Tiếng gọi của Thế Tôn

 

CHƯƠNG 1

Tiếng gọi của Thế Tôn

 

Từng tiếng chuông ngân lên trong màn đêm tĩnh mịch, vang dài trên khắp núi đồi, như gọi mời vạn loài thức dậy sau một giấc ngủ dài. Chú Tâm An cũng miễn cưỡng lồm cồm bò dậy, hai con mắt còn nhắm cứng, khuôn mặt nhăn nhó trông đến tội nghiệp. Chú gục xuống giường ngủ tiếp, nhưng có tiếng của Thầy gọi nhẹ:

– Tâm An ! Dậy đi con.

Chỉ một câu thôi mà chú ngồi bật dậy, vội vả xếp mền mùng, rồi đi vào nhà vệ sinh. Khuôn mặt còn ngái ngủ, tay cứ dùi dụi vào hai mắt để giúp mình tỉnh hẳn.

Thầy nhìn chú mỉm cười cảm thông, Thầy nhớ hình ảnh của chú tuần trước còn bỡ ngỡ đứng trước sân chùa mân mê từng chiếc lá, từng cành hoa một cách trìu mến. Chú rụt rè khi gặp cái nhìn của Thầy, rồi chắp tay xá chào. Chú nói nhỏ xíu trong miệng:

– Thầy ơi! Con muốn đi tu, con muốn ở chùa.

Nói xong, chú cúi đầu chờ đợi một hồi lâu mới dám ngước lên nhìn Thầy, Thầy nhìn chú yêu thương và nở một nụ cười hiền hậu làm chú yên tâm hơn. Trong đôi mắt thơ ngây ấy hiện lên những dấu chấm hỏi và sự mong đợi một câu trả lời. Thầy đến gần nắm tay chú dắt đến phiến đá rồi bảo chú ngồi xuống. Thầy từ tốn hỏi:

– Con mấy tuổi rồi?

– Dạ thưa, con đã mười hai tuổi rồi ạ!

– Con tên gì?

– Dạ, con tên là Nguyên Khang.

– Con đến đây với ai?

– Dạ, con đi một mình.

– Thế ba mẹ con đâu?

– Dạ, ba con đã bỏ mẹ con đi theo người khác, mẹ con giờ đang đi tìm ba về, mẹ không còn nhớ đến con nữa, lúc nào cũng buồn bực gắt gỏng, la mắng con.

– Vậy mẹ con có biết con đi đâu không? Lỡ mẹ về không thấy con, mẹ con buồn khổ lắm.

Nghe nói mẹ sẽ buồn khổ, lòng chú hơi chùng lại một lát rồi nói:

– Dạ thưa Thầy, con có viết thư xin mẹ cho con đi tu rồi, nhưng con không nói cho mẹ biết con đi tu ở đâu để mẹ không tìm ra con nữa, khi nào con xuất gia rồi con sẽ viết thư báo cho mẹ biết.

Thầy ngồi đó lắng nghe, chợt thở dài rồi hỏi:

– Có phải con giận ba mẹ mà bỏ đi tu không?

– Dạ… dạ… – chú ngập ngừng không dám trả lời.

– Mình muốn đi tu thì mình phải ngay thẳng, có thì nói có, không thì nói không, sao con lưỡng lự vậy?

– Dạ, thực ra, con cũng giận ba mẹ lắm, mà con cũng thương mẹ nhiều lắm, nên con không biết phải trả lời sao nữa, nhưng con thích làm thầy tu, con thích ở chùa. Con thấy quý thầy hiền lành, không chửi mắng, đánh đập ai cả nên con muốn được như vậy.

– Đi tu khổ lắm, con có chịu được không?

– Dạ khổ là sao thưa Thầy?

– Trước hết là con phải thức khuya dậy sớm, bốn giờ kém mười lăm là con phải dậy rồi, con không được ngủ thoải mái như ở nhà được. Con còn phải học văn hóa, học kinh kệ, giáo lý… con có chịu nổi không?

Nghe Thầy nói, chú hăng hái trả lời liền:

– Dạ thưa Thầy, con làm được mà.

Thầy nhìn chú mỉm cười, cái tuổi thơ là như vậy, tâm hồn trong sáng, thuần khiết. Động cơ thúc đẩy một đứa trẻ muốn xuất gia chỉ vì thấy thích một nét đẹp nào đó như hình ảnh một vị tu sĩ bước đi nhẹ nhàng, chậm rãi, hoặc chỉ thích nghe tiếng tụng kinh… Cái tâm ban đầu ngây thơ, thanh lương ấy mới đẹp làm sao. Thấy Thầy im lặng, chú chắp tay thưa:

– Dạ con thưa Thầy, con có được ở đây tu không ạ?

Thầy gật đầu, đưa tay xoa đầu chú rồi nói:

– Con hứa mình sẽ làm được những điều khó khăn nho nhỏ như thầy đã nói thì con cứ ở lại đây một thời gian xem sao? Khi nào thầy thấy đủ duyên thầy sẽ cho con xuất gia. Thầy sẽ liên lạc với gia đình con, báo cho mẹ con biết con đang ở đây để mẹ con khỏi lo lắng.

Chú nghe đến đó trong lòng lo sợ:

– Thưa Thầy, nếu mẹ biết con ở đây rồi vô chùa dắt con về thì sao? Con muốn tu mà. Chú nói như mếu.

– Thầy sẽ giúp con, nhưng tất cả đều phụ thuộc vào sự quyết tâm của con. Nếu có chuyện đó xảy ra, con phải thể hiện cho mẹ con thấy được tấm lòng, ước mơ của con với con đường xuất gia. Thầy hy vọng con sẽ làm được.

Nói xong, Thầy mỉm cười, đứng dậy, dắt chú vào chùa. Chú vui vẻ trở lại, bước theo Thầy đến phòng các bạn nhỏ như chú đang ở, đến cửa Thầy gõ ba tiếng rồi vào trong. Thầy gọi:

– Tâm Chánh, Tâm Từ! Hai con ở đâu?

Từ trong hốc tủ, hai chú bé lò mò bước ra, chắp tay chào:

– Dạ thưa, Thầy gọi con?

– Hai con lại bày trò gì nữa vậy?

Hai chú lấm lét nhìn Thầy, chú lớn hơn thưa:

– Dạ thưa Thầy! Chúng con chui vô đó đọc sách ạ!

– Sao các con không ngồi trên bàn mà đọc?

– Dạ… dạ… Hai chú ấp úng.

Thầy như đi guốc trong bụng các chú:

– Hai con đọc chuyện tranh phải không? Sợ Thầy la nên chui vô đó đọc để không ai biết đúng không?

– Dạ. Hai chú lí nhí trong miệng. Đôi mắt các chú ánh lên vẻ ngạc nhiên như tự hỏi: “ ao Thầy lại biết vậy kìa? Chuyện gì mình cũng không dấu được Thầy cả?”.

– Tâm Từ, Tâm Chánh! Các con cho bạn mượn một bộ vạt hò, mai thầy kiếm người may cho mỗi đứa một bộ mới. Các con phải thương yêu giúp đỡ Nguyên Khang nhé.

Nói xong, Thầy giao Nguyên Khang cho hai chú, rồi đi về phòng.

Tâm Chánh năm nay mười bốn tuổi, chú lớn hơn Tâm Từ một tuổi, chú cao hơn Tâm Từ một cái đầu. Còn Nguyên Khang thì bé hơn hai anh một chút, nên chú mặc quần áo của hai anh rộng thùng thình. Lần đầu tiên được mặc bộ đồ vạt hò chú thấy vui và hạnh phúc chi lạ, dù bộ quần áo cũ mềm, nhăn nhó. Thay áo quần xong, chú bước ra và nhoẻn miệng cười:

– Cảm ơn hai anh.

Hai chú nhìn Nguyên Khang cười ngặt nghẽo. Tâm Từ tinh nghịch hỏi:

– Sao bạn ôm cái quần hoài vậy?

– Dạ, tại cái quần lỏng dây thun nên mở ra là nó tụt.

Tâm Chánh đến gần đưa cho chú một sợi dây thun cột đỡ.

Trẻ con thật vui, trong một tiếng đồng hồ là chúng quen nhau và trở nên thân mật liền.

Vài ngày sau  Nguyên Khang được Thầy cho thọ Tam quy ngũ giới và chú có cái tên mới là Tâm An. Chú rất thích cái tên này, bởi nó giống với các chú Tâm Chánh, Tâm Từ. Kể từ đó chú được Thầy và hai anh gọi là Tâm An.

Hơn một tuần qua, chú đi theo Tâm Chánh và Tâm Từ để biết cách sinh hoạt trong chùa. Tất cả mọi thứ đều xa lạ từ cái chuông, cái mõ, cái linh, cái tang… chú phải học tên gọi của chúng. Hai chú lớn rất vui khi được làm “thầy” chỉ vẽ cho Tâm An. Chú nào cũng giành nhau nói, giành nhau kể những chuyện mà các chú được biết:

– Tâm An! Em có biết tại sao cái mõ có hình con cá không?

Tâm An lắc đầu:

– Em không biết, anh kể cho em nghe đi.

Tâm Từ nhanh nhảu trả lời:

– Con cá đó là một ông thầy tu bị đọa đó. Nghe đâu ổng tu hành không miên mật, phá giới nên sau đó chết hóa ra con cá. Vì ân hận và muốn sám hối tội lỗi, nên mỗi khi con cá nghe tiếng tụng kinh đều ngoi đầu lên mặt nước để lắng nghe. Từ đó người ta khắc hình con cá lên mõ để răn dạy các vị thầy tu phải giữ gìn giới luật mà mình đã thọ nhận để hành trì.

– Vậy nếu em không thực tập năm giới mà Thầy mới trao là em cũng bị biến thành cá ư?

– Ừ, chớ sao nữa. Tâm Chánh gật đầu trả lời:

Chú lè lưỡi rồi nói:

– Ồ ! Sợ quá, em phải cố gắng thực tập chứ không bị biến thành cá, rồi lại bị người ta bắt làm thịt đau lắm.

Ba đứa trẻ đang huyên thuyên với nhau đủ điều, thì tiếng chuông báo hiệu giờ ăn chiều đã đến. Cả ba không ai bảo ai, tức khắc im lặng nghe chuông, thở và mỉm cười. Rồi trở về phòng mặc áo xuống nhà ăn dùng cơm chiều.

Về chuyện dừng lại nghe chuông cũng làm cho Tâm An ngạc nhiên. Chú thắc mắc không biết tại sao lại như thế. Tự nhiên con người đang hoạt động, nghe chuông thì dừng lại, đứng như tượng, thấy kỳ kỳ sao ấy. Chú đi quanh hai pho tượng sống, méo miệng, le lưỡi, quơ tay mà hai anh vẫn đứng im không nhúc nhích, cũng không cười với chú nữa. Tiếng chuông dứt, một lát sau, hai pho tượng mới hoạt động trở lại. Tâm Chánh, Tâm Từ nói với chú:

– Tâm An, em nên tập dừng lại để lắng nghe tiếng chuông, theo dõi hơi thở. Lần sau, em đừng múa máy tay chân trước mặt các anh đang thực tập nghe chuông nhé!

– Nhưng tại sao lại phải làm kỳ cục như vậy chứ?

– Tại em chưa biết đó thôi, nghe chuông là một pháp môn rất mầu nhiệm đó. Thầy đã từng dạy, khi nghe chuông thì dừng lại mọi câu nói, mọi động tác, mọi suy nghĩ để trở về hơi thở và thực tập bài kệ nghe chuông:

“ Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe

Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm”.

Tâm Chánh từ tốn giảng giải. Tâm Từ thêm vào:

– Tiếng chuông là tiếng gọi của đức Thế Tôn gọi mình trở về với chánh niệm. Mình nghe chuông là nghe những âm thanh vi diệu của Bụt gọi mình đó. Có nhiều khi anh cảm thấy trong tiếng chuông có tiếng Bụt gọi tên mình nữa.

Tâm An trố mắt nhìn, vừa ngạc nhiên vừa vui mừng:

– Thật hả anh? Bụt đã gọi anh à? Anh sướng ghê. Anh kể Bụt đã nói gì đi.

– Bụt gọi anh: “Tâm Từ, về đi con, về sống với giây phút này”.

– Vậy Bụt có thật à? Pho tượng kia đã nói với anh như thế ư? Sao mà linh thiêng quá.

– Ừ! Thầy từng nói: Trong cuộc đời của chúng ta ai cũng sẽ có lần nghe được tiếng gọi của Đức Thế Tôn mà mở rộng lòng thương yêu, tha thứ, bao dung. Từ tiếng gọi ấy khai thông suối nguồn tâm linh, khơi dậy ước mơ cao đẹp: đem niềm vui đến cho mọi người và làm vơi bớt khổ đau cho người nữa. Em có muốn làm điều đó không?

– Dạ có, em rất thích. Nghe chuông tưởng bình thường, kỳ quái như vậy mà lại linh ghê anh nhỉ? Em sẽ tập nghe chuông để được nghe tiếng gọi của Bụt.

Từ lúc đó, chú quen với việc dừng lại nghe chuông như một tiếng gọi thiêng liêng. Qua sự giải thích của hai anh, Tâm An háo hức làm ngay. Có lần, đang ăn cơm với Thầy và hai anh, mọi người nghe chuông đồng hồ đổ, dừng lại thở. Nhưng chú vừa đưa muỗng cơm vào miệng nên cứ để im tư thế đưa cơm như vậy nghe chuông. Chiều hôm đó, Thầy gọi ba anh em vào, bảo các chú lấy tọa cụ ngồi xuống, rồi Thầy chỉ dạy:

– Mấy hôm nay, Thầy có một số công việc nên chưa chỉ dạy cho Tâm An cách thực tập căn bản ở chùa mình. Thầy rất vui khi thấy ba con chơi với nhau như anh em, lại còn chỉ bày cho em mình cách thực tập nữa. Vậy các con đã chỉ cho Tâm An những gì nào?

Tâm Từ nhanh nhẹn chắp tay thưa:

– Chúng con nói cho em Tâm An nghe chuyện cái mõ, cách nghe chuông.

Rồi các chú lần lượt thuật lại những gì đã nói một cách vui vẻ. Thầy mỉm cười khen:

– Các con giỏi lắm, đã nhớ rõ những lời thầy dạy. Nhưng các con còn thiếu sót một số điều nên Tâm An lúc trưa đã ngậm muỗng cơm mà nghe chuông. Có đúng như vậy không con, Tâm An?

– Dạ thưa, đúng ạ. Chú lí nhí mắc cỡ, trước tiếng cười của hai anh. Thầy cũng cười, làm như chú là một chú hề trong rạp xiếc vậy.

– Tâm An con! Tại chùa này chúng ta thực tập chánh niệm. Chánh niệm tức là con biết được những gì con đang làm trong giây phút này, ở đây. Ví dụ như các con đang ngồi nghe thầy nói chuyện, các con biết rằng mình đang ngồi nghe. Tương tự như vậy, các con tập nhận biết trong tứ uy nghi: đi, đứng, nằm, ngồi, làm cái gì mình cũng đem ý thức sáng tỏ soi rọi vào. Đó là phép thực tập căn bản nhất.

Thầy ngừng lại, nhìn ba chú như xem thử các chú có hiểu những gì Thầy giảng giải không? Rồi Thầy tiếp tục:

– Vì con người chúng ta hay quên, nên Sư Ông đã tạo ra nhiều cách giúp chúng ta ghi nhớ và quay về trong chánh niệm. Nghe chuông cũng là một phương tiện nhắc nhở ta. Cho nên khi nghe chuông, chúng ta đem tâm ý chạy lung tung đâu đó về lại với thân mình thông qua hơi thở. Các con có hiểu ý của thầy không?

Ba chú chắp tay xá xuống:

– Dạ hiểu ạ.

– Tâm An, các anh của con quên nói cho con biết khi thực tập mình phải áp dụng một cách khôn ngoan, khéo léo, đừng có quá cứng ngắc. Giống như hồi trưa, con có thể đưa cơm vào miệng, để muỗng xuống bát rồi ngừng lại thở cũng được, nếu con thao tác như vậy trong chánh niệm thì cũng như con đang đem tâm về với thân vậy. Nhưng cách thiết lập chánh niệm nhanh nhất, tốt nhất là theo dõi hơi thở.

Tâm An nhìn Thầy, chú cảm nhận được tình thương của Thầy thông qua giọng nói trầm ấm, ánh mắt trìu mến. Trong lòng chú trào dâng một niềm thương kính vô hạn. Thầy không như cha chú, khi lầm lỡ, thì Thầy chỉ bảo cặn kẽ, còn cha chú nếu có lỗi thì bị la, bị đánh mà chú chẳng biết sau này mình nên làm cái gì, không nên làm cái gì, cũng không hiểu tại sao mình làm như vậy là sai trái nữa. Sau mỗi lần bị la, bị đánh chú chỉ biết rằng nếu mình làm lại việc đó thì sẽ bị phạt. Chú sợ bị đánh, sợ bị la nên không làm thôi, chứ chú chẳng hiểu được người lớn. Người lớn kỳ lắm, lúc vui thì chú làm hư cái gì cũng không bị la, lúc buồn thì bị mắng ngay. Người lớn thật khó hiểu quá. Thầy cũng là người lớn, mà sao Thầy không hành xử như ba chú nhỉ. Tâm hồn chú cứ thả theo suy nghĩ. Vậy Thầy có phải là người lớn không? Nếu nhìn bề ngoài Thầy cũng lớn như ba chú ấy chứ. Bất chợt Thầy gọi:

– Tâm An, con đang suy nghĩ gì thế?

– Dạ thưa, con … con đang nghĩ… con nghĩ Thầy có phải là người lớn không? Chú nói xong rồi nhìn Thầy chờ đợi sự phản ứng của Thầy.

Thật bất ngờ, chú thấy Thầy cười, Thầy cười rất vui và hai anh cũng cười. Chợt chú đỏ mặt, mình lại ngớ ngẩn nữa rồi, Thầy nhìn chú hỏi:

– Tại sao con hỏi vậy?

– Dạ thưa, tại con thấy Thầy hành xử không như những người lớn mà con gặp. Họ chỉ bảo con là con nít thì không được làm cái này, làm cái nọ mà chẳng giải thích tại sao không được làm kia chứ? Người lớn họ lạ lắm, có nhiều điều họ nói không được làm vì nó không tốt nhưng họ vẫn làm. Còn Thầy không giống họ, Thầy chỉ dạy con làm gì thì con thấy Thầy cũng làm như lời Thầy dạy. Con nghe mẹ con nói: “chỉ có con nít mới nói chi làm nấy, nghĩ gì nói nấy thôi. Còn người lớn họ muốn nói gì cũng phải suy xét trước sau, thiệt hơn”. Cho nên con phân vân không biết Thầy có phải là người lớn không? Và tại sao Thầy lại biết con nít cũng cần được giải thích mọi chuyện khi yêu cầu chúng con làm?

Nghe chú trả lời Thầy thấy vui vui. Thầy bảo:

– Từ từ rồi con sẽ biết thầy là con nít hay người lớn. Nhưng thầy muốn nhắc con một điều, là khi đang nghe giảng, hoặc làm bất cứ việc gì con cũng phải tập trung, đừng để tâm ý lôi kéo mình đi như vừa rồi. Con có thấy không? Tâm ý của mình như một con khỉ cứ nhảy từ cành này sang cành khác mà không chịu đứng yên. Con đang nghe thầy giải thích việc nghe chuông, thì để tâm ý đâu đâu, con thấy mình có nên như vậy không?

– Dạ thưa, không nên ạ.

Chú rất khâm phục Thầy mình, Thầy nói như vậy chứ không bắt ép chú mà chỉ khơi lên để chú tự nhìn ra là mình không nên như vậy. Chú cảm thấy thật nhẹ nhàng. Ngồi bên Thầy, nghe Thầy dạy bảo sao mà thích thế! Lời dạy nào cũng dễ hiểu, khuyến khích chú thực tập.

Đến đây, Thầy bảo:

– Thôi chúng ta ngừng nhé. Các con có thể đi chơi, nhưng phải tắm rửa sạch sẽ trước giờ cơm chiều.

Nói xong Thầy thỉnh ba tiếng chuông, bốn thầy trò nghe chuông, thở, mỉm cười. Tâm An cảm thấy càng lúc việc thực tập nghe chuông càng có ý nghĩa. Chú mơ hồ cảm nhận ra rằng đằng sau việc thực tập này có nhiều điều mầu nhiệm mà chú chưa khám phá ra được.Mỉm cười

 

Mời quý bạn đọc đón xem phần tiếp theo của Phương Trời Lạ do sư cô Chân Vỹ Nghiêm viết tặng khung trời tuổi thơ.

Chương 2: Thế giới của thơ và nhạc

Nha Trang ngày về (hết)

Donna Donna

8h’05’: Cũng bởi vì chúng ta đã có nhau rồi từ lâu

Buổi văn nghệ và thiền trà như thường lệ là những hoạt động cuối cùng của khóa tu. Tôi đã cùng những người bạn mình hát thật nhiều. Hát cho ý thức mình bừng tỉnh.

Đâu bao giờ có chia ly. Chưa bao giờ là đoạn kết.

Biết vậy, nhưng tôi thấy có rất nhiều những giọt lệ rơi trong những ngày cuối. Tôi được biết rằng có một số thanh thiếu niên đã phải miễn cưỡng đến đây để rồi sau bốn ngày ba đêm chợt nhận ra mình sắp phải mất đi một điều gì đó thiêng liêng và ý nghĩa. Ta cứ tưởng đoá Đỗ Quyên trước hiên nhà không sắc không hương, bỗng một hôm dừng bước ngỡ ngàng thì hương hoa đã phai nhạt cành lá đã rụng rời. Nhưng các bạn ấy đâu có biết rằng, dưới lớp đất đen màu mỡ vẫn còn đó những hạt giống. Ai đó đã nói với tôi rằng Khoá Tu Kim Sơn là một vườn ươm.

 

09. Choi tro choi tap the

Nắng trên hòn Gành chưa bao giờ tắt. Trăng chưa hề tàn trong những đêm liên hoan. Mỗi một thiền sinh đến với nơi đây khi ra về đã mang trong mình một chủng tử. Chủng tử của Ánh Sáng. Nhật Nguyệt – hai nguồn năng lượng lớn lao đó đã đi vào trong tâm thức mỗi người. Tình thương diệu ngọt tựa mảnh trăng vàng. Trí tuệ bừng sáng như mặt trời đỏ. Tất cả hạt giống đã được trao truyền để đợi những mùa sang năm tuôn dậy, trình hiện trên khắp những hàng quán chói chang cuộc đời.

 

Bài hát Donna

Khóa tu lần này tôi được dịp ngồi bên thầy Đại Hỷ và được nghe thầy giải thích về 14 bài kệ Chỉ và Quán. Khánh Chung có biết tôi luôn ghi nhớ bài nào không? Đó là…

Như chim có hai cánh
Thiền tập có chỉ quán
Hai cánh chim nương nhau
Chỉ và Quán song hành”

Khi học nếp sống tỉnh thức, chúng ta thường có cảm tưởng là mình phải thực tập Chỉ (Dừng Lại) rồi mới đến Quán (Nhìn Sâu). Nhưng thực tế hai phương pháp ấy chỉ là hai mặt của đồng xu, hai cánh của loài chim biển. Ví như khi ta xem một bức tranh thì giây phút ta Nhìn Sâu cũng tức là mình đã Dừng Lại. Càng có thời gian dừng lại thật lâu thì ta càng có cơ hội nhìn sâu và ta có thể phát giác cái hay đẹp của bức tranh ấy. Cho nên khi thục tập Dừng Lại thì tức là ta cũng đang Nhìn Sâu. Khi Nhìn Sâu tức là ta cũng đang Dừng Lại.

Bốn câu xúc tích đã đánh động tôi về một bài hát tuổi thơ. Một đoản khúc đồng quê đã làm say mê bao trái tim, thổn thức vạn tâm hồn. Khúc ca ngắn ngủi đó kể về câu chuyện một chú bò đáng thương. Suốt đời mình, chú chỉ mải miết kéo chở những cỗ xe rau quả, ngũ cốc. Chú luôn mộng ước được bay cao. Chú luôn mong mỏi được là cánh nhạn tung cánh về phương Nam. Chú mơ mình là gió ngàn rong chơi bốn mùa hoa lá. Thực tế là Donna đang bị đem ra chợ bán và sắp phải sang tay một người chủ mới. Kết thúc bài ca là một tiếng vọng về trong hư không. Đó cũng là câu quan trọng nhất toàn bài…

“Whoever treasure the freedom has learn to fly.”

Bạn ơi nếu muốn cất cánh thì phải học cách bay. Nếu không muốn đánh rơi tự do thì phải học cách bay. Chỉ vậy thôi đừng than thở nữa.

Tôi biết rằng bạn cũng như tôi đã bao lần ngần ngại, ngập ngừng khi đứng trước cánh cửa Phật Giáo. Ba tạng kinh điển, 84 vạn pháp môn dễ khiến cho vị hành giả khổ trí lao tâm. Đó như khu rừng mênh mông làm nản lòng lão tiều phu. Đó như biển xanh sâu thẳm bào mòn chí người ngư phủ. Nhưng bạn cùng tôi đã có Chỉ và Quán. Ta có thể yên lòng. Ta không còn lo sợ nữa. Chỉ cần thực tập Dừng Lại và Nhìn Sâu là ta đã có cây gậy băng rừng, chiếc bè vượt biển. Chúng ta có một con đường thật sáng rõ, phải không Khánh Chung?

Đôi cánh của Chỉ và Quán đã có nơi tự tâm mỗi người. Liệu ta có đủ dũng cảm để học, để vài lần vấp ngã, đôi lần trượt té rồi được bay cao hay không? Hay ta giống như Donna, tiếp tục lê bước quanh quẩn trên những nẻo đường bụi bặm. Bài ca Donna là bài hát về tự do. Và nếu ta biết thế nào là “Nhìn Lại” thế nào là “Nhìn Sâu” thì ta có đôi cánh chim trời. Ta có tất cả. Bao la trời cao, mênh mông biển rộng. Không tù ngục nào có thể giam hãm thân xác ta. Không mùa đông nào có thể làm trái tim ta lạnh giá.

Tự do! Ai mà không trân quý tự do, phải không Khánh Chung? Nhưng chúng ta phải bay, phải học cách cất mình khỏi những điều hữu hạn nơi thế gian này. Bạn có thể cùng tôi mừng vui vì ta đã biết được bí mật muôn đời. Bí mật của hạnh phúc. Chúng ta là những người giàu sang và may mắn nhất trần thế. Mình đã được truyền trao đôi cánh. Và với sự thực tập mỗi ngày, ta sẽ có cơ hội được vỗ đập lên không trung âm thanh của đại bàng. Với đôi cánh này, chúng ta sẽ không như chú bò tủi hờn kia nữa. Ta sẽ không đứng giữa chợ than thân trách phận, hơn thua với những điều nhỏ nhoi, vụn vặt. Ta vươn mình bay cao khỏi ngọn Tứ Sơn chật hẹp, đến với phương trời tự tại, dập dìu áng mây vàng.

Khánh Chung sẽ chọn như thế nào đây? Ngoan ngoãn với những lối cùng hẽm cụt hay phiêu diêu nơi mây trắng, trời xanh…?

 

Tin nhắn của Thầy Quảng Kim

Trong khoá tu, tôi được đọc lá thơ của Thầy Quảng Kim. Tôi muốn chia sẻ với Khánh Chung những cảm nhận của mình. Tôi biết rằng trong thời điểm viết thư, thầy đang gặp nhiều gian khó. Tuy vậy, suốt trong những dòng thơ không thấy một lời trách, tiếng than. Thay vào đó, chỉ là những niềm vui, những kỉ niệm đẹp ở thị xã Vĩnh Ngọc thành phố Nha Trang này. Thầy nhắn chúng tôi rằng dẫu phải chia xa nhưng tâm hồn thầy vẫn dõi theo từng tiếng thở nhịp đập của quê hương yêu dấu. Thầy còn nói đến hai cánh cửa kỳ diệu Bản môn và Tích môn. À phải rồi, Thầy còn nhắc cho chúng tôi về những thanh âm quen thuộc… Đó là những tiếng khua vang ngày mới, xé rách màn đêm…

t.u…..t..u……….t……u……t………u…….t………u.…………t…..u

Tôi xin dành chút câu chữ cuối cùng này để kể cho Khánh Chung về những chiếc hỏa xa chạy dưới chân đồi Kim Sơn. Mỗi khi đi qua thì tiếng còi tàu luôn đánh động tôi về sự sống, ánh sáng, niềm tin, hy vọng và tuổi trẻ. Tất cả đang có mặt. Mọi thứ vẫn hiện hữu.

Khi tôi viết thư thì mỗi dòng chữ cũng là một đoàn tàu. Và âm thanh đánh thức tôi chính là “Khánh” và “Chung”. Tiếng khánh, tiếng chung luôn là pháp khí, là vật thiêng liêng đỡ nâng cho tôi trong sự thực hành nếp sống tỉnh thức. Và khi viết nên hai chữ thân quen “Khánh Chung” cũng là lúc tôi có cơ hội dừng lại. Ý thức tôi có mặt. Ý thức những con chữ bình lặng cũng có thể tạo ra niềm vui hay nỗi khổ. Tôi cẩn trọng từng nét bút giọng văn. Tôi biết rằng viết thư cũng là một sự thực tập Nói Lời Đúng Đắn…Tôi biết rằng có những người người đã vui, đã hạnh phúc khi nghe tôi bày tỏ nỗi lòng. Nhưng bạn của tôi ơi, bạn có biết không? Sự thật là khi trao một bức thông điệp lành, truyền một tin vui thì chính tôi mới là người sung sướng nhất. Bạn có biết không? Chính tôi đã được nuôi dưỡng bởi những trang thơ của mình. Khi trút hết tâm tư vào giấy trắng cũng là lúc tôi thấy rõ khuôn mặt của mình hơn, thấu tận nguồn cơn dòng nước tâm hành ….

Đời người ngắn ngủi. Tri âm khó tìm. Đọc thư của những người thương như anh Lữ như thầy Quảng Kim tôi như em bé thơ hằng đêm bắt ghế trông ngóng theo những toa hàng rực rỡ, chói loá. Những dòng chữ như đoàn tàu lấp lánh, ấm áp giúp tôi có thêm nhiều ước mơ và hy vọng. Và nay tôi lại viết cho Khánh Chung. Con tàu mang tên Thống Nhất, kết nối hai miền Nam Bắc đã lại lên đường, bắt đầu lăn bánh tiếp nối một chu kỳ. Và trong bức tranh tuổi thơ huyền diệu đó, tôi nguyện ước thấy bóng hình Khánh Chung. Thêm một em nhỏ nữa. Hai đứa trẻ. Hai tâm hồn thơ dại cùng nhau dõi theo những khoang tàu cổ tích, ngập tràn mảnh mảnh trăng vỡ sao rơi…

t.u…..t..u……….t……u……t………u…….t………u.…………t…..u

 

Tim an bình. Tâm rộng mở.

HẾT

Và vẫn còn……Những hàng chữ vẫn nối dài….

 

Hương ngả đầu ra sau lên giọng:

– Tên bạn dài quá hà. Từ nay mình sẽ gọi bạn là Xê.

Khánh Chung suy nghĩ, gật gù trả lời:

– Cũng được. Nhưng mà, tên bạn cũng dài. Cái dzì mà Dạ Lai Hương. Hỏng hiểu. Từ nay, mình đặt lại tên cho bạn. Mình sẽ gọi bạn là Hắc.

Hương lắc đầu ngầy ngậy. Khánh Chung chợt la lớn:

-AAA! Tới rồi! Tới rồi! Tàu tới rồi!

-Ờ. Tới rồi!

Hai đứa im lặng hồi lâu. Rất lâu. Hương lim dim, hỏi:

– Xê có nghe cái dzì hôn?

-Nghe dzì?

-Thì tiếng còi tàu đó.

-Ừ, mình thích nó lắm. Mà tại sao người lớn lại ghét nó nhỉ?

– Hương cũng hỏng biết nữa? Chắc tại nó ồn?

-Nhưng Chung thấy nó có ồn cái dzì đâu.

Khánh Chung tỏ vẻ hiểu biết:

-Ê, Hắc. Mình thấy có những người hay nói dzống tiếng còi tàu đó.

Hương ngạc nhiên, quay đầu:

-Ai dzậy?

-Thì mấy ông thầy tu đó.

-À, hi hi. Đúng rồi. Họ hay đi chung dzới nhau như một đoàn tàu.

Khánh Chung nhìn Hương chờ đợi. Hương chợt vỗ tay:

– À, hiểu ý rồi. Mấy ổng cũng suốt ngày  t.u…..t..u……….t……u…t……u..

Hai đứa khoái chí cười vang. Hương nghĩ ngợi:

– Mình thích họ. À không, thật ra thì mình thích tiếng còi tàu.

– Ừ, mình cũng thích tiếng còi tàu.

– Bạn xem mình làm có giống không?

– T..u….t…u…..t…….u………..t…………u

– Ha ha! Mình sẽ t…u….t……u như dzậy hoài nhé?

– Ừ, bạn dzà mình sẽ là hai toa tàu không rời.

t…..u…….t….u……t…….u……………tttttttttttttt……….uuuuuuuuuuuuuu

 

Nha Trang ngày về (p5)

 

A Cappella cho tất cảc

7h45’: Vấn đáp

Khoá tu lần này vì được tổ chức vào mùa hè nên rất đông các bạn trẻ tham dự. Tôi được thông báo số lượng phải hơn 400 người. Những điều nghe thấy…

… Và hôm nay sẽ có buổi vấn đáp.

41. No mud no lotus

Làm thế nào để biết được tình thương chân thật? Tình yêu đến từ rung động của trái tim hay là thể xác?

Thế nào là đồng tính luyến ái? Kết hôn với một người đồng giới có phải là một tội ác hay không?

Khi cái sai, cái xấu, cái giả liên tục xuất hiện trên những kênh thông tin đại chúng thì dần dần chúng cũng được chấp nhận như một sự thật hiển nhiên. Vậy làm sao để ta không phải trở thành nạn nhân của những phương tiện truyền thông đó?

Nền văn hoá Á Đông vốn coi trọng sự khiêm tốn, đề cao những hình mẫu hoàn hảo. Nhưng sự khiêm tốn và hoàn hảo dần khiến cho người ta trở nên dối trá, giả tạo. Vậy làm sao để không phải trở thành nạn nhân của chính nền văn hoá đó?

Làm thế nào an vui khi xung quanh ta có quá nhiều khổ đau?

 

Những phương pháp tu tập vốn có nhiều sự khác biệt. Vậy ta phải làm sao có thể dung hòa để không gây ra sự đổ vỡ, nghi kỵ?


Thật là lạ thường, phải không Khánh Chung? Tại sao những thắc mắc như vậy lại xuất hiện giữa nơi đạo tràng thanh tịnh? Chúng ta có thể tự vấn mình: Gia đình, học đường và xã hội đã giữ một vai trò như thế nào, đã vận hành ra làm sao để rồi những dấu chấm than, chấm hỏi đó lại lưu vết in dấu trên mảnh đất già lam yên bình này? Dưới nơi Phật đài, tôi đã nghe không biết là bao những băn khoăn, hoang mang về giới tính, tình yêu, tuổi trẻ và lý tưởng…

Trên đường lên Kim Sơn, tôi đã chứng kiến một sự thật đau lòng. Hai con người chỉ vì một va chạm nhỏ trên đường đi đã lao vào nhau như loài thú dữ. Không cần một lời giải thích, họ trút hết tất cả cơn giận dữ lên thân thể nhau. Và xung quanh dòng người vẫn còn đang chen chúc, giành giựt từng không gian ngã tư chật hẹp để tiến lên phía trước. Đây không còn là những hình ảnh hiếm gặp ít thấy. Tại sao kinh tế phát triển, đời sống đi lên mà máu vẫn chảy, nước mắt vẫn rơi?

Chúng ta hỏi nhau: Ai đã gây ra tình trạng này?
Loạn lạc, chiến tranh vẫn còn đang tiếp diễn khắp mười phương. Sự phát triển của khoa học chỉ có thể giảm bớt những bệnh tật về thân. Nhưng đứng trước những vấn đề của tâm, nhân loại bỗng trở nên nhỏ bé, bất lực. Những tiện nghi của công nghệ không thể thiết lập được truyền thông giữa cá nhân với gia đình và xã hội. Loài người đã mất dấu nhau. Đau thương đã tràn lấp. Bóng tối vẫn trực chờ. Và trong đêm thâu hun hút đó một tia lửa nhỏ – ánh Đạo vàng – đã chớp loé, soi rọi, dẫn chiếu cho bao nhiêu linh hồn lạc bước tìm về lối cũ đường xưa….

Thông điệp của Khoá Tu

Tôi đã được dạy rằng khi ta có những khó khăn thì điều hay nhất ta có thể làm là thở một hơi thật sâu và mỉm một nụ cười thật nhẹ. Thở và Cười. Chỉ đơn giản vậy thôi. Đó chính là câu trả lời cho tất cả. Đó cũng là thông điệp của khóa tu lần này. Khi ta thật sự trở về với hơi thở, khi ta mỉm được nụ cười chân thật thì ta có bình an, thanh thản. Năng lượng của sự hay biết, của ý thức có mặt thì nỗi khỗ, niềm đau của ta sẽ không còn cơ hội vùng vẫy, khuấy động. Chúng sẽ lại là những hạt giống được ngủ yên trở về với mảnh đất tâm hồn. Vì vậy cho nên nếu mỗi ngày ta hết lòng thực tập theo từng câu kinh bài kệ, nếu ta đặt trọn tâm trí vào từng bước chân, hơi thở, nụ cười thì ta đang tích luỹ cho mình một nguồn năng lượng vĩ đại. Năng lượng đó sẽ như đất, nước, gió, lửa tưới tẩm những hạt giống mà ta đã gieo trồng. Để rồi một sớm mai kia, bạn của tôi ơi! Khi thăm lại khu vườn tâm thức bạn chỉ còn bắt gặp những dãy màu đỏ thắm vàng tươi ngập tràn. Vỏ cứng đã vỡ nát. Hạt mầm năm xưa đã là đoá xuân ngời trong bình minh toả rạng…

Có thể trong ta vẫn còn những vấn nghi, những khắc khoải. Có thể ta vẫn chưa tìm ra một câu trả lời rốt ráo cho những khó khăn bản thân. Nhưng chủ đích của một buổi vấn đáp hay pháp đàm không nhất thiết phải tìm ra một giải pháp hay một lối thoát. Tu học không phải là công trình của những khối óc. Mục đích của ta là được ngồi với nhau, có mặt cho nhau. Khi tham gia một buổi như vậy tức là ta có cơ hội được ngồi yên bên người anh người chị của mình. Ta thực tập sống trong tình anh chị em. Ta lắng nghe nỗi niềm của nhau, nói bằng lời ái ngữ và nghe với tâm buông bỏ. Ngồi lắng nghe người khác trút bớt nỗi lòng là ta có cơ hội được tiếp xúc gần hơn với thực tại của người ấy. Chỉ vậy thôi mà người kia bớt khổ. Trong buổi vấn đáp hôm nay, tôi thấy nhiều người đã ngồi thật tĩnh lặng. Tôi thấy mình đang được nuôi dưỡng bởi sự vững chãi và bất động đó. Khi ta còn hơi thở, còn nụ cười thì ta có thể yên lòng. Lời giải đáp, một nẻo thoát, lối về chắc chắn sẽ sáng tỏ. Tôi mong sao mình sẽ luôn duy trì được nguồn năng lượng lớn lao này. Tôi nguyện ước: Trước mọi biến cố khó khăn, tôi vẫn sẽ luôn Thở và Cười được. Giữ được hơi thở và nụ cười thì mọi vết thương sẽ liền da, bao ách nạn sẽ đóng khép. Tôi có niềm tin như thế đó, Khánh Chung! Tôi có niềm tin nơi Bụt Dược Sư. Tin vào Bụt Dược Sư. Tin vào năng lực chuyển hoá, chữa lành mọi khổ đau, tật bệnh…

Quản lý năng lượng
Trong các câu hỏi được đưa ra, có một thắc mắc làm tôi giật mình chú ý. Đây cũng chính là tình trạng mà tôi đang mắc phải. Một bác Phật tử đã nhắc đến vấn đề “quản lý năng lượng” và hỏi rằng:

Làm sao tận dụng được thời gian tu học một cách hiệu quả?

Đầu tiên, ai trong chúng ta cũng đều thấy rằng quản lý thời gian sao cho thật khoa học là một điều cần thiết. Nhưng sau khi đã sắp xếp cho mình một thời khoá hoàn chỉnh “giờ nào việc đó” thì đôi lúc ta lại đánh mất mình trong chính thời khắc ấy. Vậy thì điều thứ hai là ta phải biết cách quản lý năng lượng của sự hay biết. Tức là ta phải biết cách duy trì Niệm Lực của mình. 

Ví dụ như ta có hơn nửa tiếng đồng hồ để đi thiền hành với một người bạn đồng tu. Nhưng sao sự vững vàng của ta rất ít ỏi, nhưng khi nhìn sang người bên cạnh thì có khi chỉ vài bước chân thì niềm vui, sự bình an của họ đã toả chiếu. Khánh Chung có thấy sự khác biệt ấy không? Ba mươi phút của người này là thiên thu nhưng với người kia thì có khi chỉ là một cái ngoảnh mặt chuyển mình.

Câu hỏi ở đây là làm sao ta có thể quản lý Niệm Lực sau khi đã biết cách quản lý thời gian? Làm sao có thể làm cho năng lượng tỉnh thức của mình thật sự có mặt?  
Trong đời sống hằng ngày, tôi đã sắp xếp một giờ phút để có thể nhìn lại bản thân . Tôi có thể thực tập một mình rất kiên định rất miên mật. Nhưng sao hiệu quả vẫn chưa thấy. Đến khi tôi thực tập cùng tăng thân thì Niệm Lực trở nên sâu dày. Khi tham gia vào ngày Quán Niệm thì tôi thấy mình có nhiều thăng tiến hơn. Bước chân mình vững vàng hơn. Tiếng nói mình yêu thương hơn. Thế ngồi mình thanh thoát hơn. Khánh Chung đã thấy câu trả lời rồi phải không?

Khi ta chỉ là một hạt nước nhỏ thì làm sao có thể dưỡng nuôi, tưới tẩm cho gốc rễ thân tâm? Nhưng khi ta đã hòa điệu với hải hà thì ta có thể đi tới rất nhanh, rất mạnh. Ta hòa vào biển lớn, nương theo dòng ra tới đại dương…

Thoạt nhìn thì mình chỉ tu tập cho bản thân mình thôi. Nhưng khi mình thực tập hết lòng cùng đại chúng thì năng lượng bé nhỏ của ta được ôm ấp trong lòng tăng thân. Và sức mạnh của tăng thân – nguồn lực vĩ đại đó sẽ đi vào châu thân mình. Muốn quản lý năng lượng của sự hay biết thì ta nên nương vào sức mạnh của bốn chúng (Tâm thức của cộng đồng). Nếu muốn thành công trên phương diện tu học thì phải biết nương vào sức mạnh của tăng đoàn. Chân lý giản dị này tôi và Khánh Chung đã được nghe, được dạy. Ấy vậy mà tôi vẫn đôi lần bỏ quên đánh mất trên con đường dưỡng tánh tu tâm…

Ba sự quay về

Trưa nay, tôi thầm lặng cúi đầu quỳ gối dưới ngôi Tam Bảo. Khi năm vóc trở về với đất cũng là lúc tôi lãnh trọn cơn mưa trắng xóa cõi lòng.

Con về nương tựa Tăng
Đã về nương tựa Tăng
Về nương Tăng trong con

3 câu ngắn ngủi, vỡ lòng mà đến nay tôi vẫn chưa thuộc, khi nhớ khi quên.

Tôi nào có khác chi hình bóng ca nhân nơi đất khách quê người. Vì buồn giận tủi hờn mà chàng nghệ sĩ đã vội vã chia tay gánh hát của mình lang thang trên đường xa vạn dặm. Anh nghĩ là có thể an ổn một mình làm thân dế hát rong sau khi nắm bắt âm luật điệu thức. Anh nghĩ rằng mình có thể hát không cần nhạc đệm. Nhưng anh đâu có biết để hát A Cappella thật hay thì phải cần ít nhất 4 người. Rồi ngày trôi đi… Trôi đi… Bốn mùa thay lá…  Một sớm mai tĩnh lặng, khi chân chùng gối mỏi, những dấu hỏi dấu chấm bắt đầu thành hình, thổn thức trái tim, cào xé da thịt…

Ba nghìn thế giới mà ta vẫn
Không biết về đâu? Trụ ở đâu?
Chùa xưa đã đốt. Ta đi vậy
Tam Bảo và em ở cõi nào?

Nhà thơ Du Tử Lê đã hỏi mình và cũng hỏi thay cho bao nhiêu linh hồn vô chủ. “Trụ ở đâu?” “Về đâu?”

Ta có thể trả lời. Sẽ không quá khó khăn để ta đáp lại. “Về nương tựa Tăng”. Nếu được nói một câu về Đạo Bụt thì tôi cũng xin chỉ cất lên bốn tiếng đơn sơ ấy. Nhưng tôi cũng biết rằng có những điều dung dị, giản đơn mà ta học hết kiếp này vẫn chưa xong, trả suốt đời sau cũng mãi còn.

Kim Sơn Tự đã giúp tôi trở về. Trưa nay, tôi đã về lại ngôi trường xưa cũ. Và nguyện ước luôn là kẻ học trò, mãi là người tập sự. Trưa nay, một lần nữa trong tư thế sát đất, tôi thầm ôn lại bài học Nương Tựa Quay Về…

Tim an bình. Tâm rộng mở.

(còn tiếp…)

Nha Trang ngày về (p4)

 

Luân khúc Canon sớm mai

NhaTrangngayve45h30’ :Iha Shaariputra 
sarva-dharmaah shuunyataa-lakshanaa………..

Sáng nay tôi cùng đại chúng ôn tụng Bát Nhã Tâm Kinh. Nghe kinh mà như nghe mưa rơi. Rơi trên mái dạ linh hồn. Từng giọt, từng giọt vỗ về  bao khối hờn đau kết tụ từ muôn vạn kiếp. Trên nền sân của ngôi cổ tự chỉ còn là những “hạt lụy phiền”. Cứ mỗi lần đọc lại những lời dạy của Đức Thế Tôn dành cho người đại đệ tử của mình trong tôi luôn là một cảm giác thanh bình và lân mẫn. Từng dòng kinh kệ như bản luân khúc vỗ vào bờ giác quan, thấm ướt những nơi héo úa khô cằn. Người tôi nhẹ nhõm. Lòng tôi rỗng rang. Hương kinh thơm phức như dòng sữa mà mật ngọt vẫn còn lưu luyến trên đầu lưỡi vành môi. Cánh chim hồn tôi được yên nghỉ ấm êm trong lòng đạo lớn. Từng bước đi là từng hạt giận buồn rụng rơi. Cảm giác này tôi không thể diễn tả bằng lời mình mà đành phải vay mượn thi sĩ Xuyên Trà. Tôi muốn đọc cho Khánh Chung những dòng thơ mà tôi luôn ghi khắc…

Thời kinh ai tụng thơm trời đất
Mà cánh chim về cũng ngủ yên
Sáng ra Bát Nhã bừng tâm thất
Rụng trắng đầy sân hạt lụy phiền.

Bốn câu thơ ngắn ngủi mà nói thay tôi biết bao nhiêu ý tình. Trong những ngày đầu tiên bước vào Cửa Tịnh, tôi đã thầm ước ao mình cũng là Thầy Xá Lợi Phất để được kề cận Bụt, được Bụt chỉ dạy mỗi ngày. Giờ đây tôi đã có thể mỉm cười với ước vọng đó của mình. Bụt có bao giờ xa cách với tôi đâu! Bụt đã hoá hiện trong hình ảnh của một tăng thân. Và tôi đã có thêm nhiều tri kỷ. Những người như Khánh Chung như Xuân Phong như Về Nguồn và còn biết bao những trái tim hai mươi nữa – những người thương của tôi – đoàn thể luôn nhắc nhở tôi, luôn chỉ bày cho tôi nghệ thuật hiểu sâu thương lớn.

Bữa ăn cuối cùng

Bốn ngày tu học thì có đến ba ngày tôi được ăn cùng đại chúng dưới ánh bình minh. Ngồi xoay lưng về phía Đông, hướng mặt vào nhau. Bữa ăn chỉ là một ít xôi và chén sữa đậu nành thôi mà sao ngon và vui quá! Niềm vui vỡ đê tâm hồn. Ánh dương tỏa chiếu, đưa hơi ấm lan truyền trong từng tế bào cơ thể. Những mạch máu trào dâng, lấn chen nhau đón chào khí trời trong tinh khiết. Dòng sông cảm thọ trong tôi sau bao mùa bão lũ đã trở nên hiền hòa, bình lặng. Và trong khoảnh khắc lung linh dịu êm đó, một bức tranh đang nổi trôi, dập dìu giữa khơi chừng sóng xô. Tôi tìm về với những trang kỉ niệm, đọc lại những dòng ký ức của đời mình. À! Thì ra đây là vật phẩm mà tôi đã cất giữ trong tầng sâu tâm thức. Tưởng chừng tôi đã lạc mất đi nhưng hôm nay lại biểu hiện dưới lấp lánh nắng vàng…

Bức bích họa ấy đã rung chuyển cả thế giới. Một bản vẽ chỉ miêu tả khung cảnh của một bữa ăn nhưng đã mất gần 7 năm để hoàn tất. Tài năng của họa sư ở chỗ ông vẽ trên một mặt phẳng nằm ngang nhưng người xem lại thấy được một vòng tròn đa diện. Không gian hai chiều nhưng nhìn kỹ thì đó là một không gian vô cùng tận. Thức ăn được vẽ bằng những hình tròn. Tất cả những người tham dự ngồi quây quần bên nhau hướng về người thầy của mình…Và đó cũng là bữa ăn cuối cùng của họ.

Khánh Chung có biết tác phẩm nổi tiếng ấy không? Ấy là The Last Supper. “Bữa ăn chiều cuối cùng”. Họa phẩm ấy đã đem đến cho nhân loại một nguồn sức mạnh tâm linh siêu việt. Ấn tượng đậm sâu nhất chính là trung tâm của bản vẽ với hình ảnh của Chúa hiền mơ. Khi xem tranh, ta thấy hai sắc thái tương phản nhau rõ rệt. Đức Jesus sau khi thông báo sẽ có người bội phản mình đã ngồi thật thanh thản với hai cánh tay mở rộng sẵn sàng đón nhận tất cả. Trong khi đó, 12 môn đồ của Người thì chia thành 4 nhóm nhỏ hoảng loạn, ngã nghiêng. Giây phút có một không hai đó đã được lưu giữ bởi bàn tay tài hoa của người nghệ sĩ thiên tài Leonardo Da Vinci.

Khi ăn sáng cùng đại chúng tôi thấy rằng lòng mình vẫn còn nhiều trăn trở. Những vết thương sâu kín vẫn chưa lành. Tâm can vẫn còn chưa thôi đau nhức. Nhưng hình ảnh của Chúa Kitô đã truyền đến tôi nguồn cảm hứng vô biên, trao cho tôi nguồn phúc lạc nồng ấm. Người như một hòn sỏi nhỏ rơi nhẹ vào hồ xanh để rồi trên mặt nước tĩnh lặng kia là bao dư ba lan tỏa. Dòng nước hung hãn của những thế lực đen tối cứ mãi dâng cao, tràn lấp. Ấy vậy mà Người vẫn ngồi bình yên như một trái núi. Nước càng lên cao. Núi càng đứng vững. Sự bình an trên khuôn mặt, sự vững chãi trong dáng ngồi của Người đã làm tan chảy biết bao trái tim lạnh lẽo giá băng, đem hừng đông về cho địa cầu sau những đêm dài huyền hoặc, tăm tối …

Sáng hôm nay, tôi thấy một vòng tròn thật đẹp. Tôi được ngồi tĩnh lặng giữa vòng tròn tăng thân trân quý. Mặt trời hồng đã lên cao và trong tôi mặt trời ý thức cũng đang rực cháy. Ý thức rằng đây có thể là Bữa Ăn Cuối Cùng, đây có thể là cơ hội có mặt duy nhất với người thương của mình đang thiêu đốt muôn vạn hồng cầu trong tôi. Vì thế cho nên tôi cẩn trọng từng miếng nhai, hay biết từng hơi thở. Và những giọt tịnh lạc, an định bắt đầu rơi nhẹ lặng lẽ khẽ khàng trên thềm tâm. Tôi chợt thấy rằng khung cảnh mầu nhiệm mà mình đang tham dự chính là sự tiếp nối tuyệt phẩm của Leo.

Chúng ta đâu cần phải là chàng họa sĩ vĩ đại của thành Firenze. Từng nhịp thở, mỗi miếng nhai ý thức đang là những đường nét tạo dựng cho nhân gian thêm một báu vật nữa. Khánh Chung cũng đâu cần phải đến nhà ăn của tu viện Santa Maria delle Grazie ở thành phố Milano xa xôi để chiêm ngưỡng L’Ultima Cena. Vào tuần lễ thứ ba trong tháng của mỗi quý, khi đến với mái chùa cổ ở thị xã Vĩnh Ngọc, thành phố Nha Trang này thì bạn sẽ lại được như tôi vẽ lại tuyệt tác năm nào. Và chắc chắn đó sẽ là những mảng màu, nét bút tươi sáng, rực rỡ gấp ngàn lần hơn. Chủ đề của tác phẩm sẽ là tình anh chị em, tình bạn hữu bao la cao rộng. Tiêu đề cũng sẽ khác đi. Không phải là Bữa Ăn Cuối Cùng nữa mà sẽ là bữa ăn đầu tiên, Bữa Sáng Đầu Tiên. La prima colazione. Vì tình thương không bao giờ cho phép chúng ta nói rằng đây là lần cuối, có phải không Khánh Chung? Sẽ không còn bất cứ một âm mưu, một toan tính nào nữa mà chỉ có sự xót thương, lòng lân mẫn. “Xứng đáng chỉ có lòng xót thương”. Thông điệp của tình thương và hiểu biết ấy tôi đã được nghe. Và tôi lại thêm một lần nữa được nhắc nhở trong buổi ăn sáng thiêng liêng này…

Nha Trang ngày về (p3)

 

Sonata dưới ánh trăng


19h45’: Trăng lên tự bao giờ?

trang-NhatrangTối nay tôi được thông báo sẽ có thiền trăng. Tôi bắt đầu viết nên những dòng tâm nguyện của mình. Mọi người cũng sẽ như tôi, cũng sẽ gửi vào trang giấy thơm bao nhiêu là nỗi ước niềm mong của mình. Nếu có cơ hội được viết thì Khánh Chung sẽ viết gì?  Có phải bạn sẽ khởi đầu như thế này hay không?
“Mong sao cho con

Mong sao cho gia đình con
Mong sao cho những người con thương
Mong sao cho những người con chưa thương…

…được an lạc và nhẹ nhàng trong thân tâm
…được sống an toàn, không vướng vào tai nạn
…được thoát khỏi những giận hờn, phiền não, sợ hãi và lo lắng
…biết nhìn mình bằng con mắt hiểu biết và thương yêu
…nhận diện và tiếp xúc được với những hạt giống của niềm vui và hạnh phúc
…nhận diện và thấy được cội nguồn của những giận hờn, tham đắm và si mê trong bản thân
… biết nuôi dưỡng mình bằng những niềm vui mỗi ngày
…được sống mát mẻ, vững chãi, thảnh thơi
…không rơi vào thái độ dửng dưng và không kẹt vào hai mặt vướng mắc và ghét bỏ.”

Ai mà không có nhu yếu được đem đến niềm vui, được chia xớt nỗi khổ phải không Khánh Chung? Ai mà không muốn được yêu thương chân thật? Khi lòng ta phát khởi một ý muốn hướng thượng, một thiện nguyện thì dù chưa thành tựu chính ta cũng được tưới tẩm, dưỡng nuôi. Đó chính là thức ăn bổ dưỡng mà ta phải nhận diện mỗi ngày. Thế cho nên, tối hôm nay tôi hạnh phúc lắm. Tôi được ngồi trong vòng tròn đại chúng và chứng kiến vô lượng hạt giống hiểu biết và thương yêu đang được tung rải trên vườn hoa ý thức lòng mình…

Hoà bình trong lòng người

Ta có thể hỏi nhau mình tham gia một Khóa Tu thì có thể đóng góp gì cho xã hội hay không? Mọi người đến với khóa tu đâu phải để làm kinh tế hay tìm kiếm lợi danh. Tất cả chỉ đi với nhau, ngồi ăn cơm với nhau, chỉ có mặt cho nhau. Tất cả chỉ muốn dừng lại. Như những người nông dân khôn ngoan để cho mảnh đất của mình ngơi nghỉ sau một vụ mùa gặt hái. Đất đai sẽ có được một thời gian bình yên, an ổn để có thể tái tạo sự sống, phục hồi những dưỡng chất trong chính lòng mình. Hơn bốn trăm con người chúng tôi cũng vậy thôi. Chúng tôi cũng ngồi thật vững chãi, an nhiên như lòng đại địa. Chúng tôi cũng muốn để cho cánh đồng tâm thức của đại chúng được dịp ngơi nghỉ, ngủ yên. Không khí im lặng hùng tráng này sẽ nuôi dưỡng, tịnh hoá mảnh đất thân tâm. Đêm hôm nay là đêm nguyện cầu cho hoà bình nhân loại. Nguyện ước cho một vụ mùa sum suê những hoa trái Bi-Trí-Dũng. Cầu mong cho những mùa Lạc – mùa của an vui – sẽ tuôn dậy tràn lấp khi gió xuân về.  

Lúa trên đồng có thể lên đòng đơm bông từ đâu nếu không nhờ những hạt giống nảy mầm nằm sâu trong đất ruộng? Hoà bình dân tộc, hòa bình thế giới khởi đầu từ đâu nếu không phải là trong tự tâm của mỗi người?

Khánh Chung có biết rằng nơi chúng tôi tĩnh tọa cách đây chỉ vài mươi năm còn là vùng diễn ra chiến sự hay không? Những họng súng cùng những viên đạn đồng đen nay đã phải nhường chỗ cho tượng đài Quan Thế Âm. Không gian chết chóc và bầu khí quyển đầy tràn uất hận đó nay đã được thay bằng năng lượng bình an, thuần từ. Thật là nhiệm màu quá phải không Khánh Chung? Ta nghĩ rằng giữa sa mạc không một bóng cây ngọn cỏ của sự sống ấy vậy mà một ngày kia nước trong tĩnh lặng từ đâu tuôn trào. Đóa hoa vô thường không ai biết đã lặng lẽ ươm mầm để hôm nay bung cánh tỏa hương. Cuộc đời vẫn đẹp sao! Tình người vẫn còn lấp lánh lắm!

Khánh Chung có biết rằng nơi đây đã từng lưu giữ bóng hình của một vị cao nhân hay không? Chỉ với đôi chân trần mà Người đã trao truyền Năm Giới cùng Mười Điều Lành khắp non sông Đại Việt. Chỉ với hai bàn tay trơn nhưng Người đã đặt nền móng hòa bình, đoàn kết và thịnh vượng cho dân tộc trong hơn 150 năm. Tôi đang nói đến bậc Điều Ngự Giác Hoàng – Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Trên con đường đi vào lòng muôn dân, Tổ đã đến núi Gành và trùng tu tại ngôi Kim Sơn cổ tự này. Mảnh đất này đã là thánh địa. Kim Sơn đã là một huyền thoại rồi đó, Khánh Chung!

Công trình của Trúc Lâm Đại Sĩ đã được tiếp nối. Không phải bằng chùa vàng điện ngọc, mà bằng những hơi thở nhẹ sâu. Chỉ cần duy trì hơi thở thôi là tôi biết mình đã góp thêm chút ít cát đá để làm nên con đường Tùng thênh thang trong mát. Chỉ cần giữ chặt yên cương tâm ý thì tôi sẽ về được rừng Trúc xanh miên man thuở nào.

Đêm nay cũng là đêm năm xưa…
Và chiếc võng thời gian vẫn đang chậm rãi đong đưa ru sâu hồn người..
…tìm về những tháng ngày hoàng kim, châu báu

Ông lão đánh cá và hòn tuyết lăn

Đến với Kim Sơn tôi đã hứa với lòng là phải làm được một chuyện. Đó là Dừng Lại. Thực tập “Dừng Lại” là công tác của tôi mỗi ngày. Khánh Chung có biết không, tôi vẫn sống, vẫn ăn, vẫn đi, vẫn ngồi và vẫn thở. Nhưng sống như thế nào, ăn, đi, ngồi và thở như thế nào để có thể Dừng Lại. Dừng Lại cho bằng được dòng nghiệp lực của mình.

Hầu hết chúng ta đều bị cuốn theo những suy tư, lời nói và hành động. Dòng chảy đó đôi khi chỉ là những con kênh lạch bé nhỏ nhưng có khi cũng như những đợt sóng thần bạo tàn cuốn trôi tất cả và để lại không biết bao bất hạnh đau thương.

Chúng ta bị chìm đắm theo con nước hôm qua. Chúng ta xuống lên theo triều cường hôm nay. Và những ước vọng về một sớm mai huy hoàng, những mơ tưởng về một ngày kia tươi sáng lại đánh động tâm hồn chàng thuỷ thủ. Người thuyền nhân lại tiếp tục giong cánh buồm đỏ thắm ra khơi, tìm về hải đảo xanh ngát của tự do, của ánh sáng. Không bao giờ ngơi nghỉ. Không bao giờ dừng chân. Anh ta đâu có hay rằng mình đã bỏ lại sau lưng một điều thiêng liêng nhất. Đó là thực tại mầu nhiệm – chốn thần tiên, quê hương đích thực của mình.

Tôi không muốn làm ngư ông suốt đời chạy theo một con cá trên đại dương vô tận. Ông lão ấy cuối cùng cũng có được thứ mà mình mong muốn. Nhưng than ôi! Giờ đây trong tay ông chỉ là một bộ xương khô trắng. Tôi không muốn trở thành hòn tuyết trôi lăn trên đồi núi dài rộng. Hòn tuyết ấy cứ xoay tròn ngày càng nhanh hơn và trở nên to lớn hơn. Nhưng kết cuộc rồi nó cũng sẽ vỡ tan, nát vụn thành bụi cát… Tôi chỉ muốn một điều thôi. Tôi muốn ngưng đọng tâm tư. Tôi muốn neo đậu con thuyền ý thức vào giữa mặt nước của trái tim mình. Và may mắn thay! Trong đêm thanh vắng hôm nay, tôi có thêm cơ hội ngồi thật thảnh thơi đi thật vững vàng…

Khánh Chung biết không, trăng bấy giờ đã lên cao rồi đó. Ánh vàng toả chiếu, soi rọi trên ao nước hồn tôi. Thanh Lương Nguyệt – người bạn cũ lâu năm –  quàng cánh tay ấm lên bờ vai, hàn huyên với tôi niềm phúc lạc của sự sống…

Phóng tầm nhìn lên trên, đôi mắt tôi chứng kiến mùa trăng đang nở chín khắp vùng trời. Và bên dưới chỉ còn là hai màu trắng đen le lói, nối tiếp nhau như những phím đàn dương cầm. Mỗi bước chân như một nhịp chạm đập vào lòng thực tại. Khúc Tâm Từ dần dần rung vang những nốt nhạc đầu tiên. Đoàn người vẫn bước đi, lưu dấu lại trong thực địa âm giai thân thuộc. Bài ca Tâm Từ cất lên rồi đó, Khánh Chung! Bản Sonata Dưới Ánh Trăng phát xuất từ muôn trái tim khởi đi từ bao tấm lòng…

avera hontu
abyapajjha hontu
anigha hontu
sukhi – attanam pariharantu…

Trên  sân khấu của đất trời chỉ còn là bản hợp xướng Từ-Bi-Hỷ-Xả. Và tấm màn nhung huyền Khổ-Đau-Sầu-Vướng đã khép lại tự bao giờ…

Nha Trang ngày về (p2)

 

7 giờ 45’ sáng. Điểm đến: Kim Sơn. Ánh sáng toả rạng

Sermon on the Mountain

Vậy là tôi đã có mặt tại khoá tu Mùa Hè ở Kim Sơn. Tôi thích con đường lên núi lắm. Lối đi ấy không quá dài để làm khách bộ hành thấm mệt và cũng không quá ngắn để xa rời sự nhộn nhịp chốn đô thành. Đây cũng chính là con đường Phượng Bay. Màu đỏ hồng của hoa phượng rực rỡ điểm tô giữa nền xanh thăm thẳm. Và trên núi cao là cả một dòng sông mát trong đang tuôn chảy dạt dào. Mỗi sớm mai, khi hừng đông tỏa chiếu thì người dân xung quanh lại được chứng kiến một cảnh tưởng hùng tráng: Con sông khởi đầu từ đỉnh đến chân núi, dừng lại rồi lại trở lên, về với gốc rễ cội nguồn.

Khánh Chung chắc là sẽ ngạc nhiên phải không? Làm gì có dòng nước nào có thể từ vùng thấp chảy ngược lên cao?
Bạn thân mến, tôi đang nói về tăng thân trân quý. Vì tăng thân thì luôn đi với nhau như một dòng sông. Đó chẳng phải là điều chúng ta thường hay đem ra cho nhau ghi nhớ đó sao?

nhatrang_ngayve

Trong khoá tu, sáng nào Ôn Kim Sơn cũng đi thiền hành cùng đại chúng. Hình ảnh Ôn dẫn đầu tăng thân như cơn mưa giao mùa lấp lánh, dịu ngọt. Ôn rất kiệm lời nhưng bao nhiêu đó thôi cũng đã làm tròn đầy khỏa lấp niềm hỷ lạc trong tôi. Đó là bài giảng trên núi. Sermon on the Mountain. Mỗi buổi sáng là tôi lại được nếm lại bài thuyết pháp thơm ngát này. Diệu âm tuy vô thanh nhưng đã làm rung chuyển biển sông núi đồi. Chỉ là những bước chân thầm thì bé nhỏ mà đã làm người khách tang hải phong trần giấc tỉnh mộng tan. Ôn như con sóng đầu đàn và theo sau là muôn trùng những đợt sóng nối tiếp đưa thuyền tôi về lại bến bờ yên vui, không còn phải lênh đênh, chìm nổi.

Retreat nghĩa là gì?

Khánh Chung có biết là lần đầu tiên nghe đến danh từ Summer Retreat tôi đã không hiểu Retreat nghĩa là gì không?  Tôi chỉ biết rằng  “Retreat” diễn đạt một sự rút lui. Như một đoàn quân lui khỏi chiến trường, di tản khỏi vùng nguy hiểm. Như một lữ khách đã mệt mỏi sau bao chuyến đi muốn tìm về cho mình nơi chốn nương thân.

Sau đó tôi mới được biết Retreat nghĩa là khoá tu. Khánh Chung thấy đó, nếu mình liên kết các ý lại với nhau thì ta sẽ có một cách định nghĩa cho riêng mình. Khoá tu là một cơ hội của chính ta để rút lui khỏi đời sống bận rộn. Đó là một dịp may để ta từ bỏ ánh đèn thị thành, trở về thắp lên ngọn lửa sơn lâm. Ta sẽ xa rời những hầm hố, bẫy sập trên những con đường đầy gió bụi. Ta sẽ lại về đắp xây ngôi nhà của chính mình. Ngôi nhà của thân và tâm.

Ngoài đời bây giờ có rất nhiều hội thảo, khoá học, chương trình đào tạo, những chuyến đi xa để người tham dự có điều kiện nhìn lại mình, xác định lại mục tiêu của đời mình. Tìm lại cho mình một giá trị, một đường hướng. Khánh Chung cũng thấy chi phí để tham gia vào những sự kiện như vậy không hề rẻ và ngày một tăng lên. “Được là mình”, “hiểu mình” là một nhu cầu rất lớn. Ai cũng đều có những khát khao, ước vọng như vậy. Tôi cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ. Tôi cũng muốn tìm lại nhiều niềm vui bé nhỏ mà mình đã quên lãng bên vệ đường. Tôi cũng muốn chào tạm biệt, đi thật xa khỏi bao lắng lo, phiền muộn. Tôi không muốn mình cứ mãi rong ruổi ngược xuôi theo những chuyến xe cuộc đời. Tôi không muốn lòng mình cứ mãi ấp ôm muôn vạn hộc sầu thương tiếc.

Vậy nên tôi đã đến. Đến với Kim Sơn. Đến với khóa tu Mùa Hè, tôi được ăn trong im lặng, nói và nghe với tâm yêu thương. Tôi được đi, đứng, nằm, ngồi thật đoan nghiêm. Tôi được dạy cách gói lại tất cả những sầu thương để mở ra niềm thanh thản. Tôi được học cách chắt chiu từng thời khắc, trân quý mỗi phút giây mình sở hữu. Tôi được sống như một con người đích thực. Tôi có cơ hội để tìm lại giá trị đích thực của mình. Một khóa tu với sự yểm trợ của bốn chúng đã nâng đỡ cho tôi nhiều lắm. Lần tới nếu có ai đó hỏi Khánh Chung rằng “Tham gia khoá tu để làm gì?” thì Khánh Chung sẽ trả lời như tôi có được không? Ta đi tìm lại mình, tìm lại giá trị đích thực của mình. Bạn có bằng lòng với tôi không?… Mình sẽ trả lời như thế nhé……

Serenade số 2

Chiều nay tôi ngồi an ổn trên một phiến đá và lặng lẽ quán sát vùng trời biển quê hương. Từng vạt nắng chói chang đang tan dần, rót vào lòng tôi triệu triệu sắc màu sáng loá. Những hôn hoàng nối tiếp những hoàng hôn. Tựa mình vào vách núi cho phép tôi có một thế nhìn nghiêng nghiêng trong thời khắc chạng vạng. Trời đất đẹp lạ lùng và mang đến cho tôi một xúc cảm bùng cháy. Đã như thế bao năm rồi tôi chưa từng nhìn ánh chiều rơi? Khung cảnh diệu vợi này ngày qua ngày vẫn diễn tập sau hôm nay tôi mới hay, mới biết? Hơi ấm của đất đá len vào từng ngõ ngách sắc thân. Mắt nhìn về khung trời tím hồng hoang ngời ngợi. Gió biển từng cơn mang theo vị mặn thấm tan nơi đầu lưỡi. Khí trời thanh trong phủ kín ấm lồng ngực. Và đôi tai tôi rộn ràng, vang vọng bao nhiêu là thanh âm.

Những ngón tay khẽ rung chạm vào hư không. Từng ngón tay đang lay động. Tất cả như đang bay lên. Những giọt sương trong đang lặng lẽ về với mây trắng. Những sợi tơ trời đang giăng lưới bủa vây cùng khắp vũ trụ. Lòng tôi như những cánh sen hồng phai theo gió ngàn đi khắp thiên hà đại địa.

Vàng rơi? Vàng rơi?

Tôi tự hỏi mình như thế đó, Khánh Chung! Tôi ngồi yên như thế lâu lắm. Như em bé thơ trong câu hát quen thuộc. “Mê trời mây tím không nghe mẹ gọi về”. Lòng tôi đâu có khác gì quyển Tâm Kinh dạt trôi trên muôn trùng sóng bạc. Những dòng chữ, câu kệ đã bị dòng thời gian phai dấu, hương thời gian thấm ướt thì nay được hong khô, hiện rõ dưới mặt trời.

Màu áo tôi được nhuộm ánh hoàng hôn. Và lòng tôi cũng như loài hải âu chuyên chở trên đôi cánh mình bao sắc màu thanh khiết. Những ngón tay thon dài vẫn còn lay động. Âm thanh, giai điệu khúc ca ngày mùa này đã biểu hiện tự lúc nào. Thanh âm vốn đã sẵn có. Chỉ chờ một tâm hồn đồng điệu khai phá. Chỉ chờ một trái tim biết rung cảm. Chỉ chờ một thế ngồi vững chãi. Có khó gì đâu, phải không Khánh Chung? Chỉ cần đôi mắt, đôi tai, tất cả giác quan ta có mặt…thì bản nhạc chiều hoàng hôn, khúc Serenade bất tử này này sẽ lại ngân vang. Khung cảnh thần tiên này sẽ lại tái hiện. Đâu có khó phải không Khánh Chung? Ta có thể và cần phải sắp xếp cho đời sống mình một khoảnh khắc như vậy. Tôi muốn ôm giữ mãi mãi phút giây đẹp đẽ này. Mãi mãi cho đến những mai sau. Và thật lòng mong ước bạn cũng sẽ như tôi: Cầm chắc Vàng không để Vàng rơi nữa!

Nha Trang ngày về (p1)

 

(Viết cho Khánh Chung và tất cả những người chị thân thương của tôi)

Chương đầu tiên: Bản Overture

Khánh Chung thân mến!
Tôi trở về với Nha Trang vì đọc được một lá thơ, một lời mời gọi của người anh nơi phương xa. Bạn có muốn biết nội dung của bức thơ ấy hay không?

THƯ MỜI
***

Xin mời em/chị: ……………Áo Trắng…………………
Dành ít thời gian quý báu để tham dự vào Cuộc Sống,
Đang được tổ chức tại: Trái Đất 
Vào lúc: Sáng Hôm Nay
Sự hiện diện của: ……em……
Sẽ mang lại rất nhiều niềm vui cho buổi họp mặt
Người tổ chức: Nắng Sớm
Nhà tài trợ: Gió Mát, Lá Non, Bướm Tím, Trời Xanh

Người anh ấy tên Lữ. Đó là tất cả thông tin mà tôi biết về anh. Nhưng có một sự truyền thông sâu sắc giữa hai trái tim. Có một tiếng nói trong thinh lặng giữa hai tâm hồn. Tôi biết trong âm thầm đó chính là người anh, người thương bấy lâu nay tôi ngóng tìm, chờ trông…

Có những người ta biết ơn, ta trân quý vì họ nói lên sự thật, giúp ta khám phá sự thật. Vì ai mà không cần sự thật? Ai cũng có nhu yếu được làm một con người chân thật, được đối xử chân thật, được tiếp xúc với những gì chân thật, phải không Khánh Chung?

18. Fresh as flowers

Và sự thật đầu tiên là gì, bạn có biết không? Đó là hạnh phúc. Phút giây này chính là hạnh phúc. Trang thơ của anh Lữ luôn là những câu chuyện về hạnh phúc. Hạnh phúc chính là một sự thật. Hạnh phúc đang hiện hữu trên mọi miền sông núi. Dòng sông an vui đang tuôn chảy trên khắp chốn nhân gian. Nhưng chúng ta vốn là những người con trai, con gái khờ dại. Mỗi một ngày trôi qua, thiên nhiên luôn gọi ta về. Cha mẹ luôn kêu tên ta: Này con ơi, con có thấy bầu trời hôm nay đẹp và trong lắm hay không? Anh chị đang nhắc ta: Em ơi, em có ngửi thấy đóa tường vy thơm ngát đang nở rộ trong vườn hay không? Em ta đang gọi ta: Anh ơi, anh có nghe tiếng hoạ mi lảnh lót trên cành hay không?

Những âm thanh vi diệu của đời sống cứ rung ngân trong từng thời khắc, trong 24 giờ. Tiếng biển hát. Tiếng sóng reo. Âm thanh những tầng trời bao la. Âm thanh hải triều bát ngát. Mẹ gọi ta về. Nhưng ta đâu có nghe. Ta cứ đi trong hờn tủi. Ta cứ bơi trong vô vọng. Ta đâu có để ý những Biển Báo: Hãy Dừng Lại. Ta quyết chạy tới dù đã được nhắc nhở: Phía trước là Núi Lở Đường Trơn. Ta cứ phóng nhanh dù cho Đây là Con Đường Thường Hay Xảy Ra Tai Nạn. Ta vô tình giẫm đạp lên không biết bao nhiêu viên gạch diệu kỳ của thực tại. “Em đi bỏ mặc con đường”. Đó là tình trạng chung của chúng ta và cũng là của rất nhiều những người khác. Thật là khờ dại quá phải không, Khánh Chung?

Ta đã bỏ lỡ chuyến tàu đi về miền hạnh phúc. Và ta cũng lỡ hẹn với biết bao những mầu nhiệm trong cuộc đời…

Lễ hội ngày mới

Anh Lữ luôn có mặt tại sân ga để đợi chờ tôi. Anh Lữ đã gọi tôi. Gọi thiết tha lắm, gọi tên tôi bốn mùa, gọi tên tôi trong suốt những ngày nắng đổ mưa rơi. Và lần này tôi đã về, đã nghe anh mà trở về. Về với anh, về với biển. Nha Trang ngày về! Ngày của đoàn tụ. Ngày của nhịp cầu nối dài những bờ vui. Không than van, không hờn trách. Tôi đã tới để cùng anh hát lên khúc hoan ca Mùa Hè. Bản Overture này chỉ có phần Prelude. Và sẽ mãi luôn mới tươi như những cái nhìn đầu tiên, tinh khôi như những lần đầu gặp gỡ…

Khánh Chung có thấy rằng: Lá thơ của tôi cũng là sự tiếp nối của anh Lữ hay không? Lá thơ này cũng là một thư mời. Tôi đã nắm giữ Phong Thư Mời Về Với Tuổi Thơ và nay trao cho bạn. Hãy cùng tôi, nối gót nhau vào chốn thực tại mầu nhiệm. “Mời người đem theo toàn vẹn thương yêu”… Mời bạn lên xe, cùng tôi, ta dìu nhau về miền tỉnh thức. Chúng ta không cần phải đeo mang gì nhiều. Ta chỉ cần hát ca.

Ta sẽ không sợ lạc vào những nẻo tối tăm. Vì ta đã cầm chắc trên tay mình địa chỉ và nơi chốn. Buổi tiệc trần gian ta nhất định không bao giờ đánh trượt.

Địa chỉ: Ở đây.
Thời gian: Bây giờ

Ta chỉ cần nhớ 2 chi tiết ấy thôi, thì tiệc vui sẽ mãi không tàn. Những festival sẽ nối dài những festival.

Tất nhiên rằng đón đợi tôi tại ga cuối của cuộc hành trình đâu chỉ có anh Lữ mà còn có rất nhiều người khác nữa. Không phải ai tôi cũng quen mặt nhớ tên. Nhưng tôi biết màu áo của họ. Chỉ có hai màu thôi. Màu của vách núi và màu của sương mây. Những người thương của tôi. Đó là đoàn thể, cộng đồng mà tôi đã may mắn gia nhập. Mối tâm giao này đã có tự bao giờ? Hình như chỉ mới một năm. Sự liên hệ ấy giống như một bộ phim. Mà tôi thì luôn cầm chắc chiếc vé trong tay mình. Và tôi cứ xem đi, xem lại không biết bao nhiêu lần… Nâng niu và gìn giữ…. Bộ phim ấy chưa từng có đoạn kết và sẽ không thôi ngừng quay.

Tim rộng mở. Tâm bình an

(Còn nữa…)

Nơi ấy cũng là bây giờ và ở đây

 

Bạn hiền thương! Xin lỗi khi lá thư này đến trễ nhé! Đừng giận, ta sẽ kể cho bạn nghe tại sao. Sáng nay cầm bút lên, ta định viết thư gởi bạn nhưng anh bạn Sương đã ghé tận chỗ ta đang ngồi rủ cùng đi dạo. Ta tính từ chối, nhưng khi nhìn khuôn mặt của bạn ấy cùng lời mời gọi thiết tha ta không thể chối từ được nên đã gấp giấy lại theo anh bạn Sương rong chơi suốt cả buổi sáng. Đó là một cuộc dạo chơi đầy lý thú bạn ạ! Để ta kể lại cho bạn nghe nhé!

Vừa mở cửa bước ra khỏi phòng ta được đón chào bởi một làn gió mát rượi còn mang theo hơi nước, rồi một không khí trong lành, sảng khoái đến ôm ấp lấy ta. Theo bước chân anh bạn Sương ta lần theo lối mòn đi vào vườn hoa qua suối rồi đến rừng. Tất cả vạn vật hiện lên trước mắt ta thật là mầu nhiệm, kỳ ảo. Những con đường, hàng cây, bãi cỏ khi ẩn khi hiện trong làn sương sớm trông đẹp lạ. Nếu không lại gần chỉ đứng từ xa nhìn lại thì chẳng thấy vườn hoa hay con đường đâu nữa mà chỉ thấy những dải mây trắng bay la đà, lượn lờ, thấp thoáng. Tất cả vạn vật đều chìm cả trong màu trắng mờ đục bạn ạ! Rong chơi cùng bạn Sương ta cứ ngỡ như mình là tiên đang đi trong mây vậy đó. Những làn khói sương cứ quẩn dưới chân, bay trên đầu rồi dạt sang một bên làm ta có cảm giác như đang bồng bềnh bay cùng mây vậy. Và đến khi bầu trời vừa ửng hồng lên thì cảnh vật lại càng lung linh lạ, nhất là lúc những tia nắng buổi sớm thức giấc rủ nhau xuống thăm trần gian. Hễ chúng xuất hiện chiếu rọi vào nơi nào thì nơi đó sáng bừng lên với đủ màu sắc khác nhau cứ như là có phép lạ vậy. Mấy giọt sương đậu ở đầu chiếc lá, cành cây… trông cứ như những viên minh châu lấp la lấp lánh với đủ màu sắc cùng những hình thù ngộ nghĩnh, còn các bạn đậu trên bãi cỏ thì như những đôi mắt tinh nghịch nhấp nha nhấp nháy, thi nhau nhảy múa lăn tròn. Bạn hiền biết không, khi dạo chơi cùng Sương ta chợt nghĩ: không biết cõi Tịnh độ như thế nào, hàng cây bảy báu ra sao… hay cõi thiên giới đẹp đến dường nào  ta không biết, ta chỉ thấy Tịnh độ là đây, tiên giới là đây ngay hiện tại bây giờ và đang hiện hữu trước mắt ta đâu cần phải tìm cầu chi xa xôi.

Bạn hiền thương, ngày xưa ta vẫn mơ mình được làm mây, làm mưa, làm sương, làm nắng gió… rồi cho rằng khi nào đạt được điều ấy thì mới có hạnh phúc. Và ta cứ ngồi đó tưởng tượng, ước ao, mong cầu… Hạnh phúc của ta nằm xa xôi trong những giấc mơ ấy. Bây giờ dạo chơi với Sương cùng với những hơi thở nhẹ nhàng, từng bước chân trong tỉnh thức ta chợt thấy rằng: có bao giờ ta không là mây, là mưa, là nắng gió… đâu. Vì cuộc đời, vạn vật quanh ta luôn thay đổi, biến hoại, sinh diệt nên chúng ta bao giờ mà lại không là mây, là mưa…của nhau bạn hỉ!

Trong đời sống thường ngày ta thường có lắm ham muốn, mong cầu nên luôn có thói quen đi tìm kiếm hạnh phúc. Ta cứ tưởng rằng hạnh phúc lúc nào cũng phải có mặt ở một nơi khác, nơi mà mình đạt được điều như ước muốn. Nơi đây có thể là hạnh phúc đó nhưng chưa phải là cái mà ta muốn. Chẳng hạn như khi mới ra trường ta nghĩ giá như có được việc làm ổn định thì hạnh phúc biết mấy, nhưng khi đi làm rồi ta chỉ hứng khởi, vui thích một thời gian sau đó không lấy đó làm hạnh phúc nữa, ta nghĩ: giá như vị trí ta được nâng cấp lên, mức lương của ta cao hơn một chút hay có được chiếc xe đẹp như của bạn ta thì lúc ấy ta mới thật sự có được hạnh phúc,…Nhưng đến khi đạt được điều đó thì hạnh phúc lại không có trong ta mà nó lại nằm trong một dự định, mục đích khác. Cứ như thế ta cứ chạy vòng quanh mãi mà vẫn không chạm được vào cái gọi là hạnh phúc. Ta thấy mình giống như anh chàng trong bài thơ sau đây vậy:

“Này người đang đi vòng quanh

Hãy dừng lại

Anh đi như thế để làm gì?

 

Tôi không thể không đi

Vì tôi không biết đi đâu

Nên tôi đi vòng quanh.

 

Này người đang đi vòng quanh

Anh hãy chấm dứt việc đi quanh.

 

Nhưng nếu tôi chấm dứt việc đi quanh

Thì tôi cũng chấm dứt tôi.

 

Này người đang đi vòng quanh

Anh không phải là sự đi quanh

Anh có thể đi nhưng không cần đi quanh.

 

Tôi có thể đi đâu ?

 

Anh hãy đi tìm anh

Anh hãy đi tìm người thương”

Bởi không biết rằng: “càng lắm ham muốn thì càng nhiều khổ đau, rằng bao nhiêu cực nhọc trong cõi sinh tử đều do ham muốn mà có…”- Kinh thương yêu- nên ta cứ rong ruổi tìm kiếm mãi mà không biết nhìn sâu vào bên trong để biết mình thực sự muốn gì, cần gì, đang tìm kiếm cái gì. Có kim cương trong túi áo mà ta nào hay biết cứ sống với cuộc sống nghèo khổ rồi đi tìm kiếm ngọc quý ở đâu đâu để rồi lỡ hẹn với sự sống, đánh mất sự sống, để tuột khỏi tầm tay mình những mầu nhiệm, những tặng phẩm của cuộc đời ban tặng. Và cũng bởi không thấy rõ rằng cái gì “sẽ là” thì “không là”, vạn vật phải là ngay bây giờ và ở đây nên ta đã không biết trân quý, không nhận ra sự quý giá của những gì đang hiện hữu quanh ta để rồi phải hối hận, tiếc nuối.

 

Hồ thu trong veo

Sáng nay khi ngồi yên chơi cùng mặt nước hồ thu, nhìn những cụm mây, hàng cây phản chiếu trên mặt nước lặng yên cùng  những sỏi đá, rong rêu… bên dưới hồ ta chợt nhận ra một điều.  “Muốn được hạnh phúc thì phải biết cách sống cho có hạnh phúc và phải biết nhận diện ra đúng mặt mũi của nó”. Và để thấy rõ đâu là hạnh phúc đích thực thì ta cần phải biết dừng lại, “chỉ khi có cái gì ngưng lặng thì mới có thể làm cho người khác ngưng lặng được”. Khi mặt hồ gợn sóng, chao động thì làm sao ta có thể nhìn thấy rõ được hình dáng của đám mây, hàng cây… trên mặt hồ, chỉ khi nào nó thật sự lắng yên thì những gì nó phản chiếu mới thật sự chính xác được. Ta cũng thế, khi nào ta biết dừng lại những lo âu, tính toán, sợ hãi, mong cầu… thì mới thực sự thấy rõ được mình. Chỉ cần ngồi thật yên là đủ. Thân yên thì tâm sẽ yên và lúc ấy hạnh phúc sẽ tự có mặt không cần phải tìm kiếm chi. Nếu không ngồi yên, không hạnh phúc trong giây phút này thì giây phút kia cũng sẽ như vậy thôi và rồi cuộc đời của chúng ta sẽ là một chuỗi tìm kiếm vô ích.  Sự sống hàng trăm năm của ta nào có bên ngoài những việc làm hằng ngày của ta đâu. Cho nên nếu khi đang thở mà không biết mình đang thở, đi không biết mình đang đi, khi làm không biết mình đang làm… thì ta chỉ là cái xác biết di động thôi chứ không phải là đang sống thực. Khi sống không ý thức thì tất cả chỉ là một giấc mộng không hơn không kém. Ta cứ tưởng rằng đã có hạnh phúc  nhưng cái hạnh phúc đó chỉ là một thứ hạnh phúc giả tạm, ngoài da, một thứ hạnh phúc không bền chắc do từ ngoại cảnh đưa tới. Nếu hạnh phúc thực sự thì đã dừng lại để tiếp xúc chứ không lan man tìm kiếm mãi như vậy! Nếu ta không biết sống trong giây phút hiện tại thì ta sống trong giây phút nào đây? Nếu không an trú trong bây giờ và ở đây thì ta sẽ an trú trong bao giờ và ở đâu? Tương lai của ta thực ra chính là bây giờ và ở đây. Này nhé, giả sử bạn đang ngồi trong lớp học mà lại không chú tâm vào lời thầy cô giáo giảng, không  tập trung vào chuyện học hành làm bài vở cứ ngồi đó nghĩ ngợi, tưởng tới tương lai sau này mình sẽ làm cái này cái kia, ngôi nhà mình ở phải như thế này thế nọ, người vợ (chồng) của mình phải hội đủ những yếu tố mình thích… thì chắc chắn lực học sẽ kém và khi ra trường với kết quả thấp thì làm sao xin được một nơi làm tốt. Hay khi bạn đang may một cái áo, tay thì làm nhưng đầu óc lại đang suy nghĩ chuyện này chuyện kia nên ráp nối lộn xộn mặt vải trái với mặt vải phải, cái đường viền cổ tay lại lẫn qua cổ áo… kết quả cuối cùng là cái áo phải bỏ đi hoặc phải tháo ra ráp lại. Đó có phải là tương lai được làm nên chính từ hiện tại không? Nếu hiện tại ta không có được hạnh phúc thì lấy chất liệu gì để xây  dựng nên hạnh phúc ở tương lai! Bởi thế nếu ngay trong giờ phút này mà ta không có hạnh phúc được trong khi ăn, khi đi, khi làm việc… thì ta đừng có mong cầu hạnh phúc đến trong tương lai. Hạnh phúc không đến từ những gì to tát, cao siêu mà lại nhẹ nhàng đến từ những thứ đơn giản, tầm thường nhất như khi tiếng con thơ cười đùa, một cơn gió mát buổi trưa hè, một cái bánh ngọt sau mấy tuần chỉ ăn cơm với nước rau nhạt,…

Có người bảo rằng đôi khi hiện tại đầy khổ đau thì làm sao an trú trong hiện tại được. Xin thưa rằng chính khổ đau làm nên hạnh phúc! Không tin ư, bạn hiền thử quan sát xung quanh mà xem.  Nếu không có bùn thì làm gì có đóa hoa sen thơm ngát, nếu không có rác chuyển hóa thành phân thì làm gì có những luống rau hàng cây lên xanh mơn mởn, nếu không bị đau răng thì làm sao biết được có những cái răng nguyên vẹn là một hạnh phúc, nếu khi mắt không đau thì làm thế nào nhận ra được có đôi mắt sáng đó là cả một kho báu… Giả sử như giờ phút này ta không có gì là đau khổ cả, chỉ là thực tại bình thường thôi nhưng liệu ta có an trú trong hiện tại để trân quý và tận hưởng những gì mình đang có hay tâm cứ vọng tìm về quá khứ hoặc vọng tưởng đến những điều ở tương lai. Thông thường chúng ta chỉ sống theo thói quen của mình, cứ chạy quẩn chạy quanh theo những tập khí rồi đổ lỗi cho người khác, cho hoàn cảnh xung quanh. Vấn đề không phải là hiện tại có khổ đau hay không có khổ đau, vấn đề là ta có thật sự muốn được hạnh phúc an lạc hay không. Nếu ta thực sự muốn thì sẽ biết được mình cần phải làm gì và không nên làm gì. “Dục an tất an” mà! Con người có thể an lạc, hạnh phúc mà không cần phải tùy thuộc vào ngoại vật như tiền bạc, danh vọng, địa vị… chi. Các vị tu sĩ có thể ăn rau trái, uống nước suối, sống giản dị một cách an nhiên tự tại mà vẫn có hạnh phúc đó thôi tại sao chúng ta lại không? Thật ra hạnh phúc vốn ở bên trong, chúng ta muốn được an nhiên tự tại thì phải biết khai thông nguồn hạnh phúc ấy bạn hiền ạ. Để khai thông được nó thì trước hết ta cần phải dẹp bỏ những chướng ngại hay những nguồn hạnh phúc giả tạo đến từ ngoại cảnh mà bản ngã thu thập từ bấy lâu nay. Chẳng hạn, bất cứ ai ăn ngon cũng thấy sung sướng nhưng đó chỉ là cái sung sướng nhất thời, vì bản ngã thúc giục ta đã ăn ngon thì phải tìm kiếm món ăn ngon ấy hoặc ngon hơn để tiếp tục ăn nữa nếu không sẽ khổ sở. Thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật cũng vậy, nó cũng đưa đến sự ưa thích, và đã thích cái này thì sẽ có sự chán ghét cái kia và rồi cái ngã sẽ dẫn dắt ta đến chỗ phán xét, phê phán, phân biệt… này nọ. Bạn hiền biết không, tất cả hạnh phúc đến từ bên ngoài đều có tính cách tạm bợ cả! Sau khi đã hưởng được nó rồi thì cứ phải đi tìm nó mãi. Và chính sự tìm kiếm này đã khiến con người khổ đau và cũng là nguyên nhân thúc đẩy con người trở nên tham lam, ích kỷ, sân hận… Chỉ khi nào chúng ta dẹp được cái tôi thì an lạc, hạnh phúc mới có cơ hội biểu hiện được bạn hiền ạ!

Ngồi yên nhìn lại những gì mình đã đi qua trong cuộc đời ta cảm thấy tiếc nuối và tội nghiệp cho chính bản thân mình. Vì sao ư? Vì ta cứ mãi tìm kiếm bên ngoài, những nơi xa xôi mà không thấy tất cả ở trong chính tự thân ta, không thấy được hiện tại chính là chìa khóa để chuyển hóa quá khứ và mở cửa tương lai. Vì ta đã bỏ phí thời gian, bỏ phí tuổi trẻ của ta cho những cuộc đi quẩn đi quanh không lối ra, không có đích đến một cách rõ ràng. Ta thường dùng trí thông minh của mình để đạt được văn bằng này bằng cấp nọ, kế hoạch này dự tính kia… nhưng lại không biết dùng trí thông minh ấy để sắp xếp đời sống hằng ngày như thế nào để ta có thể có những giờ phút đầy niềm vui, thảnh thơi, tiếp xúc được với những mầu nhiệm, với sự sống của đất trời thiên nhiên và của chính bản thân ta trong giây phút hiện tại. Nếu biết sống như thế thì thân và tâm ta sẽ được nuôi dưỡng, trị liệu khỏi bệnh tật, khổ đau, lo lắng… khi ấy sống mới thực là đáng sống. Để làm được điều đó ta cần phải biết thâu lại chủ quyền của mình trong những cái gì đang xảy ra ngay bây giờ và ở đây trong mọi lúc mọi nơi bạn ạ. Lúc ngồi yên giữa muôn ngàn tia nắng phản chiếu lấp lánh ta đã thấy được rằng khi dừng lại an trú trong hiện tại thì sẽ khám phá ra được có vô vàn những điều kiện hạnh phúc đang có mặt sẵn đó cho ta từ trong và xung quanh ta đó bạn. Ví dụ trái tim ta đang còn đập khỏe mạnh, hai mắt ta còn sáng cho ta nhìn thấy mọi thứ, đôi chân ta còn khỏe, không khí xung quanh ta trong lành không bị ô nhiễm… Nhờ thấy được như thế mà hạnh phúc lập tức có mặt trong ta, ta không còn dẫm đạp lên nó mà đi một cách oan uổng như trước nữa bạn ạ. Lạ kì lắm bạn, chỉ cần ta có mặt đó thì tất cả những mầu nhiệm của sự sống đều có mặt đó cho ta, từ ông bà, cha mẹ, anh em, bạn bè,…đến mặt trời, sông núi, cỏ cây,… Bạn biết không, cái năng lượng giúp ta trở về với giây phút hiện tại chính là chánh niệm đó. Bây giờ ta đã biết được rằng khi đối diện với những hoàn cảnh khó khăn, những trường hợp khó xử, những người không dễ thương nếu ta cứ ngồi đó mà phân tích đúng sai, tức giận, lo âu, buồn tủi… hay cố tìm hiểu nguyên nhân vấn đề thì ta lại càng bị nó dẫn dắt theo đường mòn cũ của cái tôi nhỏ bé rồi khổ đau. Nhưng chỉ cần ta dừng lại, quay trở về lắng nghe những cảm xúc trong tâm của chính mình thì sẽ nhận diện được, thấy rõ được những cái gì, điều gì đang thực sự có mặt trong ta. Chỉ cần thấy, cảm nhận và thật sự có mặt với những gì đang xảy ra trong ta thôi thì thực tại sẽ trở nên sáng tỏ và khi ấy ta sẽ không còn bị ràng buộc, lôi kéo bởi những tiếc thương, buồn giận, trách móc… nữa.Và như thế sự chuyển hóa sẽ xảy ra một cách tự nhiên giúp khổ đau vắng mặt, làm nên nụ cười trên môi bởi ta đã nhận ra cuộc đời thật đáng sống đáng trân quý biết bao. Chẳng hạn khi ai đó nói hay làm gì đó trái ý nghịch lòng khiến ta giận. Lúc ấy ta chỉ cần ý thức được biểu hiện của cái giận trong thân ta như thế nào, trong những cảm giác nơi thân hay qua những xúc động của chính mình… Thấy được chúng rồi ta sẽ bớt bị chúng sai xử, không vội nói hay có hành động gì đó với người ta nghĩ đã làm ta khổ để rồi phải hối hận, buồn khổ sau này. Khi ấy ta không cần hỏi tại sao người ấy lại nói lại làm như thế, không cần phân tích chi thêm chỉ cần thực sự có mặt nhận diện thôi là đủ.

Thương chào bạn nhé! Chị Hằng vừa có mặt và đang trải cái nhìn dịu dàng, mát mẻ, sáng trong ở muôn nơi. Chị ấy lại vừa ghé ngang qua phòng rủ ta cùng đi dạo nữa bạn ạ. Mà ta thì bạn biết đấy, ta không thể chối từ được trước những lời mời gọi như thế bao giờ!

1. Hạnh phúc tìm lại

2. Hiện tại nhiệm màu

3. Phương thuốc quý

4. Tiếng lòng

5. Về Nhà

6. Kẻ thù giấu mặt

“Nơi ấy bây giờ và ở đây” là phần cuối trong tập truyện ngắn “Nơi ấy cũng là bây giờ và ở đây” . Tâm Anh cám ơn quý vị đã đọc và đã chia sẻ hạnh phúc và niềm vui khi được sống và tu học cùng với Tăng thân.

Kẻ thù giấu mặt

Đang bận với bản thiết kế dang dở bày ra giữa bàn ta chợt nghe tiếng bước chân khe khẽ, rồi dừng lại. Tò mò, nhưng mặc kệ ta chẳng thèm lưu tâm ngẩng đầu lên nhìn hay để ý chi. “Hẳn ai đang đứng nhìn để trầm trồ, thán phục ta đây và không chừng đó cũng có thể là kẻ muốn học lóm tay nghề của ta”. Nghĩ thế ta ung dung cúi đầu làm tiếp với dáng điệu tỏ vẻ như quan trọng lắm. Chợt một giọng nói nhỏ nhẹ vang lên bên tai ta: “Chú ơi, bản vẽ này có điểm không chính xác rồi!” Nghe thế tự nhiên cơn giận, tự ái ở đâu ùn ùn kéo đến có mặt trong ta. “Chà nhóc con nào mà lại dám lên mặt dạy đời ta đây, phải cho nó một bài học mới được”, ta thầm nghĩ.

Ngẩng đầu lên nhìn ta thấy trước mắt mình là một cô bé, phải một cô bé, tuổi chừng ngoài đôi mươi đang đứng đó quan sát bản vẽ của ta một cách chăm chú. Có thể cô ấy bằng tuổi em gái ta hay cũng có thể bằng tuổi con gái đầu của ta. Bực mình ta lớn tiếng : “Này cô bé kia, cô có biết đây là đâu không hả? Ai cho phép cô vào đây vậy? Mời cô đi ra ngoài chơi! Đây không có bánh kẹo, đồ chơi cho cô đâu!”.

Nói xong ta cúi xuống tiếp tục công việc của mình và cứ tưởng rằng cô bé sẽ sợ sệt, xấu hổ bỏ đi nơi khác không quấy rầy ta nữa. Ai ngờ giọng nói kia lại tiếp tục cất lên, lời nói nhẹ nhàng nhưng không kém phần kiên quyết, mạnh mẽ: “Thưa chú, bản thiết kế này có điểm chưa hợp lý ạ!”. Bực bội ta ngẩng phắt đầu nhìn lên. Ừ, thì vẫn là cô bé với áo sơ mi trắng váy đen cùng khuôn mặt không trang điểm, còn tóc thì được tóm gọn lại ở sau lưng. “Đồ “vắt mũi chưa sạch” này muốn gì đây, biết gì ngoài chuyện shopping và ba cái chuyện tình cảm vớ vẩn mà  bày đặt chớ, phải dạy cho nó bài học đừng  xen vào chuyện người khác mới được”, ta thầm nhủ. Dừng tay, dắt cây viết vào tai ta quát hỏi: “Láo xược, cô bé có biết ta là ai không và đây là bản vẽ đang vẽ cái gì không mà dám lên tiếng bảo là không chính xác thế hả? Ra ngoài ngay, đừng có đứng đó mà làm tốn thời gian của ta!”. Nhoẻn một nụ cười cô bé khẽ nói: “Xin lỗi, vì cháu đã tự tiện vào phòng quấy rầy công việc của chú!”. Rồi khuôn mặt có đôi mắt to tròn, trong sáng với vầng trán cao biểu lộ sự thông minh ấy lại tiếp lời: “…nhưng mà cháu vẫn xin chú vui lòng nhìn lại bản vẽ. Ở cái góc bên trái, cái chỗ trên cùng ấy!”. Nói xong cô bé mỉm cười cúi chào rồi đi ra cửa.

Đang lúi húi nhìn ngắm lại công trình của mình thì anh bạn làm cùng phòng bước vào, đến bên cạnh vỗ vỗ vào vai ta rồi hỏi: “Này cậu, lúc nãy tiếp đãi sếp có đàng hoàng không đấy hử? Sếp khen cậu làm việc chăm chỉ, hết lòng lắm đấy!”. Ngạc nhiên ta hỏi: “Sếp…mà sếp nào?”. “Giỡn hoài, trưởng phòng mới của tụi mình, người cậu đã gặp rồi đó! Nghe nói cô ấy đã tốt nghiệp Đại học loại xuất sắc ở nước ngoài, có nhiều công ty muốn mời cô về làm việc nhưng sếp chỉ muốn về phục vụ quê cha đất tổ thôi. Tuy còn nhỏ nhưng nghe mọi người nói sếp có nhiều kinh nghiệm và giỏi lắm đó cậu à!”. Thắc mắc trong đầu ta tự hỏi: “Từ sáng đến giờ ta có gặp ai lạ đâu ngoài cô bé con kia tự tiện vào phòng rồi lên tiếng chê bai ta. Chả lẽ…cái người ta cho là “vắt mũi chưa sạch” ấy lại là sếp mới của ta!”. Ngồi phịch xuống ghế, ôm đầu ta nhớ lại mọi chuyện.

Ừ, đúng cái cách quan sát tổng quát bản vẽ, cái giọng điệu và cái cung cách nói chuyện ấy không thể là một cô bé được, vậy mà ta hồ đồ không chịu nhìn ra. Vả lại nơi này đâu phải ai muốn vào cũng được đâu, và hơn hết nếu không có ngành nghề chuyên môn thì nhìn vào bản vẽ có biết có hiểu gì đâu…

Thằng bạn lay lay hai vai ta hỏi tướng lên: “Này cậu, bịnh hả?” Ừ, ta bịnh thật rồi! Cái tự ngã của ta đã làm cho ta bịnh.Đã mấy năm rồi ta luôn là một kĩ sư giỏi của công ty. Những bản vẽ ta thiết kế ra luôn nhận được lời khen ngợi của bạn bè và sự ưa chuộng của khách hàng. Và cũng đã lâu rồi chưa ai nói với ta rằng ta làm như thế là chưa đúng, chưa chính xác hay chưa hợp lý cả. Bởi thế nên ta cứ nghĩ mình là một người giỏi, một người có tài không có ai bằng hoặc hơn ta cả. Do vậy ta mới bị “bịnh”. Cái bệnh kiêu ngạo này nó ngấm ngầm rồi giết chết ta từ từ như căn bệnh ung thư hay HIV vậy, có thể hơn cả thế nữa, vậy mà ta nào hay nào biết.

Nhớ lại những lời nói và hành động lúc nãy của mình với sếp mới, ta thấy hổ thẹn và giận mình vô cùng.Vì cứ cho rằng đó là cái thấy cái biết của ta, cái danh dự của ta cho nên hễ ai đụng đến là ta xù lông nhím lên như thế đấy! Và cũng bởi chính anh bạn trá hình ấy mà ta có sự biện hộ, thanh minh, phân biệt, chê bai, chỉ trích,…ở trong tâm. Từ từ ta đã đánh mất đi sự tự chủ, nhìn lại của chính mình. Anh bạn ấy có mặt theo ta như bóng theo hình làm cho ta giận, ta khổ khi ai đó trái ý nghịch lời với ta, nhất là khi kẻ ấy nhỏ tuổi hơn hay kinh nghiệm sống trong đời kém thua ta, ấy vậy ta nào biết gì!

Đẹp mặt chưa, ai biểu cứ vênh váo lên rồi nói năng hồ đồ! Đúng là “ếch ngồi đáy giếng”mà không biết thân biết phận chi! Xấu hổ quá, ngày mai gặp lại sếp ăn nói như thế nào đây! Đáng đời cho cái thói ngạo mạn! Thật là một bài học nhớ đời cho ta, nhờ thế ta mới “tỉnh” ra không còn “mê” nữa. Bài thơ được đọc đâu đó từ thuở nào chợt trở về trong ta:

“Đệ tử Gotama
Hãy đoạn trừ kiêu mạn
Con đường kiêu mạn này
Chỉ đưa về khổ thú
Kẻ kiêu mạn ngấm ngầm
Cũng đi về địa ngục
Huống chi là những kẻ
Vênh váo nhìn cuộc đời
Học đạo thấy đường ngay
Tâm ta sẽ an lạc
Tu tập phép chánh niệm
Đạt được phép tam minh
Kiêu mạn đoạn trừ xong
Mới thành công thực sự.”

Ừ, đúng rồi, nếu ta biết “bảo hộ thân và ngữ, thanh lọc tâm ý mình”thì chắc chắn “tâm ta sẽ không buông lung”và như thế ta sẽ không bị mắc phải chứng “bịnh” này. Lúc ấy ta sẽ thấy rõ được rằng những tài năng hay những gì mình làm được đó là nhờ vào sự có mặt sự góp sức của tất cả mọi người, của vạn vật chứ không là của riêng ta. Nếu chỉ có một mình ta thì thử hỏi ta có tồn tại được không chứ đừng nói là làm nên được điều này điều nọ.

Thời gian thấm thoát như thoi đưa, mạng sống của con người rồi cũng sẽ giống như ngọn nến hết tim hay như ngọn đèn trước gió, vậy mà ta cứ mãi giận hờn, trách cứ, tự ái,…Thật đáng tiếc thay cho ta khi ta đã lỡ hẹn với sự sống mầu nhiệm xung quanh mình trong giây phút hiện tại, cũng như đã để tuột khỏi tầm tay những thứ cuộc sống đã ban cho mình do ngã mạn, cố chấp để phải tìm kiếm, mong cầu rồi khổ đau.

Còn kẹt vào tự ngã là ta còn khổ, còn làm người khác khổ. Biết neo vào hơi thở, biết đem tâm về với giây phút hiện tại và giữ nó thật lặng yên như mặt nước hồ thu thì sẽ thấy (không chỉ thấy mà phải thực sự sống, thực sự tiếp xúc) được người trong mình, mình trong người và các hiện tượng khác. Lúc ấy bình an, hạnh phúc, tự do chân thật sẽ tự tìm đến với ta thôi.

“Mặc cảm hơn kém bằng
Tạo ra nhiều rối rắm
Ba mạn đã vượt rồi
Tâm không còn khuynh động.”

1. Hạnh phúc tìm lại

2. Hiện tại nhiệm màu

3. Phương thuốc quý

4. Tiếng lòng

5. Về Nhà