Hoàng Cầm bị bắt

Sau một thời gian rất lâu vắng thư Hoàng Cầm, tôi bỗng nhận được thư của chị Lê Hoàng Yến, thấy dòng chữ nghệch ngoạc: “Xin cô đừng liên lạc với chồng tôi nữa, anh ấy mới bị đi tù. Anh bị bắt vào tháng 8 năm 1982.” Sau đó tôi có gửi 100 dollar cho chị qua em Phan Đạm Hiệp, một người em cùng Thầy, từ miền Nam đem tiền ra Bắc. Hiệp tìm cách ra tận nơi mang tiền đến cho chị.

Chị bèn viết vài dòng nhờ Hiệp gửi: “Thưa cô, cô ở xa không biết tình hình hiện nay. Hôm 20.8.1982 thì nhà tôi đã bị nhà nước bắt giam vì tội quan hệ với người nước ngoài về văn hoá vì như thế là trái pháp luật, hiện nay nhà tôi đã bị tù. Anh bị giam ở nhà tù Hoả Lò ở Hà Nội, vậy mong rằng cô dù rất quý chồng tôi chăng nữa thì xin đừng thư từ gì, nó phiền cho cô, nhưng cô ở nước ngoài chẳng có gì phiền đâu. Phiền là cho người trong nước. Vậy mong cô thông cảm cho, đừng viết thư nữa, còn tôi là vợ anh ấy, tôi luôn luôn rất cảm ơn cô đã có lòng tốt, đã quan tâm đến chồng tôi và gia đình chúng tôi”.

Ban đầu khi biết tin anh bị tù qua chị Yến, tôi chưa biết chế độ đối xử với dư luận quốc tế như thế nào, nên nghĩ đơn giản nếu Amnesty International (tổ chức Ân xá Quốc tế) gửi thư xin, chắc họ cũng thả thôi. Anh gửi thư và tặng thơ cho tôi, nghe lời anh tôi chỉ lưu giữ chúng mà đâu có phát hành xuất bản những bài thơ của anh như lúc trước trao đổi. Nếu vì thư từ qua lại với chúng tôi mà anh phải đi tù thì oan cho anh quá, mình nên làm gì giúp anh đây? Trong giờ thiền quán chiều hôm đó tôi chợt nhớ là tôi đã từng làm quen được với một nhà toán học, giáo sư Laurent Schwartz, chủ tịch Hội Pháp – Việt, cũng là một thành viên của viện Hàn Lâm Pháp về Toán. Ông này quen với cụ Hồ nên khi được mời làm chủ tịch Hội Pháp – Việt – nhóm này rất thân với chính quyền Hà Nội – ông nhận lời ngay. Hồi đó, không ai trong số các bạn tôi muốn chơi với những người theo chính quyền. Dù là người Việt hay là người nước ngoài, hễ thân với chính quyền thì bạn bè tôi đều tránh liên lạc. Nhưng tôi lại nghĩ khác về giáo sư Laurent Schwartz. Chắc chắn ông là người có lòng mến mộ Việt Nam. Tại ông chưa có dịp tiếp xúc với việc mình làm đó thôi. Mình đâu có làm chính trị, mình đâu mong chờ danh lợi quyền bính gì, mình phải làm quen với những người tốt này mới được. Tôi mở niên giám điện thoại và tìm ra được ba người tên Schwartz ở Paris. Tôi chọn ông Schwartz có tên đầu là Laurent. Cuối cùng tôi liên lạc được với ông. Tôi tự giới thiệu về mình. Tôi kể những chuyện tôi đã làm và đang làm, và xin phép gửi bản tin Le Lotus cũ của Phái đoàn Phật giáo Việt Nam tại Paris, ghi những công tác trước 1975 cho ông bà ấy xem. Đây là tờ bản tin mỏng xuất bản trước 1975 của Phái đoàn Hoà bình của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất về những công việc cứu trợ của chúng tôi cho hằng nghìn đồng bào sống nheo nhóc tại các vùng vừa bị bom đạn cày nát. Tôi cũng kể lại là thời đó chúng tôi đã tìm ra người bảo trợ cho hơn 8.900 cô nhi nạn nhân của chiến tranh đang được nuôi trong bầu không khí gia đình. Các em có thể sống với ông nội, bà nội, bà ngoại hay một người cô, một người dì. Tôi cho biết tôi đã gửi tiền cho từng em qua các gia đình nuôi em với sự giám sát của các sư cô chăm lo các ký nhi viện Phật giáo. Tuy bây giờ chúng tôi không còn được công khai làm việc từ thiện này nhưng chúng tôi vẫn thường xuyên gửi quà dưới hình thức những gói thuốc nhỏ của Pháp cho các cháu đói. Ông trả lời tôi rằng ông rất cảm động với những việc tôi làm và ký cho tôi một cái ngân phiếu 500 quan Pháp. Hồi đó số tiền này rất lớn, vì những người khác thường chỉ cho chúng tôi 25 quan thôi. Ông quả là người tốt, vì tuy là thành viên của Hàn lâm Viện nhưng ông không phải là người giàu có. Sau đó, tôi viết thư cám ơn. Ông bà dễ thương lắm và rất quý mến tôi.

Tôi nghĩ: “Người này mà viết thư xin thả cho Hoàng Cầm thì chính quyền khó mà bảo là Mỹ nguỵ chen vào”. Tôi điện thoại xin đến thăm và được ông bà mời uống trà. Tôi chỉ nhờ ông viết thư riêng can thiệp cho Hoàng Cầm – một nhà thơ rất liêm trực – thôi, không làm kiến nghị gì hết. Tôi tặng ông bài thơ Em bé lên sáu của Hoàng Cầm (do tôi tự tay dịch nghĩa ra tiếng Pháp). Thấy ông quá ưu tư thương cảm và sốt sắng giúp, tôi hồ hởi viết thư cho chị Yến nhắn rằng: “Chị đừng lo, em đã nhờ vài người bạn của em, là những vị có uy tín, là bạn của cụ Hồ, có thể xin được cho anh ra, chị yên tâm.”

Sau này, trong ba chuyến về Việt Nam, lần nào tôi cũng ghé thăm Hoàng Cầm và nghe anh kể lại chuyện những ngày bị giam cầm.

Hoàng Cầm sống trong nhà giam Hoả Lò khoảng 12 tháng kể từ 20.8.1982. Anh kể trước khi gặp tôi có nhiều khi anh chán đời quá phải ngậm thuốc phiện. Nhờ có thuốc phiện nên mới sống nổi.

Khi vô tù thì không có thuốc phiện nữa, mấy tuần đầu cũng chán đời dữ lắm. Nhưng khi ở trong tù đã tạm quen, bạn bè, độc giả cũng thương và được nói chuyện cũng còn vui, bữa nào có người bạn tù mới cho rít một điếu thuốc lào thì rất sướng. Lâu lâu bị mời lên thẩm vấn, nếu họ lịch sự thì cho một điếu thuốc lào cũng làm anh cảm thấy sung sướng lắm. Thẩm vấn và bị giam ở nhà tù Hoả Lò suốt một năm, khai đi khai lại cũng chỉ có từng ấy chuyện: Cô bác sĩ trẻ yêu thơ Hoàng Cầm, gửi thuốc men chăm sóc sức khoẻ cho cả gia đình thi sĩ. Nói tới nói lui cũng chẳng có gì khác hơn: “Cô này là bác sĩ trẻ, mới ra trường, xa nước lâu, nhớ nước, đọc thơ tôi rất thích nên gửi thư, lâu lâu mỗi ba tháng cô có gửi một gói thuốc.” Rồi anh kể tên những loại thuốc được tôi gửi.

Một ngày cuối năm 1983, anh được gọi lên thẩm vấn lần chót, cũng không có gì hết, cũng đi tới đi lui như mọi lần. Bởi vì nếu thẩm vấn nhiều lần mà lần nào mình cũng nói đi nói lại những điều giống nhau như vậy thì họ biết mình nói thật. Chính anh đặc trách thẩm vấn cũng có cảm tình với Hoàng Cầm, kể lại cho anh rằng: Trong một buổi họp có vị lãnh đạo đã hỏi: “Mình có bắt thi sĩ Hoàng Cầm thật không? Vì sao Hoàng Cầm bị bắt? Vụ Nhân văn Giai phẩm đã qua rồi mà? Quốc tế họ có hỏi thăm đó, nếu không có tội gì quan trọng thì thả đi cho rồi, để quốc tế biết, kỳ lắm”. Điều này chứng tỏ giáo sư Laurent Schwartz đã viết thư can thiệp cho Hoàng Cầm. Nếu “Quốc tế” là những người khác thì sẽ bị kêu là Mỹ nguỵ, nhưng giáo sư Laurent Schwartz là bạn thân với cụ Hồ. Một lãnh đạo có nói nếu chỉ quen một vài người ngoại quốc, không có gì thì thả cho người ta đi.

Nhưng trong buổi họp đó lại có vị lãnh đạo khác ngồi kế bên đã nói một câu: “Quốc tế hả? Muốn can thiệp hả? Cho ở tù thêm”. Và buổi họp còn kéo dài để bàn bạc về những việc khác. Thế là cấp dưới y theo biên bản cuộc họp. Tôi viết điều này ra không phải để trách lãnh đạo nọ. Tôi chỉ muốn tự nhắc mình và nhắc những bạn đọc của tôi là ta phải nên rất thận trọng trong lời nói, nhất là khi phê phán một câu với ai, dù trước mặt mọi người hay với chính mình, cũng nên thận trọng, nhìn sâu hơn để không nói một câu như vị lãnh đạo nọ đã nói đối với một nhà văn đang ở tù.

Hoàng Cầm được mời lên văn phòng, tưởng mình sắp được thả thì mừng quá, nhưng họ nói anh ngồi chờ đó. Sau khi nghe điện thoại của cấp trên, anh công an đưa Hoàng Cầm đến một khu biệt thự thật sang trọng của Pháp ngày xưa. Hoàng Cầm trong lòng vui lắm, thầm nghĩ chắc mình sắp được tha rồi. Nhưng không! Anh được đưa vào một căn phòng, đến giờ cơm thì họ đem đến phần cơm thôi, ngoài ra chờ hoài không thấy gì cả, chung quanh không có một ai. Mọi thứ xung quanh im lặng rợn người. Sợ quá. Một tuần, rồi hai tuần, rồi ba tuần. Ngày xưa tuy cũng trong tù nhưng có đông người, còn vui, bỗng dưng bây giờ được chuyển sang một chỗ vắng lặng quá, thỉnh thoảng chỉ có tiếng kêu của con tắc kè, anh thấy cô đơn vô cùng. Ngày này qua ngày khác, anh có cảm tưởng như đang ở trong một cái nhà ma.

“Em biết không,” Hoàng Cầm kể khi tôi tới thăm anh tại Hà Nội trong lần được về nước năm 2005, “anh buồn quá. Nhưng một ngày, ô kìa, nghe như văng vẳng bên kia tiếng ai ru con, anh mới gõ vô tường ba tiếng, nghe bên kia gõ lại cũng ba tiếng, anh mừng quá, vậy là có người. Anh gõ năm tiếng, bên kia gõ lại năm tiếng. Có tiếng hát ru em giọng Nam, rồi ru em giọng Bắc, xong rồi còn nhái giọng của vợ anh “anh ơi, anh bỏ em, nghe lời họ làm chi… có gì anh nói thật hết đi, đi theo bọn thực dân làm chi, bọn tình báo nguỵ nó lợi dụng anh đó, anh có chi cứ nói hết đi…”, lại khóc, lại ca hát. Anh bên này cũng xúc động hết khóc lại cười, thương quá Yến ơi. Đến giờ cơm thì có cơm, rồi im lặng hoàn toàn, từ sáng tới khuya. Có bữa anh nghe như có tiếng họp chợ bên ngoài, vui lắm, cũng có tiếng người đi qua, đi lại, nhưng không thấy ai hết. Anh cô đơn cùng cực, cứ như vậy thì anh điên mất thôi.”

Hình như anh mất trí khá lâu, mất trí hẳn. Sau đó gần cả năm, anh được báo tin Tết này được về thăm gia đình, có gì thì khai hết đi. Chị được tin anh về nên chuẩn bị những món ngon cho anh ăn Tết. Bữa đó anh thấy đúng là nhà của mình, có vợ, có con. Người con trai đem ra một tô phở nóng cho bố ăn, nhưng không biết sao, anh ăn được hai muỗng thì nôn ra hết, chắc do cảm xúc mạnh quá. Công an lại đùa: Thôi bà âu yếm ông chút đi. Chị tới xoa vai anh, anh lại khóc nức nở. Anh chỉ ngồi khóc từ đầu đến cuối trong cái buổi gặp gỡ gia đình. Rồi anh bị đưa vô tù trở lại. Khi được đưa về nhà giam thì lại nghe cái giọng của cán bộ “tại vì tôi thương chị Yến, vì tôi nể tình chị Yến nên tôi mới thả anh”. Vài năm sau anh được thả.

Khi nghe những điều anh nói, tôi thấy đau lòng quá. Nếu không nghe trực tiếp từ miệng anh kể thì chắc tôi không thể nào tin được những chuyện như thế. Mình chỉ gửi thư khen thơ của anh ấy, có in ấn phổ biến gì đâu mà họ coi anh là phản động, là gián điệp quốc tế! Cái chuyện nhờ giáo sư Laurent Schwartz can thiệp lặng lẽ, không ồn ào rùm beng gì hết mà cũng đủ để anh mang tội. Trong thời gian Hoàng Cầm ở tù, tôi vẫn đều đặn gửi quà và tiền về cho chị Yến. Nhưng tôi không còn dám gửi quà qua đường bưu điện mà chỉ tìm mọi cách gửi qua người thân, đem từ Sài Gòn ra đến Hà Nội giao tận tay cho chị Yến.

Vài nét chính trong các tác phẩm thơ của Hoàng Cầm

Trước khi nhận được trọn bài thơ Hương xa ấy, vào ngày 05.05.1981, tôi đã viết cho anh một lá thư, trong đó tôi kể cho anh nghe về môi trường sinh hoạt của chúng tôi ở Phương Vân Am, mà trong thư viết cho anh tôi gọi là Ngọc Lan Thảo Trang. Cái tên Ngọc Lan Thảo Trang lấy từ tên ngôi nhà của một người bạn ở gần Phương Vân Am, vì tôi có lấy thêm địa chỉ của cô để gửi thư, mà cô đặt tên cho ngôi nhà của cô là Les Magnolias (Ngọc Lan) – Chennegy, 10190 Estissac. Chúng tôi nghĩ có càng nhiều địa chỉ càng tốt.

Còn Hoàng Cầm thì bắt đầu kể cho tôi nghe về những tác phẩm của anh, trong đó có tập thơ Về Kinh Bắc, sáng tác từ 1960 đến 1975 và anh ao ước tôi có được một bản của tập thơ mà anh rất ưng ý này. Anh nói anh sẽ chép từ từ tập thơ ấy và gửi cho tôi. Hồi ấy thư từ qua lại còn rất khó. Có ai đi Tiệp Khắc thì gửi, để từ Praha gửi về Pháp thì mau chóng hơn.

Anh viết:

Em Cần Thơ quý mến,

Ngày 26-6 vừa qua, anh nhận được thư Em. Hơi ngỡ ngàng về địa chỉ, nhưng khi tra từ điển, thì cũng vẫn là địa phương ấy, và đọc thư xong thì anh tưởng tượng ra Em ngay. Em chưa đến 30 tuổi, hồn nhiên, mắt em tinh nghịch và mê say, đôi lúc chợt có mélancolie, ta gọi là sầu xứ. Thường ngày Em thích chạy nhảy, đùa nghịch, chuyện với bạn Em hay bông đùa, để chợt có đêm nào, không ngủ, em chìm sâu vào tâm tư người con gái đất Việt, hiền dịu và sâu sắc, với một chút buồn thăm thẳm như giếng. Em là một tâm hồn nghệ sĩ, hồn Thơ Em có lẽ cũng chan chứa như (và có khi hơn vì em đang xuân) Anh.

Ôi! Yêu Em và quý Em biết mấy, ơi người Em gái rất trong sáng của Anh. Anh khoe thư Em với vài bạn thân, ai cũng có thể hình dung ra em rồi đó. Đêm không ngủ (hoặc là đêm mơ) anh tưởng tượng đột nhiên Anh xuất hiện ở Ngọc Lan thảo trang.

– Tôi hỏi thăm – đây có phải nơi cô Cần Thơ?

– Ông là ai?

– Nhìn tôi thì khắc biết!

– Tôi không biết ông là ai!

– Giá như cô Cần Thơ ở đây, thì cô ấy nhận ra ngay và gọi đúng tên tôi!

Rồi Em và Anh đi dạo những đồi mơ, đồi mận, mùa xuân ra hoa trắng, tối về hoà nhạc, ngâm thơ. Anh sẽ ngâm những bài thơ về quê hương Anh, và mắt Em long lanh màu xanh Cần Thơ, màu xanh Bến Tre, màu xanh Kinh Bắc, quê anh, nơi sinh ra “Tiếng hát Quan họ”, nơi quê mẹ Nguyễn Du, nơi sinh Cao Bá Quát, nơi sinh truyền thuyết Thánh Gióng và là cái nôi của những thiên tình sử huyền thoại (Trọng Thuỷ – Mỵ Châu, Mỵ Nương – Trương Chi).

Vâng theo trái tim Em, anh chép ra đây một vài bài thơ. Còn toàn bộ tác phẩm của Anh thì có lẽ phải gửi tới trăm lần thư chưa hết. Ngày còn đang học tú tài, anh viết tác phẩm đầu tay “Hận Nam Quan”, kịch thơ về Nguyễn Trãi, Nguyễn Phi Khanh, với niềm tự hào dân tộc rất trong sáng và khí phách – Một épopée mang nhiều fraicheur của tuổi trẻ Việt Nam khi đất nước còn bị đô hộ. Rồi đến vở kịch thơ “Kiều Loan”, một bản tình ca bi hùng tráng, diễn ở Hà Nội năm 1946 suốt ba tiếng đồng hồ. Tiếp đó mới đến những kịch thơ “Lên đường”, “Cô gái nước Tần”, rồi anh đi vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp, gần 10 năm, dấu ấn đậm nhất là tập thơ “Bên kia sông Đuống”. Rồi hiệp nghị Geneve, miền Bắc cắt với miền Nam thành hai thế giới, anh viết “Tiếng hát Quan họ” và nhiều bài thơ rải rác, tiếp đến kịch thơ “Tiếng hát Trương Chi”, “Cái gậy thần” rồi đến một chef d’oeuvre nữa là tập thơ “VỀ KINH BẮC” gồm 40 bài về quê hương xưa (dĩ nhiên là có nay). Tâm hồn Việt Nam chưa bao giờ – từ ngòi bút Anh – lại xuất hiện đậm đà, uyển chuyển, sâu sắc, tế nhị đến như vậy. Anh cũng không ngờ. Khi tập thơ ấy đã hoàn thành, các bạn trẻ tuổi đều hâm mộ đến mức anh cũng ngạc nhiên không hiểu sao nó lại chiếm được những tâm hồn lứa trẻ, kể cả những bạn quê ở miền Nam hoặc các vùng khác ngoài Kinh Bắc đến vậy! Tập thơ “Về Kinh Bắc” (1959-1960) đến nay vẫn là bạn tâm tình của nhiều người Hà Nội – Huế – Sài Gòn (mặc dầu nó vẫn inédit) bằng truyền khẩu hoặc sao chép vội vàng đến mức nhiều khi “tam sao thất bản”.

Rồi lại đến bản trường ca “Men Đá Vàng” (1972) viết về nguồn gốc và tâm tư của những nghệ sĩ làm gốm Bát Tràng – một épopée (thiên anh hùng ca) nữa của Đất – Đá và Tình Yêu – Con Người Kinh Bắc. Ngoài ra, còn những bài thơ lẻ tẻ, nếu sưu tập lại thì có thể lấy tên đề cả tập là “Tình sử” – (Inédit tất cả).

Em Cần Thơ quý mến,

Trước hết, anh cảm ơn Em và các bạn Em đã quan tâm đến sự nghiệp thi ca của anh. Anh gửi lời Em nói giúp anh rằng: Những luồng ánh sáng trong trẻo khi giao nhau, thường tạo nên những cầu vồng lồng lộng và những cánh thiên thần múa nhịp nhàng theo bản hợp tấu mênh mông của Thượng Đế – của Trời Đất – Ông Giời! – Định mệnh, khi đã định như thế – thì cứ thế – Anh không thể không chấp nhận và cũng không thể “kiện” ai cả. Anh đã nhiều năm chấp nhận sự hắt hủi của Số Mệnh, nên hiện nay anh không có tham vọng, hy vọng cũng ít, hoài vọng càng ít nữa. Cuộc sống trần luỵ đã bắt anh sống sát mặt đất, cái quotidien terre à terre (cái hằng ngày sát mặt đất), cái “làm người có thân” ấy nên chi “thân làm tội cái đời” là lôgich lắm vậy! Anh chỉ còn một cách cố gắng giữ cho mình chí ít cũng có một con ngươi không bị bùn đất chôn vùi, cố nghểnh lên ngó một mảng trời xanh, và bàn tay dù lấm bùn tanh cũng cố cầm bút, chụm ngón lại thành một bông sen toả ngát, trước hết để cho mình đừng khinh rẻ mình, cho mình sớm tối được thoảng qua mặt một chút hương thơm. Điều đó, em ơi! thật vô cùng nặng nhọc cho anh từ hơn 20 năm rồi. Và những thi phẩm VỀ KINH BẮC, Men Đá Vàng hoặc TÌNH SỬ – đều thoát thai từ cái drame (thảm kịch) khổng lồ ấy – cho nên, anh phải cảm ơn sự đau khổ, cảm ơn Bùn Đen.

Anh hiểu Em: Một tâm hồn mang nhiều nợ với Dân Tộc và Đất Nước, cho nên em trồng tía tô, rau mùi, rau húng là phải lẽ – Em yêu thơ anh là phải lẽ… Vì thơ anh là tâm hồn Việt Nam hiện hình thành màu sắc, và âm thanh. Và đã là con người Việt Nam, mang dòng máu Việt Nam, thì bất kỳ ở phương trời nào, đều hoài niệm mùi vị tía tô kinh giới, và gặp thơ anh thì xúc động, thổn thức, hoặc lâng lâng bay bổng với mây xứ sở, với chim bướm xứ sở và tâm hồn đất nước tự nghìn xưa!

Ơi Em Cần Thơ – người Con Gái Việt Nam, Anh cảm ơn Em.

Trong lá thư viết ngày 09.07.1981, Hoàng Cầm viết cho chúng tôi chi tiết hơn về những giai đoạn sáng tác và về những tác phẩm chính của anh.

Hà Nội 9.7.81

… Em,

Để đáp lại từng điểm trong thư em, anh nói:

1. Anh không phản đối việc tìm kiếm, bảo tồn những tác phẩm của anh, việc làm rất đáng yêu của em và các bạn em. Phương cách nào cũng tốt, miễn là đừng làm rùm beng, đừng phổ biến một cách thiếu cân nhắc hoặc “dễ tính” quá. Phải luôn luôn lấy hoàn cảnh anh, tình thế của anh hiện nay làm quả cân cho mỗi suy nghĩ và hành động. Anh, một người Thơ, dĩ nhiên bao giờ cũng tự hào (đôi khi có cái nết xấu là tự kiêu nữa kia!) nhưng thực tình anh luôn khiêm tốn, vì anh gốc là con nhà nho học, bản thân thêm được chút trí thức phương Tây (cũng chả là bao, so với yêu cầu của trí tuệ con người hiện đại) nên anh thành thực hiểu rằng toàn bộ tác phẩm của mình cũng chưa đóng góp được gì lớn lắm cho nền văn học của dân tộc. Chỉ biết mình xúc cảm và suy tưởng được gì, viết ra thế, còn phải chờ vị trọng tài Suprème phán xét, đó là thời gian và lịch sử. Lịch sử thơ ca thế giới và trong nước đã chứng minh: Có những nhà thơ tồn tại hàng nghìn năm, có người hàng trăm năm, có người mười năm, và có những bài thơ vừa mới chào đời đã tắt thở. Em cũng hiểu như thế, nhưng em là người đọc, thì điều em nói về thơ anh, anh xin thu nhận và cảm ơn em.

2. Toàn bộ tác phẩm (thơ) của anh, nếu như anh có cái cassette thu lại thì phải 10 cuộn băng (60 phút) mới thu hết được những tác phẩm chính. Vậy làm sao, đến bao giờ, anh gửi hết cho em được, nếu như mỗi lần chỉ vài ba trang giấy nhỏ?

Những tác phẩm inédits thì lại nhiều hơn những cái đã xuất bản, và những bài mới gần đây cũng không ít. Tiện đây, anh “Kê Khai” theo trình tự thời gian, những tác phẩm chính, để em tiện tìm kiếm và sắp xếp.

Hồi còn đi học Trung học, anh viết vở kịch thơ đầu tiên “Hận Nam Quan”, một épopée về lòng yêu nước và chí quật cường của dân tộc chống giặc phương Bắc. “Hận Nam Quan” đã xuất bản (1943) và đã diễn nhiều lần. Sau đó đến tập thơ đầu tiên, dĩ nhiên là thơ tình yêu như mọi bước đầu của hầu hết các thi sĩ đông tây kim cổ. Tập ấy “Mắt thiên thu” gồm chừng 60 bài, đã mất bản thảo, mất tăm mất tích, vì những biến cố trong đời sống gia đình và xã hội. Và vở kịch thơ (riêng anh cho là chef-d’oeuvre của giai đoạn ấy) “Kiều Loan”, diễn được dăm buổi ở Hà Nội và một vài địa phương, viết năm 1942 đến 1944 mới hoàn thành, in được màn đầu (prologue) năm 1946 với nhan đề “Người điên”, còn cả vở thì đang in bị bỏ dở vì Pháp gây chiến tranh ở Hải Phòng, Hà Nội. Kịch bản, suýt nữa cũng bị mất tích, mãi đến 1955, sau khi hoà bình được lập lại trên miền Bắc, anh mới tìm kiếm được, mỗi nơi một mảnh, rồi “lắp ghép” lại được như texte original. May thế!

Anh tham gia cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp, đã đi vào chiến dịch Điện Biên Phủ rồi trở về Hà Nội năm 1954, làm một người chiến thắng hào hùng. Suốt 8 năm kháng chiến ấy, anh viết khá nhiều kịch nói, kịch thơ, và thơ. Riêng vở kịch thơ “Lên đường” thì viết năm 1944 lấy đề tài yêu nước của các nho sĩ Việt Nam, nghĩa là của những trí thức cũ đất Việt (như Phan Bội Châu – Huỳnh Thúc Kháng – Lương Văn Can). Chắc em chỉ mới đọc qua, rồi người ta dọn nhà đi, em tức lắm phải không?

Giai đoạn kháng chiến ấy, chef-d’oeuvre của anh là bài thơ “Bên kia sông Đuống – Au delà du Canal des Rapides”. Những nỗi đau của quê hương trong chiến tranh. Cái đẹp của dân tộc, cái mất, cái còn, những tấm lòng, những con người của xứ sở, người mất người còn. Không rõ em đã có trong tay bài thơ khá nổi tiếng ấy chưa? Nếu chưa có, hoặc em chưa tìm được ra (bài ấy in rồi) thì rồi anh sẽ chép gửi em.

Từ tháng 10.54, hoà bình được lập lại, cho đến năm 1959, anh đã viết trường ca “Tiếng hát Quan họ” (em có rồi đấy), kịch thơ “Tiếng hát Trương Chi” (2 hồi 4 cảnh), chỉ mới đăng báo “Văn nghệ” (số tháng 5.1957) có hai Scènes ở Hồi I. Còn toàn vở vẫn Inédit. Kịch thơ “Cái gậy thần” (4 hồi) inedit. Và một số bài thơ rải rác. Giai đoạn này, thì chef-d’oeuvre (theo ý anh và một số bạn thân) là “Tiếng hát Quan họ” và “Tiếng hát Trương Chi”.

Sang đến giai đoạn 4: Từ năm 1960 tới 1975 – anh viết tập thơ “Về Kinh Bắc”, về quê hương anh là vùng Bắc Ninh, Bắc Giang trước kia, nay là tỉnh Hà Bắc. Từ đời Lê, đấy là một trấn phên dậu của triều đình, và theo các nhà sử học Việt Nam, thì Trấn Kinh Bắc là cái nôi của dân tộc Việt Nam, cái nôi của văn hoá dân tộc, chí ít là 1000 năm (từ đời Lý). Đấy là nơi sinh ra bà mẹ thi hào Nguyễn Du, nơi sinh Cao Bá Quát, nơi sinh ra thần thoại Thánh Gióng, và những thiên tình sử huyền thoại Trọng Thuỷ – Mỵ Châu, Trương Chi – Mỵ Nương, nơi sinh ra nhiều nhân vật lịch sử (Ỷ Lan phu nhân, một nữ nhiếp chính có tài đời Lý Thánh Tôn) và trai Cầu Vồng Yên Thế (Hoàng Hoa Thám tức Đề Thám), gái Nội Duệ Cầu Lim (bà Đặng Thị Huệ, vợ Trịnh Sâm, đã từng cầm quyền và làm mất cơ nghiệp chúa Trịnh).

Đó sơ lược vùng Kinh Bắc để em biết qua loa. Tập thơ mang nặng hồn dân tộc xưa và tất nhiên cả nay, tâm hồn Việt Nam qua nhiều thế kỷ, tình yêu và ước vọng, những đau thương và hy vọng của con người vùng quê anh, con người thật sự Việt Nam, và sợi chỉ đỏ xuyên từ đầu đến cuối tập thơ là hai nhân vật CHỊ và EM, hai nhân vật của Tình Sử đi song song với Sử Thi một vùng, là đôi tình nhân ngàn đời với bao nhiêu say mê, nhớ tiếc, hờn giận và vui buồn, bâng khuâng và ngậm ngùi, nao nức và chua chát, cay đắng và ngọt bùi. Tâm hồn Kinh Bắc là một đại dương đầy bí ẩn, anh đã lặn xuống đại dương ấy, mò được đôi ba cái lấp lánh kỳ diệu đem lên khoe với các bạn, vì anh tài ít, sức có hạn, nên chung quy cũng chỉ được đôi chút lấp lánh tâm hồn Kinh Bắc ấy thôi, anh nắm trong đôi tay yếu ớt, chỉ sợ nó bay đi mất, nên phải viết ra nhanh (trong 2 năm) từ cuối 1959 đến cuối 1961, được 40 bài.

Nhiều bạn anh, nhất là các bạn trẻ, các sinh viên Hà Nội, đều “bầu” tập thơ ấy là chef-d’oeuvre của toàn bộ thi ca của anh từ trước đến nay. Dĩ nhiên là inédit, và các bạn ở miền Bắc có sao chép được ít nhiều, đôi khi cũng tam sao thất bản và có những dị bản rất buồn cười nữa kia. Ôi! Giá như em có tập thơ ấy!

Kể ra ai cũng“bằng lòng” với tác phẩm của mình, nói như Lỗ Tấn, “văn mình vợ người”- bao giờ mà chả hay, bao giờ mà chả đẹp. Anh thú thật cũng khó mà ra ngoài được định luật ấy của con người, vốn là tham lam và chủ quan. Anh tự nói về thơ anh, bao giờ mà chả hay! Cho nên, nếu anh có khoe khoang đôi chút, mong em cũng lượng thứ cho cái faiblesse humaine (yếu kém con người) ấy nhé.

Ngoài những bài thơ lặt vặt, không đáng kể, thì giai đoạn này còn có tập thơ “Cót thóc và Con đường”, tập thơ “Chống Mỹ cứu nước” có nhiều tìm tòi về forme.

Cuối giai đoạn này, anh viết trường ca “Men Đá Vàng” – épopée của Đất, Đá và Tình Người – Tình Dân Tộc. Lấy trường ca ấy làm nền, anh viết thành vở kịch thơ “Men Đá Vàng”, 3 hồi, truyện cổ tích về gốm Bát Tràng (1972) “Ước gì anh lấy được nàng! Để anh mua gạch Bát Tràng về xây…” (ca dao cũ).

Từ sau 1975 đến nay, có một số bài thơ tình rải rác, gộp lại thành tập “Tình sử”.

Chiếc nôi văn hoá Việt Nam cổ truyền

Trong một thư khác Hoàng Cầm viết:

Từ năm 1960 tới 1975 – Anh sáng tác những bài thơ sau này được gom lại thành tập thơ “Về Kinh Bắc”, một tập thơ nói lên được bản chất văn hoá kỳ diệu của vùng được xem là cái nôi văn hoá cổ truyền của đất nước. Theo anh tâm hồn Kinh Bắc là một đại dương đầy bí ẩn và người thi sĩ là anh đã lặn xuống đáy biển mò tìm và đem lên được một số ngọc châu lấp lánh và đem khoe với các bạn. Và khi đem tập “Về Kinh Bắc” khoe với các bạn, thì các bạn, nhất là giới sinh viên trẻ, đều ưa thích và cho rằng chính “Về Kinh Bắc” mới là đỉnh cao tuyệt tác của anh, chứ không phải “Tiếng hát Quan họ” hay “Tiếng hát Trương Chi”.”

Qua anh Hoàng Cầm tôi lại biết thêm về vùng Kinh Bắc của Việt Nam, vùng đất của trung tâm Luy Lâu, một trong ba trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo mà Thầy đã nhắc đến trong tác phẩm Việt Nam Phật giáo sử luận (hai trung tâm kia là Bành Thành và Lạc Dương). Hồi đó tôi đang đánh máy cuốn sách này trên máy varityper. Thế là tôi học thêm được những nét đẹp của nền văn hoá cổ Việt Nam ở trung tâm Luy Lâu qua thi sĩ. Càng liên lạc với Hoàng Cầm tôi càng hiểu thêm Thầy chúng tôi, tại sao Thầy yêu thơ Hoàng Cầm và tại sao thầy trò chúng tôi yêu miền Bắc của đất nước. Đến năm 2005 khi Nhà nước mời Thầy chúng tôi về thăm quê hương, và khi 100 anh chị em xuất sĩ chúng tôi đứng lên niệm danh hiệu Bồ tát Quan Âm, thì trước mặt chúng tôi, bao nhiêu gương mặt các ông cha bà mẹ miền Bắc Việt Nam nhìn lên với những cặp mắt sáng lên tha thiết, tin tưởng và hy vọng, tôi bỗng thấy quá xúc động và nước mắt tôi giàn giụa. Nếu không có tầng tầng lớp lớp những ông cha bà mẹ này thì mảnh đất này đâu còn được gọi là Việt Nam nữa và những gia tài tâm linh Bụt, Tổ trao truyền sẽ mất hết. Ôi, những ông cha bà mẹ Việt Nam, từ ải Nam Quan đến tận mũi Cà Mau, tình thương con cháu thì bao la mà tình thương đất nước quê hương còn lớn hơn, sẵn sàng hy sinh để giữ gìn bờ cõi, che chở dân lành. Tình yêu đạo và lòng tin Phật của các vị cũng rất lớn. Ôi! Tôi muốn quỳ xuống sụp lạy trước tầng tầng lớp lớp những ông cha bà mẹ Việt Nam trước mặt tôi đây. Con cám ơn Thầy, con cám ơn quê hương Việt Nam, con cám ơn trung tâm Luy Lâu, chiếc nôi Phật giáo đã hình thành từ gần 20 thế kỷ trước.

Việc thư từ và chuyển quà cho anh Hoàng Cầm diễn ra êm đẹp từ cuối 1980, trọn năm 1981 và 6 tháng đầu năm 1982. Hoàng Cầm vốn là một con ngưới rất hào phóng, chân thật, có gì cũng đem ra nói, không giấu bạn bè điều chi. Anh nghĩ chuyện cũng đơn giản thôi, tôi chỉ là một cô bác sĩ ở Pháp, hâm mộ thơ anh và gửi thư gửi quà cho anh là một chuyện bình thường, nên anh đi khoe khắp nơi.

Anh cũng nghĩ rằng liên lạc với bên Pháp thì không nguy hiểm như với bên Mỹ. Thường thì người ta nghĩ ở Mỹ có nhiều nhóm người Việt chống Cộng dữ dằn, nhưng ở Pháp thì rất đông đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và có nhiều bạn bè thuộc Đảng Cộng sản Pháp.

Trong lá thư đề ngày 16.9.1981, sau khi đọc thư tôi, trong đó tôi ghi ra một đoạn thơ trong bài Bên kia sông Đuống và chép trật chữ dựng trăng thành đỉnh trăng, anh viết:

Đó em xem, mới có một đoạn ngắn mà đã sai đi như thế, còn cả bài thơ, cả tập thơ thì sao? Có một số bạn anh, ở ngay trong nước, có một bài thơ đăng báo thôi, thấy in sai vài chữ đã vò đầu bứt tai, khổ sở hết chỗ nói! Rất mong em thận trọng, đừng để anh phải khổ sở khi thấy bài thơ in sai dù chỉ một chữ! Khó vậy thay! Em làm thế nào? In typo, ronéo, hay photocopie, anh chỉ yêu cầu in đẹp, trang rộng, để nhiều khoảng trắng, đừng in quá nhiều dòng vào một trang. Anh ưa nhất khổ sách 24×18, mỗi trang in lọt vào giữa, nhiều nhất là 16 dòng, chữ in vừa cỡ Corps 11 hoặc 12 thôi, mỗi đầu câu, đầu bài có một Lettrine (chữ cái đầu) thật xinh, anh thích màu tím ở các dòng thơ, còn lettrine màu lam.

Vậy nếu soạn thơ từ những bản đã in rồi (như “Tiếng hát Quan họ” và “Bên kia sông Đuống”) thì đỡ lo sai và dĩ nhiên những bài anh chép tay là đỡ lo nhất. Còn những bài truyền khẩu hoặc nhớ mang máng thì attention! (coi chừng)

Việc xếp thành từng tập thì cũng đừng nên lẫn lộn. “TÌNH SỬ” là tên tập thơ gần đây nhất, gồm chừng 30 bài rải rác. Còn “Tam cúc”, “Diêu Bông”, “Vườn ổi” là 3 bài (gần như một thứ Trilogie) trích trong tập “VỀ KINH BẮC”. Bài “Bên kia sông Đuống” là bài đầu của tập “QUÊ HƯƠNG” viết hồi Kháng chiến chống Pháp 1947-1954)… “Men Đá Vàng” là tập trường ca về gốm Bát Tràng. Mới viết hồi 1972, inédit, lại là một tập riêng cũng như “Tiếng hát Quan họ” cũng là một tập riêng về tiếng hát dân gian. Tập này em có bản in hay chép tay của ai?

Trình bày với hình thức nào?

Vì vậy nên khi soạn lại để in, chưa đủ tên từng tập thì em phải để dưới bài: (Trích trong tập gì…?). Còn ngoài bìa chỉ lấy một cái tên chung THƠ là đủ. Dĩ nhiên phải có một vài lời giới thiệu. Tuyệt đối tránh phê bình, nhận xét, cảm nghĩ về một số bài đem in. Khi in xong, phân phối như em nói là được.” (trong thư đầu tôi có nói tôi muốn in một số thơ của anh và gửi tặng các trường đại học ở Âu châu và Mỹ châu một bản để làm tài liệu. Biết đâu thế hệ sau có nhiều em được hứng khởi từ những vần thơ Hoàng Cầm và trở thành những tâm hồn tri kỷ có thể đánh giá cao và phổ biến cho những thế hệ tiếp theo một gia tài đặc thù tâm linh của đất nước). “Cần tránh cho anh việc này: Giới thiệu và phê bình trên báo chí (dù là tiếng Việt hay tiếng Pháp). Tuyệt đối không cho ai in lại, đọc hoặc ngâm vào băng đĩa… Kể cả kịch cũng không nên, trong lúc này. Anh biết hình như ở Pháp có một vài tờ báo hay tạp chí gì đó xuất bản bằng tiếng Việt và do người Việt chủ trương. Chắc em cũng rõ báo chí thường hay dính dáng đến phe phái chính trị và liên quan đến nhiều vấn đề chính trị. Mà anh muốn tuyệt đối tránh, không muốn để tác phẩm thơ của anh biến thành tư liệu, tài liệu hoặc minh chứng cho một vấn đề chính trị nào đó, làm vẩn đục cái trong sáng của thơ anh. Em hết sức giữ gìn cho anh về chuyện này. Còn tên người xuất bản em để như em ngỏ ý với anh trong thư vừa rồi là được. Cũng chả còn cách nào hoặc formule (công thức) nào discret (kín đáo) hơn. Cần tránh cả việc thi ca trở thành món hàng buôn bán của kẻ đầu cơ theo chủ nghĩa cơ hội.

Tóm lại, trong tay em đã có những gì thì em cứ đưa in, bài báo nào thấy còn ngờ ngợ, chưa chuẩn xác thì hãy tạm gác lại, rồi viết thư về cho anh để tham khảo và bổ cứu. Dần dần khi đã có nhiều thêm, sẽ lại in tiếp tập thứ hai, rồi thứ ba, thứ tư, thứ… nième.

Đương nhiên vì lẽ thư đi thư về chậm nên việc lớn em gánh vác phải lâu dài, cả em và anh đều phải kiên nhẫn. Tuổi em đương giữa xuân, tuổi anh đã sang thu, tuổi của Thơ ca chắc còn trẻ mãi, vì vậy việc em lo giữ sức khoẻ cho anh là đẹp nhất, cần nhất. Anh đồng ý thế.

Lệnh phổ biến thơ do Hoàng Cầm yêu cầu

Rốt cuộc, một phần vì ngại cho tình trạng an ninh của mình bên ấy, một phần vì cẩn thận cho nên anh Hoàng Cầm đã khuyên tôi đừng nên vội vàng trong công việc xuất bản thơ anh. Trong lá thư đề ngày 30.7.1982, anh viết:

“Còn việc xuất bản, anh yêu cầu em hãy đừng nên vội vàng. Còn đèn đỏ, xe chưa qua được ngã tư. Vả lại một khi em đã có trong tay một số lớn những tác phẩm của anh rồi thì phải coi như em đã đạt mục đích là bảo tồn chúng. Tôt ou Tard, se donnera le feu vert! et bien dûment! (Sớm hay muộn đèn xanh sẽ tự bật và đúng mức!)”

Rõ ràng là Hoàng Cầm đã nhìn xa thấy trước điều ấy, điều mà anh nói tránh việc thi ca trở thành món hàng buôn bán của những người đầu cơ theo chủ nghĩa cơ hội. Và khi anh Phạm Duy phổ nhạc ba bài Lá Diêu Bông – Cỗ bài tam cúc – Vườn ổi để thành băng nhạc (Hoàng) Cầm ca, nhạc sĩ Phạm Duy đã vụng về tung cuộn băng Cầm ca cùng chung với băng nhạc Ngục ca có những bài thơ như Từ người xuống vượn, Cái lầm to thế kỷ… thì tôi thấy đây không phải là điều mà anh Hoàng Cầm muốn. Đúng như Hoàng Cầm tiên đoán trước trong bức thư gửi cho tôi ngày 16.9.1981, tôi đau lòng thấy thơ anh đang bị sử dụng quá thiếu chánh niệm, thiếu sự nhìn sâu để hiểu những khó khăn của người nghệ sĩ đang ở trong nước. Các bài Cầm ca phổ biến chung với Ngục ca đã góp phần đưa anh vào tù ngày 20.8.1982.

Trong một lá thư gửi cho Hoàng Cầm, tôi có hỏi anh bưởi Nga Mi là bưởi gì? Và lá Diêu Bông là lá gì? Trước đó anh đã gửi cho tôi một số bài thơ, trong đó có các bài Cỗ bài tam cúc, Lá Diêu Bông Qua vườn ổi. Bài Lá Diêu Bông ở bên này chúng tôi ai cũng thích. Trong chúng tôi có người nghĩ rằng người Chị trong Lá Diêu Bông chắc là hình ảnh của chính quyền thời ấy với những lời hứa hẹn hạnh phúc, và nhân vật Em là những người đã từng đem hết trái tim mình ra phụng sự đất nước và cách mạng nhưng chưa bao giờ được đền bù. Nghĩ như thế nhưng không ai trong chúng tôi có ý phê bình như trong Cầm ca.

Ngày 5.6.1982, anh viết cho tôi và báo tin cô con gái yêu của anh là Bùi Hoàng Yến đã từng là diễn viên kịch nói của nhà hát quốc gia đã qua đời vì bệnh tim đột ngột và anh đã trả lời câu hỏi của tôi về bưởi Nga Mi và lá Diêu Bông. Anh cũng tỏ ý buồn là người trẻ ở Hà Nội bây giờ ít người hiểu được thơ anh và biết quý thơ anh. Họ có khuynh hướng cho thơ anh là lạc hậu, là cổ hủ và anh có xuống tinh thần vì thái độ ấy.

Anh viết:

Dẫu sao, rất thành thực, anh nói với em: Thơ của anh có lẽ đã cũ kỹ mất rồi… Trong nước thì còn một ít người yêu, ngoài nước còn một số rất ít nữa biết yêu thơ anh. Còn thì giữa cái cuộc sống chen chúc vật lộn này, thơ anh lạc lõng quá. Nhiều bọn trẻ bây giờ chẳng thể nào yêu thích (chưa nói đến say mê) thơ anh. Họ còn cho là lạc hậu, cổ hủ nữa kia, về mặt nào đó anh rất thành thật điều ấy… Chợt nhớ em hỏi bưởi Nga My là gì ?Nga My là tên một làng vùng Kinh Bắc có bưởi ngon, thơm có tiếng, câu thơ ấy, em chú ý Bưởi và Bòng – Bòng là một thứ quả giống hệt Bưởi, nhưng to xác, ăn rất nhạt như ăn cơm nguội, ngoài chợ bán rất rẻ tiền.

Còn lá Diêu Bông không thể ai tìm thấy tên trong bất cứ một sách vở tài liệu nào về khoa học tự nhiên. Tự người đọc, nếu yêu thơ sẽ hình dung ra cái lá ấy. Một cái lá anh đặt tên để làm symbole (biểu tượng) thế thôi. Symbole của những mối tình cao đẹp, của những lý tưởng trong sáng, của những gì là Thật, là Lành, là Đẹp vốn có trong mỗi con người. Nhưng rồi cuộc sống lắm khi tàn nhẫn vì xâu xé vật lộn, vì ngu si tham lam nên lắm khi cái lá ấy ở ngay trong mình mà mình không thấy, và đến khi nhận ra thì cuộc đời đã tàn!”

Chính tác giả đã chân thật nói rõ rằng lá Diêu Bông chỉ là một chiếc lá biểu tượng. Theo cái cách anh tả thì đó là Phật tánh, là tính Bụt trong mỗi chúng ta, nhưng nhạc sĩ Phạm Duy lại giới thiệu Lá Diêu Bông trong cái băng cassette, trước khi ca sĩ Thái Hiền trình bày bài hát, bằng một giọng nặng nề nhức óc. Bởi cách giới thiệu ấy làm mất vẻ đẹp của các bài thơ Lá Diêu Bông Con cá đòng đong, nên tôi phải lấy một cái cassette thứ hai thu lại các bản nhạc phổ từ thơ Hoàng Cầm mà hoàn toàn không có một lời phê phán nào để có thể thưởng thức giá trị của thơ và của nhạc. Cám ơn thi sĩ và nhạc sĩ. Thơ và nhạc làm tăng giá trị của nghệ thuật.

Ngày 30.1.1982, anh kể cho tôi nghe về một người bạn trẻ đã từ Canada về thăm anh và ở lại Việt Nam 3 tháng. Trong lá thư ấy, anh không nói tên người kia, chỉ nói rằng anh ấy cũng là một người rất hâm mộ thơ anh. Và anh cho biết là đầu tháng Tư năm ấy, bạn trẻ này trên đường về Canada sẽ ghé qua Paris và sẽ mang cho tôi một món quà của anh gửi. Sau này tôi biết được anh này tên là Nguyễn Mạnh Hùng. Hồi đó tôi có thành kiến cho rằng những người về Việt Nam dễ dàng như thế chắc phải là người thân chính quyền nên không mấy tin tưởng ở những người như vậy và không muốn nói thật với họ những việc chúng tôi đang làm, sợ nói thì công việc giúp đỡ bên nhà sẽ gặp trắc trở. Món quà mà anh hứa sẽ gửi là một cuốn băng thu thanh toàn tập tác phẩm Men Đá Vàng để tôi nghe và ghi ra giấy. Anh hứa là trong tương lai nếu có dịp anh sẽ gửi bản thảo.

Gặp anh Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Cầm đã cho anh ấy đọc thư tôi viết cho anh tháng 3.1981 và tháng 5.1981. Đọc xong anh Hùng khẳng định với Hoàng Cầm: “Đây là thư của một người con trai giả tên con gái.” Nhưng Hoàng Cầm vẫn một mực không tin và nói chừng nào anh Hùng qua Paris để trao cuốn băng nhựa thâu toàn bộ tác phẩm Men Đá Vàng thì anh ấy sẽ biết được thực sự tôi là con trai hay con gái.

Đến Paris, anh Hùng viết thư ngay cho Bùi Thị Cần Thơ. Anh ấy cho tôi số điện thoại và muốn xin hẹn gặp tôi. Anh ấy nói có thư của Hoàng Cầm gửi cho tôi và muốn đến trao tận tay tôi tại Les Magnolias, 10190 Chennegy – Aube, là địa chỉ trên bì thư tôi gửi Hoàng Cầm. Tôi dịu dàng nói tôi làm việc xa, phòng nhỏ không tiện tiếp khách, để tôi đích thân lên Paris nhận quà từ tay anh ấy. Trong câu chuyện với anh Hùng tôi cũng thẳng thắn nói với Hùng rằng tôi thật tình không tin anh ấy. “Trong khi sinh viên Việt Nam muốn xin về thăm nhà (vào thời điểm ấy – 1981) thì xin thị thực đi Việt Nam rất khó. Có người xin bảy tám tháng vẫn chưa được. Thế mà tại sao anh lại được đi về dễ dàng vậy? Chắc là anh phải thân nhà nước lắm.” Đúng là cái giọng nói thẳng của con gái miền Nam. Nhưng vì có quà của Hoàng Cầm thì tôi sẽ lên Paris lấy quà, vậy thôi. Nhưng vào giờ chót, tôi nhờ anh Sáu tôi là anh Cao Thái lên nhận quà thay tôi và tôi đã viết: “Vào giờ chót, vì không thu xếp công việc được nên Cần Thơ đành nhờ người anh đi Paris nhận quà thay, xin lỗi anh và rất tiếc!”

Khi gặp anh Cao Thái, anh Hùng không chịu đưa cuốn băng thâu Men Đá Vàng, nói rằng anh đã quên đem theo. Sau đó anh ấy viết cho Hoàng Cầm và nói về tới Canada anh sẽ sao ra một bản rồi mới gửi cho tôi bản chính sau. Còn tác phẩm Về Kinh Bắc anh sẽ để ra bốn ngày để chép và gửi cho tôi sau đó.

Ngày 18.4.1982, tôi viết cho anh:

Anh chị Hoàng Cầm kính mến của em.

Cần Thơ nhận được cassette anh gửi cho em rồi, giọng anh chị trẻ ghê, trẻ hơn em tưởng tượng. Em ngồi lắng nghe giọng nói anh chị mà cảm động quá. Anh ngâm thơ hay quá đi. Giọng chị cũng rất ngọt và trẻ. Sao chị không ngâm vài bài tặng em? Đây là lần đầu tiên em nghe giọng ngâm thơ rất hay và lạ. Có nhiều air (hơi hướm) phảng phất như sa mạc, như biển rộng, như sông dài. Thỉnh thoảng anh lại xuống một note (dấu) rất ngọt. Tuy nhiên em phải xin anh biên tay xuống giấy trắng mực đen mới được vì có nhiều lời, nhiều âm em nghe không hiểu hết. Em thích nhất là bài Lá Diêu Bông. Nay thì em hiểu lá này là lá gì rồi. Có lẽ em thích vì em có sẵn lời anh đã chép cho. Nghe thật thương chú bé mười hai tuổi. Em cứ tiếc là anh không ngâm hết băng cho em, hoặc chị không ngâm thơ anh cho em. Các bản nhạc đó bên này em có đủ. Anh Hùng còn cả một cuộn băng “Men Đá Vàng” anh ngâm mà anh ấy không mang đi. Anh ấy chính trị quá, rất khó thông cảm với em. Anh đã nói chuyện với em nhiều lần rồi vậy mà khi người thân của em tới lấy cassette anh còn bảo chắc em không phải họ Bùi mà tên cũng không là Cần Thơ. Anh ấy đặt giả thuyết v.v… làm em tổn thương lắm. Họ dùng con mắt ấy mà soi vào tình cảm một nghệ sĩ như anh chị và như em thì buồn lắm. Em xin anh cũng đừng báo tin em sẽ lĩnh“gia tài” của anh cho bất cứ ai. Chưa chi mà anh Hùng đã ngăn em. Trong tờ “Đất Việt” chỉ có đăng thơ của Nguyễn Đình Thi mà sao không đăng thơ anh. Nếu anh ấy yêu thơ anh thật thì thế nào cũng có đăng chớ! Anh Hùng bảo anh ấy trách nhiệm tờ đó mà.

Tháng 7 anh Hùng lại về Hà Nội nữa. Em xin anh chị đừng gửi cho em qua ngả anh Hùng và các bạn anh. Ngả Hiệp ở TP. Hồ Chí Minh là tốt nhất. Ngoài “Men Đá Vàng” và “Về Kinh Bắc” anh còn sáng tác những bài lẻ tẻ nào cũng cho em hết nghe anh.

Thư ngày 3 tháng 4 năm 82, em có nói tới thùng quà F tức là danh từ chỉ số tiền 500 quan, em gửi về anh chị hồi đầu tháng Tư đó. Gửi bằng điện phiếu nên tốn thêm 76 quan nữa. Hôm tháng 2 em có nhờ chị Phan Thị Tô gửi 100 quan cho em chị ấy là Hiệp ở TP.HCM và nhờ Hiệp chuyển cho anh. Nhưng vì Hiệp đi Huế trọn ba tháng nên chị Tô mới chỉ gửi đầu tháng 4.1982 này thôi. Vậy có thể tháng 5 anh sẽ nhận vừa 100 quan em gửi qua Hiệp và 576 quan em gửi qua ngân hàng nhà nước. Cách gửi và nhận nào tiện xin cho em biết.

Em rất mong thư anh chị và xin anh vui lòng viết cho em mỗi tháng 2 lần, mỗi lần anh cho em vài bài.

Em cám ơn anh chị nhiều lắm. Thơ.

Hoàng Cầm biết là tôi không vui khi anh Hùng có ý nghi ngờ tôi là trai giả gái, và đã không chịu trao ngay cuốn băng thâu Men Đá Vàng cho tôi qua anh Cao Thái. Anh nghĩ là tôi giận, nên trong lá thư ngày 5.6.1982 anh có ý muốn hoà giải hai người. Anh viết:

Nguyễn Mạnh Hùng đã về Hà Nội giữa tháng 7. Hùng đã thuật lại một số việc liên quan đến em. Anh rất cảm ơn Hùng đã làm giúp anh một việc lớn. Hùng cũng tự nhận thấy là em giận Hùng về nỗi ngờ vực này kia. Hùng có nói chuyện lại với anh, sở dĩ Hùng khiến em không được vui lòng, chỉ là vì Hùng không thể ngờ rằng một cô gái còn rất trẻ, gốc miền Nam, xa quê từ bé, ngôn ngữ hình ảnh miền Bắc chưa hề được thấm, vậy mà lại cảm thụ thơ anh một cách sâu sắc, tế nhị đến như vậy. Đó là điều khiến Hùng rất ngạc nhiên, và từ chỗ không tin ấy dẫn đến một thái độ đã khiến em tổn thương, Hùng nói: Cô Thơ càng giận Hùng thì Hùng càng kính trọng Thơ vì Hùng đã ghi nhận em là một tâm hồn rất đẹp, phong phú, rất Việt Nam, một người không chạy theo những cái cuốn hút phức tạp của cuộc sống hiện nay. Có một đời sống nội tâm rất sâu. Vậy anh yêu cầu em hãy xoá bỏ một incident (va chạm) không nghiêm trọng gì, để sau này hai người ở xa quê cùng yêu thơ anh, có thể nói chuyện cởi mở với nhau hơn. Nếu có préjugé (định kiến trước) gì với Hùng, anh cũng thành thật mong em xoá bỏ. Vì Hùng rất thành thực yêu anh, yêu thơ anh, còn dĩ nhiên trong hoàn cảnh đất nước ta hiện nay, còn nhiều điều phải cần có dè dặt, còn nhiều vấn đề phải tạm gác lại. Theo anh nghĩ có thể giữa em và Hùng, có một vài cái hiểu lầm nhỏ thôi, có thể bỏ qua được. Sau này nếu hiểu nhau hơn, có lẽ em sẽ quý Hùng hơn. Hùng đã nói thật với anh là hồi qua Pháp, Hùng không mang theo băng cassette “Men Đá Vàng”. Hùng có hứa với anh là khi về Canada Hùng sẽ sao ra một băng khác và sẽ gửi làm quà cho em (anh biết trong thâm tâm, Hùng rất quý trọng em) vì ít thì giờ quá, nên anh chưa thể gửi nhờ Hùng chuyển cho em toàn bộ tập thơ “Về Kinh Bắc”, anh sẽ gửi dần vậy, vì bây giờ muốn chép lại cả tập thơ ấy thì phải mất 4 ngày liền. Hùng vội phải đi mà anh thì bận việc kiếm ăn hằng ngày, rất ít thì giờ rảnh rỗi.

30/7 – Nhưng thôi, anh cứ phải làm một việc hoà giải giữa hai người em trẻ tuổi, cùng biết yêu thơ và yêu thơ Hoàng Cầm. Nghĩa là mặc dầu em đã nghĩ vậy, anh hôm nay cứ gửi em toàn tập “Về Kinh Bắc” qua Hùng và Hùng sẽ gửi cuộn băng toàn bộ trường ca “Men Đá Vàng” để em nghe rồi em sẽ ghi ra giấy. Hoặc sau này anh sẽ gửi bản thảo.

Trong thơ anh, ít nhiều có một số điển tích, một số ẩn dụ, một số hình tượng đặc trưng của vùng quê miền Bắc. Em đọc thì có thể tìm hiểu dễ hơn, nhưng chỉ nghe không thôi thì sẽ có nhiều chỗ em không hiểu. Vì cách xa nên không thể bình giảng để em thấu được Anh xin lỗi em. Dần dà thời gian sẽ giúp em thêm… Và rồi anh sẽ gửi dần cho em những bài lẻ tẻ, gộp lại thì gọi là tập “Tình sử”. Ví dụ bài “Chùa Hương” thì không nằm trong tập “Về Kinh Bắc” mà sẽ là một thành viên của tập “Tình sử” ấy.

Bài thơ Bên kia sông Đuống

Hoàng Cầm viết:

Nhân đây anh chép gửi em bài thơ “BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG” (1948) mà có một thời anh nghe tin rằng một nhóm sinh viên Việt Nam ở Paris có đem in ra ở Pháp (việc ấy chả biết có đúng thế không?) Đâu như vào những năm 60. Anh cũng hồ nghi, có lẽ chỉ là một tin đồn vô căn cứ. Bài này là đỉnh cao của thơ anh trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Quê anh ở ngay bên bờ nam Sông Đuống, làng Đông Hồ, nơi sinh ra những bức tranh dân gian từ đời Lý đến Lê – Nguyễn (Tranh gà lợn – Hứng dừa – Đánh ghen – Đám cưới chuột – Thày đồ ếch…) Nếu em có học về mỹ thuật cổ Việt Nam, chắc em biết. Sông Đuống cắt đôi tỉnh Bắc Ninh từ Tây sang Đông. Cuối năm 1947, đầu 1948, giặc Pháp xâm lược chiếm hết nam phần. Lúc đó, con sông Đuống là ranh giới giữa vùng địch chiếm và vùng tự do. Anh phải xa rời làng quê, đi chiến đấu ở phía Bắc. Đứng ở bờ bắc, nhìn về vùng quê mình là nam phần Bắc Ninh đang nằm dưới gót giầy đinh giặc Pháp, nên bài thơ lấy tên là “Bên kia sông Đuống.”

BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG

(Đã đăng trên báo Cứu Quốc năm 1948, xuất bản năm 1955, tái bản 1956) Nhà xuất bản Văn Nghệ Hà Nội.

Em ơi! Buồn làm chi

Anh đưa em về sông Đuống

Ngày xưa cát trắng phẳng lì

Sông Đuống trôi đi

Một dòng lấp lánh

Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ

Xanh xanh bãi mía bờ dâu

Ngô khoai biêng biếc

Đứng bên này sông sao nhớ tiếc

Sao xót xa như rụng bàn tay

Bên kia sông Đuống

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô – nhà ta cháy – chó ngộ từng đàn

Lưỡi dài lê sắc máu

Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

Mẹ con đàn lợn âm dương

Chia lìa trăm ngả

Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã

Bây giờ tan tác về đâu?

Ai về bên kia sông Đuống

Cho ta gửi tấm the đen

Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên

Những hội hè đình đám

Trên núi Thiên Thai

Trong chùa Bút Tháp

Giữa huyện Lang Tài

Gửi về may áo cho ai

Chuông Chùa văng vẳng nay người ở đâu?

Những nàng môi cắn chỉ quết trầu

Những cụ già phơ phơ tóc trắng

Những em xột xoạt quần nâu

Bây giờ đi đâu về đâu?

Ai về bên kia sông Đuống

Có nhớ từng khuôn mặt búp sen

Những cô hàng xén răng đen

Cười như mùa thu toả nắng

Chợ Hồ chợ Sủi người đua chen

Bãi Tràm Chỉ người dăng tơ nghẹn lối

Những nàng dệt sợi

Đi bán lụa màu

Những người thợ nhuộm

Đồng Tỉnh Huê Cầu

Bây giờ đi đâu về đâu?

Bên kia sông Đuống

Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong

Dăm miếng cau khô

Mấy lọ phẩm hồng

Vài thếp giấy đầm hoen sương buổi sớm

Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn

Khua giầy đinh đạp gãy quán gầy teo

Xì xồ cướp bóc

Tan phiên chợ nghèo

Lá đa lác đác trước lều

Vài ba vết máu loang chiều mùa đông

Chưa bán được một đồng

Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong

Bước cao thấp bên bờ tre hun hút

Có con cò trắng bay vùn vụt

Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu?

Mẹ ta lòng đói dạ sầu

Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ

Bên kia sông Đuống

Ta có đàn con thơ

Ngày tranh nhau cơm trộn bắp ngô

Đêm líu ríu chui gầm giường tránh đạn

Lấy mẹt quây tròn

Tưởng làm tổ ấm

Trong giấc thơ ngây tiếng súng rồn tựa sấm

Ú ớ cơn mê, thon thót giật mình

Bóng giặc đi về trên nét môi xinh

Đã có đất này chép tội

Chúng ta không biết nguôi hờn

Đêm buông xuống dòng sông Đuống

“Con đấy ư? Con ở đâu về?”

Hé một cánh liếp

“Con vào đây, bốn mảng tường che.”

Lửa đèn leo lét soi tình mẹ

Khuôn mặt bừng lên như dựng trăng

Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể

Những chuyện muôn đời không nói năng

Đêm đi sâu quá dòng sông Đuống

Bộ đội như tre đã kéo về

Con bắt đầu xuất kích

Trại giặc bắt đầu run trong sương

Dao loé giữa chợ

Gậy lùa cuối thôn

Lúa chín vàng hoe, giặc mất hồn

Ăn không ngon

Ngủ không yên

Đứng không vững

Chúng mày phát điên

Quay cuồng như xéo trên đống lửa

Mà cánh đồng ta còn chan chứa

Bao nhiêu nắng đẹp mùa xuân

Gió đưa tiếng hát về gần

Thợ cấy đánh giặc dân quân cày bừa

Tiếng bà ru cháu buổi trưa

Trang trang nắng hạ võng đưa rầu rầu

“À ơi! cha con chết trận từ lâu

Con càng khôn lớn càng sâu mối thù”

Tiếng em cắt cỏ hôm xưa

Căm căm gió rét mịt mù mưa bay

“Thân ta hoen ố vì mày

Hờn ta cùng với đất này dài lâu…”

“Em ơi! đừng hát nữa! Lòng anh đau,

Mẹ ơi! đừng khóc nữa! Dạ con sầu.”

Cánh đồng im phăng phắc

Để con đi giết giặc

Lấy máu nó rửa thù này

Lấy súng nó cầm trong tay

Mỗi đêm một lần mở hội

Trong lòng con chim múa hoa cười

Vì nắng sắp lên rồi

Chân trời đã đỏ

Sông Đuống cuồn cuộn trôi

Để nó cuốn phăng ra bể

Bao nhiêu xương thịt tơi bời

Bao nhiêu nước mắt

Bao nhiêu mồ hôi

Bao nhiêu bóng tối

Bao nhiêu cuộc đời

Bao giờ về bên kia sông Đuống

Anh lại tìm em

Em mặc yếm thắm

Em thắt lụa hồng

Em đi trảy hội Non Sông

Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh

1948 – Hết

Trong thơ, mà in sai (có khi chỉ một dấu hỏi, dấu ngã) là đã đủ để đưa câu thơ ấy hoặc bài thơ ấy đến chỗ dở… Ngay mấy câu em thuộc ở bài “Bên kia sông Đuống” đã có tới ba, bốn chữ sai. Ví dụ: “Khuôn mặt bừng lên như đỉnh trăng,” đúng ra là “dựng trăng”… Ở nông thôn miền Bắc, vào những đêm cuối tháng từ 18, 19 âm trở đi, chập tối trời rất tối. Đến lúc trăng mọc, nếu như ngồi trong nhà mà nhìn ra vườn, ra sân, chợt thấy sáng lên, không tỏ lắm, nhưng đủ sáng để phân biệt được từ nóc nhà, vòm lá cây cau hoặc thấy cả hình con mèo nằm trên đỉnh bức tường hoa, một thứ ánh sáng rất mơ, rất dịu và ấm áp, nhân dân ta đã gọi thời điểm ấy là “dựng trăng” Nghĩa là lúc trăng hạ tuần mọc, vừa nhô ra khỏi chân trời, đã toả cái thứ ánh sáng Hằng Nga ấy trên cánh đồng, vào các ngõ xóm…

Trong một lá thư đề ngày 30.1.82, Hoàng Cầm gửi thêm cho tôi một số bài thơ trích trong tập thơ Về Kinh Bắc. Ở đây tôi chỉ trích ra bài Theo đuổi.

Hôm nay anh lại gửi em thêm vài bài trích trong “Về Kinh Bắc” nhé.

Đây là bài THEO ĐUỔI

(đã thu băng và vẫn nằm im trong ngăn kéo của anh)

Em ơi! thử đếm mấy nguyên tiêu

Đêm hội Lim về… đê quai rảo bước

Đuổi tà lụa nhạt ánh trăng đầm thấm đường sương…

Ấy bởi thương Em vườn không bỏ ngỏ

Gió vào ra bưởi trụi hồng thui

Ấy bởi thương Em mái nhà um cỏ

Chim vào ra vách đứng cột ngồi.

Em về đồng chiêm đất rạn chân chim

Em đi mưa ngâu nước ngập đồi chè

Hồ nghe đêm hội ới a…

Lại xót mắt Em mi trường khép bóng

Lòng tay êm mát rừng tơ xa

Lại xót tay Em đêm trường ru võng

Rừng chân mây chưa động sấm quê nhà

Chân Em dài đi không biết mỏi

Má hồng Em lại nổi đồng mùa nước lụt mông mênh

Lưng thon thon cắm sào em đợi

Đào giếng sâu rồi đừng lấp vội đầu xanh

Lý Lý ơi! Khát khô cả giọng

Tình Tình ơi! chớ động mành thưa

Chìa vôi quệt gió hững hờ

Bờ ao sáo tắm bao giờ hở Em.

1960

Trích “Về Kinh Bắc”

Hoàng Cầm viết tại Hà Nội 30.1.82.”

Bức thư đầu

Đây là nguyên văn bức thư đầu anh viết cho tôi:

Hà Nội, ngày 9.3.1981

Gửi em Cần Thơ phương xa,

Trước trang giấy trắng, gần một tháng nay, anh không biết nên gọi em thế nào, và viết thế nào. Một lời cảm tạ khách sáo và nhạt nhẽo ư? Một lời bỡ ngỡ vô duyên ư? Điều gì đã chao động trong tâm trí anh, từ một chiều tháng giêng, nhận được chút hương lạ và xa xôi của em gửi đến. Anh chỉ có thể diễn tả được vài phần bằng thơ mà thôi. Còn như viết thư… anh rất vụng về, lúng túng đôi khi ngớ ngẩn nữa… Ấy thế mà rồi vẫn phải viết một câu mà anh cứ e là khách sáo: “Anh chị rất cảm tạ tấm lòng em từ phương xa đã mở cho anh một mùa xuân thơ, khoẻ và trẻ lại.”

Và xin kể đầu đuôi:

Đúng ngày mùng 10 tháng Giêng Tân Dậu anh được mời ra bưu điện (bên bờ Hồ Gươm) nhận… không biết ai gửi, ai gửi không biết tên. Và đã phải “tranh luận” với cô nhân viên bưu điện về chuyện ai gửi? Tên gì? Địa chỉ? Sao bác lại không biết? Không biết, không quen, không phải bạn, không phải họ hàng sao lại gửi đúng địa chỉ và tên bác? Vô lý.” Rầy rà một chút thôi, và rồi cô bưu điện (cũng có thuộc tên anh) đành phải vào mở sổ xem tên người gửi và đọc to một cái tên để anh tự viết vào tờ khai nhận hàng. Anh đã viết tên em lên trang giấy hành chính ấy, xúc động như viết câu thơ đầu tiên của một bản trường ca…

Chiều ấy, Hồ Gươm đẹp hơn xa những bức tranh cổ điển của Trung Quốc thời xưa – Mưa như phấn thoa lên mặt hồ – và anh hình dung ra em – Nếu anh là hoạ sĩ, anh có thể vẽ ngay chân dung em lên lụa, và chắc chắn là giống như tạc, như đúc! Portrait de ton Intérieur – de ton Cœur (bức hoạ chân dung tâm linh bên trong trái tim em).

… Anh biết trái tim em chứa một trời xanh màu xanh Cần Thơ, mắt em chứa chan cái nắng Cần Thơ và tóc em chảy dòng những dòng mưa ở một ngàn xanh nào của Đất Mẹ hiền. Em yêu thơ Việt, yêu thơ anh đằng đẵng và thấm đọng đến mức tìm được địa chỉ anh sau bao lần dò hỏi, điều đó chứng tỏ tình yêu quê hương trong em rất sâu, bắt nguồn từ máu. Mặc dầu em xa quê hương từ tấm bé, mà tâm hồn em là một hồn thơ, là tâm hồn Việt Nam ngàn năm. – Ton âme, c’est la Muse Vietnamienne elle-même (Linh hồn em đích thực là hồn thơ của đất Việt).

Thêm vào đó, em còn là từ mẫu lương y – lòng em rung động mãi trước cái đau của con người trong khi còn rung động mãi vì quê Việt và thơ Việt.

Em,

Ngày nhận được tấm lòng em, kỳ lạ thay là trước ngày kỷ niệm sinh nhật anh đúng một vòng quay của hành tinh chúng ta.

Đêm kỷ niệm sinh nhật, anh thao thức vì tấm lòng em, trắng đêm nở ra một bài thơ 11 Strophes (sinh nhật 11 tháng Giêng rạng ngày 12). Anh chỉ đọc em nghe đoạn đầu tiên, còn cả bài, sau này có dịp nào đó, như một cơn gió thoảng bất chợt, em sẽ nhận, cũng như anh đã nhận tấm lòng em – bất chợt!

Một áng hương Em gói lẵng xuân

Từ đâu? Bỡ ngỡ cánh thiên thần?

Hương xa… lạ thế… mà thân thế

Quấn nửa tinh cầu nửa bước chân…

Em Thơ,

Bây giờ nói qua về cuộc sống thực tại anh tự kể trước khi cần hỏi thêm về cuộc sống của em. Anh và chị… và các em ở Hà Nội, sống bình thường giản dị, thanh bần lắm nhưng cuộc sống Việt Nam thật là đáng sống… và niềm vui hằng ngày của anh là bạn hữu và thi ca. Cũng vẫn kiếm được một vài ly rượu quê để phấn chấn vào những chiều xuân Hà Nội, hơi lạnh, mát, thoảng chút mưa bụi như sương nhẹ.

Sức khoẻ của anh, thực tế là hơi kém nhưng anh vẫn tự sáng chế cho mình một thứ thuốc an thần gồm mấy thành phần: Một là “tri túc” (biết thế nào là đủ). Hai là “an bần lạc đạo” (yên tâm với cái nghèo để mà vui cái đạo làm người). Giờ phút nào anh cũng uống một viên thuốc ấy. Em là bác sĩ, thử tìm ở các hiệu thuốc bên ấy xem họ có bán không nhé! Còn mấy thứ thuốc rất quý (vì tình của em) gửi tặng anh thì may quá, rất cần cho chị. (Chị bị huyết áp cao, nhiều lần lên tới 220/140, lại cũng hay đau xương mỏi khớp). Chị gửi lời Anh vào thư cảm ơn em vô hạn. Tình tình hình sức khoẻ của cả gia quyến – như sự quan tâm của em – thì anh xin báo cáo với bác sĩ là cần rất nhiều thuốc kháng sinh, nào đường hô hấp (riêng anh đã có bước đầu của bệnh hen suyễn) rồi đường ruột, các thứ bệnh viêm ở một xứ nhiệt đới, ẩm thấp, luôn luôn các em các cháu cứ hết viêm họng lại viêm phế quản, viêm ruột, viêm xoang, nhiều loại viêm quá, em thấy có ghê không?

Đọc đến đây, nghe thi sĩ tả nếp sống an bần lạc đạo, tôi rất thích. Hiện tại Thầy và chúng tôi cũng đang sống rất thanh bần tri túc ở Phương Vân Am y như nếp sống của Hoàng Cầm và gia đình anh kể trong thư. Chỉ khác là không có “vài ly rượu quê để phấn chấn vào những chiều xuân Hà Nội”, dù rằng nơi thầy trò Phương Vân Am chúng tôi đang ở là vùng sản xuất rượu Champagne, thứ rượu vang trắng thượng hạng của Pháp. Đến khi chúng tôi có Làng Hồng, thì Làng Hồng cũng toạ lạc tại một vùng sản xuất rất nhiều thứ rượu vang nổi tiếng của nước Pháp. Nhưng Thầy và chúng tôi nhất định khuyên thiền sinh bốn phương về tu học là khi đã phát nguyện giữ giới thứ năm thì dù chỉ một hớp rượu hay một ly bia cũng không nên để dính môi. Thầy nói ly thứ nhất thường thường đưa tới ly thứ hai.

Hoàng Cầm viết tiếp:

Nói vậy, nhưng trong đáy lòng, anh không muốn làm phiền em, mất thì giờ của em vì không biết bài thơ nào, câu thơ nào của anh từ lâu đã làm phiền tâm trí em rồi? Anh không muốn hỏi ở Em một thứ gì hết, em hiểu cho anh, chỉ khao khát những gì là Đẹp, là Trong Sáng. Còn anh vẫn phải để quyền cho em quan tâm đến anh. Anh không mảy may dám phạm đến quyền ấy.

Ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và nhiều nơi khác khắp đất nước, anh có diễm phúc là được nhiều bạn hữu nam, nữ, già, trẻ. Chỉ tiếc là năm 1976, anh ở Sài Gòn sáu tháng mà không đặt chân lên đất Cần Thơ (chắc là nơi em ra đời, nên hai người thân sinh đã lấy đất ấy mà đặt tên Em. Anh hơi tò mò, em thứ lỗi nhé!) Nhưng bây giờ qua em, anh biết Cần Thơ rồi đấy.

Cảm ơn em và lại phải đọc cái quatrain thứ hai của bài thơ mà anh tạm lấy tên là:

HƯƠNG XA

Bài thơ nào vỗ cánh trong Em?

Để mỗi mười năm một trắng đêm

Là đêm thao thức mơ về Nước

Thon dáng người Thơ, gió động rèm.

Thế nhé! còn chín đoạn nữa em hãy chờ, và bao giờ thì những cơn gió đẹp lành cũng sẽ bay khắp hành tinh.

Bây giờ, xin phép Em cho anh được hiểu thêm:

– Bài thơ nào vỗ cánh trong em từ dạo ấy?

– Cho anh biết thêm về gia đình em và cho phép anh, qua em gửi lời kính chào, lời chúc mừng tốt đẹp đến những người thân của em.

Và nếu em cho phép anh biết thêm gì nữa, anh sẽ rất trân trọng và cảm ơn em nhiều lắm.

Còn anh, dẫu là 30 năm về trước phải viết ra những dòng thơ như phải sống, phải thở trong bầu không khí của dân tộc và đất nước Việt Nam mình.

Tác phẩm thơ của Anh trong khoảng trên 2/3 thế kỷ qua cũng đáng để anh yên tâm rằng mình không đến nỗi như là hạt cát ở bến sông đời, ít nhất cũng có được đôi ba Chung Tử Kỳ, trong đó có em. Anh mong thư của em hơn là mong bất cứ một thứ gì khác.

Chúc em khoẻ mạnh, vui, yêu Thơ, xin được em cho phép là Anh của Em

Tạm dừng nhé!

P/s: tên khai sinh Bố Mẹ đặt cho anh là Bùi Bằng Việt (Vượt chim bằng). Khi bắt đầu có thơ anh mới lấy bút danh như mọi người biết (tức là Bùi Hoàng Cầm).

Khôi phục niềm hứng khởi sáng tác

Đó là cuối năm 1981. Sau khi nhận được hai bức thư đầu tiên và những hộp quà thuốc, Hoàng Cầm đã rất cảm động và bắt đầu sáng tác trở lại. Đọc những bức thư của anh, tôi thấy niềm tin đã sống lại trong anh, nguồn hứng khởi và nàng thơ lại dào dạt trong thi sĩ.

Thầy và anh chị em chúng tôi thấy thế thì mừng vô cùng. Đó là món quà lớn nhất mà bao nhiêu tiền cũng không mua được. Mục đích của Thầy và anh chị em chúng tôi là giúp một phần làm sống dậy nguồn cảm hứng của các thi sĩ, hoạ sĩ và nghệ sĩ. Những đoá hoa kỳ diệu của đất nước cần phải tiếp tục toả hương, không thể để cho những tài năng đó tàn lụi. Trong giai đoạn đó của đất nước, có một nhà thơ rất đậm chất văn hoá Kinh Bắc, chiếc nôi văn hoá của dân tộc, ngay tại trung tâm Phật giáo Luy Lâu: Đó là nhà thơ Hoàng Cầm.

Bài thơ đầu mà anh sáng tác trở lại là bài Hương Xa mà anh đã làm tặng tôi. Trong lá thư đề ngày 09.03.1981, anh chỉ mới chép cho tôi hai đoạn đầu của bài thơ ấy thôi. Tôi ngạc nhiên quá chừng! Mình là ai mà được một thi sĩ tài ba nổi tiếng như thế tặng thơ? Tôi thở sâu vài hơi và thấy được rằng: “Ôi, bài thơ này anh ấy nói là tặng cho Cần Thơ, mà Cần Thơ là tăng thân Phương Vân Am. Dễ thương quá! Tôi chỉ là một giọt nước nhỏ trong tăng thân”. Nhưng giọt nước này đã có một hình dáng thật đẹp trong lòng người thi sĩ đã quá khô cằn vì thời cuộc. Óc tưởng tượng của anh thật phong phú.

Anh viết:

Chiều ấy, Hồ Gươm đẹp hơn xa những bức tranh cổ điển của Trung Quốc thời xưa – Mưa như phấn thoa lên mặt hồ – và anh hình dung ra em – Nếu anh là hoạ sĩ, anh có thể vẽ ngay chân dung em lên lụa, và chắc chắn là giống như tạc, như đúc! Portrait de ton Intérieur – de ton Cœur (bức hoạ chân dung tâm linh bên trong trái tim em).

… Anh biết trái tim em chứa một trời xanh màu xanh Cần Thơ, mắt em chứa chan cái nắng Cần Thơ và tóc em chảy dòng những dòng mưa ở một ngàn xanh nào của Đất Mẹ hiền. Em yêu thơ Việt, yêu thơ anh đằng đẵng và thấm đọng đến mức tìm được địa chỉ anh sau bao lần dò hỏi, điều đó chứng tỏ tình yêu quê hương trong em rất sâu, bắt nguồn từ máu. Mặc dầu em xa quê hương từ tấm bé, mà tâm hồn em là một hồn thơ, là tâm hồn Việt Nam ngàn năm. Ton âme, c’est la Muse Vietnamienne elle-même (Linh hồn em đích thực là hồn thơ của đất Việt).

Thêm vào đó, em còn là từ mẫu lương y – lòng em rung động mãi trước cái đau của con người trong khi còn rung động mãi vì quê Việt và thơ Việt.

Thường ta hay nghĩ mình là người cho quà và lấy làm hãnh diện. Thật ra tôi đã thực tập để thấy mình chỉ là một điểm tựa, may mắn có đủ phương tiện và hoàn cảnh để yểm trợ một chút nào đó cho những viên ngọc quý của đất nước, và tôi cảm thấy khá bối rối khi anh Hoàng Cầm quá lời khen ngợi. Thầy tôi an ủi, bảo tôi đừng ngại. Ước mơ của mình là tạo niềm hứng khởi sáng tác cho các văn nghệ sĩ. Đó là nhiệm vụ của chư tổ tiên Việt Nam giao cho mình. Có chút kết quả nào thì ta nên vui mừng mới đúng.

Bắc một chiếc cầu

Tôi nhớ tới người em kết nghĩa Hồ Hải Trân. Gia đình em từ miền Bắc di cư vô Nam những năm 1954 – 1956, lúc đất nước chia hai. Trân là em của người bạn thân của tôi ở trường Marie Curie. Em nhỏ hơn tôi hai tuổi nên đã xin làm em kết nghĩa. Hai chị em tập viết văn. Lúc đó tôi cũng tập viết văn và đọc những bài báo tiếng Việt. Qua ngòi bút, em hay thuật cho tôi nghe vô số chuyện dễ thương về miền Bắc như có con sông Thương nước chảy hai dòng, có những thi sĩ tuyệt vời như Hoàng Cầm viết bài thơ Bên kia sông Đuống và kịch thơ Kiều Loan mà mẹ của Trân đã từng là kịch sĩ diễn trong vở kịch đó.

Đọc xong bài thơ Em bé lên sáu, tôi liên lạc với Hồ Hải Trân để nhờ em tìm cách xin địa chỉ thi sĩ Hoàng Cầm. Hồ Hải Trân không trả lời được vì chính em mới vượt biên vừa tới Hoa Kỳ, đang gặp khó khăn trong đời sống, lại thêm khó khăn liên lạc với mẹ em ở Việt Nam. Nhờ Trân tìm địa chỉ của Hoàng Cầm như thế, nhưng cả năm cũng chưa có tin tức gì.

Thật ra lúc ấy, tôi cũng có quá nhiều việc lo cho giới thuyền nhân. Cuối năm 1977, tôi mới từ Thái Lan về lại Phương Vân Am sau chuyến đi cứu trợ thuyền nhân lần chót, suýt chết vì hải tặc định chận đường chiếc ghe “giả vờ đánh cá” của tôi tại Trad (xin xem Tập 2). Tôi nhờ em Hồ Hải Trân tìm địa chỉ nhà thơ nhưng phải chờ Trân gửi thư về hỏi mẹ Trân ở Việt Nam. Mẹ Trân phải tìm một người bạn cũ của Hoàng Cầm cùng di cư vào Nam sau 1954 như bà. Ông ấy lại đi dò hỏi nhiều người, khoảng một năm và sáu tháng sau Trân mới cho tôi địa chỉ: Thi sĩ Hoàng Cầm 43 đường Lý Quốc Sư, Hà Nội. Đó là vào khoảng tháng 10 năm 1980.

Trong khi Hồ Hải Trân tìm địa chỉ thi sĩ Hoàng Cầm, tôi vẫn tiếp tục chương trình giúp đỡ các văn nghệ sĩ khác. Bắt đầu từ năm 1977 trở đi chúng tôi đã có dịp giúp nhiều văn nghệ sĩ khác rồi, như nhà văn Doãn Quốc Sĩ và nhạc sĩ Lê Thương. Qua Lê Thương tôi lại biết tới nhà văn Hoàng Hải Thuỷ, hoạ sĩ Minh Đăng Khánh, nhạc sĩ Vĩnh Phan, nghệ sĩ hài Khả Năng, nhà văn Duyên Anh… Gửi quà cho văn nghệ sĩ chúng tôi không thể để tên thật người gửi, vì sau mấy lần họp báo gửi tin cho các hãng thông tấn trên thế giới: tên tôi đã bị ghi vào sổ đen rồi. Nếu nhân danh tôi gửi thuốc, gửi quà thì ngay cả các cháu cô nhi cũng chắc chắn không lãnh quà được. Vì thế nên tôi phải ẩn tàng và biểu hiện thành bác sĩ Ngô Thị Phương Hương, bác sĩ Bùi Thị Cần Thơ, cô Nguyễn Thị Thiều Chi, em Lê Thị Chín, cháu Đào Thị Mây, em Mai Thị Ngọc…

Trong tinh thần đó, tôi đã viết một lá thư cho Hoàng Cầm vào cuối năm 1980, nói rằng tôi lớn lên bên Pháp, tên là Bùi Thị Cần Thơ, rất mến mộ thơ của thi sĩ. Hiện tôi mới ra trường, đang là bác sĩ làm việc tại một bệnh viện nhỏ ở miền Đông Nam nước Pháp, nhưng không thích kiếm tiền nhiều, chỉ muốn làm đủ sống thôi và muốn có thời gian học hỏi về văn hoá và thi ca Việt Nam. Viết đến đây, tôi nhờ Thầy viết thêm cho mấy đoạn khen vở kịch thơ Lên đường rồi chép lại gửi cho Hoàng Cầm. Thành ra, cái phần tươi mát của người trẻ là của tôi, rồi thêm cái phần tri kỷ hiểu và bình thơ Hoàng Cầm là của Thầy chúng tôi. Phần trị bệnh là của anh Năm tôi, vốn là bác sĩ y khoa tốt nghiệp tại Paris và đã hành nghề hơn 20 năm ở Việt Nam, mới trở qua Pháp. Rồi sau cuối là phần thăm hỏi và khen ngợi từng người thân trong gia đình, trong đó có chị Yến vợ của người nghệ sĩ nhận quà, lại do tôi viết. Tóm lại, đó là một bức thư rất đầy đủ chân tình của nhiều trái tim biết trân quý những viên ngọc của đất nước.

Sau này Hoàng Cầm kể lại rằng, khi nghe một người bạn trong Nam bảo với Hoàng Cầm có một cô bác sĩ trẻ đang ở Pháp rất yêu thơ của anh, muốn liên lạc với anh, thì Hoàng Cầm đã sẵn sàng và đồng ý.

Ba tháng sau, Hoàng Cầm nhận được một giấy báo tin có một bưu phẩm từ bên Pháp về đề đúng tên ông. Ban đầu Hoàng Cầm cũng đã nghi bưu phẩm ấy là của ai gửi rồi. Cô nhân viên bưu điện hỏi ai gửi, Hoàng Cầm chưa biết tên tôi nên chỉ nói: “Tôi biết có một cô bác sĩ ở Pháp rất mến mộ thơ của tôi, muốn tặng tôi một ít thuốc để trị bệnh”. Cô nhân viên bưu điện hình như cũng đã có nghe tên Hoàng Cầm, nên đã tử tế đọc tên người gửi để anh điền vào giấy, rồi mới được lãnh quà. Trong gói quà, bác sĩ Cần Thơ đã căn dặn rõ ràng thuốc này dùng cho bệnh gì, thuốc kia dùng ra sao.

Ban đầu tôi chỉ gửi một gói nhỏ thôi, để xem quà có tới được không. Đến khi biết quà tới được rồi, tôi mới gửi gói to hơn, vì nghe nói đồng bào trong nước bị giới hạn “một năm chỉ được nhận hai hoặc ba lần quà thôi”. Mỗi lần chỉ được gửi nhiều nhất là 5kg, gồm vải, bút mực, giấy, giấy carbon, thuốc trụ sinh và thuốc bổ. Theo như Hoàng Cầm kể lại thì trong thời gian đầu liên lạc với tôi, gia đình anh cũng sống tạm ổn nhờ vào những hộp thuốc chúng tôi gửi tặng – họ đã không sử dụng mà chỉ đem đi đổi thành những thứ cần dùng khác.

Trong lá thư trả lời cho tôi ngày 9.3.1981, anh viết rất cảm động. Mỗi khi nhận được thư anh, tôi thường gửi bưu thiếp trở lại báo tin đã nhận được thư, vì gửi như vậy “người ta” đọc liền được nội dung và thấy không có gì bí mật thì mới dễ dàng cho bưu thiếp đi qua. Tôi hay gửi những bưu thiếp ngắn thôi. Khi nào có Thầy viết giùm thì tôi mới biên thư dài cho anh. Khi nhận được thư tôi, Hoàng Cầm mừng lắm. Bức thư quá dễ thương, có ý tứ và lại sâu sắc khiến anh rất lên tinh thần (có Thầy “cầm tay” mà!). Thuốc tôi gửi toàn là thuốc rất cần thiết cho sức khoẻ của anh và của cả gia đình. Sau đó con trai của anh đem một số thuốc đi bán để đổi thực phẩm cho cả nhà. Trong mỗi bức thư gửi cho anh, tôi đều có hỏi thăm chị Hoàng Yến (là vợ của Hoàng Cầm) và các con anh. Thành ra mọi người rất thương tôi và xem như một người thân trong gia đình.

Qua bạn bè, tôi nghe anh Hoàng Cầm đã nói: “Cô này rất đàng hoàng. Cô này con nhà nề nếp gia giáo, biết trên biết dưới, mỗi lần viết thư đều hỏi thăm chị Yến của em, tự xem như một người em, rất lễ độ, viết thư rất có văn hoá chớ không phải những bức thư tình lăng nhăng. Cô cũng nói rõ ràng là cô yêu thơ của anh, cô xa nước từ năm lên sáu tuổi, nhưng vẫn luôn luôn nhớ về quê hương Việt Nam”.

Tôi có giải thích cái tên Cần Thơ của tôi để trả lời một câu hỏi của anh về cái tên ấy. Tôi “tạm” nói vì ba mẹ tôi gặp nhau ở Cần Thơ nên khi sinh ra tôi, tôi được đặt tên là Cần Thơ. Và tôi có tả phong cảnh sinh hoạt của Ngọc Lan Thảo Trang (tức Phương Vân Am) hồi đó cho anh nghe. Phương Vân Am thật ra đã có mặt trong thời Việt Nam còn đang chiến tranh, khi thầy trò chúng tôi làm việc cho Phái đoàn Hoà bình của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ở Paris. Lúc đó Thầy chúng tôi dạy ở trường Ecole Pratique des Hautes Etudes của Viện Đại Học Paris, Section IV Sciences Historiques et Philologiques (nằm trong toà nhà Sorbonne). Có chút tiền dạy học nên đầu năm 1971, Thầy mua một thảo am nhỏ không xa Paris lắm (cách 150 km) và Thầy đặt tên là Phương Vân Am để mỗi cuối tuần thầy trò đi về vùng quê này mà quên đi cát bụi Paris và được gần gũi với thiên nhiên, để trồng rau húng, rau ngò, để gieo tần ô và cấy mấy luống cải làm dưa ăn Tết Việt Nam cho đỡ nhớ quê hương. Nói là “thảo am” cho có vẻ thi ca nhưng thật ra chỉ là một cái nhà bằng đá đã hoang tàn với 3.000 mét vuông đất chung quanh. Ông chủ thảo am (chắc gọi là thạch am mới đúng) dự định xây thêm một phòng dựa vào vách đá, nhưng công trình xây cất còn lỡ dở thì chẳng may ông bị bệnh và qua đời, nên bà vợ ông đã đăng báo bán giá khá rẻ. Cứ mỗi cuối tuần, thầy trò có dịp về Phương Vân Am, chia nhau ra thành nhiều nhóm để làm việc. Nhóm thợ hồ thợ mộc như Gilles và Jean Marie làm việc dưới sự chỉ dẫn của bác thợ hồ chuyên nghiệp Dolat; chú Hương, chú Thiện Thắng và bọn con gái thì ra làm nông dân trồng trọt dưới sự chỉ dẫn của Thầy. Sáng sớm thứ Hai, Thầy ở lại với vài người bạn như Gilles, Raymond và chú Thiện Thắng. Còn tôi, chú Hương, bà Best và Laura thì về trực văn phòng ở Paris để thông dịch tin tức bên nhà gửi qua. Đến thứ Tư, Thầy mới đi xe lửa lên Paris để kịp dạy học vào ngày thứ Năm. Mãi đến gần cuối năm 1975, khi không liên lạc được với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và các bạn Thanh niên phụng sự xã hội bên nhà, Thầy mới quyết định nghỉ dạy học ở Sorbonne và đóng cửa văn phòng Paris của Phái đoàn Hoà bình rồi về ẩn cư luôn ở Phương Vân Am.

Trong lá thư ngày 05.05.1981, tôi viết cho anh Hoàng Cầm:

Thưa anh, thư của anh rất chân thành vì vậy cho nên anh là một chân thi sĩ. Ngày trước em có thu thập được một ít thơ của anh, kể cả tập kịch thơ “Lên đường”. Nhưng em mất dấu của người bạn cho em xem tập thơ ấy, khi em chưa kịp chép lại hay photocopier lại. Bây giờ thì em không còn gì mấy về thơ anh. May mắn thay em mua được ở hiệu sách Việt Nam tại Pháp năm 1975 bản “Tiếng hát Quan họ”. Theo em đây là một thi phẩm rất độc đáo. Một “master piece” (tuyệt tác) sẽ sống hoài với thời gian. Hình ảnh trong thơ rất dồi dào và lồng lộng một khung trời âm thanh và màu sắc. Ôi, quê hương miền Bắc! Và hai con mắt của anh quả thực là hai con mắt của một thi sĩ. Tác phẩm này viết trên hai mươi năm và nay vẫn còn mới về hình thức cũng như nội dung. Các bạn em sợ rằng nó bị mai một nên chúng em bàn nhau định in nó lại và giữ ở tại các thư viện đại học bên này. Anh không cần phải chấp nhận việc đó, cứ để tụi nó tự tiện làm, miễn là anh đừng “kiện” tụi nó là được rồi.

Em sẽ rất vui sướng nếu anh gửi cho em toàn bộ tác phẩm của anh, gửi từ từ mỗi lần vài bài chép trên giấy mỏng viết thư là không lạc bao giờ, mà lại tiện. Chúng em sẽ nâng niu giữ gìn thơ anh như bảo vệ gia tài của quê hương và nếu cần thì tìm cách bảo vệ như Tiếng hát Quan họ. Chúng em lại cũng sẽ “mừng hết lớn” nếu anh gửi cho chúng em những tác phẩm Inédits (chưa nhuận và chưa in) của anh và những bài thơ mới làm. Em sẽ vâng lời anh tuyệt đối về những điều anh căn dặn về thể thức và phương cách bảo tồn, tàng trữ hoặc phổ biến thơ anh. Anh có thể đặt niềm tin trọn vẹn nơi em về việc bảo tồn sự nghiệp thi ca của anh.

Em đã gửi một colis dược phẩm cách đây một tuần, để trị các bệnh cần thiết. Em cũng có ghi cách sử dụng trên nắp hộp.

Bây giờ em xin nói qua về “gia thế” của em. Thưa anh, đúng là ba má em gặp nhau tại Cần Thơ nhưng ba em đã mất năm 61, hiện em đang ở với mẹ và một người chị goá chồng và các cháu, thành ra em làm “cha” cho các cháu luôn. Nhà em, xa Paris lắm, giữa những đồi mận đồi mơ (pruniers), em có rất nhiều bạn trẻ Việt, Pháp, Thuỵ Sĩ, Hà Lan, Anh… đến chơi hoặc ở vài tháng như một đại gia đình. Mỗi đứa đều có nghề riêng nhưng chỉ làm việc bán thời gian để đủ sống. Còn thừa thì giờ chúng em làm vườn, tự trồng rau cải để ăn, ca hát, ngâm thơ, trao đổi văn hoá, tìm đến những cái hay cái đẹp nghệ thuật của mỗi nước. Vì thế Cần Thơ chỉ đi làm cho bệnh viện mỗi ngày một buổi thôi. Không mở phòng khám bệnh tư vì còn để thì giờ “chơi”. Chúng em không muốn đánh mất mình đi vì tiền bạc và công việc. Vì vậy mà chắc em có thể có đủ thì giờ “lãnh gia tài”của anh được. Các bạn trẻ Việt Nam ở Paris mỗi lần về Ngọc Lan Thảo Trang thì giống như về Cần Thơ hay Bến Tre vậy. Em có mắc võng bên bờ suối, có rau húng rau ngò, cải cúc. Các bạn trẻ ngoại quốc ăn được cả nước tương, và chao nữa…

Em kính lời thăm chị và rất cám ơn chị đã nuôi dưỡng và giữ gìn anh để anh sáng tác cho bao nhiêu thế hệ Việt Nam và trong đó có em được thừa hưởng. Em trông tin anh lắm.

Cần Thơ.”

Khi nhận được thư tôi lần đầu Hoàng Cầm cảm động quá, anh làm bài thơ Hương xa dài 11 đoạn để tặng tôi. Hoàng Cầm cũng gửi cho anh Chấn một bản sao của bài thơ đó và bị anh Chấn la cho một mạch, bảo anh Hoàng Cầm đừng có mơ mộng viển vông, chỉ nên viết thư cảm ơn đã gửi quà là đủ. Anh Chấn, người bạn giới thiệu địa chỉ của Hoàng Cầm cho bà Hồ Sĩ Lạng, mẹ của Hồ Hải Trân (rồi Hồ Hải Trân đưa cho tôi), có cho thi sĩ biết tên Cần Thơ có thể không phải là tên thật – “người ta giấu tên vì một lý do nào đó”! Hoàng Cầm “không muốn” tin anh Chấn. Trái tim người nghệ sĩ như quá khô cằn vì thời cuộc, bỗng nhiên có giọt nước cành dương tươi mát rơi vào mảnh đất tâm khô khát, tuyệt vọng này. Tại sao lại đa nghi? Anh Hoàng Cầm nhất định không tin anh Chấn và đã gửi nguyên bức thư của anh Chấn cho tôi xem và xin tôi cho ý kiến.

Tiếng gọi của thơ

Tôi biết được Hoàng Cầm là một nhà thơ lớn là nhờ Thầy cho chúng tôi đọc và giảng cho chúng tôi về tập thơ Tiếng hát Quan họ của thi sĩ.

Hôm đó tại Bruxelles, thủ đô nước Bỉ, thầy trò đi mua được một số sách của các nhà văn và học giả miền Nam và một tập thơ của Hoàng Cầm, tập Tiếng hát Quan họ. Cùng với tập thơ Tiếng hát Quan họ, chúng tôi còn mua được một tập Tranh Đông Hồ với những bức tranh dân gian truyền thống như Hái dừa, Đánh ghen, Đám cưới vhuột. Qua tranh Đông Hồ, tôi thoáng thấy được nụ cười sống động của người dân quê miền Bắc đất nước. Nhưng phải nhờ đọc Tiếng hát Quan họ, xem Tranh Đông Hồ và nghe Thầy giảng thơ, bình ca dao Việt Nam thì tôi mới thấy được giá trị của nền văn học dân gian qua ca dao, dân ca và tranh dân gian thân thương gần gũi.

Tập thơ quá hay, độc giả đọc qua sẽ thấy ngay ngụ ý của thi sĩ: Dù thời nào – thời phong kiến hay thời đại mới – thì cũng có những người khắt khe, bắt bẻ những trái tim thơ ngây, ép buộc những tâm hồn phong phú nghệ thuật vào khung giáo điều, đạo đức. Khuôn phép càng nhiều càng giết chết sự sống thơ ngây phong phú của thi ca và nghệ thuật. Nếu cụ lý trưởng thời phong kiến cấm trai gái yêu đương thì cụ “lý trưởng” đời nay cũng giết chết nghệ thuật văn chương thi ca bằng những giáo điều như vậy.

Sau đó tôi được đọc bài thơ Em bé lên sáu của Hoàng Cầm. Bài thơ kể về một chị cán bộ đang nấu cơm chiều trong nhà thì thấy một đứa bé lên sáu đói khát, ỏng eo, quá tội nghiệp. Bố nó là địa chủ, mẹ nó thì đã di tản vào Nam. Chị thấy nó ốm xanh và đói rét, nhớ lại khi còn nhỏ, chị cũng đã từng trải qua cảnh ngộ này, đã từng đứng liếm lá ngoài chợ, liếm những tấm lá còn sót chút chất ngọt béo của thức ăn khi người ta ăn xong vứt đi. Chị cán bộ liền đem chút cơm nguội cho nó ăn. Nhưng sau đó chị bị cấp trên bắt viết bài tự phê bình kiểm điểm vì đã nuôi một thằng bé con địa chủ. Chị chong đèn nhưng tìm hoài vẫn không thấy bóng dáng người địa chủ gian ác nào trong em bé gầy còm đói khát đó. Chị chỉ thấy thằng bé bị bỏ lại một mình, bơ vơ và đói. Bắt chị làm kiểm điểm, chị không biết kiểm điểm cái gì. Bài thơ Em bé lên sáu đó đã đánh động niềm thương xót trong tôi.

EM BÉ LÊN SÁU

I

Lủi thủi tìm miếng ăn

Bố: cường hào nợ máu

Mẹ bỏ con lay lắt

Đi tuột vào trong Nam

Từ khi lọt lòng mẹ

Ăn sữa, ngủ giường êm

Áo hoa lót áo mềm

Nào biết mình sung sướng

Ngọn sóng đang trào lên

Ai nghĩ thân bèo bọt

Nhưng người với con người

Vẫn sẵn lòng thương xót

Có cụ già đói khổ

Lập cập đi mò cua:

Bố mẹ nó không còn

Đứa trẻ nay gầy còm

Bỗng thương tình côi cút

Cụ nhường cho miếng cơm

Chân tay như cái que

Bụng phình lại ngẳng cổ

Mắt tròn đỏ hoe hoe

Đo nhìn đời bỡ ngỡ:

“Lạy bà xin bát cháo

Cháu miếng cơm, thầy ơi!”

II

Có một chị cán bộ

Đang phát động thôn ngoài

Chợt nhìn ra phía ngõ

Nghe tiếng kêu lạc loài.

Chị rùng mình nhớ lại

Năm đói kém từ lâu

Chị mới năm tuổi đầu

Liếm lá khoai giữa chợ

Chạy vùng ra phía ngõ

Dắt em bé vào nhà

Nắm cơm dành chiều qua

Bẻ cho em một nửa.

Chị bần nông cốt cán

Ứa nước mắt quay đi:

“Nó là con địa chủ

Bé bỏng đã biết gì

Hôm em cho bát cháo

Chịu ba ngày hỏi truy.”

Chị đội bỗng lùi lại

Nhìn đứa bé mồ côi

Cố tìm vết thù địch

Chỉ thấy một con người

Em bé đã ăn no

Nằm lăn ra đất ngủ

Chị nghĩ: “Sau lấy chồng

Sinh con hồng bụ sữa.”

III

Chị phải đình công tác

Vì câu chuyện trên kia

Buồng tối lạnh đêm khuya

Thắp đèn lên kiểm thảo

Do cái lưỡi không xương

Nên nhiều đường lắt léo

Do con mắt bé tẻo

Chẳng nhìn xa chân trời

Do bộ óc chây lười

Chỉ một màu sắt rỉ,

Đã lâu năm ngủ kỹ

Trên trang sách im lìm

Do mấy con người máy

Đầy gân thiếu trái tim

IV

Nào “liên quan phản động”

“Mất cảnh giác lập trường”

Mấy đêm khóc ròng rã

Ngọn đèn soi tù mù

Lòng vặn lòng câu hỏi:

“Sao thương con kẻ thù?

Giá ghét được đứa bé

Lòng thảnh thơi bao nhiêu!”

Tôi rất biết ơn thi sĩ đã dám nói lên điều mình nghĩ và có cảm tình đặc biệt với ông ngay từ đó.

Tôi lại nhớ những điều thầy chúng tôi từng chia sẻ về những năm kháng chiến chống Pháp từ 1947 đến 1954. Khi đó Thầy đã yêu kịch thơ Lên đường, bài thơ Bên kia sông Đuống và kịch thơ Kiều Loan của Hoàng Cầm. Những tác phẩm ấy làm tinh thần kháng chiến lên rất cao. Thanh niên trai trẻ sẵn sàng bỏ nhà cửa lên đường đi chiến đấu. Chúng tôi cũng được Thầy dạy là một số văn nghệ sĩ và những học giả tham gia viết bài cho tập Nhân Văn (chỉ ra được 5 số báo trong thời gian vỏn vẹn chưa đến ba tháng) và các ấn bản Giai phẩm Mùa Xuân, Mùa Thu (ấn hành đầu năm và bị chấm dứt cùng Nhân Văn vào cuối năm 1956) đã bị đưa đi học tập cải tạo vì đã viết những bài phê bình thẳng thắn cách hành xử của những cán bộ lạm quyền đưa cách mạng xuống dốc quá đà. Sau khi viết Em bé lên sáu, Hoàng Cầm cũng bị kiểm thảo, đi học tập cải tạo trong rừng sâu. Văn nghệ sĩ thời đó vì dám nói thật những gì trong trái tim mình mà bị lưu đày, lao động cải tạo, sống rất gian khổ.

Lời giới thiệu

Tôi thường học hỏi được rất nhiều từ những học trò của tôi. Với tôi, học trò cũng là thầy. Sư cô Chân Không là một trong những người ưu tú nhất trong số những học trò như vậy. Để tôi kể cho quý vị nghe một trong những bài học quan trọng mà tôi đã học được từ Sư cô. Đó là vào năm 1966. Cuộc chiến tại Việt Nam đang càng ngày càng khốc liệt. Tôi mải miết nghĩ cách để vận động nhiều vị tôn đức trong Giáo hội chịu cùng đứng ra kêu gọi chấm dứt chiến tranh, và nhiều khi không thể nuốt trôi miếng cơm nào mỗi khi nghe tin một trận chiến khốc liệt vừa xảy ra. Bữa đó, tại chùa Pháp Vân ở Phú Thọ Hoà, Sư cô Chân Không, đang chuẩn bị một dĩa rau thơm cho món phở, Sư cô quay qua hỏi tôi: “Bạch Thầy, Thầy có thể cho con biết những loại rau thơm này ở miền Bắc gọi là gì không?” Nhìn Sư cô đang cẩn trọng đặt những nhánh rau vào chiếc dĩa lớn với tất cả sự chú tâm, tôi bỗng bừng tỉnh. Sư cô có khả năng duy trì sự chú tâm vào những cọng rau thơm. Và tôi nhận ra rằng tôi cũng nên học để tâm tới những nhánh rau, chứ không phải chỉ nghĩ về chiến tranh mà thôi. Thầy trò chúng tôi trao đổi với nhau mười phút về những loại rau thơm ở miền Nam, Trung và Bắc. Tâm trí tôi thoát khỏi những suy nghĩ về cuộc chiến trong khoảng thời gian đó đủ giúp tôi lấy lại được sự cân bằng mà tôi đang rất cần. Năm 1968, khi sống ở miền Nam nước Pháp, tôi đã phát hiện ra những loại rau thơm của vùng Provence với tất cả sự chú tâm và thích thú.

Nhiều năm sau, một người bạn Hoa Kỳ hỏi tôi: “Thưa Thầy! Thầy trồng rau xà lách làm gì cho mất thời gian. Thầy dành thời gian đó để làm thơ có hơn không? Ai mà không trồng được rau xà lách, nhưng ít ai có thể sáng tác những bài thơ sâu sắc như thơ của Thầy.” Tôi mỉm cười đáp: “Bạn ơi! Nếu tôi không trồng những cây xà lách thật chánh niệm như vậy thì tôi không làm ra những bài thơ như vậy được.” Tôi đã không tiết lộ rằng câu trả lời của tôi có xuất xứ từ bài học với Sư cô Chân Không mười hai năm trước. Cho đến hôm nay, tôi vẫn tiếp tục học từ Sư cô. Một vị thầy luôn nên có khả năng làm học trò và một đệ tử cũng luôn phải cùng lúc làm thầy. Nhớ được điều này, cả thầy và trò sẽ cùng lợi lạc.

Điều khiến tôi khâm phục nhất ở Sư cô là khả năng sống an lạc và hạnh phúc. Niềm tin vững chắc của Sư cô đối với Giáo pháp ngày càng được củng cố khi sự tu tập không ngừng mang lại cho Sư cô hoa trái của chuyển hoá, chữa trị và niềm vui. Sự vững chãi, an lạc và hạnh phúc của Sư cô là nguồn động viên nhiệm màu cho rất nhiều các bạn ở Làng Mai cũng như trong đại gia đình Tăng thân. Nguồn vui của Sư cô là làm việc giúp người và giúp chuyển hoá xã hội. Nằm sâu bên trong những công tác của Sư cô là một tình thương lớn và sự quan tâm sâu sắc. Chân Không cũng có nghĩa là tình thương đích thực. Câu chuyện cuộc đời Sư cô vượt xa những gì ngôn từ có thể diễn tả, đó là cả một bài Pháp sống.

Thật tiếc là cuốn sách này còn quá ngắn, không chuyển tải hết sự sâu sắc và sống động những gì Sư cô đã đi qua. Sư cô còn rất nhiều chuyện để kể cho chúng ta, có thể dài gấp mười lần cuốn sách này. Nhưng Sư cô là một nhà hoạt động xã hội hơn là một nhà văn, và hiện tại chúng ta phải bằng lòng với tác phẩm này thôi. Nếu có cơ hội tiếp xúc với Sư cô, quý vị đừng quên xin Sư cô chia sẻ cho nghe những kinh nghiệm của Sư cô. Quý vị sẽ học hỏi được rất nhiều. Sư cô đích thực là một vị Bồ tát.

Thích Nhất Hạnh

Làng Mai, Pháp quốc – Tháng 5 năm 1993

Vài lời của Sư cô Chân Không với độc giả

(Nhân dịp xuất bản bộ hồi ký 60 năm theo Thầy học đạo và phụng sự)

Sư cô Chân Không rất cảm động khi bộ hồi ký này được xuất bản và ra mắt độc giả, nhân dịp kỷ niệm 60 năm Chân Không theo Thầy học đạo và phụng sự.

Tuy nói là hồi ký của Sư cô Chân Không, nhưng trong những tập sách này, Chân Không cố ý viết chi tiết một số công tác hướng dẫn của Sư Ông – những điều đã thực hiện trong suốt 60 năm qua gây cảm hứng cho các sư cô, sư chú đã cạo đầu đi tu theo Sư Ông – một cụ già 93 tuổi mà đa số các em cũng không biết rõ ông cụ này đã làm được những gì mà thế giới quy ngưỡng đến vậy. Chân Không chỉ thuật được chút xíu những hạnh nguyện của vị Thầy quý kính của các em, đó là Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Người đã thực hiện những gì mà trong các quyển sách dạy giáo lý của Sư Ông, người chỉ nói phớt qua mà không hề kể về những công hạnh đã làm ấy.

Viết bốn tập hồi ký này, Chân Không chỉ mong các sư cô, sư chú, học trò xuất sĩ và cư sĩ của Sư Ông có thêm niềm tin nơi vị Thầy mà mình đã quyết tâm suốt đời theo tu học.

Bộ hồi ký gồm bốn tập:

Tập 1: Con đường mở rộng. Chân Không nói sơ về gốc rễ, cô bé Chân Không đến từ đâu, một vài chuyện tình rất thật trong đời một người trẻ. Rồi cô gái mười tám tuổi đó gặp Bụt ra sao, muốn xuất gia, muốn tự lập một ngôi chùa kiểu mới, muốn tự cạo đầu để có thể đi làm công tác giúp trẻ em nghèo đói một mình, không theo đường quý ni sư theo Phật giáo truyền thống. Gặp Thầy Nhất Hạnh, cô đi theo con đường phụng sự xã hội do Thầy hướng dẫn ra sao? Cứu trợ nạn nhân lũ lụt, đói lả trên sông Thu Bồn sau trận lụt Giáp Thìn 1964 với 4875 người chết như thế nào? Vượt qua những nơi giáp chiến hiểm nguy đến tính mạng để cứu trợ cho người đói, kêu gọi hoà bình, có duyên may cứu vài mảnh đời tan tác, đi chôn xác người chết quá nhiều trên đường phố Sài Gòn dịp Tết Mậu Thân 1968.

Tập 2: Bước chân hộ niệm, hơi thở từ bi. Chân Không nói về vai trò Phái đoàn Hoà bình của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Hoà đàm Paris 1968 đến 1975, kể chuyện Thầy Nhất Hạnh đã dang tay cứu thuyền nhân trên Vịnh Xiêm La năm 1976, 1977 ra sao, khó khăn như thế nào.

Tập 3: Phương Hương xuôi vạn lý. Chân Không thuật chuyện Thầy Nhất Hạnh nhờ Chân Không đứng ra giúp giới văn nghệ sĩ, những nhạc sĩ, hoạ sĩ, thi sĩ tài ba mà không được tự do sáng tác. Thầy đã viết thư (qua ngòi bút của một cô bác sĩ trẻ, qua những hộp thuốc men đầy ân tình) nâng đỡ họ, động viên, khen ngợi sâu sắc tài năng của họ, để họ có cảm hứng sáng tác trở lại. Đặc biệt trong tập này, Sư cô nói nhiều về nhạc sĩ Lê Thương với ba kiệt tác Hòn Vọng Phu.

Tập 4: Cần Thơ về Kinh Bắc. Chân Không chép giùm Thầy Nhất Hạnh những lời Thầy khen ngợi sâu sắc thi sĩ Hoàng Cầm – tác giả bài Bên kia sông Đuống ra sao. Bác sĩ Cần Thơ (dưới ngòi bút của Thầy) xuất hiện để đưa thi sĩ ra khỏi khung trời tuyệt vọng.

Đây toàn là những giây phút rất màu nhiệm trong đời mà Sư cô Chân Không được làm học trò của một vị chân tu, để khuyến khích các sư chú, sư cô trẻ rằng: nếu Sư cô Chân Không làm được, thì mình cũng làm được.

Bốn tập hồi ký này, Chân Không sẽ gửi tặng các bậc cha mẹ các sư cô, sư chú đã cho con đi theo con đường của một vị chân tu tròn 77 năm phụng sự để làm gương cho mỗi sư cô, sư chú. Mong mỗi người sẽ tiếp tục sự nghiệp của hàng triệu vị chân tu khác, nối tiếp những bước chân của Bụt Thích Ca.

Nam mô Đức Bồ tát Đại hạnh Phổ Hiền và Đức Bồ tát Đại bi Quán Thế Âm.

Sư cô Chân Không Tháng 9 năm 2019

Xây dựng ngôi trường hạnh phúc

(Trích pháp thoại của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, ngày 15/6/2014 trong khóa tu 21 ngày tại Làng Mai, Pháp)

Là một nhà giáo, tôi rất yêu nghề. Là những thầy giáo, cô giáo, chắc hẳn quý vị cũng yêu nghề. Chúng ta đều muốn đào tạo ra những con người lành mạnh, có khả năng tạo dựng hạnh phúc cho tự thân và cho xã hội. Nhiệm vụ của chúng ta không chỉ là trao truyền kiến thức mà còn là xây dựng con người, xây dựng một xã hội nhân bản để có thể chăm sóc hành tinh yêu quý của chúng ta.

Tôi có rất nhiều may mắn vì những người trẻ đến với tôi đều có cùng một ước muốn chuyển hóa tự thân, sống hạnh phúc và giúp cho những người khác cũng sống hạnh phúc như mình. Mỗi khi vào lớp, tôi luôn cảm thấy hạnh phúc vì giữa thầy trò có sự cảm thông, có tình huynh đệ, điều này giúp cho việc trao truyền và tiếp nhận trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Tôi hỏi thăm các học trò của tôi về đời sống của họ và tôi cũng kể cho họ nghe những khó khăn cũng như những ước mong của tôi, vì vậy luôn luôn có sự kết nối giữa thầy và trò.

 

Vị thầy dạy thương dạy hiểu

 

Những khó khăn trong công tác giáo dục

 Chúng ta biết những người trẻ và các bậc phụ huynh trong thời đại chúng ta có rất nhiều nỗi khổ, niềm đau trong lòng. Cha mẹ không truyền thông được với nhau hay giữa cha mẹ và con cái không dễ dàng nói chuyện được với nhau. Trong lòng những người trẻ luôn có sự cô đơn, trống vắng và chúng tìm cách khỏa lấp nỗi cô đơn trống vắng ấy bằng những trò chơi điện tử, phim ảnh, nghiện ngập hay những thú tiêu khiển độc hại.

Khổ đau trong lòng những người trẻ càng nhiều thì công tác giáo dục càng trở nên khó khăn. Là những thầy giáo, cô giáo, chúng ta cũng có những khó khăn. Chúng ta đã luôn cố gắng nhưng môi trường sống và làm việc của chúng ta quá nhiều khó khăn.

Là những thầy giáo, cô giáo, nếu chúng ta không hạnh phúc thì làm sao chúng ta mong đợi con em mình hạnh phúc? Đây là một vấn đề vô cùng quan trọng. Có phải là do chúng ta chưa có đủ kiên nhẫn, hiểu biết, thương yêu và tươi mát để xử lý những khó khăn này? Có phải là chúng ta đang cần một đường hướng tâm linh cụ thể để giúp chúng ta chuyển hóa tự thân và sau đó giúp chuyển hóa những người thương đang sống quanh mình? Bởi vì khi chúng ta chưa thay đổi được tự thân thì chúng ta khó lòng giúp được những người khác làm vơi bớt khổ đau của họ. Một khi chúng ta đã có được sự thành công trên con đường chuyển hóa, chúng ta sẽ trở nên vui tươi hơn, từ bi hơn và ta sẽ có khả năng giúp cho những người xung quanh cũng làm được như vậy.

Đem tâm về với thân

 Điều đầu tiên chúng ta có thể làm là trở về với tự thân chúng ta. Lối ra tùy thuộc đường vào nội tâm. Trở về để chăm sóc chính mình. Chúng ta cần học cách chế tác niềm vui, cách xử lý những cảm thọ khó chịu hay lắng nghe những nỗi khổ, niềm đau trong mình để có thể hiểu được, thương được và nhờ vậy, khổ đau cũng từ đó mà được vơi nhẹ. Có những phương pháp giúp chúng ta làm được điều này.

Bằng hơi thở chánh niệm, ta đem tâm trở về với thân và sẽ nhận ra rằng trong thân của ta đang có sự căng thẳng, đau nhức và ta thở như thế nào để làm lắng dịu sự đau nhức đó. “Thở vào, tôi ý thức rõ rệt về thân thể tôi. Thở ra, tôi buông thư những căng thẳng trong thân thể tôi”. Chỉ cần thực tập thở như thế trong nửa giờ đồng hồ, hay thậm chí là trong năm phút, thì ta cũng đã có thể thay đổi được cảm xúc.

Nếu không có sự bình an trong thân thì cũng sẽ không có bình an trong tâm bởi vì thân và tâm tương tức. Ta có thể thực tập thở như thế trong những tư thế đi, đứng, nằm, ngồi. Ta có thể thực tập khi ngồi trong xe buýt hay trong xe hơi. Ta cũng có thể thực tập khi chuẩn bị bữa ăn sáng hay khi rửa bát. Vì vậy ta có rất nhiều thì giờ để thực tập buông thư.

Nghệ thuật sống

 

Thiền ngắm trăng lên

 

Thực tập chánh niệm là phải vui. Đó là một nghệ thuật sống. Với niệm, định và tuệ, ta có thể chế tác niềm vui bất cứ khi nào ta muốn. Cũng với năng lượng chánh niệm, ta có thể ôm ấp và xử lý những nỗi khổ, niềm đau. Thiếu năng lượng chánh niệm này, ta sẽ cảm thấy sợ hãi mỗi khi đối diện với những nỗi khổ, niềm đau đang tràn ngập trong lòng ta.

Chánh niệm là nguồn năng lượng giúp ta có mặt trọn vẹn ngay bây giờ và ở đây, giúp ta tiếp xúc được với những gì đang xảy ra trong hình hài, cảm thọ, tâm ý và trong vũ trụ này. Từ đó, ta có thể tiếp xúc với những mầu nhiệm của cuộc sống để ta được nuôi dưỡng và trị liệu.

Khi ta thở vào, thở ra có ý thức là ta đang thở chánh niệm. Khi ta đi trong ý thức là ta đang thực tập thiền đi. Khi ăn sáng trong chánh niệm là ta đang thực tập thiền ăn. Ta không cần phải ngồi suốt ngày trong thiền đường mới gọi là thực tập thiền. Chúng ta có thể thực tập mọi nơi, ngay cả khi đang tắm, đang lái xe, hay đang tập trung cho một dự án, một công việc tại công sở, hay trong những mối quan hệ với mọi người xung quanh. Năng lượng chánh niệm được chế tác bằng những hơi thở ý thức hay những bước chân chánh niệm. Chánh niệm giúp ta đem tâm trở về với thân và một khi thân tâm đoàn tụ thì ta đang thực sự an trú trong phút giây hiện tại. Những mầu nhiệm của sự sống chỉ có mặt trong giây phút đó. Quá khứ đã qua, tương lai chưa tới, sự sống chỉ thật sự có mặt ngay bây giờ và ở đây.

Chánh niệm giúp ta nuôi lớn chánh định. Với niệm và định thì tuệ giác cũng được phát sinh. Thở vào một hơi thở ý thức, ta sẽ khám phá ra những điều vô cùng đơn giản mà thiết yếu, như cái thấy rằng ta đang còn sống và đang có một hình hài. “Ta biết là ta đang có một hình hài”, đó đã là một tuệ giác rồi. “Thở vào, ta biết ta đang còn sống, còn sống là một mầu nhiệm, mầu nhiệm lớn nhất trong tất cả những mầu nhiệm.” Những người đã chết thì đâu có thể thở được nữa. Thở ra, ta có thể ăn mừng sự sống rằng phổi ta còn khỏe để thở vào, chân ta còn mạnh để có thể bước đi, có thể chạm lên đất Mẹ. Duy trì niệm và định, tuệ giác sẽ được lớn lên.

Dừng lại sự rong ruổi

Ta đang có đầy đủ những điều kiện hạnh phúc, ta không cần phải kiếm tìm thêm. Nếu ta ngồi yên và viết xuống những điều kiện hạnh phúc mình đang có thì một trang giấy không đủ, hai trang giấy cũng không đủ, hay thậm chí đến mười trang rồi mà vẫn còn quá nhiều những hạnh phúc chưa được viết xuống. Và ta sẽ nhận ra rằng mình may mắn hơn nhiều người khác, mình may mắn được sống hạnh phúc bây giờ và ở đây. “Hạnh phúc có thể có được ngay bây giờ và ở đây”, đó là lời Bụt dạy.

 

 

Nhiều người nhầm lẫn giữa hạnh phúc và sự hưng phấn. Khi ta vui trong chộn rộn, ta không có đủ bình an trong lòng, chính vì vậy hạnh phúc lúc đó không đủ sâu. Chánh niệm giúp ta nhận biết được rằng hạnh phúc chân thật không đến từ danh vọng, quyền hành, giàu sang và dục lạc. Hạnh phúc chân thật đến từ hiểu biết và thương yêu.

Hạnh phúc chân thật có nghĩa là ta không còn phải chạy đi tìm cầu thêm bất cứ điều gì nữa. Ta hài lòng với những gì ta đang có bây giờ và ở đây, ta nhận thấy có quá nhiều những điều kiện hạnh phúc vốn có quanh ta rồi. Cái thấy đó đem lại cho ta niềm vui lớn. Đó là nghệ thuật hạnh phúc, rất dễ dàng và giản dị mà ai cũng có thể làm được.

Ta chế tác niềm vui không những cho chính ta mà còn cho những người xung quanh. Khi ta có chánh niệm, năng lượng đó sẽ được lan truyền đến mọi người. Một khi ta có được niềm vui, hạnh phúc và sự tỉnh thức, ta cũng đang thắp sáng ngọn đèn tỉnh thức ấy trong những người khác. Hạt giống chánh niệm, tỉnh thức ai cũng có, chỉ là chưa được tưới tẩm, chưa được thắp sáng mà thôi. Đây là một nghệ thuật, không có gì quá khó. Một giáo viên cũng vậy, chỉ trong tích tắc bạn có thể biểu diễn những phép mầu đó, chắc chắn học sinh của bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc.

Nhịp cầu cảm thông

 Cuộc sống ngày nay tuy có nhiều phương tiện truyền thông như điện thoại thông minh, mạng xã hội… nhưng càng ngày thì sự truyền thông giữa vợ và chồng, bố mẹ và con cái, thầy cô giáo và học sinh… lại càng trở nên khó khăn. Điều đó nói lên rằng phương tiện truyền thông hiện đại không hề giúp ta truyền thông tốt hơn. Nếu ta không trở về tiếp xúc với tự thân để thấy được đâu là nguyên nhân của những sợ hãi, giận hờn và nỗi khổ, niềm đau trong ta, thì làm sao ta có thể truyền thông được với chính mình? Và một khi ta không thể truyền thông với tự thân thì làm sao ta có thể truyền thông được với những người khác?

Tái lập truyền thông và đem lại sự hòa giải là chuyện có thể làm được. Sự thực tập ái ngữ và lắng nghe giúp cho chúng ta thiết lập lại truyền thông và đưa tới sự hòa giải.

Trước tiên, chúng ta cần có mặt và hiểu được hình hài, cảm thọ, tri giác và khổ đau của chính chúng ta. Chánh niệm giúp ta có khả năng đối diện và hiểu thấu những khổ đau trong ta mà không phải trốn chạy hay tìm cách khỏa lấp chúng.

Tiếp đến, thầy cô giáo có thể ngồi lại với học sinh của mình để cùng chia sẻ những khó khăn nằm sâu bên trong mỗi người. Một khi học sinh đã cảm thông được những khó khăn của thầy cô giáo rồi thì các em sẽ không tiếp sức làm cho những khó khăn ấy lớn thêm. Cũng vậy, một khi thầy cô giáo đã lắng nghe được những khó khăn của học sinh, thầy cô giáo sẽ biết cách để giúp cho các em bớt khổ. Khi đó lớp học sẽ trở thành một không gian chia sẻ hạnh phúc cho tất cả mọi người. 

 

 

Lắng nghe với tình thương và sự cảm thông giúp cho người kia trải hết lòng ra. Đó là thực tập của Bồ tát Quán Thế Âm, chỉ lắng nghe thôi, không phán xét, không phản ứng. Trong vòng nửa giờ đồng hồ lắng nghe, chúng ta đã có thể làm vơi nhẹ khổ đau trong lòng của người kia.

Thực tập nói lời ái ngữ cũng rất quan trọng. Chúng ta dùng ngôn ngữ hòa ái để nói lên sự thật về niềm đau, nỗi khổ trong ta và cũng nhẹ nhàng khuyến khích người kia mở lòng nói ra những khổ đau của họ. Ái ngữ chính là chìa khóa để mở cửa trái tim của nhau.

Chúng ta có thể áp dụng sự thực tập ái ngữ và lắng nghe trong trường học như thế nào? Chúng ta cần tạo ra những cơ hội để thầy cô giáo và học sinh có thể ngồi lại bên nhau, lắng nghe nhau để có thể cảm thông và hiểu thấu được những khó khăn của nhau. Hiểu được thì thương được. Thử tưởng tượng hình ảnh người thầy ngồi yên chăm chú lắng nghe những tâm tư nỗi niềm của những người học trò của mình. Đó là một hình ảnh đẹp và nuôi dưỡng. Ở nhà, ba mẹ các em đã quá bận rộn nên không thể có mặt được cho các em thì làm gì có thời gian để ngồi xuống và lắng nghe các em? Đó là một thiệt thòi lớn. Đến trường, thầy cô giáo cho các em một cơ hội khác để bù đắp, để các em được lắng nghe, được cảm thông và được thấu hiểu. Chỉ cần được thấu hiểu, các em đã bớt khổ nhiều rồi. Khi đó, thầy cô giáo và học sinh có thể nối kết với nhau, xây dựng niềm tin trong nhau và lấy đi những giận hờn và sợ hãi trong nhau. Đây là một sự thực tập rất cần thiết và nên được khuyến khích tổ chức thường xuyên trong nhà trường. Thầy cô giáo và học sinh nhờ sự thực tập này mà có thêm năng lượng để dạy và học, và đặc biệt là khoảng cách giữa hai thế hệ cũng được gần lại với nhau nhờ nhịp cầu cảm thông.

Nghệ thuật khổ đau

 Nhiều người trong chúng ta tin rằng ta không thể có được hạnh phúc bây giờ và ở đây. Ông bà tổ tiên ta cũng từng nghĩ như vậy. Điều này lý giải vì sao ta luôn có khuynh hướng chạy về tương lai để kiếm tìm hạnh phúc. Chúng ta có tập khí rong ruổi, tìm cầu và chẳng bao giờ hài lòng với những gì mình đang có. Tập khí này rất mạnh. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân chánh niệm giúp ta dừng lại, nhận diện và mỉm cười.

Xử lý khổ đau là một nghệ thuật. Chúng ta nói tới nghệ thuật hạnh phúc nhưng cũng có thể nói tới nghệ thuật khổ đau. Chúng ta phải học cách khổ đau. Người biết cách khổ đau thì khổ ít hơn những người khác. Sự thật thì khổ đau đóng một vai trò rất quan trọng. Nếu chúng ta biết cách ôm ấp, chăm sóc và nhìn sâu vào bản chất của khổ đau, chúng ta có thể chế tác được rất nhiều hiểu biết và thương yêu, nền tảng của hạnh phúc chân thật.

Hoa là rác – Rác là hoa

 Thầy trò chúng tôi vừa hoàn thành xong Năm giới tân tu, có thể được xem là nền tảng của đạo đức mang tính chất toàn cầu. Nó không mang màu sắc tín ngưỡng cục bộ của một tôn giáo hoặc của một chủ thuyết. Tôn giáo nào, văn hóa nào, chủng tộc nào, địa phương nào cũng có thể lấy Năm giới làm cương lĩnh cho một nếp sống có hòa điệu, có thương yêu, có hiểu biết, có sự tương kính và chấp nhận lẫn nhau. Thực tập theo Năm giới (hay còn gọi là những nguyên tắc sống) này, chúng ta có thể xử lý những khổ đau và hạnh phúc, tái lập lại truyền thông và góp phần giúp cho gia đình, cộng đồng và thế giới vơi đi nỗi khổ. Thực tập theo Năm giới chúng ta cũng có thêm nhiều niềm vui, bình an và hạnh phúc. Nền tảng đạo đức này dựa trên tuệ giác tương tức của đạo Bụt.

“Tương tức” có nghĩa là ta không thể tồn tại một cách riêng biệt. Nhìn vào một bông hoa, ta thấy được những yếu tố không- phải-bông-hoa có mặt. Ta thấy được mặt trời, đám mây, đất đai, người làm vườn, vân vân… Cả vũ trụ đều đang có mặt trong một bông hoa.

 

 

Hạnh phúc cũng vậy. Hạnh phúc cũng được làm từ những yếu tố không-phải-hạnh-phúc. Nếu chúng ta liệng bỏ hết những gì không hạnh phúc ấy đi thì chúng ta cũng không bao giờ có được hạnh phúc. Chúng ta cần có bùn để nuôi sen. Mọi thứ nương vào nhau để biểu hiện.

Với tuệ giác tương tức này, chúng ta thấy rõ rằng hạnh phúc không còn là vấn đề cá nhân. Nếu chúng ta hiểu được những khổ đau của chúng ta, nếu chúng ta đủ khéo léo để sử dụng những khổ đau ấy thì chúng ta có thể chế tác được hạnh phúc. Khổ đau và hạnh phúc tương tức nhau là vậy.

Không có gì có thể tự mình tồn tại. Tuệ giác tương tức lấy đi ý niệm về một cái ta biệt lập. Mặc cảm hơn người, thua người và bằng người – nền tảng của khổ đau – cũng từ đó mà không còn. Hầu hết những khổ đau xuất hiện cũng chính từ những tri giác sai lầm như vậy.

Ăn cơm có canh, tu hành có bạn

 Chúng ta phải nghĩ tới việc xây dựng tăng thân, tức là một đoàn thể trong đó có những đồng nghiệp hay những người làm việc trong trường học, có thể là 3 hay 4 người mà ta truyền thông được dễ dàng nhất. Chúng ta phải đến với nhau để có thể tiếp tục sự thực tập, thực tập không phải với tính chất một cá nhân hay một gia đình mà là với tính chất một đoàn thể. Chúng ta có thể cùng đi thiền, cùng uống trà hay thực tập thiền buông thư với nhau.

Chúng ta hãy bắt đầu với một nhóm gồm những thầy giáo, cô giáo có hạnh phúc. “Thầy giáo, cô giáo có hạnh phúc sẽ thay đổi thế giới”. Với tăng thân nhỏ bé đó ta có thể làm thay đổi cả tập thể của trường. Chúng ta có thể viết một lá thư: “Chúng tôi là một nhóm người, chúng tôi đã thực tập như vậy và đã đạt được nhiều sự chuyển hóa trong đời sống, trong việc làm cũng như trong lớp học. Chúng tôi nghĩ thật là tuyệt vời nếu quý vị cùng thực tập với chúng tôi”. Như vậy những đồng nghiệp khác cũng sẽ bắt đầu nếm được sự bình an, tình huynh đệ và sự buông thư đó.

Chúng ta không thể tiếp tục như hiện nay, tại vì nếu các giáo chức không có hạnh phúc, không có sự bình an và sự hòa hợp với nhau thì làm sao chúng ta giúp được cho những người trẻ bớt khổ và thành công trong sự học hành. Xây dựng tăng thân là một công tác cấp bách và mỗi giáo chức phải là một người dựng tăng. Sau khi giác ngộ, việc đầu tiên Bụt đã làm là xây dựng một tăng thân. Ngài biết rất rõ là nếu không có tăng thân thì Ngài sẽ không hoàn thành được sự nghiệp của một vị Bụt.

Giáo chức là một nghề rất cao quý, rất đẹp, rất đáng được kính trọng. Nhưng nếu không có một tăng thân thì chúng ta cũng không làm được gì nhiều. Vì vậy xây dựng tăng thân là một việc tối cần thiết!

 



Lễ xuất gia Gia đình Hoa Thuỷ Tiên 05.11.2023

Trong mùa an cư kiết Đông năm nay, tăng thân Làng Mai hạnh phúc chào đón thêm 10 sư chú, sư cô mới gia nhập vào dòng chảy của Tăng thân. Buổi lễ được diễn ra trong không khí trang nghiêm tại thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân, xóm Thượng. Năng lượng tu tập tinh chuyên của mùa an cư từ quý thầy, quý sư cô và các vị cư sĩ đã làm cho buổi lễ thêm hùng tráng, tiếp thêm năng lượng cho các giới tử trong giờ phút thiêng liêng của cuộc đời.

Cả thiền đường Nước Tĩnh như rung động khi đại chúng đồng tụng “Đầu cành dương liễu vương cam lộ – Một giọt mười phương rưới cũng đầy – Bao nhiêu trần luỵ tiêu tan hết…”. Giọt nước từ bi thanh lương, an lành của chư Bụt, chư Bồ tát như làm tiêu tan bao phiền luỵ, bế tắc, tủi hờn còn sót lại trong các giới tử. Và bắt đầu giờ phút này, các em chính thức được sinh trở ra lại giữa lòng tăng thân, cùng bước đi trên con đường hiểu biết và thương yêu. 

Gương mặt của các giới tử thêm sáng ngời hơn trong giờ phút được tiếp nhận Mười giới sadi, sadi nữ để hành trì trong đời sống xuất gia của mình. Quỳ trước Tam Bảo, các giới tử đã thành kính phát nguyện một lòng trở về tiếp nhận gia tài của Bụt, của Thầy: “Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức”. Những người con trai lành, những người con gái lành mang trong mình những lý tưởng cao đẹp, đã biết buông bỏ nếp sống tiện nghi ngoài xã hội để cùng trở về chia vui nếp sống tịnh thường, cùng Tăng thân hiến tặng bình an cho mọi người.

“Cạo sạch mái tóc

Nguyện cho mọi người

Dứt hết phiền não

Độ thoát cho đời”

Gia đình xuất gia cây Hoa Thuỷ Tiên (Daffodil) gồm các sư cô Chân Đôn Hạnh, sư chú Chân Nhất Vân, sư chú Chân Nhất Vũ, sư chú Chân Nhất Thanh, sư chú Chân Nhất Lương, sư cô Chân Diệu Hạnh, sư cô Chân Đăng Hạnh, sư chú Chân Nhất Nguyên, sư chú Chân Nhất Mộc và sư chú Chân Nhất Xuân. Các sư chú, sư cô thuộc thế hệ thứ 44 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 10 phái Liễu Quán.

Vào buổi chiều, đại chúng đã có buổi thiền trà để mừng đón sự biểu hiện của các sư em gia đình Hoa Thuỷ Tiên. Các sư chú, sư cô mới bày tỏ niềm biết ơn với tăng thân, quý thầy, quý sư cô lớn và đặc biệt là những vị Y chỉ Sư đã dạy dỗ, dìu dắt trong những tháng ngày thực tập còn nhiều bỡ ngỡ. Và cũng chia sẻ niềm hạnh phúc khi được gia nhập vào gia đình áo nâu. 

Trước đó một tuần, ngày 29.10.2023, sư cô Đào Nghiêm đã hướng dẫn các giới tử trình diện trước tăng thân, dâng lên lời thỉnh nguyện xuất gia của mình. 

Giữa tiết trời Thu giao mùa khi những cơn mưa kéo dài từ ngày này sang ngày khác. Nhưng sáng nay, những tia nắng ấm bỗng xuất hiện như một lời chào mừng sự biểu hiện của các sư chú, sư cô mới. 

Đây là một vài hình ảnh trong buổi lễ, kính mời đại chúng thưởng thức.