Tâm an và nhiệt huyết sống, có mâu thuẫn không?

Câu hỏi: Thưa thiền sư, liệu có mâu thuẫn không khi ta đề cao tâm an, nhẹ nhàng, thanh tịnh, nhưng thực tế cuộc sống lại rất sôi động, cạnh tranh, mỗi con người phải vươn lên. Cũng có khi người ta coi stress, căng thẳng như là một thách thức thú vị của cuộc sống (như việc chơi game chẳng hạn). Đạo Phật có mâu thuẫn khi gạt đi những sôi động, những thách thức khiến con người phát triển và có nhiệt huyết sống không?

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Một nhà chính trị thì luôn muốn mình đem lại thành công cho đất nước. Một doanh thương cũng muốn thành công cho cả doanh nghiệp chứ không phải chỉ cho mình. Nếu hình hài không có an thì không thành công được. Thực tập đem lại sự an ổn trong thân, trong tâm sẽ giúp họ thành công, dù là nhà chính trị hay doanh nhân, không có gì chống đối hết. Khi sử dụng ái ngữ và lắng nghe thì họ thành công hơn trong lĩnh vực chính trị, kinh doanh của họ. Những niềm vui của họ có thể rất lớn khi họ thực hiện những điều họ mơ ước. Sự thành công của mình không hẳn phải trả giá bằng sự thất bại của người khác. Tại sao người kia phải thất bại thì mình mới thành công? Đó là câu hỏi quan trọng. Làm thế nào để tôi thành công và anh cũng thành công? Có như vậy thì hạnh phúc của ta sẽ lớn hơn, vì không ai đau khổ do sự thành công của chúng ta hết. Hạnh phúc của chúng ta đâu phải chỉ là quyền lực, danh vọng, tiền bạc. Hạnh phúc là khi chúng ta có tình thương và sự hiểu biết.

Trong mỗi chúng ta có hai nhu cầu sâu sắc, đó là nhu cầu hiểu biết và thương yêu. Những nhà khoa học vì nhu cầu hiểu biết mà thức đến 3 – 4 giờ khuya để nghiên cứu thí nghiệm. Những nhà đạo học không dùng phương tiện đo lường mà dùng thiền quán để tìm hiểu. Con đường tâm linh cũng khám phá, làm thỏa mãn nhu yếu hiểu biết của con người.

Nhu yếu thứ hai sâu sắc của con người là thương yêu và được thương yêu. Sở dĩ ngày xưa thái tử Siddharta bỏ nhà đi tu là tại vì Siddharta thấy rằng tình thương dành cho một người không đủ, không làm thỏa mãn ý chí của người con trai đó. Vì vậy Siddharta đã ra đi tìm tình thương có thể ôm lấy mọi người, mọi loài, tình thương không biên giới.

Ta có khao khát rất lớn là được thương yêu, thương yêu có thể phát triển tới vô biên, ôm lấy vũ trụ. Khi ta có hiểu biết lớn, thương yêu lớn thì hạnh phúc sẽ lớn. Vì vậy nhà doanh thương, nhà chính trị mà trong khi hoạt động mở rộng được tình thương, hiểu biết của mình (càng hiểu thì càng thương, hiểu sâu thì thương nhiều) thì hạnh phúc rất lớn, không có gì mâu thuẫn.

Khóa tu dành cho các nhà lập trình và thiết kế mạng tại San Francisco, Mỹ – năm 2015

Đọc thêm: Đối thoại với Thiền sư Nhất Hạnh về hạnh phúc

 

Người trẻ và vấn đề thất nghiệp

Câu hỏi: Hiện nay trên thế giới đang xảy ra tình trạng những người trẻ sau khi tốt nghiệp không tìm được việc làm. Điều này khiến cho giới trẻ luôn sống trong trạng thái bất an và nhiều buồn giận. Xin Thầy chia sẻ tuệ giác của mình để giúp cho người trẻ có thể đối diện với hoàn cảnh khó khăn hiện nay và tìm lại được niềm vui sống.

Thầy: Những người không có việc làm chắc chắn là khổ rồi, nhưng tôi thấy ngay cả những người có việc làm cũng vẫn khổ như thường. Vì vậy đây không phải là vấn đề của những người không có việc làm mà thôi.

Như quý vị đã thấy, trong tăng thân chúng tôi, nhiều người đã từng có công ăn việc làm rất tốt nhưng họ đã từ bỏ những công việc đó để trở thành “thất nghiệp”. Tôi nghĩ chúng ta phải nói với người trẻ về hạnh phúc chân thực là gì. Bởi vì nhiều người nghĩ rằng hạnh phúc được làm bởi tiền tài, danh vọng, địa vị, sắc dục, v.v. Và nếu không đạt được những thứ đó thì họ khổ. Nhưng chúng ta thử nhìn xem, trong xã hội có nhiều người đã có đầy đủ những thứ đó nhưng vẫn tiếp tục khổ đau, thậm chí có nhiều người còn đi đến chỗ tự tử.

Vì vậy, theo tôi, hạnh phúc chân thực chỉ có được khi ta được hiểu, được thương, và ta có khả năng hiểu và thương những người khác. Chúng ta hoàn toàn có thể sống hạnh phúc mà không cần có nhiều tiền bạc.

Ở Làng Mai, chúng tôi đang chứng minh cho điều đó. Ở đây các thành viên trong tăng thân không ai có nhà riêng, xe riêng, tài khoản riêng và cũng không có lương hàng tháng. Nhưng chúng tôi đâu có khổ, chúng tôi rất hạnh phúc, các bạn có thể thấy chúng tôi vui cười cả ngày. Đó là bởi vì chúng tôi sống trong sự hòa hợp và biết cách chế tác tình huynh đệ. Ngoài ra, chúng tôi thấy mình sống có ích và giúp được cho nhiều người bớt khổ. Chúng tôi thấy rằng hạnh phúc chân thực được làm bởi lòng từ bi và tình thương chân thực. Vì vậy mà dù ta sống rất giản dị và tiêu thụ rất ít thì ta vẫn có thể hạnh phúc như thường.

Tôi nhớ trong một buổi nói chuyện với các học giả, các nhà lý luận theo chủ nghĩa Mác-xít tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tại Hà Nội, tôi có chia sẻ với họ về nếp sống ở Làng Mai: chúng tôi không ai có tài khoản riêng, nhà riêng, thậm chí không có điện thoại riêng, máy vi tính riêng, cũng không có lương hàng tháng, và tôi nói rằng: “chúng tôi mới là những người cộng sản thứ thiệt!”. Tất cả mọi người có mặt ở đó đều cười lớn. Bởi vì đó là sự thật mà ai cũng có thể thấy.

Vì vậy theo tôi, điều quan trọng là chúng ta cần thay đổi quan niệm về hạnh phúc. Mỗi người trong chúng ta đều có một ý niệm về hạnh phúc và ý niệm đó có thể là trở ngại chính ngăn chúng ta tiếp xúc với hạnh phúc chân thực. Nếu chúng ta chưa tìm được việc làm thì chúng ta vẫn có thể sống một cách đơn giản, tiêu thụ ít lại nhưng vẫn có thể hạnh phúc hơn nhiều người đang có rất nhiều tiền bạc, địa vị và quyền lực trong xã hội.

Đó là lý do vì sao công tác giáo dục đóng vai trò rất quan trọng. Chúng ta cần đưa những nội dung như nghệ thuật xử lý khổ đau và chế tác hạnh phúc vào giảng dạy tại trường học. Điều này rất quan trọng. Tôi nghĩ các thầy cô giáo là những người cần phải nắm cho được nghệ thuật chế tác hạnh phúc và xử lý khổ đau, rồi sau đó mới trao truyền lại cho các sinh viên của mình. Chúng ta cần phải bắt đầu với các giáo viên trước. Thầy cô giáo hạnh phúc thì học trò cũng sẽ hạnh phúc và thế giới này cũng nhờ đó mà trở nên tốt đẹp hơn.

(Đọc thêm: Đối thoại về Tuổi trẻ ngày nay)

Cầu nguyện có phải là mê tín hay không?

Câu hỏi: Trong khi cúng lễ mình có sự cầu xin, vậy sự cầu xin đó có phải là mê tín hay không?

Thầy trả lời:

Trước hết, tôi nghĩ cầu nguyện là một hình thức truyền thông. Thờ cúng tổ tiên là mình thực tập để có truyền thông với tổ tiên mỗi ngày: Mỗi khi chúng ta thắp một cây hương và cắm lên bàn thờ của tổ tiên hay mỗi khi chúng ta thay nước bình hoa trên bàn thờ tổ tiên là chúng ta có thể tiếp xúc được với tổ tiên, không phải trên bàn thờ mà là tổ tiên trong từng tế bào của cơ thể chúng ta. Điều này rất quan trọng. Mỗi khi có việc gì đó xảy ra trong gia đình chúng ta, chúng ta có bổn phận phải báo cáo lên tổ tiên và tổ tiên có quyền được biết. Ví dụ như chúng ta gả con gái cho một anh chàng ở làng bên hoặc chúng ta gởi con trai vào trường đại học, tổ tiên cũng phải biết những điều đó. Thắp một cây hương, dâng một cành hoa trên bàn thờ, đó là một hành động truyền thông, không có gì là mê tín hết và bàn thờ có nghĩa là trái tim của chúng ta.

Vì không có truyền thông cho nên xã hội ngày nay đã tạo ra không biết bao nhiêu là ma đói. Cha không truyền thông được với con, vợ không được truyền thông với chồng. Người trẻ không cảm thấy gia đình là tổ ấm hạnh phúc nên đã không tin vào gia đình. Nếu không tin vào gia đình, không tin vào cha mẹ thì làm sao tin được vào tổ tiên? Xã hội chúng ta ngày nay, mỗi ngày tạo ra hàng trăm, hàng ngàn những con ma đói. Những con ma bằng thịt, bằng xương đàng hoàng, họ đi bơ vơ trong cuộc đời, họ không cảm thấy có chút gì dính líu tới gia đình, tới truyền thống, tới tổ tiên. Đó là những con người rất đói, họ không biết họ thuộc vào một truyền thống, một gia đình, một nền văn minh nào. Họ khước từ tất cả những truyền thống, những cơ cấu, những cấu trúc xã hội mà họ đang có. Tại vì họ đã từng đau khổ nhiều vì những cái đó, vì gia đình, vì học đường, vì nhà thờ, vì chùa, vì xã hội, cho nên họ trở thành những con ma đói.

Nhìn quanh, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều ma đói, ở Tây phương cũng như ở Đông phương. Họ đói cái gì? Họ đói hiểu, đói thương, họ cảm tưởng rằng không ai hiểu, không ai thật sự thương họ, từ cha mẹ cho đến bạn bè, anh em, tổ tiên, giòng họ. Họ hoàn toàn mất gốc. Ðó là hiện tượng phóng thể (Aliénation). Phóng thể tức là không còn thấy dính líu tới cái gì nữa. Chúng tôi gọi đó là những con ma đói. Những con ma đói không phải là những linh hồn đi vất vơ, vất vưởng trên mây mà là những con người bằng xương bằng thịt ngày hôm nay. Chúng tôi đã từng gặp rất nhiều những con ma đói như vậy. Chúng tôi đã đem tuệ giác và pháp môn của đạo Phật để cứu những con ma đói đó, đưa họ về với gia đình, với truyền thống, với nền văn hóa của họ.

Khi nhìn những con ma đói, chúng ta có thể nhận diện họ dễ dàng: Cách họ đi, cách họ nhìn, cách họ làm một cái gì đó cũng đủ chứng tỏ họ là một người không có gốc rễ, không có một dính líu gì với xã hội, với nền văn minh và với cấu trúc gia đình này. Tuy họ đói tình thương, đói hiểu biết nhưng giá như chúng ta đem tình thương, đem hiểu biết để tặng họ thì họ cũng không tiếp nhận được, tại vì họ có nỗi nghi ngờ rất lớn. Dù mình có tình thương, có hiểu biết đích thực  hiến tặng cho những người đó, họ vẫn còn nghi ngờ. Vì vậy muốn giúp những con ma đói đó chúng ta phải có rất nhiều kiên nhẫn.

Chúng tôi đã đi ngang qua những kinh nghiệm đó, chúng tôi đã từng giúp những con ma đói gốc Âu châu, gốc Mỹ châu, gốc Phi châu, trung Á và Á đông. Bây giờ xã hội Á đông cũng đã bắt đầu sản xuất rất nhiều những con ma đói, những thanh niên và những thiếu nữ bơ vơ trong cuộc đời. Những con ma đói đó không có được sự truyền thông với gia đình, với truyền thống, với tổ tiên, với xã hội. Nếu họ cầu nguyện được tức là họ có thể nói chuyện được. Ví dụ như khi họ nói: Lạy các vua Hùng, chúng con rất đội ơn các vua Hùng đã dựng nước, đã giữ nước để cho chúng con hôm nay có một giang sơn. Nói như vậy tức là đã truyền thông rồi, mà nếu truyền thông được thì không còn bị bế tắc và người đó sẽ khỏi bệnh, không mắc bệnh tâm thần. Cho nên quý vị đừng vội vàng cho những lời cầu nguyện, những lời cầu xin đó là mê tín. Những bà cụ, những phụ nữ, những thiếu niên, thanh niên đó, nếu họ còn cầm được cây hương, cầu nguyện được với tổ tiên, tức là họ còn nói chuyện, còn truyền thông được. Chính cái đó giữ cho họ không bị bệnh tâm thần, không bị bệnh bế tắc. Chúng ta phải cẩn thận lắm mới được. Nếu thực sự có tình thương và sự hiểu biết lớn, chúng ta sẽ dung nạp được tất cả, chúng ta sẽ không vội vàng gán cho họ cái nhãn hiệu mê tín dị đoan.

Khi chúng ta có một đứa cháu bị ốm nặng, chúng ta cần phải lo nhiều chuyện. Chuyện thứ nhất là chúng ta gọi điện thoại cho bác sĩ. Chuyện thứ hai là chúng ta có thể nấu cháo cho cháu. Chuyện thứ ba chúng ta có thể làm là đốt một cây hương trên bàn thờ tổ tiên và cáo với tổ tiên là: Cháu đang bệnh nặng, xin tổ tiên ông bà phù hộ cho cháu. Đốt một cây hương trên bàn thờ tổ tiên để cầu sự che chở cho cháu, tôi nghĩ không là một sự mê tín. Ta thấy rằng: Tổ tiên không phải ở ngoài chúng ta, không phải ở trên bàn thờ mà tổ tiên ở trong từng tế bào cơ thể chúng ta. Đã biết bản chất của tổ tiên là không sinh, không diệt mà chúng ta lại nói tổ tiên không còn nữa thì đó là một sai lầm. Tổ tiên đang có mặt đích thực trong từng tế bào của cơ thể chúng ta vì vậy chúng ta có thể đối thoại, có thể nói chuyện với tổ tiên. Khi mà chúng ta nói với tổ tiên: Cháu nó ốm rất là nặng, xin ông bà, xin tổ tiên che chở cho cháu là chúng ta đánh động đến sự có mặt của tổ tiên trong từng tế bào cơ thể chúng ta và cơ thể cháu. Nếu chúng ta lắng nghe cho kỹ, chúng ta sẽ thấy có sự đáp ứng của tổ tiên.

Có lần một phụ nữ, người Tây phương tới khóa tu trong tình trạng có bệnh cancer (ung thư), trong lúc buồn chán, tuyệt vọng có tiết lộ cho chúng tôi biết rằng bà có ông nội sống đến chín mươi sáu tuổi. Tôi nói với phụ nữ Tây phương đó nên cầu nguyện với ông nội đi: Ông nội ơi giúp con! Con biết là ông nội đang có mặt trong từng tế bào cơ thể của con, ông nội giúp con đi! Con biết ông nội có một sức khỏe rất vững chãi. Con biết là những tế bào của ông nội đang có mặt trong tế bào của con. Tôi chỉ hướng dẫn cho người phụ nữ Tây phương đó cầu nguyện như vậy, cầu nguyện với ông nội của mình đã sống đến chín mươi sáu tuổi. Sau một thời gian cố gắng thì căn bệnh cancer của phụ nữ đó đã lành.

Mình đánh động được sự có mặt của ông nội trong từng tế bào cơ thể, mình tiếp xúc được và ông nội có thể đáp ứng được, tại vì những tế bào rất tốt, rất khỏe mạnh của ông nội cũng có mặt ở trong từng tế bào của chúng ta. Chúng ta biết những gen mà tổ tiên để lại trong từng tế bào đang chờ đợi nếu có điều kiện thích ứng thì nó phát hiện, nếu không có những môi trường thuận lợi thì nó không phát hiện. Chúng ta ai cũng có những gen của bệnh tâm thần nhưng nếu chúng ta sống trong môi trường tốt, gen của tâm thần sẽ không bao giờ xuất hiện. Vì vậy vấn đề môi trường rất là quan trọng, đó là vấn đề hậu thiên. Tiên thiên (gen di truyền) có đó nhưng phải có hậu thiên (môi trường thuận lợi) mới có cơ hội phát hiện.

Có một hôm, tôi ngồi thiền, bỗng nhiên tôi thấy trong người rất khỏe và tôi nói chuyện với bố tôi. Tôi nói: Bố ơi, hai bố con mình đã thành công rồi! Tôi nói chuyện như vậy và tôi cảm thấy hạnh phúc của tôi lớn lao vô cùng. Quý vị hỏi thành công ở chỗ nào? Tôi sẽ nói: Trong giây phút ngồi thiền đó tôi cảm thấy hoàn toàn được tự do, tôi không còn một ước mơ nào nữa hết, tôi không còn một dự án nào phải theo đuổi nữa hết. Tôi thấy hoàn toàn thảnh thơi, hoàn toàn tự do, không có một cái gì lôi kéo được mình nữa. Mình ngồi yên như núi Tu Di, rất vững chãi, rất thảnh thơi. Sự thành công đây là tự do, tự do lớn. Mình không bị một hận thù hay một tham vọng nào kéo mình đi được nữa. Tại vì mình đã có được tự do, mình đã có được giải thoát.

Trước kia, bố tôi đã từng làm việc ở trong chính phủ Nam triều, đã có những lúc lên, lúc xuống và cũng đã từng đi tìm sự an bình của tâm hồn, cũng đã từng niệm Phật, tụng kinh nhưng chưa thành công. Đến đời tôi, tôi thực tập thành công. Tôi thấy rõ ràng là mỗi ngày mình đều được làm cái việc mình thích, mình được bước những bước chân thảnh thơi. Mỗi bước chân đưa mình tiếp xúc được những mầu nhiệm của sự sống, có tính cách nuôi dưỡng, trị liệu. Mỗi ngày mình tiếp xúc được với những mầu nhiệm sự sống bằng mắt, bằng tai. Mỗi ngày mình có thể trao truyền được những gì đẹp nhất, hay nhất, quý nhất mà mình chế tác được trong đời sống tu tập của mình cho những người đệ tử xuất gia và tại gia.

Tổ chức được những khóa tu cho người cư sĩ giúp cho họ thiết lập lại được truyền thông đem lại được sự hòa giải, nở lại được nụ cười. Những điều đó là những điều đưa lại cho chúng tôi rất nhiều hạnh phúc. Mỗi ngày đều được làm những gì mình thích thì mình đâu cần cái gì nữa. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân, mỗi nụ cười, mỗi cái nhìn đều đem lại hạnh phúc thì rõ ràng mình không còn tham vọng, hận thù nào hay vướng mắc nào nữa. Đó là sự thành công của người tu cho nên tôi mới nói chuyện với bố là: Bố ơi, cha con mình đã thành công rồi! Bởi vì con thành công tức là bố thành công. Ngày xưa bố cũng niệm Bụt, cũng tụng kinh nhưng bố không thành công, chưa thành công nhưng con bây giờ có cơ hội làm thành công được. Như vậy, thành công cũng là thành công cho bố. Khi mình nói chuyện với bố như vậy thì đó là sự truyền thông, sự thông thương.

Tôi xin quý vị hiểu cho, nếu những người thực tập cầu nguyện, cầu xin chưa có được tuệ giác: Đối tượng cầu xin với chủ thể cầu xin là một. Nhưng trong hiện tại, họ đang có thể truyền thông được với tổ tiên tâm linh hay là tổ tiên huyết thống của họ, chính cái đó giữ cho họ không bị bệnh tâm thần. Khi mình còn nói chuyện được, dù nói chuyện với tổ tiên huyết thống tức ông bà hay tổ tiên tâm linh tức Phật, Bồ Tát hay các vị Tổ sư là còn có sự thông thương, mình chưa bị phóng thể, mình chưa bị mất gốc. Chúng tôi thấy rằng sự truyền thông đó rất quan trọng và mình đừng vội cho đó là mê tín.

Khi chúng ta đến đền Hùng hay đưa những người trẻ lên thăm đền Hùng, đó là một sự thực tập truyền thông tiếp xúc với tổ tiên. Chúng ta thấy hình ảnh cụ Hồ, hình ảnh của một trong những vị tổ tiên còn trẻ ở những nơi gặp gỡ. Khi mình tiếp xúc được với cụ Hồ là mình cũng có thể tiếp xúc được với Lý Thường Kiệt, với Trần Hưng Ðạo, với các vua Hùng. Phải có truyền thông chúng ta mới không bị bệnh, không bị mất gốc. Số người bị bệnh tâm thần ở trong xã hội chúng ta hôm nay rất đông mà nguyên do sâu sắc nhất là bị mất gốc, là phóng thể, là không còn truyền thông được với cha mẹ, với tổ tiên, tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh. Thực tập như thế nào để giữ được truyền thông, tái lập được truyền thông rất là quan trọng. Trong đạo Phật chúng ta có rất nhiều phương pháp cụ thể để giúp tái lập truyền thông giữa cha mẹ, con cái, giữa vợ chồng và giữa mình với tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh.

Chúng tôi đã thiết lập ra sự thực tập: Ba cái lạynăm cái lạy. Người Tây Phương đã thực tập và đã chữa trị được nhiều nỗi cô đơn, bức xúc và giúp cho họ thiết lập lại truyền thông với truyền thống của họ và với gia đình họ. Quý vị hãy tưởng tượng một khu đồi rất lớn và năm ngàn người Châu Âu thực tập lạy xuống dưới sự hướng dẫn của một thầy gốc Việt Nam. Khi họ lạy xuống như vậy, đầu, hai tay, hai chân của họ dính vào đất, chúng ta gọi là ngũ thể đầu địa 5*. Họ buông hết ra những giận hờn, những tuyệt vọng để cho đất ôm lấy họ, họ tiếp xúc được với tổ tiên. Họ được hướng dẫn rằng: Tổ tiên có mặt trong từng tế bào của cơ thể và tất cả những đức tính của tổ tiên luân lưu trong dòng máu của họ. Với sự hướng dẫn của một thầy hay là một sư cô, họ có thể nằm trong tư thế phủ phục hai ba phút để quán chiếu, để thấy rõ ràng rằng họ có gốc rễ và họ tiếp xúc được với tổ tiên tâm linh, tổ tiên huyết thống. Khi họ đứng lên thì họ đã trở thành một con người khác, họ buông bỏ tất cả những hận thù, tuyệt vọng, giận hờn và họ tiếp xúc được với tổ tiên của họ.

Chúng tôi xin đề nghị, nếu có dịp quý vị nghiên cứu ba cái lạy, năm cái lạy mà chúng tôi chế biến từ những nguyên liệu trong kho tàng giáo lý đạo Phật. Chúng tôi đã chế tác ra để giúp cho những người Tây Phương móc nối được, tiếp nối được với tổ tiên huyết thống của họ. Chúng tôi có sáng tác ra lời cầu nguyện đầu năm cho người Tây phương vào ngày tết Tây. Thay vì mở nút chai champagne và chơi nhạc, họ có thể đốt hương, đứng chắp tay trước bàn thờ tổ tiên, đọc bài cầu nguyện và hứa với tổ tiên là trong năm mới họ sẽ sống một cuộc sống vững chãi hơn, thảnh thơi hơn. Ở đây chúng tôi chỉ có một lời cầu nguyện mà chúng tôi sáng chế cho các thầy các sư cô mỗi khi có buổi giỗ Tổ. Tổ này là Tổ tâm linh.

Lời cầu nguyện:

Chúng con tăng thân xuất gia, hôm nay vào ngày giỗ sư tổ, tập hợp tới chùa, kính cẩn trình diện trước Tổ đường với tất cả lòng dạ chí thành của chúng con. Cúi xin các thế hệ Tổ Sư của chúng con từ bi chứng giám. Chúng con ý thức được rằng cây có cội nước có nguồn, chúng con biết Bụt và các thế hệ Tổ sư là cội nguồn của chúng con và chúng con là sự tiếp nối của liệt vị.

Chúng con nguyện tiếp nhận tuệ giác từ bi và an lạc mà Bụt và chư Tổ đã trao truyền, nguyện nắm giữ và bồi đắp không ngừng gia tài tâm linh quý giá ấy. Chúng con nguyện tiếp tục thực hiện chí nguyện độ sinh của quý vị, nguyện chuyển hóa những khổ đau trong chúng con, giúp được người đương thời chuyển hóa những khổ đau của họ và mở ra cho những thế hệ tương lai những pháp môn thích hợp có khả năng giúp họ đem đạo Bụt áp dụng được vào trong mọi lãnh vực của sự sống.

Chúng con nguyện thực tập để sống an lạc ngay trong giờ phút hiện tại để nuôi dưỡng chất liệu vững chãi và thảnh thơi trong chúng con và để giúp được những người chung quanh. Chúng con nguyện nhìn nhận nhau là anh chị em trong một gia đình tâm linh, bởi vì chúng con biết rằng tất cả chúng con đều là con cháu tâm linh của liệt vị. Chúng con nguyện sẽ chăm sóc cho nhau để thấy được những khó khăn và khổ đau của nhau để hiểu để thương và để giúp nhau trong công trình chuyển hóa.

Chúng con xin hứa sẽ tập sử dụng các hạnh ái ngữ và lắng nghe để nuôi dưỡng tình huynh đệ trong tăng thân. Nguyện chấp nhận sự soi sáng của tăng thân để nhận diện những khả năng cũng như những yếu kém của mình mà vun trồng hoặc chuyển hóa. Nguyện xóa bỏ mọi tỵ hiềm để có thể nương vào nhau mà đi lên trên con đường thành tựu đạo nghiệp. Chúng con biết chỉ khi nào chúng con làm được như thế thì chúng con mới xứng đáng là con cháu của Bụt và các vị Tổ sư. Chúng con cúi xin sư Tổ cùng tất cả các liệt vị Tổ sư từ bi chứng minh cho tâm thành kính và hiếu thảo của chúng con, những phẩm vật quý giá nhất của sự cúng dường trong ngày gi Tổ.

Khi chúng ta cầu nguyện như vậy thì làm gì có chất mê tín ở trong đó. Chúng ta chỉ truyền thông với tổ tiên tâm linh hoặc là tổ tiên huyết thống của chúng ta mà thôi. Chúng ta hứa với tổ tiên tâm linh và huyết thống là sẽ thương yêu nhau và chấp nhận nhau, tha thứ cho nhau. Đó là thứ truyền thông giúp cho tinh thần chúng ta được khỏe mạnh.

Tôi nghĩ rằng nếu trong mỗi gia đình Việt Nam, chúng ta duy trì được bàn thờ tổ tiên và mỗi ngày dành ra một phút để cha mẹ, con cái cùng đứng trước bàn thờ đó thắp một cây hương, chúng ta không cần nói gì hết cũng được, im lặng trong một phút. Cái đó đủ giúp cho chúng ta không lâm vào tình trạng mất gốc và phóng thể. Tôi nghĩ bàn thờ tổ tiên chứng tỏ chúng ta tin vào truyền thống, tin vào tổ tiên của chúng ta. Chúng ta như là cây có gốc, sông có nguồn và chúng ta sẽ không bao giờ đánh mất chúng ta. Chúng ta luôn luôn mang tổ tiên đi vào tương lai.

 

 

Làm sao để lấy cái giận của con ra?

Câu hỏi của một bé gái: Khi con giận, làm sao để lấy cái giận của con ra?

 

Sư Ông Làng Mai trả lời: Có phải con nghĩ là cơn giận là từ bên ngoài đi vào trong con và bây giờ con muốn lấy nó ra? Con có chắc là cơn giận là một cái gì đó đến từ bên ngoài? Ở Làng Mai, chúng ta có cơ hội được học cách xử lý và chăm sóc cơn giận. Có cơn giận trong người là một điều không dễ chịu lắm. Tuy nhiên, cơn giận cũng giống như bùn, nếu không có bùn, chúng ta không thể trồng sen được. Vì vậy, bùn cũng rất cần thiết và có ích.

Cơn giận của con cũng vậy, nó cũng có ích. Do đó con không cần phải lấy cơn giận ra, con không nên tìm cách để vứt bỏ nó đi cho bằng được. Nếu con biết làm sao để sử dụng cơn giận của mình một cách đúng đắn, con có thể trồng được đóa sen của bình an, của niềm vui và tha thứ.

Đây là một giáo pháp rất sâu sắc ở Làng Mai mà chúng ta đã được học. Thực ra, giận không phải là một cái gì đến từ bên ngoài ta mà là ở bên trong ta. Con không cần phải lấy cơn giận ra để quẳng nó đi. Cơn giận thực ra là một cái gì đó hữu dụng và nếu chúng ta ôm ấp cơn giận với hiểu biết, với lòng từ bi thì cơn giận sẽ trở thành tình thương. Chúng ta hãy thử lấy một ví dụ. Sáng nay, có một người nào đó đã đã làm hay đã nói một điều gì đó không dễ thương với con và làm con nổi giận.

Thông thường, nếu không phải là một người thực tập giỏi, con muốn đấm cho người kia một cái. Đó là cơn giận trong chúng ta. Cơn giận đó là một loại bùn và nó làm vấy bẩn lên mọi thứ. Vì vậy mà chúng ta cần ý thức về loại bùn này do cơn giận gây ra. Chúng ta cần phải quán sát nó, không để vết bùn đó vấy bẩn lên mình và lên người kia.

Vì vậy cho nên chúng ta phải thở vào, thở ra một cách bình tĩnh, có chánh niệm và nhìn vào người kia cũng như những gì đang có trong người đó. Mình thấy trong người đó có sự bạo động, có sự giận dữ, có những nỗi khổ niềm đau. Nếu người đó có hạnh phúc thì người đó sẽ không nói, không làm những gì có tính chất bạo động như vậy. Khi một người đau khổ, họ muốn tống cái khổ của mình đi bằng việc nói hay làm một cái gì đó không dễ thương với người khác và nghĩ rằng khi làm như vậy thì họ sẽ bớt khổ. Nhưng làm như vậy là dại lắm.

Do đó khi con nhìn và con thấy người đó không có hạnh phúc, người đó có sự bạo động, giận dữ trong mình và người đó không biết cách ôm ấp, xử lý những bạo động và bất hạnh của mình. Người đó đang khổ. Và khi người đó khổ thì tự nhiên những người xung quanh người đó cũng khổ.

Khi con nhìn thấy cơn giận của người đó và con cảm thông được với người đó thì con không còn giận người đó nữa. Đứa con trai, đứa con gái tội nghiệp đó – mình không muốn trừng phạt nó để làm nó đau khổ thêm nữa. Mình muốn làm nó bớt khổ. Do đó mà con mỉm cười với người đó và nói : “Bạn ơi, mình biết là bạn đang khổ, mình không có giận bạn đâu, cho dù bạn đã nói, đã làm những điều như vậy với mình. Mình biết là bạn đang khổ nhiều lắm nên mình không trách bạn, mình không giận bạn. Mình đang thở và mình thông cảm với bạn, vì vậy mình không giận bạn và mình cũng không khổ.”

Làm được như vậy thì con sẽ là một người thực tập giỏi và người kia sẽ hết sức ngạc nhiên. Những người khác thường thường phản ứng khác, họ có thể đánh anh ta hay nói với anh ta những điều rất tồi tệ nhưng con thì không làm như vậy.  Con đang hành xử rất khác bằng sự lân mẫn nhẹ nhàng, tình thương và nụ cười.

Người đó sẽ rất kinh ngạc và một ngày nào đó có thể anh ta sẽ hỏi con làm thế nào mà con làm được như vậy. Có khi nào có một người nào đó nói một điều khiếm nhã, tồi tệ hay hành xử một cách thô lỗ với con mà con vẫn giữ được sự trầm tĩnh, bình an của mình không? bằng cách nào?

Khi đó con sẽ kể cho họ nghe là con đã đến Làng Mai và học cách thở chánh niệm, cách nhận diện cơn giận, niềm đau trong mình và trong người đó. Con có thể chia sẻ những điều này với những đứa bạn của mình khi con trở lại trường học.

Sư Ông Làng Mai dạy các em nhỏ thỉnh chuông trong khóa tu mùa hè 2014

Thế nào là công lý?

Câu hỏi của một sư cô Nhật Bản: Kính bạch thầy, ở đất nước con – Nhật Bản, vẫn còn áp dụng án tử hình trong tội phạm hình sự. Trước khi xuất gia, con từng là một vị thẩm phán, và trong những phiên tòa, có lúc con phải quyết định có kết án tử hình hay không. Ví dụ như trường hợp có hai người đàn ông đã bắt cóc hai cô gái, cướp của và giết hại hai cô gái đó. Gia đình nạn nhân đã đòi tòa kết án tử hình đối với hai kẻ phạm tội. Con rất hiểu niềm đau của gia đình nạn nhân, nhưng thật là khó mà tuyên án tử hình vì đó cũng là một cách giết người được pháp luật cho phép. Con thật sự muốn biết Thầy có cái thấy như thế nào về án tử hình.

Thầy trả lời:

Bụt ở Happy Farm

Tôi thấy chúng ta cần quán chiếu cho kỹ về ý nghĩa của chữ “công lý”. Cái gì được gọi là công bằng và cái gì là không công bằng? Chúng ta có một ý niệm về công lý, cho nên ta nghĩ sự trừng phạt là cần thiết. Để phục vụ cho công lý, chúng ta phải trừng phạt. Ta phải trả giá cho việc làm của mình, điều này nghe có vẻ rất hợp lý. Nhưng sự sống đâu chỉ giới hạn trong sự hợp lý (logic) mà thôi!

Bụt có một cách nhìn có thể giúp cho chúng ta bớt khổ ngay tức thì. Bụt thấy tất cả chúng ta đều đau khổ và cần sự giúp đỡ. Quý vị có biết là Bụt cũng có khổ đau hay không? Bụt cũng đau khổ, tôi tin chắc như vậy, tại vì Bụt có một trái tim biết thương yêu, Bụt không phải là gỗ đá. Khi Bụt nghe tin đệ tử thân yêu của mình là thầy Xá Lợi Phất (Sariputra) tịch, tôi tin là Ngài cũng đau khổ trong lòng tuy bề ngoài Ngài không có vẻ gì là khổ. Ngài là Bụt nhưng cũng là một chúng sinh. Trở thành Bụt không có nghĩa là phải lấy đi hết tính chúng sinh ra khỏi mình. Đó là giáo lý của Thiền tông: Sinh Phật bất nhị, tức Bụt và chúng sinh tương tức, chúng ta không thể lấy cái này ra khỏi cái kia. Vì vậy Bụt cũng đau khổ và Bụt cũng cần sự giúp đỡ.

Bụt chứng kiến quê hương mình bị vua Tỳ Lâu Ni (Virudhaka) – con trai của Vua Ba Tư Nặc tàn phá. Bụt đã cố hết sức mình, Ngài đã ngăn chặn được vua Tỳ Lâu Ni lần đầu tiên và lần thứ hai, nhưng đến lần thứ ba thì Bụt không thể ngăn vua được nữa tại vì năng lượng của hận thù quá lớn. Nếu tôi có mặt ở đó thì tôi sẽ tìm cách giúp cho Bụt. Nếu quý vị có mặt ở đó thì quý vị sẽ tìm cách giúp cho Bụt. Bụt cần sự giúp đỡ. Cũng như Đức Đạt-lai Lạt-ma, dù là một người thực tập đạo Bụt xuất sắc, Ngài cũng cần sự giúp đỡ. Và chính tôi cũng cần sự giúp đỡ. Tất cả chúng ta đều cần sự giúp đỡ.

Điều chúng ta cần là sự giúp đỡ mà không phải là sự trừng phạt. Ai trong chúng ta cũng có những lúc vụng về, dù không muốn nhưng đôi khi chúng ta cũng gây ra tàn hại và đau khổ. Tất cả chúng ta đều cần sự giúp đỡ, kể cả Bụt, kể cả một thầy giỏi. Bắt giam một kẻ giết người vào tù là việc mà mình cần phải làm. Nhưng đó có thể là một hành động thương yêu mà không phải là một hành động trừng phạt. Mình giam người đó vào tù để người đó đừng tiếp tục giết người nữa. Việc làm này giúp cho người đó và đồng thời cũng giúp cho mình. Mình bắt giữ tội phạm với tình thương chứ không phải với sự hận thù và sợ hãi.

Những người cảnh sát, những thẩm phán, những luật sư đều có thể  làm việc với tình thương đối với cả những tội phạm tại vì tội phạm cũng cần được giúp đỡ. Nếu cần thì chúng ta bắt giam họ, nhưng không phải là để trừng phạt mà là để giúp họ đừng tiếp tục hành động sai lầm nữa. Tùy cách chúng ta suy nghĩ, bị giam 10 năm, 20 năm không phải là một sự trừng phạt. Thời gian bị giam của một tội phạm phải được căn cứ trên khả năng chuyển hóa của người đó. Và nhà tù phải là nơi để người đó học hỏi và tu tập Năm Giới. Mình cần gởi các vị giáo thọ tới những trại giam để giúp cho những người tù học hỏi và tu tập Năm Giới, để họ bớt khổ.

Nếu họ được ra ngoài làm việc như cuốc đất, trồng rau, v.v… thì đó là chúng ta cho họ có cơ hội phục vụ để làm nhẹ đi cảm giác tội lỗi về những việc mà họ đã làm. Thời gian ở tù phải là thời gian thực tập để chuyển hóa và trị liệu. Đó là một hành động thương yêu mà không phải là sự trừng phạt. Các thẩm phán và Ban quản lý trại giam cần phải làm như vậy. Thời gian ở tù là thời gian để tù nhân thực tập thương yêu, hiểu biết và chuyển hóa. Nhà tù không còn là chỗ để trừng phạt mà là nơi có sự thương yêu, là nơi để người ta học thương yêu. Chúng ta phải huấn luyện những thẩm phán, những luật sư, những người cai tù của chúng ta theo phương pháp thương yêu. Đó là một nền văn minh mới, nền văn minh thương yêu.

Rất nhiều tù nhân đã nói với chúng tôi: Nhà tù là nơi tốt nhất để thực tập đạo Bụt, thực tập thiền và chuyển hóa. Họ đã viết cho chúng tôi rất nhiều thư, vì có nhiều người trong chúng tôi đã gởi sách và pháp môn thực tập vào nhà tù. Chúng tôi cũng đã vào nhà tù để tổ chức những khóa tu.

Điều này cũng nên áp dụng cho án tử hình. Án tử hình không phải là một hành động trừng phạt. Trong những trường hợp cùng cực thì mình phải bắn một người. Người đó có khí giới trong tay, người đó mang đầy hận thù và sợ hãi và mình không còn cách nào khác để ngăn người đó đừng giết người. Trong trường hợp này mình giết người đó vì lòng từ bi. Nhưng mình chỉ giết người đó khi mình là một vị bồ tát, mình giết với tâm từ bi. Có thể mình có đủ khéo léo, mình chỉ làm cho người đó bị thương và chế ngự được họ. Nhiều người trong chúng ta không cần sử dụng súng, họ khéo léo chế phục và ngăn chặn được tội phạm. Có rất nhiều cách, và giết người là biện pháp cuối cùng. Và mình, nếu phải làm là do lòng từ bi mà làm. Cũng như một con ngựa đang hấp hối, nếu mình không thể cứu được nó thì vì lòng từ bi mình cho nó “một phát ân huệ“ (coup de grâce) để nó chết  được bình an. Chúng ta nhìn và suy nghĩ với lòng từ bi mà không cần phải trừng phạt, vì người đó cần sự giúp đỡ. Bụt cần sự giúp đỡ, tôi cần sự giúp đỡ, quý vị cần sự giúp đỡ. Tất cả chúng ta đều cần sự giúp đỡ. Nếu biết cách giúp đỡ thì mình không cần phải trừng phạt, đó là sự thực tập của Bụt, là tình thương của Bụt.

Án tử hình không phải là câu trả lời. Từ bi, sự thực tập chánh niệm, sự chuyển hóa trong nhà tù mới là câu trả lời.  Sư cô nên viết một bài báo, một cuốn sách chia sẻ sự thực tập này với những người tiếp nối sư cô trong tòa án và giúp họ nhìn lại.  Sư cô nên ký tên mình như một thẩm phán chính thức. Làm như vậy, sư cô có thể tưới tẩm hạt giống của từ bi, trí tuệ trong họ.

Đọc thêm những bài có liên quan:

Thư thỉnh cầu Chủ tịch nước bãi bỏ án tử hình

Quý thầy, quý sư cô Làng Mai đã đến Trại giam dành cho thanh thiếu niên ở Brownsville, Mỹ để hướng dẫn các em thực tập (năm 2011)

https://www.nbcnewyork.com/news/local/nyc-juvenile-detention-meditation-yoga-lessons-lineage-project/1933517/

Mặc cảm hơn, kém, bằng

Câu hỏi: Bạch Thầy, trong mỗi buổi tụng kinh trước pháp thoại, chúng con được nghe lời quán niệm trong đó hướng dẫn thực tập buông bỏ cái tôi để vượt thoát mặc cảm hơn người, mặc cảm thua người và mặc cảm bằng người. Những người bạn Mỹ của con rất hoang mang và khó chịu về “mặc cảm bằng người”, vì họ luôn ca tụng sự bình đẳng và hy vọng được bình đẳng. Bình đẳng không chỉ được luật pháp công nhận mà còn là thuật ngữ thông thường được các phong trào nhân quyền sử dụng. Con xin thầy chỉ dạy cho con và các bạn phương pháp thực tập để xử lý những mặc cảm đó.

Thầy trả lời:

Mặc cảm bằng người có thể đem lại rất nhiều đau khổ. Sự bình đẳng không đem lại khổ đau nhưng mặc cảm bằng người sẽ gây ra đau khổ. Chúng ta phải hiểu rõ ý nghĩa của chữ “bình đẳng“. Đạo Bụt dùng chữ “xả“. Trong tiếng Pháp có chữ “tự do, bình đẳng“. Người ta nghĩ rằng bình đẳng là bằng nhau, là một đức tính.

Chúng ta biết rằng mặc cảm hơn người làm cho ta và làm cho người khác khổ và mặc cảm thua người (mặc cảm tự ti) có thể là một trong những nguyên do gây ra các chứng bệnh tâm thần. Vì vậy chúng ta nghĩ rằng sự bình đẳng là một giải pháp, là quyền được bằng nhau. Nhưng trong đạo Bụt thì sự thực tập đi sâu hơn. Ta khổ tại vì ta so sánh mình với người khác. “Tôi hơn người kia“, đó là mặc cảm hơn người. “Tôi tệ hơn, tôi không theo kịp người kia“, đó là mặc cảm thua người. “Tôi bằng người kia“, đó cũng là một mặc cảm. Ta cố gắng để được bằng người kia, ta tranh luận để được bằng người kia và ta vẫn còn khổ.

Theo giáo lý đạo Bụt thì không có “cái tôi“, cho nên không có sự so sánh và điều đó làm cho mình hoàn toàn hạnh phúc. Ta thấy rằng: “Em là anh mà anh cũng là em. Đau khổ của em là đau khổ của anh, hạnh phúc của em là hạnh phúc của anh“. Cái thấy này sâu sắc hơn. Vì vậy tuệ giác rất là quan trọng. Khi quán chiếu ta thấy rằng chúng ta chỉ có thể tương tức với nhau, ta không thể tự mình mà có, ta phải “cùng có“ (inter-be) với người khác. Vì vậy cho nên ở Làng Mai chúng tôi nói:“Anh có đó cho nên tôi có đây“ (You are, therefore I am), chúng ta tương tức. Vì vậy ta không thấy có người nào khổ riêng một mình hay hạnh phúc riêng một mình. Một cặp sống hòa hợp với nhau là vì người này thấy hạnh phúc của người kia là hạnh phúc của mình, đau khổ của người kia là đau khổ của mình. Sự hòa hợp là căn bản của bình an và hạnh phúc mà sự hòa hợp có được là nhờ tuệ giác tương tức.

Trong sự thực tập chánh niệm, không những ta phải lấy đi mặc cảm hơn người, mặc cảm thua người mà còn phải lấy đi cái mặc cảm bằng người:“Tôi giỏi bằng anh“. Ta đòi cái quyền được giỏi bằng người kia, như vậy thì vẫn còn một “cái tôi“ và vẫn còn sự so sánh. Khi nào còn sự so sánh thì ta còn khổ. Với tuệ giác tương tức ta không còn so sánh nữa tại vì ta là người kia và người kia là ta. Ta có sự hòa hợp, sự bình an và hạnh phúc.

Tưới tẩm hạt giống thủy chung

Câu hỏi: Thưa thầy, con có một cô bạn, cô có một anh chồng bị chứng bệnh hưng-trầm cảm (manic depressive), một loại vui buồn thất thường. Anh ta đã phản bội cô nhiều lần. Anh ta không chỉ ngoại tình với những người đàn bà khác mà còn làm cho người ta mang thai và cuối cùng phải phá thai. Bây giờ anh ta sống trong sự tuyệt vọng và từ chối mọi sự trị liệu. Anh ta không biết phải làm thế nào. Cô bạn của con cũng không biết phải làm thế nào: chấm dứt sự liên hệ này rồi trở lại giúp anh chồng với tư cách của một người bạn, hoặc giữ sự liên hệ và chấp nhận chồng mình như vậy với hy vọng rằng mọi sự đều vô thường và một ngày nào đó thì sự việc cũng sẽ kết thúc. Con không biết phải nói gì với bạn, phải chăng có hôn nhân là có sự phản bội cũng như có bên trái là có bên phải?

Thầy trả lời:

Có sự phản bội là có sự thủy chung. Chúng ta chưa biết cách tưới tẩm sự chung thủy nơi người kia. Trong mỗi người chúng ta đều có hạt giống của sự phản bội và hạt giống của sự chung thủy. Phản bội và chung thủy là một cặp, vấn đề là biết tưới tẩm. Nếu có chánh niệm, có tình thương thì mình tưới tẩm hạt giống của sự chung thủy nơi người kia, hạt giống đó sẽ lớn mạnh lên và hạt giống phản bội sẽ không có cơ hội biểu hiện ra. Vì vậy cho nên nếu tình trạng này xảy ra thì mình cũng có phần nào trách nhiệm. Mình không thể đổ hết trách nhiệm cho người kia. Đó là điều mình phải thấy trước tiên.

Nếu mình biết thực tập, mình tươi mát và có tình thương thì mình có cơ hội khuyên bảo người kia làm theo mình, tại vì lối sống của mình là sự giảng dạy. Cách mình nói, cách mình nhìn, cách mình hành động chứa đầy sự thương yêu và mình rất tươi vui. Mọi người đều thích tới ngồi gần một người tươi vui như vậy, cũng như là thích tới ngồi gần cây linden. Chúng ta đều thích tới ngồi gần cây linden tại vì cây linden có một thứ năng lượng của sự bình an và sự thư giãn.

Nếu mình biết thực tập, nếu mình tươi mát, kiên nhẫn và có tình thương thì mình có thể giúp cho người kia chuyển hóa. Người kia đại diện cho thế giới, giúp được người kia là mình giúp được thế giới. Nếu không có đủ vững chãi, sự tươi mát và thương yêu thì mình cần có một tăng thân để giúp mình trong sự thực tập.

Mình có một nguồn năng lượng. Có thể lúc ban đầu mình có đủ sự tươi mát, sự vững chãi và tình thương nhưng vì không biết cách giữ gìn và nuôi dưỡng chúng nên khi tình trạng trở nên quá khó khăn thì năng lượng của mình bị hao mòn và mình không thể tiếp tục giúp được cho người kia. Vì vậy một người thực tập giỏi cần có một tăng thân đứng sau lưng. Mình có thể sử dụng nguồn năng lượng rất lớn của chánh niệm, của tình thượng và của sự tha thứ đó để tiếp tục giúp cho thế giới, nhất là giúp cho người kia. Nhìn cho kỹ thì mình thấy người kia rất đau khổ mà không biết làm thế nào để thoát ra. Còn mình thì biết cách và mình có thể chỉ dẫn cho người kia.

Sở dĩ người kia không làm theo sự chỉ dẫn của mình tại vì lời nói của mình chưa đủ khôn khéo, chưa đủ từ bi và tươi mát. Mình phải là một vị bồ tát đầy từ bi và tươi mát. Mình phải thực tập chánh niệm để có thể trở thành một vị bồ tát tươi mát như Đất Mẹ. Đất Mẹ luôn luôn tha thứ và kiên nhẫn. Mỗi khi trở về với Đất Mẹ thì mình được nuôi dưỡng và trị liệu. Là con của Đất Mẹ, mình phải học được phương pháp làm thể nào để có sự tươi mát, sự tha thứ và có tình thương. Và mình đừng để mất đi hy vọng, nhất là khi mình có một tăng thân, một đoàn thể tu học, đứng sau lưng yểm trợ. Mình có thể sử dụng được rất nhiều năng lượng từ đoàn thể đó. Cứ tiếp tục tu tập để nuôi dưỡng sự tươi mát và lòng từ bi thì mình sẽ bớt khổ, tại vì khi có từ bi trong tâm thì mình sẽ khổ rất ít. Lòng từ bi có công năng trị liệu, mình khổ ít hơn và có đủ sức mạnh để giúp được cho người kia. Giúp cho người kia cũng là giúp cho chính mình. Bụt dạy rất rõ: Nếu không thương được chính bản thân thì mình cũng không thể giúp cho người khác bớt khổ.

Vì vậy cho nên câu trả lời rất là rõ: Hãy chăm sóc cho bản thân, nuôi dưỡng lòng từ bi, sự tha thứ, sự tươi mát trong mình và quay về nương tựa tăng thân để được nuôi dưỡng thì mình sẽ giúp được cho người kia và cho thế giới.

Sự thực tập khó khăn nhất

Câu hỏi: Theo Thầy thì sự thực tập nào là sự thực tập khó khăn nhất?

Thầy trả lời:

Theo tôi thì thì sự thực tập khó khăn nhất là không để bị tràn lấp bởi tuyệt vọng. Chìm đắm trong tuyệt vọng là điều tệ hại nhất có thể xảy ra cho chúng ta.

Tôi nhớ hồi đó trong chiến tranh, chúng tôi không thấy chút ánh sáng nào ở cuối đường hầm cả, như là cuộc chiến cứ kéo dài và kéo dài mãi vậy. Những người trẻ đến gặp tôi hỏi:

  • Thưa thầy, thầy có nghĩ là chiến tranh sẽ sớm chấm dứt hay không?

Thật khó mà trả lời câu hỏi này tại vì mình không thấy chút ánh sáng nào ở cuối đường hầm, nhưng nếu trả lời rằng “tôi không biết“ thì mình sẽ tưới tẩm hạt giống tuyệt vọng trong lòng những người trẻ. Tôi đã thở vào, thở ra một lúc rồi nói:

  • Này các bạn, Bụt đã dạy là tất cả đều vô thường. Chiến tranh cũng vô thường và nó cũng sẽ chấm dứt một ngày nào đó thôi. Chúng ta cứ tiếp tục làm việc cho hòa bình.

Hồi đó chúng tôi, các thầy, các sư cô và các Phật tử cư sĩ cùng nhau thành lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, một tổ chức giống như “Đoàn thanh niên phụng sự Hòa Bình“ (Peace Corps) của J. F. Kennedy vậy. Chúng tôi đi vào những vùng chiến để giúp cho đồng bào bị thương. Chúng tôi lập những trại tị nạn để giúp cho người dân trở về đời sống bình thường và xây dựng lại những ngôi làng đã bị dội bom. Có một ngôi làng tên Trà Lộc, nằm không xa vùng quân sự giữa miền Bắc và miền Nam. Trà Lộc bị dội bom và bị phá hủy hoàn toàn. Chúng tôi gồm các thầy, các sư cô và các vị cư sĩ đã giúp xây dựng lại, nhưng ngôi làng lại bị dội bom và bị phá hủy lần nữa. Các tác viên xã hội hỏi tôi là mình có nên xây dựng lại hay không. Tôi nói:“Xây dựng lại“. Chúng tôi xây dựng lại, rồi làng lại bị dội bom, rồi xây dựng lại… bốn lần như vậy.

Nếu bỏ cuộc thì mình sẽ bị tuyệt vọng nên chúng tôi cứ tiếp tục xây dựng lại và xây dựng lại… Vì vậy điều khó khăn nhất là đừng để mất đi hy vọng, là đừng để bị đắm chìm trong tuyệt vọng. Và chúng tôi đã đi qua hai cuộc chiến như thế. Chúng tôi đã chứng kiến những người lính bạn đến để tiêu diệt và để bị tiêu diệt, những người lính Mỹ trẻ đến để giết người và để bị người giết. Chúng tôi biết có đến 50 ngàn người lính Mỹ đã chết ở Việt Nam và hàng trăm ngàn người bị thương, trong đó còn rất nhiều người vẫn còn đang được trị liệu về tâm lý.

Trong những trường hợp có quá nhiều khổ đau như thế, nếu không có sự thực tập thì mình sẽ không sống sót được. Chúng tôi thực tập như thế nào để duy trì được niềm hy vọng và lòng từ bi. Và khi các nhà báo đến đặt những câu hỏi như là “Quí vị nghĩ như thế nào về những người lính Mỹ trẻ đến việt Nam để giết người và để bị người giết?“ thì chúng tôi trả lời:

  • Họ cũng là những nạn nhân. Chúng tôi không thù ghét họ. Họ là nạn nhân của một chính sách không được thông minh cho lắm, một chính sách dựa trên sự sợ hãi, sợ rằng cộng sản sẽ nắm trọn vùng Đông Nam Á. Họ là những nạn nhân, họ phải đến Việt Nam để giết người và để bị người giết. Chúng tôi thông cảm cho họ.

Vào năm 1956 tôi được mời sang Hoa Kỳ và có cơ hội được nói chuyện với dân Mỹ về chiến tranh Việt nam. Lúc đó có nhiều người trẻ giận dữ đứng lên nói:

  • Thầy không nên tới đây. Thầy nên về Việt Mam mà chiến đấu với đế quốc Mỹ. Thầy phải tiêu diệt những người lính Mỹ ở đó.

Câu trả lời của tôi là:

  • Theo tôi thì nguồn gốc của chiến tranh là ở đây mà không phải là ở Việt Nam. Những người lính trẻ đến Việt Nam chỉ là những nạn nhân. Vì vậy chúng tôi phải đến để nói cho dân Mỹ biết rằng chiến tranh không giúp ích gì cho dân tộc Việt Nam cả.

Nếu không có sự hiểu biết và thương yêu thì mình có thể tự đánh mất mình trong sự giận dữ và thù hận. Mình sẽ không nói được những lời như thế để giúp cho người Mỹ hiểu được và thay đổi chính sách. Ở Hoa Kỳ lúc đó có phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam. Người ta đòi hòa bình, và nếu không được thỏa mãn thì họ sẽ trở nên rất giận dữ. Có rất nhiều sự giận dữ trong các phong trào hòa bình. Trong chuyến đi vận động kêu gọi hòa bình ở khắp nước Mỹ tôi đã nói với họ như thế này:

  • Nếu có quá nhiều giận dữ trong lòng thì quí vị sẽ không thực hiện được hòa bình. Quí vị phải là hòa bình trước khi quí vị làm được hòa bình. Sự hiểu biết rất là quan trọng. Quí vị phải biết làm thế nào để viết một lá thư thật dễ thương cho ông Tổng thống hay cho Quốc hội nói là quí vị không muốn chiến tranh. Và nếu quí vị viết một lá thư chứa đầy sự giận dữ thì họ sẽ không thèm đọc thư của quí vị.

Tôi đã có thể nói như vậy và đã đóng góp một phần nào trong việc chấm dứt chiến tranh. Sự hiểu biết về khổ đau làm phát sinh ra tình thương trong chúng ta. Chúng ta sẽ thoát ra khỏi sự tuyệt vọng, sự giận dữ và có thể đóng góp vào công việc kêu gọi hòa bình.

Thế nào gọi là nhìn sâu?

Hỏi: Kính thưa thầy, thế nào gọi là nhìn sâu? Có phải có công thức chăng? Xin Thầy dẫn chứng cho chúng con biết một vài phương cách nhìn sâu, ví dụ như đối với cơn giận, niềm đau và lòng thiếu kiên nhẫn. Sau khi đã thực tập nhận diện, ôm ấp và làm lắng dịu những tâm hành ấy, chúng con phải thực tập như thế nào với những bước kế tiếp?

Thầy: Nhìn sâu là động từ tôi thường sử dụng trong quá trình tu tập và giảng dạy. Chúng ta không phải chỉ thực tập nhìn sâu bằng mắt mà còn thực tập nhìn sâu bằng tai nữa. Sử dụng tai để lắng nghe, gọi là lắng nghe sâu. Nhìn sâu sẽ đưa tới cái thấy sâu, gọi là tuệ giác, tức là sự hiểu biết lớn; lắng nghe sâu sẽ giúp cho cái thấy của ta sâu hơn, phù hợp với thực tại. Chúng ta người nào cũng có hai con mắt và hai lỗ tai, nhưng nếu không có ánh sáng của chánh niệm soi chiếu vào thì không thể thực tập nhìn sâu và lắng nghe sâu được. Ví dụ, muốn nhìn sâu vào bản chất của hơi thở vào, ta không cần sử dụng đến nhãn căn và nhĩ căn, ánh sáng chánh niệm trong vùng ý thức (thức thứ sáu) của ta sẽ làm công việc ấy. Nhìn sâu nghĩa là có mặt đích thực và ý thức sâu sắc với đối tượng ấy, tâm ý ta không bị tán loạn, an trú vững vàng và trở thành một với đối tượng; trạng thái đó gọi là Định. Có khi ta sử dụng mắt, có khi ta sử dụng tai, có khi ta sử dụng tâm thức của ta để nhìn sâu. Thế nhưng Niệm và Định là hai nguồn năng lượng mà ta phải thường xuyên sử dụng để làm nền tảng cho sự thực tập nhìn sâu. Không có Niệm và Định, ta không thể có mặt lâu bền với đối tượng quán chiếu được.

Đôi khi ta cũng có thể vận dụng sự suy tư của ta. Tuy nhiên suy tư có hai loại: Tầm (vitarka) và Từ (vichara). Trong nhiều trường hợp, suy tư có thể dẫn đến sự lầm lạc, ảo giác và dễ bị đánh mất mình. Nhưng thỉnh thoảng, nếu ta biết điều phục những dòng suy tư của ta một cách khéo léo, thì suy tư có thể giúp ta thấy sâu và rõ hơn. Đức Thế Tôn dạy rất rõ về phép thực tập nhìn sâu. Ngài nói rằng ta phải tập nhìn để tiếp xúc cho được với bản chất Vô thường về đối tượng đang được quán chiếu. Chúng ta học giáo lý Vô thường không phải để đem ra bàn luận hoặc nói suông: “Cái này vô thường. Cái kia vô thường. Đời là Vô thường cho nên khổ…” mà phải thật sự tiếp xúc với bản chất Vô thường của mọi sự mọi vật. Chúng ta có thể sử dụng trí năng để nói rằng: ”Tôi biết bông hoa này Vô thường”, nhưng đó có thể chỉ là trên bề mặt ý thứ thôi. Chúng ta phải chạm cho được thực tại của Vô thường trong chiều sâu của nó để vượt thắng ý niệm về Vô thường. Ý niệm về Vô thường không phải là thực tại của Vô thường.

Nếu ta thật sự tiếp xúc được với bản chất của Vô thường, ta cũng đồng thời tiếp xúc được với bản chất của Vô ngã, Tương tức và Niết bàn. Vô thường, Vô ngã và Niết bàn là ba cánh cửa giải thoát – Tam Giải Thoát Môn; có khi gọi là Tam Pháp Ấn. Phần đông chúng ta đã có một ít kinh nghiệm qua sự học hỏi từ kinh sách về giáo lý Vô thường, Vô ngã và Niết bàn rồi tự cho là mình đã hiểu, đã nắm bắt được thực tại. Coi chừng! Có thể mình đang tự đánh lừa mình đấy. Khi đọc lại những lời kinh và quán chiếu lại, ta thấy rằng thực ra mình chưa hiểu, chưa thực nghiệm chút xíu gì về thực tại Vô thường cả.

Khi nhìn vào bông hoa này, ta có thể thấy ngay được bông hoa này là Vô thường. Ta chấp nhận sự Vô thường của bông hoa. Nhưng khi va chạm với đời sống thực tế, nhất là đối với bản thân ta, thì hình như cái thấy ấy không dính líu gì đến ta cả; lý do là vì ta chưa thật sự trực nhận, chưa thật sự sống một cách sâu sắc với thực tại của vô thường, ta chỉ thấy một cách hời hợt trên bề mặt của trí năng mà thôi. Nếu sống sâu sắc với thực tại của vô thường, ta sẽ tiếp xúc được với thực tại của vô ngã và của Tương tức – thế giới không sinh không diệt của mọi sự mọi vật. Nếu ta thật sự tiếp xúc được với bản chất không sinh không diệt của mọi sự mọi vật, thì tất cả các phiền não, sầu đau, sợ hãi sẽ tan biến hết. Chừng nào nỗi u sầu, sợ hãi, ghen tỵ và thèm khát còn có mặt, thì ta biết rằng ta chưa thật sự tiếp xúc sâu sắc với thực tại Vô thường, Vô ngã và Tương tức của mọi sự mọi vật.

Phép thở thứ mười bốn của kinh Quán Niệm Hơi Thở giúp ta nhìn sâu vào đối tượng của sự tham đắm, thèm khát của ta và nếu nhìn cho thật thấu đáo, ta sẽ giác ngộ rằng những thứ ấy không phải là đối tượng của chân hạnh phúc. Ta có cái ảo tưởng về hạnh phúc và ảo tưởng ấy thường đem lại cho ta rất nhiều khổ đau. Nếu thật sự hiểu được bản chất của đối tượng ấy không phải là đối tượng đích thực của ước muốn sâu kín của ta, ta sẽ buông bỏ và đạt tới tự do lớn. Những đối tượng mà ta đang chạy theo, đang tìm cầu có thể chỉ là sự thèm khát về danh, lợi, quyền hành và sắc dục. Nếu nhìn thật kỹ vào bản chất của năm dục ta sẽ thấy được tính chất tàn phá và nguy hại của chúng; nếu sa lầy vào chúng ta sẽ đau khổ cực kỳ. Năm dục là cạm bẫy. Nếu vì tri giác sai lầm, ta tiếp tục bám chặt vào cái ước muốn, bám sát vào sự thèm khát của ta, tin rằng những thứ này sẽ đem lại cho ta chân hạnh phúc thì ta sẽ khổ và sẽ làm cho những người thương của ta khổ theo. Hạnh phúc chân thật không thể có được nếu ta không thấy rõ được bản chất đích thực của đối tượng thèm khát, ước muốn của ta. Bản chất đích thực của thực tại chỉ có thể đạt được bằng sự thực tập nhìn sâu – quán chiếu.

Khi đức Thế Tôn dạy về giáo lý Vô thường, Vô ngã, Không, Tương tức, không sinh không diệt v.v… và gợi ý cho ta thấy bản chất của những giáo lý này không phải là những đối tượng của sự tìm cầu, không phải là những đối tượng của sự nắm bắt và bám víu, tức là Ngài đang giúp ta nhìn sâu. Nếu quý vị nhìn vào những đặc tính này của thực tại – Vô thường, Vô ngã, Không, Tương tức, không sinh không diệt – không phải như là những đối tượng của sự tìm cầu, thèm khát, nắm bắt để đàm luận, quý vị mới thật sự được tự do, giải thoát. Có khi vận dụng sự suy tư nhưng có khi quý vị chỉ cần ôm ấp đối tượng của sự quán chiếu. Có rất nhiều cách để thực tập nhìn sâu, nhưng mục đích của ta là để chứng nghiệm thực tại, thâm nhập vào sự sống và trở thành một với sự sống. Đây là điểm then chốt của sự thực tập nhìn sâu, gọi là thiền quán, tiếng Phạn là vipashyana. Muốn thực tập thành công, quý vị phải tinh tấn vun trồng năng lượng của Niệm và Định, vì hai nguồn năng lượng này sẽ giúp quý vị thể nhập sâu sắc vào lòng sự vật và đạt được tuệ giác Vô thường, Vô ngã và Tương tức, an trú được vào cảnh giới của Niết bàn tịch tĩnh. Niết bàn là sự vắng lặng của tất cả các khái niệm.

_______________

(Trích từ tác phẩm: “Hơi thở nuôi dưỡng và trị liệu” – Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Sống chung an lạc với mẹ chồng

Hỏi: Kính thưa Thầy, khi lạy xuống, con có thể tiếp xúc được với tất cả các thế hệ tổ tiên của con và hòa nhập vào dòng sinh mạng của tổ tiên con. Nhưng khi thực tập như vậy đối với mẹ chồng, con cảm thấy không thành công lắm. Xin Thầy giúp con.

 Sư Ông Làng Mai trả lời:

Tôi nghĩ cái cảm nhận ấy xuất phát từ sự thật là quý vị vẫn xem mẹ chồng của mình không phải là một người trong gia đình. Nếu quý vị không thay đổi cái nhìn ấy thì khó có thể chấp nhận, ôm ấp mẹ chồng của mình như đã làm đối với những người thân trong gia đình, dòng họ của mình. Phải thấy rằng dù muốn hay không, người ấy vẫn là mẹ chồng của mình, đó là một sự thật. Chồng của mình là một phần của bà và của dòng họ bà. Khi lập gia đình, quý vị đã cam kết sẵn sàng chia sẻ tất cả những hạnh phúc và khổ đau của chồng hay vợ mình; và mẹ chồng hay mẹ vợ mình là một phần của hạnh phúc và khổ đau ấy. Vì vậy, là vợ chồng, quý vị phải có khả năng chấp nhận, ôm lấy tất cả những hạnh phúc và khổ đau của mẹ vợ hay mẹ chồng mình với tâm không phân biệt. Đó là thực tập thương yêu theo tinh thần Xả, tức là tình thương độ lượng, bao dung và vô phân biệt.

Hạnh phúc của chồng mình hay vợ mình tùy thuộc rất nhiều nơi hạnh phúc của mẹ chồng hay mẹ vợ mình. Nếu chồng hay vợ quý vị không hạnh phúc, thì quý vị không thể hạnh phúc được. Vì vậy chăm sóc, thương yêu mẹ chồng hay mẹ vợ mình tức là chăm sóc cho hạnh phúc của chính mình và của chồng mình hay vợ mình.

Khi người Phật tử có người yêu khác tôn giáo, ví dụ như người Ki Tô giáo chẳng hạn, thì anh ta hoặc chị ta cần phải tìm hiểu, học hỏi về truyền thống Ki Tô giáo, phải tôn kính đức Ki Tô và vị Cha đạo của người ấy như mình tôn kính Bụt và thầy Bổn Sư tâm linh của mình. Bởi vì tình bạn rất quý giá và cần thiết cho hạnh phúc của ta và ta muốn trân quý, gìn giữ nó. Những gì thuộc về bạn mình cũng là thuộc về mình. Đó là điều tất nhiên. Những gì bạn mình yêu thích thì mình cũng yêu thích.

 

 

Tình thương và sự cam kết lâu dài rất quan trọng trong liên hệ vợ chồng, bè bạn hay thầy trò v.v… Quý vị phải thực tập chăm lo tất cả những gì thuộc về người bạn hôn phối của mình đứng về mọi phương diện, bởi vì quý vị quan tâm đến niềm vui và hạnh phúc của người ấy. Phải nhìn cho thật sâu và thấy cho được rằng tất cả mọi người, mọi sinh hoạt đều có liên hệ mật thiết tới mẹ chồng hay mẹ vợ của mình để quý vị có thể thật sự sống an lạc, hòa bình và hạnh phúc với bà; hạnh phúc của quý vị tùy thuộc vào hạnh phúc của mẹ chồng hay mẹ vợ của quý vị. Trước hết ta phải đối xử tử tế với bà. Mỗi khi quý vị tới nhà mẹ chồng, quý vị phải tử tế chào hỏi mẹ chồng và tất cả mọi người trong gia đình, bởi vì họ là những người thân của chồng mình. Dù bà có đối xử hơi lạnh lùng hoặc dễ thương hay không dễ thương, điều đó không quan trọng; quan trọng là mình vẫn giữ thái độ niềm nở, tôn kính, ôm ấp, chấp nhận và giúp đỡ mẹ chồng của mình với tâm độ lượng, bao dung, bởi vì điều ấy có liên quan đến hạnh phúc của mình và chồng. Càng nhìn sâu, càng hiểu và càng bao dung, độ lượng bao nhiêu thì cái bức tường ngăn cách giữa quý vị và mẹ chồng sẽ được xóa đi và quý vị sẽ có khả năng chấp nhận bà như một thành phần quan trọng trong dòng họ tổ tiên của chồng quý vị.

(Trích từ tác phẩm: “Hơi thở nuôi dưỡng và trị liệu” – Thiền sư Thích Nhất Hạnh)