Mẹ an – con an

Tôi có duyên lành trở về tu viện Mộc Lan sau bốn năm để tham dự khoá tu “Tâm bình, thế giới bình”. Sau đó là khoá tu xuất sĩ gồm 125 vị đến từ các trung tâm khác của Làng Mai. Tu viện chào khách phương xa với những cây Mộc Lan nay đã khá lớn.

Trời chiều đầu thu gió hơi se lạnh, vài cây lá bắt đầu vàng đong đưa trong nắng chiều trong vắt, càng làm nổi bật màu xanh đậm và nâu của lá. Những nụ cười thân thương của quý thầy quý sư cô trẻ cùng vài người bạn đạo quen biết làm tôi quên hết mệt sau chuyến bay xuyên bang.

Sau một đêm ngủ ngon, tôi được đánh thức bởi tiếng đại hồng chung ngân vang. Trời từ từ sáng. Mộc Lan vẫn hiền lành, khiêm tốn quyện mình trong những đồng cỏ xanh. Nhìn ra phía rừng cây quanh tu viện, tàng lá đan vào nhau như hoa văn nổi bật trên nền trời trong xanh, nhất là mỗi sáng mây hồng rạng rỡ dịu dàng chào đón một ngày mới với 24 giờ tinh khôi.

Tuy không phải là mùa trăng, nhưng đêm Mộc Lan thật huyền ảo với sự im lặng tràn đầy sự sống của vạn vật cùng bao vì sao sáng tỏ trên nền trời đen thẫm.

Hoa Mộc Lan là loài hoa biểu tượng của bang Mississippi đó bạn, nơi đây đã ghi dấu sâu đậm lịch sử tranh đấu nhân quyền của người dân. Đài tưởng niệm Mục sư Martin Luther King cùng Sư Ông Làng Mai giản dị với vài ghế ngồi làm bằng những khúc cây to bên đồng cỏ xanh mát, dù vậy  thật trang trọng.

Quý thầy, quý sư cô nơi đây đã hết lòng “chịu chơi, chịu làm, chịu tu, chịu học”.  Đúng là ” tất cả trong một” (“All in one”). Với sự đóng góp công sức của quý phật tử địa phương, chỉ trên dưới mười năm, Mộc Lan đã trở nên một nơi tu tập lý tưởng với đầy đủ tiện nghi cho tứ chúng sinh hoạt. Tăng xá mới được xây trong rừng,  từ phòng nhìn ra nơi nào cũng tràn ngập mầu xanh của lá rừng.

Tôi thấy nhiều thiền sinh Tây phương với áo vạt hò nâu mới toanh, can đảm nhưng vẫn rụt rè thử các món ăn Việt. Tôi nghe đâu đây bài thiền ca quen thuộc:

“Anh em ta từ bốn phương trời
Chị em ta từ khắp năm châu
Không phân biệt màu da tôn giáo
Cùng về đây xây đắp  yêu thương…”

Lòng tôi chùng xuống, cúi đầu nghĩ đến Sư Ông, Người giúp chúng ta khai phá, mở lối yêu thương bằng những chất liệu có sẵn nơi mỗi người như hơi thở, bước chân ý thức. Toa thuốc mầu nhiệm này đã dìu dắt bao người tìm lại ý nghĩa cuộc sống.

Tôi chắp tay nguyện cầu cho quý thầy quý sư cô trẻ tu tập tinh tấn để sau này:

“Trái yêu thương đầy cành
Hái đem cho mọi người…”

Quý thầy, quý sư cô trong khóa tu xuất sĩ tại tu viện Mộc Lan

Khóa tu xuất sĩ là dịp đoàn tụ của gia đình tâm linh mỗi hai năm, vì Làng Mai có nhiều trung tâm sinh hoạt khác nhau trên thế giới. Nhìn quý vị xuất gia trẻ gặp  nhau, có vị sau bảy, tám năm mới gặp lại. Họ ríu rít như chim, cười tươi như hoa… Thật nuôi dưỡng nhau bạn ạ!

Cư sĩ chúng tôi lo nấu ăn  để tất cả quý thầy quý sư cô tham dự khóa tu trọn vẹn. Tôi thấy vui và đậm đà hơn những dịp giỗ, tết của cư sĩ chúng tôi vì không tay xách nách mang, nấu ăn ồn ào, chẳng thật sự có mặt cho nhau. Nơi đây tôi cũng thấy những món quà nhỏ bé, xinh xinh kín đáo trao cho nhau, chắc là gói trà, hộp bánh, hay tượng phật, cái mũ đan tay…

Một bữa ăn sáng, tôi thấy xuất hiện nhiều khuôn mặt cư sĩ lớn tuổi ở bên quý vị xuất gia trẻ. Ai cũng rạng ngời với nụ cười tươi. Có cụ người Tây phương  lưng còng phải dùng gậy để đi. Hỏi ra mới biết có những bà đến từ các nơi trên nước Mỹ, có bà đến từ Việt Nam. Tất cả về đây, ngôi nhà tâm linh, để được hội ngộ với các con mình đã đi tu. Quả vậy, gia đình huyết thống và tâm linh đã hoà quyện như bột và đường để làm nên chiếc bánh ngọt bùi nuôi dưỡng nhau. Tôi không có con đi tu, nhưng cảm nhận được từ đáy lòng mình sự ấm áp của hạnh phúc, nhất là khi một sư cô đi tu đã mười bốn năm nói “Ôm cô, con đỡ nhớ mẹ con”.

Bạn ơi!

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ.
Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con…”

Câu thơ này được viết theo kiểu thư pháp đã theo tôi  từ năm 1991, tôi mua ở Việt Nam nhân chuyến về thăm mẹ lần đầu tiên  kể từ khi theo chồng di tản năm 1975. Dọn nhà bao lần, tôi đều treo trong phòng ngủ rất trang trọng để có những giây phút riêng tư cho mình.

Mẹ tôi qua đời ba năm sau đó! Tôi đã làm mẹ, con còn bé, nên lúc đó đã không thể về dự lễ tang của mẹ. Tôi vẫn chuyện trò cùng mẹ qua nén hương hay những lúc ngồi yên. Tôi vẫn cần đến mẹ những khi có khó khăn trong cuộc sống. Tôi vẫn bé nhỏ như ngày nào bên mẹ.

Bạn ơi! Cuộc chia tay nào cũng để lại dư vị. Ngày đó mỗi khi nghĩ về nhau mẹ con tôi đều thắt ruột lo cho nhau. Còn với những vị ở đây, cuộc chia tay con đi xuất gia chắc là không quặn đau mà nhẹ nhàng êm ái, mà cùng lo tu cho nhau. Tôi chợt mỉm cười với so sánh dí dỏm: “Con đi xuất gia, hay con đi xuất giá…Thì suốt đời lòng mẹ vẫn theo con”. Mà con thì lúc nào cũng nương vào mẹ như rễ cây luôn tìm về mạch nước. Đúng là con an – mẹ an, con vui – mẹ vui.

Nắng trưa đầu thu với nắng ấm rất dễ chịu, từ dãy cư xá dành cho cư sĩ, các bà mẹ tay trong tay, tươi cười thong thả đi thiền hành về nhà ăn. Tóc trắng lòa xoài trên đôi kính lão, bà mẹ Tây phương mặc áo xanh quần hồng chống gậy đi bên bà mẹ Việt Nam với áo nâu nón lá, có bà đeo ba lô rất “ngầu”. Tôi lại mỉm cười thầm nghĩ: sung sướng thay những bà mẹ này, thu xếp đời sống tất bật về tu viện thăm con, được thong thả rong chơi chắc cũng nếm được chút ít vị an lạc.

Bà E., người Mỹ, bối rối trước các món ăn Việt Nam, sợ cay nên món gì cũng hỏi, ngay cả món …. chè. Món quà quý bà tặng Làng Mai là người con trai duy nhất, cao to gấp đôi bà.  Thầy phải cúi gập người lại mỗi khi muốn ôm mẹ.

Mẹ O. tâm sự: Ra phi trường đón con từ Làng về sau sáu năm, nhìn con ôm các chú dì, chị…..khóc vì tủi thân. Nhưng món quà quý mà thầy dâng lên mẹ  là vào ngày Vu Lan, trong bài pháp thoại, câu đầu tiên thầy nói: ” Con được như hôm nay là nhờ mẹ”, thì lần này chị …. khóc vì sung sướng.

Mẹ H nói: “Nhìn thầy chia sẻ trên YouTube, khi mọi người cười thì em khóc, khi mọi người khóc thì em cười”. Ôi tâm tình người mẹ kín đáo mà mãnh liệt, chỉ mẹ và con mới biết.

Đang ngồi chơi với các mẹ, tôi thấy bao nhiêu quý thầy quý sư cô trẻ đến ríu rít như chim non ôm các mẹ “Cám ơn các má mi (mommy) đã đến đây với chúng con”. Bạn xem có con đi tu lời ghê không? Đi có một mà bây giờ có bao nhiêu con, chẳng bù con đi xuất giá, chỉ được có một mà nhiều khi thành không.

Sư chú Chân Trời Minh Dung, sư cô Chân Trăng Kim Sơn và sư cô Chân Trăng Quang Sơn

Trong khóa tu này, tôi được chứng kiến lễ xuất gia của ba vị người Tây phương,  tất cả đều ở tuổi dưới 25. Tôi có dịp chuyện trò với cha mẹ các vị này. Họ rất hạnh phúc.

Tôi như cảm nghe được lời tâm tình của những vị xuất gia trẻ: Mẹ ơi!  Hãy về đây buông bỏ hết lo âu  vướng mắc của cuộc đời. Mẹ con ta sẽ giúp nhau chuyển hoá khổ đau có từ bao đời, sẽ tiếp nối con đường hiểu và thương. Mẹ không cần phải làm gì cả. Con không cần phải làm gì cả. Mẹ con ta chỉ cần quay về với hơi thở có ý thức và đi những bước chân an lành trên mặt đất.

“Về đây lữ khách đường xa lắm
Cát bụi sầu thương vướng đã nhiều
Thanh thản ngủ trong lòng đạo cả
Cho hồn thơ ấu được nâng niu”. 

Hôm nay khoá tu chấm dứt. Chắc ai ai cũng có chút gì mang về trú xứ của mình. Bạn ơi xin gói món quà quý đó vào tim, mạch sống của tim  sẽ nuôi dưỡng chúng ta đi về tương lai để không phụ ơn Sư Ông đã khai thông suối nguồn của thương yêu.

Tôi tri ơn quý thầy quý sư cô của tu viện Mộc Lan đã cho tôi về đây góp mặt trong những ngày đoàn tụ đầy ý nghĩa này, để giờ đây có giây phút trải lòng mình trên trang giấy chia sẻ cảm nghĩ này.

Rủ nhau về Mộc Lan bạn nhé.

(Đỗ Thủy)

Kệ truyền đăng năm 2010

Kệ truyền đăng trong Đại giới đàn Thuỷ Tiên, từ ngày 12 – 19 tháng Giêng năm 2010

Thầy Chân Pháp Chương
(Nguyễn Văn Chí)

Pháp thân rạng rỡ ánh chiêu chương
Biển học mênh mông chẳng lạc đường
Ngày xuân ngồi ngắm hoa mai nở
Ngộ được vườn xưa chân diệu hương.

 

Thầy Chân Pháp Thanh
(Ziegler Bernd)

Pháp nhiệm linh sơn vừa khởi xướng
Thanh âm vi diệu vọng mười phương
Tuyết bay bát ngát trời phương ngoại
Nhạc khúc tâm linh ứng dị thường.

 

Thầy Chân Pháp Không
(Nguyễn Ngọc Điệp)

Ngã đã không thì pháp cũng không
Trời xanh mây bạc cứ thong dong
Vườn xưa tổ phụ hoa còn nở
Máu chảy về tim vẫn thuận dòng.

Sư cô Chân Tùng Nghiêm
(Barbara Ruth Newell)

Thiền môn tùng hạc vẫn trang nghiêm
Pháp cổ uy nghi điểm diệu huyền
Gánh lúa thơm về vàng óng ả
Ao nhà đã nở đoá kim liên.

 

Thầy Chân Pháp Liệu
(Phạm Bá An)

Pháp xưa trị liệu có muôn hình
Nhiệm mầu huyết mạch gọi tâm linh
Nước biếc non xanh trời sáng rộng
Đêm đêm nhớ hát khúc đăng trình.

 

Thầy Chân Pháp Hộ
(Fredriksson Jerker)

Pháp môn phòng hộ đêm ngày
Uy nghi giới luật xưa nay tỏ tường
Quê nhà giếng nước thơm hương
Hùng phong mời gọi thẳng đường Hy Ma.

 

Thầy Chân Pháp Xả
(Thedoor Johan Frederiks)

Pháp diệu muôn đời không thủ, xả
Lối về quê cũ chẳng bao xa
Giang tay ôm trọn hành tinh quý
Xanh mướt trần gian bóng Phật Đà.

 

Sư cô Chân Lăng Nghiêm
(Văn Thị Lan)

Lăng già trăng bạc chiếu trang nghiêm
Lồng lộng khuôn xưa nét diệu huyền
Hải ấn sáng ngời in dấu ngọc
Thanh trừng tính hải chiếu an nhiên.

 

Sư cô Chân Quỳnh Nghiêm
(Hồ Thị Thô)

Đêm thanh tinh khiết toả hương quỳnh
Nghiêm tịnh ngân hà lộ hiển linh
Trao tay Bồ Tát cành dương ấy
Giọt nước thương yêu ngát tịnh bình.

 

Thầy Chân Pháp Sĩ
(Nguyễn Duy Sơn)

Pháp lực cao cường chân đại
Vượt ngàn sóng gió đến bờ kia
Ngàn mắt ngàn tay không vướng bận
Phong sương quét sạch nẻo đi về.

 

Thầy Chân Pháp Quán
(Phạm Tăng Trung)

Mưa pháp là từ quán
Thấm nhuần cõi thế gian
Đất trời đang hợp tấu
Khúc bình minh nạm vàng.

 

Thầy Chân Pháp Duyệt
(Phan Khôi)

Pháp diệu  là  thiền duyệt
Thuyền đi sẽ đến bờ
Gieo bồ đề hạt cũ
Khám phá được huyền cơ.

 

Thầy Chân Pháp Lộ
(Phạm Phước)

Mưa pháp chân cam lộ
Xanh lại núi rừng xưa
Ước cũ còn nguyên vẹn
Khám phá dấu chân thừa.

 

Sư cô Chân Gia Nghiêm
(Panya Bouachanh)

Xuất gia tìm tới cõi huyền nghiêm
Vằng vặc trăng xưa dọi trước thềm
Biển cả nương dâu thường quán niệm
Vượt bờ sinh tử đến tây thiên.

 

Sư cô Chân Trúc Nghiêm
(Trương Hoa)

Trúc biếc hoa vàng còn đó
Trang nghiêm cõi tịnh nguyền xưa
Lắng nghe Tần già tiếng hót
Công phu trình diễn chân thừa.

 

Thầy Chân Pháp Lai
(Benjamin Jean-Philippe Boucherat)

Pháp mở lời xưa chúc thiện lai
Não phiền rơi rụng ánh dương soi
Có không mấy đám phù vân ấy
Vượt thoát không gian tỏ rạng ngời.

 

Sư cô Chân Trang Nghiêm
(Lê Thị Bửu Ấn)

Nếp xưa hạnh cũ tinh cần
Trang nghiêm niệm lực pháp thân tài bồi
Gió trên đỉnh Thứu reo vui
Búp tay sen nở chào trời rạng đông.

Điểm trang dụng trí lực
Nghiêm tịnh trượng bi hành
Đào hồng  kiêm liễu lục
Đồng xướng diệu cao thanh.

 

Sư cô Chân Thanh Nghiêm
(Trần Thị Xuân Dung)

Phạm bối trầm dùng diễn diệu thanh
Quang nghiêm quả báo tự viên thành
Giọt sương cam lộ bình minh ấy
Nâng cánh đàm hoa nét đẹp xinh.

 

Thầy Chân Pháp Uyển
(Nguyễn Anh Vũ Michael)

Vườn xưa pháp uyển nở hoa
Thơm tho đất mẹ sáng loà ánh dương
Thuyền đi thuận gió căng buồm
Nhất tâm trực chỉ trùng dương bến bờ.

 

Sư cô Chân Mai Nghiêm
(Caroline Bouquet)

Đất Pháp hoa mai nở
Nghiêm tịnh xuân đạo tràng
Phương tây là tịnh độ
Tâm giới rộng thênh thang

Pháp quốc hiện mai hình
Nghiêm tịnh chiếu quang minh
Tây phương hữu Phật độ
Diệu Pháp mai hoa kinh.

 

Sư cô Chân Hạc Nghiêm

(Nguyễn Thị Lệ)

Tùng xanh hạc trắng uy nghiêm
Bước chân thiền duyệt vui miền thượng phương
Thong dong đã chọn con đường
Sắt son một dạ, thanh lương nẻo về

 

Thầy Chân Pháp Chiếu
(Nguyễn Bảo Thiên)

Nếp nhà đuốc pháp chiếu soi
Dấu chân để lại rạng ngời nước non
Kim cương tâm ấy mãi còn
Nắng lên chim bướm muôn phương lại về.

 

Thầy Chân Pháp Tự
(Paul Barthelemy)

Pháp trao thừa tự chốn sơn môn
Mầu nhiệm chân tâm hiện tỏ tường
Nơi đến có hoa vàng trúc tím
Chuông rền đầu ngõ đã tan sương.

 

Sư cô Chân Mật Nghiêm
(Đặng Ngọc Thanh)

Như lai mật ý đã tâm truyền
Một hướng đi về cõi tịnh nghiêm
Xanh biếc thông già nghe sóng biển
Trầm hùng phạm bối hải triều lên.

 

Sư cô Chân Cần Nghiêm
(Đinh Thu Nguyệt)

Nếp xưa vốn sẵn tinh cần
Trang nghiêm niệm lực pháp thân tài bồi
Hào quang chiếu diệu muôn nơi
Tay  tiên nâng đoá kim đài ngát hương.

 

Sư cô Chân Cơ Nghiêm
(Võ Ngô Huỳnh Huệ)

Thiền vượt tử siêu sinh
Hoa vàng trúc tím tự mình trang nghiêm
Tâm an trăng chiếu bên thềm
Trời quang mây tạnh oan khiên sạch rồi.

 

Chị Chân Bảo Tịnh
(Hildeth Farias Da Silva)

Chân như bảo tạng lộ nguyên hình
Tịnh độ sen vàng cánh đẹp xinh
Sông lớn xuôi dòng về biển lớn
Nhìn vào vô tướng thấy vô sinh.

 

Chị Chân Bản Đức
(Nguyễn Thị Thu Hồng)

Mang Linh Phong bản nguyện
Lấy ân đức truyền thừa
Mây xưa thành tuyết mới
Trọn vẹn ước mơ xưa.

 

Anh Chân Đại Thệ
(Bùi Cao Thanh Tâm)

Lối về mang đại nguyện
Lời thệ ước không quên
Thấy hoa vàng trúc tím
Ân báo và nghĩa đền.

 

Chị Chân Bảo Hiện
(Jane Hulshoff Pol)

Bảo châu vạt áo hiện tiền
Thong dong lạc trú thần tiên cõi nầy
Nhân duyên thời tiết ai hay
Khúc vô sinh xướng, hiển bày pháp thân.

 

Anh Chân Thệ Hải
(Look Hulshoff Pol)

Tâm bất vi bản thệ
Nguyện hải nhật do thâm
Thái bình ca nhất khúc
Bộ bộ khả siêu trần.

 

Anh Chân Diệu Trí
(John Bell)

Đem diệu quan sát trí
Đốn phá màn vô minh
Đốt lên hương ngũ phận
Cùng bảo vệ hành tinh.

 

Anh Chân Trí Hải
(Michel Walzer)

Trí cả như minh nguyệt
Hải ấn ngát đàn hương
Sương tan núi biếc hiện
Đường về quê tỏ tường

 

Chị Chân Bảo An
(Shelagh Shalev)

Trái tim chân bảo tạng
Chứa một trời bình an
Đàm hoa đang hé cánh
Phô hiện pháp niết bàn.

 

Anh Chân Bảo Học
(Kai Romhardt)

Khơi đèn Tam Bảo sáng trưng
Pháp môn Tam Học nhất tâm hành trì
Phượng hoàng dương cánh uy nghi
Thong dong mây trắng bay về núi xanh.

———————————————————————————————–

Ngày 18.10.2010, một ngày trong khoá tu xuất sĩ tại Làng Mai Thái Lan, vào lúc 5h sáng Sư Ông làm lễ truyền đăng cho mười lăm tân giáo thọ tại thiền đường Trời Phương Ngoại. Chưa bao giờ có lễ truyền đăng vắn tắt mà trang nghiêm đến thế. Âu cũng nhờ ân đức của chư Tổ truyền qua Sư Ông. Dưới đây là danh sách các vị tân giáo thọ cùng với các bài kệ truyền đăng:

 

Thầy Chân Pháp Lâm
(Trần Nguyên Trường)

Cầm đuốc thiêng chánh pháp
Soi sáng chốn tùng lâm
Oanh vàng về ca hát
Trên liễu biếc cành xuân.

 

Thầy Chân Pháp Toàn
(Lê Phê)

Nghe bông hoa thuyết pháp
Tiếp xúc được toàn chân
Vượt ngàn trùng sinh diệt
Tìm lại đóa chân tâm.

 

Thầy Chân Pháp Tụ
(Nguyễn Phi Hùng)

Bốn phương pháp lữ về quy tụ
Núi cũ vang lừng tiếng phạm âm
Đôi vầng nhật nguyệt trên vai vác
Tuổi đạo dài như tuổi núi sông.

 

Thầy Thích Từ Hải
(Trần Phước Lâm)

Thuyền từ lướt sóng đại dương
Triều âm hải chấn căng buồm độ sinh
Trời mây thân hữu an lành
Chở che có ánh trăng thanh tuyệt vời.

 

Thầy Thích Từ Giác
(Lê Vi Thoại)

Hạt từ gieo thuở ấu thơ
Cội cây giác ngộ đến giờ nở hoa
Hương bay ngàn dặm quê nhà
Non xưa biểu hiện một tòa lưu ly.

 

Thầy Thích Từ Đức
(Phạm Tăng Chính)

Mây từ ban xuống mưa ân đức
Công phu vực dậy một trời xuân
Tăng thân xây dựng tình huynh đệ
Đêm đêm khởi xướng hội trăng rằm.

 

Thầy Thích Từ Thông
(Hoàng Trọng Đống)

Từ mở tâm vô lượng
Thông đạt ý vô cầu
Mưa pháp về thấm nhuận
Chuyển hoá mọi niềm đau.

 

Thầy Thích Từ Dung
(Dương Thanh Trung)

Đất trời lên tiếng gọi
Từ và niệm dung thông
Đại bàng xòe cánh rộng
Mây núi đã lên hồng.

 

Thầy Thích Từ Tế
(Lê Quang Lợi)

Quan Âm một chiếc thuyền từ
Ra tay tế độ vượt bờ tử sinh
Công phu trái kết hoa thành
Trăng sao nến ngọc lung linh rạng ngời.

 

Thầy Thích Từ Hòa
(Phạm Tăng Hiền)

Mưa xuân thấm đức từ hòa
Cho cây Ưu Bát nở hoa tuyệt vời
Đồi Xuân khoác áo Xuân tươi
Công phu thiền quán tài bồi Dương Xuân.

 

Thầy Thích Từ Đạo
(Đỗ Quang Phú)

Đại từ khai đại đạo
Diệu âm quán thế âm
Vô lượng tâm nhất quán
Đương niệm đắc siêu trần.

 

Thầy Chân Pháp Tịnh
(Hàng Thanh Tùng)

Cửa pháp vừa hé mở
Thế gian tịnh hóa rồi
Hương giới định thơm ngát
Trời tuệ giác chiếu soi.

 

Sư cô Chân Phước Tâm
(Trần Thị Thắng)

Tay ai nâng đóa sen vàng
Uy nghi phước tuệ rõ ràng chân tâm
Mây mù bốn phía đã tan
Trăng thu sáng tỏ trần gian rạng ngời.

 

Thầy Chân Thông Tánh
(Lê Quốc Thanh)

Giới định vốn dung thông
Nguồn linh tánh sáng trong
Hương Ưu Đàm tỏa ngát
Tuệ nhật chiếu vô cùng

 

Thầy Chân Huệ Trung
(Văn Ngọc Lâm)

Song hành phước huệ trang nghiêm
Vầng trăng trung quán vừa lên tuyệt vời
Tỳ lô tánh hải chiếu soi
Mây trời thân hữu đón mời tri âm.

Bộ phim “Bước chân an lạc” (Walk With Me) sẽ được công chiếu tại Việt Nam

“Bước chân an lạc” (tựa đề tiếng Anh là “Walk With Me”) – một bộ phim tài liệu về Thiền sư Thích Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai – dự kiến sẽ ra mắt khán giả Việt Nam vào ngày 24 tháng 11 năm 2017.

Được thực hiện bởi Max Pugh và Marc J. Francis, bộ phim “Bước chân an lạc” đã được công chiếu lần đầu tiên tại Liên hoan phim South by Southwest ở Texas (Mỹ) vào ngày 15 tháng 3, sau đó chu du nhiều nước Âu Mỹ và châu Á từ tháng 8 đến nay. Gần đây nhất, ngày 18 tháng 9, bộ phim đã được công chiếu tại Thái Lan với sự có mặt của Thiền sư Thích Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai.

Về hoàn cảnh ra đời của bộ phim, đạo diễn Max Pugh nói rằng: “Mười năm trước đây, em trai tôi đã từ bỏ tài sản, xe hơi và ngôi nhà của mình để xuất gia làm một tu sĩ Phật giáo theo truyền thống Làng Mai. Quyết định đó không hoàn toàn làm tôi ngạc nhiên vì em tôi đã hướng về đạo Phật từ vài năm trước, khi còn đang là sinh viên đại học. Chúng tôi đã nói chuyện với nhau rất nhiều về con đường xuất gia, nhưng phải đến năm 2011 khi một thầy trong tăng thân Làng Mai đề nghị tôi theo chuyến hoằng pháp của Thiền sư Thích Nhất Hạnh tại Mỹ và Canada để làm một bộ phim tài liệu thì tôi mới thực sự có cơ hội để khám phá cuộc sống của người xuất gia. Khi đó tôi đã mời người bạn cũ của tôi là đạo diễn phim Marc J. Francis cùng hợp tác. Và bộ phim “Bước chân an lạc” (“Walk with me”) ra đời. Cơ hội được gần gũi và đi cùng các vị xuất sĩ trong những chuyến hoằng pháp để làm bộ phim này đã làm thay đổi cuộc đời tôi theo nhiều cách khác nhau. Sự thực tập lắng nghe sâu, chia sẻ và sống cùng các vị xuất sĩ đã khiến tôi có cảm hứng làm việc hết lòng để tìm ra những cách thể hiện hay nhất nếp sống chánh niệm qua những thước phim của mình.”

Hai nhà làm phim Marc J. Francis và Max Pugh đang phỏng vấn thầy Pháp Cầu tại Làng Mai

Đạo diễn Marc J. Francis cũng chia sẻ cảm nhận của mình khi lần đầu tiên được gặp Thiền sư Thích Nhất Hạnh và kinh nghiệm làm bộ phim này: “Ngay lần đầu tiên khi nhìn thấy Thiền sư Thích Nhất Hạnh, tôi đã thực sự rất ấn tượng bởi sự có mặt và phong thái đầy chánh niệm của Thiền sư. Cuộc gặp gỡ đó đã gây cảm hứng cho tôi và thúc đẩy tôi phải tìm cách để thể hiện được kinh nghiệm này qua những thước phim.

Theo truyền thống, hầu hết các bộ phim đều được xây dựng dựa trên một vài nhân vật chính. Nhưng để làm bộ phim “Bước chân an lạc” (“Walk With Me”) chúng tôi phải từ bỏ quy ước này, bởi vì Thiền sư Thích Nhất Hạnh không muốn trở thành nhân vật trung tâm của bộ phim, không muốn bị thần tượng hóa, dù bằng bất cứ cách nào. Do vậy chúng tôi phải tìm cách tiếp cận khác để tất cả tăng thân đều trở thành nhân vật chính trong phim.

Chúng tôi đã dành nhiều tuần lễ để đến sống tại các tu viện Làng Mai ở Pháp và Mỹ. Chúng tôi  không mang theo máy quay phim và dành toàn bộ thời gian để thực tập chánh niệm, học cách có mặt và nhìn thế giới bằng một cặp mắt mới. Ngay việc làm bộ phim đã trở thành một sự thực tập chánh niệm. Chúng tôi phải thực tập không bị ràng buộc vào kết quả làm phim bởi vì chúng tôi không bao giờ biết được điều gì sẽ diễn ra mỗi ngày. Có những ngày chúng tôi không làm được thước phim nào, nhưng lại có những ngày chúng tôi quay được những cảnh tuyệt vời”.

Trong ba năm thực hiện bộ phim, Max Pugh và Marc J. Francis đã ghi lại được những hình ảnh rất chân thực, gần gũi của các vị xuất sĩ Làng Mai trong đời sống tu tập hàng ngày cũng như trong những chuyến hoằng pháp bên ngoài tu viện. Với những thước phim đẹp, tĩnh lặng, sử dụng âm thanh tự nhiên, cùng lời dẫn chuyện trích từ tác phẩm “Nẻo về của ý” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh qua giọng đọc của diễn viên nổi tiếng Benedict Cumberbatch, bộ phim tài liệu “Bước chân an lạc” đem đến cho người xem một trải nghiệm rất đặc biệt, đầy thiền vị. Khán giả sẽ có cơ hội bước vào xứ sở của phút giây hiện tại và hiểu thêm về nếp sống của người xuất gia, đặc biệt là những người xuất gia trẻ đến từ nhiều quốc gia khác nhau trong tăng thân Làng Mai.

tại Liên hoan phim South by Southwest ở Texas (Mỹ)

Bộ phim “Bước chân an lạc” đã nhận được rất nhiều lời khen ngợi từ giới làm phim và phê bình điện ảnh của Hollywood.

 “Những lời dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời tôi. Vì vậy, thật là một niềm vinh hạnh lớn cho tôi khi được góp phần vào bộ phim Walk With Me. Tôi tin chắc là khán giả trên khắp thế giới sẽ rung động bởi những thước phim thật đẹp này.” – Chia sẻ của diễn viên Anh từng được đề cử giải Oscar Benedict Cumberbatch, người dẫn chuyện cho phim “Bước chân an lạc”.

Ông Alejandro G. Inarritu – đạo diễn Mexico từng đoạt giải Oscar với phim The Revenant (Người về từ cõi chết) và Birdman (Người chim) – miêu tả bộ phim là “thinh lặng và trong trẻo” với những “hình ảnh và âm thanh diễn tả về sự tỉnh thức bị quên lãng và đặt nó ngay trên màn hình”.

Inarritu nói rằng: “Tôi rất thích cách mà các đạo diễn phim Bước chân an lạc nắm bắt và thể hiện được trạng thái tỉnh thức qua những thước phim của mình, một điều không phải dễ để thực hiện được. Bộ phim gợi mở về sức mạnh của sự tĩnh lặng – một điều chưa được đánh giá đúng mức nhưng lại rất cần thiết trong bối cảnh thế giới có nhiều sợ hãi và vô minh như hiện nay.” Inarritu đã từng tham dự khóa tu 21 ngày tại Làng Mai với sự hướng dẫn của Thiền sư Thích Nhất Hạnh; đối với ông, Thiền sư Thích Nhất Hạnh là “một trong những người có trí tuệ thâm sâu nhất” trên thế giới.

Dưới đây là một trích đoạn của bộ phim:

https://youtu.be/C7Ww2ZmSLvo

Thông tin và lịch chiếu của bộ phim tại Việt Nam, xin xem tại đường link sau:  https://moveek.com/phim/walk-with-me/

Tình bạn, tình yêu và khoảng lặng vi diệu

(Sư Ông Làng Mai)

Trong đạo Bụt chữ Từ Bi là thương yêu bắt nguồn từ chữ Maitri và Karuna (tiếng Phạn). Maitri là Từ, Karuna là Bi. Mà Maitri có nguồn gốc từ Mitra, có nghĩa là bạn. Người yêu của mình phải là bạn mình, phải hiểu mình và mình phải hiểu người đó. Hai người đi như một đôi bạn thì mình mới có hạnh phúc. Nếu hai người không hiểu nhau, không có sự thông cảm nhau, nếu tôi không thể hiểu em, em không thể hiểu tôi thì cái đó có thể tạm gọi là tình yêu, nhưng trong đó không có tình bạn, mà không có tình bạn thì không phải là tình yêu đích thực. Vì vậy ai đang yêu thì nên đặt câu hỏi: “Trong tình yêu này có tình bạn không?” Nếu không có tình bạn thì tình yêu này chưa phải là tình yêu đích thực.

“Tình bạn có bộ mặt thật hơn tình yêu, trong tình bạn sự bội bạc có, nhưng không nhiều. Tôi thấy tình bạn quý hơn tình yêu, vì tình bạn có khả năng làm hồi sinh một cơn hôn mê và phục sinh lại một cuộc đời tưởng rằng không còn tái tạo được nữa.”

Tình bạn có công năng cứu chữa. Đúng vậy! Một người bạn có thể cứu chữa cho ta mặc dù đã có lúc ta có rất nhiều lầm lỡ. Dù ta đã sa vào hầm hố của khổ đau, người bạn của ta cũng có thể kéo ta ra khỏi hầm hố đó. Có khi mình nằm trong vực sâu đen tối và người bạn đó tới thả một chiếc thang dài xuống cho ta leo lên vùng chan hòa ánh sáng để tìm lại được màu trời xanh và tiếng suối, tiếng chim. Khả năng cứu chữa đó là tình bạn. Và Đức Bụt Thích Ca cũng có tình bạn, tình bạn rất lớn, tình bạn đó có khả năng cứu chúng ta ra khỏi những trạng huống khó khăn tuyệt vọng. Nếu học theo được tình bạn này thì chúng ta là sự nối tiếp của Đức Thế Tôn, và chúng ta có khả năng đưa cánh tay của tình bạn ra để cứu giúp những người khác. Những giờ phút có thể nói là hạnh phúc nhất của Trịnh Công Sơn là giờ phút ngồi với bạn, vì ngồi như vậy thì không cần phải đối phó, không cần phải nói gì, không cần phải làm gì hết. Sự có mặt của bạn bên mình đem đến cho ta sự an ủi, không cần phải giữ gìn, không cần phải đối phó. Nếu anh có một người bạn như vậy thì quá quý. Trịnh Công Sơn có một số người bạn như vậy nhưng sao anh lại cô đơn? Vì giây phút đó ít quá, Trịnh Công Sơn đã nói như thế này:

“Trong âm nhạc có những dấu lặng, tức dấu nghỉ không có âm thanh, nếu không có những dấu lặng đó thì là một tai họa. Âm nhạc mà không có khoảng cách im lặng thì chẳng qua đó là sự rối loạn mà thôi”.

Trịnh Công Sơn nói, khi ngồi bên cạnh một người bạn yên lặng không nói gì hết cũng giống như một dấu lặng trong âm nhạc. Không nói gì mà hay hơn nói. Đoạn đó rất hay, tôi muốn đọc lại cho quý vị nghe:

“Có những sự có mặt của bạn bè tương đương với một dấu lặng trong âm nhạc, nên sự có mặt đó thường có khả năng mang đến cho ta sự thoải mái, thảnh thơi tựa hồ như là niềm hoan lạc. Đó là những trường hợp ta không cần phải đối phó, không cần phải lấp đầy khoảng trống bằng câu chuyện gắng gượng và nhạt nhẽo”.

Trịnh Công Sơn đã có những giây phút đó, giây phút ngồi với bạn mà không cần làm gì cả, chỉ để được nuôi dưỡng bằng tình bạn. Tất cả chúng ta đều rất cần tình bạn như vậy. Sự ồn ào làm cho Trịnh Công Sơn mệt mỏi dù sự ồn ào đó là để tán thưởng hay ca ngợi mình, cho nên Trịnh Công Sơn rất cần những giờ phút yên lặng. Tuy nhiên Trịnh Công Sơn chưa học được cách ngồi một mình để hưởng sự yên lặng, nên Trịnh Công Sơn cần một người bạn ở bên cạnh, để cảm thấy mình hưởng được sự yên lặng. Chúng ta cũng vậy, chúng ta đã học ngồi thiền, nhưng ngồi thiền một mình chưa thấy vui lắm. Ngồi thiền thì đâu được nói chuyện thế mà ngồi ba bốn người vẫn vui hơn. Có phải như vậy không?

Trong khi ta ngồi yên như thế, sự có mặt của nhau nuôi dưỡng được tất cả mọi người trong đó. Có một lần ở tu viện Cấp Cô Độc, trong khi các thầy đang chuẩn bị khóa an cư mùa mưa, thì có khoảng ba bốn trăm thầy từ Kosambi tới. Gặp lại các huynh đệ mừng quá, nên các thầy nói chuyện rất ồn ào. Ngồi trong phòng nghe ồn, Bụt hỏi thầy Xá Lợi Phất: “Có chuyện gì mà ồn như cái chợ vậy? Thầy xá Lợi Phất trả lời: “Có một số huynh đệ từ Kosambi tới; gặp nhau, mừng quá nên họ cười nói ồn ào, mất hết uy nghi, xin Đức Thế Tôn tha lỗi cho họ.” Đức Thế Tôn bảo: “Không được, làm ồn như thế thì phải đi chỗ khác tu học, không thể ở đây, tôi không thể ở chung với những người ồn ào như vậy.” Ta thấy trong lòng đức Thế Tôn chủ yếu muốn dạy cho những người đó nên Đức Thế Tôn nói không thể ở đây, phải đi chổ khác tu học. Sau đó thầy Xá Lợi Phất ra báo tin cho các huynh đệ là “Đức Thế Tôn không muốn cho quý vị ở đây, vì từ đầu giờ vào đây quý vị ồn quá làm mất không khí thanh tịnh của nhà thiền.” Nghe thế quý thầy yên lặng, quyết định đi tới một địa phương khác gần đó để an cư.

Trong suốt mùa an cư đó, các thầy nhớ lời Bụt dạy không nói chuyện, không cười giỡn, người nào cũng hạ thủ công phu, cho nên cuối mùa an cư họ chuyển hóa rất nhiều, mặt người nào cũng sáng rực ra, nụ cười nào cũng rất tươi tắn. Sau mùa an cư họ muốn đến cám ơn Đức Thế Tôn đã quở trách họ và nhờ lời quở trách đó mà họ tinh tấn hơn, nên đã thành công trong tu tập. Thầy Xá Lợi Phất vào thưa với Bụt: “Bạch Đức Thế Tôn, các thầy đã an cư xong rồi và họ muốn vào chào Đức Thế Tôn”. Đức Thế Tôn cho quý thầy vào. Lúc đó khoảng 7 giờ chiều. Đức Thế Tôn chắp tay chào các thầy. Ba trăm thầy đó với hai trăm thầy ở địa phương cùng ngồi với Đức Thế Tôn trong thiền đường rất lớn. Thầy trò ngồi với nhau như vậy từ 7 giờ tối cho tới 12 giờ khuya. Ngồi yên lặng không nói gì hết.

Thầy Anan, thị giả của Bụt, tới gần Bụt và bạch: “Bạch Đức Thế Tôn, gần tới nửa đêm rồi, Đức Thế Tôn có dạy gì cho các thầy không?” Đức Thế Tôn vẫn ngồi yên và thầy trò ngồi yên như thế cho tới 3 giờ sáng. Ngồi yên bên nhau, không nói gì hết, thầy Anan lại nóng ruột nên đến bạch với Đức Thế Tôn một lần nữa:“ Ba giờ sáng rồi, Ngài có muốn khai thị cho các thầy điều gì không?” Đức Thế Tôn vẫn ngồi yên với các thầy cho đến 5 giờ sáng. Lúc này thầy Anan tới “Bạch Đức Thế Tôn, trời rạng đông rồi, Ngài có muốn nói gì với các thầy không?” Đức Thế Tôn nói: “Thầy muốn tôi nói gì nữa. Thầy trò ngồi với nhau như vậy chưa đủ hay sao.”

Thầy trò huynh đệ ngồi với nhau, thấy được và trân quý sự có mặt của nhau là một hạnh phúc rất lớn, rất được nuôi dưỡng. Tuy không có âm thanh nhưng giá trị bằng 10 lần âm thanh. Trong tác phẩm “Tỳ Bà Hành” cũng có một câu nói tương tự “Thử thời vô thanh thắng hữu thanh.” Người nữ đó đàn tỳ bà, có lúc nàng im bặt và trong thời gian im lặng đó, giữa hai nốt nhạc rất hùng hồn, rất thấm thía. Còn hay hơn có âm thanh nữa.“Thử thời vô thanh thắng hữu thanh.” Thử thời là bây giờ, vô thanh là không có âm thanh. Không có âm thanh mà hay hơn là có âm thanh. Trịnh Công Sơn đã thấy được điều đó. Ngồi với bạn bè không cần nói năng gì, chỉ cần có sự thông cảm và hưởng sự có mặt của nhau là đủ rồi. Tôi nghĩ sự an ủi lớn nhất của Trịnh Công Sơn là những giờ phút ngồi với bạn bè. Nhưng nếu bạn không biết ngồi chỉ biết uống rượu thôi thì những giây phút đó không còn quý nữa.

(Trích từ pháp thoại “Thông điệp thương yêu của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Lòng hôm ấy sẽ là lòng muôn thuở

Anh Chân Văn và chị Chân Huyền được Sư Ông Làng Mai truyền đăng năm 2003. Anh chị đã cùng với tăng thân Montreal, Canada thành lập Làng Cây Phong từ năm 1985, và hiện đang là thành viên nòng cốt của tăng thân xóm Dừa tại Nam California. Trong khóa tu 21 ngày tại Làng Mai năm qua, BBT có cơ hội được ngồi chơi và nghe anh chị chia sẻ những kỷ niệm với Sư Ông và những ảnh hưởng của Sư Ông đến cuộc đời của anh chị. BBT xin được trích đăng dưới đây.

Thầy đã giúp cho tôi thay đổi

Anh Chân Văn: Rất khó để nói trong cuộc đời có một người nào đó ảnh hưởng đến mình, làm cho mình thay đổi. Một trong những điều quan trọng nhất tôi trực tiếp nhận từ Thầy là qua Thầy tôi mới bắt đầu hiểu đạo Bụt. Trước đó, tôi đã học về Phật giáo, tự học cũng như học ở chùa, ở đại học, nhưng đến khi gặp Thầy thì tôi nhận ra rằng: Ồ, thì ra Phật giáo là như vậy.

Trước năm 1963, tôi được đọc cuốn Đạo Phật ngày nay của Thầy, do sinh viên Phật tử ở Paris in. Đây là lần đầu tiên tôi đọc sách Thầy. Trước đó, khi nghe nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh nhắc đến ‘thầy Nhất Hạnh’ và sách thầy viết về Duy thức học, tôi chỉ thấy Thầy “có vẻ nổi tiếng và được nhiều người kính trọng”. Đọc cuốn Đạo Phật ngày nay, tôi thấy những điều mình biết trước đó không có ích lợi gì cả, tâm tôi được đánh động. Nó không phải là những hiểu biết mới, nó là một thứ chuyển động trong tôi. Lúc đó tôi mới hiểu: “À, có một cách để đi vào đạo Phật, nó khác với những gì mình đã học”. Bởi tôi học Việt-Hán nên tôi biết chữ Hán một chút, khi tụng đọc tôi có thể hiểu các kinh. Nhưng rồi tất cả những hiểu biết đó không ích lợi gì nếu không đưa mình tới quyết tâm tu tập.

Năm 1964, tôi vào Viện Cao đẳng Phật học. Tôi ghi tên khóa đầu tiên và học một lớp Thầy dạy – lớp Phật giáo Đại cương. Trong lớp đó, khi học về Tứ Diệu Đế, Thầy cho sinh viên một bài tập về nhà. Đó là thực tập về Khổ đế. Lần đầu tiên ở đại học Việt Nam có một thầy giáo (là Thầy) ra bài tập làm ở nhà là bảo sinh viên đi săn sóc người bệnh ở nhà thương để tiếp xúc với cái khổ. Năm đó, tôi được văn phòng nhà trường xếp cho đi thăm một bệnh nhân tại bệnh viện Chợ Rẫy. Tôi đến, gặp một em bé chừng mười bốn tuổi bị cụt chân, em tên Tuấn, người Quảng Ngãi. Tôi mang quà tặng em và ngồi nói chuyện với em, mỗi tuần vài lần, kéo dài trong nhiều tuần lễ. Bài tập Thầy giao về nhà là như vậy. Cuộc tiếp xúc với em Tuấn đã thay đổi tôi rất nhiều. Đó là lần đầu tiên tôi thấy như chiến tranh ở trước mặt mình. Trước đó, anh tôi mất vì chiến tranh; tôi cũng đưa đám mấy người bạn chết vì chiến tranh. Nhưng trong tôi, chiến tranh vẫn là cái gì đó ở xa lắm. Chỉ đến khi gặp em Tuấn, nghe kể chuyện, một em bé rất quê mùa, hoàn toàn không biết gì ngoài ngôi làng mình ở, không biết cả tỉnh Quảng Ngãi như thế nào, không biết chuyện vì sao có chiến tranh ở Việt Nam… Nhưng nhờ gặp em, tôi mới hiểu được người dân thực sự đang sống thế nào.

Ngay sau đó, tôi đi tham dự các công tác xã hội giúp đồng bào, cho nên không thiết tha đi học để lãnh bằng cấp gì nữa. Đang học chương trình Cử nhân Văn khoa, tôi bỏ luôn. Trường Cao đẳng Phật học, tôi cũng nghỉ, vì không có thì giờ tiếp tục nữa. Ngoài việc dạy học, tôi chỉ đi làm những công việc thiện nguyện.

Mùa thu năm 1964, có bão lụt lớn ở miền Trung, cả nước xúc động, chúng tôi họp nhau bàn một chương trình giúp người bị nạn. Cùng một số bạn hoạt động trong các hội đoàn thanh niên ở Sài Gòn, mười anh em chúng tôi đã cổ động sinh viên, học sinh và thanh niên đi công tác. Một vài người đến gặp ông Bộ trưởng xã hội, nói rằng: “Có hàng ngàn sinh viên tình nguyện mang đồ cứu trợ đến tại chỗ giúp đồng bào miền Trung, các ông có dám giao cho chúng tôi không?”. Ông Bộ trưởng xã hội bảo: “Tốt lắm! Nếu các anh đi được thì chúng tôi giao hết cho các anh. Các anh mang thực phẩm, quần áo, giày dép, chăn mền phát cho người dân miền Trung bị lũ lụt”. Ba bốn đoàn thanh niên chúng tôi đi các tỉnh từ Quảng Ngãi xuống tới Tuy Hòa, đi vào vùng lụt lội, sống ở đó cả tháng trời. Đó cũng là lần đầu tiên tôi trông thấy xác chết vì chiến tranh ngay trước mắt. Đoàn của tôi đi từ Quy Nhơn ra đến Bồng Sơn, làm việc tại bốn quận. Trong khi di chuyển, trên xe, chúng tôi luôn luôn phải lo không biết có mìn, hố hay không, có bị phục kích hoặc bắn lẻ không!

Có lẽ cuộc gặp gỡ với em Tuấn đã đánh thức cho tôi về chiến tranh Việt Nam, và từ năm đó tôi làm thơ về chiến tranh Việt Nam. Thành ra, một bài thực tập về Khổ đế mà Thầy giao cho đã thay đổi đời sống của tôi trong những năm 1964. Tôi làm việc xã hội trong nhiều đoàn thể, tôi cũng là một huynh trưởng Hướng Đạo. Rồi tới một lúc, tôi thấy: “tất cả những việc mình làm như đi cứu trợ lũ lụt hay đi xây nhà cho đồng bào tị nạn,… những việc đó chỉ là nhất thời. Còn muốn giúp thực sự cho xã hội mình phải tham gia công tác lâu dài”. Trường Thanh niên phụng sự xã hội là một môi trường như thế. Thầy Thanh Văn đã đến nhà tôi kêu gọi hãy giúp trường, khoảng sau Tết Mậu Thân, năm 1968. Từ đó, tôi chuyển sang làm việc cho trường Thanh niên phụng sự xã hội, với thầy Thanh Văn, anh Chân Lễ Lê Nguyên Thiều, anh Nguyễn Văn Thuất, chú Châu Văn Thọ. Cho đến năm 1975, Thầy vẫn là giám đốc trường Thanh niên phụng sự xã hội. Còn chức Giám đốc điều hành là thầy Thanh Văn, sau đó được thầy Châu Toàn, thầy Từ Mẫn kế nhiệm.

Do ảnh hưởng của Thầy nên đời sống của tôi trong thời gian đó đã thay đổi. Nhưng phải nói đến giai đoạn chót, tức là lúc di cư ra nước ngoài, tôi lại nhận được ảnh hưởng của Thầy lần nữa.

Tôi nhớ khoảng cuối năm 1975 hay 1976, sư cô Chân Không hay Thầy có gửi thư đến Montréal cho tôi, gọi tôi sang Singapore để giúp con tàu vớt người trên biển. Lúc đó tôi không đi được, một phần vì tôi mới qua Canada chưa có quốc tịch, con tôi mới một tuổi, nhà tôi là Quyên (tức Chân Huyền) lại chưa đi làm, tôi là người duy nhất trong nhà đi làm nuôi vợ con. Nhưng sau đó công tác cứu người vượt biển của Thầy cũng phải ngưng vì chính quyền các nước Đông Nam Á ngăn cản.

Năm 1983, chúng tôi lại nhận được thư Thầy, bảo Quyên và tôi xuống gặp Thầy tại Mount Tremper, ở New York. Thầy đang hướng dẫn một khóa thiền tập cho người Mỹ ở đó. Tôi còn nhớ lúc chúng tôi gặp Thầy, câu đầu tiên Thầy hỏi là: “Các cháu đâu?”. Tôi đã rất ngạc nhiên, không nghĩ rằng Thầy sẽ hỏi câu đó. Nhưng Thầy thì mình biết, mỗi câu nói của Thầy đều có suy nghĩ trước và đều có tác dụng. Bài học Thầy dạy tôi hôm đó là hãy lo cho các con; chuyện tu học không phải là chuyện của một mình mình mà là chuyện của cả gia đình.

Đó là bài học đầu tiên tôi nhận được từ Thầy, trong cuộc gặp gỡ đó.

Bài học thứ hai, cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ lời Thầy dạy, mà vẫn chưa làm theo được. Một ngày ngồi nói chuyện với Thầy, Thầy bảo tôi một câu: “Anh Toàn, mình không cần phải đọc nhiều sách quá!” Khi nói chuyện, Thầy đã nhìn ra ngay anh này là con ‘mọt sách’. Thú thật là từ năm 1983 cho tới giờ tôi chưa hoàn toàn vâng lời Thầy. Tôi vẫn giữ thói quen đọc nhiều. Có lẽ do nghề nghiệp của tôi là phải viết, cho nên đọc cũng là một cách kích thích giúp cho mình muốn viết và viết dễ hơn.

Nhưng tôi nhớ mãi lời Thầy khuyên: “không cần đọc nhiều quá”, nghĩa là đừng chất chứa quá nhiều thứ vào đầu! Đó vẫn là một điều tôi phải thực tập mãi mãi. Cũng may là tôi hay quên, đọc xong rồi quên, không chứa nhiều thứ trong đầu quá. Nhưng sau khi nghe lời khuyên của Thầy, từ đó tôi cũng thay đổi. Việc đọc sách báo của tôi có tính chất “giải trí” để tự kích thích trong nghề viết; giống như có người muốn viết thì phải ra ngắm trời ngắm đất để lấy cảm hứng. Bây giờ mình đã có máy móc hiện đại để chứa hết các dữ liệu rồi, mình không cần phải nhớ nhiều nữa.

Nhưng một thay đổi lớn trong tôi, sau khi gặp Thầy năm 1983 và cùng gia đình qua ở Làng Mai mùa hè năm 1984, là cách nhìn cuộc đời đã thay đổi khi mình thực tập sống với cái quán chiếu. Ảnh hưởng rõ rệt nhất là dần dần cách viết của tôi thay đổi. Thực tập sống tỉnh thức, khi cầm bút viết mình bắt đầu quán chiếu tâm mình và tâm của người đọc. Tự nghĩ rằng cái này viết ra người đọc sẽ thấy gì, họ nhận được như thế nào, làm như vậy có ích lợi gì cho họ không, xã hội có được ích lợi gì hay không? Cái tâm chuyển biến khiến văn phong bắt đầu thay đổi, từ từ, trong nhiều năm. Từ đó trở đi tôi thấy cách mình nhìn cuộc đời, cách nhìn các vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế cũng thay đổi. Bởi mình đã biết tập quán chiếu, quán chiếu mình và quán chiếu người. Lắm khi, con người mình thay đổi hồi nào mà mình không hay, vì sự thay đổi diễn ra chầm chậm, nó thể hiện trong cách mình viết, ngôn ngữ mình dùng cho tới các ý tưởng, phán đoán của mình, mà chính mình không biết mình đang thay đổi. Phải tới một ngày, có những người đọc văn tôi và nêu ra nhận xét của họ tôi mới nhận ra cách viết của mình đã khác trước. Khi đó, mình có ý thức hơn, quán chiếu cẩn mật hơn mỗi khi ngồi trước bàn máy để viết.

Nếu tôi không được gặp Thầy, không được nghe Thầy giảng về sự thực tập chánh niệm, thì tôi sẽ không có được sự thay đổi về cách nghĩ, cách sống và viết theo lối đó. Rõ ràng tôi thay đổi cách viết là nhờ tu tập theo Thầy.

Liều thuốc chánh niệm

Chị Chân Huyền chia sẻ: Trước năm 1975, trên thị trường, sách của Thầy có cuốn nào là Chân Huyền đọc cuốn đó và đọc rất say mê, trừ cuốn Duy thức học vì khó quá. Sau năm 1975, khi sang đến Canada, việc đầu tiên là Chân Huyền liên lạc với nhà xuất bản Lá Bối để thỉnh mua tất cả những cuốn sách bị bỏ lại khi di tản. Và cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức là cuốn sách đã cứu mạng Chân Huyền.

Sang Canada được ba năm, nhờ may mắn, Chân Huyền mở được tiệm thuốc riêng. Tất nhiên, Chân Huyền phải làm việc rất nhiều, vội vã và căng thẳng. Chân Huyền không thích thuốc an thần, nhưng lúc đó đã bắt đầu phải uống thuốc để có thể làm việc mười tiếng một ngày, rồi về lo cơm nước cho gia đình. Cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức Chân Huyền thỉnh về từ năm 1976 – 1977, để ở đầu giường và lật ra đọc. Khi ấy, Chân Huyền cũng không hiểu quán niệm khác với chánh niệm là như thế nào. Tất cả các danh từ trong cuốn sách ấy đều rất lạ lùng.

Trong ba mươi mốt bài thực tập, chỉ có một bài Chân Huyền có thể theo được, là mỗi tuần dành một ngày để sống thong thả, tức là sống có chánh niệm. Chân Huyền không biết sống có chánh niệm là gì nhưng hiểu là làm đến đâu thì làm, không cần phải lo, không cần phải cố gắng. Chân Huyền áp dụng bài đó. Mỗi Chủ nhật, thay vì nấu ăn cho ngon, mời bạn bè đến thì Chân Huyền bỏ, không làm nữa. Ngày Chủ nhật là ngày thong thả. Giặt quần áo đến đâu thì giặt, không cần phải giặt hết, lau nhà cũng không cần phải lau cho hết các phòng, sống cho thong thả, đến chiều thì cả nhà cùng đi ăn tiệm, không phải nấu vì nấu ăn cũng mất rất nhiều thì giờ. Trước đó, Chân Huyền đã phải uống một tuần hai viên thuốc an thần. Ba tháng sau khi áp dụng bài tập “ngày Chủ nhật sống thong thả” thì bỗng nhiên thấy mình không cần phải uống thuốc mà ra tiệm vẫn làm việc bình tĩnh được. Đó là bài học đầu tiên Chân Huyền học trong sách. Sau đó thì không bao giờ Chân Huyền đụng đến thuốc nữa.

Năm 1982, Chân Huyền bị mất ngủ liên miên, một người bạn rất thân của gia đình đã qua đời vì tự tử, đó là một cú sốc rất lớn cho hai vợ chồng. Khi mới sang Canada, anh ấy là người bạn thân nhất, thường tới giúp gia đình Chân Huyền đủ mọi thứ. Từ chuyện tìm kế sinh sống ở nước ngoài cho tới khó khăn về tâm lý, anh ấy cũng là chỗ cho mình tâm sự. Vậy mà lúc anh ấy có chuyện, mình lại không biết để giúp đỡ. Anh ấy rất kín đáo. Anh là một người rất đáng quý, rất dễ thương, nhưng lại coi nhẹ đời sống, khi có vấn đề thì anh tự kết liễu đời mình. Chiều hôm đó, anh đến nhà chơi với các cháu, dùng cơm chung, rồi đêm về nhà tự kết liễu cuộc đời. Chân Huyền rất ân hận là tại sao một người thân và quý của mình như vậy mà mình không hiểu gì về họ trong lúc họ gặp khó khăn.

Hai vợ chồng Chân Huyền bị sốc rất nặng, rất đau khổ, nên cứ đêm là Chân Huyền thức dậy lúc hai, ba giờ sáng. Chân Huyền bắt đầu đọc lại cuốn Nẻo vào thiền học của Thầy, thấy đoạn rửa chén cũng là thiền, quét nhà cũng là thiền thì sướng quá. Một buổi sáng thức dậy sớm, Chân Huyền mới mạo muội viết cho Thầy một lá thư, xin phép Thầy để được qua thăm vào một mùa hè nào đó để học thiền rửa chén và thiền quét nhà. Chân Huyền cũng biết là Thầy rất bận cho việc viết sách, đóng sách,… Hồi đó, Thầy được phong là “ông đạo đóng sách”. Thật bất ngờ, chỉ một tuần sau Chân Huyền nhận được thư của Thầy. Thầy trả lời thư, lá thư dài tới hai trang. Thầy bảo Chân Huyền “chị có tới ba thiện tri thức trên con đường tập thiền, phải không. Việc nuôi dạy các cháu là việc quan trọng nhất, căn bản nhất. Tương lai của nhân loại tùy thuộc ở nơi đó. Nếu anh chị chăm chú thì sẽ học được rất nhiều nơi các cháu. Đó là những thiền sư ‘authentiques’ (thứ thiệt) nhất. Tôi đang lập Làng Hồng, khi nào xong mời anh chị và các cháu về chơi, chúng ta cùng ngồi thiền. Nhưng năm tới tôi sang dạy cho người bản xứ, tôi sẽ thu xếp để chị có thể tới gặp tôi một buổi”. Thầy rất chu đáo. Vì thế nên có cuộc gặp gỡ với Thầy vào năm 1983 ở Mount Tremper, ngày Thầy được rảnh trong chương trình “làm biếng”. Thầy tiếp hai vợ chồng Chân Huyền từ sáng tới chiều tối.

Chuyện Thầy ảnh hưởng tới Chân Huyền thì rất nhiều, ngoài hai cuốn sách Phép lạ của sự tỉnh thức và Nẻo vào thiền học. Chân Huyền nhớ rất rõ là với anh Toàn thì Thầy dạy đừng đọc nhiều quá; còn với Chân Huyền thì Thầy dạy: “Đừng quá lo lắng về các cháu. Các cháu có dòng máu Việt trong người, khi lớn lên các cháu sẽ có văn hóa Việt. Chị đừng lo quá!”. Chân Huyền chưa nói gì về con cái nhưng Thầy đã nói trước rồi. Thầy đọc được sự lo lắng trong mắt Chân Huyền. Năm đó cũng là lần đầu tiên được gặp thầy Giác Thanh. Thầy Giác Thanh là người Thầy gửi gắm hướng dẫn cho vợ chồng Chân Huyền đi thiền hành. Hôm đó, cảm được năng lượng thương yêu, ân cần và từ bi của Thầy, Chân Huyền rất cảm động.

Lúc mới tới Chân Huyền mặc chiếc áo mưa, Thầy bảo: “Chị bỏ áo ra, tôi cất vào đây cho”. Chân Huyền thưa: “Thưa Thầy, con lạnh”. Lúc Chân Huyền đi ra ngoài để tập thiền hành với thầy Giác Thanh, Thầy đứng lên lấy áo và mũ của Thầy đưa cho Chân Huyền mặc. Thầy nói: “Bên ngoài lạnh lắm, chị mặc thêm áo cho khỏi lạnh”. Thế là Chân Huyền khoác áo măng-tô và đội mũ của Thầy. Chân Huyền còn bức hình đó. Vậy nên cứ lút cút theo Thầy cho tới giờ này (cười).

Nhưng có một công án Thầy trao cho Chân Huyền từ khi mới nhận giới Tiếp Hiện. Thầy qua Montreal, Canada hướng dẫn khóa tu 5 năm liền, từ 1985 cho đến 1989, mỗi năm Thầy đều tới, đó là một đặc ân Thầy dành cho người Việt ở Canada. Thầy rất hay ở nhà Chân Huyền, trước và sau khóa tu. Ba, bốn giờ sáng Thầy thức dậy thì Chân Huyền cũng dậy theo và đi xuống mang trà lên để Thầy dùng. Thầy lại bảo ngồi đây uống trà với Thầy. Có một hôm, khi vừa thọ giới Tiếp Hiện, ngồi uống trà cùng Thầy, Thầy nhìn thẳng vào mặt Chân Huyền và nói: “Chân Huyền”, thì Chân Huyền nói: “Dạ”. Thầy nói tiếp: “Thiền tập không phải chỉ để sống đỡ căng thẳng đâu nhé!”. Chân Huyền chỉ biết dạ vì lúc đó Chân Huyền cũng sợ lắm, không dám hỏi thêm Thầy một câu gì nữa. Câu đó làm cho Chân Huyền biết là chỉ có thực tập thôi, để rồi xem Thầy nói thế nghĩa là gì.

Và sự thực tập chánh niệm, dù mình còn nhiều lên xuống, khi thì nhớ thực tập, khi thì không, nhưng mình nhớ chút chút mình cũng đã thấy hạnh phúc nhiều hơn trước, gia đình êm ấm hơn. Và dần dần mình mới hiểu thêm câu nói của Thầy, rằng chánh niệm giúp mình những gì. Điều chính là chánh niệm giúp mình thấy được hạnh phúc từ trong tâm, không cần lời khen của ai, không cần phải mua bán hay đạt được một thứ gì hết. Mình có hạnh phúc khi mình biết thở, mình biết thực tập. Đó là điều giúp cho Chân Huyền lúc nào cũng hăng hái trong sự thực tập, nhất là bên cạnh thì có tăng thân Làng Cây Phong, và sau này thì có tăng thân Xóm Dừa ở California.

Chân Văn – Chân Huyền

Gia sản văn hóa Việt Nam đóng góp được gì cho hòa bình thế giới – phần I

(Pháp thoại của Thiền sư Nhất Hạnh ngày 10.03.2005 tại Trung tâm văn hóa Liễu Quán, Huế)

 

https://www.youtube.com/watch?v=F4hue0yC7Jk&list=PLMG8i-w8rYWm-hwFeM-HD9YE02FNqLty2&index=8

 

Đạo Phật Việt Nam có những bản sắc riêng, mang theo nhiều yếu tố của văn hóa dân tộc. Đạo Phật Việt Nam có một đức Quan Âm rất Việt Nam, là đức Quan Âm Thị Kính, đó là một cống hiến của Phật giáo Việt Nam cho Phật giáo thế giới. Trong kinh Phổ Môn, chúng ta nghe rằng tình thương được biểu hiện ra nhiều hình thái. Dù dưới nhiều hình thái khác nhau nhưng nếu có con mắt quan sát, chúng ta có thể nhận diện được đó là biểu hiện của tình thương. Quan Âm là tình thương, chúng ta rất cần tình thương. Vậy nên chế tác nuôi dưỡng tình thương là sự thực tập.

Quan Âm là tình thương, là khả năng lắng nghe, hiểu, chấp nhận, thương yêu và cứu độ. Avalokiteśvara (hay Avalokiteśhvara) là tên đức Quan Âm bằng tiếng Phạn. Avalokita nghĩa là người có khả năng nhìn sâu và lắng nghe một cách sâu sắc để có thể hiểu và thương, để có thể chấp nhận. Eśvara nghĩa là người đã đạt tới tự do, tự tại. Avalokiteśvara dịch theo người xưa là Quan Thế Âm nhưng trong những thế kỷ gần đây, từ thế kỷ thứ bảy dịch là Quán Tự Tại. Nhờ có sự quán sát sâu sắc, có sự lắng nghe sâu sắc mà mình đạt tới cái hiểu và cái thương, làm cho mình thật sự trở thành một con người tự do.

Xin các thầy và các sư cô Làng Mai xướng tụng danh hiệu Nam mô Bồ Tát Quan Thế Âm bằng tiếng Phạn để bắt đầu buổi nói chuyện ngày hôm nay. Các thầy và các sư cô sẽ xướng tụng không phải chỉ bằng miệng mà bằng trái tim. Trước hết thầy Pháp Niệm sẽ xướng bài tán dương đức Quan Thế Âm bằng tiếng Việt:

 Đầu cành dương liễu vương cam lộ
Một giọt mười phương rưới cũng đầy
Bao nhiêu trần lụy tiêu tan hết
Đàn tràng thanh tịnh ở ngay đây

Sau đó đại chúng sẽ cùng xướng tụng danh hiệu Nam mô Bồ Tát Quan Thế Âm bằng tiếng Phạn, Namo Avalokiteśvara. Chúng ta được mời tham dự, không phải là để tụng theo, nhưng để có mặt đích thực trong giây phút hiện tại. Nếu chúng ta có những căng thẳng, những đau nhức trong cơ thể, chúng ta có thể ngồi thoải mái và buông thư để cho năng lượng của tình thương đi vào thì những đau nhức, những căng thẳng đó sẽ biến mất.

Nếu chúng ta có những nỗi khổ, niềm đau trong lòng mà chưa chuyển hóa được, chúng ta có thể mở trái tim ra, cho năng lượng của tăng thân, cũng như năng lượng của đức Bồ Tát đi vào trong người của mình, để nhận diện ôm ấp và chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau đó.

Nếu chúng ta có một người thân đang bị bệnh, nằm ở nhà thương hoặc một nơi nào đó không đến được, chúng ta muốn truyền năng lượng tốt đẹp này về cho người đó thì chúng ta chỉ cần nghĩ tới người đó, hình dung tới người đó hoặc là gọi tên người đó một cách thầm lặng thì năng lượng này sẽ được truyền về nhanh chóng. Điều kiện thành công của sự thực tập là có mặt thật sự thân và tâm trong giây phút hiện tại. Buông thư để cho năng lượng của đức Bồ Tát có cơ hội thấm vào cơ thể và tâm hồn của mình. Xin mời chư vị Tôn đức, quý vị Phật tử, quý vị quan khách nghe chuông và thực tập theo dõi hơi thở.

Thở vào tôi biết rằng mình đang còn sống.
Thở ra tôi mỉm cười với sự sống trong tôi và chung quanh tôi.

Con cái ở đâu thì ông bà ở đó

Tôi có biết một anh chàng họa sĩ người Huế sống ở Hoa Kỳ. Ngày xưa anh đã rời quê hương một cách rất khó khăn. Anh ta xin làm bồi trên một chiếc tàu thủy để có thể đi qua một nước Tây phương và nghĩ rằng mình sẽ có tương lai ở đó. Vào đêm anh từ giã bà mẹ, hai mẹ con khóc. Bà cụ là một phụ nữ Huế, không biết đọc, không biết viết, nhưng bà đã dặn đứa con trai như thế này: Này con, khi mà con sang bên nớ, mỗi khi thấy nhớ mẹ nhiều lắm, con đưa bàn tay lên, con nhìn bàn tay con cho kỹ, con sẽ thấy bớt nhớ mẹ. Trong suốt mấy mươi năm ở bên Mỹ, không có cơ hội trở về Việt Nam, anh ta thường đưa bàn tay lên để nhìn ngắm theo lời bà mẹ căn dặn. Anh cảm thấy được an ủi rất nhiều. Cố nhiên bà mẹ Việt Nam đó chưa bao giờ học triết học, chưa từng học khoa học nhưng bà có tuệ giác của cha ông để lại, bà biết rằng: Mình có mặt trong bàn tay của đứa con trai mình.

Chúng ta biết rằng tất cả những gia tài di truyền của tổ tiên mà ông bà cha mẹ chúng ta đã tiếp nhận đang có mặt đích thực trong từng tế bào của cơ thể mình. Đó là một sự thật, rất khoa học. Tất cả những kinh nghiệm, trí tuệ, hạnh phúc của tổ tiên, của ông bà, của cha mẹ đã được trao truyền cho chúng ta. Tất cả những khổ đau, những khó khăn, những bức xúc của tổ tiên, ông bà, cha mẹ cũng đã trao truyền cho chúng ta. Tổ tiên chúng ta, kể cả thế hệ tổ tiên trẻ nhất là cha mẹ đang có mặt một cách đích thực trong từng tế bào của cơ thể. Bà mẹ kia tuy không biết triết học, không biết khoa học, nhưng đã đạt được tuệ giác đó: Này con, mỗi khi con nhớ mẹ, con chỉ cần đưa tay lên nhìn thì con sẽ thấy đỡ nhớ. Bà không nói rõ nhưng lời dặn dò đó đã ẩn chứa ý nghĩa: Mẹ đang có mặt trong từng tế bào cơ thể của con. Sự thật khoa học đó hiện bây giờ đã được mọi người chấp nhận.

Chúng ta thường hay nói với nhau: Con cái ở đâu thì ông bà ở đó. Điều này cũng là một sự thật rất khoa học. Ông bà đi theo con cái, không phải là đi sau lưng hoặc bên phải hoặc bên trái hoặc trước mặt mà ông bà đi theo ngay trong từng tế bào của cơ thể của mình. Chúng ta đi đâu là chúng ta đem tổ tiên, ông bà đi theo đó. Điều đó có thể hiểu một cách rất là khoa học. Chúng ta đi Mỹ thì tổ tiên đi Mỹ. Chúng ta đi Hòa Lan thì tổ tiên đi Hòa Lan. Chúng ta đi Úc thì tổ tiên đi Úc. Chúng ta lên Thiên Đường thì tổ tiên sẽ lên Thiên Đường. Chúng ta xuống địa ngục, tổ tiên cũng sẽ xuống địa ngục với chúng ta.

Những con ma đói của thời đại

Xã hội của chúng ta trong cuối thế kỷ thứ hai mươi và đầu thế kỷ hai mươi mốt, con người có cảm tưởng là mình mất gốc, mình cảm thấy bơ vơ, lạc loài, mình không thấy được sự liên hệ giữa mình và tổ tiên, ông bà cha mẹ mình. Có những người trai trẻ lớn lên giận cha, giận mẹ, phủ nhận văn hóa của mình, phủ nhận dân tộc, đất nước của mình vì họ đã gánh chịu quá nhiều khổ đau. Có những thanh niên Tây phương khi giận cha tới mức có thể tuyên bố như thế này: Ông đó hả! Tôi không có muốn có gì liên hệ tới ông đó hết! Nói như vậy không có nghĩa là những người thanh niên Việt Nam có ý nghĩ và lời nói như vậy. Khi mình cảm thấy rằng những đau khổ của mình là do cha mẹ mình gây ra thì mình thù hận cha mẹ và không muốn có liên hệ gì tới cha mẹ nữa. Đó là những con người phóng thể, những con người không có gốc rễ. Khi chúng ta không có gốc rễ, chúng ta không thể nào có hạnh phúc được.

Thời đại chúng ta đã chế tạo ra không biết bao nhiêu con ma đói. Những con ma đói bằng xương bằng thịt đàng hoàng. Nó đi trong xã hội, đi trong cuộc đời, đi kiếm một chút hiểu và một chút thương, đi kiếm một nơi nương tựa nhưng hoàn toàn bơ vơ. Chúng ta chỉ cần bỏ một chút thì giờ nhìn quanh là nhận diện ra được những con ma đói đó. Đói ở đây không phải đói cơm hay đói áo mà là đói hiểu biết và đói tình thương. Cái hiểu đó, cái thương đó gia đình đã không cung cấp được cho họ.

Họ không tin vào hạnh phúc gia đình. Họ nghĩ rằng hạnh phúc gia đình là một ảo tưởng, là một cái không bao giờ có. Từ khi sinh ra, họ chưa bao giờ thấy ở trong gia đình có hạnh phúc. Cha làm khổ mẹ, mẹ làm khổ cha, cha đay nghiến mẹ, mẹ đay nghiến cha. Tất cả những cái đó đã gây ra những vết thương rất sâu đậm nơi người con trai, người con gái. Khi giữa cha mẹ không có truyền thông, giữa cha con không có truyền thông, cha không nhìn mặt con được, con không nói chuyện với cha được, làm sao có hạnh phúc? Gia đình không phải là chỗ người trẻ muốn trở về. Người trẻ đi tìm quên lãng ở những lĩnh vực khác. Người trẻ sa vào hầm hố của tội ác, tội phạm, ma túy, trác táng.

Ở Pháp, mỗi ngày có khoảng ba mươi ba thanh niên tự tử. Họ tự tử không phải là vì thiếu cơm thiếu áo mà vì họ lâm vào trạng thái tuyệt vọng. Trong cuộc đời của họ, chưa bao giờ họ tiếp nhận được hiểu và thương từ gia đình, từ xã hội. Cuộc sống đối với họ không có một ý nghĩa nào hết. Họ nghĩ rằng muốn chấm dứt khổ đau, phương pháp duy nhất còn lại của họ là chấm dứt cuộc đời mình. Mỗi ngày ba mươi ba thanh niên Pháp tự tử, con số đó hơi nhiều đối với tôi. Các nước khác ở Âu châu tình trạng cũng tương tự. Tôi không biết tại Việt Nam mỗi ngày có bao nhiêu thanh niên Việt Nam tự tử? Bao nhiêu gia đình, trong đó cha không truyền thông được với mẹ, con không truyền thông được với cha và mọi người trong gia đình không cảm thấy có hạnh phúc? Con số đó càng ngày càng tăng, tỉ số những cặp vợ chồng ly dị ngày càng tăng. Ở Hòa Lan, nghe nói rằng tỉ số những cặp vợ chồng ly dị trên năm mươi phần trăm. Cấu trúc gia đình ở tại xã hội Tây phương bây giờ rất lỏng lẻo và mong manh. Cấu trúc đó có thể tan rã bất cứ lúc nào.

Ngày xưa chúng ta có một gia đình vững chãi hơn nhiều. Khi có những khó khăn ở trong gia đình, mình có thể chạy sang nhà ông chú, bà thím, ông bác để tỵ nạn, sau đó chúng ta có thể trở về nhà được. Nhưng bây giờ gia đình trở thành nhỏ xíu, mỗi gia đình sống ở một căn hộ nhỏ hẹp trong chung cư. Những gia đình đó được gọi là gia đình hạt nhân, nuclear family, rất là nhỏ, chỉ có hai vợ chồng, một đứa con hoặc hai đứa con.

Khi mình cảm thấy không nương tựa được vào gia đình, không có gốc rễ trong gia đình, không có gốc rễ trong truyền thống tâm linh, không có gốc rễ trong xã hội và văn hóa của đất nước thì mình trở thành một con ma đói. Xã hội Tây phương hiện giờ sản xuất rất nhiều con ma đói. Trung tâm tu học của chúng tôi ở tại Pháp quốc và Mỹ quốc luôn luôn tiếp nhận những con ma đói. Không khó khăn gì hết, mình chỉ nhìn họ một phút đồng hồ là biết rằng đó có phải đích thực là ma đói hay không. Nhìn cách họ đi, cách họ ngồi, cách họ nhìn, cách họ nói chuyện là mình có thể biết được họ có phải là ma đói hay không. Họ đói tình thương, đói hiểu biết và họ hoàn toàn bơ vơ.

Tu tập để làm gì?

Trong những năm hành đạo ở tại Tây phương, chúng tôi đã giúp không biết bao nhiêu người Tây phương trở về được với gia đình của họ, tái lập lại được truyền thông với cha mẹ và xây dựng lại được tình thân ở trong gia đình. Chúng tôi đã giúp cho vô số những cặp vợ chồng, cha con, mẹ con hòa giải được với nhau. Chúng tôi đã sử dụng những yếu tố của văn hóa Việt Nam để làm chuyện đó. Tôi nói với một người thanh niên: Anh muốn nói rằng anh không có liên hệ gì với cha của anh, điều đó rất là buồn cười. Nếu có thì giờ, anh nhìn lại một chút xíu, anh thấy rõ ràng anh là sự tiếp nối của cha anh, anh chính là cha anh đó. Anh hãy nhìn một hạt bắp mà người ta mới gieo xuống đất, năm ngày sau hạt bắp sẽ nẩy mầm và có một cây bắp con biểu hiện với hai ba lá.

Khi cây bắp con biểu hiện ra rồi, mình không thấy hình tướng của hạt bắp nguyên sơ nữa. Hạt bắp coi như đã chết để cho cây bắp được sinh ra, nhưng mà kỳ thật hạt bắp đâu có chết, hạt bắp chỉ luân hồi thành cây bắp. Không có cái chết, tự tánh của hạt bắp là vô sinh là bất diệt. Khi anh là người có trí tuệ, anh nhìn vào cây bắp, anh có thể thấy được hạt bắp, không phải với tướng cũ mà với tướng mới của nó. Cây bắp là sự tiếp nối của hạt bắp, cây bắp chính là hạt bắp. Khi cây bắp lên được một thước rưỡi, cây bắp có bông và hai trái bắp, đó cũng là sự tiếp nối của hạt bắp ban đầu. Khi nhìn cờ bắp và những trái bắp mới, ta phải thấy được hạt bắp ban sơ.

Cũng vậy, anh nhìn vào anh coi, anh sẽ thấy rằng anh là sự tiếp nối của cha anh, anh là sự tiếp nối của mẹ anh. Anh chính là cha anh, anh chính là mẹ anh. Đây là một sự thực hiển nhiên. Anh phải công nhận là cha anh, mẹ anh đang có mặt một cách rất hiện thực trong từng tế bào của cơ thể anh. Anh không thể nào lấy con người của cha anh ra khỏi con người của anh được. Anh không thể nào lấy mẹ anh ra khỏi con người của anh được. Như vậy, anh giận cha anh tức là anh giận chính bản thân anh. Anh không có nẻo thoát. Anh nên sử dụng những phương pháp của chúng tôi đề nghị để hòa giải với cha anh trong anh trước. Thật là vô vọng nếu anh muốn lấy cha anh ra khỏi anh. Đó là điều anh không thể nào làm được vì anh là sự tiếp nối của ba anh, anh chính là ba anh. Cho nên, anh không có con đường nào khác, chỉ có một con đường duy nhất là hòa giải với cha anh trong anh. Đó là phương pháp quán chiếu, thấy mình là sự tiếp nối của cha, thấy mình là cha. Có thể cha mình trong quá khứ, trong thời thơ ấu đã không được may mắn, đã bị bầm dập, đã không được thương yêu, không được chăm sóc. Do đó những vết thương của tuổi thơ nơi cha mình chưa bao giờ lành cả. Cha mình chưa có cơ duyên gặp được chánh pháp, gặp được một thầy, một sư cô hay một vị lãnh đạo tinh thần giúp cho cha có thể nhận diện vết thương, ôm ấp vết thương và chuyển hóa vết thương. Vậy nên cha mình đã trao truyền cho mình nguyên vẹn vết thương mà cha mình đã tiếp thu. Khi có niềm đau, nỗi khổ mà chúng ta không có biện pháp để trị liệu và chuyển hóa, chắc chắn chúng ta sẽ trao truyền niềm đau nỗi khổ đó cho con cháu chúng ta. Chắc chắn là như vậy.

Cho nên sự tu tập rất quan trọng. Tu tập để làm gì? Để nhận diện những niềm đau, nỗi khổ trong ta, để có thể trị liệu, có thể chuyển hóa và không tiếp tục trao truyền lại cho những thế hệ tương lai. Nếu mình là một người cha hay, một người mẹ giỏi, mình chỉ muốn trao truyền những cái hay cái đẹp, cái hạnh phúc của mình thôi. Muốn như vậy phải có sự tu tập. Nếu là một người thầy giỏi mình chỉ trao truyền những cái đẹp, những cái hay, những tuệ giác, những từ bi của mình thôi. Còn những yếu kém, những khổ đau mình phải biết ôm ấp, phải biết chuyển hóa, phải biết trị liệu trước khi mình trao truyền cho thế hệ tương lai.

Làm chính trị cũng tu được

Mỗi chúng ta đều có hai gia đình. Thứ nhất là gia đình huyết thống trong đó có ông bà cha mẹ. Di sản di truyền mà chúng ta tiếp nhận là từ cha mẹ, từ ông bà huyết thống nhưng mỗi chúng ta cũng còn có một gia đình tâm linh vì mỗi người trong chúng ta đều có chiều hướng tâm linh trong cuộc sống. Nếu không có chiều hướng tâm linh trong cuộc sống thì cuộc sống của mình sẽ khô cằn, nghèo đói, khổ đau. Vì vậy mỗi người chúng ta đều nên có một chiều hướng tâm linh trong cuộc sống hàng ngày của mình.

Giả sử vua Trần Thái Tông mà không có chiều hướng tâm linh trong đời sống, vua đã không thể nào trở thành một vị vua như đã trở thành. Năm hai mươi tuổi, vua bị thái sư Trần Thủ Độ bắt ép phải bỏ người yêu là công chúa Chiêu Hoàng để cưới người chị ruột của Lý Chiêu Hoàng vì Trần Thủ Độ nóng lòng muốn có sự kế tiếp cho dòng dõi nhà Trần. Thấy Lý Chiêu Hoàng lâu quá chưa có thai nên muốn phế Chiêu Hoàng để cho vua cưới người chị của Chiêu Hoàng đã có thai sẵn với An Sinh Vương Trần Liễu (An Sinh Vương Trần Liễu rất căm giận, về sau đã tổ chức hải quân để chống lại triều đình).

Trần Cảnh làm vua nhưng việc triều chính hoàn toàn do Trần Thủ Độ quyết định. Vua bị ép phải buông người yêu Lý Chiêu Hoàng ra để cưới người chị dâu làm vua đau khổ tột cùng. Vua đã bỏ ngai vàng tìm lên núi Yên Tử để xin xuất gia với thiền sư Viên Chứng. Sau mấy ngày tìm kiếm, Trần Thủ Độ phát hiện ra là vua đang ở trên núi và ông lên núi ép vua phải trở về. Ông dọa vị thiền sư rằng: Nếu thiền sư không khuyên vua về kinh thì ông sẽ thiết lập cung điện ngay trên núi.

Viên Chứng thiền sư đã tâu với vua Trần Thái Tông rằng: Bệ hạ trong khi làm vua vẫn có thể tu tập được, vẫn có thể có được một đời sống tâm linh. Bây giờ, dân muốn bệ hạ về thì bệ hạ không về sao được, bệ hạ cứ về đi, cứ làm vua đi, cứ đóng vai trò lãnh đạo chính trị cho đất nước. Nhưng bệ hạ vẫn có thể mỗi ngày nghiên cứu và thực tập giáo lý của đức Thế Tôn. Không phải chỉ ở trong núi mới tu được, ở kinh thành cũng tu được. Mình là nhà chính trị, mình cũng có thể vừa làm chính trị vừa tu. Đó là lời khuyên của quốc sư Viên Chứng ở núi Yên Tử. Nhớ lời quốc sư nên từ đó mỗi đêm, sau một ngày làm việc nặng nhọc về chính trị, quân sự, vua đều chong đèn lên để học kinh và ngồi thiền. Trần Thái Tông đã sáng tác nhiều tác phẩm, trong đó có một tác phẩm gọi là Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi để vua tự thực tập bằng nghi thức của mình. Vua đã thực tập bái sám và ngồi thiền sáu lần một ngày.

Nếu không có chiều hướng tâm linh đó, vua đâu có đủ sức mạnh để có thể hoàn tất được sứ mạng của một nhà chính trị như vậy. Nói một cách khác hơn, từ hồi hai mươi tuổi vua đã biết tu, vua đã biết đem vào trong đời sống của mình một chiều hướng tâm linh để có đủ sức mạnh đối phó với những khó khăn dồn dập cho một nhà chính trị còn trẻ thiếu kinh nghiệm. Nhờ đó mà vua chịu đựng được những đau khổ, vượt thắng được những khó khăn và trở thành một ông vua thành công trong lĩnh vực dựng nước, giữ nước và giáo dục quốc dân.

Chúng ta biết rằng mỗi chúng ta ngoài gia đình huyết thống, phải có một gia đình tâm linh. Nhờ gia đình tâm linh, chúng ta được nuôi dưỡng trong đời sống tâm linh của mình. Ta biết làm thế nào để nhận diện, ôm ấp, trị liệu, chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau của ta, ta mới có thể phục vụ được cho gia đình, quốc gia, xã hội một cách thành công, vững chãi, hữu hiệu.

Nếu chúng ta đọc sử thời Lý và Trần, chúng ta thấy rằng tất cả các vua Lý, các vua Trần đều có tu, đều có thực tập thiền. Các vị đó không đợi lớn tuổi, về hưu mới bắt đầu thực tập. Họ thực tập ngay từ khi còn ấu thơ. Ngay vua Trần Nhân Tông, vua thứ ba của triều Trần, từ hồi còn là chú tiểu đồng đã theo học với Tuệ Trung Thượng Sĩ. Tuệ Trung Thượng Sĩ tức là Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung, anh cả của tướng Trần Hưng Đạo. An Sinh Vương Trần Liễu trước khi chết có dặn dò các con của ông phải trả thù cho cha nhưng những người con của An Sinh Vương Trần Liễu đã không nghe lời cha. Từ Hoàng hậu Thiên Cảm cho đến Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung và Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, tất cả những người con của An Sinh Vương đều hết lòng phò tá triều đình trong công cuộc dựng nước, giữ nước và đánh đuổi ngoại xâm. Họ có một ý hướng đoàn kết rất mạnh. Nhờ ở sự thực tập đạo Phật đã giúp cho họ tha thứ được những lỗi lầm, chuyển hóa được nội kết, khổ đau, thù hận, để cùng nhau góp sức xây dựng một đất nước hùng mạnh, vững chãi, có khả năng chống lại với sự đe dọa của phương Bắc.

Tiếp nối và trao truyền

Tôi nhắc lại một vài sự kiện lịch sử trên để quý vị nhớ tới sự thật là mỗi chúng ta đều phải có hai gia đình, gia đình huyết thống và gia đình tâm linh. Gia đình huyết thống trao truyền cho mình bằng con đường huyết thống và gia đình tâm linh trao truyền cho mình bằng con đường văn hóa. Sự trao truyền bằng con đường văn hóa tâm linh cũng đi thẳng vào trong từng tế bào của cơ thể. Tây phương bây giờ ưa dùng hai danh từ đi đôi với nhau là nature và nurture. Nurture tức là sự nuôi dưỡng. Nature tức là tiên thiên và nurture là hậu thiên. Cha mẹ sinh ra mình với cái hình hài này tức là tiên thiên. Thầy mình trao truyền cho mình những yếu tố của nếp sống tâm linh đạo đức tức là hậu thiên. Cả hai đường lối trao truyền đều đi thẳng vào trong từng tế bào của cơ thể.

Tôi không có con cái huyết thống nhưng tôi có rất nhiều con cháu tâm linh. Không ngày nào mà tôi không trao truyền những gì tôi cho là hay nhất, đẹp nhất của cuộc đời tôi. Gia đình tâm linh của tôi là một gia đình rất lớn. Bất cứ một tư duy nào, một ngôn ngữ nào, một lời nói nào hay bất cứ một hành động nào đều là những phẩm vật để trao truyền.

Nếu tư duy của ta đi đôi được với trí tuệ và từ bi, với sự bao dung, với sự hòa ái thì tư duy đó là một phẩm vật trao truyền cho con cháu tâm linh. Nếu lời nói của ta đi đôi được với sự hòa ái, với tình thương và sự hiểu biết, đi đôi với sự an ủi và khả năng gây niềm hy vọng, niềm tin yêu thì lời nói đó là một phẩm vật trao truyền. Nếu như hành động của mình đi đôi với ý chí muốn bảo vệ sinh mạng, muốn cứu đời, giúp người thì hành động đó là một phẩm vật trao truyền.

Mỗi tư duy của tôi đều mang chữ ký của tôi thì tôi không thể nói: đó không phải là tư duy của tôi. Rõ ràng nó mang chữ ký của tôi, tôi không thể nào chối cãi: đó không phải là tư duy của tôi. Nếu tư duy mang tính tham sân si là một tư duy tiêu cực và nếu tôi trao truyền tính đó lại cho con cho cháu thì tội nghiệp cho chúng. Con cháu tôi là sự tiếp nối của tôi, là tôi cho nên tôi rất cẩn thận để tư duy của tôi luôn luôn là chánh tư duy. Chánh tư duy tức là tư duy đi theo với hiểu, thương và bao dung.

Mỗi lời nói của tôi mang theo chữ ký của tôi. Tôi không thể nói rằng: đó không phải là câu tôi đã nói. Nếu lời nói đó có thể gây hoang mang, có thể gây hận thù, tôi không muốn trao truyền, tôi không muốn được tiếp nối bằng một lời nói như vậy. Sự tu tập giúp cho tôi chỉ trao truyền những gì đi đôi với tinh thần từ bi, trí tuệ, hiểu biết, bao dung và thương yêu.

Những hành động của tôi cũng vậy. Mỗi hành động của tôi đều mang chữ ký của tôi, tôi không thể nào chối bỏ được. Hành động bảo vệ sự sống, xây dựng tình huynh đệ là phẩm vật đáng được trao truyền, đáng được tiếp nối.

Luân hồi là như vậy, luân hồi là được tiếp nối. Mình muốn luân hồi cho thật đẹp thì mình phải chế tác những tư tưởng rất thiện gọi là chánh tư duy, mình phải chế tác những ngôn ngữ rất đẹp gọi là chánh ngữ và mình chế tác những hành động rất cao cả thì gọi là chánh nghiệp. Chỉ có những người tu họ mới biết rằng họ đang trao truyền chánh tư duy hay tà tư duy, chánh ngữ hay tà ngữ, chánh nghiệp hay tà nghiệp. Vì vậy đời sống tâm linh, chiều hướng tâm linh rất quan trọng cho mỗi người. Làm cha, làm mẹ mình phải có chiều hướng tâm linh. Làm thầy giáo, làm cô giáo mình phải có chiều hướng tâm linh. Làm thương gia, làm kỹ nghệ gia mình phải có chiều hướng tâm linh. Làm nhà văn học, làm nhà chính trị mình phải có chiều hướng tâm linh để mình chỉ trao truyền những gì tích cực mà không trao truyền những gì có tính cách tiêu cực. Vì không muốn được tiếp nối một cách không đẹp đẽ cho nên mình cương quyết chỉ trao truyền những gì có tính cách tích cực.

Chuyển hóa

Tôi nói với người thanh niên Âu châu: Anh nhìn lại coi, anh đặt câu hỏi tại sao cha anh có nhiều khổ đau, có nhiều hận thù, có nhiều bạo động, có nhiều tuyệt vọng. Cha anh có muốn như vậy không? Hay vì cha anh đã là nạn nhân của một xã hội, của một gia đình mà trong đó người ta không chế tác được chất liệu hiểu, chất liệu thương, chất liệu bao dung, chất liệu nuôi dưỡng. Nếu cha anh may mắn gặp được một người bạn hay là một người thầy có đời sống tâm linh dồi dào, chỉ dẫn cho cha anh phương pháp nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau trong ông ấy, ông ấy đã có thể chuyển hóa rồi và ông ấy đã không trao truyền những tiêu cực đó cho anh. Nếu cha anh chưa có may mắn đó, anh phải biết nhìn ông bằng con mắt xót thương: Tội nghiệp cho ba, ba chưa bao giờ có cơ hội, ba chưa bao giờ được ai giúp đỡ. Ông nội, bà nội đã làm khổ ba, không có khả năng để giúp ba. Bạn bè của ba cũng chưa có cái cơ hội để giúp ba, tội nghiệp cho ba! Còn mình, mình đã có cơ hội tiếp xúc với những bậc đạo sư, những người anh, những người chị, những người bạn có chiều hướng tâm linh tốt giúp cho mình nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa những khổ đau trong mình.

Vua Trần Thái Tông năm hai mươi tuổi ôm ấp niềm đau đó, được may mắn gặp Viên Chứng quốc sư ở trên núi Yên Tử. Viên Chứng quốc sư đã khai sinh đời sống tâm linh cho vua Trần Thái Tông. Từ đó trở về sau, vua Trần Thái Tông đã có con đường tu học, đã có một chiều hướng tâm linh trong đời sống của mình, đời sống của một vị vua, đời sống của một nhà chính trị. Vì vậy vua Trần Thái Tông đã có cơ hội nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau trong lòng. Do đó vua Trần Thái Tông đã có thể tạo nên sự đoàn kết trong dòng họ, trong triều đình để thành công như một ông vua lớn của triều đại nhà Trần.

Nếu cha chúng ta không có cơ hội vì cha chúng ta không được may mắn thì tại sao chúng ta phải giận cha, phải thù hận cha? Chúng ta phải phát ra lòng đại bi: Tội nghiệp ba quá đi, ba chưa bao giờ gặp được một vị như là thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử, ba chưa bao giờ được tiếp xúc với chánh pháp, ba chưa bao giờ tiếp xúc được với những pháp môn tu tập, nó giúp cho ba có thể nhận diện được những nỗi khổ, niềm đau, ôm ấp những nỗi khổ, niềm đau đó để mà chuyển hóa, để mà trị liệu. Bây giờ mình phải giúp ba và mình phải thực tập cho được. Sau khi thực tập thành công rồi, hòa giải được với ba trong từng tế bào của cơ thể thì mình có thể giúp cho ba hóa giải và trị liệu được một cách rất là dễ dàng.

Những người thanh niên đó đã nghe lời tôi, đã tu tập, đã chuyển hóa và đã trở về để giúp cho thân phụ và thân mẫu của những người đó. Khi mình giúp cho một thanh niên, một thiếu nữ chuyển hóa được những khổ đau và trở về hòa giải được với cha mẹ thì niềm vui, hạnh phúc của mình rất lớn. Hạnh phúc của mình không nằm ở chỗ có uy quyền, có tiền bạc, có danh vọng hay có sắc dục mà ở chỗ mình thấy cuộc đời mình có ý nghĩa, mình giúp được cho rất nhiều người chuyển hóa được nỗi khổ, niềm đau và hòa giải được với người thương của họ.

(còn tiếp)

Gia sản văn hóa Việt Nam đóng góp được gì cho hòa bình thế giới – phần II

 

Con đã thỉnh ý tăng thân chưa

Khoảng một tuần sau khi xuất gia vào tháng 2 năm 1998, chúng tôi – chín sư chú, sư cô thuộc gia đình cây Táo – ngồi lại với nhau để bàn về việc tổ chức những sinh hoạt có thể đem đến sự kết nối và truyền thông giữa các thành viên trong gia đình cây Táo cũng như với những sư anh, sư chị đã xuất gia trước đây. Chúng tôi có đề nghị tổ chức một buổi đi dã ngoại vào ngày làm biếng đầu tiên của mỗi tháng. Mỗi lần đi, chúng tôi mời một vài sư anh, sư chị của các cây xuất gia trước đi cùng. Chúng tôi thỉnh ý quý thầy, quý sư cô lớn và sau đó lên xin phép Thầy. Thầy gật đầu chấp thuận sau khi hỏi chúng tôi: tăng thân đã cho phép chưa?

Lần đầu tiên ở Làng các sư chú, sư cô mới xuất gia được phép đi sinh hoạt với nhau. Là sư anh lớn của cây Táo, lớn lên trong gia đình huyết thống có đến mười anh chị em, tôi biết nhu cầu để các sư anh, sư chị, sư em cùng cây hiểu nhau là có thật và rất lớn. Tuổi đời của chúng tôi lúc đó cũng không nhỏ gì lắm, đa số đều trên dưới ba mươi, người lớn tuổi nhất lúc đó đã năm mươi, nhỏ nhất là sư em út Kính Nghiêm – “baby nun” đầu tiên của Làng, mười bốn tuổi. Tuy nhiên, khi mới xuất gia, đi sinh hoạt với nhau cần phải có các sư anh, sư chị lớn có mặt và hướng dẫn. Khi xin phép, chúng tôi nói rõ lý do là những buổi sinh hoạt này có tính cách xây dựng tăng thân chớ không phải là chỉ đi chơi với tính cách cá nhân. Những đề nghị mình xin thực hiện mà đem lại lợi ích cho tăng thân thì tăng thân thường chấp thuận. Chúng tôi thay phiên nhau tổ chức những ngày đi chơi đó.

Buổi đầu tiên gồm có các thầy, các sư cô lớn như thầy Nguyện Hải, thầy Vô Ngại, thầy Pháp Ấn, thầy Pháp Dụng, sư cô Trung Chính… đi cùng, trên dưới ba mươi người. Chúng tôi đi thăm thành phố cổ Saint-Emilion và ăn trưa, ca hát ở một khuôn viên nhà thờ. Các buổi đi chơi chấm dứt sau khi mỗi người chúng tôi đã có cơ hội tổ chức một lần, tất cả là chín lần. Chúng tôi có dịp đi thăm hầu hết các thắng cảnh trong vùng. Sau này, việc đi chơi của các gia đình xuất gia đã trở thành một truyền thống của Làng.

Khi tổ chức một sinh hoạt, ban điều hợp sinh hoạt đó có nhiệm vụ tổ chức những buổi họp trong đại chúng để thảo luận và đi đến quyết định chung, sau đó thì trình lên Thầy để Thầy chỉ dạy. Thường thì Thầy giữ nguyên những quyết định đó, trừ khi thật cần thiết mới đổi. Trong chuyến đi Bắc California năm 2002, thầy Pháp Dụng và tôi phụ trách tổ chức khóa tu xuất sĩ tại tu viện Kim Sơn. Vì thời gian tổ chức hơi gấp và đã tổ chức khóa tu tại đó nhiều lần, nên chúng tôi dựa theo thời khóa cũ và vào trình với Thầy. Thầy hỏi đã thỉnh ý tăng thân chưa. Chúng tôi thưa là vì thời gian eo hẹp, nên thỉnh ý Thầy trước rồi trình với tăng thân sau. Thầy nói vậy là không được, phải bắt đầu từ tăng thân trước.

Khi tôi đứng trong vai trò của một sư anh lớn, cần lắng nghe hết ý kiến của tăng thân rồi mới đưa ra ý kiến của mình, tôi hiểu hơn về quá trình làm một quyết định. Trong các buổi họp, các vị lớn thường hay phát biểu sau cùng. Vì nếu các vị lớn đưa ra ý kiến của mình sớm quá, các vị nhỏ hơn sẽ ngại đưa ra những ý kiến khác với ý kiến của những vị lớn. Thầy là một thành viên của tăng thân, khi Thầy chưa cho ý kiến thì những đề nghị mà tăng thân trình lên chưa là ý kiến của toàn thể tăng thân. Thầy không dùng vị trí của một vị thầy, của một người lớn để áp đảo ý kiến của đệ tử. Trong mô hình dân chủ, mỗi người có một lá phiếu, giá trị của mỗi lá phiếu đều như nhau. Điều đó đúng khi làm quyết định, nhưng khi thảo luận thì ý kiến của Thầy được lắng nghe nhiều vì đức độ và tuệ giác của Thầy tạo một niềm tin trong đại chúng. Tăng thân nghe theo những đề nghị của Thầy để quyết định vì những điều đó đúng. Những điều đúng khi nói ra thì được lắng nghe, cho dù là được nói bởi các thầy, các sư cô trẻ. Tăng thân chúng ta đang từ từ tập nghe những lời chia sẻ của các thầy, các sư cô lớn. Quý vị đang thay mặt Thầy hướng dẫn các sư em, vì bây giờ Thầy không còn trực tiếp dạy. Các thầy, các sư cô lớn cũng có đức độ, tuệ giác đã được huân tập và phát triển sau nhiều năm tu học. Vai trò của các thầy, các sư cô lớn từ từ được biểu hiện cụ thể hơn.

Tiếng Hoa có sự phân biệt rõ ràng giữa hai cụm từ “sư phụ/đệ tử” và “thầy/trò”. Sư phụ có nghĩa vừa là thầy vừa là cha; đệ tử có nghĩa vừa là em, vừa là con. Cha con, anh chị em thì có sự truyền thừa. Ở Tây phương cũng vậy, họ dùng hai cụm từ “master/disciple” và “teacher/student”. Chữ “master” được định nghĩa là người mà những điều họ dạy được người khác nghe và làm theo, ví dụ như Zen Master. Chữ “disciple” được định nghĩa là người học và làm theo những điều mà thầy mình dạy. Nó khác nhiều so với cụm từ thầy/trò. Học trò không gọi thầy cô giáo dạy toán, lý, hóa… là sư phụ, là master, mà là teacher. Theo định nghĩa của sự liên hệ trao đổi kiến thức thuần túy, học trò không phải làm theo những điều mà thầy dạy. Sư phụ/đệ tử thì thường dùng trong lãnh vực tâm linh, có sự truyền thừa của một tông phái. Ở Làng Mai thì cụm từ thầy/trò được dùng nhiều hơn nhưng được hiểu theo nghĩa sư phụ/đệ tử. Vì trong truyền thống văn hóa Việt Nam, người thầy thường đóng vai trò của cha mẹ và người học trò thường đóng vai trò của người con/người em.

Một vị vua Trung Hoa đời nhà Tề, sau khi họp nội các về thì khóc ròng. Hoàng hậu hỏi vì sao, nhà vua nói là triều đại của ông sẽ không có tương lai. Trong các buổi họp, các quan đều đồng ý với những điều nhà vua nói, ai cũng gật đầu. Vua nói là vua cần nghe những lời phản biện, chớ cái gì cũng đồng ý với vua hết thì đâu cần họp nội các làm gì, quyết định một mình cho khỏe. Các vị minh quân, các vị lãnh đạo giỏi đều có thái độ cởi mở như vậy. Họ biết những ý kiến khác biệt sẽ giúp sáng tạo hơn và sẽ dẫn đất nước, đoàn thể  đi lên. Tăng thân Làng Mai cũng sinh hoạt theo tinh thần đó. Trong một buổi họp, nếu có nhiều ý kiến khác nhau thì đó là một điều đáng mừng. Cần tạo ra không gian và sắp xếp thời gian để những ý kiến mới được nói ra. Tôi nhận thấy trong các buổi họp hạnh phúc, khi không bị giới hạn về thời gian và không phải làm quyết định thì nhiều ý kiến hay được đưa ra hơn là trong các buổi họp để quyết định những điều cần phải làm.

Những con ong, ví dụ như loài ong mật, sống trong một cộng đồng có tổ chức quy mô và chặt chẽ. Có ba loại ong: ong chúa, ong đực và ong thợ. Ong chúa sống từ hai đến ba năm và chỉ có nhiệm vụ sinh nở. Ong đực sống từ vài tuần đến năm tháng, có nhiệm vụ giao hợp với ong chúa rồi chết. Ong thợ, chiếm hơn 95% dân số,  quyết định và lo hết tất cả các việc khác như kiếm ăn, xây tổ, nuôi em, bảo vệ… Ong thợ nếu sinh vào mùa sản xuất mật, tức là mùa xuân hay mùa hè, thì chỉ sống được khoảng sáu tuần, vì phải làm việc rất nhiều. Nếu sinh vào mùa thu/đông thì sống khoảng năm tháng. Cho nên, cộng đồng ong luôn luôn được đổi mới và trong thời gian sống ngắn ngủi đó, các con ong thợ phải học hỏi, thực tập và trao truyền kinh nghiệm sống cho thế hệ kế tiếp. Một công trình đòi hỏi sự kiên trì và liên tục. Dĩ nhiên là chúng không cần phải biết tất cả. Có những lãnh vực chuyên môn chỉ được giao cho một nhóm, do toàn cộng đồng ong chỉ định ra. Chỉ định xong rồi thì tin tưởng, giao khoán việc đó cho nhóm đó thực thi. Chúng có những nguyên tắc sống còn được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Ví dụ như xây dựng tổ thì phải theo bốn tiêu chuẩn: cách mặt đất ít nhất là 4,5m để các loài thú khác khó phá; lỗ ra vào tổ khoảng 20cm2, lớn vừa đủ để ra vào và nhỏ đủ để các loài vật khác khó vào; lớn khoảng 40 lít khối cho một cộng đồng mấy chục ngàn ong; và ở trên/trong thân cây còn sống. Khi có nhu cầu tạo chỗ mới, cộng đồng mấy chục ngàn con ong này giao cho ban xây dựng, gồm khoảng 500 con ong thợ thâm niên và có nhiều kinh nghiệm. 500 con ong thuộc ban xây dựng này nghiêm túc theo bốn nguyên tắc trên mà kiếm chỗ, xong về bàn bạc với nhau, khi có quyết định rồi thì cả đàn mấy chục ngàn con đi theo thôi.

Và nếu vì nhu cầu sống còn hay nhu cầu phát triển mà phải thay đổi bốn tiêu chuẩn xây tổ trên thì chúng cũng làm. Nhưng sự thay đổi đó cần phải qua kinh nghiệm sống và phải hiểu rõ những cái cũ. Cần phải biết rõ truyền thống trước khi thay đổi.

Trong đời sống tăng thân Làng Mai, sự thay đổi cần được làm theo tinh thần “Bồi đắp gốc rễ, khai thông suối nguồn”. Trong sự nghiệp duy trì và phát triển các pháp môn sau này, Thầy dạy là cần phải có bốn pháp ấn – đã về đã tới, đi như một dòng sông, thời đế tương tức và sát na dị thục – nền tảng của các pháp môn giảng dạy và thực tập của Làng Mai.

Khóa tu An cư kiết đông năm 2010 – 2011, tôi có dịp về Làng ba tháng và được giao nhiệm vụ hướng dẫn nhóm thiết kế trang nhà Làng Mai mới. Các sư em hỏi tôi: “Thầy dạy nên có mục ‘Đài Mây Tím’, nhưng các sư em không hiểu nó là gì, nghe hơi lạ tai, không biết có nên làm không?”. Tôi trả lời: “Chưa nghe Thầy nói về điều đó, có thể không làm, nhưng nên thỉnh ý Thầy lại cho chắc”. Một tuần sau, khi đang ngồi uống trà với thầy Pháp Ứng thì Thầy và thị giả ghé qua phòng chơi. Thầy gọi tôi lại gần và nói: “Ngày xưa các thầy tu rất thảnh thơi, mỗi chùa thường có một đài để ngắm mây tím, lại có hiên để nghe mưa nữa, cho nên cần có mục Đài Mây Tím”. Tôi mắc cỡ sám hối với Thầy vì không biết nên mới khuyên các sư em như vậy. Có nhiều điều tôi chưa biết, thật may mắn khi có người chỉ những điều đó cho mình.

Tôi đến Làng lần đầu tiên vào năm 1987, lúc 26 tuổi. Hồi đó tôi gặp khó khăn về tình cảm, cần có nhu cầu chuyển hóa khổ đau nên tôi đến Làng để hiểu về tâm lý học chứ không phải vì quan tâm đến tôn giáo. Tu học được vài năm, tôi thật sự có chuyển hóa nên rất có niềm tin vào pháp môn. Mùa thu năm 1998, lần đầu tiên được tiếp xúc với Duy biểu học, tôi thấy những lời dạy trong đó giống nhiều điều tôi đã trải qua. Ta không thể nào hiểu Duy biểu qua ngôn từ được, chỉ có thể sống, kinh nghiệm và thực chứng Duy biểu mà thôi. Sau đó, tôi có dịp đọc cuốn Duy biểu học – phiên tả những bài pháp thoại Thầy giảng trong khóa tu mùa đông 1993-1994. Trong mục mong muốn của tác giả, Thầy nói: “Nếu nội dung của năm chục bài kệ Duy biểu có thể dùng làm tài liệu trong các khóa tu dành cho ngành tâm lý trị liệu để trị các bệnh tâm thần thì những bài kệ đó đã làm được vai trò của chúng”. Câu nói đó ở mãi trong tâm thức tôi, là tư niệm thực để hướng dẫn tôi tìm hiểu và làm một cái gì ý nghĩa về lĩnh vực này.

Từ năm 2007, khi bắt đầu sinh hoạt tại Hồng Kông, tôi thích tìm hiểu về lãnh vực chánh niệm trong y học thân tâm (mind-body medicine). Vào mùa hè năm 2012, Centre of Behaviorial Health (Trung tâm Sức khỏe Hành vi) của Đại học Hồng Kông mời tôi hướng dẫn chánh niệm cho nhóm chuyên gia trong lĩnh vực y tế và phụng sự xã hội (Health care and social service professionals). Tôi bắt đầu nghiên cứu thêm về thần kinh học, sinh học tế bào (Cellular biology) và các ngành tâm lý Tây phương. Tôi chia sẻ những việc này với Thầy và bắt đầu tổ chức các khóa tu chuyên ngành cho các chuyên gia y tế và tâm lý học. Thầy khuyến khích và nhắc tôi nên kết hợp việc hướng dẫn của mình với những kiến thức khoa học, vì với giới hàn lâm thì “nói có sách, mách có chứng”. Thầy cũng gởi cho tôi tập tài liệu tại hội nghị Chánh niệm – Y học thân tâm mà Thầy đã hướng dẫn tại đại học Harvard vào tháng 9 năm 2013. Sau một khóa tu chuyên ngành dài tám ngày cho ba mươi bác sĩ tâm lý trị liệu vào tháng 11 năm 2013 tại Thái Lan, tôi xin phép Thầy cho AIAB thành lập “Trung tâm Thân tâm kiện an thở và cười”. Sau hơn 2 năm chuẩn bị, trung tâm đi vào hoạt động vào tháng 4 năm 2016. Nhìn lại, hạt giống của trung tâm này đã được nuôi dưỡng mười tám năm, từ khi tôi đọc câu nói của Thầy trong cuốn Duy biểu học.

Trong tập tài liệu “Trăng sao là tâm thức”, Thầy nhắc “Duy biểu trong thế kỷ của ta phải đi sát với sinh học và lý học, chứ không phải chỉ đi sát với luận lý học như ở thời kỳ Pháp Xứng và Trần Na. Tâm lý học và sinh lý học phải đi đôi với nhau. Nghiên cứu về quá trình phát sinh tư tưởng và cảm thọ, ta phải có kiến thức về thần kinh và não bộ…” và Thầy dạy các sư anh, sư chị tìm hiểu thêm về lĩnh vực này để hướng dẫn cho các sư em. Những khám phá về thần kinh học kể từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay cho biết là hệ thống thần kinh cảm xúc (limbic system) có những hành vi tương tự như ý căn (mạt na căn) và tình thức (ý, mạt na thức) vậy. Nó cũng giải thích cách làm việc của tàng thức, ý thức và năm thức giác quan khá rõ ràng. Tôi cũng thấy rằng Duy biểu học có thể được xem là nền tảng cho những trường phái tâm lý học Tây phương. Trong khóa tu mùa đông năm nay tại EIAB, tôi có hướng dẫn một lớp về đề tài này cho các thầy, các sư cô trẻ. Tôi có một ước mơ đưa Duy biểu học trở thành một ngành học Tâm lý hiện đại. Cho nên tôi cũng gieo hạt giống này cho các vị cư sĩ nữa, nhất là cho các chuyên gia tâm lý học. Nhiệm vụ của người hoằng pháp là gieo hạt. Hạt giống có thành cây hay không là tùy duyên. Tạo duyên nhưng tùy duyên.

Xin tạ ơn Thầy đã gieo những hạt giống tốt cho tôi và cũng đã tạo điều kiện cho những hạt giống đó được nẩy mầm và phát triển thành hoa trái.

Chân Pháp Khâm

Có một góc riêng

Mùa Giáng sinh lại về.

Không biết sao, một người tu Phật như ri mà mỗi khi tới mùa Giáng sinh là lòng cứ như được quà.

Sáng nay, nhìn ngọn đèn dầu trên bàn học và vài bóng đèn Noel trước hành lang khu vực phòng học của quý sư cô, nghe lòng… một chút thổn thức. Có lẽ vì, những ngày đầu mới đi tu nằm ở thời điểm này và lại ở ngay cái xứ Vermont đầy tuyết trắng nên sâu đậm cái chất Giáng sinh như vậy.

Thầy chúng ta thường nói và Bụt cũng dạy là không nên nhớ nghĩ về quá khứ hay lo lắng về tương lai mà hãy an trú trong hiện tại. Nhưng cũng đâu có hề chi nếu nhớ về một quá khứ đẹp, phải vậy không?! Không những nhớ Noel là vì lễ Giáng sinh đẹp ngay xứ tuyết thôi đâu, mà có thể còn nhiều kỷ niệm khác nữa. Nhớ cái sinh khí tươi vui và tu học của các anh chị em trong buổi đầu “sơ khai lập quốc”, lúc đó “các vị tướng” non choẹt, ngơ ngác nơi xứ người ở Rừng Phong sâu thẳm ấy. Anh chị em thời ấy bây giờ dù xa hay gần đâu đó trên trái đất này… thì ai cũng là “một thời để nhớ”.

Kể lại để chúng ta cùng nhau nuôi dưỡng tâm mình bằng những gì mình đã từng có và được cất giữ đâu đó nơi góc riêng của tâm hồn. Có thể không đẹp với ai khác, nhưng là một “thời vàng son” đáng nhớ. Và cũng để nhắc cho nhau những lời Thầy dạy: Nếu ai chưa thấy mình có quá khứ đẹp thì nên bắt đầu tạo cho mình. Tạo bằng cả trái tim và sự nhiệt huyết để nó cũng sẽ ở mãi trong dòng huyết quản và trái tim của mình.

 

 

Cách đây mấy ngày, thấy vài sư cô và các bạn thiền sinh mang đồ Noel ra trang trí, thêm nhận được thư của vị thầy y chỉ sư nhắn nhủ, lại thấy mình may mắn vô cùng. Muốn được chia sẻ những sự ngọt ngào mạnh mẽ ấy của các bậc thầy để chúng ta cùng tận hưởng thêm những tháng ngày mà mình còn được cái quyền làm y chỉ muội, nằm trong vòng tay thương yêu và che chở của vị y chỉ sư mình, trọn vẹn và ấm áp (nhưng đừng nhõng nhẽo quá mức mà nhọc y chỉ sư nhe): ” …thầy cũng có mơ ước an cư nơi một vùng trời hơi lạnh, có mưa, có tuyết để hứng trên hai tay, có rất nhiều anh chị em chung quanh để giận người này một chút, cười với người kia một chút. Gẫm ra mọi thứ mình gieo hôm nay sẽ gặt hái ngày mai. Trên con đường mình đi có Bụt, có Tăng thân và có những kinh nghiệm tu tập gọi là Pháp bảo. Đầy đủ và trọn vẹn. Con nên đưa hai tay để đón nhận những gì người trao cho mình. Với tất cả trân trọng, …”.

Truyền thống của mình là An cư mùa mưa nên mình có cơ hội nếm trải cái lạnh của đông.

Ở Làng, rừng mận của xóm Hạ, mùa đông nó như cây khô, trơ xương suốt mấy tháng dưới cái lạnh không tuyết mà buốt như cắt của vùng thung lũng. Ấy vậy mà, khi có nắng xuân về thì hoa thôi là hoa, “không thể dùng toán học mà kiểm đếm được” – hằng hà sa số. Nếu những cây mận ấy không được trải qua một mùa đông băng giá thì hoa trái không thể kết nụ dâng mầm được. Hoặc có chăng nữa cũng rất ít. Như ở Lộc Uyển nè, mùa đông lạnh và mưa ít quá nên những cây mận cứ như cây mới trồng hoài, hoặc già cỗi đi mà chẳng thấy hoa và trái đâu. Mùa đông mà không mưa không lạnh thì con người ta thấy khỏe đó. Nhưng rồi… có sức sống gì trên sa mạc đâu! Thành ra, những cánh hoa tuyết rơi khi đông về tuy hơi lạnh, nhưng đưa hai tay ra mà hứng hoa tuyết, mà cười mà vui. Hóa ra, cái khắt khe của “bác đông già” hay sự “khổ luyện” của tuyết mưa lại là chất liệu chính yếu cho hoa xuân được biểu hiện một cách tròn trịa và có ý nghĩa.

Thôi, không viết nữa. Mượn chút tuyết của Rừng Phong – Vermont ngày xưa để có dịp trò chuyện cho nhau nghe vậy.

Nhiều nhân duyên lành và ân nghĩa lớn vẫn trải đầy quanh ta, mong rằng chúng ta nuôi mãi ý thức chánh niệm để những nhân duyên lành ấy không lướt qua trước mặt một cách đáng tiếc vì sự hời hợt của mình!

Bên cạnh tuyết là mưa, xin mượn hai câu thơ của một vị thầy, gởi tặng các bạn tôi nhân mùa Giáng sinh về nhé:

“Mưa làm trễ tràng hơn công việc, nhưng để cỏ xanh hơn lá xanh hơn.” – QN

Và Thầy chúng ta vẫn nhắc hoài: “Đừng phụ suối đồi”. Thành thử, tiết đông tuy buốt, nhưng hãy “mang áo ấm vào và đừng mang theo cuốn sách nào cả. Hãy để cho ngày nay là của hôm nay và sống mãi đến muôn cùng.”

Mong tất cả chúng ta có một mùa đông nữa thật nhiều tin yêu và sáng tạo trên đường tu của mình.

 

Chân Hằng Nghiêm

Lễ xuất gia cây Sơn Thù Du (Dogwood Tree) ngày 20.10.2017