Ước mơ của má, cuộc đời của con

Chân Hoan Nghiêm

Má ơi! Con muốn đi tu.

“Má ơi con muốn đi tu” là khao khát của con từ hồi con còn nhỏ. Má của con kể lại rằng từ lúc mới ba tuổi, con thường  nói với má: “Má ơi! ngày mai mình đi chùa đi.” Má hỏi con: “Đi chùa để làm gì?” Con trả lời: “Mình mua cam, mua nho lên cúng cho Phật và lạy Phật.” Má hỏi con: “Vậy cúng xong có lấy nho về không?” Con trả lời: “Dạ không, để lại cho Phật ăn.” Vậy là ngày mai hai má con cùng đi chùa.

Khi con lớn hơn một chút, má mua cho con một chiếc xe đạp nhỏ. Lúc đó con học lớp hai, đã biết chùa nên con đi theo các ông các bà lên chùa tụng Kinh Pháp Hoa mỗi chiều thứ Bảy và đi sinh hoạt Gia đình Phật tử chiều Chủ nhật. Lúc đó mỗi khi đi chùa con cảm thấy như được về nhà của mình và ở chùa là cuộc sống của mình, chỉ cần lên chùa là con đủ hạnh phúc rồi mặc dù tụng kinh cùng mọi người mà con không hiểu gì cả, vậy mà con cũng không thấy chán.

cuộc đời của conKhi con bắt đầu học lớp sáu, thứ Bảy phải đi học nên con nghỉ đi tụng kinh, chỉ tiếp tục đi sinh hoạt ở chùa ngày Chủ nhật. Đây cũng là thời gian con thay đổi rất nhiều. Học cấp hai thì có bạn nhiều hơn nên con chơi cũng nhiều hơn. Tuy nhiên con vẫn còn hiền lành vì còn là đàn em nhỏ nhất trong trường và còn ham học.

Nhưng khi lên lớp Bảy thì con đã quen trường và các quán bán quà xung quanh nên giờ ra chơi, chúng con thường có mặt ở đó. Giờ học con cũng chú tâm theo dõi bài vở, nhất là những môn sở trường của mình như: toán, hóa, địa… nhưng có những môn học không thích thì lúc đầu con cũng tập trung, nhưng không hiểu sao từ từ con thấy chán và theo bạn bè bỏ tiết ra ngoài chơi.

Lúc đầu cũng chỉ đi ăn bánh trái, sau đó đi thụt bida hay trượt patin. Chơi hoài những môn ấy cũng chán, con bắt đầu vào quán internet chơi game. Những trò chơi toàn là cảnh chiến tranh, đánh nhau, giết nhau nên tưới tẩm hạt giống bạo động trong con rất nhiều mà con không hề hay biết. Khi vào lớp tỏ ra ta đây là đại ca, chỉ cần đứa nào nói chơi một câu mà con không thích hay làm rớt của con cây bút là sau giờ học có ngay một trận đòn cho người kia biết ta là ai. Con chơi chung một nhóm hơn mười đứa nên hôm nào đi học hầu như cũng có đánh nhau.

Một hôm vào mùa hè của năm con học lớp tám, ở chùa có mở một khóa tu chánh niệm gồm có thầy Giác Không và quý thầy ở Tu viện Bát Nhã về tổ chức hướng dẫn tu học. Con được tham dự khóa tu đó. Ngày đầu con thực tập đi thiền, ăn cơm im lặng v.v… nhưng chỉ làm theo một cách vô ý thức, không có ấn tượng gì. Qua ngày thứ hai của khóa tu thì ước muốn năm xưa như được khơi dậy trong con, ao ước được đi tu. Hôm đó có pháp thoại của thầy Giác Không về đề tài báo hiếu cha mẹ trong cuộc sống. Sau đó có thiền ca, pháp đàm chia sẻ về khó khăn của mình trong gia đình hay ở trường lớp và có giờ thể thao đá cầu.

Con thấy mình như búp măng ở lâu dưới đất bây giờ được trồi lên đón không khí trong lành, đón ánh sáng của địa cầu. Qua những lời chia sẻ của quý thầy giúp con nhìn lại chính con. Con thấy cách con đang sống không phải là con, không phải là ước muốn, là khao khát của con và con cảm thấy thật là nguy hiểm với những gì con đang làm. Mình không thích cái đó mà mình vẫn làm và mình là cái đó mà mình không hay biết. Sau ba ngày thực tập con thấy người tu thật đẹp, không chỉ được sống trong không gian yên tĩnh, bình an ở chùa mà người tu cũng rất trẻ, rất năng động, cuộc sống rất thực tế với chính bản thân và xã hội. Con quyết định xin má: “Má ơi, cho con đi tu!”

Trong gia đình, con là con một nên má dành hết tình thương, niềm tin và hy vọng vào con. Má làm rất nhiều để cho con bằng bạn bè mà không phải thiếu gì cả. Ba má chia tay nhau lúc con mới ra đời nên má vừa làm ba vừa làm má cho con. Cuộc sống của má chỉ nghĩ đến con, chẳng bao giờ má đi chơi kể cả sang nhà hàng xóm vì sợ mất thời gian. Ngay cả ngày mồng một Tết má cũng lên chùa thật sớm để về mở quán bán. Tất cả cũng chỉ vì thương và lo cho con.

Khi con xin đi tu, má biết đó là ước muốn của con từ nhỏ, vì ở nhà con cũng chỉ thích ăn rau và đồ chay thôi nên khi con xin đi tu má cũng không ngạc nhiên. Cũng như những người làm mẹ khác, má thương con và sợ con khổ. Má nghĩ đi tu phải làm nhiều, phải thức khuya dậy sớm mà lúc đó con lại có nhiều bệnh nặng như: thấp tim, thấp khớp, gai cột sống… nên má không muốn con đi tu, không muốn con rời xa vòng tay chăm sóc của má. Con đã năn nỉ và chia sẻ về những lý do con muốn đi tu để má chấp nhận. Sau đó má quyết định cho con lên tu viện chơi một tuần rồi về. Vậy là hôm sau má chở con lên chùa xin quý thầy cho con đi cùng xe lên Tu Viện Bát Nhã.

Con vào tu viện tập sự không có sự đồng ý của gia đình. Một tuần sau má gọi điện vào tu viện bảo con về nhưng con nhất quyết ở lại. Thời gian con mới vào tu viên tập sự, cứ mười ngày hay một tháng là má con lên tu viện xin quý sư cô cho con về. Lần đầu má thưa với quý sư cô là con chưa học xong, xin cho con về đi học tiếp. Lần kế tiếp má lấy lí do gia đình không có người nên cần con về để lỡ lúc má đau ốm bệnh hoạn. Rồi lần khác lên má lại thưa là con chưa đủ tuổi vị thành niên nên chưa tự lập được, sức khỏe của con không phù hợp với môi trường ở Lâm Đồng. Quý sư cô thấy má con chia sẻ tội quá, để làm vui lòng má, quý sư cô khuyên con nên về ở với má, phụng dưỡng má và đi học tiếp, khi nào khỏe và đủ điều kiện thì lại đi tu. Nhưng con không chịu về vì con rất sợ cuộc sống bên ngoài. Vậy là con nghĩ ra cách đi trốn và không chịu về cùng má.

Con đã ở lại tu viện không được sự đồng ý của má và tham gia thời khóa đầy đủ với đại chúng. Sau đó má vẫn tiếp tục muốn con về ở với má, má lại lên tu viện quyết tâm phải đưa con về cho bằng được. Má nói má sống một mình không được, nếu con không về má sẽ chết. Lần đó má ở lại tu viện lâu hơn, được tham dự thời khóa với đại chúng, được tiếp xúc với quý sư cô nhiều hơn, được quý thầy quý sư cô nói chuyện và chia sẻ thêm về cuộc sống của người xuất gia nên má dịu lại và bớt giận con hơn so với những ngày trước. Vì nhà không có người trông coi, lo lắng nên má lại về một mình.

Con được tập sự hơn một năm là má ở nhà khóc hơn một năm. Cứ ngồi ăn cơm là má nhớ con, nhìn thấy cái gì của con cũng nhớ con nên ngày nào má cũng khóc, có ngày khóc hai ba lần nên má gầy đi rất nhiều. Có lần má nhờ hàng xóm gọi điện báo tin cho con biết là má bệnh nặng đang nằm cấp cứu ở bệnh viện, con phải về gấp. Lúc đó con đành phải về, con đi chào quý sư cô, dọn đồ đạc và đi gọi xe để ngày mai về nhà. Nhưng nhờ Bụt tổ yểm trợ nên tối hôm đó có anh huynh trưởng trong Gia đình Phật tử ở gần nhà con, cũng có con đi tu cùng lần với con gọi điện vào thăm. Con hỏi về chuyện má của con thì biết là má vẫn khỏe và đang ở nhà. Vậy là con ở lại tu viện không về nữa.

Ngày con được xuất gia má không biết, vài tháng sau con mới báo tin cho má hay. Lúc đó má cũng quen và chấp nhận được cảnh sống một mình, với lại cũng không còn cách nào để đưa con về được nên má lên tu viện thăm con và ở lại thực tập một tuần. Lúc đó con mới biết là má đã dọn hết những gì của con ở nhà, bây giờ má muốn bán nhà đó để khỏi nhớ con và về sống gần bà ngoại. Khi đó con mới mười lăm tuổi nên sự tu học và thực tập của con còn mới, con thực tập các pháp môn chưa sâu sắc cho lắm, vì vậy mỗi lần con viết thư về thăm má, con chỉ kể những niềm vui, được mọi người xung quanh thương quý, giúp đỡ rất nhiều và con sống trong tu viện rất được an toàn.

Má nhận được thư vừa mừng mà cũng vừa tủi thân vì thấy con ở đó thì vui, còn má ở nhà chỉ thui thủi một mình và má lại khóc. Sau đó con thực tập lạy sám hối thêm để cầu nguyện cho má được bình an và có nhiều niềm vui. Con cũng động viên và khuyến khích má rằng bây giờ má có nhiều thời gian hơn trước, má đi chùa tụng kinh cho vui. Từ từ má của con cũng buông bỏ bớt công việc, má đi chùa tụng kinh mỗi tối và ăn chay trường. Má muốn yểm trợ cho con tu tập được bình an.

Ở tu viện, con được sống trong tăng thân, được học hiểu để thương cho sâu sắc, được học nhận diện để chuyển hóa những tập khí của mình… Càng ngày con càng thấy sự tu học thật có ý nghĩa và mang lại lợi ích cho con và mọi người. Con cũng muốn giúp những bạn trẻ đang sống giữa xã hội với nhiều nguy hiểm như con đã từng sống trước đây, thấy được đường đi đúng cho chính mình.

Mỗi ngày thực tập con đều học cách để thương được nhiều người hơn. Niềm tin trong con càng lớn và con càng biết ơn Thầy, tăng thân và nhất là má của con. Má đã hy sinh cho con rất nhiều, tình thương của má thật bao la. Mỗi khi con nghĩ đến má đang sống một mình ở nhà, đang tu tập để yểm trợ cho con là con càng khâm phục má và biết ơn má vô cùng. Má của con thật vĩ đại và mạnh mẽ. Sống trong tăng thân, có những lúc con vụng về thất niệm tạo ra những khó khăn, nhưng nghĩ về sự hy sinh vĩ đại của má, con có ngay thêm nghị lực và niềm tin để vượt qua.

Đời sống một người tu thật đơn giản, có ý nghĩa và ích lợi trong cuộc sống. Con thấy bây giờ con đã có con đường cho mình, không còn lo sợ nữa. Những gì con có được bây giờ là nhờ Thầy và tăng thân xây dựng nên cho con, nhưng không thể thiếu tình thương của má. Ngay bây giờ con thấy rất bình an nên con tin rằng tương lai của con cũng được bình an và tốt đẹp.

Má ơi! Ước muốn của má, muốn con có được cuộc sống hạnh phúc và bình an đã thành hiện thực. Con đang tu học có hạnh phúc, con đang tu cho má và cho cả dòng họ. Con đang hạnh phúc và con biết ở quê nhà má cũng đang hạnh phúc. Má con mình cùng xây dựng và nuôi dưỡng hạnh phúc cho bền, cho đẹp, má nhé!

Sau một cú hích

Tâm Thanh Tịnh

Thầy kính thương,

Nhìn lại hơn một năm tu học từ ngày qua Làng, con thấy mình có lớn lên chút ít, con sẽ kể cho Thầy nghe những gì đã chuyển hóa trong con. Đầu mùa xuân, khi muôn hoa đua nhau khoe sắc thì Thầy và tăng đoàn lớn phải đi về phương Đông để hoằng pháp. Ngày tiễn Thầy, các sư con thương nhớ Thầy lắm, biết rằng Thầy sẽ phải làm việc nhiều, chương trình khóa tu dày kín, nên Thầy rời phi trường là lòng các sư con thương nhớ mong Thầy liền.

Mùa xuân, Thầy vắng nhà. Thiền sinh vẫn đến mỗi tuần vài chục người từ khắp nơi trên thế giới. Một hôm, sư chị Dung Nghiêm đến nói với con: “sư em ơi, thiền sinh tuần này họ có nhiều đau khổ quá, họ chia sẻ tội quá. Bây giờ không có Thầy ở nhà để họ được nghe Thầy dạy trực tiếp, chị em mình có cách nào giúp thêm cho họ hạnh phúc hơn không?”. Sau khi động não, chị em con quyết định thử cầm máy quay phim, ghi lại những hình ảnh của quý thầy, quý sư cô cùng các bạn thiền sinh trong một tuần tu học, trong lúc ngồi thiền, đi thiền hành, ăn cơm im lặng, tập 10 động tác chánh niệm, chấp tác, chơi trò chơi với nhau. Chúng con làm nó thành thước phim ngắn khoảng 15 phút rồi trình chiếu cho cả xóm cùng xem trong giờ họp hạnh phúc. Ai dè, món quà đó thiệt là có công năng nuôi dưỡng. Ai cũng vui, ai cũng cười khi được nhìn lại mình trong lúc thực tập chánh niệm.

Ngày ra về, thiền sinh người nào khuôn mặt cũng tươi vui, họ đòi chúng con bỏ lên mạng để khi trở về nhà họ còn được ghi nhớ lại sự thực tập chánh niệm ở Làng và cũng được khoe với gia đình bạn bè. Có một cô thiền sinh đến Làng mấy chục lần rồi, nhưng không sao chia sẻ với mẹ về Làng vì bà cụ đã lớn tuổi khó di chuyển. Thế là kỳ này, thước phim sẽ nói thay cô ấy. Không có Thầy ở nhà nên chúng con bày thêm trò để chơi với nhau, xây dựng tình anh chị em cùng tu ở nhà.

Mùa Xuân và mùa Thu, hầu như tuần nào chúng con cũng truyền Năm giới cho cư sĩ đó, Thầy ơi. Bồ tát chăm sóc và chia sẻ về tinh thần Năm giới của xóm Mới là sư cô Từ Nghiêm, cộng thêm sự trợ thủ đắc lực của vị giáo thọ trẻ chăm sóc thiền sinh tuần ấy, có khi là nhóm sadini cũng đóng góp chia sẻ kinh nghiệm thực tập Năm giới trước và sau khi xuất gia, làm hứng khởi cho các bạn. Những bạn đã nhận Năm giới, chia sẻ cách hành trì Năm giới sau khi nhận càng rõ ràng, khúc chiết cho tân giới tử.

Mùa Hè, Thầy trở về Làng, cả ngàn người khắp thế giới đến Làng cho khóa tu mùa Hè. Con thiệt liều, mới năm đầu mà dám đứng ra phụ trách chương trình con nít. Mà tại con bị sư chị con dụ. Sư chị nói hai tuần đầu ít lắm, có vài em thôi, chỉ cần dẫn các em đi chơi quanh xóm là đủ. Ai dè ngay tuần đầu đã gần 20 em, rồi con số cứ tăng dần đến tuần thứ tư thì hơn 50 em ở xóm Mới. Nào là chuẩn bị mời sư cha Pháp Dung dạy thiền sỏi cho các em, mời sư mẹ Định Nghiêm dạy hai lời hứa, hướng dẫn các em trồng hạt giống lành, thiền buông thư, thiền ca, chơi trò chơi, làm thiệp tặng ba mẹ, làm mới với ba mẹ… Mỗi ngày ba thời chăm con nít ồn ào, lại không được nghe pháp thoại của Thầy, có lúc con thấy tội mình quá, con có ra vườn mận khóc một lần.

Có bữa, con gần hết năng lượng nên xin sư chị được đưa cơm chiều tới cốc cho Thầy. Thầy thiệt là hiểu con, Thầy tiếp liền nguồn năng lượng cho con. Thầy dạy con rằng: “Con có biết không, rất nhiều quý thầy, quý sư cô từ Việt Nam ra nước ngoài hoàng pháp, nhưng bận lo chuyện chùa, lo chuyện điện nước nên không đủ thời giờ để hiến tặng, và cũng không có cơ hội học ngoại ngữ nhiều nên hiến tặng cho thiền sinh Tây phương cũng không được khá, chỉ quanh quẩn với người Việt hải ngoại. Thầy trò mình như rứa là may mắn lắm đó con, mình không cần đi tìm, cả ngàn người họ tự tìm đến cho mình giúp. Mình có phước lắm đó con”. Lời Thầy dạy làm con mắc cỡ quá, mà cũng cho con biết bao là nguồn năng lượng mới. Được đi thiền hành sau lưng Thầy, nghe lời Thầy dạy, chỉ cần 10 phút thôi mà tâm con bừng sáng, cái khổ cực tự dưng chuyển thành cái hiểu, cái thương và năng lượng hiến tặng.

Thầy biết không, có nhiều em thiếu nhi đã nuôi dưỡng con lắm. Nhất là hai em người Nga, theo ba mẹ đến Làng, nhưng vì ba mẹ cũng là lần đầu tiên, lại quá thích pháp môn nên họ phải lo hưởng thụ trước, họ chẳng chịu thay phiên nhau đến thông dịch cho các con họ, cứ mặc kệ con trẻ. Hai anh em, đứa 10 tuổi, đứa 8 tuổi lại không biết tiếng Anh, mà chị em con thì đâu có biết tiếng Nga. Cuối cùng, chỉ có tình thương để kết nối chúng con. May thay tìm trong các bạn thiền sinh dài hạn, có chị Hương trước kia từng học tiếng Nga nên bày cho chúng con vài chữ. Nhưng cũng chẳng cần ngôn ngữ lời nói, hai em bé người Nga đã có mặt hết lòng trong từng thời khóa dành cho các em, dù các em không hiểu, nhưng các em cảm nhận được nguồn năng lượng và mong muốn của chúng con đến các em. Ngày cuối tuần, khi ra về các em khóc, quý sư cô cũng khóc. Cầu Bụt gia hộ cho chúng con mau có xuất sĩ người Nga. Hoặc sang năm các em về, các em biết tiếng Anh, chứ chúng con chắc không học tiếng Nga kịp rồi.

Có một người mẹ, đi tìm con để báo cáo rằng tối hôm qua, con gái bà đã dạy cho bà thực tập thiền sỏi ngay trong phòng ngủ khiến bà hạnh phúc bất ngờ. Cô bé hướng dẫn mẹ rất kỹ, y chang sư cha Pháp Niệm đã dạy bé hồi sáng. Mẹ của em thích quá, phải đi tìm con để chia sẻ và để biết thầy Pháp Niệm là thầy nào mà sao giỏi quá vậy.

Có những cô cậu đã về Làng nhiều năm liên tiếp, nên góc nào của Làng cũng thuộc làu làu. Vừa đến cổng đã chạy ngay đến gốc dâu, trèo lên, hái cho đầy rổ dâu chín và đi ban tặng khắp nơi trong niềm hạnh phúc như là về quê nội. Tiệc sinh nhật cũng là lễ chia tay một em nam lên 13 tuổi, sang năm phải chuyển lên chương trình Teen với quý thầy ở xóm Thượng đã diễn ra rất cảm động. Mẹ em ấy đã nói, chương trình thiếu nhi ở Làng đã mang đến cho con trai bà rất nhiều hạt giống thiện và đẹp.

Hồi đầu, cậu ấy thường hay đánh các em khác lắm. Chúng con để thì giờ tìm hiểu và hỏi thăm mẹ thì mới biết ở trường em thường bị các anh lớn đánh đập, ăn hiếp. Vì vậy mà khi về Làng, gặp toàn các em bé dễ thương, cu cậu này vốn sẳn bị chất chứa nhiều năng lượng bạo động từ trường học nên tha hồ thả ra nơi đây. Chị em con cùng sư mẹ Tuệ Nghiêm đã quán chiếu cách giúp cu cậu. Chúng con bầu em ấy làm người anh lớn của chương trình. Và người anh lớn là để thương yêu và chăm sóc các em. Chúng con dùng lời nói ái ngữ để tưới tẩm hạt giống thương yêu trong em, vậy là em từ từ làm mới với những em khác, đến chơi và chăm sóc. Có em nào chưa đến kịp chương trình thì em đi tìm và rủ đến rất ngọt ngào. Chúng con đã báo cáo với mẹ em ấy về tiến triển của em. Cũng lưu ý cho bà tiếp tục giúp con khi con quay trở về nhà và đến trường học. Bà đã khóc và biết ơn. Chúng con cũng biết ơn em, nhờ khổ đau của em mà chúng con tìm ra cách hay để giúp em và giúp chúng con làm tốt hơn những gì mình có thể.

Buổi lễ Bông Hồng Cài Áo luôn làm các em và cha mẹ gần nhau, nguồn năng lượng thương yêu luôn được chế tác thật lớn lao từ đó. Thiếu nhi và thiếu niên cầm trên tay những bông hoa, gắn lên áo ba mẹ, ôm ba mẹ, trân quý giây phút được sống trong tình yêu thương của song thân. Mùa hè mình còn có lễ Hòa Bình, lễ Tổ Tiên và tết Trung Thu nữa, tất cả đều là những món quà quý giá mà chúng ta hiến tặng cho tuổi thơ các em.

Mùa thu, Thầy cùng quý sư cha, sư mẹ lớn lại lên đường sang Mỹ. Ở nhà, quý vị giáo thọ trẻ thay Thầy chia sẻ pháp thoại cho các sư em. Thầy biết không, bài pháp thoại nào cũng sống động, cũng cho chúng con thật nhiều lợi lạc trong tu học. Nghe chuyện thầy Từ Phước đi tìm cha trong khi không hề biết cha mình mặt mũi ra sao, hình dáng thế nào. Thầy quyết chí đi tìm để nối lại gốc rễ huyết thống cho mình, cho các em của mình. Và thầy đã thành công, thầy vui còn đại chúng thì mừng quá chừng. Thầy Pháp Toại đánh ghi ta tặng đại chúng bài Cho Tôi Một Vé Đi Tuổi Thơ, rồi chia sẻ những năm tháng ấu niên bên mẹ. Những nhọc nhằn mẹ nuôi lớn, công ơn của Sư Bá dẫn đường cho thầy tìm ra được căn nhà tâm linh. Chúng con thích quá, việc Thầy dậy cho thầy Pháp Toại cách gởi ba về cho mẹ. Con không viết ra đây đâu, anh chị em nào muốn biết thì hãy nghe bài pháp thoại ấy nhé, hoặc hỏi thầy Pháp Toại cũng được. Bí kíp của Thầy rất chi là thú vị.

Ban chăm sóc ba xóm bốn chùa làm chương trình Đường Về Làng thật hay dành cho chúng xuất sĩ. Thầy Pháp Duệ thiệt là giỏi, đã đem hết nhiệt huyết ra thiết kế từng câu hỏi thành chương trình, trình chiếu ấn tượng quá chuyên nghiệp. Ban tổ chức mời được sư cha Pháp Ứng, sư mẹ Như Hiếu và sư mẹ Phước Tâm cùng thầy Pháp Cầu làm ban giám khảo. Tài liệu kiến thức Phật học được sư cha Pháp Thạnh cung cấp rất nhiều. Đại chúng xuất sĩ cả Tây lẫn Ta được chia đều thành bốn đội, cùng vượt qua các vòng thi lý thuyết lẫn tài năng. Khi được hỏi: câu thần chú thứ năm là gì? Sư chú Pháp Bằng của đội Aota trả lời thật to là “Yes, madam” khiến đại chúng không nhịn được cười. Câu thần chú thứ Năm đang được thực tập lại là “Đây là giây phút hạnh phúc”. Nhưng vì tối hôm qua, vì quá siêng năng ôn bài nên sư chú đọc được nó trong cuốn từ điển Làng Mai câu thần chú đó, tuy nó đúng, nhưng nó đã được chỉnh sửa lại cho phù hợp. Chỉ tại sư chú học sách vở quá nên hiến tặng cho đại chúng cả một tràng cười dài quá chừng, thiệt là vui.

Chương trình Đường Về Làng
Chương trình Đường Về Làng – Đối vui

Mùa Đông, đầu an cư, sư cô Tùng Nghiêm là y chỉ sư của con, hỏi con về phát nguyện thực tập. Con nói, con rất hào hứng với Duy Biểu học, con sẽ học Duy Biểu và đem những lời Thầy dạy vào ngay cuộc sống hằng ngày để chuyển hóa khổ đau và chế tác hạnh phúc cho con. Quả thật, mùa Đông là mùa tặng. Mùa đông là mùa quý giá dù trời có lạnh. Con thích những bài pháp thoại mùa đông quá chừng. Nhất là pháp thoại dành riêng cho xuất sĩ. Thầy trao truyền, Thầy chỉ dạy cho các con từng ly từng tí trong đời tu. Con thích ơi là thích khi nghe Thầy, Thầy dạy chỉ cho chúng con học những gì cần và hay, chứ không như Thầy ngày xưa phải học đủ thứ đến đau đầu luôn mà chẳng cần cho việc ứng dụng thực tế. Thế nên, các sư con của Thầy càng trân quý tình thương Thầy cho, không thiếu cũng không thừa.

Tìm trong pháp thoại Duy biểu học Thầy dạy, con thấy tập khí của mình. Cái tập khí như bị ma đuổi ấy, làm gì cũng muốn cho xong, làm gì cũng nhanh. Hồi nhỏ, má con nói con là đứa chưa đi đã chạy, chưa nói đã cười. Lớn lên, đi học, bon chen với cuộc đời, tìm kiếm danh lợi, tập khí đó cũng biến chuyển tinh tế hơn, bằng cách nó làm tâm trí con luôn luôn suy nghĩ. Xuất gia, nó làm con khổ nhất. Vốn phải trốn nhà đi tu nên việc thuyết phục gia đình chấp nhận cũng là thử thách cho con, nó làm con cứ suy nghĩ, cứ tìm kiếm, cứ giải thích, cứ chứng minh, cứ… bận rộn trong cái đầu. Hơi thở và bước chân chánh niệm giúp cho con dừng lại. Con từ từ thực tập không mở cái đài radio suy nghĩ trong đầu nữa.

Mùa Đông, ngồi nghe pháp thoại của Thầy. Con thấy con đó, thật rõ ràng. Thầy ơi, Thầy dạy: người con gái đi lấy chồng sẽ lấy sự nghiệp của chồng làm sự nghiệp của mình. Và người xuất sĩ khi xuất gia cũng lấy sự nghiệp của tăng thân làm sự nghiệp của mình. Con nghe lời Thầy, con để con toàn bộ cho tăng thân. Con chuyên tâm sống đời chánh niệm. Chuyện gia đình huyết thống, chỉ cần chờ thời gian, rồi sự yểm trợ sẽ đến. Con đang sống rất hạnh phúc, được làm một sư cô an lạc, được cùng anh chị em mình hiến tặng điều lành cho đời mỗi ngày, sao lại còn lo nghĩ.

Đúng như thế, khi con buông ra thì kết quả tốt lành đã đến. Mới tháng trước, mẹ con đã biết tin con trở thành một sư cô gần 4 năm rồi. Mẹ im lặng và mẹ đang đợi thư con. Con bây giờ đã có cơ hội viết ra sự thật, nói sự thật, chia sẻ hạnh phúc thật cho mẹ mà không cần để lên chiếc áo du học như ngày xưa nữa. Con tự do.

Mấy tuần nay, Thầy dạy chúng con sự vận hành của trí não, đi đôi với sự vận hành của tâm thức để chúng con được hiểu rõ tâm mình. Thầy ở tuổi 88 mà vẫn ngày đêm nghiên cứu cái mới, tìm ra chứng cứ khoa học, sinh học, vật lý học để cùng đạo học, giảng dạy cho chúng con, giúp chúng con hiểu về thân, về tâm mình.

Rồi con có cơ hội được làm thị giả mang đãy kinh cho Thầy mỗi ngày quán niệm thứ Năm tại xóm Mới. Làm thị giả là cơ hội quý giá của mỗi sư con dù là sư cô hay sư chú. Có hôm, đeo đãy kinh trên vai, bước thong dong sau lưng Thầy ra thiền đường Trăng Rằm cho thời pháp thoại, một cơn gió đầu đông kéo đến, toàn vườn cây xóm Mới lao xao, lá vàng trút xuống thảm cỏ đẹp chi là đẹp. Thầy trò đứng thật yên, thật lâu để ngắm nhìn, đó là giây phút hạnh phúc biết bao.

Làm thị giả, chúng con cũng có cơ hội làm đậu hủ cho Thầy. Sư chị Đạm Nghiêm và sư chị Điều Nghiêm cùng làm thị giả với con. Quý sư chị làm đậu hủ thiệt là giỏi. Bữa nọ trong bếp chật quá, chúng con kéo lò ra vườn ngồi khuấy nồi sữa đậu. Ngày đầu đông có nắng vàng, ngồi trong vườn khuấy đậu hũ với sư chị thiệt là vui. Sư chị nói rằng, khuấy đậu hủ không phải chỉ để khỏi cháy mà còn để đậu thật béo, thơm và mền. Vắt chanh thì nhớ đừng để hạt rơi vô nước làm đắng. Sữa nên để sôi đi sôi lại hai ba lần cho thật chín, thật thơm. Con thích những giây phút làm đậu hủ với quý sư chị lắm, đó là lúc chị em con chơi với nhau, hiểu nhau và kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện tu học từ Huế cho đến Thái, từ Thái tới Đức rồi về Làng.

Dọn cốc Thầy, chị em con cũng làm trong niềm vui. Con hút bụi thì sư chị cắm hoa. Sư chị cắm hoa thiệt là khéo. Con nhóm lò sưởi củi thì sư chị nấu nước sôi. Con mắc võng thì sư chị gọt táo. Chị em con thật nhịp nhàng sửa soạn cốc chuẩn bị đón Thầy từ xóm Thượng sẽ xuống. Con thích ngắm nhìn Thầy viết thư pháp nhất. Thầy viết trong chánh niệm, từng nét bút của Thầy đi nhẹ nhàng như lướt trên trang giấy. Từng con chữ cũng mang tâm hồn rất riêng, hiền từ. Ngồi bên Thầy, xếp thư pháp cho Thầy là giây phút thích thú của thị giả.

Mùa An cư kiết Đông là mùa dành cho xuất sĩ. Năm nay, đề tài pháp đàm trong ngày xuất sĩ có nói đến việc chuyển hóa năng lượng trẻ trong thân thành năng lượng thương yêu và phụng sự giúp đời. Đại chúng tăng và ni được chia ra hai thiền đường khác nhau. Bên quý thầy cũng được chỉ dạy trực tiếp từ quý sư cha lớn. Bên quý sư cô, dưới sự hướng dẫn của sư cô Chân Không, người đã sống trinh chuyên hơn 75 năm để tu học, chuyển hóa và phụng sự. Sư cô bằng tình thương yêu, trút hết “bầu tâm sự” chỉ dạy cho các sư cô trẻ chúng con biết cách nuôi dưỡng và chuyển hóa năng lượng của thân để đi trọn vẹn con đường tu. Lời chia sẻ của sư cô thật cao quý biết bao. Từ những kinh nghiệm thật của sư cô, con thu lượm được cho mình nhiều điều quý giá. Trước khi biết về đạo Bụt, biết về Thầy, về Tăng thân và xuất gia tu học, con xém chút đã xuất giá với người bạn 8 năm rồi. May cho con quá, bây giờ nghĩ lại, con thấy không biết cơ duyên nào mà mình may mắn thoát được việc đi vòng quanh như mẹ, như chị con đang đi.

Có lần, Thầy dạy con hãy viết ra cho rõ ràng cái chuyện 8 năm ấy, nó như thế nào. Con nghe theo Thầy. Con đang viết nó trong hồi ký của con dành cho gia đình huyết thống. Quả thật, khi con viết nó ra, con thấy con của ngày xưa tường tận, con thấy bạn con đầy đủ hơn. Và con thấy, cái con đi tìm trong tình yêu ấy là một lý tưởng, chứ không đơn thuần là một mối quan hệ. Có lẽ vậy nên con đi ra khỏi vòng quan tâm của bạn.

Dù đã nhiều năm không liên hệ, dù tưởng đã chia tay, nhưng kỳ thực, mọi chuyện vẫn còn đó trong tâm mình. Con thấy lại vụng về của con, vụng về của bạn. Cái thiếu nhất là thiếu pháp môn để biết thực tập chế tác hạnh phúc. Ngày ấy, chúng con cứ thương nhau như hai con nai ngơ ngác, chẳng biết gì khu rừng sâu thẳm trước mặt, nên đã làm nhau đau cũng nhiều, cười nhiều, khóc cũng không ít.

Hồi mới tu chưa đầy năm, khả năng xử lý cảm thọ chưa giỏi gì hết, con để chuyện ngày xưa lên tràn ngập tâm ý khiến con mệt nhoài. Và con đã đắp Y đi thiền lạy. Con lạy Bồ tát bạn đã từng đi qua đời con, đã từng cùng con khổ vui, nhờ đó mà con có được ngày hôm nay. Con lạy xuống, gởi con cho đất Mẹ ôm ấp, con khỏe nhẹ ra.

Nhờ kinh nghiệm thương đau kia mà bây giờ con biết trân quý tình huynh đệ với các sư anh, sư em của con. Nhìn ai, con cũng thấy họ là anh ruột, em ruột, là cha, là chú của con. Tình huynh đệ cùng tu đẹp biết bao, con đang có cơ hội nuôi dưỡng, nên con trân quý vô cùng. Chúng con cùng được Thầy sinh ra, Thầy nuôi dạy, Thầy trao truyền lại cho cả tăng thân để tiếp tục sự nghiệp của mình, cho mình, cho Thầy, đó là món quà vô giá.

Mỗi đầu năm, con được lạy quý sư cha, sư anh, sư em trai để nhắc nhở, để trân quý và để giữ gìn. Pháp môn đệ nhị thân, tinh thần theo thời khóa miên mật, nương tựa y chỉ sư, đến chơi hết lòng với các chị em… đó là những điều kiện thuận lợi để nuôi dưỡng tâm bồ đề con ngày càng lớn mạnh, để thong dong cùng tu học và xây dựng tình huynh nghĩa đệ với quý thầy, quý sư chú. Con thấy bây giờ, con thương yêu với trái tim không còn nhọc nhằn như trước. Con thấy bây giờ con thương người bạn cũ ấy hơn cách con thương ngày xưa, thương với cái hiểu, thương mà không cần phải nắm giữ bạn nữa.

Tối nay, con vừa thực tập làm mới với sư chị con trong giờ làm mới toàn chúng. Sau đó chị em con thiền ôm, chị em con nói lời cám ơn nhau, trân quý sự có mặt của nhau. Chúng con còn trẻ, lại mới tu, tập khí còn nhiều, chánh niệm chưa đủ nên nói năng có khi làm nhau tổn thương. Ai cũng có một cái huyệt, nếu vụng về mình sẽ điểm trúng huyệt của người kia, dù là vô tình thì cả hai cũng đều đau. Nhờ thực tập im lặng hùng tráng mỗi đêm, nhờ ngồi thiền, đi thiền, ăn cơm im lặng, tập quán chiếu mà con phá vỡ được khối u mê trong con, con thấy tập khí của mình, con thấy tập khí của sư chị. Tình thương và năng lượng hòa giải trong con cũng từ đó phát sinh, con làm mới mình, con làm mới con trong sư chị. Con trân quý và biết ơn sư chị đã luôn yểm trợ và có mặt cho con. Sau khi làm mới, con thấy mình mới thiệt, và con thích quá.

Một năm qua của con là vậy đó, Thầy ơi. Con kính dâng lên Thầy tất cả vụng về, tất cả cố gắng của con. Con trân quý những tháng ngày con được tu học bên Thầy. Con ý thức rằng con rất may mắn. Và trong đáy lòng con, con biết ơn Thầy vô cùng.

Sư con thứ 688 của Thầy

Ước mơ của Wake Up

Chân Pháp Linh
BBT Chuyển ngữ từ tiếng Anh

Ban biên tập Lá Thơ Làng Mai mỗi năm đều nhờ con viết bài và mỗi lần như vậy con đều cảm thấy bối rối. Con nên viết về đề tài gì? Viết cho ai? Ai là độc giả? Những câu hỏi này thường khởi lên trong con. Năm nay ban biên tập đề nghị với con rằng: “Cứ viết về Wake Up!”. Nhưng con có quyền gì để viết về chương trình Wake Up (Thức dậy đi các bạn trẻ!) ? Các sư anh, sư chị muốn biết Wake Up là gì và con trả lời rằng: “Vâng, con cũng muốn biết nữa – con ước gì ai đó sẽ nói cho con biết!”

Nhưng sáng nay khi thức giấc, con nhận ra rằng mặc dù con không thật sự biết Wake Up là gì, nhưng ít ra con cũng có một vài “quan điểm” có thể chia sẻ với các anh chị em trên toàn thế giới, trong tinh thần nghiên cứu khoa học và với hy vọng rằng những người khác nhờ thế mà có cảm hứng chia sẻ những quan niệm và tuệ giác của họ. Và có thể các bạn sẽ sớm thấy rằng những quan điểm của con hoàn toàn sai lầm. Nhưng đó cũng là một trong những cách mà khoa học đạt được những bước tiến mới. Ít ra thì con cũng hy vọng các bạn sẽ cảm thấy vui với những chia sẻ này.

Hoạt động Wake Up tại Ấn Độ
Hoạt động Wake Up tại Ấn Độ

Có một điều rõ ràng đối với con là thời điểm bắt đầu chương trình Wake Up không phải là vào khóa tu mùa Hè năm 2008. Trước đó, các thầy lớn và các sư cô lớn như sư cô Mai Nghiêm, sư cô Tôn Nghiêm tại Làng Mai cũng như các sư cô Châu Nghiêm, Đẳng Nghiêm, Hành Nghiêm, các thầy Pháp Hải, Pháp Dung, Pháp Trạch, Pháp Lai, Pháp Lưu và các vị khác ở tu viện Lộc Uyển đã từng tổ chức các khóa tu cho người trẻ và sinh viên Đại học trong nhiều năm rồi. Các khóa tu này đã trở nên đông đảo và được giới trẻ Tây phương ưa chuộng. Không những vậy, tại Việt Nam và các nước châu Á khác, có thể nói hầu hết các khóa tu đều là khóa tu dành cho người trẻ, vì Sư Ông là một người trẻ và giáo lý Sư Ông dạy luôn thu hút được người trẻ.

Chính vì vậy cho nên trong khóa tu mùa Hè năm 2008, khi Sư Ông dạy sư cô Hiến Nghiêm và con đứng lên  để “thông báo” sự ra đời của phong trào Wake Up, đó chỉ là một cái mẹo (tuy nhiên lúc đó chúng con đã không nhận ra). Con gọi đó là cái mẹo vì Wake Up đã từng có mặt rồi, nên đâu cần phải sinh ra? Sau này khi nhìn lại, con tự hỏi có thể nào các thầy các sư cô lớn đã thấy được điều này và đã mỉm cười với nhau trong lúc chúng con mở lời “thông báo”.

Sư Ông và tăng thân đã luôn “hoạt động” Wake Up và khi nhìn lại những gì Sư Ông đã làm được trong suốt cuộc đời của Người, con hiểu được Wake Up thực sự là gì. Sư Ông vẫn thường luôn xây dựng cộng đồng, xây dựng với những chất liệu đặc biệt là óc sáng tạo, tuổi trẻ, sự tự do và chất liệu quan trọng hơn hết – một chất liệu vô cùng mầu nhiệm – đó là tình huynh đệ, cái mà thầy Mãn Tuệ gọi là Sanghahood (tình Tăng thân).

Có một ngày khi nhìn lại, con chợt nhận ra là Sư Ông và Sư cô Chân Không đã sáng tạo ra, hay nói đúng hơn là làm biểu hiện ra Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (TTNPSXH), 14 Giới Tiếp Hiện và Đại Học Vạn Hạnh gần như trong cùng một khoảng thời gian. Ba sự kiện trên cần đi chung với nhau, như trí tuệ đi đôi với hành động. Cái thấy này khiến cho con tự hỏi: có thể nào đây là một sự ngẫu nhiên khi Sư Ông đề nghị chúng con phát động phong trào này cho tuổi trẻ cùng lúc với sự biểu hiện của Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu (European Institute of Applied Buddhism – EIAB) và Năm Giới Tân Tu? Chắc hẳn là TTNPSXH đã luôn có mặt trong Wake Up. Đối với nhiều người trong chúng con, chí hướng và nguồn năng lượng của TTNPSXH luôn là ngọn lửa trong trái tim của Wake Up.

Cho nên có thể thấy được rằng Wake Up chỉ là một hóa thân của TTNPSXH – một biểu hiện từ ước nguyện sâu kín của Sư Ông và của nhiều thế hệ tăng, ni và cư sĩ trẻ ở Việt Nam. Chúng ta có thể nói rằng Wake Up là một ước nguyện, thay vì là một tổ chức – ít nhất đó cũng là cái nhìn của con. Được sinh hoạt trong Wake Up cho con cơ hội khám phá, tiếp xúc và phơi bày ước nguyện của con mà từ lâu đã bị chôn vùi dưới nhiều lớp khổ đau và rối rắm của tâm thức.

Con nghĩ điều mong ước của chúng con – những người đã và đang tham gia vào Wake Up – là Wake Up cần trở thành một nơi mà mọi người có thể đến và nếm được tình huynh đệ, một mảnh đất màu mỡ để làm nên những hành động tập thể, như TTNPSXH đã là. Người trẻ ở khắp nơi đang mong muốn thay đổi xã hội vì họ thấy trong xã hội có bạo động, bất công, hiểu lầm và khổ đau gây ra do lòng tham và sự thúc đẩy sai lầm về hướng tiêu thụ.

Khoá tu Wake Up tại Thái Lan
Khoá tu Wake Up tại Thái Lan

Khi con mới về Làng Mai, con là một thanh niên 19 tuổi với nhiều tuyệt vọng, đau buồn và chán đời. Tâm con đầy trầm cảm, rối rắm và hoàn toàn chưa được huấn luyện. Con không biết cách để tiếp xúc, thấy được hoặc hiểu được ước nguyện của con, nói gì đến việc thể hiện qua hành động.

Có lẽ nhiều người trẻ cũng như con, khi tìm đến với pháp môn thực tập cần phải được trị liệu để xây dựng lại niềm tin nơi chính mình, nơi con người, niềm tin nơi những giá trị chân thiện mỹ bên trong và xung quanh họ trước khi họ có thể dấn thân.

Vì vậy Wake Up có thể đóng vai trò là một nơi mà người trẻ có cơ hội kết nối, xây dựng lại chính mình và  trở thành một phần của cộng đồng đó. Cũng từ nơi đây họ nhận ra rằng có lẽ từ lâu họ đã có ước muốn sâu sắc và mạnh mẽ để xây dựng một cộng đồng như thế. Khi đã kinh nghiệm được một ít sự trị liệu trong tự thân, những người trẻ này có thể phát khởi ước muốn hiến tặng không gian ấy cho người khác, những người như họ trước đây cũng đang chìm đắm trong cơn lũ của tuyệt vọng, đam mê và sự tiêu thụ quá độ. Với cách nhìn đó, Wake Up có thể được hiểu như là một sự tiếp nối ước nguyện của Bụt, đó là làm cho mình thức tỉnh (tự giác) và giúp cho mọi người thức tỉnh (giác tha). Wake Up!

Một điều khác cũng rất rõ ràng là chúng ta không thể thực hiện điều này một mình. Bụt cũng như Sư Ông đã từng dạy chúng ta như vậy. Chúng ta cần tìm các thiện tri thức để yểm trợ và để cùng nhau đi tới. Là người xuất gia, chúng con rất may mắn được đi trên con đường của trị liệu và chuyển hóa, lại được sự nâng đỡ của các huynh đệ trong tăng thân. Với sự nâng đỡ này, chúng con có thể hiến tặng tình thương và trái tim đến cho các bạn trẻ một cách rất tự nhiên và với nhiều niềm vui, trong các ngày Quán niệm cũng như trong các khóa tu.

Chúng con không thấy trở ngại gì trong vấn đề giúp đỡ các bạn trẻ thiết lập tăng thân ở khắp nơi. Đôi khi những gì các bạn cần chỉ là một vài lời động viên khích lệ. Chỉ cần biết là việc này có thể làm được và có những người đi trước đã thành công cũng đủ để các bạn khởi sự. Nếu chúng ta có thể đưa ra một vài gợi ý, chẳng hạn như việc tổ chức một buổi thiền hành với bạn bè ở công viên hoặc một buổi ăn cơm chay trong im lặng thì các bạn sẽ thấy ngay rằng đó là những điều mà mình hoàn toàn có thể thực hiện được.

Con nhớ lần đầu đến đại học Cambridge (tại Anh quốc) để được phỏng vấn xin nhập học, lúc đó con mới 16 tuổi. Hôm ấy là một trong những ngày hạnh phúc nhất đời con. Con rất hào hứng vì cuối cùng đã đến được nơi mà con có cơ hội sẽ được gặp những con người phi thường, đầy cảm hứng, có óc sáng tạo, hiếu kỳ, phóng khoáng – những tâm hồn tri kỷ muốn khám phá những điều mới lạ, muốn am hiểu cuộc đời, vũ trụ và vạn vật, và để đóng góp xây dựng một thế giới tốt hơn. Lúc ấy con rất vui và có nhiều năng lượng vì ý niệm sẽ được làm quen với những nhân vật phi thường này.

Hai năm sau đó, sau khi mẹ con qua đời được sáu tháng, con trở thành sinh viên của đại học Cambridge. Con bắt đầu cảm thấy giấc mơ của mình đang dần tan vỡ và con cảm thấy ngột ngạt với bầu không khí nơi đây. Thay vì tìm được những người phi thường có nhiều cảm hứng, con chỉ tìm thấy những người trẻ – vốn đã quen gây sức ép với chính mình và cũng chịu sức ép từ cha mẹ và các giáo sư – đang chạy theo một mục đích duy nhất là tranh đua để được là  người giỏi nhất, thông minh nhất, thành công nhất – làm “number one”. Họ đều theo đuổi ý niệm đó và con, có lẽ vì thiếu ý thức, cũng trở thành như họ.

Nhưng vì ước vọng muốn tìm và gắn kết lại những người cùng chí hướng còn mạnh mẽ trong con nên con đã bắt tay vào việc. Con rất hổ thẹn vì đã hoàn toàn sao lãng việc học hành trong giai đoạn này. Tuy nhiên con đã may mắn tìm được một nhóm người tuyệt vời, liêm chính và có cùng mơ ước như con, có thể nói là hay hơn và rõ ràng hơn con. Một trong những người này là Natasha (nay là sư cô Hiến Nghiêm). Chúng con bắt đầu lập nên nhóm bạn này, nhưng hoài bão của chúng con còn chưa đầy đủ. Chúng con tưởng rằng chỉ cần đem những con người tuyệt vời này về với nhau dưới cùng một mái nhà là đủ rồi. Tuy nhiên, điều mà chúng con chưa nhận ra được là mình cần phải có một phương pháp thực tập, cần sự huấn luyện. Thiện chí, mơ ước và năng lượng  vẫn chưa đủ, chúng con cần một nền tảng đạo đức, một con đường và một vị thầy hướng dẫn.

nhóm Wake Up ngồi thiền tại Paris
nhóm Wake Up ngồi thiền tại Paris

May mắn thay, một năm sau con tìm được Thầy và Làng Mai, cuộc đời con bắt đầu thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn. Lúc đầu con còn tưởng mình là một dạng thiền sư và ra sức hướng dẫn bạn bè mình trong đó có sư cô Hiến Nghiêm. Con muốn giải quyết hết mọi vấn đề của họ với “tuệ giác” mới đạt được của con. Đương nhiên con đã chỉ tạo thêm rối rắm và khổ đau cho chính con và cho người khác.

Nhưng dần dần năng lượng của Làng Mai có tác động tốt đến con và con bắt đầu hiểu ra thêm được một chút. Natasha lúc đó đã hết nghi ngờ về một nơi xa lạ ở nước Pháp đã làm cho người bạn trai của cô ấy trở thành một người ăn chay trường. Cô chấp nhận tham dự một khóa tu tại Xóm Mới. Từ đó trở đi, tất cả đều trở nên rất rõ ràng, chúng con đều thấy rằng sự thực tập sẽ giữ vị trí trung tâm trong cuộc sống của chúng con.

Theo năm tháng, ước nguyện của chúng con ngày càng lớn dần lên, cho đến lúc chúng con nhận thấy rằng nếp sống tại gia quá chật hẹp cho chúng con. Điều “điên rồ” nhất mà chúng con đã nghĩ đến là gia nhập vào cộng đồng xuất sĩ và chúng con đã làm được điều đó. Con cũng thấy rằng vì chiều dày khổ đau của con quá lớn và tập khí cũng quá nhiều, cho nên nếu có muốn xây dựng một cộng đồng con cũng sẽ thất bại, trừ khi con được rèn luyện kỹ càng.

Ngày hôm trước con khám phá một điều mà con nghĩ rằng rất lý thú và tuyệt vời, nhưng hóa ra đó lại là một sai lầm hết sức thê thảm. Con vẫn xin chia sẻ ở đây vì chuyện rất buồn cười và có thể giúp quí vị hiểu con hơn. Con được nghe qua chuyện Bá Nha Tử Kỳ mà Sư Ông đã kể nhiều lần. Bá Nha là một nhạc sĩ tài ba nhưng thường nghĩ rằng không ai hiểu được nhạc của mình; cho đến một hôm gặp được Tử Kỳ. Tử Kỳ thấu hiểu hoàn toàn tâm trạng của người nhạc sĩ này và hai người đã trở thành tri kỷ của nhau. Sau một thời gian không lâu, Tử Kỳ qua đời, Ba Nha cắt dây và đập vỡ cây đàn của mình, không bao giờ chơi nhạc nữa vì cảm thấy rằng sẽ không còn ai trên thế gian xứng đáng nghe tiếng nhạc của mình.

Trong câu chuyện trên, tác giả giải thích rằng không những tình trạng này xảy ra cho giới nhạc sĩ mà cũng xảy ra cho nhiều nhân tài, hiền giả. Tác giả cho rằng lý do những người này mất niềm tin và tuyệt vọng không phải là vì không có những người khác tài năng như họ trong cuộc đời mà là vì họ khó có cơ hội được gặp gỡ và tìm ra “tri kỷ” của mình. Con để ý đến chữ 䁂 Hiền trong tiếng Hán có nghĩa là người tốt hoặc một người có phẩm chất tốt; và chữ 接 Tiếp trong tiếng Hán có nghĩa là tiếp xúc, gặp gỡ. Nhưng vì không hỏi hoặc kiểm chứng với ai, con đã kết luận rằng hai chữ này chắc là hai chữ Sư Ông đã chọn cho dòng tu Tiếp Hiện. Con đã không để ý kỹ cách phát âm cho đúng. Ai cũng biết rằng cách phát âm đúng là Tiếp Hiện, 現 Hiện có nghĩa là thực hiện và làm cho có mặt bây giờ và ở đây; chứ không phải là 接賢 Tiếp Hiền, không có nghĩa gì cả. Tệ hơn nữa, không những đã hiểu sai chữ Hiện, con còn hiểu lầm cách Sư Ông dùng chữ Tiếp. Dường như Sư Ông dùng chữ Tiếp theo hai nghĩa; một là tiếp xúc, không hẳn là tiếp xúc với con người mà là tiếp xúc với thực tại. Nghĩa thứ hai là tiếp nối, như tiếp nối sự nghiệp giác ngộ, tiếp nối các đức Bụt và Bồ tát. Vậy thì giả thuyết của con hoàn toàn thật sự tan vỡ và sụp đổ rồi. Như đã thấy, khả năng hiểu Hán-Việt của con còn giới hạn.

Trước khi được một sư anh chỉ cho sự lầm lẫn này, con hoàn toàn thỏa mãn với cái “khám phá” của mình và còn cố gắng làm cho nó trở nên một công trình đồ sộ. Bây giờ thì con biết nó hoàn toàn vô lý và con cần khiêm tốn hơn và học hành kỹ hơn. Nhưng có lẽ con có thể cứu vớt được phần nào đống gạch vụn của tri giác sai lầm ấy. Mặc dầu câu chuyện xưa rõ ràng không dính dáng gì đến dòng Tiếp Hiện, nhưng có thể dính dáng đến Wake Up, dù chỉ là đối với con thôi. Vì ít ra sự việc vẫn đúng: là con luôn có giấc mơ đi tìm, gặp, kết thân và tạo cơ hội đến với nhau giữa những người tốt, hiền và uyên bác. Cho nên câu chuyện xưa ấy tạo rất nhiều cảm hứng cho con. Vì nếu không tìm được nhau, không liên kết và đến với nhau, chúng ta sẽ mất đi niềm tin và rơi vào tuyệt vọng; giống tình trạng gần như xảy ra cho con khi còn học ở Cambridge.

Con tin rằng đối với nhiều người trong chúng ta, việc gìn giữ cho ngọn lửa của tình huynh đệ luôn sáng mãi chính là ước nguyện trong trái tim, là giấc mơ giúp chúng ta đi tới. Xây dựng Wake Up cũng giống như nhóm lửa. Nếu ai đã từng xem Sư Ông nhóm lửa thì biết rằng Sư Ông nhóm lửa rất hay. Và tất cả chúng ta đều biết – vì Sư Ông đã dạy điều này rất kỹ – rằng ngọn lửa không sinh, không đến từ hư vô, mà chỉ biểu hiện khi điều kiện đầy đủ. Vậy thì ngọn lửa Wake Up đã luôn có mặt đó và Sư Ông đã có thể nhận ra được giây phút khi các điều kiện đã hội tụ đầy đủ để làm cho nó biểu hiện trở lại.

Và giờ đây Wake Up đang lớn lên, ngọn lửa trong tim chúng ta có thể được trao truyền đi. Ngọn lửa ấy đã được trao truyền cho chúng ta từ Sư Ông và từ Tổ tiên chúng ta. Giờ đây chúng ta lại tiếp tục trao truyền cho những người khác, làm sống dậy tia lửa còn đang ngủ trong tim các anh chị em và các bạn ở khắp nơi trên thế giới. Chúng ta cũng nên ý thức rằng ngọn lửa vừa sống dậy và đang lớn mạnh ấy, cũng như các tăng thân tu học đang mọc lên khắp nơi, những cái thấy sâu sắc, sáng tạo và niềm vui của hơn sáu mươi tăng thân Wake Up trên thế giới, không phải là một mà cũng không phải khác với ngọn lửa đã và đang cháy sáng trong tim các vị cựu tác viên của TTNPSXH trong thập niên 1960. Wake Up là sự tiếp nối của các vị ấy; là con đường cho tuổi trẻ tìm về với nhau, tu học chung với nhau, dấn thân và phụng sự cùng nhau. Những mẩu chuyện về TTNPSXH tiếp tục gây cảm hứng và thúc đẩy tuổi trẻ trong phong trào Wake Up và nhiều bạn trẻ đang thực tập để tiếp nhận 14 giới Tiếp Hiện và để trở thành những thành viên của dòng tu Tiếp Hiện.

Chính vì vậy cho nên chúng con rất vui khi nghe chuyện các sư cô Hành Nghiêm, Mai Nghiêm, Sinh Nghiêm và các thầy Pháp Chứng, Pháp Giao tổ chức những buổi thiền đi và thiền ngồi đột xuất (flashmob) tại trung tâm thành phố ở Hồng Kông, hoặc một ngày Wake Up mỗi tháng tại tu viện Liên Trì. Ngoài ra tăng thân Wake Up Hồng Kông họp mặt mỗi tuần hai lần ngay tại thành phố. Chúng con cũng nghe về các khóa tu Wake Up ở vùng núi đồi Thái Lan và ngày Quán niệm Wake Up ở Bangkok do các sư cô Trừng Nghiêm, Đăng Nghiêm, Trăng Tùng Hạc, Trăng Huyền Thoại, các thầy Pháp Lâm, Pháp Biểu, Pháp Thệ, sư chú Trời Độ Lượng cùng các thầy, các sư cô khác tại PakChong tổ chức.

Chúng con rất hạnh phúc khi tiếp xúc với năng lượng và niềm vui trong giọng nói của sư cô Tại Nghiêm, sư cô Sáng Nghiêm và sư chú Trời Phạm Hạnh khi kể chuyện về khóa tu Wake Up tại Làng vào cuối mùa Hè; hay khi nghe sư chú Trời Ngộ Không kể về khóa Wake Up trong vùng sa mạc Israel; hoặc khi thưởng thức một CD nhạc do sư cô Hài Nghiêm và các bạn trẻ thâu thanh trong một khóa Wake Up có chủ đề “Music We Are” ở EIAB. Chúng con cũng nghe sư chú Pháp Lý và sư cô Sứ Nghiêm kể về khóa Wake Up vui vẻ và nhộn nhịp của các bạn trẻ gốc Pháp và Việt tại thiền đường Hơi Thở Nhẹ ở Paris.

Khi nghe ở đâu đang có khóa Wake Up, khi thấy những trang quảng cáo đẹp mắt trước khóa tu và những tấm ảnh vui nhộn sau khóa tu, chứng kiến được ngọn lửa của tâm Bồ Đề đang rực sáng trong lòng các thầy, các sư cô và các bạn trẻ quanh thế giới, chúng con biết rằng ngọn lửa đang được truyền đi từ, trái tim đến trái tim, và giấc mơ ngày nào đã thành hiện thực rồi. Giờ đây những tia lửa ấy đang lan rộng ra từ tăng thân Wake Up này qua tăng thân Wake Up kia. Chúng ta cũng có một diễn đàn trên mạng lưới toàn cầu, nơi mà các thành viên nòng cốt cư sĩ và xuất sĩ có thể vào để chia sẻ giấc mơ và ước nguyện của mình.Chúng con thấy rất vui khi một vị ở Wake Up New York đặt một câu hỏi và các vị ở Wake Up London, Barcelona, Bangkok, Seoul và Tokyo đóng góp vào để chia sẻ kinh nghiệm và đề nghị. Sư Ông thật sự là người nhóm lên ngọn lửa ban đầu, một người biết cách xây dựng tăng thân. Sư Ông chỉ cần đề nghị những gì nên làm trong chuyến hoằng hóa Wake Up ở châu Âu và bây giờ nhiều chuyến hoằng hóa đang diễn ra ở khắp nơi.

Sau khi thấy những gì thầy Pháp Tử làm được trong những ngày Quán niệm và trong các khóa tu cuối tuần tại một vài trường đại học ở Indonesia, chúng con nhận biết rằng chúng con cũng có thể làm được như vậy tại Anh quốc. Như để khuyến khích chúng con, Sư Ông dạy rằng: “Xét cho cùng, Indonesia cũng đâu phải là nước theo đạo Bụt!” Bây giờ chúng con đã có hai chuyến hoằng hóa Wake Up ở Anh quốc, hai hoặc ba chuyến tại Ái Nhĩ Lan, một sang Tây Ban Nha, hai ở Ý và một chuyến hoằng hóa quy mô tại ven biển miền đông Hoa Kỳ nhờ vào sự cảm hứng và năng lượng của thầy Pháp Lưu và sư cô Thệ Nghiêm.

Sau đó một năm, thầy Pháp Hộ, thầy Chỉnh Quang, sư cô Bội Nghiêm, sư cô Phú Nghiêm và các vị xuất sĩ khác ở tu viện Lộc Uyển đã tổ chức hai chuyến Wake Up tại tiểu bang Cali và vùng tây bắc Hoa Kỳ. Thầy Pháp Siêu và sư chú Trời Bảo Tích cũng đã cố gắng sắp xếp vài buổi họp mặt Wake Up năm vừa qua trong chuyến đi Ấn Độ và Bhutan. Kết quả bây giờ đã có một tăng thân Wake Up tại Bhutan và tăng thân ấy đã tổ chức được một trại hè Wake Up ở đó. Thực tế là hầu hết các khóa tu Wake Up đều đưa đến sự ra đời của các tăng thân Wake Up. Các tăng thân này hiện đang phát triển mạnh mẽ và đang tự tổ chức những ngày Quán niệm và các khóa tu.

Năm nay thầy Pháp Vũ, thầy Pháp Mãn và một số các sư cô của tu viện Bích Nham đang dự tính một chuyến Wake Up ở vùng trung-tây Hoa Kỳ. Các thầy Pháp Dung, Pháp Nguyện, Pháp Khải, các sư cô Đẳng Nghiêm, Bách Nghiêm, Bội Nghiêm, Bạch Nghiêm đang chuẩn bị cho chuyến Wake Up tại châu Mỹ vào mùa xuân này cho các bạn trẻ gốc Việt ở Canada và Hoa Kỳ. Thầy Pháp Hải đang bàn về một chuyến Wake Up cho nước Úc và thầy Pháp Lưu đang tổ chức một chuyến Wake Up cho sáu nước ở nam Mỹ vào mùa Thu. Sư cô Sáng Nghiêm và sư chú Trời Phạm Hạnh đang đợi thêm vài điều kiện thuận lợi nữa để biểu hiện một chuyến Wake Up cho Bỉ và Hòa Lan. Có tin đồn rằng sẽ có một chuyến Wake Up tại châu Á, đúng vậy không thưa thầy Pháp Khả, sư chú Trời Kỳ Ngộ, sư cô Tuyết Nghiêm, sư cô Nghĩa Nghiêm? Nếu được như thế thì vui quá – xin nhớ mời chúng con cùng tham dự nhé!

Vậy Wake Up cũng là một cách để đem người trẻ Tây phương và Đông phương đến gần cộng đồng xuất sĩ hơn; nhờ đó có thể tạo cảm hứng cho họ gia nhập vào đoàn thể những người xuất sĩ. Sư chú Trời Hiện Tại đã làm như thế sau khi tham dự chuyến Wake Up ở miền đông Hoa Kỳ. Khi con mới về Làng lần đầu 15 năm trước đây, nếu quí vị cho con biết rằng cuối cùng con sẽ trở thành một thầy tu thì chắc con đã chạy trốn rồi. Lúc đó con còn nghi ngờ về các “tổ chức tôn giáo”. Cụm từ này gần như có nghĩa xấu tại Tây phương – gần giống như một giáo phái có tính cách sùng bái hoặc tẩy não.

Các tổ chức tôn giáo thường bị đổ lỗi cho rất nhiều tội vì đã gây ra không biết bao nhiêu là khổ đau trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Cho nên tuổi trẻ như những con thú hoang ở gần cạm bẫy, họ có nhiều nghi ngờ, luôn phòng thủ và nếu có ai có ý khuyến dụ họ tham gia một tổ chức nào đó, họ liền chạy mất. Vì vậy khi giới thiệu chương trình Wake Up đến với người trẻ tại Tây phương, chúng con cố gắng thể hiện việc này qua hành động Wake Up và cách sống Wake Up thay vì giải thích về Wake Up.

Chúng con được nghe rằng tăng thân Wake Up Bangkok đã tổ chức thiền xe đạp ở công viên, hoặc tăng thân Wake Up Seoul thâu hình và nhạc bài “Thở vào thở ra”, hay tăng thân Wake Up Hòa Lan thiết lập ngày Quán niệm trượt sóng, tăng thân Wake Up London phối hợp một buổi liên hoan nhạc và thể dục nhịp điệu, tăng thân Wake Up New York thiết lập chương trình chăm sóc các em thiếu niên. Khi nghe như vậy, chúng con biết các bạn ấy đã hiểu – đó chính là Wake Up.

Thế thì đây là lần đầu tiên con cố gắng giải thích về Wake Up và cảm thấy việc làm này hơi kỳ lạ. Con nghĩ điều này cũng đúng với các anh chị em thành viên khác. Tốt hơn hết là cứ để Wake Up tự trưởng thành và tương tức với những gì nó đang là; đang biểu hiện từ những giấc mơ chung, những ước nguyện và những hoạt động lành mạnh của thế hệ trẻ và của các thầy, các sư cô trên thế giới.

Thường thì một buổi họp mặt Wake Up tự nó xảy ra, thay vì cần phải sắp xếp trước đó. Nên khi nghe rằng có một căn nhà cho Wake Up nơi mà người trẻ có thể về sống và thực tập chung ở Austin, tiểu bang Texas, chúng con nói với nhau rằng: “Tuyệt hảo! Một căn nhà Wake Up! Sao mình đã không nghĩ ra sớm?” Bây giờ đó đây đã có vài căn nhà Wake Up rồi; như Gate house ở tu viện Lộc Uyển, một ở Los Angeles, một ở San Diego. Ở những nơi này, các bạn trẻ tổ chức để cùng chung sống và tu tập với nhau, cam kết sống trong tình anh chị em và thực tập Năm giới.

Thú thật, phần lớn những gì hay nhất về Wake Up thường do các bạn trẻ phát kiến cả. Chúng con chỉ nghe kể lại sau đó thôi. Ví dụ như những buổi thiền tập đột xuất (flashmob), dường như tăng thân Wake Up London đã bắt đầu trước. Sau đó khắp nơi đều làm, như ở New York, Barcelona, Hồng Kông, Rome, Tokyo, Amsterdam, Paris, LA… đây là chỉ đề cập một số địa điểm thôi. Ngay cả Sư cô Chân Không cũng đã tham dự một buổi thiền flashmob ở Union Square tại New York với hơn 300 người. Con nghĩ ai cũng cảm nhận rằng Sư cô lúc ấy là người trẻ nhất và “ngầu” nhất!

Vậy chúng ta đừng để Wake Up trở thành một “tổ chức tôn giáo”. Hãy đừng cố giải thích thật sự Wake Up là cái gì hoặc không phải là cái gì; bởi vì Wake Up không phải là một tổ chức mà cũng không phải vô tổ chức. Wake Up tự nó tổ chức như cuộc đời, như thiên nhiên, biểu hiện một cách tương tức nhờ sự đóng góp của nhiều thành phần. Và nếu có dính dáng gì đến tôn giáo, hãy để nó mang những ý nghĩa xưa nhất và đẹp nhất của cụm từ ấy; tuy đôi lúc có khác nhau hoặc mâu thuẩn nhau. Theo tiếng La tinh, từ tôn giáo, religare, có nghĩa là buộc chặt, kết hợp, kết nối; religionem, nghĩa là sự tôn trọng cho những gì thiêng liêng; hoặc religiens, cẩn trọng, có chánh niệm. Sự tôn trọng đối với những gì thiêng liêng cần bao gồm lòng tôn trọng lẫn nhau và đối với Đất Mẹ. Chúng ta trau dồi những phẩm chất này bằng sự thực tập Năm giới. Vậy Wake Up có thể được định nghĩa như là một sự tự tổ chức và phối hợp giữa những người trẻ hiền, lành và tài năng để trau dồi lòng tôn kính cho những gì thiêng liêng bằng sự thực tập Năm giới. Hoặc như Sư Ông đã định nghĩa – đoàn thanh niên Phật tử (và không Phật tử) phục vụ cho một xã hội lành mạnh và từ bi.

Đương nhiên, người trẻ hiền, lành và tài năng đầu tiên ta cần tiếp xúc và kết nối với là chính ta. Sư Ông đã dạy chúng ta biết bao lần rằng ta phải là tri kỷ của chính ta. Theo ý này, con không cần phải đi đâu hoặc làm gì để tham dự vào Wake Up cả. Cuộc sống xuất sĩ của con đang là Wake Up rồi. Chải răng chính là Wake Up, mở cửa là Wake Up, ngồi với anh chị em trong thiền đường là Wake Up và thức dậy mỗi buổi sáng cũng có dính dáng đến chuyện Wake Up, miễn là con phải nhớ mỉm cười.

Vậy Wake Up là khối lửa trong tim chúng ta. Hãy thổi vào và ngắm các tia lửa bay lên. Xin đừng cố gắng kiềm chế Wake Up. Hãy để nó ở ngoài vòng kiểm soát để nó bay lên, đón gió và ai biết được nơi nó sẽ đến?

Về giữa bao la

Chân Duyệt Nghiêm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bao la ơi,
Cho tôi thả mình giữa lòng bao la
trên những cánh đồng mênh mông
nơi mặt hồ lung linh gợn sóng
giữa bầu trời cao xanh lồng lộng

Cho tôi là gió, là mây, là nước, là chim
gọi chào những ngọn lá, cành hoa lời chào bè bạn
cho tôi lắng lòng nghe từng âm thanh vang trên im lặng
và mỉm cười lặng thầm đáp tiếng tri âm
cho tôi thả bàn tay vào giữa nước non xanh
để thấy muôn trùng đã về với muôn trùng từ vạn kiếp…

Bao la ơi,
Theo tôi về chơi giữa mùa xuân
ngập nắng
Tôi đã theo suốt chiều dài hơi thở em
ngắm những mầm lá lên xanh
(dáng hình ‘nụ cười thiên thu’ còn đó)
Ô hay giữa rộng lượng đất trời
từ tiều tụy nào, đời sống đã theo em quay trở lại

Bao la ơi,
Tạ ơn không gian mở ra cho cõi lòng bé dại
Ta về thả khói chân mây
Ta về cười với những buồn vui nhỏ hẹp giữa đôi tay
Tạ ơn em có mặt, tự bao giờ, ở đó…

Bao la ơi,
Sáng nay tôi bỗng nghe tiếng hải triều đập dồn vang,
mở ngõ…
Mắt sáng
Tim trong
Chưa từng là một giọt yếu đuối, nhỏ nhoi…
Em có nghe tiếng tôi cười qua ào ạt gió ngàn
những tầng không, kẽ lá
Như tôi đang thấy em, trời xanh mắt biếc,
mỗi cái nhìn mỗi mỗi nét nguyên sơ…
Ôi, hai ngàn sáu trăm năm,
dấu thời gian bát ngát
Người và cuộc sống vẫn chờ…
Ta đi thôi em,
đừng để tháng ngày thêm trôi mỏi…

Bao la ơi, bao la ơi…
giữa lòng bao la, ta không còn nhớ gió ngàn khơi…

Thiền đường xóm Hạ ngày xưa

Chân Định Nghiêm

Các sư em thân thương,

Hôm nay ngồi họp trong thiền đường Nến Hồng ở xóm Hạ, các anh chị em mình đã ý thức rằng chỉ trong vài tháng nữa, mình sẽ không còn được ngồi trong khung cảnh thân thương này khi toàn bộ tòa nhà sẽ được xây cất lại và sẽ đổi mới hoàn toàn. Trước khi bắt đầu buổi họp, mình đã được nhâm nhi bánh và trà Ấn Độ (chai) thật thơm ngon. Ngoài ra, đặc biệt chị đã rất hạnh phúc tận hưởng từng giây phút ngồi đây, bởi vì chính trong thiền đường này chị đã được xuất gia, được thiền trà ăn mừng sau đó với Sư Ông và đại chúng.

Thiền đường Nến HồngCác sư em đã từng nghe kể rồi đó, thiền đường Nến Hồng đã từng là thiền đường lớn nhất và “le” nhất của cả hai xóm Thượng và Hạ khoảng trước năm 1990. Sau đó, Làng xây thêm hai thiền đường lớn hơn là thiền đường Cam Lộ ở xóm Hạ và thiền đường Nước Tĩnh ở xóm Thượng, nhưng hai thiền đường này chỉ để dùng vào khóa tu mùa Hè và các Đại Giới Đàn thôi. Tất cả các sinh hoạt còn lại kể cả Giáng sinh, Tết ta hay Tết tây cũng vẫn còn được tổ chức trong thiền đường Nến Hồng tại xóm Hạ hoặc pháp đường Chuyển Hóa ở xóm Thượng (những năm đầu, thiền đường Chuyển Hóa được gọi là pháp đường). Không phải chỉ riêng chị mà hầu hết các sư cha và sư mẹ của các em đều đã được Sư Ông xuống tóc và truyền giới tại hai thiền đường này.

Đại giới đàn đầu tiên tại Làng là Đại Giới Đàn Cam Lộ, được tổ chức vào đầu năm 1992. Chính tại thiền đường Nến Hồng vào buổi sáng đã có các buổi Lễ Thỉnh Sư cho các giới tử cầu xin tiếp nhận giới Khất sĩ, Nữ khất sĩ và Thức xoa ma na. Vào chiều hôm đó, Sư Ông và hội đồng truyền giới đã truyền giới khất sĩ cho sư cha Nguyện Hải, giới nữ khất sĩ cho các sư mẹ Diệu Nghiêm và Chân Vị, và giới Thức xoa cho các sư mẹ Đoan Nghiêm, Bảo Nghiêm, Hoa Nghiêm, Từ Nghiêm và các vị khách tăng khác nữa. Trong Đại giới đàn Hương Tích mùa Hè năm 1994 và nhiều đại giới đàn khác sau đó, đại chúng đã làm lễ cung thỉnh giới bổn Ba la đề mộc xoa cũng từ thiền đường Nến Hồng đến thiền đường Cam Lộ hay tháp chuông để làm lễ khai đàn.

Lễ Giáng sinh đầu tiên chị được tham dự ở Làng và đã có ấn tượng sâu sắc cũng tại thiền đường Nến Hồng vào năm 1993. Trong chương trình năm đó có tiết mục nghe chuông nhà thờ Moscow từ băng cassette ngay sau giờ ngồi thiền, có rước đèn với những cây đèn cầy đủ màu, dài và thon. Nhiều ngày trước lễ Giáng sinh, chị và sư mẹ Tuệ Nghiêm đã chuẩn bị hết lòng: làm chân đèn cầy với đủ hình sắc bằng bột mì rồi nướng lên; tập hát thánh ca với sư mẹ Chân Đức và một số các vị cư sĩ Tây phương… Tất cả các tiết mục đó đã xảy ra tại thiền đường này.

Gia đình Con Cá 1 tuổiThiền đường Nến Hồng vào những năm đó chưa có tượng Bụt lớn như bây giờ. Lúc đó, chỉ có chiếc bàn nhỏ và thấp nằm chính giữa sát tường, trên đó để một tượng Bụt nhỏ xíu bằng đồng đen. Phía trên tường có treo một bức thư pháp có bốn chữ Nho là Dục An Đắc An do Sư Ông nhờ ông Hoàng Thơ viết. Lúc thầy Đức Thiện – một khách tăng đầu tiên – từ Việt Nam qua Làng, thầy đã hết sức thất vọng khi thấy tượng Bụt ở Làng nhỏ bé tí như thế. Đến năm 1995, Sư thầy chùa Đình Quán mới gửi một tượng Bụt lớn qua cúng dường Làng mà mình đang thờ cho đến ngày hôm nay. Bước vào cửa thiền đường Nến Hồng, nhìn qua tường bên trái, trên tường có treo một bản kinh Bát Nhã thật to trên nền thảm màu tím đậm, một phẩm vật được cúng dường lên Sư ông từ Đại Hàn. Lúc chị còn là sa di ni, bản kinh này đã gây một nguồn cảm hứng cho chị và cho sư mẹ Tuệ Nghiêm học tiếng Hán mỗi ngày. Mỗi khi có các sinh hoạt trong thiền đường này, chị thường nhìn bản kinh và ôn thầm bài tiếng Hán của mình. Ngoài ra, trong thiền đường còn có một tủ đựng kinh nằm bên phải, vài cái tọa cụ, vài cái bồ đoàn nhồi mạt cưa và một cái lò sưởi củi đen đủi và cũ kỹ. Tuy thấy cũ kỹ vậy đó chứ cái lò sưởi này là một vật sang trọng khi Làng mới mua nó về. Trước đó, đâu có phòng nào có được cái lò sưởi lớn như vậy?

Vào những năm đầu, cả xóm Hạ chỉ có một lò sưởi củi duy nhất nằm tại nhà bếp. Vì vậy vào mùa đông, căn bếp này nền nhà còn bằng xi-măng, là trung tâm của cả xóm. Sinh hoạt nào cũng xảy ra tại đây: nấu nướng, ăn uống, làm việc, học hành, phơi áo quần, kể cả ăn Giáng sinh và ăn Tết. Sau khi nấu nướng và dùng cơm trưa, các sư cô ở lại đây nghỉ trưa luôn cho ấm. Giặt áo quần xong cũng phơi ngay tại đây thì áo quần mới khô nổi. Vào dịp Giáng sinh, thầy trò xuất sĩ và cư sĩ quây quần ngồi dùng cơm tối xung quanh bốn cái bàn kê sát lại thành một cái bàn thật lớn. Dùng cơm xong, tất cả mọi người kéo ghế ngồi về phía bức tường xoay mặt ra ngoài trời, nhìn về phía mấy cái bếp là sân khấu, để thưởng thức chương trình văn nghệ. Tuy chỉ có mấy thầy trò và vài người khách cư sĩ nhưng chương trình văn nghệ cũng xôm tụ lắm, nào là hát tân nhạc, nào là cải lương, ngâm thơ, v.v… Ngoài ra, sau những bữa cơm, Sư Ông thường kể chuyện xưa cho các đệ tử nghe, chuyện lúc Sư Ông còn ở Nhật, ở New York và những thành phố khác trong thời gian kêu gọi hòa bình.

Cũng tại nơi đây, Sư Ông đã đem đồ nghề từ Sơn Cốc về để dạy chúng thường trú (lúc bấy giờ chỉ có các sư mẹ Chân Không, Chân Đức, Chân Vị, Sư cô Quảng Giải (tức là sư cô Thanh Lương), anh Đức, chị Đoan, chú Hoàng, cô Tịnh Thủy…) sắp trang và dán gáy cho những cuốn sách như Tý, Tình Người, Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Kinh Pháp Ấn, Kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Các Bậc Đại Nhân… Căn nhà bếp cũng đã từng là “cơ sở làm báo Làng Mai” ngày xưa. Sau khi đánh máy bằng máy đánh chữ (khi chưa có máy vi tính) hay bằng cái máy vi tính đầu tiên của Làng, Sư Ông và cô Tịnh Thủy (sư mẹ Quy Nghiêm) thường bày la liệt tất cả những trang báo trên những cái bàn kê sát lại rồi cắt ra từng khoảnh bố trí theo chủ đề, cắt dán thêm hình xen kẽ để cho mỗi trang báo có thêm không gian, và nhìn khỏi thấy “nhức mắt”. Sau này, “cơ sở làm báo” được dời qua phòng Mai Vàng kế thiền đường Nến Hồng, hiện nay là văn phòng ghi danh Xóm Hạ. Sư Ông cũng dạy các sư cô và các anh chị viết văn để làm báo. Sư Ông còn dạy mọi người cách thiết kế những bài thi kệ thực tập trên những miếng giấy rất nghệ thuật và dán trên những tấm gỗ vuông xinh xắn để phát hành. Anh Đức đã là người đi lùng hết các tiệm gỗ để lựa và đặt gỗ về làm công việc này. Mỗi khi sáng tác xong một bài hát mới như bài Ba Sự Quay Về nương tựa, bài Boong boong, Đã Về Đã Tới, Sư Ông thường ngồi đây để dạy đại chúng hát. Sau một chuyến đi dạy ở Brazil về, trên máy bay Sư Ông đã đặt nhạc cho bài Uyên Nguyên. Về đến Làng, Sư Ông đã dạy anh Đức hát bài này tại nơi đây.

Trước kia, nhà bếp có cánh cửa thông với hành lang nhà Tùng Bút, nơi đặt cái điện thoại độc nhất của xóm. Từ đó, mình có thể đi thẳng vào căn phòng cạnh thiền đường Nến Hồng, nơi có chiếc đàn piano bây giờ, lúc đó còn là phòng của anh Đức và chị Đoan, căn phòng ngủ độc nhất được lót gỗ bởi chính chủ nhân. Chính tại căn phòng này, anh Đức, chị Đoan và cô Tịnh Thủy đã đánh máy cuốn Đường Xưa Mây Trắng với cái máy Macintosh đầu tiên của Làng do nhà xuất bản Parallax cúng dường. Đó là vào mùa đông năm 1987. Sư Ông viết sách ở xóm Thượng, tại căn phòng trên lầu của nhà Friendship đối diện nhà bếp. Xung quanh Sư Ông toàn là kinh và sách dùng để tham khảo. Sư Ông viết với một tay, còn tay kia hơ trên lò sưởi củi cho đỡ lạnh. Thỉnh thoảng Sư Ông vói tay lấy ly trà từ trên lò sưởi uống một ngụm để cho ấm mà viết tiếp. Viết được vài chương, Sư Ông chuyền xuống ngay cho anh Đức, chị Đoan và cô Tịnh Thủy để đánh tiếp vào máy vi tính. Trong phòng anh Đức và chị Đoan chưa có lò sưởi nên chị Đoan và cô Tịnh Thủy luôn luôn phải trùm một cái mền dày kín mít. Cô Tịnh Thủy chỉ để hở hai con mắt ra để thấy đường mà đọc bài, chị Đoan mang găng tay đánh máy nhưng tay vẫn bị cóng. Tuy vậy, hai chị em làm việc ngày đêm say mê quên ăn quên ngủ. Có một lần đang làm việc hăng say, bỗng dưng cô Tịnh Thủy im ru, không ơi hỡi gì nữa, chị Đoan đang đánh máy ngon trớn cũng phải dừng lại, xoay qua nhìn thì mới thấy cô Tịnh Thủy đang ngẹn ngào lau nước mắt, đó là đoạn Bụt nhập Niết bàn!

Đến mùa Đông năm 1988, Làng sắm được một cái lò sưởi củi nhỏ xíu màu nâu với giá 100 quan tiền để đặt trong căn phòng kế phòng chú Hoàng và cô Tịnh Thủy ở cư xá Hồng Dòn, sau này là thư viện. Mùa đông năm đó, Sư Ông đã dạy Duy Thức Tam Thập Tụng cho chúng thường trú cạnh cái lò sưởi mới ấm áp này.

Mùa đông kế tiếp, Làng lại sắm thêm được hai cái lò sưởi củi thật to, một cái cho thiền đường Nến Hồng và một cái cho nhà ăn. Từ đó, nhà bếp đánh mất vai trò trung ương, bởi vì các bài pháp thoại và các lớp học được chuyển qua nhà ăn. Trong các mùa An cư kiết Đông liên tiếp từ 1989 đến 1994, chính tại nhà ăn này Sư Ông đã giảng Đại tạng Nam truyền, Đại tạng Bắc truyền, Năm Mươi Bài Tụng Duy Biểu, Phật Pháp Căn Bản, Truyện Kiều… Cuối mùa An cư 1993-1994, Sư Ông cho các thầy các sư cô thi dưới hình thức “pháp hội”. Sư Ông viết xuống 50 đề tài để mỗi người bốc thăm. Ngay tại chỗ, ai bốc được đề tài gì thì phải lên ngồi giảng về đề tài đó trong vòng 10 hay 15 phút! Thời đó, đa số các sư mẹ sư cha của các em vẫn còn là sa di, sa di ni hoặc thức xoa, vì vậy các sư em có thể tưởng tượng là đại chúng lo lắng và hồi hộp như thế nào. Có một sư mẹ sợ quá, ngồi khóc thút thít rồi đi xuống. Riêng chị thì chị nhớ là chị đã làm cho mọi người cười rất vui trong khi chị giảng huyên thuyên về bát chánh cần tứ chánh đạo. Tại đây, Sư Ông cũng đã gọi sư cha Nguyện Hải lên để “trả bài” về sự thực tập Làm Mới, đã dạy lại cách thỉnh chuông khi nghe một sư mẹ thỉnh chuông không được hay cho lắm, và sư mẹ đã khóc nức nở. Cũng tại nơi đây, Sư Ông giảng truyện Kiều đến đoạn Từ Hải bị cung tên bắn và đứng chết ngay tại chỗ như một trái chôm chôm, Sư Ông ráng hài hước một chút để làm đại chúng cười, nhưng chẳng ai buồn cười mà lại còn sụt sùi nước mắt, cô Tịnh Thủy thì còn bật khóc ra tiếng nữa.

Tất cả các bàn ăn cũng như bàn Sư Ông ngồi giảng đều là những tấm ván ép màu trắng được đặt trên những cái chân bàn xếp bằng gỗ trên nền xi-măng. Đại chúng ngồi trên những chiếc ghế nhựa màu trắng từ thời đó. Những năm đầu, các sư mẹ Chân Không và Chân Đức luôn luôn thâu thanh những bài pháp thoại của Sư Ông, mỗi người đảm trách một cái máy. Tuy vậy, Sư Ông cũng thâu với cái máy riêng của Sư Ông. Cái máy thâu thanh đầu tiên của Sư Ông thâu với cassette, màu đen, khá to và nặng. Sau đó, Sư Ông chuyển qua thâu với cái máy walkman, rồi một cái khác nhẹ hơn. Các pháp thoại luôn luôn bị gián đoạn mỗi khi Sư Ông cần phải đổi mặt băng hoặc thay pin. Có khi băng hết hoặc pin hết lúc nào Sư Ông không biết. Đến khi giảng xong mới biết rằng thâu thanh đã bị mất một đoạn. Đó là lý do tại sao phải thâu với nhiều máy để bổ túc cho nhau. Sau này Sư Ông có một cái máy walkman mới tự động đổi mặt băng. Mùa đông 1993, cô Chân Tuệ Hương từ Úc đem cúng dường cho ban âm thanh một cái máy Dat mới nhất với một cái micro thật to để thâu được giọng của Sư Ông từ xa mỗi khi Sư Ông đứng dậy viết bảng. Năm sau Sư Ông đi dạy ở Đông Nam Á và có người cúng dường một cái máy thâu với minidisc vừa xuất hiện trên thị trường. Cũng vào năm đó, Sư Ông bắt đầu dùng micro cài trên áo.

Ngoài thâu thanh, chú Hoàng (thầy Pháp Lữ) phụ trách thâu hình lúc bấy giờ. Chị còn nhớ trên máy thâu video, chú cột một ống tre dài ra phía trước, trên đầu ống tre gắn cái micro. Đó là cách chú làm để đặt micro gần Sư Ông hơn và thâu giọng Sư Ông rõ hơn. Sau này mình mới biết có những video có hình mà không có tiếng hoặc có tiếng mà lại không có hình. Nhờ những cuộn băng Sư Ông thâu được mà sau đó, chú có thể ráp tiếng vào hình. Ngày nay kỹ thuật tân tiến, các em thấy có được một cái băng giảng CD hoặc băng hình DVD là một chuyện tầm thường, lại còn có pháp thoại sống trên mạng đủ thứ, nhưng vào thời đó mà thâu được đầy đủ và giữ gìn được cho đến ngày hôm nay là cả một công trình bền bỉ và cần mẫn.

Năm 1991, anh Đức và chị Đoan mang về Làng một máy vi tính Macintosh thứ nhì. Máy được đặt trong phòng sư mẹ Đoan Nghiêm, bây giờ là nhà kho sách của quán Ô Môi. Vào thời đó chưa có cư xá Mây Tím, cũng chưa có phòng học hay phòng sinh hoạt chung (common room) cho các sư cô, nên các sư cô học bài và làm việc ngay trong phòng ngủ luôn. Nhiều cuốn sách của Sư Ông đã được sư mẹ Đoan Nghiêm đánh và dàn trang (layout) trên máy này với phông chữ Bình Minh, rồi sau đó đổi qua phông VPS như Nghi thức truyền giới cho Khất sĩ và Nữ khất sĩ, Sáu Học Pháp của Thức xoa ma na, cuốn Con Đường Chuyển Hóa (bố trí lại), Kinh Kim Cương Gươm Báu Cắt Đứt Phiền Não, Năm Cánh Tỏa Kỳ Hương, Giếng Nước Thơm Trong, Về Việt Nam… Vào thời đó, trong chúng chỉ có từ 10 đến 20 sư cô, người thì ít mà công việc thì nhiều. Thường thường trước và sau mỗi khóa tu mùa Hè, đại chúng phải bỏ ra cả hai tuần lễ chấp tác sáng chiều với “staff” cư sĩ mới chuẩn bị cho tạm xong. Trong năm, mỗi người nhận ba bốn tri (trách nhiệm) cùng một lúc, ấy vậy mà mỗi năm sư mẹ Đoan Nghiêm cứ phụ Sư Ông cho in thêm sách mới thường xuyên. Và chính tại căn phòng này, sư mẹ Đoan Nghiêm cũng đã đánh máy tập Hồi ký của Sư Ông.

Trước mùa xuân năm 1993, các sư cô đã dời nhà bếp qua nhà ăn. Nhà bếp cũ trở thành văn phòng nơi đặt máy photocopy. Trong nhà bếp mới, có ba cái “lò ba chân” được đặt dọc bức tường kế phòng khử trùng bây giờ, cạnh đó là cái tủ “garde-manger”. Một cái kệ úp chén bát, nồi niêu được đặt dọc bức tường cạnh mái hiên nơi rửa chén bây giờ. Trước giờ pháp thoại, đội nấu ăn phải dọn dẹp sạch sẽ nhà bếp và chỉ được tiếp tục nấu sau giờ pháp thoại. Căn phòng này lại trở thành trung tâm của xóm Hạ: vừa là pháp đường nơi Sư Ông cho pháp thoại,vừa là nhà ăn, nhà bếp, phòng họp, lớp học. Lớp nấu ăn chuẩn bị cho khóa tu mùa Hè (học cách tính số lượng thức ăn phải nấu cho đủ số người ăn), các lớp tiếng Pa-li, tiếng Phạn, kinh Nam truyền do sư mẹ Chân Đức dạy, lớp uy nghi của sư cô Như Phước, lớp tiếng Hán của sư cô Viên Quang, lớp tiếng Quan thoại của Feifei, lớp dâng hương của sư mẹ Đoan Nghiêm… Ngày nay, các buổi họp cho các xóm trước những khóa tu lớn rất nhanh và gọn, đó cũng chính là nhờ vào các buổi họp trong những năm đầu tại đây đã thiết lập được cách tổ chức cũng như thời khóa để đại chúng cứ theo đó mà bổ sung thêm trong những năm sau này.

Đến năm 1995, các sư cô lại dời nhà bếp vào lại trong nhà bếp cũ. Lúc đó có bác Tư từ Úc sang ở lại Làng vài năm, bác là tác giả của những tấm bảng gắn rải rác nơi các xóm viết bằng nét chữ đều như in của thầy giáo ngày xưa, và cũng là tác giả của nhiều bài hát như “Mời bạn hãy dâng ly trà, Hiểu và Thương, Sáng nay em ra vườn thấy bông hường…” Bác nói: “Cái nhà bếp rất là quan trọng mà các sư cô cứ dời lui dời tới như vậy thì trong chị em thế nào cũng có chuyện lục đục.” Nghe bác Tư nói vậy, các sư cô quyết định để luôn nhà bếp tại đó cho đến ngày hôm nay.

Khi chị về Làng để tập sự xuất gia, cư xá Đồi Mận và cư xá Hồng Dòn vừa được cài hệ thống sưởi ga, tất cả những cư xá còn lại vẫn còn dùng sưởi củi. Thời sư mẹ Đoan Nghiêm thì các sư mẹ còn phải đi lượm gỗ bỏ tại những xưởng cưa đem về xài thêm để không phải mua củi nhiều quá. Những khúc củi to mua về được chất dưới hiên, nơi đặt cái nhà lạnh bây giờ. Những khúc củi to quá khổ, phải được bổ ra mới vừa với lò sưởi. Và các chị được dạy là “hai tay cầm thật chặt một cái rựa to và nặng, đưa cái rựa cao lên quá đầu rồi giáng nó xuống khúc củi theo chiều dọc để bửa nó ra.” Chắc có nhiều em bây giờ đâu biết làm cái việc này phải không? Phải học mới làm được các sư em à. Sau khi được bửa nhỏ, những khúc củi này vẫn còn quá dài cho cái lò sưởi. Vì vậy giai đoạn kế đến là phải cưa ngắn củi lại với cái máy cưa bằng xăng. Sư mẹ Đoan Nghiêm đã từng là chuyên viên bửa củi giỏi lắm đó, các em có biết không?

Ngoài việc học bửa củi, chị còn được học làm tàu hủ nữa. Vào thời đó làm gì mà có máy xay đậu nành tân tiến như bây giờ! Mấy chị xay đậu với máy xay sinh tố rồi nhồi tay với nước nóng để làm sữa đậu nành trước khi nấu lên thành tàu hủ. Thức ăn đơn sơ hơn bây giờ nhiều lắm. Lâu lâu mới có tàu hủ hoặc món tráng miệng. Vì chưa quen với “chế độ ăn uống” này nên năm đầu chị rất thèm ngọt. Có một lần cô Tịnh Thủy tặng sư mẹ Tuệ Nghiêm một hộp sô-cô-la Léonidas. Thế là mỗi trưa sau giờ cơm, sư mẹ Tuệ Nghiêm rủ chị đi dạo dưới những hàng cây mận. Ngồi xuống dưới bóng mát, sư mẹ cho chị một viên sô-cô-la và hai chị em cùng thưởng thức thật lâu, mỗi ngày mỗi người chỉ được ăn một viên thôi nhé. Thưởng thức xong, chị trở về lại phòng để nghỉ trưa và để sư mẹ đi chơi tiếp một mình. Có một lần nhận được một thùng bánh từ Mẹ chị gửi qua, chị liền xin một cái hẹn với sư mẹ Tuệ Nghiêm để Làm mới trong thiền đường Nến Hồng. Sư mẹ Tuệ Nghiêm lo lắng ra mặt. Đến khi gặp nhau trong thiền đường, chị đem thùng bánh ra chia với sư mẹ làm sư mẹ thở phào nhẹ nhõm. Thùng bánh này đã giúp chị vượt qua được cơn thiếu ngọt.

Ngày nay, các em chấp tác trong đội luân phiên mỗi ngày và cảm thấy đây là chuyện bình thường. Nhưng hệ thống làm việc có tổ chức này là do sư cô Thanh Lương khởi xướng đầu tiên và đã làm cho các sư mẹ của các em vô cùng khâm phục và ngưỡng mộ. Chị còn nhớ mỗi ngày có một sư cô trong các đội chuông phải thức trước giờ thức chúng khoảng 30 phút. Đố các em biết để làm gì? Trước hết là để đi đốt lò sưởi trong thiền đường. Đốt sớm như vậy thì một giờ sau thiền đường sẽ đủ ấm cho đại chúng ngồi thiền. Những lần đầu chị không biết cách chụm lửa, củi đã không chịu cháy mà lại còn bị khói bay mù mịt hết cả thiền đường. Trong trường hợp như vậy thì phải mở toang cửa cho khói bay ra ngoài trời. Chưa sưởi được bao nhiêu mà lại làm cho thiền đường lạnh hơn trước nữa! Để đề phòng những “bất trắc” như vậy có thể xảy ra thì phải dậy thật sớm để đốt lò. Phòng Hoa Cau (phòng của Sư Ông) lúc đó cũng chỉ có lò sưởi củi. Thị giả của Sư Ông có nhiệm vụ đốt lò, sưởi ấm phòng trước khi Sư Ông đến. Đó là vì sao có một chương uy nghi dạy về cách đốt lò sưởi củi trong cuốn Luật Sa Di của mình đó các em. Đa số các sư mẹ sư cha của các sư em là dân thành phố, về Làng tu đều phải được học tất cả, từ bửa củi, cưa củi, đốt lò cho đến trồng rau, làm tàu hủ, không thiếu một thứ chi.

Sau khi đốt lò sưởi ở thiền đường, sư cô trong đội chuông đi đốt lò sưởi trong nhà ăn, rồi nấu nước sôi chế đầy vào bình thủy, pha một bình trà và đặt bình trà vào trong một cái giỏ mây lót nệm xung quanh và có nắp đậy để giữ trà ấm lâu cho những ai trong đại chúng muốn uống trà trước khi đi ngồi thiền. Ban đầu thì bình thủy nước và bình trà được đặt trên cái tủ trắng dài trong nhà ăn, đến năm 1997 thì được đặt ngay trên bàn trước cửa ra vào thiền đường (đi từ phòng Ô Môi) vì trong một buổi pháp thoại, Sư Ông cho phép đại chúng uống trà trong lúc ngồi thiền.

Làm xong những công việc này rồi, sư cô mới đi thỉnh chuông thức chúng. Thời điểm đó chưa có bình nấu nước bằng điện, vì đó là hàng quá sang. Bình nấu nước đại chúng dùng bấy giờ là loại bình bằng nhôm với cái vòi cong. Nhiều khi cái vòi bị hở và rỉ nước làm cho chú Hoàng (thầy Pháp Lữ) phải đem ra ga-ra ở Loubès-Bernac để mượn người ta cái máy hàn mà hàn cái lỗ hở lại. Trong mỗi phòng đều có lò sưởi củi, nên muốn nấu nước thì chỉ cần đổ nước vào một cái nồi nhôm đặt ngay trên lò sưởi củi, chỉ 2 phút sau thì nước sôi liền. Ni sư Diệu Đạt, trụ trì chùa Đông Thuyền ở Huế, lúc qua Làng năm 1994 cũng nấu nước sôi theo cách này như mấy chị vậy.

Ngày xưa, Sư Ông thường uống trà Thiết Quan Âm trong hộp thiếc màu đỏ hình chữ nhật, được bán ở các tiệm Việt Nam, chỉ có 2 quan tiền một hộp (bây giờ là 5 đô Mỹ một hộp). Vì vậy thỉnh thoảng Sư Ông có cho các sư cô một ít loại trà đó để pha uống.

Những lò sưởi trong phòng của các sư cô chỉ nhỏ bằng một phần tư của lò sưởi trong thiền đường, cho dù các sư cô chất củi đầy lò trước khi đi ngủ cũng chỉ đủ để sưởi ấm phòng đến ba giờ khuya rồi sau đó là tắt ngấm. Vì vậy sư cô nào cũng có sẵn vài túi nước nóng ấp trong mền. Cư xá Đồi Mận tuy là có lò sưởi ga nhưng cũng không ấm áp gì hơn vì các bức tường và trần nhà chưa có hệ thống cách nhiệt. Nền nhà bằng xi-măng, tường xây bằng gạch đỏ còn để lộ màu sắc của những viên gạch, các cửa phòng chính và cửa sổ đều hở dưới, hở trên và hai bên. Thiền đường cũng vậy đó. Các vách tường bằng đá nên cũng rất lạnh. Cho nên những chiếc bồ đoàn gần lò sưởi là những chỗ ngồi “hạng nhất” (chúng xuất gia chưa ngồi thiền theo thứ tự hạ lạp vào thời đó). Mỗi sáng mùa đông mà được ngồi thiền chung gần lò sưởi thật ấm cúng, mùi hương thơm ngát của củi đốt và tiếng củi lửa reo lách tách, đó là một niềm hạnh phúc lớn của mỗi người mà ngày nay các sư em không còn được thưởng thức nữa.

Chị cũng còn nhớ trước và sau giờ ngồi thiền tụng kinh thường hay có khoảng 15, 20 phút rảnh, chị hay tranh thủ để đứng đọc sách Sư Ông ngay trong căn phòng cạnh thiền đường mà bây giờ có chiếc đàn piano. Lúc bấy giờ phòng này còn là quán sách Ô Môi, một cái quán không bao giờ khóa cửa bởi vì muốn bước vào thiền đường, mọi người phải đi thông qua căn phòng đó. Để giữ thiền đường ấm, cánh cửa chính chỉ được dùng trong những trường hợp đặc biệt như các buổi lễ lớn thôi. Cô Tịnh Thủy làm chủ quán, cô trưng bày sách và giới thiệu sách của Sư Ông trên một cái kệ. Nhờ vậy mà chị đã đọc được hết cuốn này đến cuốn nọ ngay tại đây. Đến năm 1994, quán Ô Môi lại được dọn qua Tham vấn đường cho đến ngày hôm nay.

Mùa xuân năm 1994, sau khi đã dịch hai bài kệ Hô canh sáng và tối từ tiếng Hán ra tiếng Việt, Sư Ông đích thân hô canh và thâu vào băng cassette để cho các sư cha và các sư mẹ của mấy em “ở nhà học” trước khi đi hoằng pháp ở châu Á. Trước đó, để bắt đầu những buổi ngồi thiền mình chỉ thỉnh ba tiếng chuông thôi. Mỗi thầy mỗi sư cô đều được phát một băng cassette hô canh để nghe và tự tập lấy. Mùa xuân năm đó đi đâu trong xóm cũng nghe các sư cô tập. Bây giờ vừa vào tu viện các em đã được nghe hô canh rồi, nghe hoài mỗi sáng tối nên học cũng nhanh. Còn thời đó, mấy chị mới được nghe lần đầu, phải tự học và học từ băng cassette, khó ơi là khó. Học xong điệu tụng lại phải học đến cách thỉnh chuông, khi nào thì thỉnh hồi, khi nào thì chỉ thỉnh một tiếng, khi nào thì nhấp. Ôi chao ôi là khó! Nhưng đó là một mùa tu học rất vui. Mỗi ngày mấy chị được nghe một kiểu. Không ngày nào là không có tiếng cười. Có một sư mẹ lần đầu tiên hô cho đại chúng và muốn chắc ăn, sư mẹ đem theo cái cassette, bật lên trong walkman và đeo ống nghe để nương theo đó mà xướng. Nhưng than ôi, không những sư mẹ nghe giọng Sư Ông xướng mà cả đại chúng cũng đều nghe. Và khi đeo ống nghe thì sư mẹ chỉ nghe được giọng Sư Ông trong cassette mà không nghe được giọng của chính mình, thế là hai giọng đi hai bè khác nhau. Sư mẹ hô canh hết lòng, đến gần xong sư mẹ mới phát giác ra là đại chúng đang ôm bụng mà cười còn sư mẹ thì chẳng hay biết gì! Đó là một kỷ niệm vui đã xảy ra tại thiền đường Nến Hồng đấy các em.

Có một thời gian chị được ở phòng Mai Vàng cạnh thiền đường Nến Hồng, “cơ sở làm báo Làng Mai” trước kia và văn phòng ghi danh bây giờ, với các sư mẹ Hoa Nghiêm và Tuệ Nghiêm hoặc sư mẹ Trung Chính. Khu Đồi Mận ngày xưa là nền xi-măng gồ ghề và lạnh ngắt được lót sàn gỗ vào năm 1994 – 1995, nên tất cả các sư cô ở Đồi Mận phải dọn tạm vào các phòng ở khu vực nhà chính. Chị còn nhớ trong phòng Mai Vàng, các sư mẹ Bảo Nghiêm, Hoa Nghiêm cùng với mấy chị, Định Nghiêm, Tuệ Nghiêm, Giải Nghiêm, Thuần Nghiêm, xếp nệm nằm ngủ như “cá hộp”. Có một buổi sáng ngày Làm Biếng thức giấc, chị nghe văng vẳng bên tai có tiếng các chị em nói chuyện rì rào vui ơi là vui. Tuần lễ đó cũng là một tuần lễ khó quên trong thời sa di của chị.

Cũng vào mùa xuân lúc chị còn ở tại căn phòng này, trong khi Sư Ông đi dạy xa, đại chúng quyết định rằng các sư cô được chọn một cái cốc hoặc một căn phòng để luân phiên nhập thất. Đó là một tin quá vui cho những sa di ni như mấy chị: không phải chấp tác, không phải làm gì hết, cả ngày chỉ tu thôi! Đến phiên chị, chị chọn nhập thất trong cái cốc lục giác của sư mẹ Diệu Nghiêm, chốn xinh tươi lý tưởng của bao nhiêu chị em. Sáu phía làm bằng cửa kiếng và trên trần cũng có kiếng. Nhìn ra bảy phía là cây xanh, cỏ xanh và trời xanh. Buổi sáng không cần để đồng hồ báo thức bởi vì tiếng chim hót rất lớn và ríu rít. Trước cốc có treo một cái võng để cho thiền võng. Cả ngày trong khi ngồi thiền, đi thiền, lạy Bụt và tụng kinh, chị có cảm giác như được thiên nhiên và đất trời nâng niu trong vòng tay. Đến giờ ăn thì có sư mẹ Tuệ Nghiêm, người “hộ thất” đem thức ăn ngon đến. Ngoài ra, chị còn lấy tiền túi để mua thêm những bánh trái và sữa chua mà mình ưa thích nhất. Chưa bao giờ trong đời mà chị thấy mình được ưu đãi như vậy, hạnh phúc ngoài sức tưởng tượng! Nhưng hạnh phúc này chỉ kéo dài chưa được đến một ngày! Các sư em có biết chuyện gì đã xảy đến với chị không? Sau khi ngắm nhìn cảnh mặt trời lặn tuyệt vời thì chị cũng nhận thấy là màn đêm đã kéo đến. Vào ban ngày, từ trong cốc nhìn ra bảy phía thấy xanh tươi và huy hoàng bao nhiêu thì về đêm, cảnh vật lại đen thui và dễ sợ bấy nhiêu. Chị phải kéo màn cửa lại phủ kín mít, nhưng nhìn lên trên trần vẫn thấy một khoảng trống tối hù ngay trên đầu. Tối đó chị không dám tắt đèn và không tài nào ngủ được. Nguyên đêm lại nghe đủ thứ tiếng động mà không hiểu là tiếng gì.

Ngày hôm sau rút kinh nghiệm, chị không buồn ngắm mặt trời lặn nữa, trước khi màn đêm kéo đến là chị đã lo lên giường và tìm đủ mọi cách đi vào giấc ngủ. Nhưng càng cố gắng ngủ thì lại càng không ngủ được.

Ngày hôm sau nữa, trước khi trời tối, chị lẳng lặng ôm mền gối trở lại phòng Mai Vàng. Sư mẹ Hoa Nghiêm và sư mẹ Tuệ Nghiêm đang ngồi học bài nhìn chị không hiểu chuyện gì, riêng chị thì làm như không có chuyện gì xảy ra, cứ đi thẳng đến giường mình nằm xuống và ngủ một giấc cho đến sáng rồi biến mất, trở lại vào thất. Đây cũng là một kỷ niệm chị không bao giờ quên được trong thời gian ở tại căn phòng này.

Chị cũng đã từng ở trong căn phòng kế bên, bây giờ là văn phòng chùa, khi thì với Ni sư Diệu Đạt, khi thì với sư mẹ Chân Vị, khi thì với Mẹ của chị. Mùa xuân năm 1994 trong lúc Sư Ông đi dạy ở châu Á, Mẹ chị mua vé máy bay qua Làng với ý định “xách cổ” chị về nhà. Nhưng sinh hoạt với các sư cô được vài tuần thì chị không nghe Mẹ chị đả động gì đến chuyện “xách cổ” chị về nữa. Được gần gũi các sư cô, Mẹ chị biết thêm về nếp sống xuất gia. Đến bây giờ Mẹ chị cũng vẫn còn thường nhắc đến những sư cô trong sáng và dễ thương, những giây phút hai mẹ con ngồi bên lò sưởi củi hơ tay và nghe tiếng lửa reo lách tách, những lúc trúng gió được các sư cô cạo gió… Trước lúc Mẹ chị lên máy bay về lại Hoa Kỳ thì đến ngày giỗ mãn tang của Ba chị. Tất cả các thầy, kể cả Sư bá, và các sư cô đã tập họp tại thiền đường Nến Hồng để tụng kinh cầu siêu cho Ba chị. Chị còn nhớ thầy Pháp Trú tuy bận nấu ăn cả ngày hôm đó mà cũng vẫn đến tham dự buổi lễ. Xưa nay ở các buổi lễ cầu siêu tại các chùa, chỉ có một hay hai thầy tụng kinh hộ niệm, chưa bao giờ Mẹ chị chứng kiến một người trong gia đình mà được các thầy các sư cô đắp y vàng tụng kinh đầy cả một thiền đường như vậy. Sau buổi lễ, Mẹ chị sung sướng không tả được và cứ tấm tắc khen ngợi buổi lễ quá trang nghiêm và đẹp. Còn chị thì quá biết ơn đại chúng, chị đã làm sẵn bánh flan để cúng dường mỗi vị trước khi ra về và tự hứa trong lòng rằng suốt đời sẽ không bao giờ giận ai mà đã tụng kinh cho Ba chị. “Nếu không có con gái đi tu thì làm sao Ba có được một buổi lễ cầu siêu như vậy phải không Mẹ?”

Kể từ giây phút đó, Mẹ chị bắt đầu luôn luôn yểm trợ chị trên con đường này.

Hiện giờ, bên trong nhà ăn và nhà bếp Xóm Hạ đã bị đập xuống và công trình xây cất đang xúc tiến để nâng cấp toàn bộ ngôi nhà. Đến mùa Hè này, các căn phòng sẽ mới hơn, đẹp hơn và tiện nghi hơn, nhưng có thể một số người đã từng được sống vào thời xưa sẽ không khỏi thương tiếc cảnh cũ, thương tiếc hình bóng vị Bồ tát đã từng che nắng che mưa cho thầy trò nhà mình, cho bao nhiêu người đã đến tu học và đã tìm lại nguồn vui sống, từ bao nhiêu nước trên thế giới? Điều này sẽ làm các sư em của chị mỉm cười bởi vì các sư em đã thấy sự tiếp nối của vị Bồ tát này ngay đó. Giống như cây thông tí hon đứng trước nhà ăn vẫn còn đó, bây giờ cao hơn và sum suê hơn thôi. Không có gì đã mất. Những cảnh tượng ngày xưa vẫn còn hiện thực và rõ ràng lắm. Và Bồ tát đã hóa thân đi khắp nơi, dưới hình thức của những thiền đường khác như thiền đường Thái Bình Dương, thiền đường Cánh Đại Bàng, và dưới nhiều hình thái khác nữa. Vị Bồ tát vẫn tiếp tục sự nghiệp phụng sự độ đời không mỏi mệt và không gián đoạn.

Thăm lại chùa xưa

Chân Hồi Nghiêm

Sư Thúc kính thương,

“Con đã về rồi đó, con đã tới thật rồi.”

Sư Thúc ơi, con đã trở về sau hơn 2 năm nương nhờ đất bạn (Thái Lan). Con đã về thật rồi thưa Sư Thúc. Một sự trở về đầy bất ngờ và thú vị. Trong con có biết bao dòng cảm xúc nhưng con nhận ra thật rõ trong con đang tròn đầy hạnh phúc. Hạnh phúc của một đứa con đi tha hương cầu đạo dù đó chỉ là 2 năm, một khoảng thời gian ngắn ngủi con cũng nếm được hương vị của sự trở về. Con nhớ tới Sư Ông mà trong lòng thương kính vô vàn. Con có là gì so với nỗi niềm mong mỏi trở về của Sư Ông, 40 năm xa quê hương chắc hẳn không có một ngôn từ nào có thể diễn tả được tâm trạng của Người, chỉ có thể cảm nhận, dùng trái tim để cảm thương trái tim thôi phải không thưa Sư Thúc?

“Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi”

Vì thế cho nên ai cũng thường nhớ khi đi xa và rồi ai cũng hạnh phúc khi được trở về. Hạnh phúc có mặt đó, nhưng Sư Thúc biết không, con cũng phải thực tập chấp nhận mặt trái của cuộc sống nơi quê hương. Chấp nhận để nuôi dưỡng hạnh phúc trong con. Bước ra ngoài cho con tiếp xúc để nhận ra hạnh phúc thật sự khi con được sống trong lòng tăng thân, có pháp môn, có môi trường tu học, được nuôi dưỡng, được bảo vệ… đó là gia tài quý giá của con. Sư thúc ơi! Con đã trở về, con đã được về thăm chùa xưa, Tổ Đình Từ Hiếu với hai hàng chữ:

“Một đóa hiện linh thoại trao truyền từ Tây Vức.
Năm cánh tỏa kì hương tâm tông tiếp nối tại Tây Phương.”

Lòng con nhẹ nhõm và tràn ngập niềm vui. Con được về nương nhờ đất Tổ để lại được tiếp nhận nguồn năng lượng linh thiêng nơi này. Về đến nhà thật rồi! Bao mệt mỏi của cuộc hành trình trở về bỗng tan biến đâu hết cả. Đặt chân lên mảnh đất linh thiêng, gặp lại chị em ở Diệu Trạm con hạnh phúc đến tràn dâng hàng lệ. Sự thật 100% mà con cứ ngỡ mình đang mơ.

Sư ông và Sư Thúc Diệu Trạm là đây, sau một khoảng thời gian xa cách đã có biết bao đổi thay. Diệu Trạm hôm nay đã trở nên cổ kính nhờ những hàng cây xanh che phủ hay nhờ năng lượng đất Tổ chở che. Lạy Bụt, lạy Tổ, con đã về. Con phủ phục trước Bụt, trước Tổ mà cảm thấy ấm áp vô cùng. Hạnh phúc là đây con đang có. Mở lòng ra con ôm hết cả vào trong để nhờ nguồn năng lượng ấy chữa lành, xoa dịu nỗi lòng xa quê. Con đã về và lại được chạy lên tịnh thất thăm Sư Thúc. Nhưng tiếc quá Sư Thúc đã vắng nhà, có lẽ Người đi dạo cùng thị giả quanh chùa. Con nghĩ vậy nên ngồi chơi ngoài hiên cùng sư em Trăng Tỏ Tường. Nhìn qua ô cửa sổ con thấy rõ căn phòng của Người vẫn vậy, vẫn giản dị với chiếc bàn nhỏ, kệ sách và một chiếc giường… Mọi thứ vẫn còn thân quen quá với con, ngắm nhìn thật lâu để thấy lại những kỉ niệm đẹp nơi tịnh thất. Con kể cho sư em Trăng Tỏ Tường (sư út của tăng thân đó Sư Thúc, sư em mới 12 tuổi nhưng giỏi và dễ thương lắm ạ! Không giống con tinh nghịch đâu, hì hì…)  nghe những lần chị em qua thăm được Sư Thúc cho uống trà, ăn bánh và nghe Người kể chuyện với những trận cười giòn như… bánh tráng nướng. Ôi! Sư Thúc đi đâu mà lâu quá, đến giờ con phải đi thời khóa cùng đại chúng rồi. Vậy là không được gặp Sư Thúc, con đành ra về mà chưa được uống ly trà và ăn vài miếng bánh, hic hic… Ra về mà trong lòng con còn tiếc. Con chợt nhớ ra một nơi có lẽ Sư Thúc đang nghỉ chân để tận hưởng hương thiền nơi mảnh đất linh thiêng này. Dù vậy con vẫn tự dặn lòng phải có mặt với đại chúng trong giờ thiền hành trước đã. Biết đâu trong khi đi thiền hành con lại được gặp Sư Thúc.

Mọi thứ diễn ra làm con trào dâng bao kỉ niệm. Cũng vòng tròn này dưới gốc me, đại chúng cùng nhau hát những bài hát thiền ca, nghe chia sẻ và cùng bước những bước chân bình an, thảnh thơi dạo quanh con đường nhỏ. Con thấy Sư Thúc có mặt đây. Người mỉm cười khi nghe chúng con hát bài “Tiếng chuông chùa cổ”, rồi Người đi tới với chúng con và bước theo sau… Con bước những bước chân đầy ý thức hạnh phúc, con đang thật sự đi trên đất chùa Tổ, con đi với mỗi bước chân có mặt và con mời Sư Ông, con mời Sư Thúc cùng bước với con, cùng con tận hưởng hương vị quê hương. Bước trên con đường đất, hai bên có những hàng thông già trăm tuổi, hay bước trên thảm cỏ xanh, bước trên con đường nhựa, trên lớp lá thông… con cảm thấy thân quen như con chưa từng vắng mặt nơi này. Con đang sống trong hiện tại với ý thức là con vừa mới được trở về, nhưng trong hiện tại con thấy quá khứ đang trở về với con, cho con thêm nhiều hạnh phúc.

Vườn sum họp, con đã tìm được tới nơi tạm dừng chân của Sư Thúc nhưng dường như Người cũng vắng mặt. Dù vậy con vẫn ngồi chơi. Nơi này bình an và yên tĩnh quá thưa Sư Thúc. Xung quanh cây lá xanh tươi với những ngôi tháp cổ mà sao vui vẻ và thân thương quá. Con ngồi chơi bên Sư Thúc để tha hồ kể cho Người nghe những buồn vui, những thăng trầm của khoảng thời gian đã qua. Mặc kệ, con không biết có ai đó nghe con nói không, con cứ nói ra và thấy nhẹ nhõm khi được chia sẻ cùng Sư Thúc. Con buông ra hết cho lòng rỗng không để rồi tiếp tục con đường phía trước. (con thực tập như vậy đó ạ!) Con không biết Sư Thúc nghe rồi có nặng lòng không nữa. Chắc là không đâu Sư Thúc nhỉ? Bởi vì Sư Thúc là người “Vô Sự” mà!

“Về thăm chùa xưa nghe hồi chuông thoáng đưa…”. Con hạnh phúc biết bao khi lại được nghe tiếng chuông đại hồng vang vọng giữa núi đồi Dương Xuân. Con tìm cho mình một góc nhỏ trong ni xá để được tận hưởng trọn vẹn món quà mầu nhiệm mà lâu rồi con không có ấy: “Nghe chuông phiền não tan mây khói. Ý lặng thân an miệng mỉm cười…”. Tiếng chuông vang lên giữa núi đồi u tịch xua tan màn đêm tăm tối. Con ngồi yên và gửi lòng theo tiếng chuông, khắp châu thân con như đang được chăm sóc, từng tế bào trong cơ thể được tiếp thêm nguồn dinh dưỡng. Con thấy lòng nhẹ tênh, nhẹ như áng mây hồng đang bay về chân núi để nghỉ ngơi khi hoàng hôn buông xuống, không chút vướng bận, không màng lợi danh.

Con về đến Diệu Trạm đã 8 giờ tối mà sáng hôm sau 6 giờ thì đại chúng đi làm ruộng. Nghe đi làm ruộng con hào hứng lắm ạ! Con xin được đi theo, mấy chị em nói con ở nhà nghỉ ngơi vì đi xe đường xa sợ con mệt, dậy không nổi rồi làm ruộng mệt nữa. Mệt thật khi đi xe cả ngày lại thêm những ngày trước khi về, con thức khuya với những cuộc đưa tiễn của chị em bên nớ… nhưng về đến là con đã thấy hết mệt và thêm được đi ruộng nên con thấy vui, cơ hội hiếm có làm sao mà bỏ lỡ được, hì hì…

“Ui chao! Ở mô chui ra ri?” Câu nói nghe thật vui tai mà thân thương quá đỗi. “Chú mi về khi mô rứa? Ở bên nớ “khôn” có ruộng nên về bên ni là đi xuống ruộng liền rứa à? Tội ghê hỉ, thèm được lội bùn quá phải khôn?” Con được chào đón với biết bao câu hỏi dễ thương đó thưa Sư Thúc. Dạ đúng thật. Con thích ruộng. Được cùng làm ruộng với anh chị em con thấy vui lắm và có dịp xuống ruộng cho con cơ hội nhớ tới hình ảnh những bậc đi trước trong sơn môn. Con biết ơn chư vị đã để lại cho chúng con hôm nay mảnh ruộng này để canh tác. Con cũng nhớ tới Sư Thúc với hai bao lúa trên hai tay. Sư Thúc khỏe thật, bây giờ chúng con có tăng thân vừa làm, vừa chơi, chung tay góp sức và lấy đó làm cơ hội thực tập. Con được biết hiện giờ chỉ còn Từ Hiếu với Diệu Trạm là làm ruộng thôi. Các chùa khác vì ít người nên đã gửi lại ruộng cho Tổ Đình, vậy là ruộng nhiều hơn trước nhưng cũng không là gì khi có tăng thân. (Con tin vậy, hì hì…) Nhìn anh chị em chân lấm tay bùn mà cười tươi vui vẻ, chung tay cùng cào cỏ, gom rác để chuẩn bị cho vụ mùa mới. Con thấy mình thật hạnh phúc, thật may mắn khi được sống trong tăng thân có anh chị em cùng tu, cùng làm, cùng học và cùng chơi… Đi làm ruộng để chúng con nhận ra được giá trị của hạt gạo, miếng cơm và cũng để hiểu phần nào sự cực nhọc của người dân. Dù mỗi ngày chúng con được nhắc nhở thực tập quán niệm trong khi ăn nhưng làm sao bằng sự thực chứng cái cực khổ “bán mặt cho đất bán lưng cho trời” phải không ạ?

Có người đến, có người đi, có người ở lại… Con đã nhận ra nhiều gương mặt mới ở chùa Tổ, các sư em xuất gia sau này, các chú điệu mới hoặc quý sư anh, sư chị từ các trung tâm khác về và rồi con cũng thấy vắng một số khuôn mặt thân quen một thời. Nhưng vẫn còn đây ngôi Tổ đình cổ kính uy nghiêm, vẫn còn đây chư Bụt, chư Tổ, quý Ôn, quý thầy, quý sư cô và đại chúng tu học mỗi ngày. Con nhìn để nhận thấy sự vô thường của cuộc sống mà nhắc nhở mình trân quý những gì đang có nơi này, nhắc cho con sống sâu sắc. Con thầm biết ơn quý thầy, quý sư cô và đại chúng nơi đây đã giữ gìn và nuôi dưỡng mảnh đất linh thiêng này cho con cơ hội được về nương tựa.

Con đã về để rồi con lại tiếp tục ra đi, ra đi để lại trở về với ngôi nhà tâm linh đích thực…

Sư cháu dễ thương

Niềm vui của cháu – hạnh phúc của dì

Chân Bạch nghiêm

Niềm vui của Cháu Cách đây ba tháng tại Tu viện Lộc Uyển, người chị thứ nhì của tôi dắt cậu con trai út của mình, bé Hiếu lên thăm dì nó một cách bất ngờ vào ngày thứ hai của khóa tu tiếng Anh.

Mang tiếng lên thăm dì nhưng Hiếu đã tung tăng tự mình đi chơi để khám phá Lộc Uyển. Tôi đến gặp Hiếu vào giờ ăn chiều, cháu đang cầm tô cơm trong tay, chỉ chào tôi rồi đi theo nhóm thiếu niên. Tôi khá ngạc nhiên vì cháu mới tới đây chưa đầy mấy giờ mà đã có bạn mau đến thế.

Sáng hôm sau, lúc đang đứng khất thực buổi sáng, tôi bất ngờ khi lại thấy cháu cũng đi ăn với nhóm thiếu niên. Tôi cứ tưởng Hiếu đã về với chị tôi chiều hôm qua rồi! Ai ngờ cháu đã làm quen được với một số bạn trong chương trình thiếu niên, thấy vui quá nên đã xin mẹ mình cho ở lại hết cuối tuần.

Buổi trưa Hiếu đi vào quán sách để kiếm tôi cho bằng được như có chuyện gấp cần chia sẻ. Mà gấp thiệt, vì bé Hiếu “cầu cứu” tôi: “Dì Út ơi! ngày mai con phải đi học rồi nhưng con chưa muốn về. Bây giờ con phải làm sao? Con không muốn về thật mà!” Tôi nhìn cháu, mỉm cười, không biết mình có nghe lộn không hay cháu đang giỡn với mình vì xưa nay có bao giờ cháu thích đi chùa, huống chi là ở lại qua đêm; bây giờ cháu còn không muốn về nhà thì đúng là chuyện bất bình thường. Nhưng tôi nói với cháu:

– Nếu Hiếu thật sự muốn ở lại thì điện cho mẹ để xin phép nghỉ học một ngày. Cứ thử đi!

Nghe vậy, Hiếu như cảm thấy yên tâm vì ít nhất cũng có dì yểm trợ. Bé Hiếu vừa đi khỏi, tôi điện cho chị tôi liền lập tức để cho chị biết trước là con trai chị đang vui trong khóa tu nên xin phép nghỉ học. Chị cũng bất ngờ như tôi nhưng hai chị em đều đồng ý cho Hiếu ở lại thêm một ngày. Đến ngày chị tôi lên đón Hiếu về thì cháu lại nhất quyết xin ở lại thêm bởi vì Hiếu muốn thức dậy sớm để cùng với nhóm thiếu niên leo núi ngắm cảnh mặt trời mọc.

Thật là lạ vì ở nhà Hiếu hay ngủ nướng và hình như chưa bao giờ trong đời có thể thức dậy được lúc 4g sáng, nhưng đến Lộc Uyển thì cái gì cũng có thể thay đổi. Trong thời gian này hai dì cháu ít gặp nhau vì Hiếu đi theo thời khóa dành riêng cho các em teens, còn tôi vừa phụ quán sách vừa hướng dẫn pháp đàm cho người trẻ, nhưng lúc nào cháu muốn ăn kem hay uống nước ngọt thì vào quán sách gặp tôi.

Đây đúng là một sự mầu nhiệm bởi tôi không cần phải dụ dỗ hay năn nỉ cháu mình đi dự khóa tu mà nhờ khung cảnh yên bình của Lộc Uyển, năng lượng của đại chúng, và đặc biệt là nhờ sự hướng dẫn của sư cô Đẳng Nghiêm và sư chú Trời Hiện Tại. Sự hướng dẫn của hai vị này làm cho các em thiếu niên như Hiếu rất thích thú với những sinh hoạt chung có tính cách vừa tu vừa chơi.

Mỗi ngày các em đều ăn chung ba bữa ngoài tháp chuông, ngồi thiền và có những buổi chia sẻ như pháp đàm ở ngoài yurt (lều Mông Cổ, một loại lều hình khối có nền gỗ, sườn gỗ như một cái nhà nhỏ), hay leo núi Yên Tử. Các em, như cháu tôi đều xem sư cô Đẳng Nghiêm như một người mẹ tâm linh: vừa cứng rắn vừa dịu dàng, biết cách chăm sóc và hiểu tâm lý đối với nhu cầu các em tuổi mới lớn. Còn sư chú Trời Hiện Tại mà các em hay gọi là Brother Now, tuy mới xuất gia trong gia đình cây Kim Ngân (Honey Suckle) được gần một năm nhưng sư chú trẻ trung, năng động, có khả năng chơi và hướng dẫn các em một cách tự nhiên làm cho các em dễ chia sẻ thật những điều trong lòng. Chính vì vậy mà Hiếu thấy Brother Now không những là một người anh lớn để nương tựa mà cũng là một người bạn tốt để chơi. Hiếu rất thích Brother Now. Đi đâu hay làm gì Hiếu cũng nhắc đến Brother Now hết.

Sau buổi leo núi đó, đại chúng có giờ vấn đáp với Thầy. Các em thiếu nhi và thiếu niên thường được ưu tiên đặt câu hỏi trước người lớn. Lúc đó tôi ngồi ở ngoài trời, dưới bóng cây Olive vì thiền đường đông nghẹt người. Sau vài câu hỏi, tôi chợt nghe một giọng nói quen thuộc cất lên. Đúng là giọng của Hiếu. Không ngờ Hiếu lại can đảm lên tự thú nhận với Thầy trước mặt đại chúng gần 1000 người rằng Hiếu bị bệnh ghiền chơi “game”, có khi cắm đầu chơi tới 8 tiếng một ngày và Hiếu cầu cứu Thầy chỉ cho Hiếu phương pháp để chấm dứt cơn bệnh này, cơn bệnh mà nhiều thiếu nhi và người trẻ ở Mỹ dễ sa vào.

Tôi không ngờ đứa cháu tôi có thể hỏi Thầy một câu hỏi như vậy. Điều ngày chứng tỏ rằng Hiếu có niềm tin nơi Thầy để giúp cho cháu. Ở nhà, mẹ Hiếu và các cậu, dì đã khuyên cháu hết lời nhưng không có hiệu quả. Thầy đã dạy cho Hiếu rằng có khi mình muốn trốn chạy khổ đau của mình bằng cách khỏa lấp nó qua những cuộc giải trí nên mình đánh mất cái mầu nhiệm của sự sống, cái thiên quốc của Chúa trong giây phút hiện tại. Mình phải biết xử lý khổ đau của mình, biết tiếp xúc với thiên nhiên, và không lãng phí thời gian quý báu mà sự sống đã cho mình. Nhưng đây không phải là vấn đề riêng của người trẻ mà cha mẹ và giáo viên cũng có trách nhiệm để giúp người trẻ biết cách xử lý khổ đau của họ.

Sau buổi vấn đáp ấy, tôi nghe nói các em teens sẽ có buổi thực tập Làm Mới với bố mẹ. Tôi liền điện thoại cho chị tôi biết tin và nói với chị một cách dứt khoát: “Chị ơi! Em biết chị đang bận việc làm nhưng chị phải tìm cách về Lộc Uyển để kịp dự buổi Làm Mới với Hiếu. Sự có mặt của chị bây giờ có thể là quan trọng nhất và có thể thay đổi cả cuộc đời của chị và Hiếu.” Chính tôi cũng lo đi kiếm người thay tôi hướng dẫn pháp đàm để tôi cũng có thể có mặt cho Hiếu. May mắn có sư chú Trời Quán Chiếu sẵn sàng giúp tôi.

Hiếu rất ngạc nhiên khi thấy cả Mẹ và Dì của mình có mặt trong buổi làm mới. Đây là lần đầu tiên tôi ngồi tham dự buổi làm mới có gia đình huyết thống của mình, chứng kiến chị và cháu tôi làm mới với nhau rất tự nhiên và rất thật lòng. Hai mẹ con đã có thể mở lòng với nhau, tôi ngồi lắng nghe mà cảm động. Tôi đã hướng dẫn nhiều buổi làm mới cho gia đình thiền sinh trong những chương trình con nít, chương trình teens, đã thấy được sự chuyển hóa của họ. Bây giờ tôi lại được chứng kiến sự chuyển hóa của chính gia đình mình trong không khí một khóa tu lớn tại tu viện.

Khi đến phiên tôi thực tập tưới hoa cho Hiếu tôi cảm động quá, nước mắt tôi chảy xuống làm tôi không mở lời được liền. Tôi im lặng theo dõi hơi thở để lấy lại sự bình an. Nhìn vào đôi mắt ngây thơ của Hiếu, tôi nói: “Đây thật sự là giây phút hạnh phúc khi dì Út được ngồi đây để lắng nghe Hiếu và mẹ của Hiếu làm mới với nhau. Cả gia đình mình đang thật sự có mặt cho nhau. Khi nghe trưa nay có buổi làm mới, dì và mẹ của Hiếu bằng mọi cách muốn tới đây để có mặt cho Hiếu vì ai cũng thương Hiếu. Dì Út rất vui khi Hiếu đến thăm dì và tự quyết định ở lại hết khóa tu. Dì rất mừng khi thấy Hiếu tự lập, tham dự tất cả sinh hoạt, làm quen nhiều bạn, đem lại niềm vui cho nhiều người như đây là nhà của Hiếu vậy. Dì Út đã từng chứng kiến sự ra đời của Hiếu, thấy Hiếu khi còn là một đứa bé dễ thương mập mạp, đã từng ôm Hiếu vào lòng khi cho Hiếu bú sữa bình, đã thay tã cho Hiếu, nhưng bây giờ Hiếu đã lớn lên sắp trở thành một người thanh niên. Rất tiếc sau này dì Út đi tu không còn nhiều cơ hội để chơi với Hiếu nên mùa đông này Hiếu hãy về Làng chơi với dì Út. Đặc biệt bên Làng có rất nhiều thầy và sư cô trẻ để Hiếu có thể chơi cùng. Dì Út cám ơn Hiếu đã can đảm lên đặt câu hỏi với Sư Ông, tự thú trước đám đông thói quen chơi video games của mình để cầu cứu sự giúp đỡ. Câu hỏi của Hiếu không những giúp được Hiếu mà sẽ giúp rất nhiều người trẻ như Hiếu.”

Sau đó Hiếu đã cam kết với tôi và mẹ cháu là mỗi ngày sẽ giảm chơi trò điện tử thành một giờ. Khi trở về nhà Hiếu đã thực hiện được lời hứa của mình và còn biết phụ mẹ dọn dẹp nhà cửa. Tôi mừng nhất là Hiếu đồng ý về Làng trong mùa đông, đặc biệt sau khi nghe nói có Brother Now cũng sẽ về Làng. Trước khi trở về Pháp, tôi và mẹ Hiếu đến trường học gặp người tư vấn (counselor) của Hiếu để bàn về cách tốt nhất cho cháu có thể đi Pháp mà không bị ảnh hưởng nhiều đến việc học.

Sau khi nghe tôi giải thích, bà đồng ý cho Hiếu nghỉ học một tháng và nhà trường sẽ cho bài tập làm ở nhà để không bị mất điểm. Vấn đề còn lại là Hiếu mới 12 tuổi, cần phải có người lớn đi theo. Chỉ còn mấy ngày nữa là tôi phải trở lại Làng còn mẹ Hiếu thì không thể đi được. May quá, khi cả nhà ngồi chơi đông đủ, tôi thuyết phục được anh đầu của tôi đưa Hiếu qua Pháp để hai cậu cháu có thể yểm trợ lẫn nhau. Thật là một giấc mơ sắp thành sự thực. Xưa nay tôi đã ao ước biết bao cho gia đình của tôi được qua Làng tu tập để được hưởng năng lượng hùng hậu từ Thầy và đại chúng lớn. Tôi dặn Hiếu không cần đem theo máy laptop, điện thoại di động, máy nghe nhạc trừ cái đồng hồ báo thức để Hiếu có thể đi chơi với quý thầy cho đúng giờ bởi vì bên Làng vui lắm, Hiếu không cần những thứ đó.

Một tháng sau khi tôi trở về xóm Mới thì anh tôi và Hiếu qua Làng và ở xóm Thượng. Ban đầu tôi cũng hơi lo lắng không biết anh và cháu mình từ Cali qua có chịu nổi cái lạnh mùa Đông của Làng hay không, trong khóa tu mùa Đông không có chương trình Teens cho Hiếu có bạn để chơi thì Hiếu có chịu nổi không v.v… Nhưng tôi nghĩ mọi việc đã được chư Tổ sắp đặt rồi, mình chỉ cần giao phó hết cho Tăng thân lo giúp. Thế là tôi đến với một số quý thầy và nhờ quý thầy chơi với Hiếu giùm tôi. Còn Brother Now thì tôi giao phó Hiếu làm y chỉ đệ của sư chú, nghĩa là sư chú sẽ phụ trách về hạnh phúc và sự tu tập của Hiếu. Nhờ vậy tôi thấy nhẹ lo hơn rất nhiều.

Hiếu về Làng bắt đầu vào dịp Noel nên không khí rất ấm cúng đối với Hiếu vì gia đình bên nội của Hiếu là Công giáo. Ngày Noel Hiếu ở trong bếp suốt ngày để phụ đội của Brother Now chiên chả giò, chiên khoai tây và dọn dẹp. Hiếu còn tới khoe với tôi là có nhiều Ông già Noel bí mật tặng quà cho Hiếu, tuy không nhiều bằng ở nhà nhưng cháu vẫn thấy rất hạnh phúc.

Hai dì cháu tôi ở khác xóm nên chỉ gặp nhau mỗi tuần hai lần trong ngày Quán niệm. Mỗi lần đi dự ngày Quán niệm tôi đều thấy Hiếu luôn luôn “sát cánh” bên một thầy rất thân thiện. Khi thì tôi thấy Hiếu nắm tay Brother Now, khi thì choàng vai thầy Pháp Triển, khi thì ngồi chơi với sư chú Trời Bằng Hữu, có lúc thì đi với thầy Pháp Tuyển. Nói chung là Hiếu dễ thích ứng với môi trường mới và dễ đến chơi với quý thầy như anh em một nhà. Tôi thấy yên tâm bởi Hiếu có rất nhiều Thầy để nương tựa một cách tự nhiên.

Có những ngày Hiếu vào văn phòng chơi với các thầy Pháp Áo, Pháp Linh, Pháp Triển trong khi các thầy làm việc. Ba thầy rất dễ thương, tuy bận rộn nhưng cũng cho Hiếu ở lại văn phòng chơi chung bằng cách cho Hiếu giúp việc trong văn phòng. Hiếu đã viết trong nhật ký của mình: “Ngày hôm nay tôi đã vào văn phòng để giúp cho ngày đưa đón khách. Tôi xem danh sách, gạch tên những người khách đã đến và dẫn họ về phòng.” Nghe nói Hiếu còn giúp quý thầy “đọc Email” nữa. Hiếu có vẻ thích thú bởi vì mình có thể làm chút gì đó cho văn phòng.

Vào buổi chiều của ngày Làm Biếng, Hiếu thường ra sân xem quý thầy đá banh hoặc cùng chơi bóng rổ. Nhiều lúc Hiếu được quý thầy chìu, cho vào tăng xá chơi. Có lần Hiếu lỡ chơi với quý thầy khuya quá nên được ngủ lại phòng của thầy Pháp Triển và sư chú Bằng Hữu là hai trong số những thầy trẻ tuổi mà Hiếu thích chơi nhất. Biết tính Hiếu ồn ào và nghịch ngợm, tôi nhắc cháu rằng thường lệ chỉ có người xuất gia mới được vào tăng xá của quý thầy nên Hiếu phải cẩn trọng, không đùa giỡn nhiều và hết sức nhỏ nhẹ để tránh làm phiền quý thầy. Hiếu nói với tôi ở trong tăng xá Hiếu chỉ đi thăm phòng quý thầy, uống trà, và nghe quý thầy kể chuyện. Hiếu được quý thầy đãi trà nhiều quá, đến nỗi khi chuẩn bị về lại Mỹ cậu ta đòi sắm một bình trà và bình thủy y hệt như quý thầy. Cuối cùng sư chú Bằng Hữu biết ý, cho Hiếu một cái bình thủy của sư chú và tôi tặng cháu bốn cái ly uống trà để Hiếu có thể về nhà đãi trà cho mẹ và anh.

Có nhiều buổi sáng Hiếu không thức dậy nổi để đi ngồi thiền nhưng quý thầy cũng thông cảm cho cái tuổi ham ăn thiếu ngủ nên không nhắc. Nhưng một ngày nọ Hiếu tự động thức dậy và ngồi thiền gần một giờ và cảm thấy “khỏe nhẹ và thư giãn” như đã viết trong nhật ký. Có một hôm vào ngày Quán niệm tại xóm Thượng, Hiếu đến ngồi kế bên tôi làm tôi tưởng là một em trai tập sự nào bởi vì Hiếu đã mang một bộ vạt hò nâu và đội mũ len nâu của quý thầy cho. Mặt Hiếu rất sáng và dễ thương.

Lần sau gặp lại, Hiếu làm cho tôi thêm bất ngờ khi cháu mặc áo tràng lam. Tôi hỏi: “Áo tràng đâu mà Hiếu mặc vậy?” Hiếu nhìn tôi vừa cười vừa nói: “Áo tràng của thầy Pháp Thạnh cho cháu. Quý thầy, đặc biệt là thầy Pháp Độ chỉ cho cháu cách mặc áo tràng và lạy Bụt.” Từ ngày đó đi đâu Hiếu cũng mặc áo tràng lam bên ngoài bộ vạt hò, vai lại đeo một cái đãy màu nâu giống hệt một em trai tập sự.

Tuần cuối cùng của Hiếu ở Làng, tôi xin phép các sư cô xóm Mới cho hai cậu cháu Hiếu về ở xóm Mới để tôi có dịp chơi với gia đình. Khi đến xóm Mới, thấy các sư cô và thiền sinh nữ đông quá, Hiếu mắc cỡ rút về phòng mình không dám đi đâu cả, nếu có đi đâu thì cũng theo sát lưng dì Út của nó. Vào ngày Làm Biếng tôi sắp xếp đưa gia đình đi chơi phố cổ của St.  Émilion, Hiếu loay hoay mặc áo tràng đi chơi. Sư mẹ Thoại Nghiêm bắt gặp và nói: “Con đi ra ngoài chơi không cần phải mặc áo tràng đâu.” Hiếu gật đầu, ra dấu là Hiếu muốn mặc. Rồi Sư mẹ nói tiếp: “Chỉ có tập sự mới mặc áo tràng khi đi ra ngoài thôi, con cũng muốn làm tập sự sao?” Hiếu lại gật đầu tiếp.

Sau này tôi mới nghe Hiếu kể lại là trước khi qua xóm Mới ở, Hiếu được quý thầy dạy kỹ càng là mỗi khi rời phòng đi đâu Hiếu đều phải mặc áo tràng lam vì nó là cái áo giáp bảo vệ Hiếu không cho một ai, dù là sư cô, có thể đụng tới Hiếu. Nghe vậy tôi ôm bụng cười vì quý thầy đã dùng phương tiện khéo léo cho Hiếu thích mặc áo tràng lam của mình. Cũng trong ngày đi chơi đó, khi đang ngồi ăn bánh mì ngoài trời, Hiếu chỉ vào một con chó đang đi lang thang và tiến gần đến nơi chúng tôi, nói: “Dì Út xem kìa, đó là một vị khất sĩ!” Tôi trợn mắt nhìn Hiếu: “Tại sao Hiếu dám nói con chó là một vị khất sĩ?” Cháu tôi trả lời rất tự tin: “Bởi vì trong sách Đường Xưa Mây Trắng, Sư Ông viết vị khất sĩ là người đi xin ăn.” Tôi chỉ biết cười với nhận thức ngây thơ của cháu vì cháu thấy con chó đang đi “ăn xin”, rồi giải thích cho Hiếu hiểu vị khất sĩ là như thế nào. Nhưng ít nhất là cháu tôi đang đọc Đường Xưa Mây Trắng. Điều này nhờ Hiếu được quý thầy như Brother Now và thầy Pháp Triển hướng dẫn kỹ lưỡng nên đọc những sách nào và mỗi ngày phải học tiếng Việt từ thầy Pháp Tuyển. Khi học tiếng Việt, Hiếu phải tập nói câu mới học được với ít nhất năm thầy. Câu đầu tiên Hiếu được học là “Mấy giờ thầy đi ngồi thiền?”. Câu này rất hay vì giúp cho Hiếu và vị thầy được hỏi đều phải đi ngồi thiền.

Viết đến đây lòng tôi tràn đầy niềm biết ơn đối với Tăng thân đã chăm sóc và dìu dắt cháu tôi một cách nhiệt tình và bao dung. Hiếu là Mỹ con và đầy năng lượng nên cần rất nhiều tình thương và sự kiên nhẫn mới có khả năng ôm ấp và chơi với cháu. Hiếu đã tìm thấy ở đây một gia đình tâm linh ấm cúng, có tình huynh đệ, có nhiều niềm vui mà Hiếu chưa bao giờ nếm qua. Ở nhà Hiếu chỉ có ba mẹ con vì cha mẹ Hiếu đã ly dị khi Hiếu mới 4 tuổi. Do đó Hiếu rất thèm khát tình thương của một người cha và một anh trai lớn. Đến Làng, Hiếu đã tiếp nhận rất nhiều tình thương và sự quan tâm chân thật từ quý thầy. Hiếu đã nếm được cái hạnh phúc đích thật. Có những thầy như thầy Pháp Độ và thầy Pháp Thạnh đóng vai trò một người cha, thầy Pháp Tuyển như một người anh lớn, còn có những người như thầy Pháp Triển và sư chú Bằng Hữu như những người bạn, và có người như Brother Now vừa là y chỉ sư, là sư anh và là một người bạn tốt đối với Hiếu. Những hạt giống tốt đẹp mà Hiếu được thừa hưởng từ Tăng thân và tôi cũng được thừa hưởng. Và chính vì vậy niềm vui của Hiếu cũng là niềm vui của tôi.

Hai ngày cuối còn lại, hai dì cháu tôi dành hết thời gian để có mặt cho nhau trọn vẹn. Chúng tôi đã cùng vào bếp để nấu ăn cho ngày Quán niệm ở xóm Mới, chơi bóng rổ, bóng bàn, đi dạo trên đồi mận, đẩy xe rùa đi đổ compost. Những giờ cuối cùng Hiếu bắt đầu mở lòng để tâm sự với tôi như một người bạn. Tôi rất hạnh phúc khi thấy cháu mình có thể đến với mình để chia sẻ những điều trước đây khó chia sẻ. Nhờ pháp môn thực tập Hiếu đã mở hé được cánh cửa của suối nguồn tâm linh và huyết thống của mình. Những gì Hiếu được trải nghiệm ở Làng đều nhờ phước đức Ông Bà, nhờ phép lạ của Thầy và Tăng thân.

Tôi không đòi hỏi gì thêm cả, chỉ mong sao Hiếu biết duy trì những hạt giống tốt đã được tưới tẩm trong thời gian ở Làng làm vốn liếng cho mình và cho cả gia đình cùng bạn bè của cháu. Ngày đưa anh tôi và Hiếu ra ga xe lửa ở St. Foy, trong đãy Hiếu có ba thứ rất quý: tượng Bụt, hộp trầm và cuốn sách “Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức” của Sư Ông. Tôi biết trong lòng Hiếu sẽ mang theo những hình ảnh nuôi dưỡng khi ở đây, chia sẻ cùng mẹ và anh để trong mùa hè tới cả nhà sẽ về Làng như Hiếu đã từng nói với tôi trước khi chia tay.

Mảnh đất tình người

Từ những lời chia sẻ của các sư anh, sư chị và sư em thuộc tăng thân Làng Mai
kính gởi đến Bụt, đến Thầy và đến tất cả…

BBT Chuyển ngữ từ tiếng Anh

 

Gửi đến Mississippi
Chân Pháp Triển

Cảm ơn tất cả những gì bạn đã làm cho tôi. Thông thường thì tôi không làm việc này, viết thư. Nhưng tôi thực sự cảm thấy rằng đã đến lúc tôi nên viết cho bạn một lá thư.

Pháp TriểnTôi muốn cảm ơn bạn đã tận tụy với đất nước chúng ta và với đất Mẹ. Bạn là một mảnh đất tuyệt đẹp trên đất Mẹ. Bạn ôm ấp nhiều rừng cây, sông hồ, muôn thú và dĩ nhiên là có dòng sông dũng mãnh Mississippi. Bạn cũng đã cho gia đình tôi và nhiều gia đình khác nương tựa và sinh sống. Tuy bạn là một trong những tiểu bang nghèo nhất nước Hoa Kỳ, bạn vẫn hiến tặng hết lòng. Có những người xem thường bạn, nhưng cũng có nhiều người tận hưởng tính giản dị và lòng hiếu khách của bạn. Bạn cũng đã cho chúng tôi không gian để thiết lập một nơi tu học, Trung Tâm Thực Tập Chánh Niệm Mộc Lan. Cảm ơn bạn đã mở cửa cho giáo pháp được truyền bá về vùng đồng bằng miền Nam. Bạn không kỳ thị mặc dầu trong quá khứ bạn đã bị đổ lỗi cho việc kỳ thị chủng tộc. Tôi biết trong quá khứ bạn cũng đã bị phê phán rất nhiều vì những sự kiện lịch sử xảy ra. Nhưng tôi tha thứ cho bạn, vì tôi biết rằng nếu không có những sự kiện ấy, những “tranh đấu” ấy, chúng ta sẽ không có ngày hôm nay. Chúng ta đã học được nhiều bài học từ những đấu tranh trong quá khứ để hôm nay nảy nở những bông hoa tuyệt vời. Đặc biệt là đóa hoa Mộc Lan, Magnolia Grove Practice Center. Tôi nhớ có lần đi dự khóa tu ở đây, nhiều người đã chia sẻ rằng họ sợ về đây vì quá khứ không mấy tốt của bạn, nhưng khi họ can đảm đến thăm bạn, họ cho biết họ đã làm một trong những quyết định hay nhất trong cuộc đời họ. Bây giờ họ đã có nơi để tìm về với sự an bình và bạn đã cho họ điều này. Họ đã không khám phá ra được nét đẹp của bạn do vì họ còn kẹt vào quá khứ. Từ đây về sau, bạn sẽ mãi mãi ở trong tim họ.

Tôi đã học được ở bạn rất nhiều. Tôi học làm một con người, một vận động viên, và quan trọng nhất là cách xem mọi người như người thân trong gia đình qua cá tính hiếu khách của bạn. Bạn có biệt danh là “Tiểu bang hiếu khách”, the “Hospitality State”. Dù ở bất cứ nơi nào, chợ Wal-Mart, quán ăn, sân chơi banh, ai cũng được xem là người nhà dù chỉ mới quen lần đầu. Tôi học được nhiều lắm và rất biết ơn những điều dạy bảo của bạn. Bây giờ dù ở đâu, đi đâu, tôi đều có thể thương được và không kỳ thị người khác, vì mọi người, vì tất cả đều là gia đình! Đề cập về gia đình, bạn đã cho gia đình tôi một không gian để an trú. Chúng tôi đã học để hiểu và để thương nhau hơn. Đã có lúc cha mẹ tôi mong muốn bảo tồn văn hóa Việt còn chị em chúng tôi muốn chuyển qua văn hóa Mỹ, bạn cho chúng tôi không gian để khám phá ra rằng chúng tôi có thể có được cả hai nền văn hóa. Bạn dạy cho chúng tôi cách sống giản dị và để đừng bị kẹt quá nhiều vào chuyện xã hội.

Tôi cũng học được một điều quan trọng là bạn nổi tiếng về ngành thể thao. Bạn sản xuất ra nhiều thế hệ vận động viên danh tiếng như Walter Payton, Jerry Rice, Brett Farve và thêm nhiều người nữa. Tôi lớn lên và học hỏi được rất nhiều từ các môn thể thao. Tôi luôn ghi nhớ trong tim về những lời dạy của các thầy huấn luyện thể thao của tôi. Họ dạy chúng tôi chơi như một gia đình, như một cơ thể. Thí dụ như khi chơi bóng rổ, chúng tôi phải học cách chơi ở mọi vị trí để có thể di chuyển có hòa điệu như một cơ thể trên sân chơi. Thầy huấn luyện dạy chúng tôi chơi và hành xử như một bàn tay. Thầy luôn nói: “Một bàn tay nắm chặt lại thì luôn luôn làm đau hơn là một cái tát!” Nên khi năm người chúng tôi chơi trên sân, chúng tôi chơi chặt chẽ và hết lòng để có hiệu quả hơn. Chúng tôi chơi cho sự thành công của đồng đội mà không phải cho sự thành công cá nhân. Mình chơi hết lòng vì mình thương đồng đội và muốn họ thành công. Tôi cũng học được những câu như: “Đừng bỏ gia đình bạn ngoài sân” hoặc “Bạn thắng bởi vì bạn thương mọi người chứ không phải vì bạn ghét bỏ họ”. Các thầy huấn luyện thực sự đã giúp chúng tôi buông bỏ ý niệm thắng cuộc. Khi mình làm được như thế, chỉ chú trọng đến việc chơi vì mình thích chơi thể thao thì cuối cùng mình lại thắng.

Hiện tại, Sư Ông là “Thầy huấn luyện” của tôi trong sự thực tập sống chánh niệm. Những gì bạn dạy tôi áp dụng vào môi trường thể thao thực sự phản chiếu trong sự thực tập hàng ngày của tôi tại Làng Mai. Một thí dụ nữa về bóng rổ là khi mình nhồi banh trên sân, đó là việc theo dõi hơi thở vào và ra. Việc này diễn tiến rất tự nhiên nhưng nếu bị ngăn chận thì sự chuyền bóng giữa người chơi và đồng đội bị đứt đoạn. Các đồng đội là huynh đệ của tôi, họ có mặt để yểm trợ tôi trong mọi trường hợp. Và chơi với nhau như một cơ thể chính là sự thực tập. Khi chúng ta có thể kết hợp tất cả mọi tài năng và chơi với nhau thì chuyện ghi điểm sẽ trở nên dễ dàng. Đối với sự thực tập, khi chúng ta có thể kết hợp và làm lắng dịu thân tâm, nuôi lớn niệm, định và tuệ, chúng ta khám phá ra rằng bình an và hạnh phúc cũng đến rất dễ dàng.

Tất cả những điều tôi chia sẻ trên đây đều hướng đến việc bày tỏ lòng biết ơn bạn đang có mặt trong sự thực tập của tôi tại Pháp. Tôi nhớ lúc còn nhỏ, tôi thường mơ ước được sống ở nhiều nơi khác nhau và nhất là sống ở nước ngoài. Và đó là điều tôi đang làm được ngay bây giờ. Tôi đoán rằng vì tôi sống xa bạn, tôi thực sự thấy được vẻ đẹp của bạn. Bạn đã giúp tôi, không những qua trung tâm Mộc Lan mà còn qua môi trường thể thao, tìm về con đường tâm linh. Giờ đây đang sống tại Làng Mai, tôi thấy rất dễ hòa nhập vào gia đình và bạn bè cùng trên con đường thực tập. Qua môn thể thao, bạn đã cho tôi thấy rằng tôi có thể tìm được sự hiểu biết, tình thương và sống hòa hợp với các sư anh, sư chị và sư em tôi, đồng thời không kỳ thị người khác bằng cách phát triển tính hiếu khách. Không những tôi tiếp nhận được lợi ích từ bạn mà hai gia đình huyết thống và tâm linh của tôi cũng tiếp nhận được nhiều điều lợi ích mà bạn đã cống hiến. Gia đình huyết thống của tôi đã có cơ hội tìm được pháp môn thực tập. Gia đình tâm linh của tôi thì được nuôi dưỡng bởi những gì bạn đã trao truyền cho tôi. Tôi hy vọng sẽ đại diện được cho bạn và tiếp nối bạn một cách thật đẹp đẽ để đi về tương lai. Cảm ơn tình thương và sự yểm trợ của bạn không những trong sự thực tập của tôi mà còn đối với tất cả tổ tiên tâm linh và huyết thống, với Sư Ông và Tăng thân yêu quí bằng tấm lòng biết ơn sâu đậm.

 

Bức thư đầu tiên
Chân Trăng  Nến Ngọc

Con tên là Chân Trăng Nến Ngọc. Con vừa được xuất gia trong gia đình cây Đoàn vừa rồi. Con viết thư này xin gửi lên Sư Ông để bày tỏ niềm biết ơn và hạnh phúc của con khi con chính thức được gia nhập tăng thân, đổi mới cuộc đời mình và còn được Sư Ông hồi âm thư nữa.

Nhiều lúc viết thư, dù biết là gửi cho Sư Ông nhưng con không dám tin nó sẽ tới nơi, hoặc Sư Ông sẽ đọc nên con cứ viết với tinh thần “đây là bức thư đầu tiên Sư Ông nhận”, phải viết cho rõ để Sư Ông biết mình là ai! (nghe thảm quá). Con cứ có cảm giác như mình viết thư cột vào cái bong bóng rồi thả lên trời, vậy mà Sư Ông đã nhận được, đã đọc và còn trả lời thư cho con nữa. Ôi, con hạnh phúc quá! Những lời của Sư Ông như đi vào trong người con, từ từ gỡ những khúc mắc mà thậm chí con còn chưa nhận ra và diễn đạt được. Dù con cố gắng hết sức để trình bày, và con còn bị kẹt vào cách dùng từ ngữ nên chưa bộc lộ hết được. Vậy mà Sư Ông hiểu, sao Sư Ông biết hay vậy? Con hạnh phúc quá! Sư Ông đã đọc thư con rất nghiêm túc dù con chỉ là một người nhỏ. Dù con chỉ mới thấy Sư Ông “bằng thịt” có một lần, và Sư Ông không biết gì về con. Nhưng Sư Ông thương con thật, thương những khó khăn của con, thương một tình thương không phân biệt, của một vị Bồ Tát (con nghĩ vậy). Bây giờ con thấy con có trong Sư Ông rồi (không biết con có nói quá không!)

Cho đến nay con có tiến bộ lắm Sư Ông ạ! Con ngồi thiền không buồn ngủ nhiều như trước nữa, vì con lờ mờ nhận ra cái hay của việc ngồi thiền. Con ngồi lặng như vậy để cơ thể được nghỉ ngơi, và để cho các cơ quan được tập trung làm việc. Con từng suy nghĩ liên miên nhiều quá nên hay bị đau đầu. Rõ ràng sau một khoảng thời gian ngồi yên không suy nghĩ (chỉ ngắn thôi), con thấy người mình nhẹ nhõm hơn hẳn. Nhưng không phải buổi ngồi thiền nào tâm con cũng lặng yên được như vậy. Ở đây con sướng lắm, có thầy Từ Tế thường qua Diệu Trạm dạy võ cho các sư chị sư em. Thầy cũng thường hay chia sẻ, lắng nghe và “tư vấn” cho mọi người về những trạng thái khi ngồi thiền, cách ngồi thiền, ích lợi khi ngồi thiền, nhờ vậy mà quý sư chị sư em con và cả con nữa ngồi thiền thấy hứng thú hơn.

Con thấy quý thầy, quý sư cô ở Thái rất dễ thương, cống hiến hết mình, quan tâm chăm sóc người khác rất kiên nhẫn, hòa nhã mà không ngại phiền. Ở Huế cũng vậy, không thể so sánh được. Nhìn lại, mỗi người một cuộc đời, cũng có những người chưa hề được khơi dậy những hạt giống tốt, hay do năng lượng “muốn làm” chưa đủ mạnh; cũng có những người chưa bao giờ nghĩ sẽ đi tu nhưng tất cả, ngày hôm nay đã quy tụ, cùng nhau tu học theo các trung tâm, gom góp sức mạnh để thực hiện ước mơ chung: cứu mình, cứu đời. Sư Ông thật đáng kính quá.

Lúc trước và sau khi thọ giới con có nhiều niềm vui lắm. Con rất thích phong cảnh bên Thái. Chỉ cần nhớ là mình đang được ở Thái, có Sư Bá, có chị Hai trong cây và mang theo nhiều ký ức cả nhà đoàn tụ là con thấy mình vui như “chim hót”. Con làm gì cũng vui: đi, làm việc, dự thời khóa, ngồi chơi, chơi ngày sadi, v.v… mọi thứ từ nhỏ đến lớn, cái gì con cũng vui, cũng hạnh phúc. Con nghĩ ước mơ của mình không phải là trở thành một sư cô, một người tu có cái gì đó “không thể được, không thể thích ứng” (có thể nhận thức về phân biệt tôn giáo vẫn còn từ nhỏ, và cái thói thích hưởng thụ nhiều hơn cống hiến đã ăn sâu vào tàng thức con). Nhưng con lại tìm thấy hướng đi trong đời sống này. Khi được tiếp xúc, tưới tẩm và sống như một tập sự, con mới nhận ra những sai lầm, mê muội của mình trong quá khứ. Giờ phút này con đã thoát ra khỏi nếp sống đó, được sống thật với chính mình. Học hỏi để biết được con người mình, tâm thức mình và tìm được hướng đi cho cuộc đời mình. Nhìn lại bạn bè, hàng xóm của con ở nhà, dù có điều kiện vật chất, có tình thương của cha mẹ, thầy cô, có rất nhiều điều kiện hạnh phúc nhưng tội nghiệp thay lại thiếu tỉnh thức. Môi trường ở đó rất ôn hòa (từ bản chất con người đến khí hậu) nhưng tuổi trẻ lại ít có cơ hội biết được sự thật về cuộc đời. Con người phần nhiều khi được sống trong êm ấm quá thì sinh hư, không phải, có lẽ là yếu đuối, bị môi trường độc hại lôi kéo mà vì không thấy nên cứ tiếp nhận: hơn thua, bạo động, mê đắm, sex v.v… Từ khi nhỏ cho đến lúc lớn, được cha mẹ vất vả lo cho không thiếu thứ gì, nên thường có thói quen đi tìm những cái hưởng thụ bên ngoài, riết hồi cứ chạy lòng vòng vì những cái bên ngoài đó mà không có cơ hội nhìn lại và tự đặt cho mình những câu hỏi như: mình đang may mắn, mình là một sự mầu nhiệm; mình thiếu định hướng, mình chưa có ước mơ lớn cho cuộc đời; mình đã, đang và sẽ sống như thế nào…? Thời gian cứ trôi đi rồi cũng phải bước vào đời, với những vốn liếng về ý niệm, quan điểm sai lầm, thiếu hụt, tương lai của mọi người sẽ như thế nào? Làm sao theo kịp mọi người đây, bạn bè cùng lứa của con cũng đã 18 tuổi, sắp vào đời rồi.

Con thấy mình quá may mắn. Con được học những điều Bụt dạy mà Sư Ông đã đưa đến cho thế hệ trẻ chúng con. Sư Ông giảng cho chúng con hiểu, Sư Ông viết sách để phát triển đạo Bụt, cái gì cũng mang lại sự tỉnh thức cho người nhận, cái gì cũng rõ ràng, rất rõ ràng.

Vừa rồi qua Thái, con và các chị em được chơi ngày Sa Di vui lắm. Con có viết một bức thư kể cho Sư Ông nghe nhưng dài quá nên con bỏ và viết lại thành bức này (nếu kể lại phải mất hơn hai đôi giấy). Con cũng có nhiều câu hỏi lắm, nhưng nghĩ lại, thôi thì con hỏi Y chỉ sư của con vậy, chắc do con thực tập chưa thuần nên vậy. Sư Ông có quá nhiều việc mà. Con xin phép dừng thư ở đây ạ! Năm mới con chúc Sư Ông tràn đầy sức khỏe, tràn đầy niềm vui và có thêm nhiều sự tiếp nối đẹp, vững chắc.

 

Nương tựa Bụt
Trăng Hoa Lâm

vườn BụtCon đã tìm ra được con đường cho con đi, con đường của tình thương và sự hiểu biết. Con hạnh phúc biết chừng nào khi con được làm con gái của Đức Thế Tôn, nhờ con đã nuôi dưỡng Tâm bồ đề nên mới có ngày hôm nay.

Con nhớ rõ từ khi bắt đầu đến chùa, con nhìn khuôn mặt của Ngài tỏa đầy từ bi, đức độ, vì thế Ngài có mặt trong tâm trí con. Con phát nguyện sẽ tôn thờ và cung thỉnh tượng Ngài về nhà để ngày đêm có cơ hội được lễ lạy và tâm sự với Ngài. Điều đó con đã thực hiện được một cách trọn vẹn và đầy viên mãn như ý mình thầm mong. Từ đó con được tìm hiểu lịch sử, giáo lý và hành trì những thiện phước mà Đức Thế Tôn đã dạy; trì trai, bố thí, cúng dường và giữ giới, những việc mà một vị cư sĩ nên làm. Lại thêm một phát nguyện tiếp theo mà trong tâm khởi lên nữa đó là cúng dường trai Tăng, buổi cúng dường đầy hân hoan, hạnh phúc được diễn ra rất nghiêm trang, thanh tịnh với sự chứng minh và thọ nhận của nhiều vị Tăng, con dâng lên tất cả sự cung kính, lòng thành trong tâm khi lạy xuống, con phát nguyện hồi hướng phước đức và những việc làm này cho khắp mọi loài để được sống trong sự an toàn, không hận thù và căm ghét lẫn nhau. Và điều đặc biệt hơn nữa là con tha thiết được làm người xuất gia, được đi theo con đường của Bụt để đem lại niềm vui và hạnh phúc mà con đã phát khởi.

Con nhớ ngày con ra đi theo chí nguyện, trời đang trong xanh với gió mát, bỗng đổ mưa nhè nhẹ mà thấm ướt cả đôi vai con. Lòng con ngậm ngùi, những giọt nước mắt chảy ngược vào trong, con nhìn má và những người thân đang khóc và luyến tiếc, lòng con càng phải vững bền và kiên quyết nhiều hơn: “Một khi đã đi thì phải đi cho đúng đắn, đàng hoàng và thành tựu mới trở về”, con thầm nghĩ vậy. Lúc này đây con mới thật sự thấy “chân tâm một quyết lên đường”. Sau những tháng ngày tập sự và xuất gia, cho đến hôm nay con nhận thấy mình mát trong như dòng suối, nhẹ nhàng như mây bay, tâm hồn con thảnh thơi và bình an lạ thường. Làm sao con quên được khoảnh khắc con được sinh ra một lần nữa trong gia đình tâm linh, một gia đình quyết định cả tương lai và cuộc đời của con.

Bạch Đức Thế Tôn! Những ngày còn nằm trong bụng của mẹ, có đôi lần con vụng dại, lỡ lầm làm đau mẹ nhưng nhờ tình thương bao dung, thông cảm mẹ đã che chở và ôm ấp con. Mẹ đó là quý sư cô và Tăng thân. Những lúc con nhận diện những tập khí xấu đang biểu hiện và đã biểu hiện, con thấy lòng hổ thẹn, tự ái đã đi lên nhưng nhờ con biết thở, biết mỉm cười với những mặc cảm đó nên con mới buông bỏ nó được.

Cảm nhận ngày con thay hình đổi dạng, ngày mà con thấy đất trời cùng hòa điệu vào nhau, lòng con đầy xúc động và hạnh phúc dâng tràn. Ngày con được tái sinh, được gia nhập vào Tăng đoàn của Bụt, giây phút ấy là giây phút huy hoàng và thanh tịnh, thân và tâm đưa về một mối, con dừng lại tất cả dòng suy nghĩ, lo sợ, hồi hộp để cho thân tâm được tiếp nhận giới pháp tròn đầy. Con không kìm nổi những giọt nước mắt khi được nghe bài xướng tụng “Đầu Cành Dương Liễu”, con nhận được những giọt nước thanh lương, những giọt nước mát mẻ tưới lên dập tắt não phiền, làm tươi mát cả hồn con. Con thấy mình như đang nở trong vườn hoa rực rỡ của nhân loại: “Muôn hoa tỏa ngát giữa đồi, mang hương tỏa sắc cho đời thêm xinh”. Giây phút thiêng liêng cao cả ấy lòng con dâng lên sự biết ơn tôn kính đối với cha mẹ, Bụt, Tổ và Tăng thân đã cho con cơ hội được biểu hiện, con biết ơn muôn loài đã cho con sự sống mầu nhiệm này. Ngày xuất gia, con đã hoàn toàn nhận diện rõ một điều rất quan trọng không thể nào vắng mặt được, đó là “hơi thở”, bởi vì nhờ con theo dõi và duy trì hơi thở chậm rãi nên con mới giữ được sự bình tĩnh, nhẹ nhàng và những bước chân thật vững chãi trên mặt đất. Dù làm bất cứ việc gì đi chăng nữa, nếu không có hơi thở ý thức thì mình sẽ khó hoàn thành trọn vẹn. Chính vì vậy con mới thấy được rằng “Hơi thở là người bạn trung thành nhất của sự nghiệp sống tỉnh thức” là vậy đó.

Bạch Đức Thế Tôn! Đến hôm nay con đã xuất gia hơn một tháng rồi, con thấy trong con năng lượng của hạnh phúc, của niềm vui, của bình an càng nhiều hơn. Con thấy mình nhỏ bé giống như những giọt sương ban mai rơi xuống ngọn lá vào buổi sớm. Con thấy con giống như bông hoa sẽ nở mãi, nở mãi trong khu vườn địa đàng. Thật vậy! Con xin nguyện sẽ tiếp tục nuôi dưỡng và đốt cháy thêm những ngọn lửa đang sáng. Con xin nguyện nương tựa vào Tăng thân, cùng đi chung như một dòng sông, cùng chảy ra biển cả. Con nguyện gìn giữ những lý tưởng cao đẹp, tôn trọng mục tiêu của cuộc đời và cuối cùng con xin nương tựa vào Đức Thế Tôn, bậc Thầy của chúng con với đức từ bi, hạnh nguyện cứu người và mọi loài của Ngài để làm nền tảng vững chắc nhất mỗi khi con gặp khó khăn, hay thử thách trên đường đi.

Con chỉ là giọt nước giữa dòng sông
Con chỉ là đóa hồng trong vườn thắm
Con chỉ là hơi ấm của quê hương
Và chỉ là hạt bụi đường dưới chân Bụt
Xin được sống với tình thương chân thật
Xin được thở bằng ân đức của Như Lai
Cõi trầm luân Người thức giữa đêm dài
Xin nương tựa đức từ bi vô lượng.

 

Lời nói từ trái tim
Chân Pháp Thuyền

Giờ phút này đây con đang rất hạnh phúc bởi vì con vừa vượt qua được tâm trạng sợ hãi trong con. Sáng nay, trong buổi ngồi thiền, con quán chiếu lại những ngày vừa qua và nhận ra rằng thỉnh thoảng con có những bất an sợ hãi trong lòng, con có cảm giác rằng có một số người đang sợ hãi con, gặp mình là muốn tránh xa, không muốn gần gũi với con và con cảm thấy có một bầu không khí nghi kỵ đang nhìn mình. Thậm chí con còn nghĩ rằng có nhiều người đang ghét mình, mong sao cho con đi khuất mắt. Những lúc như vậy, con thấy đời mình bị bao phủ bởi màn đen u ám. Con tự hỏi dường như không có ai hiểu được mình cả, những lúc như vậy con rất cần ở bên cạnh Thầy, ôm chân Thầy mà nói lên nỗi niềm. Con tự hỏi mình tu có đúng phương pháp không mà có những cảm giác như vậy? Mình có làm lầm lỗi điều gì không? Trong buổi ngồi thiền, con thấy rõ thỉnh thoảng mình sống thất niệm, đã có những suy tư, những lời nói, những hành động khiến những người khác sợ hãi xa lánh mình và cảm thấy mình cũng lo sợ cho chính bản thân mình. Có lần, niềm tuyệt vọng dâng trào, con chán ghét một số người và mong đừng có gặp lại những người đó. Nhưng may mắn thay, nhờ phước đức của ông bà tổ tiên, của cha mẹ, của Thầy, của tăng thân mà con đã dừng lại được tâm niệm đó. Trong buổi ngồi thiền, con đã mượn hình ảnh của Thầy để quán chiếu vào tự thân, hình ảnh đầy từ bi trí tuệ của Thầy đã đánh động vào tâm con, Thầy như có một sức mạnh vô biên đã gìn giữ được cái tâm còn hoang dại của con, và một niềm biết ơn mãnh liệt dâng trào trong lòng con, biết ơn Thầy, biết ơn tăng thân đã chỉ lối và dẫn dắt con trên bước đường tu tập. Con cũng biết ơn Thầy Bổn Sư của con, người đã đưa con vào đạo. Và con cũng biết ơn cha mẹ của con, người đã sinh ra con trong cuộc đời này. Con xin gởi lòng biết ơn sâu sắc của con đến với cha mẹ, đến với Thầy Bổn Sư và xin hết lòng tu tập để đền đáp một phần công ơn cao cả của chư liệt vị.

Trong buổi thiền quán, con cũng thấy được hình ảnh của thầy Ahimsaka, một vị Tỳ Kheo tiêu biểu cho đức tính nhẫn nhục, vô úy không sợ hãi, một người trước khi xuất gia nổi danh là Chỉ man, nhưng khi gặp Bụt, cái ác đã đổi thành cái thiện. Con cũng vậy, trong con có những cái ác tính, khi điều kiện đầy đủ thì nó biểu hiện và làm cho con khốn đốn. Nhưng có lẽ kiếp trước mình có trồng nhiều căn lành nên kiếp này được gặp Thầy, được gặp tăng thân nên có cơ hội tu tập và chuyển hóa được những tập khí của mình. Trước kia con thường nghĩ rằng mình là người hoàn hảo, mình đang hướng dẫn người khác tu tập. Bây giờ đụng chuyện mới biết được sức tu của mình như thế nào. Lúc đó con muốn thốt to lên rằng: “Ôi! Hạnh phúc quá! Hạnh phúc quá! Nhưng con sợ đại chúng giật mình nên chỉ nói trong tâm của mình thôi. Con nuôi dưỡng ý thức đó trong suốt buổi ngồi thiền nên những lời sám pháp địa xúc đã đi sâu vào tận trái tim con. Bài sám pháp địa xúc nói về sự vô thường của bản thân, của Thầy, của sư anh, sư chị và sư em đã làm cho con rất xúc động, con thấy rõ là do trước kia mình đã sống thất niệm, đã có những hành xử khiến cho những người khác đau khổ và muốn xa lánh mình. Nay thấy được những nguyên nhân đó, con nguyện tập sống cho có chánh niệm hơn, nguyện an trú vững chãi, thảnh thơi để có thể cống hiến cho đời những hoa trái của sự thực tập. Lúc đó trái tim của con đã mở rộng ra để có thể ôm ấp được tất cả mọi người. Con muốn ôm tất cả mọi người trên thế giới vào trái tim đang rộng mở của mình và nói lên rằng con thương tất cả mọi người, không phân biệt sang hèn già trẻ. “Nguyện đạt tới hiểu biết lớn, nguyện thành tựu thương yêu sâu. Đó là ước mong sâu sắc nhất của con, con không còn ước mong nào nữa cả.”

Ngày hôm nay cũng là ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời của con, con đã sống thật có chánh niệm, an trú vững chãi và thảnh thơi, nhờ con đã sử dụng các bài thi kệ và hơi thở. Con ý thức được sự sống mầu nhiệm đang diễn ra xung quanh mình và đập tan những hối tiếc buồn đau về quá khứ hay những ảo vọng mơ tưởng đến tương lai. Vì con biết sự sống vốn vô thường, các sư anh, sư chị và sư em của mình cũng vậy, cũng vô thường, nếu mình không biết trân quý thì có thể người thân của mình sẽ ra đi. Con cũng vậy, không biết ngày mai mình sẽ ra sao, cho nên hãy sống hết lòng vì hôm nay, để ngày mai nếu có ra đi thì mình cũng thảnh thơi.

Con biết trong đời sống hàng ngày có những lúc vì thất niệm cho nên con có những tư tưởng hay những lời nói khiến người xung quanh đau khổ, đã gây khó khăn cho anh chị em của mình, đã vụng về lầm lỗi, xin đại chúng hãy đến với con, hãy chỉ bảo cho con, hoan hỉ bỏ qua cho con, và con sẽ cố gắng thực tập tốt hơn. Con nhớ đến lời dặn dò của Thầy: “Dù con người đổ chụp trên đầu em cả ngọn núi hận thù, tàn bạo, dù con người đày ải em vào hang sâu tủi nhục”, con cũng luôn luôn nhớ lời Thầy dạy: “Kẻ thù chúng ta không phải con người. Xứng đáng chỉ có tình xót thương”. Kẻ thù chúng ta chính là tham vọng si mê, nhưng con biết tham vọng si mê cũng không phải là kẻ thù của chúng ta mà nó là bạn của chúng ta, nó là một phần của bản thân ta. Con biết Thầy và tăng thân luôn luôn có mặt đó để yểm trợ, nâng đỡ cho con. Con cũng xin nói lại là, trong trái tim con luôn có hình bóng của Thầy, của tăng thân, xin các sư anh, sư chị và sư em hãy đến với con, chỉ bảo cho con những lỗi lầm mà con đã mắc phải; hãy thương tưởng tới con, hãy hoan hỉ và tha thứ cho con; hãy xem con như một phần thân thể và con cũng xem mọi người như thân thể của mình vậy. Tăng thân như là một thân thể lớn và con là một tế bào trong cái thân thể ấy. Vì vậy chúng ta cùng giúp nhau vượt qua khó khăn. Con luôn luôn tin tưởng vào tăng thân, tin tưởng vào sự nghiệp độ đời, tin tưởng vào con thuyền tăng thân, dù con thuyền đó có nghiêng đổ thì niềm tin của con vào tăng thân cũng không hề thay đổi.

Đây là những lời nói xuất phát từ trái tim của con, xin Thầy chứng minh cho con, xin đại chúng hiểu cho tấm lòng thành của con. Cuối cùng, con xin đê đầu đảnh lễ Thầy và tăng thân và xin nguyện vâng lời chỉ dạy để thực tập.

 

Thông điệp đầu năm
Chân Trăng Hàm Tiếu

Nhân ngày đầu năm mới (xuân Giáp Ngọ), con ngồi vào bàn cầm bút viết vài dòng, khai mở một mùa xuân an lành. Ngồi ở đây, nơi gian phòng nhỏ của mình, con nâng ly trà ấm áp, thơm ngon để xua tan cái lạnh buốt của xứ Huế.

Con nhớ từ nhỏ đến lớn, con chưa thưởng thức trọn vẹn ly trà ngon như thế này. Không phải loại trà đặc biệt gì, cũng không quý giá vậy mà con thấy ngon hơn hết. Con tự hỏi tâm mình tại sao như vậy, nhìn sâu vào, con nhận ra con đang có niềm vui, hạnh phúc với bao mầu nhiệm. Con đang thật sự có mặt với ly trà nóng và thưởng thức hết lòng mà không để tâm ý ở nơi khác. Nên dù loại trà bình thường, hay với người rành trà cho là loại bét thì con vẫn thấy ngon.

Hôm nay, bầu trời có vẻ trong lành hơn so với mấy tháng trời mưa tầm tã, úng cả cây cối. Trời không mưa lại có nắng nhẹ, vàng chói đẹp lắm. Những tia nắng len lỏi qua các chiếc lá hứng đầy sương, lung linh sinh động.

Con nhắm đôi mắt nhỏ bé của mình lại, cố hít thở thật sâu để tận hưởng. Con đặt tay lên phần bụng đang cử động của mình. Con thấy vui lắm, cái bụng cứ phồng lên, xẹp xuống đều đều theo hơi thở vào, ra. Khi bụng con phồng lên thì đồng thời con cũng đang hít vào hơi thở sâu. Khi bụng con xẹp xuống thì đồng thời con cũng đang thở ra hơi thở dài. Tự nhiên, tai con nghe rõ tiếng sương đọng trên mái ngói rơi lộp độp xuống hiên chùa. Con hít vào một luồng khí lạnh, tinh khôi của cây vườn và mùi trà đang thơm nhẹ. Con thấy thú vị đến nỗi không muốn mở đôi mắt ra vì sợ sẽ bỏ lỡ giây phút như “tiên” này. Chợt con nhớ đến câu nói của Sư Ông trong bài pháp thoại mà quý sư cô thường nói khi thấy hạnh phúc: “Đây là giây phút hạnh phúc”.

Con cảm thấy tâm đắc câu nói này và hôm nay con đã có thể sử dụng nó một cách nhuần nhuyễn. Bước xuống giường con cũng thấy hạnh phúc vì con vẫn có thể đi những bước thong dong bằng đôi chân của mình. Bước từng bước trong chánh niệm con thấy người mình như nhẹ hẳn ra.

Bước ra hành lang, con ngắm nhìn thiên nhiên để biết rằng con đang còn đôi mắt sáng để thấy được trời xanh bao la, để trân quý  hạnh phúc mà con đang có. Con thấy nào là hoa lan tím, cây mít, cây chay trước mặt, xa xa là hồ Sao Hôm, bụi tre già được ông mặt trời chiếu những tia sáng đầu ngày. Mọi thứ thật xanh tươi, lấp lánh nổi bật hẳn. Con đang tận hưởng thiên nhiên bằng lòng biết ơn vô tận: “Cảm ơn thiên nhiên, cảm ơn cuộc đời”.

Con thấy con cũng đang tràn đầy sức sống như cây kia, tự do biểu hiện, chẳng phải lo nghĩ gì. Hằng ngày, con được ngồi thiền, tụng kinh, học giáo lý, vui chơi, chấp tác. Cùng với tăng thân, con duy trì được sức sống trong mình. Cũng giống như cây kia cũng cần phân, đất tốt, nước…, để được xanh tươi như vậy.

Bỗng một câu chúc xuân tốt lành của một sư chị đến với con làm con giật bắn người, đúng rồi hôm nay là tết Sư Ông ạ! Những lời nói yêu thương, chúc nhau từ mọi người làm không khí ni xá trở nên vui hẳn. Những gói quà xinh xinh được trao tặng mang một thông điệp yêu thương của ngày đầu năm. Con thích nhất là tặng quà và “nhìn lén” cảm xúc trên gương mặt của người nhận. Khi thấy người khác vui con cũng thầm cười hạnh phúc. Hôm nay, con cũng được nhận quà, con nở nụ cười với món quà để mong người tặng biết con đang hạnh phúc, con chúc ai cũng vui vẻ như con bây giờ.

Thế là năm cũ đã qua đi với bao niềm vui, hạnh phúc; bao khó khăn, lo phiền để nhường đường cho năm mới với khởi đầu mới. Con nguyện những gì năm cũ chưa làm được, con sẽ cố gắng thêm. Những gì đã thành công thì con sẽ phát huy tiếp. Còn lo phiền, buồn giận, con sẽ cho chúng đi theo làm “đệ nhị thân” cho năm cũ. Năm mới, con quyết làm mới bản thân, làm mới sự thực tập để con được bình an, có nhiều niềm vui, sức sống để Sư Ông được vui, để ai cũng được hạnh phúc. Con kính chúc Sư Ông luôn khỏe, sống mãi bên chúng con để chúng con được hưởng năng lượng tươi mát, lòng từ bi, bao dung của Người.

 

Khi cần em hãy nắm lấy …
Chân Lĩnh Nghiêm

Thương yêu gửi tới các sư bé tương lai

Hồi ấy tôi cũng giống như em bây giờ, tôi chẳng thiết tha chi với những bon chen trong cuộc đời trần tục. Tôi đã thấy được những giả tạm của cõi hồng trần, những hệ lụy khổ đau của kiếp nhân sinh, nhưng tôi vẫn chưa đủ can đảm để giã từ. Đôi mắt của tôi còn mê mờ, tôi chưa phân biệt được đâu là trong, đâu là đục. Lúc ấy tôi không có một đoàn thể nào để nương tựa. Chẳng có ai cho tôi gọi “chị ơi”, chẳng có ai xuất hiện chìa cánh tay ra và hỏi: “Có tôi đây, tôi giúp được gì nào?”. Tôi cứ thui thủi một mình kiếm tìm, dò dẫm, sờ soạng…

Tôi đắn đo trước tấm áo nâu và áo trắng. Nhìn hai tấm áo ấy tôi chỉ có một câu hỏi duy nhất, câu hỏi làm tôi đau đầu nhức óc: “Chiếc áo nào có khả năng giúp được nhiều người?” Tôi đem hai tấm áo đặt lên cán cân trí óc, trí óc tôi bất lực. Tôi đặt hai tấm áo lên cán cân trái tim, trái tim tôi u mê. Đâu là trong? Đâu là đục? Câu hỏi réo rắt tâm can. May sao tôi còn có Mẹ – Mẹ Quán Âm. Tôi đã gọi Mẹ rất tha thiết và hỏi Mẹ rằng: “Con phải làm gì để giúp được nhiều người? Làm tu sĩ thì giúp được nhiều người hay làm cư sĩ sẽ giúp được nhiều người?” Làm gì cũng được miễn sao giúp được nhiều người thì tôi làm ngay, tôi chẳng quan tâm gì tới hình tướng hết. Một tuần sau tôi nhận được câu trả lời của Mẹ trong một cuốn sách:

Câu trả lời như sau:

“Trước khi giúp người khác con hãy giúp chính mình. Trước khi xứng đáng ngồi trên tòa Như Lai giảng pháp con hãy kết thảm cỏ, ngồi trong động đá để quán chiếu về sự vô thường, lý vô ngã. Và chỉ khi nào chứng được thanh tịnh tuyệt đối con mới được phép nhập thế gian mà không sợ bị sa ngã. Một người mù không thể dẫn đường cho những người mù. Một kẻ đang chết đuối không thể cứu được một người cũng đang chết đuối. Làm sao con biết rằng hành động của con hoàn toàn vô vụ lợi? Làm sao con biết rằng con không tự lừa dối chính mình? Một việc làm cao đẹp chỉ có ý nghĩa khi nó được làm với một tâm vị tha chân thật. Chỉ khi nào con bước vào đời, làm mọi việc mà không thấy có mình làm, không thấy có người được giúp thì khi ấy con sẽ hiểu lời ta nói “nhập thế gian mà không rời Niết bàn.”

Em biết không? Lời dạy ấy khiến tôi chấn động tâm can. Nhát kiếm của Mẹ đã kết liễu cuộc đời cư sĩ của tôi. Tôi được tái sinh trong đại gia đình áo nâu. Giờ đây tôi đang ngụp lặn nơi bến nước trong. Đúng là bến nước trong, vừa trong vừa mát.

Tôi đã đi trước em rồi đấy, con đường ấy lành và đẹp lắm. Đây là bàn tay tôi, khi nào cần xin em hãy nắm lấy.

Món quà Tăng thân

Chân Tịnh Hằng

Đã mười năm tôi không được tham dự Noel ở Làng. Tôi nhớ, mười năm trước mỗi khi đến mùa Noel, dù lạnh cách mấy tôi cũng thức dậy để sửa soạn cho cái ngày này, tuy không phải là tôn giáo của mình, Tôn giáo bạn. Nhưng mình đang ở trong xứ của các bạn, “Xứ trời Tây” (trong chúng xuất gia có rất nhiều thầy và sư cô người Tây phương), mình phải hội nhập và hòa đồng vào văn hóa của họ mới đem đạo Bụt dấn thân vào xã hội Tây phương.

noelTrong ngày này, Thầy trò chúng tôi chơi với nhau rất vui. Tôi có nhiều ấn tượng của ngày này, bao nhiêu trái tim của các sư chị, sư anh, sư em xích lại gần nhau hơn, quý mến nhau hơn. Mỗi người tự làm cho nhau những món quà, tự tay mình gói và thể hiện nhiều tình thương trong những món quà đó. Mình được bốc tên để tặng quà cho người đó, bất kể người đó là sư anh, sư chị hay các sư em của mình. Trong uy nghi có dạy: “Không được tặng quà cho người khác phái” (muốn tặng quà hay viết thư cho sư anh hay sư em của mình thì phải trình lên cho y chỉ sư mới được gởi đi). Nhưng mỗi năm chúng tôi đều tổ chức tặng quà cho nhau và lấy ngày Noel để tặng quà. Khi mình bốc trúng tên ai đó thì mình gói một món quà với tấm lòng trân quý sự có mặt của người đó trong tăng thân. Trong suốt thời gian gói quà, tôi đã thấy sự có mặt của niềm hạnh phúc rồi. Không biết người nhận có hạnh phúc hay không nhưng hạnh phúc trong tôi đang tròn đầy. Món quà đó, gọi là món quà tăng thân. Ngoài món quà được bốc tên, chúng tôi cũng thường hay gói quà thêm tặng cho những người khác trong chúng như Sư Ông, sư cô trụ trì hay một người bạn đồng tu mà có thể là người đã giúp mình đi ra những khó khăn, nhân tiện đó để mình tỏ lòng biết ơn của mình đối với người đó. Thỉnh thoảng dù không phải là ngày này, tôi cũng làm được những món quà với nội dung thực tập muốn truyền thông lại với một thầy hoặc sư cô hay một sư em. Tôi gói một gói quà thật xinh, thật thiền vị để tặng cho người đó. Tôi biết, có khi đương sự không biết món quà đó từ tôi, nhưng tôi thấy một hành động của mình đã hóa giải nội kết, không dễ thương ở trong mình, và khi nhìn người đó tự nhiên mình thấy có thiện cảm, và cái gọi không ưa đó nó dần dần được chuyển hóa, tình thương tự biểu hiện trong tâm thức rồi. Đó, món quà tăng thân là như vậy.

tình chị em ở Diệu TrạmTrở về lại Làng, tôi vẫn thấy không khí đó rất đẹp, biểu hiện trong từng mỗi sư anh, sư chị hay sư em của tôi. Mỗi năm chúng tôi được trở về Phương Khê (Phương Khê là nội viện chỉ dành cho chúng xuất sĩ) và Thầy trò chúng tôi đã có mặt trọn vẹn cho nhau trong ngày này. Ngày hôm trước, Thầy đã nói pháp thoại bằng tiếng Anh cho các thiền sinh Tây phương về dự Noel. Chúng tôi cũng tổ chức cho những vị cư sĩ tặng quà cho nhau. Những người mới đến thì có quà của tăng thân, những người ở lâu với mình cũng được bốc tên và tặng quà cho nhau. Họ hạnh phúc khi được về Làng trong dịp Giáng sinh và tết Tây. Năm nay thiền sinh về khoảng 800 người. Lần này về lại Làng, tôi thấy con của Sư Ông đông hơn. Trước đây, cả chúng sinh hoạt chỉ trong một thiền đường, bây chừ ngồi hai thiền đường mà vẫn không đủ chỗ. Tôi mơ Phương Khê có một thiền đường lớn có thể chứa được một ngàn tu sĩ (thầy Từ Giác hay nói để mượn cái gối mà mơ cái đã…). Nghĩ đến một thiền đường lớn như vậy tôi thấy vui vui vì mọi người được ngồi chung với nhau mà không ai lọt ra ngoài và khỏi nhìn Thầy qua màn hình. Tôi biết không chỉ riêng gì tôi mà tất cả mọi người đều có chung ước mơ này. Điều đầu tiên tôi thấy món quà lớn nhất khiến tôi cảm thấy hạnh phúc đang có trước mặt tôi, đó là chúng xuất sĩ bây chừ đông hơn. Món quà huynh đệ bên nhau. Ngày xưa lạc Long Quân và Âu Cơ chỉ sinh ra một bọc chỉ có 100 người con nhưng nhìn vào tăng thân mình thì… Ui! Thầy giàu có hơn Lạc Long Quân và Âu Cơ nhiều, chứng tỏ mình có sự tiếp nối của con Rồng cháu Tiên. Nhưng ở đây thì khác, rằng bọc trứng của Sư Ông nuôi lớn mỗi ngày bằng niệm, định và tuệ nên sinh con ra ai cũng dễ thương, dễ thương ngay khi còn trong trứng nước. Và khi sinh ra mới chỉ có một vài tuần mà biết nói chuyện rất vững vàng, tạo không khí an vui cho những ai tham dự vào dòng giống này, dòng giống áo nâu sòng.

Các xóm đều dâng quà lên Sư Ông, món quà nào cũng ý nghĩa, cũng ngập tràn tình thương. Tôi nghĩ, Sư Ông là một ông thầy tu hạnh phúc nhất mà tôi chưa thấy ai được như vậy. Tôi thường thấy đối với một số quý Ôn quý Sư bà, càng lớn thì người nhỏ ít lại gần hơn, tôi lớn lên ở Huế nên tôi thấy điều này rất rõ. Thật sự đôi lúc chúng tôi cũng muốn đến gần quý ngài để học hỏi nhưng không hiểu sao trong lòng lại có cảm giác sợ, sợ mình vụng về tạo ra lỗi gì đó rồi sợ bị quở, vậy nên không bao giờ chúng tôi dám tới để chia sẻ hay tự động nói ra một điều gì với các vị lớn. Nhưng với Sư Ông thì các đệ tử “bưng cả trái tim”, dù trái tim hạnh phúc hay trái tim khổ đau chúng tôi đều có thể chia sẻ cùng Thầy, chính vì vậy tôi mới nói Sư Ông là một ông thầy tu hạnh phúc nhất. Hạnh phúc vì được lắng nghe những hạnh phúc, khổ đau của đệ tử, chỉ cần lắng nghe thôi là đệ tử có khả năng được ôm ấp và trị liệu rồi. Có khi chỉ nhìn Thầy mỉm cười là bao nhiêu phiền lụy đã rụng rơi.

Có một bài hát Tịnh Thủy viết:

Nhìn thầy lòng thanh thoát
Nghe thầy hết đắm say
Ngồi bên thầy ấm áp
Buổi chiều qua không hay
Mê nghe kinh trọn kiếp
Ngộ chỉ một sát na
Gần thầy trong chốc lát
Thanh thản nẻo đi về.

Tôi thấy, ở trong tăng thân có nhiều sư anh, sư chị và sư em có khi khó khăn tưởng chừng như không vượt qua được, nhưng khi chia sẻ được cho Thầy, Thầy chỉ dạy một câu đơn giản thì đương sự đã vơi đi bao nhiêu khổ lụy rồi. Thầy tôi thật là tài. Tài ở đây là Thầy có nhiều năng lượng của bậc chân tu, làm cảm hóa được bao nhiêu trái tim bị tổn thương, năng lượng an ổn đó đã bao trùm lên những “vết sẹo” trong trái tim người đệ tử. Thầy tôi luôn có đó trong mỗi phút giây để chúng tôi có cơ hội trưởng thành.

Những món quà được dâng lên, xóm nào cũng nói lên công dụng của món quà, như là công phu tu học của các xóm để tỏ lòng tri ân đến Thầy.

Những món quà các xóm dành tặng cho nhau cũng chứa đựng bao nhiêu là tình thương và sự quan tâm. Các xóm ở gần nhau và sinh hoạt chung nên cũng hiểu được các xóm khác đang cần gì. Vì vậy xóm tặng quà, xóm nhận quà và quà được tặng rất có ý nghĩa và tiện ích để mình tiết kiệm được cho nhau. Người xuất sĩ lúc nào cũng phải biết sống đời sống tri túc mà, vậy đó.

Ngồi chơi với Thầy, tôi thấy Thầy tôi rất dễ thương. Các đệ tử mới xuất gia còn nhỏ nên khi chia sẻ đôi lúc còn vụng về. Nhưng Thầy lắng nghe rất hết lòng, giữ năng lượng hiền hòa khiến người chia sẻ cảm thấy gần gũi và đầy niềm tin. Cuối buổi ngồi chơi, vị nào chia sẻ chưa hay thì Thầy dạy lại để toàn chúng được học hỏi và ý thức hơn về cách trình bày của mình, Thầy luôn để thời gian và không gian cho đệ tử học hỏi và lớn lên.

Nhìn lại khoảng thời gian tôi xa Làng, ấy vậy mà đi vèo qua đã 10 năm. Có hôm đang ngồi tụng giới, tôi giật mình nhớ ra là tôi đã nhận giới Lớn được mười năm rồi. Ngồi nghĩ lại tôi tự hỏi với chính tôi là 10 năm qua mình đã làm gì? Công phu tu học của mình đến đâu? Có khả năng sống hòa hợp trong tăng thân không? Có vững chãi để tiếp nối con đường mà mình đã chọn không? Đã học được và hành trì giới đến đâu? Ui, bao nhiêu câu hỏi tự tôi kiểm lại mình trong suốt mười năm qua. Mười năm là khoảng thời gian nhiều lắm… Mình đã làm gì cho chính bản thân và cho đời mình…?

Được có cơ hội sống với tăng thân, tôi thấy tôi lớn khôn rất nhiều. Tôi học hỏi từ Thầy, từ các sư anh, sư chị, sư em và các bạn thiền sinh nhiều lắm. Con đường này đã giúp tôi nhiều trong công trình chuyển hóa. Tôi biết trong sự thực tập, tôi còn yếu kém vụng về, những vụng về đó tăng thân luôn ôm ấp nên tôi thấy mình có niềm tin hơn để tôi tiếp tục con đường chuyển hóa.

Khi một người trẻ phát tâm đi tu đã là một phước đức rồi. Vào tu có Thầy, có tăng thân để mình học hỏi lại thêm một phước đức nữa. Tăng thân luôn cho tôi những “món quà”, món quà mà khi mở ra khiến tôi ngập tràn hạnh phúc. Có rất nhiều “món quà” mà tôi biết mình cần có thêm thời gian để mở… Nhưng món quà nào tôi cũng tiếp nhận hết lòng bằng niềm thương yêu của tăng thân. Năm nay tôi lại may mắn có được một mùa Noel thật ấm áp bên Thầy và Tăng thân.

Đem chánh niệm vào ngân hàng thế giới

Chân Pháp Lưu
BBTChuyển ngữ từ tiếng Anh

“Chúng tôi rất mong được mời thầy và Sư Ông đến đây bất cứ lúc nào và tôi sẽ sắp xếp lại lịch trình đi xa của tôi để tôi có thể có mặt ở đây. Tôi sẽ liên lạc thêm với thầy sớm. Kính cảm ơn. Jim. Go Big Green!” Đó là mẩu tin tôi đọc thấy trong hộp điện thư vào ngày 11 tháng Giêng năm trước, nhắn từ tiến sĩ Jim Yong Kim, giám đốc của Hiệp Hội Ngân Hàng Thế Giới. Mẩu tin này đã là chất xúc tác cho chuyến viếng thăm đầy ấn tượng của Sư Ông và tăng thân Làng Mai đến trụ sở ngân hàng ở Washington, D.C. vào ngày 9 và 10 tháng 9 vừa qua.

Sự kết nối với ông Jim Kim được khởi đầu trong chuyến hoằng hóa Wake Up tại Mỹ do một nhóm các thầy và các sư cô trẻ cùng với con trở về ngôi trường cũ, đại học Dartmouth, có biệt hiệu là “Big Green” vì màu xanh của các cánh rừng quanh trường đại học. Lúc đó, ông Kim vẫn còn là chủ tịch trường và đã vui vẻ yểm trợ buổi sinh hoạt Wake Up ở đó dù ông đã không thể có mặt.

Vào mùa Xuân năm 2012, con đọc được một bài viết từ báo Đất Lành về sự kiện ông Kim được tổng thống Barack Obama đề cử vào chức vụ chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới. Trong một buổi phỏng vấn, ông ấy đã chia sẻ rằng quyển sách ưa thích nhất của ông là quyển Phép Lạ của Sự Tỉnh Thức do Sư Ông viết.

Bây giờ con đã hiểu vì sao ông Jim Kim yểm trợ buổi sinh hoạt tại đại học Dartmouth. Vài tuần sau ngày Quán niệm, ông ấy đã viết một lá thư rất hay để cảm ơn chúng con và đặc biệt là để cảm ơn món quà thư pháp của Sư Ông. Có lẽ nào chuyến viếng thăm của chúng con đã khiến ông ấy xem lại quyển sách kia, và rồi đã chia sẻ với quần chúng rằng ông thường đọc lại nó trong hơn hai mươi năm qua?

Con có cơ hội đọc một quyển sách với tựa đề Mountains Beyond Mountains tháng 11 năm đó và đã có nhiều cảm hứng khi biết về những công tác mà ông Jim Kim và ông Paul Farmer đã làm. Họ đã tìm cách cung cấp những dịch vụ sức khỏe tốt nhất cho tầng lớp người nghèo trên thế giới. Con cảm nhận rằng mình cũng nên đóng góp bằng một vài cách nào đó. Sau khi sửa chữa một vài lần lá thư con sắp gửi cho ông ấy, con đã nghĩ ra một điều: một ngày quán niệm cho nhân viên Ngân Hàng Thế Giới.

Con liền liên lạc với một người bạn học cũ đã từng làm việc tại ngân hàng này nhiều năm trước để dò ý. Anh ấy kể cho con nghe về những căng thẳng trong môi trường đó và anh ấy nghĩ rằng nhân viên ở đó sẽ được lợi lạc như thế nào với pháp môn thực tập chánh niệm. Đọc được trong sách cách ông Jim Kim xử lý một số những trường hợp khó khăn trong công việc của ông, con có thêm niềm tin rằng một buổi sinh hoạt tại Ngân Hàng Thế Giới dưới sự quản lý của ông sẽ trôi chảy và sẽ đem lại nhiều chuyển hóa cho các nhân viên ở đó. Con khởi sự viết lá thư ấy cho ông để đề nghị ý kiến trên. Cũng như lá thư xin tổ chức buổi sinh hoạt Wake Up tại đại học Dartmouth, chỉ trong vòng ba ngày chúng con nhận được hồi âm của ông mời Tăng thân đến.

Con đã thưa với Sư Ông về thư mời của Ngân Hàng Thế Giới và đồng thời cho Sư Ông tất cả những tài liệu in sẵn mà con tìm được về ông Jim Kim và về Ngân Hàng Thế Giới. Buổi sáng ngày quán niệm tại xóm Thượng, sau khi tụng kinh xong, Sư Ông cho gọi con đến và nói: “Thầy hoan hỷ để có ngày quán niệm tại Ngân Hàng Thế Giới. Con làm việc với các sư anh, sư chị để tổ chức đi.” Thật là một giây phút vui mừng làm sao! Cả hai vị, Sư Ông và ông Jim Kim đều đồng ý để tổ chức buổi sinh hoạt mà trước đây vài ngày chưa chắc chắn sẽ xảy ra.

Liền sau đó một nhóm bốn thầy và quý sư cô từ Mỹ hợp lại để giúp tổ chức: thầy Pháp Dung, sư cô Tùng Nghiêm, sư cô An Nghiêm và con. Chúng con đã điện thoại cho ông phụ tá chủ tịch, Nicolas Peltier (người gốc ở vùng Dordogne gần Làng Mai), và với hai cô Connie Eysenck và Suzanne Vallazza trong ban truyền thông của ngân hàng giúp chúng con chọn một ngày trong tháng 9 khi Sư Ông đang có mặt ở Mỹ, tại tu viện Bích Nham. Sẽ có hai ngày sinh hoạt: buổi hội thảo vào thứ Hai và ngày kế là một ngày quán niệm trọn vẹn. Mọi sinh hoạt đều dành cho nhân viên Ngân Hàng Thế Giới, cho nên mọi việc đều được làm trong sự kín đáo.

Những ngày trước đó, Sư Ông dạy con viết cho ông Kim và hỏi ông ấy về những khó khăn mà cộng đồng Ngân Hàng Thế Giới đang giải quyết. Sau khi nhận được các câu hỏi kể rõ những thử thách mà họ đang gặp phải, Sư Ông đã trả lời và những câu trả lời ấy đã làm nền tảng cho pháp thoại của Sư Ông trong buổi hội thảo ngày đầu tiên. Ngày quán niệm hôm sau được dành riêng cho sự thực tập.

Vào sáng thứ Hai, buổi hội thảo gồm có Sư Ông, tiến sĩ Kim, giáo sư Richard Davidson thuộc ngành Tâm lý học từ đại học tiểu bang Wisconsin ở Madison và bác sĩ Brian Davey, trưởng ban Chương trình chăm sóc sức khỏe nhân viên ngân hàng. Khoảng 400 nhân viên đến tham dự tại hội trường Atrium. Ông Kim, sau khi giải thích lý do của buổi họp mặt, đã giới thiệu các thành phần tham dự.

Giáo sư Richard Davidson đã chia sẻ về quá trình nghiên cứu trong cơ thể học và ảnh hưởng của thiền tập đến não bộ; rằng não bộ có khả năng thay đổi do sự huân tập rèn luyện. Chánh niệm có thể huấn luyện não bộ để tạo ra trạng thái an bình. Ông ta kết thúc với lời nhắn nhủ mọi người rằng sự nghiên cứu trên giúp cho chúng ta ý thức trách nhiệm cho sức khỏe tin thần của mình.

Tiếp theo đó, ông Kim mời Sư Ông bắt đầu. Sư Ông chia sẻ về Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (TTNPSXH) vào năm 1963 ở Việt Nam, nơi mà Sư Ông, Sư cô Chân Không và các vị khác huấn luyện người trẻ đi về miền quê để giúp thay đổi tình trạng nghèo đói, làm tăng thêm sức khỏe và giúp giải quyết khó khăn trong các mối liên hệ. Vì làm việc trong môi trường chiến tranh, nhiều người đã bị giết chết. Họ không muốn đứng về phía nào cả, thay vì thế họ muốn hòa giải giữa hai phía. Các tác viên xã hội được huấn luyện theo tin thần chánh niệm. Quyển Phép Lạ của Sự Tỉnh Thức do Sư Ông viết đã từng là quyển cẩm nang giúp họ duy trì sức khỏe, tập trung tin thần và nuôi dưỡng ước nguyện của họ, để họ có đủ niềm vui hầu tiếp tục con đường phụng sự.

Sư Ông chia sẻ thêm về công việc của TTNPSXH, về hạnh phúc, tình thương, tình huynh đệ, tất cả đều có thể có mặt trong suốt thời gian phụng sự mặc dầu không có tiền bạc hoặc lương bổng. Các tác viên ấy học cách xử lý những cảm thọ khổ đau, những cảm xúc mạnh khi chúng biểu hiện. Họ cũng học cách chế tác sự hiểu biết, lấy đi tri giác sai lầm bằng cách sử dụng ái ngữ và phương pháp lắng nghe. Sư Ông kể về kinh nghiệm xây dựng tăng thân khi Sư Ông không còn được trở về Việt Nam; sau khi ra ngoại quốc kêu gọi hòa bình và việc chấm dứt chiến tranh. Lúc ấy Sư Ông đau khổ nhiều vì thấy mình như một con ong xa tổ. Sư Ông thực tập chánh niệm để trị liệu cho chính mình và bắt đầu việc xây dựng một tăng thân ngoài Việt Nam bằng những phương pháp thực tập thiền hành, thiền ăn cơm, thiền làm việc với nhau. Nếu không có sự thực tập, không có tăng thân thì Sư Ông đã không có cách để bảo hộ mình. Chúng ta cần một cộng đồng, một tăng thân để có thể thực hiện được ước mơ của mình và chúng ta có thể xây dựng tăng thân bằng cách bắt đầu với chính mình. Khi chúng ta có thể thở và bước đi trong chánh niệm, chúng ta sẽ có nhiều tự do; tự do đối với những hối tiếc, đau buồn của quá khứ; tự do đối với sự suy tư và tiếng nói thì thầm trong hiện tại; tự do đối với những kế hoạch, ngay cả kế hoạch cứu đói giảm nghèo; tự do đối với những nỗi lo toan, những bất an về tương lai. Nhờ vậy chúng ta tiếp xúc được với phút giây hiện tại, với Đất Mẹ, và với tất cả những mầu nhiệm của cuộc sống bên trong và xung quanh ta.

Ông Brian Davey chia sẻ khái niệm về sức khỏe trong Chương trình chăm sóc sức khỏe cho nhân viên. Ông nói rằng chúng ta có thể học phương pháp để tạo hạnh phúc và sự bình an. Một trong những khóa học phổ biến nhất trong chương trình trên là lớp thiền chánh niệm. Nhiều câu hỏi được các nhân viên tham dự nêu ra đều được Sư Ông trả lời thích đáng.

Sau buổi hội thảo, ông Kim đã gặp riêng Sư Ông tại văn phòng và sáng hôm sau ông ấy kể lại cho Sư Ông rằng ông đã áp dụng những điều Sư Ông chia sẻ ngày hôm trước; ông thấy mình đã nói chuyện một cách dễ thương hơn với vợ của ông. Sư Ông sau đó đã nói rằng tiến sĩ Kim là một học trò giỏi, biết áp dụng ngay những gì mình được học.

Ngày kế tiếp là một ngày quán niệm cho nhân viên Ngân Hàng và số người vượt hẳn số người tham dự buổi hội thảo. Họ có mặt từ 8 giờ 30 sáng đến 5 giờ chiều. Ông Kim và một số nhân viên chính cũng đã có mặt. Ngày quán niệm gồm có buổi pháp thoại của Sư Ông và phần câu hỏi trả lời. Sau đó cả nhóm được đi thiền hành bên ngoài vỉa hè thủ đô. Tại một địa điểm đẹp dưới bóng mát cạnh một bờ hồ lớn, Sư Ông mời đại chúng ngồi xuống và nghe chuông. Sau khi trở về lại hội trường, đại chúng dùng cơm trưa trong chánh niệm do sư cô Định Nghiêm hướng dẫn. Sự yên lặng của bữa ăn đã tạo ra một ảnh hưởng lớn cho hội trường này, nơi vốn dĩ luôn náo nhiệt. Vào buổi trưa có một thời thiền buông thư ngay trên ghế và thiền lạy do Sư cô Chân Không hướng dẫn. Sau đó là phần tặng quà lưu niệm cho ông Kim và ông ấy cũng tặng quà cho Sư Ông và Sư cô Chân Không. Chương trình cuối cùng là giờ câu hỏi trả lời với các vị Giáo thọ trong đó có thầy Pháp Đăng, sư cô Tuệ Nghiêm, sư cô Tùng Nghiêm và con.

Chiều hôm đó, các nhân viên đã tổ chức một buổi cơm tối bất ngờ cho các vị xuất sĩ và đã chia sẻ niềm biết ơn của họ. Con rất cảm động khi thấy được chỉ với sự thực tập đơn giản và niềm vui bình dị của Sư Ông và các thầy, các sư cô mà đã tạo được một ảnh hưởng hùng mạnh như thế.

Sáng hôm sau, tăng thân đáp máy bay về Boston, phần kế tiếp của chuyến đi.

Vài tháng sau, nhiều sự kiện đã phát triển tại Ngân Hàng Thế Giới. Ông Kim đã yểm trợ một nhóm nhân viên thực hiện một số đề nghị của Sư Ông và họ đã báo cáo cho chúng con biết dự án của họ. Trong đó có sự sắp xếp cho một địa điểm dùng cơm trong chánh niệm, quyền chọn lựa sử dụng chuông chánh niệm trong văn phòng và việc mời các Giáo thọ cư sĩ tại địa phương như chị Anh Hương và anh Mitchell Ratner đến để yểm trợ sự thực tập của các nhân viên. Cô Marie Shephard, một trong những người đặt câu hỏi trong buổi hội thảo đã tình nguyện giúp xây dựng một tăng thân tại Ngân Hàng.

Hai vị trong ban tổ chức, cô Connie và cô Suzanne, cho biết rằng họ đang sắp xếp để đem bạn bè và người thân về Làng Mai vào mùa Hè này.