Cuộc dạo chơi của ba

 

Chân Trung Hải

Cuộc dạo chơi Cả tuần rồi, trong tất cả những giờ thiền tọa, thiền hành với đại chúng chú đều không thể rời tâm khỏi hình ảnh của ba chú được. Chú không hề có chủ ý mời hình ảnh thân thương kia về trong những giờ quán chiếu ấy, thế nhưng không có buổi nào là hình ảnh ấy không mỉm cười rạng rỡ trong lòng chú. Không mời nghĩa là cũng không xua đuổi. Huống chi hình ảnh ấy là hình ảnh trìu mến và linh thiêng sâu kín trong lòng chú!

Từ khi đủ lớn để nhớ được những gì xảy ra quanh mình, chú chưa từng thấy ba mình bước đi hay là ngồi thẳng. Chú đã từng thấy ba mình ngồi trên xe lăn với hoặc là chú hoặc là em trai của chú trong lòng, nhưng ngồi, dù là trên ghế, thì chưa bao giờ. Vào tuổi của chú, ba chú đã phải nằm trên giường và ngồi trên xe lăn cho tới ngày ba nằm hẳn, 7 năm sau đó.

Những tuần này chú đã nếm được rất sâu duyệt lạc trong những giờ ngồi thiền với đại chúng, và hay thay, trong hầu hết những khoảnh khắc nhớ đến niềm hạnh phúc đang hiện hữu ấy chú đều nhận thấy nụ cười của ba nở tươi trên môi mình. Chú đã khá thuần thục với sự thực tập nương vào hơi thở để chấm dứt tầm từ. Có khi, chỉ cần vài hơi thở là chú đã có thể trở về trạng thái tĩnh lự rồi. Vọng niệm vẫn đến đấy thôi, nhưng ý thức về hơi thở một cách liên tục và vẹn toàn đã giúp chú mở tung vòng tay cho những vọng niệm ấy trôi qua nhẹ nhàng mà chẳng hề để lại bất cứ dấu vết nào. Duy trì tâm trong trạng thái ấy và chỉ nhận diện đơn thuần những gì đang đến, đang đi qua vòng tay tháo tung rộng mở kia đã cho chú những thời khắc nghỉ ngơi tuyệt hảo. Và cũng thế, trong những khoảnh khắc nghỉ ngơi tuyệt hảo ấy chú cũng thường nhận thấy nụ cười của ba nở tự lúc nào, bền bỉ, trên môi mình.

Sau vài lần như thế, chú bỗng nhận ra rằng ba mình đã từng muốn ngồi thẳng như mình lúc ấy một cách mãnh liệt đến chừng nào. 33 tuổi, 7 đứa con, nằm mãi trên giường nhìn mọi gánh nặng của cuộc đời dồn cả lên vai người vợ chỉ mới 32 tuổi, với tâm tư ấy làm sao một người cha, một người chồng có thể nằm yên mà nghỉ ngơi được! Trong những khoảnh khắc an tĩnh của mình, chú ý thức rõ ràng biết mấy sự buông thư của ba! Ngồi đó, ý thức từng nhịp đi vào ra chầm chậm an nhàn của hơi thở, chú lắng nghe những niềm đau và những nỗi hận của ba đang tan chảy ra, tháo tung ra, bốc hơi lên và tiếng cười sảng khoái hiếm hoi của ba vọng lên ngọt ngào từng hồi từ đáy sâu tâm thức đang cởi mở và tĩnh lặng của chú.

Ba không phải thở
Ba không phải ngồi

Để cho con thở
Để cho con ngồi.

Con đang thở nhẹ
Con đang ngồi yên

Ba được thở nhẹ
Ba được ngồi yên.

Bài kệ của Thầy được chú điều chỉnh lại như thế cho phù hợp với những khoảnh khắc phụ tử trùng phùng mầu nhiệm ấy.

Sau giờ thiền tọa nào cũng có một giờ kinh hành trước khi ngồi xuống để tụng kinh. Hai chân của ba chú đã teo lại, tuy là vẫn còn các cơ bắp nhưng nhão, không điều khiển được và hoàn toàn không có cảm giác. Các anh của chú thường thay nhau bóp chân cho Ba. Ngày đó, những bàn tay của chú hãy còn quá bé để có thể làm được điều ấy. Có lần, người ta cố ý lén dùng lửa đốt ngón chân của ba, để xem ba có cảm nhận được gì không. Và đương nhiên là ba vẫn nói cười tỉnh queo như thường. Và từ đó, trong lòng, niềm hy vọng thấy được ba mình đứng lên cũng liền tắt theo ngọn lửa vừa đốt chân ba. Ngón chân cái của ba chú bị cháy đen là do lần bị đốt ấy. Một chân vắt ngang bụng của ba, một tay ôm cổ ba, đầu nằm tựa trên tay ba, mắt chăm chú theo dõi những con chữ lạ lùng ba đang đọc, chú đã “đi” cùng ba qua biết bao giai đoạn lịch sử nước nhà, biết bao câu chuyện kiếm hiệp, biết bao cảnh quan cẩm tú của quê hương và những anh hùng danh nhân của đất nước… với những buổi đọc sách như thế.

Ba chú thích đọc sách, và thường đọc cho con nghe như là một cách ru con ngủ nếu như không hát. Ba chú cũng thường hát, nhạc xưa, buồn có, vui có, và đó là cách mà chú được ru vào những giấc ngủ. Nếu ba hát, chú thường ngủ rất nhanh. Nhưng nếu ba đọc, chú thường không ngủ ngay mà theo dõi từng chi tiết câu chuyện và từ từ chú còn biết ghép những lời ba đang đọc cho khớp với những dòng chữ trong sách. Trước khi đi mẫu giáo chú đã biết đọc và cũng như chuyện biết bơi, chú không thể nhớ ra là mình từng tập đọc như thế nào. Sau này, chú mới nhận ra là mình đã biết đọc nhờ những lần cùng “đi” với ba qua những cuốn sách, qua những câu chuyện như thế.

Mỗi bước đi trong thiền đường Thánh Mẫu Ma Gia là một nụ cười sáng tươi của ba nở im lặng trên môi chú. Rõ ràng là chú đang bước cho ba, nhưng chỉ cần một niệm tác ý, chú liền thấy ngay rằng ba đang bước cho chú. Ba đã không thể tự mình bước đi được nữa từ khi ba bằng tuổi chú lúc này. Ba chú là người mạnh khỏe, cường tráng và năng động. Những bước chạy bộ của chú qua cả chục cây số trong những giờ thể thao là thừa hưởng từ mầm sống khỏe mạnh của ba mình.

Chú thường không ghìm được nụ cười của chính mình mỗi khi ghép hình ảnh của ba vào những bước chân ý thức ấy của mình. Ban đầu, dáng đi của ba còn nghiêng nghiêng, chập chững, nhưng chỉ sau vài hơi thở trọn vẹn trong ý thức sáng tỏ của chú thì ba chú đã có thể bước ngay những bước tiếp theo với đầy đủ vững chãi, quyết liệt và thong dong. Chú cứ để cho ba bước như thế trong cả vòng kinh hành, tới khi tiếng khánh báo sắp dừng lại thì chú mới nhìn thẳng vào mắt ba mà cười rồi cầm tay ba mà hân hoan đi nốt những bước chân còn lại.

Nằm trên chiếc giường rộng, nhìn ra gốc khế chua ngoài sân qua khung cửa sổ có những chiếc song dọc, chắc chắn ba đã hơn một lần muốn vùng dậy khỏi chiếc giường ấy mà chạy ùa ra sân, để công kênh hai đứa nhóc bửu bối nghịch ngợm của mình trên vai mà đi quanh xóm. Hai anh em chú thường chơi đùa ngay dưới cội khế già cạnh cửa sổ phòng ba. Ánh mắt ba cổ vũ những trò vui ngày xưa vẫn còn in đậm trên những bước ngoặt khó khăn chú đã đi qua, và ánh mắt ấy vẫn sẽ còn có mặt trong những bước ngoặt khó khăn khác đang chờ đón chú phía trước. Có ánh mắt ấy đi cùng, chú đâu còn sợ gì cô độc?

Ngày xưa, chú thường có cảm giác tủi thân khi thấy bạn bè tan học được ba đến đón ngay cổng trường, được ba công kênh trên vai, rồi vừa ngồi ngất ngưỡng trên cao ấy vừa vẫy chào bạn bè với đôi tay bận rộn cùng cây kem còn bốc khói mát. Bây giờ, với từng bước chân trên nền đá lạnh của thiền đường Thánh Mẫu Ma Gia, chú đã trả lại niềm hân hoan được tung tăng trên vai ba với cây cà rem mát ngọt trên tay của thằng bé ngày xưa về với đôi mắt của nó, đôi mắt đang nhắm hờ khi dừng lại trước tọa cụ của mình.

Ba không phải thở
Ba không phải đi

Để cho con thở
Để cho con đi.

Con đang thở nhẹ
Con đang dạo chơi

Ba được thở nhẹ
Ba được dạo chơi.

 

Và ước mơ của mạ

Sáng sớm hôm nay, sau giờ công phu với đại chúng chú đã ở lại thiền đường, ngồi thêm một lúc cho đến khi những anh em thực tập thiền lạy cá nhân đã rời thiền đường hết thì chú bắt đầu tụng kinh. Chú đã ở lại để thâu âm những bài kinh, bài tụng mới trong sách Nhật Tụng Thiền Môn 2012. Mạ chú muốn chú tụng thêm kinh cho mạ nghe. Được nghe con mình tụng kinh vẫn thích hơn là nghe một vị tôn đức nào khác tụng, mạ chú thường nói thế.

Từ khi xuất gia, chú vẫn giữ liên lạc thường xuyên với gia đình. Với các anh chị em của mình thì qua điện thư, nhưng mạ đâu có biết dùng điện thư cho nên điện thoại là phương tiện duy nhất chú có thể liên lạc với mạ. Mỗi lần nói chuyện như thế với ,ạ, chú đều ý thức là mình đang nuôi dưỡng một mầm Bồ đề cho tương lai. Từ mấy năm nay, Mạ chú đã chính thức phát nguyện kiếp sau sẽ làm người xuất sĩ, và lại còn ước muốn được xuất gia từ nhỏ. Tuổi của ,ạ đã không cho phép mạ xuất gia lúc này. (Đương nhiên đó chỉ là do mạ tự nghĩ như thế). Mạ chú tin vào kiếp sau, rằng sẽ có một “mạ” như thế được sinh ra trong hình thức một em bé và em bé ấy sẽ thừa hưởng những công quả của nó từ kiếp trước mà được xuất gia.

“Sinh phùng trung quốc
Trưởng ngộ minh sư
Chánh tín xuất gia
Đồng chơn nhập đạo.”

Sư Ông Làng Mai đã dịch như thế này:

“Kiếp sau xin được làm người
Sinh ra gặp Pháp sống đời chân tu
Dắt dìu nhờ bậc minh sư
Nương vào chánh tín hạnh từ xuất gia.”

Mạ chú, đã mấy năm nay, từng ngày đều nuôi dưỡng chí nguyện ấy. Một lần nói điện thoại, mạ đã kể cho chú nghe say sưa về cuốn Sám Pháp Địa Xúc, rằng nó hay như thế nào, và mạ chú thích nó như thế nào. Mạ chú biết đọc rất ít. Làm tính thì mạ rành hơn bởi vì từng phải buôn bán nuôi con. Đọc được là do ba đã dạy từ những năm đầu mạ về làm dâu nhà họ Nguyễn. Ba chú từng được đi học, nhưng đã về làng lấy người vợ được Ôn Nội chọn cho, và vợ là cô gái 18 tuổi ở ngay nhà bên cạnh. Cô gái trẻ ấy chưa từng được đến trường mà chỉ phụ mẹ việc nhà và buôn bán. Mạ kể rằng những năm trước khi được ba cưới về, mỗi ngày mạ phải gánh cá lên tận chợ Xép ở đường Ngô Đức Kế ngày nay để bán, sau đó mua những thứ cần thiết khác rồi gánh chúng về. Và đương nhiên đều là đi bộ. 18 cây số cho mỗi chặng đường!

Về với ba, mạ được học đọc. Nhưng chắc chắn là chỉ học cho biết đọc thôi bởi vì từ khi lớn lên, chú hiếm khi thấy mạ ở gần một cuốn sách, ngoại trừ những lần phải bọc sách cho anh em chú. Mà cũng phải thôi, một tay phải lo cho cả nhà 11 người từ chuyện ăn tới chuyện mặc, rồi còn cả chuyện nhà cửa học hành… làm gì mà mạ còn có thì giờ để đọc sách! Nhưng chú đâu biết rằng cuốn sách mạ đang đọc là cuốn sách sống động, một cuốn sách không ai có thể viết được. Một thiếu phụ 32 tuổi bị suyễn mãn tính, chưa từng tới trường, không có chuyên môn, mất chồng và phải thay chồng trả hiếu cho cha chồng, thay chồng nuôi dạy bảy đứa con của mình cộng thêm hai đứa cháu của chồng với lời hứa nặng như núi đó là cho các con học hành tới nơi tới chốn. Ai là người nghĩ rằng người thiếu phụ ấy có thể thành tựu tâm nguyện của mình một cách dễ dàng?

Những năm tám mấy chín mươi ấy, Việt Nam hãy còn nghèo khủng khiếp, nhất là ở miền quê. Chạy cơm đã khó, đàng này còn thêm áo quần, sách vở và tiền học cho cả 9 đứa cả con cả cháu, không biết bằng cách nào mà người thiếu phụ yếu đuối kia đã “đọc” xong cuốn sách ấy? Chú là người duy nhất không học hết bậc đại học trong 7 anh em, kể ra thì đó cũng là một phần chú có lỗi với Ba, bởi vì chú còn nhớ, ngồi bên ba, trước lúc ba mất, tất cả mọi người đều đã hứa với ba rằng sẽ học cho tới nơi tới chốn. Tới nơi tới chốn, theo cách hiểu lúc ấy là học ra đại học. Nhưng chú tin là ba không hề trách chú chỉ vì chuyện chú chưa từng lấy bằng đại học nào. Ba chắc chắn biết rõ là cho tới tận hôm nay, chú vẫn không ngừng được học mỗi ngày. Ngày em trai của chú xong đại học, mạ chú đã được hội phụ nữ tỉnh mời lên thành phố để tặng bằng khen “Người Phụ Nữ Có Thành Tích Nuôi Dạy Con Giỏi”, và mạ chú đã phải khó khăn lắm mới đọc trôi chảy cái nội dung viết bằng chữ đỏ to tướng trong cái khung hình trang trọng ấy! Người ta đâu có biết người đàn bà đang khiêm tốn rụt rè nhận giải thưởng giành cho bà mẹ giỏi dạy con kia chưa từng được tới trường!

Ở làng chú, chuyện một đứa con trong nhà học hết bậc đại học vào cái thời chưa có chiếc cầu bắt qua phá Tam Giang mênh mông nước ấy là chuyện có khi được cả họ ăn mừng. Thường, cả nhà phải đi làm chỉ để cho một người duy nhất được đi học. Nhà chú thì tất cả đều phải đi học, chỉ có một người được đi làm! Thời gian đó, cả nhà đã phải nhận thêm sự giúp đỡ của bà con họ hàng. Thấy mạ chú gánh vác quá nhiều, Ôn Nội chú tuy đã gần 80 mà vẫn còn theo đám thanh niên ra khơi đánh cá. Nhưng sức của Ôn đâu còn cường tráng như cái tuổi ba mươi? Chỉ sau một thời gian ngắn thôi rồi Ôn cũng đã phải ở nhà. Ở nhà, Ôn đan lưới, đan tre; Ôn trồng rau, trồng bí, trồng mướp… Hình ảnh Ôn quắc thước tươi cười ngồi đan lưới trước hiên nhà với cái bụng to và bộ râu dài trắng như cước nằm gọn trong tay một trong hai thằng Tèo là hình ảnh rất đẹp và linh thiêng trong lòng chú. Hai anh em chú ưa ngồi trong lòng Ôn, trong khi ôn làm việc, và vuốt râu, xoa bụng Ôn. Đó là “việc” mà anh em chú có thể “phụ” gia đình được! Cho tới bây giờ, mỗi lần nghĩ về những năm tháng ấy chú vẫn không tài nào mường tượng được bằng thứ sức mạnh nào mà mạ chú đã có thể đi qua!

Ngày mạ nói với chú rằng mạ đã phát nguyện xuất gia, chú thấy trong lòng vui lạ. Chẳng phải là do chú sẽ có thêm được một sư em mà vui. Vui là bởi chú ý thức được rằng đó chính là lúc mạ chú buông xuống được hết cả mấy mươi năm lo toan xuôi ngược, vui là vì đó chính là lúc Mạ chú buông xuống hết được tất cả những nỗi khổ nhục, buồn đau.

Từ sau ngày ấy, mạ chú bắt đầu thực tập địa xúc. “Địa xúc là pháp môn bao hàm tất cả các pháp môn, là giáo lý ôm hết tất cả các giáo lý, là công hạnh gồm thâu tất cả các công hạnh.” Chú đã hùng hồn nói với mạ như thế ngày chú khuyến khích mạ hành trì pháp môn ấy. Mạ chú đọc rất chậm, mỗi ngày chỉ đọc được một hay hai đoạn mà thôi. Và ngày nào cũng đọc thêm một hay hai đoạn nữa. Mới đây thôi, mạ nói với chú rằng mạ đã thực tập được hơn nửa cuốn rồi và mạ rất thích thú. Chắc bây giờ thì mạ đã trở lại thực tập từ đầu như chú đã khuyên: “Hết rồi thì bắt đầu trở lại”.

Mạ chú, từ lúc phát tâm xuất gia ấy đã luôn luôn mong muốn những gì mình đang làm hằng ngày sẽ bồi đắp cho nếp sống xuất gia sau này, dù là ở kiếp sau. Kiếp mệnh, tuy chẳng phải là giáo lý đệ nhất nghĩa nhưng trong trường hợp này thì nó “Phật pháp” không thua gì đệ nhất nghĩa! Trong cách ăn mặc, trong cách nói năng, trong cách tiếp xử với con cháu họ hàng và trong cả cách sống hằng ngày, mạ chú đang thực tập để có thể sẵn sàng cho đời sống xuất gia vào kiếp sau. Và điều ấy làm cho Mạ có một nguồn vui sống mới sau khi đã hoàn thành ý nguyện của chồng, sau khi đã thấy các con mình rồi các cháu của mình trưởng thành, lớn khôn, học hành tới nơi tới chốn.

Mạ chú không biết nhiều Phật pháp. Trong những câu chuyện với Mạ, nếu không phải là những niềm vui khi đi chùa cúng dường, khi đi làm từ thiện, khi làm việc trong vườn thì cũng chỉ là niềm vui khi thực tập địa xúc hay đi dạo mỗi sáng chiều ra biển mà thôi. Tuy vậy, chú lại không thể nói hết được Phật pháp qua cuộc đời của mạ.

Cái chí nguyện xuất trần thật lạ! Nó chẳng những thay đổi cách nhận thức, cách yêu thương, cách sống và cách phụng sự cuộc đời nơi một người thanh niên trẻ mà nó còn có thể làm cho những điều đẹp đẽ ấy trong lòng một bà cụ hồi sinh.

Sự tái sinh mầu nhiệm

Tâm Hương

“… Hạnh phúc đây rồi tìm đâu nữa
Trở về thôi, bước những bước trở về”

hình vẽ - rõ mặt“Cha mẹ sinh con trời sinh tính”. Tâm Hương đã phải chấp nhận số phận tủi nhục của mình như một sự thật hiển nhiên mà ông trời đã đổ xuống một thân hình nhỏ bé là cô? Ngay từ những ngày cô bé ý thức về cuộc sống, em đã mang trong mình nỗi đau cùng cực mà không biết chia sẻ cùng ai. Cô bé đau khổ nhiều lắm. Có thể ban đầu đó là tình thương người đó dành cho em, Tâm Hương nghĩ vậy nhưng lớn hơn em cảm thấy ghê sợ mỗi lần thấy thủ phạm, cô bé đau khổ và muốn trả thù nhưng cô bé không biết phải làm thế nào: “Giết chết ông ta sao?” Không thể, bởi ông ta cũng là người em thương mà, vậy thì làm gì hơn ngoài im lặng trong tận cùng đau khổ. Tâm Hương nghĩ đến cái chết, chắc hẳn đó là giải pháp tốt nhất cho tự thân nhưng đối diện với cái chết cô bé không làm được, cô bé còn có mẹ, người mà em hết mực thương quý, cô bé không muốn xa mẹ và càng không muốn làm mẹ khổ. Tâm Hương đã không nói cho mẹ nghe nỗi đau trong lòng mình bởi Tâm Hương sợ làm mẹ đau khổ thêm, mẹ khổ vậy đủ rồi. Năm tháng cứ qua đi, Tâm Hương sống trong khổ đau, tủi nhục. Cô bé khiếp sợ nhiều lắm, cô bé sợ mọi người, sợ sự im lặng khi đêm về, sợ một mình trong căn nhà… và nhất là sợ chính bản thân mình, một thân hình dơ bẩn mà mỗi ngày em phải cố gắng che đậy bằng lớp áo quần sặc sỡ sắc màu, một sự che đậy giả tạo mà chắc hẳn chẳng ai biết điều đó ngoại trừ Tâm Hương và thủ phạm. Bên ngoài cô bé cũng giống bất cứ một cô gái cùng tuổi nào, có khác chăng thì em có khuôn mặt dễ thương và trầm lặng hơn với thêm một chút “mít ướt” thôi. Tâm Hương phải sống cuộc sống giả tạo như thế, em đã cố gắng sống vì cái gì vậy? Mẹ, đó là niềm động lực duy nhất, em phải chấp nhận cuộc sống của chính mình như một định mệnh mà Thượng đế đã “ban tặng” cho em. Thương mẹ, Tâm Hương cố tìm cho mình một lối thoát nhưng trước vết thương của tự thân, cô bé thấy tuyệt vọng vô cùng tận, lòng cô bé chứa đầy thù hận, em oán trách và căm giận những ai đã cho em có mặt trên cuộc đời để rồi bao tủi hờn đổ ập xuống thân hình nhỏ bé, mong manh này. Tâm Hương quyết định tự vẫn để hết khổ, đã quá đủ với em sau mười mấy năm phải sống, phải chịu đựng. May mắn cho em, đứng trước lưỡi hái của tử thần ông trời đã không nhắm mắt khi em được gặp một vị Thầy, chắc hẳn vị Thầy đó đã có mặt bên cô bé từ lâu.

“Để có một tương lai” với Tâm Hương thì tương lai có khác gì hiện tại và quá khứ đâu, nó chỉ là một màu đen còn hơn “đêm ba mươi của Chị Dậu trong tác phẩm Tắt Đèn của Ngô Tất Tố” bởi vết thương trong lòng đã bao trùm tất cả, không cho em tiếp xúc được với hiện tại mầu nhiệm. Nhưng trân kính và nghe lời Thầy, Tâm Hương cũng thử đi tìm tương lai trong khóa tu ấy. Một điều kỳ lạ đã đến với cô bé khi em hòa mình vào những thời khóa cùng các bạn trẻ khác, có tới cả ngàn người trẻ tham dự khóa tu này và có nhiều những vị tu sĩ trẻ khiến em tự hỏi: “Ở đây có gì mà hấp dẫn người trẻ đến vậy?” Ngộ chưa, Tâm Hương được hướng dẫn thở, cười, đi, đứng, nằm, ngồi… trong những buổi pháp thoại, pháp đàm, những điều mà với cô bé nó đã hiển nhiên tự bao giờ mà chưa khi nào em tiếp xúc được. Vì thế nên trong suốt khóa tu Tâm Hương chỉ im lặng để có thể tiếp nhận những gì mà những người áo nâu kia chia sẻ.

Trong một buổi pháp thoại, cô bé được nghe vị Thầy dạy về sự trao truyền và tiếp nối. Vị Thầy chia sẻ: “Nhìn vào đôi bàn tay mình chúng ta thấy có cha mẹ, có ông bà tổ tiên…” Tâm Hương đã khóc khi vị Thầy chạm vào nỗi khổ niềm đau trong lòng em, làm sao em có thể chấp nhận được trong em có người đó? Không thể như thế được, không thể có. Cô bé ngồi đó đấu tranh với một sự thật phũ phàng mà Thầy dạy. Nhưng nhờ năng lượng của mọi người trong buổi giảng giúp cô bé dừng lại cảm xúc dâng trào, trở về em nhớ đến hơi thở và lời dạy: “Thở vào, tôi biết em đang có mặt đó. Thở ra, chào em nỗi khổ niềm đau ơi! Tôi đang có mặt cho em đây!” Phép lạ của hơi thở cho em dừng lại cơn bão nơi tự thân, em thôi không khóc nữa, ngồi cho ngay ngắn để tiếp tục nghe pháp. Những ngày sau đó Tâm Hương nương vào đại chúng để thực tập nhận diện em bé tuổi thơ. Ngồi thiền, đi thiền là cơ hội giúp cô bé nhìn sâu để thấy những khổ đau, thấy những nguyên nhân để rồi áp dụng những lời dạy giúp em thoát khỏi ngục tù đau khổ. Em mời mẹ, người em thương nhất cùng có mặt để yểm trợ em, sau đó em mời người đã làm em khổ.

Khóa tu kết thúc sau 4 ngày sinh hoạt nhưng chính từ khóa tu ấy đã mở ra cho Tâm Hương cánh cửa màu hồng, em tìm thấy cho mình một con đường, cô bé quyết định đi tu dù biết đó là điều không dễ. Tâm Hương phải vượt qua sự cản ngăn từ gia đình bởi nhận thức còn phong kiến về người tu trong gia đình em lớn lắm. Ba của em hỏi: “Tại sao con lại đi tu? Ba mẹ có bỏ đói con ngày nào đâu, tại sao con lại trốn tránh trách nhiệm với gia đình, xã hội để an phận, nuôi cho khôn lớn rồi bỏ nhà đi tìm hạnh phúc riêng?” Mẹ của em thì nói: “Con ơi! đi tu khổ lắm, tại sao con lại muốn tu như thế? Bố mẹ đủ sức để nuôi con mà…” Rồi hàng xóm vào ra những lời dị nghị: “Gia đình này sao thế, có con mà không nuôi được, không dạy được, nó bị thất tình hả?” Biết bao câu hỏi áp lực đến với Tâm Hương nhưng cô bé chỉ biết im lặng, làm sao giải thích hết cho mọi người hiểu những gì ở nơi em đã có, làm sao em có thể nói: “Con đau khổ, con đã bị làm ô nhiễm. Con muốn thoát khổ và con đường xuất gia tu học là con đường duy nhất giúp con tìm thấy hạnh phúc… ” Cô bé chỉ có thể im lặng, tự khẳng định với bản thân về con đường tương lai ấy.

Trốn nhà đi tu, cô bé đã tìm mọi cách để được tới với tăng thân, nơi mà em biết chắc sẽ giúp em chuyển hóa được khổ đau, hận thù trong em. Chỉ có con đường thực tập này mới đem lại cho cô bé hạnh phúc thật sự và rồi em sẽ dâng món quà ấy tặng mẹ, tặng những người em mang ơn và tặng cả người kia nữa. Sống trong môi trường tốt, được gần gũi bạn lành, Tâm Hương mỗi ngày trở nên vui vẻ và hạnh phúc hơn. Mỗi sáng thức dậy em đã mỉm cười được thay cho những giọt nước mắt khổ đau trước đây, em mở lòng đến chơi và chia sẻ với những người bạn đồng tu để được cảm thông, thương yêu và nâng đỡ, để dần dần chuyển hóa. Được Thầy cùng đại chúng đồng ý cho Tâm Hương được trở thành sư cô, em hạnh phúc lắm khi biết mình được hòa vào dòng sông tăng thân. Nhờ có Thầy cùng quý sư anh, sư chị, sư em thương yêu chỉ bảo, mỗi ngày sư cô trẻ chuyển hóa dần vết thương trong tự thân. Sư cô đã thấy được người làm mình khổ thì họ cũng khổ, họ cũng chỉ là nạn nhân của sự mê mờ. Sư cô nhớ tới trong một buổi vấn đáp có hai câu hỏi được đặt ra từ trái tim như sau:

Con kính bạch Thầy! Thầy dạy chúng con nhìn sâu để hiểu và thương được người đã gây ra cho mình đau khổ, nhưng trước những nỗi khổ niềm đau nơi tự thân con lại không thể thương được chính con. Xin Thầy dạy cho con biết con phải làm sao để có thể chấp nhận và thương được chính bản thân? Làm sao con lấy niềm vui của người khác làm niềm vui cho con và con phải thực tập như thể nào để giúp người kia thấy và dừng lại những hành động xấu xa ấy?

Xin Thầy từ bi hoan hỷ soi sáng cho con. Con rất muốn tu và nguyện theo tăng thân suốt đời nhưng vì trong quá khứ con có những niềm đau, tâm hận thù, ước muốn trả thù và trừng phạt họ cũng như lối tư duy tiêu cực mà con đang dần đánh mất Bồ đề tâm trong con, không còn gì có thể cho con cảm thấy vui. Xin Thầy giúp cho con?

Và Thầy đã chia sẻ:

“Mình có cảm tưởng là mình đánh mất sự ngây thơ, trong trắng của mình, cho nên mình khổ. Theo nguyên tắc, mình có thể tha thứ và thương yêu người đã gây vết thương cho mình, nhưng nhìn vào bản thân, mình thấy mình không được trinh tuyền, trong trắng như những người khác, mình cảm thấy tủi hổ. Do đó dẫu biết rằng cuộc đời có những mầu nhiệm bên trong và bên ngoài mình cũng không tiếp xúc được, trong đời sống hàng ngày mình không có niềm vui.

Đức Thế Tôn dạy những phương pháp rất cụ thể để mình có thể thoát khỏi tình trạng mặc cảm này. Ở thủ đô Bangkok có những cô gái con nhà lành giàu có, mỗi sáng đi học mặc những chiếc áo rất đẹp. Nhìn bên ngoài bên trong rất trong trắng hồn nhiên, những người đó chưa bao giờ bị những vết thương do sự lạm dụng, ức hiếp. Nhưng ở Bangkok cũng có những cô gái từ nhà quê lên để làm gái giang hồ. Có những mụ Tú Bà đi kiếm những cô gái nghèo dụ dỗ lên thành phố và nói rằng: “Con lên thành phố chỉ nội trong vài tháng là con có thể gởi tiền về cho bố mẹ…”. Những cô gái nghèo đó tin theo các mụ Tú Bà lên thành phố. Mới lên Tú Bà cho liền 100, 200 ngàn bath để gởi về nhà, thành ra cô gái rất hạnh phúc, nhưng từ từ Tú Bà đưa cô gái đi vào thanh lâu để làm nghề rước khách. Cô gái không có cách nào thoát ra khỏi bởi cái lưới mà mụ giăng ra rất nhặt… Tú Bà có mặt ở Bangkok, ở Paris, ở Sài Gòn, Hà Nội, ở khắp mọi nơi và những cô gái quê nghèo bị lọt lưới rất nhiều.

Bữa đó có một em bé 16 tuổi, nạn nhân của Tú Bà đi trên đường đại lộ Bangkok và thấy đoàn nữ sinh tươi như những chú chim ca hót, cô bé cảm thấy tủi thân và có cảm tưởng mình là ô uế, tội lỗi… mình oán trời, trách đất. Tại sao các vị tiểu thư đó trong sáng, trinh tuyền, an ninh như vậy còn mình lại sa vào vũng lầy tội lỗi? Ai có thể giúp được cô gái ấy thoát khỏi mặc cảm lem luốc kia? Cố nhiên có những người tìm cách phá tung những tấm lưới để giải thoát cho những cô gái được hoàn lương. Nhưng dẫu cô gái có may mắn được cứu thoát thì vẫn mặc cảm vì mình đã đi ngang qua giai đoạn khổ đau đó, mặc cảm có thể đi theo suốt đời làm cho cô gái không có niềm vui. Đức Quan Thế Âm có khả năng giúp mình, đức Bồ Tát nói rằng:“Này con! Đoàn nữ sinh kia trong trắng, thơ ngây, sở dĩ được như vậy là nhờ những đứa như con”. Trong xã hội có bùn, có sen, có những thành phần phải đóng vai bùn để làm nên sen. Có những nhà chính trị, nhà giáo dục, kinh tế… họ chưa để ý đến những em bé như con. Họ chỉ lo tranh đấu đâu đâu. Vì vậy cái lỗi này không phải là lỗi ở con. Con đừng tưởng con là người duy nhất phải chịu trách nhiệm về vết thương của con, vì những người đó không có mặt cho con, họ không bảo vệ con, nên bây giờ con lâm vào tình trạng này. Đó là lỗi của tất cả những người trong nước. Sở dĩ bọn kia được trong trắng, thơ ngây là nhờ được nuôi dưỡng bởi lao động cực khổ của những người như con, con tượng trưng cho bùn và những đứa đó tượng trưng cho sen. Trên thực tế những bông sen nếu không được nuôi dưỡng thì nó sẽ trở thành bùn. Còn nếu con biết phương pháp thực tập thì con sẽ trở thành một bông sen, vì trên nguyên tắc: “Không có gì dơ không có gì sạch, bất cấu bất tịnh”. Và chìa khóa của sự giải thoát nằm trong Tâm Kinh Bát Nhã, nếu mình thiền quán thấy được bùn và sen tương tức thì mình vượt thoát mặc cảm về bùn và mình biết chính mình có thể tạo ra sen, chính những người đi qua khổ đau mới có khả năng hiểu và thương.

Thầy cũng vậy! Thầy đi qua nhiều cuộc chiến tranh, nhiều cuộc đàn áp… cho nên thầy có cơ hội chế tác lòng từ bi. Nếu thầy không nhận những bùn đó thì bây giờ thầy không có đóa sen này để cho quý vị. Nên thầy không có mặc cảm mình đã bị lấm bùn. Bây giờ con cũng vậy, con phải coi chuyện lấm bùn của con là cơ hội tốt để con phát ra được tâm hiểu và thương, phát ra được chí nguyện giữ giới và bảo hộ cho những đứa trẻ. Khi mình có năng lượng của giới, của tuệ thì mình bắt đầu có sự trị liệu ở trong lòng về những mặc cảm, về tư duy nhị nguyên bùn và sen là hai cái khác nhau. Mình sẽ biết trong bùn có sen, trong sen có bùn. Mình thấy trong mình có một đóa sen rất đẹp. Khi con thấy đóa sen trong con, con thoát ra được cái mặc cảm đó và con trở thành đệ tử giỏi của Bồ Tát Quán Thế Âm.

Này Xá Lợi Phất: “không có gì sạch không có gì dơ”. Đó là phán quyết của tuệ giác Phật giáo, chỉ có tuệ giác đó mới giúp mình thoát khổ. Ngoài tuệ giác đó không ai có thể giúp mình ra khỏi vũng lầy của mặc cảm ô uế, xấu xa.

Có một khía cạnh nữa của vấn đề: “quá khứ nó ám ảnh”. Trong ta có A lại gia thức, nó chứa chất những kỷ niệm về quá khứ, những cuốn phim đau thương. Quá khứ vẫn còn ở đó và mỗi ngày nó tự động chiếu lên những giây phút mình bị lạm dụng, bị tức tưởi, bị đàn áp. Mình bị kéo trở lại sống trong ngục tù quá khứ và đó là trường hợp của rất nhiều người. Vì vậy trong giáo pháp của đạo Bụt có một pháp môn thực tập để giúp phá tan địa ngục cho chúng ta thoát ra đi về thế giới của hiện tại, tương lai: Đó là chánh niệm. Chánh niệm là năng lượng đưa mình trở về hiện tại. Người đó đang ngồi với mình trong không khí vui quá chừng mà người đó không tận hưởng được mà người đó cứ chìm đắm trong quá khứ. Sự thật thì giây phút khổ đau đã qua rồi, từ hồi mình còn ấu thơ. Quá khứ đã không còn nhưng mình vẫn tiếp tục trở về quá khứ để sống với giây phút đó.

Ví dụ có một bữa mình bị tát một cái, cái tát đó làm cho mình tủi nhục. Hình ảnh ấy ghi vào chiều sâu của tàng thức và mỗi khi mình nghĩ tới là mình lại bị tát lại, mình cứ bị tát hoài hoài trong khi sự thật mình chỉ bị tát một lần. Tu tập chánh niệm để nhắc mình cái đó đã thuộc về quá khứ, trong hiện tại nó không có xảy ra. Đó là giác ngộ. Thành ra trong mình có một cô bé bị thương, bị nhốt trong quá khứ. Khi mình thực tập ngồi thiền, đi thiền… mình đưa tay kéo em bé đó ra, mình nói với em bé: “Này em bé ơi! Tôi biết em rất đau khổ. Ngày nào, đêm nào em cũng sống trong kỷ niệm đau thương ấy. Nhưng em nên nhớ rằng chúng ta đã trở thành những chàng thanh niên, những cô thiếu nữ. Đừng có ngồi ở trong quá khứ, quá khứ đã qua rồi. Em hãy cầm lấy tay tôi, chúng ta cùng rong chơi trong giây phút hiện tại, hiện tại mầu nhiệm vô cùng”. Mình có đủ khả năng tự bảo vệ, không ai ép mình được nữa. Mình không phải là chú bé hay cô bé nữa, đó là sự thật.

Mình phải nói chuyện với em bé, cầm tay đưa em ra khỏi quá khứ để sống với hiện tại. Mời em bé đi thiền hành với mình, vuốt ve bông hoa, ngắm bầu trời xanh… Một thời gian thì em bé sẽ được giải thoát. Sự thực tập hàng ngày là như vậy, với thời gian vết thương sẽ được chữa lành. Trong đạo Bụt có rất nhiều yếu tố để giúp mình và cái tuyệt vời nhất là tuệ giác bất nhị: bùn và sen không tách rời nhau, bùn làm ra sen. Mình có thể trong sáng và còn trong sáng, đẹp đẽ hơn những cô thiếu nữ con nhà lành kia, mình vĩnh viễn thoát ly được đau khổ nếu mình thực tập cho đàng hoàng. An trú trong hiện tại, nương vào tăng thân để thực tập, nội trong vài tháng mình có thể thoát ra tình trạng đau thương đó và mình có được pháp lạc. Tại sao mình lại phải chìm đắm trong quá khứ?

Mình phải ngồi chơi với nhau và phải làm sao để giúp người đó đừng tiếp tục làm khổ cho những người khác. Nếu cần thì mình nhốt họ vào tù nhưng nhốt bằng tình thương. Mình phải làm việc với các nhà văn hóa, chính trị, các vị dân biểu… làm nên những đạo luật, phương tiện để bảo vệ trẻ em. Làm ra những phương thức để ngăn ngừa những người đó không tiếp tục gây tàn phá trong giới trẻ nữa và nếu cần mình để cho họ lấy công chuộc tội. Mình mời họ đi làm vườn, quét nhà… trong hai năm, ba năm để chuộc lỗi. Trong khi làm, mình dạy cho họ cách làm việc sao cho có hạnh phúc. Đặt họ vào môi trường để họ không tiếp tục tàn phá nữa. Điều đó được làm bằng tình thương, với tình thương chứ không phải bằng ý niệm muốn trừng phạt. Để làm được điều đó, một, hai cá nhân không đủ sức, chúng ta phải ngồi lại với nhau, với sự cộng tác của các nhà luật gia, nhà giáo dục. Đó là công việc của con tại vì con tu tập là để mở ra cho được một chân trời như vậy. Phải làm như thế nào để cho các em bé trong tương lai không bị khổ đau như mình…”

Nhớ lại những lời chia sẻ của Thầy, sư cô hiểu ra người đó đã không được trao truyền những cái hay, cái đẹp, người đó không biết thế nào là thương yêu, môi trường người đó sống không mấy tốt đẹp… Sư cô trẻ mỉm cười tha thứ khi thấy được nguyên nhân khổ đau là vì đâu. Sư cô nhận ra mình đang thật sự may mắn, sư cô hạnh phúc khi có được con đường đi sáng tươi này. Thương cho người làm khổ mình bởi họ chưa biết đến con đường mầu nhiệm. Một khoảng lặng trong sư cô khi sư cô nghĩ đến những bạn trẻ đang sống ngoài xã hội kia. Sư cô tự hỏi: Mình phải làm gì để cho các bạn trẻ ấy biết rằng trong cuộc sống này vẫn đang có một con đường thật sự có hạnh phúc, có tự do và có thương yêu. Sư cô trẻ nhớ tới lời dạy của Thầy “nhờ bùn mà có sen”.

Chính những bùn dơ ngày xưa đã giúp hoa sen nở ra nơi sư cô. Sư cô thấy rõ mình đã thực chứng “chuyển rác thành hoa” dưới sự nâng đỡ của Thầy cùng tăng thân và sư cô nhận ra được điều mầu nhiệm trong đời sống tu học khi sư cô mở cánh cửa lòng mình và thật sự trao gởi không chỉ hạnh phúc mà còn khổ đau của sư cô cho Thầy cùng Tăng thân ôm ấp. Đó là điều nhiều người biết nhưng không phải ai cũng cam đảm để thực hiện. Sư cô trẻ thấy mình không cần phải làm gì hơn ngoài tu học sao cho có hạnh phúc, bình an, chuyển hóa được tự thân là giúp người thoát khổ. Chẳng phải chúng ta được dạy “Tâm bình thế giới bình” đó sao? Sau những tháng năm tu học, bây giờ sư cô nhận thấy con đường lý tưởng của mình đang được mở rộng mỗi ngày và giờ đây lý tưởng của sư cô không chỉ ở nơi tự thân mà còn là phụng sự: “chuyển hóa và độ đời”. Sư cô thầm biết ơn Thầy cùng tăng thân thật nhiều, thật nhiều và thật nhiều.

Bạn thương mến!

Ngồi đây viết những dòng chia sẻ từ tận sâu thẳm trong lòng, mình  không hy vọng sẽ nhận được tình thương từ nơi bạn hay bất cứ nơi một người nào bởi với mình, tình thương đã luôn có mặt khi mình được Tái Sinh là một sư cô. Mình viết xuống đây mà lòng hạnh phúc và bình an đến lạ. Mình đã gọi đúng và thật tên nỗi khổ niềm đau trong tự thân. Còn bạn thì sao? Mình hy vọng trên bước đường mà bạn đang đi dù có thật nhiều chông gai, thử thách thì bạn cũng nhìn thấy bên lề đường có những bông hoa đang mỉm cười với bạn. Đừng nản lòng bạn nhé! Thầy và tăng thân cũng như bản thân mình đang có mặt cùng bạn đây, chúng ta cùng nắm tay nhau đi tới trên con đường hiểu biết và thương yêu bạn nhé!

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Con có thêm ngày nữa để thương yêu.

Thiền sư Nhất Hạnh thăm World Bank

Hiệu Minh

Thien su Thich Nhat Hanh tham World BankCó lẽ Chủ tịch Jim Young Kim thấy nhân viên của World Bank (WB) đang bị sức ép thay đổi đè nặng lên vai nên đã đích thân mời Thiền sư Thích Nhất Hạnh tới thăm và nói chuyện. Anh Nguyễn Anh Tuấn, cựu Tổng Biên Tập của VietnamNet, hiện là Tổng Biên Tập Diễn đàn toàn cầu Boston, đã gọi điện nhắc nhở tôi tham dự vì ngài là một người Việt ở Làng Mai (Pháp) nổi tiếng khắp thế giới, tựa như Dalai Lama của Tây Tạng. Buổi nói chuyện kéo dài gần 2 tiếng, người dự đông nghịt, dù là đầu tuần. Ngày mai, Thiền sư sẽ có buổi giảng trực tiếp về thiền cho những người đăng ký. Theo thông báo của ban tổ chức, người muốn dự khá đông và chỗ thì có hạn. Nhân viên phải xin phép nghỉ trọn một ngày để nghe giảng và thực tập về thiền. Đi theo Thiền sư, tăng đoàn Làng Mai có tới mấy chục thành viên từ khắp thế giới, từ Pháp, Việt Nam, New York, California… Lần đầu mình thấy người phương Tây trong trang phục người xuất gia, chứng tỏ ảnh hưởng của Làng Mai trên thế giới khá lớn.

Trong lúc đợi, thấy một vị ngồi trên hàng ghế đầu, mình tiến tới làm quen. Không biết xưng hô nên cứ gọi là sư thầy và xưng con. Mãi sau mới biết đây là sư cô Chân Không. Tự giới thiệu và bắt chuyện một lúc, mình cũng nói, ngoài làm việc ở WB, còn là Blogger Hiệu Minh. Sư cô mỉm cười thân thiện, anh Nguyễn Anh Tuấn đã giới thiệu từ trước rồi. Mình cực kỳ lúng túng, chẳng biết xưng hô thế nào cho phải đạo, vì lần đầu tiếp xúc với người xuất gia. May quá, sư cô Chân Không giải thích cặn kẽ, người xuất gia có nhiều thứ bậc, khá phức tạp. Để cho tiện, Thiền sư Thích Nhất Hạnh được gọi là Sư Ông. Còn cô là nữ nên gọi là sư cô, chắc là tu khá lâu rồi. Sư cô Chân Không gọi mình là “em” nên thấy thoải mái hơn, bắt chuyện dễ dàng.

Sư cô Chân Không chia sẻ, mỗi người chúng ta đều có một phần tinh hoa của cha mẹ trong từng tế bào. Sự giỏi giang, tài ba không phải do người đó tự có mà do cha mẹ kết hợp mà thành. Có một anh rất giỏi toán, chỉ cần đưa ra ví dụ ngày 22-2-2014 thì anh có thể nói ngay đó là thứ Bảy. Đầu óc điện tử của anh không phải do anh tạo nên mà nhờ vào phần tinh túy của cha và mẹ, anh giỏi thì phải cảm ơn cha mẹ. Cái tên Chân Không, không có cái ta riêng biệt, một kiểu tu đã đắc đạo.

Thien su Thich Nhat Hanh tham World BankCó lẽ đến WB, một nơi chuyên xóa đói, giảm nghèo cho thế giới, nên Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã kể về thời thơ ấu của mình từng sống trong nghèo khó. Những năm 1960, chiến tranh liên miên, sống ở miền Trung, ngay cạnh vĩ tuyến 17 với nhiều bom đạn nhưng Sư Ông đã cùng Phật tử lo giúp người nghèo. Chuyện đơn giản như cái nhà vệ sinh cho nông dân cũng phải làm mẫu, giúp cho họ hiểu “công nghệ” rồi nhân rộng. Đôi khi, lớp học bắt đầu dưới gốc cây đầu làng. Trẻ em đến đông hơn, rồi bị mưa gió nên phải vào nhà tạm. Chờ đợi chính phủ chắc còn lâu nên các vị sư đi vận động đóng góp. Người góp cây tre, người góp vài gánh tranh, người góp công, người giàu hơn thì đóng tiền. Cứ như thế, việc làm từ thiện được nhân rộng. Muốn xóa đói giảm nghèo, ta hãy bắt đầu từ chính bản thân trước. Nội lực sẽ giúp cho người nghèo vượt lên.

Đôi lúc kể về những ngày đã qua, Thiền sư như lặng đi, hội trường im phắc khi nhắc đến chiến tranh, bom đạn và mất mát.

Sư Ông kể cuộc gặp Martin Luther King (MLK) trong một bữa sáng. Martin Luther King từng đề cử Thiền sư vào giải Nobel Hòa Bình. Cả hai trao đổi về cuộc chiến phi nghĩa và đồng ý cần có những bước đi nhằm thay đổi tư duy bom đạn bằng hòa bình. Rất tiếc, sau đó Martin Luther King bị ám sát, giấc mơ của hai người theo đuổi đấu tranh bất bạo động dang dở.

Tháng Tư năm 1965, đoàn sinh viên Vạn Hạnh, trường đại học do Sư Ông sáng lập, đưa ra thông điệp vì hòa bình: “Đã đến lúc hai miền Bắc – Nam của Việt Nam họp lại để tìm một giải pháp chấm dứt chiến tranh và đem lại cho mọi người Việt Nam cuộc sống hòa bình với lòng tôn trọng lẫn nhau.”

Phải 10 năm sau, với bao nhiêu máu đổ của cả hai bên, hòa bình mới có, nhưng di chứng sau gần 40 năm vẫn còn đó. Thiền sư có nhắc đến vụ tự thiêu của nhà sư Thích Quảng Đức tại Sài Gòn năm 1963. Sư Ông cho rằng đây là tín hiệu gửi cho cả thế giới, vì muốn mọi người hãy lắng nghe tâm tư của những người khốn khổ. Việc tự thiêu hoàn toàn không liên quan đến cổ vũ cho bạo lực.

Sau đó Thiền sư có nói về triết lý thiền. Có lẽ người đã đạt đến đỉnh cao về tu nhân tích đức nên có thể gói gọn trong vài câu đơn giản nhưng trở thành nổi tiếng. “Lắng nghe và thấu hiểu những đau khổ trong nội tâm sẽ giúp chúng ta giải quyết được hầu hết các vấn đề ta gặp phải. Muốn chữa lành cho người khác, trước tiên ta cần tự chữa lành cho chính mình. Để làm được điều đó, ta phải biết cách giải quyết những vấn đề của bản thân. Tuy nhiên, hầu hết mọi người không biết lắng nghe và thấu hiểu những nỗi khổ của chính mình.”

Thien su Thich Nhat Hanh tham World BankDo cuộc sống hiện đại với công nghệ thay đổi chóng mặt, thế hệ trẻ có xu hướng không muốn đối mặt với nguồn gốc của những khó khăn, thách thức, kể cả khổ đau mà lại tìm cách giải tỏa bằng vật chất. Sư Ông khuyên: “Suy nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta là những điều gây ra sự tức giận, sợ hãi và nghi ngờ cho người khác. Bởi vậy, chúng ta không thể đổ lỗi cho họ mà nên sử dụng ngôn ngữ để hiểu nhau hơn, cũng không nên chỉ trích, buộc tội khi đang lắng nghe họ nói. Người mắc tội với ta thì bản thân họ đã tự chuốc lấy đau khổ vào người.” Có lẽ thế mà đúng thật. Tổng thống Assad từng gây tội ác chống dân tộc mình nên ông đang chuốc lấy hậu họa.

Một người nghe hỏi về công nghệ IT hiện có làm thay đổi cách truyền đạo thiền không? Thiền sư đùa vui, nói rằng dù dùng telephone lần cuối cách đây 30 năm và cho đến thời điểm này, cách truyền thông của người vẫn thấy ổn. Cả hội trường cười ồ.

Thiền sư biết làm cho người nghe không chán về đạo thiền, có vẻ rất mới tại WB. Có người hỏi làm sao tránh được stress, bị công việc thúc đẩy đúng hẹn. Dường như Thiền sư đã nắm chắc triết lý hạnh phúc là tại tâm, đỉnh cao là ước vọng khó mang tính định lượng, người ta chỉ có thể chọn một trong hai, hoặc hạnh phúc hoặc là số 1.

Sư Ông nhắc đến triết lý, hôm qua là quá khứ, không thể kéo lại được, ngày mai là tương lai chưa chắc chắn. Vì thế cuộc sống hiện tại mới quan trọng. Thiền sư nói có sở hữu chiếc đồng hồ không có số 1, số 2 cho đến số 12 như thường lệ, mà chỉ có chữ now, now, now (hiện tại) để nhắc nhở về thời ta đang sống. Người nghe thán phục sự uyên bác của diễn giả.

Sau này đọc thêm, tôi mới biết, Thiền sư hiện 87 tuổi, không thể tin vào mắt mình. Sư Ông rất nhanh nhẹn và uyên bác, nhà hoạt động toàn cầu về giáo phái thiền, được yêu mến và kính trọng trên khắp thế giới. Thiền sư từng đến Quốc hội Mỹ, Anh, Ấn độ, UNESCO và gần đây đã sang Hàn Quốc giảng về thiền, về hòa bình và chống chiến tranh. Theo ngài, các chính trị gia cần biết lắng nghe, hiểu Phật giáo thì sẽ biết hòa giải và yêu thương.

Mấy hôm trước, viết về hai người Hàn Quốc là Jim Young Kim, chủ tịch WB, và Ban Ki Mon, Tổng thư ký UN, tôi mơ người Việt tới WB nói chuyện và được người nghe chăm chú. Hôm nay, một phần của giấc mơ đã thành sự thực.

Tiếng Anh của Thiền sư trôi chảy, từ body language (ngôn ngữ cơ thể), đến nội dung chuyển tải rất rõ ràng, chẳng cần một chút giấy tờ. Mọi thứ cứ như tuôn như suối từ trong tim và khối óc của người nói. Thiền sư chia sẻ gần hai giờ mà người nghe vẫn muốn cuộc nói chuyện tiếp tục, đông người xếp hàng đợi hỏi nhưng thời gian có hạn nên đành thôi.

Nơi đây thường mời chính khách như Bill Clinton, Hillary Clinton, Tony Blair, Al Gore, Ban Ki Mon và nhiều nhà kinh tế, khoa học được giải Nobel… tới đàm đạo. Hôm nay Thiền sư xuất hiện, hẳn nhiều người Việt tại tổ chức quốc tế này cảm thấy tự hào.

Có một câu hỏi của đồng nghiệp đọng mãi trong tôi. Anh nói, sức mạnh mềm của Việt Nam là văn hóa thiền, còn tìm đâu xa. Tại sao ngài Thích Nhất Hạnh và Làng Mai, một cái tên thuần Việt, được cả thế giới ngưỡng mộ về kiến thức và kính trọng về nhân cách, lại ngụ cư ở nước Pháp xa xôi?

Quốc gia nào cũng có người xuất chúng. Vấn đề là sử dụng chất xám, sức mạnh mềm và nền văn hóa như thế nào trong phát triển. Lãnh đạo biết triết lý của đạo thiền, biết sống tại tâm, biết hướng tới Chân Không như vị sư nữ, biết tự hỏi mình như Thiền sư và các đồng môn Làng Mai, thì dân sẽ noi theo và đất nước đó sẽ vượt lên.

Bài và ảnh: HM. 9-9-2013
Nguồn: http://hieuminh.org

Google – Sự dừng lại đang diễn ra


Nằm ở thung lũng Silicon, Googleplex – trụ sở chính của Google là một nơi rất thú vị. Đó là một tổ hợp các tòa nhà với đủ kích cỡ và kiến trúc khác nhau. Nhìn các nhân viên của Google đi lại giữa các tòa nhà, trông họ có vẻ rất trẻ trung, thông minh và nghiêm túc. Thỉnh thoảng ta có thể bắt gặp hình ảnh một vài người đang lái những chiếc xe đạp dành riêng cho nhân viên Google với những sắc màu mang dấu ấn của Google, đó là các màu đỏ, vàng, xanh lục và xanh dương. Đây cũng là những tông màu chủ đạo của các tòa nhà ở Googleplex.

Trong khuôn viên chính của Googleplex có đặt mô hình bộ xương khủng long rất ấn tượng với những con chim hồng hạc (bằng nhựa) đang rỉa bộ xương đó. Ngoài ra, còn có một bể bơi nhỏ, một sân chơi bóng chuyền trên cát, những chiếc ghế võng (deckchair), và xung quanh khuôn viên là những loài cây sa mạc đặc trưng của vùng Thung lũng Silicon.

Khi đến Googleplex, ta nhận ra ngay đây là nơi có những con người đầy năng lượng sáng tạo, vui tươi – những con người hết lòng với công việc và với sự nghiệp của tập đoàn, đó là sự nghiệp “giúp mọi người có thể tiếp cận và sử dụng một cách hữu ích nguồn thông tin của thế giới”. Google nổi tiếng là một trong những tập đoàn sáng tạo hàng đầu thế giới – một môi trường làm việc đầy năng động, thách thức và vui tươi. Tuy vậy, đây cũng là nơi có nhiều nhân viên trẻ, đầy tài năng (độ tuổi trung bình khoảng 29) bị rơi vào tình trạng kiệt sức và phải rời công ty chỉ sau một vài năm làm việc.

Vì vậy mà Google đầu tư rất lớn vào việc chăm sóc “sức khỏe thể chất và tinh thần của nhân viên” (“employee well-being”). Tất cả đồ ăn thức uống (có đến 18 quầy bar mi-ni với thức uống miễn phí), dịch vụ thể dục thể thao, dịch vụ trông giữ trẻ tại nơi làm việc và nhiều dịch vụ khác nữa được phục vụ hoàn toàn miễn phí cho 10.000 nhân viên của Google.

Nếu hoàn thành tốt một dự án được giao, bạn sẽ được thưởng thẻ tín dụng massage (massage credits). Với thẻ này, bạn có thể đổi ra tiền nếu muốn, hoặc có thể buông thư và xạc lại năng lượng với “napping pod” – một chiếc giường được thiết kế đặc biệt, có tác dụng giúp cơ thể buông thư tối đa và phục hồi lại sức khỏe một cách mau chóng.

Tuy nhiên, tất cả chế độ đãi ngộ này vẫn không đủ khả năng cân bằng lại với áp lực làm việc căng thẳng ở Google. Giám đốc điều hành của tập đoàn này đã từng nói rằng thái độ làm việc của họ là “thách thức đối với những điều không thể” (“healthy disregard for the impossible”). Các nhân viên của Google có thể làm việc tới mức 16 giờ một ngày, phần lớn thời gian là gắn với màn hình máy tính. Vì vậy, dù cho đồ ăn thức uống và các dịch vụ đãi ngộ của Google có tốt đến đâu chăng nữa thì các nhân viên của tập đoàn này vẫn khổ đau như thường. Thường xuyên phải làm việc trong tình trạng căng thẳng và áp lực cao, họ bận rộn đến mức khó có thể chăm sóc tốt cho các mối quan hệ với đối tác, đồng nghiệp, cũng như có rất ít thời gian cho gia đình mình.

Chính vì tình trạng này mà các nhân viên của Google rất vui mừng khi biết Thầy đồng ý đến trụ sở của Google để hướng dẫn nửa ngày thực tập chánh niệm cho các nhân viên ở đây, nhân chuyến hoằng pháp của Thầy tại Bắc Mỹ năm 2011. Trên trang web của mình, Google tự hào thông báo rằng họ là tập đoàn đầu tiên ở Mỹ có cơ hội được đón tiếp Thiền sư Thích Nhất Hạnh – một thiền sư nổi tiếng thế giới đến hướng dẫn tu tập tại trụ sở chính của tập đoàn. Bài pháp thoại cũng như buổi vấn đáp với Thầy ngày hôm đó đã được Google để lên YouTube và có đến 230.000 lượt người xem.

Chuyến viếng thăm tháng 10 năm 2013 vừa qua là lần thứ hai Thầy đến trụ sở chính của Google. Lần này, họ xin tổ chức trọn vẹn một ngày chánh niệm, chứ không phải nửa ngày như trước đây. Hơn 700 nhân viên của Google đã đăng ký tham gia, vì vậy họ cần phải mở thêm hai phòng riêng ngoài khán phòng chính, nơi Thầy thuyết pháp. Pháp thoại được truyền trực tuyến và chiếu trên màn hình lớn trong hai phòng này. Ngoài ra, tại mỗi phòng đều có sự hiện diện của một số quý thầy, quý sư cô Làng Mai.

Ngồi trên xe bus đến Googleplex ngày hôm đó, trong lòng chúng tôi ai cũng cảm thấy hào hứng, phấn chấn. Ngày chánh niệm được bắt đầu với thời khóa thiền hành vào sáng sớm. Một vài người trong chúng tôi đã từng đến đây cùng với Thầy vào năm 2011. Nhắc lại lần đó, ai cũng nhớ đến không khí rất thoải mái, vui nhộn và sự cởi mở của các nhân viên Google khi tham dự nửa ngày chánh niệm với Thầy và Tăng đoàn Làng Mai.

google slideNgay tại sảnh chính của trụ sở Google, có thể nhìn thấy những từ khóa tìm kiếm trên Google (do những người sử dụng Google trên khắp thế giới truy cập ngay tại thời điểm đó)  được chiếu lên một bức tường và rơi xuống như một thác nước đang tuôn chảy. Tại một đại sảnh khác lại có một chiếc cầu trược hình xoắn ốc khổng lồ, để cho nhân viên trược từ tầng một xuống tầng trệt nếu không muốn dùng cầu thang bộ.

Tuy vậy, tâm trạng háo hức của chúng tôi khi đến Googleplex không phải chỉ vì muốn thăm trụ sở chính của tập đoàn nổi tiếng này, mà còn muốn tiếp xúc trực tiếp với các nhân viên của Google, những người trẻ thuộc thế hệ chúng tôi và cũng có nhiều thao thức và ước vọng như chúng tôi. Các kỹ sư phần mềm (hay “geeks” – những anh chàng “lập dị”- họ thích tự gọi mình như vậy), là những người rất sáng tạo, có tinh thần hợp tác trong công việc, có tinh thần khoa học và vì vậy thiền tập gợi cho họ sự tò mò giống như trong nghiên cứu khoa học.

Là những người muốn chinh phục khoa học công nghệ, cho nên họ cũng muốn chinh phục lĩnh vực tâm ý của mình. Nhiều kỹ sư ở đây có niềm tin sâu sắc rằng khoa học công nghệ có thể giúp mang lại những thay đổi tích cực cho thế giới này, tạo ra những cơ hội mới cho tất cả mọi người trên hành tinh không phân biệt quốc gia, chủng tộc và văn hóa. Vì vậy, mặc dù không nhuộm tóc xanh dương hay xanh lá cây hoặc mang những đôi giày thể thao với màu sắc sáng lóa như một số nhân viên của Google, chúng tôi – những người tu theo đạo Bụt – vẫn có thể hòa mình một cách nhanh chóng vào “chất thiền” (zen vibe) của Thung lũng Silicon.

Khẩu hiệu không chính thức của Google là “Không làm điều xấu ác!” (Don’t be evil). Mục đích hoạt động của tập đoàn là làm cho nguồn thông tin của thế giới trở nên dễ tiếp cận với mọi người và không làm điều xấu ác. Thế nhưng nguồn thông tin đó có giống với nguồn tuệ giác của đạo Bụt hay không?

Nếu ai đó hỏi chúng tôi – các thầy, các sư cô Làng Mai – về ước nguyện sâu sắc của mình thì chúng tôi sẽ trả lời rằng: ước nguyện của chúng tôi là làm điều thiện (tức là tưới tẩm những hạt giống tốt và giúp người khác bớt khổ), bằng cách làm cho những tuệ giác sâu sắc nhất của nhân loại có thể đến được với tất cả những ai đang khổ đau. Có thể thế giới này có rất nhiều thông tin, nhưng chúng ta dường như thiếu các công cụ, thiếu sự đào tạo và thiếu tuệ giác để giúp chúng ta bớt khổ. Thông tin, nếu quá nhiều, còn có thể là nguyên nhân gây khổ đau cho chúng ta.

Ngày chánh niệm tại Google bắt đầu bằng sự thực tập dừng lại. Với năng lượng nhẹ nhàng và tươi vui, Thầy chia sẻ với hàng trăm nhân viên của Google về pháp môn thiền hành, sau đó hướng dẫn họ đi thiền hành quanh khuôn viên của Googleplex (nhiều người đã đến từ rất sớm để tham gia buổi thiền hành này).

Đó là một buổi sớm mai thật yên lắng, khi những tòa nhà vẫn còn chìm trong màn sương sớm, mọi người hoàn toàn đi trong yên lặng, bước từng bước chân chánh niệm và cuối cùng tất cả đều ngồi yên bên Thầy trên một con đường lát đá. Nếu nhìn bên ngoài thì thấy hoàn toàn không có gì xảy ra, vậy mà nhìn cho kỹ thì mọi thứ đang diễn ra. Một sự dừng lại thực sự đang diễn ra. Một phép mầu đang diễn ra. Ngay tại trung tâm đầu não của Internet, một sự dừng lại đang diễn ra. Ngay tại đây đang có bình an, có sương mù, có nụ cười và những hơi thở yên lắng. Không có gì xảy ra, vậy mà mọi thứ lại đang diễn ra. Ta có thể cảm nhận được những nhân viên của Google đang tham dự 100%, có mặt 100% ngay tại đây, trong giờ phút này. Họ đã quá mệt mỏi vì công việc. Và giờ đây, họ đang tò mò khám phá. Họ biết là Thầy đang có những gì họ mong muốn, vì vậy mà họ háo hức được học và tự mình nếm được điều đó. Đó có phải là tuệ giác? Hay đó là hạnh phúc?

Trong một bài pháp thoại tại xóm Hạ, Làng Mai sau chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ, Thầy có kể lại về buổi sáng hôm đó, những nhân viên của Google đã thực tập thiền hành thật hết lòng. “Họ thực tập rất giỏi”, Thầy nói mà không hề biết là trong thính chúng có một nhân viên của Google đang lắng nghe Thầy. Cô quyết định đến đây để tự mình “tìm hiểu” về Làng Mai. Cô cảm thấy tự hào và hạnh phúc khi nghe Thầy khen sự thực tập hết lòng của nhân viên Google. “Nhưng”, Thầy nói tiếp, “lý do khiến họ thực tập hết lòng như vậy là bởi vì họ có rất nhiều khổ đau”. Ngồi phía dưới lắng nghe, cô thầm nghĩ “Đúng, Thầy nói rất đúng. Thầy đã hiểu được điều đó. Thực sự chúng tôi có rất nhiều khổ đau. Và pháp môn thiền hành thực sự giúp chúng tôi rất nhiều.”

Sau giờ thiền hành, Thầy cho một bài pháp thoại và dành thời gian để các nhân viên Google đặt câu hỏi. Câu hỏi nào được đặt ra cũng là câu hỏi từ trái tim, từ những thao thức, trăn trở trong lòng họ. Đó là những câu hỏi của “những người đang đi tìm kiếm”, những tâm hồn trẻ đang muốn tìm kiếm một ý nghĩa sâu sắc cho cuộc sống đầy bận rộn và căng thẳng mà họ đang sống. Ai trong chúng tôi cũng có thể cảm nhận được sự cởi mở, niềm tin yêu và kính ngưỡng sâu sắc của họ đối với Thầy. Chúng tôi cũng nghe thấy những khổ đau trong lòng họ.

Ngồi phía sau Thầy trên sân khấu, chúng tôi dường như đang đại diện cho một thế giới khác. Chúng tôi có thể đi nhiều ngày hoặc nhiều tuần mà không cần phải mở máy tính, hay nghe một bản nhạc nào. Nếu không phải làm công việc ghi danh trong văn phòng trước khóa tu mùa hè thì chắc là chúng tôi không bao giờ biết cảm giác nhận hàng trăm e-mail mỗi ngày là như thế nào.

Chúng tôi có cơ hội để dừng lại, không phải chỉ một vài phút mỗi ngày, mà giờ này qua giờ kia để quán chiếu về hình hài mình, về hơi thở, về thức ăn hay vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên xung quanh tu viện. Chúng tôi có thể đi tắm một cách thảnh thơi mà không bị đài phát thanh NST (Non-Stop Thinking – Suy nghĩ không dứt) quấy rầy trong đầu.

Trước khi xuất gia, tôi từng có thời gian làm việc trong ngành báo chí và truyền thông. Mỗi ngày tôi phải đọc sáu tờ báo, hết tờ này đến tờ khác, và phải nghe những bản tin kéo dài trung bình hai tiếng đồng hồ, trong khi đó mắt phải dán vào màn hình vi tính để theo dõi các đường dây tin tức trực tiếp (“news wires”) liên tục được gửi đến. Tôi có cảm giác là tôi phải mất rất nhiều năm để có thể làm lắng dịu tâm ý, để có thể tận hưởng được sự tĩnh lặng mà trong đó không có gì xảy ra, ngoại trừ sự sống và những mầu nhiệm của nó.

Ngồi trên sân khấu nhìn xuống, tôi tự hỏi liệu có ai trong số những nhân viên ở đây đã từng nếm được sự bình an sâu lắng và cảm giác nhẹ nhõm khi thoát khỏi mạng lưới thông tin tràn ngập. Chính cảm giác bình an và nhẹ nhõm này đã làm tâm hồn tôi tươi mát trở lại khi được sống trong tu viện. Chúng tôi không thể cho họ sự bình an và tĩnh lặng đó, nhưng chúng tôi có thể chỉ cho họ thấy rằng đó là những điều có thể có được – bằng những nụ cười và bước chân của chúng tôi. Và chúng tôi cũng có thể chỉ cho họ những cách để tạo ra những giây phút, những khoảnh khắc bình an trong ngày, dù chỉ là những khoảnh khắc ngắn ngủi thôi nhưng cũng có thể làm thay đổi cả cuộc đời mình.

Sau giờ pháp thoại và vấn đáp, chúng tôi cùng nhau thưởng thức bữa ăn sáng trong yên lặng với các thức ăn chay rất ngon. Google là tập đoàn đầu tiên áp dụng sự thực tập ăn trong chánh niệm cho cả tập đoàn. Kể từ chuyến viếng thăm đầu tiên của Thầy năm 2011, Google đã tổ chức “bữa ăn chánh niệm” mỗi tháng một lần tại các quầy cafe của mình. Trong những bữa ăn trưa chánh niệm, các nhân viên của Google có cơ hội lắng nghe năm lời quán nguyện trước bữa ăn, sau đó cùng ăn trong yên lặng. Sau giờ yên lặng đó, họ có thể chia sẻ với nhau cảm nhận của mình về sự thực tập này. Sau chuyến thăm lần thứ hai của Thầy, Google dự định thiết lập một “khu vực ăn chánh niệm” (“mindful eating zone”) cố định trong khuôn viên của Googleplex, nơi các nhân viên có thể đến và nuôi dưỡng mình bằng năng lượng bình an trong giờ ăn trưa.

Cùng với việc yểm trợ và nuôi dưỡng sự thực tập chánh niệm của các nhân viên Google, một vài người trong chúng tôi còn có những mơ ước riêng khi bước vào thế giới Google ngày hôm ấy. Một hay hai người trong số chúng tôi cố gắng tìm gặp các nhân viên phụ trách về Bản đồ Google (GoogleMap) với hy vọng là có thể tạo cảm hứng cho họ thiết lập một bản đồ trực tuyến (cho phép chỉnh sửa và dễ dàng truy cập) về các tăng thân tu tập theo pháp môn Làng Mai cũng như các hoạt động tu tập chánh niệm trên khắp thế giới.

Thầy Pháp Lưu và thầy Pháp Khởi mang theo một ổ cứng dung lượng lớn trong ba lô của mình, cũng với hy vọng là có thể tạo cảm hứng cho một nhân viên nào đó của Google để họ đưa các bài pháp thoại của Thầy trong 10 năm qua vào hệ thống dữ liệu của YouTube và phát lên kênh riêng của Làng Mai trên YouTube (ở Làng Mai, nếu làm liên tục trong một năm mới có thể đưa tất cả những bài pháp thoại này lên YouTube).

Cá nhân tôi thì mong muốn tìm được ai đó ở Google có khả năng thiết kế một ứng dụng Chuông Chánh niệm (Mindfulness Bell App.) đơn giản, tiện dụng và miễn phí. Còn Thầy chúng tôi thì lại khác. Vốn là người luôn có những tư tưởng lớn, Thầy muốn tìm kiếm những “tri kỷ” có thể tìm ra các ứng dụng hay thiết bị công nghệ để giúp mọi người bớt khổ và giúp nền văn minh của chúng ta không tiếp tục hướng đi như hiện nay.

Buổi chiều hôm đó, Thầy cùng với thị giả và một số quý thầy, quý sư cô có cuộc gặp gỡ với các kỹ sư cao cấp của Google để bàn về những vấn đề đó. Trong khi hàng trăm nhân viên của Google đang thưởng thức thiền buông thư do sư cô Chân Không hướng dẫn (chắc chắn là có tác dụng thư giãn và trị liệu hơn nhiều so với những chiếc ghế massage được đặt khắp trụ sở của Google), khoảng mười hai người chúng tôi cùng với Thầy ngồi quanh một chiếc bàn lớn để chia sẻ với các kỹ sư Google về tương lai của công nghệ thông tin.

Liệu chúng ta có thể tạo ra một loại công nghệ có thể giúp con người trở về để ôm ấp và xử lý khổ đau trong chính mình? Ngồi với chúng tôi trong buổi thảo luận hôm đó có một nhân viên nữ ăn mặc rất thanh lịch và sành điệu. Cô đeo đôi kính “Google Glass” – một công nghệ tân tiến nhất hiện nay cho phép ta gửi tin nhắn, lướt web, chụp ảnh và quay phim mà không cần phải động chân động tay gì cả, dù chỉ là nhấc một ngón tay. Nhưng liệu thiết bị thông minh này có thể giúp cô có mặt thực sự cho chính mình và cho buổi thảo luận đang diễn ra?

Thời lượng xem các video trên YouTube của Google trong mỗi tháng tương đương với khoảng thời gian 450.000 năm – con số này gấp đôi thời gian con người hiện đại từng tồn tại. Nhưng liệu điều này có giúp con người bớt khổ hay không? Liệu ta có thể tạo ra những thiết bị, phần mềm có khả năng ứng dụng trên toàn cầu với những nội dung giúp con người trở về để chăm sóc chính mình, chăm sóc những người mình thương yêu và chăm sóc cho xã hội này?

Có thể Google cũng biết rằng có những người kiểm tra hộp thư Gmail của mình đến 100 lần trong một đêm. Người đó cũng đồng thời đang tìm kiếm trên Google bằng từ khóa “nguyên nhân của chứng trầm cảm”, và đặt mua những đồ ăn vặt (junk food) với số lượng lớn thông qua công cụ tìm kiếm “Chrome browser”. Liệu các thuật toán “algorithms” của Google có đủ thông minh để tìm ra những phương thức hiệu quả có khả năng giúp cho người kia bớt khổ? Google mong muốn đạt lợi nhuận lớn trong kinh doanh, đó là sự thực. Nhưng Google cũng đồng thời muốn làm điều tốt, không muốn làm điều xấu ác (not be evil). Vậy thì Google có thể làm được điều gì hay hơn không?

Cuộc gặp gỡ và thảo luận hôm đó không giống như một cuộc gặp thông thường, và kéo dài đến hai giờ đồng hồ. Thật là tuyệt vời khi được đóng góp như một Tăng thân – mỗi người trong chúng tôi đều đóng góp năng lượng và cái thấy mới của mình trong cuộc gặp, nhưng tất cả đều là những tiếng nói của cùng một cơ thể, và Thầy là người luôn có mặt và chỉ dẫn cho chúng tôi trong suốt thời gian đó.

Thật khó có thể tin được khi thấy vị Thầy thương kính của chúng tôi, một Thiền sư thuộc một thế hệ khác – khi bước vào thế kỷ XXI thì Thầy đã hơn 70 tuổi rồi, vậy mà Thầy vẫn tham dự hết lòng cùng các kỹ sư công nghệ trẻ tuổi và đóng góp cái thấy rất nhanh nhạy, sắc bén của một Thiền sư với rất nhiều thương yêu và niềm vui. Điều đó đã làm cho các nhân viên Google rất hạnh phúc. Một người trong số đó đã bật khóc khi Thầy giải thích vì sao hành động dừng lại khi nghe tiếng chuông lại có ý nghĩa quan trọng và sâu sắc đến vậy.

Để kết thúc cuộc gặp gỡ thú vị này thật là khó và lại càng khó hơn khi chia tay những người bạn ở Google. Chúng tôi đã coi nhau như những người bạn, thậm chí như những “tri kỷ”. Chắc chắn chúng tôi sẽ còn gặp lại nhau và lần tới không phải là một ngày chánh niệm như hôm nay, mà phải là một khóa tu.

Chúng tôi cùng nhau đi xuống tầng trệt, nhưng không phải bằng cầu trượt mà bằng những bước chân chánh niệm của mình.

Chân Hiến Nghiêm

Vua Ba Tư Nặc viếng thăm Tăng thân Làng Mai Thái Lan

Chân Trời Bắc Sơn

Sư chú Trời Bắc Sơn được sinh ra trong gia đình xuất gia cây Cúc Đại Đóa, 30/1/2012 tại Thái Lan. Dưới đây là bài làm của sư chú trong lớp Trái Tim Của Bụt qua câu hỏi: “Với con mắt là vua Ba Tư Nặc, những cái thấy nào làm bạn có niềm tin nơi đức Thế Tôn qua đời sống tăng thân Pakchong?”

Thầy đến Thái Lan
Thầy đến Thái Lan

Hôm nay trẫm sẽ kể cho các khanh nghe về thời gian ba tháng vừa qua trẫm được An cư tu học cùng tăng thân Làng Mai trên đất nước Thái Lan. Đây là một diễm phúc lớn trong cuộc đời của trẫm có được duyên lành nương tựa một đại chúng lớn như vậy.

Nơi trẫm đến là vùng núi Khaoyai trên cao nguyên Corat thuộc huyện Pakchong, cửa ngỏ đi vào vùng đông bắc của nước Thái. Nơi đây có khoảng hơn 100 tu sĩ đang tu học, chơi và làm việc với nhau rất hòa điệu. Phần lớn họ là những người trẻ với tuổi đời chưa đến 30, cái tuổi rất đẹp với đầy nhiệt huyết, lý tưởng và tình yêu trên con đường phụng sự. Là người nước ngoài mới đến, trẫm còn nhiều bỡ ngỡ kèm theo một chút hồi hộp và lo lắng.

Như hiểu được tâm trạng của trẫm, thầy tri khách đã lập tức có mặt và giải tỏa mọi suy tư trong trẫm bằng một câu thiền ngữ “Chào mừng bệ hạ, bệ hạ đã về và đã tới thật rồi đấy”. Sau đó trẫm được bố trí ngủ tại một căn nhà lá hết sức đơn sơ, ngoài những cái chõng tre và một bình nước nóng, trong nhà không có thứ gì khác có giá trị để lo sợ phải bị trộm cướp, một căn nhà đủ để che nắng che mưa với bốn vách bằng tre, đặc biệt là không có cửa.

Trẫm đã ở lại đây trong ba tháng với những giấc ngủ thật sâu, mọi lo lắng thế sự, nào chăn êm nệm ấm, sự đầy đủ sung túc của một đế vương đều trở thành vô nghĩa trong giờ phút này. Dù các khanh gia cho đến những người bần dân khi đến tu viện đều được quý thầy sắp xếp ở trong một nhà tranh như nhau, không có sự phân biệt cao thấp hay sang hèn. Tăng thân ở đây thiết lập như một mô thức của gia đình, quý thầy quý sư cô giáo thọ thì được gọi là các sư cha sư mẹ rồi đến sư chị, sư anh, sư em. Họ chia nhỏ một đại chúng lớn thành các nhóm nhỏ dưới sự hướng dẫn của một sư cha hoặc sư mẹ để dạy bảo, chia sẻ và học hỏi những kinh nghiệm tu học của nhau.

Vào các tối thứ tư, mỗi khi nhìn thấy những đống lửa được nhóm lên, quý thầy quý sư chú ngồi quây quần nương tựa vào vị y chỉ, làm trẫm rất xúc động nhớ lại hình ảnh của đức Thế Tôn dạy về đàn nghé luôn biết nương vào các con trâu lớn mỗi khi qua sông. Sức mạnh của một tập thể là biết đoàn kết, lắng nghe và nương tựa, nương tựa vào vị y chỉ sư của mình cũng là cách mình cắm được rễ sâu vào lòng tăng thân, đây cũng là một sự thực tập trở về nương tựa vào Tam bảo.

Ở đây không phải đi khất thực mỗi ngày vì quý thầy quý sư cô tự nấu ăn, nhưng mỗi lần được theo quý thầy quý sư cô ôm bát vào các thôn xóm để khất thực, trẫm thật sự rất ấn tượng và được nuôi dưỡng. Từng hàng người áo nâu bước đi rất chậm trong sự ý thức nuôi dưỡng của hơi thở chánh niệm, họ dừng lại ở các căn nhà đã chuẩn bị sẵn sàng thức ăn để dâng cúng, họ khiêm cung biết ơn cúi đầu, tay mở nhẹ nắp bình bát và nhận lấy phẩm vật, gia chủ quỳ xuống lắng lòng thanh tịnh, quý thầy quý sư cô trang nghiêm chú nguyện và hồi hướng. Tất cả những hình ảnh đó thật đẹp, những cử chỉ và hành động hết sức khoan thai làm trẫm nhớ về tăng đoàn của Bụt hồi còn tại thế rất nhiều, nhưng rồi trẫm lại nghĩ “chẳng phải đây cũng là tăng đoàn của đức Thế Tôn hay sao?” Quý thầy quý sư cô đã mang được bước chân của Bụt đi vào đời, chính những thân giáo này sẽ tiếp nối và làm cho đạo Bụt được tiếp tục truyền thừa và rạng rỡ trong tương lai.

Vấn đề xử lý rác và bảo vệ môi trường là một thách thức lớn cho đất nước chúng ta, ấy mà trong thời gian ở tu viện trẫm lại được nghe thuyết trình về cách chuyển hóa rác, quý thầy quý sư cô đã trình bày những phương pháp từ cách phân loại đến cách tái chế sử dụng làm phân hữu cơ hết sức khoa học và hữu ích. Trẫm quyết định kỳ này về nước, trẫm sẽ trực tiếp gặp bộ tài nguyên và môi trường để nói chuyện và trao đổi những kinh nghiệm này.

Trẫm được học từ một vị hòa thượng lớn trong tăng thân dạy: “Không có cái đối tượng để bảo vệ môi trường, môi trường chính là mình, nó không phải là một thực thể bên ngoài tồn tại một cách riêng biệt”. Nếu hiểu theo cách môi trường là cái ở bên ngoài để mình phải hành động bảo vệ thì ta chỉ mới giải quyết phần ngọn mà thôi, mà phần ngọn thì không bao giờ có thể xử lý hết được. Đây là một sự thực tập về một cái nhìn bất nhị-tương tức-duyên sinh. Trẫm hạnh phúc lắm vì vẫn còn thấy được mạch sống của chánh pháp, thấy được Như Lai có mặt thật sự giữa cuộc đời này, vì đó đích thực là lời dạy của đức Bụt hơn 2600 năm về trước.

Tăng thân Pakchong có gốc rễ tâm linh từ Việt Nam, một trong những quốc gia được xem là cái nôi của Phật giáo đại thừa, cái hay mà trẫm muốn chia sẻ là tăng thân đã uyển chuyển và khéo léo kết hợp để có thể thừa hưởng được những tinh ba của giáo pháp nguyên thủy làm giàu thêm cho sự thực tập. Các kinh văn căn bản như Kinh Người Bắt Rắn, Kinh Soi Gương, Kinh Điều Phục Cơn Giận… được luân phiên tụng đọc trong những giờ công phu thiền quán. Tinh thần của Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Kinh Tứ Niệm Xứ được linh động đưa vào thực tập trong đời sống sinh hoạt hằng ngày từ cách đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc cho đến thiền ca, thiền buông thư .v.v… Chính những yếu tố đó là một trong những điểm thuận lợi để tăng thân Pakchong hình thành và phát triển rất nhanh trên một đất nước mà khoảng 85% theo truyền thống Phật giáo nguyên thủy.

Ở đây có rất nhiều sư chú nhỏ tuổi, sự có mặt của các sư chú như những luồng sinh khí mới làm tươi mát và tô điểm thêm cho vườn hoa của tăng thân, tuy tuổi còn nhỏ nhưng ai cũng có ý thức tu học và tính tự giác rất cao. Nhìn vào các sư chú trẫm thấy được một tương lai xa hơn về sự kế thừa và tiếp nối của nhựa sống chánh pháp đang lưu nhuận giữa thế gian này. Có một hôm như sợ trẫm buồn, các sư chú nhỏ như Trời Xá Vệ, Trời Trong Sáng, Trời Hồn Nhiên đã ra chơi với trẫm. Ngồi trên giường tre, các chú chí chóe hỏi thăm như những phóng viên thứ thiệt, nào là “Bệ hạ từ đâu tới? Bệ hạ làm vua có vui không? Là một vị vua chắc bệ hạ oai phong và có nhiều quyền lực lắm nhỉ? Bệ hạ ở đây có hạnh phúc không?” Các chú hỏi tới đâu làm trẫm phải bừng tỉnh tới đó, đúng là con nhà tông thứ thiệt, nhỏ mà không nhỏ tí nào.

Rồi có giọng của một sư chú nhỏ tuổi nhất thốt lên: “ Mời bệ hạ sáng nay trong giờ chấp tác đi nhổ cỏ với tụi con ạ”. Như một sự phản xạ rất tự nhiên, trẫm đã nhướng mắt và nhìn vào sư chú, từ tàng thức đã đi lên một câu trả lời rất nhanh “Trẫm đi nhổ cỏ hả?”. “Dạ, mời bệ hạ đi nhổ cỏ với tụi con cho khỏe và vui ạ, nhổ cỏ thú vị lắm. Đây là cơ hội để bệ hạ và tụi con thực tập làm sạch thân tâm.” Với cái giọng trong trẻo, chú đọc tặng trẫm một bài thơ mà chú hay đọc trong khi nhổ cỏ:

Nhổ cỏ nơi tích môn
Nhớ đến Trần Thái Tông
Nhổ cỏ dùm Chiêu Hoàng
Cho sông dài biển rộng.

Rồi chú lại nói tiếp: “Chắc là bệ hạ hơi khó hiểu đúng không? Vì đây là bài thơ viết về một câu chuyện lịch sử của Việt Nam quê con, hồi con còn là một chú điệu nhỏ xíu, sư phụ con đã kể cho con nghe câu chuyện này rồi, nhân vật trong câu chuyện đó cũng là một vị vua như bệ hạ”. Như đón được tâm trạng qua ánh mắt và khuôn mặt sáng lên vì sự tò mò của trẫm, sư chú Trời Xá Vệ, một sư anh lớn nhất trong nhóm lên tiếng: “Thôi bây giờ mình phải đi nhổ cỏ, chiều nay anh em tụi con sẽ ra chơi và kể tiếp cho bệ hạ nghe về câu chuyện lịch sử này nghe.”

Vậy đó, những tháng ngày thật yên bình đã trôi qua, những cơn mưa đầu mùa hạ không lớn nhưng rất thường xuyên, mưa đã từ từ thấm sâu vào lòng đất, nuôi dưỡng và vun bón thêm cho một màu xanh của núi rừng Khaoyai. Cũng vậy, những điều trẫm thấy, trẫm nghe trong những ngày được sống nơi đây nó đã thẩm thấu vào trong từng tế bào của trẫm, nó tự nhiên như vốn dĩ đất, rễ và nước hòa quyện vào nhau để cùng nuôi lớn cho một mầm xanh của cây trí tuệ, tình thương và sự hiểu biết.

Chuyến đi này, nó là một kỷ niệm lớn trong cuộc đời trẫm, đã làm cho niềm tin của trẫm vào đức Thế Tôn mỗi ngày càng được lớn mạnh, trẫm sẽ không bao giờ quên được những cảnh vật và con người nơi đây, rất bình dị giản đơn nhưng không kém sự sâu lắng. Cảm ơn tăng thân Pakchong, cảm ơn các khanh, cảm ơn tất cả mọi người đã lắng nghe trẫm chia sẻ.

Những bông hoa trong “Làng Mộc”

Làng Mộc

Mộc Lan là một trong ba tu viện của Sư Ông Làng Mai tại Mỹ. So với anh chị của nó như Tu viện Lộc Uyển và Tu viện Bích Nham thì Mộc Lan còn rất mới và rất trẻ. Mộc Lan chính thức có mặt của chúng xuất sĩ tính đến nay chỉ gần 4 năm, nhưng Mộc Lan đang vươn mình mỗi ngày, không ngừng đâm chồi nảy lộc hiến dâng hương thơm, vẻ đẹp cho đời. Mời các bạn lắng nghe những hoài bão cùng sự thực tập xây dựng chúng, giúp đời của những bông hoa trong vườn Mộc Lan mà anh chị em chúng tôi thân quen gọi là “Làng Mộc” nhé!


Kính thưa thầy, thầy về Mộc Lan sau gần 2 năm chúng xuất sĩ có mặt, chúng con thấy thầy rất hết lòng trong mọi công việc. Với cương vị một sư anh lớn, không biết thầy có bị áp lực, khó khăn nào trong quá trình xây dựng Mộc Lan không ạ?

Thầy Pháp Huy: Sư anh ở Mỹ mười mấy năm rồi mới đi tu, tuy ở Mỹ nhưng sư anh còn rất nhiều nét văn hóa Việt Nam, nên có gì đó rất thương các sư em ở Bát Nhã, vì thế mới xin Sư Ông về Mộc Lan. Lúc đầu sư anh chỉ nghĩ về đây chơi với các sư em thôi, không nghĩ mình sẽ đóng vai trò của một sư anh lớn. Khi về đây đã có thầy Pháp Hội rồi, nhưng sau đó thầy đi về Lộc Uyển nên sư anh đứng ra gánh vác, chăm sóc chúng. Lúc đầu sư anh cũng có chút  khó khăn vì một chúng mới, các sư em đông mà tuổi cùng ngang nhau, ai cũng có những ý kiến riêng, chưa đi chung tới một cái thấy mà chúng thì cần những vị lớn như ở Thái Lan có Sư Bá vậy. Sự có mặt của một vị lớn trong chúng rất quan trọng. Nhưng may mắn là có những vị đã từng sống trong chúng lâu, hiểu mình và thương chúng nên yểm trợ sư anh nhiều như sư cô Hỷ Nghiêm, sư cô Túc Nghiêm, sau này có các thầy Pháp Uyển, Pháp Nhã về. Vì đây là một trung tâm hoàn toàn mới, tuy đã có vài cái căn bản nhưng mình phải tự túc mọi thứ từ trong ra ngoài. Khi mình xây dựng nội bộ chúng xuất sĩ vững mạnh thì công việc bên ngoài mới chạy được. Sư anh rất thích về sự thực tập vô thường nên cũng không nghĩ mình sẽ ở đây lâu, cứ sống và cống hiến hết những gì mình có thể trong giây phút hiện tại nên đôi khi nói đùa với mọi người là mình chỉ sống tới 40 tuổi thôi rồi chết để sư anh trân quý thời gian mình sống ở đây.

Làm sao thầy dung hòa được kinh nghiệm của mình đi trước để nâng đỡ các sư em đi sau khi làm việc?

Trong tu viện mình có những ban làm việc như ban chăm sóc, sư anh cũng tin vào khả năng làm việc của các sư em. Có những điều mới lạ, sư anh cũng khuyến khích để các sư em làm cho những sinh hoạt của chúng sống động hơn. Với những công việc lớn, sư anh chia sẻ trước cho các sư em, còn những công việc nhỏ sư anh biết dù có chút trục trặc trong đó cũng không sao, sư anh muốn để cho các sư em mình có không gian, niềm tin để làm, khi làm nếu có vấp ngã các sư em sẽ có kinh nghiệm. Và khi đó mình chia sẻ kinh nghiệm của mình thì giúp các sư em thực tế hơn.

Thầy có thể chia sẻ cái nhìn của thầy về tương lai của Mộc Lan?

Mộc Lan mình tuy mới gần bốn tuổi nhưng khá ổn định về cơ sở vật chất như nhà ăn, thiền đường, tháp chuông, ni xá, nhà khách, sau này sẽ có thêm tăng xá. Nhưng về mặt đối ngoại thì hơi thiếu, thiền sinh Mỹ về tu viện ngày càng đông, mình sống ở xã hội Mỹ thì ít nhất phải có quý thầy quý sư cô Tây phương. Theo kinh nghiệm của sư anh đã từng sống ở nhiều trung tâm, tuy anh chị em mình nói tiếng Anh được nhưng cũng chỉ giúp tới một mức độ nào đó thôi, mình cần mời thêm những vị Tây phương về thì sẽ dễ dàng chia sẻ, giúp đỡ thiền sinh hơn vì họ có cùng một nền văn hóa. Còn ở đây phần đông anh chị em mình là người Việt hoặc người Việt quốc tịch Mỹ. Các trung tâm Bích  Nham, Lộc Uyển, Làng Mai có quý thầy quý sư cô Tây phương nên giúp thiền sinh được nhiều hơn.

Thưa sư cô Hỷ Nghiêm, Tu Viện Mộc Lan mới có tứ chúng đồng tu trong khoảng 4 năm nay nhưng sự phát triển thì khá nhanh. Chúng con được biết sư cô là người đầu tiên về Mộc Lan cùng 5 sư cô nữa đến từ Làng, vậy xin sư cô có thể chia sẻ về sự chuyển mình của Tu Viện trong quá trình xây dựng Tăng thân cũng như xây dựng cơ sở vật chất từ ngày khởi đầu cho đến hôm nay?

Anh chị em ngồi chơi với ThầySư cô Hỷ Nghiêm: Nhìn về mặt hình thức thì Mộc Lan có sự chuyển biến khá nhanh so với những môi trường mà chị đã sống trong 18 năm qua. Năm 2012 chị có đi khóa tu ở Nashville và trong buổi vấn đáp có một vị thiền sinh hỏi: “Tại sao quý vị không chọn một thành phố lớn như New York, Chicago là nơi đông đúc dân cư và kinh tế khá phồn thịnh mà lại chọn vùng Mississippi ở Miền Nam Trung Mỹ làm trung tâm thiền tập”. Chị đã trả lời với họ là: “Nguyên nhân ban đầu là do một số thao thức của người Việt sống ở Mỹ mong muốn có một trung tâm thiền tập, phương pháp hành trì rõ ràng, phù hợp với thế hệ trẻ được sinh ra và lớn lên ở đây. Thứ hai là mình về đây không phải tự mình tìm tới mà dường như có sự sắp đặt của Tổ tiên đất đai nơi này”. Liền sau đó thầy Pháp Huy có trả lời thêm: “Ngày xưa Đức Thế Tôn thị hiện ở một nơi rất nghèo thì bây giờ vùng Mississippi này cũng nghèo nên pháp môn của chúng tôi mới tới. Có thể Tổ tiên đất đai ở đây chọn chúng tôi chứ không phải chúng tôi chọn”. Thì hai ý trả lời này dường như giống nhau.

Sự chuyển mình trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất rất cần nhưng chưa phải chính yếu. Chính sự tu học mới là yếu tố quan trọng. Yếu tố đặc thù trong quá trình chuyển mình của tu viện Mộc Lan là đã đem được hạt giống từ hòa, tỉnh thức rải ở vùng Trung Nam Mỹ này. Và nó được biểu hiện từng ngày trong suốt 4 năm qua. Người tu đích thực là người biết chăm sóc cái tâm, nỗi khổ, niềm đau của mình. Phải biết vun bón hạnh phúc, tri ân cuộc đời trong mỗi giây phút hiện tại. Khi làm được điều đó mình mới tỏa ra năng lượng bình an và tạo được niềm tin cho những người đến tu tập với mình. Nhờ có niềm tin họ mới phát tâm về mặt tài chính để nuôi dưỡng và duy trì chúng cũng như những cơ sở vật chất như hiện nay. Nhờ chúng cư sĩ nồng cốt có thực chất tu tập, nếm được pháp lạc, chuyển hóa tự thân và gia đình của họ nên niềm tin nơi các vị ngày càng sâu sắc vững mạnh và họ đã đứng ra kêu gọi đóng góp. Vì vậy những người chung quanh đã hết lòng đóng góp để xây dựng Thiền Đường nên mình mới gọi là Mọc Liền (cười).

Mặt khác, nếu mình để hết thời giờ vào quá trình xây dựng cơ sở vật chất, mình sẽ đánh mất chính mình và mình sẽ là người tu thất bại mà chính mình không biết. Nếu không nhận ra điều đó thì mình rất thiệt thòi và rất nguy hiểm cho một người tu.

Pháp thoại tại Mộc LanBên cạnh đó, một người tu không nên có tâm tự hào khi thấy những cơ sở vật chất biểu hiện, cũng như những tài năng của mình. Mình chỉ nên ghi nhận và biết rằng đây là nhờ vào nhân duyên cùng khắp mà biểu hiện. Ở đời người ta cần tài năng, nhưng người tu thì cần cái đức khiêm cung, khiêm hạ. Nếu tài năng không đi đôi với tâm hiền thiện, trong sáng thì sẽ thiếu đi phước đức. Với tâm hiền thiện, trong sáng sẽ chiêu cảm đến lòng thương yêu và che chở của Tổ tiên đất đai nơi này. Điều chị cảm nhận sâu sắc mọi chuyện chuyển mình ở Mộc Lan là do Bụt Tổ sắp đặt cả, sự tu học của mình chỉ đem tâm thuần khiết để thực tập và góp phần thôi. Dĩ nhiên mình cũng còn tàng trữ những hạt giống không lành không thiện trong tâm thức, nhưng sự thực tập của mình là nhận diện những hạt giống đó mà thực tập tinh tấn để cho những hạt giống đó không phát triển đi về hướng tiêu cực. Qua đó mình thấy rằng cái gì đứng chung với nhau sẽ tạo thành một tổng thể rất đẹp. Còn nếu tách riêng ra từng khía cạnh thì nó không bao giờ hoàn hảo cả. Cái tuệ giác mà Thầy dạy là “Đi như một Tăng thân, đi như một dòng sông” thì việc gì mình cũng có thể làm được, đó là sức mạnh của Tăng thân. Còn nếu mình đi như một cá nhân, một tế bào biệt lập thì dù mình có tài ba như thế nào đi chăng nữa thì nó chỉ thành tựu ở tính cách cá nhân. Khi mình biết nương tựa Tăng thân thì mình sẽ thấy những tài năng, những hoa trái tu tập của mình có được là do cuộc đời nuôi dưỡng mình và gần nhất là Ông bà, Tổ tiên, cha mẹ, Thầy và Tăng thân cũng như Phật tử xa gần nuôi mình. Thấy được như vậy thì mình không có tự hào, ngã mạn và kiêu căng.

Khi làm những công việc ở Thiền đường, chị cũng rất lo ngại vì tính chất nguy hiểm không an toàn có thể xảy đến. Chị luôn nhắc các sư em của mình trong khi làm việc nên nghĩ tới năng lượng lành và không nên khởi tâm không hoan hỷ, buồn phiền, trách móc, nếu các sư em đang có tâm hành bất ổn, không an thì có thể làm những công việc khác. Chúng đã đồng một lòng thực tập như vậy và ngày tháng đi qua cho đến khi mọi việc được thành tựu viên mãn. Trong suốt thời gian xây dựng không có một tai nạn nào xảy ra, chị nghĩ đó là một may mắn và phước đức lớn của tăng thân mình. Bây giờ tu viện Mộc Lan có được thiền đường lớn, rộng rãi, Thầy mình đặt tên cho thiền đường là: Hải Triều Lên. Tứ chúng mình tu học làm sao để ngày càng đi lên, đi xa, đi rộng đúng như cái tên của thiền đường. Nhưng nếu cái tâm của mình “không lên, không rộng” mà cứ mãi còn kẹt, còn gút mắc trong mỗi giây phút hằng ngày thì thật là uổng phải không các sư em?

Chị nhớ những ngày đầu mới về đây, Phật tử chưa thích nghi được cách sinh hoạt của mình vì quá nghiêm túc. Ngày thường họ tới chùa lạy Bụt nhưng khi mình đưa họ vào thời khóa thực tập, họ chưa quen và cảm thấy ngột ngạt vì phần nhiều họ chỉ có tâm cúng dường. Bây giờ họ đã thấm và biết chăm sóc chính mình bằng cách thực tập hơi thở, nghe pháp thoại, pháp đàm, đi thiền và tụng giới. Cụ thể là những sinh viên ở trường Ole miss, học sinh trung học và các em Gia đình Phật tử đã biết đến và tới đây thực tập mỗi năm.

Theo sự nhìn nhận của chị thì phần đông các anh chị em đã và đang ở Mộc Lan ai cũng có tâm để cống hiến và tu tập. Nhờ sự gia lực, gia trì của Tổ tiên đất đai và Tổ tiên tâm linh ở đây nên sự chuyển mình của Mộc Lan với đầy đủ duyên lành, những đóa hoa thiền đang nở cùng khắp, mời các vị đến tiếp xúc với khung cảnh thiên nhiên trong lành và những đóa hoa thiền, những bước chân hiền cùng đại chúng. Xin gởi trọn lòng tri ơn qua bài thơ nhỏ này:

Mộc Lan thầy đến rồi đi
Chúng con vẫn đợi ước gì thầy sang
Tình thầy đượm dấu nơi này
Ơn thầy con nhớ ngày ngày công phu.

Đang thực tập làm một vị Giáo thọ tập sự chỉ mới 25 tuổi (còn khá trẻ), sư chị có cảm giác như thế nào trong buổi họp đầu tiên? Sư chị đang chuẩn bị hành trang gì cho vai trò một vị Giáo thọ trẻ trong tương lai như ra hướng dẫn sự tu tập cho mọi người hay chăm sóc Y chỉ muội?

Sư cô Cẩm Nghiêm: Cám ơn sư em đã hỏi câu hỏi rất thực tế này. Đối với chị, ngày đầu tiên đi họp chị thấy vui lắm, chị không có gì phải lo lắng, hồi hộp về một vấn đề gì cả vì chị luôn ý thức là mình còn nhỏ. Tính ra chị là vị Giáo thọ tập sự nhỏ tuổi nhất ở Mộc Lan bây giờ. Trong tương lai chị nghĩ mình cũng là vị Giáo thọ nhỏ tuổi nhất (25 tuổi), cho nên bổn phận và trách nhiệm của mình cũng chưa có gì là nặng nề, do đó chị chỉ vào họp với một cái tâm học hỏi, nuôi dưỡng để làm hành trang cho mình sau này cũng như khi mình chuyển đến một môi trung tâm nào khác.

Còn về dự án cho tương lai sau này thì tùy theo khả năng sự thực tập của mình để biết khi nào mình cần đi ra, khi nào mình cần học hỏi và nghiên cứu thêm. Nhưng cái chính đối với chị là để mình có tự tin khi ra hướng dẫn thì mình cần có thời gian học hỏi thêm, nghiên cứu những lý thuyết căn bản cũng như sự thực tập và hành trì sâu hơn với những lời chỉ dạy của Thầy, áp dụng một cách thực tế trong đời sống hằng ngày mà chị chưa có cơ hội nhìn sâu và chuyển hóa nó. Với chị, chị chỉ mong ước mình chuyển hóa được những phiền giận, khó khăn trong nội tâm để cống hiến những kinh nghiệm thực tập của mình và để chia sẻ được cho mọi tầng lớp. Mỗi tầng lớp mình chia sẻ một cách khác nhau để họ có thể hiểu được. Nói chung vấn đề chính là sự thực tập của mình. Nếu mình có hạnh phúc, tươi mát thì mọi người có hạnh phúc, tươi mát. Còn khi mình có khó khăn thì mọi người luôn luôn đứng bên cạnh để yểm trợ. Điều quan trọng nhất giúp chị thấy an toàn khi đứng ra hướng dẫn là chị luôn luôn cần học hỏi những vị lớn đi trước. Chị ý thức đây chỉ là sự bắt đầu mà không có kết thúc, mỗi ngày mình học hỏi, huân tập thêm những cái mới mà không dừng lại ở một điểm nào.

Còn về vấn đề chăm sóc cho Y chỉ muội trong tương lai chị cũng chưa có nghĩ gì, chị chỉ trở về chăm sóc chính bản thân chị trước thì chị nghĩ mình sẽ chăm sóc Y chỉ muội tốt trong tương lai.

Thưa thầy Pháp Uyển, là một người luôn có mặt để chơi và chăm sóc các em thanh thiếu niên, chăm sóc người trẻ khi các em đến tu viện, xin thầy chia sẻ những kinh nghiệm của mình với anh chị em xuất sĩ trẻ chúng con, những người cũng có cùng tâm huyết?

Thầy Pháp Uyển: Điều quan trọng đầu tiên là sư anh đến chơi với các em một cách tự nhiên, không có mục đích chỉ dạy gì cho các em cả. Khi sư anh làm bạn được với các em rồi thì các em mới có cảm hứng chia sẻ, lúc đó sư anh mới tìm cách để giúp các em. Sư anh thường chia sẻ cho các em những kinh nghiệm rất thật của mình, làm các em có cảm giác gần gũi, thấy quý thầy quý sư cô cũng là con người, không quá xa với những vấn đề mà các em phải đối diện trong xã hội ngày nay. Khi mình hiểu những vấn đề thực tế của các em, mình mới đi vào lòng và giúp các em được. Có lúc sư anh cũng thực tập thí nghiệm chơi game để hiểu tâm mình thế nào, viết xuống nhật ký và khi các em tới tu viện, sư anh mới có kinh nghiệm chia sẻ với những em bị nghiện game. Đối với các em thích nghe nhạc, sư anh cũng cho các em nghe nhạc hip hop, sau đó tìm nhạc nuôi dưỡng cho các em nghe để các em so sánh, phân tích rồi đề nghị các em chia sẻ tâm hành, cảm xúc khi nghe hai loại nhạc như vậy. Các em sẽ biết chọn lựa cho mình thức ăn lành mạnh hơn.

Tu viện mình ngày càng có nhiều thiền sinh Tây phương đến, làm sao anh chị em trẻ chúng con  vượt qua được sự ngại ngùng khi chưa tự tin lắm về ngôn ngữ trong lúc chia sẻ kinh nghiệm tu học của mình cho thiền sinh Tây phương?

Sư anh thấy vấn đề ngôn ngữ cũng rất quan trọng. Các anh chị em từ Thái Lan hay Việt Nam qua rất cần học tiếng Anh, càng mạnh dạn tập nghe và nói thì mình càng tiến bộ hơn trong việc hiểu cũng như có cơ hội chia sẻ với mọi người. Nếu mình nghe và hiểu được ngôn ngữ của họ thì mình mới lắng nghe được những nỗi khổ của họ khi họ về đây nương tựa mình.

Thưa sư chị Thuần Minh, khi sống ở môi trường Tây phương, ngôn ngữ (Anh văn) còn nhiều hạn chế đối với một số anh chị em Việt Nam mới qua. Làm sao sư chị có thể vượt qua được những mặc cảm và để có thể hòa nhập vào văn hóa cũng như con người nơi xứ Mỹ này. Động lực nào giúp sư chị có thể đến được với họ một cách tự nhiên?

Sư cô Thuần Minh: Chị thấy khi mình làm một công việc gì, những bước đầu thường có nhiều khó khăn và trở ngại. Chị nhớ cái mặc cảm lớn nhất đầu tiên của chị khi mới qua Mỹ là khi thấy họ, chị luôn trốn (chẳng hạn họ ở đằng trước thì chị trốn đằng sau), tình trạng đó đã kéo dài và lập lại tới suốt một năm.

chắp tayMột năm sau, chị được đi khóa tu ở Nashville và động lực học Anh văn trong chị được ươm mầm từ đó. Trong khóa tu, chị có ngồi chơi với một cô thiền sinh và nhìn vào gương mặt của cô chị thấy cô rất khổ. Hồi đó chị chưa biết Anh văn nhiều lắm. Cô đã chia sẻ cho chị nghe rất nhiều những khó khăn đối với ba mẹ và gia đình, sau đó cô khóc. Cô đã nói rất nhiều nhưng chị chỉ biết ngồi nghe và thở thôi vì chị không kiếm ra từ để chia sẻ với cô. Lúc đó hạt giống muốn hiểu người và giúp đỡ người khác trong chị rất lớn. Chị chợt thấy được sự thiếu sót của mình và từ đó chị bắt đầu học tiếng Anh. Ở Việt Nam chị không được học Anh văn nhưng sau 2 năm ở Mỹ, chị thấy mình tiến bộ rất nhiều. Chị có khả năng nghe, nói và chơi với họ nhiều hơn trước.

Bây giờ chị đã hiểu sâu hơn câu nói của Sư Ông đã từng dạy chúng rằng: “Trong một ngôi nhà có rất nhiều cửa sổ và chính những cửa sổ đó sẽ giúp mình thấy được nhiều hướng”. Giờ đây, chị thấy chị rất cởi mở để học hỏi ngôn ngữ cũng như văn hóa của người Tây. Trước đây chị là người tương đối kín đáo nhưng bây giờ chị thấy mình cởi mở, tươi vui, trẻ trung, năng động và chịu chơi hơn. Khi tiếp xúc với họ, chị học được tính cởi mở vì họ có khả năng nói ra hết những gì ở trong lòng. Khi lắng nghe, chị có thể thông cảm được những nỗi khổ của họ vì trong chị cũng đã từng có những cảm giác bị bỏ rơi hay bị cô đơn, tuyệt vọng. Muốn giúp họ thì chị phải có cái hiểu, cái thấy thì chị mới nói được. Và từ đó Anh văn của chị càng ngày càng tiến bộ. Chị nghĩ khi mình đến với một ai đó bằng tấm lòng, bằng trái tim thì ngôn ngữ không còn là một vấn đề quan trọng nữa. Chính lúc đó tiếng Anh đi vô người chị lúc nào chị cũng không biết nữa. Nhiều lúc chị cảm thấy rất ngạc nhiên khi nghe họ nói, chị không cần suy nghĩ con phải nói câu gì nhưng trong tàng thức nó đã có sẵn câu trả lời. Và chị không ngờ chị học được như vậy. Chị phải trải qua mặc cảm một năm mới đến được với mọi người như bây giờ (cười).

Thưa thầy Pháp Thể, con đường của Bụt là con đường thực tập tình thương lớn, vậy thì từ khi vào Tăng thân, thầy có thương riêng một ai đó trong chúng nhiều hơn những người khác không? Thầy có cảm giác gì khi rơi vào trường hợp này? Khi có một sư em mến hoặc quý về sự thực tập của thầy và có thể đi hơn mức giới hạn thì thầy đã thực tập như thế nào để đi về hướng (Xả), để được bình đẳng trong tình thương?

Thầy Pháp Thể: Thực chất khi sư anh qua Mộc Lan, tình thương của sư anh không dành riêng cho một ai hết. Sư anh cũng chưa từng để mình vướng vào một đối tượng nào trong chúng để mình phải hệ lụy, khổ đau và mệt mỏi. Đối với sư anh, mình phải thực tập làm sao để có thể đến và giúp được nhiều người chứ không phải dành riêng cho một ai cả. Còn nếu thương riêng thì sự thực tập của mình đã có sự hạn chế. Vì tình thương đó sẽ không được rộng và không bao trùm hết tất cả mọi người. Với tình thương lớn thì con đường của mình mới được lâu dài, bền và trọn vẹn hơn. Còn nếu không thì sư anh sẽ bị rơi rụng hoặc sẽ bị chướng ngại trên đường tu. Đó cũng là nhờ sư anh rút ra từ những bài học kinh nghiệm của Sư Ông hoặc của các sư anh lớn khác.

Trong trường hợp nếu sư anh biết có một sư em đang thương và quý mình thì trước tiên sư anh sẽ can đảm gặp người đó để nói riêng. Mình có thể giải thích là: “Nếu thật sự thương và quý nhau thì mình phải yểm trợ cho nhau để cùng đi về một hướng. Mình phải biết mình đang đi hướng nào thì mình phải quyết định rõ ràng. Nghĩa là mình đang đi về hướng thực tập, tu học thì mình phải đi về hướng thực tập, tu học. Nếu mình có ý thức quyết định đi con đường này rồi thì mình phải cố gắng giữ gìn cho nhau”. Sư anh sẽ giải thích cho sư em đó biết như vậy. Thực chất sư anh đã một vài lần rơi vào trường hợp đó rồi chứ không phải không có.

Nên khi đến với Tăng thân sư anh luôn lấy bài học đó để nhắc nhở mình chứ không thì rất khó để tu trọn con đường này.

Là một sư em mới xuất gia, vừa mới theo gia đình định cư ở Mỹ, trước khi sư em về Mộc Lan, sư em có cảm thấy lo lắng gì không? Theo sư em một sư út dễ thương thì mình thực tập như thế nào?

Sư cô Trăng Ngàn Dặm: (Cười) Trước khi về Mộc Lan em cảm thấy lo lắng nhiều vì không biết các sư chị ở đây có dễ thương không? Khung cảnh ở đây như thế nào? Em nghe nói sẽ ở trên núi, xa dân cư. Mặc dù em đã thấy hình thiền đường cũng như hình quý thầy, quý sư cô ở trên mạng. Điều lo lắng nữa là em chưa chấp nhận sống xa gia đình xuất gia (Cây Hoa Gạo) và ở đây chỉ có một mình em thôi, em không biết ngày tụng giới sẽ như thế nào, vì lên tụng giới một mình em run và sợ lắm. Ở bên Diệu Trạm mỗi lúc tụng giới thường có hai mươi mấy chị em và em thường đứng sau nên đỡ run hơn.

Nhưng ngày đến tu viện em cảm thấy vui vì được quý thầy, quý sư cô tiếp đón nồng nhiệt. Hạnh phúc nhất là em được làm sư út ở đây (cười).

Em không biết như thế nào là một sư út dễ thương vì sống bên ngoài em chưa khám phá ra tài năng của mình là gì hết nên khi vào chúng em chỉ biết nương tựa đại chúng để học hỏi nhiều hơn. Em thấy các sư chị ai cũng có những cái đẹp riêng. Là một sư út dễ thương thì em sẽ thực tập vâng lời và đến chơi với tất cả các sư chị. Ngoài ra em cũng chăm sóc sức khỏe của mình nhiều hơn để đại chúng khỏi lo. Dạ! cuối cùng em xin cám ơn Thầy và Tăng thân đã che chở và bảo bọc cho em.

 

Xin cám ơn những lời chia sẻ của quý thầy quý sư cô, qua đó chúng con hiểu thêm về quá trình hình thành cùng những gì đang diễn ra ở Mộc Lan trong thời gian qua, cũng như tâm tư, hoài bão của mỗi người. Kính chúc quý thầy quý sư cô tiếp tục nuôi dưỡng thêm những hoài bão đẹp đó trên đôi chân vững mạnh, cùng góp sức làm cho Làng Mộc mỗi ngày thêm xanh tươi, thơm ngát hơn.

Trên đây chỉ là một trong số những bông hoa trong vườn mà chúng con có dịp ghé qua mời các bạn cùng thăm, bên cạnh đó còn nhiều  bông hoa Mộc khác nữa trong vườn đang âm thầm tỏa hương cho đời hay đang vươn xa nơi Vườn Ươm Thái Lan hay ở quê nhà. Hương Mộc đang bay khắp nơi nhưng chắc chắn rằng sẽ không bao giờ quên những ngày tháng được đứng bên nhau, chịu bao mưa nắng để làm nên Vườn Mộc xanh tươi như ngày nay cho các thế hệ “Hoa Mộc em” đang tiếp nối.

Tim Bụt Cốt Tiên

Chân Hội Nghiêm

tim bụt cốt tiên

Tim Bụt Cốt Tiên

“Tim Bụt Cốt Tiên”. Con đang mỉm cười nhìn vào câu thư pháp treo trước mặt mình trên chiếc bàn ngồi yên. Con thích nhìn nó và mỉm cười, thỉnh thoảng lại nhắm mắt cho nó thấm vào từng tế bào cơ thể mình. Con muốn tập cho mình có trái tim từ bi, không biên giới của Bụt và cốt cách phóng khoáng, tự do, không vướng bận của tiên ông. “Tim Bụt Cốt Tiên” là câu thư pháp con chọn trong buổi triển lãm thư pháp năm ngoái. Con chọn nó hay nó chọn con, theo con về nhà?

Năm ngoái trong khóa tu xuất sĩ có một buổi triển lãm thư pháp của Thầy dành cho giới xuất gia. Thầy có nhiều buổi triển lãm thư pháp rất hoành tráng, nhưng đa phần là cho quan khách. Năm ngoái là buổi triển lãm đầu tiên đặc biệt dành riêng cho giới xuất gia, được tổ chức rất dễ thương, thanh nhã, thiền vị mà rất ấm cúng, tươi vui, có cả hòa nhạc. Không khí rất yên ấm, thân mật và đậm tình thầy trò.

triển lãm thư pháp của Thầy Mỗi thầy, sư cô được chọn một câu thư pháp mình thích do Thầy viết. Chung quanh phòng triển lãm là những câu thư pháp của Thầy được treo lên với nhiều cách trang trí khác nhau. Chính giữa là bàn Thầy đang ngồi viết thư pháp với các sư con đang quây quần xung quanh. Có một số quý thầy, quý sư cô xin Thầy viết ngay cho mình câu thư pháp mình thích. Ai cũng hí hửng và thích ý. Thật cảm động! Cái giây phút ấy thật đẹp! Nhiều người đứng bên Thầy xem Thầy viết thư pháp và chụp hình. Con cũng đứng nhìn, nhìn thật lâu vì cảnh tượng quá đẹp và quá xúc động. Một bậc Thầy già gần 90 tuổi mà ngồi viết từng tờ thư pháp cho các sư con. Giây phút này đâu dễ có lại lần thứ hai? Viết được một lúc thì Thầy đứng dậy đi, Thầy cũng đi xem những câu thư pháp của mình do các học trò trưng bày. Có lẽ Thầy cũng thích và vui. Đại chúng tiếp tục đi thưởng thức và chọn cho mình câu thư pháp thích ý. Nhiều người thốt lên: “Nhiều câu hay quá không biết nên chọn câu nào”. Con cũng theo dòng chảy đó, đi ngắm thư pháp và thấy mình được tưới tắm nhiều niềm vui. Đập vào mắt con là câu “Tim Bụt Cốt Tiên”. Thích quá! Có một cái gì chấn động trong lòng con mà không hiểu tại sao. Con đứng đó rất lâu nhưng chưa chọn vội, đi tiếp một vòng nữa, có những câu thư pháp rất hay và rất mới như: Kiên nhẫn là dấu ấn của thương yêu, hay Trong mẹ có Bụt trong mẹ có con, Trong ba có Bụt trong ba có con, hay Con đang thừa hưởng những tài năng và đức độ của ba mẹ, hay Thả cho nó bay, hay Ta phải là ta thì ta mới đẹp v.v… và v.v… Câu nào cũng hay, câu nào cũng thích, nhưng cuối cùng thì “Tim Bụt Cốt Tiên” đã theo con về nhà. Con không dám chắc là mình hiểu hết câu thư pháp này và hiểu được diệu dụng của Thầy nhưng không biết sao cứ thích mà không thể không chọn.

Sau khóa tu xuất sĩ chúng có mười mấy ngày làm biếng. Những ngày làm biếng dài là món quà quý cho con và cho rất nhiều người nếu không muốn nói rằng tất cả. Những ngày này là những ngày cho con quân bình thân tâm, là ngày mà con có thể đáp ứng được những nhu yếu của mình khi những ngày qua không có nhiều thời giờ để làm. Có khi là để ngồi thiền hay đi thiền thêm, có khi là để nghe thêm pháp thoại, có khi chỉ để nghỉ ngơi và đọc sách, có khi để ngồi yên và nhìn lại mình… Sau những ngày làm biếng dài như vậy, mặt người nào người nấy sáng lên như thể… vừa mới chứng đạo.

Những ngày này con ra cốc Tuổi Ngọc ở yên, nghỉ ngơi và chơi với cái tâm của mình. Con mang theo “Tim Bụt Cốt Tiên” vừa như là một tác phẩm nghệ thuật, vừa như là một công án thiền. Trời mùa Đông ngồi ở cốc Tuổi Ngọc nhìn ra ngoài đẹp lắm. Bên trái là hai cây sồi cao lớn vững chãi, can trường, không biết đã có mặt từ bao đời. Chệch về bên phải là đồi Mận chỉ còn lại những cành trơ xương đang dồn hết sinh lực để nuôi mình, chuẩn bị cho mùa xuân tới đơm hoa kết trái. Trước mặt là cánh rừng Bạch Dương mà con thường thích gọi là Thánh đường. Mỗi lần đi vào giữa lòng rừng Bạch Dương, ngước nhìn lên thì chẳng khác nào Thánh đường. Những hàng cây thẳng tắp, cao vút, đẹp và uy nghiêm. Gần hơn nữa là hồ sen mà mùa này chỉ còn nước. Có những buổi sáng trời lạnh, hơi lạnh ngưng tụ lại, rồi khi có hơi ấm mặt trời, hơi lạnh lại bốc lên thành khói, thành mây làm cho đồi núi cứ chập chùng, lúc ẩn lúc hiện, cộng với những ráng hồng ráng đỏ, tạo thành những áng mây hồng, tím quyện vào nhau, nhẹ nhàng và thanh thoát, như bồng lai tiên cảnh, cứ từ từ thấm vào người mình.

Những ngày ở yên trong cốc thật vui. Nhiều khi mở cửa ra thì thấy ai đó đem cho hũ mắm, có khi cho bát cơm, có khi cho hũ muối sả, có khi cho mớ rau, có khi cho vài trái cây. Dễ thương và đầy tình nghĩa. Có ngày, ai đó cho mấy củ khoai mì mà quê con gọi là củ sắn. Con đón nhận tất cả với niềm trân quý và biết ơn. Hôm đó ăn củ mì xong, để chừa lại mấy cái tim trên bàn. Nhìn tim củ mì rồi bất chợt nhìn lên câu thư pháp “Tim Bụt Cốt Tiên” con bảo: “Tim Bụt thì Cốt Tiên, còn đây là tim củ mì nên vẫn là cốt Hội”, rồi ngồi cười một mình.

Thế rồi một buổi sáng tinh sương, trời giá lạnh, như thường ngày, con thức dậy sớm, ngồi yên, uống trà, ngắm nến, ngắm mình. Thật yên lắng, tĩnh mịch và thanh bình. Ánh sáng từ từ xuất hiện đẩy lùi màn đêm tối. Con vẫn ngồi yên để tận hưởng cái giây phút tĩnh lặng và bao la đó. Trời sáng, con mở tung hai cánh cửa sổ cho hơi lạnh tràn vào và cảm nghe cái tỉnh táo, sảng khoái của buổi sáng đang thấm vào mình. Nhìn ra bên ngoài là cả một khu trừng trắng xóa. Đẹp quá! Trong suốt và thanh khiết. Có lẽ hôm qua tuyết đã rơi cả đêm. Con ngồi yên đó để tận hưởng cái yên lành đẹp đẽ của đất trời. Bỗng từ đâu một con nai xuất hiện tung tăng giữa đồi mận, có lẽ nó cũng không chịu nổi trước vẻ đẹp của đất trời nên mặc cho giá lạnh vẫn cứ chạy chơi. Tự nhiên con cũng muốn bước ra dạo chơi giữa khu rừng trắng xóa ấy. Bao la quá! Tinh khiết quá! Nhưng rồi con vẫn ngồi yên đó và có cảm tưởng như mình đang ở trên một ngọn núi tuyết, thanh bạch và trắng trong. Tự nhiên hình ảnh một ông tiên trong bộ đồ trắng xóa xuất hiện, đang quảy một chiếc nón dạo chơi từ ngọn núi này sang ngọn núi khác, nơi nào thích thú thì tiên ông dừng lại, chơi cờ, uống trà và đàm đạo với những tiên ông khác. Chẳng có gì để vướng bận, chẳng có gì để nghĩ suy. Thanh thản, tự do, an nhiên, tự tại. Con ngồi yên thưởng thức khung cảnh đẹp đẽ ấy. Và thấy hồn mình nhập vào cốt cách tiên ông.

 

Bụt và thiên thần

Không biết những con thiên thần từ đâu bay đến đậu trên bàn học con, càng lúc càng đông. Con bắt đầu chơi thiên thần từ đó. Sắp xếp, ngắm nghía và thích thú. Những con thiên thần thật ngây thơ, hồn nhiên, vô tư, trong sáng và đẹp. Nó chơi đủ trò đủ kiểu, chẳng có gì để lo nghĩ. Có con cứ ngồi ôm gối mà nhìn, có con thì co hai chân lên trời. Có con thì cứ trèo lên tuột xuống trên một quả cầu. Có con thì cũng đã trèo lên tới đỉnh. Có con thì cố bay lên cao để với đến những vì sao. Có con thì cứ chống cằm suy tư, từ ngày này sang ngày khác, không biết chuyện gì. Có lẽ nó nhìn Bụt và cứ trầm tư không biết ông này là ai mà cứ ngồi yên hoài như vậy. Nó cũng thích chơi với Bụt lắm, cứ ở bên Bụt hoài. Có một con, con vô ý làm gãy cánh nó, thân hình trần trụi, ấy vậy mà nhìn nó vẫn thấy thiên thần. Đã là thiên thần thì làm gì cũng thiên thần, cũng dễ thương. Con thường nhìn nó để quán chiếu về cái tâm của mình. Dù chuyện gì xảy ra thì cũng giữ cho tâm mình hồn nhiên, vô tư và trong sáng. Đôi cánh không làm nên thiên thần, chính sự hồn nhiên trong sáng ấy mới làm nên thiên thần. Có lúc thiên thần cũng bị tổn thương nhưng thiên thần biết trở về chăm sóc vết thương, im lặng, không nói năng chi, chỉ dùng ý thức để làm lắng dịu niềm đau. Thế rồi vết thương cũng được chữa lành.

Con thích chơi thiên thần nên cũng thích tiếp xúc với những thiên thần trong các sư chị, sư em của mình. Khi thấy người đó là thiên thần rồi thì người đó làm gì cũng thấy dễ thương và thiên thần, kể cả khi người đó giận. Có nhiều sư chị sư em rất hiền lành, thật thà, hồn nhiên, vô tư và trong sáng. Chỉ cần nhìn người đó là mình thấy hạnh phúc. Người đó có làm gì cho mình đâu, thế mà sự hiện diện của người đó là một nguồn hạnh phúc lớn cho mình. Điều đó nhắc nhở con rằng là làm người tu đâu cần phải làm gì nhiều, chỉ cần vun bồi những đức tính ấy cho dầy sâu là đủ, đừng để bất cứ một thứ gì làm vướng bận lòng mình.

Trên bàn học của con cũng có một tượng Bụt nhỏ. Con thích ngắm tượng Bụt lắm, nhưng tất nhiên đó phải là những tượng Bụt đẹp, bình an và thanh thoát. Ngắm nhìn Bụt bên ngoài để nuôi lớn Bụt bên trong. Những lúc buồn giận, lo lắng, bất an, con mời thiên thần và Bụt ngự trị trong con, để giữ được sự hồn nhiên vô tư trong sáng, giữ được sự vững chãi, tỉnh thức trong mình. Con thấy an ổn trở lại.

Thầy thường dạy vững chãi và thảnh thơi là hai đặc tính của Niết bàn, nhưng Niết bàn của thiên thần thì phải có sự hồn nhiên, vui tươi, vô tư và trong sáng.

 

Có những Mùa như thế

Bây giờ đang là mùa Đông, trời lạnh nhiều. Năm nay quý chị em xóm Hạ bị bệnh nhiều, có người bị tái đi tái lại hai, ba lần. Ở đây, một năm có bốn mùa rõ rệt Xuân, Hạ, Thu, Đông. Ở quê con, đặc biệt là Cam Ranh thì một năm chỉ có hai mùa mưa nắng.

Những ngày Hè khi mới đến Làng, con cứ ngạc nhiên: “Sao chín, mười giờ tối rồi mà mặt trời chưa lặn?” Và mùa Hè thì mặt trời to lắm, to hơn một vòng tay, có lẽ to bằng cái sàng gạo ở quê, nhất là lúc mặt trời mới bắt đầu mọc và lặn. Và lúc mới bắt đầu mọc thì mặt trời đỏ ửng. Những cánh đồng hoa Hướng Dương và hoa Cải vàng cũng theo ánh nắng mặt trời làm sáng rực cả một vùng không gian. Mùa Hè cũng là mùa trái chín. Những cây Lê, cây Mận, cây Dâu, cây Cherry… cũng bắt đầu chín, mọi người tha hồ hái trái cây ăn. Bàn chân các chị em cứ liến thoắng từ cây này sang cây khác. Mùa Hè là mùa có ngày dài nhất nên tha hồ rong chơi.

Đến mùa Thu, cây bắt đầu đổi màu. Từng cánh rừng vàng, đỏ nối nhau rồi lại chen nhau, rất đẹp. Đặc biệt là những lúc có ánh nắng xuyên qua, khu rừng trở nên rực rỡ, huy hoàng. Những chiếc lá chín không muốn ở lại đã ngoạn mục lìa cành, trông như những đàn bướm tung tăng trong nắng mới, rồi từ từ trở về với đất Mẹ. Mùa này các bác nông dân cũng bắt đầu gặt hái. Những ruộng nho, những đồng cỏ, những đồng lúa chín được các bác nông dân gặt về.

Đến mùa Đông mọi vật như được nghỉ ngơi, những khu rừng đang ủ lá, cây không nuôi lá nữa, chỉ nghỉ ngơi và dồn hết sinh lực để nuôi thân chuẩn bị cho mùa Xuân tới. Nó rất kiên cường khi phải gánh chịu nhiều sương gió. Người ta không trồng trọt gì vào mùa này cả, đất cũng được cày lên để nghỉ ngơi. Những ngày tuyết rơi, ai cũng thích ra chơi tuyết, có người say sưa đến cả bệnh, nhất là những chị em mới từ Việt Nam qua mới thấy tuyết lần đầu. Những ngày có tuyết rơi, nhiều khi Thầy cũng có cảm hứng mời quý sư cô lên chơi tuyết, cả mấy Thầy trò đi dạo giữa rừng tuyết, rất vui và đẹp. Có khi Thầy lại ngồi xuống cào những lớp tuyết lại rồi rưới sirup lên và múc ăn, Thầy lại đưa cho học trò thưởng thức nữa… Ui cha là vui. Ai cũng mắc cười.

Mùa Xuân đến, cây đâm chồi nảy lộc và lớn lên rất nhanh. Các loài hoa bắt đầu khoe sắc, hoa Daisy, hoa Bồ Công Anh, hoa Thủy Tiên, hoa Tulip… không biết từ đâu chui lên, nở ra đủ sắc màu. Vì vậy người ta gọi mùa xuân là mùa tuôn dậy. Sự sống dâng tràn. Trên những trụ điện dọc đường người ta cũng treo lủng lẳng những chậu hoa đủ màu, đủ loại. Đi đâu cũng thấy hoa, nhà nhà đều có hoa. Có nơi hoa mọc thành rừng. Đặc biệt là những đồi hoa Mận, trên là màu trắng của hoa Mận, dưới là màu vàng của hoa Bồ Công Anh trải dài thành những tấm thảm, trông rất đẹp.

Mỗi mùa đều có một vẻ đẹp, một cái hay riêng của nó. Không mùa nào giống mùa nào mà mùa nào cũng mầu nhiệm, kể cả mùa Đông. Con học được rất nhiều bài học từ các mùa trong năm. Mùa nào đến thì đón nhận hết lòng mùa đó, không mong mùa này là mùa khác, không mong mùa Đông ấm áp có nhiều hoa cỏ, mùa Đông có cái giá trị riêng của mùa Đông.

Trong chúng cũng có những mùa như thế. Mùa Thu là mùa yên ả nhất, thiền sinh cứ về đều đều theo chúng tu học. Mùa Đông cây trở về dồn hết sinh lực để nuôi thân thì quý thầy, quý sư cô cũng tập trung vào sự tu học để nuôi lớn thân tâm mình. Mùa xuân cùng với hoa cỏ và đất trời, lòng người ai cũng hân hoan, mọi người tung tăng đi khắp các nẻo đường, các sư anh sư chị thì đi mở khóa tu đem niềm vui hiến tặng cho mọi người, các sư em ở nhà thì tự chế tác niềm vui cho mình và chế tác niềm vui cho nhau, rủ nhau đi hái lá hái hoa, dạo khắp các con đường làng. Mùa Hè là mùa hiến tặng. Khắp nơi người ta kéo nhau về tu học, họ rủ bạn bè, gia đình về đông vui như hội. Quý thầy quý sư cô phải ra hướng dẫn, giúp họ thực tập để chuyển hóa khổ đau và chế tác hạnh phúc. Niềm vui của họ nuôi lớn niềm vui của mình. Rồi sau những khóa tu rộn rịp là những ngày làm biếng dài, mười ngày hay có khi đến mười lăm ngày. Những ngày này mình không cần phải làm chi cả, chỉ cần có mặt cho mình. Ấy thế mới thấy người tu thật sang. Người đời ai dám bỏ ra mười mấy ngày ngồi không mà không cần làm chi cả? Có khi cả chúng lại đi chơi núi mấy ngày. Con đón nhận những mùa đi qua như bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, mỗi mùa đều nuôi dưỡng con một cách khác nhau với những nét riêng của nó. Có mùa bận rộn, có mùa thảnh thơi, có mùa nghỉ ngơi, có mùa tận hưởng.

Rồi trong mình cũng có những ngày mùa như thế đi qua. Có khi vui nhộn đầy sức sống như mùa Xuân, có khi lại đằm thắm yên ả như mùa Thu. Có khi lại trầm lặng như mùa Đông. Có khi niềm vui phải rụng xuống để đơm tuệ giác, cũng như hoa phải rụng xuống thì trái mới kết thành. Rồi cũng phải đợi, phải cho thời gian, không gian để trái chín, để hiến tặng. Con nhìn mình, nhìn những tâm hành của mình như những mùa đi qua như thế với nhiều điều thú vị.

Trong các sư chị, sư em cũng có những mùa như thế đi qua, mỗi mùa đều có một nét đẹp, nét hay riêng. Mỗi mùa đều có một giá trị riêng. Con thấy trân quý và biết ơn.

 

Gia đình huyết thống và tâm linh

Ngược dòng thời gian con thấy con nằm trong bào thai của mẹ rồi mở mắt chào đời bằng tiếng khóc tu oa. Con chập chững bước những bước đầu tiên và bập bẹ cất tiếng nói me, ba. Con tung tăng bước vào đời và lớn lên với nhiều niềm vui và hạnh phúc. Cũng như thế, con được tái sinh trở lại, được nằm trong bào thai của Thầy và tăng thân. Thầy và tăng thân đã sinh con ra, nhưng con không chào đời bằng tiếng khóc tu oa mà chào đời bằng những nụ cười hạnh phúc. Con cũng chập chững bước những bước chân đầu tiên ý thức, tập thở những hơi thở lắng sâu và tập nói những lời hòa ái thương yêu. Con cũng lớn lên với nhiều niềm vui và hạnh phúc.

-Ai mua gạo không? Tiêu, hành, mắm, muối, hành ngò, xà lách ai mua không? Chú mua gạo không chú?

-Vào đây bán cho tui vài lon gạo.

Đó là lời rao hàng của một cô chủ nhỏ năm, sáu tuổi, gánh hai đầu nào là cát làm gạo, hoa cỏ làm rau, nước lạnh làm nước mắm, xì dầu… đi bán cho khách hàng là ba mình, là mẹ mình, là chị mình. Và ba cô là một khách hàng thân tín luôn luôn đáp ứng lời mời gọi của cô – “Vào đây bán cho tui vài lon gạo.” Hai cha con chơi với nhau rất vui, giống như là cô chủ quán và khách hàng thứ thiệt vậy, rất hết lòng và tận tình mua bán. Có khi cô chủ nhỏ lại làm một cô giáo mà ba, mẹ, anh, chị là học sinh của mình. Cô lớn lên, từ từ được học hỏi những điều quý giá từ ba mẹ và các anh chị. Tuy nhiên một ngày nọ cô nhận ra rằng những điều xấu thì dễ nhiễm mà những điều đẹp thì khó học. Những tập khí không đẹp của ba mẹ cô đều lãnh đủ mà những đức tính tốt của ba mẹ thì cô ít được thừa hưởng.

May mắn thay, gia đình tâm linh đã cho cô một cơ hội mới. Trở về nhận diện những tập khí của ba mẹ trong mình để chuyển hóa và nhận diện những đức tính đẹp lành mà mình được trao truyền từ ba mẹ tổ tiên để làm lớn mạnh thêm. “À, đây là tập khí của ba này, à đây là tập khí của mẹ này, con sẽ chuyển hóa cho ba, con sẽ chuyển hóa cho mẹ.” Cô thấy nhẹ nhàng. Không cần phải gồng mình, vật vã hay phải dụng công nhiều. Chỉ cần nhận diện tập khí thì tập khí từ từ nhẹ đi và được chuyển hóa. Rồi, “Ba có tính tốt này nè, mẹ có tính tốt này nè, sao mình không có?” Cô bé từ từ tìm cách nuôi lớn nó. Có khi cô mỉm cười sung sướng thấy mình được thừa hưởng những đức tính quý báu từ ba và mẹ.

Mẹ rất sạch sẽ, gọn gàng, tháo vát và đảm đang. Mỗi lần dọn dẹp nhà cửa là con thấy mẹ đang biểu hiện. Những buổi sáng sớm mùa này, thức dậy là mẹ ra vườn thăm mấy cây hoa, tưới tắm làm sao cho kịp Tết. Tết nào cũng có một vườn hoa rực rỡ. Mấy anh chị, ai cũng đến xin mẹ mấy chậu hoa về ăn Tết. Mẹ còn để dành hoa đem lên chùa cúng Bụt. Ba là một người có tinh thần khỏe mạnh, kiên trì, bền bỉ, luôn tìm tòi nghiên cứu. Lúc còn đi học, con học lịch sử qua ba, hình như điều gì ba cũng biết. Điều mà con học nhiều nhất là những đức tính tốt của ba – “Dù người ta có đối xử với mình như thế nào đi chăng nữa thì mình cũng phải đối xử tốt với họ và không bao giờ gây niềm thù hận”. Đức tính ấy giúp con rất nhiều. Có lẽ vì vậy mà anh chị em trong gia đình đều thương yêu nhau, anh rể cũng như chị dâu, em ruột cũng như em rể. Mỗi khi có chuyện gì không hay xảy ra cho một người nào là con tự dặn mình, dù có như thế nào thì mình cũng không đánh mất liên lạc, không đánh mất truyền thông, không đánh mất tình thương với anh chị em của mình.

Con được thừa hưởng rất nhiều từ gia đình huyết thống để giờ đây trong gia đình tâm linh con có cơ hội làm lớn mạnh lên. Con thấy mình thật may mắn có một bậc Thầy đầy nhân từ và bao dung. Luôn luôn có mặt và tận tâm chỉ dạy cho mình một con đường vui, một con đường sáng đẹp. Thầy đã cho con thêm cơ hội để trở về vun bồi và trân quý hơn gia đình huyết thống của mình. Và trên căn bản thương yêu anh chị em ruột thịt, con trở về nuôi lớn tình thương trong mình đối với các anh chị em trong gia đình tâm linh. Các anh chị em ai cũng dễ thương. Ai cũng có những đức tính quý giá cho con học hỏi, mỗi ngày con được tưới tẩm nhiều điều hay, đẹp và lành từ các sư chị, sư em của mình. Trở về vun bồi gốc rễ hai gia đình, huyết thống và tâm linh, con thấy mình thật giàu có. Con thấy trân quý và biết ơn vô cùng. Bây giờ con cũng đang tập bước những bước chân ý thức nhưng bàn chân con đã bước thành những nốt nhạc vui, chạy nhảy trên khắp các cung bậc thương yêu.

Hãy tin ở chính mình

Ban Biên Tập phỏng vấn thầy Pháp Lâm

vườn ươm

 

Trung tâm Làng Mai Quốc Tế Thái Lan còn có tên là Vườn Ươm, vì sao có tên là Vườn Ươm thưa thầy?

Chữ Vườn Ươm mang cho ta một hình ảnh là nơi đó người ta gieo những hạt giống, chăm sóc, bảo vệ cho đến khi cây mọc đủ sức thì đem trồng. Khi gieo trồng trong vườn ươm người ta làm cho những đặc tính của chủng loại cây đó được phát triển mạnh nhất và chất lượng nhất. Tu viện Vườn Ươm cũng vậy, có những người trẻ, có lý tưởng, có hạt giống bồ đề rất lớn, nhưng cần chăm sóc một chút cho đủ cành đủ lá thì mới đem trồng nơi khác.

Nơi khác là đâu thưa thầy?

Nơi khác là nơi này, là tu viện Vườn Ươm hay ở nơi cần “cây bồ đề”, đó là nơi cần một hướng đi, cần tình huynh đệ, cần hạnh phúc và cần chuyển hóa khổ đau.

Quý thầy, quý sư cô ở Thái Lan đã đi vào “nhà tình thương”, tên gọi dễ thương của một nhà tù dành cho các em dưới 18 tuổi để hướng dẫn tu học. Các em là nạn nhân của những gia đình tan vỡ, của một xã hội đang chạy theo tiêu thụ. Vì cha mẹ không quan tâm, vì đua đòi với bạn bè mà họ bán thân, buôn thuốc phiện, tham gia băng đảng… Pháp Lâm nhớ  trong một khóa tu có nhiều em đã khóc trong những buổi pháp đàm và làm mới. Trong họ có những vết thương và nhờ tham dự khóa tu, họ hiểu và tha thứ được cho cha mẹ họ và  bản thân họ, có người còn nói là sau khi ra tù sẽ tới ở Tu viện.

Các thầy cô cũng đi vào các trường Đại học để chia sẻ với sinh viên. Sinh viên cũng bị nhiều áp lực, căng thẳng, sợ hãi và không biết hướng đi. Trong một buổi vấn đáp có một em sinh viên hỏi: “Con có một người bạn, bạn ấy đang rất khổ, bạn ấy không biết mình sống để làm gì và có nhiều lúc muốn chết.” Hay có người hỏi: “Cha mẹ bắt con học ngành mà con không thích, nên đi học chán lắm, con phải làm sao?” Đó là những nơi cần Vườn Ươm.

Như vậy thì rộng quá, nơi nào mà không cần tình huynh đệ, cần hạnh phúc. Vậy Tu viện Vườn Ươm có mặt từ khi nào và với nhân duyên nào mà Vườn Ươm được biểu hiện thưa thầy?

À, có từ “từ ấy”. Từ ấy là khoảng 40 năm trước Sư Ông đã đến Thái Lan. Anh em cũng có tới đó thăm, đó là một ngôi chùa trên núi ở Chiang Mai, phía Bắc Thái Lan. Bây giờ chỉ còn cái nền cốc ngày xưa thôi. Phía trước cốc là dòng suối đá, gọi là suối đá vì dòng nước chảy trên đá chứ không chảy trên đất. Phía sau cốc là rừng. Từ chánh điện mà xuống cốc thì phải đi trong rừng khoảng 15 phút. Chắc đó cũng là nhân duyên có tu viện Vườn Ươm bây giờ.

T Pháp LâmTừ ấy, Thái Lan là một nước Phật giáo theo truyền thống Nam tông. Và với những hình thái thực tập “hơi già” nên chưa đáp ứng đủ với những khổ đau, mong mỏi của người trẻ trong xã hội hiện tại nên tu viện Vườn Ươm có mặt.

Từ ấy cũng là sư cô Linh Nghiêm, một người trẻ Thái Lan, xuất thân từ một gia đình thượng lưu ở Thái đến xuất gia tại Làng Mai. Sư cô thấy pháp môn này hay quá và cứ mỗi lần về thăm nhà cô rủ thêm quý thầy, quý sư cô về cùng, vừa làm đệ tứ thân, đệ ngũ thân vừa tổ chức những khóa tu cho cư sĩ Thái. Và có một ước muốn có một trung tâm thực tập theo pháp môn Làng Mai.

Từ ấy cũng có thể là do chư Tổ sắp đặt. Mười ngày trước khi tăng thân bị đuổi khỏi Bát Nhã (27.09.2009) có 4 thầy và 6 sư cô qua mở trung tâm tại Thái. Nhưng cũng chưa có đất có chùa gì cả, quý thầy ở tạm nhà nghỉ dưỡng của cha mẹ sư cô Linh Nghiêm, còn quý sư cô thì ở tạm nhà bạn mẹ sư cô Linh Nghiêm cách đó 3km. Nơi này sau đó đón cả 200 quý thầy cô từ Bát Nhã qua. Con người Thái và đất nước Thái đã mở lòng đón tăng thân. Tu viện Vườn Ươm có từ từ ấy là vậy.

Chắc là nhà mẹ sư cô Linh Nghiêm lớn lắm mới chứa được từng đó người phải không thầy? Xin thầy chia sẻ về những ngày đầu tăng thân sống ở Thái?

Nếu mà Pháp Lâm viết văn giỏi thì chuyện của những ngày ấy viết chắc cũng vài cuốn sách. Đây chỉ kể sơ thôi.

Pháp Lâm nhớ, khi “đã về, đã tới”, (tới nơi ở tại Thái rồi) có thầy đã hỏi: “Ngày mai mình đi tiếp phải không?” Vì thầy thấy chỗ ở cho cả trăm thầy mà chỉ có một ngôi nhà nhỏ với hai phòng, một toilet, không bếp… và một cái lều xanh. Không khí trong cái lều xanh ban ngày là lò nướng, ban đêm là tủ lạnh nên anh em bệnh rất nhiều. Sống như vậy khoảng 4 tháng thì anh em quyết định dựng thêm nhà tranh. Sau này mình biết có thêm hai thiền đường bằng tranh là thiền đường Tình Huynh Đệ và thiền đường Trời Phương Ngoại, nhưng trước đó thiền đường có tên là “hội ngàn đinh”. Thiền đường này là một cái lều lớn, sàn được lót bằng những cái chõng tre. Lâu ngày những cây đinh từ cái chõng tre nhú ra và làm rách những cái quần không thương tiếc. Những buổi trưa tháng Tư, mùa nóng nhất ở Thái Lan, anh em thường ra gốc xoài để ngủ, thầy Pháp Sĩ thường nằm dưới mái hiên làm nhà ăn lợp bằng lá dừa để ngủ, dưới chõng tre thầy không quên để một thau nước cho đỡ nóng. Vậy mà những lớp học dưới vườn xoài, những khóa tu ở nhà hay ở ngoài, những buổi ngồi thiền, thiền hành hay những trận đá bóng đã không thiếu. Tiếng cười, tiếng đàn, tiếng hát, tiếng huynh đệ đã giúp anh em vượt qua những khó khăn.

Sau này, những vị cư sĩ Thái thấy thương quý thầy quá nên đã cùng nhau mua đất và xây chùa để có nơi ổn định cho quý thầy ở và tu học. Bây giờ chỉ mới xây được cư xá cho quý thầy và quý sư cô ở thôi. Còn thiền đường, nhà ăn, nhà bếp, nhà cư sĩ cũng chưa đủ điều kiện xây được. Nhưng nhìn chung là sự tu học cũng đã bắt đầu ổn định.

Cái gì ấn tượng nhất đối với thầy khi thầy sống ở Thái?

Buổi khất thực tại Thái LanTìm cái nhất thì khó lắm, vì mỗi sự kiện, mỗi giây phút đã qua khi sống ở Thái đều quý hết nên chỉ kể cái ấn tượng nhì thôi. Cái ấn tượng nhì là được đi khất thực. Pháp Lâm có đọc kinh, có đọc sách Đường Xưa Mây Trắng, có nghe kể về giáo đoàn ngày xưa của Bụt mỗi sáng sớm đi từng hàng vào thôn xóm khất thực. Khi qua Thái, Pháp Lâm đã chứng nghiệm được cảm giác này, cảm giác của người khất sĩ thực tập hạnh xin ăn. Từ sáng sớm quý thầy quý, sư cô tập trung lại, được chỉ dạy cách ôm bình bát rồi chia thành từng nhóm nhỏ, mỗi nhóm có 10 thầy và 10 sư cô. Đi mỗi nhóm ít vậy là vì khi quý cư sĩ cúng dường, ai cũng muốn cúng cho tất cả quý thầy, quý sư cô, đi nhiều quá người ta không đủ đồ cúng dường tội nghiệp. Khi mặt trời chưa lên, đường còn vắng xe cộ, không khí yên lặng và trang nghiêm, từng nhóm quý thầy, quý sư cô bước thảnh thơi đi vào thôn xóm. Từ xa đã thấy cả gia đình các thí chủ với đồ cúng dường đã chuẩn bị đứng trước nhà. Khi quý thầy quý, sư cô đi tới, họ bỏ giày dép ra, đi chân đất, dù trời lạnh hay mưa ướt, để thể hiện lòng tôn kính Tam Bảo, dâng đồ cúng dường đến từng thầy, từng sư cô rồi cả gia đình đứng gần nhau và lạy xuống trước quý thầy, quý sư cô. Sau đó họ quỳ xuống chắp tay đợi quý, thầy quý sư cô chúc phúc và tụng kinh. Đứng trong khung cảnh đó ai là người cho, ai là người nhận hay tất cả đều quyện vào nhau? Người cho thì: Trong thể tính chân như, không chủ thể đối tượng, đệ tử cúng dường người, trong thương cảm nhiệm mầu… Còn người nhận thì: Trong thể tính chân như, không chủ thể đối tượng, đệ tử nhận cúng dường…

Được làm người xuất sĩ, được đi khất thực là một hạnh phúc lớn. Hạnh phúc của cái thấy nương tựa lẫn nhau để hiện hữu giữa cuộc đời. Hạnh phúc vì những bước chân an bình mỗi sớm mai.

Ở Thái vui quá thầy ha. Tăng thân mình ngày nào cũng đi ra thôn xóm khất thực phải không thưa thầy?

Không, chỉ đi hai tuần một lần thôi.

Nghe nói người Thái ăn cay lắm, quý thầy, quý sư cô ở đó có quen ăn thức ăn cay không?

Vì là Vườn Ươm nên quý thầy, quý sư cô ở đó tuổi rất trẻ, tuổi dưới 25 là hơn 70% chúng nên ăn mạnh lắm, còn thiếu ăn nữa đó chứ (cười). Những ngày đầu vì theo văn hóa Thái thì quý thầy không được đi chợ nên người cư sĩ cúng dường, sau đó những người bán hàng rong chở tới cho mình nên có gì thì mình ăn đó, có tuần chỉ ăn một món giống nhau. Lúc đó nếu đi muộn hoặc xếp hàng sau thì có khi không có gì ăn hay ăn cơm với xì dầu thôi. Nên cái tâm lý sợ đói, sợ không có gì ăn thúc đẩy “lòng” mấy người trẻ xếp hàng trước khi chuông thỉnh hoặc nghe chuông thỉnh thì đi liền. Có vị nhận diện được cái tâm “sợ đói” đó đã nói: “Nếu vì cái tâm sợ đói mà đi trước thà ở nhà còn hơn.” Có lẽ cái tâm tàm quý của vị đó thấy rằng bị cái sợ trói buộc thì không ăn còn hơn. Và sau đó vì anh em thương nhau, có gì ngon mà mình đi trước thì lấy ít lại một chút cho người đến sau. Cũng may là người tu nên có món ăn khác là Pháp. Đầu tiên là học Pháp. Pháp là lời dạy của Bụt có khả năng dập tắt phiền não, có khả năng dẫn đạo đi lên… Tại Vườn Ươm có rất nhiều lớp học về Phật pháp như lớp Trái Tim Của Bụt học về Tứ Diệu Đế, Tứ Vô Lượng Tâm, lớp Duy Biểu Học học về cách vận hành của tâm, lớp Công Phu Nở Đóa Sen Ngàn Cánh học về các Kinh Nhật Tụng, còn các lớp uy nghi, giới luật, xây dựng tăng thân… học rất vui. Cứ khoảng hai tuần là có ôn tập và kiểm tra, kiểm tra bằng cách viết bài luận hay trắc nghiệm, trả lời câu hỏi hoặc kiểm tra bằng trò chơi. Kiểm tra là để trình bày cái hiểu của mình về pháp môn hay về kinh nghiệm thực tập của mình chứ không phải lấy điểm hay thi lên lớp. Có người học xong khóa học không chịu lên lớp còn xin ở lại nữa. Quý vị khi gặp quý thầy, quý sư cô ở tu viện Vườn Ươm mà hỏi học có vui không? Thì chắc ai cũng nói “vui lắm” cho xem.

Làm sao để mình duy trì được cảm hứng học một cách lâu dài thưa thầy?

Như đã nói trên, khi học đã vui rồi, mà áp dụng lời Pháp vào sự thực tập nữa thì niềm vui có được rất lớn, gấp cả chục lần, giống như mũi tên thứ hai vậy. Mũi tên thứ nhất là hạnh phúc khi học Pháp, mũi tên thứ hai là thực tập Pháp. Anh em cũng thường nhắc nhau học là thực tập chứ không phải chất chứa kiến thức nên dù là học lớp nào mọi người cũng được học về cách chuyển hóa những nội kết, những khổ đau trong lòng và làm lớn lên hạnh phúc. Trong môi trường tu viện, huynh đệ có cơ hội áp dụng những điều mình học trên lớp vào đời sống. Khi có những khóa tu, mình đem những gì mình đã học và thực tập được ra hướng dẫn cho thiền sinh. Mình giúp họ và thấy họ thực tập có hạnh phúc, bớt căng thẳng, cha con truyền thông lại với nhau, thấy những cảnh đó ai cũng được nuôi dưỡng và tự nhiên nguồn cảm hứng học và thực tập được nâng cao. Tu viện Vườn Ươm cũng đang soạn giáo trình “Thạc sĩ Phật Học Ứng Dụng” để vào dạy tại Trường đại học Phật giáo Mahachualongkorn.

Điều thứ hai là tu viện Vườn Ươm đã cố gắng duy trì chương trình học ổn định trong năm, không để bị ngắt đoạn nhiều. Các lớp học được phân chia theo từng độ tuổi (đời và đạo) để giúp cho mọi người có thể hiểu được. Ví dụ như các em tập sự, các em mới xuất gia hoặc các sư anh sư chị dưới 18 tuổi thì học lớp Trái Tim Của Bụt. Còn các vị từ Cây Lê, Trầm Hương, Hướng Dương trở lên thì học lớp Duy Biểu. Mỗi lớp đều có các vị giáo thọ chăm sóc. Nhưng cũng có những lớp thì người lớn cũng như người nhỏ học chung, ví dụ như nghe pháp thoại của Sư Ông mùa Đông này. Đa số là học chung với nhau nên khi học mình chế tác được tình huynh đệ, tình huynh đệ giống như giải thoát, chứng ngộ… là hoa trái của sự thực tập và cũng là vốn liếng giúp cho sự thực tập thành công. Đó cũng là thức ăn mà cũng là nguồn cảm hứng trong việc học.

Đầu tháng Ba năm nay sẽ bắt đầu chương trình 7 năm. Đó là chương trình 4 năm của Sư Ông. Ban Giáo thọ Thái Lan đã phân chia các môn học theo từng tiết học, từng học kỳ, theo tuổi cho rõ hơn. Quý vị có muốn tham dự thì xin về Thái.

Vâng, cảm ơn thầy. Vấn đề ngôn ngữ và văn hóa khi quý thầy, quý sư cô ở Thái Lan thì như thế nào thưa thầy?

Lúc đầu khi mới từ Việt Nam qua thì miệng chỉ dùng để tặng nụ cười thôi, còn nói là bằng tay. Nhờ tình thương và sự cảm thông của người Thái mà những khó khăn cũng dần qua đi. Bây giờ sau ba năm mình cũng như em bé 3 tuổi, bắt đầu bập bẹ biết nói, biết hát và hướng dẫn tổng quát cũng như thiền buông thư và pháp đàm bằng tiếng Thái rồi. Sáng nào cũng có lớp tiếng Anh và tiếng Thái. Chỉ có Pháp Lâm là lười thôi.

Còn văn hóa thì cũng có khác biệt, như quý thầy không được đi chợ, khi người nữ đưa gì thì quý thầy không được nhận trực tiếp từ tay sang tay mà phải để trên bàn hay trên khay… và cuối cùng có một cách giúp mình hòa nhập, thích ứng, học hỏi và hành động khế cơ là “văn hóa chánh niệm”, có chánh niệm thì làm cái gì cũng đẹp.

Cho chúng con hỏi tiếp là Thái Lan đang có những bất ổn về chính trị, thầy nghĩ Tu viện Vườn Ươm có thể giúp được gì?

Không chỉ có Thái Lan bất ổn mà khắp nơi đều bất ổn. Mọi người cần một nơi để trở về và cần một cách thức nào đó làm cho những bất ổn trong họ lắng dịu.

Ta và vũ trụ có sự liên hệ tương tức với nhau. Ta làm gì cũng đều ảnh hưởng đến vũ trụ. Trong một đất nước đang có những bạo động, bất an mà có một tăng thân có khoảng 160 người thực tập, biết chế tác hỷ lạc, bình an thì tự thân sự thực tập đó đã giúp đỡ người Thái Lan rồi.

Pháp Lâm biết trong những ngày xảy ra bạo động đó, tại Tu viện Vườn Ươm có khóa tu cho khoảng 100 người trẻ Wake Up Thái với chủ đề “Để Có Một Tương Lai.” Trong khóa tu quý thầy, quý sư cô đã hướng dẫn cho người trẻ có “một tương lai” những điều như: Bước cho thảnh thơi, ngồi cho tự do, nằm cho buông thư, đứng cho vững chãi, ăn cho hạnh phúc v.v… Cá nhân một người có tương lai thì đất nước người đó mới có tương lai. Mong là mọi người thấy được ngọn nến trong cơn bão mà làm cho nó thành bếp lửa để mọi người cùng đến ngồi lại với nhau như một gia đình quanh bếp lửa.

Thầy là người tu trẻ, thầy thấy những thói quen hay sở thích nào làm chướng ngại đường tu và khó buông bỏ?

Tu viện Vườn Uơm nằm bên mé rừng nên muỗi nhiều lắm, đi thiền hành muỗi cũng “thiền bay” theo. Những buổi ngồi thiền thì khỏi nói, muỗi chích đỏ cả tay và mặt mình. Có lúc những suy nghĩ “cái bọn muỗi đáng ghét, không có bọn ngươi thì ngồi thiền hạnh phúc biết mấy”, thế là có thêm khổ thọ vì bực bội, một loại muỗi mới vo ve trong thân tâm. Muỗi thì vô số, sinh sản rất nhanh, nếu mà cứ ngồi đòi hỏi đừng có muỗi thì 4 tháng ngồi thiền sẽ không bao giờ có hạnh phúc. Nên cách hay nhất là tìm dầu thoa cho bớt muỗi và ngồi đó dùng tâm chánh niệm theo dõi cảm thọ khi nghe tiếng muỗi, cảm giác khi muỗi đậu trên da rồi cảm giác muỗi dò kim và cảm giác ngưa ngứa khi kim chích vào da. Ta nói thầm “vì muỗi có đó nên ta có đây.” Thế là từ cảm giác khó chịu ta lại có cảm giác vui vui. Và nếu lên tầng hai nhà ăn ở tu viện Vườn Ươm vào mùa mưa thì thích lắm, có gió hiu hiu mát mát, nhìn xuống thì một màu xanh của cỏ, anh chị em thích chụp hình với cỏ đuôi chồn vì cỏ rất đẹp. Nhìn xa một chút thì núi KhaoYai với mây bao phủ trông rất đẹp. Vào mùa nắng cỏ chuyển sang màu vàng. Mùa này nắng nóng nên khi giặt đồ và phơi chỉ khoảng 1 giờ là khô. Để ngủ trưa, có người phải đặt thau nước dưới giường cho đỡ nóng. Ngồi thiền mồ hôi chảy ướt cả áo. Có người ước: “Bây giờ có tuyết rơi thì hay biết mấy”, có người vừa cầm quạt vừa than: “Nóng quá, nóng quá! Có máy lạnh thì sướng biết mấy.” Ước hay than như vậy nhưng ai cũng biết nên ở yên, ít vận động cho đỡ nóng. Có người còn biết theo dõi cảm thọ của mình khi những dòng mồ hôi chảy trong lúc ngồi thiền, không than thở để khỏi bị lò lửa bực bội đốt từ bên trong. Nên dù nóng anh em vẫn vui được. Nên cái mà Pháp Lâm thấy khó bỏ và chướng ngại cho hạnh phúc của mình là ý niệm về hạnh phúc. Cái ý niệm hạnh phúc thúc đẩy mình theo đuổi một cái gì đó và càng theo đuổi thì mình càng xa bờ hạnh phúc, từ từ nó cũng thành tập khí tìm hạnh phúc, trong khi hạnh phúc có thể có ngay bây giờ. Nếu biết dưới chân là Tịnh độ, dừng lại đã lâu rồi!

Thầy là một tu sĩ trẻ năng động, sáng tạo mang đầy nhiệt huyết của ngọn lửa Bồ đề tâm. Thầy không chỉ hướng dẫn tu học mà thầy còn chơi rất giỏi, truyền thông rất tốt với các sư em trẻ tuổi. Thầy muốn nhắn nhủ gì với các sư em trẻ không?

Sư Ông rất tin tưởng vào người trẻ, vậy chúng ta là những người trẻ thì hãy tin vào chính mình.

Lắng nghe tiếng nói chính mình

Nhân ngày xuất gia của cây Linden (cây Đoàn) tại chùa Pháp Vân, xóm Thượng, BBT Lá Thư Làng Mai đã có một cuộc trao đổi thân tình với các thành viên được xuất gia tại Làng Mai. Các cây Linden còn lại thì xuất gia trực tuyến tại thiền đường Trời Phương Ngoại, Thái Lan.

cây Linden (cây Đoàn)

Sư chú Trời Bằng Hữu

Ở độ tuổi còn rất trẻ, sư chú đã tiếp xúc được với pháp môn như thế nào?

Tên con là Nhật Nam, mùa Hè này con vừa tròn 18 tuổi. Pháp danh của con là Chân Trời Bằng Hữu. Ngày hôm nay con vừa được xuất gia và con thích cái tên này lắm vì con thấy nó hợp với con. Con lúc nào cũng trân quý tình thương và tình bạn nên đây là một cái tên rất đúng cho con. Con được biết đến Thầy và Làng Mai khi còn nhỏ nhờ thầy Pháp Niệm, thầy Pháp Duệ và gia đình của hai thầy. Con hay đến nhà thầy Pháp Duệ, thường là vào buổi tối, đó cũng là nơi tăng thân thực tập chung với nhau. Lúc ấy con còn nhỏ nên con không thích những buổi đó lắm, bởi vì nó dài lê thê. Mấy người anh em họ của con lúc đó cũng không thích tham gia.

Lớn lên, con không có chút hứng thú nào về đạo Bụt hoặc về Làng Mai hết. Nhưng rồi cũng phải tới một lứa tuổi mà con cần nhìn mọi sự khác đi một chút. Đối với con, điều quan trọng không phải là việc mình làm trong đời mà là chất lượng của cuộc sống. Chất lượng của cuộc sống có nghĩa là mình sống như thế nào và sống ở đâu. Con nhớ hồi con còn nhỏ, lâu lâu con đến Bích Nham gặp các thầy, các sư cô. Con hay thắc mắc: “Chà, không biết làm thế nào mà các thầy, các sư cô hạnh phúc đến thế?” Họ sống đơn giản lắm. Con nhớ có một lần khi vào khu tăng xá của quý thầy, con thấy rất nhiều thầy sống chung trong một phòng. Thật là một cú sốc cho con.

Lần đầu tiên con gặp Thầy vào năm 2007, trong chuyến hoằng pháp tại Bích Nham. Khi đó con đâu hiểu gì về những lời dạy của Thầy. Lần đó ba mẹ con ở lại Bích Nham không lâu nên không đăng ký cho con tham gia chương trình dành cho trẻ em, vì vậy con bị ngồi trong thiền đường để nghe pháp thoại. Con chẳng hiểu gì hết. Sau đó, con có cơ hội nói chuyện với thầy Pháp Chiếu. Thầy kể là thầy đã lớn lên trong lòng tăng thân như thế nào, những bước mà thầy đã đi qua để trở thành như hôm nay, bởi thầy cũng xuất gia lúc tuổi còn rất trẻ.

Tuần đó ở Bích Nham có lễ tụng Năm giới. Thầy Pháp Chiếu bảo rằng Năm giới là con đường dẫn đến hạnh phúc. Con đọc giới bản và tự nhủ: “Đúng rồi! Cái này rất đặc biệt.” Lần ấy, con thọ Năm giới nhưng không thật sự áp dụng Năm giới vào sự thực tập, mãi đến khi con sang Làng Mai con mới áp dụng. Trước đó con không biết mình muốn làm gì, con không lấy đó làm phiền nhưng ba mẹ con thì lại thấy phiền.

Khi đi học, vì tuổi còn trẻ nên con đã bị buộc phải quyết định cái mình muốn làm, con thấy mình bị kẹt cứng. Con phải quyết định thật nhanh vì đó là năm cuối của Trung học. Suốt những năm Trung học, con cứ đậu vài môn, rớt vài môn và năm sau phải học lại các môn đã rớt. Cho đến một lúc, con bỗng giật mình: “Mình đang làm gì vậy?” Con thấy mình đang tự làm khổ mình một cách không cần thiết. Trong thời gian đó có rất nhiều việc xảy ra. Chúng con vừa thắng giải bóng đá giữa các trường Trung học. Cả nhóm bạn bè con cùng kéo nhau đi tiệc tùng để ăn mừng. Sau khi ra về, con cảm thấy thật ghê sợ. Con không bao giờ muốn tham gia những cái đó nữa. Chỉ nội trong tuần đó, con đã thay đổi rất nhiều bởi con không muốn giống như tụi bạn nữa. Con không muốn nói năng, hành xử như xưa nữa.

Thấy con thay đổi như thế, mấy đứa mà con nghĩ là bạn bè, tụi nó không thể chấp nhận con được nữa. Chúng nó không thể chịu nổi khi con không đi chơi và uống rượu trong đêm liên hoan trường. Từ giây phút ấy trở đi, con biết đó không phải là nơi con muốn sống. Đó không phải là cái mà con tìm kiếm. Thật tình cờ là lúc ấy thầy Pháp Niệm và thầy Pháp Duệ về nhà để làm giấy tờ, con đi tham dự một khóa tu và gặp hai thầy ở đó. Hai thầy hỏi con có muốn đi Làng Mai không? Con không thể quyết định được ngay lúc đó. Con biết đi Làng Mai rất lợi lạc nhưng đồng nghĩa với việc con phải mất mát một cái gì đó. Con phải buông bỏ một cái gì đó mà con chưa sẵn sàng.

Một tuần sau đó, hai thầy xin được chiếu khán (Visa) nên bảo con phải đi đến một quyết định. Con phải ngồi lại và viết xuống những điểm nên hay không nên của cả hai sự lựa chọn. Con thấy hạnh phúc mỗi khi đến Bích Nham gặp gỡ các thầy, các sư cô cùng các bạn thiền sinh. Vì thế con quyết định đi Làng Mai để thử xem sao. Khi con đến nơi, cái gì cũng khác. Khi ở nhà, con chỉ ở chung phòng với anh trai. Trong khi ở đây con phải ở chung với 6 người nữa, toàn là những người lớn hơn con rất nhiều, lại phải dùng chung một phòng tắm. Thật là khó nhưng con đã học cách chấp nhận. Khả năng chấp nhận này có lẽ đã được huân tập vì con là con thứ trong gia đình. Con dễ tính phần nhiều cũng nhờ vào việc mình là con giữa, cái gì anh hoặc em con không thích thì nó được truyền xuống cho con. Nơi đây chính là nơi bấy lâu con tìm kiếm.

Sư chú Trời Bằng HữuCon đã nhận được rất nhiều sự nâng đỡ từ quý thầy, quý sư cô và các bạn thiền sinh ở đây, có khi họ phải vượt ra khỏi luật lệ thông thường để giúp con. Bao giờ tình yêu cuộc sống cũng có trong con. Khi còn tập sự để xuất gia, có lần con đọc một quyển sách mà ở trang đầu có bài kệ thức dậy vào buổi sáng. Đó là bài kệ yêu thích nhất của con, nó nhắc con mỉm cười ngay khi thức dậy. Tình yêu cuộc sống và tình huynh đệ là lý do con có mặt ở đây. Nếu con lắng nghe các sư anh thì mỗi người đều có một câu chuyện tuyệt vời để kể, tất cả tùy thuộc vào cách diễn dịch của con. Chỉ cần chịu khó lắng nghe thôi, con đã hạnh phúc hơn rất nhiều rồi. Đó là cái mà con thật sự muốn làm. Bản thân con cũng thế, cũng có rất nhiều chuyện để kể. Đó là cái thấy về cuộc sống của con ở Làng ngay thời điểm hiện tại.

Sư chú là một người tu trẻ, có thể là người trẻ nhất được xuất gia tại Làng hiện nay. Khi đến Làng Mai, sư chú phải bỏ lại phía sau tất cả những trò giải trí vui thích, thí dụ như lên net để chơi game, lên facebook, tham gia các tiệc tùng v.v… Vậy thì cái gì làm sư chú vui khi là một người tu trẻ sống trong một môi trường không có những trò chơi điện tử và những kỹ thuật hiện đại?

Ở Làng Mai con thực sự không thấy khó lắm. Phần đông các thầy đều còn rất trẻ, chỉ trên độ tuổi hai mươi. Con chưa có cơ hội để hiểu rõ quý thầy lắm. Con kết nối với quý thầy chủ yếu là nhờ chơi chung với nhau, thường là chơi bóng rổ. Ở Làng, con chơi bóng rổ với các thầy trẻ như thầy Pháp Hữu và thầy Pháp Triển. Con rất vui khi phát hiện ra là quý thầy cũng giống như con, cũng thích chơi, cũng là những chú bé, chỉ khác con về trang phục, về cách đi đứng, nói năng mà thôi.

Thành ra sống ở Làng đối với con cũng khá dễ dàng. Hiện tại, con thấy phần lớn những thiền sinh sống dài hạn tại Làng đều ở độ tuổi hai mươi hoặc ba mươi. Năng lượng trẻ trung và thân thiện của các thầy, các sư cô ở đây rất dễ nhận thấy. Các thầy rất tha thứ, bao dung. Ở đây không bao giờ con bị bắt phải quỳ hương. Khi con làm điều gì không đúng, bao giờ các thầy cũng nói đó là do quý thầy và lẽ ra quý thầy phải hướng dẫn con cặn kẽ hơn.

Lúc ban đầu, mọi việc đối với con không khó khăn nhưng cũng không phải dễ dàng. Khi mới đến, con có ba cái điện thoại di động và một thiết bị đọc sách điện tử. Lúc nào con cũng bấm tin nhắn gởi đi khắp nơi. Đi đâu con cũng thủ một cái di động trong tay. Thói quen của con lúc ấy là phải có cái gì đó trong tay. Con cố thay đổi tập khí bằng cách đọc sách điện tử nên lại kè theo máy đọc sách. Dù không phải lúc nào con cũng đọc sách, nhưng lúc nào trong tay cũng phải có cái máy đó. Đó là tập khí luôn luôn phải có một cái gì đó trong tay để bấm. Khi con thân với quý thầy hơn, con cảm thấy mình không cần nó nữa. Nếu con thấy cô đơn hay cần giúp đỡ, con có 70 thầy để chuyện trò. Con không thấy có nhu cầu lên mạng để nói chuyện với bạn bè nữa. Trong khóa An cư kiết Đông 2013-2014 năm nay, việc không lên mạng đối với con không quá khó khăn. Con chỉ lên mạng để liên lạc với ba mẹ khi cần mà thôi. Thầy nói là bao giờ mình cũng có nhu yếu tìm kiếm một đường ra. Vì vậy khi không có một chọn lựa nào thì mình phải đi tìm. Con biết đủ với những gì mình đang có ở đây, con không đi tìm kiếm những gì không cần thiết nữa.

Chắc chắn là Sư Út đang tận hưởng việc mình là một Sư Út trong gia đình áo nâu. Phải tận hưởng bởi vì không biết lúc nào sẽ có lễ xuất gia kế tiếp. Cảm ơn Sư Út đã chia sẻ rất hay và sự tươi mát, thật lòng của Sư Út.

Sư chú Trời Nguyện Lực

Xin hỏi nhân duyên nào đã đưa sư chú đến với pháp môn Làng Mai?

Con 33 tuổi, tháng sau con lên 34 tuổi. Con sinh ra ở Thái Lan, một đất nước theo truyền thống đạo Bụt Nam tông. Lớn lên trong một nền văn hóa Phật giáo, con đã được học giáo lý từ hồi còn thơ ấu trong trường học. Tuy nhiên, mãi đến khi lên Đại học con mới có cơ hội nghe pháp thoại bằng tiếng Anh của một vị khất sĩ Nam tông và bắt đầu có hứng thú. Bài pháp thoại đó rất phù hợp với hoàn cảnh của con, bởi vì lúc ấy con đang có những khổ đau trong tự thân và trong gia đình.

Sau khi tốt nghiệp Đại học, con vẫn tiếp tục tìm kiếm cái mình muốn làm, tuy con bắt đầu làm việc cho một cơ quan bất vụ lợi chuyên về môi trường. Làm việc cho cơ quan bất vụ lợi này con rất thích. Có lẽ vì sẵn có hạt giống phụng sự nên khi còn ở Đại học, con đã rất tích cực làm từ thiện. Vì thích làm những việc có ích cho xã hội nên con đã tham gia biểu tình chính trị… Khi giúp người khác được hạnh phúc hơn, con cảm thấy rất mãn ý.

sư chú Nguyện LựcTrong khoảng thời gian này, con có rất nhiều khó khăn trong lòng và ở nhà nên con đã cố gắng thực tập khi có thể. Dù rất thích làm việc tại cơ quan bất vụ lợi ấy nhưng con có rất nhiều căng thẳng vì toàn bộ thời gian làm việc được dành cho các chiến dịch vận động. Con tiếp xúc thường xuyên với xung đột và bất công nên càng ngày càng có nhiều giận dữ. Con đã có cơ hội đi thăm rất nhiều nạn nhân của sự ô nhiễm môi trường, đồng thời con cũng đã có dịp nói chuyện với những kẻ đã làm môi trường ô nhiễm. Con thấy họ quá vô minh. Con thương những nạn nhân nhưng đồng thời rất giận những người đã gây ô nhiễm.

Con đã cố gắng thực tập nhưng lại không biết cách nhìn sâu để hiểu được những người gây ô nhiễm môi trường, và cái giận của con càng ngày càng lớn, thêm vào đó là sự căng thẳng trong công việc. Cơ quan con thì bảo thủ và vì bản chất công việc nên thường hay có xung đột với các cơ quan khác. Vì thế khổ đau và căng thẳng trong con càng ngày càng lớn đến một mức độ đã có những ảnh hưởng đến sức khỏe của con. Quan hệ giữa con và gia đình lại không tốt lắm trong thời điểm ấy. Con thấy trong khi mình giúp cho xã hội làm những việc tốt cho môi trường, nhưng chính gia đình mình chịu nhiều đau khổ, mình lại không có khả năng giúp họ.

Lúc ấy con chưa biết Làng Mai dù con đang thực tập Phật pháp theo cách riêng của mình. Con xin nghỉ việc và đi tu năm tháng trong một ngôi chùa Nam tông ở Thái Lan để chăm sóc tự thân. Khi đó con hay khỏa lấp cơn giận trong mình bằng công việc. Con định là trước tiên sẽ chăm sóc cho mình, kế đó là giúp đỡ gia đình rồi sau đó mới giúp cho xã hội.

Sau năm tháng làm người xuất gia, con tiếp tục học thêm về năng lượng tái tạo, một phương cách tích cực đối trị với sự thay đổi khí hậu toàn cầu. Con nghĩ con sẽ có ít mâu thuẫn hơn. Trong hai năm làm việc cho một cơ quan khác, con đã tiếp xúc với đau khổ của bạn đồng nghiệp, dù cho mọi người đang làm việc trong một lĩnh vực được cho là tích cực. Con tiếp xúc với sự ích kỷ, ganh ghét, mâu thuẫn… Con bắt đầu nhận ra rằng khổ đau thường phát sinh từ các nguyên nhân nội tại.

Trong khoảng thời gian này, con được một người bạn giới thiệu pháp môn Làng Mai qua quyển sách “Thương Yêu Theo Phương Pháp Bụt Dạy” của Thầy được dịch ra tiếng Thái. Đó là một quyển sách rất hay, nhưng chỉ đến khi Thầy sang Thái Lan và cho pháp thoại công cộng vào tháng 10 năm 2010 con mới có một mối liên hệ thật sự với Làng.

Âm thanh tại buổi pháp thoại công cộng ấy rất tệ, con nghe Thầy được rất ít nhưng sự có mặt của Thầy và tăng thân cùng với bài tụng danh hiệu đức Quán Thế Âm đã làm con nổi da gà khắp người. Con thấy có lẽ đây là sự bắt đầu của một cái gì đó cho tương lai của mình.

Từ đó con bắt đầu đi dự các khóa tu và các sinh hoạt khác trong chuyến hoằng pháp của Thầy ở Thái Lan và trở thành một tình nguyện viên tích cực. Cái mà con đi tìm đã được tìm thấy trong giáo lý của Làng Mai. Nó đáp ứng một cách hoàn hảo tâm nguyện giúp đời của con trong khi chưa giúp được bản thân và gia đình. Nó đáp ứng hoàn hảo đến mức con đã đến Pakchong rất nhiều lần để tu tập với tăng thân ở đó. Sau khi chấm dứt hợp đồng làm việc hai năm với cơ quan, con được tự do. Con thấy mình có hạt giống xuất sĩ nằm sâu ở bên trong. Nó chỉ chờ đủ duyên để biểu hiện. Khi con gặp sư cô Linh Nghiêm, sư cô khuyên con nên sang Làng Mai để dự khóa An cư mùa Đông 2011-2012. Mục đích đầu tiên chính của con là phải làm hòa với mẹ, kế đến là tìm hiểu xem Làng Mai như thế nào và con có thực sự muốn đi tu hay không.

Vào cuối khóa An cư kiết Đông, con đã rất chắc chắn rồi nhưng vẫn chưa làm quyết định ngay lúc ấy. Con trở về nhà trước, và tự nhiên con nhìn thấy chí nguyện của mình rất rõ ràng. Con nói cho ba mẹ biết ý định đó và hai người rất buồn lòng. Con chờ một thời gian để từ từ giới thiệu cho ba mẹ làm quen với pháp môn. Cuối cùng ba mẹ con nói dù họ không hoàn toàn ủng hộ con nhưng cũng không ngăn cản. Như vậy đã là quá tốt. Thế là con nộp đơn xin Visa để đi Làng. Tuy vậy con cũng phải chờ đến sáu tháng sau mới hoàn tất được giấy tờ.

Thái Lan là một nước có gốc rễ từ đạo Bụt Nam tông. Sáng nay trong pháp thoại Thầy nói rằng là Phật tử, chúng ta nên làm mới lại đạo Bụt để giáo lý đạo Bụt có thể phù hợp với con người ở thời hiện đại. Sư chú nghĩ thế nào về vấn đề này?

Con không muốn thiên vị Làng Mai nhưng con hoàn toàn đồng ý với Thầy, không chỉ bằng cảm tính mà bằng kinh nghiệm con đã đi qua trong các khóa tu Wake Up. Con thấy rất nhiều người trẻ đã tham gia. Họ rất thích vì chúng ta đã mang đến cho họ rất nhiều niềm vui.

Sư chú có nói là ba mẹ không hoàn toàn yểm trợ quyết định đi xuất gia của sư chú nhưng hôm nay hai vị đã cùng với một vài người bạn Thái đến dự lễ xuất gia của sư chú. Sư chú có cảm nghĩ như thế nào?

Con rất hạnh phúc bởi vì một phần nguyện ước của con là mang lại hạnh phúc thật sự cho ba mẹ. Nhìn thấy ba mẹ ở đây, thấy họ cười tươi, hạnh phúc, con vui lắm vì con nghĩ điều ấy sẽ không bao giờ có thể xảy ra. Khi Thầy đến Thái Lan, mẹ và em gái con có đi nghe pháp thoại công cộng. Dù cho mẹ con không hiểu gì hết, mấy người bạn cho con biết là họ đã gặp mẹ con và thấy bà cười rất tươi. Nghe vậy con rất mừng dù con biết rằng đó chỉ mới là bước đầu thôi. Con tin rằng điều duy nhất có thể mang lại hạnh phúc thật sự cho ba mẹ con là sự chuyển hóa của con mà không phải là sự thuyết phục bằng lời.

Sư em Trăng Diệu Viên

Điều gì làm sư em ấn tượng và bỡ ngỡ nhất từ khi em gia nhập vào gia đình áo nâu?

Có lẽ điều làm con bất ngờ nhất sau khi xuất gia là sự biến chuyển của tâm thức mình. Sau khi được xuống tóc, con thấy rất nhiều nhận thức trong con trở nên sáng tỏ ra. Con thấy mình, cũng như con đường mình đã chọn rõ hơn. Con đã luôn tìm kiếm con đường sống để có một cuộc sống ý nghĩa, an lạc và thảnh thơi. Nhờ ơn Bụt, ơn Thầy, con đã thấy đường đi.

Con còn một niềm hạnh phúc nữa, đó là vào ngày xuất gia và những ngày sau đó, con nhận được rất nhiều quà và những lời chúc mừng từ mọi người. Con nhận được bao nhiêu là niềm vui, nụ cười và cả những giọt nước mắt từ quý sư cô, sư thầy cũng như từ rất nhiều cư sĩ ở Làng hay ở tăng thân Paris nơi con sinh hoạt trước đây. Con hạnh phúc và thật sự ngỡ ngàng khi được thấy tận mắt và cảm nhận sự kiện một người xuất gia, nguyện đi theo con đường Hiểu và Thương đã có thể tạo cảm hứng, sự xúc động sâu sắc và niềm vui lớn như thế nào tới những người xung quanh. Sự nhiệm mầu của giáo pháp đã đánh thức một cách tự nhiên niềm khát vọng sâu xa hướng tới những gì đẹp và chân thật ở mỗi người. Con hiểu ra rằng bước đi trên con đường này, con đang thực hiện ước mơ của mình và cả ước mơ của nhiều người khác. Con xúc động lắm và biết rằng chỉ cần nghĩ đến điều này thôi, con sẽ có thêm nhiều động lực để vững bước.

Con tin là con sẽ có nhiều điều lí thú và có thể là cả những điều bất ngờ đang chờ con trong những ngày tới. Con mới tìm về với gia đình mình, tăng thân mình thôi mà. Tăng thân đón con vào để con hòa mình vào tăng thân. Con là một với tăng thân. Mắt con mở to, chân bước chầm chậm, lòng con hân hoan và bàn tay con đón nhận tất cả.

Sư chú Trời Linh Quang

Sư chú là một trong những người tập sự xuất gia của Tu viện Bích Nham đã may mắn được theo Thầy và tăng đoàn trong chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ. Xin sư chú chia sẻ một chút về kinh nghiệm đó. Nó có giúp cho sư chú thấy rõ hơn về cuộc đời phụng sự của một vị xuất sĩ hay không và cái gì đã làm cho sư chú phát nguyện đi trên con đường này?

Tên con là John Galloway. Con sinh ra và lớn lên ở Georgia, ngoại ô Augusta. Năm nay con 28 tuổi. Chuyến hoằng pháp là một trải nghiệm đáng kinh ngạc của con bởi vì con có cơ hội thấy được như thế nào là cuộc sống của người xuất sĩ.

Khi sống trong tu viện, mình tổ chức khóa tu và phụng sự, mình tiếp xúc với cuộc sống. Nhưng khi tăng đoàn đi hoằng pháp thì cường độ rất khác, khi đó mình đi khắp nước Mỹ và có thể thật sự tiếp xúc với những người đến từ mọi hoàn cảnh khác nhau. Nhờ pháp môn thực tập mà bao nhiêu cuộc đời đã được thay đổi. Con thật sự sốc khi nhận ra biết bao điều mà tăng thân đã làm được. Những điều này đã được con trình bày trong thư xin xuất gia. Ý muốn xuất gia của con đã nảy sinh trong chuyến hoằng pháp ấy.

Sư chú Trời Linh QuangTrong chuyến đi đó, có một lần con trao đổi về chí nguyện xuất gia của mình với một thầy. Thầy kể rằng có một phụ nữ cùng gia đình pháp đàm với thầy, sau buổi pháp đàm, cô ấy đến gặp thầy và nói: “Con có biết thầy.” Thầy hơi sửng sốt một chút, không nhớ ra cô ấy là ai. Cô nói: “Hai năm trước con có dự một khóa tu ở Bích Nham. Trong một buổi thiền hướng dẫn sáng, thầy đã cho thực tập quán chiếu Cha tôi là một em bé 5 tuổi (Xem Sen Búp Từng Cánh Hé – bài tập Em bé 5 tuổi bị thương). Con rất không thích bài thực tập ấy vì ngay lúc đó con không thể làm được. Tuy không thích nhưng từ đó trở đi con tiếp tục thực tập bài thiền hướng dẫn này…” Sau một năm thực tập, cuối cùng cô ấy đã hòa giải và nối lại thâm tình với cha cô, người đã hành xử thô bạo khi cô còn bé. Chỉ vài tháng sau đó, cha cô mất. Cô đã bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với thầy vì thầy đã hướng dẫn bài thực tập ấy để cô có cơ hội thiết lập lại mối quan hệ cha con không lâu trước khi ông qua đời. Thầy nhìn con, lúc ấy chúng con ngồi bên đài Quan Âm tại Tu viện Mộc Lan, thầy nói thầy đâu biết người phụ nữ ấy là ai, thầy cũng không bao giờ biết được rằng thầy đã ảnh hưởng đến cuộc đời của cô ấy như thế nào, trong hình thức này hay hình thức khác. Nếu thầy đã không biết về cô ấy, thì còn có bao nhiêu cuộc đời khác đã được đánh động như thế mà thầy không biết? Thầy đâu có làm gì khác hơn ngoài việc thực hiện những gì mà một người tu được dạy phải làm, đó là chia sẻ thiền hướng dẫn trong buổi ngồi thiền sáng.

Đó là một việc làm cỏn con, mình không bao giờ nghĩ sẽ đem lại sự thay đổi trong cuộc đời của một người, sự thay đổi đó làm họ hoàn toàn chuyển hóa. Con không bao giờ quên câu chuyện đó. Mong rằng con sẽ không bao giờ quên nó trong suốt cuộc đời tu của mình. Nó giống như là một cây đinh đã đóng cột.

Sư chú có thể chia sẻ một kinh nghiệm đẹp và đáng nhớ nhất trong chuyến hoằng pháp ấy không?

Tại Lộc Uyển, có một hôm đi thiền hành con cảm thấy rất uể oải. Đêm trước con ngủ không ngon lắm. Chuyến hoằng pháp thật vất vả, các huynh đệ của con không có ai ngủ ngon hết. Con có nhiều đau nhức trong thân nên không muốn ra khỏi giường. Nhưng rồi con bắt mình phải dậy ngồi thiền và đi thiền hành.

Trong lúc đi thiền hành, mọi người đi ngang qua khu cắm trại và suýt tí nữa con đã trốn về lều. Con nói “không” và bắt mình phải tiếp tục đi. Khi đi lên đến đỉnh đồi, nơi có tượng Bụt, mọi người đứng nhìn bao quát xuống thung lũng bên kia. Buổi sáng hôm ấy, sương mù dày đặc đến nỗi không thể nhìn xuyên qua được. Đứng đó mình có thể nhìn thấy sương mù dần dần tiến tới, phủ trùm lên mọi vật. Con nhìn thấy cây cối, các căn lều… có những cái đã bị chìm trong sương. Con thấy rất rõ ràng nhưng rồi đột nhiên mọi thứ đều bị sương mù dần dần tràn lên, phủ kín, không còn thấy gì nữa. Đó là một cảnh tượng đẹp nhưng đồng thời cũng làm con liên tưởng phần nào đến cuộc đời. Chúng ta phải luôn nhớ rằng có những lúc trong đời, mọi sự có vẻ như mù mịt, nhưng rồi nó sẽ qua đi. Hạnh phúc hay ánh sáng có thể bị một cái gì đó làm lu mờ nhưng không bao giờ chúng thật sự mất đi. Chúng chỉ bị che lấp đi thôi. Bóng tối phủ trùm nhưng màn đêm cuối cùng sẽ được vén lên. Trong lúc mọi người đứng đó quan sát, sương mù tiếp tục kéo ngang qua, nhưng ngay khi ánh sáng mặt trời ló dạng, màn sương đã dần tan.

Sư chú Trời Hy Mã

Xin sư chú giới thiệu một chút về mình và những duyên nào đã đưa sư chú đến với Thầy?

Tên con là Trời Hy Mã, người Tây Ban Nha. Lần đầu tiên con biết đến Thầy là vào khoảng hai năm trước đây qua quyển sách “Thương Yêu Theo Phương Pháp Bụt Dạy” (Teaching on Love). Trước khi đọc quyển sách ấy, con đã bắt đầu thực tập đạo Bụt sau khi tham gia một khóa tu thiền Minh Sát mười ngày. Vào ngày thứ hai của khóa tu thiền, con có ý định xuất gia. Con đã bỏ ra một năm ở châu Á để thực tập và sau đó trở lại Tây Ban Nha với mong ước được chia sẻ giáo pháp với nhiều người khác. Con đã gặp rất nhiều bậc thầy, nhưng giáo pháp của họ không gần gũi lắm với mọi người. Tâm con khi ấy còn rất hạn hẹp và con đã nhận ra điều ấy.

Con đã gặp gỡ rất nhiều người biết đạo. Ai cũng biết thực tập, nhưng ước mơ của con là xây dựng nên một cộng đồng trong đó con có thể chia sẻ giáo pháp một cách hiện đại hơn. Con nghĩ như thế bởi khi ấy con chưa biết gì về Làng Mai.

Thực tế thì con bị kẹt trong truyền thống mà con đã thực tập bởi vì con không biết cách bày tỏ lòng mình và cảm thọ của mình. Vì thế con đã đi tìm một quyển sách dạy về cách phát triển lòng từ bi. Sau khi đọc quyển sách của Thầy xong, con nhận ra rằng mình có rất nhiều cảm xúc và khổ đau trong lòng đã quá lâu không thể bày tỏ được. Trong quyển sách ấy, Thầy dạy con khả năng nhận diện và bày tỏ cảm thọ trong cách sống của con. Cho đến khi con tìm ra Làng thì con biết đây đúng là cộng đồng mà mình đang tìm kiếm. Con cũng biết là con không thể xây dựng cộng đồng đó một mình được. Sau đó, con lên mạng để tìm hiểu về tăng thân của Làng Mai mà Thầy đã nhắc đến rất nhiều trong quyển sách.

Con nhớ cái giây phút đầu tiên được nghe giọng nói của Thầy thật sâu sắc. Con không nhớ Thầy đã nói gì, con chỉ biết khóc khi nghe Thầy nói. Giọng nói của Thầy rất từ bi dù chỉ qua một vài lời mở đầu trong bài pháp thoại. Đó chính là khoảnh khắc làm lòng con mở rộng. Sau đó con muốn đi Làng để xuất gia. Con thích nhất điều Thầy nói về cuộc sống của người tu, một cuộc sống đơn giản chỉ với những nhu cầu tối thiểu. Con thuộc thành phần trung lưu trong xã hội, có thể làm ra tiền để đáp ứng tất cả các nhu cầu mà con muốn. Tuy thế, chưa bao giờ con cảm thấy thực sự được thỏa mãn. Sau khi đọc quyển sách đó và nghe bài pháp thoại của Thầy, con quyết định đi Làng Mai và thử sống cuộc đời xuất sĩ ít nhất là 5 năm, bởi vì con không chắc là mình có thể phù hợp với cuộc sống trong tu viện trọn đời hay không.

Trong con có quá nhiều khổ đau, tuy nhiên bên cạnh đó cũng có một vài niềm vui và hạnh phúc. Đó là những gì con cần trong cuộc sống, nhất là tình huynh đệ. Ba mẹ con đã ly dị khi con mới lên năm. Trái tim con tan nát, và do đó khi con tìm ra giáo pháp, con đồng thời cũng tìm ra cho mình câu trả lời. Con luôn luôn đi tìm cho mình một gia đình thật sự, một tình thương chân thật, và con đã tìm ra được những cái đó ở đây. Vì thế con đã thôi thúc mình đến Làng Mai. Thật quý giá biết bao khi con tìm được giáo pháp và có cơ hội tham gia vào tăng đoàn xuất sĩ trong 5 năm. Con muốn trở thành tấm gương cho những người xuất sĩ và cả cho các bạn thiền sinh.

Sư em Trăng Ưu Bát

Sư em Trăng Ưu BátSư em có thể giới thiệu một chút về mình và chia sẻ nhân duyên nào giúp sư em tiếp xúc được với pháp môn tu học Làng Mai?

Con đi học cấp ba với suy nghĩ rằng trong cuộc sống có cái gì đó ý nghĩa hơn ngoài chuyện kiếm một việc làm, lập gia đình rồi có con cái và một căn nhà. Nhưng con không tìm được cái đó ở nơi con đang lớn lên. Lúc con được 16 tuổi, con đã học một lớp về tôn giáo và triết học. Cả lớp con xem một bộ phim tài liệu về một sư cô theo truyền thống đạo Bụt đến từ Sydney. Lúc đó con có cảm tưởng đó là điều con cũng nên làm. Trong tất cả những gì con được học, triết học Phật giáo đánh động tới con nhiều nhất nhưng lúc đó không có một trung tâm Phật giáo hay ngôi chùa nào gần nhà con.

Sau khi học xong cấp ba, con chưa biết mình muốn học ngành gì ở trường Đại học cho nên con đã đăng ký vào một chương trình trao đổi (exchange program) sang Nhật Bản để sống trong một quốc gia Phật giáo. Ở Nhật Bản, con đã thấy rằng dân tộc của họ tuy không học đạo Bụt nhưng sống qua cách hiểu về chính mình và những người xung quanh.

Lúc đó con khá mắc cỡ bởi con là người nước ngoài duy nhất nơi thành phố con ở và những đứa con nít thường chỉ tay về phía con để nói “Gaijin, gaijin” (tiếng Nhật nghĩa là “người nước ngoài”). Nhưng con đã học từ chuyện này là nếu con có thể ngẩng cao đầu và mỉm cười được với họ thì họ sẽ mỉm cười lại với con. Từ xưa tới nay, điều mà con thực tập đó là mỉm cười với người khác để cho phép con và họ cảm thấy thoải mái.

Là người nước ngoài, con đã trở về lại Úc để học và làm tình nguyện viên với các đồng bào tị nạn và những người di trú. Điều đó đã giúp con đến được nhiều nơi trên thế giới và gặp được nhiều người tuyệt vời. Con rất may mắn được gặp những người bạn tâm linh, họ đã giới thiệu cho con về những pháp môn thiền tập mà con có thể mang theo bất cứ nơi đâu.

Trong suốt ba năm, con đã tình nguyện làm việc với những người trẻ Palestinian và những phụ nữ người Lebanon với tấm lòng muốn giúp họ thay đổi hoàn cảnh. Nhưng với khả năng và sự cố gắng của mình, con vẫn không cải thiện được bao nhiêu so với những trở ngại mà họ phải đối diện như không có một quê hương, không được cấp hộ chiếu để đi du lịch, không được những người Leban chấp nhận, chưa kể đến một số danh sách dài nói về những khó khăn của họ… Mặc dù gặp phải những khó khăn như thế nhưng con thấy họ là những người hạnh phúc nhất mà con được gặp. Họ nấu ăn và cùng ăn cơm chung, cùng nhảy, cùng hát và tận hưởng những gì tốt đẹp nhất mỗi ngày. Con đã rời nước Lebanon với cái suy nghĩ rằng nếu con muốn hiến tặng gì đó cho thế giới thì đó chính là cách con có thể sống hạnh phúc trước mọi hoàn cảnh khó khăn.

Biết được yoga và thiền tập đã giúp ích cho đời sống của mình nên con bắt đầu rèn luyện để trở thành một giáo viên yoga. Sau đó con đến sống ở một ashram (một tu viện của người Ấn Độ). Tại đây con may mắn được giới thiệu về pháp môn Làng Mai. Con nhận thấy rằng tất cả những niềm vui con có từ pháp môn thực tập là điều mà con muốn gieo trồng và chia sẻ với người khác. Cho đến khi con tới Làng Mai, con cảm thấy mình đã tìm ra được con đường mà mình muốn đi.

Sống trong một tập thể không phải khi nào cũng dễ dàng đối với con. Những lúc gặp khó khăn, con nhìn lại để thấy được mình đã yêu thương cuộc sống tập thể như thế nào, đó là đời sống của con, là nơi chúng con thực tập các sinh hoạt hằng ngày. Con đang được nằm trong lòng trung tâm của giáo pháp.

Xuất thân từ Úc và xuất gia ở châu Âu là một thử thách đối với gia đình của con, vì phần đông gia đình con chưa có dịp để qua Làng và tiếp xúc với pháp môn. Chính vì vậy nên gia đình rất khó để hiểu con đường mà con đang đi. Sau khi xuất gia con có một ước mơ là gia đình và con có thể hiểu nhau hơn, tuy giữa con và gia đình dù sống cách xa nhau, và cánh cửa của sự chia sẻ đã được mở ra.

Con thấy mọi điều kiện ở đây đều là cơ hội cho con thực tập. Con hy vọng có thể sử dụng những cơ hội để một ngày nào đó có thể phục vụ cho nước Úc và giới thiệu cho những người trẻ ở Úc, đặc biệt là những người cháu của con về pháp môn thực tập. Con có thể chỉ cho họ một cách khác để hướng về cuộc sống. Có người nói khi mình đi xuất gia mình phải hy sinh, lìa bỏ gia đình của mình nhưng trong trường hợp của con, con cảm thấy nó là cơ hội để giúp con gắn bó với gia đình nhiều hơn. Tình thương của con dành cho gia đình là một trong những động lực lớn nhất để con thực tập.

Hành trình về Đất Thánh

Chân Trời Ngộ Không

(Các khóa tu tại Israel và Palestine – Chuyển ngữ từ tiếng Anh)

Có lần Thầy đã nói rằng: “Đức Chúa (Jesus) là đức Bụt của phương Tây.” Giấc mơ của con đã thành sự thật khi con được tháp tùng với một nhóm ba thầy và hai sư cô đi mở khóa tu ở Israel và Palestine. Con, pháp tự là Chân Trời Ngộ Không, là con trai trưởng của một gia đình di dân Cơ Đốc giáo người Croatian, được sanh ra và lớn lên tại nước Đức. Hiện nay con đang là một sa di tu tập tại xóm Thượng, Làng Mai. Trong tổ tiên Croatia của con đã có nhiều vị xuất gia theo Cơ Đốc giáo và con cảm thấy rất may mắn và biết ơn khi được có cơ hội đến viếng thăm vùng đất mà đức Chúa đã sống và dạy mọi người thương và hiểu nhau.

Bây giờ, sau hai ngàn năm, chúng con được mời về để chia sẻ pháp môn chánh niệm và tuệ giác tương tức đến hai quốc gia hiện vẫn còn đang tranh chấp và hai giống dân đã mất niềm tin nơi nhau, đang khổ đau vì hận thù và bạo động. Vào phi trường Paris, chúng con cảm nhận tình trạng này rất rõ. Một buổi phỏng vấn rất dài đã xảy ra với vô số câu hỏi về hành lý của chúng con và về mục đích của chuyến đi, những ai chúng con sẽ thăm và những nơi chúng con dự định đến. Nhiều nhân viên khác nhau đã hỏi những câu hỏi như thế với vẻ mặt nghiêm nghị; nhưng họ đều lập đi lập lại rằng tất cả là vì sự an ninh của chúng con. Tâm trong sáng và hơi thở chánh niệm đã giúp con giữ được nụ cười và sự bình an trong lúc trả lời tất cả các câu hỏi trên cho đến lúc nhân viên an ninh cho phép con gởi hành lý. Lúc ấy cô ta cũng nở một nụ cười trên môi.

Đã Về Đã Tới

israelVề đến Tel Aviv, chúng con được ban tổ chức tiếp đón rất nồng hậu. Khóa tu bắt đầu tại trung tâm Kibbuz, thời nay được sử dụng để tổ chức các khóa tu học và hội thảo. Kibbuz là một cộng đồng người Israel, tự nguyện sống và làm việc chung với nhau. Họ áp dụng chung một phương thức giáo dục, sản xuất và sử dụng chung cơ sở vật chất và bất động sản. Họ có thể đến ở và ra đi bất cứ lúc nào. Khung cảnh ở đây rất xanh tươi, yên tĩnh và rất đặc biệt; cách đây khoảng hai mươi cây số là làng Nazareth, nơi mà đức Chúa đã lớn lên. Gần đây cũng có một sở thú nhỏ với nhiều thú vật địa phương cho các thiếu nhi Kibbuz tìm hiểu, học hỏi và vui chơi.

Năm mươi thiền sinh người Israeli đã hưởng được nhiều lợi lạc từ các pháp môn thực tập căn bản như thiền ngồi, thiền đi, thiền ăn cơm và đã chế tác được năng lượng tập thể rất đẹp. Một trong những điểm nổi bật trong khóa tu là lễ Sabbath, một lễ hội Jewish chú trọng đến việc nghỉ ngơi và tưởng niệm công ơn tạo hóa của Thượng đế với một buổi tiệc, lễ thắp nến và ca nhạc. Chúng con ngồi vòng tròn với nhau trong niềm tương kính, kết hợp hai truyền thống Phật giáo và Do Thái giáo qua việc ca tụng Thượng đế và dùng nước nho thay rượu hồng. Chúng con hát, vỗ tay và cười rất nhiều. Thật là một buổi tối tuyệt vời! Tình huynh đệ được bồi đắp thêm nhờ những buổi pháp thoại đầy lòng từ bi và trí tuệ của các vị Giáo thọ, buổi Làm Mới và các giờ pháp đàm. Những buổi thực tập và sinh hoạt này đã tạo cảm hứng cho các thiền sinh dấn thân thêm vào quá trình hòa giải tranh chấp bằng phương pháp niệm, định và tuệ.

Thở và cười

Hạnh phúc với những hoa trái của khóa tu đầu, chúng con về nhà một người bạn ở Jerusalem để nghỉ ngơi. Jerusalem là một thành phố cổ của Israel và là một trọng điểm tâm linh của các truyền thống Cơ đốc, Do Thái và Hồi giáo. Từ buổi đầu bình minh nhân loại, nơi đây đã mang nhiều màu sắc văn hóa, tập quán, chủng tộc, thời trang, hương vị, âm thanh, ngôn ngữ, tôn giáo và truyền thống. Chúng con có cơ hội đi thăm một phiên chợ ngoài trời, thưởng thức một vài món đặc sản, bánh ngọt và cà phê nổi tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời cũng quan sát những chủ quán bận rộn bày bán các loại gia vị đầy màu sắc, tơ lụa, hoa quả cùng các mặt hàng địa phương. Đôi lần có người hỏi chúng con từ đâu đến. Những chiếc áo tràng của chúng con làm họ ngỡ chúng con là những tu sĩ Cơ đốc hoặc những giáo sĩ Sufi của đạo Hồi, chỉ có những chiếc đầu trọc của chúng con thì hơi khác thường. Khi chúng con trả lời rằng chúng con là những tu sĩ Phật giáo thì họ tỏ ra rất vui mừng. Họ chia sẻ rằng họ có biết về các tu sĩ Phật giáo, những con người rất bình an.

Chúng con được đi tham quan nhiều địa danh lịch sử, như nơi mà đức Chúa đã chết và sống lại, bức tường thành phía Tây, đền thờ vĩ đại Al-Aqsa và những khu phố vô cùng thú vị của thành phố có chiều dài lịch sử bốn ngàn năm này. Jerusalem là một thành phố bị chia đôi. Người Palestinians không được đi qua phía của người Israeli. Nhưng người Israeli, với sự bảo vệ của quân đội, có thể qua phía của người Palestinians, nơi có khu phố cổ nổi tiếng và bức tường thành phía Tây. Bất cứ nơi nào trong thành phố Jerusalem, chúng ta đều thấy sự hiện diện của quân đội Israeli. Những thanh niên, thanh nữ mang súng đi tuần tra, hoặc để bảo vệ những thánh tích, làm chúng con có cảm tưởng là mình đang ở trong vùng chiến tranh. Hồi tưởng lại những hình ảnh của các người khủng bố trên báo chí, con cảm nhận được phần nào nỗi sợ hãi của dân chúng trên đường phố. Bước những bước chân an bình, hiến tặng nụ cười và chế tác tình thương và sự hiểu biết trong những buổi đàm thoại là sự đóng góp của chúng con cho dân chúng và cho thành phố thú vị này.

Tâm bình, thế giới bình

israelJericho là một trong những thành phố cổ nhất thế giới, với chứng tích của những cuộc định cư 9000 năm trước kỷ nguyên. Ở vị trí 250m dưới mực nước biển, Jericho là thành phố thấp nhất thế giới. Vì Jericho ở vị thế trung lập, dân Palestinians và Israeli có thể đến đây mà không phải qua điểm xét duyệt của quân đội. Tại đây, chúng con đã tổ chức một khóa tu với nhiều thử thách nhất chuyến đi. Có sáu mươi thiền sinh trẻ người Israeli và Palestinian, trong số đó có những vị chưa từng giao tiếp với những giống dân khác. Một số các bạn trẻ Palestinian đã từng là những thành viên hoạt động tích cực cho phong trào kháng chiến, chịu trách nhiệm cho những cuộc biểu tình bạo động và những vụ khủng bố bằng bom.

Điều này làm con nhớ lại thời nội chiến tại đất nước con, Croatia trong thập niên 1990. Những người theo đạo Cơ đốc, Hồi và Chính thống từng sống an lành với nhau trong nhiều thập niên, đã đánh, giết nhau và cho đến sau này, không ai tin tưởng ai, ngay cả chính người hàng xóm của mình. Một vài anh em họ hàng của con cũng đã từng tham gia cuộc nội chiến này và gia đình con, cũng như nhiều gia đình khác vẫn còn đang khổ đau vì những vết thương nơi thân và nơi tâm thức do chiến tranh gây ra. Vì vậy con đã ý thức được khổ đau đang hiện hữu trong tâm các bạn trẻ này do sáu mươi năm tranh chấp và nhiều người trong gia đình và bè bạn đã từng là nạn nhân.

Tuy nhiên, các bạn trẻ đến dự khóa tu đều là những người có tâm cởi mở và muốn tìm hiểu xem pháp môn chánh niệm có thể giúp họ cải tiến tình trạng của họ ra sao. Tất cả đều thích các pháp môn căn bản và không bao lâu, đã học ngồi, học đi và học ăn có chánh niệm. Trong các buổi pháp thoại về đề tài tương tức và trong buổi thuyết trình về Năm giới, chúng con đã cống hiến những cái thấy sâu sắc hơn về phương pháp an trú trong giây phút hiện tại để chế tác tình thương, sự bình an và năng lượng từ bi cho tự thân. Trong những buổi pháp đàm, chúng con rất cảm động khi chứng kiến sự khéo léo của các bạn trẻ này khi họ trình bày những điều họ quan tâm và lo lắng mà không đổ lỗi hoặc phán xét người khác. Chúng con cùng nhau bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với cơ hội được ngồi với nhau để chia sẻ ý kiến và tìm cách cùng xây dựng một tương lai an bình. Con thấy được lòng quyết tâm dũng mãnh của họ. Được lắng nghe người trẻ vượt thắng sự sợ hãi trong họ để tìm phương hướng tạo tác hòa bình cho cộng đồng làm con rất sung sướng. Điều này đã tạo cảm hứng cho con với ước muốn trao tặng pháp môn thực tập này đến các bạn trẻ đang khổ đau trên đất nước con.

Khóa tu chấm dứt sau buổi ngồi chơi vui nhộn với nhiều ca khúc, vũ điệu, kể chuyện và đọc thơ của mọi văn hóa hiện diện ở đây. Mọi người trao đổi số điện thoại và điện thư rồi thực tập thiền ôm với nhau. Chúng con rời khóa tu với niềm tin rằng các bạn trẻ sẽ tiếp tục con đường thực tập này với nhau trong an bình.

Với nhau ta là một

Những ngày quán niệm được tổ chức xen kẻ các khóa tu tại nhiều thành phố khác nhau của người Israeli và Palestinians. Chúng con di chuyển bằng xe nhỏ hoặc xe buýt và có cơ hội được ngắm nhìn nhiều vẻ đẹp và ân huệ của thiên nhiên ban tặng; từ bờ biển đẹp tuyệt vời về phía Tây đến những cánh đồng xanh ngát và nhiều mưa phía Bắc qua vùng sa mạc hùng vĩ về phía Đông và phía Nam. Nơi đây có biển Chết, một hồ lớn với lượng nước rất mặn, mặn đến nỗi không sinh vật nào sinh sống trong đó được. Duy chỉ có con người thưởng thức được và nhiều người đã đến nằm nổi trên mặt biển từ giờ này qua giờ khác để đọc sách. Mặt biển ở đây thấp hơn mặt biển thông thường đến ba trăm mét cho nên rất khó bị cháy nắng. Thật là mầu nhiệm!

Từ hơn ngàn năm nay, giống dân Do Thái sinh sống ở khắp nơi trên thế giới. Trong ngày quán niệm, chúng con đã gặp được những vị đến từ châu Mỹ, châu Âu, châu Phi, Nga và ngay cả Lào. Họ là một cộng đồng dân cư đa văn hóa nhưng cùng chung một gốc rễ tôn giáo. Dù đến từ nhiều nơi, mọi người đều có chung những nhu yếu rất con người. Chúng con thấy được điều này trong khi giới thiệu những pháp môn thực tập như thiền hướng dẫn, thiền đi, ăn cơm trong chánh niệm, pháp đàm và vấn đáp. Họ theo dõi các buổi chia sẻ rất hết lòng và thường đặt những câu hỏi thích đáng đến việc áp dụng sự thực tập vào những tình huống đặc biệt cũng như vào cuộc sống hàng ngày.

Thật nuôi dưỡng khi được thực tập thiền đi với nhau lúc hoàng hôn ngoài bãi biển với nhóm người đa quốc tịch và đa văn hóa này, hoặc chứng kiến những gương mặt đầy căng thẳng và lo âu từ từ được thư giãn trong những buổi thực tập ăn cơm trong chánh niệm. Thiền buông thư được trình bày một cách sáng tạo và đã là một điểm nổi bật về kinh nghiệm quán thân trong thân cho nhiều người. Cuối mỗi buổi thiền tập, thiền sinh thường đến cảm tạ chúng con đã cống hiến cho họ những phương pháp đơn giản và thực tiễn để cải tiến phẩm chất cuộc sống của họ.

Không có gì phải làm, không nơi nào phải đi

Trong những ngày cuối của chuyến đi, các vị trong ban tổ chức đã mời chúng con đi tham quan thêm nhiều nơi trên đất nước họ. Chúng con đã được dùng trưa với một gia đình Beduin trong một căn lều ngoài sa mạc, gặp mặt những tác viên xã hội người Palestinian và Israeli và nằm phơi mình trên biển Chết. Chúng con cũng đã thưởng thức thêm cà phê Thổ, ăn bánh ngọt ở Jerusalem và mua quà tặng các huynh đệ ở nhà. Ngoài ra chúng con đã ngồi chơi và chia sẻ với tăng thân Israeli, thăm viếng thêm những địa điểm lịch sử và thánh tích và thưởng thức tình huynh đệ qua những tách trà.

Đối với con, giấc mơ đã thành hiện thực. Con đã được đi theo dấu chân của đức Chúa, vị Bụt của phương Tây. Thật vậy, con thường tiếp xúc được với năng lượng của Ngài, không phải ở nơi Ngài sinh mà nhiều người đang chen lấn để chụp ảnh, mà chính trong những lúc đi thiền ngoài sa mạc, hoặc ở chân đồi gần làng của Ngài, hay khi quán chiếu một bông hoa đẹp trong trung tâm thành phố Jerusalem.

Tiếp xúc với những người có trái tim nồng ấm nhưng nhiều khổ đau, chật vật với nỗi sợ hãi và lòng mong muốn hạnh phúc và bình an, đã tác động mạnh mẽ đến sự thực tập của con. Con có thể mở lòng để cảm nhận niềm đau của họ, chế tác lòng từ bi chân thật và có mặt cho họ với tất cả con người của con. Con cũng tiếp xúc được với khổ đau của chính con và của tổ tiên con. Nhờ vào năng lượng tập thể, con đã chuyển hóa những khổ đau ấy thành tình thương và sự hiểu biết đã cho con một cái thấy quý báu. Giờ đây, con biết với sự thực tập từ bi của con, con cũng sẽ thực tập cho tất cả chúng sinh và sẽ cố gắng có mặt thật sự trong giây phút hiện tại.