Khoảng lặng

Những giây phút hạnh phúc

Chân Diệu Nghiêm

BBT Tạm dịch từ tiếng Anh

 


Ai chịu chơi

ai chịu chơiCó phải người chịu chơi là một người dám tu, dám học?

Có phải người chịu chơi là người dám làm, dám chơi?

Người chịu chơi phải chăng là người dám đối diện những gì đang nghịch cảnh?

Hay người chịu chơi là người dám từ bỏ những thú vui thường tình của xã hội để sống đời người tu trọn vẹn?

Con nhớ khi Thầy về Mộc Lan, Thầy đã cho chúng con một công án (có lẽ đối với con nó là một công án), đó là: “Ai chịu chơi?” Câu đó đã được khắc vào trên đá, nơi mà không có gì có thể xóa nhòa. Đối với con bây giờ, Mộc Lan cũng đã in sâu vào tâm trí, đã nằm gọn trong trái tim nhỏ của mỗi người, những người đã và đang cùng chung tay cho Mộc Lan được biểu hiện.

Khi mới bước chân về Làng Mộc, mọi thứ đối với con còn bỡ ngỡ. Thiền đường Hải Triều Lên ngày xưa khi con đến chỉ là những cái khung sắt trơ trọi, như bộ xương của một con khủng long to lớn đã hóa thạch. Xung quanh chỉ toàn bùn đất. Nhất là khi trời mưa thì ôi thôi, có ai muốn đi ra thiền đường mà chân được sạch?

Có hai câu thơ ngắn mà con thường nghĩ tới:

“Mỗi bàn tay xây đắp công trình
Mỗi ánh nhìn chan hòa từ ái”

Thật vậy, khi nhìn vào thiền đường lúc đã hoàn tất hầu như tất cả mọi người chứ không riêng gì ai, đều thấy được trên những bức vách thiền đường biểu hiện biết bao nhiêu bàn tay còn in dấu. Nó ghi lại bao kỷ niệm vui buồn của mỗi thành viên Làng Mộc. May mắn thay trong quá trình giúp các cô chú xây dựng thiền đường, chúng con không bị một tai nạn nào đáng tiếc xảy ra. Đó cũng đã là điều mầu nhiệm lắm rồi, không cần mong gì hơn được nữa. Và nếu có ai hỏi con, những tài năng đang có từ đâu ra, con dám chắc rằng nhờ đi tu mà có. Mỗi trung tâm con được ở cho con học được nhiều điều và phát huy thêm được những tài năng mới. Tăng thân đã cho con cơ hội học hỏi và cho đến khi con về Làng Mộc. Ngoài học thở, học cười, học đi trong chánh niệm, nay con lại được học thêm nghề đúc ngói, đúc hoa văn, xẻ gỗ, thậm chí cho đến đóng bàn, đóng ghế hay cả điêu khắc .v.v… Thử hỏi nếu không có cơ duyên vào Tăng thân thì chắc cả đời con cũng không biết mình sẽ làm được những gì trong cuộc sống.

Nhớ lại ngày đầu khi con phụ làm tháp chuông, chúng con giúp anh Ngân đúc từng viên ngói. Lúc đó niềm vui trong con rất lớn vì chính con không ngờ rằng con cũng có thể học đúc ngói được. Và khi đúc ngói xong thì chúng con được học đúc hoa văn. Đúng, chỉ khi mình thực chứng cũng như góp một bàn tay vào những gì mình làm thì mới thấy được nó quý, không những quý sức người mà còn quý hơn nơi mình đang ở. Con không thể quên hình ảnh của các cô chú vào mỗi đêm lúc trời mát đã đến tu viện để trải từng thảm cỏ cho kịp lên xanh trong khóa tu Thầy về. Hay có khi những ngày Chủ nhật quán niệm, các bác, các cô chú cho đến các em nhỏ cũng tới để cùng trải cỏ, làm đất hoặc trải dăm. Còn biết bao nhiêu niềm tri ân mà con không thể tả hết được.

Có một câu hát trong bài hát về Mộc Lan mà con thường nhớ: “những lúc ngồi bên nhau, em không nói nhưng ta hiểu thật sâu…” Con thấy rõ ràng là vậy. Chỉ khi mình đến và thực chứng thì mới thấy được cái đẹp, cái sâu sắc của nó, nơi đã và đang ôm ấp mình. Con may mắn được có mặt mỗi ngày trong thời gian đầu xây dựng thiền đường Hải Triều Lên và tháp chuông An Trú. Con được có cơ hội đóng góp, tu tập và học hỏi tại nơi này. Đó là một phước đức lớn mà con được nhận.

Khi mọi thứ hầu như hoàn tất, chúng con chỉ đợi đón Thầy và phái đoàn về cho khóa tu. May mắn lại đến cho chúng con là còn cơ hội gặp Thầy, được đi thiền hành với Thầy, làm thị giả cho Thầy, được nhìn Thầy viết thư pháp hay được ăn cơm chung với Thầy. Hạnh phúc lớn nhất mà con nhớ như trong giấc mơ mà Thầy từng kể là “nấu cơm cho huynh đệ từ xa về cùng ăn”. Đúng thật vậy, anh chị em từ khi loạn lạc chưa gặp mặt nhau, nay được gặp lại trong một không khí gia đình thân quen, tay bắt mặt mừng dù còn nhiều người con chưa hề gặp. Con nhớ có lần ba con kể cho chị em con là ba mẹ đặt cho các con tên giống nhau để sau này các con vẫn biết được đó là chị là em của mình, cùng chung một dòng máu. Thì trong tăng thân mình cũng vậy, tuy không hề biết nhau nhưng mình cùng chung một tăng thân, một gia đình tâm linh, cùng một Thầy nên không có gì có thể ngăn cách được những nụ cười, những cái ôm hay những cái bắt tay nhau sau một thời gian dài mới hội tụ.

Con thấy hạnh phúc trong con quá lớn, những điều kiện cũng luôn có mặt đó cho mình nên không cần đòi hỏi gì thêm. Con chỉ cần thả mình theo dòng chảy thì sẽ được nâng niu và ôm ấp. Như vậy là cũng đủ lắm rồi, không cần tìm cầu chi nữa. Và con thấy người chịu chơi cuối cùng có phải là người dám tiếp tục bước theo dòng chảy của Tăng thân, dám tiếp tục cống hiến cho Tăng thân mà không hề lùi bước trước những khó khăn trên suốt đoạn đường.

Đây là giây phút huyền thoại

Chân Vĩ Nghiêm

Bữa cơm gia đình áo nâu tại EIAB
Bữa cơm gia đình áo nâu tại EIAB

Những giây phút được sống bên Thầy là những khoảnh khắc mầu nhiệm, các kỷ niệm đó đã đi vào huyền thoại, nhưng nó vẫn sống mãi trong trái tim con. Tình thầy trò đã nuôi dưỡng, chắp cánh cho nguyện ước ban đầu của con bay cao và bay xa.

Ngày trước, con chỉ được gặp Thầy qua những bài pháp thoại nên con chưa nếm được hương vị tình thầy trò ngọt ngào và sâu lắng mà Thầy đã cho chúng con. Con nhớ lần đầu lên Phương Khê con còn bỡ ngỡ, lơ ngơ không biết phải làm gì, chỉ đứng im nhìn quanh nhìn quất. Thầy hỏi chuyện, con thưa nhưng còn ngại ngùng và sau đó không lâu con được Thầy chỉ dạy rất nghiêm trong buổi pháp thoại xuất sĩ, con càng sợ hơn, và định tránh Thầy một tuần không dám gần. Không biết xui hay là hên nữa mà ngay trong tuần đó, con lại được làm thị giả Thầy và còn thường xuyên lên Phương Khê làm việc vào những ngày làm biếng, dù con có muốn tránh cũng không được, đúng là “tránh trời không khỏi nắng”. Nhưng càng ở gần Thầy, con càng thương kính Thầy nhiều hơn, con học được rất nhiều trong các bữa cơm, trong cách chỉ bày nho nhỏ nếu không chánh niệm, không để tâm thì mình khó nắm bắt được những thông điệp Thầy nhắn gởi trong những hành động, những câu nói đó. Con cảm nhận trong tình thầy trò, con nếm được cả tình cha con, cái cảm giác ấy rất quen thuộc, thân thương và ấm áp làm sao. Một không khí gia đình đầm ấm, và con tha hồ tắm, bơi lội nghịch ngợm trong suối nguồn hạnh phúc ấy.

Sau lần được dạy dỗ ấy, hình như Thầy biết con buồn và khóc nhè một ngày, nên hôm sau con tránh, con không dám đến gần Thầy, chỉ xá chào thôi, Thầy là người hỏi chuyện con trước, mỉm cười với con nhưng mặt con vẫn buồn xo. Thầy đến gần và đặt tay lên đầu con, như muốn dỗ dành, con cảm nhận tình thương của Thầy. Lúc đó con suýt khóc, nhưng cố nén lại, con muốn nói là con không giận Thầy đâu, con hiểu qua đó Thầy muốn dạy con, muốn cho con dễ thương hơn. Nhưng con không nói nên lời, chỉ cảm nhận thôi. Đang viết lại những dòng này, nước mắt con lại rơi vì hạnh phúc và cảm động. Con thường tự an ủi mình, tự nói với mình như cách Thầy thường nói: “Vĩ Nghiêm ơi, thở đi con, cười đi con, đừng khóc nhè nữa!” Nhiều khi con cũng mơ ước nếu được Thầy viết cho câu đó để mình treo trên bàn học, để nhắc nhớ mình mỗi ngày, nhất là những khi buồn, khi tủi thân mà thực tập thì hạnh phúc biết mấy.

Ngày hôm sau, con lại làm việc trên Phương Khê, nhưng không muốn ở lại ăn cơm, bởi con phải để các chị em khác tận hưởng “xôi nếp một, đường mía lau” ấy, nếu có thêm sư mẹ và con, thì Thầy lại sớt cơm cho chúng con, chăm sóc chúng con mà đáng lý ra cái diễm phúc ấy là của các chị em khác, nên con đi cửa Phương Khê ra ngoài đợi sư mẹ. Sư mẹ ra chào Thầy, Thầy bảo ở lại ăn cơm nhưng sư mẹ từ chối vì có Vĩ Nghiêm đang đợi ở ngoài xe. Con nghe sư mẹ kể lại, lúc đó Thầy khựng lại một chút. Nghe như thế lòng con lại nhói đau, con thương Thầy quá, có thể Thầy nghĩ con còn buồn nên lánh mặt chăng?

Con thấy mình là người may mắn, khi Thầy la, Thầy dạy thì Sư cô dỗ dành lắng nghe, phân tích cho con hiểu, và giúp con giải quyết những khó khăn mà con đang gặp phải, cởi bỏ được gánh nặng trong lòng để con vui sống với những phút giây hiện tại đẹp đẽ và mầu nhiệm. Sư cô kể lại những kinh nghiệm quá khứ, những ngày đầu mới xây dựng Làng để con hiểu và cảm thông hơn. Những câu chuyện Sư cô kể rất vui, thú vị nhưng nó lại làm nhẹ vơi nỗi lòng con.

Thầy cũng thế, sau những bữa cơm trưa, cơm chiều, Thầy thường kể chuyện, con nhớ những câu chuyện Thầy kể giúp con tháo gỡ và hiểu và thương kính Thầy nhiều hơn. Tấm chân tình Thầy dành cho tất cả các con rất sâu rất đậm. Con nhớ ngày đó Thầy kể về Văn Lang Dị Sử, Thầy nói tại sao Thầy viết phần cuối lại không để cho vua An Dương Vương giết Mỵ Châu, vì Mỵ Châu vô tư, trong sáng nên không biết mình nối giáo cho giặc, bởi Thầy muốn tránh tình trạng cha phải giết con. Con nghe đến đó, con thấm lắm và hiểu hơn tại sao Thầy đã dạy mình và thầm cảm phục cái ân đức cao dày ấy. Con ví Thầy là An Dương Vương và chúng con là những Mỵ Châu, đôi khi cứ vô tư, trong sáng quá mức lại làm Thầy nhọc lòng khó xử.

Trong những bữa cơm, Thầy luôn quan tâm từng người một, gắp thức ăn, sớt thêm cơm, gọt táo. Sự chăm sóc nho nhỏ đó làm con cảm động quá chừng. Thầy là một vị Thầy lớn, bậc Thầy đáng kính của Phật tử khắp nơi trên thế giới, nhưng với các con, Thầy gần gũi, giản dị, tự nhiên, Thầy làm cho các con với tất cả tình thương. Từ trong cách hành xử đó ẩn chứa đằng sau là một tấm lòng rộng lớn bao la, thương yêu không phân biệt, dung chứa được tất cả mọi người. Con thầm nghĩ, chỉ có Thầy mới làm như thế, Thầy là vị Thầy có một không hai trên thế giới, thường đệ tử phải xới cơm, dâng trà, gọt táo mời Thầy, không khi nào Thầy làm điều đó cho trò cả. Ngay trong gia đình, ba con dù ngồi bên cạnh nồi cơm mà ba vẫn đưa chén cho me hay các con xới cơm, nhưng Thầy đã làm điều đó cho các con. Giây phút đó mầu nhiệm và thiêng liêng làm sao! Có hôm Thầy bảo: “Vĩ Nghiêm đưa bát đây Thầy cho con thêm miếng cơm nữa”. Thật sự con đã no và từ chối, nhưng khi nhìn Thầy và con âm thầm đưa bát cho Thầy, xin Thầy cho ít thôi. Con đùa “ép dầu ép mở ai nỡ ép ăn”, đó là câu nói mà khi còn ở nhà con hay nói với me, khi bị ép phải ăn thêm, bởi tướng con “Xì ke” quá, Thầy cười hiền lành, “ừ Thầy ép cơm”. Những lúc đó trong con đều thầm nguyện rằng sau này con sẽ hành xử đẹp với các sư em, các thế hệ tương lai, như Thầy đã làm với chúng con. Hình ảnh đó đã in đậm trong tâm trí con, con được tưới tẩm mỗi khi được cùng Thầy ăn cơm, ngồi chơi nghe Thầy kể chuyện. Chỉ có làm người tu, làm con Thầy mình mới có những giây phút mầu nhiệm đó. Biết bao học giả, những nhân vật nổi tiếng, các doanh nhân khao khát được có một buổi uống trà với Thầy, nhưng rất hiếm hoi, thỉnh thoảng họ vẫn có, nhưng làm sao nếm được hương vị tình Thầy trò sâu sắc, đầm ấm dễ thương như vậy. Nếu họ muốn thì phải xuất gia thôi.

Thường trong những bữa cơm con đều được nghe những câu chuyện ngày xưa của Thầy khi Thầy còn là một người tu trẻ, có những câu chuyện rất lý thú như thư viện trên cây, tô bún nước tương hay lần đầu tiên Thầy học tiếng Anh, chỉ được học vài buổi với một ông thầy thôi. Hoặc có khi nghe Sư cô kể chuyện ngày xưa, khi mới xa quê hương, Thầy không có đủ áo quần để mặc, chỉ có cái áo tràng và vài bộ vạt hò cũ mèm. Lúc đó con nhìn Thầy mà thương quá, những gì chúng con tận hưởng hôm nay là cả một đời Thầy hy sinh vun đắp. Đến bây giờ Thầy vẫn giản dị như xưa, vẫn chiếc áo tràng nâu nón lá, vẫn thích ăn những món ăn dân dã mà người dân Việt Nam mình ưa thích như măng kho, dưa cải chấm nước tương, kim chi…

Ngày Noel, con lên Phương Khê sớm, vì là thị giả nên con được phép vào trước chào Thầy. Con kể đủ thứ chuyện cho Thầy nghe, con nói cho Thầy nghe về ước mơ của mình, Thầy cũng vui với ước mơ của con, Thầy còn nói mình sẽ thực hiện được giấc mơ đó ở Việt Nam, mình sẽ làm gì v.v… Đằng sau câu nói đó, con cảm nhận cái ân tình Thầy dành cho Việt Nam rất sâu nặng. Thầy luôn chắp cánh cho những ước mơ của các con, của tăng thân. Con đã và đang thực hiện giấc mơ ấy mỗi ngày phải không thưa Thầy?

Niềm hạnh phúc lớn lao của con là được thưởng thức món canh kim chi do Thầy nấu, ngon ơi là ngon, thơm ơi là thơm, hương vị chua chua cay cay đậm đà, nóng hổi, khi đã ăn được một lần rồi thì cứ muốn ăn hoài. Mỗi lần thấy Thầy vào tủ lạnh lấy hủ kim chi và tàu hủ là lòng con vui như hội, con nhủ thầm: “Trưa này được ăn canh kim chi của Thầy nữa rồi, thích quá đi.” Con cũng đi theo loay hoay lấy cái này cái nọ để học cách nấu món canh đó, nhưng con chưa nấu được, dù đã được ăn ba bốn lần. Thầy từng nói người nhà quê Việt Nam thường ví tình mẹ “như chuối ba hương, như xôi nếp một như đường mía lau”, với con tình Thầy cũng thơm cũng ngọt mà cũng có lúc chua cay nên con cũng muốn ví tình Thầy “như táo Fuji, như xôi nếp một như nồi kim chi” đầy đủ hương vị thơm ngon cay đắng ngọt bùi, nhưng càng nếm càng thích, nhớ mãi không thôi.

Con nhớ hôm cuối năm Thầy nấu canh kim chi gần xong thì Sư cô và con phải đi bưu điện gởi thư gấp, bưu điện ở Duras chỉ mở đến 12h trưa thôi. Khi con xin phép đi, Thầy nhìn con rồi nói: “Đi về sớm nghe con.” Con dạ mà lòng cảm thấy ấm áp lạ thường, ai cũng muốn đi nhanh về ăn cơm với Thầy để Thầy khỏi chờ. Thế nhưng ngày đó Sư cô và con lại đi lạc, cuối cùng về nhà trễ. Thầy đang dùng cơm với quý sư chị sư em, nhưng không quên để dành canh kim chi còn nóng cho Sư cô và con. Chúng con ngồi ăn cơm với Thầy vui vẻ trong bữa cơm gia đình cuối năm.

Có hôm Thầy nói: “Các gia đình thời nay thường không có các bữa cơm chiều quay quần bên nhau, họ chạy theo công việc và không có mặt cho nhau, nhưng thầy trò mình thì vẫn còn giữ được điều đó, và khi hướng dẫn cho các em nhỏ thực tập chánh niệm thì mình phải giúp cho các em biết cách tận hưởng, biết cách tạo niềm vui trong các bữa cơm chiều với gia đình. Điều đó rất văn minh, muốn được như vậy thì phải thực tập lắng dịu cảm xúc, cha mẹ không nên la các con trong các bữa ăn. Tội nghiệp các em nhỏ, khi bị la thì nó chỉ ăn trong buồn tủi, giận hờn. Ông bà ta ngày xưa có câu: “Trời đánh tránh bửa ăn.” Mỗi bữa cơm Thầy đều dạy thêm cho con một kinh nghiệm quý báu để con giàu có hơn, khi chia sẻ với các em nhỏ trong các chương trình trẻ em.

Con học được cách hành văn, cách edit sách của Thầy rất tự nhiên, rất khéo, chỉ cần bỏ bớt vài câu lủng củng không cần thiết, hoặc thêm một vài liên từ, hoặc thay thế một vài từ làm cho câu văn ý nghĩa hơn, gọn hơn và tự nhiên như của người viết. Không cần trau chuốt mà câu văn giản dị, trong sáng, nhẹ nhàng, khỏe khoắn, rõ nghĩa và suôn sẻ. Thầy không nói nhiều nhưng những gì Thầy làm đều là cách Thầy âm thầm chỉ cho con những vụng về và muốn con học để hoàn thiện chính mình. Cách hướng dẫn đó của Thầy rất ấn tượng với con, lâu lâu chỉ nói một câu thôi nhưng câu nói đó rất có giá trị, đánh động trái tim con, giúp con thay đổi nhận thức và làm lớn mạnh thêm bồ đề tâm.

Có nhiều ngày con dọn dẹp ngoài sân, nhìn thấy Thầy ngồi đọc sách bên bàn học cạnh cửa sổ, hình ảnh đó đẹp lắm, con cứ đứng ngoài trời lạnh để được ngắm nhìn. Có khi con nhè nhẹ đi vào phòng Thầy viết thư pháp để được chiêm ngưỡng những phút giây kỳ diệu. Dù con đi rất nhẹ nhưng Thầy vẫn biết có người phía sau, Thầy thường hỏi: “Ai đó?” Và câu trả lời luôn là: “Dạ thưa Thầy, con!” Thầy viết xong, con đem từng bức đi phơi. Thầy nói: “Thư pháp thầy viết không đẹp nhưng người ta thương thầy nên họ mua thôi”. Thật sự thì con thấy thư pháp của Thầy đẹp lắm, bởi con được ngắm cách viết của Thầy mới thấy được chân giá trị của nó. Nó đi ra một cách tự nhiên như chính hơi thở của Thầy, mỗi bức dù to hay nhỏ Thầy đều đặt hết lòng, hết tình thương và mong cầu cho người ngắm nó có được một thông điệp nhắc nhở họ quay về thực tập để có hạnh phúc bình an. Không phải nhà thư pháp nào cũng có thể làm được như Thầy. Họ có những lúc viết rất xuất thần, rất đẹp nhưng phải dụng công, đôi khi tập trung đến độ căng thẳng, họ thiếu chất buông thư, sự thực tập niệm định tuệ như Thầy. Thầy viết thư pháp cũng giống như lúc Thầy uống trà, đi thiền hành vậy, tự nhiên, buông thư bình an và hạnh phúc, nên bức nào cũng chứa đựng pháp thân mầu nhiệm của Thầy. Con đứng lặng yên chiêm ngưỡng giây phút tuyệt diệu đó, một bức tranh, một bức thư pháp không mực tàu giấy gió, nhưng đó là tuyệt tác của muôn đời.

Tình Thầy dành cho anh chị em chúng con rất nhiều, rất đẹp, mỗi phút giây đều trở thành một huyền thoại. Thầy đã tạo ra những câu chuyện rất bình dị đời thường nhưng những khoảnh khắc đó trở thành truyền kỳ. Đúng như câu thần chú mà chúng con hay đọc: “Đây là giây phút huyền thoại và truyền kỳ”.

Đại trượng phu

 

Con có rất đông

Các anh chị em mang cùng dòng họ

Dòng họ Thích chí nguyện đại trượng phu

Xa cha mẹ tình yêu thương máu mủ

Nhập vào đời xuất sĩ sống ngao du

Hạnh phúc thay nếp sống của người tu

Không vướng bận nợ nần con với cái

Bỏ lại đời

Bỏ lại mái tóc xanh

Bỏ lại lợi danh

Bỏ lại quyền hành trong xã hội

Bỏ lại rồi

Các buổi tiệc thế gian

Chỉ có mang theo hành trang

Là hình hài cơ thể

Của cha mẹ trao truyền

Của thế hệ tổ tiên trao

Một giọt máu đào

Chảy vào dòng huyết thống

Một hơi thở nhẹ

Khai triển đời sống tâm linh

Con không mong mình

Bình yên trên lộ trình còn lại

Mà chỉ nguyện cầu cho tình huynh đệ

Vẫn mãi cận kề bên nhau

Để cùng mong hạt giống thầy trao

Gieo vào nhân loại biết bao ân tình.

 

Sư cô Đồng Đoan

Không cần tranh đấu với bóng tối

Ban biên tập phỏng vấn sư chú Trời Tự Tại và chuyển ngữ từ tiếng Pháp

sư chú Trời Tự Tại

Sư em có thể giới thiệu ngắn gọn về mình được không?

Sư em tên là Chân Trời Tự Tại, người Pháp. Sư em được xuất gia vào tháng 7 năm 2011 trong gia đình Cây Trúc Tím. Trước khi xuất gia, sư em đã làm cảnh binh (cảnh sát của quân đội) trong 18 năm.

Sư em đã bắt đầu tìm kiếm con đường tâm linh như thế nào và nhân duyên nào đã đưa sư em đến với Làng Mai?

Tất cả đã bắt đầu bằng chuyến công tác 6 tháng ở Congo, châu Phi. Lúc ấy sư em mới 29 tuổi. Khi sư em tới, cuộc chiến ở đó chỉ mới kết thúc. Sư em đã được chứng kiến một quang cảnh tan hoang. Sư em đã được gặp những người sống trong cảnh thực sự nghèo đói nhưng vẫn hạnh phúc và tràn đầy niềm vui sống. Cuộc gặp gỡ này đã đánh động sư em rất mạnh bởi vì sư em đã luôn tin rằng hạnh phúc tùy thuộc vào những điều kiện vật chất.

Sư em đã từng có một căn hộ lớn, xe hơi, nhiều điều kiện thuận lợi nhưng sư em vẫn thấy rất bất hạnh. Còn ở đây, sư em đã thấy trước mặt mình những người rất hạnh phúc mà trong tay không có gì nhiều. Nhiều người trong số họ nói với sư em: “Tôi chỉ sống trọn ngày hôm nay bởi vì tôi cũng không biết ngày mai tôi còn được sống hay không.” Chính câu nói đó đã đánh động sư em một cách sâu sắc.

Khi sư em trở lại Pháp, một điều gì đó tiếp tục rung động và làm sư em trăn trở. Trong cuộc sống của mình, sư em đã trải qua nhiều khổ đau: những vết thương từ thời ấu thơ, cuộc ly dị… và sư em rất sợ rằng niềm hạnh phúc mà sư em đã nếm được ở châu Phi sẽ mất đi. Chính lý do đó đã khiến sư em bắt đầu quan tâm tới con đường tâm linh và “Nghệ Thuật Hạnh Phúc” của Đức Dalai Lama, là cuốn sách đầu tiên mà sư em đọc. Sư em đã bắt đầu thực tập đạo Bụt theo truyền thống Tây Tạng từ 2002 đến 2007.

Sư em có theo đạo Cơ Đốc giáo trong thời gian đó không?

Dạ, cũng không hẳn. Thực sự là trong sư em luôn có một tiếng gọi từ trái tim nhưng sư em đã không tự cho phép mình nghe thấy tiếng gọi ấy. Lúc sư em 6 tuổi, sư em đã nói với mẹ: “Mẹ ạ, sau này con muốn làm cha xứ.” Hoàn cảnh đã đưa sư em trở thành cảnh binh, nhưng trong đáy lòng mình, sư em đã luôn mơ ước về một đoàn thể sống tươi vui, an lạc. Sư em không muốn tin rằng đức Chúa hiện diện ở một nơi xa xôi nào đó, không liên hệ gì đến mình cả. Có một điều gì đó trăn trở trong sư em nhưng sư em cũng không biết đó là điều gì.

Thực tập đạo Bụt có ảnh hưởng gì đến công việc của sư em không?

Khi mới bắt đầu thực tập, sư em đã đặt lại vấn đề về công việc của mình. Sư em tự hỏi mình có cần thay đổi nghề nghiệp hay không. Sư em làm trong đội cảnh binh, can thiệp bằng vũ lực. Công việc của sư em đòi hỏi phải dùng vũ lực để chống vũ lực: phá cửa, bắt tội phạm, luôn sẵn sàng dùng súng… tất cả những cái đó tưới tẩm hạt giống bạo động trong sư em. Sư em không muốn tiếp tục như vậy nữa. Thế nên sư em xin thay đổi nhiệm vụ rồi sau đó sư em được phép không phải sử dụng vũ khí nữa.

Sau đó, chuyện gì đã xảy ra cho sư em?

Năm 2007, trong trung tâm thực tập nơi sư em hay lui tới, một vụ bê bối xảy ra khiến cho sư em thất vọng đến mức muốn quay lưng lại với đạo Bụt.

Cùng lúc đó, sư em đã gặp một phụ nữ và đã có một mối quan hệ say đắm. Năm 2009, cô ấy nói với sư em: “Khi em mới gặp anh, em cảm nhận một nguồn sáng tỏa ra từ tâm hồn anh và đó chính là điều đã cuốn hút em tới với anh. Nhưng dường như em đang làm cho ánh sáng ấy càng ngày càng lu mờ.” Rồi cô nói thêm: “Vì tình yêu, em sẽ ra đi.” Lúc đó, sư em chẳng hiểu gì. Sư em nghĩ: “Lý do gì mà kỳ quặc thế?” Sư em rất tha thiết với người phụ nữ đó và không muốn bị bỏ rơi. Sự thực là cô ấy đã rất thương sư em. Còn sư em, vào thời điểm đó, chỉ đang tìm kiếm để đáp ứng những đòi hỏi của mình. Sau khi cô bạn ấy ra đi, tinh thần của sư em trở nên suy sụp. Sư em đau khổ nhiều và như tất cả những lần khác, sư em chạy trốn những khổ đau của mình bằng công việc, chơi thể thao và những trò giải trí khác.

Khi chị của sư em nhận thấy sư em không ổn, chị đã mời em tới đón năm mới 2010 tại nhà chị cùng với những người bạn khác. Lúc ấy, một sự kiện đặc biệt đã tới với sư em. Vào thời điểm giao thừa, khi tất cả mọi người ôm hôn nhau, sư em tìm một nơi khuất, chắp hai tay lại và nói: “Trời ơi! Xin hãy lắng nghe tôi. Tôi phải… tôi phải dừng tất cả lại!”

“Tôi phải thoát khỏi những trói buộc ấy!”(cười)

Dạ, “Tôi phải thoát khỏi những trói buộc ấy!” Sư em không thể cứ tiếp tục đi vòng quanh mãi. Đó là một lời cầu nguyện từ tận đáy lòng của sư em. Bốn hôm sau, sư em bị ốm rất nặng. Sư em nằm bẹp trên giường, hoàn toàn kiệt sức. Không còn nơi nào để trốn chạy nữa, sư em đã buộc phải đối diện với chính mình. Sau một tuần lễ, sư em nhìn lên tường, ngắm bức ảnh của sư em khi mới 5 tuổi. Sư em cũng không biết vì sao nhưng sư em đã đứng dậy, cầm bức ảnh xuống nhìn và thốt lên: “Xin lỗi!” Trong niềm hối hận ấy, sư em bắt đầu khóc, khóc như chưa bao giờ được khóc. Chắc sư em khóc cho tất cả những khổ đau mình đã trải qua. Sau đó, sư em cảm nhận một sự nhẹ nhõm từ sâu thẳm trong con người mình. Sư em có cảm tưởng như mình được trở lại làm em bé, không cần phải đóng bất cứ một vai nào nữa. Sư em nhận ra rằng mình đã sống trong một cái “áo giáp”. Sư em đã luôn là người rất nhạy cảm nhưng sư em đã không tự cho phép mình sống với tính ấy. Bây giờ chính tính ấy đã trở thành sức mạnh đích thực của sư em.

Sư em đã ngủ thiếp đi và hôm sau tỉnh dậy trong một trạng thái tĩnh lặng mà sư em chưa bao giờ biết tới.

Trước đó, sư em không bao giờ biết lắng nghe cơ thể mình. Sư em luôn nhìn cơ thể sư em như một thứ gì đó để khai thác và trưng bày. Sư em sống bằng cái nhìn của người khác. Tại sao? Tại vì sư em đã không có khả năng thương yêu chính mình. Sư em nghĩ rằng điều này đã bắt đầu khi mẹ sư em bỏ đi lúc sư em 6 tuổi. Đó là một chấn thương tâm lý lớn đối với sư em. Sư em chỉ còn bố ở bên cạnh và bên trong mình là một sự đổ vỡ lớn. Sư em đã nghĩ một cách ngây thơ: “Mẹ bỏ mình vì mình là đứa con trai hư.” Trong tuổi thiếu niên, sư em đã giận mẹ đến mức không muốn nhận mẹ nữa và cũng không muốn nghe nói tới họ hàng phía bên ngoại. Khi làm như vậy, nội tâm của sư em luôn bị giằng xé, sư em đã không được là mình.

Nhưng khi đã biết thương mình, sư em đã tìm lại được mẹ trong mình và hòa giải được với phần nữ tính, dịu dàng, nhạy cảm trong mình.

Sau đó, sư em thấy cần phải tìm lại mẹ. Gặp lại sau nhiều năm trời, mẹ nói với sư em: “Mẹ đã bỏ các con, mẹ hối hận vô cùng, mẹ không thể tha thứ cho mình được.” Sư em trả lời mẹ: “Con có mặt đây để giúp mẹ vượt qua niềm hối hận ấy.” Sư em còn nói thêm: “Mẹ có cảm nhận được sự an bình trong lòng con không?” Mẹ nói: “Mẹ có thấy.” “Đó là nhờ vào sự ra đi của mẹ. Con cảm ơn sự ra đi đó!” Mẹ rất ngạc nhiên khi nghe sư em nói như vậy. Sư em giải thích thêm: “Chính vì con đã có thể đối diện được với sự ra đi của mẹ, chính vì con đã đối diện được với những khổ đau trong lòng mà con đã mở trái tim mình ra và tìm được bình an như hôm nay.” (Hiện giờ, dù những khổ đau của mẹ vẫn còn, nhưng đã giảm hơn trước nhiều và mỗi khi nói chuyện, hai mẹ con chia sẻ nhiều điều thật dễ thương).

Sự chuyển hóa trong nội tâm của sư em cũng đã có những ảnh hưởng không nhỏ tới nhiều mặt trong cuộc sống của sư em, trong đó có cả cách làm việc của sư em. Có một lần trong khi sư em đang ngồi thiền một mình trong văn phòng, sư em nhận được điện thoại của đồng nghiệp yêu cầu sư em tới can thiệp hỗ trợ cho một vụ việc nhạy cảm. Khi sư em tới nơi, sư em thấy mười đồng nghiệp của mình vây quanh một gã to con cao hơn 2 mét đang giữ một người đàn ông làm con tin. Mọi người đều giận dữ và không khí càng lúc càng căng thẳng. Thật may, nhờ vào năng lượng thiền tập trong mình, sư em đã có thể tiến về gã to con, nhìn anh ta trầm tĩnh, không phán xét và nói một câu giản dị: “Anh biết là anh làm thế không đáng mà!” Thật bất ngờ, anh ta trả lời: “Phải, anh nói đúng” và anh thả con tin ra. Sau này, các đồng nghiệp của sư em nói: “Chuyện xảy ra thật không thể tin được. Tất cả đã được giải tỏa chỉ trong chốc lát dù rằng câu nói của anh quá bình thường.” Sư em không nói gì nhưng trong lòng mình biết rằng năng lượng tu tập trong sư em đã đóng vai trò quan trọng trong sự giải quyết tốt đẹp cho sự việc ấy.

Sư em tò mò muốn biết xem có ai từng trải qua kinh nghiệm chuyển hóa tương tự hay không. Sư em tới hiệu sách. Có một người đàn ông, dầu sư em chưa nói mình tìm gì, đã nói với sư em: “Nếu tôi là anh, tôi sẽ đọc cuốn sách này.” Đó là cuốn “Hiệu lực cầu nguyện” của Thầy.

Tất cả những gì sư em được đọc trong cuốn sách này đã đánh động mạnh tới sư em, dường như đó cũng là sự phản chiếu của những gì đẹp nhất trong tâm hồn sư em. Không lâu sau đó, sư em lên xe mô-tô đi đến Thiền đường Hơi Thở Nhẹ tại Paris. Vào lúc năm giờ sáng, sư em gõ cửa Thiền đường. Như thể là đợi sẵn, sư cô Giác Nghiêm mở cửa cho sư em với nụ cười hiền hậu trên môi. Hai người nhìn nhau như hai người bạn cũ gặp lại. Điều này thật không thể giải thích nổi.

Sau thời ngồi thiền, sư em ngắm nhìn các thầy, các sư cô đang có mặt đó và có cảm giác mình đã tìm lại được những người thân thương của mình. Lúc ấy, trong đầu sư em khởi lên một suy nghĩ: “Trời đất! Mình đang tự vẽ lên một cuốn phim rồi!” (cười) Nhưng điều đáng ngạc nhiên hơn là ngay lúc ấy, sư cô Mai Nghiêm đứng dậy, tiến về phía sư em và nói: “Chúng ta biết nhau, phải không?” (cười) Sư em cười phá lên và đáp lại: “Chắc chắn rồi, mình biết nhau mà!” rồi cả hai tìm cách nhớ lại xem đã gặp nhau ở đâu nhưng không thành công. Với tính hài hước thường nhật của mình, sư cô Mai Nghiêm nói với sư em: “Chú đã quên mất rằng chú đã tới rồi.”

Một thời gian sau đó, quyết định trở thành tu sĩ đến với sư em một cách hiển nhiên. Sư em đã được tái sinh.

Sau lần đầu tiên sư em tới Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, sư em đã thấy rõ là mình muốn làm tu sĩ trong tăng thân Làng Mai ư?

Dạ, vâng. Đối với sư em, điều này đã là một điều hiển nhiên không thể giải thích được. Sư cô Giác Nghiêm nói với sư em: “Chú cứ từ từ, chú có thời gian mà”, nhưng sư em trả lời: “Nhưng thưa sư cô, việc này đối với con đã quá rõ rồi.” Sư cô đã thấy điều ấy trong ánh mắt sư em. Tuy vậy, sư cô vẫn nói: “Sư cô hiểu. Nhưng dù sao, chú vẫn nên tới Làng Mai trước khi quyết định”, bởi vì lúc ấy sư em chưa hề đặt chân tới Làng Mai. (cười)

Sư em tới Làng lần đầu năm 2010. Sư em tham gia vào một khóa tu dành cho người nói tiếng Pháp và một khóa tu sức khỏe. Không còn nghi ngờ gì nữa, sư em đã tìm được chỗ đứng của mình. Sư em biết rằng chỉ bằng cách tiến bước trên con đường xuất gia thì sư em mới có thể tiếp tục chữa lành những vết thương trong mình, sống hài hòa với chính mình và từ đó có thể có mặt cho người khác bằng tấm lòng cởi mở và đầy tình thương.

Đạo Bụt đang cắm rễ ở Tây phương. Đối với sư em, điều này đem lại những khó khăn cũng như những hy vọng gì cho tương lai?

Thật ra, sư em không nghĩ nhiều tới vấn đề đó. Đối với sư em, đạo Bụt không chỉ là một chủ thuyết. Sư em mang áo của một tu sĩ đạo Bụt nhưng sư em luôn chú ý để không tự giam mình vào ý niệm nhỏ hẹp rằng mình là một “tu sĩ”, rằng mình là “tín đồ đạo Bụt”. Điều quan trọng nhất vượt lên trên cả “đạo Bụt”, “đạo Chúa” hay bất cứ một tôn giáo nào là chánh niệm, tình thương và sự hiểu biết. Chỉ có những điều đó thôi mới có thể chạm tới tất cả mọi người. Theo sư em hiểu, cốt lõi của Thiền tông cũng nằm ở chỗ đó. Thiền là sự sống và sự sống luôn biến chuyển, rộng mở. Sự sống là sự tiếp chạm không ngừng. Sức sống mãnh liệt và khả năng thích ứng của Thiền tông làm sư em rất thích thú. Thiền tông Nhật Bản không giống với Thiền tông Nam Hàn và cũng khác với Thiền Việt Nam. Thiền tông ở Tây phương cũng sẽ tìm thấy hình thái riêng của mình.

Trong nghề nghiệp trước đây của sư em, sư em đã phải đối diện với rất nhiều tệ nạn xã hội. Theo sư em, gốc rễ của những khó khăn mà giới trẻ gặp phải là gì? Là người tu, mình có thể giúp gì cho xã hội?

Giới trẻ thiếu hướng đi. Xã hội hiện nay không có khả năng chỉ đường cho họ. Giới trẻ cũng rất thiếu sự quan tâm và tình thương của người lớn. Sư anh biết không, phần lớn người trẻ làm bậy chỉ để nhằm thu hút sự chú ý, để người khác thấy được sự tồn tại của họ.

Trong một khóa tu mùa hè, sư em chăm sóc các em thiếu niên. Hôm đó một cụ già tới giới thiệu đứa cháu 16 tuổi với sư em. Ông nói: “Tôi không biết phải làm gì với nó nữa. Nó bán ma túy, quấy phá suốt ngày và không bao giờ nghe lời cha mẹ.” Em trai đó nói ngay: “Tôi không muốn đến đây. Tôi chẳng có gì để làm ở đây hết. Tôi sẽ không nói gì hết và không làm gì hết!” Cậu bé đã làm cho sư em nhớ tới mình khi cùng lứa tuổi. Sư em nhìn cậu bé đó và nói: “Em cũng giống hệt anh khi anh 16 tuổi. Em không cần làm trò nữa. Anh biết rằng em là người rất dễ thương.”

Cậu bé nhìn sư em rất ngạc nhiên và nói: “Anh là thầy tu, anh là một người hoàn hảo. Còn em thì khác.” “Em lầm rồi. Anh sẽ cho em thấy” và sư em đã đem cho cậu bé xem hình sư em trước kia, mặt mũi hung dữ, hai tay hai khẩu súng. “Em thấy không? Có thấy tất cả những bạo động này trong anh không? Dù rằng hồi đó, anh đứng ở phía cảnh sát chứ không phải phía của bọn côn đồ nhưng kỳ thực bạo động nào cũng là bạo động. Không có ‘bạo động chính nghĩa’ hay ‘bạo động phi chính nghĩa’. Thời đó, anh đã luôn tìm kiếm để trở thành một người khác, anh không biết sống với chính mình nên cũng không thấy được sự nhạy cảm trong anh.” Dần dần, qua những lần chơi với nhau và chia sẻ, em trai ấy đã mở lòng được. Em đã tham gia vào khóa tu và đến ngày cuối cũng không muốn rời Làng về nhà nữa. Ông của em đã tới, vừa cảm ơn sư em vừa khóc. Mới gần đây, sư em nhận được thư cảm ơn của em trai này. Đó quả là một câu chuyện đẹp và cảm động.

Sư em cũng thấy rằng chúng ta rất cần học cách có mặt thực sự cho sự sống. Chúng ta luôn chạy trốn, chạy trốn khỏi chính mình. Chúng ta tự gán cho mình quá nhiều ý niệm về bản thân nhưng những ý niệm ấy không phải là hiện thực. Thực tại vượt lên trên ngôn từ, nó chỉ có mặt khi tâm chúng ta trở về hợp nhất với thân. Trong trạng thái ấy, ta thấy đầy đủ, không còn cần phải tìm kiếm gì nữa. Sự mãn nguyện thực sự chỉ có thể nếm được khi mình biết trở về với mình – bây giờ và ở đây.

Tăng thân của mình có nhiều thầy và sư cô với lứa tuổi khác nhau và đến từ rất nhiều nền văn hóa khác nhau, sư em thực tập như thế nào để sống hài hòa với mọi người?

Cũng vẫn là điều cơ bản ấy thôi; trước tiên sư em cần phải có mặt cho mình. Khi sư em thực sự có mặt với cơ thể mình, sư em cảm nhận được năng lượng của sự sống và hạnh phúc. Trong trạng thái đó, sư em có thể mở lòng ra. Lúc ấy, mọi rào cản đã biến mất và sư em có thể nhìn thấy mình trong các sư anh, sư em của mình.

Tuy vậy, cũng có khi những phán xét và trách móc đi lên khiến cho lòng sư em đóng lại. Khi ấy, điều quan trọng nhất với sư em là không tự trách mình, cũng không tìm cách trốn chạy hay đồng hóa mình với những tâm hành ấy. Thay vì tự nói: “Tôi đang phán xét” thì mình có thể nói: “Sự phán xét đang có mặt ở đây.” Khi đã biết nhận ra những tâm hành đó tức là mình đã có chánh niệm, mình đã thành công rồi.

Trong sự thực tập của sư em nói chung, sư em luôn tự nhắc mình về một sự thật đơn sơ là: “Chúng ta không thể tranh đấu với bóng tối, chúng ta chỉ cần đem ánh sáng tới.” Ánh sáng ấy chính là chánh niệm và khi nó có mặt thì mọi thứ tự nó sẽ dần dần được chuyển hóa một cách tốt đẹp.

Quý thầy, quý sư cô của mình đến từ khắp nơi trên thế giới, mỗi người mỗi khác biệt và chính điều ấy làm cho chúng ta giàu có thêm. Nếu sư em sống ở một nơi với toàn những người Pháp như trước kia thì chắc sư em sẽ chán lắm! Sau chuyến đi Mỹ ba tháng vừa rồi, sư em đã buông bỏ nhiều sự vướng mắc của mình với ngôn ngữ và văn hóa Pháp. Hiện giờ sư em cảm thấy thoải mái như nhau cả trong nhóm nói tiếng Anh hay tiếng Pháp.

Sư em thấy đây là nhà của mình. Đây là gia đình của mình.

Cùng học cùng tu

Chân Linh Nhĩ

Lớp tiếng PhápVì sao có lớp Pháp văn ở Hơi Thở Nhẹ

Sư cô Giác Nghiêm (Elisabeth) cùng tu với các sư cô người Việt ở thiền đường Hơi Thở Nhẹ, một chi nhánh của Làng Mai ở Noisy-Le-Grand, là một trụ trì người Pháp hiếm thấy ở Paris.

Vì có nhiều thiền sinh người Pháp và người Việt năng tới lui thiền đường, đặc biệt vào mỗi ngày Chủ nhật thiền sinh về rất đông vì đó là ngày tụng giới hoặc ngày chánh niệm, nên tiếng Pháp rất cần cho việc truyền thông và hướng dẫn tu tập. Một số thành viên trong tăng thân Hơi Thở Nhẹ trong đó có chị Bảo Nguyện và tôi đã suy nghĩ khá nhiều đến vấn đề này. Chúng tôi thấy cần mở lớp tiếng Pháp để giúp đỡ các sư cô. Tôi xin nhận giảng dạy vì tôi đã được đào tạo ở trường Đại học Sư phạm và có một số kinh nghiệm dạy tiếng Pháp khi còn ở Việt Nam cũng  như đã dạy các em tỵ nạn vị thành niên Việt-Miên-Lào một vài năm trước đây do hội Hồng Thập Tự Pháp bảo trợ.

Người xưa thường nói: “Vạn sự khởi đầu nan”. Trước khi dạy đã có sự do dự cả hai phía: người học có vẻ ái ngại vì có lẽ đã gặp khó khăn trước đây khi học ngoại ngữ này, còn người dạy cũng phân vân không biết dạy như thế nào để đạt được kết quả tốt. Tôi nghĩ là mình cứ làm rồi điều chỉnh sau cho phù hợp với nhu cầu của các sư cô. Dạy tiếng Pháp để nói cho người khác hiểu cũng không khó lắm, vì ngay cả những người ít học cũng có thể diễn tả được, chỉ cần hiểu vài từ chính, nhìn cử chỉ, điệu bộ là có thể đoán được ngay, trừ trường hợp người có “tâm điếc”, khép kín trái tim cố tình không muốn nghe, không muốn hiểu, như câu tục ngữ Pháp: “Người điếc nhất là người không muốn nghe” (Il n’y a pire sourd que celui qui ne veut  pas entendre).

Các sư cô đều có trình độ học vấn cao, lại biết tiếng Anh nên khi chuyển qua học tiếng Pháp không gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa, các sư cô không bị áp lực học để thi lên lớp hay học để thi lấy bằng cấp nên học rất thoải mái, vui vẻ, có niềm vui trong khi học, chỉ cần hiện diện để đọc, nghe, thấy và viết một chữ nhiều lần thì mình sẽ thuộc, sẽ nhớ. Vui mà học, học mà vui thì tự nhiên mình sẽ học được, sau một thời gian ngắn các sư cô đã có tiến bộ, có thể nghe và hiểu được… Sư cô trụ trì Giác Nghiêm và một số các thiền sinh người Pháp đã nhiều lần ngợi khen sự tiến bộ của các sư cô. Tôi ước mong mình tu tập tiến bộ được như các sư cô học tiếng Pháp thì hạnh phúc biết mấy!

Ngoài ra tôi còn được chị Tâm Tươi Mát (Ngọc Anh) tiếp tay dạy và anh Chân Linh Từ (Jean Pierre) giúp đọc những bài tôi soạn với giọng đọc chuẩn của người ở Paris (accent parisien).

Thầy giáo và học trò đều muốn làm con Ngọc Hoàng

Có khi ham học quá nên đã hết giờ mà cả lớp không biết, khi sư cô phụ trách nấu ăn xin đi ra để lo cơm tối thì tôi mới biết là đến lúc phải ngưng dạy. Tôi hỏi đùa các sư cô là có muốn làm con Ngọc Hoàng hay học thêm nữa? Các sư cô đồng thanh đáp: “Dạ chúng con rất muốn làm con Ngọc Hoàng!” Bản thân tôi cũng muốn luôn, đúng là “đồng bịnh tương lân” mà! Cụm từ “con Ngọc Hoàng” được trích từ câu ca dao:

“Hiu hiu gió thổi đầu non
Những người làm biếng là con Ngọc Hoàng”

Tôi cho rằng có làm việc nhiều mới biết trân quý lúc nghỉ ngơi. Tôi thấy Sư Ông tuổi gần 90 mà lúc nào cũng làm việc không nghỉ, thời khóa biểu mỗi lần đi hoằng pháp dầy đặc, không có chỗ nào trống khiến tôi vô cùng ngưỡng mộ và thán phục. Chỉ có Sư Ông mới nghĩ ra “ngày làm biếng”, tôi rất tâm đắc ý nghĩ này vì bản thân tôi, trước đây vài tháng (vì tôi bắt đầu nghỉ hưu từ 01.07.2013) cũng thức dậy rất sớm mỗi ngày từ 4g30 để đi làm nên tôi rất trân quý ngày Chủ nhật, “ngày làm biếng” của tôi, được ngủ thoải mái, có thì giờ đọc sách, nghe kinh tùy hỷ.

Người dạy lẫn người học đều hưởng lợi cả

Đầu tháng 06 năm 2013, tôi có tháp tùng tăng thân Paris qua Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu (EIAB) để thăm Sư Ông và phái đoàn đã trở về Đức sau chuyến đi hoằng pháp các nước Á châu. Tôi có dịp ngồi đàm đạo với hai vợ chồng anh Tường và chị Trang. Hai vị này cho biết là giúp Làng phiên tả những bài giảng của Sư Ông và cũng được hưởng lợi lạc rất nhiều, vì khi đọc đi đọc lại nhiều lần bản thảo (morasse) tự nhiên mưa pháp từ từ thấm vào vườn tâm. Tôi thấy mình cũng vậy, khi dạy tiếng Pháp cho các sư cô ở Hơi Thở Nhẹ cũng được hưởng rất nhiều lợi lạc. Trong lúc dạy, thỉnh thoảng có chuông điện thoại reo hoặc chuông đồng hồ gõ nhịp, cả lớp ngưng học để thở, đem thân trở về với tâm. Người Pháp thường nói “Dạy, tức là học” (Enseigner, c’est apprendre) tôi thấy ngoài việc được học hỏi thêm, tôi còn có dịp cùng tu tập với các sư cô.

Thầy giáo và học trò ngồi quanh một cái bàn nhỏ, vừa học, vừa uống trà cho có cảm tưởng là đang ngồi chơi, ngồi đàm đạo với nhau hơn là ngồi học, rất thoải mái và tươi mát. Tự nhiên những danh ngôn hay tục ngữ, ca dao mà tôi dịch cho các sư cô học cũng đượm đôi chút hương vị thiền. Trong câu nói của Saint Exupéry “Aimer, ce n’est pas se regarder l’un l’autre mais regarder ensemble dans la même direction ” (Yêu nhau, chẳng phải nhìn nhau, mà cùng nhìn một hướng), tôi thấy hướng ở đây là hướng giải thoát, hướng an lạc, hướng giác ngộ nên tôi chuyển đổi là:

“Yêu nhau chẳng phải nhìn nhau
Mà nhìn bến giác mong mau tới bờ”

Hai câu thơ của Lamartine khuyên mình tìm tới thiên nhiên khi khổ đau “Mais la nature est là, qui t’invite et qui t’aime. Plonge-toi dans son sein qu’elle t’ouvre toujours”, tôi thoát dịch là:

“Thiên nhiên vẫn đợi, vẫn chờ
Sao không tìm đến, còn mơ ước gì”

Mấy vần thơ nhẹ nhàng, giản dị dễ hiểu với âm điệu trầm trầm (assonnance en “eu”) của Paul Verlaine diễn tả tâm trạng buồn vô cớ vẩn vơ, theo nhịp mưa rơi, thấm vào cõi lòng thi sĩ như mưa rơi ngoài phố, tôi tạm dịch là:

Il pleure dans mon cœur
Lòng tôi thổn thức lệ trào

Comme il pleut sur la ville
Cũng như ngoài phố, hôm nào mưa rơi

Quelle est cette langueur
Nỗi buồn vô cớ vẩn vơ

Qui pénètre dans mon cœur ?
Cớ sao gieo thảm, tưới sầu vườn tâm?

Mình chỉ cần nhận diện cái buồn đó rồi với hơi thở chánh niệm, đem thân về với tâm thì mình có thể chuyển hóa buồn thành vui, và “khi mình vui thì cảnh sẽ vui ” như lời Sư Ông dạy!

Phải cám ơn ai nhỉ

Nhiều khi trời mưa gió hay có tuyết, tôi vẫn cố gắng tới dạy, điều mà tôi học nơi thân giáo của Sư Ông. Các sư cô cảm động thường nói: Cám ơn “chú Đức ”. Tôi lật đật đính chính là chúng ta phải cám ơn Sư Ông mới đúng vì nếu không có cơ duyên cùng là đệ tử của Sư Ông thì chúng ta đâu có dịp cùng ngồi chung vui với nhau ở đây. Hai từ “chú Đức” còn phổ biến hơn cả pháp danh Chân Linh Nhĩ do Sư Ông đặt cho tôi. Biệt danh này chuyển tải rất nhiều tình thương của các sư cô dành cho tôi, làm tôi vô cùng xúc động và thấy mình có bổn phận phải có mặt thường xuyên với tư cách một người lớn tuổi để nâng đỡ tinh thần các sư cô nhỏ. Nhờ Sư Ông mà tôi ngộ ra được là dạy các sư cô nhỏ cũng là tu tập như đi thiền hay rửa chén, quét nhà… nên tôi kiên trì đến Hơi Thở Nhẹ dạy hằng tuần mỗi chiều thứ Sáu ngoài hai ngày tụng giới và chánh niệm hằng tháng.

Những dòng trên đây coi như món quà tinh thần cuối năm của tôi nói lên một phần nào lòng biết ơn của gia đình tôi với vị Thầy khả kính, đã hướng dẫn chúng tôi đi đúng con đường tâm linh trong suốt quá trình gần ba mươi năm, để gia đình tôi có được hạnh phúc, con cái thành đạt và hiếu thảo. Tôi cũng xin gửi đến các sư cô nhỏ ở Hơi Thở Nhẹ, tăng thân Paris cùng “tăng thân khắp chốn” niềm vui mà tôi đang có được trong những ngày cùng tu, cùng học với quý sư cô trong thời gian qua.

Bây giờ và ở đây

Chân Pháp Thuyên

Namo Buddhaya

Văn phòng chùa Pháp Vân xóm Thượng có một tượng gỗ Bụt nhập Niết bàn rất đẹp và nghệ thuật. Thế nằm thật an lành thanh thoát với một thoáng mỉm cười. Cạnh đó bài trí một con suối bonsai nhỏ có nước chảy róc rách và những chậu cây tươi mát xung quanh. Thường thì làm việc một lúc, anh em chúng tôi hay ngồi xuống pha một bình trà nhỏ rồi cùng thưởng thức, hiến tặng sự có mặt và những nụ cười cho nhau. Đây cũng là dịp để chúng tôi buông thư và truyền thông những điều cần thiết trong công việc. Có lúc nhìn lên tượng Bụt, tôi tự hỏi không biết tấm lòng và bàn tay của ai đã khéo đẽo gọt, chỉ mong mang đến cho mọi người những phút giây nhẹ nhàng, bình an giữa bộn bề cuộc sống.

Bụt đã vào Niết bàn 2600 năm rồi nhưng chúng ta vẫn còn tiếp tục học hỏi và bàn luận về giáo nghĩa thâm uyên mà Ngài đã để lại, vẫn hằng ngày đọc tụng và phát nguyện: “Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”. Dù rằng đã giải được hay chưa còn tùy vào niềm tin nơi mỗi người, nhưng tôi cảm thấy vui vì biết mình đang đi trên con đường lành và trong sáng. Ẩn số của Bụt vừa là nguồn cảm hứng động viên, khích lệ và cũng là một thách thức cho tất cả mọi hành giả đi tới. Biết bao tác phẩm nghệ thuật ra đời về các mặt như: kiến trúc, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, thi ca… theo mỗi thời đại, được bảo tồn và tiếp tục phát triển mãi từ suối nguồn cảm hứng nơi Bụt. Tận đến hôm nay tôi thấy mình vẫn còn diễm phúc tắm gột và thưởng thức cam lồ vị từ suối nguồn xa xưa ấy, lòng tôi cảm thấy tràn đầy biết ơn. Chừng nào vẫn còn khổ đau ngự trị trên cõi đời, tôi tin rằng chư Bụt hằng sa vẫn chưa hề rời bỏ chúng ta. Bởi lẽ âm vang giáo pháp của các Ngài vẫn đang diễn bày đó đây ở khắp mọi nơi. Dù là dưới hình thức này hay qua hình thức khác cũng chỉ nói lên một điều, Khổ và con đường thoát Khổ.

Ngày hôm qua xóm Thượng đón khá nhiều những vị khách mới đến tu tập. Sau khi được thầy tri khách chào đón họ đến The country of Present Moment (Xứ sở của phút giây Hiện Tại), rồi mời họ tự giới thiệu lý do khiến họ đến và có mong muốn gì trong những ngày ở đây để đại chúng biết mà yểm trợ. Có một thanh niên thành thật chia sẻ là anh đọc khá nhiều sách về đạo Bụt, thấy đẹp, hay và có ước muốn thành Bụt nhưng cảm thấy quá khó. Đại chúng được một tràng cười thật vui vẻ. Tôi cũng mỉm cười và tự hỏi “why not?”, bởi vì người thanh niên đó là hiện thân của tôi và rất nhiều bạn trẻ khác ở khắp mọi nơi. Những Siddhartha yêu mến Chân-Thiện-Mỹ và muốn có một đời sống lý tưởng, chuyện đó đâu phải là không chính đáng. Nhưng mọi người cười có lẽ vì nghĩ người ấy có một ước muốn xa rời thực tế và mơ hồ quá. Anh ta nào biết Bụt là ai, ngoài những kiến thức mênh mông và lý tưởng hoàn hảo trong sách vở.

Nhiều khi nhìn lại tuổi nhỏ thơ mộng của mình tôi cũng thầm mỉm cười và thấy cảm thông. Ngày xưa tôi cũng nào được biết Bụt, chỉ nghĩ đơn giản đó là một con người vĩ đại, kiện toàn tất cả mọi mặt và là đối tượng tôn thờ cho tâm hồn mình. Đọc xong quyển lịch sử đức Phật Thích Ca thì thấy mình kính yêu Ngài vô cùng và từ đáy lòng tự nhiên phát lên lời nguyện ước, lớn lên mình cũng sẽ từ bỏ tất cả mọi thứ như Ngài rồi đi tu, bởi thấy đời sống của Ngài thật đẹp và trọn vẹn. Nhìn về quá khứ, tôi thấy mình thật may mắn bởi mong ước đã thành hiện thực. Và hơn hết tôi thấy mình có nhiều niềm vui trên bước đường hành trình, xin được bày tỏ nơi đây lòng tri ơn tất cả. Tôi vẫn cùng đại chúng đang mang những điều tốt lành mà mình được thừa hưởng ấy tiếp tục đi về tương lai bằng thệ nguyện hằng ngày:

“Thức dậy miệng mỉm cười
Hai bốn giờ tinh khôi 
Xin nguyện sống trọn vẹn
Mắt thương nhìn cuộc đời”

Càng tu học, tiếp xúc với nhiều nền tảng niềm tin khác tôi thấy khái niệm về Bụt trong mình cũng thông thoáng và cởi mở hơn xưa. Rất nhiều người Tây phương cũng khát ngưỡng tâm linh và thực tập thật hết lòng. Đặc biệt tôi để ý thấy nam thanh niên đến tu có khi lại nhiều hơn người nữ, có vài chục người đến tu tập trọn vẹn trong ba tháng An cư mùa đông hoặc ở luôn suốt một năm. Phải chăng nỗi khổ và áp lực đời sống phát triển bên này đối với người nam nhiều hơn người nữ hay vì hình thái đạo Bụt tri thức nơi này đã thuyết phục được họ hơn, những con người vốn được thừa hưởng nền giáo dục cao và chỉ tin vào chân lý khoa học.

Bước vào dòng chảy đạo Bụt dấn thân với lý tưởng thật cao đẹp nơi đất nước Tây phương này cũng phải đối mặt không ít thử thách. Bởi lẽ có nhiều nhu cầu, khổ đau thì lại đa dạng và con người không thuần một niềm tin. Anh chị em chúng tôi vừa phải nỗ lực tu, vừa phải thích nghi với văn hóa, xứ sở, con người, thức ăn, khí hậu và ngôn ngữ… Nhưng nhờ sống chung như một cộng đồng, nương tựa lẫn nhau mà khiến mình dần vượt qua những khác biệt ban đầu để đi tới. Đôi lúc nhìn vào con đường Đại thừa mênh mông và nỗi khổ bất tận khiến tôi nhớ tới Ngài Bồ Tát Địa Tạng, chối từ chưa thành Bụt cho đến khi không còn một chúng sanh nào chịu khổ nữa.

Hạnh nguyện vô bờ bến đó ngày xưa đã từng làm tôi cảm thấy thật ngưỡng mộ nhưng cũng vô cùng băn khoăn. Bởi nỗi thống khổ trong nhân gian được ví như nước mắt của muôn loài ngập tràn bốn bể và tôi sợ mình bị nhận chìm trong đó vì biết rằng mình chưa thật sự bơi giỏi, phước đức vẫn còn mong manh. Hay phải chăng đất tâm trong tôi còn thấm nhuần lời nguyện phải vãng sanh quốc độ Bụt A Di Đà tu cho thành tựu rồi mới quay trở lại nhân gian để giúp đỡ. Nhưng dần dà trên con đường tu học, may mắn thay có những chặng đường hạnh ngộ được thiện tri thức, giúp mình có những cái thấy mới, rộng mở và sáng tỏ hơn. Tôi cảm thấy được khích lệ rất nhiều khi đọc những dòng này:

“… Biển cả lớn mà còn có bờ đến, chứ biển tu thì không có bờ đến, còn mênh mông hơn nữa cơ. Nhưng vì không có bờ nên không có chỗ đến, vì không có chỗ đến nên không thật có chỗ đi. Tu là tu cái không đi không đến. Nói khác đi tu là đến trong từng bước đi, cập bến trong từng bước đi. Đã cập bến trong từng bước đi thì biển ấy có còn mênh mông nữa không…”

Điều này chúng tôi đã được Thầy dạy, lặp đi lặp lại nhiều lần và thực tập hằng ngày trong đời sống mà sao không chịu nhận ra: “Đã về đã tới, bây giờ ở đây. Vững chãi như núi xanh. Thảnh thơi dường mây trắng. Cửa vô sinh mở rồi. Trạm nhiên và bất động.” hoặc “Mỗi bước chân đi vào Tịnh Độ.” Hay “Không có con đường dẫn tới hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường.” Phương tiện lẫn cứu cánh thật sự không thể tách rời, vậy thì còn chần chờ gì nữa, còn suy nghĩ gì nữa mà không an vui với những gì mình đang có.

Nhiều bài thiền ca và thư pháp đơn giản chỉ vậy mà giúp thiền sinh Tây phương ngộ ra rất nhiều. Họ hát cùng nhau rất vui, nhờ vui mà cảm hứng tu học lên cao và không thấy nhọc nhằn trên bước đường vạn dặm. Có khi nhìn lại, tôi thấy sức tu của mình chậm quá, lỗi lầm có thể vì đầu óc mình ưa những điều cao siêu mầu nhiệm mà quên rằng “lối đi ngay dưới chân mình”. Bất chợt tôi mỉm cười thật vui khi nghĩ đến câu trả lời về đại ý Phật pháp của Ngài Triệu Châu, đơn giản chỉ là Cây Tùng Trước Sân, còn có gì hơn thế nữa.

Bây giờ tôi thôi chúc mọi người sớm tu thành Bụt nữa mà chỉ cầu chúc họ hãy là chính mình, chấp nhận những gì trong tự thân với ưu khuyết điểm như chúng đang là, chấp nhận được càng nhiều thì càng có không gian và tự do. “Be yourself, be beautiful and Be free where you are”. Điều này thì người Tây phương dễ hiểu và lĩnh hội nhanh. Họ thấy có thể chạm tới được thông qua việc hành trì hơi thở ý thức, bước chân chánh niệm, ánh mắt thân thương và nụ cười an lạc để trở về với chính mình, chăm sóc chính mình và nhận diện được sự tự do bên trong ấy. Khi nắm được pháp tu, họ không còn đổ lỗi, trách móc người khác về những nỗi khổ của mình.

Có khi trong những buổi pháp đàm, ngồi nghe họ chia sẻ mà tôi thấy dâng trào niềm thương. Bây giờ đến đây nhờ có biết tu đôi chút rồi nên họ chia sẻ: “Con nhận ra được nỗi khổ của mìnhcon nhìn sâu vào gốc rễ của chúng, con trở về thực tập hơi thở để ôm ấp và làm dịu thân tâm.” Hay: “Con phải đi thiền hành để chăm sóc cơn giận, đứa trẻ tổn thương trong con đang trỗi dậy.” Thật là dễ thương khi có những suy nghĩ và thực hành như thế. Họ nhận ra và biết dừng lại ôm ấp cảm thọ, thôi vung vãi năng lượng tiêu cực ra ngoài. Thế giới sẽ bình an hơn nếu nơi mỗi cá nhân biết thực tập chấp nhận và làm hài hòa năng lượng của chính mình trong cảm thông và hiểu biết.

 

Namo Dharmaya

Welcome to The country of Present Moment (Chào mừng các bạn đến Xứ sở của phút giây Hiện Tại) thỉnh thoảng câu này được các thầy tri khách dùng để đón chào những thiền sinh mới đến tu tập. Người Tây phương dường như lĩnh hội rất nhanh thuật ngữ present moment và rất thích thú. Không như người Á đông chúng ta thường hay đăm chiêu và ngờ ngợ về nó. Năm ngoái tôi có một kỷ niệm về điều này trong khóa tu mùa Hè. Cùng ngồi ăn cơm chung bàn có một cô thiền sinh vui vẻ bắt chuyện hỏi: “Hello brother! Where you com from?” Tôi cũng vui vẻ đáp lại bằng cách bắt ấn tròn ngón tay cái với ngón trỏ rồi nói: “I come from the country of Present Moment”. Cô ấy hiểu rất nhanh và mỉm cười thích thú.

Kết thúc khóa tu, lúc chào tạm biệt cô ấy cảm động nói rằng, rất ấn tượng về câu trả lời đó và hứa là sẽ thường xuyên nhớ an trú trong xứ sở của phút giây hiện tại. Tôi cũng khá bất ngờ và vui khi những lời đàm đạo nhẹ nhàng đơn giản vậy mà giúp được họ, còn nhiều chuyện nhỏ khác cũng vui không kém nhưng có lẽ tôi phải hẹn kể trong một dịp khác. Khi được nghe nói Enjoy Present Moment, Wonderful Moment (Phút giây hiện tại, phút giây tuyệt vời) thì họ biết thư giãn gương mặt và mỉm cười thật tươi, buông bỏ mọi ưu sầu lo lắng và trở về thực tập nhiếp tâm trong hơi thở. Bây giờ có hành, có hiểu thì thỉnh thoảng tôi cũng biết đùa như vậy.

Ngày trước khi được nghe xiển dương và ca ngợi về phút giây hiện tại thì tôi thấy lòng mình phản ứng mạnh. Đó là bởi tôi nghe ông bà thường nói: “Người mà không biết lo xa thì sẽ buồn gần”. Vậy tại sao lại nói đừng tìm về quá khứ, đừng nghĩ tới tương lai. Trong cuộc đời này nếu không biết lo thì e rằng sẽ có lúc hối không kịp như trong câu chuyện ngụ ngôn “Con Kiến và Ve Sầu” mà lúc nhỏ tôi đã từng được học. Kiến thì chăm lo làm lụng, tích góp thức ăn, còn Ve Sầu chỉ lo rong chơi và đàn hát, rồi mùa đông đến, Ve Sầu chỉ biết than vãn trong đói lạnh. Lúc đó vì còn là cư sĩ nên trong tôi có nhiều lý luận như vậy, nhưng đâu phải là không có căn cứ logic, tôi cứ suy luận theo cảm tính và tri thức mình có rồi khởi tâm phiền não. Thật ra nếu hiểu không thông thì làm sao mà tin rồi áp dụng theo được, nếu hành theo niềm tin mù quáng thì phải chăng tự chuốc họa vào thân và khiến mọi người chê trách. Về sau nhờ vào một bài kinh thì tôi mới vỡ lẽ, hiểu rõ ràng hơn, hóa ra mình đã hiểu sai vì nhiều lý do. Có lẽ do tri thức quá nhiều của chính mình và cũng bởi điều này còn xa lạ nhận thức của tôi. Trong kinh Người Biết Sống Một Mình, Bụt đã giải thích rất rõ:

“Này quý thầy, sao gọi là tìm về quá khứ? Khi một người nghĩ rằng trong quá khứ hình thể ta từng như thế, cảm thọ ta từng như thế, tâm tư ta từng như thế, nhận thức ta từng như thế, nghĩ như thế và khởi tâm ràng buộc quyến luyến về những gì thuộc quá khứ ấy thì người đó đang tìm về quá khứ.”

“Này quý thầy, sao gọi là không tìm về quá khứ? Khi một người nghĩ rằng… (lặp lại như trên). Nghĩ như thế mà không khởi tâm ràng buộc quyến luyến về những gì thuộc về quá khứ ấy, thì người đó đang không tìm về quá khứ.”

“Này quý thầy, sao gọi là tưởng tới tương lai? Khi một người nghĩ rằng trong tương lai hình thể ta sẽ như thế kia, cảm thọ ta sẽ như thế kia, tâm tư ta sẽ như thế kia, nhận thức ta sẽ như thế kia, nghĩ như thế và khởi tâm ràng buộc, lo lắng hay mơ tưởng về những gì thuộc về tương lai ấy thì người ấy đang tưởng tới tương lai.”

“Này quý thầy, sao gọi là không tưởng tới tương lai? Khi một người nghĩ rằng trong tương lai… (lặp lại như trên), nghĩ như thế mà không khởi tâm ràng buộc, lo lắng hay mơ tưởng về những gì thuộc về tương lai ấy thì người ấy đang không tưởng tới tương lai.”

“Này quý thầy, thế nào là bị lôi cuốn theo hiện tại? Khi một người không học, không biết gì về Bụt, Pháp, Tăng, không biết gì về các bậc hiền nhân và giáo pháp của các bậc này, không tu tập theo giáo pháp của các bậc hiền nhân, cho rằng hình thể này là mình, mình là hình thể này, cảm thọ này là mình, mình là cảm thọ này, tri giác này là mình, mình là tri giác này, tâm tư này là mình, mình là tâm tư này, nhận thức này là mình, mình là nhận thức này… thì người đó đang bị cuốn theo hiện tại.”

“Này quý thầy, thế nào là không bị lôi cuốn theo hiện tại? Khi một người có học, có biết về Bụt, Pháp, Tăng, có biết về các bậc hiền nhân và giáo pháp của các bậc này, có tu tập theo giáo pháp của các bậc hiền nhân, không cho rằng hình thể này là mình,… (lặp lại như trên) thì người đó đang không bị lôi cuốn theo hiện tại.”

Như vậy thì rõ rồi, sống trong hiện tại không có nghĩa là không được hoạch định hay ước muốn làm gì cho tương lai, mà là trong một thể thức hoạch định có niềm vui, không bị quá nhiều lo lắng hay mơ tưởng chi phối. Hoặc đắm chìm trong khổ đau của quá khứ, quyến luyến đối với cảm thọ, tài vật, người thân làm mình mất đi niềm vui sống, quên đi mọi thứ đang hiện hữu trước mắt. Nhưng khi có thực hành rồi mình mới biết, cũng không phải dễ bởi có những tập khí quá sâu dày như: muốn làm nhanh cho xong, làm theo ý riêng mình, hấp tấp, căng thẳng, lo lắng… thật sự đã làm mất đi niềm vui hiện tại hay đánh mất những liên hệ tốt đẹp đối với huynh đệ, bằng hữu cộng tác với mình. Để rồi khi xong công việc thì lòng mình cũng thương tích với những đổ vỡ, hối tiếc lẫn buồn đau.

Ngay cả trong hiện tại mà nếu không hiểu rõ thì cũng vẫn bị lôi cuốn và “kẹt” như thường. Đó là sự thật. Những năm trước khi tôi còn ở tu viện Lộc Uyển, có một chú người Mỹ gốc Việt khoảng hơn năm mươi tuổi, vì được bảo trợ sang Mỹ hồi còn thơ ấu nên tiếng Việt không rành lắm, do duyên lành mà tình cờ ghé Lộc Uyển chơi, khi nghe đại chúng hát thiền ca bài Happiness Is Here and Now… (Ta hạnh phúc liền giây phút này) trước khi đi thiền hành, làm chú đã cảm động đến rơi nước mắt. Sau đó chú đến tu tập khá thường xuyên và tâm sự làm tôi cũng thấy nghẹn ngào, mấy mươi năm sống trên đất Mỹ, đây là lần đầu tiên chú được nghe một bài hát hay, vui và đầy ý nghĩa như vậy.

Từ trước tới giờ chú chỉ biết cặm cụi với bổn phận và trách nhiệm, tuổi trẻ lo học rồi lớn lên đi làm quần quật để kiếm tiền, xem đó là mục tiêu đời mình, đâu biết nghĩ đến hạnh phúc đơn giản dễ tìm như vậy. Ngoài công việc và trách nhiệm ở sở, về đến nhà chú đã mệt nhoài, chỉ lo nghỉ ngơi để sáng mai lại sức rồi đi làm tiếp, cứ thế ngày lại qua ngày. Cho đến một ngày cả vợ và con chú không chịu nổi với cách sống đó nên xin dọn đi nơi khác. Chú ngỡ ngàng, hụt hẫng trong cô đơn và thấy mình mất mát nhiều quá. Không biết nhờ nghe bài hát mà chú giật mình “ngộ” ra điều gì quan trọng. Nhưng trên hết có lẽ chú nhận ra mình đã bị cuốn hút vào vòng xoáy công việc theo năm tháng mà quên đi mái ấm gia đình và hạnh phúc thực tại. Nhờ được giảng giải mà chú nhận ra nhiều thứ, cách trở về tự thân với hơi thở ý thức, bước chân chánh niệm, thật sự thưởng thức hương vị của một tách trà và những bông hoa mầu nhiệm đang hiển hiện trong trời đất… Chú trở nên tươi vui, yêu đời hơn sau đó vì thấy mình đang thực sự sống. Còn tôi thì thấy cũng thầm biết ơn chú vì đã cho mình ý thức thêm về sự trôi lăn trong dòng đời, có khi mấy mươi năm mới có cơ may tỉnh mộng.

“Pháp Bụt cao siêu mầu nhiệm
Cơ duyên may được thọ trì
Xin nguyện đi vào biển tuệ
Tinh thông giáo nghĩa huyền vi.”

Mỗi ngày nhờ được tu học, sáng tỏ thêm diệu pháp, sống trong môi trường trong lành và hiến tặng được chút gì đó để đền ơn cuộc đời, tôi thấy lòng mình chẳng còn mong gì hơn nữa.

“Pháp môn xin nguyện học
Ân nghĩa xin nguyện đền
Phiền não xin nguyện đoạn
Quả Bụt xin chứng nên.”

 

Namo Sanghaya

Ngày hôm kia trong buổi soi sáng cho mình, tôi đã bày tỏ cảm nhận về Tăng thân như sau: Thật đẹp và rất phong phú, cách sống tự nhiên, nghệ thuật và nhân văn nhưng cũng mang đầy thử thách. Tuy nhiên mình vẫn có thể làm tốt và hay hơn. Đó là điều mà không có điểm dừng và cũng chính là nguồn cảm hứng cho mình đi tới. Càng tu học, tôi càng thấy mình nhìn sự việc tự nhiên hơn, tích cực hơn, nhờ vậy mà lòng trân quý và hạnh phúc cũng tăng lên theo năm tháng. Tăng thân được như ngày hôm nay để biết bao người đến nương tựa, quy ngưỡng thật không dễ dàng chút nào. Bởi tính đa dạng, đa văn hóa, ngôn ngữ và nền tảng niềm tin khác biệt, ấy vậy mà có thể cùng sống hòa hợp được để mang hạnh phúc đến cho đời thì giống như một phép lạ, lành thay!

Tăng thân có nhiều cái đẹp, cái hay qua nhiều góc độ và cái nhìn khác nhau. Tùy theo trái tim cảm nhận của mọi người. Nhưng trước hết là giống như một mái ấm gia đình, một sân chơi lành mạnh cho cả bốn chúng với đủ mọi thành phần, trình độ nhận thức, tuổi tác và thâm niên hạ lạp cùng hòa điệu tu học. Một chốn bình yên để trở về sau những cuộc hành trình, để được chia sẻ, lắng nghe, học hỏi, chăm sóc và thương quý lẫn nhau. Giúp nhau trưởng thành trong nhận thức và tu tập. Lý tưởng đó đang được thể hiện bây giờ và ở đây, nơi mỗi thành phần trong cộng đồng.

Tất cả trong một, một trong tất cả là sự diễn bày trong tư tưởng Hoa Nghiêm. Tôi thích lý tưởng sống động phong phú này; không đến không đi, không còn không mất thể hiện qua một vòng tròn tuyệt diệu. Trong đó cũng chứa đựng đầy đủ, thập pháp giới nơi tâm thức chung và mình có quyền quyết định lựa chọn nơi ở, nhờ chánh niệm sáng tỏ mà ta có thể nhận diện mình đang ở chốn nào để không bị vướngkẹt trong từng phút giây của đời sống. Thầy đã chỉ bày cho chúng tôi vẽ những vòng tròn thư pháp kì diệu. Không phải thư pháp chỉ được thể hiện bằng nghệ thuật, mà xuyên suốt trong ấy là sự sống tự tại thảnh thơi. Thở vào, bút pháp đi nữa vòng tròn. Thở ra, bút pháp hoàn thành nữa vòng tròn còn lại. Xong, nghệ thuật đó thật đẹp và ý vị, đủ dễ để ai cũng có thể luyện tập và làm được, miễn là mình thật sự muốn.

Hơi thở là sự sống, mang lại trị liệu và nuôi dưỡng thân tâm hàng ngày, càng ý thức hơi thở sâu sắc chừng nào, Niệm Định Tuệ càng phát triển chừng ấy. Tâm thức trở nên xuyên suốt và mở rộng thênh thang như chưa từng ngăn ngại điều gì. Được chăng tất cả trong hơi thở vào tròn đầy và hơi thở ra trọn vẹn. Sự sống động của thế giới ảnh tượng muôn màu, lung linh tuyệt đẹp như bảy sắc cầu vồng. Nhưng đằng sau đó, tất cả đều không có tự tánh. Vạn pháp và ta có gì cách biệt khi tâm thức trở nên trong suốt, tĩnh lặng phản chiếu không một tỳ vết. Hằng ngày tôi vẫn thắp sáng ý thức thực tập, cập bến nơi từng bước chân, an trú trong từng hơi thở chánh niệm cùng với lời nguyện ước năm nào“Xin nguyện sống trọn vẹn, mắt thương nhìn cuộc đời.” Mùa xuân đang về ngập tràn sức sống quanh đây. Hoa cỏ lại xanh mầm nở rộ, từng chiếc lá non tiếp tục đâm chồi trên những cành cây trơ trụi, lại bắt đầu một kiếp sống mới, vui vẻ và hân hoan trong nắng ấm. Cầu chúc sự sống tốt lành ở khắp nơi nơi.

Hoa Mộc Lan ở nội viện Phương Khê
Hoa Mộc Lan ở nội viện Phương Khê

Khoảnh khắc thiên thu

Chân Chuẩn Nghiêm

Có bốn câu thơ trong một bài thơ mà đến hôm nay con vẫn còn rất thích.

Ôn lại chuyện xưa chuyện đời tu
Có những giây phút thành thiên thu
Mặc cho mùa đông trời giá lạnh
Tiếng cười huynh đệ sạch mây mù…

Hoàn cảnh ra đời của bài thơ ấy cũng rất đặc biệt. Hôm đó đại chúng chùa Từ Hiếu, Diệu Trạm đi nhổ mạ dưới trời mưa phùn và gió bấc. Trời rất lạnh. Nhưng nhờ có tinh thần tăng thân, chúng con đã vượt qua tất cả. Mạ cần phải nhổ để kịp cho thợ cấy vì họ cấy rất nhanh. Quý thầy tri điền cùng sư chị tri sự đã chuẩn bị rất nhiều nước uống cùng bánh trái. Buổi chiều còn có chè khoai môn, đại chúng ăn chè xong rồi mới dọn dẹp ra về. Thầy Pháp Chủng đến nói với con về viết một bài thơ bắt đầu bằng chữ “ôn” vì chiều nay mình ăn chè khoai “môn”. Nhờ vậy mà con đã viết bài thơ đó. Con thầm cám ơn thầy Pháp Chủng rất nhiều.

Sống trong tăng thân, mỗi giây phút trôi qua đều trở thành thiên thu. Tình huynh đệ thật đẹp, đẹp tựa bản tình ca. Từ ngày con được qua Làng tới nay đã được năm tháng. Con thấy con như một con cá nhỏ được thả ra ngoài đại dương. Con đang được tha hồ bơi lội, vẫy vùng trong biển tình thương ấy.

Những khoảnh khắc thiên thu trong đại chúng thật nhiều, con chỉ xin phép kể ra một vài chuyện cho vui.

Ngày 4 tháng 9 năm 2013

 

Con tập làm bánh bao

Sau bữa cơm chiều trong nhà bếp, sư em Hoàn Nghiêm thái nào nấm, cà rốt, lê, táo… Con đoán không ra sư em sẽ làm món gì nên con mới hỏi sư em:

– Sư em làm món gì đấy?

– Dạ, em làm bánh bao.

– Bánh bao?

Con ngạc nhiên quá nên mới hỏi lại:

– Sư em cũng biết làm bánh bao ư? Con hỏi tiếp.

– Em cũng thử xem sao. Có công thức ghi ngoài bao bì rồi chị ạ! Sư em trả lời.

– Thế sư chị phụ sư em nhé? Con vừa cười vừa hỏi sư em.

– Vâng, thế thì còn hạnh phúc nào hơn.

Hai chị em con cùng cười. Thế là con bắt tay vô phụ sư em. Một lúc sau thì có bé Linh cùng phụ. Ban đầu sư em tính chỉ chuẩn bị nhân thôi, sáng mai xuống làm bánh sớm. Nhưng tính đi tính lại thì cả ba chị em con quyết định làm luôn. Sư em đổ bột ra thau, đong sữa, nước, dầu ăn và bắt đầu nhào bột. Tay sư em làm nhanh thoăn thoắt, chỉ cần nhìn thôi cũng đủ mê rồi. Ít phút sau đã có bột để bắt bánh. Sư em cán bột, bỏ nhân và bắt bánh sao tài quá. Con đứng nhìn sư em để học nghề. Sau một hồi học hỏi con cũng làm được chiếc bánh đầu tiên và cho vào xửng, đặt lên bếp và bật ga. Thời gian ngồi chờ xem kết quả bánh thế nào thật là hồi hộp. Nếu bánh cứng quá, không nở được thì ba chị em sẽ “dọn dẹp chiến trường”, coi như chưa có chuyện làm bánh bao xảy ra, còn bánh đẹp thì làm tiếp. Chín phút chờ đợi đã trôi qua. Nào, mở nắp. Ồ, bánh nở hết, đẹp quá chừng! Ba chị em con sung sướng cho bánh ra khay và làm tiếp. Để đủ cho mỗi người một cái thì phải làm tới ba khay nữa, mỗi khay 9 cái (Trong thời gian này đại chúng đang làm biếng tại các nhà gần đây của Làng như nhà Lưng Đồi, nhà Giếng Thơm hay nhà Đầu Thôn nên chúng ở nhà chỉ còn chừng 28 người). Chà, cũng hơi lâu đấy nhưng thôi kệ, làm biếng mà. Ba chị em con chẳng có ai buồn ngủ. Sư em Hoàn Nghiêm xuống kho lấy thêm bột. Sư em nhào bột rất khéo và mẻ bánh nào cũng rất đẹp, bánh cái nào cái nấy giống như những bông hoa đang nở. Vậy là chúng con không lo bị đói, lỡ chùa có hết gạo thì làm bánh bao ăn cũng đỡ. Công việc xong xuôi, nhìn lên đồng hồ con thấy đã 12 giờ khuya. Đậy các khay bánh lại cẩn thận, ba chị em đi lên phòng mà trong lòng vui quá, một niềm vui nho nhỏ mà chẳng mất tiền mua.

Ngày 8 tháng 9 năm 2013

 

Đi như một dòng sông

Sau khóa tu mùa Hè là thời gian làm biếng khá dài. Chị em con rủ nhau đi học thêm nghi lễ. Sư cô Khuê Nghiêm rất hoan hỷ dạy cho chị em con. Lớp học chỉ có 8 người nhưng vui thật là vui. Ngoài học ra, sư cô còn kể bao nhiêu là chuyện, những câu chuyện nuôi lớn bồ đề tâm và gìn giữ sự thực tập. Trong khi kể chuyện, sư cô phát hiện ra gần như cả lớp chưa thuộc chú Vãng sanh, sư cô dạy chị em con là phải thuộc. Một sư cô không thuộc chú Vãng sanh thì tệ quá! Nghe sư cô dạy như vậy con thấy mình tệ thật và con bắt đầu học. Ngay chiều hôm sau sư cô kiểm tra, cả lớp chưa thuộc. Sư cô cho nợ, ngày mai trả bài. Buổi học ngày hôm sau, tranh thủ khi sư cô chưa vô thì cả lớp tụng chung với nhau. Chà, hay quá! Vậy là chị em con lại nảy ra ý định xin sư cô kiểm tra cả lớp một lần. Mình phải đi chung với nhau như một dòng sông, nếu đi như một giọt nước là sẽ chết. Sau khi bàn tính với nhau như vậy, cả lớp có vẻ an tâm. Lớp vẫn học bình thường, chị em con cố ý không hỏi sư cô chuyện trả bài nhưng cuối buổi sư cô nói:

-Thôi, bây giờ trả bài.

-Sư cô cho chị em chúng con tụng chung với nhau như một dòng sông chứ đi như một giọt nước là chị em con đi không được. Chị em con xin sư cô.

-Đồng ý. Vậy tụng chung trước một lượt rồi từng người một. Sư cô nói.

Cả lớp tụng chung với nhau, hay quá chừng. Sau đó từng người một tự thỉnh mõ và tụng. Đa số đều đã thuộc còn con thì chưa. Trước khi tụng con đã thưa sư cô: “Sư cô ơi, con tụng một mình là con chết chắc.” Vậy mà con chết thiệt. Con tụng cứ hàng nọ nhảy hàng kia vì con học bài chưa kĩ. Khi đã hết thời gian làm biếng con vẫn tự kiểm tra mình vì con biết rằng học là học cho con. Sư cô phải làm như vậy thì chị em con mới thuộc bài. Con biết ơn sư cô rất nhiều.

Ngày 10 tháng 10 năm 2013

 

Chén canh củ kỷ

Hôm nay là ngày quán niệm tại xóm Hạ. Con rất thích đi tham dự pháp đàm nhưng cả đội con phải về sớm vì là ngày nấu ăn. Con không thấy buồn vì nấu ăn hay tham dự pháp đàm, cả hai đều như nhau. Khi về tới xóm thì đã hơn 2 giờ chiều. Trời đột nhiên tối lại, sắp có một trận mưa lớn. Cả đội hẹn nhau xuống bếp lúc 3 giờ 45, vậy nên con đi nghỉ một chút. Khi con xuống bếp thì sư mẹ Bảo Nghiêm và sư chị Quảng Nghiêm đã ở đó tự bao giờ. Sư chị Doãn Nghiêm con bị bệnh nên sư mẹ nói sư chị đi lên nghỉ, để sư mẹ làm giùm. Sư mẹ còn nấu một nồi canh thật thơm, thật ngon cho các chị em bị bệnh. Sư mẹ nói rằng để mấy chị em bị bệnh ăn cho ấm bụng, cho mau hết bệnh. Khi sư mẹ bưng nồi canh lên để múc cho các chị em ở các khu vực khác nhau, sư mẹ còn để phần cho con một chén trên bàn học. Con ăn trễ, canh đã nguội mà vẫn còn ngon ơi là ngon. Con không biết sư mẹ nấu rau gì mà ngon thế, con liền quay sang hỏi sư em Trăng Mai Thôn:

-Sư em, sư mẹ nấu canh gì mà ngon thế?

-Dạ, canh củ kỷ đó sư chị. Một món canh rất ngon của người Tàu. Sư em trả lời con.

Vậy hả? Con rất ngạc nhiên.

Sư mẹ Bảo Nghiêm có nhiều tài lắm. Sư mẹ không chỉ nấu ăn khéo mà sư mẹ còn làm vườn rất giỏi. Mỗi khi được ăn bún chả giò sư mẹ làm, con thích lắm. Những cuốn chả giò nho nhỏ xinh xinh, không lớn lắm cũng không quá nhỏ, khi đưa vô miệng nhai thì giòn tan. Sư mẹ làm nước chấm cũng ngon nữa. Sư mẹ còn rất nhiều tài mà bình thường sư mẹ chẳng nói ra, sư mẹ chỉ làm để hiến tặng đại chúng thôi.

Mùi thơm của chén canh củ kỷ vẫn còn thơm thơm mãi trong con.

Ngày 29 tháng 10 năm 2013

 

Vui đón Thầy

Hôm nay Thầy về. Các xóm nhộn nhịp, tưng bừng như đón Tết. Thực ra đại chúng đã chuẩn bị dọn dẹp Sơn Cốc và trong xóm để đón Thầy, đón quý sư cha, sư mẹ từ mấy bữa nay rồi. Sư mẹ Bảo Nghiêm đã lựa ra những trái táo ngon để dâng Thầy từ hơn nửa tháng nay. Ngày hôm qua sư mẹ đã chuẩn bị lá chuối để sáng nay sư mẹ gói bánh giò, làm bánh bao cho buổi chiều mang ra sân bay khi đi đón Thầy.

Cảnh đại chúng ba xóm bốn chùa đi đón Thầy và tăng đoàn đúng là chỉ nhà mình mới có. Khi vừa đến chỗ ngồi đợi, cứ xóm nọ gặp xóm kia cũng đủ vui rồi. Chỉ cần nhìn thấy ai mang áo màu nâu thôi là biết ngay huynh đệ của mình. Anh chị em gặp nhau miết mà mỗi khi thấy nhau thì vẫn cứ như là lâu lắm rồi không gặp. Và đại chúng cùng nhau “ôn lại chuyện xưa” trong khi chờ đợi.

Cùng lúc này có sư cô Tịnh Hằng và chị Thu Trang vừa từ Việt Nam qua. Sư cô và chị xuống máy bay trước Thầy tới 4 tiếng đồng hồ. Gặp lại sư cô, ai cũng vui và hạnh phúc. Người vui nhất có lẽ là thầy Pháp Duệ, thầy đến và lấy chiếc khăn đang quàng trên cổ mình ra và quàng qua cổ của sư cô một cách thân tình, hẳn rồi vì sư cô là dì ruột của thầy mà.

Đại chúng đông quá, chỉ cần đứng mà quên để ý thôi là hết cả đường đi của người khác. Có lẽ Thầy và tăng đoàn sắp… xuất hiện nên đại chúng, chẳng ai bảo ai mà tất cả tập trung ra đứng trước cửa, nơi Thầy sẽ đi tới. Tất cả cùng nhìn về một hướng. Và giờ phút linh thiêng đã tới. Ai cũng nhận ra Thầy từ tận đằng xa nhờ màu áo nâu bình dị và bước chân thanh thản. Thầy đi trước, quý sư cha, sư mẹ, quý thầy, quý sư cô đi sau. Gặp lại Thầy và tăng đoàn, ai cũng vui mừng khôn xiết. Sư chị Nguyệt Nghiêm đang làm thị giả đi lại mở cửa đón Thầy mà cửa thì mở tự động. Ai cũng biết điều đó nhưng có lẽ do sư chị mừng quá nên quên. Thầy vẫy tay chào đại chúng. Đại chúng không ai nói gì mà chỉ chắp tay búp sen chào Thầy. Thầy nhẹ nhàng nói: “Chào các sư con!”

Thầy lại ghế ngồi để chờ quý thầy, quý sư cô lấy hành lý ký gửi. Chúng con ngồi quây quần quanh Thầy. Ai cũng chăm chú nhìn và lắng nghe Thầy nói. Thầy hỏi: “Xe đâu mà đại chúng đi được đông thế?” Các con của Thầy chỉ cười hạnh phúc. Chúng con biết Thầy chỉ hỏi vậy thôi chứ tụi con biết đi đông được như vậy, vui vẻ như vậy là Thầy hạnh phúc nhất. Sư chị Nguyệt Nghiêm dâng Thầy ly trà thơm nóng cùng trái chanh ở vườn Sơn Cốc. Trái chanh vàng ửng, nhỏ mà thơm lựng.

Với giọng nói nhỏ nhẹ mà ấm, Thầy hỏi chuyện các sư con. Thầy rất muốn nghe các con hát nên đại chúng cùng nhau hát bài You are a Buddha to me. Quả thực giây phút ấy con chỉ muốn thời gian đừng trôi nữa để Thầy trò mãi ngồi bên nhau.

Khi Thầy và đại chúng rời sân bay thì bỗng nhiên trời mưa nhẹ và cầu vồng xuất hiện. Cầu vồng đầy đặn và thật rõ. Mầu nhiệm thay, khi nào cũng vậy, cứ có sự hiện diện của Thầy là có cầu vồng hoặc mây ngũ sắc. Trời mưa nhẹ, những hạt mưa như nước cam lồ của Bồ tát tắm mát cỏ cây. Chiếc xe đón Thầy và Sư cô Chân Không về trước, đại chúng về sau vì hành lý hơi nhiều.

Vậy là chỉ còn ít ngày nữa thôi, bốn chúng lại được sum vầy trong mùa An cư sắp tới.

Ngày 26 tháng 11 năm 2013

 

Bánh bao Sơn Cốc

Ngày xuất sĩ tại Sơn Cốc, sau giờ pháp thoại đại chúng ai cũng có một cái bánh bao. Có tiếng hỏi:

Bánh bao ở đâu ra vậy? Sao hạnh phúc quá vậy?

– Sư mẹ Trí Giác làm đêm qua để đãi đại chúng đấy. Có tiếng trả lời dù không hỏi mình.

Làm bánh baoĐại chúng ai cũng biết tài làm bánh bao của sư mẹ. Chỉ một buổi tối thôi mà sư mẹ làm hơn 200 cái bánh bao. Sao mà sư mẹ giỏi quá! Khi làm bánh có thêm người phụ sư mẹ, còn khi làm nhân thì sư mẹ làm chỉ có một mình.

Con cũng mới biết sư mẹ nhưng đã nhận thấy sư mẹ là người luôn nghĩ về đại chúng. Dù làm gì sư mẹ cũng đều làm vì đại chúng. Cách đây không lâu, ngày làm biếng mà bữa ăn sáng có thêm món bánh bao. Thì ra sư mẹ đã dậy sớm để làm bánh bao. Khi khất thực thức ăn sáng, ai cũng thật ngạc nhiên khi có bánh bao.

Trời lạnh, bụng đói mà được cầm chiếc bánh bao nóng để ăn, bên cạnh có ly trà nóng thì hạnh phúc lắm. Góc vườn Sơn Cốc có một bếp lửa hồng. Bếp lửa hồng này chẳng khi nào tắt vì cứ qua Sơn Cốc là đại chúng lại nhen lên. Chung quanh bếp lửa có những chiếc ghế ngồi, rất nhiều người đã mang bánh và trà ra đây để thưởng thức. Hạnh phúc thật giản đơn nhưng thật khó tìm.

Anh chị em chúng con kính cảm ơn sư mẹ rất nhiều.

Ngày… tháng… năm…

 

Trung thu ở chùa

Ngày quán niệm tại xóm Thượng. Khi thấy một chiếc xe chạy vô tới nhà bếp của quý thầy, con đã hỏi một số chị em:

-Xe chạy đi đâu thế sư chị?

-Xe đi chở bánh Trung thu đó chị. Sư em Đôn Nghiêm nhanh nhảu trả lời.

-Bánh Trung thu?Đâu mà có vậy? Con chưa hết ngạc nhiên thì sư em Đôn Nghiêm nói tiếp.

-Dạ thầy Pháp Tiến làm cho cả ba xóm bốn chùa.

Con cứ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Con không thấy đại chúng làm đèn Trung thu nhưng lại có bánh Trung thu để ăn. Tối đó một số chị em chúng con đã rủ nhau ra túp lều “giải thoát” ngoài vườn mới chơi Trung thu. Chẳng có đèn ông sao nhưng đã có bánh Trung thu, đã có ông trăng sáng và tròn vành vạnh trên trời, đã có sư chị, sư em cùng chơi vui với nhau, như vậy là đủ hạnh phúc rồi.

Trong tăng thân con thấy mình không có khái niệm về tuổi tác, dù bao nhiêu tuổi cũng vẫn được chơi Trung thu, vẫn được tham gia vào tất cả các chương trình. Và một điều mà con hạnh phúc nhất là con được tận hưởng rất nhiều hạnh phúc mà tăng thân đã tặng cho con. Đó là những giây phút thật tuyệt vời.

Mầm non trên đất cổ linh

Chân Sinh Nghiêm

HongKong monasticNăm năm đầu tiên trong cuộc đời xuất gia của con đầy những tình huống bất ngờ nhưng cũng đầy thú vị. Theo nguyên tắc, con nên ở yên trong cái nôi tâm linh êm ấm quy định rõ ràng của Làng Mai 5 năm sau khi xuất gia, rồi một khi nắm vững pháp môn căn bản và chân đứng vững một tí thì con mới có thể đi nơi khác cùng các anh chị em tu tập và phụng sự. Tuy vậy, vì những thủ tục hành chánh như visa, con đã được huấn luyện 5 năm đầu sống xa gốc đại gia đình nhưng con nghĩ sự học tập của con cũng không kém phần phong phú.

Trong hai trường hợp ở Úc và Hồng Kông, con đã được sống trong tăng thân nhỏ nên không khí thân mật như một gia đình và con thấy mình giống như em nhỏ xa quê nhà để lên thành phố cùng sống và học hỏi với anh chị lớn. Trong hoàn cảnh này con đã sớm học cách nương tựa vào anh chị lớn và vào hải đảo tự thân.

Sống xa Sư Ông, con thực tập thấy Sư Ông trong các anh chị lớn và đặt niềm tin nơi đó. Con biết anh chị lớn và con chưa ai hoàn hảo cả, ai cũng có những khúc mắc riêng, nhưng với niềm tin đó và sự nhìn lại chính mình, sống sao cho thật với lương tâm của mình, là điểm nương tựa con thường trở về. Sư Ông trong các anh chị sẽ bảo hộ cho con và giúp con giữ vững được chí nguyện đời tu của mình. Con rất may mắn được có cơ hội làm một trong những vị ‘nhị thập tiên sư’ của Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Á, được xem là cũng có góp một bàn tay cùng các anh chị thành lập chúng từ buổi ban đầu qua cách củng cố thời khóa tu học hàng ngày và cách làm việc chung bốn chúng. Mai mốt được làm sư bà, con sẽ có nhiều chuyện vui để kể cho các sư em và sư cháu nghe … hi hi…

Trước khi đi Hồng Kông, con đã nghe kể cảnh chùa chiền bên đó rất thiền vị, núi và biển chỉ cách nhau 15 phút, sương mù phủ trên núi như cảnh tiên, y chang trong những phim chưởng Kim Dung mà hồi xưa con đã mê coi. Thật đúng như vậy và còn hơn thế nữa! Môi trường Hồng Kông có nhiều đặc điểm như một chốn thiêng liêng: trong khi trung tâm thành phố tấp nập người ngày đêm, những giác quan luôn luôn bị xâm nhập và hấp dẫn bởi những sản phẩm dục lạc, hình ảnh sôi nổi màu sắc thì khi về lại chùa Liên Trì trên núi, mình không cần phải cố gắng thực tập “ly sinh hỷ lạc” gì cả mà đã có hạnh phúc vì ngay khi bước vào cổng chùa, mình đã cảm nhận được năng lượng bình an liền và thở phào: “đã về, đã tới!”

Trong khi thành phố và những hãng xưởng bên Trung Quốc bị rò rỉ và độc khí ô nhiễm đã thoát ra ngoài, thì đảo Lantau, nhờ được chính phủ đặc biệt bảo vệ môi sinh, nên vẫn còn những lá phổi xanh tươi bảo bọc cho mình. Ôi tuyệt vời khi những ngày hè nóng bức, sau khi chấp tác hoặc sau một ngày quán niệm đông đúc và bận rộn, chị em có thể dắt nhau xuống Suối Mơ để thác nước trong mát kia đấm bóp và gột sạch hết hoàn toàn những mệt mỏi và căng thẳng. Dòng nước trong hồ Viên Nguyệt chứa đầy nước mầu nhiệm từ nguồn suối cao, từ lòng đất sâu. Nơi này thật kín đáo, chỉ có anh chị em xuất sĩ mình biết đến và thay phiên nhau tìm tới mà “giải trừ phiền não” trong những ngày làm biếng. Đúng là một chốn thiêng liêng. Những buổi trưa hè, sư cô Mai Nghiêm và con nằm võng lim dim chơi đùa với ánh nắng nhảy múa xuyên qua tàng lá xanh hoặc đọc sách. Đọc sách một đỗi, con nhảy xuống hồ buông thư, thả hồn trở thành một với nước Mẹ Cam lộ.

Thiền hành trong mưa tại Hồng KôngCho dù sương mù phủ núi như cảnh tiên nhưng cũng có khi trên núi nhiều sương mù quá, cảnh tiên kia cũng bớt vẻ mầu nhiệm. Tuy nhiên chỉ cách 15 phút lái xe đến làng chài Tai Ô thì có suối lớn Tình Huynh Đệ và bãi biển Nắng Ấm để anh chị em có những giây phút thoải mái cùng vui bên nhau, pháp đàm bằng những tiếng cười hồn nhiên như trẻ được Mẹ rừng nuôi lớn.

Có lúc chúng con thi đua chèo thuyền kayak trên biển và kết thúc ngày quán niệm xuất sĩ bằng buổi ăn tối đạm bạc quanh bếp lửa. Có lúc chị em nổi hứng, kéo nhau xuống bãi biển cùng ăn tối và thiền trăng dưới ánh trăng rằm tròn đầy hạnh phúc. Ôi những kỷ niệm gia đình nho nhỏ đó con không bao giờ quên được!

Hồi mới tới chùa Liên Trì và Trúc Lâm, anh chị em thường hẹn nhau lên Chỏm Đá Thong Dong (Freedom Rocks) mỗi buổi sáng làm biếng để… ăn mì gói trong nhà hàng có thể là đắt tiền nhất vì cảnh tượng núi biển tuyệt đẹp, một bên là Đại Phật ngồi yên trước cảnh bình minh rực rỡ và bên kia là biển cả với dãy núi trùng điệp. Đặc biệt bên Hồng Kông, mỗi thứ Sáu trong mùa ấm, đại chúng thiền hành lên núi và công phu sáng với trời đất linh thiêng. Ngồi thiền trên những tảng đá trong thiền đường Ngàn Sao Trăng Tỏ và hít thở những tia nắng đầu ngày, thân tâm con được thức dậy cùng hòa nhập với những màu sắc tinh anh của vũ trụ. Có những buổi công phu như vậy thì còn ai muốn ngủ nướng trên giường vì sợ bỏ uổng cơ hội.

Thật đúng, sống trong chúng nhỏ ai cũng nỗ lực công phu và theo thời khóa để góp năng lượng và sự có mặt cho đại chúng. Đôi khi con cảm thấy trong người uể oải nhưng vì theo thời khóa mà con chuyển hóa được dễ hơn và không có những tư tưởng như “không có con thì cũng không sao vì có anh chị em khác mà”. Sự có mặt của mọi người đều quan trọng và là thức ăn tinh thần mà chúng con nuôi nhau hàng ngày. Hơn nữa quý sư cô lớn bên Hồng Kông thường có thói quen rất tốt là ngủ sớm thức sớm để thưởng thức giây phút yên tịnh với ly trà tinh khôi hoặc học thêm những gì cần thiết cho mình. Với năng lượng tinh chuyên đó, con hoan hỷ bị lây nhiễmbị ghiền luôn, sáng nào không có thì cảm thấy thiếu thiếu.

Thời khóa của chúng Hồng Kông rất thú vị và đầy điều kiện thuận lợi để phát triển khả năng và sáng kiến cá nhân. Có lẽ vì Viện Phật Học Châu Á này còn trong giai đoạn sơ khởi nên đại chúng được huấn luyện khá chặt chẽ. Chúng con được học kỹ các pháp môn căn bản và học kỹ môn Duy biểu để làm nền tảng cho chính mình, giúp chúng con dễ dàng áp dụng đạo Bụt ứng dụng khắp mọi nơi. Có những lớp kỹ năng nhằm rèn luyện những khả năng diễn đạt ý và sắp xếp từ ngữ cho chừng mực trong 7 phút. Sau đó được anh chị em góp ý giúp mình làm tốt hơn. Đề tài thì tùy ý mỗi người tự chọn nên rất có hứng thú. Quả là những thách thức hấp dẫn! Những dịp như vậy giúp con khám phá ra nhiều khía cạnh và khả năng tiềm ẩn của anh chị em, con dần dần bớt rụt rè vì đã chấp nhận được những mặc cảm trong mình. Được nghe những bài pháp thoại trước đây của Sư Ông và có lớp bổ túc thêm kiến thức về khoa học và thiên nhiên nên thời khóa rất phong phú trong mọi mặt.

Khoá tu gia đình tại Hồng KôngPhụng sự tại Hồng Kông khá đa dạng và muôn vẻ. Những ngày Quán niệm tại Liên Trì, số người đến tham dự ngày càng đông hơn. Mỗi Chủ nhật là có thêm người mới. Còn những người cũ thì mỗi cuối tuần gặp nhau thân tình như bà con, họ hàng đoàn tụ đại gia đình tại chùa làm không khí vui vẻ và ấm cúng. Những khóa tu luôn phải từ chối thiền sinh vì cơ sở mình có quá hạn hẹp.

Người Hồng Kông rất thích ứng với pháp môn Làng Mai vì cuộc sống của họ quá căng thẳng và gò ép bởi những đòi hỏi vật chất. Mỗi tháng quý thầy, quý sư cô luân phiên xuống phố hướng dẫn ngày quán niệm tại Đại học Hồng Kông với những đề mục thích hợp cho ngành giáo dục, và cho ngành y tế. Đây là hai cánh tay hùng hậu ở học viện AIAB đang phát triển theo đường hướng đạo Bụt ứng dụng của Làng Mai.

Wake Up Schools và Wake Up cũng đang trên đà phát triển nhanh chóng, quanh năm có những giáo viên dẫn học sinh trong một, hai lớp của mình đến chùa tu tập một ngày quán niệm dành riêng cho các em thanh thiếu niên. Hồng Kông có những trường học Phật giáo (Buddhist Schools) nhưng chưa đáp ứng được những nhu cầu của người trẻ. Các em chưa từng tiếp xúc với các xuất sĩ trẻ năng động như các anh chị em mình. Khi được hướng dẫn pháp môn thở và cười qua những bài hát chánh niệm, thiền ăn hoặc buông thư và được chơi, các em không ngờ mình đang tu thiền, và cảm thấy rất khỏe nhẹ vì không cần phải suy tư, cực nhọc học bài và trả bài gì cả. Được tiếp xúc với thiên nhiên, được leo núi với quý thầy quý sư cô trẻ đã giúp các em tự trị liệu và nuôi dưỡng rất nhiều. Đây là điều rất hiếm có đối với các em vì thường các trường học là những tòa nhà xi măng, thậm chí nhà của các em cũng ở trên những tầng lầu cao, và những sân chơi công viên nho nhỏ trong thành phố chỉ làm bằng bãi cỏ giả.

Nơi xứ người “điện tử” này con đã có dịp bồi đắp tình đồng môn và tình láng giềng rất quý hóa. Khi có những sư cô hoặc thầy nào đến thực tập chung, các anh chị em con rất trân quý và mừng vui. Có một nhóm sư cô Đài Loan tới rất tha thiết học tập và muốn mang pháp môn Làng Mai về lại địa phương mình. Cho dù ngôn ngữ bất đồng nhưng năng lượng tình huynh đệ đã vượt tất cả biên giới. Chị em con hết lòng chia sẻ về đời sống tu học với nhau như những bạn thân lâu ngày được đoàn tụ. Có lần thầy Neng Tu, một trụ trì trẻ của chùa Weng Feng tại Yangzhou, Trung Quốc (thầy đã thọ Năm giới với Sư Ông) rất tự tại “xắn tay áo”, vào nhà bếp cùng các cô cư sĩ đi với mình và nấu vài món ăn đặc sản của vùng thầy để đãi đại chúng. Chúng con thưởng thức hết lòng tình thương mà thầy đã gởi tặng qua các món ăn!

Gần chùa, cách 45 phút đi bộ có tu viện Po Lam thuộc dòng tu của Hòa thượng Hư Vân. Có đông các sư cô và một số thầy tu thiền và Tịnh độ rất tinh chuyên và khổ hạnh. Họ mặc áo vá, còn nấu ăn bằng bếp củi và hành thất thiền mỗi năm gần Tết. Các sư cô phần lớn từ tuổi ‘xồn xồn’ tới ‘đầu bạc răng long’ nên khi các chị em chúng con còn trẻ, xuống thăm cùng thọ trai hay xin dự một ngày thất thiền, đem tặng nụ cười và bước chân thong dong, được các sư cô rất mến và đón tiếp nồng nhiệt. Con cảm thấy không khí yên tịnh và thiền vị xung quanh Po Lam vẫn được duy trì như bao nhiêu năm trước, không bị những nguồn điện thời đại cuốn theo.

Đảo Lantau là cái nôi tâm linh linh thiêng của Hồng Kông, điều này Sư Ông chùa Quan Âm, cách chùa Liên Trì hơn một tiếng đi bộ, đã kể cho chúng con nghe. Sư Ông đã bước vào tuổi 90 nhưng đầy đạo hạnh, nụ cười vẫn còn tươi và mắt vẫn sáng ngời nét từ bi. Sư Ông không có nhiều đệ tử xuất gia nhưng nhiều đệ tử tại gia. Có thể vì vậy nên khi chúng con đến thăm, chúc Tết, Sư Ông rất hạnh phúc và kể cho chúng con nghe những câu chuyện ngày xưa khi Sư Ông mới 60 tuổi: Đảo Lantau có nhiều chùa, tu viện và am cốc. Những buổi ban mai khi trời chớm sáng, tiếng chuông mõ có thể nghe vang khắp núi rừng cùng với làn khói lam của bếp củi đang sửa soạn cho bữa điểm tâm.

Ở đây đi đâu cũng phải đi bộ xa vì chưa có xe hơi, và bí quyết sống khỏe trên núi của Sư Ông rất đơn giản, mỗi mùa thay đổi thì mình cũng phải đổi thay theo thiên nhiên. Nghĩa là mùa Hè không sử dụng máy lạnh, mùa Đông thì mặc thêm áo thôi! Ai cũng òa ra cười đón nhận tuệ giác đạm bạc mà sâu sắc của Sư Ông trao tặng. Chúng con được Sư Ông thương mến tiếp đón và được cùng ăn riêng với Sư Ông như khách quý. Sống xa quê nhà, xa Thầy nên chúng con cũng xem Sư Ông như một bậc thầy hiền đang có mặt và yểm trợ tinh thần cho chúng con trên con đường tâm linh nhưng có lúc chúng con cũng bước qua những đoạn đường gập ghềnh dễ rớt trong thời đại mong manh này.

Sư Ông còn đắp y bá nạp, không biết bao nhiêu điều và bị sờn rách, mời chúng con ra chụp hình chung, dặn dò kỹ lưỡng là phải mang hình lưu niệm lại cho Sư Ông. Mỗi dịp Tự tứ và Tết Nguyên Đán, Sư Ông đều lì xì rộng rãi cho từng người. Có một lần hẹn thăm Sư Ông nhưng vì trục trặc giờ hẹn nên quý thầy không tới. Sư Ông hỏi thì chúng con trả lời là quý thầy bận việc bất ngờ và bị Sư Ông quở, nói với chúng con là có việc gì đi nữa cũng phải bỏ để tới thăm Sư Ông mới được. Bị la nhưng chúng con cảm nhận được tình thương trong lòng Sư Ông rất đầy. Mỗi lần thăm Sư Ông về, ai cũng cảm thấy rất an lạc, nhẹ nhàng và thanh tịnh. Con cảm thấy Sư Ông thương chúng con vì tuổi còn trẻ mà “phát túc siêu phương”, trong khi đó tuổi trẻ hiện đại đang bị cuốn theo đà tiêu thụ dục lạc và bị tài danh, sắc lợi sai khiến liên miên.

Nói tới tình láng giềng thì phải kể về bà Fong Ku, láng giềng gần nhất ở ngay trong đất chùa Liên Trì. Bà Fong Ku tới từ Trung Quốc, theo sư phụ hồi còn 16 tuổi và đã ở chùa chăm sóc sư phụ hơn 60 năm qua. Lúc chúng con mới tới, mỗi khi làm gì trong vườn rau trước sân của bà là bà la ơi ới: “Không được làm như vậy! Không nên làm cái kia!” May mình không hiểu tiếng Quảng Đông chứ không thì cũng nhức óc mỗi ngày khi bà “luyện phổi”!

Con khám phá ra một điều thú vị nhờ vào sự có mặt của bà trong chùa. Có nhiều ngày khi chiều đến, con cảm thấy buồn và cô đơn. Lòng con bỗng muốn có sự chăm sóc và thúc đẩy con tìm người tâm sự. Một hôm lúc tâm hành ấy đang lên, con muốn thí nghiệm một cách khác để giải quyết nó. Thay vì tìm người quan tâm chăm sóc đến mình hay lên mạng tìm tòi, con đã đáp ứng nhu yếu cần chăm sóc đó bằng cách chăm sóc một người khác. Con đi tìm bà Fong Ku để xoa bóp cho bà, vì bà thường hay than đau nhức chân tay. Bà hoan hỷ liền. Con xoa bóp cho bà như đang được ngồi chơi và chăm sóc cho mẹ hay bà Nội của mình. Bà rất vui, vì tuổi già đôi lúc cũng thấy buồn, cần có người hỏi han chăm sóc. Con gọi bà là “siểu sư muội” (tiểu sư muội), bà khoái chí vô cùng được làm sư em út của các sư cô. Nỗi cô đơn trong con tan biến cùng với cái đau nhức của bà luôn! Một lần khác, con thử lại phương pháp này bằng cách xoa bóp cho sư mẹ Thuận Nghiêm sau khi nghe nói sư mẹ bị mất ngủ cả đêm. Con thấy mừng khi kết quả cũng tương tự lần trước, cả hai bên được lợi lạc.

Bà Fong Ku là nhịp cầu quan trọng, như con chim nhỏ cập nhật thông tin về những hoạt động của mấy mầm non mới trồi lên tại chùa Liên Trì và Trúc Lâm. Bà thường tu tập ở chùa Bảo Liên (con ví như anh cả lớn kế bên che chở luồng gió du khách cho chùa em Liên Trì được yên ổn). Một hôm sư cô Hành Nghiêm đi chợ ở Tung Chung, thành phố lớn nhất dưới chân núi, thì gặp vài người cư sĩ nhìn mình cười rồi hỏi bằng tiếng Quảng: “Các sư cô có phải từ Liên Trì không?” Sư cô Hành Nghiêm cũng trả lời bằng tiếng Quảng: “Dạ phải”, và hai bên vừa cười vừa gật gù với nhau một cách thân thiện, có lẽ vì họ đã có những tri giác hoặc thông tin tốt lành gì đó về chúng con, những mầm non ở Liên Trì?

Bây giờ bà Fong Ku thoải mái và thân mật với chúng con hơn nhiều. Thỉnh thoảng bà cùng thiền hành, hàng tháng cúng Bụt thì cũng làm cho chúng món chả chay đậu hủ ky với xì dầu ngon lắm. Có bữa thì bà đãi sư cô trụ trì hết lòng những món ăn đặc biệt của bà, nấu rất ngon. Con lót tót đi theo sư cô nên được hưởng ké! Sau này bà thường qua ăn tối với các sư cô và ngồi tán gẫu để chúng con có cơ hội tập nói tiếng Quảng. Bà hay than phiền là chúng con ở đây lâu rồi mà vẫn không nói được tiếng Hoa! Bà tươi rói khi có nhiều người tới khóa tu và ngày quán niệm, có lần còn vào bếp phụ cắt gọt để hưởng năng lượng hài hòa và an lạc cùng tăng thân bốn chúng.

Bảo Liên (Po Lin) là một ngôi chùa rất lớn nhưng bóng dáng người xuất sĩ thì rất hiếm. Một hôm vào buổi chiều, trong khi đi dạo có một sư cô lớn tuổi ra gặp sư cô Hành Nghiêm và con, hỏi thăm về cách tọa thiền và thiền hành. Sư cô đã nhiều lần thấy mình đi thiền hành rất yên và đẹp, hình ảnh này đã gây cảm hứng làm sư cô muốn học hỏi. Chúng con hơi e ngại vì nghĩ rằng sư cô tuổi đạo đã cao mà mình thì quá nhỏ, chỉ như trẻ mới biết đi. Nhưng sư cô rất thành tâm muốn học và nhận lời mời thực tập thiền hành cùng chúng con. Một hôm sư cô bị đau lưng, sư cô Mai Nghiêm mời vào và xoa bóp giùm. Hôm sau sư cô mang tiền và bánh sang cúng dường! Vui lắm Sư Ông ơi, mỗi khi không có sư chị Sĩ Nghiêm hay sư em Tu Nghiêm hay Trăng Đông Hải làm thông dịch viên, chúng con một bên nói tiếng vịt, bên kia nói tiếng gà mà vẫn thông cảm được nhau như thường!

Xung quanh chùa có nhiều am cốc của những vị xuất sĩ ưa tu một mình. Gần đây nhà mình quen được với một sư cô người Mã Lai rất vui tính. Ba chị em con xin qua học tiếng Quảng và đồng thời giúp sư cô học tiếng Anh. Học được vài buổi thì có khóa tu, và vì đã thiết lập một mối quan hệ tốt lành rồi nên khi chúng con xin thì sư cô cho ngay và mình đã có thể sử dụng phòng và thiền đường của chùa làm chỗ ngủ cho thiền sinh nữ dự khóa tu.

Xa quê nhà, sống giữa thành phố đông đảo với những con người mà ai cũng trong thế giới “I-gadget” riêng, tìm được tình đồng môn, tình láng giềng con cảm thấy rất quý như gặp phải hạt châu mầu nhiệm trong bãi rác. Còn tình thương của hai cô cư sĩ (được Ban Quản Trị chùa Liên Trì thuê) làm việc ở chùa cũng nẩy hoa kết trái ngọt ngào. Khi mới tới họ ít nói cười, cắm đầu cắm cổ làm việc cả ngày, rồi rút vào phòng khóa cửa kín mít. Nhưng sau một thời gian các sư cô quen thân, thăm hỏi một cách thân thiện nên họ cũng không thể tiếp tục lạnh lùng nữa. Khi các sư cô rời chùa, họ cũng buồn và ôm hôn như xa gia đình quyến thuộc.

Ngoài ba tháng An cư kết Hạ và ba tháng dự thính An cư kết Đông cùng Làng Mai, những ngày tháng kia anh chị em chúng con như đội “marathon hạng Olympic”, chạy vòng từ AIAB, Hồng Kông tới khắp nơi ở các nước Đông Nam Á và ngược lên Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Nhật Bản. Chúng con truyền “baton” rất trôi chảy cho dù từ các trung tâm khác đến với nhau, có khi không biết nhau nhưng vì cùng một sự nghiệp và mục đích hiến tặng cho người sự đoàn kết, tình huynh đệ và hạnh phúc sống trong hiện tại nên chúng con làm việc cũng ‘ăn rơ’ với nhau lắm!

Trong những lúc rảnh rỗi, anh chị em ngồi tâm sự bên nhau, chia sẻ những lời khuyên nhủ thật lòng và ân cần. Có lúc cùng ngắm mặt trời lặn với gió mát lao xao qua những cây dừa, và được ở những chỗ nghỉ mát (resort) với cảnh vườn đẹp đẽ. Con nghĩ làm người cư sĩ thì hiếm có được những dịp thảnh thơi như vậy!

Con đã được đón hai cái Tết tại Hồng Kông. Tết đến, các thầy và các sư cô cùng nhau gói và nấu bánh chưng bánh tét, thay phiên nhau ngồi trực qua đêm bên bếp lửa hồng, ca hát và  chuyện trò cho tới khi vớt bánh ra. Con thấy rất hạnh phúc. Sau đó chúng con đem bánh đi tặng bà con láng giềng và những mạnh thường quân. Mỗi lần nhớ đến, con cảm thấy ấm áp, trong lòng đầy những kỷ niệm đậm đà hương vị quê hương và tình huynh đệ. Khi con rời trung tâm để đổi tới một nơi khác, thật khó mà không quyến luyến nhau được. Sư em Công Nghiêm nói làm người xuất gia thì mình đã không còn tìm cầu danh vọng, tiền tài và sắc dục làm lẽ sống nữa, chỉ còn sống với tình thương và sự hiểu biết mà thôi.

Con rất trân quý cơ hội được làm một trong những mầm non trên đất cổ linh này, được cùng học hỏi, góp phần thành lập tăng thân bốn chúng. Điều con trân quý là được nếm đủ loại hương vị trong quá trình xây dựng tăng thân chứ không hẳn là những thành công hay thất bại. Khi chuẩn bị cho Tết hoặc Noel mình có nhiều niềm vui, nhưng thật sự có thể còn vui hơn ngày Tết hoặc Noel vì có không khí đón chờ, mong đợi và hiến tặng. Đối với con, hiện pháp lạc trú cũng có nghĩa là mình biết thưởng thức tất cả những giai đoạn từ quá trình khởi đầu, xây dựng và duy trì. Con xin chúc quý thầy và sư cô tiếp tục tu vui bên nhau, trân quý những giây phút có nhau để có được những kỷ niệm đẹp, nuôi dưỡng nhau và đi như một dòng sông mầu nhiệm trên những bước kế tiếp tại AIAB.

khu vườn của em

Chân Trời Đạt Nguyện

Sư chú Chân Trời Đạt Nguyện được biểu hiện trong gia đình xuất gia cây Linden vào ngày 8/12/2013. Tuy mới xuất gia và sống trong tăng thân một thời gian ngắn, nhưng qua sự hướng dẫn của Sư Ông và tăng thân, sư chú đã biết cách trở về chăm sóc khu vườn tâm của mình rất chăm chỉ và biết gọi đúng tên những hạt giống đang có trong khu vườn tâm mình. Mời đại chúng theo sư chú, hướng dẫn viên của Vườn Quang dạo thăm Khu Vườn Của Em nhé!

 

Hồn vẫn trongEm xin mời bạn dạo chơi khu vườn của em. Khu vườn có trồng rau trồng hoa, có cả cỏ dại mọc hoang. Khu vườn này có từ bao giờ em cũng không nhớ, chỉ biết ba mẹ truyền trao từ khi em ra đời, em tạm đặt tên là Vườn Quang vì em là chủ vườn.

Việc đầu tiên của người làm vườn là xới đất, em dùng lưỡi cuốc Chánh niệm để làm tơi mảnh đất khô cằn. Trong kho có nhiều hạt giống, em thích trồng hoa Hỷ, hoa Lạc, hoa Hiểu, hoa Thương, hoa Biết Ơn, hoa Lắng Nghe, hoa Tôn Trọng, hoa Quan Tâm, hoa Niềm Tin, hoa Tinh Tấn… Có nhiều loại hoa lạ em chưa biết tên, có lẽ em cần tìm hiểu thêm. Mỗi ngày em đều tự chăm sóc hoa bằng cách tưới nước và bắt sâu, có khi những người bạn, người anh, người chị, người em dễ thương cũng tưới hoa và bắt sâu giùm em.

Bên cạnh vườn hoa còn có vườn rau cũng đem lại nhiều lợi lạc tươi mát, nào là rau Âm Nhạc, rau Làm Thơ, rau Học Ngoại Ngữ, còn có nhiều loại rau em chưa biết tên, có lẽ em cũng nên tìm hiểu thêm.

Có nhiều ngày em quên tưới nước, có những bông hoa ủ rủ và héo đi. Hoa héo cũng vì chu kỳ sinh diệt của nó. Vậy là hoa Hiểu đã trở thành rác Trách Móc, hoa Thương trở thành rác Bực Bội, hoa Hỷ trở thành rác Buồn Chán, hoa Tôn Trọng trở thành rác Xem Thường, hoa Niềm Tin trở thành rác Nghi Ngờ.

May mắn thay người làm vườn đã học được cách ủ rác thành phân để bón cho hoa và rau. Áp dụng công nghệ tiên tiến như thiền hành, thiền tọa, hòa giải, làm mới, nhận diện, rác được ủ từ vài ngày đến vài tuần, có khi đến vài tháng, rác hoại mục dần và trở thành chất dinh dưỡng cho cây.

Không phải lúc nào Vườn Quang cũng xanh tốt, có những lúc khu vườn nhiều rác hơn hoa, chủ vườn cảm thấy hôi hám bởi mùi của rác, thấy rác dơ bẩn làm xấu khu vườn, rác không nên có mặt, những lúc đó chủ vườn quên rằng hoa cũng được làm ra từ rác.

Có những loại cây chủ vườn không trồng mà nó cứ mọc, như những loại cỏ Tham Dục, cỏ Tham Sắc, Tham Tiếng Khen, Tham Ăn.v.v.. chủ vườn cũng nhận diện được và nhổ nó đi, để nó không hút hết chất dinh dưỡng của hoa và rau.

Mỗi ngày chủ vườn đều ra ngắm khu vườn của mình, chủ vườn rất may mắn có được nhiều người bạn quan tâm và nhắc nhở. Mỗi lần sang nhà hàng xóm chơi, thấy hoa nào đẹp và thơm, đều xin về trồng vườn nhà mình. Trước đây Vườn Quang rất đơn điệu, chỉ có vài bông hoa Hướng Dương, hoa Thích Điều Lành, và cỏ rác thì đầy, khu vườn trông rất hoang sơ. Từ khi học được cách làm vườn, khu vườn có thêm nhiều hoa đẹp, hương hoa đôi khi bay sang nhà hàng xóm, bay lên không trung, theo gió bay đi rất xa.

Dần dần chủ vườn cũng phát hiện ra vườn mình còn có hoa Ba, hoa Mẹ, hoa Bụt, hoa Tổ, hoa Sư Ông, hoa Sư bá, hoa thầy Trung Hải, hoa sư chú Trong Sáng, mỗi loài hoa đều hiếm quí vì mầu sắc và hương thơm khác nhau. Vườn Quang bỗng nhiên trở nên phong phú, đậm đà đủ mọi sắc hương.

Thật ra chủ vườn không có làm việc hoài, những lúc mệt chủ vườn đi nghỉ ngơi, chủ vườn chờ đợi cho những hạt giống có đủ thời gian, có đủ ánh sáng và những cơn mưa để hạt giống nẩy mầm lớn lên. Đôi khi chủ vườn cũng làm biếng, đi chơi ping pong, đi leo núi, chẳng mấy chốc lại có quả ngọt, nhiều lúc ăn không hết phải đi biếu hàng xóm để kết tình thâm giao.

Chuyện làm vườn nói hoài cũng không hết vì cuộc đời thay đổi không ngừng, xin cám ơn bạn đã ghé thăm Vườn Quang, hẹn một dịp khác sẽ kể tiếp.