- Ăn cơm im lặng
- Cảm thấy tội lỗi khi không có gì để làm
- Chia sẻ niềm vui
- Có phân biệt là có khổ đau
- Dừng việc luôn suy nghĩ
- Không cảm thấy đủ
- Lắng nghe để hiểu, nhìn lại để thương
- Nhận diện tập khí xấu
- Phải làm gì với cuộc sống
- Phán xét người khác
- Sống trong hiện tại với những hoạch định
- Sụp đổ thần tượng
- Thực tập ái ngữ với cha mẹ
- Thực tập giới thứ ba như thế nào?
- Yêu thích hơi thở
- Làm sao con có thể mỉm cười
Tại sao dùng chữ đạo Bụt?
Tại sao dùng chữ đạo Bụt ?
Sư Ông Làng Mai trả lời: Sở dĩ chúng tôi dùng chữ đạo Bụt mà không dùng chữ đạo Phật, vì chúng tôi nghĩ rằng chữ Bụt có tính dân tộc hơn chữ Phật. Các nước chung quanh chúng ta đều còn gọi Buddha là Bụt. Dân Việt Nam cho đến thế kỷ thứ XIII- XIV vẫn còn gọi Buddha là Bụt. Chỉ từ khi quân Minh sang chiếm nước ta, chúng ta mới bắt đầu bắt chước họ gọi là Phật thôi. Nếu quý vị đọc Đắc Thú Long Tuyền Thành Đạo Ca của vua Trần Nhân Tông, quý vị thấy rằng ngài vẫn dùng chữ Bụt. Tổ thứ ba của phái Trúc Lâm ngài Huyền Quang cũng dùng chữ Bụt.
Thiền sư Khuy Cơ là đệ tử lớn của Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang nói: Chữ Buddha đáng lý phải dịch là Bụt Đà nhưng người ta đã dịch lầm là Phật. Chính những vị cao tăng bên Trung quốc đời Đường đã thấy. Như vậy sự sai lầm của một nước không có lý gì một nước khác cũng phải sai lầm theo? Chúng tôi đã cương quyết sử dụng chữ Bụt và đạo Bụt. Nếu chúng ta cần dùng danh từ Hán Việt thì chúng ta dùng Phật giáo, còn nếu đạo là đạo Bụt. Ngày Phật đản hay là ngày đản Bụt, Phật tử hay là con Bụt. Như vậy ngôn ngữ của chúng ta được giàu có thêm lên vì chúng ta không bỏ chữ Phật mà chúng ta phục hồi được chữ Bụt. Trong tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng, chúng tôi sử dụng chữ Bụt và chữ Bụt có vẻ thân thương, gần gũi hơn chữ Phật nhiều lắm. Chắc quý vị cũng biết rõ là trong kho tàng truyện cổ tích, ca dao của nước ta, dân chúng vẫn còn duy trì cách gọi Buddha là Bụt.
Làm thế nào để giúp đem lại hòa bình cho thế giới?
Câu hỏi của trẻ em: Làm thế nào để con không đau khổ khi thấy những người không dễ thương đối với thế giới này?
Sư Ông Làng Mai trả lời: Trong cuộc sống, có những người tốt, nhưng cũng có những người chưa tốt. Có những người dễ thương và có những người chưa dễ thương. Có những cái tích cực và cũng có những cái tiêu cực. Đời sống là như vậy: có bùn và có sen. Không có bùn thì sen không mọc lên được. Vì vậy sự có mặt của khổ đau là một chuyện rất bình thường. Vấn đề không phải là khổ đau nên có mặt hay không nên có mặt, mà là làm thế nào để không bị đắm chìm trong khổ đau, biết khéo léo sử dụng khổ đau để làm nên hạnh phúc.
Nếu nhìn sâu vào những người đang tàn hại thế giới, đang giết chóc hay đang tàn phá thì mình thấy có thể là những người đó không muốn giết chóc hay tàn phá. Nhưng vì họ có quá nhiều đau khổ, quá nhiều giận dữ trong tâm mà không biết cách xử lý, nên họ bị thúc đẩy làm những chuyện mà có thể họ không muốn làm. Ai trong chúng ta cũng đều có lúc hành xử như vậy: mình biết đó là chuyện xấu nhưng mình vẫn làm như thường để rồi sau đó cảm thấy ân hận. Chúng ta hiểu là những người kia cũng rơi vào trong hoàn cảnh đó. Họ không muốn làm như vậy, nhưng vì trong lòng họ có quá nhiều bạo động và hận thù nên họ không cưỡng lại được.
Vấn đề không phải là trừng phạt mà là làm thế nào để giúp cho người kia chuyển hóa khổ đau và sự giận dữ trong họ. Thế nào cũng có những phương thức khác nhau để giúp. Nếu dùng súng bắn hay bắt bỏ tù người kia thì mình không giúp gì được cho họ, tại vì đó là những cách thức để trừng phạt.
Nếu những người lãnh đạo trong các trại giam biết thực tập thì họ sẽ không sử dụng phương pháp giam cầm để trừng phạt, mà sẽ sử dụng những phương tiện của trại cải huấn để giúp cho tù nhân thực tập và chuyển hóa. Nếu những người cai tù biết tập thở có chánh niệm để chuyển hóa sự giận dữ trong lòng thì họ có thể giúp cho tù nhân cũng làm được như vậy. Nhiều lúc mình phải bắt giam người kia để họ không tiếp tục sát hại và tàn phá. Nhưng mình bắt giam vì từ bi, chứ không phải vì giận dữ. Khi bắt giam người kia mình nói với họ là mình bị bắt buộc phải làm như vậy, nhưng mình muốn họ hợp tác với mình để thực tập thở có chánh niệm, làm êm dịu sự giận dữ, nhìn sự việc một cách bình tĩnh hơn và làm phát khởi lòng từ bi. Nếu làm được như vậy, họ có thể sớm được trả tự do. Nếu ban quản lý trại giam biết thực tập thì họ sẽ giúp cho tù nhân chuyển hóa và được trả tự do sớm hơn.
Có rất nhiều người đang làm những việc gây ra nhiều đau khổ cho thế giới. Nhưng thay vì giận ghét họ thì mình có thể phát khởi lòng từ bi, để cho tình thương lớn lên trong tâm mình, và mình lập lời nguyện là mình sẽ tìm ra con đường để giúp cho những người đó chuyển hóa được giận dữ và bạo động để họ đừng tiếp tục làm khổ những người khác nữa.
Nếu trong lòng mình có ước muốn giúp đỡ người khác thì mình đích thực là một vị Bồ tát, là một vị Bụt, dù là tuổi mình còn rất nhỏ. Chúng ta hiện có rất nhiều vị Bồ tát trẻ trên thế giới.

Câu hỏi: Chúng ta phải làm thế nào để giúp đem lại hòa bình cho thế giới?
Sư Ông Làng Mai trả lời: Chúng ta phải bắt đầu từ chính tự thân. Chúng ta phải học làm thế nào để chính ta là sự bình an. Ta phải làm cho thân, cảm thọ, tri giác và cách ta suy nghĩ, nói năng cũng có bình an. Nếu ta biết cách làm thì ta sẽ tạo cảm hứng cho người khác cũng làm được như vậy. Và thế giới sẽ được bình an.
Nếu có nhiều căng thẳng, đau nhức trong thân thì ta sẽ không có bình an. Vì vậy ta phải thực tập để làm thư giãn sự căng thẳng và làm dịu đi sự đau nhức trong thân thì ta sẽ có nhiều bình an hơn.
Nếu trong ta có những cảm thọ không bình an như giận dữ, sợ hãi hay bạo động mà ta biết cách thực tập như sử dụng hơi thở hay bước chân để làm lắng dịu những cảm xúc đó thì ta sẽ có bình an. Chúng ta phải ăn uống như thế nào để thân ta không bị xáo trộn. Chúng ta chỉ nên đọc sách, tạp chí hay xem những phim ảnh không tưới tẩm hạt giống của bạo động, sợ hãi, giận dữ và tuyệt vọng trong ta. Đó là sự thực tập hòa bình. Chúng ta phải rất cẩn thận trong khi tiêu thụ! Ta không nên tiêu thụ những gì có yếu tố bạo động; những trò chơi điện tử, sách báo hay phim ảnh có thể chứa nhiều bạo động, giận dữ, căm thù trong đó. Nếu mình tiêu thụ những cái đó mỗi ngày thì mình sẽ không có bình an trong lòng. Và như vậy thì thế giới sẽ không còn hy vọng. Trước tiên chúng ta phải thực tập có bình an để thế giới có được bình an. Vì vậy chúng ta có câu: “Tâm bình, thế giới bình”.
Khi thành Bụt rồi, có còn phải tu nữa không?
Hỏi: Bụt có khổ không?
Thầy trả lời: Ngày xưa khi còn trẻ, thầy cũng tin như mọi người là khi mình thành Bụt rồi thì mình không còn khổ nữa. Nếu thành Bụt rồi mà còn khổ thì thành Bụt để làm gì? Đó là lý luận của mình. Nhưng nếu mình thấy được sự thật là khổ đau và hạnh phúc tương tức thì mình có một cái nhìn rất khác. Thành ra sự thật là Bụt có khổ, nhưng vì Bụt có tuệ giác và tình thương lớn, và vì Bụt biết cách khổ cho nên Bụt khổ rất ít. Thầy nghĩ rằng Bụt cũng có nhức đầu, đau bụng, nhức mỏi chứ không phải là không. Nói rằng Bụt không đau bụng, nhức đầu, không nhức mỏi là không đúng. Tại vì đã có hình hài thì phải có những chuyện đó thôi. Nhưng vì Bụt có trí tuệ và từ bi lớn, và vì Bụt biết cách khổ cho nên Bụt khổ rất ít.
Có thể có những người không đồng ý với Thầy. Họ nói: nếu thành Bụt mà còn khổ thì thành Bụt để làm gì? Đó là lý luận của đa số. Nhưng Thầy thấy rất rõ là Bụt cũng khổ như mình nhưng Bụt khổ rất ít, tại vì Ngài có quá nhiều trí tuệ và từ bi. Nếu cần khổ thì Ngài cũng khổ. Ví dụ như nghe tin đệ tử thương yêu của mình là thầy Xá Lợi Phất tịch thì Bụt có buồn không? Bụt có phải là một tảng đá đâu? Khi đệ tử thương của mình qua đời mà Bụt tỉnh bơ thì đâu được. Chắc chắn là Bụt có khổ nhưng vì Bụt có sẵn tuệ giác về vô thường, vô ngã, biết rằng thầy Xá Lợi Phất đang tiếp tục có mặt trong các sư em của thầy, thì Bụt khổ ít hơn các thầy khác nhiều. Bụt khổ ít hơn thầy Ananda, có phải vậy không? Cho nên sự thật Thầy trao truyền là Bụt có khổ nhưng Ngài khổ rất ít. Ngài biết cách khổ. Cũng như Thầy vậy, Thầy cũng khổ nhưng Thầy khổ ít hơn nhiều người khác. Ví dụ nếu mình biết giáo lý về mũi tên thứ hai. Mũi tên thứ hai là sự lo lắng, sự bực bội của mình, nó làm cho mình khổ gấp mười lần, và vì vậy đừng để cho mũi tên thứ hai cắm vào thì mình đã bớt khổ nhiều rồi, huống hồ mình lại còn có những phương pháp khác.
Hỏi: Khi thành Bụt rồi thì mình còn phải tu nữa hay không?
Thầy trả lời: Khi còn là một thầy tu trẻ, Thầy cũng từng đặt câu hỏi: khi thành Bụt rồi thì mình còn phải tu nữa hay không? Thực tế trong kinh nói rất rõ là Bụt cũng có ngồi thiền, đi thiền hành và thực tập an ban thủ ý như các thầy khác. Thành ra mình hỏi tại sao thành Bụt rồi mà còn phải thực tập nữa, còn phải tu nữa? Tu là để thành Bụt, tại sao thành Bụt rồi còn phải tu nữa? Đó là những câu hỏi rất thực tế.
Câu trả lời cũng dễ thôi, nhưng tại sao mình loay hoay mất bao nhiêu năm mà tìm không ra. Đó là vì hạnh phúc cũng vô thường. Bụt có rất nhiều hạnh phúc, và vì hạnh phúc của Bụt cũng vô thường như hạnh phúc của mình cho nên Ngài phải tiếp tục tu để tiếp tục chế tác hạnh phúc. Thí dụ như mình đạp xe đạp, mình đạp mấy cái thì xe chạy, nhưng nếu mình không tiếp tục đạp thì xe đâu chạy nữa. Hạnh phúc của Bụt cũng vậy. Ngài biết cách nuôi dưỡng hạnh phúc cho nên hạnh phúc của Ngài kéo dài. Còn mình không biết nuôi dưỡng hạnh phúc cho nên hạnh phúc của mình rất ngắn ngủi.
Bởi vậy cho nên thành Bụt rồi mà Bụt cũng phải thực tập thôi. Ngài cũng thực tập an ban thủ ý, Ngài cũng thực tập thiền hành, thiền tọa, ăn cơm im lặng như mình vậy để nuôi dưỡng hạnh phúc của Ngài. Câu trả lời rất dễ, vậy mà trước đây mình cứ dại dột cho rằng: đã thành Bụt rồi thì còn tu nữa để làm gì?
Làm sao để giữ được tính thiện trong môi trường kinh doanh khốc liệt?
Câu Hỏi:
Thưa thầy, sự cạnh tranh gay gắt trong giới kinh doanh khiến người ta ví thương trường như chiến trường. Vậy doanh nhân phải làm gì để có thể giữ được tính thiện và sống đúng theo Năm Giới trong một môi trường kinh doanh đầy khốc liệt này?
Sư Ông trả lời:
Tờ báo Fortune ở Mỹ mỗi năm đều đưa ra danh sách một trăm doanh nghiệp đứng đầu mà mình có thể đầu tư vào. Khi nghiên cứu thì người ta thấy rõ điểm chung của tất cả một trăm doanh nghiệp đó là họ biết lo lắng và chăm sóc cho những người làm trong doanh nghiệp như trong một gia đình. Trong những doanh nghiệp ấy có yếu tố của tình thương, yếu tố của trách nhiệm và yếu tố của tình huynh đệ. Hạnh phúc và sự thành công của doanh nghiệp không phải chỉ là lợi nhuận mà còn là tình thương và hạnh phúc của các cá nhân trong doanh nghiệp ấy. Không phải tại vì có tình thương mà doanh nghiệp của mình sụt xuống hàng thứ ba, thứ tư, hay thứ năm. Chính vì có tình thương mà doanh nghiệp mình lên hàng đầu trong số một trăm doanh nghiệp được chọn lựa, phải nhớ như vậy.
Khi mình có tình thương rồi thì mình có khả năng sống đúng theo năm giới của đạo Bụt, trong đó có giới bảo vệ sự sống. Nếu chỉ nghĩ đến lợi nhuận mà khai thác thiên nhiên đến mức làm cho hư hoại môi trường sinh sống của mọi loài thì tức là mình không có tình thương. Mình ý thức được là mình gây ra sự giết chóc, hủy hoại môi trường. Cái đó trở thành một nút thắt nằm trong đáy lòng mình, khiến cho tâm mình không an. Tuy có thêm lợi nhuận nhưng mình biết trong thâm tâm rằng mình đang phá hoại môi trường, phá hoại sinh mạng của những người khác. Vì vậy trong những giấc mơ và khi mình về già, và lớn tuổi thì mình sẽ ăn năn, hối hận và không thể nào có hạnh phúc được.
Có tình thương trong doanh nghiệp thì thế nào mình cũng tránh được hành động hủy hoại môi trường và hủy hoại sinh mạng của những loài khác. Khi ý thức được rằng tuy đang có lợi nhuận nhưng mình đang sát sinh quá nhiều, thì tâm mình không an. Nếu tiếp tục như vậy thì cái không an của tâm sẽ càng ngày càng lớn lên và một ngày nào đó, sẽ đánh mất hạnh phúc hoàn toàn. Vì vậy mình nên có can đảm để thay đổi doanh nghiệp. Thay vì phải sát sinh nhiều thì mình đi tìm một loại doanh nghiệp nào mà có thể bảo hộ được sinh mạng, bảo hộ được môi trường. Sự thực tập đó trong đạo Phật gọi là chánh mạng.
Chánh mạng (right livelihood) tức là một nghề nghiệp sinh sống chân chính, không tàn hại môi trường, không tàn hại sinh mạng của những loài khác. Sinh sống một cách chân chính là một trong tám con đường của Bát Chánh Đạo. Khi nhận thức được doanh nghiệp của mình tuy làm ra tiền nhưng lại đang hủy hoại sinh môi, làm hao tổn sinh mạng của những loài khác thì mình hãy lập tức nói với mình rằng “doanh nghiệp này không có đủ tình thương! Mình không muốn tiếp tục như vậy. Mình sẽ tìm cách thay đổi doanh nghiệp để trở thành một doanh nghiệp mà trong đó mình có cơ hội bảo hộ được môi trường và bảo hộ được sinh mạng”.
Có những doanh nghiệp như vậy. Trong một trăm doanh nghiệp được báo Fortune nêu danh mỗi năm thì tất cả đều có xu hướng bảo vệ môi trường, bảo hộ sự sống, giúp đỡ cho những người hiểu biết và giúp đỡ những người trong doanh nghiệp. Nếu làm doanh nghiệp đúng theo tinh thần của tình thương thì mình thành công nhiều hơn. Không những thế mà mình còn không có mặc cảm tội lỗi và sau này mình sẽ không phải trả một cái giá rất đắt cho nó.
Trong thương trường có sự tranh đấu, hình như là đó là sự tranh đấu không nương tay, không có tình thương. Nhưng mục đích của mình là gì? Mục đích của mình là hạnh phúc chứ không phải chỉ thành công về hình thức. Mình có thể có rất nhiều tiền, có rất nhiều quyền lực, nhưng mà mình có thể đau khổ vô cùng. Cho nên mình phải xét lại điều này. Đây là điều rất quan trọng. Mục đích của mình là có hạnh phúc, hạnh phúc cho bản thân, và hạnh phúc cho những người thương. Mình biết rằng tình thương là yếu tố căn bản của hạnh phúc đó. Khi mình có hạnh phúc và tình thương rồi thì mình không nỡ lòng nào gây tàn hại và hủy hoại môi trường sinh sống của các loài khác.
Kinh Kim Cương có nói là mình cần phải xét lại ý niệm của mình về “Ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả”.”Nhân” ở đây có nghĩa là con người. Theo đạo Phật con người được làm bằng những yếu tố không phải người. Con người xuất hiện trên trái đất này muộn hơn so với các loài sinh vật khác. Nếu không có các loài khoáng vật, thực vật và động vật thì con người không thể nào sống được. Bảo hộ cho các loài khoáng vật, các loài thực vật và động vật tức là bảo vệ con người. Bảo vệ những yếu tố không phải người tức là bảo vệ yếu tố người. Đó là văn kiện về bảo hộ sinh môi sớm nhất trong lịch sử văn học của nhân loại. Theo Kinh Kim Cương, muốn bảo hộ con người phải bảo hộ những yếu tố làm ra con người, đó là: “đất đá, thực vật, và các loài sinh vật khác”.
Tình thương có thể đi đôi một cách toàn hảo với sự thành công của doanh nghiệp. Nó có thể giúp cho nhà doanh thương thành công hơn những nhà doanh thương không có tình thương. Vì vậy thực tập tình thương thì mình thực tập bảo hộ sinh mạng, bảo vệ môi trường. Khi mình thấy những nhà doanh thương khác không để ý đến điều đó, mình cũng có lòng thương đối với họ. Mình thấy tội nghiệp cho họ, vì họ chỉ biết chạy theo tiền tài và uy quyền. Họ là những người không có hạnh phúc. Mình sẽ tìm mọi cách để có thể giúp được những người đó. Cách hay nhất là giúp họ thấy những điều đó qua đời sống của chính mình. Họ thấy có lòng từ bi như vậy mà mình vẫn thành công, mình còn thành công nhiều hơn họ nữa. Từ đó họ sẽ thay đổi. Đừng thấy họ tranh đua một cách không nể nang và không tôn trọng một cái gì hết mà mình cũng bị kéo theo, và phải đi theo cách đó. Mình đi theo cách khác, cách của tình thương. Tại vì mình đã được học bài học rồi. Chỉ có tình thương mới có thể xây dựng được truyền thông tốt giữa người với người, giữa người với những chủng loại khác, trong đó có các loài thảo mộc, các loài cầm thú và các loài khoáng vật.
Tăng đoàn Làng Mai hướng dẫn thiền hành cho các doanh nhân tại Salesforce
Câu Hỏi :
Thưa thầy khi quản lý một doanh nghiệp con luôn luôn phải vươn tới lương lai và phải đặt nhiều tham vọng. Tất cả các đối thủ đều như vậy, nếu con không như vậy thì con sẽ tụt hậu. Làm sao con có thể an trú trong giây phút hiện tại được? Theo thầy, đối với doanh nghiệp thì như thế nào là đủ?
Sư Ông trả lời :
Làm giàu không phải là chuyện xấu. Nhưng mình nên biết rằng mình muốn giàu là tại vì mình muốn hạnh phúc. Nếu giàu mà không có hạnh phúc thì giàu để làm gì? Khi mình hạnh phúc rồi thì tiền bạc đó sẽ tạo thêm hạnh phúc cho những người xung quanh mình. Khi xung quanh mình người ta hạnh phúc thì hạnh phúc của mình cũng tăng lên.
Chúng ta hay lo lắng cho tương lai, lo lắng cho sự thành công của tương lai, chúng ta lại hay sợ hãi về tương lai. Nhưng trong tuệ giác của đạo Bụt thì tương lai được làm bằng hiện tại cũng như hiện tại được làm bằng quá khứ. Nếu mình biết quản lý hiện tại với tất cả khả năng của mình tức là mình đã làm tất cả mọi cái cho tương lai rồi. Còn ngồi đó mà tiêu phí năng lượng trong sự lo lắng và sợ hãi thì chỉ làm hư tương lai thêm.
Mình có quyền thiết kế tương lai nhưng mà mình phải thả neo trong giây phút hiện tại. Mình vẫn an trú trên mảnh đất của thực tại để thiết kế tương lai, có nghĩa là mình đừng đánh mất mình trong sự lo lắng, sợ hãi về tương lai. Lo lắng và sợ hãi không có ích lợi gì cho tương lai hết mà còn làm hại cho tương lai nữa. Vấn đề không phải là lo lắng, sợ hãi cho tương lai mà là ngồi thật vững trong hiện tại để nếu cần thì thiết kế cho tương lai. Trở về với giây phút hiện tại, mình chăm sóc được thân và tâm của mình. Có những căng thẳng, đau nhức trong thân. Nếu mình cứ tiếp tục sống như lâu nay thì những căng thẳng, những đau nhức đó càng ngày càng bị dồn nén và nó sẽ sinh ra đủ thứ bệnh.
Căng thẳng (stress) cũng đã sinh ra đủ thứ bệnh cho thân và tâm của ta. Trong tâm có những buồn khổ, những lo lắng, những bực dọc. Khi trong tâm có căng thẳng và bực bội thì những tư tưởng, lời nói, cử chỉ và hành động của mình sẽ trở nên bạo động. Vì chúng bị thúc đẩy bởi những khổ đau, những lo lắng và những sợ hãi kia. Điều này tạo ra nhiều đổ vỡ trong bản thân, trong gia đình và trong doanh nghiệp của mình.
Tâm an và nhiệt huyết sống, có mâu thuẫn không?
Câu hỏi: Thưa thiền sư, liệu có mâu thuẫn không khi ta đề cao tâm an, nhẹ nhàng, thanh tịnh, nhưng thực tế cuộc sống lại rất sôi động, cạnh tranh, mỗi con người phải vươn lên. Cũng có khi người ta coi stress, căng thẳng như là một thách thức thú vị của cuộc sống (như việc chơi game chẳng hạn). Đạo Phật có mâu thuẫn khi gạt đi những sôi động, những thách thức khiến con người phát triển và có nhiệt huyết sống không?

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Một nhà chính trị thì luôn muốn mình đem lại thành công cho đất nước. Một doanh thương cũng muốn thành công cho cả doanh nghiệp chứ không phải chỉ cho mình. Nếu hình hài không có an thì không thành công được. Thực tập đem lại sự an ổn trong thân, trong tâm sẽ giúp họ thành công, dù là nhà chính trị hay doanh nhân, không có gì chống đối hết. Khi sử dụng ái ngữ và lắng nghe thì họ thành công hơn trong lĩnh vực chính trị, kinh doanh của họ. Những niềm vui của họ có thể rất lớn khi họ thực hiện những điều họ mơ ước. Sự thành công của mình không hẳn phải trả giá bằng sự thất bại của người khác. Tại sao người kia phải thất bại thì mình mới thành công? Đó là câu hỏi quan trọng. Làm thế nào để tôi thành công và anh cũng thành công? Có như vậy thì hạnh phúc của ta sẽ lớn hơn, vì không ai đau khổ do sự thành công của chúng ta hết. Hạnh phúc của chúng ta đâu phải chỉ là quyền lực, danh vọng, tiền bạc. Hạnh phúc là khi chúng ta có tình thương và sự hiểu biết.
Trong mỗi chúng ta có hai nhu cầu sâu sắc, đó là nhu cầu hiểu biết và thương yêu. Những nhà khoa học vì nhu cầu hiểu biết mà thức đến 3 – 4 giờ khuya để nghiên cứu thí nghiệm. Những nhà đạo học không dùng phương tiện đo lường mà dùng thiền quán để tìm hiểu. Con đường tâm linh cũng khám phá, làm thỏa mãn nhu yếu hiểu biết của con người.
Nhu yếu thứ hai sâu sắc của con người là thương yêu và được thương yêu. Sở dĩ ngày xưa thái tử Siddharta bỏ nhà đi tu là tại vì Siddharta thấy rằng tình thương dành cho một người không đủ, không làm thỏa mãn ý chí của người con trai đó. Vì vậy Siddharta đã ra đi tìm tình thương có thể ôm lấy mọi người, mọi loài, tình thương không biên giới.
Ta có khao khát rất lớn là được thương yêu, thương yêu có thể phát triển tới vô biên, ôm lấy vũ trụ. Khi ta có hiểu biết lớn, thương yêu lớn thì hạnh phúc sẽ lớn. Vì vậy nhà doanh thương, nhà chính trị mà trong khi hoạt động mở rộng được tình thương, hiểu biết của mình (càng hiểu thì càng thương, hiểu sâu thì thương nhiều) thì hạnh phúc rất lớn, không có gì mâu thuẫn.

Khóa tu dành cho các nhà lập trình và thiết kế mạng tại San Francisco, Mỹ – năm 2015
Đọc thêm: Đối thoại với Thiền sư Nhất Hạnh về hạnh phúc
Người trẻ và vấn đề thất nghiệp
Câu hỏi: Hiện nay trên thế giới đang xảy ra tình trạng những người trẻ sau khi tốt nghiệp không tìm được việc làm. Điều này khiến cho giới trẻ luôn sống trong trạng thái bất an và nhiều buồn giận. Xin Thầy chia sẻ tuệ giác của mình để giúp cho người trẻ có thể đối diện với hoàn cảnh khó khăn hiện nay và tìm lại được niềm vui sống.
Thầy: Những người không có việc làm chắc chắn là khổ rồi, nhưng tôi thấy ngay cả những người có việc làm cũng vẫn khổ như thường. Vì vậy đây không phải là vấn đề của những người không có việc làm mà thôi.
Như quý vị đã thấy, trong tăng thân chúng tôi, nhiều người đã từng có công ăn việc làm rất tốt nhưng họ đã từ bỏ những công việc đó để trở thành “thất nghiệp”. Tôi nghĩ chúng ta phải nói với người trẻ về hạnh phúc chân thực là gì. Bởi vì nhiều người nghĩ rằng hạnh phúc được làm bởi tiền tài, danh vọng, địa vị, sắc dục, v.v. Và nếu không đạt được những thứ đó thì họ khổ. Nhưng chúng ta thử nhìn xem, trong xã hội có nhiều người đã có đầy đủ những thứ đó nhưng vẫn tiếp tục khổ đau, thậm chí có nhiều người còn đi đến chỗ tự tử.
Vì vậy, theo tôi, hạnh phúc chân thực chỉ có được khi ta được hiểu, được thương, và ta có khả năng hiểu và thương những người khác. Chúng ta hoàn toàn có thể sống hạnh phúc mà không cần có nhiều tiền bạc.
Ở Làng Mai, chúng tôi đang chứng minh cho điều đó. Ở đây các thành viên trong tăng thân không ai có nhà riêng, xe riêng, tài khoản riêng và cũng không có lương hàng tháng. Nhưng chúng tôi đâu có khổ, chúng tôi rất hạnh phúc, các bạn có thể thấy chúng tôi vui cười cả ngày. Đó là bởi vì chúng tôi sống trong sự hòa hợp và biết cách chế tác tình huynh đệ. Ngoài ra, chúng tôi thấy mình sống có ích và giúp được cho nhiều người bớt khổ. Chúng tôi thấy rằng hạnh phúc chân thực được làm bởi lòng từ bi và tình thương chân thực. Vì vậy mà dù ta sống rất giản dị và tiêu thụ rất ít thì ta vẫn có thể hạnh phúc như thường.
Tôi nhớ trong một buổi nói chuyện với các học giả, các nhà lý luận theo chủ nghĩa Mác-xít tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tại Hà Nội, tôi có chia sẻ với họ về nếp sống ở Làng Mai: chúng tôi không ai có tài khoản riêng, nhà riêng, thậm chí không có điện thoại riêng, máy vi tính riêng, cũng không có lương hàng tháng, và tôi nói rằng: “chúng tôi mới là những người cộng sản thứ thiệt!”. Tất cả mọi người có mặt ở đó đều cười lớn. Bởi vì đó là sự thật mà ai cũng có thể thấy.
Vì vậy theo tôi, điều quan trọng là chúng ta cần thay đổi quan niệm về hạnh phúc. Mỗi người trong chúng ta đều có một ý niệm về hạnh phúc và ý niệm đó có thể là trở ngại chính ngăn chúng ta tiếp xúc với hạnh phúc chân thực. Nếu chúng ta chưa tìm được việc làm thì chúng ta vẫn có thể sống một cách đơn giản, tiêu thụ ít lại nhưng vẫn có thể hạnh phúc hơn nhiều người đang có rất nhiều tiền bạc, địa vị và quyền lực trong xã hội.
Đó là lý do vì sao công tác giáo dục đóng vai trò rất quan trọng. Chúng ta cần đưa những nội dung như nghệ thuật xử lý khổ đau và chế tác hạnh phúc vào giảng dạy tại trường học. Điều này rất quan trọng. Tôi nghĩ các thầy cô giáo là những người cần phải nắm cho được nghệ thuật chế tác hạnh phúc và xử lý khổ đau, rồi sau đó mới trao truyền lại cho các sinh viên của mình. Chúng ta cần phải bắt đầu với các giáo viên trước. Thầy cô giáo hạnh phúc thì học trò cũng sẽ hạnh phúc và thế giới này cũng nhờ đó mà trở nên tốt đẹp hơn.
(Đọc thêm: Đối thoại về Tuổi trẻ ngày nay)
Cầu nguyện có phải là mê tín hay không?
Câu hỏi: Trong khi cúng lễ mình có sự cầu xin, vậy sự cầu xin đó có phải là mê tín hay không?
Thầy trả lời:
Trước hết, tôi nghĩ cầu nguyện là một hình thức truyền thông. Thờ cúng tổ tiên là mình thực tập để có truyền thông với tổ tiên mỗi ngày: Mỗi khi chúng ta thắp một cây hương và cắm lên bàn thờ của tổ tiên hay mỗi khi chúng ta thay nước bình hoa trên bàn thờ tổ tiên là chúng ta có thể tiếp xúc được với tổ tiên, không phải trên bàn thờ mà là tổ tiên trong từng tế bào của cơ thể chúng ta. Điều này rất quan trọng. Mỗi khi có việc gì đó xảy ra trong gia đình chúng ta, chúng ta có bổn phận phải báo cáo lên tổ tiên và tổ tiên có quyền được biết. Ví dụ như chúng ta gả con gái cho một anh chàng ở làng bên hoặc chúng ta gởi con trai vào trường đại học, tổ tiên cũng phải biết những điều đó. Thắp một cây hương, dâng một cành hoa trên bàn thờ, đó là một hành động truyền thông, không có gì là mê tín hết và bàn thờ có nghĩa là trái tim của chúng ta.

Vì không có truyền thông cho nên xã hội ngày nay đã tạo ra không biết bao nhiêu là ma đói. Cha không truyền thông được với con, vợ không được truyền thông với chồng. Người trẻ không cảm thấy gia đình là tổ ấm hạnh phúc nên đã không tin vào gia đình. Nếu không tin vào gia đình, không tin vào cha mẹ thì làm sao tin được vào tổ tiên? Xã hội chúng ta ngày nay, mỗi ngày tạo ra hàng trăm, hàng ngàn những con ma đói. Những con ma bằng thịt, bằng xương đàng hoàng, họ đi bơ vơ trong cuộc đời, họ không cảm thấy có chút gì dính líu tới gia đình, tới truyền thống, tới tổ tiên. Đó là những con người rất đói, họ không biết họ thuộc vào một truyền thống, một gia đình, một nền văn minh nào. Họ khước từ tất cả những truyền thống, những cơ cấu, những cấu trúc xã hội mà họ đang có. Tại vì họ đã từng đau khổ nhiều vì những cái đó, vì gia đình, vì học đường, vì nhà thờ, vì chùa, vì xã hội, cho nên họ trở thành những con ma đói.
Nhìn quanh, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều ma đói, ở Tây phương cũng như ở Đông phương. Họ đói cái gì? Họ đói hiểu, đói thương, họ cảm tưởng rằng không ai hiểu, không ai thật sự thương họ, từ cha mẹ cho đến bạn bè, anh em, tổ tiên, giòng họ. Họ hoàn toàn mất gốc. Ðó là hiện tượng phóng thể (Aliénation). Phóng thể tức là không còn thấy dính líu tới cái gì nữa. Chúng tôi gọi đó là những con ma đói. Những con ma đói không phải là những linh hồn đi vất vơ, vất vưởng trên mây mà là những con người bằng xương bằng thịt ngày hôm nay. Chúng tôi đã từng gặp rất nhiều những con ma đói như vậy. Chúng tôi đã đem tuệ giác và pháp môn của đạo Phật để cứu những con ma đói đó, đưa họ về với gia đình, với truyền thống, với nền văn hóa của họ.
Khi nhìn những con ma đói, chúng ta có thể nhận diện họ dễ dàng: Cách họ đi, cách họ nhìn, cách họ làm một cái gì đó cũng đủ chứng tỏ họ là một người không có gốc rễ, không có một dính líu gì với xã hội, với nền văn minh và với cấu trúc gia đình này. Tuy họ đói tình thương, đói hiểu biết nhưng giá như chúng ta đem tình thương, đem hiểu biết để tặng họ thì họ cũng không tiếp nhận được, tại vì họ có nỗi nghi ngờ rất lớn. Dù mình có tình thương, có hiểu biết đích thực hiến tặng cho những người đó, họ vẫn còn nghi ngờ. Vì vậy muốn giúp những con ma đói đó chúng ta phải có rất nhiều kiên nhẫn.
Chúng tôi đã đi ngang qua những kinh nghiệm đó, chúng tôi đã từng giúp những con ma đói gốc Âu châu, gốc Mỹ châu, gốc Phi châu, trung Á và Á đông. Bây giờ xã hội Á đông cũng đã bắt đầu sản xuất rất nhiều những con ma đói, những thanh niên và những thiếu nữ bơ vơ trong cuộc đời. Những con ma đói đó không có được sự truyền thông với gia đình, với truyền thống, với tổ tiên, với xã hội. Nếu họ cầu nguyện được tức là họ có thể nói chuyện được. Ví dụ như khi họ nói: Lạy các vua Hùng, chúng con rất đội ơn các vua Hùng đã dựng nước, đã giữ nước để cho chúng con hôm nay có một giang sơn. Nói như vậy tức là đã truyền thông rồi, mà nếu truyền thông được thì không còn bị bế tắc và người đó sẽ khỏi bệnh, không mắc bệnh tâm thần. Cho nên quý vị đừng vội vàng cho những lời cầu nguyện, những lời cầu xin đó là mê tín. Những bà cụ, những phụ nữ, những thiếu niên, thanh niên đó, nếu họ còn cầm được cây hương, cầu nguyện được với tổ tiên, tức là họ còn nói chuyện, còn truyền thông được. Chính cái đó giữ cho họ không bị bệnh tâm thần, không bị bệnh bế tắc. Chúng ta phải cẩn thận lắm mới được. Nếu thực sự có tình thương và sự hiểu biết lớn, chúng ta sẽ dung nạp được tất cả, chúng ta sẽ không vội vàng gán cho họ cái nhãn hiệu mê tín dị đoan.
Khi chúng ta có một đứa cháu bị ốm nặng, chúng ta cần phải lo nhiều chuyện. Chuyện thứ nhất là chúng ta gọi điện thoại cho bác sĩ. Chuyện thứ hai là chúng ta có thể nấu cháo cho cháu. Chuyện thứ ba chúng ta có thể làm là đốt một cây hương trên bàn thờ tổ tiên và cáo với tổ tiên là: Cháu đang bệnh nặng, xin tổ tiên ông bà phù hộ cho cháu. Đốt một cây hương trên bàn thờ tổ tiên để cầu sự che chở cho cháu, tôi nghĩ không là một sự mê tín. Ta thấy rằng: Tổ tiên không phải ở ngoài chúng ta, không phải ở trên bàn thờ mà tổ tiên ở trong từng tế bào cơ thể chúng ta. Đã biết bản chất của tổ tiên là không sinh, không diệt mà chúng ta lại nói tổ tiên không còn nữa thì đó là một sai lầm. Tổ tiên đang có mặt đích thực trong từng tế bào của cơ thể chúng ta vì vậy chúng ta có thể đối thoại, có thể nói chuyện với tổ tiên. Khi mà chúng ta nói với tổ tiên: Cháu nó ốm rất là nặng, xin ông bà, xin tổ tiên che chở cho cháu là chúng ta đánh động đến sự có mặt của tổ tiên trong từng tế bào cơ thể chúng ta và cơ thể cháu. Nếu chúng ta lắng nghe cho kỹ, chúng ta sẽ thấy có sự đáp ứng của tổ tiên.
Có lần một phụ nữ, người Tây phương tới khóa tu trong tình trạng có bệnh cancer (ung thư), trong lúc buồn chán, tuyệt vọng có tiết lộ cho chúng tôi biết rằng bà có ông nội sống đến chín mươi sáu tuổi. Tôi nói với phụ nữ Tây phương đó nên cầu nguyện với ông nội đi: Ông nội ơi giúp con! Con biết là ông nội đang có mặt trong từng tế bào cơ thể của con, ông nội giúp con đi! Con biết ông nội có một sức khỏe rất vững chãi. Con biết là những tế bào của ông nội đang có mặt trong tế bào của con. Tôi chỉ hướng dẫn cho người phụ nữ Tây phương đó cầu nguyện như vậy, cầu nguyện với ông nội của mình đã sống đến chín mươi sáu tuổi. Sau một thời gian cố gắng thì căn bệnh cancer của phụ nữ đó đã lành.
Mình đánh động được sự có mặt của ông nội trong từng tế bào cơ thể, mình tiếp xúc được và ông nội có thể đáp ứng được, tại vì những tế bào rất tốt, rất khỏe mạnh của ông nội cũng có mặt ở trong từng tế bào của chúng ta. Chúng ta biết những gen mà tổ tiên để lại trong từng tế bào đang chờ đợi nếu có điều kiện thích ứng thì nó phát hiện, nếu không có những môi trường thuận lợi thì nó không phát hiện. Chúng ta ai cũng có những gen của bệnh tâm thần nhưng nếu chúng ta sống trong môi trường tốt, gen của tâm thần sẽ không bao giờ xuất hiện. Vì vậy vấn đề môi trường rất là quan trọng, đó là vấn đề hậu thiên. Tiên thiên (gen di truyền) có đó nhưng phải có hậu thiên (môi trường thuận lợi) mới có cơ hội phát hiện.
Có một hôm, tôi ngồi thiền, bỗng nhiên tôi thấy trong người rất khỏe và tôi nói chuyện với bố tôi. Tôi nói: Bố ơi, hai bố con mình đã thành công rồi! Tôi nói chuyện như vậy và tôi cảm thấy hạnh phúc của tôi lớn lao vô cùng. Quý vị hỏi thành công ở chỗ nào? Tôi sẽ nói: Trong giây phút ngồi thiền đó tôi cảm thấy hoàn toàn được tự do, tôi không còn một ước mơ nào nữa hết, tôi không còn một dự án nào phải theo đuổi nữa hết. Tôi thấy hoàn toàn thảnh thơi, hoàn toàn tự do, không có một cái gì lôi kéo được mình nữa. Mình ngồi yên như núi Tu Di, rất vững chãi, rất thảnh thơi. Sự thành công đây là tự do, tự do lớn. Mình không bị một hận thù hay một tham vọng nào kéo mình đi được nữa. Tại vì mình đã có được tự do, mình đã có được giải thoát.
Trước kia, bố tôi đã từng làm việc ở trong chính phủ Nam triều, đã có những lúc lên, lúc xuống và cũng đã từng đi tìm sự an bình của tâm hồn, cũng đã từng niệm Phật, tụng kinh nhưng chưa thành công. Đến đời tôi, tôi thực tập thành công. Tôi thấy rõ ràng là mỗi ngày mình đều được làm cái việc mình thích, mình được bước những bước chân thảnh thơi. Mỗi bước chân đưa mình tiếp xúc được những mầu nhiệm của sự sống, có tính cách nuôi dưỡng, trị liệu. Mỗi ngày mình tiếp xúc được với những mầu nhiệm sự sống bằng mắt, bằng tai. Mỗi ngày mình có thể trao truyền được những gì đẹp nhất, hay nhất, quý nhất mà mình chế tác được trong đời sống tu tập của mình cho những người đệ tử xuất gia và tại gia.
Tổ chức được những khóa tu cho người cư sĩ giúp cho họ thiết lập lại được truyền thông đem lại được sự hòa giải, nở lại được nụ cười. Những điều đó là những điều đưa lại cho chúng tôi rất nhiều hạnh phúc. Mỗi ngày đều được làm những gì mình thích thì mình đâu cần cái gì nữa. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân, mỗi nụ cười, mỗi cái nhìn đều đem lại hạnh phúc thì rõ ràng mình không còn tham vọng, hận thù nào hay vướng mắc nào nữa. Đó là sự thành công của người tu cho nên tôi mới nói chuyện với bố là: Bố ơi, cha con mình đã thành công rồi! Bởi vì con thành công tức là bố thành công. Ngày xưa bố cũng niệm Bụt, cũng tụng kinh nhưng bố không thành công, chưa thành công nhưng con bây giờ có cơ hội làm thành công được. Như vậy, thành công cũng là thành công cho bố. Khi mình nói chuyện với bố như vậy thì đó là sự truyền thông, sự thông thương.
Tôi xin quý vị hiểu cho, nếu những người thực tập cầu nguyện, cầu xin chưa có được tuệ giác: Đối tượng cầu xin với chủ thể cầu xin là một. Nhưng trong hiện tại, họ đang có thể truyền thông được với tổ tiên tâm linh hay là tổ tiên huyết thống của họ, chính cái đó giữ cho họ không bị bệnh tâm thần. Khi mình còn nói chuyện được, dù nói chuyện với tổ tiên huyết thống tức ông bà hay tổ tiên tâm linh tức Phật, Bồ Tát hay các vị Tổ sư là còn có sự thông thương, mình chưa bị phóng thể, mình chưa bị mất gốc. Chúng tôi thấy rằng sự truyền thông đó rất quan trọng và mình đừng vội cho đó là mê tín.
Khi chúng ta đến đền Hùng hay đưa những người trẻ lên thăm đền Hùng, đó là một sự thực tập truyền thông tiếp xúc với tổ tiên. Chúng ta thấy hình ảnh cụ Hồ, hình ảnh của một trong những vị tổ tiên còn trẻ ở những nơi gặp gỡ. Khi mình tiếp xúc được với cụ Hồ là mình cũng có thể tiếp xúc được với Lý Thường Kiệt, với Trần Hưng Ðạo, với các vua Hùng. Phải có truyền thông chúng ta mới không bị bệnh, không bị mất gốc. Số người bị bệnh tâm thần ở trong xã hội chúng ta hôm nay rất đông mà nguyên do sâu sắc nhất là bị mất gốc, là phóng thể, là không còn truyền thông được với cha mẹ, với tổ tiên, tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh. Thực tập như thế nào để giữ được truyền thông, tái lập được truyền thông rất là quan trọng. Trong đạo Phật chúng ta có rất nhiều phương pháp cụ thể để giúp tái lập truyền thông giữa cha mẹ, con cái, giữa vợ chồng và giữa mình với tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh.
Chúng tôi đã thiết lập ra sự thực tập: Ba cái lạy và năm cái lạy. Người Tây Phương đã thực tập và đã chữa trị được nhiều nỗi cô đơn, bức xúc và giúp cho họ thiết lập lại truyền thông với truyền thống của họ và với gia đình họ. Quý vị hãy tưởng tượng một khu đồi rất lớn và năm ngàn người Châu Âu thực tập lạy xuống dưới sự hướng dẫn của một thầy gốc Việt Nam. Khi họ lạy xuống như vậy, đầu, hai tay, hai chân của họ dính vào đất, chúng ta gọi là ngũ thể đầu địa 5*. Họ buông hết ra những giận hờn, những tuyệt vọng để cho đất ôm lấy họ, họ tiếp xúc được với tổ tiên. Họ được hướng dẫn rằng: Tổ tiên có mặt trong từng tế bào của cơ thể và tất cả những đức tính của tổ tiên luân lưu trong dòng máu của họ. Với sự hướng dẫn của một thầy hay là một sư cô, họ có thể nằm trong tư thế phủ phục hai ba phút để quán chiếu, để thấy rõ ràng rằng họ có gốc rễ và họ tiếp xúc được với tổ tiên tâm linh, tổ tiên huyết thống. Khi họ đứng lên thì họ đã trở thành một con người khác, họ buông bỏ tất cả những hận thù, tuyệt vọng, giận hờn và họ tiếp xúc được với tổ tiên của họ.
Chúng tôi xin đề nghị, nếu có dịp quý vị nghiên cứu ba cái lạy, năm cái lạy mà chúng tôi chế biến từ những nguyên liệu trong kho tàng giáo lý đạo Phật. Chúng tôi đã chế tác ra để giúp cho những người Tây Phương móc nối được, tiếp nối được với tổ tiên huyết thống của họ. Chúng tôi có sáng tác ra lời cầu nguyện đầu năm cho người Tây phương vào ngày tết Tây. Thay vì mở nút chai champagne và chơi nhạc, họ có thể đốt hương, đứng chắp tay trước bàn thờ tổ tiên, đọc bài cầu nguyện và hứa với tổ tiên là trong năm mới họ sẽ sống một cuộc sống vững chãi hơn, thảnh thơi hơn. Ở đây chúng tôi chỉ có một lời cầu nguyện mà chúng tôi sáng chế cho các thầy các sư cô mỗi khi có buổi giỗ Tổ. Tổ này là Tổ tâm linh.
Lời cầu nguyện:
Chúng con tăng thân xuất gia, hôm nay vào ngày giỗ sư tổ, tập hợp tới chùa, kính cẩn trình diện trước Tổ đường với tất cả lòng dạ chí thành của chúng con. Cúi xin các thế hệ Tổ Sư của chúng con từ bi chứng giám. Chúng con ý thức được rằng cây có cội nước có nguồn, chúng con biết Bụt và các thế hệ Tổ sư là cội nguồn của chúng con và chúng con là sự tiếp nối của liệt vị.
Chúng con nguyện tiếp nhận tuệ giác từ bi và an lạc mà Bụt và chư Tổ đã trao truyền, nguyện nắm giữ và bồi đắp không ngừng gia tài tâm linh quý giá ấy. Chúng con nguyện tiếp tục thực hiện chí nguyện độ sinh của quý vị, nguyện chuyển hóa những khổ đau trong chúng con, giúp được người đương thời chuyển hóa những khổ đau của họ và mở ra cho những thế hệ tương lai những pháp môn thích hợp có khả năng giúp họ đem đạo Bụt áp dụng được vào trong mọi lãnh vực của sự sống.
Chúng con nguyện thực tập để sống an lạc ngay trong giờ phút hiện tại để nuôi dưỡng chất liệu vững chãi và thảnh thơi trong chúng con và để giúp được những người chung quanh. Chúng con nguyện nhìn nhận nhau là anh chị em trong một gia đình tâm linh, bởi vì chúng con biết rằng tất cả chúng con đều là con cháu tâm linh của liệt vị. Chúng con nguyện sẽ chăm sóc cho nhau để thấy được những khó khăn và khổ đau của nhau để hiểu để thương và để giúp nhau trong công trình chuyển hóa.
Chúng con xin hứa sẽ tập sử dụng các hạnh ái ngữ và lắng nghe để nuôi dưỡng tình huynh đệ trong tăng thân. Nguyện chấp nhận sự soi sáng của tăng thân để nhận diện những khả năng cũng như những yếu kém của mình mà vun trồng hoặc chuyển hóa. Nguyện xóa bỏ mọi tỵ hiềm để có thể nương vào nhau mà đi lên trên con đường thành tựu đạo nghiệp. Chúng con biết chỉ khi nào chúng con làm được như thế thì chúng con mới xứng đáng là con cháu của Bụt và các vị Tổ sư. Chúng con cúi xin sư Tổ cùng tất cả các liệt vị Tổ sư từ bi chứng minh cho tâm thành kính và hiếu thảo của chúng con, những phẩm vật quý giá nhất của sự cúng dường trong ngày giỗ Tổ.
Khi chúng ta cầu nguyện như vậy thì làm gì có chất mê tín ở trong đó. Chúng ta chỉ truyền thông với tổ tiên tâm linh hoặc là tổ tiên huyết thống của chúng ta mà thôi. Chúng ta hứa với tổ tiên tâm linh và huyết thống là sẽ thương yêu nhau và chấp nhận nhau, tha thứ cho nhau. Đó là thứ truyền thông giúp cho tinh thần chúng ta được khỏe mạnh.
Tôi nghĩ rằng nếu trong mỗi gia đình Việt Nam, chúng ta duy trì được bàn thờ tổ tiên và mỗi ngày dành ra một phút để cha mẹ, con cái cùng đứng trước bàn thờ đó thắp một cây hương, chúng ta không cần nói gì hết cũng được, im lặng trong một phút. Cái đó đủ giúp cho chúng ta không lâm vào tình trạng mất gốc và phóng thể. Tôi nghĩ bàn thờ tổ tiên chứng tỏ chúng ta tin vào truyền thống, tin vào tổ tiên của chúng ta. Chúng ta như là cây có gốc, sông có nguồn và chúng ta sẽ không bao giờ đánh mất chúng ta. Chúng ta luôn luôn mang tổ tiên đi vào tương lai.
Làm sao để lấy cái giận của con ra?
Câu hỏi của một bé gái: Khi con giận, làm sao để lấy cái giận của con ra?
Sư Ông Làng Mai trả lời: Có phải con nghĩ là cơn giận là từ bên ngoài đi vào trong con và bây giờ con muốn lấy nó ra? Con có chắc là cơn giận là một cái gì đó đến từ bên ngoài? Ở Làng Mai, chúng ta có cơ hội được học cách xử lý và chăm sóc cơn giận. Có cơn giận trong người là một điều không dễ chịu lắm. Tuy nhiên, cơn giận cũng giống như bùn, nếu không có bùn, chúng ta không thể trồng sen được. Vì vậy, bùn cũng rất cần thiết và có ích.
Cơn giận của con cũng vậy, nó cũng có ích. Do đó con không cần phải lấy cơn giận ra, con không nên tìm cách để vứt bỏ nó đi cho bằng được. Nếu con biết làm sao để sử dụng cơn giận của mình một cách đúng đắn, con có thể trồng được đóa sen của bình an, của niềm vui và tha thứ.
Đây là một giáo pháp rất sâu sắc ở Làng Mai mà chúng ta đã được học. Thực ra, giận không phải là một cái gì đến từ bên ngoài ta mà là ở bên trong ta. Con không cần phải lấy cơn giận ra để quẳng nó đi. Cơn giận thực ra là một cái gì đó hữu dụng và nếu chúng ta ôm ấp cơn giận với hiểu biết, với lòng từ bi thì cơn giận sẽ trở thành tình thương. Chúng ta hãy thử lấy một ví dụ. Sáng nay, có một người nào đó đã đã làm hay đã nói một điều gì đó không dễ thương với con và làm con nổi giận.
Thông thường, nếu không phải là một người thực tập giỏi, con muốn đấm cho người kia một cái. Đó là cơn giận trong chúng ta. Cơn giận đó là một loại bùn và nó làm vấy bẩn lên mọi thứ. Vì vậy mà chúng ta cần ý thức về loại bùn này do cơn giận gây ra. Chúng ta cần phải quán sát nó, không để vết bùn đó vấy bẩn lên mình và lên người kia.
Vì vậy cho nên chúng ta phải thở vào, thở ra một cách bình tĩnh, có chánh niệm và nhìn vào người kia cũng như những gì đang có trong người đó. Mình thấy trong người đó có sự bạo động, có sự giận dữ, có những nỗi khổ niềm đau. Nếu người đó có hạnh phúc thì người đó sẽ không nói, không làm những gì có tính chất bạo động như vậy. Khi một người đau khổ, họ muốn tống cái khổ của mình đi bằng việc nói hay làm một cái gì đó không dễ thương với người khác và nghĩ rằng khi làm như vậy thì họ sẽ bớt khổ. Nhưng làm như vậy là dại lắm.
Do đó khi con nhìn và con thấy người đó không có hạnh phúc, người đó có sự bạo động, giận dữ trong mình và người đó không biết cách ôm ấp, xử lý những bạo động và bất hạnh của mình. Người đó đang khổ. Và khi người đó khổ thì tự nhiên những người xung quanh người đó cũng khổ.
Khi con nhìn thấy cơn giận của người đó và con cảm thông được với người đó thì con không còn giận người đó nữa. Đứa con trai, đứa con gái tội nghiệp đó – mình không muốn trừng phạt nó để làm nó đau khổ thêm nữa. Mình muốn làm nó bớt khổ. Do đó mà con mỉm cười với người đó và nói : “Bạn ơi, mình biết là bạn đang khổ, mình không có giận bạn đâu, cho dù bạn đã nói, đã làm những điều như vậy với mình. Mình biết là bạn đang khổ nhiều lắm nên mình không trách bạn, mình không giận bạn. Mình đang thở và mình thông cảm với bạn, vì vậy mình không giận bạn và mình cũng không khổ.”
Làm được như vậy thì con sẽ là một người thực tập giỏi và người kia sẽ hết sức ngạc nhiên. Những người khác thường thường phản ứng khác, họ có thể đánh anh ta hay nói với anh ta những điều rất tồi tệ nhưng con thì không làm như vậy. Con đang hành xử rất khác bằng sự lân mẫn nhẹ nhàng, tình thương và nụ cười.
Người đó sẽ rất kinh ngạc và một ngày nào đó có thể anh ta sẽ hỏi con làm thế nào mà con làm được như vậy. Có khi nào có một người nào đó nói một điều khiếm nhã, tồi tệ hay hành xử một cách thô lỗ với con mà con vẫn giữ được sự trầm tĩnh, bình an của mình không? bằng cách nào?
Khi đó con sẽ kể cho họ nghe là con đã đến Làng Mai và học cách thở chánh niệm, cách nhận diện cơn giận, niềm đau trong mình và trong người đó. Con có thể chia sẻ những điều này với những đứa bạn của mình khi con trở lại trường học.

Sư Ông Làng Mai dạy các em nhỏ thỉnh chuông trong khóa tu mùa hè 2014
Thế nào là công lý?
Câu hỏi của một sư cô Nhật Bản: Kính bạch thầy, ở đất nước con – Nhật Bản, vẫn còn áp dụng án tử hình trong tội phạm hình sự. Trước khi xuất gia, con từng là một vị thẩm phán, và trong những phiên tòa, có lúc con phải quyết định có kết án tử hình hay không. Ví dụ như trường hợp có hai người đàn ông đã bắt cóc hai cô gái, cướp của và giết hại hai cô gái đó. Gia đình nạn nhân đã đòi tòa kết án tử hình đối với hai kẻ phạm tội. Con rất hiểu niềm đau của gia đình nạn nhân, nhưng thật là khó mà tuyên án tử hình vì đó cũng là một cách giết người được pháp luật cho phép. Con thật sự muốn biết Thầy có cái thấy như thế nào về án tử hình.
Thầy trả lời:

Tôi thấy chúng ta cần quán chiếu cho kỹ về ý nghĩa của chữ “công lý”. Cái gì được gọi là công bằng và cái gì là không công bằng? Chúng ta có một ý niệm về công lý, cho nên ta nghĩ sự trừng phạt là cần thiết. Để phục vụ cho công lý, chúng ta phải trừng phạt. Ta phải trả giá cho việc làm của mình, điều này nghe có vẻ rất hợp lý. Nhưng sự sống đâu chỉ giới hạn trong sự hợp lý (logic) mà thôi!
Bụt có một cách nhìn có thể giúp cho chúng ta bớt khổ ngay tức thì. Bụt thấy tất cả chúng ta đều đau khổ và cần sự giúp đỡ. Quý vị có biết là Bụt cũng có khổ đau hay không? Bụt cũng đau khổ, tôi tin chắc như vậy, tại vì Bụt có một trái tim biết thương yêu, Bụt không phải là gỗ đá. Khi Bụt nghe tin đệ tử thân yêu của mình là thầy Xá Lợi Phất (Sariputra) tịch, tôi tin là Ngài cũng đau khổ trong lòng tuy bề ngoài Ngài không có vẻ gì là khổ. Ngài là Bụt nhưng cũng là một chúng sinh. Trở thành Bụt không có nghĩa là phải lấy đi hết tính chúng sinh ra khỏi mình. Đó là giáo lý của Thiền tông: Sinh Phật bất nhị, tức Bụt và chúng sinh tương tức, chúng ta không thể lấy cái này ra khỏi cái kia. Vì vậy Bụt cũng đau khổ và Bụt cũng cần sự giúp đỡ.
Bụt chứng kiến quê hương mình bị vua Tỳ Lâu Ni (Virudhaka) – con trai của Vua Ba Tư Nặc tàn phá. Bụt đã cố hết sức mình, Ngài đã ngăn chặn được vua Tỳ Lâu Ni lần đầu tiên và lần thứ hai, nhưng đến lần thứ ba thì Bụt không thể ngăn vua được nữa tại vì năng lượng của hận thù quá lớn. Nếu tôi có mặt ở đó thì tôi sẽ tìm cách giúp cho Bụt. Nếu quý vị có mặt ở đó thì quý vị sẽ tìm cách giúp cho Bụt. Bụt cần sự giúp đỡ. Cũng như Đức Đạt-lai Lạt-ma, dù là một người thực tập đạo Bụt xuất sắc, Ngài cũng cần sự giúp đỡ. Và chính tôi cũng cần sự giúp đỡ. Tất cả chúng ta đều cần sự giúp đỡ.
Điều chúng ta cần là sự giúp đỡ mà không phải là sự trừng phạt. Ai trong chúng ta cũng có những lúc vụng về, dù không muốn nhưng đôi khi chúng ta cũng gây ra tàn hại và đau khổ. Tất cả chúng ta đều cần sự giúp đỡ, kể cả Bụt, kể cả một thầy giỏi. Bắt giam một kẻ giết người vào tù là việc mà mình cần phải làm. Nhưng đó có thể là một hành động thương yêu mà không phải là một hành động trừng phạt. Mình giam người đó vào tù để người đó đừng tiếp tục giết người nữa. Việc làm này giúp cho người đó và đồng thời cũng giúp cho mình. Mình bắt giữ tội phạm với tình thương chứ không phải với sự hận thù và sợ hãi.
Những người cảnh sát, những thẩm phán, những luật sư đều có thể làm việc với tình thương đối với cả những tội phạm tại vì tội phạm cũng cần được giúp đỡ. Nếu cần thì chúng ta bắt giam họ, nhưng không phải là để trừng phạt mà là để giúp họ đừng tiếp tục hành động sai lầm nữa. Tùy cách chúng ta suy nghĩ, bị giam 10 năm, 20 năm không phải là một sự trừng phạt. Thời gian bị giam của một tội phạm phải được căn cứ trên khả năng chuyển hóa của người đó. Và nhà tù phải là nơi để người đó học hỏi và tu tập Năm Giới. Mình cần gởi các vị giáo thọ tới những trại giam để giúp cho những người tù học hỏi và tu tập Năm Giới, để họ bớt khổ.
Nếu họ được ra ngoài làm việc như cuốc đất, trồng rau, v.v… thì đó là chúng ta cho họ có cơ hội phục vụ để làm nhẹ đi cảm giác tội lỗi về những việc mà họ đã làm. Thời gian ở tù phải là thời gian thực tập để chuyển hóa và trị liệu. Đó là một hành động thương yêu mà không phải là sự trừng phạt. Các thẩm phán và Ban quản lý trại giam cần phải làm như vậy. Thời gian ở tù là thời gian để tù nhân thực tập thương yêu, hiểu biết và chuyển hóa. Nhà tù không còn là chỗ để trừng phạt mà là nơi có sự thương yêu, là nơi để người ta học thương yêu. Chúng ta phải huấn luyện những thẩm phán, những luật sư, những người cai tù của chúng ta theo phương pháp thương yêu. Đó là một nền văn minh mới, nền văn minh thương yêu.
Rất nhiều tù nhân đã nói với chúng tôi: Nhà tù là nơi tốt nhất để thực tập đạo Bụt, thực tập thiền và chuyển hóa. Họ đã viết cho chúng tôi rất nhiều thư, vì có nhiều người trong chúng tôi đã gởi sách và pháp môn thực tập vào nhà tù. Chúng tôi cũng đã vào nhà tù để tổ chức những khóa tu.
Điều này cũng nên áp dụng cho án tử hình. Án tử hình không phải là một hành động trừng phạt. Trong những trường hợp cùng cực thì mình phải bắn một người. Người đó có khí giới trong tay, người đó mang đầy hận thù và sợ hãi và mình không còn cách nào khác để ngăn người đó đừng giết người. Trong trường hợp này mình giết người đó vì lòng từ bi. Nhưng mình chỉ giết người đó khi mình là một vị bồ tát, mình giết với tâm từ bi. Có thể mình có đủ khéo léo, mình chỉ làm cho người đó bị thương và chế ngự được họ. Nhiều người trong chúng ta không cần sử dụng súng, họ khéo léo chế phục và ngăn chặn được tội phạm. Có rất nhiều cách, và giết người là biện pháp cuối cùng. Và mình, nếu phải làm là do lòng từ bi mà làm. Cũng như một con ngựa đang hấp hối, nếu mình không thể cứu được nó thì vì lòng từ bi mình cho nó “một phát ân huệ“ (coup de grâce) để nó chết được bình an. Chúng ta nhìn và suy nghĩ với lòng từ bi mà không cần phải trừng phạt, vì người đó cần sự giúp đỡ. Bụt cần sự giúp đỡ, tôi cần sự giúp đỡ, quý vị cần sự giúp đỡ. Tất cả chúng ta đều cần sự giúp đỡ. Nếu biết cách giúp đỡ thì mình không cần phải trừng phạt, đó là sự thực tập của Bụt, là tình thương của Bụt.
Án tử hình không phải là câu trả lời. Từ bi, sự thực tập chánh niệm, sự chuyển hóa trong nhà tù mới là câu trả lời. Sư cô nên viết một bài báo, một cuốn sách chia sẻ sự thực tập này với những người tiếp nối sư cô trong tòa án và giúp họ nhìn lại. Sư cô nên ký tên mình như một thẩm phán chính thức. Làm như vậy, sư cô có thể tưới tẩm hạt giống của từ bi, trí tuệ trong họ.
Đọc thêm những bài có liên quan:
– Thư thỉnh cầu Chủ tịch nước bãi bỏ án tử hình
– Quý thầy, quý sư cô Làng Mai đã đến Trại giam dành cho thanh thiếu niên ở Brownsville, Mỹ để hướng dẫn các em thực tập (năm 2011)
https://www.nbcnewyork.com/news/local/nyc-juvenile-detention-meditation-yoga-lessons-lineage-project/1933517/


