Nắng đưa lối tôi về

Chân Văn Nghiêm

Niềm vui ngày bé

Được về Làng trong khóa tu mùa Hè năm nay là một cơ hội ngoài mong đợi của tôi. Mặc dù sau liên tiếp những khóa tu, tôi có nhu cầu ở yên để những xao động, những lăng xăng trong tôi được lắng xuống. Cái mà tôi ngại nhất là đoạn đường đi xe từ Paris về Làng. Nhưng rồi đồng hành cùng sư chị, sư em, cuối cùng tôi cũng đã có mặt tại Làng cho ngày mở cửa của khóa tu mùa Hè.

Về Làng lần này tôi như được cảm nhận niềm vui của những ngày còn bé, tôi cùng cả nhà lên Tuần, quê ngoại tôi, niềm vui khi gặp lại bụi tre, được đặt những bước chân thân quen quanh xóm. Năm nay tôi may mắn được ở lại xóm Hạ. Tôi nhớ lắm con đường từ ni xá ra thiền đường Hội Ngàn Sao, nhớ hồ sen, nhớ rừng bạch dương xào xạc lá vàng, và đặt biệt là con đường từ xóm Hạ lên xóm Thượng,… cho nên dù trước đó tôi chưa hề ở xóm Hạ, vậy mà khi xe tới xóm Hạ tôi thấy mình đang được về nhà. Bây giờ tôi mới cảm nhận rõ lời chia sẻ của thiền sinh rằng dù đi đường rất mệt, nhưng mỗi khi được về Làng là họ thấy an toàn và khỏe nhẹ như đây là nhà của mình.

Năm nay tôi được vào gia đình rửa nồi và khử trùng chén dĩa, công việc không khó nhưng sắp xếp làm sao để có thể trân quý những phút giây về lại Làng, được ăn chánh niệm và làm việc có hạnh phúc là điều tôi quan tâm. Bởi cái bao tử của tôi rất dễ nhõng nhẽo mỗi khi tôi ăn không chừng mực và thiếu sự chăm sóc, quan tâm đến nó. Điều cuối cùng là sự hòa thuận trong gia đình rửa nồi (tiếng Đức), gia đình dọn dẹp và cắt gọt. Cả ba gia đình hơn 80 người cùng làm việc với nhau tại nhà ăn và mái hiên nhà ăn.

Sau khi cả nhà chúng tôi ở Thiền đường Hơi Thở Nhẹ ghé Sơn Cốc chào Thầy, chúng tôi được Thầy mời ăn bánh mì của “Thủ tướng” do chú Long đã lái xe mang lại nhờ chúng tôi kính dâng Thầy trước giờ chúng tôi xuất phát từ Paris về Làng. Thầy mở tủ lấy patê để ăn với bánh mì. Giờ phút đó tôi cảm nhận rõ gia đình tâm linh trong ngôi nhà nhỏ của Thầy. Đó cũng là hành trang cho tôi đem về Thiền đường, là món quà quý từ quê Thầy.

Hai kỳ thi trong năm

Xe đến xóm Hạ, vừa gặp chúng tôi, quý sư cô ra đón và ai cũng cười tươi. Các sư em mới từ Việt Nam qua ríu rít chào hỏi. Bây giờ các em giỏi thiệt, mới ngày nào ngồi trong lớp Việt văn tại Bát Nhã còn nũng nịu hỏi đủ chuyện mà bây giờ các em phải biết tự học, tự tu, ba bốn chị em nhỏ cùng nấu ăn cho 200 đến 300 người. Giờ rảnh, các sư em học thêm tiếng Anh, phụ giúp các sư chị làm thông báo, viết thời khóa, tổ chức Lễ Giỗ Tổ, Lễ Bông Hồng Cài Áo, Lễ Trung Thu, Lễ Hòa Bình… Nhìn sư em Lộc Uyển lo cho thiền sinh trong công tác tri khách rất hết lòng mà tôi thấy vui. Trong giờ Y chỉ sư y chỉ muội ngồi chơi, sư em tâm sự: “Một ngày trong khóa tu, dù bận nhưng em phải có giờ ngồi yên, giờ tập võ…” Nhìn sư em Thật Nghiêm mang bảng Im Lặng Hùng Tráng để giữ gìn sự thực tập… Sư em Trăng Huyền Không, Trăng Huyền Diệu ngoài phiên nấu ăn còn giúp sư chị tri khố sắp xếp thực phẩm, thế mà gặp tôi sư em còn cười tươi hỏi: “Sư chị có cần em giúp gì không?” Tôi thầm cảm ơn sức trẻ của các em, nụ cười của các em; những thuở ấy đã cho tôi thêm năng lượng để trở về tự thân, chăm sóc nụ cười của chính mình rồi ra chơi với các bạn thiền sinh. Cái nhu yếu sư chị, sư em lâu ngày không gặp thường mon men rủ rê tôi trốn gia đình pháp đàm để được quây quần bên gia đình xuất sĩ. Ngày thường gặp nhau cũng thấy không đậm đà lắm, nhưng khi có hàng trăm thiền sinh về, khi mỗi sư chị sư em phải tách nhỏ ra để hướng dẫn, chăm sóc thiền sinh mới thấy rõ năng lượng thực tập của mỗi người, sự có mặt của mỗi sư chị sư em lúc này thật cần thiết. Sư chị, sư em tôi thường đùa với nhau rằng: “Khóa tu mùa Hè và khóa tu mùa Đông ở Làng là hai kỳ thi trong năm.” Ngày trước chưa biết cách học nên chúng tôi thường học kiểu nước rút, nghĩa là tới kỳ thi là cúi đầu vào bài vở, quên mọi việc xung quanh. Còn bây giờ khóa tu là mùa thực hành dưới sự giám niệm của chính mình và sự quan sát học hỏi của hàng trăm đôi mắt thiền sinh. Đó cũng là một áp lực đòi hỏi chúng tôi phải luyện tập hơi thở, bước chân trở thành thói quen trong những lúc thong thả, “để khi nhật nguyệt còn xa vắng thì đầu hè vẫn có ánh trăng soi.”

Tu học thiệt là vui vì có cả “tỷ” thứ để học và lại được học những điều thực tế như đang thực hành tại phòng thí nghiệm, phải áp dụng và rút ra kinh nghiệm cho lần sau mới hòa được vào dòng chảy của Tăng thân. Những lúc như vậy mới thấy nội lực thâm hậu của hơi thở và bước chân, của hải đảo tự thân, của việc thắp sáng ý thức chánh niệm… cho nên mỗi sư chị, sư em tôi đều phải tập đứng vững trong vị trí của mình. Tôi thường nhắc tôi rằng: “Mình tổ chức khóa tu là để hiến tặng sự sống nhiệm mầu cho mọi người, thì tại sao mình không hiến tặng một ít cho mình, cho ba mẹ, cho anh chị em mình?” Vì vậy chỉ còn một cách là mình phải học đi, học thở, học nói và học cười cùng với mọi người.

Một khám phá rất thú vị

Từ khi gặp bước chân của Thầy, tôi đã từng mơ ước được đi những bước chân như vậy đến sở làm và đi lại trong nhà. Tôi đi tu vì thấy nhu cầu đó rất thiết thực và tôi muốn mình làm được điều đó. Mỗi lần nhìn các sư em trẻ là Bồ đề tâm ấy sống dậy. Thế là trong khóa tu này, tôi đã  bày ra trò chơi. Tôi nhủ thầm, nhà ăn xóm Hạ là Quầy thông tin (Reference Desk) và nơi pháp đàm, phòng ngủ, thiền đường… là những nơi sinh viên cần giúp đỡ. Thế rồi tôi thả mình trong những bước chân đều đặn của thời khóa. Tôi thấy tôi đi như thế dễ chịu hơn thói quen ngày trước, đi mà cứ như bị cái điểm đến nó hút mình về phía trước. Tôi thường mỉm cười khi thấy mình hấp tấp và thường nhớ nụ cười ý nhị của Thầy về ví dụ bó cỏ xanh non người ta buộc trước mắt con ngựa, hay con  bò tuy nó ra sức chạy tới đám cỏ nhưng không bao giờ ăn được. Thế mà tôi, một con người đã đứng thẳng lâu rồi, sao tôi cứ chúi đầu chạy tới?

Lời nói ấy như tiếng chuông giúp tôi ý thức tôi là một con người với quá trình tiến hóa của cột sống. Cho nên tôi phải đi với ý thức sáng tỏ của loài người có hai bàn chân và cột sống mầu nhiệm. Nhờ đi tu tôi mới may mắn học được cách đi của loài người văn minh, đi mà không cần tới. Tôi thấy đây là một khám phá rất thú vị, một trò chơi hữu ích để tôi học đi cho quãng đời còn lại. Tự nhiên tôi nhận ra tôi đang thực hành và hướng dẫn thực hành ăn cơm, rửa nồi, lắng nghe và có mặt thay vì giải quyết những thắc mắc, hay hướng dẫn sử dụng các học liệu cho sinh viên thì tôi nhận ra cách sống này mang lại niềm vui cho tôi và những người xung quanh tôi. Tôi thỏa lòng cho mơ ước một thời sinh viên mong muốn tìm ra những Dịch vụ hỗ trợ cuộc sống, hỗ trợ công việc gia đình.

Thời đại công nghệ ngày nay đã chế tạo ra nhiều loại máy móc tân tiến thay thế việc rửa dọn, tính toán, thống kê và quan sát nhưng vẫn không bằng sự linh hoạt của con người. Cho nên người ta thường nhờ một người giúp việc để đáp ứng nhu cầu mình cần và đẻ có thêm thời gian làm những chuyện mình thích; hoặc để nghỉ ngơi. Vậy mà rốt cuộc cũng thấy không khỏe thêm là mấy và cũng không vui lên được.

Món hàng xa xỉ

Tôi cảm nhận như mỗi chúng ta đang chơi trò đuổi bắt trong cuộc sống thường nhật này. Người nào cũng có một mục đích để mong thay đổi cuộc đời mình ngày một tốt đẹp hơn. Mỗi lúc tôi rửa nồi không có hạnh phúc thì hình ảnh các em con nhà nghèo lên thành phố tìm việc thường trở về. Hình ảnh các em ngồi khóc bên Dịch vụ việc làm với những than vãn của người chủ thiệt là khó xử. Hàng trăm người muốn có việc làm, và hàng ngàn việc cần người làm nhưng lại không đáp ứng được. Tại các thành phố lớn có khối việc để làm, nhưng cũng lắm điều cần quan tâm. Tôi nghĩ tình trạng đó chỉ ở những nước chậm và đang phát triển thôi. Nhưng khi sống ở Paris, khi nghe các bạn trẻ tâm sự giai đoạn tìm việc, thử việc rồi làm việc cũng là một giai đoạn thử sức với cuộc sống. Tâm thức của thành phố lớn thường vội vã hơn, có nhiều nhu yếu tế nhị cần được đáp ứng nên đã làm ra những dòng chảy tâm thức can thiệp vào sự sống. Hạnh phúc chân thực trở thành một món hàng xa xỉ khó tìm. Để giữ tâm bình lặng, ngắm một chiếc lá, một bông hoa cũng thiệt là khó. Có chăng đó là công việc của những người già, họ đã chạy đuối sức trong dòng đời tất bật, bây giờ họ mới nghĩ tới việc nghỉ ngơi, ngắm nhìn cảnh vật chung quanh mình. Ngôi nhà dưỡng lão bên cạnh thiền đường Hơi Thở Nhẹ là nơi nghỉ ngơi tuổi già, gọi là một vườn cây của những ngày nghỉ ngơi. Ở đó có bãi cỏ xanh, có ghế đặt quanh vườn, khu vườn luôn được dọn dẹp sạch sẽ nhưng hiếm khi thấy có ông cụ, bà cụ nào ra vườn. Một Retraite, một cuộc dạo chơi  cuối đời sao buồn vậy nè? Trong khi đó ở Làng có rất nhiều khóa tu (rất nhiều Retraite/ Retreat) với rất nhiều người tu trẻ, có nụ cười tươi, có ánh mắt ngời sáng có thể cùng đi bên nhau trong rừng thu ngập nắng hay ngồi cùng nhau trong một giảng đường… Thời gian như dừng lại trong cái sinh hoạt bình dị của việc nấu ăn, dọn dẹp, rửa nồi, ăn, uống, ngủ, nghỉ và thưởng thức cái đẹp.

Ai đã lấy đi thời gian?

Không giống như cảnh tượng về đêm tại nhà ga thành phố. Tôi thấy thương khi nhìn dòng người cuồn cuộn chảy, họ đi như chạy, mắt vô hồn nhìn mọi người, tai đeo dây phone như một thứ thời trang. Ui chao, sao mà giống người máy quá vậy! Tự nhiên tôi rùng mình khi bắt gặp chính mình trước đây. Ai đã lấy đi thời gian của tôi để người này hối thúc người kia làm việc theo tốc độ của máy. Ngày trước tôi cứ nghĩ là mình đang đi nhưng mà cái nhịp độ đi đó gọi là chạy thì đúng hơn. Vì mọi người đều đi như vậy nên tôi không nhận ra, tôi thấy thật bình thường! Cái tâm thức bình thường của thời đại mới nó hao hao giống với công nghệ máy móc ngày nay thì phải?

Giật mình khi tiếng còi tàu xuất phát vang lên, hơi thở của tôi trở về thật sự. Tôi thấy mình như được cứu thoát ra khỏi dòng nước xoáy. Có một cái gì đó thật thân quen trong tôi, thật gần và thật yên. Tôi ngồi đó và bắt đầu nghe ngóng những động tĩnh trong tự thân mình. Xao động bên ngoài và sự yên bình bên trong như hai mặt của một tờ giấy trắng mà Thầy thường đưa lên cho chúng tôi thấy. Nhưng tờ giấy vẫn là tờ giấy, còn cuộc đời đâu phải tờ giấy nhỏ xíu trên tay Thầy nên tôi nghe mà vẫn chưa chạm được vào nó. Vậy mà hôm đó tôi thấy tờ giấy là cuộc đời này.

Nắng lấp lánh bên sông

Tôi đã đem niềm vui của những bước chân đó lấp đầy lối đi dọc dòng sông Marne. Nắng lấp lánh bên sông thật đẹp, cây xanh thật là xanh. Thỉnh thoảng chú hạc rụt rè bước nhẹ ven sông, chỉ cần một tiếng động nhỏ là chú duỗi cánh bay đi. Mấy con vịt trời cứ nhởn nhơ bên nhau và những chú hải âu trắng đáp xuống dòng sông nhẹ tênh… Cảnh vật thật bình lặng, tôi ghé lại thăm chú nai bên dòng sông quen thuộc. Tôi hái một nắm lá non tặng chú, chú nai mon men lại gần. Ái chà! Mới đi có hai tuần mà chú trổ mã thật đẹp. Những hoa đốm trên lưng chú như hoa nắng vậy đó. Cặp sừng người ta mới cưa bây giờ đã dài ra, mịn màng lông tơ và bắt đầu cứng. Tôi tự dưng thấy cuộc đời thật ý nghĩa khi nhớ lại tôi đã từng có những bước chân như vầy bên dòng sông tuổi thơ. Yên bình rong chơi, thênh thang cõi lòng, nhiều khi tôi còn hát vang cả một khúc sông ngập nắng. Vậy mà tôi đã quên gia tài tuổi thơ. Giờ đây phố thị như lùi lại sau hàng cây rủ bóng ven sông. Tôi được trở về với chính tôi, lặng thầm cảm ơn ba mẹ tôi đã sinh ra tôi trong cuộc đời này và Thầy đã làm cho câu thư pháp “Là mình mình mới đẹp” như hiển hiện trong thinh không, lung linh trên ánh nước lấp lánh ánh mặt trời. Tôi lại mỉm cười khi nghe rõ giọng Thầy giải Kiều cho tôi hôm Tết: “Khéo khéo thì mình cũng thấy nắng, thấy hoa.” Lời dặn dò của Thầy rất sâu mà tôi cứ tuềnh toàng làm rơi rớt rất nhiều tuệ giác của Thầy.

Gói một chút nắng làm quà tặng người thân trong dịp mừng năm mới rồi ngước nhìn lên những thân cây trụi lá, tôi bắt gặp một bầu trời xanh tươi nguyên ngày mới.

Bữa cơm trong văn hóa Việt

Thầy Minh Hy

Thầy Minh HyLúc còn nhỏ, khi nội con còn sống, con được học vòng tay mời bà, cha mẹ dùng cơm rồi sau đó mình mới ăn. Ba mẹ con vẫn thường nhắc con như vậy mỗi khi con quên. Lặng đi một thời gian, con vào chùa và không biết ở ngoài kia các cậu bé lớn lên có được học cái phép ấy trước khi ăn cơm không.

Hơn mười năm, đến khi con về với tăng thân, con ngạc nhiên lắm vì nét đẹp này đang được thực tập ở đây. Điều ấy đã đưa con về với tăng thân trong không khí của một gia đình. Các bữa cơm trong chùa rất trang nghiêm, sau ba tiếng chuông, mọi người niệm danh hiệu Bụt rồi dùng cơm trong im lặng. Ở đây, trong tăng thân con nhận thêm được sự ấm cúng và tình huynh đệ. Con đã nhìn lại và tự hỏi, tại sao cái nét đẹp ấy không còn được duy trì nhiều nữa trong bữa cơm của những gia đình. Có lẽ là do ở sự trao truyền và tiếp nhận.

Trong văn hóa Việt Nam, có nói nhiều đến sự kính trọng lẫn nhau. Đặc biệt là sự kính trọng của người nhỏ đối với người trên. Người nhỏ, trước khi đi đâu hay làm gì thì thưa trình với người lớn. Người nhỏ, thấy người lớn thì vòng tay chào trước. Người nhỏ, trước khi ăn thì mời người lớn rồi mình mới ăn. Người nhỏ mà không làm như vậy thì được xem là người thiếu học. Còn người lớn thì hình như được miễn cái phép ấy. Chính vì miễn cái phép ấy mà mình dần mất đi cái trao truyền. Không có cái trao truyền thì tất nhiên cái tiếp nối và phát huy cũng mất (cũng có khi chúng ta đòi hỏi sự kính trọng nhiều hơn là phải trao truyền).

Đôi đũa thần kỳ

Thầy là Thầy của chúng con, các sư anh, sư chị là anh chị của chúng, nhưng con thấy Thầy và các sư anh, sư chị làm điều ấy rất tự nhiên. Sau khi chắp tay quán niệm, Thầy nói: “Mời các sư con dùng cơm.” Có lúc Thầy dạy chúng con đọc câu thần chú thứ Năm trước khi ăn. Một sư cô, hay một sư chú chắp tay nói: “Thưa Thầy, thưa huynh đệ, đây là giây phút hạnh phúc.” Mọi người mỉm cười hạnh phúc, trân quý giây phút hiện tại thầy trò còn được ăn cơm bên nhau.

Lúc nào Thầy cũng ăn một muỗng cơm trắng trước, vì không muốn chúng con phải chờ. (Trong tu viện, chúng con được học là Thầy dùng cơm rồi mình mới dùng.) Thầy không bao giờ quên gắp thức ăn cho các sư con. Có món gì trên mâm cơm của Thầy thì Thầy đều gắp chia cho các sư con. Đôi đũa trong tay Thầy thật diệu kỳ. Lúc nào trên mâm cơm của Thầy cũng có một đôi đũa và một vài cái muỗng. Đôi đũa để gắp thức ăn cho các sư con, muỗng thì để dùng cơm, xới cơm… Bữa cơm mà không có một đôi đũa thì thiếu rất nhiều!!!

Ở ngoài xã hội có khi người ta muốn giữ cái nề nếp, sợ mất đi cái tôn ti trật tự mà phải giữ kẽ. Nhưng con thấy ở nơi Thầy và các sư anh, sư chị, cái mà các vị sợ mất đi là sự truyền thông, tình thầy trò, tình huynh đệ hơn là cái tôn ti kia. Nhưng thử nhìn lại xem, có cái gọi là nề nếp mà không có sự truyền thông thì sẽ thế nào? Có truyền thông, tình nghĩa rồi thì cái tôn ti, cái nề nếp có mất đi được chăng?

Uống nước nhớ nguồn

“Uống nước nhớ nguồn” hay “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, đó là những câu tục ngữ mà người lớn, trẻ em nào cũng thuộc. Khi là một người thực tập chánh niệm, được học cách ăn cơm trong tỉnh thức, con thấy con được thực tập những câu tục ngữ ấy ngay trong chính bữa ăn. Mỗi lúc ăn cơm, con tập nhìn để thấy bát cơm này từ đâu mà có. Lòng biết ơn trong con được nuôi dưỡng khi biết rằng tặng phẩm này là công phu lao tác của rất nhiều người và nhiều sinh vật. Có đất Mẹ, trời Cha, có tất cả, mà gần gũi nhất là những người nấu ăn hôm ấy. Lòng biết ơn có mặt giúp con biết mỉm cười hạnh phúc, biết dừng lại và chuyển hóa những tập khí trong tự tâm.

Một hôm, con có nội kết với một sư chú, trong lòng có sự bực bội. Đó là chuyện riêng, còn thời khóa của đại chúng con vẫn tham dự. May mắn làm sao, bữa cơm trưa ấy, con thực tập ăn cơm rất có chánh niệm. Trong lòng con có sự biết ơn đến đất Mẹ, đến đội nấu ăn. Bỗng nhiên con nhìn xuống nhà bếp và thấy sư chú, người mà con đang để tâm bực bội là người trong đội nấu ăn hôm ấy. Trong chốc lát, cái buồn giận trong con tan biến ngay. Lòng biết ơn cho con thấy rằng sư chú, người mà con đang bực bội đó có ghét con đâu, vẫn nấu cho con một bữa cơm thật ngon. Con mà còn giữ tâm niệm buồn giận này thì hết sức là vô lý.

Con biết quanh con, có những người thật dại dột. Họ ôm giữ cái giận, cái buồn về người thương của họ từ ngày này sang ngày khác, từ năm này sang năm khác. Có khi mười năm, hai mươi năm. Họ không biết rằng họ đang ăn cơm, mặc áo từ chính bàn tay và tấm lòng của người thương họ. Trong mười năm, hai mươi năm ấy, không biết họ đã ăn cơm, uống nước như thế nào? Chắc là họ chưa được học phép ăn cơm trong chánh niệm để nuôi dưỡng lòng biết ơn!

Nếu hỏi rằng, anh chị đi xa quê lâu ngày thì nhớ cái gì nhất? Có lẽ mọi người sẽ trả lời rằng: “Anh nhớ canh rau muống, chị nhớ cà dầm tương, em nhớ nồi khoai lang luộc, nhớ bếp lửa hồng và nhớ bữa cơm chiều khi mọi người quây quần với nhau bên ánh đèn dầu.” Vì có nhớ nên anh chị có thương. Có nhớ thương là có tình yêu. Anh chị yêu từng bữa cơm, từng con đường làng, từng ruộng lúa, bờ ao, cây khế, cây dừa… Và tình yêu quê hương, đất nước cũng bắt nguồn từ đó, từ  những kỷ niệm hạnh phúc của thời ấu thơ.

“Trời đánh tránh bữa ăn”

“Trời đánh tránh bữa ăn” là câu tục ngữ chứa đựng được tuệ giác và kinh nghiệm của cổ nhân. Nhưng cũng có những người, trong những buổi chiều đi ra đồng, họ đem theo những vắt cơm gói trong lá chuối. Khi trời nổi cơn dông, họ lấy những vắt cơm ấy ra ăn. Nghĩ rằng, trời có đánh cũng tránh mình ra! Họ hiểu rất bình dân. “Ông trời có đánh thì cũng tránh những lúc mình đang ăn, vì cơm này là do trời đất làm ra!” Còn mình đâu phải là “ông trời”, vậy mà có nhiều người đã làm hỏng cả bữa cơm. Những người ấy đã không biết làm hạnh phúc cho những người mình thương, cho gia đình mình trong các bữa cơm.

“Râu tôm nấu với ruột bầu, chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”. Vậy đó, bữa ăn không cần phải thịnh soạn mới hạnh phúc. Hạnh phúc là ở cái cách mình ăn và sự có mặt cho nhau trong bữa ăn. Người thương của mình đã vất vả để lo cho cái ăn, cái mặc nhưng khi cầm bát cơm lên mình ăn qua loa, vội vàng. Bữa cơm của mình chỉ vỏn vẹn trong năm phút, quá ít để thật sự có mặt trọn vẹn cho nhau. Mình cũng đừng quên rằng một lời “mời” nhiều hơn một mâm cỗ.

Những tập khí làm hỏng bữa ăn

Lớn lên ở miền nào thì mình thường thích ăn theo khẩu vị của miền đó. Đó là cái tập khí mà ông bà, cha mẹ đã trao truyền lại cho mình. Nấu khác vị đi thì mình cho là không ngon, lạ vậy đó. Mình có thể làm cho người mình thương không hạnh phúc vì cái thói quen ấy.

Thực tập sống chánh niệm giúp con chuyển hóa dần cái thói quen kia. Con học làm người thưởng thức, một người đi du lịch. Thưởng thức từng hương vị của mỗi món ăn và chỉ ghi nhận sự khác nhau đặc biệt của nó. Tuy vậy, tập khí và quan niệm về “ngon theo khẩu vị” trong con vẫn còn và lắm lúc con lỡ miệng nói ra một điều gì đó làm đội nấu ăn không vui. Như mùa Xuân năm nay, trong chuyến đi Hồng Kông, con đã thất niệm và cái tập khí lâu đời kia đã giúp con nhìn lại.

Hôm ấy, con đi dự một ngày quán niệm ở Centre on Behavioral Health và khi đi về thì mệt lắm. Đường xa, xe hỏng, chạy lòng vòng qua mấy ngọn núi, về đến nhà thì ước gì được ăn một món gì đó có nước cho đỡ mệt. Chiều hôm ấy đội nấu ăn mời đại chúng dùng món mì Ý. Trời! Làm sao mà ăn nổi nhưng cuối cùng cũng phải ăn, hơi vất vả. Hôm ấy con thất niệm lắm. Hai chị em cứ vừa chịu khó nhai vừa bàn về món ăn. Không biết rằng chủ nhân của món ăn đang ngồi bên cạnh. Chủ nhân không phản ứng gì, lặng lẽ rút lui, mãi sau đó con mới biết chủ nhân của món ăn rất buồn. Chủ nhân là một sư em người Pháp, nói tiếng Việt như người Mỹ nói tiếng Anh. Tối đến, khi con qua phòng sư em để chúc sư em ngủ ngon, con thấy sư em viết vội dòng cuối cùng và trao cho con bức thư. Con nghĩ rằng sư em muốn con xem giúp tiếng Việt của sư em.

“Con kính thưa thầy..! Con… đây! Ngày hôm nay con làm việc trong nhà bếp suốt ngày. Buổi sáng có bốn người nấu, nhưng buổi chiều chỉ có ba người. Buổi chiều, khi một sư chị nhờ con làm một món mì Ý, con đã hoan hỷ làm hết khả năng của con để cống hiến cho đại chúng. Vậy mà khi con nghe thầy cùng một sư chị khác chê thức ăn thì con hơi buồn một chút! Nếu thầy ăn thức ăn đó không được thì con chân thành xin lỗi. Bản thân con là người Pháp và từ khi còn nhỏ thường hay ăn kiểu này, cho nên chiều nay con thấy rất là ngon!

…Con xin đề nghị: khi nào thầy ăn thấy lạt, thầy có thể dùng thêm gia vị, và khi nào thầy thực sự ăn không được thì có thể đổ rác cũng được, mà không cần phải chê. (Đọc đến đây, thì con thấy rất là thương và xốn xang trong lòng). Nếu thầy có điều muốn góp ý, thầy có thể gặp đội nấu ăn trực tiếp và chia sẻ một cách khéo léo. Điều này sẽ nuôi dưỡng tăng thân rất nhiều. Như thầy đã biết, con là người Pháp mà ăn cơm châu Á mỗi ngày ba bữa trong khoảng một năm rưỡi rồi, nhưng khi có người hỏi: “Ở đây, thầy ăn được không?” Con luôn luôn trả lời: “Dạ, ở đây con ăn được, con xin cảm ơn.” Khi con thực tập như thế này, các anh chị em xung quanh hạnh phúc và con cũng hạnh phúc.

Con rất biết ơn thầy đã đọc những lời chia sẻ của con.

(Sư anh xin lỗi vì chia sẻ lá thư của sư em đến mọi người. Sư anh thấy nó rất nuôi dưỡng và có khả năng trị liệu. Tiếng Việt của sư em rất tuyệt vời.)

Vừa xấu hổ vừa thẹn lòng vì thói quen thất niệm, trước giờ chia tay để về lại Việt Nam, con đã thực tập thiền ôm với sư em. Kể từ ngày hôm ấy đến nay, đã hơn tám tháng, con chưa một lần dám mở lời chê một món ăn nào nữa. Món nào con cũng tập ăn với niềm vui và lòng biết ơn. Cám ơn sư em đã giúp con. Thầy đã dạy cho con thật nhiều nhưng sư em đã giúp con chuyển hóa. Đây là một bông hoa đẹp nhất mà con có được trong năm nay.

“Mặt trời xanh rờn
Một rổ rau tươi
Vạn vật nương nhau
Làm nên cuộc đời”

Dù ăn cơm ở bất cứ đâu, trong tu viện, nhà cư sĩ hay ở quán ăn, chúng con cũng đều thực tập chắp tay quán niệm, thở vào thở ra ba lần rồi mới dùng cơm. Trong các khóa tu tổ chức ở các trường đại học, resort… vào ngày cuối khóa tu, chúng con thường không quên mời đội nấu ăn tới để đại chúng nói lên lòng biết ơn đến những vị Bồ tát đã góp một phần lớn vào sự thành công của khóa tu.

Thông thường, mình hay dừng lại ở sự trao đổi. Mình là người bỏ tiền ra để mua bữa cơm, người bán cũng đã nhận tiền của mình, nên nhiều lúc ăn xong, mình trả tiền và đi, thiếu một lời cảm ơn. Nó sẽ thiếu hơn nếu hôm ấy giá hơi đắt và thức ăn không như mình muốn. Con thiết nghĩ, là học trò của Bụt chúng ta có thể đi xa hơn và làm giàu cho văn hóa của mình. Người Cơ Đốc giáo, các bạn ấy biết làm phép Thánh và tạ ơn Chúa trước khi ăn cơm. Là học trò của Bụt chúng ta cũng nên biết chắp tay quán niệm và biết ơn đất Mẹ, trời Cha, Tổ tiên đã cho mình cơm ăn. Tặng phẩm này không phải chỉ từ cha mẹ mà còn có cả đất Mẹ, trời Cha, tổ tiên đã tìm ra giống lúa, tìm ra cách chế biến. Một nắng hai sương của người làm nông, của người bán rau, người đánh cá v.v… và dù ăn chay hay ăn mặn mình cũng thực tập quán niệm được. Quán chiếu để thấy mọi loài đang nuôi dưỡng mình trong từng bát cơm, trong từng hơi thở để giúp mình nuôi lớn lòng biết ơn và ý thức trách nhiệm đến sinh môi, đến hạnh phúc, khổ đau của mọi người và mọi loài.

Ăn cơm chung

Hạnh nhỏ

Chân Trăng Mai Thôn

Trăng Mai ThônHôm nay trong lúc đang đi thiền hành cùng Thầy và đại chúng tại xóm Thượng, tôi bỗng nghĩ: “Tại sao mình không ghi lại một chút về các tiểu hạnh (hạnh nhỏ) nhỉ?” Trước nay tôi hay nảy ra ý này ý nọ trong khi ngồi thiền, đi thiền hay đang làm một cái gì đó nhưng ít khi ghi lại. Và sau đó một thời gian, khi muốn ghi lại tôi không tài nào nhớ ra mình đã nghĩ đến đề tài gì. Rút kinh nghiệm, lần này ăn cơm chiều xong là tôi ngồi vào bàn ngay. Vả lại thời gian này là thời gian Ban biên tập lá thư Làng Mai đã bắt đầu “in action” (vào hành động) nên tôi phải chuẩn bị, không để bị “đòi nợ” như mấy lần trước nữa.

Thường thường khi niệm danh hiệu của các vị Bồ tát, người ta hay ca ngợi “đại nguyện” của quý ngài, thí dụ như “Nam mô Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền” mà gần đây Thầy khuyến khích chúng tôi niệm danh hiệu của ngài bằng tiếng Phạn là Samantabhadra. Thầy nói thời bây giờ đâu còn ai nói Nữu Ước nữa mà người ta nói New York, đâu có ai nói Tân Tây Lan nữa, người ta nói New Zealand, vì vậy nên mình cũng nên thực tập niệm tên nguyên thủy của quý Ngài. Chư Bồ tát thì hành đại nguyện, tôi xin phép được chia sẻ một chút cũng về nguyện, nhưng chỉ là… tiểu nguyện mà thôi.

Mùa thu năm ngoái, trong lớp học về các pháp môn thực tập căn bản của Làng Mai, thầy Pháp Đăng có nói rằng mình đừng nên phê phán hành động của người khác vì biết đâu họ đang tu một mật hạnh nào đó mà mình không biết. Câu này đã đánh động tôi rất nhiều, nó giúp tôi bớt phê phán người khác. Tuy nhiên, ý của tôi có nẻo đi đường về quen thuộc của nó nên đôi lúc lợi dụng khi tôi lơ là, mất cảnh giác, nó lại “ngựa quen đường cũ”. Sau một thời gian, tôi nhận ra mình lại phê phán người khác, phê phán chính bản thân mình như cũ. Mỗi lần như vậy, tôi lại học theo cách Thầy đã dạy là nhận diện tâm mình rồi không theo nó nữa. Tuy không phải lúc nào cũng thành công, nghĩa là không phải lúc nào tôi cũng buông nó ngay sau đó, nhưng ít nhất là nó không còn có thể “làm mưa làm gió” trên bề mặt ý thức của tôi như trước đây nữa.

Sau khi nghe bài giảng đó của thầy Pháp Đăng, tôi kín đáo quan sát những người sống chung với tôi xem có ai đang thực tập mật hạnh hay không. Tôi biết mình hơi buồn cười trong chuyện này, bởi vì đã gọi là mật hạnh thì… nó phải bí mật, làm sao mà mình biết được. Nếu người khác biết thì còn gì là “mật” nữa. Nghĩ vậy nhưng tôi vẫn cứ quan sát vì tôi cũng muốn học hỏi để thực tập mật hạnh. Tôi thấy người tu mà thực tập mật hạnh thì hay vô cùng. Giống như ngài La Hầu La được xưng tụng là Tôn giả Mật Hạnh.

Năm nay, trước khi khóa An Cư Kiết Đông bắt đầu, như thường lệ chúng tôi được đổi phòng. Tôi ở một phòng gồm ba sư cô kể cả tôi. Một trong hai sư cô cùng phòng với tôi là một khách tăng vừa mới tới Làng an cư. Vài hôm sau khi dọn vào phòng, một sư chị đến thăm sư cô, mang theo một đôi giày mới tinh. Tôi hỏi thì sư chị nói tặng sư cô để sư cô đi thiền hành. Tôi biết là sư chị mới mua đôi giày này cách đây không lâu nên hỏi: “Rồi sư chị lấy gì để đi?” Sư chị nói sư chị còn một đôi giày cũ. Đối với bạn, có lẽ đây là một việc nhỏ, đâu có gì đặc biệt. Nhưng tôi biết là sư chị tôi cũng như phần lớn các chị em tôi, khi muốn mua một món gì thì phải “bỏ ống” khá lâu mới mua được. Tôi biết là người tặng hạnh phúc mà người nhận cũng rất hạnh phúc vì nó không đơn thuần là một món quà vật chất.

Có một sư cô đi đâu không có nhà thì thôi, hễ có mặt ở nhà là rửa cành, chăm cây, trồng hoa, cắt cỏ, dọn dẹp làm đẹp cho xóm. Sư cô thường phát tâm đến ở nơi nào còn chưa tươm tất trong các khu ni xá để sửa sang, cải thiện tình trạng nơi đó cho các sư em được thoải mái.

Một sư cô khác quanh năm chăm lo khu vườn rau của xóm thật xanh tốt. “Tía tô, rau húng, rau ngò mầu nhiệm”, khi nào cần ăn xuân quyện là có ngay. Sư cô thường hoan hỷ giúp các sư em ở các đội nấu ăn để các sư em có thể ở lại tham gia sinh hoạt vào ngày quán niệm tại các xóm khác khi cần, mà không phải về sớm để nấu ăn. Làng Mai vào mùa Hè, mỗi xóm có ít nhất 250 người trở lên, vì vậy phải nấu đến sáu nồi cơm to với hai thứ cơm, cơm trắng và cơm lứt. Ngày nào có ai nấu nồi to không quen, bị khét hơi đen không ăn được, sư cô thường hay ngâm cơm để rửa phần cháy đi. Rồi sau đó, sư cô dùng cơm này để nấu thành cháo và ăn một cách rất lặng lẽ mà không bắt người khác phải ăn phụ.

Một sư cô lớn tuổi lúc nào cũng sẵn sàng giác hơi cho các sư em bị trúng gió. Khi nào sư cô đi vắng, đại chúng cũng thấy nhớ dáng sư cô ngồi cần cù làm cỏ trên các đường đi của xóm. Khi nào các sư em muốn đãi đại chúng một món ngọt của quê hương, sư cô hoan hỷ giúp nấu một nồi chè.

Một sư chị bỏ ra rất nhiều ngày, nhiều giờ để chỉnh sửa kinh sách cho khớp nhau vì có những sai biệt trong các lần in.

Một sư mẹ vừa đi khóa tu về là thấy khoác ngay một chiếc áo cũ. Chiếc áo này chắc là sư mẹ đã dùng cả hai chục năm rồi. Tôi nhìn sư mẹ và cảm thấy sư mẹ rất hạnh phúc. Theo Sư Ông đi hoằng pháp xa, thường thường sư mẹ phải mặc áo “coi cho được” một chút. Còn ở Làng thì thông thường sư mẹ có hạnh mặc đồ rất cũ. Sư mẹ tiết kiệm của thường trú từng chút một.

Trong một bài pháp thoại, Thầy nói có một sư cô bị hiểu lầm về một việc gì đó nhưng sư cô không hề giải thích. Sư cô chỉ yên lặng, mỉm cười thôi. Hơn mười năm sau, tình cờ Thầy mới biết là sư cô đã bị hiểu lầm.

Còn nhiều, nhiều nữa những hạnh nho nhỏ như vậy mà các huynh đệ của tôi đang thực tập. Tôi chắc rằng ở khắp mọi nơi, ở xóm Thượng, xóm Hạ, Sơn Hạ, Lộc Uyển, Bích Nham… đâu đâu cũng có những người đang thực tập các “mật hạnh” như vậy, nhỏ thôi nhưng giúp làm đẹp cuộc đời hơn biết mấy. Nhỏ thôi nhưng thật sự không nhỏ chút nào.

Mùa Đông năm nay chúng tôi được học Duy Biểu. Thầy dạy chúng tôi về cách thức vận hành của tâm ý. Tương tự như trong một cuộc thực hành giải phẫu khi học về Cơ thể học của sinh viên Y khoa, Thầy mổ xẻ vấn đề thật rốt ráo. Dù Thầy mới cho hai, ba bài pháp thoại thôi nhưng chúng tôi đã được Thầy chỉ cho thấy ngóc ngách, đường đi lối về của tâm ý một cách thật rõ ràng như soi dưới kính hiển vi. Thầy nói tâm ý của chúng ta có một lối mòn mà chúng đi theo. Khi tiếp xúc với một đối tượng nào đó, chúng ta sẽ có những ý nảy ra, theo sau những cảm thọ nhất định. Vì cảm thọ đó chúng ta sẽ có một cái tưởng về người đó. Dựa trên cái tưởng đó, ta sẽ hành động, cư xử với người đó một cách tương ứng. Và hễ sau này tiếp xúc lại với đối tượng đó, ta sẽ có phản ứng tương tự, trăm lần như một. Đôi lúc tôi thấy Thầy nói sao trúng tim đen của mình quá. Hơi quê, tôi kín đáo nhìn quanh, hình như cũng có vài người, không, khá đông người cũng có vẻ mặt hơi … quê quê như mình. Chắc là họ cũng đang cảm thấy bị Thầy nói trúng tim đen. Tôi hơi yên tâm trở lại.

Ở Làng vui lắm, khi nào bạn thấy có nhiều của cải quá thì bạn buông bỏ bớt để cho người khác dùng. Sự thực tập buông bỏ này có thể xảy ra một cách tự nguyện bất cứ lúc nào trong năm. Đó là nói về mặt vật chất. Bạn cũng có thể buông bỏ về mặt tinh thần nữa. Thí dụ như bạn muốn buông bỏ một tập khí nào đó chẳng hạn. Mỗi năm một lần, trước khi An Cư Kiết Đông, bạn sẽ được khuyến khích buông bỏ cho thân tâm nhẹ nhàng, sẵn sàng bước vào An cư cho thanh tịnh. Hôm qua, tôi đang dùng một cây viết “xịn” mà tôi không hề biết giá trị của nó. Bởi vì cây viết này đã được ai đó buông bỏ và tôi lượm được. Một sư chị thấy tôi dùng cây viết đó và sư chị biết giá trị của nó nên sư chị hỏi xin để dùng cho chúng. Nếu như tôi không biết giá trị của nó thì chắc tôi đã không ngần ngại đưa tặng sư chị ngay, nhưng vì sư chị vừa mới cho tôi biết giá trị của nó nên tôi hơi ngần ngại. Chỉ một vài giây thôi. Chắc sư chị không nhận ra (tôi mong là sư chị không nhận ra). Và tôi biết là ý của mình đang đi theo một con đường mòn cũ rích mà nó đã đi suốt mấy chục năm qua, đó là hễ cái gì mình thích, cái gì mình nghĩ là có giá trị thì mình muốn giữ. May thay, khi ấy hình ảnh sư chị hiện ra trong tâm tôi. Đó là hình ảnh sư chị tôi cầm đôi giày mới tinh trên tay đến tặng cho sư cô để sư cô đi thiền hành và sư chị thì đi đôi giày cũ. Khi hình ảnh đó hiện ra, tôi biết là mình đang được yểm trợ. Tôi biết là ý của mình lần này không có cơ hội để đi theo con đường cũ nữa rồi. Tôi thật cảm ơn sư chị.

Vậy đó, bạn đâu thể biết được một hạnh nhỏ mà bạn đang hành trì có thể giúp người khác như thế nào có phải không?

cơm nghi lễ
cơm nghi lễ

Khoảng lặng

Những giây phút hạnh phúc

Chân Diệu Nghiêm

BBT Tạm dịch từ tiếng Anh

 


Ai chịu chơi

ai chịu chơiCó phải người chịu chơi là một người dám tu, dám học?

Có phải người chịu chơi là người dám làm, dám chơi?

Người chịu chơi phải chăng là người dám đối diện những gì đang nghịch cảnh?

Hay người chịu chơi là người dám từ bỏ những thú vui thường tình của xã hội để sống đời người tu trọn vẹn?

Con nhớ khi Thầy về Mộc Lan, Thầy đã cho chúng con một công án (có lẽ đối với con nó là một công án), đó là: “Ai chịu chơi?” Câu đó đã được khắc vào trên đá, nơi mà không có gì có thể xóa nhòa. Đối với con bây giờ, Mộc Lan cũng đã in sâu vào tâm trí, đã nằm gọn trong trái tim nhỏ của mỗi người, những người đã và đang cùng chung tay cho Mộc Lan được biểu hiện.

Khi mới bước chân về Làng Mộc, mọi thứ đối với con còn bỡ ngỡ. Thiền đường Hải Triều Lên ngày xưa khi con đến chỉ là những cái khung sắt trơ trọi, như bộ xương của một con khủng long to lớn đã hóa thạch. Xung quanh chỉ toàn bùn đất. Nhất là khi trời mưa thì ôi thôi, có ai muốn đi ra thiền đường mà chân được sạch?

Có hai câu thơ ngắn mà con thường nghĩ tới:

“Mỗi bàn tay xây đắp công trình
Mỗi ánh nhìn chan hòa từ ái”

Thật vậy, khi nhìn vào thiền đường lúc đã hoàn tất hầu như tất cả mọi người chứ không riêng gì ai, đều thấy được trên những bức vách thiền đường biểu hiện biết bao nhiêu bàn tay còn in dấu. Nó ghi lại bao kỷ niệm vui buồn của mỗi thành viên Làng Mộc. May mắn thay trong quá trình giúp các cô chú xây dựng thiền đường, chúng con không bị một tai nạn nào đáng tiếc xảy ra. Đó cũng đã là điều mầu nhiệm lắm rồi, không cần mong gì hơn được nữa. Và nếu có ai hỏi con, những tài năng đang có từ đâu ra, con dám chắc rằng nhờ đi tu mà có. Mỗi trung tâm con được ở cho con học được nhiều điều và phát huy thêm được những tài năng mới. Tăng thân đã cho con cơ hội học hỏi và cho đến khi con về Làng Mộc. Ngoài học thở, học cười, học đi trong chánh niệm, nay con lại được học thêm nghề đúc ngói, đúc hoa văn, xẻ gỗ, thậm chí cho đến đóng bàn, đóng ghế hay cả điêu khắc .v.v… Thử hỏi nếu không có cơ duyên vào Tăng thân thì chắc cả đời con cũng không biết mình sẽ làm được những gì trong cuộc sống.

Nhớ lại ngày đầu khi con phụ làm tháp chuông, chúng con giúp anh Ngân đúc từng viên ngói. Lúc đó niềm vui trong con rất lớn vì chính con không ngờ rằng con cũng có thể học đúc ngói được. Và khi đúc ngói xong thì chúng con được học đúc hoa văn. Đúng, chỉ khi mình thực chứng cũng như góp một bàn tay vào những gì mình làm thì mới thấy được nó quý, không những quý sức người mà còn quý hơn nơi mình đang ở. Con không thể quên hình ảnh của các cô chú vào mỗi đêm lúc trời mát đã đến tu viện để trải từng thảm cỏ cho kịp lên xanh trong khóa tu Thầy về. Hay có khi những ngày Chủ nhật quán niệm, các bác, các cô chú cho đến các em nhỏ cũng tới để cùng trải cỏ, làm đất hoặc trải dăm. Còn biết bao nhiêu niềm tri ân mà con không thể tả hết được.

Có một câu hát trong bài hát về Mộc Lan mà con thường nhớ: “những lúc ngồi bên nhau, em không nói nhưng ta hiểu thật sâu…” Con thấy rõ ràng là vậy. Chỉ khi mình đến và thực chứng thì mới thấy được cái đẹp, cái sâu sắc của nó, nơi đã và đang ôm ấp mình. Con may mắn được có mặt mỗi ngày trong thời gian đầu xây dựng thiền đường Hải Triều Lên và tháp chuông An Trú. Con được có cơ hội đóng góp, tu tập và học hỏi tại nơi này. Đó là một phước đức lớn mà con được nhận.

Khi mọi thứ hầu như hoàn tất, chúng con chỉ đợi đón Thầy và phái đoàn về cho khóa tu. May mắn lại đến cho chúng con là còn cơ hội gặp Thầy, được đi thiền hành với Thầy, làm thị giả cho Thầy, được nhìn Thầy viết thư pháp hay được ăn cơm chung với Thầy. Hạnh phúc lớn nhất mà con nhớ như trong giấc mơ mà Thầy từng kể là “nấu cơm cho huynh đệ từ xa về cùng ăn”. Đúng thật vậy, anh chị em từ khi loạn lạc chưa gặp mặt nhau, nay được gặp lại trong một không khí gia đình thân quen, tay bắt mặt mừng dù còn nhiều người con chưa hề gặp. Con nhớ có lần ba con kể cho chị em con là ba mẹ đặt cho các con tên giống nhau để sau này các con vẫn biết được đó là chị là em của mình, cùng chung một dòng máu. Thì trong tăng thân mình cũng vậy, tuy không hề biết nhau nhưng mình cùng chung một tăng thân, một gia đình tâm linh, cùng một Thầy nên không có gì có thể ngăn cách được những nụ cười, những cái ôm hay những cái bắt tay nhau sau một thời gian dài mới hội tụ.

Con thấy hạnh phúc trong con quá lớn, những điều kiện cũng luôn có mặt đó cho mình nên không cần đòi hỏi gì thêm. Con chỉ cần thả mình theo dòng chảy thì sẽ được nâng niu và ôm ấp. Như vậy là cũng đủ lắm rồi, không cần tìm cầu chi nữa. Và con thấy người chịu chơi cuối cùng có phải là người dám tiếp tục bước theo dòng chảy của Tăng thân, dám tiếp tục cống hiến cho Tăng thân mà không hề lùi bước trước những khó khăn trên suốt đoạn đường.

Đây là giây phút huyền thoại

Chân Vĩ Nghiêm

Bữa cơm gia đình áo nâu tại EIAB
Bữa cơm gia đình áo nâu tại EIAB

Những giây phút được sống bên Thầy là những khoảnh khắc mầu nhiệm, các kỷ niệm đó đã đi vào huyền thoại, nhưng nó vẫn sống mãi trong trái tim con. Tình thầy trò đã nuôi dưỡng, chắp cánh cho nguyện ước ban đầu của con bay cao và bay xa.

Ngày trước, con chỉ được gặp Thầy qua những bài pháp thoại nên con chưa nếm được hương vị tình thầy trò ngọt ngào và sâu lắng mà Thầy đã cho chúng con. Con nhớ lần đầu lên Phương Khê con còn bỡ ngỡ, lơ ngơ không biết phải làm gì, chỉ đứng im nhìn quanh nhìn quất. Thầy hỏi chuyện, con thưa nhưng còn ngại ngùng và sau đó không lâu con được Thầy chỉ dạy rất nghiêm trong buổi pháp thoại xuất sĩ, con càng sợ hơn, và định tránh Thầy một tuần không dám gần. Không biết xui hay là hên nữa mà ngay trong tuần đó, con lại được làm thị giả Thầy và còn thường xuyên lên Phương Khê làm việc vào những ngày làm biếng, dù con có muốn tránh cũng không được, đúng là “tránh trời không khỏi nắng”. Nhưng càng ở gần Thầy, con càng thương kính Thầy nhiều hơn, con học được rất nhiều trong các bữa cơm, trong cách chỉ bày nho nhỏ nếu không chánh niệm, không để tâm thì mình khó nắm bắt được những thông điệp Thầy nhắn gởi trong những hành động, những câu nói đó. Con cảm nhận trong tình thầy trò, con nếm được cả tình cha con, cái cảm giác ấy rất quen thuộc, thân thương và ấm áp làm sao. Một không khí gia đình đầm ấm, và con tha hồ tắm, bơi lội nghịch ngợm trong suối nguồn hạnh phúc ấy.

Sau lần được dạy dỗ ấy, hình như Thầy biết con buồn và khóc nhè một ngày, nên hôm sau con tránh, con không dám đến gần Thầy, chỉ xá chào thôi, Thầy là người hỏi chuyện con trước, mỉm cười với con nhưng mặt con vẫn buồn xo. Thầy đến gần và đặt tay lên đầu con, như muốn dỗ dành, con cảm nhận tình thương của Thầy. Lúc đó con suýt khóc, nhưng cố nén lại, con muốn nói là con không giận Thầy đâu, con hiểu qua đó Thầy muốn dạy con, muốn cho con dễ thương hơn. Nhưng con không nói nên lời, chỉ cảm nhận thôi. Đang viết lại những dòng này, nước mắt con lại rơi vì hạnh phúc và cảm động. Con thường tự an ủi mình, tự nói với mình như cách Thầy thường nói: “Vĩ Nghiêm ơi, thở đi con, cười đi con, đừng khóc nhè nữa!” Nhiều khi con cũng mơ ước nếu được Thầy viết cho câu đó để mình treo trên bàn học, để nhắc nhớ mình mỗi ngày, nhất là những khi buồn, khi tủi thân mà thực tập thì hạnh phúc biết mấy.

Ngày hôm sau, con lại làm việc trên Phương Khê, nhưng không muốn ở lại ăn cơm, bởi con phải để các chị em khác tận hưởng “xôi nếp một, đường mía lau” ấy, nếu có thêm sư mẹ và con, thì Thầy lại sớt cơm cho chúng con, chăm sóc chúng con mà đáng lý ra cái diễm phúc ấy là của các chị em khác, nên con đi cửa Phương Khê ra ngoài đợi sư mẹ. Sư mẹ ra chào Thầy, Thầy bảo ở lại ăn cơm nhưng sư mẹ từ chối vì có Vĩ Nghiêm đang đợi ở ngoài xe. Con nghe sư mẹ kể lại, lúc đó Thầy khựng lại một chút. Nghe như thế lòng con lại nhói đau, con thương Thầy quá, có thể Thầy nghĩ con còn buồn nên lánh mặt chăng?

Con thấy mình là người may mắn, khi Thầy la, Thầy dạy thì Sư cô dỗ dành lắng nghe, phân tích cho con hiểu, và giúp con giải quyết những khó khăn mà con đang gặp phải, cởi bỏ được gánh nặng trong lòng để con vui sống với những phút giây hiện tại đẹp đẽ và mầu nhiệm. Sư cô kể lại những kinh nghiệm quá khứ, những ngày đầu mới xây dựng Làng để con hiểu và cảm thông hơn. Những câu chuyện Sư cô kể rất vui, thú vị nhưng nó lại làm nhẹ vơi nỗi lòng con.

Thầy cũng thế, sau những bữa cơm trưa, cơm chiều, Thầy thường kể chuyện, con nhớ những câu chuyện Thầy kể giúp con tháo gỡ và hiểu và thương kính Thầy nhiều hơn. Tấm chân tình Thầy dành cho tất cả các con rất sâu rất đậm. Con nhớ ngày đó Thầy kể về Văn Lang Dị Sử, Thầy nói tại sao Thầy viết phần cuối lại không để cho vua An Dương Vương giết Mỵ Châu, vì Mỵ Châu vô tư, trong sáng nên không biết mình nối giáo cho giặc, bởi Thầy muốn tránh tình trạng cha phải giết con. Con nghe đến đó, con thấm lắm và hiểu hơn tại sao Thầy đã dạy mình và thầm cảm phục cái ân đức cao dày ấy. Con ví Thầy là An Dương Vương và chúng con là những Mỵ Châu, đôi khi cứ vô tư, trong sáng quá mức lại làm Thầy nhọc lòng khó xử.

Trong những bữa cơm, Thầy luôn quan tâm từng người một, gắp thức ăn, sớt thêm cơm, gọt táo. Sự chăm sóc nho nhỏ đó làm con cảm động quá chừng. Thầy là một vị Thầy lớn, bậc Thầy đáng kính của Phật tử khắp nơi trên thế giới, nhưng với các con, Thầy gần gũi, giản dị, tự nhiên, Thầy làm cho các con với tất cả tình thương. Từ trong cách hành xử đó ẩn chứa đằng sau là một tấm lòng rộng lớn bao la, thương yêu không phân biệt, dung chứa được tất cả mọi người. Con thầm nghĩ, chỉ có Thầy mới làm như thế, Thầy là vị Thầy có một không hai trên thế giới, thường đệ tử phải xới cơm, dâng trà, gọt táo mời Thầy, không khi nào Thầy làm điều đó cho trò cả. Ngay trong gia đình, ba con dù ngồi bên cạnh nồi cơm mà ba vẫn đưa chén cho me hay các con xới cơm, nhưng Thầy đã làm điều đó cho các con. Giây phút đó mầu nhiệm và thiêng liêng làm sao! Có hôm Thầy bảo: “Vĩ Nghiêm đưa bát đây Thầy cho con thêm miếng cơm nữa”. Thật sự con đã no và từ chối, nhưng khi nhìn Thầy và con âm thầm đưa bát cho Thầy, xin Thầy cho ít thôi. Con đùa “ép dầu ép mở ai nỡ ép ăn”, đó là câu nói mà khi còn ở nhà con hay nói với me, khi bị ép phải ăn thêm, bởi tướng con “Xì ke” quá, Thầy cười hiền lành, “ừ Thầy ép cơm”. Những lúc đó trong con đều thầm nguyện rằng sau này con sẽ hành xử đẹp với các sư em, các thế hệ tương lai, như Thầy đã làm với chúng con. Hình ảnh đó đã in đậm trong tâm trí con, con được tưới tẩm mỗi khi được cùng Thầy ăn cơm, ngồi chơi nghe Thầy kể chuyện. Chỉ có làm người tu, làm con Thầy mình mới có những giây phút mầu nhiệm đó. Biết bao học giả, những nhân vật nổi tiếng, các doanh nhân khao khát được có một buổi uống trà với Thầy, nhưng rất hiếm hoi, thỉnh thoảng họ vẫn có, nhưng làm sao nếm được hương vị tình Thầy trò sâu sắc, đầm ấm dễ thương như vậy. Nếu họ muốn thì phải xuất gia thôi.

Thường trong những bữa cơm con đều được nghe những câu chuyện ngày xưa của Thầy khi Thầy còn là một người tu trẻ, có những câu chuyện rất lý thú như thư viện trên cây, tô bún nước tương hay lần đầu tiên Thầy học tiếng Anh, chỉ được học vài buổi với một ông thầy thôi. Hoặc có khi nghe Sư cô kể chuyện ngày xưa, khi mới xa quê hương, Thầy không có đủ áo quần để mặc, chỉ có cái áo tràng và vài bộ vạt hò cũ mèm. Lúc đó con nhìn Thầy mà thương quá, những gì chúng con tận hưởng hôm nay là cả một đời Thầy hy sinh vun đắp. Đến bây giờ Thầy vẫn giản dị như xưa, vẫn chiếc áo tràng nâu nón lá, vẫn thích ăn những món ăn dân dã mà người dân Việt Nam mình ưa thích như măng kho, dưa cải chấm nước tương, kim chi…

Ngày Noel, con lên Phương Khê sớm, vì là thị giả nên con được phép vào trước chào Thầy. Con kể đủ thứ chuyện cho Thầy nghe, con nói cho Thầy nghe về ước mơ của mình, Thầy cũng vui với ước mơ của con, Thầy còn nói mình sẽ thực hiện được giấc mơ đó ở Việt Nam, mình sẽ làm gì v.v… Đằng sau câu nói đó, con cảm nhận cái ân tình Thầy dành cho Việt Nam rất sâu nặng. Thầy luôn chắp cánh cho những ước mơ của các con, của tăng thân. Con đã và đang thực hiện giấc mơ ấy mỗi ngày phải không thưa Thầy?

Niềm hạnh phúc lớn lao của con là được thưởng thức món canh kim chi do Thầy nấu, ngon ơi là ngon, thơm ơi là thơm, hương vị chua chua cay cay đậm đà, nóng hổi, khi đã ăn được một lần rồi thì cứ muốn ăn hoài. Mỗi lần thấy Thầy vào tủ lạnh lấy hủ kim chi và tàu hủ là lòng con vui như hội, con nhủ thầm: “Trưa này được ăn canh kim chi của Thầy nữa rồi, thích quá đi.” Con cũng đi theo loay hoay lấy cái này cái nọ để học cách nấu món canh đó, nhưng con chưa nấu được, dù đã được ăn ba bốn lần. Thầy từng nói người nhà quê Việt Nam thường ví tình mẹ “như chuối ba hương, như xôi nếp một như đường mía lau”, với con tình Thầy cũng thơm cũng ngọt mà cũng có lúc chua cay nên con cũng muốn ví tình Thầy “như táo Fuji, như xôi nếp một như nồi kim chi” đầy đủ hương vị thơm ngon cay đắng ngọt bùi, nhưng càng nếm càng thích, nhớ mãi không thôi.

Con nhớ hôm cuối năm Thầy nấu canh kim chi gần xong thì Sư cô và con phải đi bưu điện gởi thư gấp, bưu điện ở Duras chỉ mở đến 12h trưa thôi. Khi con xin phép đi, Thầy nhìn con rồi nói: “Đi về sớm nghe con.” Con dạ mà lòng cảm thấy ấm áp lạ thường, ai cũng muốn đi nhanh về ăn cơm với Thầy để Thầy khỏi chờ. Thế nhưng ngày đó Sư cô và con lại đi lạc, cuối cùng về nhà trễ. Thầy đang dùng cơm với quý sư chị sư em, nhưng không quên để dành canh kim chi còn nóng cho Sư cô và con. Chúng con ngồi ăn cơm với Thầy vui vẻ trong bữa cơm gia đình cuối năm.

Có hôm Thầy nói: “Các gia đình thời nay thường không có các bữa cơm chiều quay quần bên nhau, họ chạy theo công việc và không có mặt cho nhau, nhưng thầy trò mình thì vẫn còn giữ được điều đó, và khi hướng dẫn cho các em nhỏ thực tập chánh niệm thì mình phải giúp cho các em biết cách tận hưởng, biết cách tạo niềm vui trong các bữa cơm chiều với gia đình. Điều đó rất văn minh, muốn được như vậy thì phải thực tập lắng dịu cảm xúc, cha mẹ không nên la các con trong các bữa ăn. Tội nghiệp các em nhỏ, khi bị la thì nó chỉ ăn trong buồn tủi, giận hờn. Ông bà ta ngày xưa có câu: “Trời đánh tránh bửa ăn.” Mỗi bữa cơm Thầy đều dạy thêm cho con một kinh nghiệm quý báu để con giàu có hơn, khi chia sẻ với các em nhỏ trong các chương trình trẻ em.

Con học được cách hành văn, cách edit sách của Thầy rất tự nhiên, rất khéo, chỉ cần bỏ bớt vài câu lủng củng không cần thiết, hoặc thêm một vài liên từ, hoặc thay thế một vài từ làm cho câu văn ý nghĩa hơn, gọn hơn và tự nhiên như của người viết. Không cần trau chuốt mà câu văn giản dị, trong sáng, nhẹ nhàng, khỏe khoắn, rõ nghĩa và suôn sẻ. Thầy không nói nhiều nhưng những gì Thầy làm đều là cách Thầy âm thầm chỉ cho con những vụng về và muốn con học để hoàn thiện chính mình. Cách hướng dẫn đó của Thầy rất ấn tượng với con, lâu lâu chỉ nói một câu thôi nhưng câu nói đó rất có giá trị, đánh động trái tim con, giúp con thay đổi nhận thức và làm lớn mạnh thêm bồ đề tâm.

Có nhiều ngày con dọn dẹp ngoài sân, nhìn thấy Thầy ngồi đọc sách bên bàn học cạnh cửa sổ, hình ảnh đó đẹp lắm, con cứ đứng ngoài trời lạnh để được ngắm nhìn. Có khi con nhè nhẹ đi vào phòng Thầy viết thư pháp để được chiêm ngưỡng những phút giây kỳ diệu. Dù con đi rất nhẹ nhưng Thầy vẫn biết có người phía sau, Thầy thường hỏi: “Ai đó?” Và câu trả lời luôn là: “Dạ thưa Thầy, con!” Thầy viết xong, con đem từng bức đi phơi. Thầy nói: “Thư pháp thầy viết không đẹp nhưng người ta thương thầy nên họ mua thôi”. Thật sự thì con thấy thư pháp của Thầy đẹp lắm, bởi con được ngắm cách viết của Thầy mới thấy được chân giá trị của nó. Nó đi ra một cách tự nhiên như chính hơi thở của Thầy, mỗi bức dù to hay nhỏ Thầy đều đặt hết lòng, hết tình thương và mong cầu cho người ngắm nó có được một thông điệp nhắc nhở họ quay về thực tập để có hạnh phúc bình an. Không phải nhà thư pháp nào cũng có thể làm được như Thầy. Họ có những lúc viết rất xuất thần, rất đẹp nhưng phải dụng công, đôi khi tập trung đến độ căng thẳng, họ thiếu chất buông thư, sự thực tập niệm định tuệ như Thầy. Thầy viết thư pháp cũng giống như lúc Thầy uống trà, đi thiền hành vậy, tự nhiên, buông thư bình an và hạnh phúc, nên bức nào cũng chứa đựng pháp thân mầu nhiệm của Thầy. Con đứng lặng yên chiêm ngưỡng giây phút tuyệt diệu đó, một bức tranh, một bức thư pháp không mực tàu giấy gió, nhưng đó là tuyệt tác của muôn đời.

Tình Thầy dành cho anh chị em chúng con rất nhiều, rất đẹp, mỗi phút giây đều trở thành một huyền thoại. Thầy đã tạo ra những câu chuyện rất bình dị đời thường nhưng những khoảnh khắc đó trở thành truyền kỳ. Đúng như câu thần chú mà chúng con hay đọc: “Đây là giây phút huyền thoại và truyền kỳ”.

Đại trượng phu

 

Con có rất đông

Các anh chị em mang cùng dòng họ

Dòng họ Thích chí nguyện đại trượng phu

Xa cha mẹ tình yêu thương máu mủ

Nhập vào đời xuất sĩ sống ngao du

Hạnh phúc thay nếp sống của người tu

Không vướng bận nợ nần con với cái

Bỏ lại đời

Bỏ lại mái tóc xanh

Bỏ lại lợi danh

Bỏ lại quyền hành trong xã hội

Bỏ lại rồi

Các buổi tiệc thế gian

Chỉ có mang theo hành trang

Là hình hài cơ thể

Của cha mẹ trao truyền

Của thế hệ tổ tiên trao

Một giọt máu đào

Chảy vào dòng huyết thống

Một hơi thở nhẹ

Khai triển đời sống tâm linh

Con không mong mình

Bình yên trên lộ trình còn lại

Mà chỉ nguyện cầu cho tình huynh đệ

Vẫn mãi cận kề bên nhau

Để cùng mong hạt giống thầy trao

Gieo vào nhân loại biết bao ân tình.

 

Sư cô Đồng Đoan

Không cần tranh đấu với bóng tối

Ban biên tập phỏng vấn sư chú Trời Tự Tại và chuyển ngữ từ tiếng Pháp

sư chú Trời Tự Tại

Sư em có thể giới thiệu ngắn gọn về mình được không?

Sư em tên là Chân Trời Tự Tại, người Pháp. Sư em được xuất gia vào tháng 7 năm 2011 trong gia đình Cây Trúc Tím. Trước khi xuất gia, sư em đã làm cảnh binh (cảnh sát của quân đội) trong 18 năm.

Sư em đã bắt đầu tìm kiếm con đường tâm linh như thế nào và nhân duyên nào đã đưa sư em đến với Làng Mai?

Tất cả đã bắt đầu bằng chuyến công tác 6 tháng ở Congo, châu Phi. Lúc ấy sư em mới 29 tuổi. Khi sư em tới, cuộc chiến ở đó chỉ mới kết thúc. Sư em đã được chứng kiến một quang cảnh tan hoang. Sư em đã được gặp những người sống trong cảnh thực sự nghèo đói nhưng vẫn hạnh phúc và tràn đầy niềm vui sống. Cuộc gặp gỡ này đã đánh động sư em rất mạnh bởi vì sư em đã luôn tin rằng hạnh phúc tùy thuộc vào những điều kiện vật chất.

Sư em đã từng có một căn hộ lớn, xe hơi, nhiều điều kiện thuận lợi nhưng sư em vẫn thấy rất bất hạnh. Còn ở đây, sư em đã thấy trước mặt mình những người rất hạnh phúc mà trong tay không có gì nhiều. Nhiều người trong số họ nói với sư em: “Tôi chỉ sống trọn ngày hôm nay bởi vì tôi cũng không biết ngày mai tôi còn được sống hay không.” Chính câu nói đó đã đánh động sư em một cách sâu sắc.

Khi sư em trở lại Pháp, một điều gì đó tiếp tục rung động và làm sư em trăn trở. Trong cuộc sống của mình, sư em đã trải qua nhiều khổ đau: những vết thương từ thời ấu thơ, cuộc ly dị… và sư em rất sợ rằng niềm hạnh phúc mà sư em đã nếm được ở châu Phi sẽ mất đi. Chính lý do đó đã khiến sư em bắt đầu quan tâm tới con đường tâm linh và “Nghệ Thuật Hạnh Phúc” của Đức Dalai Lama, là cuốn sách đầu tiên mà sư em đọc. Sư em đã bắt đầu thực tập đạo Bụt theo truyền thống Tây Tạng từ 2002 đến 2007.

Sư em có theo đạo Cơ Đốc giáo trong thời gian đó không?

Dạ, cũng không hẳn. Thực sự là trong sư em luôn có một tiếng gọi từ trái tim nhưng sư em đã không tự cho phép mình nghe thấy tiếng gọi ấy. Lúc sư em 6 tuổi, sư em đã nói với mẹ: “Mẹ ạ, sau này con muốn làm cha xứ.” Hoàn cảnh đã đưa sư em trở thành cảnh binh, nhưng trong đáy lòng mình, sư em đã luôn mơ ước về một đoàn thể sống tươi vui, an lạc. Sư em không muốn tin rằng đức Chúa hiện diện ở một nơi xa xôi nào đó, không liên hệ gì đến mình cả. Có một điều gì đó trăn trở trong sư em nhưng sư em cũng không biết đó là điều gì.

Thực tập đạo Bụt có ảnh hưởng gì đến công việc của sư em không?

Khi mới bắt đầu thực tập, sư em đã đặt lại vấn đề về công việc của mình. Sư em tự hỏi mình có cần thay đổi nghề nghiệp hay không. Sư em làm trong đội cảnh binh, can thiệp bằng vũ lực. Công việc của sư em đòi hỏi phải dùng vũ lực để chống vũ lực: phá cửa, bắt tội phạm, luôn sẵn sàng dùng súng… tất cả những cái đó tưới tẩm hạt giống bạo động trong sư em. Sư em không muốn tiếp tục như vậy nữa. Thế nên sư em xin thay đổi nhiệm vụ rồi sau đó sư em được phép không phải sử dụng vũ khí nữa.

Sau đó, chuyện gì đã xảy ra cho sư em?

Năm 2007, trong trung tâm thực tập nơi sư em hay lui tới, một vụ bê bối xảy ra khiến cho sư em thất vọng đến mức muốn quay lưng lại với đạo Bụt.

Cùng lúc đó, sư em đã gặp một phụ nữ và đã có một mối quan hệ say đắm. Năm 2009, cô ấy nói với sư em: “Khi em mới gặp anh, em cảm nhận một nguồn sáng tỏa ra từ tâm hồn anh và đó chính là điều đã cuốn hút em tới với anh. Nhưng dường như em đang làm cho ánh sáng ấy càng ngày càng lu mờ.” Rồi cô nói thêm: “Vì tình yêu, em sẽ ra đi.” Lúc đó, sư em chẳng hiểu gì. Sư em nghĩ: “Lý do gì mà kỳ quặc thế?” Sư em rất tha thiết với người phụ nữ đó và không muốn bị bỏ rơi. Sự thực là cô ấy đã rất thương sư em. Còn sư em, vào thời điểm đó, chỉ đang tìm kiếm để đáp ứng những đòi hỏi của mình. Sau khi cô bạn ấy ra đi, tinh thần của sư em trở nên suy sụp. Sư em đau khổ nhiều và như tất cả những lần khác, sư em chạy trốn những khổ đau của mình bằng công việc, chơi thể thao và những trò giải trí khác.

Khi chị của sư em nhận thấy sư em không ổn, chị đã mời em tới đón năm mới 2010 tại nhà chị cùng với những người bạn khác. Lúc ấy, một sự kiện đặc biệt đã tới với sư em. Vào thời điểm giao thừa, khi tất cả mọi người ôm hôn nhau, sư em tìm một nơi khuất, chắp hai tay lại và nói: “Trời ơi! Xin hãy lắng nghe tôi. Tôi phải… tôi phải dừng tất cả lại!”

“Tôi phải thoát khỏi những trói buộc ấy!”(cười)

Dạ, “Tôi phải thoát khỏi những trói buộc ấy!” Sư em không thể cứ tiếp tục đi vòng quanh mãi. Đó là một lời cầu nguyện từ tận đáy lòng của sư em. Bốn hôm sau, sư em bị ốm rất nặng. Sư em nằm bẹp trên giường, hoàn toàn kiệt sức. Không còn nơi nào để trốn chạy nữa, sư em đã buộc phải đối diện với chính mình. Sau một tuần lễ, sư em nhìn lên tường, ngắm bức ảnh của sư em khi mới 5 tuổi. Sư em cũng không biết vì sao nhưng sư em đã đứng dậy, cầm bức ảnh xuống nhìn và thốt lên: “Xin lỗi!” Trong niềm hối hận ấy, sư em bắt đầu khóc, khóc như chưa bao giờ được khóc. Chắc sư em khóc cho tất cả những khổ đau mình đã trải qua. Sau đó, sư em cảm nhận một sự nhẹ nhõm từ sâu thẳm trong con người mình. Sư em có cảm tưởng như mình được trở lại làm em bé, không cần phải đóng bất cứ một vai nào nữa. Sư em nhận ra rằng mình đã sống trong một cái “áo giáp”. Sư em đã luôn là người rất nhạy cảm nhưng sư em đã không tự cho phép mình sống với tính ấy. Bây giờ chính tính ấy đã trở thành sức mạnh đích thực của sư em.

Sư em đã ngủ thiếp đi và hôm sau tỉnh dậy trong một trạng thái tĩnh lặng mà sư em chưa bao giờ biết tới.

Trước đó, sư em không bao giờ biết lắng nghe cơ thể mình. Sư em luôn nhìn cơ thể sư em như một thứ gì đó để khai thác và trưng bày. Sư em sống bằng cái nhìn của người khác. Tại sao? Tại vì sư em đã không có khả năng thương yêu chính mình. Sư em nghĩ rằng điều này đã bắt đầu khi mẹ sư em bỏ đi lúc sư em 6 tuổi. Đó là một chấn thương tâm lý lớn đối với sư em. Sư em chỉ còn bố ở bên cạnh và bên trong mình là một sự đổ vỡ lớn. Sư em đã nghĩ một cách ngây thơ: “Mẹ bỏ mình vì mình là đứa con trai hư.” Trong tuổi thiếu niên, sư em đã giận mẹ đến mức không muốn nhận mẹ nữa và cũng không muốn nghe nói tới họ hàng phía bên ngoại. Khi làm như vậy, nội tâm của sư em luôn bị giằng xé, sư em đã không được là mình.

Nhưng khi đã biết thương mình, sư em đã tìm lại được mẹ trong mình và hòa giải được với phần nữ tính, dịu dàng, nhạy cảm trong mình.

Sau đó, sư em thấy cần phải tìm lại mẹ. Gặp lại sau nhiều năm trời, mẹ nói với sư em: “Mẹ đã bỏ các con, mẹ hối hận vô cùng, mẹ không thể tha thứ cho mình được.” Sư em trả lời mẹ: “Con có mặt đây để giúp mẹ vượt qua niềm hối hận ấy.” Sư em còn nói thêm: “Mẹ có cảm nhận được sự an bình trong lòng con không?” Mẹ nói: “Mẹ có thấy.” “Đó là nhờ vào sự ra đi của mẹ. Con cảm ơn sự ra đi đó!” Mẹ rất ngạc nhiên khi nghe sư em nói như vậy. Sư em giải thích thêm: “Chính vì con đã có thể đối diện được với sự ra đi của mẹ, chính vì con đã đối diện được với những khổ đau trong lòng mà con đã mở trái tim mình ra và tìm được bình an như hôm nay.” (Hiện giờ, dù những khổ đau của mẹ vẫn còn, nhưng đã giảm hơn trước nhiều và mỗi khi nói chuyện, hai mẹ con chia sẻ nhiều điều thật dễ thương).

Sự chuyển hóa trong nội tâm của sư em cũng đã có những ảnh hưởng không nhỏ tới nhiều mặt trong cuộc sống của sư em, trong đó có cả cách làm việc của sư em. Có một lần trong khi sư em đang ngồi thiền một mình trong văn phòng, sư em nhận được điện thoại của đồng nghiệp yêu cầu sư em tới can thiệp hỗ trợ cho một vụ việc nhạy cảm. Khi sư em tới nơi, sư em thấy mười đồng nghiệp của mình vây quanh một gã to con cao hơn 2 mét đang giữ một người đàn ông làm con tin. Mọi người đều giận dữ và không khí càng lúc càng căng thẳng. Thật may, nhờ vào năng lượng thiền tập trong mình, sư em đã có thể tiến về gã to con, nhìn anh ta trầm tĩnh, không phán xét và nói một câu giản dị: “Anh biết là anh làm thế không đáng mà!” Thật bất ngờ, anh ta trả lời: “Phải, anh nói đúng” và anh thả con tin ra. Sau này, các đồng nghiệp của sư em nói: “Chuyện xảy ra thật không thể tin được. Tất cả đã được giải tỏa chỉ trong chốc lát dù rằng câu nói của anh quá bình thường.” Sư em không nói gì nhưng trong lòng mình biết rằng năng lượng tu tập trong sư em đã đóng vai trò quan trọng trong sự giải quyết tốt đẹp cho sự việc ấy.

Sư em tò mò muốn biết xem có ai từng trải qua kinh nghiệm chuyển hóa tương tự hay không. Sư em tới hiệu sách. Có một người đàn ông, dầu sư em chưa nói mình tìm gì, đã nói với sư em: “Nếu tôi là anh, tôi sẽ đọc cuốn sách này.” Đó là cuốn “Hiệu lực cầu nguyện” của Thầy.

Tất cả những gì sư em được đọc trong cuốn sách này đã đánh động mạnh tới sư em, dường như đó cũng là sự phản chiếu của những gì đẹp nhất trong tâm hồn sư em. Không lâu sau đó, sư em lên xe mô-tô đi đến Thiền đường Hơi Thở Nhẹ tại Paris. Vào lúc năm giờ sáng, sư em gõ cửa Thiền đường. Như thể là đợi sẵn, sư cô Giác Nghiêm mở cửa cho sư em với nụ cười hiền hậu trên môi. Hai người nhìn nhau như hai người bạn cũ gặp lại. Điều này thật không thể giải thích nổi.

Sau thời ngồi thiền, sư em ngắm nhìn các thầy, các sư cô đang có mặt đó và có cảm giác mình đã tìm lại được những người thân thương của mình. Lúc ấy, trong đầu sư em khởi lên một suy nghĩ: “Trời đất! Mình đang tự vẽ lên một cuốn phim rồi!” (cười) Nhưng điều đáng ngạc nhiên hơn là ngay lúc ấy, sư cô Mai Nghiêm đứng dậy, tiến về phía sư em và nói: “Chúng ta biết nhau, phải không?” (cười) Sư em cười phá lên và đáp lại: “Chắc chắn rồi, mình biết nhau mà!” rồi cả hai tìm cách nhớ lại xem đã gặp nhau ở đâu nhưng không thành công. Với tính hài hước thường nhật của mình, sư cô Mai Nghiêm nói với sư em: “Chú đã quên mất rằng chú đã tới rồi.”

Một thời gian sau đó, quyết định trở thành tu sĩ đến với sư em một cách hiển nhiên. Sư em đã được tái sinh.

Sau lần đầu tiên sư em tới Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, sư em đã thấy rõ là mình muốn làm tu sĩ trong tăng thân Làng Mai ư?

Dạ, vâng. Đối với sư em, điều này đã là một điều hiển nhiên không thể giải thích được. Sư cô Giác Nghiêm nói với sư em: “Chú cứ từ từ, chú có thời gian mà”, nhưng sư em trả lời: “Nhưng thưa sư cô, việc này đối với con đã quá rõ rồi.” Sư cô đã thấy điều ấy trong ánh mắt sư em. Tuy vậy, sư cô vẫn nói: “Sư cô hiểu. Nhưng dù sao, chú vẫn nên tới Làng Mai trước khi quyết định”, bởi vì lúc ấy sư em chưa hề đặt chân tới Làng Mai. (cười)

Sư em tới Làng lần đầu năm 2010. Sư em tham gia vào một khóa tu dành cho người nói tiếng Pháp và một khóa tu sức khỏe. Không còn nghi ngờ gì nữa, sư em đã tìm được chỗ đứng của mình. Sư em biết rằng chỉ bằng cách tiến bước trên con đường xuất gia thì sư em mới có thể tiếp tục chữa lành những vết thương trong mình, sống hài hòa với chính mình và từ đó có thể có mặt cho người khác bằng tấm lòng cởi mở và đầy tình thương.

Đạo Bụt đang cắm rễ ở Tây phương. Đối với sư em, điều này đem lại những khó khăn cũng như những hy vọng gì cho tương lai?

Thật ra, sư em không nghĩ nhiều tới vấn đề đó. Đối với sư em, đạo Bụt không chỉ là một chủ thuyết. Sư em mang áo của một tu sĩ đạo Bụt nhưng sư em luôn chú ý để không tự giam mình vào ý niệm nhỏ hẹp rằng mình là một “tu sĩ”, rằng mình là “tín đồ đạo Bụt”. Điều quan trọng nhất vượt lên trên cả “đạo Bụt”, “đạo Chúa” hay bất cứ một tôn giáo nào là chánh niệm, tình thương và sự hiểu biết. Chỉ có những điều đó thôi mới có thể chạm tới tất cả mọi người. Theo sư em hiểu, cốt lõi của Thiền tông cũng nằm ở chỗ đó. Thiền là sự sống và sự sống luôn biến chuyển, rộng mở. Sự sống là sự tiếp chạm không ngừng. Sức sống mãnh liệt và khả năng thích ứng của Thiền tông làm sư em rất thích thú. Thiền tông Nhật Bản không giống với Thiền tông Nam Hàn và cũng khác với Thiền Việt Nam. Thiền tông ở Tây phương cũng sẽ tìm thấy hình thái riêng của mình.

Trong nghề nghiệp trước đây của sư em, sư em đã phải đối diện với rất nhiều tệ nạn xã hội. Theo sư em, gốc rễ của những khó khăn mà giới trẻ gặp phải là gì? Là người tu, mình có thể giúp gì cho xã hội?

Giới trẻ thiếu hướng đi. Xã hội hiện nay không có khả năng chỉ đường cho họ. Giới trẻ cũng rất thiếu sự quan tâm và tình thương của người lớn. Sư anh biết không, phần lớn người trẻ làm bậy chỉ để nhằm thu hút sự chú ý, để người khác thấy được sự tồn tại của họ.

Trong một khóa tu mùa hè, sư em chăm sóc các em thiếu niên. Hôm đó một cụ già tới giới thiệu đứa cháu 16 tuổi với sư em. Ông nói: “Tôi không biết phải làm gì với nó nữa. Nó bán ma túy, quấy phá suốt ngày và không bao giờ nghe lời cha mẹ.” Em trai đó nói ngay: “Tôi không muốn đến đây. Tôi chẳng có gì để làm ở đây hết. Tôi sẽ không nói gì hết và không làm gì hết!” Cậu bé đã làm cho sư em nhớ tới mình khi cùng lứa tuổi. Sư em nhìn cậu bé đó và nói: “Em cũng giống hệt anh khi anh 16 tuổi. Em không cần làm trò nữa. Anh biết rằng em là người rất dễ thương.”

Cậu bé nhìn sư em rất ngạc nhiên và nói: “Anh là thầy tu, anh là một người hoàn hảo. Còn em thì khác.” “Em lầm rồi. Anh sẽ cho em thấy” và sư em đã đem cho cậu bé xem hình sư em trước kia, mặt mũi hung dữ, hai tay hai khẩu súng. “Em thấy không? Có thấy tất cả những bạo động này trong anh không? Dù rằng hồi đó, anh đứng ở phía cảnh sát chứ không phải phía của bọn côn đồ nhưng kỳ thực bạo động nào cũng là bạo động. Không có ‘bạo động chính nghĩa’ hay ‘bạo động phi chính nghĩa’. Thời đó, anh đã luôn tìm kiếm để trở thành một người khác, anh không biết sống với chính mình nên cũng không thấy được sự nhạy cảm trong anh.” Dần dần, qua những lần chơi với nhau và chia sẻ, em trai ấy đã mở lòng được. Em đã tham gia vào khóa tu và đến ngày cuối cũng không muốn rời Làng về nhà nữa. Ông của em đã tới, vừa cảm ơn sư em vừa khóc. Mới gần đây, sư em nhận được thư cảm ơn của em trai này. Đó quả là một câu chuyện đẹp và cảm động.

Sư em cũng thấy rằng chúng ta rất cần học cách có mặt thực sự cho sự sống. Chúng ta luôn chạy trốn, chạy trốn khỏi chính mình. Chúng ta tự gán cho mình quá nhiều ý niệm về bản thân nhưng những ý niệm ấy không phải là hiện thực. Thực tại vượt lên trên ngôn từ, nó chỉ có mặt khi tâm chúng ta trở về hợp nhất với thân. Trong trạng thái ấy, ta thấy đầy đủ, không còn cần phải tìm kiếm gì nữa. Sự mãn nguyện thực sự chỉ có thể nếm được khi mình biết trở về với mình – bây giờ và ở đây.

Tăng thân của mình có nhiều thầy và sư cô với lứa tuổi khác nhau và đến từ rất nhiều nền văn hóa khác nhau, sư em thực tập như thế nào để sống hài hòa với mọi người?

Cũng vẫn là điều cơ bản ấy thôi; trước tiên sư em cần phải có mặt cho mình. Khi sư em thực sự có mặt với cơ thể mình, sư em cảm nhận được năng lượng của sự sống và hạnh phúc. Trong trạng thái đó, sư em có thể mở lòng ra. Lúc ấy, mọi rào cản đã biến mất và sư em có thể nhìn thấy mình trong các sư anh, sư em của mình.

Tuy vậy, cũng có khi những phán xét và trách móc đi lên khiến cho lòng sư em đóng lại. Khi ấy, điều quan trọng nhất với sư em là không tự trách mình, cũng không tìm cách trốn chạy hay đồng hóa mình với những tâm hành ấy. Thay vì tự nói: “Tôi đang phán xét” thì mình có thể nói: “Sự phán xét đang có mặt ở đây.” Khi đã biết nhận ra những tâm hành đó tức là mình đã có chánh niệm, mình đã thành công rồi.

Trong sự thực tập của sư em nói chung, sư em luôn tự nhắc mình về một sự thật đơn sơ là: “Chúng ta không thể tranh đấu với bóng tối, chúng ta chỉ cần đem ánh sáng tới.” Ánh sáng ấy chính là chánh niệm và khi nó có mặt thì mọi thứ tự nó sẽ dần dần được chuyển hóa một cách tốt đẹp.

Quý thầy, quý sư cô của mình đến từ khắp nơi trên thế giới, mỗi người mỗi khác biệt và chính điều ấy làm cho chúng ta giàu có thêm. Nếu sư em sống ở một nơi với toàn những người Pháp như trước kia thì chắc sư em sẽ chán lắm! Sau chuyến đi Mỹ ba tháng vừa rồi, sư em đã buông bỏ nhiều sự vướng mắc của mình với ngôn ngữ và văn hóa Pháp. Hiện giờ sư em cảm thấy thoải mái như nhau cả trong nhóm nói tiếng Anh hay tiếng Pháp.

Sư em thấy đây là nhà của mình. Đây là gia đình của mình.

Cùng học cùng tu

Chân Linh Nhĩ

Lớp tiếng PhápVì sao có lớp Pháp văn ở Hơi Thở Nhẹ

Sư cô Giác Nghiêm (Elisabeth) cùng tu với các sư cô người Việt ở thiền đường Hơi Thở Nhẹ, một chi nhánh của Làng Mai ở Noisy-Le-Grand, là một trụ trì người Pháp hiếm thấy ở Paris.

Vì có nhiều thiền sinh người Pháp và người Việt năng tới lui thiền đường, đặc biệt vào mỗi ngày Chủ nhật thiền sinh về rất đông vì đó là ngày tụng giới hoặc ngày chánh niệm, nên tiếng Pháp rất cần cho việc truyền thông và hướng dẫn tu tập. Một số thành viên trong tăng thân Hơi Thở Nhẹ trong đó có chị Bảo Nguyện và tôi đã suy nghĩ khá nhiều đến vấn đề này. Chúng tôi thấy cần mở lớp tiếng Pháp để giúp đỡ các sư cô. Tôi xin nhận giảng dạy vì tôi đã được đào tạo ở trường Đại học Sư phạm và có một số kinh nghiệm dạy tiếng Pháp khi còn ở Việt Nam cũng  như đã dạy các em tỵ nạn vị thành niên Việt-Miên-Lào một vài năm trước đây do hội Hồng Thập Tự Pháp bảo trợ.

Người xưa thường nói: “Vạn sự khởi đầu nan”. Trước khi dạy đã có sự do dự cả hai phía: người học có vẻ ái ngại vì có lẽ đã gặp khó khăn trước đây khi học ngoại ngữ này, còn người dạy cũng phân vân không biết dạy như thế nào để đạt được kết quả tốt. Tôi nghĩ là mình cứ làm rồi điều chỉnh sau cho phù hợp với nhu cầu của các sư cô. Dạy tiếng Pháp để nói cho người khác hiểu cũng không khó lắm, vì ngay cả những người ít học cũng có thể diễn tả được, chỉ cần hiểu vài từ chính, nhìn cử chỉ, điệu bộ là có thể đoán được ngay, trừ trường hợp người có “tâm điếc”, khép kín trái tim cố tình không muốn nghe, không muốn hiểu, như câu tục ngữ Pháp: “Người điếc nhất là người không muốn nghe” (Il n’y a pire sourd que celui qui ne veut  pas entendre).

Các sư cô đều có trình độ học vấn cao, lại biết tiếng Anh nên khi chuyển qua học tiếng Pháp không gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa, các sư cô không bị áp lực học để thi lên lớp hay học để thi lấy bằng cấp nên học rất thoải mái, vui vẻ, có niềm vui trong khi học, chỉ cần hiện diện để đọc, nghe, thấy và viết một chữ nhiều lần thì mình sẽ thuộc, sẽ nhớ. Vui mà học, học mà vui thì tự nhiên mình sẽ học được, sau một thời gian ngắn các sư cô đã có tiến bộ, có thể nghe và hiểu được… Sư cô trụ trì Giác Nghiêm và một số các thiền sinh người Pháp đã nhiều lần ngợi khen sự tiến bộ của các sư cô. Tôi ước mong mình tu tập tiến bộ được như các sư cô học tiếng Pháp thì hạnh phúc biết mấy!

Ngoài ra tôi còn được chị Tâm Tươi Mát (Ngọc Anh) tiếp tay dạy và anh Chân Linh Từ (Jean Pierre) giúp đọc những bài tôi soạn với giọng đọc chuẩn của người ở Paris (accent parisien).

Thầy giáo và học trò đều muốn làm con Ngọc Hoàng

Có khi ham học quá nên đã hết giờ mà cả lớp không biết, khi sư cô phụ trách nấu ăn xin đi ra để lo cơm tối thì tôi mới biết là đến lúc phải ngưng dạy. Tôi hỏi đùa các sư cô là có muốn làm con Ngọc Hoàng hay học thêm nữa? Các sư cô đồng thanh đáp: “Dạ chúng con rất muốn làm con Ngọc Hoàng!” Bản thân tôi cũng muốn luôn, đúng là “đồng bịnh tương lân” mà! Cụm từ “con Ngọc Hoàng” được trích từ câu ca dao:

“Hiu hiu gió thổi đầu non
Những người làm biếng là con Ngọc Hoàng”

Tôi cho rằng có làm việc nhiều mới biết trân quý lúc nghỉ ngơi. Tôi thấy Sư Ông tuổi gần 90 mà lúc nào cũng làm việc không nghỉ, thời khóa biểu mỗi lần đi hoằng pháp dầy đặc, không có chỗ nào trống khiến tôi vô cùng ngưỡng mộ và thán phục. Chỉ có Sư Ông mới nghĩ ra “ngày làm biếng”, tôi rất tâm đắc ý nghĩ này vì bản thân tôi, trước đây vài tháng (vì tôi bắt đầu nghỉ hưu từ 01.07.2013) cũng thức dậy rất sớm mỗi ngày từ 4g30 để đi làm nên tôi rất trân quý ngày Chủ nhật, “ngày làm biếng” của tôi, được ngủ thoải mái, có thì giờ đọc sách, nghe kinh tùy hỷ.

Người dạy lẫn người học đều hưởng lợi cả

Đầu tháng 06 năm 2013, tôi có tháp tùng tăng thân Paris qua Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu (EIAB) để thăm Sư Ông và phái đoàn đã trở về Đức sau chuyến đi hoằng pháp các nước Á châu. Tôi có dịp ngồi đàm đạo với hai vợ chồng anh Tường và chị Trang. Hai vị này cho biết là giúp Làng phiên tả những bài giảng của Sư Ông và cũng được hưởng lợi lạc rất nhiều, vì khi đọc đi đọc lại nhiều lần bản thảo (morasse) tự nhiên mưa pháp từ từ thấm vào vườn tâm. Tôi thấy mình cũng vậy, khi dạy tiếng Pháp cho các sư cô ở Hơi Thở Nhẹ cũng được hưởng rất nhiều lợi lạc. Trong lúc dạy, thỉnh thoảng có chuông điện thoại reo hoặc chuông đồng hồ gõ nhịp, cả lớp ngưng học để thở, đem thân trở về với tâm. Người Pháp thường nói “Dạy, tức là học” (Enseigner, c’est apprendre) tôi thấy ngoài việc được học hỏi thêm, tôi còn có dịp cùng tu tập với các sư cô.

Thầy giáo và học trò ngồi quanh một cái bàn nhỏ, vừa học, vừa uống trà cho có cảm tưởng là đang ngồi chơi, ngồi đàm đạo với nhau hơn là ngồi học, rất thoải mái và tươi mát. Tự nhiên những danh ngôn hay tục ngữ, ca dao mà tôi dịch cho các sư cô học cũng đượm đôi chút hương vị thiền. Trong câu nói của Saint Exupéry “Aimer, ce n’est pas se regarder l’un l’autre mais regarder ensemble dans la même direction ” (Yêu nhau, chẳng phải nhìn nhau, mà cùng nhìn một hướng), tôi thấy hướng ở đây là hướng giải thoát, hướng an lạc, hướng giác ngộ nên tôi chuyển đổi là:

“Yêu nhau chẳng phải nhìn nhau
Mà nhìn bến giác mong mau tới bờ”

Hai câu thơ của Lamartine khuyên mình tìm tới thiên nhiên khi khổ đau “Mais la nature est là, qui t’invite et qui t’aime. Plonge-toi dans son sein qu’elle t’ouvre toujours”, tôi thoát dịch là:

“Thiên nhiên vẫn đợi, vẫn chờ
Sao không tìm đến, còn mơ ước gì”

Mấy vần thơ nhẹ nhàng, giản dị dễ hiểu với âm điệu trầm trầm (assonnance en “eu”) của Paul Verlaine diễn tả tâm trạng buồn vô cớ vẩn vơ, theo nhịp mưa rơi, thấm vào cõi lòng thi sĩ như mưa rơi ngoài phố, tôi tạm dịch là:

Il pleure dans mon cœur
Lòng tôi thổn thức lệ trào

Comme il pleut sur la ville
Cũng như ngoài phố, hôm nào mưa rơi

Quelle est cette langueur
Nỗi buồn vô cớ vẩn vơ

Qui pénètre dans mon cœur ?
Cớ sao gieo thảm, tưới sầu vườn tâm?

Mình chỉ cần nhận diện cái buồn đó rồi với hơi thở chánh niệm, đem thân về với tâm thì mình có thể chuyển hóa buồn thành vui, và “khi mình vui thì cảnh sẽ vui ” như lời Sư Ông dạy!

Phải cám ơn ai nhỉ

Nhiều khi trời mưa gió hay có tuyết, tôi vẫn cố gắng tới dạy, điều mà tôi học nơi thân giáo của Sư Ông. Các sư cô cảm động thường nói: Cám ơn “chú Đức ”. Tôi lật đật đính chính là chúng ta phải cám ơn Sư Ông mới đúng vì nếu không có cơ duyên cùng là đệ tử của Sư Ông thì chúng ta đâu có dịp cùng ngồi chung vui với nhau ở đây. Hai từ “chú Đức” còn phổ biến hơn cả pháp danh Chân Linh Nhĩ do Sư Ông đặt cho tôi. Biệt danh này chuyển tải rất nhiều tình thương của các sư cô dành cho tôi, làm tôi vô cùng xúc động và thấy mình có bổn phận phải có mặt thường xuyên với tư cách một người lớn tuổi để nâng đỡ tinh thần các sư cô nhỏ. Nhờ Sư Ông mà tôi ngộ ra được là dạy các sư cô nhỏ cũng là tu tập như đi thiền hay rửa chén, quét nhà… nên tôi kiên trì đến Hơi Thở Nhẹ dạy hằng tuần mỗi chiều thứ Sáu ngoài hai ngày tụng giới và chánh niệm hằng tháng.

Những dòng trên đây coi như món quà tinh thần cuối năm của tôi nói lên một phần nào lòng biết ơn của gia đình tôi với vị Thầy khả kính, đã hướng dẫn chúng tôi đi đúng con đường tâm linh trong suốt quá trình gần ba mươi năm, để gia đình tôi có được hạnh phúc, con cái thành đạt và hiếu thảo. Tôi cũng xin gửi đến các sư cô nhỏ ở Hơi Thở Nhẹ, tăng thân Paris cùng “tăng thân khắp chốn” niềm vui mà tôi đang có được trong những ngày cùng tu, cùng học với quý sư cô trong thời gian qua.

Bây giờ và ở đây

Chân Pháp Thuyên

Namo Buddhaya

Văn phòng chùa Pháp Vân xóm Thượng có một tượng gỗ Bụt nhập Niết bàn rất đẹp và nghệ thuật. Thế nằm thật an lành thanh thoát với một thoáng mỉm cười. Cạnh đó bài trí một con suối bonsai nhỏ có nước chảy róc rách và những chậu cây tươi mát xung quanh. Thường thì làm việc một lúc, anh em chúng tôi hay ngồi xuống pha một bình trà nhỏ rồi cùng thưởng thức, hiến tặng sự có mặt và những nụ cười cho nhau. Đây cũng là dịp để chúng tôi buông thư và truyền thông những điều cần thiết trong công việc. Có lúc nhìn lên tượng Bụt, tôi tự hỏi không biết tấm lòng và bàn tay của ai đã khéo đẽo gọt, chỉ mong mang đến cho mọi người những phút giây nhẹ nhàng, bình an giữa bộn bề cuộc sống.

Bụt đã vào Niết bàn 2600 năm rồi nhưng chúng ta vẫn còn tiếp tục học hỏi và bàn luận về giáo nghĩa thâm uyên mà Ngài đã để lại, vẫn hằng ngày đọc tụng và phát nguyện: “Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”. Dù rằng đã giải được hay chưa còn tùy vào niềm tin nơi mỗi người, nhưng tôi cảm thấy vui vì biết mình đang đi trên con đường lành và trong sáng. Ẩn số của Bụt vừa là nguồn cảm hứng động viên, khích lệ và cũng là một thách thức cho tất cả mọi hành giả đi tới. Biết bao tác phẩm nghệ thuật ra đời về các mặt như: kiến trúc, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, thi ca… theo mỗi thời đại, được bảo tồn và tiếp tục phát triển mãi từ suối nguồn cảm hứng nơi Bụt. Tận đến hôm nay tôi thấy mình vẫn còn diễm phúc tắm gột và thưởng thức cam lồ vị từ suối nguồn xa xưa ấy, lòng tôi cảm thấy tràn đầy biết ơn. Chừng nào vẫn còn khổ đau ngự trị trên cõi đời, tôi tin rằng chư Bụt hằng sa vẫn chưa hề rời bỏ chúng ta. Bởi lẽ âm vang giáo pháp của các Ngài vẫn đang diễn bày đó đây ở khắp mọi nơi. Dù là dưới hình thức này hay qua hình thức khác cũng chỉ nói lên một điều, Khổ và con đường thoát Khổ.

Ngày hôm qua xóm Thượng đón khá nhiều những vị khách mới đến tu tập. Sau khi được thầy tri khách chào đón họ đến The country of Present Moment (Xứ sở của phút giây Hiện Tại), rồi mời họ tự giới thiệu lý do khiến họ đến và có mong muốn gì trong những ngày ở đây để đại chúng biết mà yểm trợ. Có một thanh niên thành thật chia sẻ là anh đọc khá nhiều sách về đạo Bụt, thấy đẹp, hay và có ước muốn thành Bụt nhưng cảm thấy quá khó. Đại chúng được một tràng cười thật vui vẻ. Tôi cũng mỉm cười và tự hỏi “why not?”, bởi vì người thanh niên đó là hiện thân của tôi và rất nhiều bạn trẻ khác ở khắp mọi nơi. Những Siddhartha yêu mến Chân-Thiện-Mỹ và muốn có một đời sống lý tưởng, chuyện đó đâu phải là không chính đáng. Nhưng mọi người cười có lẽ vì nghĩ người ấy có một ước muốn xa rời thực tế và mơ hồ quá. Anh ta nào biết Bụt là ai, ngoài những kiến thức mênh mông và lý tưởng hoàn hảo trong sách vở.

Nhiều khi nhìn lại tuổi nhỏ thơ mộng của mình tôi cũng thầm mỉm cười và thấy cảm thông. Ngày xưa tôi cũng nào được biết Bụt, chỉ nghĩ đơn giản đó là một con người vĩ đại, kiện toàn tất cả mọi mặt và là đối tượng tôn thờ cho tâm hồn mình. Đọc xong quyển lịch sử đức Phật Thích Ca thì thấy mình kính yêu Ngài vô cùng và từ đáy lòng tự nhiên phát lên lời nguyện ước, lớn lên mình cũng sẽ từ bỏ tất cả mọi thứ như Ngài rồi đi tu, bởi thấy đời sống của Ngài thật đẹp và trọn vẹn. Nhìn về quá khứ, tôi thấy mình thật may mắn bởi mong ước đã thành hiện thực. Và hơn hết tôi thấy mình có nhiều niềm vui trên bước đường hành trình, xin được bày tỏ nơi đây lòng tri ơn tất cả. Tôi vẫn cùng đại chúng đang mang những điều tốt lành mà mình được thừa hưởng ấy tiếp tục đi về tương lai bằng thệ nguyện hằng ngày:

“Thức dậy miệng mỉm cười
Hai bốn giờ tinh khôi 
Xin nguyện sống trọn vẹn
Mắt thương nhìn cuộc đời”

Càng tu học, tiếp xúc với nhiều nền tảng niềm tin khác tôi thấy khái niệm về Bụt trong mình cũng thông thoáng và cởi mở hơn xưa. Rất nhiều người Tây phương cũng khát ngưỡng tâm linh và thực tập thật hết lòng. Đặc biệt tôi để ý thấy nam thanh niên đến tu có khi lại nhiều hơn người nữ, có vài chục người đến tu tập trọn vẹn trong ba tháng An cư mùa đông hoặc ở luôn suốt một năm. Phải chăng nỗi khổ và áp lực đời sống phát triển bên này đối với người nam nhiều hơn người nữ hay vì hình thái đạo Bụt tri thức nơi này đã thuyết phục được họ hơn, những con người vốn được thừa hưởng nền giáo dục cao và chỉ tin vào chân lý khoa học.

Bước vào dòng chảy đạo Bụt dấn thân với lý tưởng thật cao đẹp nơi đất nước Tây phương này cũng phải đối mặt không ít thử thách. Bởi lẽ có nhiều nhu cầu, khổ đau thì lại đa dạng và con người không thuần một niềm tin. Anh chị em chúng tôi vừa phải nỗ lực tu, vừa phải thích nghi với văn hóa, xứ sở, con người, thức ăn, khí hậu và ngôn ngữ… Nhưng nhờ sống chung như một cộng đồng, nương tựa lẫn nhau mà khiến mình dần vượt qua những khác biệt ban đầu để đi tới. Đôi lúc nhìn vào con đường Đại thừa mênh mông và nỗi khổ bất tận khiến tôi nhớ tới Ngài Bồ Tát Địa Tạng, chối từ chưa thành Bụt cho đến khi không còn một chúng sanh nào chịu khổ nữa.

Hạnh nguyện vô bờ bến đó ngày xưa đã từng làm tôi cảm thấy thật ngưỡng mộ nhưng cũng vô cùng băn khoăn. Bởi nỗi thống khổ trong nhân gian được ví như nước mắt của muôn loài ngập tràn bốn bể và tôi sợ mình bị nhận chìm trong đó vì biết rằng mình chưa thật sự bơi giỏi, phước đức vẫn còn mong manh. Hay phải chăng đất tâm trong tôi còn thấm nhuần lời nguyện phải vãng sanh quốc độ Bụt A Di Đà tu cho thành tựu rồi mới quay trở lại nhân gian để giúp đỡ. Nhưng dần dà trên con đường tu học, may mắn thay có những chặng đường hạnh ngộ được thiện tri thức, giúp mình có những cái thấy mới, rộng mở và sáng tỏ hơn. Tôi cảm thấy được khích lệ rất nhiều khi đọc những dòng này:

“… Biển cả lớn mà còn có bờ đến, chứ biển tu thì không có bờ đến, còn mênh mông hơn nữa cơ. Nhưng vì không có bờ nên không có chỗ đến, vì không có chỗ đến nên không thật có chỗ đi. Tu là tu cái không đi không đến. Nói khác đi tu là đến trong từng bước đi, cập bến trong từng bước đi. Đã cập bến trong từng bước đi thì biển ấy có còn mênh mông nữa không…”

Điều này chúng tôi đã được Thầy dạy, lặp đi lặp lại nhiều lần và thực tập hằng ngày trong đời sống mà sao không chịu nhận ra: “Đã về đã tới, bây giờ ở đây. Vững chãi như núi xanh. Thảnh thơi dường mây trắng. Cửa vô sinh mở rồi. Trạm nhiên và bất động.” hoặc “Mỗi bước chân đi vào Tịnh Độ.” Hay “Không có con đường dẫn tới hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường.” Phương tiện lẫn cứu cánh thật sự không thể tách rời, vậy thì còn chần chờ gì nữa, còn suy nghĩ gì nữa mà không an vui với những gì mình đang có.

Nhiều bài thiền ca và thư pháp đơn giản chỉ vậy mà giúp thiền sinh Tây phương ngộ ra rất nhiều. Họ hát cùng nhau rất vui, nhờ vui mà cảm hứng tu học lên cao và không thấy nhọc nhằn trên bước đường vạn dặm. Có khi nhìn lại, tôi thấy sức tu của mình chậm quá, lỗi lầm có thể vì đầu óc mình ưa những điều cao siêu mầu nhiệm mà quên rằng “lối đi ngay dưới chân mình”. Bất chợt tôi mỉm cười thật vui khi nghĩ đến câu trả lời về đại ý Phật pháp của Ngài Triệu Châu, đơn giản chỉ là Cây Tùng Trước Sân, còn có gì hơn thế nữa.

Bây giờ tôi thôi chúc mọi người sớm tu thành Bụt nữa mà chỉ cầu chúc họ hãy là chính mình, chấp nhận những gì trong tự thân với ưu khuyết điểm như chúng đang là, chấp nhận được càng nhiều thì càng có không gian và tự do. “Be yourself, be beautiful and Be free where you are”. Điều này thì người Tây phương dễ hiểu và lĩnh hội nhanh. Họ thấy có thể chạm tới được thông qua việc hành trì hơi thở ý thức, bước chân chánh niệm, ánh mắt thân thương và nụ cười an lạc để trở về với chính mình, chăm sóc chính mình và nhận diện được sự tự do bên trong ấy. Khi nắm được pháp tu, họ không còn đổ lỗi, trách móc người khác về những nỗi khổ của mình.

Có khi trong những buổi pháp đàm, ngồi nghe họ chia sẻ mà tôi thấy dâng trào niềm thương. Bây giờ đến đây nhờ có biết tu đôi chút rồi nên họ chia sẻ: “Con nhận ra được nỗi khổ của mìnhcon nhìn sâu vào gốc rễ của chúng, con trở về thực tập hơi thở để ôm ấp và làm dịu thân tâm.” Hay: “Con phải đi thiền hành để chăm sóc cơn giận, đứa trẻ tổn thương trong con đang trỗi dậy.” Thật là dễ thương khi có những suy nghĩ và thực hành như thế. Họ nhận ra và biết dừng lại ôm ấp cảm thọ, thôi vung vãi năng lượng tiêu cực ra ngoài. Thế giới sẽ bình an hơn nếu nơi mỗi cá nhân biết thực tập chấp nhận và làm hài hòa năng lượng của chính mình trong cảm thông và hiểu biết.

 

Namo Dharmaya

Welcome to The country of Present Moment (Chào mừng các bạn đến Xứ sở của phút giây Hiện Tại) thỉnh thoảng câu này được các thầy tri khách dùng để đón chào những thiền sinh mới đến tu tập. Người Tây phương dường như lĩnh hội rất nhanh thuật ngữ present moment và rất thích thú. Không như người Á đông chúng ta thường hay đăm chiêu và ngờ ngợ về nó. Năm ngoái tôi có một kỷ niệm về điều này trong khóa tu mùa Hè. Cùng ngồi ăn cơm chung bàn có một cô thiền sinh vui vẻ bắt chuyện hỏi: “Hello brother! Where you com from?” Tôi cũng vui vẻ đáp lại bằng cách bắt ấn tròn ngón tay cái với ngón trỏ rồi nói: “I come from the country of Present Moment”. Cô ấy hiểu rất nhanh và mỉm cười thích thú.

Kết thúc khóa tu, lúc chào tạm biệt cô ấy cảm động nói rằng, rất ấn tượng về câu trả lời đó và hứa là sẽ thường xuyên nhớ an trú trong xứ sở của phút giây hiện tại. Tôi cũng khá bất ngờ và vui khi những lời đàm đạo nhẹ nhàng đơn giản vậy mà giúp được họ, còn nhiều chuyện nhỏ khác cũng vui không kém nhưng có lẽ tôi phải hẹn kể trong một dịp khác. Khi được nghe nói Enjoy Present Moment, Wonderful Moment (Phút giây hiện tại, phút giây tuyệt vời) thì họ biết thư giãn gương mặt và mỉm cười thật tươi, buông bỏ mọi ưu sầu lo lắng và trở về thực tập nhiếp tâm trong hơi thở. Bây giờ có hành, có hiểu thì thỉnh thoảng tôi cũng biết đùa như vậy.

Ngày trước khi được nghe xiển dương và ca ngợi về phút giây hiện tại thì tôi thấy lòng mình phản ứng mạnh. Đó là bởi tôi nghe ông bà thường nói: “Người mà không biết lo xa thì sẽ buồn gần”. Vậy tại sao lại nói đừng tìm về quá khứ, đừng nghĩ tới tương lai. Trong cuộc đời này nếu không biết lo thì e rằng sẽ có lúc hối không kịp như trong câu chuyện ngụ ngôn “Con Kiến và Ve Sầu” mà lúc nhỏ tôi đã từng được học. Kiến thì chăm lo làm lụng, tích góp thức ăn, còn Ve Sầu chỉ lo rong chơi và đàn hát, rồi mùa đông đến, Ve Sầu chỉ biết than vãn trong đói lạnh. Lúc đó vì còn là cư sĩ nên trong tôi có nhiều lý luận như vậy, nhưng đâu phải là không có căn cứ logic, tôi cứ suy luận theo cảm tính và tri thức mình có rồi khởi tâm phiền não. Thật ra nếu hiểu không thông thì làm sao mà tin rồi áp dụng theo được, nếu hành theo niềm tin mù quáng thì phải chăng tự chuốc họa vào thân và khiến mọi người chê trách. Về sau nhờ vào một bài kinh thì tôi mới vỡ lẽ, hiểu rõ ràng hơn, hóa ra mình đã hiểu sai vì nhiều lý do. Có lẽ do tri thức quá nhiều của chính mình và cũng bởi điều này còn xa lạ nhận thức của tôi. Trong kinh Người Biết Sống Một Mình, Bụt đã giải thích rất rõ:

“Này quý thầy, sao gọi là tìm về quá khứ? Khi một người nghĩ rằng trong quá khứ hình thể ta từng như thế, cảm thọ ta từng như thế, tâm tư ta từng như thế, nhận thức ta từng như thế, nghĩ như thế và khởi tâm ràng buộc quyến luyến về những gì thuộc quá khứ ấy thì người đó đang tìm về quá khứ.”

“Này quý thầy, sao gọi là không tìm về quá khứ? Khi một người nghĩ rằng… (lặp lại như trên). Nghĩ như thế mà không khởi tâm ràng buộc quyến luyến về những gì thuộc về quá khứ ấy, thì người đó đang không tìm về quá khứ.”

“Này quý thầy, sao gọi là tưởng tới tương lai? Khi một người nghĩ rằng trong tương lai hình thể ta sẽ như thế kia, cảm thọ ta sẽ như thế kia, tâm tư ta sẽ như thế kia, nhận thức ta sẽ như thế kia, nghĩ như thế và khởi tâm ràng buộc, lo lắng hay mơ tưởng về những gì thuộc về tương lai ấy thì người ấy đang tưởng tới tương lai.”

“Này quý thầy, sao gọi là không tưởng tới tương lai? Khi một người nghĩ rằng trong tương lai… (lặp lại như trên), nghĩ như thế mà không khởi tâm ràng buộc, lo lắng hay mơ tưởng về những gì thuộc về tương lai ấy thì người ấy đang không tưởng tới tương lai.”

“Này quý thầy, thế nào là bị lôi cuốn theo hiện tại? Khi một người không học, không biết gì về Bụt, Pháp, Tăng, không biết gì về các bậc hiền nhân và giáo pháp của các bậc này, không tu tập theo giáo pháp của các bậc hiền nhân, cho rằng hình thể này là mình, mình là hình thể này, cảm thọ này là mình, mình là cảm thọ này, tri giác này là mình, mình là tri giác này, tâm tư này là mình, mình là tâm tư này, nhận thức này là mình, mình là nhận thức này… thì người đó đang bị cuốn theo hiện tại.”

“Này quý thầy, thế nào là không bị lôi cuốn theo hiện tại? Khi một người có học, có biết về Bụt, Pháp, Tăng, có biết về các bậc hiền nhân và giáo pháp của các bậc này, có tu tập theo giáo pháp của các bậc hiền nhân, không cho rằng hình thể này là mình,… (lặp lại như trên) thì người đó đang không bị lôi cuốn theo hiện tại.”

Như vậy thì rõ rồi, sống trong hiện tại không có nghĩa là không được hoạch định hay ước muốn làm gì cho tương lai, mà là trong một thể thức hoạch định có niềm vui, không bị quá nhiều lo lắng hay mơ tưởng chi phối. Hoặc đắm chìm trong khổ đau của quá khứ, quyến luyến đối với cảm thọ, tài vật, người thân làm mình mất đi niềm vui sống, quên đi mọi thứ đang hiện hữu trước mắt. Nhưng khi có thực hành rồi mình mới biết, cũng không phải dễ bởi có những tập khí quá sâu dày như: muốn làm nhanh cho xong, làm theo ý riêng mình, hấp tấp, căng thẳng, lo lắng… thật sự đã làm mất đi niềm vui hiện tại hay đánh mất những liên hệ tốt đẹp đối với huynh đệ, bằng hữu cộng tác với mình. Để rồi khi xong công việc thì lòng mình cũng thương tích với những đổ vỡ, hối tiếc lẫn buồn đau.

Ngay cả trong hiện tại mà nếu không hiểu rõ thì cũng vẫn bị lôi cuốn và “kẹt” như thường. Đó là sự thật. Những năm trước khi tôi còn ở tu viện Lộc Uyển, có một chú người Mỹ gốc Việt khoảng hơn năm mươi tuổi, vì được bảo trợ sang Mỹ hồi còn thơ ấu nên tiếng Việt không rành lắm, do duyên lành mà tình cờ ghé Lộc Uyển chơi, khi nghe đại chúng hát thiền ca bài Happiness Is Here and Now… (Ta hạnh phúc liền giây phút này) trước khi đi thiền hành, làm chú đã cảm động đến rơi nước mắt. Sau đó chú đến tu tập khá thường xuyên và tâm sự làm tôi cũng thấy nghẹn ngào, mấy mươi năm sống trên đất Mỹ, đây là lần đầu tiên chú được nghe một bài hát hay, vui và đầy ý nghĩa như vậy.

Từ trước tới giờ chú chỉ biết cặm cụi với bổn phận và trách nhiệm, tuổi trẻ lo học rồi lớn lên đi làm quần quật để kiếm tiền, xem đó là mục tiêu đời mình, đâu biết nghĩ đến hạnh phúc đơn giản dễ tìm như vậy. Ngoài công việc và trách nhiệm ở sở, về đến nhà chú đã mệt nhoài, chỉ lo nghỉ ngơi để sáng mai lại sức rồi đi làm tiếp, cứ thế ngày lại qua ngày. Cho đến một ngày cả vợ và con chú không chịu nổi với cách sống đó nên xin dọn đi nơi khác. Chú ngỡ ngàng, hụt hẫng trong cô đơn và thấy mình mất mát nhiều quá. Không biết nhờ nghe bài hát mà chú giật mình “ngộ” ra điều gì quan trọng. Nhưng trên hết có lẽ chú nhận ra mình đã bị cuốn hút vào vòng xoáy công việc theo năm tháng mà quên đi mái ấm gia đình và hạnh phúc thực tại. Nhờ được giảng giải mà chú nhận ra nhiều thứ, cách trở về tự thân với hơi thở ý thức, bước chân chánh niệm, thật sự thưởng thức hương vị của một tách trà và những bông hoa mầu nhiệm đang hiển hiện trong trời đất… Chú trở nên tươi vui, yêu đời hơn sau đó vì thấy mình đang thực sự sống. Còn tôi thì thấy cũng thầm biết ơn chú vì đã cho mình ý thức thêm về sự trôi lăn trong dòng đời, có khi mấy mươi năm mới có cơ may tỉnh mộng.

“Pháp Bụt cao siêu mầu nhiệm
Cơ duyên may được thọ trì
Xin nguyện đi vào biển tuệ
Tinh thông giáo nghĩa huyền vi.”

Mỗi ngày nhờ được tu học, sáng tỏ thêm diệu pháp, sống trong môi trường trong lành và hiến tặng được chút gì đó để đền ơn cuộc đời, tôi thấy lòng mình chẳng còn mong gì hơn nữa.

“Pháp môn xin nguyện học
Ân nghĩa xin nguyện đền
Phiền não xin nguyện đoạn
Quả Bụt xin chứng nên.”

 

Namo Sanghaya

Ngày hôm kia trong buổi soi sáng cho mình, tôi đã bày tỏ cảm nhận về Tăng thân như sau: Thật đẹp và rất phong phú, cách sống tự nhiên, nghệ thuật và nhân văn nhưng cũng mang đầy thử thách. Tuy nhiên mình vẫn có thể làm tốt và hay hơn. Đó là điều mà không có điểm dừng và cũng chính là nguồn cảm hứng cho mình đi tới. Càng tu học, tôi càng thấy mình nhìn sự việc tự nhiên hơn, tích cực hơn, nhờ vậy mà lòng trân quý và hạnh phúc cũng tăng lên theo năm tháng. Tăng thân được như ngày hôm nay để biết bao người đến nương tựa, quy ngưỡng thật không dễ dàng chút nào. Bởi tính đa dạng, đa văn hóa, ngôn ngữ và nền tảng niềm tin khác biệt, ấy vậy mà có thể cùng sống hòa hợp được để mang hạnh phúc đến cho đời thì giống như một phép lạ, lành thay!

Tăng thân có nhiều cái đẹp, cái hay qua nhiều góc độ và cái nhìn khác nhau. Tùy theo trái tim cảm nhận của mọi người. Nhưng trước hết là giống như một mái ấm gia đình, một sân chơi lành mạnh cho cả bốn chúng với đủ mọi thành phần, trình độ nhận thức, tuổi tác và thâm niên hạ lạp cùng hòa điệu tu học. Một chốn bình yên để trở về sau những cuộc hành trình, để được chia sẻ, lắng nghe, học hỏi, chăm sóc và thương quý lẫn nhau. Giúp nhau trưởng thành trong nhận thức và tu tập. Lý tưởng đó đang được thể hiện bây giờ và ở đây, nơi mỗi thành phần trong cộng đồng.

Tất cả trong một, một trong tất cả là sự diễn bày trong tư tưởng Hoa Nghiêm. Tôi thích lý tưởng sống động phong phú này; không đến không đi, không còn không mất thể hiện qua một vòng tròn tuyệt diệu. Trong đó cũng chứa đựng đầy đủ, thập pháp giới nơi tâm thức chung và mình có quyền quyết định lựa chọn nơi ở, nhờ chánh niệm sáng tỏ mà ta có thể nhận diện mình đang ở chốn nào để không bị vướngkẹt trong từng phút giây của đời sống. Thầy đã chỉ bày cho chúng tôi vẽ những vòng tròn thư pháp kì diệu. Không phải thư pháp chỉ được thể hiện bằng nghệ thuật, mà xuyên suốt trong ấy là sự sống tự tại thảnh thơi. Thở vào, bút pháp đi nữa vòng tròn. Thở ra, bút pháp hoàn thành nữa vòng tròn còn lại. Xong, nghệ thuật đó thật đẹp và ý vị, đủ dễ để ai cũng có thể luyện tập và làm được, miễn là mình thật sự muốn.

Hơi thở là sự sống, mang lại trị liệu và nuôi dưỡng thân tâm hàng ngày, càng ý thức hơi thở sâu sắc chừng nào, Niệm Định Tuệ càng phát triển chừng ấy. Tâm thức trở nên xuyên suốt và mở rộng thênh thang như chưa từng ngăn ngại điều gì. Được chăng tất cả trong hơi thở vào tròn đầy và hơi thở ra trọn vẹn. Sự sống động của thế giới ảnh tượng muôn màu, lung linh tuyệt đẹp như bảy sắc cầu vồng. Nhưng đằng sau đó, tất cả đều không có tự tánh. Vạn pháp và ta có gì cách biệt khi tâm thức trở nên trong suốt, tĩnh lặng phản chiếu không một tỳ vết. Hằng ngày tôi vẫn thắp sáng ý thức thực tập, cập bến nơi từng bước chân, an trú trong từng hơi thở chánh niệm cùng với lời nguyện ước năm nào“Xin nguyện sống trọn vẹn, mắt thương nhìn cuộc đời.” Mùa xuân đang về ngập tràn sức sống quanh đây. Hoa cỏ lại xanh mầm nở rộ, từng chiếc lá non tiếp tục đâm chồi trên những cành cây trơ trụi, lại bắt đầu một kiếp sống mới, vui vẻ và hân hoan trong nắng ấm. Cầu chúc sự sống tốt lành ở khắp nơi nơi.

Hoa Mộc Lan ở nội viện Phương Khê
Hoa Mộc Lan ở nội viện Phương Khê