc, đây đúng là công án để tôi tu tập suy gẫm và hành trì suốt đời. Tôi suy gẫm thêm: Phước và huệ không thể tách rời, khi ta làm việc gì rất đẹp rất lành, sẽ có nhiều năng lượng lành bao trùm lấy người hành giả đó. Ta tạm gọi là làm phước, là có phước. Cái năng lượng đó tuy mắt không thấy nhưng đó là một loại năng lượng vô hình có thể che chở cho người đó trong những khi nguy biến. Nhưng nếu làm việc đó mà rất định tâm khi làm, nhờ định tâm nên nhìn sâu thấy kỹ, thật ý tứ, thấy thật rốt ráo từng hành động, làm như mình là tay mặt cần phải đến với người kia là tay trái để kéo tay trái ra khỏi tình huống khó khăn mà không cần tay trái phải cám ơn tay mặt! Vì có người khổ và mình đang ở trong thế giúp được thì cứ làm, không vì lợi, vì danh, không vì sẽ được phước báo chi hết, làm việc với tình thương, làm thật rốt ráo như làm cho chính mình, như tay mặt lo cho tay trái. Khi hành động, nhờ có định tâm nên thấy rất rõ nguyên nhân và hậu quả của hành động này, nên không để cho ai lợi dụng. Hành động có tình thương, có từ, có bi, có hỷ và có xả thì người hành giả cũng đang trau dồi huệ. Chúng ta chỉ cần làm những việc gì ta ưa thích nhất, ta có thể dần dần đi đến giác ngộ trên con đường hành động đó nếu ta luôn luôn nuôi dưỡng định trong từng hành động. Khi làm việc đó mình nên nhìn sâu để tự hỏi “hành động này có đủ từ bi không? có đủ hỷ và xả không? Hành động vì việc làm đó và vì lý tưởng làm lợi lạc cho người khác đó hay vì danh và vì lợi cho chính mình? Quán chiếu như vậy suốt ngày trong mọi công tác, mọi lời nói và mọi tư duy thì chúng ta vừa tu phước mà cũng vừa tu huệ.

Sau này tôi khám phá ra trong chúng tu học mà tôi được gần gũi, có người dù đã cạo đầu làm người xuất gia nhưng cách làm việc không có niệm và có định thì đó cũng chỉ là tu phước thôi, cũng nấu được mấy món chay đãi ba bốn trăm người đến tu học nhưng vừa nấu mà vừa trách người này làm không hay, bực người kia xắt miếng cà rốt quá dày… Tuy có thức ăn cho người ta thì chắc chắn là có phước nhưng vừa nấu vừa trách người này chê người kia thì không có tuệ. Nhưng nếu vừa nấu mà vừa chú tâm khi xắt gọt, quyết tâm đem tài khéo léo của mình học được mà làm cho món ăn ngon; vừa hạnh phúc vì được có thì giờ nấu cúng dường đại chúng, suốt buổi nấu ăn giữ tâm định trong từng hành động thì công phu của định càng lớn và cô ấy vừa tu phước mà cũng tu huệ. Vì làm xong ba nồi thức ăn to đãi khách (phước) mà cũng nuôi dưỡng được ba bốn giờ trong định tâm.

Trong nhiều tu viện Phật Giáo và ngay cả trong tu viện Làng Mai cũng có người chỉ tu phước và cũng có người vừa tu phước vừa tu huệ. Ví dụ một sư cô hay một sư chú chỉ mong làm sao cho được nhiều việc nhất cho chúng, nào nấu ăn, quét nhà, làm vườn, rửa dọn, làm thật nhanh cho mau, cho được việc nhưng khi làm không có niệm (tâm KHÔNG an trú trong phút giây làm việc ấy vì mong làm cho mau để làm tiếp việc khác…) Như thế thì dù đang ở chùa, sư cô hay sư chú ấy cũng chỉ tu phước thôi. Còn một sư chú hay một sư cô khác thì làm việc nào cũng an trú thảnh thơi định tâm trong phút giây hiện tại, tập luyện định tâm suốt ngày thì dù chỉ quét và lau nhà, lau cầu vệ sinh thì sư chú ấy, sư cô ấy cũng tu huệ.

Nhờ sự dạy dỗ của thầy ngay từ lúc mới được gặp thầy nên tôi hạnh phúc quá! Thế thì ngày nào khi đi xe máy vào xóm nghèo mà trong khi ngồi trên xe, tâm tôi định trong phút giây hiện tại, nhìn trước nhìn sau để không đụng ai, lái cho đẹp cho đúng luật, không tính toán trước. Tới xóm nghèo nếu tình trạng không như ý, nếu mọi việc trở nên khó khăn, tôi sẽ tập định tâm, nhìn sâu hơn công việc ấy, khi bực mình sắp trách móc thì tôi sẽ tập dừng lại, cho thêm vào vài giọt nước từ bi thanh lương cho lòng tôi mát lại và nhờ thế cách nói năng hành xử của tôi cũng nhẹ nhàng hơn. Có khi cần nghiêm nghị để các bạn nghèo không lợi dụng, không lờn thì tôi cũng phải làm nghiêm nhưng không làm thương tổn người ta. Làm mặt nghiêm mà trong tâm thì thương, không giận hờn, và nếu cần làm mạnh như trừng phạt thì cũng làm trong tinh thần để giúp họ gắng sửa đổi chứ không phải để trừng phạt cho họ khổ cho hả dạ mình. Tôi tập trình bày sao để cho người lầm lỡ hối hận thật tình và cố gắng sửa đổi vì thương tôi, sợ tôi buồn mà họ sửa tánh chứ không phải vì sợ tôi trừng phạt. Như vậy thì làm việc ở Xóm Nghèo, tôi vừa tu phước mà đương nhiên cũng là tu huệ.

Thầy có dạy là nhóm Phật tử lo cho các bạn nghèo của tôi không phải là nhóm Phật tử duy nhất làm chuyện này đâu. Có rất nhiều tấm lòng thương Phật, thương người khổ như chúng tôi đang âm thầm làm rải rác nơi này nơi kia. Thầy đang có một số dự án cần thực hiện nên thầy chưa giúp chúng tôi được lúc này, nhưng năm tới, khi làm xong chương trình khảo cứu tôn giáo tỷ giáo ở đại học Princeton về, thầy sẽ giúp chúng tôi làm một cuộc cách mạng xã hội theo tinh thần và những nguyên tắc Bụt dạy. Thầy sẽ đem các nhóm lại với nhau.

Tự tìm lấy câu trả lời bằng sự quán chiếu

Còn một việc mà cách thầy Nhất Hạnh dạy rất khác thầy Thanh Từ là mỗi khi tôi hỏi thầy Thanh Từ câu gì thì thầy đều trả lời thông suốt và thỏa đáng. Nhưng thầy Nhất Hạnh thì không. Thầy không bao giờ trả lời những câu hỏi của tôi cả. Thầy dạy tôi nhìn sâu hơn và quán chiếu kỹ hơn. Nếu là câu trả lời do chính tôi khám phá ra thì nó có thực chất hơn, và tôi sẽ tu tập cái khám phá đó kỹ hơn và thuyết phục được người nghe bằng cách hành xử của tôi hơn. Ví dụ thay vì nói: Phật dạy ai cũng có Phật tánh, cũng thành Phật được dù con người hay thú vật. Vì thế ta không ăn thịt thú vật vì con thú đó cũng khổ đau sợ bị giết như mình. Thì thầy Nhất Hạnh dạy tôi tự quán chiếu và nhìn sâu hơn để tự khám phá lấy xem con vật có phải do tạo hóa sinh ra cho mình ăn thịt không. Nhìn vào miếng thịt gà vừa luộc với lá chanh, thơm ngon… tôi tập nhìn sâu hơn để nhớ rõ chị người làm phải dùng chân của chị, đạp hai cẳng con gà lại, cầm cái đầu nó kéo ra, và tay kia thì cầm con dao thật bén kéo cổ con gà ra để khứa cổ nó. Nó giãy giụa thật tội nghiệp và lăn ra chết. Thương ơi là thương. Nhìn sâu và thấy được từng ấy khổ đau của con gà thì làm sao ta có can đảm ăn thịt con gà. Tôi chỉ cần mời các bạn Công giáo nhìn kỹ như tôi và phát lòng thương thì chị em đâu có cần cãi cọ chi. Chúa là tình yêu, Chúa là ánh sáng, chắc Chúa không muốn mình trói gô bốn chân con heo và cầm con dao nhọn thật dài thọc vào yết hầu con heo để máu nó phun vọt ra nhiều đến phải đem nguyên một cái thau to mà hứng, nó nằm chết chèo queo. Xác to gần bằng xác người, thấy thương đứt ruột, rồi mình xẻ thịt nó mà ăn. Ăn làm sao nổi, những bạn con của Chúa Tình Yêu ơi. Tôi chỉ cần chia sẻ như thế thì các bạn Công Giáo kia sẽ thương liền và không cãi cọ nữa.

Bánh chưng gửi từ Phương Bối Am vào dịp Tết

Mồng ba Tết năm 1961, có một sư chú độ 17 tuổi đem đến tận nhà trọ của tôi một chiếc bánh chưng, gói vuông vắn thật đẹp, sư chú Thanh Hiện. Sư chú tả cho tôi nghe Tết ở Phương Bối Am vui như thế nào, chỉ có những sư chú thân thương với thầy, thầy trò gói bánh chưng ban ngày và cùng đốt lửa giữa rừng để nấu bánh chưng và nói chuyện thi văn đêm giao thừa. Sư chú quá thương thầy nên kể đủ thứ chuyện về thầy cho tôi nghe, rằng thầy rất tài ba (thầy đậu thủ khoa tất cả những chứng chỉ ở Ðại Học Văn Khoa), thầy có tâm làm mới đạo Bụt nhưng rất là cô đơn trên con đường cải cách trình bày những điều Bụt dạy, thầy rất cô đơn trên con đường muốn tổ chức lại cơ cấu giáo hội cho đúng theo lục hòa, trên con đường muốn làm cách mạng đạo Phật. Quý vị lớn thay vì nâng đỡ thầy thì chỉ chê bai. Sư chú nói thầy là chủ bút tờ nguyệt san Phật Giáo Việt Nam, cơ quan văn hóa của Tổng Hội PGVN cho Phật tử toàn quốc, hay vô cùng! Trong đó thầy lấy bút hiệu Tâm Quán để viết những kinh nghiệm tu học của một chú sa di tại chùa tổ của thầy là tu viện Từ Hiếu, thầy lấy bút hiệu Dã Thảo để phê bình văn học Tây phương dưới cái nhìn của Phật giáo, thầy lấy bút hiệu Thạc Đức để nói về thời sự, về chỗ đứng của Phật giáo trong lòng dân tộc thuộc hai miền đất nước, về vai trò hiện tại của Phật giáo, thầy lấy bút hiệu Phương Bối để viết về những bài Phật học căn bản như Bát Chánh đạo, Tứ Diệu Đế, Tứ Chánh Cần, thầy chỉ để tên Nhất Hạnh khi thầy ký tên những bài thơ như “Hãy nguyện cầu cho bóng tối thêm sâu hỡi ngàn sao lấp lánh“:

Đã không nguyện cầu cho trời êm bể lặng

Nhưng nguyện cầu cho chân cứng đá mềm.

Thầy soạn một số bài Phật học dùm cho Thượng Tọa Đốc Giáo chùa Ấn Quang trong bộ Phật Pháp Phổ Thông, thầy nhuận thơ cho một thượng tọa thi sĩ mà không ai biết và rất phục thi sĩ, thầy có nhiều mật hạnh (hạnh làm âm thầm yên lặng), và nhờ là thị giả của thầy nên sư chú thấy hết chứ thầy không nói đâu. Rất ít ai biết tất cả những hạnh mà thầy làm lắm. Thầy không nói cho các sư chú biết nhưng sư chú nào cũng thương thầy. Khi thầy đi chơi chung với các sư chú không ai biết là thầy đã là giáo thọ. Học tăng nào cũng thương thầy. Phòng thầy không có các ông bà nhà giàu đến cúng dường, nhưng lúc nào cũng đầy các chú học tăng trẻ, thương thầy như anh, như cha, như thầy. Có nhiều khi thầy sốt mà không có một đồng bạc mua thuốc, chỉ trông nhờ các sư chú cạo gió xoa bóp cho thầy thôi. Sư chú nói thầy cùng với thầy Trí Hữu lập Chùa Ứng Quang sau đổi thành Ấn Quang, thầy giúp các vị lớn như thầy Thiện Hòa, Thiện Hoa lập giáo trình để thành lập Phật học đường Nam Việt. Thầy dạy các sư chú như Trí Không, Minh Cảnh, Chơn Lễ, Đức Niệm, Hồng Huệ… về Phật pháp, thầy cũng dạy các thầy giảng sư lớn về triết học Tây Phương và Phật Giáo – trong những vị này có những vị như thầy Huyền Vi, thầy Thanh Từ… nữa. Nhưng trong chùa có nhiều vị không hiểu thầy nên một hôm thầy đi dạy ở Đà Lạt về thì tên thầy bị xóa trong hộ khẩu chùa Ấn Quang. Thời này còn Pháp thuộc, nếu tên mình không có trong chùa cũng sẽ bị khó khăn lắm. Chắc là thầy có buồn nhưng những lúc như vậy thầy không bao giờ phản ứng mà chỉ rút lui về Phương Bối Am để đi rừng chơi, đọc thơ và ngồi thiền, đi thiền… Tôi ngồi lắng nghe say sưa những hạnh nguyện của thầy và từ đó tôi tìm đọc tất cả sách của thầy viết. Tôi cũng tìm cách làm quen với các thầy khác, các sư chú khác như Chơn Lễ, Trí Không, Hồng Huệ, Minh Cảnh, Thiện Tánh… có được biết thầy để nghe lại xem có thật những điều sư chú Thanh Hiện nói là đúng không, kẻo chú Thanh Hiện vì thương thầy quá nói không thật thì sao?

Những cây tùng cây bá cho ngôi nhà mới của đạo Phật

Tháng Hai năm 1961 thầy lại về Sài Gòn và đề nghị thầy Quảng Liên, thầy Thiện Châu mỗi vị giảng một chủ nhật cho sinh viên học sinh trong vòng ba tháng tại chùa Ấn Quang. Sau buổi thuyết pháp đầu của thầy tại chùa Ấn Quang, bỗng có hai nam sinh viên nói giọng hơi hơi Bắc đến mời tôi và em Cao Ngọc Thanh, em Mười của tôi, lên hầu chuyện với thầy Nhất Hạnh cùng với một số bạn sinh viên đại học Sài Gòn khác. Hôm đó chỉ có những sinh viên sau đây: anh Huỳnh Bá Dương, anh Huỳnh Bá Huệ Dương (em ruột của anh Huỳnh Bá Dương), anh Tôn Thất Chiểu, chị Nguyễn Thị Thu Hà, chị Phạm Thị Ngọc Liên, chị Cao Ngọc Phượng, chị Cao Ngọc Thanh, chị Lê Kim Chi, chị Trương Thị Nhiên, anh Ðỗ Tuấn Khanh (hai chị Nguyễn Ngọc Điệp, Nguyễn Ngọc Bích và anh Đặng Ngọc Cương đến sau vài tuần). Thầy thuật cho chúng tôi nghe là thầy có niềm tin nơi đạo Bụt, vốn đã rất thành công trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước và đưa đất nước vượt khỏi ách ngoại xâm suốt 300 năm trong thời Lý Trần. Giờ đây nếu ta tu học và hành đạo đúng đắn, ta cũng sẽ làm được như tổ tiên đã làm. Thầy nhớ phong trào canh tân Phật Giáo những năm 1930 – 1945 chỉ bắt đầu bằng một nhóm thanh niên theo học với đạo hữu Lê Ðình Thám. Sau khóa Phật học Ðức Dục với hai vị này (là cụ Thám và thầy Tri Do) cả phong trào chấn hưng Phật giáo miền Trung được hưng thịnh nhờ mỗi học viên sau đó đã trở thành những cán bộ nòng cốt, những cây tùng cây bá của phong trào. Thầy mong đào tạo các con thành những cây tùng cây bá nâng đỡ cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam, làm mới lại những điều Phật dạy cho khế cơ. Thầy nói khế cơ phải đi đôi với khế lý để không được đi trật điều Phật dạy. Khi thầy giảng trên bục đã hay rồi mà khi ngồi nghe thầy chia sẻ chúng tôi như được đưa vào khung trời tâm linh của thầy thật im mát mà thật thâm sâu. Mười ba anh chị sinh viên ngồi như bị thôi miên không nói được lời nào. Chúng tôi cứ nói riêng với nhau là sao khi thầy nói chuyện với một nhóm nhỏ tụi mình thì như tất cả mọi người đều được đưa vào khung trời thân thương thâm sâu và đầy ánh sáng của lý tưởng phụng sự. Không còn gì để lý luận và bàn cãi. Thầy với mình là một, thầy với lý tưởng là một. Thầy và trò cùng đi thôi, không cần bàn cãi. Thiếu chỗ này mình thưa thì thầy làm, sai chỗ kia thầy dạy thì mình nghe và vì quá đúng ý mình nên mình làm thôi chứ không phải bị buộc làm theo vì mù quáng vâng lệnh.

Bốn chục năm sau tôi mới thấy đúng là ngay từ lúc ấy, thầy đã đưa chúng tôi đi vào dòng sông lý tưởng. Thầy trò cùng đi như một dòng sông. Mọi người có một niềm tin tuyệt đối nơi thầy. Thầy nói mỗi ba tuần thầy sẽ giảng tại Chùa Ấn Quang một lần cho đại đa số quần chúng, vì có thầy Quảng Liên và Thiện Châu sẽ giảng hai chủ nhật kế tiếp, nhưng mỗi chiều chủ nhật thầy mời các con tới đây học giáo lý với thầy cho có những hiểu biết căn bản về những điều Bụt dạy. Chúng ta tiếp tục việc làm của đạo hữu Lê Đình Thám cho nhóm Thanh Niên Phật Học Đức Dục tại Huế những năm 1930 -1940 vậy.

Chúng tôi đã không phụ lòng thầy, sau này mỗi anh chị em học trò của lớp này mỗi người đi phụng sự một cách khác nhau, nhưng cùng chung một hướng lý tưởng, trở thành những cây tùng cây bá của ngôi nhà Phật Giáo Việt Nam. Anh Huỳnh Bá Huệ Dương trở nên cánh tay tổ chức hạ tầng cơ sở Phật tử thật tài tình để giúp thật hữu hiệu cuộc tranh đấu chống chánh quyền độc tài Ngô Ðình Diệm, sau đó anh lãnh đạo Vụ Trưởng Vụ Thanh Niên Phật Tử trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất năm 1964. Anh Tôn Thất Chiểu cũng là đoàn viên xuất sắc của đoàn Sinh Viên Phật Tử sau này, chị Thu Hà (sau này là sư cô Thuần Đức) và em Cao Ngọc Thanh lập nhà xuất bản Lá Bối cùng với thầy Thanh Tuệ, chị Trương Thị Nhiên, phu quân là anh Phạm Văn Điến, chị Lê Kim Chi và phu quân là anh Nguyễn Văn Tiếng (cả hai vị bác sĩ này chăm sóc sức khỏe cho tất cả tu sĩ ở tu viện Lộc Uyển thật hết lòng).

Tôi và em Mười Cao Ngọc Thanh rất nghịch (nhưng nghịch ngầm nên chỉ có hai chị em biết). Hai chị em đặt đủ thứ tên nhỏ cho từng nhân vật trong vòng đệ tử của thầy tại Sài Gòn. Anh Huỳnh Bá Dương lúc nào cũng mang tượng Bụt bằng sợi dây nhung đen trên cổ nên chị em tôi gọi anh là “chàng sợi dây nhung đen”, anh Huỳnh Bá Huệ Dương cao lớn nhưng hơi tròn trịa nên chị em nhà này gọi “huệ Đà Lạt” vì huệ Đà Lạt (tức là bông lys đó) to hơn huệ thường cúng Phật, tròn trịa như anh Huệ Dương thì chỉ có thể là huệ Đà Lạt thôi! Chị Thu Hà là “triết gia” vì chị hay có những tư tưởng thâm trầm và sâu sắc. Có một anh trong Gia Đình Phật Tử Chùa Xá Lợi thấy hai chị em nhà này không chịu vào GĐPT mà cứ đứng nhìn cười hoài như chế giễu (vì thấy cái anh chàng đó lớn quá, già rồi mà cứ quây một vòng nhảy mà chơi, nhảy tưng tưng như trẻ con, thổi tu huýt toe toe như lấy le). Thấy chúng tôi cười, anh ấy giận lắm cứ nhìn chúng tôi vừa bậm môi vừa trợn mắt dọa dẫm. Thế là chúng tôi cho anh đó tên “chàng bậm môi trợn mắt”. Lê Kim Chi rất xinh, nũng nịu, nhõng nhẽo với đại đức Narada và với quý thầy hoài nên chúng tôi gọi là “tiểu thư”, Trương Thị Nhiên rất là im lặng và đảm đang. Trong khi chúng tôi ngồi nghe thầy giảng dạy say mê, chẳng đứa nào biết làm chi cúng dường cho thầy hết thì Nhiên lẳng lặng đi pha trà cho thầy nên chúng tôi gọi thầm là “mẹ Việt Nam”.

Con có còn chiếc áo nào đẹp hơn cái áo này không ?

Hôm đó là buổi giảng thứ hai của thầy ở chùa Ấn Quang, giảng xong thầy nhờ một sư chú gọi tôi vào phòng khách cho thầy gặp. Tôi hớn hở được thầy cho gặp riêng, ai dè vừa vào thì thầy hỏi: Con còn chiếc áo dài nào đẹp hơn chiếc áo con đang mặc này không? Tôi nhìn xuống chiếc áo dài nâu rộng thùng thình (theo lối áo các em tập sự xuất gia ở Làng Mai) và bỗng tủi thân khóc! Ở nhà ai cũng chê tôi ăn mặc lôi thôi thì kệ họ, nhưng mà chính thầy, vị thầy quý kính mà tôi nghĩ đã hiểu tôi rất nhiều, cũng chê thì không tủi thân sao được? Thầy phải tự hiểu rằng vì tôi dành tất cả thì giờ trong đời mình cho người nghèo khổ thì tôi phải ăn mặc thật nghèo cho giống họ chớ?

Thầy tỏ vẻ lúng túng khi thấy tôi khóc, nhưng rồi thầy dịu dàng nói: Cái đẹp của một người cần được thể hiện từ trong ra ngoài. Con không cần mua áo sang trọng đắt tiền để mặc. Tâm hồn đẹp của con phải được thể hiện bằng cách đi đứng nói năng và chiếc áo, dù rằng rẻ tiền nhưng trang nhã. Mai này khi đi tu con sẽ cạo đầu, con sẽ mặc chiếc áo sư cô, nhưng cũng thật trang nhã. Còn bây giờ, con còn là một cư sĩ, con phải ăn mặc bình thường nhưng trang nhã để khuyến khích các bạn muốn sống đời thánh thiện như con cũng ăn mặc như con và đi làm đẹp cuộc đời như con.

Trung học miễn phí dạy mỗi tối tại chùa Giác Ngộ

Chỉ còn một tháng nữa là thầy đi Hoa Kỳ, chúng tôi tranh thủ đi thăm thầy ở Chùa Trúc Lâm ở Bà Quẹo (thuộc tỉnh Gia Định), mỗi chiều sau giờ học. Mười mấy đứa “bè lũ” ngồi trong chiếc cốc nhỏ xíu của thầy, nghe thầy đọc thơ, bình thơ đạo, thơ Đường, dạy Phật học tối tối… Khuya 11 giờ mới chở nhau về. Anh chị em chở nhau, bảy xe máy đi hàng ngang, ngang tàng giữa đường khuya Sài Gòn rất là vui.

Sau khi thầy đi Hoa Kỳ, chúng tôi quyết định lập một trường trung học tư miễn phí cho người nghèo, những người phải đi làm thuê cả ngày chỉ có tối mới có giờ đi học. Trường lập tại chùa Giác Ngộ. Tôi dạy Hóa, anh Huệ Dương dạy Toán, anh Khanh dạy Lý, Tôn Thất Chiểu dạy Anh văn, Chị Hà dạy Văn chương, Chi và Nhiên dạy Pháp văn. Dạy xong “bè lũ” cũng về khuya và cũng đi xe máy hàng ngang ngang tàng như hồi đi Chùa Trúc Lâm ở Bà Quẹo thăm thầy tối tối. Ôi những cây tùng thân thương năm 1960 của thầy sao mà đẹp quá!

Chương 3: Con trai hay con gái đều đẹp ra

52 năm theo thầy học đạo và phụng sự – Hồi kí của Sư cô Chân Không


Chương 3: Khi có đường đi rồi, con trai hay con gái đều đẹp ra

 

Xóm Mả Lạng sau rạp hát Quốc Thanh

Từ khi thấy con đường lý tưởng, tôi đã là người con gái hạnh phúc nhất đời. Tôi có nhiều sáng kiến đi vào những khu nghèo cực nhất của Sài Gòn: Xóm Mả Lạng – nghĩa địa cũ của Pháp – sau rạp hát Quốc Thanh, xóm Bàn Cờ, xóm Cầu Bông… Tôi rủ hết các bạn gái, bạn trai quen tôi đi xin mỗi nhà một nắm gạo trước khi họ nấu cơm ăn và mỗi hai tuần chúng tôi đi từng gia đình thu số gạo đã hứa, và chủ nhật họp nhau ở Chùa Xá Lợi rồi chia nhau đi chăm sóc trẻ con nhà nghèo từng xóm. Chúng tôi đổ hàng chục bao gạo nhỏ góp nhặt suốt hai tuần ra rồi chia đều cho hơn ba mươi phần như là học bổng cho hơn ba mươi trẻ em đường phố. Tôi dạy các bạn tôi nên ăn mặc nghèo nghèo khi đi vào các xóm để người ta không tính chuyện bóc lột mình. Phải hành xử như tôi khi bước vào xóm Mả Lạng lần đầu tiên. Lần đầu tiên tôi được biết xóm này là nhờ bắt được một chú bé sắp móc túi tôi, tôi nắm chặt tay em và thay vì đưa em cho Cảnh Sát tôi dịu dàng hỏi: “Sao em làm như vậy? Em có thể bị ở tù, bị đòn đau lắm và ghê lắm, em biết không?” Em nói nếu không đem tiền về em còn bị đòn nhiều hơn, và em bảo em ở trong xóm này đây. Hôm đó ba em không có nhà. Ngày hôm sau, tôi mặc áo xấu hơn, khóa xe gắn máy để ngoài cổng và đi vào như một cô học sinh nghèo. Tôi vờ hỏi có ai biết nhà chú Tư Rô đạp xích lô ở đâu không? Tôi nói chú Tư Rô là chú của tôi, chú tôi nói là có nhà ở đây! Thế rồi tôi ngồi sà xuống trên ngôi mộ bằng phẳng 1,5mét x 2mét, trên đầu là một tấm bạt rách tươm. Một thiếu phụ khoảng ba mươi hai tuổi mà cô nói đã có hai con rồi, đang ngủ trưa, ngồi dậy tiếp tôi. Tôi hỏi thăm về ba các cháu thì cô nói ba nó bỏ tôi rồi. Tôi hỏi chị làm nghề gì nuôi thân thì chị nói “mượn hàng xóm để mua cơm ăn nhưng nợ này lãi rất cao, tôi hy vọng hôm nào ông ấy về thấy vợ con như thế thì cho tiền để tôi trả lại người ta! Tôi đề nghị chị đi bán bánh cuốn thì tôi sẽ tìm cách mượn vốn dùm chị. Tôi hỏi hai đứa nhỏ đâu thì chị nói thằng lớn đi bán báo và đánh giày, chị phải giữ con nên không đi làm được. Cháu nhỏ mới 3 tuổi. Thật ra chị đang ngủ trưa, đứa nhỏ đã bò xuống đất, đó là một con đường nhầy nhụa dơ không thể tưởng. Tất cả xóm này gồm hơn một trăm cái mả nằm san sát nhau, chia cách bởi một số đường đất nhầy nhụa nhớp nhúa, đầy rong rêu xanh. Để không bị nhớp chân, người ta thảy trên những đường nhỏ độ 80 cm bề ngang đó một vỏ xe hơi cũ, vài cục gạch chồng lên nhau để thiên hạ có thể bước lên trên đó mà đi. Vậy mà đứa bé vẫn chơi được với nước bùn nhớp nhúa ấy, chị vẫn tỉnh bơ và ôm đầu nói chị bị nhức đầu hoài không đi làm gì được, chị cũng than đau bụng. Tôi đề nghị chở chị đi bác sĩ ở bệnh viện Bình Dân sẽ không tốn tiền. Được biết hai ba người thiếu phụ ở gần đó cũng có con còn nhỏ không đi làm việc được, tôi đề nghị một bà giữ bốn đứa nhỏ, để ba bà kia đi làm việc và cứ thay phiên nhau mà giữ con và đi làm. Tôi nói: “Chị nào không vốn em đi mượn giúp, nhưng nếu chị không trả là chết em, chắc họ sẽ “cạo” đầu em đó chị”. Thế là sáng sớm tôi đưa chị Ngọ đi bệnh viện Bình Dân, tìm bác sĩ trị bệnh và tìm thuốc cho chị ấy luôn. Chiều lại, tôi đi xe thổ mộ đưa hai chị đi chợ Cầu Ông Lãnh để sắm sửa gióng gánh, nồi nấu bún măng, chị kia thì mua sắm các thứ để bán bánh cuốn chả lụa. Chị thứ ba đã có sẵn nghề bán bánh cam. Sáng hôm sau tôi tới thật sớm để đưa chị Ngọ đi đếm bánh cuốn và lấy chả lụa do chính tay tôi bỏ tiền ra. Tôi không dám giao tiền cho chị, sợ chị ấy đánh bài hay xài mất. Chị Sang cũng thế, tôi đem chị đi chợ mua các thứ chị cần cho nồi măng vịt nấu gừng, xong tôi lại chở chị đi tận nơi lấy bún tươi. Khi hai chị lên đường bán bánh cuốn và bún măng thì tôi mới đi vào Đại Học.

Trong số hơn một ngàn sinh viên năm dự bị Cử Nhân SPCN cuối năm ấy, không hiểu sao mà tôi lại đậu được hạng nhì trong số chỉ có năm người thi đậu của SPCN năm đó, bởi vì mỗi ngày của tôi là của bé Sĩ, bé Tài… Tôi phải đi nộp đơn lo làm thế vì khai sinh cho các bé. Thì giờ của tôi là cho chị Ngọ, chị Sang, anh Tuất… trong xóm Mả sau rạp Quốc Thanh. Tôi còn nhớ nét mặt anh Tuất rất “anh chị” trong xóm này. Khi tôi vào thăm thì anh đang đánh bài với mấy người nữa, tôi nghe nói anh là ba của bé Tài, chú bé móc túi mà bị tôi chụp kịp tay khi mới thò tay vào giỏ xách của tôi. Tới nhà bé Tài, sau khi thuật mọi sự, tôi đề nghị anh Tuất nên đi bán cà rem để nuôi các cháu nhỏ, còn thằng Tài cho nó đi học thì tôi sẽ gắng xin 15 ký gạo hằng tháng cho nó. Anh nói không có tiền mua thùng cách nhiệt để giữ kem cho mát thì làm sao mà đi bán được. Tôi cũng biết nếu tôi đưa tiền thì anh sẽ đánh bạc tiếp thôi ! Tôi mời anh cùng đi xe thổ mộ vào tận Chợ Lớn mua được một cái thùng vuông to, đựng cả ba chục cây cà rem. Ngày hôm sau, tôi trở lại đưa anh đi đếm cà rem cây ở hãng kem Ngọc Lan và tự tay đặt tiền cọc cho anh. Nếu ngày đó bán hơn ba chục cây thì anh có thể trở lại trả tiền bớt và đếm thêm. Chiều cùng ngày tôi ghé lại chờ lấy bớt tiền lời bán bánh cuốn của chị Ngọ, bán bún măng của chị Sang và bán cà rem của anh Tuất – tôi nói là để trả nợ cho người cho mình mượn vốn mà không lấy lời. Tôi chỉ lấy 2 đồng trong số 37 đồng hay 41 đồng tiền lời của họ chiều hôm đó. Tôi cho mỗi người một cái ống con heo (piggy bank) nhỏ để bỏ một đồng vào ống tiết kiệm. 24 đồng để làm vốn ngày hôm sau đi đếm bánh cuốn và mua chả lụa, hay đếm cà rem, v.v… 10 đồng để mua thức ăn cho cả nhà.

 

Gieo hạt giống từ bi trong tàng thức những người chưa hề biết cách chia sẻ cho người thiếu

Sở dĩ tôi có tiền xài thoải mái trong việc cho mượn vốn này là vì mấy tháng nay tôi mới có sáng kiến, ngoài chuyện gõ cửa những nhà quen, xin mỗi ngày hai nắm gạo trước khi họ nấu cơm, xem tôi như chim chóc vét những hạt cơm sót trong nồi của họ. Sáng kiến mới là đề nghị các bác cho tôi thêm một đồng một tháng cho người nghèo. (Một đồng là ít lắm, chỉ đủ mua một khúc bánh mì không có gì bên trong). Bác Năm tôi chẳng khi nào cho ai một xu. Bác nổi tiếng xài tiền kỹ! Tôi quyết chí gieo hạt giống từ bi nơi bác nên bắt đầu bằng cách xin một nắm gạo mỗi bữa bác nấu cơm. Bác cho ngay. Bác là người chịu khó nắm từng nắm gạo trước khi nấu, không như chị Ba On rất rộng rãi và bận rộn. Chẳng khi nào chị nhớ nắm gạo, nhưng khi thấy tôi tới nhà thì chị đi ngay vào xúc luôn ba bốn lít gạo, đổ vô bịch đem cho tôi. Tôi xin bác Năm một đồng mỗi tháng, bác chê ít, định cho tôi tới 3 đồng! Tôi không chịu, tôi chỉ lấy một đồng thôi vì tôi muốn xin anh Ba, anh Năm, chị Sáu và anh Bảy con của bác, mỗi người làm phước cho người nghèo bằng cách cho tôi mỗi người, mỗi tháng một đồng thôi. Chị nấu ăn nghe thế cũng cho tôi một đồng, anh Ba, anh Năm, chị Sáu, anh Bảy đều hoan hỷ, cả các bà hàng xóm của Bác Năm nữa. Thế là rời nhà bác Năm tôi có 9 đồng nhưng là tiền của chín tấm lòng từ bi đang tập nghĩ đến những người thiếu thốn. Cứ thế mà tôi xin, tất cả thành viên của mỗi gia đình đều cho tôi một đồng mỗi tháng, và khi tôi tới mỗi nhà thì tôi kể đủ thứ chuyện vui. Chuyện tôi tóm tay thằng bé Tài móc túi ra sao, bắt nó đưa tôi về ngôi nhà trên Mả Lạng sau rạp hát Quốc Thanh ra sao, rồi tôi rủ ba nó đi mua thùng bán cà rem ra sao. Cái cách tôi làm quen chị Ngọ, chị Sang, đề nghị họ giữ con dùm cho nhau, tôi giúp vốn và đưa họ đi chợ Cầu Muối mua thúng, nồi, thau rửa chén cho gánh bánh cuốn, gánh bún măng gừng ra sao. Ai cũng nghe say sưa và thích thú. Anh Năm Phó nói em Chín độ rày đẹp ra, dễ thương quá. Ai cũng khen tôi đẹp ra! Và có anh đại úy hải quân Thanh, bạn anh Năm hay tới nhà tôi ở, tặng tôi hải sản mỗi khi đi biển về… và một chậu hoa. Anh ấy ngồi hoài ở phòng khách nhà cậu Bảy, chẳng chịu về mà cũng không nói gì hết. Cậu Bảy thấy ông đại úy mặc quân phục đẹp quá đành phải ra tiếp khách hộ tôi vì tôi trốn trong bếp. Cuối cùng tôi phải lấy cớ đi đâu có việc anh ấy mới chịu về. Trung úy hải quân Phụng, bạn chị Diệu Minh và đại úy hải quân Thanh cứ tặng tôi hoa và hải sản như yến khô, yến sào đã vào lọ… Tôi xin các anh đừng tặng quà nữa mà cho tôi xin mỗi tháng một đồng. Và tôi lại say sưa kể chuyện ngày Phật Đản tôi rủ các bạn sinh viên cùng trường đưa các em bé các xóm nghèo của chúng tôi đi Sở Thú (Zoo) thăm thú vật và mỗi em sẽ có một người chị, người anh dễ thương sẽ đưa em đi ăn cơm tiệm ra sao. Trung úy hải quân Võ Thành Công là người con trai rất thán phục lý tưởng đạo Bụt của tôi. Anh là trung úy hải quân, nhưng khi đơn vị anh đóng ở Nha Trang thì ngày giờ rảnh anh đã (theo gương tôi – anh nói vậy) đến chùa dạy học cho các chú tiểu ở Phật Học Viện Nha Trang và làm tất cả những công tác nào Chùa nhờ và anh đã “hồi hướng công đức cho tôi” nghĩa là anh ấy nói với quý thầy rằng, anh làm vì đã thương quý một cô Phật tử rất khiêm cung và sùng kính đức Thế Tôn – cô CNP. Các chú điệu ở Chùa Hải Đức đã báo cáo với tôi rằng trung úy nói nếu làm được gì cho đạo Phật và để cho tôi vui thì anh cũng sẽ làm hết. Anh tuyên bố với Phúc, cháu rể tôi và với rất nhiều người rằng… tôi là người đẹp lý tưởng nhất đời anh, và anh lạy Phật cho một ngày nào đó… anh được cái diễm phúc cưới tôi. Tôi đã cười buồn và tự nhủ rằng: Sẽ không bao giờ tôi còn can đảm nghĩ đến chuyện bó mình vào một gia đình bé nhỏ nữa. Tôi đã lặng lẽ chia tay với Khá rồi, với người con trai hiền lành, hiếu đễ, đã hiểu tôi khá nhiều về việc học hành, về việc tôi có hiếu với ba tôi, muốn thay tôi đi học Dược cho ba tôi vui… thì làm sao tôi có thể yêu ai được nữa? Một buổi chiều thứ năm trời đẹp, Khá và tôi đã hẹn nhau từ tuần trước rằng Khá sẽ đưa tôi đi ăn một món Huế thật đặc biệt: Món dấm nuốc. Khá đợi tôi cả buổi chiều ở nhà cậu Bảy (nhà cậu ruột đã cho tôi ở nhờ) để cùng đi. Nhưng ngày hôm đó gặp chuyện quá cấp bách – tôi phải đi tìm nhà cho một cô bé lỡ có thai không dám về nhà sợ ô danh cha mẹ, cô này sắp tự tử thì có người báo tin và nhờ tôi giúp đỡ – tôi khuyên chị ráng chịu khó nuôi đứa bé sáu tháng nữa, tôi sẽ đem gạo tiền cho chị, rồi tôi sẽ tìm người nhận bé làm con nuôi khi chị sinh bé ra. Lo xong cho chị Tuyết, về tới nhà cậu, tôi mới nhớ ra là mình đã quên mất cái hẹn đi ăn dấm nuốc với Khá rồi! Mợ tôi nói Khá chờ tôi đến gần tối mới về. Tôi chỉ hối hận đã bắt Khá chờ mà không kịp báo tin sẽ vắng mặt – hồi đó nhà tư nhân chưa có điện thoại – nhưng tôi không hối hận mất buổi thưởng thức dấm nuốc, đặc sản Huế. Tuần sau, lại một chuyện cấp bách khác, tôi lại quên đến chỗ hẹn với Khá. Tuần sau nữa tôi đã ở nhà chờ Khá, nhưng chàng không còn tới thăm nữa. Hai đứa là bạn học, cùng giải chung những bài toán lý hóa, thương nhau hồi nào không hay, bốn năm, rồi chia tay lặng lẽ không một lời giã từ. Tôi không tìm cách liên lạc lại hay xin lỗi Khá vì lỡ hẹn. Tôi đã trót dấn thân với lý tưởng từ bi rồi. Có mấy lần tôi trách Khá không chia sẻ những ưu tư của tôi về bất công xã hội, về tư tưởng cách mạng thâm sâu của Phật Thích Ca, không đi chùa học đạo với tôi. Khá cười buồn: “Anh tưởng là anh đã chiều Phượng nhiều lắm rồi chứ, ngày xưa mỗi lần gặp nhau, em đâu có bắt anh nghe những thứ đó!” Khá ơi, tình yêu như một cái cây, cây tình yêu mình tăng trưởng hay héo mòn là do thức ăn có đúng phân, đúng nước, đúng chất khoáng hay không. Cây sợ nắng mà mình để phơi ngoài nắng chói chang quá cây cũng chết. Cây ưa nắng mà mình cứ giữ mãi trong nhà thì cây cũng chết thôi. Tôi thương con đường của đức Thế Tôn đã làm đẹp cuộc đời cho bao nhiêu là thế hệ. Chàng không có hứng thú gì khi nghe những gíáo lý thâm diệu đó. Tôi làm sao chôn mình trở lại trong tình yêu nhỏ hẹp kia, chỉ đưa nhau đi dưới những hàng me xanh mát, ngồi nhìn nhau và chia nhau ăn chiếc bánh nậm, bánh bột lọc, để bên ngoài ai sống chết mặc ai?

Những áng mây màu trong đời tôi ơi, những người bạn hải quân thân mến, tôi đã giã từ cuộc sống lứa đôi nhỏ hẹp từ lâu rồi. Các bạn đến để làm chi cho buồn lòng nhau!

Chương 2: Hạt giống nhìn sâu

52 năm theo thầy học đạo và phụng sự – Hồi kí của Sư cô Chân Không


Con gái không được học cao, và người lớn được quyền đánh người nhỏ!

Chị Bê tuy lớn hơn tôi hai tuổi nhưng học yếu hơn bé Chín (là tôi) nhiều, bé Chín phải dạy kèm lại chị. Đến năm 18 tuổi chị Bê và anh Nhã, anh chàng hàng xóm nhà tôi yêu nhau và ba má tôi đã làm lễ vu quy cho chị, tặng chị nữ trang làm của hồi môn như là lo cho con gái của mình. Lên trung học, tôi may mắn được nhận vào trường Marie Curie và rời thành phố Bến Tre hiền lành lên Sài Gòn ở nhà người chị ruột là chị Ba. Noi gương ba mẹ, chị Ba và anh Ba đã cho tôi nương náu tại nhà anh chị để đi học mà ba má không phải trả đồng nào. Tôi may mắn được học lên trung học trong khi chị Cả là chị Hai của tôi – đảm đang và gương mẫu nhất trong gia đình, vốn là học sinh xuất sắc nhất lớp mà không được tiếp tục học lên trung học, tiếp tục con đường học vấn. Gia đình tôi và cả xã hội hồi đó bị ảnh hưởng Khổng giáo rất nặng. Hai điều mà Khổng giáo cho là “tiêu chuẩn mẫu mực” thì tôi đều không phục và bất tuân. Tiêu chuẩn thứ nhất là: Phụ nữ phải tòng chồng, không cần học hành chữ nghĩa chi cho nhiều. Phụ nữ đi học vô ích. Đi học là để có nghề nuôi thân và nuôi con, phụ nữ chỉ học công dung ngôn hạnh thôi, tất cả việc còn lại thì để chồng lo và nuôi! Vì thế ba má tôi tính toán kỹ, với số lương của ba, chắc là chỉ đủ tiền cho hai người con trai đi học lên cao là anh Tư và anh Sáu thôi. Bảy người con gái chỉ nên học để biết viết, biết đọc, và làm toán, biết tính sổ sách cho gia đình, xong Certificat d’Etudes Primaires là đủ. Vì thế học xong tiểu học, tuy là chị Hai tôi đứng đầu lớp, ba má vẫn giữ chị ở nhà. Chị đã khóc rất nhiều nhưng cũng phải ở nhà thôi. Tiêu chuẩn Khổng giáo thứ hai là: Thượng áp hạ. Người sinh ra trước khôn ngoan hơn, người nhỏ phải tuân theo, không có quyền cãi lại. Tôi không tin đều đó là đúng. Bởi vì rõ ràng, chị Tám tôi, hơn tôi ba tuổi thật đấy, nhưng đâu có giỏi gì hơn tôi, có khi còn làm sai lầm lớn, bị má và chị Hai phạt nữa. Thế mà mỗi lần có sự bất đồng ý kiến giữa chị và tôi, chị đều nói: Em im miệng, thượng áp hạ, em phải nghe lời chị, không nghe chị đánh. Tôi nói: Chị nói sai, em mới đúng, em không im. Chị bảo: Em phải làm theo, hoặc là em im cái miệng của em lại, không nghe chị sẽ đánh. Tôi nói: Em đúng, em không làm theo chị, em không im. Thế là chị Tám tát vào mặt tôi một cái đau điếng, tôi không đánh lại nhưng tôi nói: Ỷ lớn ăn hiếp người nhỏ, em không phục, em không làm theo, em không im. Thế là chị tát vào mặt tôi thêm lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ tư, lần thứ năm. Tuy tôi không đánh lại nhưng lần nào tôi cũng nói: Không phục, không sợ, không im. Chị cứ đánh túi bụi, tôi không đánh trả, nhưng cứ nói một cách hùng tráng: Em không phục, không sợ, không im. Cho tới khi bị đánh đau quá, tôi chịu hết nổi, bỏ chạy vừa la lớn: Em không phục, không sợ, không im! Câu chuyện đến tai má và chị Hai. Ai cũng theo đúng tiêu chuẩn Thượng Áp Hạ nên tôi vẫn thua, nhưng trong lòng tôi không phục cái khuôn thước nào đó mà cả nhà tuân theo như khuôn vàng thước ngọc. Và tôi vẫn tin là mình có cái thấy sâu sắc, mình đi đúng đường. Rất nhiều lần tôi bị đánh như thế bởi vài người lớn khác, tuy không cãi lại nhưng tôi vẫn tin là mình đúng. Hai mươi năm sau, cả nhà mới biết là tôi đi đúng đường. Và cả đại gia đình đều thừa hưởng cái sâu sắc bao dung đẹp đẽ của con đường tôi đi. Chắc chắn là trước khi biểu hiện trong bụng má, tôi đã mang theo tàng thức của ông bà nhiều kiếp trước, có những tính khí khác tám người con khác của ba má. Chắc chắn là tôi nhận được rất nhiều hạt giống cách mạng và hạt giống tu học.

Nhìn sâu và tại sao?

Các chị khác như chị Ba, chị Năm, chị Bảy, chị Tám cũng không được ba má cho học lên trung học nhưng bù lại thì ba tôi cho các chị đi Sài Gòn, theo một trường tư nhân, học nói tiếng Pháp – chỉ sáu tháng thôi. Riêng tôi, được trường Marie Curie chấp nhận sau khi xem học bạ tốt bên trường Tiểu Học Bến Tre. Ở Trung Học Marie Curie, tôi đã luôn luôn là một trong năm người đứng đầu lớp. Mỗi tháng bà hiệu trưởng người Pháp mặc áo costume-tailleur thật sang trọng, đi giày cao gót cộp cộp thật oai vệ, theo sau là ông giám học và một vài phụ tá đem “tableau d’honneur” màu đỏ chói đến gọi tên năm học trò học giỏi nhất lớp lên nhận. Không tháng nào là tôi không có tableau d’honneur. Trường này không phải đóng tiền học như các trường tư thục khác và chỉ gồm những người con nhà giàu. Tôi cũng không có tiền túi ăn quà nhiều như các cô gái sang trọng kia, và đã đứng nhìn các cô gái nhà giàu ăn kem Eskimo – kem sữa trắng bọc một lớp sô cô la mỏng và dòn – 5 đồng một cây – xem họ như thuộc thế giới khác. Mỗi sáng tôi chỉ xin 2 đồng mua bánh mì cặp chả mà ăn. Mì nước, phở, hủ tiếu hay kem Eskimo giá đến 5 đồng mới có ăn. Tôi không muốn xài tiền của ba tôi nhiều hơn số tiền ăn sáng tối thiểu của một học trò nhà nghèo (như là mỗi sáng một củ khoai lang ngày xưa). Xa nhà, có dịp tiếp xúc nhiều và đủ tuổi để quán chiếu, nhìn sâu hơn, tôi đã bắt đầu manh nha trong tâm nhiều tư tưởng “cách mạng” từ lúc mười hai mười ba tuổi ấy. Vì tôi ở xa mà học giỏi nên ba tôi dặn chị Ba giữ một số tiền để tùy tôi sử dụng khi cần. Ba tôi tin tôi đủ tinh thần trách nhiệm sẽ không phí phạm, có thể sử dụng đúng mức những số tiền cần xài cho việc đi học trung học của tôi. Và tôi đã xứng đáng với niềm tin ấy, không bao giờ lấy tiền đó ăn sáng, mua bì bún hay hủ tiếu ăn như ngày xưa tôi đã từng ước mơ! Những giấc mơ ăn ngon đó tôi muốn cống hiến cho các em bé nhà nghèo, chưa bao giờ được ăn nguyên một đĩa mì, một tô hủ tiếu ngon, ở các hiệu ăn nổi tiếng mà các em chạy quanh tìm cách xin đánh giày để có tiền đem về cho mẹ.

Ba tôi thường đi Sài Gòn do sở Công Chánh đặc cử để mua xi măng, gạch ngói cho các công trình xây cất của sở cho tỉnh nhà. Mỗi lần từ Bến Tre lên Sài Gòn như thế, ba tôi hay ở lại đêm, sáng hôm sau mới về lại Bến Tre, tối đến ba tôi rủ cả nhà đi chơi. Những tối như thế ba tôi hay mời cả nhà đi ăn nhà hàng, ăn mì xào dòn hay xào mềm, mì nước, hoành thánh ở đường Nguyễn Tri Phương hay hủ tiếu Nam Vang ở Chợ Cũ… Có khi thì cả nhà kéo nhau đi ăn chả giò ở đường Chaigneau, ăn phở chín ở đường Turcq, phở tái ở số 79 đường Võ Tánh, khi thì ăn cơm gà luộc ở chợ An Đông… Sau đó ghé vào chơi ở Đại Thế Giới, có ngồi loại xe điện để trẻ con ngồi lái, chạy đụng nhau cho vui… Đi một vài lần cho ba vui nhưng tôi không cảm thấy thoải mái trong không khí ăn chơi đó. Trong cái đầu nhỏ bé của tôi, tôi thấy có cái gì bất công trong cách sống của mọi người. Tôi không muốn bị cuốn vào guồng máy đó. Những câu hỏi như: Tại sao tôi lại được đi học, có cơm ăn, có tiền xài trong khi nhiều em bé còn nhỏ đã bị đánh đập, bắt đi làm thuê, bán báo, đánh giày, ở đợ và không được đến trường? Có khi thiếu ăn quá, đói, các em phải ăn cắp, bị bắt và đi tù. Tại sao? Tại sao?

Kèm trẻ để có tiền tự túc

Tôi bắt đầu im lặng từ chối theo ba và các anh chị lớn đi ăn tiệm mỗi tối khi ba lên Sài Gòn, tôi viện cớ bận làm bài thi v.v.., nhưng thật ra tôi đã làm xong bài từ buổi trưa. Buổi chiều tôi tìm cách xin đi kèm trẻ về toán và văn để có thêm tiền túi. Tiền làm ra tôi mời các cháu đánh giày vào tiệm, đãi chúng ăn thỏa thích, một tô mì nước, một đĩa mì xào dòn có tôm, mực, thịt bò v.v… và dĩ nhiên, tôi cũng ngồi thưởng thức chung với các em các đĩa mì ước mơ bằng tiền tôi làm ra, bằng lao tác kèm trẻ. Mỗi em được đãi hai món mà em thích. Một hôm tôi có ý định đi thăm nhà các em, tôi hỏi: tại sao em không được đi học? – Tại mẹ em nghèo không đủ nuôi thân làm sao nuôi em và các em em. Ba em đâu? – Ba bỏ mẹ rồi v.v… Tại sao tôi thương được mấy bé này mà ba nó bỏ nó? Cái đầu của tôi có nhiều câu hỏi không được giải đáp. Tôi vẫn đi học – điểm khá cao – vẫn đi kèm trẻ để có tiền cho các em đánh giày đi ăn tiệm mà chưa tìm ra được giải pháp.

Những áng mây màu

Tôi đã đến tuổi mộng mơ. Mỗi lần nghỉ hè về quê, nhân dịp anh Bảy hay anh Năm đàn cho hai chị hát, có anh Phú ở gần nhà anh Năm, cũng hay đến nhà chơi. Có khi anh Phú rủ cả nhóm trẻ đạp xe đạp đi cùng khắp các vùng quê quanh thị xã. Tôi rất ưa những cuộc du ngoạn bằng xe đạp ấy. Anh Phú rất yêu tiếng hát của tôi vì anh đàn Mandoline thật tuyệt. Đợi khi không có ai đứng gần anh nói khẽ vào tai tôi: Tiếng Phượng hát mỏng như tơ, rung nhè nhẹ… thật dịu dàng, anh muốn được nghe Phượng hát suốt đời… Mỗi khi nhà có dịp họp mặt người trẻ thì lúc nào anh Phú cũng nhìn tôi tha thiết năn nỉ tôi hát. Một hôm anh viết thư cho tôi, xin tôi cho phép được thương tôi như người bạn đời, và muốn xin cha mẹ anh đi tới xin làm đám hỏi thôi, rồi khi nào tôi lớn hơn và học xong mới làm đám cưới. Trời! 16 tuổi mà đeo nhẫn hỏi… Sao lạ vậy? Tôi làm như chẳng nhận được thư và luống cuống tìm cách tránh mặt anh ấy luôn. Trong nhóm bạn trẻ đến chơi nhà tôi vào mùa hè có Tuấn con bác sĩ Mãnh ở Bến Tre cũng thương tôi. Tuấn tuyên bố khiến nhiều bạn trẻ trong tỉnh đều biết là Tuấn thương tôi. Ngày nào chàng cũng tìm cách tới nhà, nói chuyện tầm phào và rủ tôi hát vì Tuấn đàn guitare espagnole hay lắm, nhưng tôi thì chỉ thích đạp xe đi chơi, nên Tuấn cũng phải đạp xe đi theo thôi. Tuấn, Phú, anh Rép, anh Nhứt, anh Nhì, chị Tám, em Mười và tôi… có khi đạp xe đạp đi vào một chùa quê xa tận Cầu Gò Đàn, có khi đi về phía bắc Hàm Luông về tận Mỏ Cày vào mỗi dịp hè, khi tôi về Bến Tre chơi hai tháng. Lên lại Sài Gòn, nhiều lần Tuấn tìm cách đến thăm tôi ở Sài Gòn nhưng tôi xin lỗi vì quá bận học và không tiếp. Sơn – Hoàng Xuân Sơn – em nuôi chị Tám, bạn anh Rép cũng hay tới chơi ở Sài Gòn. Sơn có viết nhiều bài thơ tặng tôi. Nhưng khi bước chân lên Sài Gòn, thì giờ của tôi là để học, để xứng đáng lòng tin cậy của ba má. Ham học và có nhiều ưu tư khác trong cuộc đời nên tôi tránh Sơn mãi, làm như chưa bao giờ nhận được bức thư nào của Sơn cả.

Hay tin quê nội đã bị bom đạn hoang tàn tôi thương nhớ và tập tành viết văn tiếng Việt, lúc này tôi học Marie Curie, nói tiếng Pháp cả ngày, nên thèm viết tiếng Việt. Mỗi tuần tôi viết một bức thư cho Hồ Hải Trân là để có dịp tả cảnh quê An Định của nội tôi cho các bạn người miền Bắc mới di cư vào Nam nghe. Hồ Hải Trân nhỏ hơn tôi hai tuổi, em họ của Yên và Thoại là bạn cùng lớp ở Marie Curie và xin làm em nuôi của tôi. Trân thương tôi như chị ruột. Hai chị em trao đổi thư từ bằng cách viết văn tả cảnh thật mượt mà đồng quê miền Nam và miền Bắc – tôi rất tiếc đánh mất những mẩu văn tả cảnh quê này, hình như hay lắm. Lúc này tôi bị ảnh hưởng văn của nhà văn Lưu Thị Hạnh, đọc bài văn mà nghe như có âm nhạc. Sau này khi liên lạc để giúp văn nghệ sĩ miền Bắc tôi mới biết Lưu Thị Hạnh là Hồ Dzếnh, nhà thơ làm những bài thơ lãng mạn như Chiều và những bài đượm tình quê hương như Người Con Gái Việt Nam, mặc dù ông là người Minh Hương – lai Trung Hoa. Tôi tả cho Hồ Hải Trân nghe cảnh sông nước An Định, nhánh bần gie trên sông, đom đóm đậu chớp chớp thâu đêm, tả những vườn dừa xanh um, những ruộng lúa vàng ươm, mặt trời lặn trên cánh đồng thơm mùi lúa chín. Còn Trân thì tả cho tôi nghe con sông Thương nước chảy đôi dòng, sông Tô Lịch, sông Hồng. Mùa Hè có khi Trân về Bến Tre thăm tôi và ở chơi cuối tuần với một người bạn cùng tuổi tên Bùi Ngọc Đường, tôi cũng xem Đường như em. Không ngờ Đường làm ba chục trang thơ tặng tôi, vừa vẽ vừa viết và hay ôm đàn hát cho tôi bản nhạc: Em đến thăm anh một chiều mưa. Tôi vô tình chẳng để ý. Một hôm Yến, Thoại, Yên và Dung ở Marie Curie, cười phá lên khi đọc 30 trang thơ mà Bùi Ngọc Đường tặng tôi vì trong đó nói rõ Đường đã tương tư Như Kiều. Khi đọc 30 trang thơ đó, tôi tưởng cậu ta cũng “viết tiểu thuyết” theo lối hai chị em tôi và Trân viết cho nhau, tả Như Kiều ngọt ngào ngây thơ ra sao. Đầu trang lưu bút thì Đường chỉ biên: Bùi N. Đường thân tặng người chị thân thương NKCNP. Tôi bỏ vào một xó vì quả thực là không có thì giờ để mà đọc. Năm đó tôi thi Tú Tài và vì sắp rời trung học Marie Curie nên tôi trao tập Lưu Bút cho các bạn cùng trường viết lưu niệm. Vì thế nên các bạn mới khám phá ra điều ấy. Thoại cười lớn: NKCNP là Như Kiều Cao Ngọc Phượng! “Toi”(bồ) ngu quá! Tôi đem ra phàn nàn với Trân, em Hồ Hải Trân và tôi giận Đường quá, nghỉ chơi với Đường luôn.

Dì Sáu tôi đã ly dị với dượng tôi vì ông hoàng Ưng Lê có nhiều vợ lẽ, nhiều cô hầu quá. Dì dọn nhà về ở Nha Trang, nhưng mỗi khi vào Sài Gòn thì hay đi thăm chị chồng, bà công chúa Công Nữ Dung Thơ. Bà có ba người con trai, người nào cũng thích mấy chị em chúng tôi. Anh Tùng rất yêu chị Tám, nhưng chị Tám đã chọn anh Ngôn rồi và ba má chúng tôi đều thương quý anh Ngôn nên anh Tùng không cưới được chị Tám. Anh buồn lắm nhưng tôi không muốn giúp anh vì tôi cũng không thích anh Tùng; nghe nói anh thường đi tiệc tùng khiêu vũ luôn. Em trai anh Tùng là Khá. Khá rất hiền, rất tốt, rất hiếu đễ với mẹ. Trong khi các anh khác đi khiêu vũ hết party này đến party kia thì anh Khá sau khi đi học về, chỉ ở nhà với mẹ. Từ khi quen tôi Khá ưa đem sách tới nhà tôi để tặng, hoặc cho tôi mượn sách hay. Khá không tỏ tình yêu tôi bằng lời mà chỉ bằng ánh mắt và cử chỉ. Ví dụ như biết tôi siêng học, Khá đã mua cho tôi tất cả những sách giải toán, lý và hóa và mỗi chiều thứ năm hay đến tận trường đón tôi cùng về nhà, rồi vào nhà của cậu tôi (tôi được cậu Bảy cưu mang cho ở miễn phí từ năm sắp thi Brevet d’Etudes du Second Cycle) để cùng làm bài giải toán. Khá ngồi cả buổi chiều giải chung những bài lý rồi hóa. Nếu làm không ra thì đem bài giải của sách ra mà xem. Chuyện học hành thì Khá đã ủng hộ tôi hết lòng. Khá còn đòi đi học Dược – dùm tôi – vì ba tôi rất mong có một người con làm dược sĩ mà tôi thì không thích học Dược chút nào. Nhưng Khá rất lơ là những ưu tư của tôi về những bất công xã hội, những câu hỏi đã xoay nhiều đêm nhiều ngày trong cái đầu bé nhỏ khá cứng của tôi. Tại sao? Tại sao mình được sinh ra như vầy, người kia bị sinh ra như kia v.v.. Mỗi chiều thứ năm, Khá đón tôi đi học về, có khi Khá rủ tôi đạp xe xa hơn, vòng quanh những con đường im mát, dưới những hàng me xanh sau trận mưa hè. Có khi Khá mời tôi ghé ăn một đĩa bánh nậm và bánh bột lọc ở một tiệm “các món ăn Huế’’ ở Tân Định. Sau đó mới đưa tôi về nhà, vào nhà làm toán chung, giải năm ba bài toán hay lý hay hóa rồi về. Chiều thứ bảy tôi lên xe lửa về Bến Tre thăm gia đình, Khá đưa tôi ra tận bến xe lửa để về quê. Tuần thứ hai đưa tôi ra ga, anh chàng theo lên tàu hỏa luôn và đưa tôi về tận Mỹ Tho, đưa qua phà Rạch Miễu rồi mới trở về lại Sài Gòn. Chẳng bao giờ chúng tôi nói yêu nhau, nhưng cả hai nhà đều biết. Tình yêu rất trong sáng và lễ độ trong sự quý mến nhau. Thỉnh thoảng, sau khi đi thăm các trẻ em đường phố nghèo gần nhà Khá, tôi có ghé lại nhà Khá thăm mẹ của Khá – gọi theo chị Công Tôn Nữ Diệu Minh là chị con dì Sáu của tôi – xin uống miếng nước và… thăm Khá. Bà cụ mẹ chàng rất thương và nhất định bắt tôi ăn trưa với bà và Khá. Lần đầu tiên tôi quán sát các thức ăn truyền thống theo lối Huế. Món nào cũng có chút xíu thôi, rất khéo. Một mâm cơm có hai mẹ con mà đến sáu món: một đĩa rau thơm và ớt xanh, một đĩa tôm tươi kho rim mặn, măng xào thịt bò, một đĩa su xào, một đĩa gỏi xúc bánh tráng nướng và một tô canh cải nấu gừng… Đĩa tô nào cũng nhỏ xíu, mới gắp một đũa (theo lối Nam) là đã hết!

Khi học triết học với giáo sư triết, Madame Simon, bà cứ giảng sự tiến hóa của tư tưởng triết học Tây phương và cuối cùng chấm dứt bằng tư tưởng của Karl Max là hay nhất. Trong cái đầu nhỏ bé của tôi, tôi nghĩ: Chắc là thuyết Marxisme mới giải quyết được những cái thấy bất công mà tôi chưa nghĩ ra được lời giải. Tôi đem hỏi Khá nghĩ sao? Khá không tha thiết, không màng gì đến những ưu tư bất công xã hội của tôi. Sau này khi học Phật tôi mới biết Thương mà không Hiểu thì tình thương sẽ không bền. Khá yêu tôi nhưng suốt thời gian yêu chỉ chiều chuộng mà không thật sự hiểu tôi. Tình yêu đó không được nuôi dưỡng bằng lý tưởng thì cây tình yêu trước sau gì cũng sẽ chết. Vì lẽ đó mà cuối cùng thì chúng tôi cũng phải chia tay thôi. May mắn là chưa đi tới hôn nhân nên chưa phải làm khổ đến họ hàng và con cái. Tôi quán chiếu thấy rằng, Khá có đẹp trai thật, khá hiếu đễ và đang học dược để làm vui lòng ba tôi thật, mẹ Khá và cả gia đình cũng thương quý tôi thật, Khá chiều chuộng tôi hầu hết những gì vật chất mà tôi thích, nhưng Khá không ngó ngàng gì đến niềm thao thức của tôi thì tình yêu sẽ chết dần thôi. Sau này học Phật tôi được Bụt nhắc quán chiếu để thấy mọi sự mọi vật đều vô thường, đều đổi thay từng phút từng giây, thì tình yêu cũng vô thường cũng đổi thay. Nhưng có những cặp vợ chồng mà tình yêu họ đổi thay nhưng càng ngày càng sâu thêm, bền thêm, quý mến thêm. Nếu tình yêu không lớn thêm thì tình sẽ dừng lại rồi sẽ chết.

 

Cao Ngọc Phượng lớp 12 Marie Curie (hàng đầu, người  thứ hai)


Gặp Thầy, gặp Bụt, tìm ra con đường

Năm đó tôi vừa đậu xong Tú Tài 2, tốt nghiệp Trung Học Marie Curie và chuẩn bị vào Đại Học. Vừa về tới Bến Tre, tôi hết sức ngượng khi nghe ba má báo tin đã đặt một con heo quay để đãi xóm giềng về cô Tú đầu tiên của gia đình họ Cao! Hôm đậu bằng Brevet Ba đã mua nguyên một con heo con quay rồi! Ba nói: Chuyến này con về Bến Tre, ba muốn con đi quy y với thầy Huyền Vi. Thầy giỏi lắm, không phải như mấy ông “thầy cúng” dưới quê mình đâu con. Hai thầy – thầy Huyền Vi và thầy gì đó, ba quên tên, tốt nghiệp Phật Học Đường Ấn Quang, giỏi vô cùng. Nhà mình đạo Phật mà không biết gì về Phật hết. Hồi này tôi chưa biết giáo lý của Phật nên chưa biết là ba tôi làm ngược lời Phật dạy: giết nguyên một con heo chỉ vì con gái mình đậu Tú Tài! Thời nay, người trẻ đậu tú tài rất đông, có gì lạ đâu, nhưng hồi thời của tôi thì trong tỉnh chỉ có mình tôi là con gái mà đậu tú tài! Nhà có xe hơi để đón tôi mỗi tuần từ phà Rạch Miễu về nhà nhưng ba tôi rất thích đi xe đạp, đạp đi đâu ba tôi cũng khoe: Con gái thứ chín của tôi mới đậu tú tài hai, sắp lên Đại Học! Ba nói với bác Đốc Trinh, bác sĩ Trần Quế Tử, cụ giáo Mạnh, cụ giáo Tròn, thầy giáo Dân, cô giáo Điềm, cô Lan… mời anh hay mời cô đến nhà chúng tôi mừng cho cháu! Tôi mắc cỡ chạy trốn mất ngày các cô bác tới ăn tiệc.

Tối nay cơm nước xong, mà cũng là ngày thứ bảy, có hai vị sư từ Phật Học Đường Ấn Quang về giảng đạo, ba muốn cả nhà cùng đi nghe. Ba má nói: “Thầy Huyền Vi là đệ nhứt giảng sư miền Nam đó con. Thầy chỉ mới nói vài câu là thiên hạ cười rộ, thích thầy lắm!” Tôi đến nghe và thấy thầy giảng cũng được được, hơn các ông thầy cúng ngày xưa nhiều. Cuối buổi giảng ba đem tôi lên giới thiệu con gái đỗ tú tài của ba với thầy! Tôi đặt vài câu hỏi về những ưu tư của tôi về bất công xã hội. Thầy Huyền Vi trả lời suông qua những điều Bụt dạy nhưng không làm tôi hài lòng, tôi hỏi tiếp những câu khác, thầy nói: Thầy bận, con đi vào hỏi ông thầy kia. Xem cách thầy chỉ “ông thầy kia” thì có vẻ như ông kia là “thị giả” của thầy để trả lời cho bọn con nít như tôi. “Ông kia” là thầy Thanh Từ, khoảng ba mươi lăm tuổi, dáng điệu khiêm cung, hiền lành, có vẻ “đàn em” của thầy Huyền Vi. Nhưng những câu hỏi hóc búa của tôi, thầy đều trả lời sâu sắc khiến tôi rất thán phục. Trời ơi, đạo Phật hay như vậy mà mình ngu quá, tưởng chỉ có Max, Hegel, Nietzche mới hay. Cái lạ là thầy Thanh Từ không hề biết triết học Tây Phương nhưng sự lão thông của thầy về Phật học đủ đánh ngã hết những triết thuyết Tây Phương. Tôi bỗng thương Phật vô vàn. Tội nghiệp đức bổn sư Phật Thích Ca! Ngài bị các ông thầy cúng, chẳng biết gì giáo lý của Ngài, làm đại diện, cúng kiếng kiếm ăn, sống trên những đám ma chay… vợ con luộm thuộm chẳng diễn tả được gì phẩm hạnh của Ngài. Tôi phát bồ đề tâm từ hôm đó và muốn sống đẹp như Ngài dạy. Tôi muốn thọ năm giới với thầy Thanh Từ thôi – không chịu thọ với ai hết! Thầy cười từ bi nói: Con thọ giới với Phật chứ đâu phải với thầy. Nhưng con ráng học thêm giáo lý rồi hãy thọ năm giới. Hai thầy chỉ ở Bến Tre một tuần rồi đi giảng nơi khác. Tôi say mê suốt tuần cứ chạy theo thầy để hỏi đạo. Từ chuyện có Thượng Đế, có tạo hóa hay không. Chúa có tạo ra heo bò gà vịt cho mình ăn không? Tại sao người này ăn hiền ở lành mà vẫn bị chuyện rủi ro, người kia dữ dằn mà vẫn phây phây giàu có. Thầy giảng lão thông lý nhân quả, luân hồi nghiệp báo khiến tôi mê say. Về tới Sài Gòn tôi kéo Khá đi nghe thầy giảng, Khá thoái thác bảo bận.

Tôi ghi tên vào Đại Học Khoa Học, lớp Sciences Physiques, Chimiques et Naturelles (viết tắt SPCN) và đồng thời ghi luôn lớp MPC (Mathematiques, Physique et Chimie). Học MPC cứ làm toán, cứ cân tạ, thử sức vận tốc những lực centrifuge, centripede Physique và học Chimie thì cứ thí nghiệm những hóa chất…, tôi học cũng được nhưng không thích thú gì mấy. Đi bên Khoa Học Thiên Nhiên, lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với những núi đá, biết tuổi đá mấy trăm triệu năm thuộc Ere primaire, secondaire hay tertiaire rất là thích thú. Tôi được lội xuống biển xem san hô to như những lâu đài đủ màu sắc, tôi được vào rừng khám phá từng bụi cỏ từng lá cây, tiến trình của các sinh vật… thật mầu nhiệm. Cùng lúc ấy tôi cũng say mê đi tìm hiểu đạo Phật. Thầy Thanh Từ bận dạy ở Phật Học Đường Lưỡng Xuyên Trà Vinh, xa quá tôi không đi được nhưng thầy Huyền Vi ở chùa Ấn Quang tại Sài Gòn. Tuy không thỏa đáng khi nghe thầy Huyền Vi và nhiều thầy khác giảng nhưng tôi vẫn không bỏ sót một buổi giảng nào của quý thầy tại chùa Ấn Quang mỗi tuần ít nhất là ba ngày: Thứ tư nghe thượng tọa Thiện Hoa giảng Đại Thừa Khởi Tín Luận, thứ sáu nghe thầy Huyền Vi giảng Phật pháp căn bản, vào Dược Sư nghe ké với Ni viện bài giảng của thượng tọa Từ Thông kinh Pháp Hoa. Thầy Từ Thông giảng tới đâu hay phác họa, vẽ hình trên bảng rất đẹp, đó là tiểu xảo, cũng vui vui. Chỉ có thầy Thiền Định và thầy Hộ Giác… là giảng yếu nhất, đã không sâu mà hai thầy dùng danh từ hơi… đời nên tôi không ưa đi nghe, nghe thầy Hộ Giác một lần ở chùa Kỳ Viên, thầy Thiền Định ba lần ở Chùa Ấn Quang nhưng sau tôi không đi nữa. “Ngã mạn ngầm” là điểm dở nhất của tôi. Sau một năm tính sổ tu học, tôi quyết định chỉ quy y với thầy Thanh Từ thôi, không quy y ai hết! Nhưng khổ nỗi, khi truyền giới thì luôn có ba thầy: thầy Huyền Vi, Thanh Từ và Thiện Tín. Thầy Thiện Tín là thầy trú trì chùa Phật Quang ở Bến Tre quê tôi, thầy Thiện Tín đã mời hai vị đại giảng sư Huyền Vi và Thanh Từ về giảng. Thầy Thiện Tín hiền từ và khiêm cung nên tôi cũng rất trân quý hạnh của thầy. Trước khi quy y, tôi cứ hỏi Thầy Thanh Từ Diệu Không là sao? Sau này thầy tiết lộ là thầy định cho tôi tên Diệu Vân vì thầy thấy tôi ưa lo cho trẻ em nhà nghèo như đám mây lành che chở cho tụi nhỏ nhưng vì thầy biết tôi ưa tên Diệu Không nên cho luôn tên đó. Trong phái quy y Năm Giới của tôi có tên ba thầy Huyền Vi, Thanh Từ và Thiện Tín. Tôi có duyên may được đọc quyển Ánh Đạo Vàng, đời của Phật Thích Ca do anh Võ Đình Cường viết nên càng yêu quý Phật vô cùng. Những năm ở Đại Học là những năm tôi mê đạo Phật một cách cuồng tín! Ai nói đụng tới Phật là tôi ăn ngủ không yên, đem những thắc mắc đó đi hỏi từng thầy. Cuối cùng thì chỉ có mình thầy Thanh Từ là giải đáp thỏa đáng nhất những thắc mắc của tôi, mà thầy lại rất từ bi, không ăn thua đủ với mọi người như tôi. Cứ có giờ rảnh rang mà ngồi nói chuyện chân lý với các bạn Công giáo là tôi cãi say sưa với các anh chị bạn đó và… lúc nào thì tôi cũng thắng. Các bạn Công giáo ở Việt Nam thời này cũng rất là kiêu ngạo. Họ nói đạo Chúa là đạo văn minh vì chính người Tây Phương văn minh mà cũng là đạo của họ. Nhưng mỗi lần bị tôi bắt bí thì họ nói: C’est le mystère de Dieu! (Đó là bí mật của Thượng Đế). Như là khi tôi hỏi: Nếu Chúa là Tạo Hóa, là Tình Yêu sao Chúa tạo ra những cơn bão tố, lụt lội, sóng thần, giết chết hàng chục ngàn người bên Bangladesh, Chúa tạo bệnh dịch hạch cho con người chết như rơm rạ bên Phi Châu, và toàn là những người nghèo khổ, v.v… Các bạn Công giáo nói đó là Chúa muốn thử, tôi không đồng ý cách giải thích đó. Sao Chúa không thử cái ông nhà giàu kia phây phây làm ác lại cứ thử những người lương thiện? Các bạn Công giáo đã kiêu ngạo khinh khi đạo Phật thì tôi cũng đã kiêu ngạo và khó chịu vô cùng với các bạn Công giáo. Chắc là điều này không phải là điều Phật và Chúa dạy cho chúng tôi. Chúng tôi (những người Phật tử lý thuyết và những người Thiên Chúa Giáo kiêu ngạo) mới theo đạo ngoài da!

Tu phước và tu huệ

Tôi đã hỏi thầy Thanh Từ rằng vì sao đạo Chúa là thiểu số mà họ có viện nuôi trẻ mồ côi còn đạo Phật thì không làm gì giúp người nghèo hết. Thầy Thanh Từ nói: Đạo Phật giúp người thêm từ bi và nếu mình có cháu mồ côi cha mẹ thì mình nuôi chứ không bỏ vào viện mồ côi. Tôi rất thích lối giải thích này nhưng vẫn thấy người Phật tử không xứng đáng lắm với kỳ vọng của đức Thích Ca. Tôi phát nguyện sẽ làm việc hết lòng giúp người nghèo khổ để xứng đáng với kỳ vọng của đức Từ Phụ. Tôi bắt đầu phát tâm xuất gia tu học để dành hết thì giờ sống theo lời Phật dạy. Chiều thứ năm đi chơi với Khá cũng vui, nhưng đi tu thì sướng hơn nhiều. Suốt ngày tôi chỉ làm việc Phật thôi! Tôi thuật hết cho thầy Thanh Từ nghe hoài vọng của tôi nghĩa là tôi muốn xuất gia tu học và chỉ để thì giờ lo cho người khổ như việc tôi đang làm ở các xóm nghèo thôi. Tôi trình để thầy rõ là ngay hồi chưa biết Phật mà tôi đã đem các cháu đánh giày, móc túi… đến trường bằng cách đi xin bạn bè, cô bác quen thân mỗi ngày dành cho tôi một nắm gạo, cuối tháng tôi đi thâu gạo và đem cho mỗi cháu 15 ký như là học bổng để ba mẹ cháu cho cháu đến trường. Tôi cũng đã đi lo làm giấy khai sinh cho các cháu thì trường mới nhận cháu vào lớp… Thầy cười thương hại nói: Con làm việc phước thiện nhiều quá. Đó là tu phước. Người theo Phật phải phát tâm tu huệ mới được. Tu phước thì thế nào sau này cũng được tái sanh vào gia đình giàu có nhưng không giác ngộ thành Phật được. Phật là đấng tối cao duy nhất, Ngài đã nói: Ta là Phật đã thành và mọi người là Phật sẽ thành! Con phải theo gót Ngài để tu thành Phật. Thành Phật rồi con muốn độ bao nhiêu con mồ côi, giúp bao nhiêu trẻ nghèo đều được hết. Tôi đồng ý 100% và quyết chí chuẩn bị xuất gia để ráng tu thành Phật sau khi thi xong cử nhân! Tôi bắt đầu tới thăm các Ni viện vùng Sài Gòn Chợ Lớn. Ni sư Vĩnh Bửu là người Bến Tre thân cận với gia đình tôi nhiều. Ni sư cũng rất thương tôi nên mới khen tôi và nói: Con ráng tu cho giỏi thế nào kiếp sau cũng sẽ thành nam nhi. Thân phụ nữ nặng nề lắm con ơi. Đàn ông họ đâu có kinh nguyệt như mình, và cứ ráng tu đi, mươi mười lăm kiếp sau thế nào cũng thành Phật! Tôi hết sức ngạc nhiên. Tại sao phải thành nam nhi? Kinh nguyệt là tại vì mình là người nữ chuẩn bị làm mẹ mỗi tháng, không chịu làm mẹ thì thải chất dư đó ra thành kinh nguyệt, không chịu sinh đẻ thì đi tu làm mẹ tinh thần của các cháu cực khổ của các xóm nghèo, thân phụ nữ rất đẹp, có gì mà nặng nề, mà khổ đau? Tôi phải “méc” thầy Thanh Từ mới được, giải thích điệu này thì làm sao lý luận lại với các bạn Thiên Chúa giáo hay các bạn vô thần của tôi đây? Khi tôi đem việc ni sư dạy, và hỏi thầy Thanh Từ nghĩ sao thì thầy chỉ cười hiền: “Bên các ni viện các sư cô nghiệp nặng lắm con à. Thầy cứ đến giải quyết hoài.” Cái đầu khá cứng của tôi không hài lòng với cách giải thích này nhưng vị thầy quý kính nhất của tôi đã nói như vậy thì tôi còn biết chia sẻ với ai? Nhìn sâu, tôi không hề thấy có nhu yếu kiếp sau thành con trai. Đối với tôi, con trai có nhiều người còn yếu đuối hơn tôi là con gái mà tính khí khá cang cường. Tôi tự kết luận, con trai hay con gái gì cũng như nhau. Tùy di thể của ông bà tổ tiên và tùy môi trường lớn lên mà mình như thế này hay như thế khác. Hai người anh hùng đầu tiên của Việt Nam đánh đuổi quân đô hộ Tàu là hai Bà Trưng, rồi cô thiếu nữ nhà họ Triệu đứng lên tập họp binh sĩ đi đánh giặc Tàu, đâu phải đàn ông ít nghiệp mới làm được việc, mới mau thành Phật hơn phụ nữ? Nếu nói tôi đi cứu giúp các em nghèo đói sống trên vỉa hè là để kiếp sau sẽ thành con gái nhà giàu thì tôi lại bực hơn nữa. Tôi muốn thưa với thầy: Con giúp chúng nó vì chúng nó cần con. Thế thôi! Con không cần làm công chúa hay con nhà giàu gì hết. Tôi cũng muốn thưa với ni sư Vĩnh Bửu là con muốn đi tu và có nhiều khả năng như Phật để cứu người được nhiều hơn, nhưng con không cần làm con trai để hết nghiệp phụ nữ. Nhưng… tôi đã giữ năm giới rồi, đã là Diệu Không rồi… đâu có ăn nói ngang tàng với thầy bổn sư và ni sư lớn như vậy được? Tôi tự nhủ: Chắc mình phải lập một ni viện để chính mình tu thôi, sẽ rủ em Mười nè và vài bạn khác đi tu chơi. Lập một cư xá nuôi nữ sinh nhà ở xa đến ở trọ và mình sẽ cảm hóa các em bằng sự tu hành của mìnhmà thôi. Rồi thế nào cũng có các em đi theo mình xuất gia tu học. Tôi sẽ có nhiều chương trình rất hay cho các em nghèo đói. Ni sư Tịnh Nguyện, người Miền Bắc di cư vào Nam là người có chí khí lớn. Ni sư cất chùa xong làm thêm một số phòng để dành cho các thiếu nữ xa nhà có chỗ trọ. Nghe tôi đã xong cử nhân và đang làm giảng nghiệm viên tại Đại Học Khoa Học nên ni sư có ý nhờ tôi tới chơi với các em nữ sinh viên vì bên Thiên chúa giáo có cư xá Thanh Quan đã thu hút các em và đã kéo khá nhiều các em con nhà đạo Phật vào đạo Chúa rồi. Tôi có đến giúp đỡ ni sư và chơi với các em, nhưng chưa được mấy tháng làm việc với ni sư thì một hôm ni sư đi Huế về và khóc nghẹn ngào thuật chuyện tám em Gia Đình Phật Tử bị xe tăng chính quyền Ngô Đình Diệm cán nát đầu tại Đài Phát Thanh Huế hôm Phật Đản…

Chương 1: Gốc rễ

52 năm theo thầy học đạo và phụng sự – Hồi kí của Sư cô Chân Không


Phước đức, hạt giống thương yêu

Tôi sinh vào năm Cọp, 1938, tại xã An Hội tỉnh Bến Tre, người con áp út trong gia đình, bảy gái, hai trai. Gia đình bên nội tôi, di cư vào Nam từ xứ Quảng (Quảng Nam hay Quảng Ngãi chi đó), đã tám đời làm nghề nông ở làng An Định, huyện Mỏ Cày. Ruộng đồng trên châu thổ sông Cửu Long rất màu mỡ, cây trái nào trồng ở đây cũng trĩu nặng quả thật to mà không cần phân bón. Vừa rời phà Rạch Miễu, bước chân lên bờ là bạn sẽ thấy xanh mướt những dừa là dừa, những cây chuối, bụi chuối, và những vườn chuối nhiều như rừng. Cây chuối, cây dừa nào cũng mập, bụ bẫm, chứ không khẳng khiu như các thân chuối ở đèo chuối Tây Nguyên. Thôn làng nam Việt Nam thời xưa được chăm sóc bởi Ban Hội Tề gồm mười hai vị, ông nội tôi được bầu làm thủ bổn Ban Hội Tề suốt cả đời ông, vì ở xã An Định, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre ông nổi tiếng là rạch ròi về tiền bạc, liêm khiết và đức hạnh. Mỗi khi có lụt lội hay hạn hán Nội tôi thường yêu cầu Ban Hội Tề cho xuất quỹ làng nộp thuế đinh cho nhà nước thay cho những người dân nghèo không đủ ăn và không đủ tiền nộp thuế. Riêng phần Nội tôi, khi có thiên tai thì đã không lấy thóc của người tá điền mướn đất làm thuê của mình, mà còn chia cho họ thêm lúa gạo của nhà khi nhà họ đói, số gạo mà chính Nội tôi và các bác tôi trồng, cấy và gặt, cũng còn là gạo thừa của các năm trước. Nội tôi thường nói với các bác, với ba tôi và với chúng tôi rằng: “Nội không nhiều ruộng vườn và tiền bạc như những nhà giàu ở An Định Mỏ Cày, Bến Tre, nhưng Nội để dành cho các con và các cháu của Nội nhiều phước đức. Các con cháu ráng mà sống cho có phước đức như Nội, ăn nhiều đời cũng không hết, ráng sống xứng đáng như Nội đối với gia đình đã đành và nhất là đối với đồng bào và đất nước mình”. Có thể vì thế mà con cháu của Nội hưởng nhiều phước đức của người. Đứa nào cũng có rất nhiều duyên may.

Gia đình bên ngoại tôi có một siêu thị lớn ở thị xã Bến Tre. Nghe má tôi nói rằng ông ngoại nhờ trí nhớ tài tình – Ngoại thuộc lòng cả cuốn tự điển Pháp Việt thời đó – nên tự biên thư sang Pháp đặt và nhập cảng những mặt hàng của Âu Châu như xoa (soie) Pháp, giày Bata, nón Tây và nhiều loại hàng hóa như một siêu thị của Pháp, nhờ thế gia đình cũng khá giả. Bà ngoại tôi chết sớm khi má tôi mới bảy tuổi và má tôi có người chị thứ sáu đảm đang, đứng ra lo chăm sóc siêu thị và dạy dỗ cậu Bảy tôi, má tôi và dì Chín. Mùa đông nào ông ngoại tôi cũng dạy các dì tôi đi mua chiếu để phát cho những người không nhà, nằm co ro ngủ trong các chợ trời hay các vỉa hè. Cậu tôi cũng đem tặng quà cho tù nhân hai lần mỗi năm.

 

Ba tôi

Ba tôi tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Gia Định về ngành vẽ truyền thần – trên tường nhà chúng tôi có hình ông bà nội, ông bà ngoại thật to 1mx1,50m do ba tôi vẽ thật sống động, như là người thật vậy. Vì nghề hội họa không đủ nuôi chín đứa con nên ba tôi chuyển sang ngành vẽ nhà cửa, vẽ công sở, đường sá, trường học cho Sở Công Chánh. Mỗi khi vẽ xong một trường học cho xã nào đó, ba tôi biết tính toán giúp luôn cho chương trình. Ví dụ như muốn hoàn thành xây một trường học thì công trình cần bao nhiêu bao xi măng, bao nhiêu thước cát, thước sạn, bao nhiêu kí sắt và bao nhiêu viên gạch, bao nhiêu miếng ngói. Ông kỹ sư Trưởng Ty Công Chánh, người Pháp, rất phục ba tôi vì ông thấy xây cất xong, công trình chỉ dư nửa bao xi măng và vài viên gạch bể mà thôi. Ông kỹ sư tự thú là không tính được như vậy nên rất quý mến ba tôi. Nhiều người giàu có trong tỉnh nghe tài ba tôi nên hay nhờ ba tôi vẽ giúp ngôi nhà tương lai của họ, tính toán vật liệu xây cất giúp… (thời đó ở quê tôi chưa có ông kiến trúc sư nào hết). Vẽ nhà, xây cất, làm ngoài giờ làm việc nên ba tôi cũng có dư chút tiền. Dư đồng nào ba tôi hay mua ruộng và giao cho mươi người tá điền chăm lo. Mỗi năm họ đem tới cho ba tôi tiền bán lúa phần mướn đất của ba. Khi nào lụt lội hay hạn hán, ba cho miễn luôn việc trả lúa, nhưng khi được mùa ba tôi luôn khuyên họ nên để dành tiền, đưa cho ba tôi giữ và khi trả đủ tiền mua đất, ba làm giấy sang tên để họ được làm chủ đất của mình. Hơn mười hai người tá điền nhờ sự giúp đỡ của ba tôi mà trở thành chủ đất. Họ thương ba tôi còn hơn người thân của họ, vì thế khi Việt Minh đảo chánh Nhật và Pháp, bần cố nông lên nắm chính quyền, Việt Minh đã bắt tất cả những người làm việc trong chánh quyền thuộc địa trong đó có ba tôi. Nhưng chỉ vài tuần sau là ba tôi được trả tự do với một số ít người, số còn lại gần một trăm người bị thủ tiêu nơi nào mà gia đình cũng không tìm được tung tích. Ba tôi hay căn dặn: “Đi chợ trời, nếu các con thấy những người đứng bán vài bó bông súng, rau dừa, rau muống… giữa trời, cả buổi sáng để kiếm vài đồng nuôi gia đình, các con không được quyền trả giá nghe chưa? Vài đồng đối với họ là lớn lắm, đủ mua thêm gạo nuôi con họ.” Và tôi đã đem trái tim thương người nông dân của ba đi về tương lai. Tôi đang sống điều ước mơ của Nội: ráng sống xứng đáng với đồng bào và đất nước.

Má tôi

Má tôi cũng làm ra nhiều tiền nhờ nghề dạy nữ công gia chánh cho con gái nhà nề nếp. Họ tới nhà chúng tôi ở vài ngày hay vài tuần học thêu thùa, cắt may hay nấu những món khéo léo trước khi đi lấy chồng. Tiền công dạy học, má tôi mua cho mỗi con một ít nữ trang (một loại quỹ tiết kiệm) và giúp cho những người hàng xóm nghèo gầy vốn làm ăn sinh sống. Giúp một gia đình nghèo này mở quán cơm sáng cho dân lao động, giúp một chị chồng chết một ít tiền làm vốn đi bán chè xôi… Nếu làm ra tiền họ sẽ trả lại cho má tôi, nếu vì lý do nào thua lỗ thì má tôi cho luôn, không đòi nợ họ. Và họ đều trở thành con cháu trong nhà, xem má tôi là bà ngoại bà nội của họ.

Ba má tôi giống như hai cây sồi to lớn che chở không biết bao nhiêu sinh vật quay về nương tựa. Trong đại gia đình ở xã An Định, chỉ có ba tôi là người duy nhất có nhà ở thành phố Bến Tre. Toàn tỉnh này thời đó, chỉ ở thị xã Bến Tre mới có trường tiểu học. Nhỏ nhất là lớp Năm vỡ lòng rồi đến lớp Năm biết chữ, lớp Tư, lớp Ba. Sau năm lớp Ba sẽ được thi bằng Sơ Học Certificat d’Etudes Elémentaires. Xong mới lên lớp Nhì Một (Cours Moyen Premiere Année) và lớp Nhì Hai (Cours Moyen deuxième année) rồi lớp Nhất. Cuối năm lớp Nhất sẽ được thi bằng cấp cao nhất tỉnh Bến Tre là Certificat d’Etudes Primaires. Mỗi khi tới mùa thi Certificat d’Etudes Primaires là thành phố Bến Tre bỗng vui nhộn vì rất đông học trò từ các huyện về thi Tốt Nghiệp Tiểu Học: học sinh từ Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri và Tân Thuận… đều về trường tỉnh mới được thi. Thi đậu xong mà muốn học lên Trung Học phải đi Mỹ Tho (Tiền Giang bây giờ) để dự cuộc thi tuyển, không phải người có tiền muốn đi học trung học là được. Mỗi năm Collège de Mỹ Tho chỉ chọn hai trăm học trò cho cả ba tỉnh Bến Tre, Mỹ Tho và Trà Vinh. Dân Bến Tre thường nổi tiếng chiếm sáu bảy vị trí đầu tiên vào Collège de Mỹ Tho. Các nhà khá giả hơn mới cho con lên Sài Gòn thi tuyển vào Collège Petrus Ký (cho nam học sinh) hay Gia Long (cho nữ học sinh). Học trường tiểu học cho tới lớp nhất là cao nhất, vì thế nên các con của bác Hai, bác Ba, bác Tư, bác Sáu, bác Chín và cô Út đều sang nhà của ba má tôi mà ở, ăn cơm và đi học tiểu học. Khi tôi 5 tuổi thì ba má tôi nuôi đến 22 “người con” vốn là các con của bác Hai, bác Ba, bác Tư, bác Sáu, bác Chín, cô Nhứt và có khi cả các con nhà chú nhà bác anh em họ của ba tôi nữa. Hai mươi hai miệng ăn toàn là con các chú cô của tôi nhưng nhà lại có thêm một cô bé lớn hơn tôi hai tuổi, chị Bê từ Huế vào. Dì Sáu tôi có chồng người Huế, dượng tôi là ông hoàng Ưng Lê thuộc phủ An Hiệp. Mỗi khi ngoài ấy có thiên tai, dì hay nhờ má tôi nuôi giúp vài trẻ nhỏ cha mẹ nghèo nuôi không nổi sau những trận lụt lội lớn và đói kém. Ba má tôi nuôi các cháu, cho ăn học và tới 18 tuổi thì cho phép các vị đó được trở về quê làm việc nuôi gia đình. Khi tôi ba tuổi thì nhà đã có chị Bê, chị mới năm tuổi, được dì tôi gửi từ Huế vào. Má tôi cũng hứa khi được 18 tuổi sẽ cho chị về lại nuôi gia đình chị. Nuôi hai mươi hai miệng ăn không phải là chuyện dễ. Tới giờ ăn, đứa trẻ nào cũng ưa dành phần mình miếng thịt nướng hay phiến cá to và không bao giờ hài lòng với phần được chia. Vì thế chị Hai (cả) tôi phải chọn 22 miếng thịt hay 22 phiến cá, để thành vòng trên một chiếc mâm to, trước mỗi phần là một vài hạt cơm làm dấu. Chị đậy các phần lại bằng chiếc mâm thứ hai hay chiếc lồng bàn. Chị xoay mâm một vòng và dừng lại, các trẻ xúm nhau bốc một phần. Đôi khi miếng cơm làm dấu bên ngoài khá to mà miếng cá bên trong nhỏ xíu! Nhưng mà mình đã lỡ bắt thì phải chịu thôi.

 

SCCK va Gia dinh.png

Sư cô Chân Không (khi còn nhỏ) và đại gia đình

 

Thanh quản của má

Má tôi hay làm thơ và ưa hát nên mấy anh chị em chúng tôi đều hát được. Sau này hai người con của má hay ca hát cho mọi người nghe là anh Sáu tôi và tôi, mặc dù chị Năm, chị Bảy và em Mười tôi cũng hát rất hay. Ngày xưa anh Năm yêu chị Năm cũng vì anh đàn guitare và chị Năm hát, anh Bảy yêu chị Bảy vì cũng đệm đàn và cùng nhau hát. Anh Bảy cũng rất nghệ sĩ, đàn và hát hay lắm, mà vì chiến tranh nên phải vào trường Võ Bị Đà Lạt và sau này chết ở chiến trường. Em Mười tôi cũng hát rất hay trong Ðoàn Sinh Viên Phật Tử và tôi nhớ nhiều cháu con của chị Ba tôi như Gaby, Danielle, con chị Bảy tôi là Thúy đều có giọng hát rất hay. Di thể ưa hát của má đã truyền đến anh Sáu tôi, biến thành những thanh quản kỳ diệu. Ca sĩ Cao Thái là anh thứ sáu của tôi đã làm bao nhiêu khán giả từ Âu sang Á say mê. Tôi thì không cho chuyện ca hát là quan trọng mặc dù miệng tôi lúc nào cũng ưa hát. Tôi ham làm một trăm việc khác, cũng từ những di thể từ bi của ba má và nội ngoại nên không bao giờ đi hát chuyên nghiệp như anh Sáu Cao Thái của tôi. Không ngờ trong mấy mươi năm gần đây, tôi theo Thầy đi dạy thiền quán, khi dạy về Niệm thân trong thân, tôi hướng dẫn thiền sinh nằm buông thư để phục hồi sự an bình và tôi khe khẽ hát. Tôi phổ nhạc những bài thơ của thầy Nhất Hạnh như bài Những Viên Ngọc Quý, Đây Là Tịnh Độ, Con Cá Dung Thông… Tôi dựa theo các bản dân ca như Lý Con Sáo rồi tự sáng tác thêm lời thành Lý Ngồi Thiền, Cơn Giận Thành Hồ Sen để giúp người tu học. Các bài dân ca như Lý Giang Nam, Lý Đan Đệm đều được tôi viết lời mới và tự hát giúp thiên hạ nằm buông thư… Bài dân ca Qua Cầu Gió Bay được anh Chân Sinh đổi thành lời tu học cũng được tôi sử dụng để dạy cho thiền sinh Việt Nam, ai cũng thích… Une chanson Douce của Henri Salvador, nhạc Lullaby của Schwartz tặng con của Mozart, tôi đặt lời Pháp, Anh và Việt… Hàng ngàn thiền sinh Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Hòa Lan và Việt Nam bỗng yêu thích giọng hát nhẹ nhàng của tôi vô cùng. Không định làm ca sĩ mà có thể đĩa hát của tôi được phổ biến hàng chục ngàn bản rồi, hơn đĩa của Ca Sĩ Cao Thái nhiều lắm. Tôi hay nói thầm: Má ơi, má có biết là những thanh quản của má lên đường đi rất xa không? Có những thanh thiếu niên Hòa Lan, Pháp, Hoa Kỳ và Đức, được mẹ đưa tới chào tôi: Vì sư cô đã ru cháu ngủ bốn năm nay rồi..! hay ba năm nay rồi..! Trước đó cháu bị chứng bệnh trầm cảm nặng, sư cô đã cứu cháu! Nhiều người Đức, Hòa Lan, Hoa Kỳ cứ tới khóa tu của Sư Ông thì đi tìm tôi để cám ơn: Nhờ sự hướng dẫn Thiền Buông Thư của sư cô mà tôi hết bệnh mất ngủ. Mới hôm tháng 9 năm 2007, có ba vị nữ Phật tử Việt Nam đến Tu Viện Lộc Uyển xin chụp một tấm hình với sư cô Chân Không, vì “nhờ nghe bài Con Cá Dung Thông sư cô hát mà chúng con ăn chay trường luôn!” Tôi về Việt Nam 2005, ghé qua miền Bắc mấy ngày, có chia sẻ thiền buông thư. Không ngờ hai năm sau trở về tôi bỗng “nổi tiếng” không chờ đợi. Hôm Trai Đàn Chẩn Tế ở Chùa Non, mỗi lần tôi đi qua đám đông (ở các chùa khác như Đình Quán hay Bồ Đề cũng vậy) thì có tiếng xì xào: Sư Cô Chân Không đấy con, ra chào sư cô đi và sau đó vị đó nói Mẹ con ngủ được nhờ sư cô dạy”, hay là “Cháu nó cứ đòi đi gặp sư cô thôi vì nó yêu tiếng hát sư cô rồi, cháu nghe đĩa của sư cô hoài!”, hay “Ô kìa, sư cô Chân Không mẹ ơi, ra xin chụp một tấm ảnh với sư cô đi mẹ. Thì ra họ đã chuyền nhau băng CD tôi dạy Thiền Buông Thư! Hàng chục nghìn băng đĩa ấy đã từ Mỹ sang Âu Châu, Á Châu, Úc Châu… và tới tận những hang cùng ngõ hẻm của Việt Nam. Thanh quản của má tôi đã đưa hai mẹ con tôi đi thật xa trong sự nghiệp giúp người buông xả, hướng về đường thánh thiện. Con cám ơn má. Cám ơn thanh quản của bà ngoại và má…

 

Má ơi, con muốn đi học

Có thể tôi có được cái di thể trí nhớ dai của ông ngoại nên năm mới lên ba, tôi đã thuộc lòng hết các bài tập đọc trong ba cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư mà các anh chị ruột và anh chị họ đi học về hay đọc to lên. Tôi chưa biết dù là một chữ a, b, c nào hết nhưng phải mở đúng trang đó tôi mới chịu đọc bài đó. Mỗi khi khách đến chơi, người lớn trong nhà hay “khoe”: Cháu mới ba tuổi mà đã biết đọc rồi. Mời cô dạy cháu đọc bài nào đi. Người khách mở trang nào tôi cũng nhận ra hình vẽ đó là của bài văn đó nên đọc vanh vách trọn bài khiến khách rất “nể”. Tôi cũng rất ưa đi học. Mới ba tuổi rưỡi vừa tập nói thì tôi đòi đi học: “Má ơi, con dài bằng cái gối dài này rồi, sao con chưa được đi học?” Một bữa khác lượm được cái chổi lông gà để quét giường, (trong Nam gọi giường ngủ bằng gỗ là bộ ván hay bộ ngựa gồm ba hay bốn tấm gỗ to dài và dẹp. Gỗ bào rất láng, màu mun đen, kê trên hai “chân ngựa” dài ở hai đầu miếng gỗ. Có lẽ vì thế mà gọi là bộ ván vì gồm bốn tấm ván lớn, hay bộ ngựa vì kê trên hai đòn dài gọi là chân ngựa) tôi đứng so mình với cây chổi lông gà rồi phàn nàn là: “Con cao bằng cây chổi lông gà rồi mà chưa được đi học!” Trường tiểu học thời đó chỉ nhận trẻ em từ sáu tuổi. Từ khi tôi ba tuổi rưỡi đến bốn tuổi, người lớn trong nhà tôi cứ nghe tôi lải nhải đòi đi học và vì thấy tôi cũng thuộc hết cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư nên phải tìm những cô giáo mở lớp dạy học riêng tại nhà để gửi tôi đến “trường”. Lớp cô Hai Tài ở Phú Khương, cách nhà cả hơn một cây số. Thế là chị Bê được công tác vừa đi học, vừa đưa tôi tới lớp, hai chị em đi bộ. Lớp học đông và vui lắm, tôi hạnh phúc lắm. Nhưng nhìn qua nhìn lại, tôi tự thấy mình bé quá, không giống các anh chị học trò lớn ôm cặp to, áo quần lem luốc mực, trông thật “oai” như học trò thứ thiệt! Tôi cũng cẩn thận cắp sách đến trường mỗi ngày, cũng ôm bình mực tím có sợi giây đen tòng teng trên ngón tay mà chẳng ai thấy cả! Hôm ấy tôi “làm gan” cố ý tự đổ nhiều giọt mực trên áo, vài vết mực trên quần cho… giống học trò lớn! Tôi cũng biết trước là về nhà sẽ bị chị Hai khẻ tay nhưng không sao. Chị Hai tôi như một bà mẹ nhỏ, chị chăm sóc tắm rửa cắt móng tay móng chân cho chúng tôi vì mẹ tôi có đông con quá mà còn dạy nữ công cho các thiếu nữ đến học nên ít giờ chăm sóc cho con. Chiều nào chị cũng tắm và bắt chúng tôi mang guốc cho sạch sẽ, nhưng tôi thì rất thoải mái khi đi chân không! Vì thế mà chiều nào cũng bị khẻ chân. Có lẽ tôi là người “ăn đòn” của chị Hai nhiều nhất vì áo quần thốc thếch. Em Mười, em út của tôi thật xinh, da mịn mềm, có nhiều áo lụa hoa đủ màu, lúc nào cũng sạch sẽ. Riêng tôi thì ngay cả sợi dây lưng quần cũng rơi đâu mất hoài nên tôi chỉ vận quần trái ổi cho mau! Ai cũng gọi em Mười là “cưng”, tôi cũng gọi em là cưng và cũng ưa hôn vào gò má mịn và thơm của em. Em ưa chơi búp bê, còn tôi thì không cần các thứ ấy. Lúc tản cư ở nhờ nhà cô dượng Hai trong vườn dừa và chuối, tôi lượm các trái dừa con, chơi cũng đủ vui.

 

Niềm vui bé nhỏ

Sau hơn một năm di tản về quê nội, gia đình tôi về lại nhà ở Bến Tre, tôi có niềm vui chọn một góc vườn nhỏ để gieo hạt các loại hoa trồng vào dịp Tết như bông vạn thọ, bông nở ngày, bông mồng gà, bông cúc và bông móng tay… Mỗi ngày tôi tưới nước và quán sát từng thời điểm các hạt vạn thọ nứt mầm, hạt cho hai lá con, rồi ba lá rồi bốn lá… Đây rồi, hôm nay là mồng bảy tháng Chạp, những cây vạn thọ con của tôi đã cao lên mười hai phân, rồi ba mươi phân. Lá xanh bụ bẫm… Tới 23 Tết, các nụ hoa to và xanh rờn hôm tuần trước nay đã ửng vàng, hứa hẹn sẽ cho những đóa vạn thọ vàng óng ả, sẽ nở đúng ngày 28, 29 hay 30 tháng Chạp. Có thể đem bán ra chợ hay trưng bày trên các bàn thờ. Đó, “công trình” đầu tiên của cô bé 7 tuổi ưa lêu lổng, không ưa làm thiếu nữ thùy mị. Hoa nở ngày, hoa mồng gà của tôi cũng làm đẹp vườn nhà. Nhưng ít ai để ý. Đó là niềm vui thầm lặng của tôi.

Mới 4 tuổi đã được đi học, nên khi vào tiểu học, lúc nào tôi cũng đứng đầu lớp và cũng làm bài giúp cho các bạn cùng lớp và… sẵn sàng nhận quà của họ: có khi là trái ổi, có khi là chuối nướng… Bây giờ đi tu, nhìn sâu, tôi thấy giống như đó cũng là một loại… “tham nhũng”!

 

Tập khí láu ăn, ở dơ và coi thường bề ngoài

Em Mười vì là “cưng” nên có quà người này người kia cho. Tôi thuyết phục suốt buổi, em Mười mới cho tôi cắn chút xíu chiếc bánh của Mười. Vì thế nên khi có bánh, tôi nhớ lại những lúc phải năn nỉ cô bé suốt thời gian năm bảy phút – thật dài! – chờ rất lâu (nhưng “quên” giây phút được Mười, cuối cùng thì cũng chia một miếng bánh nhỏ cho tôi) nên tôi không cho em ăn bánh của tôi mà còn kể tội… lia lịa và cuối cùng cũng không cho em miếng nào! Láu ăn, ở dơ, coi thường bề ngoài là tập khí có từ khi ấu thơ và… mãi đến bây giờ. Tu chánh niệm, tập nhìn sâu và quán sát từng tập khí, thỉnh thoảng tôi vẫn nhận diện được tánh láu ăn biểu hiện vi tế qua những cái sáng mắt khất thực ngay món tàu hũ chiên ưng ý (chắc sợ người khác thỉnh trước mình!). Ba mẹ tôi nuôi chín đứa con và cưu mang nhiều cháu quá nên không thể cho mỗi đứa nhiều hơn một xu làm quà sáng (khoảng năm 1943). Một xu thì chỉ mua được một củ khoai lang, khoai từ hoặc khoai môn thôi. Tôi nhìn các bạn đi học, được năm xu ăn bánh mì cặp xíu mại hay ăn tô hủ tiếu, tô bún bì mà tủi thân. Tôi phát nguyện là ngày sau lớn lên, làm việc có tiền, sẽ ăn bánh mì xíu mại và bún bì, hủ tiếu, sáng, trưa và chiều mỗi ngày, không thèm ăn cơm! Mỗi bữa đến trường, khi đến giờ ra chơi, thấy các bạn ăn bún bì, gỏi cuốn, bì cuốn… tôi cũng thèm có món gì mặn mà hơn là củ khoai lang nên nhất định gói theo thức ăn mặn vào lớp để ăn vào giờ đó. Mỗi khi nhà có ăn trứng luộc xắm nước mắm chấm bầu luộc, tôi chỉ ăn bầu chấm nước mắm và gói kỹ cái trứng luộc với chút muối tiêu, để dành đem vào trường học mà ăn vào giờ ra chơi. Tới giờ ra chơi, tôi đập chiếc trứng đã luộc, bóc vỏ trứng ra, tách từng lớp mỏng lòng trắng trứng, chấm vào muối tiêu và thưởng thức vị đậm đà của lòng trắng trứng với muối tiêu! Ôi là thiên đường! Sau năm bảy lớp lòng trắng trứng mỏng, người thưởng thức đã đi vào đến “mặt trời hồng ửng chín”, tức là lòng đỏ trứng – ôi, là ngon! Tôi tách từng phiến lòng đỏ trứng và bỏ vào miệng để cho nó tan vào lưỡi, ngon vô cùng. Sau này sang Tây Phương, tôi thấy các cháu Tây Phương không trân quý trứng, cứ tìm thịt cá mà ăn. Tôi đã dạy các cháu cách ăn trứng có ý thức, nếm chầm chậm, từng lớp rồi từng lớp trứng. Các bạn tôi gọi đùa: Này các con, hôm nay chúng ta sẽ ăn trứng theo lối cô Phượng dạy nhé! Đó chỉ là một cách ăn chánh niệm. Nhưng từ năm 2006 khi đọc những báo cáo của Liên Hiệp Quốc về những hóa chất bốc lên từ phân thú vật của những nông trại chăn nuôi khổng lồ để làm ra thịt, sữa bò và trứng gà nuôi kỹ nghệ nên Thầy dạy các đệ tử của Thầy ở các trung tâm vốn không ăn thịt cá xưa nay, giờ cũng ngưng uống sữa bò và ăn yaourt sữa bò (thay vào là sữa và yaourt đậu nành rất ngon mà thanh), ngưng luôn ăn cheese (fromage) và trứng mà ai cũng khoẻ.

 

Tết của tuổi thơ

Dù đang chiến tranh, Tết của tuổi thơ tôi cũng có những ngày thật ngọt ngào. Tôi nhớ lắm những Tết ở quê nội. Sáng sớm tinh sương ngày mồng Một, các cô bé chú bé chúng tôi chạy ra sân, dùng chiếc gáo dừa nhỏ múc nước trong bể xi măng, súc miệng và cười ríu rít. Đất quê thơm lừng mùi rơm rạ. Vườn mai đã nở rộ ngoài sân, vàng rực. Bà nội cười hả hê vì hai tuần trước Nội đã cẩn thận trảy hết lá để hôm nay, mồng một Tết, mai nở kịp ngày. Chúng tôi chải răng cho nhanh để rồi còn vào mặc áo dài mới mà đi lạy và mừng tuổi ông nội bà nội trước nhất, rồi đến phần mừng tuổi các bác các cô, rồi mới mừng tuổi ba và má. Sáng sớm ông bà nội đã ngồi uống trà bên nhau. Ông mang một xâu tiền đồng, để khi con cháu đảnh lễ lạy mừng tuổi thì ông sẽ cho. Chúng tôi chờ hai bác Hai tới. Bác Hai lên đèn trên bàn thờ Cố, chân đèn, lư hương bằng đồng sáng chói. Mấy tuần trước cả nhà đã nấu một nồi me và khế để chùi tất cả các lư hương, các chân đèn bằng đồng của năm chiếc bàn thờ trong phòng khách cho sáng choang. Chân đèn nào cũng có một chiếc đèn sáp đỏ to, tròn, cao, bóng láng, tuyệt sạch có ba chữ Phước, Lộc, Thọ. Bàn thờ nào cũng có cặp dưa hấu tròn có dán hai miếng chả đỏ có chữ Phước và Đức. Trên mỗi bàn thờ đều có chưng một cành mai sáng rực và một đĩa trái cây có đủ xoài, cam, quýt, vải, đu đủ…. Lên đèn, thắp nhang, khấn vái và lạy ông bà cố xong, hai bác Hai quay sang đảnh lễ nội. Bác Hai khóc vì thấy nội đã già, sợ không sống lâu với con cháu, nhưng khóc còn vì vui thấy hai nội còn được ăn Tết năm nay. Kế đến hai bác Ba, bác Tư gái, hai bác Sáu, cô Bảy, hai bác Chín và ba má tôi (ba tôi là chú Mười con trai út của nội), cô Nhất là con gái út và tất cả các anh chị con các bác đều thay phiên đến mừng tuổi nội, rồi mới đến chúng tôi, đứa nào cũng rất hạnh phúc được nội cho một đồng xu sáng loáng. Bác Hai, rồi bác Ba lại ngồi lên bộ ngựa giữa nhà để chờ con cháu đến đảnh lễ và mừng tuổi. Người lớn thường cho người nhỏ tiền, còn người nhỏ thì chỉ cho người nhỏ hơn mình. Tôi là con áp út của người con trai út của nội tôi, nên túi của tôi, tha hồ mà đầy ắp tiền lì xì của ông bà cô bác ba má anh chị… Tôi chỉ phải ngồi lên cho em Mười mừng tuổi và lì xì cho em tôi một ít tiền của tôi thôi. Tiếng nô đùa ngoài sân của mấy người anh chị họ cùng tuổi như tôi khiến chúng tôi vui nức lòng, họ reo hò giữa những tiếng pháo lách tách… đùng, kéo chúng tôi chạy nhanh ra cổng. Vườn mai nhà nội rực sáng một rừng hoa. Và những giàn trầu màu xanh ửng vàng óng ả, những giàn trầu nhà nội, ôi quê hương tuổi nhỏ của tôi! Bây giờ, nhìn sâu tôi mới hiểu vì sao trong thời gian chiến tranh, lúc ấy tôi đã lớn, đã đi dạy học rồi mà mỗi lần đi cứu trợ hay đi đến đâu, khi nào mà nhìn thấy một vườn trầu là trái tim tôi mềm ra, thổn thức và cảm động. Tới năm 12 tuổi tôi mới được thức khuya theo người lớn, ngồi canh nồi luộc bánh tét, bánh chưng thức đến 12 giờ khuya để chờ bánh chín và nghe người lớn kể chuyện Ma Vương và Bụt trong ngày Tết và để nghe tiếng gọi của đầu năm. Đó là tiếng gà gáy lúc mới rạng mồng một Tết hay tiếng chó sủa, tiếng nói cười… Mỗi âm thanh nghe trước nhất trong ngày đầu năm đều có ý nghĩa riêng của nó. Ví dụ người xông đất năm đầu tôi được thức khuya là chú tư Hiển. Thế là hiển vinh thế nào cũng đến với đại gia đình. Hôm qua là ngày 30 Tết, bữa cơm cúng ông bà ngày 30 Tết năm nào cũng thật thịnh soạn có dưa giá, dưa hành ăn với thịt heo kho với trứng, có nồi cá lóc kho, có canh khổ qua dồn chả, có dưa cải, dưa kiệu, dưa chua, có bánh tét, dưa món, xôi gấc, thịt luộc, chả tôm, có mắm thái, gỏi đu đủ rau thơm, dưa hấu… Tối lại còn đón ông Táo từ Trời về lại nữa, chúng tôi được ăn chè bông cau có nước dừa rất ngon của chị Nhứt con bác Hai. Còn hôm đưa ông Táo ngày 23 tháng Chạp thì ăn chè trôi nước của bác Chín gái. Về đây ăn Tết, người lớn ưa các món kể trên nhưng tôi chỉ “mê” món cơm cháy nhà nội. Khi con cháu về đông bác Sáu nấu cơm bằng chảo thật to. Xúc cơm ra còn miếng cơm cháy thật lớn, cơm cháy dòn to nguyên một lòng chảo 60 phân đường kính vừa mỏng vừa dòn. Chị Ba Đổng chế vào dầu hành và rắc chút muối, chút đường, bẻ cho mỗi đứa một miếng, ăn vừa dòn vừa thơm! Mấy ngày trước Tết về quê nội chúng tôi có không biết bao nhiêu là cơ hội để quán sát. Gạo mới ngâm một đêm, đổ lên cối đá xay cho nhuyễn để làm bột bánh ít. Nếp mới, thơm, ngâm cả đêm, đậu xanh thơm mềm, hành phi dầu nêm muối tiêu bột nêm để làm nhân bánh tét, bánh chưng. Lá chuối xanh tươi mới chọn ngoài vườn, đem vào lau sạch để gói bánh chưng, bánh tét, bánh ít. Bánh nào cũng sẽ có một lớp diệp lục tố màu xanh phơn phớt trên nếp hay bột nếp mới.

Nhưng quê nội bị dội bom, nhà bác Chín, bác Tư, bác Sáu tức là nhà của nội và nhà bác Hai cũng đều cháy tiêu tan. Các chú bác bà con đều di cư ra tỉnh thành và tìm cách sinh sống ở phố chợ. Thiên đường tuổi thơ đã mất khi nhà nội bị dội bom. Đám tang bà nội linh đình bao nhiêu (vì lúc đó chưa có chiến tranh) thì khi ông nội mất, đám tang của ông tiêu điều bấy nhiêu. Khi ấy chúng tôi đang ở tỉnh lỵ Bến Tre không về An Định làm đám tang cho nội được vì chiến tranh đang hồi kịch liệt. Các bác Hai, Ba, Sáu và Chín lúc đó còn sống tại An Định cũng lo chu đáo cho ông nội tôi. Ba tôi rất đau buồn về điều ấy.

Lời giới thiệu

52 năm theo thầy học đạo và phụng sự – Hồi ký của Sư cô Chân Không


Tôi thường học hỏi được rất nhiều từ những học trò của tôi. Với tôi, học trò cũng là thầy. Sư cô Chân Không là một trong những người ưu tú nhất trong số những học trò như vậy. Để tôi kể cho quí vị nghe một trong những bài học quan trọng mà tôi đã học được từ sư cô. Đó là vào năm 1966. Cuộc chiến tại Việt Nam đang càng ngày càng khốc liệt. Tôi mải miết nghĩ cách để vận động nhiều vị tôn đức trong Giáo Hội chịu cùng đứng ra kêu gọi chấm dứt chiến tranh, và nhiều khi không thể nuốt trôi miếng cơm nào mỗi khi nghe tin một trận chiến khốc liệt vừa xảy ra. Bữa đó, tại chùa Pháp Vân ở Phú Thọ Hòa, sư cô Chân Không, đang chuẩn bị một dĩa rau thơm cho món phở, sư cô quay qua hỏi tôi: “Bạch Thầy, Thầy có thể cho con biết những loại rau thơm này ở miền Bắc gọi là gì không?” Nhìn sư cô đang cẩn trọng đặt những nhánh rau vào chiếc dĩa lớn với tất cả sự chú tâm, tôi bỗng bừng tỉnh. Sư cô có khả năng duy trì sự chú tâm vào những cọng rau thơm. Và tôi nhận ra rằng tôi cũng nên học để tâm tới những nhánh rau, chứ không phải chỉ nghĩ về chiến tranh mà thôi. Thầy trò chúng tôi trao đổi với nhau mười phút về những loại rau thơm ở miền Nam, Trung và Bắc. Tâm trí tôi thoát khỏi những suy nghĩ về cuộc chiến trong khoảng thời gian đó đủ giúp tôi lấy lại được sự cân bằng mà tôi đang rất cần. Năm 1968, khi sống ở miền Nam nước Pháp, tôi đã phát hiện ra những loại rau thơm của vùng Provence với tất cả sự chú tâm và thích thú.

Nhiều năm sau, một người bạn Hoa Kỳ hỏi tôi: “Thưa Thầy, Thầy trồng rau xà lách làm gì cho mất thời gian. Thầy dành thời gian đó để làm thơ có hơn không? Ai mà không trồng được rau xà lách, nhưng ít ai có thể sáng tác những bài thơ sâu sắc như thơ của Thầy.” Tôi mỉm cười đáp: “Bạn ơi, nếu tôi không trồng những cây xà lách thật chánh niệm như vậy thì tôi không làm ra những bài thơ như vậy được.” Tôi đã không tiết lộ rằng câu trả lời của tôi có xuất xứ từ bài học với sư cô Chân Không mười hai năm trước. Cho đến hôm nay, tôi vẫn tiếp tục học từ sư cô. Một vị thầy luôn nên có khả năng làm học trò và một đệ tử cũng luôn phải cùng lúc làm thầy. Nhớ được điều này, cả thầy và trò sẽ cùng lợi lạc.

Điều khiến tôi khâm phục nhất ở sư cô là khả năng sống an lạc và hạnh phúc. Niềm tin vững chắc của sư cô đối với giáo pháp ngày càng được củng cố khi sự tu tập không ngừng mang lại cho sư cô hoa trái của chuyển hóa, chữa trị và niềm vui. Sự vững chãi, an lạc và hạnh phúc của sư cô là nguồn động viên nhiệm màu cho rất nhiều các bạn ở Làng Mai cũng như trong đại gia đình tăng thân. Nguồn vui của sư cô là làm việc giúp người và giúp chuyển hóa xã hội. Nằm sâu bên trong những công tác của sư cô là một tình thương lớn và sự quan tâm sâu sắc. Chân Không cũng có nghĩa là tình thương đích thực. Câu chuyện cuộc đời sư cô vượt xa những gì ngôn từ có thể diễn tả, đó là cả một bài Pháp sống.

Thật tiếc là cuốn sách này còn quá ngắn, không chuyển tải hết sự sâu sắc và sống động những gì sư cô đã đi qua. Sư cô còn rất nhiều chuyện để kể cho chúng ta, có thể dài gấp 10 lần cuốn sách này. Nhưng sư cô là một nhà hoạt động xã hội hơn là một nhà văn, và hiện tại chúng ta phải bằng lòng với tác phẩm này thôi. Nếu có cơ hội tiếp xúc với sư cô, quí vị đừng quên xin sư cô chia sẻ cho nghe những kinh nghiệm của sư cô. Quí vị sẽ học hỏi được rất nhiều. Sư cô đích thực là một vị bồ tát.

Thích Nhất Hạnh
Làng Mai, Pháp Quốc – Tháng 5, 1993

Hồi ký SCCK 1 – Con đường mở rộng

Vương quốc của những người khùng

Leo TOLSTOY
Yên Chi dịch – Lá Bối xuất bản lần thứ nhất 2-1977, Paris.

I

Ngày xưa, tại một nước kia, có một người dân quê giàu có. Ông ta có ba người con trai và một người con gái. Người con gái tên là Mai Liên, bị câm. Người con trai lớn tên là Xa Mạnh, đi lính. Người con trai kế tên là Ta La, có cái bụng bự, thường được người ta gọi là anh chàng Ta La Bụng Bự. Người con trai út tên là Y Văn, tính tình hơi gàn dở, người ta hay gọi là Y Văn khùng.

Xa Mạnh đi lính cho Vua. Ta La bụng bự đi học buôn bán với một thương gia ngoài tỉnh. Còn anh chàng Y Văn khùng thì ở nhà với cô em gái và làm lụng rất khó nhọc.

Xa Mạnh làm tới cấp tá trong quân đội và tạo được nhà cửa to rộng. Anh cưới con gái của một người thuộc hạng quyền quý. Lương tiền thì lớn, ruộng vườn thì rộng, nhưng Xa Mạng không giàu lên được, bởi vì hể anh ta kiếm được bao nhiêu tiền thì cô vợ lại đem xài phí hết bấy nhiêu.

Một hôm Xa Mạnh đi thăm ruộng và thâu tiền lúa. Người quản lý của anh ta nói: “Làm gì mà có tiền lúa? Bây giờ trâu bò cũng không còn, cày bừa cũng đã bán hết, lấy gì để mà làm ruộng để mà có lúa?  Phải đi tậu lại trâu bò và cày bừa mới mong mùa sau có lúa bán.”

Vì vậy, Xa Mạnh phải tìm về nhà cha mẹ để cầu cưú. Anh ta thưa với cha: “Thưa ba, ba là một nông dân giàu có, nhưng ba chưa cho con một phần nhỏ nào trong tài sản của nhà ta. Xin cha chia gia sản ra làm ba phần, và cho con xin một phần để gây dựng lại ruộng vườn của con.” Người cha trả lời: “Mày đã không đem được gì về nhà thì chớ, lại còn đòi chia. Như thế thì tội nghiệp cho thằng Y Văn và con Mai Liên quá. Xa Mạnh nói: “Như Y Văn là một thằng khùng, còn Mai Liên là một con câm. Chúng nó thì cần gì nhiều đến gia sản?”

Người cha nói: “Thôi để cho Y Văn định đoạt. Hễ nó muốn chia cho mày thì tao chia, còn không thì thôi.” Y Văn nói: “Sao lại không? Cứ để anh ấy chia một phần ba gia sản đi ba.”

Thế là Xa Mạnh lảnh một phần gia sản của mình và chở về ruộng vườn mình. Rồi anh ta lại trở lại quân ngũ để phục vụ nhà Vua.

Bây giờ nói chuyện anh chàng Ta La Bụng Bự. Ta La cũng làm ăn rất khá và cưới con gái của một thương gia. Nhưng anh chàng vẫn muốn có thêm vốn, cho nên một hôm anh trở về nhà cha mẹ và nói: “Con cũng muốn nhận một phần ba gia tài.”

Người cha cũng không muốn chia gì cho Ta La. Ông ta trả lời: “Mày không đem gì về nhà thì chớ, lại còn đòi chia. Những gì trong nhà này đều do mồ hôi nước mắt của Y Văn mà có. Với lại mày đòi chia như thế thì tội nghiệp cho anh em nó.”

Nhưng Ta La nói: “Nó là một thằng khùng, cần gì đến của cải! Còn con Mai Liên cũng thế, nó câm, nó cũng không cần. Này Y Văn, bây giờ mầy chia cho tao một số nữa lúa còn lại, tao không đòi trâu bò và cày bừa đâu. Tao chỉ lấy lúa và con trâu mộng thôi. Con trâu cái kia cũng đủ cày bừa được rồi. Mày chiụ không?

Y Văn cười và nói: “Sao lại không? Em sẽ làm việc nhiều thêm chút nữa và nhà sẽ có thêm luá gạo.”

Như vậy là Ta La cũng nhận được phần mình. Anh ta chở lúa lên tỉnh và dắt con trâu mộng màu xám đi theo.Y Văn chỉ còn có một con trâu cái để cày bừa. Anh ta ở lại nhà làm việc nặng nhọc tối ngày để nuôi cha mẹ già và đứa em gái câm.

II

Lúc bấy giờ Ma Vương, vua của các loài ma, lấy làm bực tức mà thấy anh em nhà Y Văn đã không cải vã đánh lộn nhau vì gia sản mà trái lại còn chia nhau của cải một cách hoan hỷ nữa. Nó cho gọi ba tên tiểu quỷ lại và ra lệnh:

“Tụi bây nghe đây. Nhà kia có ba đứa con trai: Xa Mạnh thằng Lính, Ta La thằng Bụng Bự và Y Văn thằng Khùng. Đáng lý chúng phải đánh nhau vỡ đầu, nhưng trái lại chúng còn sống rất êm thấm trong tình anh em. Mà sở dĩ chúng được như thế là do thằng khùng nhường nhịn. Ba đứa bây phải chia nhau, mỗi đứa tìm tới một thằng, và làm sao cho ba đứa tranh dành giận dữ với nhau đến nước chúng phải choảng nhau vỡ đầu. Tụi bây làm được điều đó hay không?”

Bọn tiểu quỷ trả lời: “Thưa Đại Vương, chúng tôi làm được.”

– Chúng bây sẽ làm thế nào?

– “Trước hết, chúng tôi sẽ làm cho ba anh em nghèo xơ nghèo xác. Đến khi cả ba thằng không có thằng nào còn một miếng xương để gặm thì chúng tôi làm cho chúng gặp nhau, ở chung với nhau một đống. Thế nào chúng cũng choảng nhau.”

– “Được lắm! Tụi bây như vậy là biết chuyện lắm đó. Thôi bây giờ tụi bây đi đi. Làm sao cho đến khi cả ba đứa đập đầu sưng trán thì mới được trở về đây. Nếu không xong chuyện, ta sẽ lột da chúng mày.”

Ba con tiểu yêu ra họp ngoài đám ruộng để bàn tính kế hoạch. Chúng nó bàn cãi mãi, đứa nào cũng muốn dành công việc dễ dàng. Cuối cùng ba đứa bắt thăm xem đứa nào phải phụ trách người nào trong số ba anh em nhà kia. Chúng hẹn với nhau là đứa nào làm xong phận sự thì phải tới giúp đứa khác. Và cuối cùng chúng hẹn nhau ngày giờ họp để cho nhau biết ai đã làm xong phận sự và ai cần được giúp đỡ.

Đến ngày giờ hẹn, ba con tiểu yêu trở lại đám ruộng để họp. Con tiểu yêu thứ nhất có báo cáo như sau:

– “Công việc của tớ ngon lành lắm. Ngày mai Xa Mạnh sẽ về nhà cha mẹ mà ở.”

Hai con tiểu quỷ kia bắt đấu hỏi thăm xem con tiểu quỷ này đã thành công như thế nào?

– Trước hết tớ làm cho Xa Mạnh nổi hứng lên, tới trước nhà Vua và hứa rằng nó sẽ chinh phục được cả thế giới và đặt thế giới dưới quyền cai trị của nhà Vua. Cho nên nhà Vua đã cử nó thống lãnh quân đội và đem binh đi chinh phục nước bạn Ấn Độ. Hai bên giao chiến. Ban đêm lúc hai bên đã rút về căn cứ nghỉ ngơi, tớ mới đi lấy nước lạnh tưới ướt cả thuốc súng của binh đội Xa Mạnh; rồi tớ lại đi sang phía Vua Ấn Độ và lấy cọng rơm làm ra vô khối binh lính để tăng cường cho quân lực bên đó. Sáng mai, khi thấy quân lính rơm từ bốn phía ập tới, quân lính của Xa Mạnh mất hết tinh thần. Xa Mạnh ra lệnh bắn: nhưng pháo và thần công không nổ bởi vì thuốc súng đã ướt. Quân lính của Xa Mạnh hoảng kinh chạy tứ tán như một đàn cừu và bị quân địch giết chết như rạ. Bây giờ đây Xa Mạnh bị cất chức, ruộng vườn của hắn ta cũng bị nhà Vua tịch thâu, và sáng mai này hắn ta sẽ bị xử bắn. Tớ chỉ cần giúp để cho hắn vượt ngục để hắn trốn về nhà. Như vậy ngày mai là công việc của tớ sẽ hoàn tất. Nào, bây giờ cậu nào cần tớ giúp, cứ nói lên.”

Tên tiểu quỷ thứ hai bắt đầu kể laị những gì nó đã làm để hại Ta La: “Tớ không cần ai giúp hết, công việc của tớ có kết quả khả quan lắm. Ta La Bụng Bự sẽ không thể nào chịu đựng được quá một tuần lễ nữa đâu. Trước hết tớ đã tới làm cho cái bụng bự của hắn bự thêm, và cái bụng bự này đã làm cho hắn cũng trở thành ham hố thêm lên. Hắn ham hố đến nỗi thấy cái gì cũng muốn mua. Hắn xài hết tiền để mua sắm đủ thứ, và còn tiếp tục mua sắm nữa. Bây giờ hắn đang đi vay tiền của bè bạn để mà mua sắm nữa. Bây giờ hắn ta đã bị sa lầy và nợ nần như chúa chổm, không có cách nào ngóc đầu lên được. Trong một tuần lễ nữa, hắn ta sẽ đến lúc phải trả nợ. Lúc đó tớ sẽ làm cho tất cả những gì hắn mua sắm lâu nay trở thành giẻ rách hết. Không có gì để bán mà trả nợ hết, hắn sẽ phải trốn về nhà cha mẹ.”

Hai tên tiểu quỷ kể xong, đắc ý nhìn tên tiểu quỷ thứ ba và hỏi về thành tích mà tên này đã thu lượm được đối với Y Văn thằng khùng.

Tên tiểu quỷ này trả lời: “Công việc của tớ thất bại. Khi tớ tới tìm gặp Y Văn, tớ nhổ nước bọt của tớ vào trong ấm nước chè của hắn. Hắn uống và bị đau bụng. Xong rồi tớ đi ra ruộng dẫm đất ruộng xuống cho đến khi ruộng đất của hắn cứng như là đá để hắn không cày bừa cách nào được. Tớ tưởng rằng hắn sẽ bỏ ruộng không thèm cày nữa; ai ngờ cái thằng khùng ấy nhất quyết cày cho bằng được. Hắn ta đau bụng gần xỉu, nhưng hắn ta và con trâu của hắn cố quyết cày tiếp. Tớ làm cho bắp cày của hắn gảy đôi. Nhưng thằng khùng lại về nhà mang ra một bắp cày mới và tiếp tục cày. Tớ chun xuống đất lấy ta níu lưỡi cày lại. Nhưng mà tớ không níu nỗi bởi thằng Khùng và con trâu của hắn quyết chí cày cho được. Lưỡi cày lại bén quá khiến cho hai bàn tay của tớ bị cắt đứt chảy máu nhiều chỗ. Hắn ta cày gần xong các thửa ruộng, chỉ còn một giải đất nhỏ nữa thôi thì công việc của hắn sẽ hoàn tất. Mau lên hai bạn, tới giúp tớ mỗi người một tay. Bởi nếu chúng ta không thắng được hắn thì bao nhiêu công trình của các bạn sẽ ra tro. Nếu hắn thành công trong vụ lúa này thì hắn sẽ nuôi ăn hai thằng anh của hắn.”

Tên tiểu quỷ phụ trách về Xa Mạnh hứa ngày mai sẽ đến giúp. Bọn tiểu quỷ họp xong giải tán, ai đi về nẻo ấy.

III

Y Văn đã cày xong các thửa ruộng, chỉ còn một giải đất hẹp chưa cày mà thôi. Sáng nay chàng vác cày dắt trâu ra ruộng để cày cho xong giải đất ấy. Bụng chàng đau quặn lên, nhưng chàng biết phải cố cày cho xong. Chàng xăn quần, đưa trâu và cày xuống ruộng, bắt đầu cày. Cày được một luống, chàng cho trâu đi quành lại và bắt đầu cày luống thứ hai. Ai ngờ lưỡi cày tắc nghẹn lại không chịu đi, như là bị vướng vào nhiều chiếc rễ cây lớn. Đó là do tên tiểu quỷ đang quấn hai chân vào lưỡi cày và cố trì bắp cày lại.

Y Văn nghĩ bụng: “ Lạ thiệt, ruộng mình làm gì có rễ cây. Rễ cây thiệt đây mà!”, Vừa nói Y Văn vừa cúi xuống thọc tay phía dưới lưỡi cày. Chàng nắm phải một cái rễ  mềm. Chàng nắm chặt chiếc rễ và kéo mạnh lên. Cái rễ gì đen thui mà có chân tay quờ quạng. Trời đất ơi! Không phải là một chiếc rễ cây mà là một con tiểu quỷ.

Y Văn la lớn: “Gớm quá đi, thiệt là đồ quỷ!” Chàng đưa cao con tiểu yêu định đập đầu nó vào bắp lưỡi cày thì tên tiểu quỷ la lên, giọng nó eng éc:

“Đừng đập tôi! Tôi sẽ làm bất cứ cái gì ông muốn.”

“Mày làm được cái gì?”

“Cái gì mà ông muốn tôi cũng đều làm được. Ông chỉ cần cho tôi biết là ông muốn cái gì!”

Y Văn gãi đầu: “Ta đang đau bụng. Mày có thể làm cho ta hết đau bụng được hay không?”

“Tôi làm được.”

“Vậy thì làm ngay đi!”

Tên tiểu quỷ cúi xuống đưa tay mò trong đám đất và kéo lên một chùm rễ cây có ba cái rễ con rồi đưa cho Y Văn và dặn:

“Người nào nhai rồi nuốt một trong ba cái rễ này thì bệnh tật gì cũng tiêu trừ.”

Y Văn xé một chiếc rễ, nhai và nuốt. Bệnh đau bụng của chàng lập tức biến mất. Con tiểu quỷ năng nỉ chàng:

“Bây giờ ông để cho tôi đi. Tôi sẽ chui xuống đất và không bao giờ trở lại phá ông nữa đâu. Ônh chịu tha tôi hay không?”

“Sao lại không? Phật độ cho mày.”

Y Văn mới nói xong chữ ‘Phật’ thì con tiểu quỷ rơi ngay xuống đất như một viên đá rơi tỏm xuống nước. Nhìn xuống, Y Văn không thấy gì cả, chỉ thấy một lỗ hổng dưới đất mà thôi. Chàng giắt hai cái rễ cây còn lại vào lưng quần, và tiếp tục cày ruộng. Khi cày xong giải đất còn lại, chàng vác cày giắt trâu ra về.

Cho trâu vào chuồng và cất cày xong, Y Văn vào nhà. Chàng thấy Xa Mạnh và bà chị dâu đang ngồi ăn cơm. Xa Mạnh vừa thoát ngục chạy về đây với bà vợ, nhà cửa điền sản đã bị tịch thâu rồi. Xa Mạnh nói với Y Văn:

“Anh chị tới đây để ở với chú nó. Chú nó chịu khó nuôi anh chị cho tới khi anh tìm được công việc mới. Chú nó chịu không?”

“Sao lại không?”, Y Văn trả lời. “Anh chị cứ ở lại đây, bao lâu cũng được.”

Y Văn ngồi xuống, định cầm đũa thì bà chị dâu tỏ vẻ không chịu nỗi mùi mồ hôi của chàng. Bà ta nói với chồng: “Tôi chịu không nỗi cái mùi hôi của cái bác nhà quê này.”

Xa Mạnh nói với Y Văn: “Chị nói rằng mồ hôi chú nó nặng mùi quá. Chú nên ra ngồi ăn ngoài bậc cửa. Được không?”

“Sao lại không?”, Y Văn trả lời. Cũng gần đến lúc cho trâu ăn rồi. Em phải đi lấy rơm. Rồi chàng ngồi ở bậc cửa, lùa vội vài chén cơm, rồi cất đũa bát, đi lấy rơm cho trâu.

IV

Tên tiểu quỷ phụ trách Xa Mạnh sau khi làm xong phận sự rồi, đêm ấy y hẹn đến giúp bạn để tới phá Y Văn. Khi hắn tìm tới đám ruộng của chàng khùng, hắn đi quanh tìm kiếm mãi mà không thấy thằng bạn tiểu yêu đâu hết. Nó chỉ thấy một cái lỗ dưới đất. Nó tự bảo: “Có lẽ thằng bạn mình bị hại rồi. Mình phải thay thế nó làm cho xong công việc này. Tất cả các đám ruộng đã đã được cấy xong, bây giờ mình chỉ có thể tới phá đồng cỏ của nó. Hắn bèn đi thẳng tới đồng cỏ của Y Văn, làm cho nước dâng lên, ngập cả cánh đồng cỏ, khiến cho cỏ nằm rạp xuống dính đầy bùn.

Sớm mai, lúc Y Văn ra đồng cỏ để cắt cỏ về chất thành đụn ở sân nhà, thì đồng cỏ đã bị ngập nước. Chàng tung liềm để cắt cỏ. Nhưng chỉ được mấy phút, lưỡi liềm đã bị cùn lụt. Chàng phải lên bờ để tìm một hòn đá để mài lại lưỡi liềm. Rồi chàng lại xuống đồng cắt cỏ tiếp. Rồi lưỡi liềm lại cùn. Cuối cùng chàng nói:

“Không được. Ta phải về nhà để tìm một cái giũa để giũa lại cái liềm, nhân tiện kiếm vài ba hột bỏ vào bụng. Nhất định ta phải phát cho xong đồng cỏ này, dầu có phải để ra cả tuần lễ đi nữa cũng được.”

Con tiểu quỷ nghe nói như vậy, nghĩ rằng: “Thằng khùng này gớm thật. Không dễ gì mà làm nó nản chí. Phải kiếm mưu chước khác mới được.”

Y Văn về nhà lấy giũa, giũa liềm và trở ra đồng tiếp tục cắt cỏ. Con tiểu quỷ chui vào trong đám cỏ rậm, lấy chân đạp lên trên lưỡi liềm cho mũi chỉa xuống đất, làm Y Văn cắt cỏ rất là mệt nhọc. Tuy vậy chàng cũng ráng hết sức cho công việc được tiếp tục. Chẳng mấy chốc, chỉ còn lại một giải cỏ chưa cắt mà thôi. Chàng đi lại phía ấy cắt nốt.

Con tiểu yêu nói: “Mình phải ngăn nó cho kỳ được, dù nó có cắt đứt tay mình cũng vậy.”

Y Văn thấy cỏ không rậm lắm nhưng chàng không hiểu tại sao cắt rất khó đứt. Chàng nổi giận vung liềm phát lia lịa vào đám cỏ. Con tiểu quỷ không chịu thua trước sức mạnh của chàng. Hắn không thể níu lấy lưỡi liềm được nữa. Hắn nằm nép trong bụi cỏ. Nhưng lưỡi liềm của Y Văn đã tung tới đám cỏ ấy. Y Văn cắt đứt đám cỏ và cắt đứt luôn đuôi của con tiểu quỷ.

Khi đã cắt xong đồng cỏ, Y Văn bảo cô em gái cầm cào cỏ chất lại từng đống, còn mình thì đi nhổ mạ. Con tiểu quỷ làm cho ruộng mạ khô cứng như đá, khiến cho mạ bị đứt gốc hết mỗi khi Y Văn nhổ lên. Chàng trở về lấy gàu sòng tát nước vào ruộng mạ. Nước vào, đất mềm, chàng lại xuống nhổ mạ, bó lại thành từng bó.

“Bây giờ mình chỉ cần bừa ruộng, tát nước vào là có thể cấy lúa được rồi.”

Con tiểu yêu cụt đuôi nghe nói như thế liền nghĩ: “Mình không ngăn được nó nhổ mạ, nhưng mình sẽ không cho nó tát nước vào ruộng. Sáng mai, mình sẽ làm cho nước khô hết để nó chẳng còn nước mà tát.”

Sáng mai, khi con tiểu quỷ tới thì ruộng đã bừa xong và nước đã tát vào ruộng rồi. Thì ra chàng Y Văn đã thức trọn đêm để bừa ruộng và tát nước. Hắn đang bực tức thì thấy Y Văn và cô em gái từ nhà đi ra với một chiếc xe trâu. Hai anh em chất cỏ lên đầy xe cho trâu kéo về nông trại.

“Thằng Khùng này không chịu ngủ. Nó làm việc suốt đêm. Nó làm mình bị thương cùng mình. Nó lại làm mình đứt hết một cái đuôi. Thiệt chưa bao giờ mình bị thất bại nặng nề như vậy. Dù cho ra chiến trận mình cũng chưa từng bao giờ bị đau đớn thế này. Thôi để ta về đốt nhà nó cho biết.”

Nghĩ thế, con tiểu quỷ nhảy lên xe trâu ẩn mình trong rơm cỏ. Khi xe trâu về tới nhà, hai anh em Y Văn đem cỏ ra phơi trên sân; con tiểu quỷ lách rất tài. Nó ẩn mình trong cỏ, không cho hai anh em thấy. Đêm ấy, trong khi mọi người ngủ, con tiểu quỷ cố làm cho cỏ khô mau, định bụng để khi mặt trời lên nó sẽ châm lửa đốt cỏ để cho cỏ bốc cháy và làm cho vựa lúa gần bên cũng cháy thành tro bụi.

Nhưng mệt quá, hắn lăn ra ngủ quên trong một đống cỏ khô. Sáng lại, Y Văn lấy cào ra chất cỏ lại thành đống. Chàng cào nhằm tên tiểu quỷ. Đưa cào lên, chàng thấy con tiểu quỷ mắc cứng giữa các răng cào, tay chân ngoe nguâỷ tuyệt vọng. Đầu cổ nó dính cỏ và rơm, đuôi nó cụt ngủn. Y Văn la lớn: “Lại cái con quỷ này nữa! Mày còn trở lại đây làm gì vậy?”

“Không phải, không phải! Tôi là một con quỷ khác, không phải con bữa trước đâu! Tôi thường theo Xa Mạnh, anh cả của ông.”

Y Văn nói: “Mặc kệ mày, dầu mày là con khác thì mày cũng sẽ chịu chung số phận với nó.”

Y Văn sắp đập đầu con tiểu quỷ xuống sân gạch thì con tiểu quỷ nài nỉ: “Xin ông tha tôi! Tôi sẽ không bao giờ trở lại phá ông nữa. Ông muốn gì thì tôi làm cho ông.”

“Mày có thể làm được gì?”

“Làm gì cũng được. Ví dụ tôi có thể lấy cọng rơm làm ra binh lính.”

“Nhưng mà làm ra lính để làm gì?”

“Làm gì mà không được?

“Lính thổi kèn tò te tí te được không?

“Được chứ?”

“Vậy làm ra một ít lính xem chơi.”

Tên tiểu quỷ liền lượm ra một cọng rơm, dựng đứng cọng rơm lên mặt đất rồi đọc:

Theo lệnh của Ma Vương

Ngươi không còn là rơm

Mỗi cọng rơm nghe lênh

Biến thành một tên lính

Cọng rơm tức tốc biến thành một chú lính, đứng ngẩn tò te. Y Văn rất khoái, bắt chước lượm một cọng rơm khác, dựng đứng trên mặt đất và đọc bài chú mà con tiểu yêu vừa đọc. Cọng rơm cũng lập tức biến thành một chú lính. Y Văn bèn làm ra nhiều chú lính nữa. Rồi chàng ta bảo lính thổi kèn tò te tí te. Lập tức đoàn lính sắp hàng đôi, diễn hành đánh trống, thổi kèn inh ỏi. Y Văn khoái quá, la lên: “Ha, ha! Vui thiệt! Mấy cô gái trong xóm mà thấy thì chắc là thích lắm.”

Con tiểu yêu hỏi: “Bây giờ ông thả tôi ra được chưa?” Y Văn trả lời: “Chưa. Bây giờ ta muốn biết cách làm sao cho lính trở lại thành cọng rơm. Như vậy để khỏi phải tốn cơm nuôi lính mà cũng để có rơm cho trâu bò ăn.” Con tiểu yêu nói: “Thì ông cứ đọc câu này tự khắc bao nhiêu lính đều biến trở lại thành rơm hết thảy:

“Tất cả các tên lính

Hãy sẵn sành chờ lịnh

Nghe lời của Ma Vương

Biến thành những cọng rơm.”

Y Văn đọc xong mấy câu trên, tất cả các chú lính đều biến trở lại thành rơm.

“Bây giờ ông cho tôi đi, được không?”

“Sao lại không? Phật độ cho mày!”

Vừa nghe tơ1i tiếng Phật, con tiểu quỷ rơi thịch ngay xuống đất như một hòn đá rơi tỏm xuống nước. Y Văn nhìn xuống chỉ thấy có một lỗ hổng.

Khi Y Văn về nhà, chàng thấy anh ba của chàng là Ta La Bụng Bự và người chị dâu đang ngồi ăn cơm. Chàng Bụng Bự đã trốn con nợ cùng nhau chạy về đây sống ăn bám đứa em của mình. Thấy Y Văn bước vào. Ta La nói: “Chú nó nghe đây: anh và chị về tạm với chú một thời gian, tới khi nào anh lại làm ra tiền như cũ. Được không?”

Sau lại không? Anh chị cứ ở lại đây bao lâu cũng được. Rồi chàng ngồi xuống cầm đũa. Nhưng bà chị dâu phản đối: “Tôi ngồi ăn chung với chú Khùng không được đâu. Chú ấy mồ hôi nặng quá. Ta La Bụng Bự chiều vợ, nói với Y Văn: “Chú nó xới cơm ra ngồi ngoài bậc cửa mà ăn cho mát, được không?”

Sao lại không? Với lại cũng đã đến lúc em phải đi lấy rơm cỏ cho trâu ăn rồi.

V

Con tiểu quỷ theo ám Ta La sau khi đã thành công rồi liền y hẹn tới giúp hai đứa bạn quỷ phá Y Văn Khùng. Khi tới đám ruộng, hắn đi tìm mãi mà chẳng thấy hai bạn, chỉ thấy một lỗ hổng dưới đất. Hắn đi sang đồng cỏ, tìm mãi mới thấy được một cái đuôi của một đứa bạn. Tìm về đến sân nhà Y Văn, hắn thấy một cái lỗ hổng thứ hai. Hắn chép miệng: “Thôi rồi, hai thằng bạn của mình chắc chắn đã bị hại rồi. Mình phải thay thế chúng mà trị cái thằng Khùng này mới được.”

Thế là hắn đi tìm Y Văn. Nhưng lúc bấy giờ Y Văn đang đốn củi ngoài rừng. Anh chàng đi đốn gỗ để làm nhà mới cho hai ông anh và cho hai bà chị dâu ở, bởi vì họ chê căn nhà chật quá.

Tên tiểu quỷ chạy ra ngoài rừng núp vào trong cành lá và cố làm cho cây ngã vướng vào bụi. Y Văn biết đốn cây rất giỏi: Chàng đốn thế nào để cho cây ngã xuống phía đất trống. Nhưng con quỷ cứ xô cho cây ngã vào bụi rậm để vướng vào cành lá. Y Văn phải đốn một cây và làm đòn bẩy các thân cây về phía đất trống. Rồi chàng đi đốn cây khác. Con tiểu quỷ lại dở trò xô ngã cây vào phía bụi rậm như trước.

Y Văn đã dự tính đốn chừng năm chục cây để cất nhà nhưng đến tối chàng mới đốn ngã được có mười hai cây. Chàng mệt nhoài. Người chàng nóng bức, mồ hôi chảy lộp độp xuống cành lá gần như mưa mà chàng vẫn nhất định không chịu thua. Chàng đốn ngã thêm một cây nữa. Nhưng sau đó, lưng đau quá, chàng không chịu nỗi nữa. Chàng phập chiếc rìu vào gốc cây và ngồi xuống nghỉ.

Thấy Y Văn ngưng làm việc, con tiểu quỷ mừng quá: “Thằng Khùng mệt rồi! Nó sẽ phải bỏ cuộc! Mình cũng mệt quá. Mình cũng phải nghỉ một chút. Con tiểu quỷ nói xong đeo trên một cành cây mà ngủ. Ai ngờ Y Văn đã choàng dậy rút lưỡi rìu ra, nhằm phía bên kia của thân cây mà giáng xuống một rìu mạnh như như trời giáng, khiến cho thân cây ngã rầm xuống một cái. Con tiểu yêu đang ngủ lơ mơ, không kịp né tránh, bị cây đè lên mình, không thể nào vẫy vùng ra khỏi được.

Khi Y Văn trẩy cành, chàng trông thấy nó. “Lại mầy nữa! Tởm quá! Mày trở lại làm gì?”

– “Không! Không! Tôi không phải là hai con trước đâu. Tôi là một con khác. Tôi thường theo ám người anh thứ ba của ông, tên là Ta La Bụng Bự.”

– “Mày là đứa nào cũng thây kệ. Mày phá tao thì tao phải cho mày đi theo mấy đứa kia về thăm ông bà mày mới được.”

Nói xong tên Y Văn đưa cán rìu lên định đập vào đầu tên tiểu quỷ, nhưng tên này năng nỉ: “Đừng đập tôi, tôi sẽ làm bất cứ điều gì ông muốn.”

– “Mày làm được gì?”

– “ Tôi có thể làm ra cho ông rất nhiều đồng tiền bằng vàng.”

– “Vậy làm thử vài đồng xem.”

– “Tên tiểu quỷ hái một cái lá trên cây vông và bảo Y Văn hái một cái lá khác rồi nói: “Hái một lá vông trên cây vông này, rồi xát lá vông vào lòng bàn tay trái. Tự khắc có nhiều đồng vàng từ lòng bàn tay trái rơi ra.”

Nói xong, nó xát lá vông vào lòng bàn tay trái của nó. Y Văn bắt chước. Tiền vàng từ lòng bàn tay trái của chàng cũng rơi ra thành một đống. Y Văn reo:

– “A ha ! Bọn con nít có thể lấy đánh đáo chơi với nhau được đấy. Chúng sẽ rất khoái.

–    “Bây giờ ông cho tôi đi được không?”

Y Văn lấy cây gậy của chàng nạy cây lên cho tên tiểu quỷ khỏi kẹt. Chàng nói: “Đừng làm ác nữa. Phật  sẽ độ cho mầy.”

Vừa nghe đến chữ “Phật” con tiểu yêu rớt xuống mặt đất như một hòn đá rơi xuống mặt nước. Y Văn nhìn xuống. Chàng chỉ thấy một lỗ hổng.

VI

Ba anh em Y Văn đã dựng thêm hai căn nhà mới và mỗi gia đình ở riêng một nhà. Đến mùa gặt lúa, chàng chứa lúa đầy lẫm. Chàng cho nấu xôi nếp mới, làm thịt heo, mời hàng xóm tới ăn mừng. Chàng cũng mời hai anh và hai bà chị dâu tới, nhưng cả bốn đều từ chối. Họ biết “Tiệc tùng nhà quê, không thèm!”

Cho nên Y Văn chỉ có dịp thết đãi hàng xóm, toàn là cô bác nhà quê trong làng. Y Văn cũng ăn uống no say như mọi người. Khi ăn xong, mọi người ra sân hóng mát, xem trăng, và Y Văn mời các cô gái trong xóm ca vọng cổ.

– “Cô ca vọng cổ đi, rồi tôi sẽ cho cô xem trò này hay lắm.”

Cô gái không tin là Y Văn có trò gì hay lắm nhưng cô cũng ca đủ sáu câu vọng cổ mừng ngày được mùa. Cô ca xong tất cả cô bác đều nhìn về phía Y Văn và nói:

– “Có trò gì làm đi,chú Văn?”

– “Đợi chút xíu nghe. Chàng nói như vậy và vào lấy một cái thúng chạy vào rừng, phía có cây vông.

Mấy người đàn bà nhìn theo, cười: “ Đúng là một thằng Khùng.” Nhưng Y Văn đã trở lại với một cái thúng đầy lá vông. Chàng hỏi:

– “Bây giờ tôi chia cho cô bác mỗi người một ít được không?”

Mọi người nói: “chia thì chia.” Chia xong Y Văn cầm một chiếc lá xát vào lòng tay trái mà nói câu thần chú mà con tiểu yêu dạy cho chàng, tức thì những chiếc lá đều biến thành vô số những đồng tiền bằng vàng.

Y Văn nắm một nắm tiền vàng ném vào các cô giống như người ta ném những bông hoa vào người đẹp. Các cô tranh nhau lượm tiền vàng, dẫm lên cả áo nhau. Mấy người đàn ông cũng chen vào lượm. Họ xô nhau, dẫm đạp lên nhau, xé rách áo nhau. Có một bà té bị đạp gần gãy cả cánh tay.

Y Văn la lớn: “Cô bác khùng hay sao? Tại sao tranh nhau quá xá như vậy? Còn đây, còn nhiều đây mà. Chàng bắt đâù tụng thêm thần chú và tung thêm tiền vàng. Mọi người bao quanh lấy chàng. Khi chàng đã phân phát xong thúng tiền vàng, họ còn theo xin thêm nữa.

Y Văn nói: Để khi khác tôi sẽ tặng cô bác thêm. Bây giờ có ai biết đờn cò hay đờn gáo gì không? Đem ra đờn để ca bình bán cho vui.

Không ai có đờn hết. Một anh chàng tước lá chuối cuốn lại làm cái kèn, thổi tò te.

Kèn của anh nghe nhức lỗ tai lắm. Để tôi làm băng nhạc nhà binh nghe hay hơn. Y Văn đi ra đống rơm rút một nắm rơm. Chàng dựng một nắm cọng rơm trên đất và đọc:

Theo lịnh của Ma Vương

Ngươi không còn là rơm

Mỗi cọng rơm tức khắc

Biến thành một tên lính

Lập tức các cọng rơm biến thành một đội lính đi nhịp đều, đánh trống thổi kèn rất nhộn và rất vui mắt. Mọi người đều sửng sốt. Sau khi đội lính đã diễn hành quanh xóm và thổi nhiều bài nhạc, Y Văn ra lịnh cho lính trở lại thành cọng rơm. Chàng ném rơm vào đống rơm và đi về nhà ngủ.

VII

Sáng hôm sau, nghe đồn về những gì xảy ra hồi hôm, anh Cả chàng là Xa Mạnh tìm tới.

– “Này chú nó, hồi hôm chú nó lấy đâu ra một toán lính đông như vậy? Và bây giờ chú nó đem đi đâu hết rồi?”

– “Anh muốn biết để làm gì?” Y Văn hỏi.

– “Để làm gì hả? Có lính thì muốn làm gì cũng được tất. Muốn làm Vua một nước cũng được nữa mà.”

Y Văn sửng sốt: “Vậy hả? Tại sao anh không cho em biết trước? Em có thể làm cho anh bao nhiêu lính cũng được. Đêm qua đó, em đã làm ra bao nhiêu là lính.”

Y Văn đưa anh ra đống rơm: em sẽ làm cho anh vô khối lính. Nhưng anh phải hứa với em là anh sẽ đem tất cả đi nơi khác. Nếu để lính lại đây thì họ ăn hết gạo của làng trong một ngày.

Xa Mạnh hứa. Y Văn bắt đầu làm ra lính. Chàng nắm một nắm rơm, dựng đầu xuống đất. Một tiểu đội lính hiện ra. Một nắm cọng rơm khác. Một tiểu đội khác. Cho đến khi tất cả ruộng vườn chung quanh đều chật ních những lính và lính. Y Văn hỏi: “Chừng đó đủ chứ?”

– “Đủ rồi. Anh cám ơn chú nó.”

– “Khi nào anh cần thêm, anh cứ về đây. Em sẽ làm thêm. Rơm rạ nhà mình còn vô khối.”

Xa Mạnh liền điểm binh, thống lĩnh quân đội, lên đường chinh phục. Xa Mạnh mới kéo binh đi khỏi thì Ta La Bụng Bự tới. Anh ta đã nghe đồn về thúng tiền vàng hồi hôm.

– “Chú nó lấy tiền vàng ở đâu ra nhiều thế? Nếu anh có được một thúng đầy tiền vàng như vậy, anh có thể làm lời ra nhiều nữa, và khiến cho tiền bạc khắp thế giới tìm về.”

Y Văn sửng sốt: Vậy hả? Tại sao lâu nay anh không nói điều đó cho em nghe? Em sẽ làm tiền vàng cho anh, muốn bao nhiêu cũng có.

– “Chú nó làm cho anh ba thúng đầy,” Ta La mừng rỡ mà nói như vậy và tiếp, “Chú nó chịu không?”

– “Sao lại không? Anh hãy đi với em vào rừng. Nhưng khoan, để em buộc trâu vào xe cái đã. Ba thúng nặng lắm, một mình anh làm sao mang nổi?”

Vào rừng Y Văn hái nhiều lá vông và xát vào lòng tay, làm ra một đống tiền vàng cao nghệu.

– “Đủ chưa?” Chàng hỏi. Ta La mừng rỡ:

– “Thôi, tạm đủ. Cám ơn chú nó.”

– “Có gì đâu anh. Nếu sau này anh cần thêm thì anh cứ về đây, em làm thêm cho. Còn nhiều lá vông lắm.”

Ta La Bụng Bự bèn chở vàng đi buôn bán.

Hai người anh của Y Văn như vậy đều đã lên đường: Xa Mạnh đi làm chiến tranh và Ta La đi buôn. Xa Mạnh đánh chiếm được một nước và lên làm Vua. Còn Ta La trở thành giàu có, tiền bạc mua bán vào ra như nước chảy.

Hai người gặp nhau. Xa Mạnh kể cho Ta La nghe làm sao mà chàng có nhiều lính. Còn Ta La kể cho anh nghe làm sao chàng có nhiều vàng. Xa Mạnh than thở: “Bây giờ làm Vua, anh có thể sống sung túc, nhưng mà anh không có tiền để nuôi quân đội.”

Còn Ta La thì than thở: “Em thì em có quá nhiều tiền nhưng chẳng có ai canh giữ. Sợ trộm cướp quá.”

Xa Mạnh đề nghị: “Bây giờ anh em mình về tìm Y Văn, Anh sẽ bảo Y Văn làm thêm lính để canh giữ tiền bạc cho chú nó,  và chú nó sẽ bảo Y Văn làm thêm tiền bạc để nuôi quân lính của anh.”

Họ tìm về nhà, rồi Xa Mạnh nói với Y Văn: “Anh không có đủ lính chú nó ạ. Chú nó làm cho anh thêm ít lính nữa. Chừng một hai bó rơm lính là đủ.”

Y Văn lắc đầu: “Em không làm nữa. Em quyết không làm thêm một chú lính nào nữa.”

– “Sao vậy? Chú nó đã hứa với anh là khi nào anh cần thêm thì chú nó sẽ làm thêm rồi mà.”

– “Em có hứa. Nhưng em nhất định không làm thêm.”

– “Tại sao thế, hả thằng Khùng?”

– “Tại vì lính của anh đã giết người. Mới mấy hôm trước đây. Khi em đang cày ở một đám ruộng gần đường cái, có một người đàn bà chở quan tài đi ngang qua trên một chiếc xe bò. Bà ta khóc lóc thảm thiết. Em hỏi bà ta: ai chết? Bà nói: Chồng tôi ra trận bị quân lính của Xa Mạnh giết chết. Em tưởng làm ra lính là để mà chơi nhạc cho nên em mới làm. Ai ngờ lính đã giết người. Em sẽ không làm cho anh thêm một tên lính nào nữa hết.”

Và Y Văn cương quyết từ chối. Bây giờ Ta La Bụng Bự lên tiếng, xin Y Văn làm thêm tiền vàng. Y Văn lắc đầu: “Thôi, em không làm thêm đồng nào nữa hết.”

– “Tại sao? Chú đã hứa rồi mà!”

– “Phải rồi, em có hứa. Nhưng bây giờ em quyết không làm ra đồng tiền vàng nào nữa.”

– “Tại sao thế hả thằng Khùng?”

– “Tại vì tiền vàng mà thím Tám mất bò rồi.”

– “Mất bò rồi? Tại sao?”

– “Người ta dắt đi. Thím Tám có một con bò cái, mấy đứa con của thím nhờ đó mà có sữa để uống hàng ngày. Mới hôm qua đây, chúng nó qua xin sữa. Em hỏi: Vậy chớ con bò nhà các cháu đâu rồi? Bộ nó hết sữa rồi à? Chúng nó nói rằng: Người quản lý của ông Ta La Bụng Bự tới đưa cho má chúng ba đồng tiền vàng và dắt con bò đi rồi. Bây giờ tụi cháu không có sữa mà uống. Em tưởng làm ra tiền vàng là để đeo cổ cho đẹp hay đánh đáo chơi, ai có biết rằng tiền vàng có thể cướp bò của người ta và làm cho trẻ con không có sữa uống. Em nhất định không làm ra đồng nào nữa hết.”

Rồi Y Văn cương quyết từ chối. Hai người anh, rốt cuộc phải bỏ đi tìm cách khác. Xa Mạnh nói: “Bây giờ tôi đề nghị thế này: Chú đưa tiền để tôi nuôi lính; còn tôi, tôi sẽ cho chú một nửa giang sơn và một số lính để canh giữ của cải cho chú nó.”

Ta La bằng lòng đề nghị đó. Hai anh em chia nhau sự sản. Cả hai đều làm Vua. Mỗi người một nửa giang sơn và cả hai đều giàu có.

VIII

Trong lúc ấy thì Y Văn vẫn sống an ổn tại nhà. Chàng và cô em gái câm làm việc ngoài đồng áng và nuôi cha mẹ già.

Một hôm con chó trong nhà bịnh nặng. Nó cứ ốm dần, ốm dần, làm như sắp chết. Y Văn thương quá, liền lấy cơm của cô em gái cho nó ăn. Nhưng khi chàng đang lấy cơm thì một cái rễ trong lưng quần chàng văng ra và con chó nhảy tới đốp cái rễ và nhai nuốt hết. Ăn xong cái rễ cây ấy, con chó lành hẳn bịnh. Nó quâỷ đuôi và nhảy cỡn xung quanh Y Văn. Cha mẹ chàng thấy con chó lành bịnh mau chóng một cách dị thường, lấy làm kinh dị, liền hỏi chàng:

– “Con làm sao mà con chó lành bịnh mau dữ vậy?”

– Y Văn trả lời: “Con có hai cái rễ cây có thể trị lành bá chứng, mà nó đã nhai nuốt hết một cái.”

Hồi đó, Công Chúa con Vua đau nặng. Nhà Vua ban chiếu cho thần dân trong nước, từ thành thị đến thôn quê rằng nếu ai chữa được bịnh cho Công Chúa thì sẽ được trọng thưởng, và nếu chưa có gia đình thì Vua sẽ gả Công Chúa cho. Chiếu truyền đến làng của Y Văn. Cha mẹ chàng gọi chàng và nói: “Con đã nghe chiếu tryền của đức Kim Thượng chưa? Con nói con còn một cái rễ nhỏ có thể chữa được bá bịnh. Vậy con nên đem rễ cây đi chữa cho Công Chúa đi. Như thế con sẽ được ban thưởng và sẽ được sung sướng suốt đời. Con chịu không?”

Y Văn đáp: “Sao lại không?” Và chàng sửa soạn lên kinh đô. Chàng lấy áo tốt nhất của mình ra mặc. Nhưng khi mới bước ra đường thì Y Văn gặp một bà già ăn xin. Cánh tay của bà có tật, không co vào và duỗi ra được. Bà già ăn xin nói: “Gìa nghe nói ông biết chữa bịnh. Gìa tới xin ông chữa dùm cánh tay có tật của già. Ông vui lòng chữa cho già không?”

Y Văn đáp: “Sao lại không?” và lấy chiếc rễ còn lại ra đưa cho bà lão, bảo bà nhai và nuốt. Bà lão làm theo lời và cánh tay của bà tự khắc co và duỗi ra được.

Lúc ấy cha mẹ của Y Văn cũng mới từ trong nhà bước ra để cùng với chàng đi đến Kinh đô. Y Văn cho cha mẹ chàng biết là mình đã dùng chiếc rễ cây để chữa cho bà lão rồi và không còn gì nữa để đi chữa bịnh cho Công Chúa. Hai ông bà trách Y Văn: “Mày chỉ biết thương xót bà lão ăn mày mà mày không biết thương xót Công chúa chút nào hết.”

Y Văn, kỳ thực, cũng có thương xót Công chúa. Chàng chẳng nói chẳng rằng, buộc bò vào xe, đem theo ít rơm và leo lên xe để khởi hành.

Cha mẹ chàng hỏi: “Bây giờ mày đi đâu?”

– “Con đi chữa bịnh cho Công Chúa.”

– “Mày không còn chiếc rễ nào thì lấy đâu ra mà chữa bịnh cho Công Chúa được?”

– “Sao lại không?” Y Văn cười và cho xe đi.

Tới Kinh đô, chàng bỏ xe đi bộ vào đền Vua. Chàng vừa đặt chân lên cổng thì Công Chúa lành bịnh ngay lập tức. Đức Vua vui mừng quá đổi. Ngài cho gọi Y Văn vào chầu, cho mặc áo đẹp, và ban thưởng cho chàng.

– “Ta muốn con làm phò mã, con chịu không?”

– “Sao lại không?” Y Văn nói vậy, và chàng nhận lời. Đám cưới cử hành rất trọng thể. Y Văn ở lại triều làm phò mã. Sau đó không lâu, đức Vua băng hà, và Y Văn lên nối ngôi Vua. Như vậy là ba anh em Y Văn đều ở ngôi cư4u ngũ.

IX

Ba anh em là ba ông Vua, trị ba quốc gia khác nhau. Người anh cả là Xa Mạnh, tổ chức quân đội rất kỹ lưỡng. Nhà Vua này bắt dân đi lính thật nhiều để tăng cường số binh lính bằng rơm có sẵn. Hễ mười nhà là phải có một nhà có con đinh lính. Người con trai đi lính phải cao lớn, mạnh khoẻ, tinh anh. Xa Mạnh huấn luyện binh lính rất tinh nhuệ. Hễ có ai chống đối mình thì lập tức Xa Mạnh gọi quân lính đi đàn áp. Vua muốn làm gì ai cũng được. Người ta bắt đầu sợ hãi.

Hễ ưa thích cái gì là Xa Mạnh gởi quân lính đi chiếm cho kỳ được.

Người anh thứ là Ta La Bụng Bự chú trọng nhiều hơn kinh tế thương mãi. Tiền vàng của Y Văn cho, Vua đã không làm mất đồng nào mà còn làm cho sanh lợi rất nhiều. Vua cũng thiết lập trật tự trong nước. Vua cất chứa tiền bạc trong kho, và còn thu thuế của dân để chất chứa thêm. Vua đánh thuế tất cả mọi người dân, đánh thuế rượu, đánh thuế lúa, đánh thuế áo quần, đánh thuế mọi thứ. Thích gì là tung tiền ra mua. Ta La mua gi cũng được.

Còn Y Văn Khùng làm ăn cũng khá. Sau khi chôn cất Vua cha, chàng cởi áo hoàng bào, bảo hoàng hậu bỏ vào cất trong rương, rồi lấy quần áo nông dân ngày xưa của mình mặc vào. Và Vua lại bắt đầu làm ruộng. Vua nói:

– “Làm Vua kiểu này chán chết. Ngồi không hoài, ăn đã không biết ngon, bụng thì càng ngày càng lớn thêm mà đêm lại cũng không ngủ được.”

Vua cho đi mời cha mẹ và cô em gái câm tới ở chung và Vua bắt đầu làm ruộng trở lại. Mọi người nói:

– “Nhưng mà Vua là một bậc Nhân Chủ kia mà. Tại sao Vua lại cần lao động?

– “Vua cũng như mọi người.” Y Văn đáp.

Một viên quan đại thần tâu: “Tâu bệ hạ, mình chẳng có tiền để trả lương cho các quan.”

– “Không có tiền thì khỏi trả.”

– “Tâu bệ hạ, nếu không trả thì họ không chịu theo phò chúng ta nữa.

– “Thì để cho họ thôi. Để cho họ đi làm việc. Nói với họ là có bao nhiêu việc phải làm. Ví dụ lấy xe chở phân ra ruộng. Phân của họ chất từng đống cao nghệu rồi đó.”

Nhiều người kéo đến nhà vua nhờ xử kiện. Một người nói: “Tâu Hoàng Thượng, nó ăn cắp tiền của hạ thần.”

Y Văn nói: “Thì tại vì nó cần tiền nên nó mới ăn cắp.” Mọi người cho rằng Y Văn là một ông Vua khùng. Một hôm, Hoàng Hậu nói nhỏ với Vua: “Người ta nói là Bệ Hạ Khùng.”

Y Văn cười: “Thì cứ để họ nói.” Hoàng Hậu suy nghĩ mãi về câu trả lời của Vua. Và vì bà cũng thuộc loại khùng như Vua, cho nên một hôm bà tự nhủ:

“Tại sao ta lại đi ngược lại chồng ta? Kim đi dâu thì chỉ phải theo đấy.”

Nghĩ thế, bà liền cởi áo Hoàng Hậu, cất vào rương, và đi tìm cô em gái câm của Y Văn để học làm ruộng, và bắt đầu giúp chồng trong công việc đồng áng. Những nhà tri thức trong vương quốc thấy thế liền bỏ nước đi sang sinh sống ở một nước khác. Chỉ có những người khùng là chịu ở lại. Họ làm việc chân tay, sản xuất cơm ăn áo mặc, nuôi mình và nuôi người.

X

Ma Vương, Vua của các loài Ma, đã chờ đợi năm này qua năm khác nhưng không thấy ba tên tiểu yêu trở về báo cáo về kết quả của việc xúi ba anh em Y Văn choảng nhau đến vỡ đầu. Cuối vùng không đợi được nữa, Ma Vương đích thân lên đường tìm kiếm. Tìm kiếm mãi mà chẳng thấy ba tên tiểu quỷ đâu, chỉ thấy ba cái lỗ hổng dưới đất. Ma Vương nghĩ thầm:

– “Rõ ràng là ba chú nhỏ bị thất bại. Ta phải tự mình ra tay mới được.”

Ma Vương đi tìm ba anh em Y Văn, nhưng ba anh em nhà này đâu còn ở chỗ cũ nữa. Ma Vương lên đường đi tìm nữa, và biết được rằng cả ba đều đang làm Vua. Điều này làm cho hắn ta rất bực bội.

“Ta phải đích thân ra tay mới được,” Ma Vương lặp lại quyết định của mình. Trước hết Ma Vương tìm tới Hoàng Đế Xa Mạnh. Ông ta biến hình ra một viên dũng tướng và xin vào ra mắt nhà Vua.

– “Thần nghe nói Hoàng Thượng là một người thông hiểu binh pháp. Thần cũng là người rất am tường về việc dụng binh, nên tìm đến đây để phò Hoàng Thượng.” Hoàng Đế Xa Mạnh chất vấn vài câu và thấy rằng vị võ tướng này là là một người rất mực khôn khéo, nên vui lòng chấp nhận. Vị tướng lãnh mới này bắt đầu chỉ cho Vua cách thức tổ chứa một binh lực hùng mạnh.

– “Trước hết, chúng ta phải bắt lính thêm nhiều nữa, nếu không, chúng ta sẽ có quá nhiều người làm biếng trong xứ. Động viên tất cả mọi người trẻ, như vậy ta sẽ có một quân đội lớn bằng năm lần quân đội hiện giờ. Rồi chúng ta phải đúc thêm nhiều súng ống. Thần sẽ chế tạo cho Bệ Hạ một loại súng có thể bắn một lần một trăm viên đạn, giống như người ta ném ra một nắm đậu vậy. Thần cũng sẽ chế tạo ra một loại súng phun lửa có thể đốt cháy người, ngựa, thành trì, và mọi thứ chướng ngại.”

Nghe lời vị tướng lãnh mới, Hoàng Đế Xa Mạnh ra lệnh động viên tất cả mọi người trẻ tuổi. Không ai được phép miễn dịch. Vua đã thiết lập nhiều xưởng đúc súng đạn để đúc những thứ súng mới và đạn mới. Và Vua đưa binh đi đánh nước lánh giềng. Xa Mạnh ra lệnh bắn súng và phun lửa vào quân địch. Lửa đạn của Vua lập tức tiêu diệt quá nửa binh đội của nước lánh giềng. Vua láng giềng sợ quá, đầu hàng. Vua thôn tính nước đó. Và Vua dự định đi chinh phục luôn nước Ấn Độ.

Nhưng Hoàng Đế Ấn Độ đã biết trước chuyện này. Thám tử đã báo cáo mọi sự về vương quốc của Xa Mạnh, cho nên Vua Ấn Độ đã cho chế tạo súng đạn theo kiểu mẫu lấy được của Xa Mạnh và còn chế tạo thêm vài loại súng mới nữa. Hoàng Đế Ấn Độ lại động viên thêm, bắt tất cả mọi người trẻ tuổi đi lính đã đành, lại còn bắt tất cả mọi phụ nữ không có gia đình đi lính. Bây giờ đây, binh đội của Ấn Độ còn lớn hơn và đông đào hơn binh đội của Xa Mạnh nữa. Vua Ấn Độ lại phát minh ra một loại máy bay có thể bay sang đất địch để thả bom.

Hoàng Đế Xa Mạnh điều động binh mã qua đánh Ấn Độ, tưởng rằng sẽ chiến thắng dễ dàng như đã chiến thắng nước láng giềng. Nhưng Vua thất bại nặng nề. Hoàng Đế Ấn Độ không đợi chờ quân đội của Xa Mạnh tiến tới gần tầm súng; trước đó, Vua đã cho nữ binh bay máy bay lên trời và thả bom xuống trên quân đội của Xa Mạnh. Bom thả xuống như mưa. Cả binh đội của Xa Mạnh tan vỡ, tẩu tán hết, chỉ còn lại một mình Xa Mạnh. Hoàng Đế Ấn Độ chiếm đóng Vương quốc của Xa Mạnh. Xa Mạnh phải tìm đường trốn tránh.

Sau khi đã thanh toán được một người trong số ba anh em, Ma Vương tìm tới Hoàng Đế Ta La Bụng Bự. Kỳ này Ma Vương biến thành một thương gia và vào kinh doanh nơi vương quốc của Ta La. Ma Vương xài tiền như rác, mua đủ mọi thứ với giá rất cao. Thiên hạ tìm tới rần rần để bán sản phẩm cho Ma Vương và để được Ma Vương trả tiền. Tiền của Ma Vương đi vào thị trường nhiều quá khiến cho dân chúng có dư dã để trả thuế cho Vua rất đúng hẹn. Hoàng Đế Ta La rất hoan hỷ: “Nhờ người đại thương gia mới tới này mà ta có tiền nhiều hơn bao giờ hết. Đời sống thật là dễ chịu hơn bao giờ hết.

Vua dự tính nhiều chuyện. Trước hết Vua muốn xây dựng một cung điện mới và ra lệnh cho mọi người đem gỗ đá đến để khởi công. Vua cho giá rất cao và nghĩ rằng dân chúng sẽ đổ xô tới để mang gỗ và đá cho Vua xây dựng. Nhưng không! Dân chúng chỉ chịu chở đá và gỗ tới cho đại thương gia kia. Thợ thuyền cũng thế… Vua trả giá cao thì vị đại thương gia lại trả giá cao hơn. Vua có nhiều tiền nhưng tên đại thương lại có nhiều tiền hơn. Nó hơn Vua mọi mặt. Cuối cùng công việc xây dựng cung điện phải bị đình chỉ.

Vua cũng đã khởi công tạo lập một vườn thượng uyển. Mùa thu năm nay Vua ra lịnh cho dân chúng đến đào đất, trồng cây, nhưng không ai chịu tới: ai cũng đang bận đi đào hồ cho tên đại thương gia.

Mùa Đông tới. Vua cho người đi mua da thú về may áo ấm. Người đi mua trở về tay không, bởi vì tên đại thương gia đã cho người đi mua hết da thú trong nước về đề làm nệm trải nhà.

Khi nhà Vua cho người đi mua ngựa thì cũng không còn ngựa để mà mua. Tất cả mọi con ngựa trong xứ đều đang đi chở nước đổ vào chiếc hồ lớn của tên đại thương gia.

Mọi công trình của Vua bị đình đốn. Không ai chịu tới phục vụ cho Vua nữa. Ai cũng tới phục vụ cho tên đại thương gia. Không ai đem cho Vua vật gì hết, họ chỉ đem tiền nạp thuế cho Vua mà thôi.

Hoàng Đế Ta La thu góp quá nhiều tiền bạc đến nỗi Vua không còn kho để chứa tiền nữa. Tuy vậy đời sống của Vua đã trở nên khó khăn, khổ sở. Vua đình chỉ hết mọi công tác, chỉ mong có đủ thực phẩm và áo quần, nhưng mà thực phẩm và áo quần cũng đã trở nên hiếm hoi. Bọn ngự y, ngự trù, ngự xa của Vua đều đã bỏ Vua tới làm cho tên đại thương gia. Bây giờ Vua cho người đi chợ mua thức ăn cũng không có thức ăn mà mua nữa. Tên đại thương gia đã mua hết. Vua chỉ còn tiền và tiền.

Ta La giận quá, ra lệnh đuôỉ tên đại thương gia ra khỏi vương quốc. Nhưng tên đại thương gia chỉ lùi ra khỏi ranh giới vương quốc một chút thôi, rồi cắm dùi lập nghiệp ở đó. Và nó vẫn tiếp tục mua tất cả những sản phẩm nào mà vương quốc của Ta La có thể sản xuất.

Tình trạng nguy ngập quá. Có nhiều hôm liên tiếp, Vua và cả Hoàng Gia chẳng có gì ăn. Và bây giờ người ta đồn đại rằng thương gia đang tính chuyện mua luôn cả … Hoàng Hậu. Vua điên đầu, chẳng biết tính sao. Lúc đó, Xa Mạnh tìm tới. Xa Mạnh nói với Vua: “Vương đệ phải giúp ta. Hãy viện trợ cho ta. Ta vừa bị Vua Ấn Độ đánh bại.” Nhưng Hoàng đến Ta La đã đi đến bước đường cùng. Vua nói: “Đã mấy hôm nay chính em cũng không có lấy được một hạt cơm vào bụng.”

XI

Thanh toán xong hai người anh, Ma Vương bắt đầu tấn công Y Văn. Ma Vương biến hình ra một viên võ tướng, đến ra mắt Y Văn, khuyên Vua nên thành lập binh đội. Vị võ tướng nói: “Một vị quốc vương như bệ hạ mà thiếu quân đội thì rất thiếu thể thống. Bệ hạ chỉ cần giao cho hạ thần mọi việc. Hạ thần sẽ tổ chức binh ngũ cho bệ hạ. Bệ hạ bằng lòng không?”

– “Sao lại không? Cứ tổ chức binh đội đi. Nhưng nhớ tập cho lính tráng đánh trống thổi kèn cho giỏi. Ta chỉ thích có chừng ấy.”

Vị tướng lãnh đi khắp vương quốc của Y Văn để chiêu mộ binh lính, hứa hẹn rằng ai nhập ngũ thì sẽ được mặc quân phục, đội nón đỏ, và được phát cho hai lít rượu đế thứ thượng hảo hạng.

Dân chúng trong vương quốc vốn toàn là những người khùng. Nghe vị võ tướng nói thế, ai cũng phì cười: “Cô bác ở đây ai cũng có rượu đế nhâm nhi mỗi ngày, ai cần hai lít rượu mà phải đi lính. Còn quân phục thì mặc vào chật chội khó chịu lắm. Còn nón thì trời ơi, má bầy trẻ muốn may nón màu gì cũng được, cần gì phải nón đỏ. Có khi các bà còn làm cả nón sọc xanh nữa là.” Rồi không ai chịu tình nguyện đi lính cả. Vị võ tướng về báo cáo với Y Văn:

– “Những thằng khùng trong vương quốc không đứa nào chịu tình nguyện đi lính cả. Ta phải cưỡng bách tòng quân mới được. Bệ hạ bằng lòng ra lệnh không?”

– “Sao lại không? Cứ việc cưỡng bách thử xem.”

Vị tướng lãnh liền bố cáo cho thiên hạ biết rằng ai cũng phải đi lính, người nào không đi thì sẽ bị Vua xử tử.

Dân khùng đến gặp vị tướng lãnh và nói: “Ông bảo nếu chúng tôi không đầu quân thì sẽ bị xử tử, nhưng ông không cho chúng tôi biết nếu chúng tôi đi đầu quân thì tánh mạng chúng tôi sẽ ra sao. Chúng tôi nghe nói đi lính cũng chết.”

– “Đúng rồi, đi lính thì có thể chết vì trận mạc.”

– “Nghe nói thế, dân khùng càng trở nên cương quyết. Họ nói: “Vậy thì chúng tôi nhất định không đi! Thà ở nhà mà bị xử tử. Chớ đi mà cũng chết thì đi làm gì?”

Vị tướng lãnh giận quá: “Thật là một bọn khùng. Đi lính thì có thể chết, nhưng cũng có thể may ra được sống; còn nếu không chịu đi thì chắc chắn sẽ bị Vua xử tử.”

Dân khùng suy nghĩ rất lâu, rồi tới trước mặt Vua khùng, họ nói: “Tâu bệ hạ, có một vị tướng lãnh mới ra lệnh cho tất cả chúng tôi đi lính, nói rằng nếu chúng tôi đi thì có thể bị giết hay có thể may mắn sống sót, nhưng nếu chúng tôi không chịu đi lính thì bệ hạ chắc chắn sẽ xử tử chúng tôi. Có phải vậy không?”

Y Văn cười: “Làm sao mà một mình tôi lại có thể ra lệnh giết hết bà con cho được? Nếu tôi không phải là một ông Vua khùng thì tôi có thể giải thích chuyện này cho bà con nghe được. Đàng này tôi là một ông Vua khùng, cho nên chính tôi cũng không hiểu được nữa huống là bà con.”

Dân khùng nói: “Vậy thì chúng tôi không chịu đi lính. Được không?”

Y Văn nói: “Sao lại không? Không muốn đi thì đừng đi.”

Dân khùng bèn đi tới gặp vị tướng lãnh và nói rằng họ nhất định không chịu đi lính.

Vị tướng lãnh thấy mưu mình không thành công, liền sang vương quốc Takaran bên cạnh để cầu thân, rồi xúi nước này đem quân sang chinh phục vương quốc Y Văn.

– “Xin bệ hạ cứ cho binh đội sang đánh nước Y Văn đi. Đành rằng chúng nó không có nhiều tiền, nhưng lúa thóc, trâu bò và các sản phẩm khác thì nhiêù lắm.”

Vua nước Takaran bằng lòng, cho chỉnh đốn binh ngũ, đem quân vượt biên giới, thâm nhập lãnh thổ vương quốc Y Văn.

Dân nước Y Văn tới gặp Vua và nói: “Quân đội Takaran đang tới xâm chiếm nước ta.”

Y Văn nói: “Cứ để họ tới.”

Khi đã vượt biên giới, vua Takaran cho thám tử đi lùng để tìm xem quân đội vương quốc Y Văn đóng ở đâu. Tìm mãi mà không thấy có binh đội. Đợi hàng tháng cũng không thấy một tên lính nào của nước Y Văn xuất hiện. Thì ra vương quốc của Y Văn không có quân đội, làm sao tìm ra được lính mà đánh.

Vua nước Takaran bèn cho binh đội đi chiếm làng mạc. Khi binh lính vào làng, dân chúng đổ ra xem, trai cũng như gái, trẻ cũng như già. Quân đội tịch thâu lúa gạo và trâu bò. Dân chúng vốn khùng, cứ để cho quân đội lấy mà không chống cự. Quân đội đi sang làng khác, rồi đi sang làng khác nữa: ở đâu cũng thế, dân chúng tự động đem lúa gạo trâu bò giao cho mà không hề chống cự. Đã không chống lại mà còn mời đón đãi đằng. Họ nói với lính:

– “Nếu quý ông thấy sống ở bên nước của quý ông khổ cực quá thì cứ sang ở lại đây với chúng tôi.”

Quân đội cứ tiếp tục đi. Đến đâu cũng không thấy có binh lính chống trả, đến đâu cũng chỉ thấy có dân chúng làm lụng để sanh sống, đến đâu cũng được dân chúng mời mọc ân cần, không ai chống cự lại.

Đi riết mãi cũng chán, binh đội trở về báo cáo với Vua của họ rằng:

– “Ở đây không thể hành quân diệt địch được. Xin bệ hạ cho đi đánh nơi khác. Đánh giặc thì phải có giặc mới được, ở đây chẳng có giặc nào hết, cứ giống như là gánh nước bằng hai hai cái giỏ tre.”

Vua nước Takaran giận dữ, ra lệnh chiếm trọn xứ của Y Văn, đốt nhà, giết trâu bò, phá làng, phá xóm.

– “Các người phải tuân lệnh ta, nếu không sẽ bị xử tử.”

Binh lính sợ hãi. Họ bắt đầu thi hành mệnh lệnh của Vua. Họ đốt nhà, đốt vựa lúa, giết trâu bò. Vậy mà dân chúng nước khùng vẫn không kháng cự. Họ đứng khóc. Ông già khóc, bà già khóc, người lớn khóc, trẻ con khóc. Họ khóc như ri. Họ nói:

– “Tại sao quý ông lại tới đốt phá những thứ quý giá đó? Nếu quý ông cần thì tại sao không chở theo về mà dùng, đốt phá làm chi cho tội?”

Cuối cùng quân đội của Vua Takaran không thể nào nhẫn tâm tiếp tục đốt phá được nữa. Họ nhất định không tuân theo cái lệnh tàn ác của Vua nước họ nữa. Và quân đội của nước Takaran tan rã. Cuộc “chiến tranh” chấm dứt.

XII

Ma Vương cũng phải rút lui vì thất bại. Hắn tính mưu chước khác. Lần này hắn hiện ra thành một thương gia hình dung chải chuốt, áo quần bảnh bao và đến sanh cư lập nghiệp trong vương quốc của Y Văn. Ma Vương muốn dùng kế sách mà hắn đã từng dùng để thanh toán Ta La Bụng Bự. Đó là kế sách tiền bạc.

Vị thương gia đến ra mắt Y Văn và nói: “Tôi sẽ giúp cho bệ hạ thêm nhiều thông minh và không khéo. Tôi sẽ làm nhà tại đây và bắt đầu mở việc khuếch trương buôn bán.”

– “Thì cứ khuếch trương buôn bán đi.” Y Văn nói. Sáng ngày hôm sau, vị thương gia ra ngoài ngã tư với một bao tiền vàng và một tờ giấy trắng. Ông ta quảng cáo: “Cô bác ở đây sống cực khổ quá. Để tôi dạy cô bác sống cho đàng hoàng hơn. Trước hết thì cô bác hãy xây cho tôi một ngôi nhà theo họa đồ này. Tôi sẽ chỉ cho cô bác xây cất, và tôi sẽ lấy tiền vàng trong túi này để trả công cho cô bác.”

Nói rồi ông ta đem vàng ra khoe. Dân chúng thấy những đồng tiền vàng xinh xinh thì rất thích. Ở xứ này không ai dùng tiền bạc nên chẳng ai biết giá trị của những đồng vàng. Họ đem sản vật đến đổi tiền vàng để cho trẻ con chơi và đeo cho vui, bởi thấy những đồng tiền vàng có những màu vàng ánh rất đẹp.

Dân chúng bắt đầu đến làm việc cho vị thương gia, đổi công để lấy tiền vàng. Có người thì đem gạo muối hay trái cây đến để đổi. Người thương gia thích lắm, thầm nghĩ: “Công việc của ta đang tiến hàng trôi chảy. Thế nào ta cũng làm cho Y Văn lụn bại như ta đã làm cho Ta La Bụng Bự. Ta sẽ mua nó và sẽ lột hết mọi thứ nó có.”

Nhưng dân chúng không thích giữ tiền vàng. Họ đem tiền vàng cho đàn bà, trẻ con chơi. Có bà thì xâu tiền vàng và đeo như dây chuyền, các cô gái thì lấy tiền vàng ghim lên tóc, còn trẻ con thì dùng tiền vàng để đánh chọi ngoài đường. Khi mà các bà các cô và các em bé ai cũng có tiền vàng để chơi rồi thì các ông không ai đem công hoặc sản vật tới cho người thương gia để đổi thêm tiền vàng nữa. Không ai tới làm công cho nên ngôi nhà của thương gia bị bỏ dở nửa chừng, và ông ta không có chỗ chứa trâu bò và lúa gạo. Ông ta cho gọi dân chúng tới làm việc và mang sản vật đến đổi tiền, nhưng không ai chịu tới, dù ông ta khoe rằng ông ta còn vô khối tiền vàng.

Không ai chịu tới. Thỉnh thoảng mới có một cậu bé con hay một cô bé con đem một cái hột gà tới để đổi một đồng vàng mà thôi. Vì vậy chẳng mấy chốc mà người thương gia không còn gì để ăn nữa.

Không có gì để ăn, người thương gia phải đích thân đi vào xóm để mua thực phẩm. Ông ta thò đầu vào của nhà dân chúng, xin đổi một đồng vàng để lấy một con gà, nhưng các bà nội trợ lắc đầu:

– “Chúng tôi có vô khối tiền vàng rồi.”

Ông ta đưa một đống vàng cho một bà già nghèo để đổi lấy một cái bánh bao. Bà ta trả lời: “Thưa ông, tôi không thấy đồng vàng này có ích lợi gì cho tôi hết. Tôi không có cháu để đổi cho chúng chơi. Với lại vì tò mò, chúng tôi có đổi vài đồng chơi, tôi còn giữ kia, chẳng dùng được vào việc gì.”

Ông ta đi lấy tiền đổi một chén cơm, nhưng các bác nông dân từ chối: “Chúng tôi không cần tiền vàng. Nếu ông muốn xin của bố thí thì chúng tôi sẽ đem cơm cho ông ăn, bởi vì phật dạy bố thí cho người đói sẽ có nhiều công đức.”

Nghe nói tới “Phật” ông ta vụt chạy ra khỏi nhà người nông dân, không còn dám bén mảng trở lại. Vốn là Ma Vương nên nghe nói tới “Phật” thì ông không thể nào chịu nổi, cũng như khi bóng tối thấy ánh sáng đến thì liền tháo chạy.

Dân chúng bảo ông ta: “Đừng đem tiền vàng tới nữa. Có gì khác thì hãy đem đến, xem chúng tôi có thể đổi cơm được không. Hoặc là ông chịu khó làm việc thì tự khắc có cơm ăn.”

Ông ta nổi giận: “Đừng có ngu! Ta đã đưa tiền vàng là thứ quý nhất rồi, còn đòi gì khác nữa? Có tiền vàng mua gì cũng được, biết không?”

Dân chúng trả lời: “Chúng tôi không cần tiền. Ở nước này dân chúng đâu có phải đóng thuế mà cần tiền? Lấy tiền mà làm gì?”

Vậy là nhà thương gia phải đi ngủ với bụng lép xẹp, không có hột cơm nào.

Vua Y Văn có nghe về việc này. Dân chúng đến thăm vua và hỏi: “Chúng tôi phải làm sao đây hả Bệ hạ? Có một ông rất thích mặc áo đẹp, ăn cơm ngon mà không muốn làm việc, cũng không muốn xin của bố thí, mà chỉ muốn đưa ra tiền vàng. Ban đâù chúng tôi đưa đủ mọi thứ cho ông ta dùng, nhưng sau đó chúng tôi có nhiều tiền vàng quá rồi, chúng tôi không muốn đưa ông ta thêm gì nữa. Phải làm sao? Ông ta có thể sẽ chết đói.”

Y Văn nghe chuyện, trả lời:

– “Mình phải cho ông ta ăn. Cứ để cho ông ta đi từ nhà này sang nhà khác, như mấy ông sư đi trì bát vậy.”

Nhờ vậy mà người thương gia có cơm ăn. Một hôm, tới phiên nhà Y Văn cho ông ta ăn. Khi ông ta bước vào nhà thì cô em gái câm đang làm cơm ở dưới bếp. Cô gái câm này vốn có kinh nghiệm về chuyện những người làm biếng. Ngày xưa, khi còn ở nông trại của cha, cô đã có tài nhận biết ai là người làm việc giỏi và ai là người làm biếng, chỉ làm sơ sơ nửa buổi rồi nghỉ và đến giờ cơm thì về ngồi vào bàn ăn. Cô nhận biết bằng cách sờ vào lòng bàn tay họ. Hễ bàn tay của người nào có vết chai cứng thì là người đó siêng năng, làm việc giỏi; còn người nào tay mềm, không có dấu vết lao động thì là người làm biếng. Cô thường mời những người có bàn tay chai cứng ngồi vào bàn ăn, còn những người kia thì cô bắt đứng, khi nào những người nảy ăn xong mới được ngồi vào ăn. Khi người thương gia ngồi vào bàn ăn, cô em gái câm của Y Văn liền cầm tay ông ta theo thói quen để xem xét. Thấy bàn tay không có vết chay cứng, cô ậm ừ không bằng lòng, và đẩy ông ta đứng dậy.

– “Xin ông đừng chấp em nó, bà Hoàng hậu nói. Chúng tôi có luật lệ không cho người có bàn tay mềm và trơn tru ngồi vào bàn ăn. Vậy xin ông hãy đứng một bên, chờ người khác ăn xong rồi hãy ăn sau.”

Thấy mình bị đối đãi như một người ăn xin tại nhà Y Văn, người thương gia giận lắm, nói:

– “Cái luật lệ của các người thật là ngu xuẩn. Luật lệ gì mà lại cho người làm việc tay chân là làm việc, còn làm việc bằng những thứ khác thì không phải là làm việc? Các người có biết khi người ta thông minh thì người ta không làm việc bằng tay chân mà làm việc bằng cái gì không?”

Y Văn chép miệng:

– “Chúng tôi không biết. Có lẽ vì vậy mà chúng tôi mới bị người khác gọi là khùng”.

“ Khi người ta thông minh thì người ta làm việc bằng đầu óc, biết chưa? Các ngươi không cho ta ăn, vì ta không có vết chai cứng trong lòng bàn tay, nhưng các ngươi nên biết làm việc bằng đầu óc còn mệt bằng trăm lần làm việc bằng tay chân. Có khi làm mệt quá, bể luôn cả đầu.”

Y Văn hỏi:

“ Như thế làm việc bằng đầu óc làm chi cho khổ, ông bạn ơi? Làm cho đến nỗi bể đầu, đó không phải là việc dễ. Vậy tại sao ông bạn không chịu làm việc bằng tay chân và bằng chiếc sống lưng như tất cả chúng tôi?”

Người thương gia trả lời:

“ Ta khổ công vì thương vua tôi nhà ngươi ngu ngốc mà thôi. Nếu ta không thương thì vua tôi nhà ngươi se còn ngu ngốc suốt đời. Ta đã từng làm việc bằng đầu óc, và ta sẽ dạy cho các ngươi cách làm việc bằng đầu óc.”

Y Văn vui mừng nói:

“Xin ông bạn cứ dạy cho chúng tôi đi, để rồi sau này mỗi khi làm việc chân tay mõi mệt rồi thì chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc bằng đầu óc.’

Người thương gia bằng long dạy.

Sau đó, vua Y Văn bố cáo cho khắp thần dân trong vương quốc biết rằng một vị quý nhơn vừa mới xuất hiện và sẽ dạy cho dân chúng làm việc bằng đầu óc, rằng làm việc bằng đầu óc sẽ có lợi hơn làm việc bằng tay chân, rằng mọi người phải đến để học.

Ở vương quốc của Y Văn có một cái tháp chuông khá cao, phía trong tháp có một cái cầu thang nhỏ leo quanh từ dưới tầng nhất lên cho đến tầng bảy. Y Văn dắt nhà thương gia lên lên từng thứ bảy để cho dân chúng đứng dưới đất có thể thấy được ông ta một cách dễ dàng. Người thương gia đứng dậy và bắt đầu diễn thuyết.

Quần chúng bu lại để xem. Họ cứ tưởng người thương gia sẽ chỉ cho họ cách làm việc bằng đầu óc, nghĩa là làm bằng cái đầu cái óc, để khỏi phải làm việc bằng cái tay cái chân ; ai dè ông ta chỉ đứng đó mà nói tràng giang đại hải, chẳng chịu làm việc bằng-đầu-óc gì cho họ xem cả.

Quần chúng do đó chẳng học hỏi được gì. Họ đứng xem một hồi rồi chán nản, bỏ đi làm công chuyện. Người thương gia đứng trên lầu tháp suốt ngày hôm đó và suốt một ngày sau nữa để tiếp tục diễn thuyết. Ông ta càng nói thì càng đói, nhưng chẳng có người khùng nào đem thức ăn lên cho ông ta cả. Họ nghĩ rằng nếu ông ta biết làm việc bằng đầu óc giỏi hơn làm việc bằng chân tay thì thế nào ông ta cũng làm ra cơm mà ăn được, chẳng cần họ bố thí.

Người thương gia đứng trên tháp chuông thêm một ngày nữa, miệng vẫn không ngừng diễn thuyết. Người đi ngang qua đấy có xúm lại đứng xem, nhưng một lát sau lại bỏ đi. Trong lúc đó thì Y Văn hỏi thăm: “Thế nào, ông ta đã bắt đầu thực sự làm việc bằng đầu óc chưa? Dân chúng trả lời: “Dạ chưa, ông ta vẫn còn đang lải nhải’.

Người thương gia đứng trên lầu chuông thêm được một ngày nữa, rồi vì đói và yếu quá, ông ta loạng choạng va dập đầu vào một chiếc cột gỗ. Một người dân khùng đi báo tin đó cho hoàng hậu khùng hay. Hoàng hậu lập tức đi báo tin cho Vua khùng lúc ấy còn đang cày ruộng:

“Bệ hạ hãy về mà xem. Người ta nói vị thương gia đã bắt đầu làm việc bằng đầu óc.’

Y Văn ngạc nhiên:

Thật vậy hả? Rồi Vua hấp tấp chạy về lầu chuông. Khi Y Văn tới nơi, thì người thương gia đã đói lả ra rồi. Ông ta lại thấy đầu óc choáng váng và ông ta lại đập đầu vào chiếc cột gỗ trên lầu chuông một lần nữa. Khi Y Văn tới được dưới chân lầu thì người thương gia té xỉu, đập đầu vào nấc thang và toàn thân lăn lông lốc xuống bảy tầng lầu.

“Ông ta nói đúng thật’ Y Văn ngẫm nghĩ. “làm việc bằng đầu óc rất khó, có khi làm nhiều quá đầu cũng phải bể. khi ta làm việc bằng tay chân thì tay chân có thể bị phồng chai lên, còn khi ta làm việc đầu óc, thì đầu óc ta có thể sưng u lên nữa.’

Người thương gia đã lăn xuống tới mặt đất. Y Văn tới gần để xem thử ông ta đã làm việc đầu óc được nhiều hay ít thì bỗng nhiên mặt đất nứt ra, tên Ma Vương rơi xuống, rồi mặt đất khép lại. Không còn gì cả, chỉ còn lại một dấu nứt trên đất.

Y Văn gãi tai gãi đầu:

“Lại hắn ta nữa ! Gớm ghiếc quá ! Có lẽ tên này là chúa trùm của bọn tiểu quỷ !’

Tới ngày nay, Y Văn vẫn còn sống, và người ta vẫn nườm nượp tìm tới vương quốc của chàng để sinh cơ lập nghiệp. Hai người anh của Y Văn cũng tìm tới, và chàng cũng cho cư trú và ăn uống như xưa.

Hễ khi có ai tới và nói: “cho ăn cơm với, được không? thì luôn luôn Y Văn trả lời: “Sao lại không? cứ ở lại đây. Thiếu gì thức ăn’.

Trong vương quốc của Y Văn, có một tục lệ mà mãi đến bây giờ dân chúng còn theo. Đó là: những người có vết chai cứng trong lòng bằng tay thì đến bữa cơm được ngồi vào bàn ăn trước, còn những người không có thì đến bữa ăn phải đứng đợi, đợi khi những người kia ăn xong, thì mới được ăn, và ăn những thực phẩm còn lại.

LEO TOLSTOY 1906

BÀ MẸ CỦA LÍNH

Lê Mai làm công cho một ông chủ ruộng. Chàng ăn ở ngay trong nhà của chủ.

Một hôm ra ruộng, chàng thấy một con cóc nhảy qua bờ ruộng ngay dưới chân chàng …Vừa bước qua khỏi con cóc, chàng nghe một tiếng cười trong trẻo phía sau lưng. Ngảnh lại, Lê Mai thấy một cô gái thật đẹp đang đứng mỉm cười nhìn chàng.

Cô gái hỏi chàng: “Anh Lê Mai, tại sao anh chưa cưới vợ?’

Lê Mai đáp: “Cô thiếu nữ xinh đẹp ơi, ai mà chịu cho tôi cưới? Tôi nghèo mạt rệp cho nên chẳng có cô nào thèm.’

Cô gái nói: “Thì anh cưới em đi.’

Lê Mai nghe nói thế mừng rỡ. “Thế còn gì quý hơn ! Nhưng cưới nhau rồi thì chỗ đâu mà ở?’

“Có thế mà cũng lo. Anh làm việc nhiều hơn lên một chút, ngủ bớt xuống một chút thì tự nhiên đi đâu ta cũng có thể sống được’.

“Được rồi, chúng ta sẽ là vợ chồng. Nhưng bây giờ chúng ta đi đâu đây?’

“Hãy đi về dưới phố.’

Lê Mai và cô gái cùng đi. Nàng đưa chàng tới một căn nhà lá nằm về phía bên kia thành phố. Họ ở lại căn nhà, làm đám cưới và sinh sống tại đó.

Ít lâu sau đó nhà Vua đi du hành. Khi ngự giá đi ngang qua túp lều tranh, cô vợ của Lê Mai cũng chạy ra xem Vua như mọi người. Trông thấy nàng, nhà Vua lấy làm kinh ngạc:

“Sao ở đây lại có một người xinh đẹp đến thế này nhỉ?’

Vua cho ngừng xe lại, gọi vợ Lê Mai tới và hỏi:

“Nàng là ai?’

“Tôi là vợ của một anh chàng nông dân tên là Lê Mai.’

“Tại sao một người đẹp như nàng mà lại chịu đi lấy một anh nông dân? Đánh lý nàng phải lấy một vị Hoàng Đế mới phải.’

“Cám ơn lời khen ngợi của bệ hạ. Nhưng tôi thấy lấy một anh chàng nông dân cũng có hạnh phúc lắm đối với tôi rồi.’

Đức Vua nói chuyện với nàng một lát rồi lại cho xe chạy. Sau chuyến du hành, Vua trở về cung, nhưng không thể nào quên được hình bóng của cô vợ Lê Mai. Cả đêm Vua thao thức nghĩ cách chiếm nàng, nhưng không tìm ra được cách nào cả. Sáng Vua cho mời mấy ông cố vấn và nói cho họ nghe ước muốn của mình.

Mấy ông cố vấn nói: “Xin Vua ra lệnh cho đòi tên Lê Mai vào cung để làm việc. Chúng tôi sẽ bắt hắn ta làm việc thật nặng nhọc đến chết. Khi đó vợ nó sẽ là góa phụ và Bệ hạ có thể cưới nàng.’

Nghe lời cố vấn, Vua ra lệnh cho Lê Mai tới làm trong vườn ngự uyển và đem vợ tới ở ngay trong vườn.

Khi sứ giả tới nhà Lê Mai, vợ chàng nói: “Anh cứ đi vào cung làm việc đi, nhưng đến tối anh lại về đây với em.’

Lê Mai đi vào cung. Thị vệ hỏi: “Sao anh tới một mình? Còn vợ anh đâu?’

“Nhà tôi tới làm gì? Nó ở nhà.’

Viên quan trông nôm vườn ngự uyển giao cho Lê Mai công việc trong ngày, nhiều bằng hai công việc của một người. Lê Mai bắt tay vào việc. Chàng nghĩ không thể nào làm xong công việc vừa được giao phó. Ai dè đến chiều, chàng làm xong xuôi hết. Chàng cũng ngạc nhiên. Khi về đến nhà, Lê Mai thấy nhà cửa sạch sẽ tươm tất, cơm đã dọn, và vợ chàng đang vá may cho chàng. Nàng ra đón chồng, so đũa xới cơm và hai vợ chồng cùng ăn cơm. Rồi nàng hỏi chàng về công việc.

“Rất nguy em ạ. Họ cho anh công việc nhiều quá sức anh có thể làm. Họ muốn cho anh làm cho mệt tới chết.’

“Anh cứ làm mà đừng nghĩ tới công việc, đừng nhìn tới nhìn lui xem mình đã làm được bao nhiêu. Cứ thong thả mà làm, rồi công việc tự khắc sẽ xong trước giờ anh về.’

Lê Mai đi ngủ và sáng dậy chàng trở lại vườn ngự uyển. Lần này viên quan coi sóc vườn giao cho chàng công việc nhiều bằng bốn lần hôm qua. Lê Mai làm việc suốt ngày mà không cần nhìn lui. Đến chiều, nhìn lại bao nhiêu công việc mà người ta giao cho chàng, chàng đã làm xong hết, vẫn còn kịp thu xếp đồ đạc về trước khi trời tối. Mỗi ngày, người ta lại giao cho chàng công việc nhiều hơn lên, gấp tám, gấp mười sáu, gấp ba mươi hai lần. Nhưng luôn luôn Lê Mai làm xong trước giờ  và về nhà trước khi trời tối.

Một tuần lễ qua đi, và mấy ông cố vấn của Vua thấy không thể nào đày đọa Lê Mai đến chết bằng công việc nặng nhọc được. Họ quyết định bắt Lê Mai phải làm những việc phải có tài nghệ mới làm được. Nhưng kế hoạch này cũng không thành công. Họ giao cho chàng việc gì, chàng làm được việc ấy: làm thợ mộc, thợ nề, lợp ngói v..v..Lê Mai luôn luôn làm xong đúng giờ và về nhà trước khi trời tối.

Một tuần lễ khác trôi qua. Nhà Vua cho đòi mấy ông cố vấn lại: “Lũ các ngươi toàn là đồ ăn hại ! Hai tuần lễ đã qua mà các ngươi chẳng làm xong được công trạng gì cả ! Các ngươi đã nói sẽ bắt Lê Mai làm việc thật nặng nhọc cho đến chết, nhưng chiều nào ta cũng thấy hắn huýt gió đi ngang dưới lầu của ta mà về nhà ! Các ngươi muốn phạm tội khi quân hả?’

Mấy ông cố vấn bắt đầu kêu oan:

“Trước hết, chúng tôi giao cho nó thật nhiều công việc, nhưng giao nhiều đến mấy nó cũng làm xong trưới khi trời tối. Nó làm công việc mau chóng như người ta quét nhà vậy. Và nó không bao giờ biết mệt là gì. Thấy thế, chúng tôi cho nó làm những công việc mà chỉ có kẻ có tài nghệ mới có thể làm, nhưng chúng tôi cũng không thành công. Sự thực là công việc khó tới đâu nó cũng có thể làm được. Giống như là nó có phép lạ vậy. Có thể là nó, hoặc vợ nó, có biết bùa phép. Chúng tôi đã phát mệt lên vì nó rồi. Hôm nay, trước khi vào chầu Hoàng thượng, chúng tôi đã có ý định bắt nó phải xây một ngôi đền đồ sộ phía trước cung điện của haòng thượng, và ra điều kiện là phải xây một  ngày cho xong. Đây là đồ án của ngôi đền. Xin bệ hạ cho gọi Lê Mai tới, bắt nó phải thi hành mệnh lệnh. Và nếu trong một ngày mà nó không làm xong thì xin bệ hạ ra lệnh chặt đầu vì tội bất tuân quân lệnh.’

Vua cho đòi Lê Mai vào chầu.

“Nghe lệnh của trẩm đây, Lê Mai. Nhà ngươi phải xây cho ta một ngôi đền thật nguy nga đối diện với cung điện, và ta hẹn cho ngươi đến chiều ngày mai phải xây xong. Đây là bản đồ án ngôi đền. Nếu ngươi làm xong trước kỳ hạn thì sẽ được ban thưởng ; còn nếu làm không xong thì sẽ bị chém đầu.’

Sau khi nghe lệnh Vua, Lê Mai về nhà, nói với vợ:

“Em hay sửa soạn. Chúng ta nên đi trốn ngay trong đêm nay, nếu không thì chết hết.’

“Tại sao anh lại lo lắng quá mức như vậy hả anh? Và tại sao chúnh ta phải đi trốn?’

“Làm sao mà anh không lo sợ cho được? Nhà Vua mới ra lệnh cho anh phải xây một ngôi đền nguy nga đối diện với hoàng cung trong vòng một ngày, nếu không xây xong, thì sẽ bị xử tử. Chỉ còn một nước là đi trốn. Chỉ còn một đêm nay nữa mà thôi.’

Nhưng vợ chàng không chịu. Nàng nói:

“Nhà Vua có lính rất nhiều, ta trốn đâu cho thoát. Tốt hơn là anh nên tuân lệnh.’

“Nhưng làm sao mà tuân lệnh vua được khi công việc vượt quá tầm sức của anh?’

“Anh yêu quý của em ơi, đừng có bi quan quá như thế ! Anh cứ đi ăn cơm đi, rồi đi ngủ. Sánh mai, anh thức dậy sớm hơn một tí. Công việc sẽ làm xong chiều mai cho mà xem.’

“Lê Mai nghe lời vợ, ăn cơm rồi đi ngủ. Sánh mai, vợ chàng đánh thức chàng dậy và nói:

“Anh hãy đi mau tới trước hoàng cung và xây cho xong nốt ngôi đền. Anh cầm lấy chiếc búa và mấy cây đinh này. Chỉ cần độ một ngày công nữa là ngôi đền hoàn tất.’

Khi Lê Mai tới trước hoàng cung, anh thấy một ngôi đền nguy nga đã được xây dựng xong, chỉ còn vài ba chỗ cần được hoàn tất. Chàng bắt đầu công việc, và đến chiều, trước khi trời tối, công việc của chàng đã xong xuôi.

Khi đứa Vua thức dậy và nhìn ra cửa sổ thì đã thấy ngôi đền sừng sững rồi. Vua rất ngạc nhiên thấy Lê Mai đi đi lại lại, đóng them một cây đinh chỗ này, một cái đinh chỗ kia. Vua không vui mừng gì hết khi thấy ngôi đền. Trái lại Vua rất bực mình vì không có lý do gì mà chém đầu Lê Mai để chiếm lấy cô vợ của chàng.

Vua bèn triệu tập mấy ông cố vấn: “Lê Mai đã xây xong ngôi đền trong một ngày, ta không có lý do gì để chém đầu nó. Công việc này đối với nó cũng không nặng nhọc gì lắm. Bây giờ các ngươi phải đề nghị phương pháp khác hưũ hiệu hơn. Cố mà suy nghĩ cho ra kẻo ta sẽ chém đầu các ngươi trước khi ta chém đầu nó.’

Lần này mấy ông cố vấn đề nghị Vua ra lịnh cho Lê Mai đào một con sông đi vòng quanh cung điện trên đó có tàu bè qua lại. Vua liền cho triệu Lê Mai vào và giao cho chàng trách vụ mới:

“Nhà ngươi có thể xây dựng ngôi đền trong vòng một đêm thì cũng có thể làm được việc này. Ngày nai, nếu không xong, ta sẽ chém đầu.’

Lê Mai thất vọng quá, chàng buồn rầu tìm về nhà.

“Sao anh buồn quá vậy? Vua bắt anh phải làm một cái gì khác nữa phải không?

Lê Mai nói cho vợ chàng nghe về lệnh mới của vua, và kết luận: “Chúng at phải trốn.’

“Chúng ta không trốn thoát đâu. Trốn đi đâu thì lính của Vua cũng tìm bắt được. Anh vâng lệnh Vua thì hơn.’

“Nhưng làm sao mà vâng cái lịnh ấy cho nổi?’

“Anh yêu quý của em ơi,đừng có lo. Cứ ăn cơm đi, rồi đi ngủ. Ngày mai dậy sớm hơn chút xíu, rồi công việc sẽ hoàn thành kịp lúc.’

Lê Mai đi ngủ. Sáng sớm vợ chàng thức chàng dậy và nói: “Anh đi tới hoàng cung đi. Tất cả đều đã xong xuôi. Phía mé dưới, đối diện hoàng cung còn một mớ đất trên bến chưa bang ra. Anh cầm cái thuổng này và bang mớ đất ra là xong.

Lê Mai ra đi. Khi đến thàng phố, chàng thấy một dòng sông uống quanh hoàng cung, trên sông có thuyền bè qua lại. Chàng tới bên mé mô đất đối diện hoàng cung và thấy mô đất.

Khi đức Vua thức dậy, ông ta thấy một con sông có tàu bè qua lại. Nhưng Vua đã không mừng mà còn tức giận nữa, Vua cũng không có lý do để xử tử chàng Lê Mai. Vua nghĩ:

Không có việc gì mà nó không làm được. Bây giờ phải làm như thế nào?

Vua liền triệu tập các ông cố vấn để bàn luận. Vua nói: “Các ngươi phải tìm ra một công việc ngoài khả năng của Lê Mai.’

Các ông cố vấn suy nghĩ nát óc, cuối cùng một ông tâu Vua: “Xin bệ hạ đòi Lê Mai và ra lệnh như sau: Mi phải đi tới chốn chẳng ai biết là chốn nào và lấy cho ta vật chẳng ai biết là vật gì. Nó sẽ không bao giờ làm được việc đó. Hễ nó đi tới chốn nào thì ta cũng có thể nói là không phải chốn ấy. Hễ nó lấy bất cứ vật gì đem về ta cũng có thể nói là không phải vật ấy. Sau đó bệ hạ có thể chặt đầu nó và chiếm lấy cô vợ.’

Vua cả mừng nói: lần này các khanh đã nghĩ ra một kế thật hay.’

Nói xong, Vua cho triệu Lê Mai vào chầu và nói:

“Nhà ngươi hãy đi tới chốn chẳng ai biết là chốn nào và lấy về cho trẫm vật chẳng ai biết là vật gì. Nếu nhà ngươi không đem về cho ta được vật đó thì ta sẽ chém đầu.’

Lê Mai về nhà nói cho vợ nghe về cái lệnh mới này của Vua. Vợ chàng ngồi suy nghĩ rồi nói:

“Lần này họ nghĩ ra một cái mưu khá thâm độc. Ta phải suy nghĩ kỹ và hành động cho sáng suốt mới được. Nàng ngồi suy nhgĩ thêm hồi lâu nữa rồi nói:

“Anh phải tìm cho được bà mẹ quê, mẹ của lính, và là bà ngoại của em, để cầu cưú. Nếu bà đưa cho anh một vật gì thì anh phải mang vật ấy về thẳng hoàng cung. Em sẽ có mặt ở đấy, bởi vì họ sẽ cho người tới bắt em sau khi anh đã đi. Nhưng sẽ không bị giam giữ lâu đâu. Nếu anh làm theo đúng lời dặn của bà ngoại thì anh sẽ cưú em ra sớm.’

Nói xong, nàng xếp đặt hành lý cho chồng. Nàng trao cho chàng một chiếc khăn gói đựng vật dụng và một chiếc thoi, dặn chàng:

“Anh đưa cho ngoại chiếc thoi này thì tức khắc ngoại biết anh là chồng của em.’

Nàng chỉ đường cho Lê Mai và chàng lên đường. Sau khi rời khỏi thành phố, chàng đi tới địa phận luyện tập của binh lính. Chành dừng lại để nhìn xem lính tập trận. Khi lính mệt ngồi nghỉ thì Lê Mai đi đến gần họ mà hỏi:

“Các anh có biết cách đi về  chốn chẳng ai biết là chốn nào để lấy cái vật vật chẳng ai biết là vật gì không? Xin chỉ cho tôi với.’

Những người lính nhìn anh kinh ngạc:

“Ai sai anh đi làm việc ấy?’

“Nhà Vua’

“Từ ngày chúng tôi bắt đầu đi lính cho tới bây giờ, không lúc nào mà chúng tôi không đi về chốn chẳng ai biết là chốn nào mà chưa bao giờ tới được chốn ấy, để đi tìm vật chẳng ai biết là vật gì mà chưa bao giờ tìm được vật ấy. Thế thì làm sao chúng tôi có thể chỉ cách cho anh được?

Lê Mai ngồi chơi với bọn lính một hồi rồi tiếp tục cuộc hành trình của mình. Chàng đi, đi mãi cho đến khi chàng tới một khu rừng. Trong khu rừng có một túp nhà lá ; trong nhà có một bà lão rất già, bà mẹ của lính, đang ngồi vừa quay tơ vừa khóc. Thấy Lê Mai bà la lên:

“Ngươi đến đây làm gì vậy?’

Lê Mai đưa cho bà chiếc thoi và nói với bà rằng: vợ chàng bảo chàng tìm đến bà. Thấy chiếc thoi, bà lão lập tức tỏ vẻ ngọt ngào trìu mến và bắt đầu hỏi chuyện chàng. Lê Mai nói cho bà  nghe về cuộc đời mình, về cuộc gặp gỡ giữa chàng và vợ chàng, về việc Vua bắt chàng tới làm việc trong vường ngự uyển, bắt chàng làm một ngôi đền trong một đêm, rồi bắt chàng làm một con sông chảy quanh trong một ngày,và cuối cùng bắt chàng phải đi tới chốn chẳng ai biết là chốn nào để tìm vật chẳng ai biết là vật gì.

Nghe xong bà lão không khóc nữa. Bà lẩm bẩm:

“Đúng là đã đến lúc. Này con, hãy ngồi xuống đây và ăn cơm cho no bụng.’

Sau khi Lê Mai ăn no, bà lão bảo chàng: “Con hãy cầm trái banh này và lăn nó về phía trước mặt. Hễ nó lăn đi đâu thì con chạy theo nó tới đó. Con sẽ đi rất xa, ra tận tới biển cả. Khi tới bờ biển, con sẽ vào một thành phố lớn. Con vượt qua thành phố và xin ngủ lại một cái nhà ở phía chót cùng bên kia thành phố. Tại đó con sẽ tìm ra được vật con cần.’

“Như làm sao con biết được vật con cần là gì?’

“Khi con thấy vật gì mà người ta nghe theo còn hơn cả nghe theo cha và nghe theo mẹ người ta nữa, thì đúng là vật ấy đấy. Con hãy lấy vật đó đem về cho Vua. Ông ta sẽ nói vật đó không phải là vật ông ta muốn tìm. Khi đó con sẽ nói rằng: “Nếu không phải là vật mà Vua muốn tìm thì tôi phải đập bể đi.’ và con sẽ đập vào vật ấy, mang nó xuống mé sông, đập nát nó ra và quăng những mảnh vụn xuống dòng sông. Làm như vậy, con sẽ tìm lại được vợ của con và sẽ làm cho ráo nước mắt của ngoại.

Lê Mai chào bà lão và bắt đầu chạy theo trái banh. Trái banh lăn, lăn mãi cho đến khi đưa chàng tới bờ biển. Gần bờ biển có một thành phố lớn, và qua khỏi thành phố, Lê Mai thấy có một  ngôi nhà cao. Chàng bèn gõ cửa xin nhủ lại. Chủ nhà ưng thuận cho chàng tá túc. Chành nằm xuống ngủ. Sáng sớm chàng nghe người cha  đánh thức người con dậy để đi rừng đốn củi. Nhưng người con không chịu nghe lời.

“Còn sớm lắm mà cha.’

Từ phía giữa nhà, chàng nghe người mẹ nói vọng sang: “Con ơi, dậy đi đốn củi đi con. Cha mày đau lưng, không lý mày bắt cha mày đi làm thay mày sao hả con?’

Nhưng đứa con chỉ chắt lưỡi và ngủ lại. Một lát sau, có tiếng tung tung ngoài đường. Lập tức đứa con chổm dậy, mặc áo vào chạy theo.Lê Mai cũng chồm dậy chạy theo. Bởi vì chàng thấy các tiếng tung tung đó chính là cái vật mà người con nghe theo còn hơn cả nghe theo lời cha mẹ.

Chàng thấy một người đang đi trên đường, mang theo một vật trên bụng và dùng hai chiếc dùi nhỏ đánh vào mặt vật đó kêu tung tung. Vật ấy tròn, hai đầu có bịt da. Chàng hỏi vật đó là vật gì, người ta nói:

“Đó là một cái trống.’

“Cái trống ấy rỗng ruột phải không?’

Đúng rồi, cái trống rỗng ruột.’

Lê Mai ngạc nhiên. Chàng bảo người kia đưa trống cho chàng, nhưng người kia không đưa Lê Mai bèn lẳng lặng đi theo người đánh trống. Chàng đi cả ngày. Đến khi người đánh trống mệt nằm xuống nghỉ chàng mới le làng tới ôm lấy cái trống và chạy.

Chàng chạy mãi cho đến khi về tới nhà. Chàng tưởng là sẽ gặp vợ ở đấy, ai ngờ nàng không có mặt. Người ta bảo là nàng đã bị lính Vua tới bắt giải đi rồi.

Lê Mai tới hoàng cung và nói với lính gác báo cho Vua biết là chàng đã về.

“Xin bác tâu với Vua rằng tôi đã tới chốn chẳng ai biết là chốn nào và đã tìm được đem về cho Vua vật chẳng ai biết là vật gì.”

Lính báo với nhà Vua, nhưng Vua truyền lịnh ra báo với Lê Mai sáng mai hãy đến. Lê Mai không chịu:

“Bác tâu với Vua rằng tôi đã đem tới cho Vua vật mà Vua đã truyền cho tôi đi lấy. Nếu Vua không ra gặp thì tôi sẽ vào gặp Vua.’

Nhà Vua bèn ra gặp chàng.

“Nhà ngươi đã đi tới chốn nào?’ Vua hỏi.

Lê Mai thuật cho Vua chốn mà chàng đã đến.

“Sai rồi, không phải là chốn mà ta bảo ngươi đến. Còn ngươi đem về vật gì đó?’

Lê Mai định đưa trống cho Vua xem, nhưng Vua từ chối không muốn nhìn. Vua nói:

“Sai rồi, không phải vật mà ta bảo ngươi đi tìm.’

“Nếu không phải là  vật mà Vua bảo tôi đi tìm thì tôi phải tiêu hủy nó mới được.’

Nói xong, chàng bước ra khỏi cung điện, hai tay đánh vào chiếc trống. Lập tức bao nhiêu quân lính của nhà Vua đều tập họp lại, chào chàng và đợi lịnh chàng.

Từ cửa sổ của mình, nhà Vua hét to bảo quân lính không đượ theo lịnh cụa Lê Mai, nhưng lhông ai tuân lời Vua cả, và mọi người tiếp tục đi theo tiếng trống của Lê Mai. Thấy cơ sự xẩy ra như thế Vua liền ra lịnh thả vợ của Lê Mai ra và trả về cho chàng. Rồi Vua yêu cầu Lê Mai trao cái trống cho Vua.

Lê Mai nói: “Tôi không thể trao nó cho Vua được. Tôi đã được lịnh tiêu huỷ nó và liệng những mảnh vụn xuống sông.’

Chàng đi ra bờ sông, vừa đi vừa đánh trống, và toàn thể binh đội nghiêm chỉnh đi theo chàng. Tới bờ sông, chàng đập nát cái trống và liệng những mảng vụn xuống dòng sông. Lập tức quân đội chạy tứ tán ai về nhà nấy. Không còn quân đội. Không còn một người lính nào nữa. Lê Mai cũng đưa vợ về nhà.

Từ hôm đó về sau, nhà vua không còn làm khó dê chàng nữa và chàng cùng vợ sống một cuộc đời hạnh phúc hoàn toàn.

LEO TOLSTOY 1891

Lan

Trưa hôm nay chú Tâm Thể ăn cơm tại nhà anh Chiêu, một nông dân ở làng định cư Quảng Khánh.
Cơm gạo mới dẻo và thơm. Trên mâm, có một đĩa đậu xào, một đĩa rau luộc, một đĩa cà muối, một đĩa bắp ram và một chén nước mắm. Chú Tâm Thể không ưa nước mắm, cho nên anh Chiêu đã mang ra để cạnh mâm đĩa muối tiêu dành riêng cho chú.
Cùng ngồi một mâm với chú, ngoài anh Chiêu chủ nhà, còn có anh Thắng, anh Đạo và chị Lành. Ba người này đều là tác viên xã hội trong đoàn công tác Quảng Khánh. Chú Tâm Thể cũng là tác viên xã hội, nhưng chú không thuộc về đoàn công tác này. Chú chỉ là một người khác của làng định cư.
Chị Chiêu nhất định không chịu ra ngoài cùng mâm với khách. Chị bảo chị và hai cháu bé xin ăn cơm sau. Chú Tâm Thể hôm nay rất ít nói. Chú lắng tai nghe anh Chiêu và các bạn nói về những khó khăn và những thành quả đạt được tại làng định cư.
Anh Chiêu là một nông dân trẻ, tuổi ngoài ba mươi. Anh là người quận Gia Linh tỉnh Quảng Trị. Năm 1972, cùng với hàng vạn người dân Quảng Trị khác, gia đình anh đã bỏ làng bỏ xóm chạy vào Thừa Thiên bằng con đường quốc lộ mà sau đó người ta gọi là “Đại Lộ Kinh Hoàng”. Hàng ngàn người đã gục ngã trên con đường tỵ nạn đó. Mẹ anh và đứa con gái lớn của anh mới năm tuổi cũng đã tử nạn trên quãng đường này. Vì tình thế khẩn trương, anh không thể mang theo thi hài của mẹ và của con theo trên đường tỵ nạn. Anh cùng vợ và hai con đã thoát được vào thị xã Huế. Bom đạn của cuộc tấn công Quảng Trị đã buông tha được bốn người trong gia đình anh.
Từ thị xã Huế, gia đình anh đi theo các chuyến di cư vào Nam. Trước hết người ta cho anh vào trại tạm cư Phước Tuy. Rồi người ta cho anh lên trại định cư Suối Nghệ. Ở Suối Nghệ mới được mấy tuần lễ thì chiến tranh lan tới. Bom đạn lại gieo thêm tang tóc. Gia đình anh bỏ chạy về làng Long Khánh và được đưa vào trại tạm cư tại sân vận động tỉnh lỵ. Tại đây, gia đình anh cùng với hai trăm gia đình khác, cũng gốc từ Quảng Trị, được tổ chức Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hướng dẫn về định cư tại trại định cư Quảng Khánh.
Khi anh Chiêu tới Quảng Khánh thì trại định cư còn là núi rừng hoang vu. Đoàn Công Tác Quảng Khánh gồm có sáu tác viên trong đó có hai vị tăng sĩ trẻ dưới ba mươi tuổi. Đoàn công tác này cũng căn lều ở bìa rừng cạnh quốc lộ 20 và chung sống với trên hai trăm gia đình tỵ nạn. Họ thuộc về một tổ chức xã hội Phật Giáo, và không có liên hệ gì tới chánh quyền. Họ đã cùng với đồng bào định cư khám phá khu rừng Quảng Khánh xây dựng các khu gia cư, phát quang trên một trăm sáu mươi mẫu rừng để canh tác. Gia đình anh Chiêu được chia tám sào đất. Làng định cư Quảng Khánh có một diện tích ước trên sáu ngàn mẫu rừng, cách quận lỵ Định Quán chừng sáu cây số, xung quanh có sông Đa Dung và sông La Ngà bao bọc.
Chiều hôm qua từ quận lỵ Định Quán đi bộ về với Thắng, chú Tâm Thể thấy hoa bằng lăng nở tím ở ven rừng, sát khu định cư. “Đất ở đây chắc chắn là tốt hơn đất khu định cư Quảng Phú ở tỉnh Phước Tuy” chú Tâm Thể suy nghĩ. Quảng Phú là nơi chú Tâm Thể đang làm công tác. Thắng lên tiếng bảo chú:
– Tất cả những thức ăn mà sư huynh thấy trên mâm đều là những sản phẩm của Quảng Khánh. Chỉ trừ nước mắm là phải mua ở Định Quán.
Chú Tâm Thể gật đầu. Quảng Khánh đã tự túc được rồi. Mùa gặt vừa hoàn tất. Nồi cơm mới đầu mùa vừa thơm vừa dẻo này, anh Chiêu đã muốn thưởng thức với một số các anh chị trong đoàn công tác. Đĩa “bắp ram” trên mâm là một thứ chả bắp rán: chỉ còn chừng mươi hôm nữa là bắp già, anh Chiêu sẽ thu vào được ba sào bắp tốt.
Thắng cho chú Tâm Thể biết là chỉ trong vòng sáu tháng nữa thì đoàn công tác của Thắng sẽ rút lui khỏi Quảng Khánh và việc điều hành khu định cư lúc đó sẽ hoàn toàn do dân chúng trong khu đảm trách. “Ước mong rằng chiến tranh sẽ không lan rộng tới đây”, Thắng vừa nói vừa nâng bát cơm một cách trầm ngâm. Nhưng rồi Thắng lại mỉm cười: “Trên đất nước mình, hiện không có nơi nào thực sự an ninh cả”.
Nụ cười của Thắng quả đem lại sự an tâm cho anh Chiêu. Anh gắp “bắp ram” bỏ vào bát cho khách. “Chúng tôi đã phải đấu tranh gian nan lắm mới có quyền thực sự làm chủ được khu định cư này, thưa sư huynh”, anh nói. Chú Tâm Thể lại gật đầu.
Chuyện tranh đấu của đồng bào ở đây, chú đã được nghe Thắng kể lại hôm qua. Trên nguyên tắc, nha Khẩn Hoang Lập Ấp đã chịu nhường khu đất này cho giáo hội Phật Giáo để xây khu định cư cho hai trăm gia đình chiến nạn Quảng Trị. Nhưng vì đất ở đây tốt và lâm sản ở đây có giá trị cho nên những ông giàu tại Sài Gòn và Bình Tuy, dựa vào thế lực của chính quyền địa phương để xâm lấn, khai thác và biến đất này thành cơ sở tư của bọn họ. Bọn họ đã cho người tiến vào khu Quảng Khánh để đốn các cây đại thụ và đe dọa người định cư. Trong một cuộc cãi vả với đồng bào định cư vào tháng mười một năm ngoái, họ đã bắn chết một bà lão để thị uy, tin rằng người định cư sẽ hoảng sợ bỏ đất mà chạy.
Ai ngờ sự việc diễn biến một cách khác. Dân tị nạn đã ra ngồi trên quốc lộ 20 gần cây số 109. Các tác viên xã hội trong đó có hai vị tăng sĩ trẻ đã ra ngồi chung với họ. Quốc lộ bị tắt nghẽn. Suốt tám giờ đồng hồ, không có chiếc xe nào lên xuống được. Xe hàng, xe hành khách và xe du lịch sắp hàng dài trên sáu cây số. Các lực lượng bảo an và địa phương quân từ Định Quán gửi tới thấy thái độ vô úy và nhất trí của đồng bào đều không dám động thủ. Đoàn tác viên đã cho đưa ngay tin về Sài Gòn cho trường xã hội, chùa Ấn Quang và các giới báo chí thủ đô.
Chiều hôm đó chính quyền Bình Tuy, trước mặt các giới báo chí, nhân sĩ từ Sài Gòn lên đã long trọng cam kết là sẽ bảo vệ quyền định cư của dân tị nạn tại Quảng Khánh và bắt buộc những người gây hấn phải bồi thường thiệt hại cho đồng bào. Quốc lộ nhờ vậy đã được khai thông.
Bữa cơm tại nhà anh Chiêu vang tiếng cười nói của anh và của những người khách trẻ. Chú Tâm Thể biết bữa cơm hôm nay là một tiệc mừng của gia đình anh Chiêu. Chú biết dưới bếp, chị Chiêu đang lắng nghe mọi câu chuyện và mọi tiếng cười của Anh và của những người khách. Anh Chiêu đã muốn tỏ niềm biết ơn của mình cũng như của dân làng đối với anh chị em trong đoàn công tác. Chú Tâm Thể thật lòng mừng cho anh Chiêu, mừng cho các đồng sự của chú tại đoàn công tác Quảng Khánh, và mừng cho trên hai trăm gia đình định cư ở đây. Chú muốn hòa lòng mình với lòng họ, do đó chú đã lắng nghe mọi người, cười với họ. Nhưng dường như trong lòng chú còn có những nỗi lo âu riêng cho nên chú ít góp ý vào câu chuyện.
Sau bữa cơm trưa, chú xin phép anh Chiêu và các bạn đi dạo chơi một mình trong vùng canh tác của khu định cư.

*     *     *

Đi giữa những hàng bắp, chú Tâm Thể suy nghĩ đến việc chú phải làm vào trưa ngày mai. Chú lên Quảng Khánh với một sứ mạng thật đặc biệt: đó là “khai sinh” cho một người sắp chết. Công việc không có gì khó khăn, nhưng từ hơn một tuần nay, tâm chú cứ nghĩ mãi tới nó. Trong đời chú, đây là lần đầu tiên mà cũng có thể là lần chót chú làm một công việc tương tự.
Đúng hai giờ chiều trưa mai, chú phải có mặt tại địa điểm Phước Hải nơi vùng rừng núi giáp giới giữa Phước Thành và Bình Tuy có con sông Đồng Nai chảy qua. Địa điểm này không xa nơi gặp nhau giữa hai con sông Đồng Nai và La Ngà. Vào khoảng hai giờ mười lăm phút sẽ có một người từ ven sông đi lên, trên người không có quần áo gì hết, ngoài một chiếc quần đùi. Người này sẽ ướt như chuột lột. Chú sẽ đưa người ấy đi lên khu rừng gần đó, lấy dao cạo trong dãy hành lý của chú mà cạo đầu cho ông ta, rồi lấy quần áo tăng sĩ trong dãy hành lý của ông ta mặc. Xong chú đưa người này ra quốc lộ. Đúng ba giờ trưa thì có xe hơi của Thu sẽ đi ngang qua cây số 103 và hai vị tăng sĩ sẽ lên xe để về Sài Gòn. Chú đã có sẵn thẻ căn cước cho vị tăng sĩ mới. Thẻ mang tên Thích Thanh Ân, ba mươi hai tuổi đời.
Chú Tâm Thể mỉm cười khi nghĩ đến anh Lâm xúng xính trong chiếc áo nhật bình và cái đầu trọc lóc. Chú biết anh Lâm đã suy nghĩ nhiều tới chuyện này trước khi chấp nhận việc đi “đầu thai” này. Nội trong ngày mốt tại An Lộc người ta sẽ nghe tin Trung Úy Trần Thanh Lâm chết đuối tại sông Đồng Nai trong lúc đang tắm sông với hai người bạn cùng đơn vị. Hai người kia, sau mấy giờ đồng hồ tìm kiếm, thế nào cũng đưa quân phục của người Trung Úy xấu số về đồn để báo cáo. Đơn vị của Lâm cách An Lộc hơn sáu mươi cây số về phía Đông Nam.
Chú Tâm Thể không ngại gì về việc hai người lính đi tìm anh Lâm, bởi vì theo anh thì hai người lính này là bạn, và sẽ chỉ tìm và ngồi chờ qua loa chừng hai giờ rồi trở về đơn vị báo cáo. Tuy vậy chú vẫn bị kích thích bởi tính cách mạo hiểm của công việc. Chú vốn là một người nhút nhát, không có được cái đức vô úy vủa sư huynh chú là đại đức Nguyên Hưng, cũng không có được cái tánh ưa mạo hiểm của anh Lâm. Cũng vì vậy mà óc chú cứ nghĩ mãi đến công việc ngày mai.

*     *     *

Ra khỏi vùng canh tác, chú Tâm Thể men vào bìa rừng. Ở đây còn là địa phận của khu định cư Quảng Khánh. Chú đi chầm chậm theo lối mòn trong rừng. Mùi ẩm của lá rừng khiến cho chú thích thú. Vừa đi chú vừa để ý nhiền lên các cây lớn xung quanh để xem có chùm phong lan nào không. Chú nghe nói rằng ở đây có nhiều phong lan. Nếu có, chú sẽ gỡ một vài chùng đem về treo ở hiên chùa là Phú Thọ Hòa.
Anh Lâm là bạn thân của thầy Nguyên Hưng, sư huynh của chú. Ngày sư huynh chú còn là một chú tiểu tu ở chùa Linh Thứu thì anh Lâm mới chín mười tuổi, thường đến chơi chùa. Hai người đã trở nên đôi bạn thân thiết. Lâm không đi tu nhưng cũng thuộc lòng cả hai buổi công phát huy sáng tối, có thể đọc vanh vách chú Lăng Nghiêm và Hồng Danh Bảo Sám. Có lần anh Lâm cũng đã định đi tu để theo sư huynh chú, nhưng sau nghĩ lại vì có bà mẹ một thân một mình cho nên đã quyết định không đi tu nữa.
Năm chú Nguyên Hưng học năm thứ hai cấp trung học Phật Giáo tại Phật học đường Phật Quang thì anh Lâm cũng đem mẹ về Sài Gòn. Anh vừa đậu tú tài và xin được công việc làm tại đây. Anh đưa bà cụ về, thuê một căn nhà ở xóm Bàn Cờ để hai mẹ con ở. Anh lại thường lên chùa Phật Quang để gặp gỡ chú Nguyên Hưng. Tình bạn của hai người được nối lại một cách thắm thiết. Anh Lâm có dịp học hỏi thêm về Phật học. Má anh, mà ở chùa Phật Quang đã quen gọi là “cô Tám” cũng thường đến chùa làm công quả. Còn  anh chỉ tham dự vào tổ chức Gia Đình Phật Tử ở đây. Anh tỏ ra là một người có tài năng tổ chức. Gia Đình Phật Tử Phật Quang trở nên một trong những Gia Đình Phật Tử có quy cũ nhất ở thủ đô Sài Gòn.
Thấy Nguyên Hưng tốt nghiệp Phật học đường năm 1960 và được gửi đi làm giảng sư cho các tỉnh hội Phật Giáo Lâm Đồng và Tuyên Đức. Sau ngày ông Diệm bị đảo chánh, thầy được bổn sư gọi về nhận trách vụ Giám đốc một trường đào tạo tác viên xã hội tại Phú Thọ Hòa cách thủ đô Sài Gòn chừng mười lăm cây số về hướng Tây Nam. Chú Tâm Thể cũng được thầy gọi về trường thụ huấn. Chú rất sung sướng được học trong một ngôi trường mà sư huynh chú làm giám đốc. Trong khi đó, anh Lâm bị gọi nhập ngũ. Anh tìm đủ mọi cách xin hoãn dịch mà không được. Người ta đưa anh vè trại Huấn Luyện Sĩ Quan Thủ Đức. Bỏ lại mẹ già một mình bơ vơ trên Sài Gòn anh rất đau lòng. May thay má anh còn tìm được một nguồn an ủi ở chùa. Bà đến chùa mỗi ngày để làm công quả, có khi ngủ luôn tại đó.
Chú Tâm Thể ra trường năm 1966. Chú được gửi đi công tác nhiều nơi, kể cả về miền Quảng Trị xa xăm. Mỗi khi được trở về trung ương, chú thường được sư huynh giám đốc nói cho nghe những khó khăn mà trường thường gặp phải. Sư huynh chú nhiều lần nhắc tới anh Lâm và ước ao được anh về phụ tá cho guồng máy điều hành ở trung ương. Chiến tranh tàn phá, gieo rắc hoạn nạn và tang tóc khắp nơi. Công tác cứu trợ và tái thiết thì nhiều mà trở lực thì đến từ bốn phía. Sư huynh chú bóp trán mãi mà không tìm ra một cách thức nào để vận động cho người bạn cũ được giải ngũ. Anh Lâm thỉnh thoảng được nghỉ phép về Sài Gòn. Anh cũng rất ao ước được giải ngũ, về sống với bà mẹ, và đem hết sức mình để giúp người bạn thân thiết nhất từ thuở tấm bé.
Ước vọng của hai người đã không thành. Đại Đức Nguyên Hưng bị tử thương trong một chuyến đi thị sát công tác miền duyên hải. Trung úy Lâm vẫn còn bị giữ lại trong quân ngũ. Ngày cử hành tang lễ Đại đức Giám đốc trường Xã hội, anh đã xin phép được về Sài Gòn để có thể đi tiễn người bạn thân thiết tới nơi an nghĩ cuối cùng. Anh đã cùng khóc với chú Tâm Thể tại hiên mái chùa lá Pháp Vân đêm hôm đó.
Ban Quản Trị và toàn thể tác viên trường Xã Hội đã họp nhau để suy cử một vị giám đốc mới cho trường. Vị giám đốc này cũng là một tăng sĩ, tuổi cao hơn sư huynh của chú Tâm Thể, nhưng cũng thuộc về thế hệ tăng sĩ trẻ. Đó là Đại Đức Hoàng Minh. Vị giám đốc này có dáng dấp của một nhà nghệ sĩ. Ông ta viết chữ nho rất đẹp, cắm hoa rất khéo. Ông lại có tài điều hợp nhân sự và công tác. Chú Tâm Thể rất mến ông. Chú mến ông một phần cũng là do sự kiện ông là một người bạn thân của sư huynh chú. Nghĩ tới vị sư huynh đã quá cố của mình, chú Tâm Thể lại để rơi hai giọt nước mắt. Chú vội đưa tay áo nhật bình lên quẹt vội những giọt nước mắt này, làm như chú sợ ở trong rừng Quảng Khánh còn có người thấy được chú khóc. Chú nhớ tới cuộc tấn công năm Mậu Thân, khi trọn cả vùng Phú Thọ Hòa bị tan nát vì bom đạn. Gần mười một ngàn đồng bào kéo vào tị nạn tại khuôn viên trường Xã Hội. Cảnh tượng vừa hỗn độn vừa thương tâm. Chú và các tác viên khác suốt ngày chăm lo cho những người bị thương không thể di tản ra khỏi vùng. Kho thuốc men của trường đã cạn sạch, từ thuốc đến bông gòn và băng vải thưa. Những chiếc áo dài trắng của các nữ tác viên đều đã được xé ra để băng bó cho những người bị thương nặng. Các tác viên phái nữ buộc làm công tác hộ sinh mà tuy có học qua nhưng họ chưa bao giờ làm. Họ cầu cứu đến một nam tác viên xưa nay vốn đã hành nghề y tác trong nhiều năm, đó là anh Tuấn. Tuấn tuy dạn tay hơn các bạn gái nhưng cũng đã phải cực nhọc lắm mới có thể giúp ra đời sáu đứa hài nhi. Chú Tâm Thể nhớ tới một buổi sáng nọ, khi chú đang bận rộn cắt đặt công việc cứu trợ thì một em bé chừng bảy tuổi tới bên chú và nắm lấy áo chú định kéo chú đi. Chú xoay lại hỏi em cần gì thì em chú ấp úng nói không trả lời. Trong khi ấy, những người bị thương khác lại được khiêng tới. Chú Tâm Thể vì bận rộn việc cứu thương nên đã quên em bé. Nửa giờ sau chú nghe tiếng người kêu chú. Ngoảnh ra chú thấy em bé lúc nãy cùng một người đàn ông khác đang khiêng tới gần bệnh xá một người máu me đầm đìa. Đó là bà nội của em. Bà bị thương nặng. Lết được từ chợ tới nửa đường đến trường thì bà ngất đi. Em bé đã chạy vào cầu cứu với chú Tâm Thể lúc ấy đang làm việc tại bệnh xá. Không kéo chú theo được, nó trở ra một mình nắm áo bà nội của em, gắng sức kéo bà xềnh xệch trên con đường đất. Em kéo được bà tới cổng trường thì mệt lả. Một người đàn ông trông thấy, liền vội tới giúp em khiêng bà tới bệnh xá.
Sư huynh của chú năm ấy mới hai mươi tám tuổi. Ông đã đem thân mạng ông ra che chở cho trên một vạn đồng bào. Chú còn nhớ hôm đó không biết từ đâu có tin đồn rằng khu Phú Thọ Hòa sẽ bị pháo kích ngày mai. Đồng bào hoảng sợ, nhốn nháo cả lên. Nhiều người thu xếp để rời khỏi khuôn viên của trường. Thấy đồng bào nhốn nháo quá, sư huynh của chú cầm máy vi âm lên định yêu cầu đồng bào giữ bình tĩnh và đừng nên bỏ khu tị nạn mà chạy vì những tin đồn không có căn cứ. Lúc đó chú Tâm Thể đứng sát bên sư huynh mình. Chú trông thấy trán của sư huynh chú nhăn lại. Sư huynh chú đã định lên tiếng, nhưng sau đó, không biết nghĩ thế nào, ông từ từ đặt ống nói xuống. Mặt ông từ ra. Ông tỏ vẻ lo lắng tột độ. Một lát sau ông nói với chú: “Tôi muốn khuyên đồng bào bình tĩnh ở lại, nhưng tôi lại nghĩ, nếu ngày mai có cuộc tấn công thực sự thì sao?”. Chú chợt hiểu nỗi lo lắng của sư huynh chú. Chưa đầy ba mươi tuổi mà sư huynh chú đã phải gánh vác trên vai một trách nhiệm nặng nề như vậy thì hỏi vừng trán ông không nhăn lại sao cho được?
Sự thực là hôm ấy khu Phú Thọ Hòa nằm kẹt vào giữa phòng tuyết của hai bên lâm chiến. Nhiều người bỏ đi từ hồi trưa đã lục đục ẵm con xách gói trở về trường. Có nhiều người bị thương. Có người đã bỏ mạng ở dọc đường. Tối hôm đó một vài tác viên phát giác được là tại góc Tây Nam không xa khuôn viên trường, các binh sĩ của Mặt Trận Giải Phóng đã chuyên chở tới những khẩu súng phòng không và hiện đang chuẩn bị lắp súng. Sư huynh của chú nhận được tin này trong khi còn ngồi trong chùa lá. Sau vài phút trầm ngâm ông bảo là ông sẽ đi về phía họ để cầu xin đặt súng phòng không ở một địa điểm khác. “Nếu họ đặt súng phòng không tại đây thì trên mười ngàn đồng bào trong khuôn viên trường sẽ chết hết vì máy bay oanh tạc”.
Các tác viên có mặt lúc đó bên sư huynh chú đều ngăn cản không cho ông đi. Chú Tâm Thể cũng không muốn cho sư huynh của chú đi. Tuy tánh chú hay sợ sệt thật đấy, nhưng lúc đó chú đã tình nguyện đi thế cho sư huynh chú. Sau mười phút thương nghị, chú và một tác viên khác tên là Hy được phép đại diện sư huynh giám đốc ra cần khẩn với những người đang lắp súng. Chú và Hy mỗi người cầm một chiếc áo sơ mi trắng trong tay, bò từ từ ra tới địa điểm lắp súng. Họ không dám đi thẳng, sợ rằng bên phía quân đội Cộng Hòa trông thấy sẽ nổ súng vào họ. Cuộc du thuyết đêm đó may thay đã thành công. Những người lắp súng đồng ý chuyển súng tới một địa điểm khác.
Sáng hôm sau, sư huynh chú đích thân tìm tới liên lạc với phòng tuyến phía quân đội Cộng Hòa xin mở đường cho đồng bào di tản khỏi Phú Thọ Hòa về phía Cầu Tre mà lần tới thủ đô. Những vị chỉ huy đã tỏ vẻ thông cảm cho tình trạng của đồng bào nhưng họ cho biết rằng việc di tản không thể nào thực hiện được vì quân tấn công đã đào công sự ở phía Cầu Tre và đang cố thủ ở nhiều khu gia cư quanh đó. Sư huynh chú ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói: “nếu vậy thì xin quý vị cam kết là đừng tấn công vào trường để bảo đảm cho tính mạng của trên một vạn đồng bào. Xin quý vị báo tin cho quân lực Cộng Hòa về việc có trên một vạn đồng bào đang tỵ nạn tại trường và điện về Tổng Tham Mưu xin cho không quân đừng bao giờ oanh tạc vào địa điểm này. Chúng tôi sẽ bảo đảm không để cho bất cứ một ai mang vũ khí hoặc truyền đơn xâm nhập và trà trộn vào khuôn viên trường. Nếu quý vị cho phép, tôi sẽ đi sang tận phòng tuyến của bên kia để xin họ tránh không dùng đất trường làm bàn đạp để tấn công. Tôi sẽ đạo đạt tới họ ước vọng của một vạn đồng bào, cũng như tôi đã đạo đạt với quý vị”. Những người trong cấp chỉ huy đã nói: “Đại Đức không sợ sao? Nguy hiểm lắm! Đừng đi qua bên ấy”. Sư huynh của chú trả lời: “Nếu quý vị hứa sẽ không bắn vào tôi, thì tôi không sợ. Tôi sẽ có thể đi thong thả sang tận bên kia. Tôi sẽ cầm một lá cờ ngũ sắc của Phật”. Các vị chỉ huy quân đội Cộng Hòa cuối cùng đã đồng ý cho sư huynh của chú đi sang bên kia để đưa thỉnh nguyện. Chuyến đi này của sư huynh chú, nhờ Phật gia hộ, cũng đã thành công. Kết quả là mười ngàn đồng bào đã an toàn thoát khỏi tầm súng của hai phe lâm chiến. Tuy vậy ban Quản Trị Trường và tất cả tác viên có mặt đã phải làm hết sức mình mới đi tới được kết quả ấy. Từng nhóm tác viên được cắt đặt đi khắp khuôn viên trường để tổ chức cho đồng bào tự động kiểm soát tình thế. Từ các bô lão cho đến phụ nữ ai cũng lo cho sự an ninh của mình cho nên đã nỗ lực tham dự việc kiểm soát.
Sư huynh của chú Tâm Thể đứng ra làm Giám đốc trường Xã Hội lúc ông mới hai mươi ba tuổi. Tuy còn trẻ nhưng đại đức Nguyên Hưng là một người có căn cơ linh mẫn và giàu tinh thần trách nhiệm. Thầy bổn sư của chú thường nói là ông tin vào thế hệ trẻ. Chỉ nội sáu tháng sau khi sư huynh chú lên làm giám đốc trường Xã Hội thì thầy bổn sư của chú bị bắt giữ vì tội kêu gọi hòa bình. Thầy bổn sư chú năm nay đã trên sáu mươi. Người ta thường gọi ông là “ông đạo khoai” bởi vì ông rất ưa ăn khoai lang, ông ăn cơm thì ít mà ăn khoai thì nhiều. Người ta biết  rằng họ chỉ có thể giam hãm thân xác ông trong nhà tù mà thôi và không ai ngăn cản được tinh thần ông hành động bên ngoài. Những nỗ lực vận động cho hòa bình vẫn được tiếp tục dù không có mặt ông. Có lần được vào thăm ông tại khám Chí Hòa, chú đã được nghe ông nói: “Có chú ở ngoài thì cũng như có tôi ở ngoài. Tôi ngồi đây mà an lạc lắm, chú đừng lo. Trong lúc đất nước điêu linh, đồng bào chết như rạ, chỗ ngồi của tôi phải là ở đây chứ không thể là một nơi nào khác. Tôi ở đây nhưng luôn luôn vẫn ở bên mình chú”.
Sư huynh của chú bị thương vào năm 1972 trong chuyến đi công tác miền duyên hải Nam Phần. Một trái đạn đã làm nổ tung chiếc xe của ông. Ông được chở vào một nhà thương gần đó. Ông bị nội thương, xuất huyết rất nặng bên trong. Chú đã có mặt suốt trong những giờ cuối của vị sư huynh đáng kính. Hai người đã nhìn nhau mà không nói được lời nào. Sư huynh của chú mất vào năm ba mươi hai tuổi.
Không biết từ trong khám Chí Hòa thầy của chú Tâm Thể làm thế nào mà biết được tin dữ này. Một tuần sau tang lễ, chú mới xin được vào khám để báo tin cho thầy. Hôm ấy, lần đầu trong đời, chú thấy hai giọt nước mắt đọng trên mắt thầy. Nguyên Hưng không phải là học trò đầu của thầy, nhưng là một người được thầy thương yêu rất mực.
Tại hiên chùa Pháp Vân tối hôm ấy, anh Lâm bứt đầu bứt tai nói với chú là anh rất ân hận đã không chịu đào ngũ để được ra sống với bạn trong những năm cuối của cuộc đời phụng sự của bạn. Dù chỉ là sĩ quan truyền tin trong quân ngũ, anh vẫn biết là mình đang tham dự vào cuộc chém giết giữa những người đồng loại, và trong thâm tâm, anh thấy cuộc chiến tranh này mỗi ngày một đưa quê hương và dân tộc đến gần hố diệt vong. Đất nước đã trở nên một bãi chiến trường, một miếng đất tranh hùng giữa hai khối lớn. Con đường giải thoát là con đường hòa giải dân tộc: cuộc chiến càng kéo dài ngày nào thì con đường đó càng hẹp lại ngày ấy. Anh bảo thà là anh đào ngũ để được về sống với mẹ và tham dự một phần vào công cuộc hàn gắn những vết thương của xứ sở mà đời anh còn có lý hơn. chú Tâm Thể đã lắng tai nghe những lời tâm tư này. Hai tiếng “đào ngũ” đã làm cho chú suy nghĩ. Chú nghĩ, nếu anh Lâm được trở về sống với mẹ và phụ tá cho thầy giám đốc mới trong việc điều hành các công tác cứu trợ và tái thiết thì sư huynh chú ở nơi chín suối ắt cũng rất hài lòng. Thế là hai người bàn tính về cuộc “thoát xác” của Trung úy Trần Thanh Lâm.
Đại đức Hoằng Minh, vị giám đốc tân nhiệm của trường đã đồng ý cho chú Tâm Thể thi hành kế hoạch khai sinh trở lại cho Trần Thanh Lâm. Chú Tâm Thể nhận thấy ông là người rất “chịu chơi”. Ông nói: “Chúng ta sống trong một tình trạng bất công cực độ. Luật lệ của công trình đã khiến cho thanh niên, phụ nữ và trẻ em chết oan ức mỗi ngày. Mạng người như rơm rạ. Luật lệ đó lại dung túng những kẻ có quyền thế làm giàu trên xương máu của đồng loại. Đưa một người con về sống với mẹ, để cho người con ấy có dịp phụng sự đồng loại đang khốn khổ, tôi thấy việc đó không đi trái luật pháp của lương tri. Nó chỉ đi trái với luật pháp của chiến tranh mà thôi?. Thầy Hoằng Minh cũng có quen biết với anh Lâm, và cũng ao ước có anh Lâm về phụ tá. Ông đề nghị chú Tâm Thể đi tìm thuê một căn nhà có vườn gần khu Phú Thọ Hòa để cho cô Tám về ở. Cô sẽ tới làm việc cho trường và khi rước anh Lâm về thì chú có thể rước anh thẳng về nhà. Tuy ăn ở và làm việc tại trường nhưng anh Lâm có thể về thăm mẹ bất cứ lúc nào anh muốn, bởi vì nhà của mẹ anh ở sát ngay bên cạnh.
Cái thể kiểm tra mang tên Thích Thanh Ân mà anh Lâm sẽ sử dụng trên con đường Định Quán – Sài Gòn là thẻ của một tác viên xã hội đã mất tích năm 1968 trong khi đang làm công tác ở xã Bình Quý tỉnh Bình Dương. Khuôn mặt thầy Thanh Ân trông hao hao giống anh Lâm. Chú Tâm Thể dự định sẽ đi làm cho anh Lâm một thẻ kiểm tra mới sau khi đã chụp hình cho anh Lâm trong chiếc áo nhật bình. Hai người đã đồng ý là khi làm thẻ kiểm tra lại, họ sẽ thêm vào chữ Ân một dấu sắc, để cho Thích Thanh Ân trở thành Thích Thanh Ấn. Sau này chú sẽ phải gọi anh Lâm là chú Thanh Ấn. Chú Thanh Ấn tuy mới tu nhưng căn bản Phật học của chú đã khá vững rồi, và kinh kệ cũng đã thuộc nhiều rồi. Chú Tâm Thể nghĩ mình không cần phải lo lắng về điểm đó.
Tác viên Thích Thanh Ân ngày xưa đã mất tích cùng với bảy đồng sự khác trong khi thi hành công tác xã hội. Không biết tám người có còn sống trên đời này nữa hay không, bởi vì năm năm đã trôi qua mà trường không tìm thấy được một tung tích nào của họ. Người ta đã bắt cóc, thủ tiêu và bắn chết những tác viên xã hội của trường, chỉ vì người ta nghi ngờ những tác viên nay hoạt động cho phe chống đối. Tác viên được dân làng thương mến bao nhiêu thì lại bị các phe lâm chiến nghi ngờ bấy nhiêu. Cả hai bên không bên nào muốn sự có mặt của người “lưng chừng”. Những tang tóc mà trường phải chịu đựng đã tới từ cả hai phía. Người ta đã tới tấn công ngay tại sở trung ương của trường ở Phú Thọ Hòa bằng súng và lựu đạn. Người ta bắt cóc và thủ tiêu các tác viên trong khi học thi hành nhiệm vụ tại các thôn lạc. Hồi mới bước chân vào thụ huấn ở trường, chú Tâm Thể đâu có ngờ rằng cuộc đời tác viên phụng sự lại có thể là một cuộc đời sóng gió hiểm nguy đến thế. Mới có tám năm trời mà số tác viên xã hội bị hy sinh đã lên tới mười sáu người trong đó có cả vị sư huynh đáng kính của chú.
Bây giờ đây, đi trong khu rừng này, chú Tâm Thể nhớ lại hết khuôn mặt của từng người, của tất cả những người đã bỏ thân vì con người bất bạo động: từ Tuấn, Thơ cho đến Liên, Vui, Lành, cô Hải, thầy Huyền Vinh, chú Thanh Ân… Lại còn những tác viên tuy còn sống nhưng trong mình còn mang đầy thương tích như Vinh và Hương. Nghĩ cho kỹ thì sự hy vinh của các người đồng sự này đã mở mắt cho rất nhiều người. Thiên hạ chết vì chiến tranh ngày nào là không có. Những người đồng sự của chú đã chết vì thương yêu hòa giải. Họ chết, nhưng họ còn sống mãi trong lòng chú. Công tác mà chú được giao phó tại các vùng đau nhức của quê hương không hẳn chỉ là công tác cứu trợ và tái thiết mà thực sự còn là những công tác cởi mở hận thù và gây lại niềm tin. Làng Trà Lộc ở Quảng Trị bị bom dội tan nát tới bốn lần: bốn lần sư huynh chú ra lệnh tái thiết lại. “Công là công dã tràng”, có người nói như thế. Nhưng nếu không tái thiết thì làm sao gây được niềm tin nơi tương lai? Phế bỏ và buông xuôi hay sao? Chú hiểu được tâm sự của sư huynh chú và chú đã hết lòng với công việc. Nhưng công việc nào có dễ dàng. Khắp nơi, chú và các đồng sự đã gặp khó khăn. Nào Chánh Môn, nào Bình Đào, nào Suối Cát, nào Quảng Lợi, nào Phong Lộc, nào Sơn Trung, nào Bình Lãnh… Còn hàng mấy chục địa điểm công tác khác trên khắp lãnh thổ. Khuyến khích không phải chỉ do tình trạng chiến tranh và những tranh chấp chính trị: khó khăn còn do ở chính tâm lý người dân nữa. Nhiều khi người dân chán nản buông thả và phó mặc. Có lẽ họ đã trải qua nhiều đau khổ và thất vọng quá. Gây lại niềm tin nơi họ là một công trình lớn. Nếu mình không có niềm tin ấy thì làm sao mình có thể nhen nhúm cho họ một niềm tin tương tự?
Ngày xưa, vào tuổi chú, các vị tăng sĩ trẻ chắc hẳn dã được ở yên trong tu viện để học tập giáo điển và thực hành thiền quán. Bây giờ chú phải lăn lóc trong cuộc đời như một chiến sĩ. Sư huynh của chú cũng bước vào đời phụng sự hồi mới hai mươi hai tuổi. Tu học làm sao cho yên thân khi bom đạn tàn phá cả xóm làng, cả chùa tháp? Người ta nói đi tu trong thời buổi này là đi trốn lính. Thực ra đối với những người như chú, đi tu trong thời buổi này là đi vào vòng lửa đạn mà giúp người. Tiếng gọi của thiền môn với tiếng gọi của lòng từ bi là một. Thầy bổn sư của chú đã nói: “Con đường duy nhất của chúng ta trong thời gian buổi này là con đường tự nguyện dấn thân vào cõi sinh tử. Phải học Phật và thực tập thiền quán ngay trong công tác hàng ngày”.
Nghĩ tới đây, bất giác chú Tâm Thể chậm bước lại; chú nhìn xuống con đường rụng đầy lá mùa thu ẩm mục, rồi chú nhìn ra cây lá chung quanh. Hồi nãy đến giờ chú đã để cho dòng tư tưởng chú đi miên man bất đoạn. Đáng lý chú phải thực tập phép niệm xứ trong mỗi bước chân, trong mỗi tư tưởng mới phai. Nghĩ thế chú liền bắt đầu thở ra và thở vào có ý thức, theo đúng phép mà thầy chú đã dạy trong cuốn thiền phổ mà thầy chú đã trao cho chú trên một năm nay. Miệng chú nở một nụ cười hàm tiếu.
Thiền phổ nói đây được mệnh danh là “Hàm Tiếu Thiền”. Nói được thầy bổn sư của chú biên tập trong khám Chí Hòa. Nó gồm một đoạn văn và ba mươi bài thực tập. Thầy của chú đã sáng chế thiền phổ này cho những người trẻ tuổi chuộng hoạt động như chú. Ông đã viết thiền phổ này bằng bút chì trên một xấp giấy mà chú đã mang vào cho ông một cách bất hợp pháp. Hôm trao thiền phổ cho chú, ông dặn là nên hết lòng thực tập thiền phổ cho chú, ông dặn là nên hết lòng thực tập thiền phổ để cho công tác xã hội hàng ngày được thực sự thấm nhuần tính cách từ bi của Phật. Ông đã để thiền phổ vào trong chiếc gào mên thực phẩm mà chú đưa vào Chí Hòa cho ông. Chú được phép đi thăm ông mỗi tháng một lần. Sư huynh của chú đã cho tất cả tác viên chép tay thiền phổ này để thực tập.
Chú Tâm Thể nhận thấy Hàm Tiếu Thiền là một phép tu nuôi dưỡng và phát triển được lòng từ bi và đức kiên nhẫn một cách hiệu nghiệm. Trong những thời gian thiếu thực tập theo thiền phổ, chú cảm thấy mình dễ chán nản hơn và cũng dễ bị bực mình vì các việc bất như ý thường xảy ra trong lúc làm công tác. Những lúc đó, chú cảm thấy mình khó “từ nhãn thị chúng sanh”, nghĩa là khó “nhìn mọi người bằng con mắt thương yêu” hơn. Thiền phổ dạy rằng phải thực tập thiền quán hàng ngày trong mọi công việc, từ việc rửa tay giặt áo cho đến việc giao tế, đàm luận và công tác. Thiền phổ cũng dạy là mỗi tuần phải để ra ít nhất là một ngày để sống thanh thản qua thực tập thiền quán. Thầy chú gọi ngày ấy là ngày quán niệm: trong thời gian này người hành giả phải thực sự sống thanh thản để có thể tự nuôi dưỡng mình bằng chất liệu an lạc và từ bi. Chất liệu nuôi dưỡng này nằm sẵn trong suối tâm linh của mỗi người, và phép quán niệm có thể làm phát khởi nó để nó tuôn tràn và thấm nhuần vào đời sống bản thân, cũng như người đào giếng làm phun lên một mạch nước mát. Hơn một năm chú đã vâng theo thiền phổ, mỗi tuần để một ngày trọng cho việc thực tập. Chú không chịu để cho công việc tràn ngập và lôi cuốn chú nữa. Chú trở thành chủ động lấy công việc, và chú coi đời sống tâm linh là căn bản cho đời sống phụng sự. Thầy Hoằng Minh, vị giám đốc mới của trường đã có ý định lập một làng riêng cho tác viên gọi là làng Hồng bởi vì nơi đó thầy dự trù trồng nhiều hồng ăn trái. Mỗi tác viên sẽ có một lô đất và một căn nhà. Cứ sau thời hạn công tác ba tháng là mỗi tác viên được về một tuần lễ tại làng Hồng để nghỉ ngơi, tĩnh tu và bồi dưỡng đời sống tâm linh. Tại làng Hồng sẽ có nhà trẻ cho con cháu của tác viên, sẽ có thư viện, sẽ có công viên và cũng sẽ có thiền thất cho tác viên tu tập nữa. Mọi người đang mơ tưởng tới làng Hồng như mơ tưởng tới một bóng mát êm dịu trong cơn nắng hạn. Chú Tâm Thể bỗng giật mình. Chú nhớ rằng thầy giám đốc nói đã dành một khu rừng khá đẹp ở tỉnh Bình Tuy vào việc tạo dựng làng Hồng này. Khu đất đó sát làng định cư Quảng Khánh. Như vậy thì khu đất đó ở sát ngay đây. Chú đưa mắt quan sát rừng cây. Quả có những cây đại thọ cành lá xanh tốt lạ kỳ. Thầy Hoằng Minh nói là ông đã đi thám hiểm trong vùng và đã tìm thấy một vùng đất khoảng mười mẫu rất đẹp trong đó có nhiều tảng đá lớn và một dòng suối mát. Dòng suối chảy qua khu rừng và đổ vào sông La Ngà. Ông nói nội trong năm tới, thế nào khu rừng làng Hồng cũng được thực hiện.
Lâu nay sống đời tăng sĩ không cửa không nhà chú Tâm Thể cũng ao ước có một căn nhà lác cất trên một lô đất ở làng Hồng. Chú sẽ đi tìm phong lan về làm thành nhiều chậu và treo trước hiên nhà. Chú sẽ trồng hoa bằng lăng và hoa lim trước cổng. Chú sẽ làm giàn hoa thiên lý, sẽ trồng nhiều bụi hoa hồng. Và chú sẽ làm tất cả những công việc ấy trong tinh thần quán niệm. Chú sẽ xin một em bé mồ côi về ở chung với chú và em sẽ coi sóc nhà cửa, vun bón những gốc cây và chăm sóc vườn rau sau nhà. Anh Lâm, à quên, chú Thanh Ấn cũng sẽ có một căn nhà tại đây, bởi vì chú cũng đã thành tác viên xã hội.
Vào giờ ngày ngày mai chú và chú Thanh Ấn đã ngồi trên chiếc xe do anh Thu cầm lái và cả ba người sẽ về tới Phú Thọ Hòa vào khoảng chạng vạng tối. Chiếc xe của Thu trông bề ngoài cũng có vẻ một chiếc xe du lịch lắm, chắc cảnh sát sẽ không nghi ngờ gì đâu. Biết thế nhưng chú Tâm Thể vẫn thấy trong lòng lo lo ngại ngại thế nào ấy. Chú chưa bao giờ làm một chuyện gì có tính cách “bất hợp pháp” như chuyện này. Chú tự nhủ: mình phải học thái độ “bất cần” mới được. Có gì thì vào ngồi tù, như thầy mình đấy thì đã sao đâu. Miễn là mình dám làm điều mà mình tin chắc là phải. Chú là con mồ côi; thầy của chú đã nhận chú và đưa chú về gửi ở chùa Đại Lão miền Cao Nguyên cho tới ngày chú được gửi về Phật học đường. Chú muốn học hạnh vô úy của thầy mình. Chú hơi thèn thẹn nghĩ đến cái đêm mà chú đi theo đoàn thuyền cứu trợ nạn lụt ở quận Đức Dục. Năm đó là năm Giáp Thìn. Đêm ấy, trên sông Thu Bồn, súng đã bắn rào rào, tiếng đạn bay vèo vèo phía trên mui thuyền. Hoảng quá, chú đã nhảy tõm xuống sông. Một lát sau, khi tiếng súng đã êm, chú ngoi ngóp trèo lên. Chú thấy mọi người vẫn còn ngồi an tĩnh và giữ thuyền, thầy chú đang ngồi thẳng trong tư thế kiết già. Mọi người hỏi chú: “Tắm có mát không chú Tâm Thể?”. May mà lúc đó còn là ban đêm nên không ai thấy chú đỏ mặt. Chú còn nhớ đêm ấy là một đêm có nhiều sao trên trời.
Trước khi trường Xã Hội được thành lập, thầy chú đã gọi chú về thực tập tại những địa điểm thí nghiệm về phương pháp cải tổ và phát triển thôn ấp. Chú đã làm việc tại các làng Cầu Kinh và Thảo Đền trên tám tháng. Cùng với các bạn khác, chú đã học cách tổ chức hợp tác xã, lập trạm y tế hương thôn, dựng trường tiểu học cộng đồng, xây cầu tiêu vệ sinh và đào hố rác để tránh cho dân làng các bệnh kiết lỵ và đi tả. Phương châm căn bản của thầy chú để ra là sự xây dựng phải được khởi đầu từ dưới lên trên, bằng sự tự giác và ý chí của người dân. Phải bắt đầu bằng những gì của người dân có và trên những gì mà người dân biết, không trông cậy và chính quyền cũng không ỷ lại vào bất cứ một thế lực chính trị hoặc kinh tế nào. Tóm lại, tất cả đều dựa vào tinh thần tự giác và tự nguyện của người dân, không cần ai bắt buộc, không do ai kềm thúc. Người tác viên phải được dân làng thương yêu và tin cậy mới đủ sức thuyết phục dân làng tự lực đứng ra chủ động công cuộc cải tiến nếp sống kinh tế, y tế và giáo dục của thôn làng mình. Chú làm việc giỏi quá khiến cho cô bác ở xã Thảo Điền đem lòng thương yêu: có mấy bà đã ngỏ ý gả con gái cho chú. Chú lắc đầu nguầy nguậy. Người ta đi tu rồi mà còn đòi gả con gái sao cho được, chú nói đùa với các bạn tập sự. Những năm gần đây, khi chiến tranh bộc phát dữ dội, phong trào đòi hỏi hòa bình lên rất cao. Có lần, đi bộ trên con đường Trịnh Minh Thế chú bị một người lính Hoa Kỳ từ trên một chiếc xe GMC cao nhiệu nhổ nước bọt lên đầu chú. Chú biết hành động đó chứng tỏ những người lính Mỹ ở Việt Nam thù ghét những người tu hành theo đạo Phật bởi vì những người này chống đối chiến tranh, làm hại tới chiến dịch bình định của Hoa Kỳ. Đêm đó, về trường chú đã khóc với sư huynh chú. Chú bảo có thể chú sẽ bỏ tất cả để đi vào chiến khu của Mặt Trận. Sư huynh chú mỉm cười, vỗ vai chú và nói: “Chú giận ai thì cũng chỉ giận được vài giờ đồng hồ thoi, chứ gì. Bàn tay của chú sanh ra là để săn sóc trẻ thơ và băng bó những vết thương cho người chiến nạn, và để “làm làng” chớ không phải để cầm súng”. Chú biết lời nói của sư huynh chú là phải. Trong thâm tâm, bao giờ chú cũng nghĩ như thế. Trong giây phút tức tối, chú chỉ nói cho hả giận một chút mà thôi.
Trời đã ngã chiều. Hình như chú Tâm Thể đã đi khá sâu vào trong rừng Quảng Khánh. Chú quay lại, tìm lối trở ra. Tối nay chú sẽ ngủ lại ở trạm y tế của làng định cư. Trưa mai, sau bữa cơm trưa, chú sẽ từ giã các bạn, nói rằng ra quốc lộ đón xe về Sài Gòn. Chắc là chú phải gói một ít thực phẩm mang theo. Có thể là anh Lâm sẽ đói. Cái bến nước ở bên kia sông Đồng Nai ấy, anh Lâm bảo là đã tới tắm nhiều lần rồi. Kỳ này anh tắm ở đấy lần chót rồi anh đi luôn. Anh sẽ để lại cả cuộc đời binh sĩ ở bên đó. Để lại bộ quân phục và cả tay súng của anh nữa. Anh sẽ sang bờ bên này với hai bàn tay trắng và một trái tim mà anh muốn dâng cho mẹ và cho quê hương, cho những người khốn khổ. Tuy sư huynh mình không còn sống để đón tiếp anh, nhưng đã có mình đón tiếp anh. Lạy Phật cho trong kiếp đầu thai này, anh sẽ hoàn tất được bản nguyện.
Có tiếng ai gọi phía cửa rừng. Chú Tâm Thể lắng nghe. Đúng là tiếng gọi tên chú. Có lẽ Thắng thấy chú đi lâu không về nên đã ra tới tận đây để tìm. Chú Tâm Thể mỉm cười. Chú thấy lòng nhẹ nhõm. Chú lên tiếng đáp lại. Đồng thời chú nhác thấy, trên một thân cây ẩm mốc gần đó, một chùm hoa phong lan thật đẹp. Giò hoa vươn dài, lả lướt: có đến trên mười chiếc hoa phong lan nối nhau buông xuống. Những cánh hoa màu hồng điểm những chấm trắng và tím, rạng rỡ như ánh mắt và vành môi của một đàn bé thơ từ trên cao đang tươi cười nhìn xuống đón mời chú. Chà, chùm phong lan này đã được “thỉnh” về treo ở hiên nhà lá Pháp Vân thì tuyệt. Chú hô lớn thêm mấy tiếng nựa để cho Thắng xác định được vị trí của mình, rồi chú tiến tới gần thân cây có chùm phong lan. Chú cởi chiếc áo nhật bình, vắt lên trên một cành cây gần đó. Lấy mắt đo thân cây, chú chuẩn bị leo lên. Chú tự nhủ sẽ rất cẩn thận để đừng làm hư nát bất cứ một cành hoa nào trong chùm hoa quý giá này.

*     *     *

Đây là lần đầu tiên chú Thanh Ấn được đến thăm làng định cư Quảng Khánh. Chú đã được ban Quản Trị Trung Ương cử về tham dự lễ bàn giao giữa đoàn công tác Quảng Khánh và ban Đại diện đồng bào làng định cư.
Từ ngày về làm việc tại trường Xã Hội, chú Thanh Ấn đã được nghe nói nhiều về Quảng Khánh và cũng đã được đọc nhiều bản báo cáo về Quảng Khánh. Nhưng lý do sâu sắc của sự viếng thăm Quảng Khánh kỳ này là ước ao của chú muốn được thấy tận mắt nơi mà chú Tâm Thể đã sống những giờ cuối cùng trước khi mất tích.
Phải, chú Thanh Ấn đã về trường Xã Hội và đã được thầy Giám đốc thu nhận, nhưng không phải là do chú Tâm Thể đem về như dự định trước. Chú Tâm Thể đã mất tích khi đi tới được chỗ hẹn ở bến sông La Ngà.
Chiều hôm ấy, từ bến sông đi lên, chú Thanh Ấn đã đợi và đã đi tìm chú Tâm Thể cho tới năm giờ chiều. Biết chú Tâm Thể đã lỡ hẹn và biết rằng mình không thể lội trở về bên kia sông được nữa, chú bèn đánh liều đi bộ, hướng về phía Nam. Chú định bụng vượt rừng tìm tới một xóm nhà nào đó xin tá túc và tìm cách liên lạc với chú Tâm Thể.
Đi bộ được chừng hai giờ thì trời bắt đầu tối, và chú vẫn chưa ra khỏi được khu rừng. Chú biết thế nào cũng phải ngủ lại trong rừng tối hôm ấy. Trời đã lành lạnh, và chú không có một manh áo mỏng trên người. Chú lại không có hộp diêm để đốt lửa. Chú đi vun lá khô lại thành một đống lớn, rồi chú nằm tựa vào một gốc cây, lấy lá khô phủ lên người cho bớt lạnh. Chú dự định không ngủ. Chú tự báo không ngủ một đêm cũng không sao. Cứ nằm đợi cho tới khi trời hé sáng sẽ tiếp tục đi.
Nhưng chú đã ngủ quên và khi chú thức dậy, trời đã sáng tỏ. Chú vùng đứng dậy lấy hướng và đi. Chú biết nếu hướng về phía Nam thì đi mãi chú cũng sẽ tới Xuân Lộc. Nhưng Xuân Lộc còn xa lắm: chú hy vọng gặp một thôn xóm nhỏ trên đường tới Xuân Lộc. Chú đi về phương Nam vì lúc ấy chú đã không biết có làng định cư Quảng Khánh cách đó có mười mấy cây số và nơi kia có những người bạn rất thân của chú Tâm Thể. Chú đi về phương Nam vì chú có cảm tưởng tất cả những người thân của chú đều ở về phương Nam. Chiều hôm ấy chú ra khỏi rừng và tới được một làng nhỏ. Chú đi băng qua những nương khoai và tới gần một xóm nhà lá. Bỗng chú nghe văng vẳng tiếng chuông mỏ của một buổi công phát huy chiều. Theo tiếng tụng kinh, chú tìm tới một ngôi chùa lá. Từ phía vườn rau, chú tìm lối đi vào nhà bếp chùa. Bếp lạnh tanh. Chú nghe tiếng tụng kinh của một nhà sư tuổi độ ngũ tuần, chen lẫn với tiếng tụng kinh của một nhà chú điệu còn rất trẻ. Hai thầy trò đang tụng đến nghi thức thí thực.
Sẵn thấy hộp quẹt ở gần bếp, chú nhen lửa và hơ cho ấm hai tay. Lửa nổ lép bép. Một lát sau, buổi công phu chấm dứt. Hai thầy trò trở ra. Nghe tiếng lửa lép bép dưới bếp, họ tưởng là có người bổn đạo nào tới công quả. Họ đi xuống bếp để xem thử là ai. Trung Úy Trần Thanh Lâm đứng dậy chắp hai tay chào theo lối kiểu nhà chùa. Thấy người lạ, thầy trú trì hơi ngạc nhiên. Nhưng ông ra hiệu mời chú ngồi xuống bếp tiếp tục hơ lửa và bảo chú điệu đi nấu một ấm nước. Chú điệu khoảng mười một tuổi, mặt mày rất xinh đẹp.
Thầy trú trì đi lên hậu liêu rồi trở xuống với một chiếc áo năm thân và một cái quần dài màu dà. Thầy đưa bộ quần áo cho người khách với một nụ cười. Có lẽ đây là một bộ đồ của thầy trú trì. Rồi thầy nói:
– Ông mặc áo rồi tiếp tục ngồi sưởi cho ấm. Để tôi bảo chú Đăng nấu cơm. Nói xong thầy lên hậu liêu. Nửa giờ đồng hồ sau đó, cơm đã chín. Chú Đăng dọn cơm, thắp đèn và mời ông khách lạ ăn cơm. Hai thầy trò không ăn cơm chiều. Trung Úy Lâm, trong bộ áo năm thân màu đà, điềm đạm ăn cơm. Lâm đói lắm. Chú ăn sạch niêu cơm và tất cả thức ăn trên mâm. Dưa cà chấm tương và một bát đậu hũ kho măng.
Chú Đăng mang nước trà đến cho khách. Lâm nhận ly nước trà, cám ơn chú điệu. Rồi nhìn chú, Lâm nói:
– Tiếng chú Đăng tụng kinh tốt lắm. Chú tu đã được mấy năm rồi, chú?
Chú điệu trả lời:
– Dạ thưa hai năm.
Vừa lúc ấy thì thầy trú trì đi xuống. Thầy bảo với chú Đăng là thầy đã dọn một cái giường cho khách ngủ tạm trên nhà ngang, và khi khách uống nước xong thì chú Đăng phải đưa khách lên trên ấy để nghỉ. Thầy bảo thầy biết ông ấy đang mệt lắm.
Lâm lên tiếng:
– Bạch thầy, con phiền thầy nhiều quá.
Đó là câu nói đầu tiên của Lâm với thầy trú trì từ khi gặp thầy. Vị sư cười, nói:
– Có gì đâu mà phiền, ông. Ông cứ đi nghỉ rồi sáng mai mình hãy nói chuyện.
Đêm ấy chú điệu Đăng cho Lâm một cái mền và một chiếc chiếu. Lâm ngủ rất ngon. Vào khoảng bốn giờ khuya, tiếng công phát huy của hai thầy trò làm Lâm thức dậy. Chú đi xuống bếp rửa mặt, lấy mười ngón tay chải tóc cho gọn ra phía sau, rồi tìm lên chùa, quỳ phía sau chú điệu Đăng. Hai thầy trò vừa tụng hết Lăng Nghiêm, bắt đầu qua Thập Chú. Lâm cất tiếng tụng theo. Lạ quá, lâm không quên một chữ nào. Tiếng của Lâm rõ rằng, phụ họa rất hòa hợp với giọng của thầy trú trì và của chú điệu Đăng. Hai người quỳ trước chắc là ngạc nhiên lắm, nhưng họ không hề quay mặt lại nhìn Lâm.
Đến lúc hai thầy trò niệm danh hiệu Thích Ca Mâu Ni và bắt đầu đi nhiễu quanh bàn Phật thì Lâm cũng chắp tay bước từng bước một đi theo chú Đăng. Sau ba vòng kinh thành, họ trở về quỳ trước bàn Phật, tụng bài hồi hướng và tam tự quy.
Buổi sáng đó, chùa ăn cháo sáng rất vui dù không ai được phép nói chuyện trong khi ăn. Trung Úy Lâm được ngồi đối diện với chú Đăng. Cháo sáng xong, Lâm xin phép được ở lại chùa ít hôm để liên lạc về nhà. Thầy trú trì nói chú muốn ở bao nhiêu ngày cũng được.
Trưa hôm ấy, Lâm viết một lá thư ngắn nhờ chú Đăng đem bỏ tại nhà dây thép quận. Chú Đăng phải đi xe Lam đến hơn một tiếng đồng hồ mới ra tới Xuân Lộc để bỏ được lá thư cho Lâm. Ở nhà một mình, Lâm nói thật tất cả cơ sự với thầy trú trì. Thầy đề nghị xuống tóc và làm lễ xuất gia tức khắp cho Lâm. Trưa hôm ấy, chú Đăng đã về kịp để dự lễ xuống tóc cho Lâm. Thầy trú trì bảo chú Đăng từ nay gọi Lâm là chú Thanh Ấn. Thầy lại ban cho chú Thanh Ấn một chiếc áo tràng cũ của thầy.
Tối hôm đó, chú Đăng bệnh. Trong hai ngày hai đêm chú lên cơn sốt. Chú nóng đến mê sảng. Cho uống ký ninh và át-pi-rin không thấy bớt. Các buổi công phu vắng chú, chỉ có thầy trú trì và chú Thanh Ấn. Một buổi kia, sau giờ cháo sáng, chú Thanh Ấn xin phép thầy để đi ra quận mua Tifomycine về cho điệu Đăng. Thầy trú trì bảo chú không nên đi ra khỏi chùa. Thầy bảo chú viết tên thuốc trên một mảnh giấy để thầy đi mua.
Trưa hôm ấy, khi thầy trú trì đem thuốc về, chú Thanh Ấn liền lấy cho chú Đăng uống ngay một viên. Rồi chú xuống bếp sửa soạn nấu cơm cúng ngọ. Vừa lúc ấy, có người tới tìm thầy trú trì. Hỏi ra thì đó là người của thầy giám đốc trường Xã Hội gửi xuống. Có cả một chiếc xe hơi để rước chú Thanh Ấn về Sài Gòn. Thầy trú trì giục chú Thanh Ấn lên đường lập tức:
– Để tôi xới cơm cúng ngọ cho. Chú đi đi, kẻo muộn. Khỏi ăn cơm trưa cũng được. Để trời tối không nên. Cuối năm, hoặc sang năm sau nhớ ghé về thăm tôi, nghe không chú?
Chú Thanh Ấn sụp xuống đảnh lễ thầy, rồi vào thăm chú Đăng. Chú Đăng còn mê, chưa tỉnh. Chú ra dặn thầy trú trì cho chú Đăng uống thuốc mỗi ngày ba lần và tám ngày liên tiếp. Rồi chú vái chào thầy, đi theo người khách.
Người bạn này không phải ai xa lạ mà chính là Thu, bạn của chú Tâm Thể. Anh giục chú ra xe. Chỉ trong nửa tiếng đồng hồ, xe đã ra tới quốc lộ. Thu ngồi trước lái xe. Anh bảo chú Thanh Ấn ngồi sau, như một vị Đại Đức lớn. Xe chạy bon bon trên đường tráng nhựa. Thu cho chú Thanh Ấn biết là tuần trước, xe Thu đã ghé tới cây số 103 trên quốc lộ 20 sớm hơn tới mười lăm phút. Thu đã cho xe chờ ở đó tới sáu giờ chiều, rồi mới bỏ về Sài Gòn. Ngày hôm sau, Thu được lệnh trở lên Quảng Khánh để tìm chú Tâm Thể. Anh Thắng nói chú Tâm Thể đã rời văn phòng trụ sở của đoàn công tác vào lúc mười hai giờ rưỡi trưa hôm trước. Thu và Thắng cũng định đi Định Quán để hỏi thăm. Không ai thấy chú Tâm Thể đi về hướng nào cả. Hai người đi thăm hỏi các làng mạc lân cận. Cũng không có dấu vết gì của chú. Thu liền về Phú Thọ Hòa báo tin cho thầy Giám đốc.
Mãi tối hôm qua, lá thư của chú Thanh Ấn gửi cho chú Tâm Thể mới tới văn phòng trường. Thầy giám đốc mở thơ ra xem và lập tức phái Thu về rước chú Thanh Ấn. Thu kết luận có thể là Tâm Thể đã bị một toán người lạ mặt trong rừng bắt đi theo họ.
Chú Thanh Ấn về đến trường vào sáu giờ rưỡi tối, bình an. Dọc đường không có ai chặn xe lại khám xét. Chú được gặp mặt cô Tám tại trường. Thầy Giám đốc nói chuyện với chú chừng nửa giờ, và cho phép chú về nhà với cô Tám. Sáng lại, khi chú tới trình diện, thầy bắt đầu trao công tác cho chú. Thầy lại còn dặn chú trong những giờ rỗi rảnh phải học thuộc bộ Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu và sáng nào cũng phải đi công phu khuya tại chùa lá Pháp Vân.
Một tháng sau, chú Thanh Ấn được chính thức thọ giới Sa Di tại chùa Pháp Vân. Chú lại có một giấy căn cước mới, với hình chú mới chụp.
Trong suốt ba tháng thầy giám đốc đã hỏi thăm khắp nơi về chú Tâm Thể. Chánh quyền tỉnh Bình Tuy xác định với thầy là các chính quyền quận và xã trong tỉnh không hề có bắt giữ đại đức Tâm Thể. Thầy giám đốc cũng đã nhờ người quen ở Paris thăm hỏi với chính phủ Cách mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam có đại diện tại hội nghị Paris. Cũng không có kết quả. Hàng trăm tác viên và trợ tác viên của trường nghe tin chú Tâm Thể mất tích đều lấy làm lo lắng. Ai cũng thương mến chú Tâm Thể. Ai cũng thấy chú là người tác viên gương mẫu. Ai cũng nhớ chú và thấy thiếu chú. Nụ cười ấy, cặp mắt ấy, hai cánh tay ấy, chiếc áo nhật bình ấy. Ai cũng thầm cầu nguyện cho chú.
Hôm qua, trên đường lên Quảng Khánh, chú Thanh Ấn đã ghé lại chùa Thoại Quang ở Mỹ Phước thuộc tỉnh Long Khánh để thăm thầy trú trì và chú điệu Đăng. Thầy trụ trì rất mừng khi được gặp lại chú. Chú điệu Đăng bây giờ trông lớn ra và mạnh khỏe hơn trước nhiều. Chú đã học thuộc bốn cuốn luật Sa Di. Chú sắp được thầy chú gửi lên học tại Phật Học đường Phật Quang, lớp tiểu học nhất niên. “Chú học ở đó thì mỗi tháng tôi có thể tới thăm chú hai lần”, chú Thanh Ấn nói.
Gặp thầy trú trì lần này, chú Thanh Ấn đã hỏi thật thầy tại sao lần đầu tiên gặp chú thầy đã cho chú ở lại chùa mà không cần hỏi chú là ai. “Con có thể là Việt Cộng, hoặc là một người tội nhân vượt ngục, hoặc là một quân nhân đào ngũ”. Thầy trụ trì vỗ vai chú. Thầy nói:
– Lúc ấy tôi chỉ biết có một người đang lạnh, đang đói và đang cần nơi ẩn thân. Tôi không thấy có Việt Cộng nào, hoặc tội nhân vượt ngục nào, hoặc quân nhân đào ngũ nào cả.
Rồi thầy cười lớn lên: “Khuya đó tôi nghe chú tụng kinh rành quá, tôi thấy vui trong bụng ghê”.
Thầy đã năn nỉ chú ở lại chùa đêm ấy. Một cuộc tái ngộ làm ấm cả lòng ba người.
Trưa hôm nay, ngồi nói chuyện với anh Thắng ở văn phòng công tác, chú Thanh Ấn hỏi anh về những chi tiết của cuộc viếng thăm sáu tháng về trước của chú Tâm Thể. Anh Thắng kể lại bữa cơm tại nhà anh Chiêu. Anh Thắng kể lại những câu chuyện mà chú Tâm Thể trao đổi với các anh em tác viên tối hôm đó tại trạm y tế trước khi đi ngủ. Và anh nói tới chùm hoa phong lan mà chú Tâm Thể đã gửi lại trụ sở của đoàn công tác, hẹn sẽ trở về lấy đem theo. Nhưng sáu tháng đã đi qua, và chú chưa bao giờ trở về. Câu chuyện của chú Thanh Ấn tại trường chỉ có thầy Giám đốc, chú Tâm Thể và anh Thu biết. Anh Thắng chỉ cho chú Thanh Ấn thấy chậu phong lan treo ở ngoài hành lang. Chú Thanh Ấn đứng dậy, đi ra ngoài. Anh Thắng theo sau.
Cây phong lan được nuôi trong một thứ chậu vuông mà chú Tâm Thể đã ghép thành bằng những cành gỗ nhỏ. Chú đã để vào chậu nhiều chất rong rêu để giữ chất ẩm cho rễ hoa. Các lá phong lan đầy đặn và xanh mướt. Chồi hoa năm ngoái chắc đã tàn, bởi vì đang nở đây là một chồi hoa mới, mạnh khỏe, bụ bẫm. Chồi hoa chỉ mới nở được hai bông đầu. Theo chú Thanh Ấn, ít ra chồi hoa này cũng sẽ nở ít nhất là mười bông. Những cánh hoa màu hồng điểm những chấm trắng và tím, rạng rỡ như những chiếc miệng trẻ em đang cười. Chú Thanh Ấn lặng người đi. Chú chợt thấy chú Tâm Thể đang cười với chú. Nụ cười ấy, cặp mắt ấy, hai cánh tay ấy, chiếc áo nhật bình ấy. Chú Tâm Thể đã có mặt rồi, nụ cười chú Tâm Thể không bao giờ phai lạt trong lòng chú, trong lòng của những người như chú.
Và chú ngỏ ý với Thắng là, ngày mai, sau lễ bàn giao, chú sẽ xin phép mang chậu phong lan về chùa Pháp Vân.