Mở cửa vườn hoa

Chân Tánh Nghiêm

Ngày ấy, bây giờ

Tình chị em thắm thiếtXuân mới đang dần bước lại gần, mùa đông cũng đang lặng lẽ đi qua. Vậy là chúng con sắp đón thêm một cái Tết thứ tư tại Tu viện Mộc Lan. Qua bao năm ấp ủ để hình thành tâm nguyện tứ chúng đồng tu, giờ đây Mộc Lan đã dần ổn định và đi vào nề nếp, thực tập với bước chân hiện pháp lạc trú, hơi thở chánh niệm và nụ cười tỉnh thức mà Thầy đã trao. Trong những năm qua trên bước đường xây dựng Tăng thân, xây dựng nếp sống tâm linh, chúng con đã và đang làm với tâm phụng sự. Hy vọng tu viện sẽ là nơi nương náu cho tất cả những ai cần trở về thực tập chuyển hóa, ôm ấp nỗi khổ, niềm đau hay trở về tiếp nhận năng lượng tâm linh, năng lượng bình an cho chính mình.

Nhớ lại những ngày đầu khi chúng con đặt những bước chân thật mới, thở những hơi thở trong lành của thuở ban đầu vừa lạ lẫm, vừa thân quen. Bốn năm đã trôi qua với bao gương mặt, bao tiếng khóc, tiếng cười của mỗi anh chị em đã đến, đã đi, mỗi hình ảnh đến là một sự đặt chân, góp bàn tay và tấm lòng để hình thành nên Mộc Lan như bây giờ. Bây giờ Mộc Lan đã hình thành một trung tâm tu học có đầy đủ thiền đường với tên “Hải Triều Lên”, tháp chuông “An Trú”, có nơi cho quý thầy và quý sư cô cư trú và những khu nhà ở cho thiền sinh. Trong những năm qua ngoài sự tu học cho bản thân thì quý thầy, quý sư cô cũng tập làm những công việc như kiến tạo những rừng cây thoáng mát để có nhiều không gian thực tập, xây dựng những công trình như Thiền đường, Tháp chuông, Cốc Thầy, nhà vệ sinh công cộng. Bên cạnh đó đã mở ra những ngày quán niệm hàng tuần, nhiều khóa tu cho nhiều thành phần người trẻ như: Gia đình Phật tử, học sinh, sinh viên, người da màu về tu học. Phần lớn những khóa tu đều đem lại nhiều chuyển hóa cho những người đến tham dự, đặc biệt là hai chuyến đi hoằng pháp của Thầy ở Mỹ. Khóa tu nào ở Mộc Lan cũng có hàng ngàn người về tham dự và được lợi lạc rất nhiều.

Sống dậy tình lam

“Lam tình lam nói mấy cho vừa
Văn tư tu cố gắng trau dồi
Tay nối trọn vòng tình thân ái
Anh bên em kết chặt tình lam”

Tháng 6/2011 là khóa tu đầu tiên, với số lượng người trẻ đông nhất là 200 em đoàn sinh, huynh trưởng Gia đình Phật tử Miền Tịnh Khiết. Khóa tu này do Ban hướng dẫn miền cùng quý thầy cố vấn giáo hạnh tổ chức với sự yểm trợ của Tu viện Mộc Lan. Khóa tu này là bước đầu của tiếng chuông chánh niệm cho những người trẻ Gia đình Phật tử và những người anh, người chị huynh trưởng đã bao năm khoác trên mình chiếc áo lam và theo đuổi con đường lý tưởng phụng sự. Tuy nhiên với đời sống xã hội bên ngoài, với bao bận rộn bon chen lo cho gia đình nhỏ của mình, song song đó là chăm lo dạy dỗ cho các em đoàn sinh Gia đình Phật tử. Dưới sự nâng đỡ chỉ dạy của quý Hòa thượng, quý thầy cố vấn giáo hạnh, ban tổ chức đã từng mở ra những khóa tu huấn luyện hay khóa trại với chương trình vui chơi sinh hoạt theo truyền thống tổ chức Gia đình Phật tử trong tinh thần nuôi dưỡng người trẻ, tạo cho các em có được nếp sống lành mạnh và xác định hướng đi cho bản thân mình. Các em là những người Mỹ gốc Việt nên phần lớn ngôn ngữ của các em ở đây là tiếng Mỹ. Lúc đầu danh sách ước lượng là 400 em, nhưng nghe nói khóa tu nên các em ngại, nghĩ rằng tu tập trang nghiêm, không được chơi như các trại huấn luyện nên các em đã rút lại chỉ còn gần 200 em. Nhưng khi các em thật sự đến Mộc Lan, được quý thầy, quý sư cô trẻ hướng dẫn tu học một cách nhẹ nhàng và thoải mái. Các em được tham dự pháp thoại, pháp đàm, được buông thư, đi thiền hành, ăn cơm chánh niệm và nhất là được chơi với quý thầy, quý sư cô trẻ khiến các em rất hạnh phúc. Và đặc biệt các em học được cách thực tập làm sao để làm chủ được cảm xúc, làm chủ được năng lượng bạo động, học cách truyền thông với gia đình, với những người xung quanh và nhận ra ý nghĩa cuộc sống cho cuộc đời mình.

Tình chị em thắm thiếtNgày đầu tiên các em còn ngỡ ngàng chưa quen. Đến với khóa tu này mọi chương trình đều khác so với những gì trước đây các em đã từng tham dự. Qua ngày thứ hai, thứ ba các em bắt đầu quen dần và thấm được lợi ích của sự thực tập chánh niệm và niềm vui đó có mặt trong các em khi được tiếp xúc, gần gũi quý thầy, quý sư cô trẻ, được lắng nghe, được chia sẻ ra những gì mình đang nghĩ trong lòng: khó khăn, sợ hãi, căng thẳng về việc học. Khóa tu đầu tiên đã gieo cho các em một ấn tượng thích thú và các em mong muốn được trở lại. Vì thế 2 năm sau (tháng 06/2013) khóa tu được mở ra trở lại. Lần này thấy được lợi ích cần tham dự khóa tu nên các em đã truyền tin cho nhau và khi vừa đến Mộc Lan các em cảm thấy rất phấn khởi. Khác hẳn so với khóa tu trước, số lượng đã lên 300 em. Lần này, quý thầy, quý sư cô đã chuẩn bị chương trình chu đáo hơn, thời khóa rộng rãi, nhẹ nhàng hơn, có thời gian cho các em chuyên tâm vào sự thực tập, thư giãn, vui chơi. Các em được chia ra nhiều độ tuổi thích hợp cho tâm lý và suy nghĩ của các em. Để cho các em có được không gian thời gian trọn vẹn và đặt mình vào trong suốt thời gian có mặt ở khóa tu, các em được khuyến khích là các máy điện thoại, máy nghe nhạc đều gởi lại cho các anh chị huynh trưởng của đơn vị mình giữ dùm cho đến hết khóa tu. Các bậc cha mẹ đưa con đến Mộc Lan cũng được yêu cầu thực tập để yểm trợ cho các em bằng cách không đến chăm sóc các em như lúc các em còn ở nhà và để cho các em có không gian, thời gian tự chăm sóc, tham gia vào mọi nội qui của khóa tu. Các em rất thích thú điều này. Trong những ngày khóa tu, ngày nào các em cũng được thức dậy ngồi thiền, ăn sáng, đi thiền hành, nghe pháp thoại, thiền buông thư, pháp đàm, chơi thể thao, sinh hoạt vòng tròn, lửa trại cũng như làm quen với các đơn vị khác. Các em mở lòng ra chia sẻ rất nhiều. Quý thầy, quý sư cô có cơ hội ngồi lắng nghe các em chia sẻ trong những buổi pháp đàm rất cảm động. Nhìn bên ngoài các em hồn nhiên, vui vẻ, trong sáng vậy nhưng phần lớn các em đều có nỗi lòng, khó khăn, căng thẳng, không có truyền thông được với ba mẹ vì ngôn ngữ và văn hóa. Các em lớn lên ở Mỹ nên khác với văn hóa ba mẹ lớn lên ở Việt Nam, các em chia sẻ ra được và khóc rất nhiều. Có những anh chị huynh trưởng hết sức ngạc nhiên khi thấy các em nói ra được như vậy, các anh chị vừa mừng vừa hạnh phúc. Khi thấy các em đang học được cách để tháo gỡ những khó khăn, và các anh chị không ngờ rằng mình đã mấy mươi năm sinh hoạt Gia đình Phật tử, khoác áo lam làm huynh trưởng, gần gũi chăm sóc các em nhưng chưa bao giờ có cơ hội thật sự được nghe các em chia sẻ về khổ đau, khó khăn của mình. Nhưng đến khóa tu chỉ có bốn ngày, nhờ vào sự thực tập, nhờ năng lượng bình an và động lực lắng nghe mà quý thầy, quý sư cô đã giúp cho các em tháo gỡ được những khó khăn trong lòng, các em tự hứa sau khóa tu về lại gia đình, các em sẽ cố gắng thực tập tốt hơn để không quên những ngày hạnh phúc ở Mộc Lan.

Gởi gắm tin yêu

Quý thầy, quý sư cô ở tu viện Mộc Lan tuy còn trẻ, sức tu cũng chưa nhiều nhưng không ngại đem chút tình thương, tấm lòng mình có ra để nâng đỡ, chăm sóc các em. Bởi vì quý thầy, quý sư cô thấy được trên đất nước Mỹ mà có 300 – 400 các em trẻ Gia đình Phật tử từ nhiều tiểu bang hội tụ về tu học không phải dễ có được. Vì thế quý thầy, quý sư cô không ngại mình còn yếu kém tiếng Anh, nên đã có mặt trọn vẹn ra hướng dẫn chia sẻ cho các em. Trong số quý thầy, quý sư cô phần lớn trước khi đi tu cũng đã xuất thân từ Gia đình Phật tử nên phần nào đó cũng hiểu được tâm lý những gì các em cần, như sự gần gũi, tình thương hay hòa mình vào với các em, tạo không khí vui vẻ, năng động, cho các em thấy được lý tưởng, thấy được mục đích sống của mình.

Qua bốn ngày tu học, các anh chị huynh trưởng và các em đoàn sinh phần lớn ai cũng gặt hái được nhiều thành quả của sự an lạc, hạnh phúc, chuyển hóa được những khúc mắc trong lòng. Riêng các anh chị huynh trưởng qua bao nhiêu khóa trại, đây là lần đầu tiên các anh chị được thảnh thơi thực tập cho mình mà không bị căng thẳng như những lần trước vì phải lo về việc tổ chức. Vì thấy được lợi ích của việc tu tập chuyển hóa tự thân cần thiết để trước khi mình đứng ra hướng dẫn, dìu dắt các em, vì thế các anh chị xin quý thầy, sư cô đứng ra tổ chức cho các anh chị có thời gian được thực tập. Quý thầy, quý sư cô rất hoan hỷ với sự tha thiết tu học của các anh chị. Còn về quý thầy, quý sư cô cũng được nuôi dưỡng và học hỏi rất nhiều từ các anh chị huynh trưởng đã hết lòng thương và chăm sóc các em của mình. Có nhiều anh đi làm cả tuần, vậy mà phải thức suốt đêm để lái xe từ 8 đến 10 tiếng đồng hồ đưa các em đoàn sinh của mình về tham dự khóa tu. Khóa tu đã để lại trong lòng mỗi người nhiều kỷ niệm, nhiều ấn tượng sâu sắc và ai cũng mong muốn sớm có được khóa tu như vậy nữa.

Tình Lam đơm hoa

Nhờ thừa hưởng niềm vui, an lạc từ khóa tu, thỉnh thoảng có ngày lễ được nghỉ học, các em lái xe về tu viện thăm hoặc ở lại thực tập vài ngày, mỗi khi có khóa tu cũng có em trở lại tham dự. Còn số các anh chị huynh trưởng sau đó cũng về tham dự khóa tu tháng 9 tại tu viện dưới sự hướng dẫn của Sư Ông và tăng thân Làng Mai. Theo như các anh chị huynh trưởng cho biết thì có 94% các em xin được có khóa tu hằng năm. Vì thế, tháng 03/2014 sẽ có khóa tu cho Gia đình Phật tử Pháp Quang được tổ chức tại chùa Pháp Quang, Dallass. Tháng 06/ 2014 tại Tu viện Mộc Lan sẽ khóa tu dành cho Gia đình Phật tử Miền Tịnh Khiết như mong muốn. Tháng 07/2014 sẽ có một khóa tu dành cho Phật tử trẻ An Bằng tại tu viện Mộc Lan.

Tết Giáp Ngọ năm nay, Sư Ông Làng Mai có cho hai câu đối: “Năm mới ta cũng mới – Người vui cảnh sẽ vui”.

Kính chúc gia đình áo lam tiếp tục thực tập để tự thân mình thấm nhuận hai câu đối mà Sư Ông đã trao tặng.

Nhìn lại một năm qua

Chân Hoa Nghiêm

Trung Tâm Làng Mai Quốc Tế Thái Lan

Ngày toàn chúng dọn lên trung tâm mới, nhà ăn, nhà bếp, thiền đường vẫn chưa có. Một số các thầy, các sư chú có tay nghề giúp xây nhà bếp và nhà ăn bằng tranh tạm thời cho đại chúng hai bên sử dụng, còn thiền đường thì mỗi xóm tạm thời dùng phòng sinh hoạt tại cư xá mình ở. Bên cạnh đó, phải thành lập các ban tổ chức các khóa tu cho Sư Ông và phái đoàn Làng Mai về để hướng dẫn khóa tu cho thiền sinh Thái cũng như cho thiền sinh các vùng Đông Nam Á trong đó có người Việt. Các thầy, các sư cô, sư chú ngày đêm “làm việc mệt nghỉ”, vậy mà đi tới đâu tôi cũng thấy nụ cười rạng rỡ trên nét mặt của mọi người. Thật sự niềm hạnh phúc lớn nhất mà tôi cảm được lúc đó là ai cũng thấy mình thật sự được sống tự do tại tu viện của mình. Sư Ông cũng đã nói ra điều ấy: “Thái Lan là một quốc gia Phật giáo, dân tộc Thái rất hiền và kính trọng người tu. Ở đây cũng là một vùng đất hiền lành. Các con phải thấy rằng mình có nhiều điều kiện hạnh phúc. Bây giờ mình đã có tu viện và mình có chủ quyền với tu viện của mình. Mình muốn trồng cây, làm vườn hay xây cất theo kiểu nào thì tùy ý. Không có chính quyền hay một đảng phái nào bắt mình phải làm theo ý của họ, cũng không ai có thể đuổi mình ra khỏi tu viện.” Bát Nhã là một bài học kinh nghiệm cho chúng tôi trân quý những gì đang xảy ra trong giờ phút hiện tại.

vẫn còn bên nhau
vẫn còn bên nhau

Tháng Tư, Sư Ông và phái đoàn Làng Mai về Thái Lan, đại chúng hạnh phúc được gặp lại Sư Ông và Tăng đoàn. Mới đến trung tâm, qua ngày sau Sư Ông đã hướng dẫn đại chúng thiền hành quanh các xóm. Dãy núi phía sau cốc Nhìn Xa của Sư Ông là nơi ngồi thiền lý tưởng được Sư Ông đặt tên là thiền đường Vách Núi. Kể từ hôm ấy, mỗi sáng sớm đại chúng theo Sư Ông thiền hành lên núi và ngồi thiền tại đó. Đây là một thiền đường thiên nhiên, không cần xây cất gì cả. Ngồi ở đó mình được thở không khí thật trong lành của buổi sớm mai, nghe chim hót và mọi người có cơ hội tiếp xúc với thiên nhiên, ngắm bình minh lên trên dãy núi Khao-Yai từ xa. Bắt đầu mỗi buổi ngồi thiền, Sư Ông thường đặt cái chuông nhỏ trong lòng bàn tay của một sư chú hoặc một sư cô sa di trẻ, rồi Sư Ông thỉnh lên ba tiếng chuông. Tiếng chuông ngân vang trong không gian mát rượi, núi rừng, cây cỏ, chim chóc như ngưng đọng và cùng thở chung một nhịp thở với loài người. Trở về với hơi thở, không khí thật trong lành, Sư Ông và đại chúng đang ngồi đó, tôi thấy mình vô cùng hạnh phúc. Sư Ông thăm và chơi với đại chúng ở Thái suốt thời gian ở thiền viện trước khi tham dự các khóa tu. Thời gian ấy cứ mỗi lần Sư Ông đi ra ngoài thì không biết từ đâu, từng đàn bướm trắng bay quanh quấn quýt bên Người.

Tháng Tư là tháng của mùa xuân bên Thái Lan, nhưng cũng là tháng nóng nhất trong năm. Vì là một trung tâm mới nên cái gì cũng mới, những cây cao lớn chưa có để che bóng mát cho các Ni xá cũng như Tăng xá, chỉ có những bông hoa màu vàng, màu cam rực rỡ đầy ắp được trồng ở Ni xá của các sư cô. Mỗi lần đi từ Ni xá đến nhà ăn, trời nắng như thiêu như đốt, tôi có cảm tưởng rằng mình đang đi ngang qua một sa mạc. Nhà ăn chưa xây nên phải tạm dùng nhà lợp bằng tranh không tường không vách, cái nóng bên ngoài hắt vào khá nóng khi phải ngồi ăn bên trong. Giữa cái thời tiết khắc nghiệt như thế mà đại chúng ai cũng hạnh phúc, sự hiện diện của Sư Ông như tàng cây cổ thụ đã làm dịu đi cơn nóng khắc nghiệt của vùng nhiệt đới Khao-Yai, Thái Lan.

Cho người niềm vui

Suốt một tháng trời, Sư Ông đã hiến tặng sự có mặt của mình trong tất cả những khóa tu. Những buổi phỏng vấn với các nhà báo, những buổi gặp mặt với các thiền sinh cũng như với cha mẹ của các thầy các sư cô, ngay cả những buổi gặp mặt với các sư con còn tuổi teen của Sư Ông. Tưởng chừng như Sư Ông đã “vắt hết” nước từ bi trong người của mình ra để hiến tặng cho đất nước Thái Lan, cho thiền sinh vùng Đông Nam Á, cho những người dân Việt Nam, và cho các học trò của mình.

Những khóa tu đã rất thành công. Khóa tu Đạo Bụt Ứng Dụng với chủ đề “Happy teachers can change the world” (Thầy cô giáo hạnh phúc sẽ làm thay đổi thế giới) tại trường đại học MahachulaLongkhon với hơn 800 người tham dự, đa số là thầy cô giáo Thái, ngoài ra còn có nhiều thiền sinh từ các quốc gia Đông Nam Á như Indonesia, Singapore, Mã Lai, Hồng Kông, v.v… và hơn nửa số thiền sinh là các thầy từ truyền thống Nam tông đang học tại trường tham dự. Sư Ông đã cho những bài pháp thoại rất sâu sắc cho các thầy cô giáo. Đặc biệt của khóa tu là những buổi workshop được hướng dẫn bởi các thầy các sư cô giáo thọ Làng Mai với các thiền sinh giáo viên. Một cô giáo dạy trường trung học chia sẻ rằng: “Cô rất hạnh phúc vì có thể áp dụng tiếng chuông trong lớp học để giữ sự im lặng. Cô sẽ dạy học trò cách thở chánh niệm, và thay vì trừng phạt và la lối như trong quá khứ cô đã từng làm thì cô sẽ dùng một phương pháp khác nhẹ nhàng và đầy hiểu biết hơn.” Một thầy Giáo thọ chia sẻ lại rằng: “Mình sử dụng tiếng chuông là để nhắc các em trở về với hơi thở chánh niệm, để làm lắng dịu những cảm xúc và tâm hành đang phát khởi trong các em nhiều hơn là bắt các em im lặng. Thói quen này sẽ giúp các em khi ra khỏi ngoài trường học biết cách trở về với hơi thở trong những khi có cảm xúc, giúp các em làm lắng dịu những cảm xúc khi gặp những khó khăn”. Cuối khóa tu, có gần 400 người xin thọ Năm giới.

Khóa tu Gia Đình kết hợp với khóa tu Wake Up dành cho người trẻ, số lượng người ghi danh quá đông, lên đến 1200 người tham dự. Một số các em thanh niên trong nhóm Wake Up phải ra ngoài các nhà trà của khách sạn để cư trú. Tết Songkran của Thái Lan được tổ chức ngay trong khóa tu, nghi lễ diễn ra thật cảm động. Buổi sáng sớm, sau khi ngồi thiền là buổi đi khất thực của Tăng đoàn Làng Mai với sự có mặt của Sư Ông. Tất cả thiền sinh Thái đều đứng hai bên đường chắp tay cung kính. Khi quý thầy quý sư cô đi qua, mỗi thiền sinh liền đặt vào bình bát từ những muỗng gạo cho đến những túi gạo, hộp sữa v.v… phần lớn phẩm vật cúng dường là gạo. Trời bỗng nhiên mưa lất phất, Sư Ông và phái đoàn vẫn tiếp tục đi cho hết đoạn đường dài. Thật cảm động, hầu như tất cả thiền sinh Thái từ em bé cho đến người lớn đều muốn cúng dường Sư Ông, bên phía Sư Ông, hàng người cúng dường cứ kéo dài ra không dứt. Ban tổ chức phải ngăn chặn người cúng dường lại vì sợ Sư Ông sẽ bị gió mưa, họ có thể cúng dường sau đó cũng được. Buổi lễ rưới nước của dân tộc Thái lúc nào cũng là một buổi lễ đầy ý nghĩa. Đối với người Thái, nước mang đến nhiều may mắn cho một năm mới. Thông thường lời chúc tốt nhất của người nhỏ là rưới nước lên tay hoặc lên chân cho bậc trưởng thượng trong gia đình hoặc người mình thương kính. Sau bài pháp thoại, ba vị đại diện trong số những thiền sinh đã lên làm lễ rưới nước: Ông đại sứ nước Bhutan đại diện cho những thiền sinh Đông Nam Á, ông Pi Charoen đại diện cho Tăng thân Thái và cuối cùng là một bé trai đại diện cho thế hệ trẻ ở Thái lan. Buổi lễ diễn ra thật trang nghiêm và cảm động với bài hát chấm dứt của nhóm Wake Up. Buổi chiều tất cả quý thầy quý sư cô lớn cho đến các sa di trẻ đều ngồi dọc hai bên  đường để các thiền sinh làm lễ rưới nước. Buổi lễ chấm dứt thật hào hứng khi các người trẻ tạt nước cho nhau bằng những xô nước lớn, các thầy cô trẻ cũng không thoát khỏi.

Khóa tu Gia Đình là một khóa tu được tham dự với mọi tầng lớp cũng như mọi lứa tuổi trong xã hội Thái. Lần này có thêm nhóm Wake Up tham dự nên khóa tu Gia Đình khá hoành tráng. Tăng đoàn Làng Mai phải chia ra hai nhóm xuất sĩ ở hai nơi để chăm sóc. Đặc biệt trong nhóm Wake Up có một em thanh niên trẻ làm việc cho đài truyền hình TBS Thái Lan tham dự. Em Wanasing đã thu hình tất cả mọi sinh hoạt của khóa tu Wake Up. Em đi tham vấn từng thầy, quý sư cô trẻ đang hướng dẫn và phỏng vấn những thanh thiếu niên Thái đang tham dự khóa tu. Các em trẻ Thái Lan chia sẻ rằng: Tu thiền theo truyền thống Theravada quá nghiêm khắc đối với các em, vì chỉ có ngồi thiền cả ngày. Trong khi đó các em gặp nhiều khó khăn trong đời sống hàng ngày cần được sự hướng dẫn rõ ràng, mà chỉ học có phương pháp thiền nghiêm ngặt (intensive meditation) không đủ để giải tỏa những bức xúc ở trong lòng. Trong khóa tu này, các em thấy mọi người thực tập lắng nghe nhau, học cách nói lời dễ thương, nói ra được những khổ đau và khó khăn trong lòng cho nên các em thích lắm. Trước những buổi pháp thoại, các em được thực tập hát những bài thiền ca có chất lượng nuôi dưỡng và trị liệu chứ không phải là những ca khúc tình sầu đứt ruột. Một điều ấn tượng cho các em thiền sinh là buổi vấn đáp với các thầy các sư cô trẻ Làng Mai, các em đã đặt những câu hỏi như “vì sao các thầy các sư cô còn quá trẻ mà lại chọn con đường xuất gia suốt đời như vậy?”. Nhiều chuyện vui xảy ra trong buổi vấn đáp ấy. Đêm cuối của khóa tu có trình diễn văn nghệ, một số thầy và quý sư cô trẻ rất “chịu chơi” đã gây ấn tượng mạnh trong lòng các em. Một vị thiền sư đã từng nói rằng: “Đạo Bụt tại thế gian, bất ly thế gian giác.” Các em cho rằng: “Đây là một đạo Bụt mới rất thích hợp và đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của tuổi trẻ hiện đại. Tu thiền không phải chỉ có ở trong chùa, mà tu thiền có thể áp dụng bất cứ ở đâu, trong học đường hay ngoài xã hội.” Sau khóa tu, đài truyền hình Thái TBS đã trình chiếu một loạt phim về những sinh hoạt chi tiết của khóa tu. Chương trình Wake Up bắt đầu phát triển mạnh ở các vùng khác trên đất nước Thái như Chiangmai, Bangkok. Hiện nay tại tu viện, nhóm Wake Up đã tổ chức được những khóa tu định kỳ một năm ba lần.

Khóa tu Gia Đình kết thúc, xe của ban tổ chức chúng tôi được đi về cùng lúc với xe của Sư Ông. Trên đường về lại tu viện, xe của chúng tôi được ưu tiên đi ngang qua vùng núi Khaoyai.  Xe càng đi sâu vào núi thì càng lên cao, bất ngờ xuất hiện một con voi khá to trông vẫn còn trẻ chận đường xe của Sư Ông, thế là xe của chúng tôi cũng phải dừng lại một lúc, lần đầu tiên tôi thấy voi ở Khaoyai. Con voi nhìn chăm chú vào chúng tôi một hồi lâu mới rời đi.

Tuần cuối của tháng Tư, khóa tu cho người Việt với tựa đề “Giờ phút bên nhau” là khóa tu sau cùng của Sư Ông và phái đoàn Làng Mai tại Thái Lan. Có trên 800 người từ Việt Nam tham dự. Đây là một khóa tu không có sự giúp đỡ của những vị tình nguyện viên Thái nên chúng tôi phải lo từ A đến Z. Trung tâm chưa có phòng ốc cho cư sĩ, chưa có thiền đường, v.v… cho nên chúng tôi phải đi tìm những khách sạn nào lớn mà gần Trung tâm để dễ cho việc di chuyển. Tôi nhớ ngày chúng tôi đi đến khách sạn Khiritantip để hỏi thuê chỗ cho khóa tu chứa khoảng bảy tám trăm người tham dự. Chúng tôi đi bằng một chiếc xe van cũ kỹ, không cửa kiếng, không có ghế ngồi. Ban tổ chức phải ngồi dưới sàn xe. Chú quản lý khách sạn Khiritantip là một Phật tử đã từng nghe tiếng Sư Ông. Chú không biết chúng tôi là ai, nhưng chú hết lòng yểm trợ và chấp nhận mọi yêu cầu từ phía chúng tôi. Khi tiễn chúng tôi ra xe, nhìn thấy các thầy các sư cô ngồi trong cái thùng xe cũ mèm, chú cười thật tươi và chắp tay thật cung kính chào chúng tôi. Lúc đầu tôi cũng hơi lo, thấy chúng tôi “nghèo” như vậy thì chắc là chú sẽ từ chối. Nhưng kết quả đã nằm ngoài sự lo âu của tôi, chú và cả khách sạn đã yểm trợ chúng tôi hết lòng, gia đình của chú và chủ khách sạn cùng tham gia dự khóa tu nữa. Cho đến bây giờ, những khóa tu khác vẫn tiếp tục tổ chức tại khách sạn đó, và lúc nào chú quản lý cũng yểm trợ chúng tôi một cách hết lòng. Một phần ba thiền sinh của khóa tu người Việt là gia đình của các thầy các sư cô tham dự. Có một buổi gặp mặt giữa Sư Ông và cha mẹ của các thầy các sư cô. Trong buổi gặp mặt đó, Sư Ông dạy các thầy các sư cô thiền ôm với cha mẹ, có nhiều người cha người mẹ đã khóc vì lần đầu được ôm con với ý thức trân quý sự có mặt cho nhau dù người đó bây giờ đã là một sư cô, một sư chú, hay là một vị thầy rồi.

Cuối khóa tu là những buổi lễ liên tiếp xảy ra. Lễ cúng dường xây thiền đường cho tu viện, lễ truyền Năm giới, lễ xuất gia và lễ Truyền đăng. Trong một khóa tu mà đã có bốn buổi lễ lớn, lễ cúng dường và lễ Truyền đăng được tổ chức ngoài trời và khá hoành tráng. Số lượng người tham dự đã lên đến 1000 người. Những người Thái đến từ Bangkok, từ những tỉnh thành khác của Thái, và cũng có cả những người đến từ địa phương. Trong buổi lễ cúng dường, thầy phó viện trưởng trường đại học Mahachulalongkhon đã phát biểu là trường luôn yểm trợ Làng Mai và rất quý kính Sư Ông.

Tất cả những buổi lễ, những khóa tu, những bài pháp thoại công cộng và những cuộc gặp gỡ quan trọng mà chỉ tổ chức trong vòng có một tháng thì ngoài sức tưởng tượng của mọi người. Nhưng Sư Ông và Tăng thân Làng Mai tại Pháp và Thái Lan đã thực hiện được. Tôi nghĩ điều này chắc là có chư Bụt và chư Tổ gia hộ. Trước thời gian khóa tu tiếng Việt, sư cô Chân Không đã bị bệnh khá nặng, tưởng chừng như không thể hướng dẫn được buổi thiền buông thư và thiền lạy cho thiền sinh người Việt. Tôi lo lắng nghĩ rằng kỳ này chắc là mình và sư cô Định Nghiêm sẽ phải thay thế sư cô ra hướng dẫn, và cảm thấy tiếc cho thiền sinh người Việt không được học trực tiếp từ sư cô. Nhưng hôm đó, bỗng nhiên sư cô xuất hiện mà còn dạy thiền sinh tập những động tác của “Suối nguồn tươi trẻ”, sư cô còn có thể xoay mấy chục vòng luôn. Điều này đã khiến cho nhiều người có niềm tin rất lớn vào pháp môn thực tập mà sư cô đang giảng dạy. Cuối khóa tu hầu hết thiền sinh Việt Nam đều xin thọ Năm giới mới của Làng Mai. Sau khóa tu, những thiền sinh Việt nào đã đăng ký thì được các thầy các sư cô hướng dẫn đi du ngoạn ở Bangkok, một chuyến du ngoạn nhớ đời.

Trước khi rời Thái để tiếp tục cuộc hành trình tại Đông Nam Á, Sư Ông đã có một cuộc gặp gỡ với tất cả chúng thường trú tại Thái Lan. Trong buổi gặp gỡ này, Sư Ông đã dặn dò nhiều điều quan trọng giúp Tăng thân xuất sĩ tại Thái Lan rất nhiều.

Mùa an cư

Mùa An cư cũng là mùa mưa. Cơn mưa của vùng núi có khi là những cơn giông dữ dội làm nghiêng ngả những thân cây già cằn cỗi. Mình chỉ biết ngồi trong phòng lắng nghe tiếng mưa rơi ào ạt trên mái hiên. Trung tâm chúng tôi dùng nước giếng, phải có máy bơm để bơm nước từ giếng lên mới có nước để xài. Thỉnh thoảng máy bơm bị cháy điện hoặc cúp điện, chúng tôi đành chịu trận mà không biết lấy nước từ đâu. Lượng nước mưa này nếu mình có thể chứa trong thùng chứa nước lớn thì chúng tôi có thể tiết kiệm được lượng nước giếng rất nhiều và không tốn năng lượng điện sử dụng. Nhưng hiện nay, Tu Viện còn chưa có tiền để xây nhà bếp, thiền đường v.v… thì lấy tiền đâu mà làm máng xối và mua thùng chứa nước lớn. Chúng tôi phải đợi có những vị Bồ tát nào cúng dường thì mới thực hiện được những điều này. Mưa lâu rồi cũng tạnh, tôi cùng sư em thị giả thiền hành quanh ni xá. Cây cối dường như xanh mát hơn sau cơn mưa. Những cây phượng trước ni xá dường như cao hơn và các tàng cây cũng vươn rộng ra hơn, những cây này chỉ mới trồng có mấy tháng nay thôi. Đi dọc theo con đường ra tận cốc Nhìn Xa, những cây bồ đề trông cũng lớn mạnh thêm, có cây đã cao quá đầu tôi rồi. Mười năm nữa, nơi đây sẽ là một Tu viện đẹp tuyệt vời với những hàng cây che mát chứ không còn nóng bức như trên sa mạc nữa.

Tại Thái Lan, mùa An cư bắt đầu vào tuần thứ hai của tháng Bảy dương lịch và chấm dứt vào cuối tháng mười. Mùa An cư là mùa tu học tinh chuyên của giới xuất gia. Những lớp học được hình thành, thầy cô giáo của các lớp học nội điển là các thầy các sư cô giáo thọ đảm trách. Nhìn hình ảnh của các sư chú sư cô trẻ cắp sách đến lớp học một cách phấn khởi làm tôi cũng vui lây. Có nhiều em còn rất nhỏ, khoảng 14 cho đến 16 tuổi, đa số vào lứa tuổi 25 trở xuống, nên các em còn “ham học” lắm. Ngay cả Ôn Thủ Tọa là vị niên trưởng cao tuổi hạ nhất của Tu viện cũng tham dự lớp học Duy Biểu của chúng tôi. Hồi tôi còn ở Pháp, có lần Sư Ông dạy: “Các thầy, các sư cô ở Pháp thì phải biết tiếng Pháp, nếu không biết thì không được ăn bánh mì baguette của Pháp.” Tôi cũng cắp sách đi học tiếng Thái, ở xứ Thái mà không biết tiếng Thái thì làm sao được ăn món song-tầm, một món gỏi đặc biệt được làm bằng đu đủ xanh với thật nhiều ớt của dân tộc Thái Lan, vừa ăn vừa hít hà thì mới ngon.

Là một trong những vị giáo thọ có trách nhiệm hướng dẫn một số môn học, tôi thấy mình không phải chỉ là người hướng dẫn thôi, mà mình đồng thời cũng là học sinh nữa. Những lớp học được phân chia theo cấp bậc từ lớp Phật Pháp Căn Bản chúng tôi gọi là lớp “Trái Tim Của Bụt” cho các em mới xuất gia đến 2 năm, đến lớp cao hơn là lớp “Duy Biểu học” còn gọi là tâm lý học Phật giáo, dành cho các vị xuất gia từ ba năm trở lên. Những thầy, sư cô giáo thọ đã được phân chia trách nhiệm dạy hay hướng dẫn các lớp học ấy. Mỗi lần nghe xong một hoặc hai bài pháp thoại của Sư Ông hay của một vị giáo thọ thì “học sinh” được ôn bài hoặc làm bài tập. Ngoài những kiến thức mình đã học từ trường, nghiên cứu từ sách vở, dù là bộ môn nào; nội điển hay ngoại điển, chúng tôi đều chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong đời sống hàng ngày của ngay chính bản thân mình đi kèm theo với bài mình đang giảng dạy dù đó là môn khoa học. Điều quan trọng trong khi học là cần các em cần hiểu bài hơn là thuộc bài. Chúng tôi cũng cho các em làm bài tập, nhưng không bắt buộc phải nộp bài liền và cũng không chấm điểm. Vậy mà các em cũng nộp bài đầy đủ và làm rất hay, các em làm bài từ trái tim của mình chứ không phải bằng những kiến thức của người khác. Không khí học rất vui, giữa thầy cô giáo và học trò không có khoảng cách, không cảm thấy bị áp lực bởi cái dạy và cái học như ngoài xã hội. Khi hướng dẫn lớp học, các thầy các sư cô giáo thọ không hướng dẫn theo tinh thần “học gạo”, hay nhét đầy các kiến thức như “dồn ngỗng”, mà với tinh thần vừa học vừa tu mà cũng vừa chơi nữa. Có lẽ do vậy nên ít ai vắng mặt, trừ khi nào bệnh hoặc vì nằm trong đội luân phiên phải nấu cơm cho đại chúng.

Bên cạnh đó, tu học và sống chung với người trẻ mình cũng có nhiều mối lo toan lắm. Đa số là những người còn trẻ cho nên tâm tính cũng bất đồng. Có những người đi tu vì lý tưởng, nhưng cũng có những người đi tu vì hoàn cảnh khó khăn. Trước ngày lễ Bông Hồng cài áo, khi tôi trở về phòng và thấy ai đó đã để trên bàn của mình một xấp giấy viết, cầm lên xem thì tôi mới biết đó là một lá thư tâm sự với cha về nỗi đau khổ của một cô bé 11 tuổi đã bị cưỡng bách vì tình dục. Nỗi đau đớn, xấu hổ đã khiến em nhiều lần muốn tự tử dù đã đi xuất gia rồi. Tôi xin trích một đoạn ngắn: “Ba kính thương! Tuổi thơ của con sống bên ba thật là ngắn ngủi. Khi con lên 11 tuổi, ba từng hỏi con: “Tại sao con như vậy? Tại sao con như thế kia?” Ba ơi! Sự thật ra “con đã bị hại” từ dạo ấy… Từ dạo ấy, ba cũng thắc mắc và đau khổ về sự thay đổi tính tình trong con. Ba rất đau lòng khi lúc nào con cũng hất hủi và chối từ tình thương ba dành cho con… tuổi thơ dữ dội ấy đã từ bỏ con khi con lên 11 tuổi. Nói đi xuất gia, nhưng sự thật là con muốn trốn tránh những người đã làm hại cuộc đời con… Thanh tịnh hay ô nhiễm cũng do con. Nếu không nhờ cái nhìn vi diệu đó, dù con đang ở thiên đường thì cũng là người đầy khổ đau. Xin ba mỗi ngày cùng con nuôi dưỡng tâm từ bi, và gửi năng lượng từ bi ấy đến những con người đáng thương ấy.” Đọc đến đây tôi cảm động và mừng vì em đã thực sự bôi đi vết nhơ của tuổi thơ và tha thứ được những người đã làm hại mình. Năm nay Sư Ông dạy 30 bài tụng Duy Biểu. Sư Ông cũng dạy rằng: “Bản chất của A lại da là không tịnh cũng không ô nhiễm, tịnh hay nhiễm là do mình mà thôi”. Lòng từ bi và những lời pháp của Thầy đã cứu vớt em đi ra được bóng tối của tuổi thơ, cho thấy là em vẫn trong sáng không chút bợn nhơ. “Ba à! con của ba bây giờ đã lấy lại niềm tin, xin ba an tâm và dưỡng bệnh. Bởi vì bây giờ con đã tìm được một môi trường tốt, một Tăng thân tuyệt vời để nuôi dưỡng. Bên con luôn có Thầy, có bạn đồng tu cùng con san sẻ những vui buồn.” Lá thư không ký tên và tôi cũng không cần biết là ai, chỉ thấy rằng em đã biết chọn cho mình một con đường sáng. Mong rằng sự tu học sẽ giúp em chuyển hóa những khổ đau và vững tiến trên con đường đạo học. Hiện nay trên thế giới biết bao nhiêu người trẻ cô đơn vì hoàn cảnh và những khổ đau từ quá khứ của bản thân mình. Trong số đó, có người đã đi tìm lãng quên trong sự hút xách, trụy lạc, tàn hại thân tâm cho đến cuối cuộc đời. Nhưng cũng có người đã biết quay đầu nhìn lại và chọn cho mình một con đường sống. Cửa thiền luôn mở rộng để đón nhận những người con lầm đường lạc lối, và những mảnh đời đang trôi dạt trong bể khổ trầm luân.

Hiện nay một nhóm thầy, sư cô giáo thọ đã ngồi lại để soạn chương trình đào tạo kỹ sư Phật học 7 năm. Chúng tôi hy vọng rằng trong tương lai Trung Tâm Làng Mai Quốc Tế Thái Lan sẽ là một nơi đào tạo những người xuất sĩ phụng sự cho xã hội, cho thế giới bằng tuệ giác của sự tu tập tự thân chứ không phải chỉ do thu thập kiến thức mà thôi. Chung quanh tôi toàn là những thầy, sư cô, sư chú còn rất trẻ, nhưng họ đã chọn cho mình một hướng đi không phải cho cá nhân mình, mà cho gia đình và cho xã hội. Họ đã bỏ lại sau lưng những tiện nghi vật chất, những đam mê tình cảm, những danh vọng tiền tài, thú vui chơi của thế gian. Hàng ngày sáng tối công phu, chiều chấp tác, cơm chay đạm bạc, trau dồi trí tuệ thì hy vọng rằng chúng tôi đã tiếp nối được sứ mạng mà Bụt, Tổ và Thầy đã giao phó.

Con Bụt thích chơi hang Chúa

Mùa Đông đã về, trời trở lạnh như mùa Thu ở trời Tây. Có ngày nhiệt độ xuống đến 14 -15 °C. Nơi đây là vùng núi, tu viện lại xây theo kiểu nhà của dân tộc Thái, mùa Hè thì rất mát nhưng vào mùa đông thì bốn bề gió lộng. Trước khi dọn về tu viện, chúng tôi cứ ngỡ là nơi đây sẽ rất nóng, vào mùa Đông thì có thể trời sẽ mát hơn nhưng không ngờ trời lại lạnh như vậy. Các sư cô người nào cũng co rút người lại khi đi ra ngoài. Các anh chị tình nguyện viên Thái rất từ bi, biết chúng tôi lạnh họ đã hùn tiền lại và mua áo quần ấm cúng dường cho hai xóm. Mặc chiếc áo ấm trong người, tôi thấy lòng biết ơn rất nhiều đến Tăng Thân Thái Lan. Họ thương và lo hết lòng cho chúng tôi mọi chuyện từ nhỏ tới lớn, tôi thường nhắc nhở các sư em phải cố gắng tu học cho đàng hoàng để không phụ lòng những anh chị tình nguyện viên cũng như của dân tộc Thái Lan.

Hàng năm cứ vào dịp Noel thì Làng Mai ở Pháp cũng như ở các nước phương Tây như Mỹ châu hoặc Âu châu đều tổ chức ăn mừng Chúa giáng sinh. Ở Thái Lan chúng tôi không tổ chức Noel vì đây là một quốc gia Phật giáo và cũng không có người Tây tham dự. Khi biết rằng không có tổ chức Noel, thì một sư em đã âm thầm trang trí hang Noel trong phòng của mình. Đi ngang qua phòng em, nhìn vào tôi thấy ánh đèn chớp tắt và lố nhố những cái đầu tròn đầy ắp trong phòng, thì ra các sư cô nhỏ đang thưởng thức cái hang Noel mới vừa “biểu hiện”. Bắt đầu từ đó, những cái hang Noel tiếp tục xuất hiện trong những căn phòng khác, trên bàn học hay dưới gầm bàn, có em làm cái hang nhỏ xíu bằng một bàn tay để trên bàn thờ Bụt nho nhỏ của mình. Các sư cô trẻ rất sáng tạo. Các em tạo dáng hang động bằng bao giấy xi măng sạch, thay vì để đức chúa sơ sinh trên máng cỏ thì các em để những thiên thần nhỏ có cánh, và trang trí những mảnh bông gòn trông giống như là tuyết rơi và treo đèn lấp lánh chung quanh hang động. Không phải là con Chúa nhưng lòng tôi cũng nao nức chào đón Noel sắp tới, cũng là cơ hội để mình được tặng quà cho những người mình thương. Đi ngang qua dãy phòng của các sư cô, tôi chợt nghĩ rằng: “Những người con của Bụt thực tập giỏi quá, không có tâm kỳ thị tôn giáo, chỉ có sự thưởng thức những mầu nhiệm trong giờ phút hiện tại. Trong cái nhìn tương tức, cái này được làm bằng cái khác, cái này đã nằm sẵn trong cái kia rồi.”

Từ phòng ăn tôi rảo bước về lại ni xá 1, sư em thị giả nhẹ nhàng bước theo sau, chúng tôi đi trong im lặng. Mặt trời như quả bóng to hồng thật đẹp nằm giữa hai ngọn núi. Ánh nắng ban mai ngọt dịu chan hòa khắp nơi, trên từng tảng đá, đầu cây, ngọn cỏ, làm hồng gương mặt của sư em. Cơn gió nhẹ thổi qua hiền lành mát rượi, những bông hoa nghiêng mình như chào đón gió xuân. Tiếng chim hót khắp nơi như báo tin rằng nàng xuân sắp đến. Đẹp quá đi thôi vùng đất Khaoyai linh thiêng! Tôi buộc miệng đọc lên một câu thơ của Sư Ông: “Trời hôm nay đẹp lắm, thật mà! Em không về chơi trò bắt tìm nơi quá khứ.” Hiện tại tuyệt vời quá đi, về với quá khứ làm chi nhỉ. Sư em thị giả nhìn tôi cười khúc khích: “Dạ trời hôm nay đẹp lắm, trông sư mẹ vui ghê.” Giọng Hà Nội của sư em nghe dí dỏm làm sao, hai chúng tôi cùng cười vui. Bước lên bậc thềm của ni xá 1, một số các sư cô đang đọc bảng thông tin được dán trên tường trước cửa vào ni xá, sư em “Đu Đủ” quay qua nhìn tôi cười: “Một lát nữa con sẽ mời sư cô uống cà phê Indo nhé”. Tôi ngạc nhiên vì sao mà em có, thì em bảo là do y chỉ sư cho. Một sư em khác nhìn tôi cười: “Sư mẹ ơi, ngày mới người mới, cái áo cũng mới nữa nè.” Em khoe chiếc áo mới đang mặc trên người, tôi cười vì sự bắt chước của em. Các sư cô trẻ vui tươi và dễ thương như thế đó, làm sao mà mình không thương cho được.

Năm nay Sư Ông cho câu đối rất vui: “Năm mới ta cũng mới. Người vui, cảnh sẽ vui”. Năm mới đến, Trung tâm bắt đầu mới, chúng tôi cũng mới theo từng phút giây. Những điều kiện hạnh phúc tràn ngập khắp nơi. Chúng tôi thương chúc đại gia đình Làng Mai ở khắp nơi có một mùa xuân mới tinh từ thân đến tâm.

Tìm Niết bàn trong sinh tử

tìm niết bàn trong sinh tử

Sinh Phật bất nhị

Những người Cơ đốc giáo thường đặt vấn đề: Thượng đế có phải là một con người hay không? Nếu Thượng đế không phải là một con người thì làm sao chúng ta có thể cầu nguyện? Đây là một vấn đề rất lớn trong Cơ đốc giáo. (God is a person or is not a person?)

Vào hạ bán thế kỷ thứ 20, những nhà thần học cho rằng: Tuy Thượng đế không phải là một con người nhưng Ngài cũng không ít hơn một con người. (God is not a person but is not less than a person). Người ta đi tới quan niệm: Thượng đế không phải chỉ là một con người. Đó là một bước tiến rất lớn!

Trong đạo Bụt chúng ta có quan niệm chúng sinh và Bụt. Chúng sinh là những người mê mờ đang đau khổ và Bụt là một người giác ngộ không còn đau khổ. Chúng ta thường phân biệt chúng sinh khác với Bụt. Ta thường có khuynh hướng nghĩ rằng khi đã thành Bụt thì không còn là chúng sinh nữa. Nhưng quan niệm đó không đúng với cái thấy của Phật giáo đại thừa. Theo cái thấy của Phật giáo đại thừa, nếu không có chúng sinh thì không có Bụt. Đó là lý thuyết: Sinh Phật bất nhị 生 佛 不 二, tức Bụt và chúng sinh không phải là hai cái riêng biệt. Cái này không thể có ngoài cái kia. Chúng sinh và Bụt không phải là hai thực thể riêng biệt. Sở dĩ có Bụt là nhờ có chúng sinh, không có chúng sinh thì không bao giờ có Bụt. Bụt và chúng sinh là một cặp, tuy bề ngoài có vẻ như đối lập nhau nhưng phải nương nhau mà thành. Cũng như bùn và sen, không có bùn thì ta không thể có sen.

Theo giáo lý duyên khởi thì tất cả đều là duyên sinh. Nhìn vào con người ta thấy những yếu tố không phải con người như đất đá, cây cỏ, cầm thú. Những yếu tố như đất, nước, lửa, gió lâu ngày có đủ điều kiện thì sinh ra cây cỏ và những loài chúng sinh, rồi từ những loài chúng sinh phát sinh ra con người. Nếu lấy những loài khoáng chất, cây cỏ và cầm thú ra khỏi con người thì con người không còn nữa. Vì vậy con người cũng là đất đá, cây cỏ và cầm thú. Ta không thể cho rằng khi trở thành con người rồi thì ta không còn là đất đá, cây cỏ và cầm thú nữa. Ta vẫn tiếp tục làm đất đá, cây cỏ và cầm thú tại vì những yếu tố không phải con người vẫn còn trong ta. Tuy đã là Bụt rồi nhưng những yếu tố không phải Bụt vẫn còn trong Bụt. Trong Bụt có những yếu tố như: chúng sinh và những khổ đau, những phiền não, những si mê đã được chuyển hóa. Nhìn vào sen ta thấy những yếu tố không phải sen như là bùn. Nếu muốn tiếp tục làm bông sen thì sen phải sử dụng chất bùn để làm ra sen. Ta đã là con người, nhưng nếu không có đất đá, cây cỏ và cầm thú thì ta không thể tiếp tục làm con người. Vì vậy con người và cái gọi là sinh môi không phải là hai cái khác nhau, hai cái phải dựa trên nhau mà có. Chừng nào không còn chúng sinh thì cũng không còn Bụt. Chừng nào không còn đất đá, thảo mộc, cầm thú thì không còn con người. Vì vậy ta đừng nên hy vọng hão huyền là khi thành Bụt rồi thì ta vĩnh biệt chúng sinh. Sinh Phật bất nhị là cái thấy bất nhị (non dualistic) và cái thấy này phải được áp dụng cho tất cả mọi trường hợp như tay trái và tay phải, chừng nào có tay phải thì có tay trái. Tay phải không thể có mặt một mình mà không cần tay trái. Phật và chúng sinh hay con người và đất đá, cỏ cây, cầm thú cũng như vậy: không có cái này thì không có cái kia. Đó gọi là duyên sinh, là tương đãi.

Thành Bụt rồi có còn thực tập nữa không?

Trong Bụt có hạnh phúc, có tuệ giác, có bồ đề. Bồ đề ngược lại với phiền não, tuệ giác ngược lại với si mê và hạnh phúc ngược lại với khổ đau. Nhưng theo tuệ giác mà ta có được do sự quán chiếu thì tất cả đều vô thường. Không phải chỉ có khổ đau là vô thường mà hạnh phúc cũng vô thường. Không phải chỉ có phiền não là vô thường mà bồ đề cũng vô thường. Tuy có bồ đề nhưng nếu ta không tiếp tục tu thì bồ đề của ta cũng hao mòn. Ta đừng tưởng một khi có bồ đề rồi thì ta sẽ có nó mãi mãi, tại vì bồ đề cũng vô thường. Có khi ta có giác ngộ nhưng vì ta không biết nuôi nấng nên giác ngộ đó lu mờ và ta không sử dụng được. Điều này ta thấy rất rõ: Có nhiều cái ta đã biết rồi nhưng ta không đem ra sử dụng, ta hành xử giống như ta không có tuệ giác.

Bụt cũng vô thường, vô ngã. Nếu muốn tiếp tục làm Bụt thì ta phải tiếp tục sử dụng chất liệu khổ đau, phiền não và si mê để chế tác hạnh phúc, bồ đề và tuệ giác. Chúng ta thường đặt câu hỏi: “Thành Bụt rồi có còn thực tập nữa không?” Câu hỏi này rất đơn sơ nhưng cũng rất quan trọng. Phần lớn trong chúng ta, có thể nói là 99% thường nghĩ rằng: Khi đã thành Bụt rồi thì ta khỏi tu nữa, tại vì thành Bụt là có bồ đề, có tuệ giác, có hỷ lạc. Sự thật là Đức Thế Tôn vẫn đi thiền hành, vẫn ngồi thiền, vẫn thực tập An ban thủ ý. Hạnh phúc, bồ đề, tuệ giác đều vô thường. Nếu muốn nuôi dưỡng nó thì Đức Thế Tôn phải tiếp tục thực tập và Ngài cũng sử dụng khổ đau, phiền não, si mê để tạo ra hạnh phúc, bồ đề và tuệ giác. Bông sen, tuy đã thành bông sen nhưng vẫn không thể nhảy ra khỏi bùn. Muốn tiếp tục làm bông sen nó phải ở với bùn và tiếp tục sử dụng bùn.

Có thể nhận diện được Bụt qua những hình thái khác hay không?

Bụt Thích Ca có hình dáng của một con người. Ta biết rằng con người là một sinh vật sinh sau đẻ muộn, xuất hiện rất trễ trên địa cầu này, trễ hơn tất cả những chủng loại khác trên trái đất. Như vậy trước khi có Bụt thì không có tuệ giác, không có bồ đề, không có hạnh phúc hay sao? Trước khi có Bụt vẫn có tuệ giác, vẫn có bồ đề, vẫn có hạnh phúc, nhưng dưới hình thức khác. Bây giờ ta đặt một câu hỏi rất đơn sơ: "Có thể nhận diện được Bụt qua một hình thức khác, nghĩa là qua một hình thức không phải con người hay không?" Kinh Kim Cương nói rất rõ: "Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng." Nếu bị mắc kẹt vào tướng con người thì ta không thể thấy được Bụt. Bụt không phải chỉ là con người. Nếu đi tìm Bụt qua hình tướng, âm thanh thì sẽ không tìm ra được.

Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhân hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai

Ai đi tìm Bụt qua hình sắc, âm thanh thì người đó đang đi trên con đường tà và ít có cơ hội thấy được Như Lai. Vì vậy chúng ta đừng kẹt vào tướng Bụt là một con người. Bụt có thể là một hành tinh như trái đất. Trái đất của chúng ta là một vị Bụt. Trong trái đất có tuệ giác, có bồ đề, có hạnh phúc và nhiều đức tính khác. Vị Bụt này là một bà mẹ, Bụt không phải chỉ là đàn ông. Trong Cơ đốc giáo người ta thường nghĩ Thượng đế là đàn ông, Thượng đế không thể nào là đàn bà. Nhưng trong đạo Bụt thì có Phật bà. Trái đất là Phật bà, là một bà mẹ. Mẹ của ai? Mẹ của những vị Bụt dưới hình thái con người và mẹ của những vị Bụt dưới hình thái khác. Một cây thông hay một bông hoa hồng cũng là Bụt. Không những con người thành Bụt thuyết pháp mà cây thông cũng đang thuyết pháp, bông hoa cũng đang thuyết pháp. Nó thuyết pháp về cái gì? Nó thuyết về vô thường, vô ngã, Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần. Nhìn với con mắt của Phật giáo đại thừa ta thấy Bụt khắp nơi. Ta thấy Bụt nơi một đóa hồng, nơi một cây thông. Thấy được như vậy ta sẽ không có khó khăn để nhận diện trái đất là một vị Đại Bồ tát gọi là Bồ tát Thanh Lương Đại Địa, hay nhận diện mặt trời là một vị Bụt gọi là Bụt Đại Nhật Như Lai. Không bị kẹt vào cái tướng thì ta nhận diện được Bụt dễ dàng hơn.

Chúng ta hay có tính kỳ thị. Nói tới bùn và sen thì ta thích sen, không thích bùn, ta kỳ thị bùn. Nhưng nếu không có bùn thì sẽ không có sen. Vì vậy không những trong sen có Phật tánh mà trong bùn cũng có Phật tánh. Trong kinh Bát Nhã có nói Phật tánh đó không dơ cũng không sạch, không thêm cũng không bớt. Ta phải có con mắt vô tướng, (animitta) thì mới có thể nhận diện được sự có mặt của Bụt. Bụt không chỉ có hình thức của một con người. Bụt có thể là một hành tinh, một bông hoa hay một viên sỏi. Vì vậy trong kinh nói: Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Ta phải lấy đi cái ranh giới giữa Bụt và chúng sinh.

Bụt có trong ta, ta có trong Bụt

Trước khi lạy Bụt, ta được dạy phải quán chiếu tính duyên sinh của Bụt. Ta đọc bài "Năng lễ sở lễ tính không tịch." Đứng trước tượng Bụt ta nói:

Bạch Đức Thế Tôn, Ngài cũng duyên sinh như con vậy. Tự tánh của Ngài cũng là Không. Ngài được làm bằng những yếu tố không phải Ngài. Nhờ có phiền não, khổ đau mà Ngài có thể thành Bụt cũng như bông sen nhờ có bùn mới thành ra sen. Con thấy Ngài như vậy nên con thấy con trong Ngài.

Nhìn vào Bụt ta thấy tính Không (the nature of Emptiness) của Bụt. Ta thấy Bụt chứa đựng tất cả chứ không phải chỉ có trí tuệ, từ bi, bồ đề, hạnh phúc mà thôi. Nhìn lại mình, ta thấy mình không chỉ là chúng sinh, ta cũng có Phật tánh. Trong Bụt có ta và trong ta có Bụt. Thấy được như vậy rồi thì ta mới nên lạy xuống, lạy xuống như vậy mới có sự truyền thông. Nếu Bụt chỉ là Bụt và ta chỉ là ta thì không có sự truyền thông đích thực. Lấy đi ranh giới giữa ta và Bụt thì lạy Bụt mới có hiệu quả. Bụt không phải ở ngoài ta, Bụt ở trong ta, vì vậy khi lạy Bụt ta tiếp xúc được với Phật tánh trong mình. Nếu cho rằng Bụt khác với ta thì vĩnh viễn ta chỉ có thể là ta và Bụt chỉ là Bụt. Bụt không bao giờ trở thành ta và ta không bao giờ trở thành Bụt và không có sự thông cảm giữa Bụt và ta. Cảm ứng đạo giao nan tư nghì có nghĩa là sự cảm thông giữa Bụt và chúng sinh khó có thể diễn tả được, tại vì ta thoát khỏi cái thấy lưỡng nguyên phân biệt.

Trong kinh Kim Cương nói rất rõ: Ta có một ý niệm về ngã 我 , về nhân 人, về chúng sinh 眾 生, đó là ba ý niệm mà ta cần phải vượt thắng. Nhìn vào ngã ta phải thấy vô ngã, nhìn vào con người ta phải thấy những yếu tố không con người, nhìn vào chúng sinh ta phải thấy Bụt. Kinh Kim Cương dạy ta phải lấy đi bốn ý niệm là: ngã, nhân, chúng sinh và thọ mạng. Thọ mạng là đời sống của con người, lấy đi ý niệm về thọ mạng thì ta trở thành bất tử. Ta không chỉ có mặt ở đây trong 100 năm.

Không có ranh giới đích thực giữa hữu tình và vô tình

Ta cần phải thoát khỏi một ranh giới khác nữa, đó là ranh giới giữa hữu tình và vô tình. Hữu tình là chúng sinh, vô tình là những cái không phải chúng sinh như đất, nước, lửa, gió, khoáng vật. Vô tình, tiếng Anh là inanimate things). Một thi sĩ người Pháp đã hỏi: Objets inanimés, avez  vous donc une âme? Hỡi các vật vô tri kia, chúng bây có một linh hồn hay không? Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng có một câu tương tự: Làm sao em biết bia đá không đau? Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau. Những vật vô tri đều có tình trong nó nên không thể gọi chúng là vô tình. Học về lịch sử của trái đất, ta thấy lúc bắt đầu chỉ có các loại vô tình. Trong nước cháo thời nguyên thỉ (primordial soup) từ từ sinh ra các loại hữu tình đơn tế bào. Những sinh vật đơn tế bào sinh ra những sinh vật đa tế bào. Những sinh vật này từ dưới nước bò lên trên đất và trở thành rong rêu, cây cỏ, các loại cầm thú và thành con người. Vì vậy không có ranh giới giữa các vật vô tình và hữu tình.

Hiện nay khoa học khám phá ra những vật mà ta cho là vô tình như những quang tử, những điện tử rất là thông minh. Nó có cái biết ở trong, ví dụ như nhìn vào một hột bắp ta không thể nói hột bắp là vô tình. Trong hột bắp có thức, có tài năng, có cái biết trong đó. Ta chỉ cần gieo hột bắp xuống đất thì nội trong bảy ngày nó biết nẩy mầm thành cây bắp con rồi tiếp tục làm lá, làm hoa và làm trái bắp. Hột bắp không vô tình, nó cũng là hữu tình.

Chúng ta được làm bằng những chất liệu vô tình. Giữa vô tình và hữu tình không có ranh giới đích thực. Vì vậy cho nên đất đá cũng có Phật tánh. Trong Thiền người ta thường hỏi: “Con chó có Phật tánh hay không?”. Không những con chó có Phật tánh mà cục đá kia cũng có Phật tánh.

Chúng ta phải tìm cách vượt thoát ý niệm: Bụt chỉ là một con người. Chúng ta có một bài thiền hướng dẫn: Mời Bụt thở, mời Bụt ngồi. Bài tập rất hay và tôi đã thực tập rất nhiều. Khi ngồi xuống ta nói:

Mời Bụt thở nhẹ,
mời Bụt ngồi yên

Bụt ở đây không phải là một thực tại ở ngoài mình. Ta nói: “Lạy Đức Thế Tôn, xin Ngài hãy dùng lưng của con để ngồi, xin Ngài hãy dùng phổi của con để thở”. Bụt không phải là một cái ngã. Mỗi khi thở có an lạc, hạnh phúc, bình an là có Bụt. Mỗi khi ngồi có vững chãi, thảnh thơi là có Bụt. Bụt không phải chỉ là người, đồng nhất Bụt với con người là sai. Hễ có vững chãi, an lạc, thảnh thơi là có Bụt. Ta biết rằng Bụt không ngồi thì thôi, nếu ngồi thì Ngài ngồi rất thẳng và thoải mái; Bụt không thở thì thôi, nếu thở thì Ngài thở nhẹ và có ý thức. “Mời Bụt thở, mời Bụt ngồi”, ta đưa hai lá phổi cho Bụt thở, ta đưa lưng cho Bụt ngồi. Khi đó ta bắt đầu vượt thoát ý niệm: Bụt là một thực thể ở ngoài mình. Nếu Bụt thở bằng phổi của mình và ngồi bằng lưng của mình thì Bụt và mình rất là gần.

Bụt đang thở nhẹ, Bụt đang ngồi yên
Mình được thở nhẹ, mình được ngồi yên

Bụt đang dùng phổi của mình để thở, đang dùng sống lưng của mình để ngồi. Nếu Ngài đang thở nhẹ và đang ngồi yên thì mình cũng được thở nhẹ và cũng được ngồi yên. Ta không còn thấy Bụt là một cái gì ngoài mình nữa. Nếu ta thấy nhẹ và yên thì cứ như vậy mà thở. Bài tập này đưa tới thoải mái, hạnh phúc rất nhiều. Ta tiến thêm một bước nữa với bài tập thứ ba:

Bụt là thở nhẹ, Bụt là ngồi yên
Mình là thở nhẹ, mình là ngồi yên

Ta không thể tìm một vị Bụt ở ngoài “thở nhẹ và ngồi yên”. Là Bụt thì phải biết thở nhẹ và ngồi yên. Không biết thở nhẹ và ngồi yên thì không phải là Bụt. Bụt không phải là một hình hài, Bụt là sự có mặt của hơi thở nhẹ nhàng và dáng ngồi bình yên. Ta đi tìm Bụt ở đâu nữa? Ta thấy hơi thở đang nhẹ và dáng ngồi bình yên tức là đã có Bụt ngay trong giây phút hiện tại. Đó là cái nhìn vô tướng về Bụt. Mình cũng vậy, mình không có cái ngã riêng biệt. Mình là thở nhẹ, mình là ngồi yên. Vì vậy cái ranh giới giữa mình và Bụt được xóa liền lập tức.

Bụt là hơi thở nhẹ, Bụt là thế ngồi yên. Mình là hơi thở nhẹ, mình là thế ngồi yên. Như vậy ta và Bụt là một, ta vượt thoát cái nhị nguyên. Đi tới một bước nữa ta đốn ngã cái cây ngã chấp với bài tập thứ tư:

Chỉ có thở nhẹ, chỉ có ngồi yên
Không ai thở nhẹ, không ai ngồi yên

Đó là vô ngã. Có Bụt và có ta, nhưng ta và Bụt đều là hơi thở nhẹ, đều là dáng ngồi yên. Không cần phải có một chủ thể, một cái ngã. Với bài tập thứ tư ta vượt thoát ý niệm về một cái ta đang thở nhẹ và đang ngồi yên. Chỉ có sự thở nhẹ và sự ngồi yên đang xảy ra, mà không cần có một cái ta đang thở nhẹ hay đang ngồi yên.

Chúng ta thường nói: "Gió thổi" hay "Mây bay" hay “Mưa rơi”. Gió đã là thổi rồi, là gió thì không cần phải thổi nữa, nếu không thổi thì không phải là gió. Mưa mà không rơi thì không phải là mưa. Nhìn kỹ ta không thấy có một cái ngã chủ trương thổi hay chủ trương rơi. There is no blower, no rainer, there is only the wind and the rain. Không có Bụt và không có ta như những cái ngã, chỉ có thở nhẹ, chỉ có ngồi yên.

Nhìn về địa cầu của chúng ta, ta thấy địa cầu cũng đang thở nhẹ, cũng đang ngồi yên. Ta không cần phải tưởng tượng Bụt dưới hình dáng một con người. Khi có sự yên tĩnh và an lạc thì có Bụt. Bụt không phải là một chủ thể. Đi tới bài tập thứ năm ta thấy rất rõ:

An khi thở nhẹ, lạc khi ngồi yên
An là thở nhẹ, lạc là ngồi yên

Có an và lạc là tại vì có thở nhẹ và ngồi yên. Không cần phải có người an và người lạc mà vẫn có thể có an lạc. Không cần phải có cái ngã rồi mới có an lạc.

Nói tóm lại chỉ có thở nhẹ, ngồi yên và nhờ vậy có an và có lạc. Không cần có Bụt, không cần có ta mà an lạc vẫn có. Muốn tìm Bụt ta không cần phải trở về Ấn Độ của 2600 năm trước. Ta cũng không cần phải đi vô chùa, tại vì vô chùa ta chỉ thấy tượng Bụt bằng cẩm thạch hay bằng đồng. Nếu thấy Bụt bắt buộc phải là một con người có 80 vẻ đẹp và 32 tướng tốt là ta bị kẹt vì ta đi tìm Bụt qua hình tướng và âm thanh. Nếu ta ngồi yên, thở nhẹ, chế tác hỷ lạc và giải thoát thì ta thấy được Bụt thật mà không phải là Bụt bằng đồng hay bằng đá.

Bụt đang ngồi yên

Xử lý phiền não là chế tác hạnh phúc

Chính nhờ những phiền não, bất an, lăng xăng, rối loạn nên ta mới có khuynh hướng đi tìm Bụt. Từ những bức xúc, khổ đau, buồn tủi đó ta chế tác ra chất thảnh thơi, an lạc cũng như nhờ bùn mà ta làm ra được bông sen. Vì vậy ta đừng nên chạy trốn phiền não, khổ đau. Nếu biết cách thì ta có thể sử dụng những phiền não, khổ đau để chế tác ra hạnh phúc, bồ đề và tuệ giác.

Câu hỏi “Thành Bụt rồi có cần tu nữa hay không?” rất là hay. Thành Bụt là có hạnh phúc, bồ đề, tuệ giác. Nhưng dù có rồi mà nếu ta không thực tập thì hạnh phúc, bồ đề, tuệ giác cũng đi mất từ từ. Vì vậy ta phải nuôi dưỡng nó bằng sự thực tập. Ta phải sử dụng khổ đau, phiền não và si mê để chế tác hạnh phúc, bồ đề và tuệ giác.

Trong Phật giáo đại thừa nói rất rõ: Phiền não tức bồ đề, Niết bàn là sinh tử. Niết bàn và sinh tử là một cặp bài trùng, không có cái này thì không có cái kia, cũng như mặt trái và mặt phải là một cặp bài trùng, không có trái thì không có phải. Nghĩ rằng khi có Niết bàn rồi thì không còn sinh tử nữa là ta bị kẹt vào cái thấy lưỡng nguyên. Một người đệ tử hỏi một vị thiền sư:

Con phải đi tìm Niết bàn ở đâu?
Thiền sư trả lời:
Con đi tìm nó ngay trong sinh tử!

Nó là sinh tử, nhưng nhìn cho sâu thì nó cũng chính là Niết bàn. Sự thực tập hàng ngày của chúng ta phải thực tế. Với những bước chân, những hơi thở, những lời nói, ta phải tạo ra bình an, hỷ và lạc từ những chất liệu không bình an, không hỷ và không lạc. Ta phải luôn luôn sử dụng bùn để làm thành sen, sử dụng phiền não để chế tác bồ đề. Đó là công việc của chúng ta. Công việc chế tác hạnh phúc có liên hệ tới công việc xử lý phiền não. Xử lý được phiền não là chế tác được hạnh phúc. Hai công việc đó tuy hai nhưng thật ra là một. Ta đừng nên chạy trốn khổ đau, ta phải nắm lấy khổ đau và tìm cách chuyển nó thành ra hạnh phúc. Ta ngã ở đâu thì chống ở chỗ đó mà đứng dậy.

Vào dòng rong chơi

Chân Thuần Tiến
Viết về Thiền Viện Nhập Lưu Tại Úc châu


Ngày Đầu của Nhập Lưu

Nhập Lưu là một trung tâm thiền tập theo pháp môn Làng Mai tại Úc châu, thuộc tiểu bang Victoria, thành phố Melbourne, làng Beaufort, cách thành phố Melbourne hai giờ đồng hồ lái xe, được chính thức thành lập vào tháng 5 năm 2010, khi thật sự có chúng xuất sĩ đến thường trú tại đây (Sư cô Cần Nghiêm, Sư cô Sinh Nghiêm và tôi). Với tôi, sự thật thì Nhập Lưu đã được thai nghén từ lâu qua sự thực tập của các vị cư sĩ mà đại diện là tăng thân Trúc Xanh, nay đủ duyên thì Nhập Lưu được biểu hiện rõ ràng hơn.

Thiền viện Nhập Lưu được xây dựng đầu tiên trên mảnh đất rừng hoang với diện tích hai chục hecta do gia đình của một Tiếp Hiện cư sĩ Chân Từ Tuệ (chú Thạnh) và Chân Hòa Đức (cô Mịn) cúng dường, sau mười năm khai phá, dọn dẹp và mở rộng những con đường lớn. Khi chúng tôi đến, Nhập Lưu đã có những con đường nhỏ thiền hành xuyên qua những hàng cây tràm rất đẹp. Một hồ nước có tên Trăng Rằm trong xanh khá rộng có trồng nhiều loại hoa sung đủ màu tuyệt vời, nở rộ vào mùa Xuân và kéo dài qua mùa Hè. Giữa hồ có một hòn đảo nhỏ và trên hòn đảo ấy có đặt một tượng Bồ tát Quán Âm với dáng ngồi thật uy nghiêm. Từ hồ Trăng Rằm nhìn lên về hướng Đông khoảng 100m có một cái cốc nhỏ chứa được khoảng từ mười tới mười lăm người ngồi thiền. Bên ngoài cốc phía trái có làm thêm ra một mái để làm chỗ nghỉ ngơi và ngủ lại qua đêm cho các vị đến thực tập. Nhưng khi có các sư cô về ở đây thì cốc Nến Ngọc (chúng tôi tạm đặt tên để gọi) được mở rộng thêm phía bên phải để làm văn phòng và quán sách nhỏ. Gần cốc khoảng 20m là nhà bếp và nhà ăn chung với nhau. Hệ thống vệ sinh có hai phòng tắm và ba nhà vệ sinh ở phía sau nhà bếp. Mảnh đất được chọn làm cốc Nến Ngọc và nhà bếp không nằm gọn trong phần đất 20 hecta mà nằm ngoài phần đất đó, vì vậy cô chú đã mua thêm khoảng đất có diện tích 8 hecta 45 và khi làm giấy tờ cúng dường cho Sư Ông, chú Hoàng Khôi ở Sydney đã giúp đỡ trong việc này. Thiền viện Nhập Lưu có diện tích tổng cộng là 28.45 hecta đất rừng.

Trung tâm Nhập Lưu - ÚcNgày đầu mới tới Nhập Lưu, mọi thứ đều hạn chế. Điện chưa có nên chúng tôi tạm dùng một máy phát điện nhỏ chỉ chạy vào buổi tối để ăn cơm. Khi ngồi thiền tụng kinh, quý sư cô thắp đèn cầy. Hệ thống  nước thì dùng nước mưa được hứng từ hai thùng chứa nước khá lớn. Vì khí hậu xứ này lạnh nên các chú đã bắt hệ thống gaz để nấu nước nóng dùng cho việc tắm rửa. Không có máy giặt nên chị em tôi có cơ hội giặt áo quần bằng tay. Nhiên liệu dùng nấu ăn là bếp ga nhỏ. Nhưng đó chỉ là giải pháp cấp thời của buổi đầu, để cho sự sinh hoạt lâu dài, chúng tôi cần phải có hệ thống điện, nước đầy đủ hơn, vì vậy chúng tôi đã tiến hành làm hệ thống điện. Thầy Pháp Khâm đã liên lạc thúc hối nhà đèn và chú Cảnh (ba của sư cô Sinh Nghiêm) ở Brisbane đã bắt đèn và gắn hệ thống điện và sau ba tháng thì Nhập Lưu đã có điện để dùng. Tuy nhiên chúng tôi cũng phải góp sức vào trong quá trình tiến hành hệ thống đào đường dây điện cần bắt từ thiền đường xuống nhà ăn và cốc Nến Ngọc dài hơn 250 mét với sự giúp đỡ của các vị cư sĩ đến tu học cuối tuần. Sau hơn một tháng, công trình đường dây điện đã được đào xong và nhờ vậy nhà ăn, nhà bếp và cốc Nến Ngọc cũng bắt đầu có điện. Về vấn đề nước thì chúng tôi mua thêm ba thùng chứa nước lớn đủ để thích ứng với nhu cầu đang cần.

Nhập Lưu đã được nhiều người biết đến và tìm về tu học. Số lượng người tìm về mỗi ngày một đông, vì vậy năm 2005 tăng thân Trúc Xanh đã cố gắng xây dựng được một thiền đường chứa khoảng một trăm người. Thiền đường Nhập Lưu là tên Sư Ông đã đặt khi chú Chân Từ Tuệ qua Làng xin Sư Ông đặt cho Thiền đường một cái tên. Sau khi nhận trung tâm rồi, vì chưa biết phải gọi tên gì nên chúng tôi đã lấy tên Nhập Lưu để gọi cho trung tâm là Tu viện Nhập Lưu. May mắn thay, cuối năm nay, 2013 Sư Ông đã chính thức đổi lại là Thiền viện Nhập Lưu. Sau này chị em chúng tôi tạm đặt cho thiền đường một cái tên để gọi, nghe khá mát mẻ là Thiền đường Thanh Lương Địa. Thiền đường Thanh Lương Địa ban đầu chưa có sàn gỗ và các dụng cụ ngồi thiền. Quý sư cô đã dùng những miếng thảm cắt tròn như những bông sen đủ để thay thế cho bồ đoàn khi ngồi thiền. Năm 2012 chúng tôi may mắn có chú Nhâm ở Sydney xuống cúng dường và phối hợp với người bạn ở Melbourne để lót sàn gỗ cho thiền đường làm cho thiền đường khang trang và ấm áp hơn. Chúng tôi được chú Thải, cũng là một thành viên tu học cùng tăng thân Friday night (chiều thứ Sáu tại Melbourne) đã giúp hướng dẫn gắn hệ thống Solar (dùng năng lượng mặt trời). Với hệ thống Solar này, thiền viện chúng tôi đã tiết kiệm được tiền điện rất nhiều.

Trung tâm Nhập Lưu - ÚcNhóm đầu tiên của chị em tôi đến Nhập Lưu chỉ có ba người. Hai tháng sau có thêm sư cô Lương Nghiêm về ở chung. Nhưng sau đó sư cô Sinh Nghiêm cần về lại Làng để nhận giới nên chúng tôi vẫn chỉ có ba sư cô tu học chung. Hai năm sau đó có thêm sư cô Trí Duyên về từ Tu viện Bích Nham-Mỹ, chúng tôi có được bốn chị em. So với các trung tâm khác như ở Làng, Hồng Kông hay Thái Lan.v.v… thì chúng xuất sĩ ở đây quá ít, vì vậy chúng tôi cần bảo lãnh thêm một số các sư cô từ Thái Lan hoặc Việt Nam sang để yểm trợ cho năng lượng tu học được mạnh thêm. Nhưng bên cạnh đó vấn đề chỗ ăn chỗ ở vẫn còn khiêm tốn quá, ngay cả những ngày quán niệm cũng chưa có chỗ nghỉ ngơi cho chúng cư sĩ cũng như phải cần đầy đủ điều kiện và tiêu chuẩn cho việc bảo lãnh các sư cô từ Thái Lan và Việt Nam. Kế bên đất của tu viện có vườn nhà của chú Ian Roberts (Chân Hỷ Mặc), cũng là một thành viên cư sĩ của Nhập Lưu đã hoan hỷ bán nhà và vườn đất lại cho Tu viện Nhập Lưu với giá 254.000 tiền Úc. Vườn đất này có diện tích 10 hecta. Biết Tu viện Nhập Lưu còn thiếu kém về vật chất nên chú đã giúp đỡ bằng cách cho trả tiền chia làm hai đợt và không lấy tiền lời. Nhờ vậy mà trung tâm có thêm nhà ở và cuối năm 2012, chúng tôi đã bắt đầu bảo lãnh sáu sư cô từ Thái Lan nhưng đến tháng Ba năm 2013 sáu sư cô mới được qua tu học chung, đó là các sư cô Thể Nghiêm, Thuấn Nghiêm, Quán Nghiêm, Trung Ngọc, Khuyến Nghiêm và Xương Nghiêm. Hiện tại chúng tôi đã có được mười chị em thường trú cùng tu tập ở đây. Ngôi nhà mua lại của chú Chân Hỷ Mặc cũng cần được sửa sang lại cho hợp với nhu cầu cần thiết. Nhà được mở rộng ra thêm hai phòng ở. Hệ thống nhà vệ sinh, nhà tắm cũng được sửa sang thành ba phòng vệ sinh và ba phòng tắm thay vì trước đó chỉ có một phòng tắm và một phòng vệ sinh. Khi có thêm quý sư cô về, chị em chúng tôi nghĩ đến việc trồng thêm rau tươi để dùng. Đúng là có cầu thì có ứng, chúng tôi được hai chú Andrew và chú John ở Sydney xuống cúng dường và giúp làm một cái nhà xanh nho nhỏ thật dễ thương, thật đẹp. Nhìn vào thiền viện có vườn rau xanh, tôi thấy thật thiền vị và có cái gì đó rất hợp với nếp sống đơn giản, thanh bạch của người tu.

Chị em chúng tôi mỗi người nhận nhiều việc khác nhau. Ngoài thời khóa luân phiên theo đội, tuy thiếu người nhưng sư cô Cần Nghiêm vẫn để thì giờ cho vườn rau. Sư cô chăm sóc vườn rau giỏi lắm, ai lên Nhập Lưu cũng thích ngắm vườn rau xanh của sư cô mà hạnh phúc quá chừng và còn xin đem về nhà nữa. Sau này có các sư em về giúp sư cô thêm trong việc chăm sóc vườn cảnh. Sư cô Lương Nghiêm thì giúp làm văn phòng, lái xe và bảo trì xóm rất đẹp và ngăn nắp. Sư cô Trí Duyên rất thích hợp đóng vai trò của Sứ giả Giám Trai chăm sóc cho chuyện bếp núc. Nhưng khi có thêm các chị em thì sư cô chuyển qua giúp về khâu thủ quỹ. Còn tôi thì thợ đụng, nơi nào cần thì tôi có mặt. Lúc đầu ai cũng bận rộn nhiều, nhất là vào những ngày quán niệm Chủ nhật và lễ hội, bây giờ công việc được chia ra với sự giúp đỡ của các sư em trẻ nên chúng tôi có nhiều thời gian thong dong hơn.

Nơi chúng tôi ở cách thành phố khá xa nên vấn đề đi lại cần phải có xe. Chú Khôi Hoàng và cô Tuệ Hương đã cúng dường một chiếc xe năm chổ, giúp chúng tôi có phương tiện đi lại dễ dàng ngay bước đầu tiên mới về. Khi các sư cô từ Thái Lan qua vào tháng 3/2013, gia đình chú Bi Hạnh và cô Từ An ở Brisbane và cô Hương ở Melbourne cũng cúng dường thêm hai chiếc xe năm chổ nữa, vậy là chị em chúng tôi có đầy đủ phương tiện để di chuyển khi cần đi ra ngoài và còn nhiều thứ khác nữa mà các tăng thân ở các tiểu bang đã giúp đỡ, yểm trợ và đóng góp vào đời sống cho các sư cô.

Xây dựng tăng thân

Thời gian đầu mới về Nhập Lưu, chị em chúng tôi chỉ tổ chức hai ngày quán niệm một tuần vào ngày thứ Năm và Chủ nhật. Ngày thứ Năm cho chị em tôi và Chủ nhật thì có cư sĩ đến tham dự chung. Trước đây, cứ mỗi hai hoặc ba năm, tăng thân ở đây có tổ chức khóa tu và mời quý thầy quý sư cô từ Làng Mai đến để hướng dẫn tu học. Khi có cơ sở chính thức thì mỗi năm nơi này tổ chức hai khóa tu vào tháng Tư và tháng Chín, cũng có sự yểm trợ của quý thầy từ Làng Mai nước Pháp, Hồng Kông hay Mỹ sang đã kết hợp với quý sư cô tại Nhập Lưu. Các khóa tu được tổ chức tại Nhập Lưu, Melbourne, Sydney, Brisbane, và năm nay được mở rộng thêm tiểu bang Adelaide. Trung bình số lượng của các khóa tu có khoảng 80 đến 100 người về tham dự. Ban đầu số lượng người Việt nhiều hơn người Tây phương, nhưng gần đây thì người Tây phương đã về đông hơn và số lượng đã cân bằng ngang nhau. Chúng tôi phải chia sẻ, khuyến khích bằng hai ngôn ngữ Anh – Việt. Chúng tôi cũng đã chia sẻ cách thực tập xây dựng tăng thân. Và đến nay có hơn 20 tăng thân Việt và Úc thực tập theo pháp môn Làng Mai trên bốn tiểu bang đã kể trên.

Với tinh thần đạo Bụt dấn thân, chúng tôi cũng có cơ hội đến trại tù gần thiền viện ba lần để hướng dẫn cho họ thực tập chuyển hóa những tập khí tham đắm, giận và lo sợ trong tự thân và biết cách trở về chăm sóc thân tâm mỗi khi nỗi sợ hãi, hối hận và lo lắng trấn ngự. Trại tù nơi chúng tôi đến là trại dành cho những người buôn bán, phần nhiều là phụ nữ người Việt và Úc, những người này còn trẻ lắm. Những buổi hướng dẫn của chúng tôi có cả những người trưởng trại và cai tù cũng đến tham dự… Mỗi lần chúng tôi hướng dẫn cho khoảng từ 20 đến 30 người.

Chúng tôi cũng đã đem đạo Bụt vào trường học để hướng dẫn cho các em học sinh cấp Trung học từ lớp 8 đến lớp 12. Chúng tôi chia sẻ cho các em thực tập xử lý những căng thẳng, buồn giận và những tâm hành tiêu cực bằng cách trở về nắm lấy hơi thở, có mặt và ôm ấp cơn giận của mình, biết chấp nhận và thương yêu chính mình. Để cho việc hướng dẫn có kết quả, nhà trường chia các em ra thành từng nhóm nhỏ, mỗi nhóm có 25 em và chia làm năm nhóm. Trường chúng tôi đến là trường Công giáo có tên là Marian College, cách Tu viện Nhập Lưu khoảng một giờ lái xe, chúng tôi đã đến được bốn lần để hướng dẫn cho các em và cô giáo. Sau những lần hướng dẫn tu học, các em và thầy cô giáo rất thích và vô cùng hạnh phúc, các em hứa sẽ cố gắng thực tập theo lời chỉ dẫn của chúng tôi.

Thiên nhiên nuôi dưỡng

Nói về Nhập Lưu, điều làm tôi ấn tượng và hạnh phúc nhất là hương rừng và rừng ở đây đủ các loại tràm khác nhau rất đẹp. Mỗi buổi sáng, vào khoảng 4 đến 5 giờ, từ cư xá Cam Lộ Vị (cư xá của các sư cô ở, chúng tôi cũng tạm đặt tên để gọi) đến thiền đường Thanh Lương Địa, con đường dẫn đến thiền đường nằm giữa rừng cây hướng đến ngọn đồi thoai thoải, thả những bước chân an lạc thong dong tôi vừa thưởng thức hương thơm của hoa tràm quyện vào những làn sương mỏng của rừng núi. Nhắc đến nước Úc, có lẽ ai cũng biết loài động vật được mọi người ưa thích và biết đến đó là Kangaroo. Hầu như chúng tôi đều được ngắm những chú Kangaroo mỗi ngày, chúng rất hiền và dễ thương. Ban đầu thấy mọi người thì chúng hơi ngần ngại và lảng tránh, nhưng sau quen dần, chúng đến gần hơn và dạo chơi khắp mọi nơi trong đất của thiền viện. Đặc biệt nơi này có một giống chim rất lạ có tên là Cookaburra, tôi nghe nói loài chim này rất đặc biệt, chỉ có ở nước Úc mà thôi. Khi có một con cất tiếng kêu thì tất cả những con chim khác đều cất tiếng hòa vào thành một âm vang rất hùng mạnh như tiếng cười, vang vọng cả núi đồi. Mỗi buổi tối khi màn đêm buông xuống, trước nhà ăn luôn có vài con Possom xuất hiện, chúng thật hiền và nhẹ nhàng rón rén đến hôn chân bất cứ ai đang ở đấy để xin ăn. Táo, chuối hoặc mì gói là món rất thích của Possom. Không khí ở đây rất lành mạnh, thời tiết trong năm lạnh nhiều hơn nóng. Khoảng mười giờ đêm thì khí trời lạnh hơn ban ngày cho dù nhiệt độ ban ngày tới 16 °C đến 23°C.

Với cánh tay dài

Làng Mai là cây cổ thụ và Thiền viện Nhập Lưu là một trong những nhánh cây vươn ra từ đấy. Cây có nhiều cành thì bóng mát được lan rộng xa hơn, che được cho nhiều người hơn. Là học trò của Thầy, những đứa con của tăng thân, chị em chúng tôi đang mang hạnh nguyện của Thầy và đường hướng của tăng thân đi về châu Úc. “Công trình xây dựng ngàn đời. Nhưng công trình, em xem, đã được ngàn đời hoàn tất. Bánh xe mầu nhiệm chuyển hoài đưa chúng ta đi tới…” Tôi thấy mọi việc như đã được chư Tổ sắp đặt và mọi thứ có lẽ đã hình thành trước đó. Chúng tôi chỉ là những người tiếp nối cho Nhập Lưu được biểu hiện. Trong tôi dâng lên niềm biết ơn rất lớn, biết ơn Bụt, chư Tổ, biết ơn Thầy cùng tăng thân và những vị cư sĩ đã hết lòng yểm trợ cho Nhập Lưu được lớn lên trong thời gian qua. Chúng tôi đang làm sứ mệnh của những người con Bụt, đem đạo Bụt đi vào cuộc đời. Tôi rất biết ơn các sư chị sư em đang có mặt đó cho tôi, cùng tôi đi qua những ngày đầu của Thiền viện Nhập Lưu. Niềm tin của Thầy, sự bền bỉ và lòng trung kiên của các sư, chị sư em đã nuôi dưỡng tôi rất nhiều. Tôi biết dù tâm bồ đề có mạnh, dù chí hướng giúp đời của tôi có lớn cách mấy, nhưng nếu một mình thì tôi không thể làm gì được. Chúng tôi đang cùng nắm tay nhau đi vào dòng, nhập chung vào dòng chảy lớn của tăng thân, chúng tôi đang được trở về với suối nguồn của hạnh phúc, hiểu biết và thương yêu.

Sư huynh

Sư Bá Giác Viên


Đẫm sương trăng mát Bảo Lâm
Nhẹ ươm hạt tuệ lớn mầm từng giây
Nhìn sâu hơi thở làn mây
Bước chân lui tới nhẹ đầy nắng rơi
Bỗng trông núi bụi sông lơi
Là bùn nở đóa sen ngoài thời không
Bể dâu khuya sớm thong dong
Thân là biển hiểu tâm dòng sông thương
Cho ai lạc nẻo lầm đường
Một lần tao ngộ biết nương chốn về.

Tiếp tục một hướng đi chung

Wake Up Thailand

 

Bạn trẻ thương mến!

Sẽ phải dùng rất nhiều giấy bút cho chúng tôi viết xuống những gì chúng tôi cảm nhận trong một năm qua. Bắt đầu với một sự thật về xã hội chúng ta đang sống dù ở mọi nơi, đang dần có những biến động, suy thoái, điều đó làm cho chúng ta dễ bị chi phối bởi xã hội. Cái ước mơ thực hiện một đời sống ý nghĩa và đơn giản sẽ trở nên khó khăn hơn khi chúng ta hành động với tư cách một cá nhân. Không có gì thiết yếu hơn khi chúng ta cùng nhau tìm ra cho mình một con đường, một hướng đi tâm linh để có khả năng chế tác những giây phút hạnh phúc và học hỏi những phương pháp thực tập cụ thể để xử lý được những giận dữ, cô đơn, những hoang mang, mặc cảm và tuyệt vọng. Wake Up là tiếng gọi cho chúng ta đứng lên cùng nhau xây dựng điều đó. Chúng tôi xin được kể cho bạn nghe sơ lược về các sinh hoạt Wake Up Thái Lan, nhưng hơn cả chúng tôi muốn là mời bạn hãy một lần đến tham dự khóa tu để cùng nhau tìm hiểu và khám phá nơi này.

Để Có Một Tương Lai

Ngoài hai ngày quán niệm hằng tháng, khóa tu Wake Up dài ngày cũng được linh động tổ chức. Mặc dầu tại trung tâm Làng Mai Thái Lan, cơ sở vật chất còn hạn chế cho việc tổ chức sinh hoạt những khóa tu lớn, nhưng đại chúng vẫn quyết định mở cửa cho các bạn trẻ về thực tập.

“For A Future To Be Possible”, là đề tài khóa tu Wake Up năm nay được tổ chức tại Làng Mai Thái Lan. Ban đầu mình chỉ định tổ chức cho các bạn trẻ ở Thái, nhưng khi đưa thông tin lên mạng thì có các bạn trẻ từ 8 quốc gia đến tham dự. Khóa tu lần này bắt đầu không dễ dàng như chúng tôi nghĩ. Bangkok đang có cuộc khủng hoảng chính trị lớn, người dân có vẻ rất phân vân, lo lắng, sợ hãi và mệt mỏi. Họ đặt ra rất nhiều câu hỏi cho tương lai, tuổi trẻ, đất nước, xã hội, đời sống. Tình hình ngày càng trở nên nghiêm trọng khi sự căng thẳng giữa hai phe đối lập ngày càng gia tăng, hai bên không nhìn được mặt nhau, những cuộc biểu tình có tới hàng triệu người tham dự liên tiếp diễn ra. Và chắc chắn để tổ chức một khóa tu trong hoàn cảnh xã hội biến động như vậy thì rất khó khăn.

Khoá tu Wake Up tại Thái Lan
Khoá tu Wake Up tại Thái Lan

Khóa tu diễn ra sáu ngày, có những chương trình rất sinh động: ngồi thiền chung ngoài trời vào buổi sáng, đi thiền hành lên cốc Thầy, lễ cầu nguyện hòa bình dưới trăng, làm việc theo gia đình pháp đàm để có cơ hội chơi với nhau và học hỏi lẫn nhau, đi picnic vào buổi sáng, cùng nhau ăn bánh mì kẹp đậu hủ kho với salad, thưởng thức trà, hát thiền ca và chơi các trò chơi trên núi, đặc biệt các bạn còn được tham dự lễ xuất gia của các sư em trẻ trong cây Đoàn nữa.

Có gần 100 bạn tham dự khóa tu lần này, đa phần là những người mới, lần đầu tiên đặt chân đến tu viện Làng Mai Thái Lan của mình. Ngày các bạn đến, có một đội hình các thầy các sư cô trẻ đón chào, các bạn từ nơi khác đến rất bỡ ngỡ, nhưng khi thấy các thầy các sư cô ra đón chào với những nụ cười thân thiện thì các bạn cũng đáp lại bằng những nụ cười nhẹ trên môi. Thời khóa đầu tiên dành cho các bạn trẻ là thiền buông thư, giúp cho các bạn được nghỉ ngơi và trở về thật sự. Bây giờ là mùa đông, trời đất mát lạnh, đặc biệt nơi đây là một trong bảy khu vực có khí hậu trong lành và đẹp nhất thế giới nên thời tiết lạnh hơn ở Bangkok nhiều. Chung quanh là núi non hùng vĩ lại rất thơ mộng, có gió nhẹ, có mây bạc, đã có nhiều bài thơ, dòng văn được bay cao từ mảnh đất này. Tuy mới đến đây lần đầu, các bạn trẻ đã thích ngay khí hậu cũng như thiên nhiên nơi này.

Và hơn hết tất cả là các bạn đã có cơ hội tu tập và cùng nhau nhìn về hướng đi cho tương lai bằng những phương pháp giải quyết những sợ hãi, xung đột, bận rộn trong tự thân. Các bài pháp thoại của các thầy các sư cô giáo thọ về đường hướng cho người trẻ, cho xã hội đã đánh động họ rất nhiều. Có những dòng nước mắt chảy dài trong lúc lắng nghe những bài chia sẻ về hạnh phúc và khổ đau, có những bạn chỉ thấy các thầy các sư cô thôi là đã khóc rồi, có phải các bạn đã chạm được sự thảnh thơi, bình an, tình thương trong tâm? Có nhiều bạn nở nụ cười tươi trong những bài giảng và cũng có bạn gục gục đầu đắc ý như đã lĩnh ngộ điều gì đó. Hy vọng với khả năng sống của người trẻ khi lĩnh hội được pháp môn, họ sẽ biết sống và tư duy như thế nào để đủ bình an giữa lòng Bangkok.

Bình an tự thân, bình an Chicago

Vào tháng 12, Wake Up Thái Lan cũng nhận được một lá thư từ các bạn trẻ Chiacago. Lá thư bày tỏ mong muốn được đến thực tập cùng với Tăng thân. Họ là những sinh viên của các trường Đại học, những tác viên hòa bình trẻ tuổi. Được sinh ra và lớn lên ở một thành phố hàng ngày phải đối diện với những xung đột, bạo động và kỳ thị màu da, nên họ có chung một ước mơ dựng xây hòa bình cho quê hương Chicago. Chuyến công du châu Á của họ năm 2013 có tên “ Đổi trao hòa bình” (Peace Exchange). Trong thư chia sẻ, chuyến đi lần này là mục đích đến học hỏi cách xây dựng hòa bình từ Phật giáo, họ đã chọn Thái Lan và Myanmar, hai đất nước có nền Phật giáo lớn rộng làm điểm đến cho chuyến đi của mình. Ở Thái Lan, họ đã chọn Làng Mai là nơi để đến thực tập học hỏi.

Jessica, cô trưởng nhóm, người đã thực tập pháp môn Làng Mai tiền trạm cho chuyến đi đã đến Thai Plum Village và có buổi chia sẻ thân mật với quý thầy quý sư cô. Cô chia sẻ những hiện trạng của xã hội Chicago, những khao khát của các tác viên trẻ tuổi này, những khó khăn, khổ đau trong công tác, và cuối cùng là những mong muốn được hướng dẫn thực tập để học hỏi nghệ thuật dựng xây hòa bình tự thân. Cô chia sẻ rằng những tác viên hòa bình này là những sinh viên rất năng động, là những nhà làm phim còn rất trẻ, có được sự tài trợ học bổng từ các tổ chức ở Chicago, và là những người con của đức Jesu.

Họ tham gia vào công tác hòa bình với một ước mơ là giúp một bàn tay cải thiện đời sống đạo đức cụ thể ở Chicago và nước Mỹ. Nhưng sau một thời gian hoạt động, họ nhận ra rằng không thể mang hòa bình đến cho người khác trong khi chính họ chưa biết cách chăm sóc tự thân. Trong quá trình làm việc, lắm lúc các bạn cảm thấy mệt mỏi, hoang mang và cũng không biết bắt đầu từ đâu và sẽ đi về đâu.

Đó là những nguyên nhân để họ lên kế hoạch cho chuyến công du châu Á với mục đích học hỏi nghệ thuật dựng xây hòa bình trong tự thân. Lắng nghe cô Jessica chia sẻ, quý thầy quý sư cô ai cũng thấy thương họ và may mắn cho mình. Sau đó mọi công tác chuẩn bị cho khóa tu đã được khởi động trong tinh thần ấy.

Khóa tu bắt đầu với buổi hướng dẫn tổng quát, các bạn đã nếm được những phút giây bình an thật sự bằng sự chia sẻ của thầy Pháp Niệm. Buổi chia sẻ thật yên và rất ý nghĩa. Các bạn học được cách lắng nghe tiếng chuông như tiếng gọi của Bụt, của đức Jesu gọi họ dừng lại những tư duy, lo lắng bên này bên kia, tập trở về với những nhiệm mầu của phút giây hiện tại. Tiếng chuông, hơi thở ý thức, bước chân chánh niệm, nhận diện và tiếp xúc với những nhiệm mầu của tự thân và sự sống, những từ ngữ thật mới mẻ và đơn giản đối với họ nhưng sao lại có công năng đánh động mạnh đến thế. Ai cũng thấy những đôi mắt tròn xoe thích thú của các bạn khi tiếp nhận những lời chia sẻ.

Những ngày thực tập chung cùng đại chúng như thiền hành, thiền ngồi, ăn cơm im lặng và nghe pháp thoại Giáng sinh, các bạn đã thật sự có những ngày tự do, giải phóng mình ra khỏi những thiết bị điện tử. Đặc biệt trong khóa tu có buổi leo núi, các bạn được tiếp xúc với con người cùng với thiên nhiên bao la của cao nguyên Pakchong. Jim McBride, chàng trai 19 tuổi hớn hở nói: “Ở đây trời mênh mông quá! Hiếm khi tôi được thấy một khoảng trời bao la như thế này! Ở Chiacago, chung quanh tôi suốt ngày toàn là những tòa nhà cao tầng che khuất cả bầu trời.”

Những buổi pháp đàm cũng diễn ra hết sức sôi nổi. Với sự hướng dẫn khéo léo và sâu sắc của thầy chủ tọa, các bạn đã nói hết những khổ đau, mặc cảm của bản thân kèm theo những nụ cười hay giọt nước mắt. Hoa trái của nuôi dưỡng và trị liệu đã hé nở trong tự thân mỗi người. Buổi sáng cuối cùng của khóa tu là lễ truyền Năm giới. J’mme Love, nhà làm phim trẻ tuổi, có sự tiếp nhận và nhận thức về pháp môn sâu sắc, anh đã lưỡng lự nhận giới lúc ban đầu, nhưng sau khi lắng nghe sự gợi ý của vị ngồi chuông, anh đã mạnh dạn tiến lên hàng giới tử để nhận giới.

Kết thúc khóa tu là một buổi vấn đáp với quý thầy quý sư cô, ngoài việc trả lời những câu hỏi của các bạn, quý thầy quý sư cô cũng nhấn mạnh về việc xây dựng tăng thân ở Chicago. Các bạn đã tri ân và hứa sẽ thực hiện khi quay về. FM Supreme, cô gái với vẻ bề ngoài cá tính nhưng lại là người khóc nhiều nhất trong những buổi pháp đàm, đã nói lên điều đó. Chúng tôi cũng tình cờ nghe FM Supreme bộc bạch với Marquetta Monroe: “Hay quá! Ở đây thật tuyệt vời! Sang năm chúng ta quay lại đây nữa nhé!”

Và điều đó đã trở thành sự thật, nhóm đã quyết định quay lại Làng Mai Thái Lan lần thứ 2 trong tháng 3 năm 2014 với thời gian thực tập dài ngày hơn.

Giây phút vẫy tay tiễn các bạn lên xe là giây phút mà chắc quý thầy quý sư cô có chung một dòng cảm nhận, đó là ai cũng thấy khuôn mặt các bạn tươi hơn rất nhiều, ai cũng trở nên thánh thiện lạ thường và đã biết chắp tay búp sen chào quý thầy quý sư cô. Những ngày qua là những ngày vui với đầy ý nghĩa và trị liệu. Các bạn đã phần nào nhận ra rằng bình an của tự thân chính là hòa bình thế giới. Về phần đại chúng, sau khóa tu chắc ai cũng thấy câu “đi như một dòng sông” của Sư Ông thật đúng. Tuy trong quá trình thực tập làm việc, vẫn có những ý kiến bất đồng, hay những việc xảy ra đột xuất ngoài ý muốn, nhưng khi đã xác định rằng chúng ta duy trì sự thực tập, tìm hạnh phúc ngay trong khi nấu ăn, cho pháp thoại, dọn nhà vệ sinh, hướng dẫn pháp đàm… tất cả đều cao quý, đều có chung một trái tim phụng sự chứ không chờ làm xong rồi mới hạnh phúc. Chúng tôi ý thức rằng sự hòa hợp của tăng thân là món quà quý nhất có thể tặng cho đời. Chúng tôi tập làm mới khéo léo với nhau khi có những bất đồng, nội kết, tập nhìn lại cách hành xử của mình và buông bỏ những tư kiến để đi đến một cái thấy chung. Tăng thân có một sức mạnh phi thường của chuyển hóa và trị liệu. Còn với các bạn trẻ Chicago, khi nhận được những nụ cười của quý thầy quý sư cô trong giờ tiễn các bạn lên xe, đó là nguồn cảm hứng cho họ bước tiếp cuộc hành trình.

Sinh nhật mùa thu

Chân Duyệt Nghiêm

Sinh nhật mùa thu
đất trời thênh thang
ta sẽ đi nhặt những chiếc lá vàng
kết thành niềm thương
thả vào trí nhớ
ta muốn đi đến cuối trời, cuối mùa thu nhặt lá
vì bao nhiêu thương nhớ rất đầy…

Sinh nhật mùa thu, cùng nhau,
ta ngồi ngắm mây bay
mang thương yêu vào trong từng hơi thở
nghe tin yêu về trong từng cơn gió
khi ta gửi lòng an lành vào cuộc sống bao la

Ta sẽ ngồi ngắm nghía đời ta
tạ ơn đời sống đã cho ta có mặt
tạ ơn đời sống đã vì ta có mặt
để ta biết yêu thêm, yêu hoài những nỗi đời riêng

Sinh nhật, mùa thu,
một ngày thả trôi đi hết những muộn phiền
để những ngày bình yên theo nhau tiếp nối
để tình thương trong lòng mở hội
để vơi đầy cuộc sống vẫn bao dung
để gian truân vẫn trọn nghĩa thủy chung…

Sinh nhật, mùa thu
cúi tạ đất trời vô cùng
bao nhiêu nghĩa tình làm sao nói hết
bao nhiêu thâm sâu làm sao thấy được
một ngày bước chân đi là đi mãi
xin sống trọn vẹn cõi lòng
để trên đường hoa cỏ ngát hương theo…


Nhặt cỏ vườn hoa

Phiên tả những buổi vấn đáp của Thầy cho tuổi teen ở khóa tu “Đi tìm ngôi nhà đích thực” (Finding our true home)
tại tu viện Lộc Uyển ngày 15.10.2013)

Hỏi: Ba của con mất cách đây 2 năm rưỡi vì ung thư tuyến tiền liệt. Ông ấy đã rất đau khổ vì những đau nhức trong thân thể và tinh thần không còn minh mẫn nữa. Vì lẽ đó mà con rất khó để truyền thông với ba con trong những ngày tháng còn lại của ông. Hồi trước, con rất bình an để cho ba ra đi, nhưng bây giờ con thấy càng ngày càng khó khăn hơn trong việc kết nối với năng lượng của ba. Và càng khó hơn để cho con biểu lộ cảm xúc đau buồn hay qua sự ra đi của ba. Con phải thực tập như thế nào để mở lòng ra và có sự kết nối với ba con dù cho ông ấy đã qua đời rồi?

Các em trẻ hát cúng dường bài Hai lời hứa
Các em trẻ hát cúng dường bài Hai lời hứa

Thầy: Ba của chúng ta không chỉ có ở ngoài mà đang có mặt trong chúng ta. Ông ấy vẫn còn có đó và luôn luôn được tiếp nối trong mỗi chúng ta. Chúng ta mang cha, mẹ và các thế hệ tổ tiên trong mỗi tế bào của cơ thể, cho nên chúng ta có thể nói chuyện với ba ngay bây giờ và ở đây. Tôi thường hay làm như vậy với ba tôi. Tôi chia sẻ với ông về sự thực tập của tôi và tôi cảm nhận ba luôn có mặt cho tôi. Khi tôi tiến triển hơn trong sự tu tập thì ba tôi cũng được hưởng. Tôi thường hay mời ba cùng đi, cùng thở cho nên chúng tôi hài hòa với nhau. Tôi đang làm giúp cho ba tôi những gì mà ông chưa thể làm được trong lúc còn tại thế. Bây giờ thì tôi có nhiều bình an, niềm vui và tự do hơn.

Những khó khăn, khổ đau của ba chúng ta vẫn còn trong mỗi chúng ta. Những khổ đau của chúng ta mang trong tự thân nó một phần là những khổ đau của ba chúng ta. Bởi vậy, nếu chúng ta ôm ấp những khổ đau của mình một cách nhẹ nhàng và lắng nghe chúng tức là chúng ta cũng đang ôm ấp và lắng nghe những nỗi khổ, niềm đau của ba.

Sự truyền thông giữa hai bên luôn có mặt tại vì cha và con trai hay mẹ và con gái luôn tương tức với nhau. Anh không thể có đó mà không có ba anh và ba cũng không thể nào có đó nếu như không có anh. Cho nên anh là sự tiếp nối của ba. Anh chính là ba.

Chúng ta biết rằng niềm đau, nỗi khổ có thể rất có ích. Nó giúp chúng ta nhận ra sự bình an và hạnh phúc đang sẵn có cho chúng ta bây giờ và ở đây. Dựa trên nền tảng của khổ đau, hạnh phúc sẽ hiện ra rõ ràng hơn. Cho nên khổ đau rất hữu ích. Chúng ta được thể nói tới mặt tốt của khổ đau. Bởi vậy, khi người cha đã từng khổ đau và con cái cũng từng có khổ đau, đó là một điều tốt bởi vì chúng ta đã có được một ít bùn để nuôi lớn những bông sen. Không có hạnh phúc nào mà thiếu vắng khổ đau. Bụt đã trải nghiệm được hạnh phúc nhưng đồng thời người cũng biết cách khổ đau.

Hỏi: Trong những năm qua con đã chơi nhiều trò chơi điện tử, có khi đến 8 giờ mỗi ngày. Nó đã trở thành một nỗi ám ảnh. Làm sao con có thể chấm dứt sự nghiện ngập trò chơi điện tử này?

Thầy: Người trẻ có thể có nhiều khổ đau trong lòng mà cha mẹ không biết cách để giúp họ bớt khổ đau và chuyển hóa những khổ đau trong con cái mình. Vì vậy cả cha mẹ và con cái đều khỏa lấp những khổ đau trong mình bằng cách giải trí qua âm nhạc, sách báo, phim ảnh, trò chơi điện tử v.v… Những cái đó không phải là sự hưởng thụ thật sự mà là sự trốn chạy khổ đau bên trong. Thời gian trôi qua, cái khổ đau trong mình tiếp tục lớn lên bởi cái mà mình tiêu thụ. Việc quên đi khổ đau có thể mang lại cho chúng ta thêm độc tố, giận hờn và khó khăn. Đó không phải là sống mà là sự trốn chạy khỏi sự sống.

Cái mà người Tây phương gọi là nước Chúa thì ở trong đạo Bụt người ta gọi là Pháp thân. Bụt có Phật thân nhưng đồng thời cũng có Pháp thân. Khi nhục thân của Bụt không còn nữa thì Pháp thân của Bụt vẫn tiếp tục cho pháp thoại. Khi nhìn vào bông hoa hay nghe tiếng gió trong cây liễu với chánh niệm và định, chúng ta có thể nghe bài pháp thoại qua Pháp thân của Bụt, vì thế Bụt luôn còn sống để cho chúng ta những bài pháp thoại.

Khi chúng ta quán chiếu về mặt trăng, đám mây, bầu trời xanh, con sông, hải triều âm… thì tất cả đều đang thuyết pháp. Như vậy Pháp thân tương đương với nước Chúa và chúng ta biết nước Chúa có đó. Mỗi bông hoa, mỗi ngọn cây đều thuộc về nước Chúa, chúng nói với ta rằng nước Chúa đang có mặt ngay bây giờ và ở đây. Nếu ta biết cách trở về với  giây phút hiện tại thì ta có thể tiếp xúc được với nước Chúa, nó sẽ nuôi dưỡng và làm cho ta hạnh phúc.

Ta không cần phải trốn chạy để nương tựa vào những trò chơi điện tử. Khi thở vào với chánh niệm, ta đem tâm mình về nhà với cái thân và khi thân tâm hợp nhất, ta mới sống thật sự. Nếu ta đánh mất mình trong điện tử thì thân và tâm của ta bị cách biệt, lúc ấy ta không thật sự đang sống, ta đang làm phí đời sống của mình, ta không có gì lợi lạc từ đời sống của ta.

Thiên nhiên đã cho chúng ta sự sống và mỗi giây phút đều là ngọc quý. Nếu chúng ta có thể an trú trong giây phút hiện tại thì chúng ta có thể thưởng thức được nước Chúa ngay bây giờ và ở đây. Đó là loại hưởng thụ hay nhất.

Có một hình ảnh trong Thánh kinh về một người nông dân đã khám phá ra một mảnh đất trong ấy có châu báu. Vị ấy trở về bán tất cả nhà cửa của mình để mua mảnh đất nhỏ có châu báu đó. Cái châu báu ấy có thể làm cho ông hạnh phúc cả cuộc đời trong kiếp này và những kiếp về sau. Vì thế nếu ta có châu báu, có thiên quốc của Chúa thì ta không cần những cái khác như danh, tài, quyền lực, dục lạc và trò chơi điện tử.

Cha mẹ nên thực tập để có thể thưởng thức nước Chúa bây giờ và ở đây. Làm như thế, cha mẹ có thể dạy cho con cái của mình cùng thực tập chung. Những người con không còn phải trốn chạy và nương vào trò chơi điện tử rồi bị nghiện vào nó nữa. Nếu chúng tiếp tục nghiện như vậy thì sẽ gặp nhiều vấn đề cho thân và tâm. Điều này đã được chứng nhận là có thật.

Nếu ta dành quá nhiều thời giờ trên máy vi tính, trò chơi điện tử và bị nghiện bởi những công nghệ điện tử của thời đại mới thì ta sẽ không còn thời giờ để thưởng thức những mầu nhiệm của sự sống, của nước Chúa đang có mặt bây giờ và ở đây. Điều này là mối quan tâm không dành riêng cho người trẻ mà cho tất cả chúng ta, đặc biệt là những bậc làm cha mẹ và giáo viên.

Câu hỏi và trả lời của Thầy cho các em thiếu nhi tại khóa tu “Nghệ thuật khổ đau” (Art of Suffering)
ở tu viện Bích Nham ngày 29.08.2013

Hỏi: Tại sao có người giận dữ và trái tim của họ bị tràn ngập bởi cơn giận trong khi họ thật sự không muốn giận dữ như vậy?

Thầy: Trong chúng ta ai cũng có hạt giống giận hờn và hạt giống của tình thương, từ bi.  Một người cho phép hạt giống giận hờn được tưới tẩm mỗi ngày sẽ dễ dàng giận nhiều hơn là người không cho phép nó bị tưới tẩm. Nếu chúng ta xem tivi và thấy nhiều sự giận dữ trên tivi thì chúng ta cho hạt giống giận được lớn lên mỗi ngày. Nếu hạt giống giận trong chúng ta mạnh, chúng ta sẽ dễ nổi cơn giận.

Cơn giận không chính xác đến từ ở bên ngoài, nó từ bên trong nên chúng ta phải cẩn thận khi xem tivi, trò chơi điện tử hay là nói chuyện với những người khác, đừng cho những cái này tưới tẩm hạt giống giận hờn trong ta. Bởi vì nếu hạt giống giận được tưới tẩm thì mình có thể dễ dàng nổi giận. Mỗi khi giận, chúng ta đau khổ và sẽ làm cho người kia đau khổ.

Bên cạnh đó, ta cũng có những hạt giống của tình thương và từ bi trong ta. Nên khi ta đọc sách, nghe pháp thoại hay nghe những lời nói chứa đựng nhiều tình thương và từ bi thì những hạt giống tình thương và từ bi trong mình được lớn lên. Nếu ta có rất nhiều tình thương, ta sẽ trở nên một người hạnh phúc và không còn giận dữ nữa. Vì vậy chúng ta phải biết cách chăm sóc hai loại hạt giống trong chúng ta: hạt giống giận hờn và hạt giống tình thương.

Thiền tập có thể giúp cho chúng ta rất nhiều. Khi ta có thêm từ bi, ta trở nên hạnh phúc. Cho dù ta gặp phải một sự khiêu khích ta vẫn có thể mỉm cười. Lúc ban đầu ta có thể mỉm cười với cơn giận của ta và khi đã thành công với việc ấy thì ta được bảo hộ bởi năng lượng của từ bi nên ta có thể mỉm cười với người đang giận dữ, bạo động, nói những lời thô tháo và dữ dằn, thậm chí suýt đánh ta. Chúng ta có thể mỉm cười với họ và nói: “Anh ơi! chị ơi! tôi biết anh, chị đang khổ đau nhưng anh, chị không cần phải khổ đau như vậy.” Đó đã là một sự thành công, đó là sự chiến thắng mà một hành giả nhờ thiền tập có thể đạt được mỗi ngày.

Hỏi: Tại sao con người phải đau khổ?

Thầy: Khổ đau và hạnh phúc là một phần của cuộc đời. Khổ đau và hạnh phúc phải đi chung với nhau. Đây là giáo lý thâm sâu của Bụt, cũng như là mặt trái và mặt phải. Nếu mặt trái có đó thì mặt phải cũng phải có đó. Nếu mặt trái nói: “Phải ơi, anh hãy đi đi! Tôi không muốn anh hiện hữu nữa.” Nói như vậy là vô lý bởi vì nếu không có mặt trái thì sẽ không có mặt phải, nó khó nhưng chúng ta vẫn có thể hiểu được.

Muốn trồng hoa sen ta phải cần đến bùn. Bùn thì không thơm nhưng hoa sen thì thật sự rất thơm. Chúng ta không thể trồng hoa sen trên đá cẩm thạch. Cho nên giữa hạnh phúc và khổ đau có một mối liên hệ mật thiết. Khổ đau là bùn và hạnh phúc là hoa sen. Nếu bạn biết cách sử dụng bùn thì bạn trồng được những bông sen rất đẹp. Cũng như nếu bạn biết xử lý khổ đau thì bạn có thể chế tác hạnh phúc. Đó là nguyên nhân chúng ta cần một chút khổ đau để tạo nên hạnh phúc.

Và chúng ta cũng biết rằng thế giới này đã có đủ khổ đau rồi nên ta không cần phải tạo thêm khổ đau nữa. Cái mà mình cần làm là học sử dụng khổ đau một cách khéo léo để tạo nên hạnh phúc. Trong khóa tu này mình đã học được một điều rất quan trọng này, đó là nếu biết cách khổ đau, chúng ta sẽ khổ ít lại, chúng ta chỉ khổ một chút xíu thôi. Điều đó cho phép chúng ta có thêm hiểu biết, từ bi và làm cho ta hạnh phúc, đó là cách sử dụng bùn để trồng hoa sen, đây là một phép thực tập rất quan trọng.

Tôi hy vọng trong các nhà trường họ sẽ dạy cho chúng ta nghệ thuật khổ đau hay phép thực tập để tận dụng khổ đau mà chế tác hạnh phúc. Sau đó ta sẽ học được về mặt tốt của khổ đau bởi khổ đau đôi khi cũng có lợi ích của nó. Khi ta nhìn vào khổ đau, ta sẽ hiểu và từ bi sẽ được phát sinh trong ta. Khổ đau không hẳn là tiêu cực, nó như là bùn vậy.

Khi ta trồng rau hữu cơ, ta biết cách giữ lấy rác để làm thành phân hữu cơ để nuôi dưỡng những bông hoa và rau. Ta không cần phải vất rác đi bởi vì rác có thể sử dụng được, điều này cũng giống như khổ đau. Bạn không cần phải bỏ cái khổ đau đi, bạn có thể dùng khổ đau như là một loại phân để làm nên hoa của hạnh phúc.

Hỏi: Chúng ta phải làm gì để có một cái tâm tĩnh lặng?

Thầy: Con có muốn có một cái thân tĩnh lặng luôn không?

Thầy nghĩ rất là tốt để có một cái thân tĩnh lặng. Có một thân tĩnh lặng nó dễ hơn là có một cái tâm tĩnh lặng. Bởi vì thân và tâm tụi nó thích đi chung với nhau. Nên khi con tới một khóa tu như khóa tu này, con học được làm sao để đi trong chánh niệm, thở trong chánh niệm. Và nếu con thực tập tốt thì mỗi hơi thở vào và mỗi hơi thở ra sẽ giúp làm tĩnh lặng cái thân và cái tâm của con. Cảm ơn con.

Câu hỏi của teen:

Hỏi: Em gái con năm nay 13 tuổi, em đã ở tu viện Bích Nham trong mấy tháng vừa qua. Em ấy đã đi khóa tu với Thầy và tăng thân. Em hi vọng sẽ được trở thành một sư cô. Điều đó rất khó chấp nhận đối với con vì con nhớ em lắm. Làm sao con thực tập để không bị vướng mắc vào em con?

Thầy: Thầy thấy có rất nhiều giải pháp. Giải pháp thứ nhất là con có thể đi chung với em con luôn (Cả đại chúng cười òa lên). Giải pháp thứ hai là con giữ liên lạc với cô ấy, hỏi thăm những gì em con đang làm mỗi ngày và tập làm theo như vậy. Tuy có khoảng cách về địa lý nhưng khi chúng ta chia sẻ cho nhau về cùng một niềm vui, cùng một mối quan tâm thì chúng ta sẽ cảm thấy rất gần nhau. Sự thực tập đàng hoàng, chân thật sẽ mang lại niềm vui, hạnh phúc và tình thương cho cả hai. Khoảng cách không thể chia cắt được chúng ta khi mà chúng ta có cùng một mối quan tâm.

Em con có thể học được những gì con đang làm và con cũng học hỏi được những gì em con đang thực tập ở Bích Nham. Có thể con sẽ thấy gần gũi em con hơn khi cả hai chị em ở cùng nhau. Bởi vì đã từng có một người cha và con trai ở chung với nhau trong một ngôi nhà nhưng chưa bao giờ họ gần nhau, hiểu nhau. Và cũng có những cặp cha con tuy không sống chung với nhau nhưng họ vẫn truyền thông được và rất hiểu nhau. Cho nên họ đã thật sự ở gần nhau.

Vấn đáp dành cho trẻ em và thanh thiếu niên ở Khóa Tu Chánh Niệm cho các nhà giáo dục (Mindfulness Retreat for Educators)
tại trường Đại học Brock, St. Catherine’s, Canada ngày 15.08.2013

Hỏi: Trong bài pháp thoại của Thầy, Thầy có dạy về 16 phép Quán Niệm Hơi Thở để chế tác niềm vui và chế tác hạnh phúc, nhưng con không hiểu sự khác biệt giữa chúng. Con nghĩ là sẽ giúp ích cho con trong sự thực tập nếu con có thể hiểu thêm về sự khác biệt giữa chế tác niềm vui và hạnh phúc.

Thầy: Nó có một sự khác biệt nhỏ giữa niềm vui và hạnh phúc theo cách diễn giải mà chúng ta thường dùng trong đạo Bụt. Đó là trong niềm vui còn có những sự kích động, nhưng trong hạnh phúc, sự kích động đó được lắng xuống rất nhiều. Giả sử có một người du khách cần đi qua một sa mạc hoang vắng và người đó đang rất khát nước. Trời rất nắng nóng và bỗng dưng người đó phát hiện ra một ốc đảo phía trước và một hồ nước bao quanh bởi những hàng cây. Như vậy cảm giác người ấy có lúc đó là hỷ, nó còn có một ít sự kích động, vui nhưng còn nhộn nhịp. Khi người đó thực sự đã tới được hồ nước và quỳ xuống, dùng hai bàn tay vốc nước uống, đó là hạnh phúc, lúc này là sự khác nhau.

Chúng ta đã học rằng nghệ thuật của hạnh phúc liên quan mật thiết đến nghệ thuật của khổ đau. Nếu chúng ta biết cách khổ đau chúng ta sẽ bớt khổ rất nhiều và chúng ta có thể chế tác hạnh phúc, biết cách xử lý khổ đau như người trồng sen, biết sử dụng bùn để nuôi dưỡng những hoa sen vậy.

Hỏi: Cha của chúng con không làm theo chánh kiến và ông ấy đã làm cho gia đình con khổ rất nhiều. Cha lấy hết thời gian của mẹ để mẹ không có thì giờ cho anh chị em con. Con có rất nhiều phẫn uất và giận dữ dồn nén trong lòng. Điều đó làm con rất sợ hãi. Làm sao con có thể nhìn bản thân mình với chánh kiến và thương bằng tình thương không điều kiện với những người mà ngay cả họ cũng không hề biết thương yêu chính mình? Làm thế nào để con có thể chuyển hóa những khổ đau trong con thành bình an, niềm vui và chấp nhận được ba con trong khi ông ấy đã làm con rất đau lòng?

Thầy: Khi ba hoặc mẹ mình không có hạnh phúc, chúng ta phải biết rằng không phải là vì họ không muốn có hạnh phúc. Họ cũng muốn có hạnh phúc nhưng vì họ không thể có được hạnh phúc cho nên họ đã làm cho những người chung quanh họ cũng không hạnh phúc. Có thể là họ không muốn như vậy, nhưng vì họ không biết làm thế nào để làm chủ được những khổ đau trong họ nên họ đã vung vãi ra cho những người xung quanh.

Vì vậy, là một người con chúng ta phải tập nhìn sâu vào những khó khăn, những nỗi khổ niềm đau của ba mẹ thì mới có thể hiểu được họ: Ba tôi cũng có rất nhiều khổ đau và ông ấy chưa từng biết cách để làm chủ và chuyển hóa những khổ đau trong chính tự thân.

Hơn nữa không có ai từng giúp cho ông ấy làm chủ những khổ đau trong lòng để ông có thể nhẹ nhàng, từ bi hơn, có nhiều niềm vui hơn. Có lẽ tôi là người đầu tiên giúp ba tôi mặc dù tôi vẫn còn đang rất trẻ.

Tôi đã có cơ duyên gặp được đạo Bụt, gặp được chánh pháp, biết thực tập hơi thở, bước chân chánh niệm. Tôi đã được học cách làm thế nào để lắng dịu những cảm thọ, sợ hãi và giận dữ trong tôi. Tôi đã có khả năng tiếp xúc với những gì tươi mát và lành mạnh trong tôi và chung quanh tôi. Vì vậy tôi làm chủ những cơn giận, sự bực tức và sự tuyệt vọng trong mình tốt hơn. Nếu tôi trở nên nhẹ nhàng, tự do và từ bi hơn thì tôi đang ở trong một vị trí mà có thể giúp ba mẹ tôi.

Mỗi khi ba tôi nói năng hay hành xử không dễ thương với tôi hoặc với mẹ tôi, thay vì nổi giận với ba, tôi quán chiếu để thấy rằng những khổ đau trong ba đã thúc đẩy ông nói và hành xử như vậy. Nhờ được bảo vệ bằng hiểu biết và thương yêu, tôi đã không nổi giận, đó là cái đầu tiên tôi có thể làm. Nếu tôi không nổi giận và giữ được sự bình an của mình là tôi đang giúp cho ba tôi.

Thỉnh thoảng khi ba tôi đang có tâm trạng tốt, tôi có thể ngồi xuống với ba hoặc mời ba cùng đi bộ. Tôi chia sẻ cho ba cách tôi đã học làm sao để lắng dịu những cảm thọ trong mình v.v… Nhờ vậy nên tôi là một người dễ chịu. Tôi có thể lắng nghe và hiểu được những khó khăn của ba và vì vậy ba tôi thích gần gũi với tôi. Một người có sự yên lắng, dễ chịu, luôn tươi cười là người mà người khác muốn tới và tạo mối liên hệ thân thiết với người đó. Cho nên nếu tôi thực tập giỏi, nếu trong tôi có nhiều bình an và từ bi, tôi có thể giúp cho cha và mẹ tôi.

Trên thực tế, có rất nhiều các em nhỏ tới Làng, tham dự các khóa tu được tổ chức tại châu Âu, châu Á, châu Mỹ,… Sau khi thực tập trong các khóa tu, các em trở về nhà và đã giúp được cho ba mẹ rất nhiều. Hơn nữa, các em còn có khả năng thuyết phục ba mẹ đến tham gia những khóa tu tới. Chuyện những người trẻ có thể giúp được cho gia đình mình đã xảy ra rất thường.

Khi nhìn vào cha hoặc mẹ mà chúng ta thấy được rằng họ là những người không có hạnh phúc và có rất nhiều khổ đau thì đó gọi là hiểu. Hiểu biết luôn luôn mang tới từ bi. Chúng ta không còn giận họ nữa, thay vào đó chúng ta muốn giúp đỡ họ. Người trẻ có thể làm được những chuyện này, cho nên con cái cũng có thể tu tập để giúp ba mẹ mình.

Hỏi: Con rất buồn khi thấy những người bạn của con có quan hệ tình dục không lành mạnh và sử dụng ma túy. Và vì họ có quá nhiều khổ đau nên họ trở nên rất giận dữ. Pháp môn này đã giúp con rất nhiều và con muốn giúp các bạn của con, nhưng cùng lúc đó con không muốn áp đặt tư tưởng của con lên các bạn vì như vậy sẽ làm họ đau khổ thêm. Làm thế nào để con có thể mang sự thực tập này vào đời sống hằng ngày để yểm trợ thêm cho các bạn của con?

Thầy: Có rất nhiều cách để giúp người bạn của mình. Cách đầu tiên là con kể cho bạn nghe câu chuyện của mình. Con hỏi: “Bạn có muốn tôi kể cho bạn nghe kinh nghiệm của tôi về cách điều phục sự giận hờn, sự sợ hãi, hay nỗi buồn của tôi không?” Người kia có thể rất hứng thú để nghe bởi vì người ấy đã từng là nạn nhân của sự sợ hãi, giận hờn và buồn đau. Nếu con biết cách điều phục được những tâm hành đó thì họ sẽ rất hứng thú để được biết. Con có thể viết cho bạn của mình một lá thư kể về kinh nghiệm của con ở Làng hay trong một khóa tu. Nhưng đừng cố gắng dụ dỗ người bạn đó theo đạo Bụt, con cần tránh điều này. Chỉ cần kể về kinh nghiệm của bản thân thôi, kể về những gì đã thật sự xảy ra trong các khóa tu ở các trung tâm thực tập như Làng Mai và điều đó sẽ giúp tưới tẩm những hạt giống tốt trong người kia.

Con có thể mời người đó tới tham dự cùng cho vui. Đừng nói rằng: “Lại đây tu với tôi!” Con có thể nói: “Tới đây để quán sát thôi”. Sau khi người đó tới rồi, họ sẽ tự tìm thấy không khí yên tĩnh, bình an, thân mật và người đó sẽ thích. Tôi nghĩ rằng sở dĩ một người bị vướng vào ma túy, tà dục và những tệ nạn khác là vì người đó chưa từng có gì tốt hơn để trải nghiệm. Cho nên cái mà mình phải làm là hướng dẫn cho những người đó một môi trường lành mạnh, chỉ cho họ một mẫu người tốt, đó là những người không sử dụng rượu, các chất ma túy hay tà dục, và chỉ cho họ thấy thế nào là hạnh phúc đích thực. Từ từ, họ sẽ bỏ những gì từng làm họ khổ trong quá khứ như rượu, các chất ma túy, tà dâm… và đi theo đường hướng mới. Chúc con may mắn!

Chùm thơ xuân


Mùa xuân lên tiếng hát
Trời đất đẹp vô ngần
Hồn thơ lên tiếng hát
Tục nhân thành tao nhân.

Đêm ướp hoa mai trắng
Hương thơ gạn hồn trong
Mảnh trăng xuân tĩnh mặc
Hờn tủi bặt mù tăm.

Trong trầm luân bể đời
Vẫn vẹn ánh xuân ngời
Giữa trần gian buồn tủi
Mai trắng còn tinh khôi.

Lộc đã lên xanh từ cành khô
Ánh sáng thoát thai từ đêm tối
Đen trắng đổi trao nhau rất vội
Giá lạnh đông tàn xuân mở hội.

Sáng nay trời đất trong ngần
Một nhánh mai vàng nở trước sân
Áo bạc chay lòng tâm chẳng bận
Nắng tưới lên ngàn hong gió xuân.

Lao xao đám bụi hồng trần
Sáng nay tắt lịm trước nàng xuân
Nhành hoa mai trắng thanh tao thế
Mây gió đem về hương cố nhân.

Đông đìu hiu cô quạnh
Đất nứt cây trơ cành
Nhưng nấp sau băng giá
Là cả một mùa xanh

Mỗi khi mùa xuân tới
Thức ngàn lá lên xanh
Nhưng trong lòng xuân thắm
Chồi biếc đã lìa cành.

Rộn ràng từng cánh én
Chắp cánh những hoài mong
Hồn thơm hương nắng mới
Mai trắng nở trong lòng.

Làu làu màu băng tuyết
Những cánh trắng lưu ly
Mọc từ thân cổ thụ
Dưới nắng xuân thầm thì

Tinh khôi từng cánh mỏng
Điểm thêm những nhụy vàng
Em gọi mùa xuân tới
Đánh thức những hân hoan.

 

Chân Lĩnh Nghiêm.

Đi tìm tự do

Thiền sư Nhất Hạnh
(Pháp thoại ngày 29/12/2005 trong khóa An Cư Kiết Đông 2005-2006)


Ý chí tự do có được là do Tam học. (Free will is possible thanks to the Three Trainings).

Ý chí tự do, tiếng Pháp là libre arbitre. Đây là một vấn đề cam go của triết học: Thật sự có tự do ý chí hay không? Hay tất cả đều được an bài, được sắp đặt, hoặc bởi một đấng Thượng đế hoặc bởi nghiệp của ta như một định mệnh mà mình không thoát ra được?

Quanh quẩn trong vòng buồn giận

Nếu màn lưới nhân quả mà tuyệt đối thì làm sao ta thoát ra khỏi thân phận được? Vì vậy phải có một nẻo thoát, một kẽ hở nào đó. Khoa học có nói đến xác suất (probabilité), xác suất gợi ý rằng: vũ trụ thế gian có một đường thoát. Chúng ta thấy chung quanh ta có những người không thoát ra được thân phận của họ. Họ cứ đi vòng vòng, quanh quẩn trong vòng buồn giận mà không thoát ra được. Đó gọi là luân hồi (đi vòng). Có những người bị trầm cảm (dépression), một thời gian thì họ bớt nhưng một thời gian sau lại rơi vào trầm cảm, rồi bớt, rồi sa xuống trở lại mà không ra khỏi được. Tuy họ có sử dụng thuốc trị trầm cảm nhưng cũng không đỡ được nhiều. Họ phải uống nhiều tuần, nhiều tháng, nhưng thuốc không giúp được cho bệnh nhân thoát ra, mà có thể bệnh càng ngày càng nặng hơn. Cái buồn, cái giận, sự tuyệt vọng của ta cũng vậy, có khi ta trở thành nạn nhân của sự tuyệt vọng, của cái giận, cái buồn của ta. Tuy sau một thời gian thì cái giận, cái buồn, sự tuyệt vọng có thể bớt đi, nhưng nguyên do của cái buồn, cái giận, của sự tuyệt vọng đó vẫn còn và ta biết trong tương lai ta lại sa vào hầm hố của sự tuyệt vọng, của cái buồn, cái giận nữa. Ta cứ đi vòng, đi vòng hoài.

Có những người khổ đau trong liên hệ vợ chồng và họ không thoát ra được. Đến một lúc nào đó họ nghĩ là phải ly dị thì mới có cơ hội chấm dứt khổ đau. Có người đã ly dị và cưới một người khác, nhưng những vấn đề và những khổ đau cũ vẫn cứ tiếp tục vì họ có những tập quán, những thói quen, những cách hành xử, những lề lối suy tư đã giam hãm họ trong vòng khổ đau đó. Họ vẫn tiếp tục đối xử với người mới bằng cách thức đã đối xử với người cũ, vì vậy tuy có người mới nhưng họ vẫn rơi vào vòng khó khăn, khổ đau. Có người đã ly dị ba hay bốn lần để cưới người mới, nhưng cuối cùng họ cũng ở trong vòng quanh quẩn không thoát ra được. Làm thế nào để có thể thoát ra?

Ngựa theo lối cũ, trâu quen đường về

Có những nguyên nhân nội tại ở bên trong mình, hoặc trong thân thể hoặc trong tâm thức, và có những nguyên nhân ngoại tại ở hoàn cảnh bên ngoài. Khi đối diện với những sự kiện xảy ra thì cách ta hành xử, cách ta phản ứng trong lần sau cũng giống hệt như cách ta phản ứng trong lần trước. Tiếng Việt ta có câu: ngựa theo lối cũ. Nếu ngày xưa ai có giữ trâu hay giữ bò thì biết: ta không cần phải chỉ đường đi cho những con trâu, con bò. Chúng quen đường về, ta chỉ cần ngồi chơi trên lưng trâu và trâu đưa ta về nhà. Chúng ta cũng vậy, cách hành xử của ta, cách phản ứng của ta đã trở thành thói quen. Nhiều khi ta có cảm tưởng là ta quyết định, nhưng thật ra không phải là ta quyết định mà chính là thói quen, cách hành xử lâu đời của ta quyết định.

Khi bước vào một cửa tiệm để mua áo, đứng trước một dãy áo dài năm sáu chục cái. Ta chọn xem áo nào, màu sắc nào, kiểu nào ta thích. Ta có cảm tưởng là ta có tự do chọn lựa, nhưng nhìn kỹ thì tự do đó rất ít, hoặc có thể nói là không có, vì những cái ta thích đã được quyết định trước rồi. Ta đã có sẵn sở thích về màu sắc, hình dáng, kiểu may và khi đi ngang qua thì ta bị nó bắt. Ta bị chọn chứ không phải ta chọn. Ta bị cái đó chọn, đi ngang qua nó là ta phải mua, mà thật ra ta mua nó hay nó mua ta thì chưa biết được. Sở thích của ta đã có sẵn, ta đã quen với màu đó, với hình thái đó rồi.

Cách đây chừng 30 năm, tôi đi vào một cửa tiệm ở Tokyo để mua một vuông khăn về cột mấy cuốn kinh. Tôi đứng trước những vuông khăn (bên Nhật Bản người ta bán rất nhiều vuông khăn bằng lụa để cột hành lý), cô bán hàng hỏi:

– Thầy chọn cái nào?

Tôi mỉm cười nói:

– Tôi đâu có chọn. Tôi để cho nó chọn tôi.

Cô bán hàng rất ngạc nhiên, nhưng sự thật là như vậy. Ta bị chọn tại vì những sở thích của ta đã được viết sẵn trong tâm của ta do cách ta được huấn luyện, cách ta tiếp nhận kinh nghiệm của cuộc đời. Vì vậy ý chí tự do của ta hầu như là không có.

Thói quen của một con người cũng như vậy. Mỗi khi có sự việc gì xảy ra thì người đó có khuynh hướng nhìn nhận và phản ứng giống như nhau. Lần thứ nhất, người đó phản ứng như vậy; lần thứ hai, nếu sự tình xảy ra như vậy thì người đó cũng phản ứng giống y như lần trước và lần thứ ba cũng thế. Khi nào có sự việc xảy ra tương tợ thì người đó lại phản ứng theo thói quen mà người đó đã được huân tập.

Những con người máy

Trong một buổi họp khi nghe một câu nói không hợp thì ta thường phản ứng lại một cách rất tự nhiên (réflexe). Học về thần kinh não bộ, ta biết trong não bộ của ta có những tế bào thần kinh đóng vai trò truyền tin tức về trung ương và có những tế bào thần kinh có nhiệm vụ đáp ứng lại và ra lệnh cho những cơ bắp của thân mình hành động. Người ta nói đến “cung phản xạ” (arc de réflexe). Ví dụ như khi ta đạp nhầm cây đinh thì cái đau được tế bào thần kinh hướng tâm chuyển vào trung ương, những tế bào thần kinh ở trung ương nhận được và ra lệnh cho bắp thịt hành động liền lập tức. Vì vậy khi đạp đinh thì ta nhảy nhỏm lên và rút chân lại. Đó gọi là một cung phản xạ.

Đứng về phương diện tâm lý, khi đứng trước một hoàn cảnh bất như ý thì tự nhiên ta hành xử theo một phản xạ (réflexe) rất máy móc. Trong cuộc sống hàng ngày ta hành xử một cách máy móc rất nhiều. Ta phản ứng lại, căn cứ trên những kinh nghiệm và sự học hỏi trước đây chứ ta không đưa tâm của ta vào để thật sự quyết định. Trong khi ăn cơm nếu có chánh niệm, có để ý quán sát thì ta sẽ thấy cách ta nhai như thế nào, lưỡi của ta chuyển thức ăn từ vùng này sang vùng kia trong miệng như thế nào và ta thấy rõ là kỳ thực ta không đang ăn mà là ta đang bị ăn. Ta không ngờ lưỡi của ta, răng của ta, hàm của ta làm việc giỏi như vậy. Răng, hàm và lưỡi làm việc rất hay. Đôi khi ta không cần phải để tâm vào hành động nhai mà do phản xạ nhai tự nhiên, giống như cái máy, nó tự làm. Ta có một hệ thống thần kinh tự động (automatic nervous system) lo hết cho ta.

Quan sát những người xung quanh ta, họ cũng sống như những người máy. Có những chiếc máy bay không cần người lái vẫn bay được, vẫn làm việc được, vẫn đáp xuống được an toàn. Nhiều người trong chúng ta cũng sống như vậy. Chúng ta đang lái xe, nhưng kỳ thực chúng ta không có mặt ở đó, tâm của ta đang hoàn toàn ở một chỗ khác. Ta đang lái xe bằng tập quán mà ta đã học hỏi được trong quá khứ. Ta lái như một cái máy và khi có sự việc gì xảy ra đột ngột thì ta cũng phản ứng như một cái máy, mà không có sự can thiệp của chánh niệm.

Chúng ta ăn cơm một cách máy móc, chúng ta lái xe một cách máy móc, chúng ta bước đi trên đường một cách máy móc, chúng ta rửa chén, đánh răng một cách máy móc. Chúng ta là những con người máy. Chúng ta phản ứng lại những gì xảy ra trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta như một cái máy.

Khi hoàn cảnh bất như ý xảy ra, ta phản ứng một cách thô bạo, giận dữ, ta gây ra đổ vỡ giữa ta và người khác. Khi đổ vỡ xảy ra rồi thì ta hối hận: Trời ơi! Tại sao ta nói như vậy, tại sao ta làm như vậy? Ta đã biết nói như vậy và làm như vậy sẽ gây ra đổ vỡ mà tại sao ta cứ nói và cứ làm? Ta giựt tóc, đấm ngực, ta tự trách mình và tự hứa với mình lần sau nếu có sự tình như thế xảy ra thì ta sẽ hành xử theo cách khác. Ta rất thành thật với ta. Nhưng lần sau, khi sự tình xảy ra tương tự thì ta cũng vẫn hành xử như thế. Những thói quen, những cái ta học hỏi trong quá khứ, cách ta phản ứng đã trở thành nếp và ta cứ tiếp tục gây khổ đau cho ta và cho người khác. Nó giống như một định mệnh mà ta không thoát ra được, không thay đổi được.

Tác phẩm “L’étranger” (Người xa lạ) của Albert Camus có kể về người tử tù tên Meursault sắp bị đem ra hành quyết. Anh ta chỉ còn hai mươi bốn giờ đồng hồ để sống. Nằm ngữa trong phòng giam, tự nhiên anh ta thấy được một khung trời trên trần nhà. Khung trời đó chỉ nhỏ chừng một thước vuông thôi, nhưng không biết điều gì đã xảy ra mà lần này nhìn trời anh ta thấy màu trời xanh rất huyền diệu, rất mầu nhiệm. Anh ta đã thấy được màu trời một cách sâu sắc có thể là nhờ ý tưởng mình sẽ bị hành hình trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Đã hơn ba mươi năm để thấy trời xanh, nhưng chưa bao giờ anh tiếp xúc được với trời xanh một cách hiện thực như vậy. Có thể là vì gần chết nên anh có được cơ hội đó. Lúc đó anh có một cái thấy rất mới. Anh quyết định là từ bây giờ cho đến lúc bị đem ra hành quyết anh phải sống trong tỉnh thức. Khi ông cha muốn vào để rửa tội cho anh thì anh ta đã từ chối, anh không muốn mất thì giờ tại vì anh chỉ có hai mươi bốn giờ để sống. Anh muốn trong hai mươi bốn giờ còn lại đó giây phút nào cũng là giây phút tỉnh thức. Anh ta tự hỏi liệu ông cha đó có thể giúp gì được cho anh, trong khi chính ông cha đó có thể cũng đang sống trong sự quên lãng. Sống như vậy thì cũng như một người chết (Il vit comme un mort). Triết lý của cuốn “L’étranger” là giây phút tỉnh thức (le moment de conscience).

Hầu hết chúng ta sống một cách rất máy móc, không phá tung được xích xiềng của thói quen tư duy và hành xử để thoát ra. Chúng ta đi không có ý thức, ăn không có ý thức, lái xe không có ý thức. Chúng ta để cho cái máy điều khiển cho nên ta chỉ quanh quẩn trong vòng buồn giận, thất vọng, tuyệt vọng và bị giam hãm trong vòng buồn giận đó mà không thoát ra được. Chúng ta chưa bao giờ thật sự có tự do. Chúng ta có thể làm được nhiều việc, nhưng những việc đó cũng chỉ được làm một cách máy móc mà thôi.

Trong đoạn cuối của cuốn “Thả một bè lau” tôi có bàn tới vấn đề ý chí tự do. Tôi đưa ra một ví dụ: Một anh chàng kia vào trong một buổi họp, mỗi khi bị người ta nói một câu làm phật ý thì anh phản ứng rất giận dữ, vì vậy không một buổi họp nào mà anh được thành công. Vì ý thức được điều đó nên anh nói:

– Tôi sẽ không đi họp nữa tại vì mỗi khi đi họp mà nghe người ta nói những câu xóc óc thì tôi lại phản ứng như vậy. Tôi đi họp chỉ vô ích thôi!

Một người bạn nói:

– Thôi kỳ này đi họp tôi sẽ ngồi bên anh, tôi sẽ cầm tay anh trong suốt buổi họp và mỗi khi có ai nói điều gì khó nghe thì tôi sẽ bấm vào tay anh một cái để nhắc nhở anh. Khi thấy tôi bấm vào tay anh thì anh biết rằng anh sẽ giữ im lặng, biết rằng nếu anh phản ứng thì sẽ làm hư buổi họp và gây ra những xáo trộn như những lần trước. Anh chỉ cần im lặng mỗi khi tôi bấm vào tay anh thì có thể có một sự thay đổi.

Nhờ người bạn cầm tay trong suốt buổi họp mà lần đầu tiên anh ngồi yên được mà không phản ứng. Có một cái gì rất mới đã can thiệp vào đời anh, tại vì chuyện đó chưa bao giờ xảy ra cho anh. Lâu nay anh chỉ phản ứng như một cái máy. Cái can thiệp vào là bàn tay của một người bạn.

Trong Truyện Kiều có nhân vật sư cô Giác Duyên. Giác Duyên có nghĩa là một điều kiện để thức tỉnh. Chúng ta sống trong mê, sống như một cái máy, nên chúng ta cứ quanh quẩn trong vòng buồn giận mà không thoát ra được. Nhưng nếu có một Giác Duyên đi vào cuộc đời ta thì việc đó có thể sẽ tạo ra được một hoàn cảnh mới.

Tam học là con đường thoát

Nếu ta đã từng là nạn nhân của những phản ứng do thói quen, nếu ta đã từng bị giam hãm trong vòng buồn giận không thoát ra được, nếu ta cứ đi từ giai đoạn trầm cảm này đến giai đoạn trầm cảm khác thì ta phải biết: con đường đưa ta thoát ra là con đường Tam học. Tam học là niệm, định và tuệ. Niệm là nhắc nhở, là ý thức được những gì đang xảy ra.

Người bạn cầm tay ta trong suốt buổi họp và bấm một cái khi thấy ta sắp phản ứng trước tình trạng xảy ra, đó là niệm. Người bạn nhắc nếu anh phản ứng thì anh sẽ gây đổ vỡ. Tôi bấm tay anh để anh đừng phản ứng, anh ngồi yên thôi. Đó là niệm.

Ý chí tự do bắt đầu từ niệm, không có chánh niệm thì không có ý chí tự do. Theo Duy biểu học, tâm của ta biểu hiện thành những tâm sở hay tâm hành. Có tất cả 51 tâm hành, trong đó có tâm hành xúc (contact). Một sự tình xảy ra ở hoàn cảnh bên ngoài đánh động lên tâm hành bên trong, đó là tác ý (attention, advertance), tiếng Phạn là manaskāra. Tâm hành xúctác ý phát khởi và giao lưu với những tâm hành khác như tâm hành thọ (sensation, feeling), tâm hành niệm tức nhớ tưởng. Niệm ở đây chưa phải là niệm trong Tam học, mà mới là sự hồi tưởng. Trong ta có những khổ đau, những kinh nghiệm, và khi tiếp cận với một sự kiện nào đó (xúc) thì cái thấy đó có thể đánh động ký ức của ta (tác ý). Ta nhớ lại những chuyện đã xảy ra ngày xưa. Ví dụ ta thấy một người mà nét mặt hao hao giống như nét mặt của người ta thương ngày xưa thì ta nhớ người thương của ta. Xúc tạo ra tác ý, hình ảnh của người thương ngày xưa trở lại và đưa tới cảm thọ (thọ). Cảm thọ đó có thể là khó chịu, có thể là dễ chịu, nhớ nhung hay buồn khổ. Một âm thanh nào đó gợi ta nhớ lại người đã làm cho ta đau khổ và khi nhớ lại những kỷ niệm đau khổ thì cảm giác đó có thể là cảm giác đau khổ. Trong khi đó, một người khác cũng nghe cùng một âm thanh ấy, nhưng họ không có kỷ niệm, không có quá khứ như vậy nên cảm giác của người đó không giống cảm giác của ta.

Xúc đánh động tới tác ý, tác ý đánh động tới niệm, niệm đánh động tới thọ, thọ đánh động tới tưởng (tri giác). Tri giác của ta tùy thuộc rất nhiều ở các tâm hành khác như thọ, tác ý v.v… Đó là chúng ta đơn giản hóa chứ sự thật thì có thể có đến ba hay bốn chục tâm hành cùng hiện hành một lúc để đưa tới thọ hay tưởng, rồi tưởng đưa tới tư. Tư (volition) là ý muốn làm cái gì đó, có thể là để phản ứng lại, phản ứng một cách giận dữ, một cách trìu mến hay một cách buồn rầu. Mỗi khi có một cảm thọ hay một cái tưởng thì tự nhiên có tư, tức là có một ý muốn làm một cái gì đó, hay nói một cái gì đó để phản ứng lại (như một phản xạ). Nghe một câu nói hay thấy một cái gì chướng tai gai mắt, tự nhiên ta muốn đáp lại liền. Tất cả cái đó phát sinh từ nhiều nguyên nhân, những tâm hành trong ta đồng thời tạo tác với nhau.

Trong 51 tâm hành có những tâm hành tích cực và những tâm hành tiêu cực. Trong ta có tâm hành tham (thèm khát), tâm hành sân (giận dữ), tâm hành si (u mê), tâm hành mạn (mặc cảm cho mình là hơn, là thua hay là bằng người). Những tâm hành tiêu cực còn nhiều (như nghi, tà kiến, phẫn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, siễm, hại, kiêu v.v…) Nhưng có điều lạ là trong ta cũng có những tâm hành ngược lại, những tâm hành tích cực như vô tham, vô sân, vô si, xả v.v… Chúng ta sở dĩ có tâm hành thất niệm tại vì chúng ta cũng có tâm hành niệm.

Học về nội dung của 51 tâm hành ta thấy: Trong chúng ta có tâm hành hại (violence) tức là ý muốn trừng phạt, muốn đánh, muốn làm cho người kia khổ. Nhưng trong tâm ta cũng có tâm hành gọi là bất hại (non violence). Bất hại là ahiṃsā, là bất bạo động. Trong tâm ta có những tâm hành đối kháng nhau và chúng đang cùng có mặt. Ta có tâm hành si, tức sự u mê, hay tri giác sai lầm. Nhưng tâm hành vô si, tức tuệ giác (Bát nhã) cũng có trong tâm ta. Hễ có một tâm hành tiêu cực thì cũng có một tâm hành tích cực.

Trong khoa học vật lý nguyên tử người ta khám phá ra những lạp tử, tức những đơn vị bé nhỏ của vật chất như điện tử. Điện tử (électron) có tính chất âm. Người ta khám phá ra rằng nếu có điện tử thì có phản điện tử (anti électron, có khi gọi là positron), có giới tử (méson) thì có phản giới tử (anti méson), có vật chất (matière) thì có phản vật chất (anti matière), có chất điểm (particule) thì có phản chất điểm (anti particule).

Trong đạo Phật có ý niệm về sắc và không. Sắc là matière và không là anti matière. Học về Tâm lý học Phật giáo chúng ta thấy những điều rất kỳ diệu. Trong tâm ta có yếu tố của sự u mê, nhưng đồng thời cũng có yếu tố của sự giác ngộ. Tuy nhiên, trong đời sống hàng ngày, ta không được học hỏi, không được tiếp xúc với Giác Duyên, nghĩa là với những yếu tố có khả năng đưa ta ra khỏi vòng buồn giận, nên ta chỉ đi quanh quẩn trong đó mà thôi. Mỗi khi nghe hay thấy cái gì đó thì ta phản ứng liền để gây ra đau khổ. Ta không chỉ nghe và thấy những gì ở bên ngoài mà ta cũng tiếp xúc được những gì ở bên trong như những kỷ niệm, tư duy và mỗi khi nghĩ nhớ lại thì ta cũng phản ứng. Ta phản ứng để gây đau khổ cho chính mình và cho người khác. Ta bị trầm cảm (dépression) cũng vì vậy. Ta có những tư tưởng, những cái nhìn tiêu cực rồi ta cứ đi quanh đi quẩn nếu ta cứ nhai đi nhai lại những tư tưởng và nhận thức tiêu cực đó thì lẽ đương nhiên ta sẽ bị rơi vào trong hố trầm cảm. Ta không thoát ra được. Trong nội thân cũng như trong hoàn cảnh của ta có những yếu tố đó và tùy theo cách ta nhận thức chúng mà chúng quyết định đời ta, chúng làm cho ta đi vòng vòng không thoát ra khỏi được. Làm sao để có thể can thiệp vào, để có thể chấm dứt được lề lối phản ứng mà ta đã theo trong bao nhiêu năm trong quá khứ? Câu trả lời của đạo Phật là phải có niệm, định và tuệ, tức là Tam học.

Chuyện đâu còn có đó

Cách thức ta phản ứng đã thành một tập khí, một thói quen. Bây giờ ta tập như thế nào để có được những thói quen mới, những phương pháp đối phó khác, thì mới có thể thoát khỏi tình trạng cũ. Ta tự dặn mình, trong quá khứ ta đã từng có phản ứng gây ra đổ vỡ. Từ bây giờ ta quyết tâm không làm như vậy nữa. Mỗi khi có hoàn cảnh bất như ý xảy ra thì ta không phản ứng liền, ta không để cơn giận làm chủ lấy ta để ta có thể nhìn cho kỹ và nhờ đó ta có thể có một lề lối phản ứng khác. Trong tiếng Việt có câu “Chuyện đâu còn có đó”, tại sao ta phải phản ứng liền? “Chuyện đâu còn có đó, tại sao ta phải hấp tấp?” là tuệ giác của cả một dân tộc.

Tại sao ta phải quyết định liền? Cho phép ta có được ba phút để nhìn lại và ta sẽ biến lối hành xử này thành một thói quen tốt. Tại sao ta phải nói lại một câu, hay phải làm gì đó để phản ứng? Ta có thì giờ, ta phải cho mình một không gian, quý vị hãy thử làm đi!

Nhưng muốn làm được thì ta phải luyện tập. Trước đây ta đã từng sống và phản ứng lại hoàn cảnh một cách máy móc. Từ hôm nay ta không muốn tiếp tục cách sống đó nữa. Ta đặt cho ta những kế hoạch để ta có thể làm hay hơn trong tương lai. Đây là phương pháp thực tập chánh niệm. Chánh niệm là ý thức được những gì đang xảy ra mà không cần phải đi tới một quyết định, không cần phải chối bỏ hay chấp nhận ngay lập tức.

là quyết định muốn làm cái gì đó, muốn phản ứng lại. Thường thường là khi có thọ và tưởng rồi là ta muốn hành động, muốn phản ứng ngay. Nhưng bây giờ ta không muốn đi tới liền, ta muốn cho ta một không gian, ví dụ như ta để ra vài ba phút để thở hay để đi thiền hành. Chuyện đâu còn có đó, ta không cần phải gấp gáp. Tuệ giác có thể tới trong những phút đó vì niệm thường đưa tới định và tuệ.

Nếu quý vị đã từng bị sa vào trạng thái trầm cảm và rất sợ phải sa vào lần nữa thì quý vị có thể thực tập phương pháp này. Ta phải biết, phải nhận diện được những gì xảy ra trong tâm của mình. Nếu đó là một tư tưởng có tính cách tiêu cực, bi quan, mặc cảm thì ta biết đó là một tư tưởng tiêu cực, bi quan, mặc cảm. Trước hết ta phải nhận diện và cho nó một không gian, không hẳn là ta phải hành động liền. Khi nhận ra đó là một tư tưởng bi quan, chán nản thì ta nói: “À, đây là một tư tưởng bi quan, chán nản”. Nếu ta cứ quanh quẩn đi theo nó thì ta có thể sa vào trầm cảm. Nếu ta cứ nhai đi nhai lại cái tư tưởng bi quan, buồn giận hay tuyệt vọng đó thì thế nào ta cũng rơi xuống hố trầm cảm. Nhưng nếu trong khi đang nhai đi nhai lại tư tưởng bi quan, buồn nản đó mà ta biết là ta đang nhai thì đã có một cái gì mới xảy ra rồi. Thường thì ta không biết là ta đang nhai đi nhai lại cái tư tưởng bi quan, buồn thảm, sầu khổ đó. Ta bị nó đưa đi. Ma đưa lối quỷ dẫn đường là vậy.

Nhưng khi có niệm là ta biết ta đang nhai lại, mà biết ta đang nhai thì tự nhiên ta hết nhai liền. Ta cho ta một không gian, có thể là ba phút, để ngồi thở hoặc đi thiền hành. Ta cho ta một cơ hội để điều kiện giác ngộ có thể xảy ra. Chìa khóa giúp ta thoát ra khỏi thân phận nô lệ của ta để đạt tới tự do nằm ở chỗ là ta ý thức được cái gì đang xảy ra. Đó là niệm. Đây là một sự luyện tập chứ không phải là một lý thuyết.

Phương pháp thực tập: Có niệm là bắt đầu có tự do

Ta phải luyện tập từ từ. Trước hết ta phải tập thở. Thở vào ta biết ta đang thở vào; thở ra ta biết ta đang thở ra. Trong đời sống hàng ngày, nếu không tu tập, ta cứ thở vào thở ra như một cái máy. Thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra, ta vẫn thở nhưng hơi thở này rất khác, hơi thở này chứng tỏ là ta đã đưa được niệm vào trong hơi thở. Trước khi lái xe, tại sao ta không cho mình một hay hai phút để ngồi thở? Đó gọi là ý thức về hơi thở, tức là một cách luyện tập để biết được những gì đang xảy ra, để làm chủ được chúng mà không bị nô lệ vào chúng. Khi bước đi, nếu không ý thức thì ta sẽ không làm chủ được bước chân, ta sẽ bước đi như bị ma đuổi. Nó bước chứ không phải ta bước. Nó là cái gì? Nó là cái máy. Nó bước đi, nó thở chứ không phải ta đi, ta thở.

Lúc mới bắt đầu, mỗi ngày ta nên thực tập ba phút, đi từng bước và ý thức được từng bước chân của mình. Ta không còn là cái máy nữa, ta là con người tự do. Đó là sự bắt đầu của ý chí tự do, nắm được hơi thở, nắm được bước chân.

Mỗi ngày ta có thể uống trà nhiều lần. Nhưng nếu muốn thực tập thì ta tự qui ước là mỗi ngày ta sẽ uống chén trà đầu tiên trong chánh niệm. Trong khi uống trà ta biết là ta đang uống trà, ta đang đưa chén trà lên cao, ta đang uống trà và đang để chén xuống. Ý chí tự do bắt đầu.

Trước hết ta phải nắm được hơi thở, rồi bước chân, rồi một vài hành động của mình. Cố nhiên ta không thể nào làm được tất cả trong chánh niệm, nhưng ta có thể chọn vài phương pháp thực tập và mỗi ngày ta phải làm cho được. Ví dụ như chải răng, sáng nào chúng ta cũng chải răng, nhưng thường thường thì ta chải răng như một cái máy. Bây giờ ta quyết định: Mỗi khi chải răng ta thực tập chánh niệm. Để kem đánh răng lên bàn chải, ta biết ta đang để kem đánh răng lên bàn chải, đưa tay lên chải răng ta ý thức được từng cử động của bàn tay mình. Chúng ta có thể để hai phút để chải răng mà hai phút đó là hai phút chải răng trong chánh niệm. Ta không để cho cái máy làm, ta làm với ý thức và tự do của mình. Chúng ta nên tìm thêm vài phương pháp thực tập và quyết định làm mới mình mỗi ngày. Buổi sáng chúng ta mở cửa nhìn ra ngoài và ngồi yên ba phút, để ý tới những tiếng động đang xảy ra.

Sáng hôm nay vào thiền đường, tôi đã ngồi xuống rồi trong khi một số còn đang đi vào. Tôi đã áp dụng phương pháp này, ngồi rất yên và để ý tới những âm thanh trong thiền đường. Tôi nhắm mắt lại và nhận diện những âm thanh đang xảy ra. Đó cũng là ngồi thiền, chứ không phải đợi có ba tiếng chuông rồi ta mới bắt đầu tập thở. Ta ngồi yên và những âm thanh đó không quấy động được ta, không hẳn là khung cảnh phải thật yên ta mới ngồi thiền được. Có tiếng kéo ghế, có tiếng xì xào, có tiếng đẩy gối, nhưng tất cả những âm thanh đó không làm rộn được ta vì lúc đó chủ đích của ta là ngồi để nhận diện những tiếng động mà ta có thể nghe được.

Quý vị cũng có thể làm như vậy. Trước khi đi ngủ hoặc buổi sáng thức dậy, ta có thể ngồi ba phút để lắng nghe và nhận diện những âm thanh trong nhà mình. Ta có thể ngồi trước cửa sổ nhìn ra, nhận diện cội cây này, bông hoa kia, mái nhà đó. Nói tóm lại là ta phải tìm cách để thoát ra khỏi thân phận nô lệ của mình. Tự do là nhờ ta có niệm. Khi có niệm thì ta bắt đầu sống đời sống mới của ta. Khi ta có khả năng thực tập như vậy trong một thời gian, hoặc ba hoặc năm hoặc bảy tuần, khi ta có thể nhận diện được bước chân của ta, hơi thở của ta, cử chỉ của ta, khi ta uống trà hay rửa bát thì lúc đó ta có thể bắt đầu nhận diện được tư duy cảm thọ của mình. Tuy rằng những tư duy kia đang còn tiêu cực và những cảm thọ kia có thể là còn những khổ thọ, nhưng nhận diện được chúng là đã có sự khác biệt lớn rồi. Nhận diện được chúng là mình không còn bị nô lệ cho chúng nữa.

Chúng ta khổ đau là vì chúng ta không có tự do, chúng ta chưa thoát ra được thân phận của một cái máy. Niệm giúp cho chúng ta sống không còn như một cái máy nữa. Chúng ta bắt đầu có chủ quyền. Niệm, định và tuệ có thể đưa tới cho ta những vùng năng lượng rất lớn. Có những người sống ở nước Pháp hai ba chục năm hay suốt đời mà không biết nước Pháp có những vùng rất đẹp. Họ chỉ quanh quẩn trong làng, trong tỉnh của họ. Rất tội nghiệp cho họ, họ không có cơ hội khám phá ra những cái đẹp tuyệt vời ở những miền đất khác của nước Pháp.

Chìa khóa mở tung cánh cửa những vùng mầu nhiệm

Trong thân tâm của ta có những vùng rất mầu nhiệm mà ta chưa bao giờ biết tới, chưa bao giờ thăm viếng. Có thể đó là những vùng của niệm, của định và của tuệ. Ví như quý vị có một máy tính xách tay, một cái PC hay một Mackintosh, nhưng quý vị chưa sử dụng được hết tất cả những khả năng của máy, quý vị chỉ sử dụng được mười hoặc hai mươi phần trăm khả năng của nó thôi. Tâm mình cũng vậy, rất mầu nhiệm. Trong đó có tuệ giác, có từ bi, có hạnh phúc lớn nhưng ta chưa với tới được. Ta chỉ biết quanh quẩn trong vòng buồn giận với những tâm hành tiêu cực (tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến) mà thôi. Những tâm hành như đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả mầu nhiệm như vậy mà ta lại không với tới. Hãy sử dụng những vùng mầu nhiệm của tuệ giác để thoát ra khỏi thân phận nhỏ bé của mình. Vì cứ giam mình trong vòng tham, sân, si nên ta mới gánh chịu khổ đau từ năm này sang năm khác và làm cho những người xung quanh ta cũng khổ đau theo.

Đức Thế Tôn đã trao cho chúng ta một chiếc chìa khóa, chìa khóa của Tam học (niệm-định-tuệ). Nếu muốn, chúng ta có thể dùng chìa khóa đó để mở tung ra biết bao nhiêu cánh cửa. Ví dụ chúng ta mới mua một ngôi nhà mới, hay một lâu đài mới. Tuy sở hữu cả một tòa lâu đài nhưng nếu chúng ta chỉ ở trong bếp, ta không có chìa khóa để đi vào các phòng lớn thì uổng biết bao nhiêu. Cũng như ở nước Pháp đẹp như vậy mà chúng ta chỉ quanh quẩn trong làng của mình, không đi tới được những nơi khác. Một lần kia đi chơi tuyết ở Vermont, tôi có nói với một người bạn:

– Theo tôi thì trong bản tuyên ngôn nhân quyền phải thêm câu này: Sinh ra trên trái đất thì mỗi người phải có quyền được thấy biển và thấy núi tuyết, vì có những người từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, chưa bao giờ được thấy biển, chưa bao giờ được thấy núi tuyết. Rất uổng cho họ!

Chúng ta cũng vậy, chúng ta chỉ quanh quẩn trong vòng đau khổ của tham, sân, si; chúng ta chưa bao giờ hưởng được cái đẹp của đại từ, đại bi, đại trí tại vì chúng ta không có tự do, chúng ta không thoát ra được. Chúng ta sống đời sống hàng ngày của ta như những cái máy.

Với chìa khóa của Tam học mà đức Thế Tôn đã trao, chúng ta hãy mở tung cánh cửa của những vùng mầu nhiệm trong cuộc đời và trong tâm thức của ta. Ngài đã chỉ dẫn rất rõ: Niệm là thế nào, định là thế nào, tuệ là thế nào. Nếu quý vị muốn nếm được những mầu nhiệm của sự sống, muốn thoát ra khỏi thân phận đau buồn, hạn hẹp thì quý vị phải dùng chìa khóa của đức Thế Tôn. Chìa khóa này rất rõ ràng: Đừng vội phản ứng, đừng bằng lòng đi quanh trong cái vòng nhỏ hẹp, hãy thoát ra bằng con đường thoát là niệm. Niệm là nhận diện những gì đang xảy ra.

Tự do phải tranh đấu mới có

Tôi đề nghị quý vị, nhất là những người còn mới trong sự thực tập, nên chọn cho mình vài bài thực tập, ví dụ như bài chải răng: “Tôi quyết định là từ nay mỗi khi chải răng, tôi không suy nghĩ tới chuyện quá khứ, chuyện tương lai. Tôi quyết chải răng như thế nào để ý thức được từng cử động, chải răng như thế nào để có hạnh phúc, có an lạc, có tự do trong khi tôi chải răng”. Tự do bắt đầu từ đó. Hay quý vị có thể quyết định như thế này: “Mỗi khi mở cửa xe hơi bước lên thì tôi không rồ máy liền, tôi cho tôi ba phút để ngồi thở và mỉm cười, tôi biết rằng tôi là ai và đang sắp sửa đi đâu.” Đó là những giây phút đưa lại cho ta tự do. Tự do không tự nhiên tới mà do ta tranh đấu mới có.

Sở dĩ trong lòng chúng ta đầy những u buồn, sầu khổ là vì chúng ta không có tự do, tự do đó ta phải tranh đấu mới có. Không phải là vì ta đi tới một khung trời nào đó thì tự nhiên có tự do, hay chờ đợi một thời gian nào đó trong tương lai thì ta mới có tự do. Tự do phải tranh đấu mới có, tranh đấu bằng sự thực tập chánh niệm. Khi ý thức được những gì đang xảy ra là chúng ta bắt đầu có tự do. Đó là cái bấm tay của người bạn nhắc cho ta đừng để bị kéo theo, ta phải làm chủ được mình.

Trong Tâm lý học Phật giáo, chúng ta học về những tâm hành và mỗi khi một tâm hành biểu hiện thì ta ý thức được nó, ta mỉm cười với nó và ta bắt đầu có tự do. Tại nội viện Phương Khê có một cầu thang mười tám bậc. Ba mươi năm nay, mỗi khi lên cầu thang tôi đều đi có chánh niệm, mỗi khi đi xuống cầu thang tôi đều đi xuống có chánh niệm. Tôi không để cho bước chân nào lọt ra khỏi chánh niệm. Đi trên Vạn Lý Trường Thành, hoặc leo lên Ngũ Đài Sơn thì tôi cũng đi như vậy. Leo lên máy bay, hay leo lên một cầu thang nào đó, tôi cũng đều bước những bước chân chánh niệm. Ta bắt đầu ở chỗ quyết định chọn cho mình một sự thực tập hàng ngày và ta quyết tâm làm cho được. Ví dụ nếu quý vị chọn phương pháp chải răng trong chánh niệm thì sáng nào quý vị cũng phải chải răng trong chánh niệm. Sau khi ăn cơm trưa, trước khi đi ngủ quý vị phải chải răng trong chánh niệm. Làm được như vậy mỗi ngày sẽ đưa tới chủ quyền cho ta trong đời sống hàng ngày. Có chủ quyền rồi thì ta mới nhận diện được những tư tưởng, những tư duy, những cảm thọ và những lề lối phản ứng của mình. Khi nhận diện được chúng thì ta không còn là nạn nhân của chúng nữa, ta bắt đầu có tự do. Nếu quý vị không ý thức được những gì đang xảy ra cho thân mình như là bước chân, hơi thở hay hành động thì quý vị sẽ không nhận diện được những gì xảy ra trong phạm vi cảm thọ, tri giác hay tư duy. Ta để cho tư duy tiêu cực, sầu khổ kéo đi, ta cứ gặm nhấm chúng và cứ tiếp tục khổ đau.

Chánh niệm trước hết là nhận diện, nhận diện đơn thuần mà không xua đuổi, không lên án, không vướng mắc. Có thể mỗi ngày quý vị cho mình thêm nhiều không gian, đừng vội vã phản ứng. Mỗi khi lâm vào tình trạng nào đó, hoặc quá thích thú, hoặc quá bực bội, quý vị hãy để cho mình không gian vài ba phút để thở, để đi thiền hành. Ta không cần phải phản ứng liền, chính tự do đó đưa lại cho ta ánh sáng, cho ta cơ hội có được tuệ giác. Hành động trên tuệ giác sẽ không bao giờ đem lại đau khổ. Với tôi, “án binh bất động” (có nghĩa là không làm, không nói gì hết) rất quen thuộc. Không hẳn là ta phải nói, phải làm gì mới chứng tỏ được là ta có tuệ giác, ta có cái thấy. Nhiều khi có cái thấy rồi thì ta biết là ta không cần nói, không cần làm gì cả. Ta khỏe ru và người kia cũng khỏe ru. Không phải tuệ giác chỉ đưa tới hành động, có khi tuệ giác đưa tới quyết định không hành động và cái quyết định không hành động ấy sẽ đưa tới hòa bình, an lạc và tình huynh đệ.

Xin đại chúng trong ngày hôm nay, ngày mai và ngày mốt bớt nói chuyện lại. Ta phải chiêm nghiệm, phải đặt kế hoạch cho năm mới, không phải kế hoạch làm ăn mà là kế hoạch tu học. Ta phải chọn cho ta phương pháp thực tập mà ta sẽ áp dụng trong năm tới, tôi đề nghị là những phương pháp đó phải rất cụ thể. Tôi ước muốn quý vị phải làm thế nào để khi gặp một trường hợp, một hoàn cảnh bất như ý thì quý vị phải cho mình một không gian. Không gian là một tặng phẩm rất lớn. Đừng vội quyết định! Đừng vội phản ứng! Ta cho ta ba phút để đi thiền hành, để suy nghĩ rồi ta sẽ thấy rằng không phản ứng cũng là một hành động, không phản ứng là một tuệ giác rất lớn. Tôi rất thích câu: Chuyện đâu còn có đó. Ta không cần phải phản ứng liền, để đó đã. Lúc tâm ta an lại, bình tĩnh lại thì ta sẽ thấy phản ứng lại là dại dột, là đưa tới đổ vỡ. Mỗi người trong chúng ta phải chọn sự thực tập mỗi ngày và một khi đã quyết tâm thì phải làm cho được. Những lúc chúng ta sinh hoạt hàng ngày như khi lái xe, nấu cơm, chải răng, tắm rửa hay tưới vườn là những giây phút của tự do. Chúng ta phải làm những việc đó như thế nào để có tự do. Khi ăn cơm chúng ta phải tập ăn như những con người tự do. Chúng ta ngồi ăn và để ý tới cách làm việc của răng, của lưỡi. Cái cằm của mình làm việc như thế nào? Cái hàm của mình làm việc như thế nào? Chúng ta sẽ thấy rằng lâu nay chính cái máy nó ăn chứ không phải ta ăn, cái máy đi chứ không phải ta đi, cái máy phản ứng chứ không phải ta phản ứng. Đây đúng là lúc ta phải bắt đầu nắm lấy chủ quyền của đời ta.