Tiếng gọi

sáng hôm nay

tới đây

chén trà nóng

bãi cỏ xanh

bỗng dưng hiện bóng hình em ngày trước

bàn tay gió

dáng vẫy gọi

một chồi non xanh mướt

nụ hoa nào

hạt sỏi nào

ngọn lá nào

ng thuyết Pháp Hoa kinh

Bài này đã có lần tôi nghe anh Trụ Vũ ngâm tại Sài Gòn, và anh bảo rất thích bài này. Chính anh đã chọn bài này để cho vào tuyển tập Thi Nhạc Họa mừng ngày Phật đản do Lá Bối ấn hành năm 1967. Họa sĩ Võ Đình và nữ sĩ Teo Savory đã dịch như sau:

Beckoning

this morning’s dawn

and I am here

a cup of steaming tea

a green lawn

your sudden image

from long ago. Your hands

or the wind

your hands

or the wind

beckoning

the shining of the tree’s

new bud:

flower, leaf and pebble

all recite

the sutra of lotus.

Bài này cũng đã được đăng trong tạp chí Paintbrush, số 4, năm 1975 tại Laramie, Hoa Kỳ.

Quê hương tuổi nhỏ

nghe

hoa cau

quyến rũ

nắng chiều muộn

thoi thóp kêu thành tiếng

không gian đọng

cánh chim trắng

vọng

bến bờ xưa.

cô thôn chiều nổi gió

áo lụa bay

cu ô thước

sông nước

cồn cỏ

con nghé nhỏ 

đuổi chạy mặt trời

tiếng tù và giục giã

khói sương

m chiều lửa đỏ

mái rạ thấp

tôi ra gọi em về

nhưng chỉ thấy

bốn bề

hư vô giăng mắc…

Bài này chắc chắn là Thầy làm trong lúc nhớ nhà. Thầy đã phổ nhạc và chúng tôi hay hát khi họp mặt và nhớ nhà. Anh Võ Đình và nữ sĩ Teo Savory đã dịch và in trong tập Zen Poems (Unicorn Press, USA, 1976). Nhiều em sinh viên chưa quen với Phật học đã nói với tôi “Trong tập thơ Tiếng đập cánh loài chim lớn của Thầy, chúng em chỉ “mê” bài này thôi. Mấy bài kia nói những gì, chúng em chẳng hiểu chi cả.”

Dặn dò

xin ha vi tôi hôm nay

trên đu chúng ta có mt tri

bui trưa đng ng

rằng kng bao gi em thù hn con ngưi

 

con ngưi

có đ chp trên đu em

cả ngn i hn thù

tàn bo,

con ngưi

giết em,

con ngưi

giẫm lên mng sng em

như gim lên giun dế,

con ngưi móc mt moi gan em

đày i em vào hang sâu ti nhc,

em vn phi nh li tôi căn dn:

kẻ thù chúng ta kng phi con ngưi.

 

xứng đáng ch có tình xót thương

v ì tôi xin em đng đòi điu kin

bởi kng bao gi

oán hn lên tiếng

đối đáp đưc

sự tàn bo con ngưi.

th ngày mai

trưc khuôn mt bo tàn

một mình em đi din.

hãy rót cái nhìn du hin

từ đôi mắt

y can đảm

dù không ai hay biết

và nụ cười em

y để nở

trong cô đơn

trong đau thương thống thiết

nhng người yêu em

dù lênh đênh

qua ngàn trùng sinh diệt

vẫn sẽ nhìn thấy em.

tôi sẽ đi một mình

đầu tôi cúi xuống

tình yêu thương

bỗng trở nên bất diệt

đường xa

và gập ghềnh muôn dặm

nhưng hai vầng nhật nguyệt

sẽ vẫn còn

để soi bước cho tôi.

Bài này quả thật là những lời dặn dò Thầy để lại cho thế hệ trẻ đang phụng sự bằng con đường bất bạo động. Chị Nhất Chi Mai trước khi tự thiêu cho hòa bình đã đọc bài này vào trong một cuộn băng nhựa để lại cho ba má chị cùng những bức thư tuyệt mạng của chị. Có thể nói bài này nói lên được lập trường tuyệt đối bất bạo động của tác giả. Nó cho ta thấy rằng bất bạo động là phương châm hoạt động duy nhất cho những người đã nhất quyết học theo đại bi tâm của các bậc Bồ tát. Để hiểu rõ thêm tâm tư của tác giả về vấn đề này, tôi xin đề nghị các bạn đọc đoạn sau này mà Thầy viết trong Nẻo về của Ý: “Dưới con mắt của đại bi, không có tả, không có hữu, không có thù, không có bạn, không có thân, không có sơ. Mà đại bi không phải là vật vô tri. Đại bi là tinh lực mầu nhiệm và sáng chói. Vì dưới con mắt của đại bi không có cá thể riêng biệt của nhân của ngã cho nên không một hiện tượng nhân ngã nào động tới được đại bi.

Em ơi, nếu con người có độc ác đến nước móc mắt em hay mổ ruột em thì em cũng nên mỉm cười và nhìn con người bằng con mắt tràn ngập xót thương: hoàn cảnh, tập quán và sự vô minh đã khiến con người hành động dại dột như thế.

Hãy nhìn con người đã đành tâm tiêu diệt em và đang tạo nên cho em những khổ đau oan ức, khổ nhục lớn lao như trăm ngàn quả núi, hãy nhìn con người ấy với niềm xót thương: hãy rót tất cả niềm xót thương từ suối mắt em vào người đó mà đừng để một gợn oán trách giận hờn xuất hiện trên tâm hồn. Vì không thấy đường đi nước bước cho nên cái người làm khổ em mới vụng dại lỗi lầm như vậy.

Giả sử một buổi sáng nào đó em nghe rằng tôi đã chết tăm tối và tàn bạo vì sự độc ác của con người, em cũng nên nghĩ rằng tôi đã nhắm mắt với một tâm niệm an lành không oán hận, không tủi nhục. Em nên nghĩ rằng giờ phút cuối, tôi vẫn không quay lại thù ghét con người. Nghĩ như thế chắc chắn em sẽ mỉm cười được, rồi nhớ tôi, đường em, em cứ đi. Em có một nơi nương tựa mà không ai có thể phá đổ hoặc cướp giật đi được. Và không ai có thể làm lung lay niềm tin của em, bởi vì niềm tin ấy không nương tựa nổi bất cứ một giả lập nào của thế giới hiện tượng. Niềm tin ấy và tình yêu là một, thứ tình yêu chỉ có thể phát hiện khi em bắt đầu nhìn thấu qua thế giới hiện tượng giả lập để có thể thấy được em trong tất cả và tất cả trong em.

Ngày xưa, đọc những câu chuyện như câu chuyện đạo sĩ nhẫn nhục để cho tên vua cường bạo xẻo tai, cắt thịt mà không sinh lòng oán giận, tôi nghĩ đạo sĩ không phải là con người. Chỉ có thánh mới làm được như vậy. Nhưng Nguyên Hưng ơi, tại lúc đó tôi chưa biết đại bi là gì. Đại bi là sự mở mắt trông thấy. Và chỉ có sự mở mắt trông thấy tận cùng mới khiến cho tình thương trở thành vô điều kiện, nghĩa là biến thành bản chất đại bi. Đạo sĩ nhẫn nhục kia đâu có sự giận hờn nào mà cần nén xuống? Không, chỉ có lòng xót thương. Giữa chúng ta và đạo sĩ kia, và vị Bồ tát kia, không có gì ngăn cách đâu, Nguyên Hưng. Có phải tình yêu đã dạy em rằng em có thể làm được như Người?”

Sau đây là bản dịch Pháp văn bài thơ Dặn dò của Michèle Chamant. Bản này Pierre Marcgand cũng đã phổ nhạc và hát tại nhiều đại hội trên đất Pháp khi đi trình diễn với Graeme Allwright:

 

Promets-moi aujourd’hui

promets-moi maintenant

pendant que le soleil est haut

au zénith exactement,

promets-moi.

 

Même s’ils te terrassent

sous une montagne de haine et de violence,

même s’ils marchent sur ta vie et t’écrasent

comme un ver,

même s’ils t’écartèlent, t’éventrent,

rappelle-toi, frère,

rappelle-toi

lhomme n’est pas notre ennemi.

 

Seulement ta compassion,

seulement ta bonté,

sont invincibles, sans limite, absolues.

Parce que la haine,

jamais jamais ne répondra

à la bête dans l’homme.

Et un jour

où, seul, tu affronteras cette bête,

ton courage intact, tes yeux calmes,

pleins d’amour

(même si personne ne les voit),

de ton sourire

s’ épanouira une fleur

et ceux qui t’aiment 

te verront

à travers des milliers de mondes

de naissance et de mort.

 

Seul, de nouveau,

javancerai la tête baissée,

en sachant que l’amour est immortel.

Et sur la longue et difficile route,

le soleil et la lune brilleront ensemble

pour éclairer mes pas.

Bài thơ cũng đã được Thầy dịch ra tiếng Anh và phổ nhạc với tên gọi Alone Again:

 

Alone again I’ll go on

with bent head, but knowing

the immortality of love

and on the long rough road

both sun and moon will shine

Promise me, promise me this day

while the sun is just over head

even as they strike you down

with mountain of hate and violence

remember brother

men is not our enemy

just your pity, just your love

invincible limitless

hatred will never let you face the beast in man

and one day when you face this beast alone

 

Your courage intact, your eyes kind

out of your smile will bloom a flower

and those who love you will behold you

across ten thousand worlds

of dying of dying and birth

 

Alone again I’ll go on

with bent head but knowing

the immortality of love

and on the long rough road

both sun and moon will shine.

Thông điệp

trán tôi đã tng nhăn

ưu ca cuc đi đã v ghi du chân nng n

trên khong tri mai y

nhưng tr t tâm hn tôi hôm nay tr li

hoa v trên n i buông th

vô tình xóa m nhng nếp nhăn đi

như mưa chiu nay xóa đi nhng du chân trên bãi vng qua mt chu k

tôi đi gia rng cng gai như đi gia vưn k hoa d tho

đầu ct cao, n i ngày xưa còn đó

nhng vn t đã n trong tiếng gào súng đn

nưc mt ngày xưa khóc nng quái chiu hôm trên chiến trưng ng vt

bng đã tr thành mưa; tiếng mưa rơi êm êm trên mái

quê hương tui t thm gi tôi v

mưa xóa đi bao tâm su mun

 

tôi vn còn n i chiu nay bình lng,

trái ngt chín trên cây rng cay đng

ôm xác em thơ, tôi ng qua rung lúa quê hương đêm nay

đất m s gìn gi em

để trên bãi c xanh non, sáng mai này em s luân hi thành nhng ng hoa mi

nhng ng hoa i trm lng trong bình minh đng ni

giờ pt này em có còn khóc đâu qua mt đêm dài thăm thm sâu

sáng nay tôi qu trên bãi c xanh khi tng thy

nhng ng hoa mang n i huyn diu

tng đip ca hy sinh ca trm lng qu đã ti nơi ri.


Đây là một bài thơ rất được phổ biến trong giới nhân bản và tôn giáo Tây phương. Bài này đã được Thầy tự tay dịch ra Anh ngữ, vào khoảng năm 1965. Tổ chức F.O.R đã in bài thơ này trong một thiệp chúc giáng sinh. Bản dịch tiếng Anh đã được nhạc sĩ Donald Swann phổ nhạc. Tại đại nhạc hội tổ chức tại Luân Đôn ngày 16 tháng 3 năm 1971, có Thầy tham dự, nhạc sĩ Donald Swann đã trình diễn bản nhạc này. Tại Hoa Kỳ nhạc sĩ Richard Wunder cũng phổ nhạc bản dịch Anh ngữ của bài thơ và ông cũng đã trình diễn bài này với giọng tenor, nghệ sĩ Mary Ellen O’Neil đệm dương cầm trong một đại nhạc hội tổ chức tại Salt Lake City ngày 6 tháng 1 năm 1976. Bài thơ này cũng được nữ sĩ Michèle Chamant dịch ra Pháp văn. Bản dịch này được nhạc sĩ Graeme Allwright phổ nhạc và trình diễn tại rạp Olympia và sau đó đi trình diễn rất nhiều nơi trên đất Pháp trước khi đưa vào đĩa nhạc Questions do nhà Intersong thực hiện năm 1978. 

Đêm cầu nguyện

giờ phút linh thiêng

gió lặng chim ngừng

trái đất rung động bảy lần

khi bất diệt đi ngang dòng sinh diệt

bàn tay chuyển pháp

trong hương đêm tinh khiết

ấn cát tường nở trắng một bông hoa

thế giới ba ngàn đồng thanh ca ngợi Văn Phật Thích Ca

giờ phút linh thiêng

đóa bất diệt nở ngay giữa vườn hoa sinh diệt

nụ giác ngộ hóa thành muôn thi thiết

ngài về đây học tiếng nói loài người

đêm nao

từ trời Đâu Suất nhìn về

chư thiên thấy địa cầu quê hương tôi sáng hơn vì sao sáng

và tinh tú muôn phương chầu về

cho đến khi vừng đông tỏa rạng

cho đến khi vườn Lâm Tỳ Ni biến thành chiếc nôi êm chào đón Phật sơ sinh

nhưng đêm nay

từ địa cầu quê hương tôi

loài người mắt lệ rưng rưng

hướng cả về mấy từng trời Đâu Suất

tiếng kêu khóc của sinh linh ngã gục

dưới bàn tay bạo lực căm thù

trong bóng đêm

địa cầu quê hương tôi đã mòn mỏi trông chờ

giờ mầu nhiệm để vô biên hé mở

cho ng ti tan đi vi nim lo s

cho hi Long Hoa v

để pháp âm tiếp ni bng li ca tiếng hát em t

đêm nay xin mưi phương trăng sao chng minh

cho đa cu quê hương tôi ng li cu nguyn

cho Vit Nam khói la

cho Vit Nam điêu linh

cho Vit Nam, qun qui đm chìm trong u l,

sm vùng dy trong đau thương thế k

để biến thành chiếc nôi êm đón chào T Th

thêm mt ln hoa n Pht sinh

đêm nay cu cho kh đau trái kết hoa thành

cho sinh dit đi ngang ng pháp thân bt dit

cho sui tình thương chy tràn trên vn ng tha thiết

để loài ngưi hc tiếng nói chân như

để tiếng nói tr t thành ging chim ca.

Bài này tôi thuộc lòng vì nó đã được Thầy phổ nhạc và tôi đã hát hàng trăm lần trong các thánh đường Công giáo, Tin Lành. Hơi nhạc của bài này rất trang nghiêm và hùng mạnh. Tại Đại hội Tôn giáo và Hòa bình năm 1974 ở Louvain, hồi ấy có thầy Huyền Quang và Thiện Minh tham dự, tôi đã hát bài này để mở đầu buổi trình diễn của Phái đoàn Phật giáo Việt Nam về cuộc tranh đấu bất bạo động cho hòa bình.

Trên trái đất, cách đây hai ngàn năm trăm ba mươi năm, một đức Phật đã ra đời, đó là đức Thích Ca. Sự xuất hiện của ngài được miêu tả như là bt dit đi ngang ng sinh dit, gây nên sự chấn động bảy lần liên tiếp của trái đất. Trên quê hương đổ nát, tác giả đã cầu nguyện cho những khổ đau Việt Nam được thành hoa, kết trái, cho sinh dit đi ngang dòng pháp thân bt dit để đất nước điêu linh này biến thành một chiếc nôi mới chào đón một đức Phật mới, đó là đức Di Lặc Từ Thị. Tôi rất ưa hình ảnh đức Phật giáng trần để học tiếng nói loài người, cũng như hình ảnh loài người bập bẹ học nói tiếng chân như, và một sáng mai nào đó tiếng nói trẻ thơ nghe như tiếng chim ca…

Bản dịch Anh văn của bài thơ này đã được tổ chức Fellowship of Reconciliation in trong một thiệp chúc Noel cùng với một bức tranh của họa sĩ Võ Đình. Bức tranh này anh Võ Đình vẽ để tặng tổ chức F.O.R, hiện còn được trưng bài tại Nyack, New York.

Sáng nay em đi

cho tương lai

một khoanh trời loáng bạc

cánh phụng hoàng vươn

vút cao trời lồng lộng!

sóng bạc níu chân cầu

ánh sáng gọi dậy đàn chim non

chỗ trú ẩn năm xưa

nay là nơi tiễn em

trở về với

chốn sông dài biển rộng.

Đêm hội trăng rằm

cái gì sẽ xảy ra khi Sắc chạm phải Không

và cái gì sẽ xảy ta khi tưởng đi vào phi tưởng?

kẻ trượng phu ơi hãy ở lại cùng tôi quan sát:

hai tên hề Sinh Tử đang cùng nhau bày trò

ảo thuật trên sân khấu thế gian

a thu lá chín, lá bay

vàng đỏ diễn phô, đầy trời ngoạn mục

đã từ bao lâu cành nâng niu nắm giữ

sáng hôm nay cành buông: lá hồng theo gió bay đi

           đèn đã treo cờ đã giăng

           đêm hội trăng rằm đủ mặt

bậc trượng phu ơi còn đợi gì?

vầng sáng trên cao chưa tắt

đêm nay trời không một gợn mây

đèn lửa hỏi thêm phiền

lo chi chuyện cơm nước

ai tìm, mà ai được?

cùng trăng vui suốt đêm.

 

Hai câu “đèn lửa hỏi thêm phiền, lo chi chuyện cơm nước” gợi nhớ tới hai câu của thiền tổ Liễu Quán:

tảo tri đăng thị hỏa

phạn thục dĩ đa thì.

(nếu sớm biết đèn là lửa

cơm chín đã lâu rồi.)

“Chuyện cơm nước” ở đây chắc hẳn là chuyện công phu thiền quán, “Sắc chạm phải Không” thì cũng như matière chạm phải anti-matière, cái gì sẽ xảy ra. Sinh và Tử, Sắc và Không, Tưởng và Phi Tưởng đều là hiện tướng. Xin các bạn tham khảo lại bài Một mũi tên rơi hai cờ ảo tượng và bài Hãy gọi đúng tên tôi.

Ngày nào tôi tháo được trái tim

  1. Ngưi anh em (da u) ca tôi đói. Đa ngc sát ngay mt n. Tôi ngn ngơ ngơ ngn làm sao, đ cho ông chiếm mt miếng tht bò.
  2. Ngưi anh em (da ng) ca tôi khn cùng. Đa con anh bui sáng kng có c khoai vào bng, xu ngt trên ghế nhà trưng. Tôi còn lo tranh đu đ ch nhà đng tăng tin nhà, t ông đã trang b đưc máy mi ri, tôi tht nghi
  3. Ngưi anh em (da đen) ca tôi thiếu ăn mà kng ngt sinh con n cháu, anh ơi, sinh ra nhiu quá cơm go đâu mà nuôi. Nhưng anh biết làm sao? Ngưi v kng có sa có cơm, m con b bên v đưng, hy vng có ngưi đng tâm đem v nuôi ng. Mưi hai triu tr em chết đói ti các nưc chm tiến mi năm. Tôi ngày đêm tranh đu đ tăng đng ơng smic. Tôi ngày đêm tranh đu đ chng g sinh hot vt T gi đâu mà lo lng cho ngưi anh em khn kh.
  4. Ngưi anh em (da trng) ca tôi làm 3 x 8, ăn ng tht thưng, t nhà máy v ni đóa đp v la con. Đa ngc ngay đây. Cng tôi bn tranh đu ngay ti nơi này, t gi đâu lo cho ngưi anh em chúng tôi nơi khác?
  5. Ông bo vì quyn li quc gia, không th ngưng đà phát trin kinh doanh. Ông mun thu dng tôi vào xưng chế to đn bom cung cp v các nưc A, Phi chm tiế Tôi tht nghip, đói mèm, thiếu điu đưa tay cho ông ràng trói. Ngưi anh em tôi bên đó thiếu go thiếu cơm, nào phi cn đn cn bom đ tương tàn tương hi?
  6. Vì tôi ngn ngơ ông đã chiếm mt miếng tht bò. Vì tôi ngn ngơ, ông đã chiếm cái TV mu, chiếc xe Mustang, ngôi nhà ngh mát bên b bi Ông bo tôi mun có nhà có TV có xe hơi không khó; ch cn ký giy làm vic chung thân. Tôi đã b ràng buc nhiu ri, không dám theo ông đi vào mê l. Ông bo tôi gàn d, phn c gánh cái v cng ca mình chưa ni mà c nghĩ chuyn đ núi Thái Sơn.
  7. Vc ht có th đem cu đói ngưi anh em tôi, ông đã dùng chế to nên miếng tht bò. Đng tht đã cao bng trái i. Trái i che khut mt tri, kng thy ngưi thương. Vc ht có th đem cu mng đa gi này đang nm thiêm thiếp Ethiopie, đã đem làm thành chai rưu. u i lên đng tht bò. Máu i trên ngưi đng loi. Ngày nào tôi tháo đưc trái tim, tôi s nm đưc phn thng trong tay.

Tôi không hiểu những tình cảm trong bài thơ này có thể được diễn tả bằng thơ lục bát hay những loại thơ khác hay không. Miếng thịt bò trong xã hội Tây phương là tượng trưng cho cuộc sống dễ thở. Anh mà nghèo chị mà nghèo thì mỗi tuần chỉ ăn thịt được một lần.

Francois Perroux, giáo sư tại Collège de France và là giám đốc Viện Toán học và Kinh tế học thực hành tại Paris có nói rằng nội một việc các nước Tây phương bớt ăn thịt và uống rượu cũng đủ thay đổi số phận của các nước chậm tiến.[1]

Hoa Kỳ và Âu châu sản xuất lúa mì rất nhiều, nhưng dân chúng các quốc gia Á Phi vẫn đói vì phần lớn lúa gạo là để nuôi bò và để làm rượu. Tôi đã từng gặp những người trẻ ở Đan Mạch và Hòa Lan từ chối ăn thịt và uống rượu vì lý do đó. Tôi cho những người trẻ đó là những người giác ngộ và có tâm từ bi. Thầy nói: “chỉ có sự giác ngộ mới cứu được nhân loại…”, tôi cũng tin như vậy. Nhưng mà sự thách thức lớn lao quá. Những người nghèo và những người thất nghiệp chưa tìm được con đường giải thoát cho họ, lấy thì giờ đâu để lo cho người anh em Á Phi. Họ còn bị trăm ngàn cạm bẫy chờ đợi: mua crédit để chung thân làm nô lệ, chấp nhận một guồng máy kinh tế nuôi dưỡng chiến tranh lại các nước chậm tiến. Nếu không có con mắt giác ngộ, nếu không có con tim biết cảm, biết thương cho thân phận người đồng loại thì sớm muộn gì cũng đưa cuộc đời mình vào những thứ cạm bẫy chung thân đó.

Trong bài thơ trên đây tôi tưởng các danh từ smic và 3 x 8 cần được giải thích. Smic là lương tối thiểu của công nhân tại Pháp (salaire minimum de croissance). 3 x 8 là thời gian làm việc của một số thợ thuyền tại các nhà máy mà ông chủ không muốn cho máy ở không. Tuần này làm từ 5 giờ sáng đến 1 giờ trưa, tuần tới làm từ 1 giờ trưa đến 9 giờ tối và tuần tới nữa từ 9 giờ tối đến 5 giờ sáng. Ba lần tám giờ và trở lại như cũ. Những người làm 3 x 8 ăn ngủ và làm việc thất thường cho nên rất “quạu”, dễ đánh lộn với bạn bè và vợ con. Nhưng nếu họ không chấp nhận giờ giấc đó thì họ mất việc.

[1] “On sait qu’une réduction de la consommation de viande et de l’alcool dans les pays developpés changerait le sort des pays en voie de développement.” F. Perroux, Encyclopedie Universalis.

Người hành khất năm xưa còn ngồi đó

từ khoáng, t khí, t sương

t tâm linh

từ nhng gii t du hành gia các tinh vân đi mau bng ánh sáng

em đã ti đây, đôi mt xanh ta rng

vô th vô chung đã cùng vch đưng đưa li em sang

trên đưng đi em bo em đã tri qua muôn triu kiếp luân hi sinh dit

đã tng làm bão la trên kng

đã tng đem thân đo tui i tui ng

làm c làm cây

làm sinh vt đơn tế bào

làm đóa hoa dim tuyt.

nhưng đôi mt em nhìn tôi sáng nay

li chng minh rng em chưa bao gi tng chết

nụ i kia vn mi tôi

tham d na vào t chơi đã bày ra t tin kiếp:

trò chơi đi trn đi m.

 

hỡi con sâu xanh sáng nay đang un mình đo chi cây chi cây non đã mc sut mt a năm ngoái

ai cũng bo em ch mi sinh ra trong a xuân năm nay. Thc ra, ngươi đã có mt t hi nào?

sao mãi ti pt này mi chu hin nguyên hình, đem theo n i trm lng?

u ơi, mi hơi th ca tôi làm tuôn ra hàng vn tinh cu

cái rt ln kia ai hay li kng ngoài cái thân em rt nh

mi chm trên thân em đã thiết lp muôn ngàn i Pht

mi cái đo ca em cn đến thi gian t vô th cho ti vô chung.

ngưi hành kht năm xưa vn còn trên Linh Thu Sơn

thn nhiên ngi nhìn mt tri huy hoàng đang ln

Gotama! ô hay! ai bo rng Ưu Bát Đa La triu năm mi có mt ln n?

tiếng hi triu kia, có chiếc tai nào chu lng mà li kng nghe?

Từ khoảng 1970 trở đi, tôi nhận thấy Thầy chú ý tới các tác phẩm của các khoa học gia như Broglie, March, Heisenberg, Planck, Capra… Thầy nói: “Ngôn ngữ của các nhà khoa học vật lý nguyên tử bây giờ càng lúc càng gần với ngôn ngữ Phật học”. Thầy cũng nói rằng nếu được khai thị, những người này sẽ có thể hiểu được Đại Thừa Phật giáo một cách dễ dàng. Vì vậy gần đây Thầy có dự định viết một cuốn sách nhỏ về Phật học cho họ. Trong bài thơ trên đây, danh từ giới tử không phải để chỉ cho hạt cải mà lại là tiếng dịch của danh từ mésons. Danh từ khí cũng có nghĩa là gaz.

Trong truyện T, Thầy thuật rằng bé Thạch Lang từ đá sinh ra. Có lần Thầy cười mà nói rằng tất cả chúng ta cũng đều sinh ra từ đá: từ khoáng, từ khí, từ sương… Đáng lý phải nói là “t khí, t khoáng, t sương...”. Bởi vì theo tôi thì trước hết là có những đám mây bằng gaz vĩ đại rồi sau đó mới có những vì sao…

Tại am Phương Vân, nhiều hôm chúng tôi được đi thăm vườn với Thầy. Ở đây Thầy không bao giờ dùng chất độc hóa học để giết sâu, ốc sên và limaces. Đã có lần tôi thấy Thầy đối xử với những con ốc sên như là đối xử với những đứa con nít. Có lần Thầy để ra mười phút để quán sát một con sâu con, và nếu không muốn cho con sâu đó ăn mất cái chồi cây mới lên, ông dùng một ngọn lá đưa nó ra ngoài đồng cỏ.

Theo Thầy thì từ khi là “khoáng” là “khí” đến nay, ta chưa bao giờ từng chết: nếu chết thì đã không có mặt hôm nay. Mà nếu trong hàng trăm triệu năm qua ta không chết thì làm sao ta lại có thể chết trong mấy năm hoặc mấy chục năm sẽ tới? Các nhà khoa học kia nhận rằng những hạt bụi sương nhỏ bé cũng hàm chứa những vũ trụ nhiệm mầu khôn tả. Sinh diệt chỉ là hiện tướng. Có con mắt siêu việt được hiện tướng thì có thể thấy được đức Thích Ca giờ này còn ngồi trên đỉnh núi. Pháp hội Linh Sơn còn đó. Tiếng giảng kinh Hoa Nghiêm vẫn còn sang sảng. Đó là cái thấy mà con sâu xanh đem lại cho Thầy.

Hãy gọi đúng tên tôi

đừng bảo ngày mai tôi đã ra đi

bởi vì chính hôm nay tôi vẫn còn đang tới

y ngắm tôi thoát hình trong từng phút từng giây

làm đọt lá trên cành xuân

làm con chim non cánh mềm chiêm chiếp vui mừng trong tổ mới

làm con sâu xanh trên cuống hoa hồng

làm gân viên ngọc trắng tượng hình trong lòng đá.

i còn tới để khóc để cười

để ưc mong đ lo s

s xut nhp ca tôi hơi th

nhịp sinh dit ca tôi cũng tiếng đp mt ln ca hàng triu trái tim

 

tôi con phù du thoát hình trên mt nưc

con chim sơn ca a xuân v trên sông đón bt phù du

i con ếch bơi trong h thu

cũng con rn nưc trưn đi tìm ch nuôi thân bng thân ếch nhái

tôi em nghèo Uganda, bao nhiêu xương sưn đu l ra, hai bàn chân bng hai ng sy

i cũng ngưi chế to bom đn

để cung cp kp thi cho các dân tc Á Phi

i em mưi hai b làm nhc nhy xung bin sâu

i cũng ngưi hi tc sinh ra vi mt trái tim chưa biết nhìn biết cm

i ngưi đng viên cao cp, cm quyn sinh sát trong tay

cũng k b coi có n u nhân dân đang chết dn mòn trong tri tp trung ci to

nỗi vui ca tôi thanh thoát như tri xuân, m áp c hoa muôn li

niềm đau ca tôi đng thành nưc mt, ngp v bn đi ơng sâu

y nh gi đúng tên tôi

cho tôi đưc nghe mt ln tt c nhng tiếng tôi khóc tôi i

cho tôi thy đưc ni đau nim vui mt

y nh gi đúng tên tôi

cho tôi git mình tnh thc

và để cho cánh cửa lòng tôi để ngỏ

cánh cửa xót thương.

Đng bo ngày mai tôi đã ra đi”, câu này nghe như là tiếng vọng của câu “ngày mai tôi đã đi rồi” trong bài Kh lai. Theo tôi, bài này diễn tả được cái nhìn siêu ngã, một cái nhìn có thể thiệt sự khơi mở được đại – bi – tâm, như Thầy đã diễn đạt trong No v ca Ý.

Có lẽ bài này cho chúng ta thấy được thế nào là hành động trên lập trường Bát Nhã. Chia ra hai phía thù và bạn để mà tranh đấu, đó chưa phải thực sự là hành động phát xuất từ đại bi tâm. Chúng ta ai cũng có thể thương được con ếch, nhưng ít ai thương được con rắn nước. Con ếch bị con rắn nước nuốt, nhưng chính con ếch cũng không sống được nếu chính nó không nuốt những sinh vật khác nhỏ hơn. Hành động như thế nào để “không ghét cả những kẻ ác” như kinh Bát đi nhân giác dạy mới thật là hành động của người Bồ tát. Kẻ ác kia cũng cần được cứu độ, cũng nằm trong lĩnh vực hóa độ của Bồ tát.

Mỗi một cái tên chỉ nhốt được một mảnh vụn của sự sống. Gọi đúng tên tôi thì tất cả đều lên tiếng một lần. Chỉ có sự thc tnh mới mở được cánh cửa của đại bi tâm.