Gia sản văn hóa Việt Nam đóng góp được gì cho hòa bình thế giới – phần I
(Pháp thoại của Thiền sư Nhất Hạnh ngày 10.03.2005 tại Trung tâm văn hóa Liễu Quán, Huế)
https://www.youtube.com/watch?v=F4hue0yC7Jk&list=PLMG8i-w8rYWm-hwFeM-HD9YE02FNqLty2&index=8
Đạo Phật Việt Nam có những bản sắc riêng, mang theo nhiều yếu tố của văn hóa dân tộc. Đạo Phật Việt Nam có một đức Quan Âm rất Việt Nam, là đức Quan Âm Thị Kính, đó là một cống hiến của Phật giáo Việt Nam cho Phật giáo thế giới. Trong kinh Phổ Môn, chúng ta nghe rằng tình thương được biểu hiện ra nhiều hình thái. Dù dưới nhiều hình thái khác nhau nhưng nếu có con mắt quan sát, chúng ta có thể nhận diện được đó là biểu hiện của tình thương. Quan Âm là tình thương, chúng ta rất cần tình thương. Vậy nên chế tác nuôi dưỡng tình thương là sự thực tập.
Quan Âm là tình thương, là khả năng lắng nghe, hiểu, chấp nhận, thương yêu và cứu độ. Avalokiteśvara (hay Avalokiteśhvara) là tên đức Quan Âm bằng tiếng Phạn. Avalokita nghĩa là người có khả năng nhìn sâu và lắng nghe một cách sâu sắc để có thể hiểu và thương, để có thể chấp nhận. Eśvara nghĩa là người đã đạt tới tự do, tự tại. Avalokiteśvara dịch theo người xưa là Quan Thế Âm nhưng trong những thế kỷ gần đây, từ thế kỷ thứ bảy dịch là Quán Tự Tại. Nhờ có sự quán sát sâu sắc, có sự lắng nghe sâu sắc mà mình đạt tới cái hiểu và cái thương, làm cho mình thật sự trở thành một con người tự do.
Xin các thầy và các sư cô Làng Mai xướng tụng danh hiệu Nam mô Bồ Tát Quan Thế Âm bằng tiếng Phạn để bắt đầu buổi nói chuyện ngày hôm nay. Các thầy và các sư cô sẽ xướng tụng không phải chỉ bằng miệng mà bằng trái tim. Trước hết thầy Pháp Niệm sẽ xướng bài tán dương đức Quan Thế Âm bằng tiếng Việt:
Đầu cành dương liễu vương cam lộ
Một giọt mười phương rưới cũng đầy
Bao nhiêu trần lụy tiêu tan hết
Đàn tràng thanh tịnh ở ngay đây
Sau đó đại chúng sẽ cùng xướng tụng danh hiệu Nam mô Bồ Tát Quan Thế Âm bằng tiếng Phạn, Namo Avalokiteśvara. Chúng ta được mời tham dự, không phải là để tụng theo, nhưng để có mặt đích thực trong giây phút hiện tại. Nếu chúng ta có những căng thẳng, những đau nhức trong cơ thể, chúng ta có thể ngồi thoải mái và buông thư để cho năng lượng của tình thương đi vào thì những đau nhức, những căng thẳng đó sẽ biến mất.
Nếu chúng ta có những nỗi khổ, niềm đau trong lòng mà chưa chuyển hóa được, chúng ta có thể mở trái tim ra, cho năng lượng của tăng thân, cũng như năng lượng của đức Bồ Tát đi vào trong người của mình, để nhận diện ôm ấp và chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau đó.
Nếu chúng ta có một người thân đang bị bệnh, nằm ở nhà thương hoặc một nơi nào đó không đến được, chúng ta muốn truyền năng lượng tốt đẹp này về cho người đó thì chúng ta chỉ cần nghĩ tới người đó, hình dung tới người đó hoặc là gọi tên người đó một cách thầm lặng thì năng lượng này sẽ được truyền về nhanh chóng. Điều kiện thành công của sự thực tập là có mặt thật sự thân và tâm trong giây phút hiện tại. Buông thư để cho năng lượng của đức Bồ Tát có cơ hội thấm vào cơ thể và tâm hồn của mình. Xin mời chư vị Tôn đức, quý vị Phật tử, quý vị quan khách nghe chuông và thực tập theo dõi hơi thở.
Thở vào tôi biết rằng mình đang còn sống.
Thở ra tôi mỉm cười với sự sống trong tôi và chung quanh tôi.
Con cái ở đâu thì ông bà ở đó
Tôi có biết một anh chàng họa sĩ người Huế sống ở Hoa Kỳ. Ngày xưa anh đã rời quê hương một cách rất khó khăn. Anh ta xin làm bồi trên một chiếc tàu thủy để có thể đi qua một nước Tây phương và nghĩ rằng mình sẽ có tương lai ở đó. Vào đêm anh từ giã bà mẹ, hai mẹ con khóc. Bà cụ là một phụ nữ Huế, không biết đọc, không biết viết, nhưng bà đã dặn đứa con trai như thế này: Này con, khi mà con sang bên nớ, mỗi khi thấy nhớ mẹ nhiều lắm, con đưa bàn tay lên, con nhìn bàn tay con cho kỹ, con sẽ thấy bớt nhớ mẹ. Trong suốt mấy mươi năm ở bên Mỹ, không có cơ hội trở về Việt Nam, anh ta thường đưa bàn tay lên để nhìn ngắm theo lời bà mẹ căn dặn. Anh cảm thấy được an ủi rất nhiều. Cố nhiên bà mẹ Việt Nam đó chưa bao giờ học triết học, chưa từng học khoa học nhưng bà có tuệ giác của cha ông để lại, bà biết rằng: Mình có mặt trong bàn tay của đứa con trai mình.
Chúng ta biết rằng tất cả những gia tài di truyền của tổ tiên mà ông bà cha mẹ chúng ta đã tiếp nhận đang có mặt đích thực trong từng tế bào của cơ thể mình. Đó là một sự thật, rất khoa học. Tất cả những kinh nghiệm, trí tuệ, hạnh phúc của tổ tiên, của ông bà, của cha mẹ đã được trao truyền cho chúng ta. Tất cả những khổ đau, những khó khăn, những bức xúc của tổ tiên, ông bà, cha mẹ cũng đã trao truyền cho chúng ta. Tổ tiên chúng ta, kể cả thế hệ tổ tiên trẻ nhất là cha mẹ đang có mặt một cách đích thực trong từng tế bào của cơ thể. Bà mẹ kia tuy không biết triết học, không biết khoa học, nhưng đã đạt được tuệ giác đó: Này con, mỗi khi con nhớ mẹ, con chỉ cần đưa tay lên nhìn thì con sẽ thấy đỡ nhớ. Bà không nói rõ nhưng lời dặn dò đó đã ẩn chứa ý nghĩa: Mẹ đang có mặt trong từng tế bào cơ thể của con. Sự thật khoa học đó hiện bây giờ đã được mọi người chấp nhận.
Chúng ta thường hay nói với nhau: Con cái ở đâu thì ông bà ở đó. Điều này cũng là một sự thật rất khoa học. Ông bà đi theo con cái, không phải là đi sau lưng hoặc bên phải hoặc bên trái hoặc trước mặt mà ông bà đi theo ngay trong từng tế bào của cơ thể của mình. Chúng ta đi đâu là chúng ta đem tổ tiên, ông bà đi theo đó. Điều đó có thể hiểu một cách rất là khoa học. Chúng ta đi Mỹ thì tổ tiên đi Mỹ. Chúng ta đi Hòa Lan thì tổ tiên đi Hòa Lan. Chúng ta đi Úc thì tổ tiên đi Úc. Chúng ta lên Thiên Đường thì tổ tiên sẽ lên Thiên Đường. Chúng ta xuống địa ngục, tổ tiên cũng sẽ xuống địa ngục với chúng ta.
Những con ma đói của thời đại
Xã hội của chúng ta trong cuối thế kỷ thứ hai mươi và đầu thế kỷ hai mươi mốt, con người có cảm tưởng là mình mất gốc, mình cảm thấy bơ vơ, lạc loài, mình không thấy được sự liên hệ giữa mình và tổ tiên, ông bà cha mẹ mình. Có những người trai trẻ lớn lên giận cha, giận mẹ, phủ nhận văn hóa của mình, phủ nhận dân tộc, đất nước của mình vì họ đã gánh chịu quá nhiều khổ đau. Có những thanh niên Tây phương khi giận cha tới mức có thể tuyên bố như thế này: Ông đó hả! Tôi không có muốn có gì liên hệ tới ông đó hết! Nói như vậy không có nghĩa là những người thanh niên Việt Nam có ý nghĩ và lời nói như vậy. Khi mình cảm thấy rằng những đau khổ của mình là do cha mẹ mình gây ra thì mình thù hận cha mẹ và không muốn có liên hệ gì tới cha mẹ nữa. Đó là những con người phóng thể, những con người không có gốc rễ. Khi chúng ta không có gốc rễ, chúng ta không thể nào có hạnh phúc được.
Thời đại chúng ta đã chế tạo ra không biết bao nhiêu con ma đói. Những con ma đói bằng xương bằng thịt đàng hoàng. Nó đi trong xã hội, đi trong cuộc đời, đi kiếm một chút hiểu và một chút thương, đi kiếm một nơi nương tựa nhưng hoàn toàn bơ vơ. Chúng ta chỉ cần bỏ một chút thì giờ nhìn quanh là nhận diện ra được những con ma đói đó. Đói ở đây không phải đói cơm hay đói áo mà là đói hiểu biết và đói tình thương. Cái hiểu đó, cái thương đó gia đình đã không cung cấp được cho họ.
Họ không tin vào hạnh phúc gia đình. Họ nghĩ rằng hạnh phúc gia đình là một ảo tưởng, là một cái không bao giờ có. Từ khi sinh ra, họ chưa bao giờ thấy ở trong gia đình có hạnh phúc. Cha làm khổ mẹ, mẹ làm khổ cha, cha đay nghiến mẹ, mẹ đay nghiến cha. Tất cả những cái đó đã gây ra những vết thương rất sâu đậm nơi người con trai, người con gái. Khi giữa cha mẹ không có truyền thông, giữa cha con không có truyền thông, cha không nhìn mặt con được, con không nói chuyện với cha được, làm sao có hạnh phúc? Gia đình không phải là chỗ người trẻ muốn trở về. Người trẻ đi tìm quên lãng ở những lĩnh vực khác. Người trẻ sa vào hầm hố của tội ác, tội phạm, ma túy, trác táng.
Ở Pháp, mỗi ngày có khoảng ba mươi ba thanh niên tự tử. Họ tự tử không phải là vì thiếu cơm thiếu áo mà vì họ lâm vào trạng thái tuyệt vọng. Trong cuộc đời của họ, chưa bao giờ họ tiếp nhận được hiểu và thương từ gia đình, từ xã hội. Cuộc sống đối với họ không có một ý nghĩa nào hết. Họ nghĩ rằng muốn chấm dứt khổ đau, phương pháp duy nhất còn lại của họ là chấm dứt cuộc đời mình. Mỗi ngày ba mươi ba thanh niên Pháp tự tử, con số đó hơi nhiều đối với tôi. Các nước khác ở Âu châu tình trạng cũng tương tự. Tôi không biết tại Việt Nam mỗi ngày có bao nhiêu thanh niên Việt Nam tự tử? Bao nhiêu gia đình, trong đó cha không truyền thông được với mẹ, con không truyền thông được với cha và mọi người trong gia đình không cảm thấy có hạnh phúc? Con số đó càng ngày càng tăng, tỉ số những cặp vợ chồng ly dị ngày càng tăng. Ở Hòa Lan, nghe nói rằng tỉ số những cặp vợ chồng ly dị trên năm mươi phần trăm. Cấu trúc gia đình ở tại xã hội Tây phương bây giờ rất lỏng lẻo và mong manh. Cấu trúc đó có thể tan rã bất cứ lúc nào.
Ngày xưa chúng ta có một gia đình vững chãi hơn nhiều. Khi có những khó khăn ở trong gia đình, mình có thể chạy sang nhà ông chú, bà thím, ông bác để tỵ nạn, sau đó chúng ta có thể trở về nhà được. Nhưng bây giờ gia đình trở thành nhỏ xíu, mỗi gia đình sống ở một căn hộ nhỏ hẹp trong chung cư. Những gia đình đó được gọi là gia đình hạt nhân, nuclear family, rất là nhỏ, chỉ có hai vợ chồng, một đứa con hoặc hai đứa con.
Khi mình cảm thấy không nương tựa được vào gia đình, không có gốc rễ trong gia đình, không có gốc rễ trong truyền thống tâm linh, không có gốc rễ trong xã hội và văn hóa của đất nước thì mình trở thành một con ma đói. Xã hội Tây phương hiện giờ sản xuất rất nhiều con ma đói. Trung tâm tu học của chúng tôi ở tại Pháp quốc và Mỹ quốc luôn luôn tiếp nhận những con ma đói. Không khó khăn gì hết, mình chỉ nhìn họ một phút đồng hồ là biết rằng đó có phải đích thực là ma đói hay không. Nhìn cách họ đi, cách họ ngồi, cách họ nhìn, cách họ nói chuyện là mình có thể biết được họ có phải là ma đói hay không. Họ đói tình thương, đói hiểu biết và họ hoàn toàn bơ vơ.
Tu tập để làm gì?
Trong những năm hành đạo ở tại Tây phương, chúng tôi đã giúp không biết bao nhiêu người Tây phương trở về được với gia đình của họ, tái lập lại được truyền thông với cha mẹ và xây dựng lại được tình thân ở trong gia đình. Chúng tôi đã giúp cho vô số những cặp vợ chồng, cha con, mẹ con hòa giải được với nhau. Chúng tôi đã sử dụng những yếu tố của văn hóa Việt Nam để làm chuyện đó. Tôi nói với một người thanh niên: Anh muốn nói rằng anh không có liên hệ gì với cha của anh, điều đó rất là buồn cười. Nếu có thì giờ, anh nhìn lại một chút xíu, anh thấy rõ ràng anh là sự tiếp nối của cha anh, anh chính là cha anh đó. Anh hãy nhìn một hạt bắp mà người ta mới gieo xuống đất, năm ngày sau hạt bắp sẽ nẩy mầm và có một cây bắp con biểu hiện với hai ba lá.
Khi cây bắp con biểu hiện ra rồi, mình không thấy hình tướng của hạt bắp nguyên sơ nữa. Hạt bắp coi như đã chết để cho cây bắp được sinh ra, nhưng mà kỳ thật hạt bắp đâu có chết, hạt bắp chỉ luân hồi thành cây bắp. Không có cái chết, tự tánh của hạt bắp là vô sinh là bất diệt. Khi anh là người có trí tuệ, anh nhìn vào cây bắp, anh có thể thấy được hạt bắp, không phải với tướng cũ mà với tướng mới của nó. Cây bắp là sự tiếp nối của hạt bắp, cây bắp chính là hạt bắp. Khi cây bắp lên được một thước rưỡi, cây bắp có bông và hai trái bắp, đó cũng là sự tiếp nối của hạt bắp ban đầu. Khi nhìn cờ bắp và những trái bắp mới, ta phải thấy được hạt bắp ban sơ.
Cũng vậy, anh nhìn vào anh coi, anh sẽ thấy rằng anh là sự tiếp nối của cha anh, anh là sự tiếp nối của mẹ anh. Anh chính là cha anh, anh chính là mẹ anh. Đây là một sự thực hiển nhiên. Anh phải công nhận là cha anh, mẹ anh đang có mặt một cách rất hiện thực trong từng tế bào của cơ thể anh. Anh không thể nào lấy con người của cha anh ra khỏi con người của anh được. Anh không thể nào lấy mẹ anh ra khỏi con người của anh được. Như vậy, anh giận cha anh tức là anh giận chính bản thân anh. Anh không có nẻo thoát. Anh nên sử dụng những phương pháp của chúng tôi đề nghị để hòa giải với cha anh trong anh trước. Thật là vô vọng nếu anh muốn lấy cha anh ra khỏi anh. Đó là điều anh không thể nào làm được vì anh là sự tiếp nối của ba anh, anh chính là ba anh. Cho nên, anh không có con đường nào khác, chỉ có một con đường duy nhất là hòa giải với cha anh trong anh. Đó là phương pháp quán chiếu, thấy mình là sự tiếp nối của cha, thấy mình là cha. Có thể cha mình trong quá khứ, trong thời thơ ấu đã không được may mắn, đã bị bầm dập, đã không được thương yêu, không được chăm sóc. Do đó những vết thương của tuổi thơ nơi cha mình chưa bao giờ lành cả. Cha mình chưa có cơ duyên gặp được chánh pháp, gặp được một thầy, một sư cô hay một vị lãnh đạo tinh thần giúp cho cha có thể nhận diện vết thương, ôm ấp vết thương và chuyển hóa vết thương. Vậy nên cha mình đã trao truyền cho mình nguyên vẹn vết thương mà cha mình đã tiếp thu. Khi có niềm đau, nỗi khổ mà chúng ta không có biện pháp để trị liệu và chuyển hóa, chắc chắn chúng ta sẽ trao truyền niềm đau nỗi khổ đó cho con cháu chúng ta. Chắc chắn là như vậy.
Cho nên sự tu tập rất quan trọng. Tu tập để làm gì? Để nhận diện những niềm đau, nỗi khổ trong ta, để có thể trị liệu, có thể chuyển hóa và không tiếp tục trao truyền lại cho những thế hệ tương lai. Nếu mình là một người cha hay, một người mẹ giỏi, mình chỉ muốn trao truyền những cái hay cái đẹp, cái hạnh phúc của mình thôi. Muốn như vậy phải có sự tu tập. Nếu là một người thầy giỏi mình chỉ trao truyền những cái đẹp, những cái hay, những tuệ giác, những từ bi của mình thôi. Còn những yếu kém, những khổ đau mình phải biết ôm ấp, phải biết chuyển hóa, phải biết trị liệu trước khi mình trao truyền cho thế hệ tương lai.
Làm chính trị cũng tu được
Mỗi chúng ta đều có hai gia đình. Thứ nhất là gia đình huyết thống trong đó có ông bà cha mẹ. Di sản di truyền mà chúng ta tiếp nhận là từ cha mẹ, từ ông bà huyết thống nhưng mỗi chúng ta cũng còn có một gia đình tâm linh vì mỗi người trong chúng ta đều có chiều hướng tâm linh trong cuộc sống. Nếu không có chiều hướng tâm linh trong cuộc sống thì cuộc sống của mình sẽ khô cằn, nghèo đói, khổ đau. Vì vậy mỗi người chúng ta đều nên có một chiều hướng tâm linh trong cuộc sống hàng ngày của mình.
Giả sử vua Trần Thái Tông mà không có chiều hướng tâm linh trong đời sống, vua đã không thể nào trở thành một vị vua như đã trở thành. Năm hai mươi tuổi, vua bị thái sư Trần Thủ Độ bắt ép phải bỏ người yêu là công chúa Chiêu Hoàng để cưới người chị ruột của Lý Chiêu Hoàng vì Trần Thủ Độ nóng lòng muốn có sự kế tiếp cho dòng dõi nhà Trần. Thấy Lý Chiêu Hoàng lâu quá chưa có thai nên muốn phế Chiêu Hoàng để cho vua cưới người chị của Chiêu Hoàng đã có thai sẵn với An Sinh Vương Trần Liễu (An Sinh Vương Trần Liễu rất căm giận, về sau đã tổ chức hải quân để chống lại triều đình).
Trần Cảnh làm vua nhưng việc triều chính hoàn toàn do Trần Thủ Độ quyết định. Vua bị ép phải buông người yêu Lý Chiêu Hoàng ra để cưới người chị dâu làm vua đau khổ tột cùng. Vua đã bỏ ngai vàng tìm lên núi Yên Tử để xin xuất gia với thiền sư Viên Chứng. Sau mấy ngày tìm kiếm, Trần Thủ Độ phát hiện ra là vua đang ở trên núi và ông lên núi ép vua phải trở về. Ông dọa vị thiền sư rằng: Nếu thiền sư không khuyên vua về kinh thì ông sẽ thiết lập cung điện ngay trên núi.
Viên Chứng thiền sư đã tâu với vua Trần Thái Tông rằng: Bệ hạ trong khi làm vua vẫn có thể tu tập được, vẫn có thể có được một đời sống tâm linh. Bây giờ, dân muốn bệ hạ về thì bệ hạ không về sao được, bệ hạ cứ về đi, cứ làm vua đi, cứ đóng vai trò lãnh đạo chính trị cho đất nước. Nhưng bệ hạ vẫn có thể mỗi ngày nghiên cứu và thực tập giáo lý của đức Thế Tôn. Không phải chỉ ở trong núi mới tu được, ở kinh thành cũng tu được. Mình là nhà chính trị, mình cũng có thể vừa làm chính trị vừa tu. Đó là lời khuyên của quốc sư Viên Chứng ở núi Yên Tử. Nhớ lời quốc sư nên từ đó mỗi đêm, sau một ngày làm việc nặng nhọc về chính trị, quân sự, vua đều chong đèn lên để học kinh và ngồi thiền. Trần Thái Tông đã sáng tác nhiều tác phẩm, trong đó có một tác phẩm gọi là Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi để vua tự thực tập bằng nghi thức của mình. Vua đã thực tập bái sám và ngồi thiền sáu lần một ngày.
Nếu không có chiều hướng tâm linh đó, vua đâu có đủ sức mạnh để có thể hoàn tất được sứ mạng của một nhà chính trị như vậy. Nói một cách khác hơn, từ hồi hai mươi tuổi vua đã biết tu, vua đã biết đem vào trong đời sống của mình một chiều hướng tâm linh để có đủ sức mạnh đối phó với những khó khăn dồn dập cho một nhà chính trị còn trẻ thiếu kinh nghiệm. Nhờ đó mà vua chịu đựng được những đau khổ, vượt thắng được những khó khăn và trở thành một ông vua thành công trong lĩnh vực dựng nước, giữ nước và giáo dục quốc dân.
Chúng ta biết rằng mỗi chúng ta ngoài gia đình huyết thống, phải có một gia đình tâm linh. Nhờ gia đình tâm linh, chúng ta được nuôi dưỡng trong đời sống tâm linh của mình. Ta biết làm thế nào để nhận diện, ôm ấp, trị liệu, chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau của ta, ta mới có thể phục vụ được cho gia đình, quốc gia, xã hội một cách thành công, vững chãi, hữu hiệu.
Nếu chúng ta đọc sử thời Lý và Trần, chúng ta thấy rằng tất cả các vua Lý, các vua Trần đều có tu, đều có thực tập thiền. Các vị đó không đợi lớn tuổi, về hưu mới bắt đầu thực tập. Họ thực tập ngay từ khi còn ấu thơ. Ngay vua Trần Nhân Tông, vua thứ ba của triều Trần, từ hồi còn là chú tiểu đồng đã theo học với Tuệ Trung Thượng Sĩ. Tuệ Trung Thượng Sĩ tức là Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung, anh cả của tướng Trần Hưng Đạo. An Sinh Vương Trần Liễu trước khi chết có dặn dò các con của ông phải trả thù cho cha nhưng những người con của An Sinh Vương Trần Liễu đã không nghe lời cha. Từ Hoàng hậu Thiên Cảm cho đến Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung và Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, tất cả những người con của An Sinh Vương đều hết lòng phò tá triều đình trong công cuộc dựng nước, giữ nước và đánh đuổi ngoại xâm. Họ có một ý hướng đoàn kết rất mạnh. Nhờ ở sự thực tập đạo Phật đã giúp cho họ tha thứ được những lỗi lầm, chuyển hóa được nội kết, khổ đau, thù hận, để cùng nhau góp sức xây dựng một đất nước hùng mạnh, vững chãi, có khả năng chống lại với sự đe dọa của phương Bắc.
Tiếp nối và trao truyền
Tôi nhắc lại một vài sự kiện lịch sử trên để quý vị nhớ tới sự thật là mỗi chúng ta đều phải có hai gia đình, gia đình huyết thống và gia đình tâm linh. Gia đình huyết thống trao truyền cho mình bằng con đường huyết thống và gia đình tâm linh trao truyền cho mình bằng con đường văn hóa. Sự trao truyền bằng con đường văn hóa tâm linh cũng đi thẳng vào trong từng tế bào của cơ thể. Tây phương bây giờ ưa dùng hai danh từ đi đôi với nhau là nature và nurture. Nurture tức là sự nuôi dưỡng. Nature tức là tiên thiên và nurture là hậu thiên. Cha mẹ sinh ra mình với cái hình hài này tức là tiên thiên. Thầy mình trao truyền cho mình những yếu tố của nếp sống tâm linh đạo đức tức là hậu thiên. Cả hai đường lối trao truyền đều đi thẳng vào trong từng tế bào của cơ thể.
Tôi không có con cái huyết thống nhưng tôi có rất nhiều con cháu tâm linh. Không ngày nào mà tôi không trao truyền những gì tôi cho là hay nhất, đẹp nhất của cuộc đời tôi. Gia đình tâm linh của tôi là một gia đình rất lớn. Bất cứ một tư duy nào, một ngôn ngữ nào, một lời nói nào hay bất cứ một hành động nào đều là những phẩm vật để trao truyền.
Nếu tư duy của ta đi đôi được với trí tuệ và từ bi, với sự bao dung, với sự hòa ái thì tư duy đó là một phẩm vật trao truyền cho con cháu tâm linh. Nếu lời nói của ta đi đôi được với sự hòa ái, với tình thương và sự hiểu biết, đi đôi với sự an ủi và khả năng gây niềm hy vọng, niềm tin yêu thì lời nói đó là một phẩm vật trao truyền. Nếu như hành động của mình đi đôi với ý chí muốn bảo vệ sinh mạng, muốn cứu đời, giúp người thì hành động đó là một phẩm vật trao truyền.
Mỗi tư duy của tôi đều mang chữ ký của tôi thì tôi không thể nói: đó không phải là tư duy của tôi. Rõ ràng nó mang chữ ký của tôi, tôi không thể nào chối cãi: đó không phải là tư duy của tôi. Nếu tư duy mang tính tham sân si là một tư duy tiêu cực và nếu tôi trao truyền tính đó lại cho con cho cháu thì tội nghiệp cho chúng. Con cháu tôi là sự tiếp nối của tôi, là tôi cho nên tôi rất cẩn thận để tư duy của tôi luôn luôn là chánh tư duy. Chánh tư duy tức là tư duy đi theo với hiểu, thương và bao dung.
Mỗi lời nói của tôi mang theo chữ ký của tôi. Tôi không thể nói rằng: đó không phải là câu tôi đã nói. Nếu lời nói đó có thể gây hoang mang, có thể gây hận thù, tôi không muốn trao truyền, tôi không muốn được tiếp nối bằng một lời nói như vậy. Sự tu tập giúp cho tôi chỉ trao truyền những gì đi đôi với tinh thần từ bi, trí tuệ, hiểu biết, bao dung và thương yêu.
Những hành động của tôi cũng vậy. Mỗi hành động của tôi đều mang chữ ký của tôi, tôi không thể nào chối bỏ được. Hành động bảo vệ sự sống, xây dựng tình huynh đệ là phẩm vật đáng được trao truyền, đáng được tiếp nối.
Luân hồi là như vậy, luân hồi là được tiếp nối. Mình muốn luân hồi cho thật đẹp thì mình phải chế tác những tư tưởng rất thiện gọi là chánh tư duy, mình phải chế tác những ngôn ngữ rất đẹp gọi là chánh ngữ và mình chế tác những hành động rất cao cả thì gọi là chánh nghiệp. Chỉ có những người tu họ mới biết rằng họ đang trao truyền chánh tư duy hay tà tư duy, chánh ngữ hay tà ngữ, chánh nghiệp hay tà nghiệp. Vì vậy đời sống tâm linh, chiều hướng tâm linh rất quan trọng cho mỗi người. Làm cha, làm mẹ mình phải có chiều hướng tâm linh. Làm thầy giáo, làm cô giáo mình phải có chiều hướng tâm linh. Làm thương gia, làm kỹ nghệ gia mình phải có chiều hướng tâm linh. Làm nhà văn học, làm nhà chính trị mình phải có chiều hướng tâm linh để mình chỉ trao truyền những gì tích cực mà không trao truyền những gì có tính cách tiêu cực. Vì không muốn được tiếp nối một cách không đẹp đẽ cho nên mình cương quyết chỉ trao truyền những gì có tính cách tích cực.
Chuyển hóa
Tôi nói với người thanh niên Âu châu: Anh nhìn lại coi, anh đặt câu hỏi tại sao cha anh có nhiều khổ đau, có nhiều hận thù, có nhiều bạo động, có nhiều tuyệt vọng. Cha anh có muốn như vậy không? Hay vì cha anh đã là nạn nhân của một xã hội, của một gia đình mà trong đó người ta không chế tác được chất liệu hiểu, chất liệu thương, chất liệu bao dung, chất liệu nuôi dưỡng. Nếu cha anh may mắn gặp được một người bạn hay là một người thầy có đời sống tâm linh dồi dào, chỉ dẫn cho cha anh phương pháp nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau trong ông ấy, ông ấy đã có thể chuyển hóa rồi và ông ấy đã không trao truyền những tiêu cực đó cho anh. Nếu cha anh chưa có may mắn đó, anh phải biết nhìn ông bằng con mắt xót thương: Tội nghiệp cho ba, ba chưa bao giờ có cơ hội, ba chưa bao giờ được ai giúp đỡ. Ông nội, bà nội đã làm khổ ba, không có khả năng để giúp ba. Bạn bè của ba cũng chưa có cái cơ hội để giúp ba, tội nghiệp cho ba! Còn mình, mình đã có cơ hội tiếp xúc với những bậc đạo sư, những người anh, những người chị, những người bạn có chiều hướng tâm linh tốt giúp cho mình nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa những khổ đau trong mình.
Vua Trần Thái Tông năm hai mươi tuổi ôm ấp niềm đau đó, được may mắn gặp Viên Chứng quốc sư ở trên núi Yên Tử. Viên Chứng quốc sư đã khai sinh đời sống tâm linh cho vua Trần Thái Tông. Từ đó trở về sau, vua Trần Thái Tông đã có con đường tu học, đã có một chiều hướng tâm linh trong đời sống của mình, đời sống của một vị vua, đời sống của một nhà chính trị. Vì vậy vua Trần Thái Tông đã có cơ hội nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau trong lòng. Do đó vua Trần Thái Tông đã có thể tạo nên sự đoàn kết trong dòng họ, trong triều đình để thành công như một ông vua lớn của triều đại nhà Trần.
Nếu cha chúng ta không có cơ hội vì cha chúng ta không được may mắn thì tại sao chúng ta phải giận cha, phải thù hận cha? Chúng ta phải phát ra lòng đại bi: Tội nghiệp ba quá đi, ba chưa bao giờ gặp được một vị như là thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử, ba chưa bao giờ được tiếp xúc với chánh pháp, ba chưa bao giờ tiếp xúc được với những pháp môn tu tập, nó giúp cho ba có thể nhận diện được những nỗi khổ, niềm đau, ôm ấp những nỗi khổ, niềm đau đó để mà chuyển hóa, để mà trị liệu. Bây giờ mình phải giúp ba và mình phải thực tập cho được. Sau khi thực tập thành công rồi, hòa giải được với ba trong từng tế bào của cơ thể thì mình có thể giúp cho ba hóa giải và trị liệu được một cách rất là dễ dàng.
Những người thanh niên đó đã nghe lời tôi, đã tu tập, đã chuyển hóa và đã trở về để giúp cho thân phụ và thân mẫu của những người đó. Khi mình giúp cho một thanh niên, một thiếu nữ chuyển hóa được những khổ đau và trở về hòa giải được với cha mẹ thì niềm vui, hạnh phúc của mình rất lớn. Hạnh phúc của mình không nằm ở chỗ có uy quyền, có tiền bạc, có danh vọng hay có sắc dục mà ở chỗ mình thấy cuộc đời mình có ý nghĩa, mình giúp được cho rất nhiều người chuyển hóa được nỗi khổ, niềm đau và hòa giải được với người thương của họ.
(còn tiếp)
Gia sản văn hóa Việt Nam đóng góp được gì cho hòa bình thế giới – phần II
Con đã thỉnh ý tăng thân chưa
Khoảng một tuần sau khi xuất gia vào tháng 2 năm 1998, chúng tôi – chín sư chú, sư cô thuộc gia đình cây Táo – ngồi lại với nhau để bàn về việc tổ chức những sinh hoạt có thể đem đến sự kết nối và truyền thông giữa các thành viên trong gia đình cây Táo cũng như với những sư anh, sư chị đã xuất gia trước đây. Chúng tôi có đề nghị tổ chức một buổi đi dã ngoại vào ngày làm biếng đầu tiên của mỗi tháng. Mỗi lần đi, chúng tôi mời một vài sư anh, sư chị của các cây xuất gia trước đi cùng. Chúng tôi thỉnh ý quý thầy, quý sư cô lớn và sau đó lên xin phép Thầy. Thầy gật đầu chấp thuận sau khi hỏi chúng tôi: tăng thân đã cho phép chưa?
Lần đầu tiên ở Làng các sư chú, sư cô mới xuất gia được phép đi sinh hoạt với nhau. Là sư anh lớn của cây Táo, lớn lên trong gia đình huyết thống có đến mười anh chị em, tôi biết nhu cầu để các sư anh, sư chị, sư em cùng cây hiểu nhau là có thật và rất lớn. Tuổi đời của chúng tôi lúc đó cũng không nhỏ gì lắm, đa số đều trên dưới ba mươi, người lớn tuổi nhất lúc đó đã năm mươi, nhỏ nhất là sư em út Kính Nghiêm – “baby nun” đầu tiên của Làng, mười bốn tuổi. Tuy nhiên, khi mới xuất gia, đi sinh hoạt với nhau cần phải có các sư anh, sư chị lớn có mặt và hướng dẫn. Khi xin phép, chúng tôi nói rõ lý do là những buổi sinh hoạt này có tính cách xây dựng tăng thân chớ không phải là chỉ đi chơi với tính cách cá nhân. Những đề nghị mình xin thực hiện mà đem lại lợi ích cho tăng thân thì tăng thân thường chấp thuận. Chúng tôi thay phiên nhau tổ chức những ngày đi chơi đó.
Buổi đầu tiên gồm có các thầy, các sư cô lớn như thầy Nguyện Hải, thầy Vô Ngại, thầy Pháp Ấn, thầy Pháp Dụng, sư cô Trung Chính… đi cùng, trên dưới ba mươi người. Chúng tôi đi thăm thành phố cổ Saint-Emilion và ăn trưa, ca hát ở một khuôn viên nhà thờ. Các buổi đi chơi chấm dứt sau khi mỗi người chúng tôi đã có cơ hội tổ chức một lần, tất cả là chín lần. Chúng tôi có dịp đi thăm hầu hết các thắng cảnh trong vùng. Sau này, việc đi chơi của các gia đình xuất gia đã trở thành một truyền thống của Làng.
Khi tổ chức một sinh hoạt, ban điều hợp sinh hoạt đó có nhiệm vụ tổ chức những buổi họp trong đại chúng để thảo luận và đi đến quyết định chung, sau đó thì trình lên Thầy để Thầy chỉ dạy. Thường thì Thầy giữ nguyên những quyết định đó, trừ khi thật cần thiết mới đổi. Trong chuyến đi Bắc California năm 2002, thầy Pháp Dụng và tôi phụ trách tổ chức khóa tu xuất sĩ tại tu viện Kim Sơn. Vì thời gian tổ chức hơi gấp và đã tổ chức khóa tu tại đó nhiều lần, nên chúng tôi dựa theo thời khóa cũ và vào trình với Thầy. Thầy hỏi đã thỉnh ý tăng thân chưa. Chúng tôi thưa là vì thời gian eo hẹp, nên thỉnh ý Thầy trước rồi trình với tăng thân sau. Thầy nói vậy là không được, phải bắt đầu từ tăng thân trước.
Khi tôi đứng trong vai trò của một sư anh lớn, cần lắng nghe hết ý kiến của tăng thân rồi mới đưa ra ý kiến của mình, tôi hiểu hơn về quá trình làm một quyết định. Trong các buổi họp, các vị lớn thường hay phát biểu sau cùng. Vì nếu các vị lớn đưa ra ý kiến của mình sớm quá, các vị nhỏ hơn sẽ ngại đưa ra những ý kiến khác với ý kiến của những vị lớn. Thầy là một thành viên của tăng thân, khi Thầy chưa cho ý kiến thì những đề nghị mà tăng thân trình lên chưa là ý kiến của toàn thể tăng thân. Thầy không dùng vị trí của một vị thầy, của một người lớn để áp đảo ý kiến của đệ tử. Trong mô hình dân chủ, mỗi người có một lá phiếu, giá trị của mỗi lá phiếu đều như nhau. Điều đó đúng khi làm quyết định, nhưng khi thảo luận thì ý kiến của Thầy được lắng nghe nhiều vì đức độ và tuệ giác của Thầy tạo một niềm tin trong đại chúng. Tăng thân nghe theo những đề nghị của Thầy để quyết định vì những điều đó đúng. Những điều đúng khi nói ra thì được lắng nghe, cho dù là được nói bởi các thầy, các sư cô trẻ. Tăng thân chúng ta đang từ từ tập nghe những lời chia sẻ của các thầy, các sư cô lớn. Quý vị đang thay mặt Thầy hướng dẫn các sư em, vì bây giờ Thầy không còn trực tiếp dạy. Các thầy, các sư cô lớn cũng có đức độ, tuệ giác đã được huân tập và phát triển sau nhiều năm tu học. Vai trò của các thầy, các sư cô lớn từ từ được biểu hiện cụ thể hơn.
Tiếng Hoa có sự phân biệt rõ ràng giữa hai cụm từ “sư phụ/đệ tử” và “thầy/trò”. Sư phụ có nghĩa vừa là thầy vừa là cha; đệ tử có nghĩa vừa là em, vừa là con. Cha con, anh chị em thì có sự truyền thừa. Ở Tây phương cũng vậy, họ dùng hai cụm từ “master/disciple” và “teacher/student”. Chữ “master” được định nghĩa là người mà những điều họ dạy được người khác nghe và làm theo, ví dụ như Zen Master. Chữ “disciple” được định nghĩa là người học và làm theo những điều mà thầy mình dạy. Nó khác nhiều so với cụm từ thầy/trò. Học trò không gọi thầy cô giáo dạy toán, lý, hóa… là sư phụ, là master, mà là teacher. Theo định nghĩa của sự liên hệ trao đổi kiến thức thuần túy, học trò không phải làm theo những điều mà thầy dạy. Sư phụ/đệ tử thì thường dùng trong lãnh vực tâm linh, có sự truyền thừa của một tông phái. Ở Làng Mai thì cụm từ thầy/trò được dùng nhiều hơn nhưng được hiểu theo nghĩa sư phụ/đệ tử. Vì trong truyền thống văn hóa Việt Nam, người thầy thường đóng vai trò của cha mẹ và người học trò thường đóng vai trò của người con/người em.
Một vị vua Trung Hoa đời nhà Tề, sau khi họp nội các về thì khóc ròng. Hoàng hậu hỏi vì sao, nhà vua nói là triều đại của ông sẽ không có tương lai. Trong các buổi họp, các quan đều đồng ý với những điều nhà vua nói, ai cũng gật đầu. Vua nói là vua cần nghe những lời phản biện, chớ cái gì cũng đồng ý với vua hết thì đâu cần họp nội các làm gì, quyết định một mình cho khỏe. Các vị minh quân, các vị lãnh đạo giỏi đều có thái độ cởi mở như vậy. Họ biết những ý kiến khác biệt sẽ giúp sáng tạo hơn và sẽ dẫn đất nước, đoàn thể đi lên. Tăng thân Làng Mai cũng sinh hoạt theo tinh thần đó. Trong một buổi họp, nếu có nhiều ý kiến khác nhau thì đó là một điều đáng mừng. Cần tạo ra không gian và sắp xếp thời gian để những ý kiến mới được nói ra. Tôi nhận thấy trong các buổi họp hạnh phúc, khi không bị giới hạn về thời gian và không phải làm quyết định thì nhiều ý kiến hay được đưa ra hơn là trong các buổi họp để quyết định những điều cần phải làm.
Những con ong, ví dụ như loài ong mật, sống trong một cộng đồng có tổ chức quy mô và chặt chẽ. Có ba loại ong: ong chúa, ong đực và ong thợ. Ong chúa sống từ hai đến ba năm và chỉ có nhiệm vụ sinh nở. Ong đực sống từ vài tuần đến năm tháng, có nhiệm vụ giao hợp với ong chúa rồi chết. Ong thợ, chiếm hơn 95% dân số, quyết định và lo hết tất cả các việc khác như kiếm ăn, xây tổ, nuôi em, bảo vệ… Ong thợ nếu sinh vào mùa sản xuất mật, tức là mùa xuân hay mùa hè, thì chỉ sống được khoảng sáu tuần, vì phải làm việc rất nhiều. Nếu sinh vào mùa thu/đông thì sống khoảng năm tháng. Cho nên, cộng đồng ong luôn luôn được đổi mới và trong thời gian sống ngắn ngủi đó, các con ong thợ phải học hỏi, thực tập và trao truyền kinh nghiệm sống cho thế hệ kế tiếp. Một công trình đòi hỏi sự kiên trì và liên tục. Dĩ nhiên là chúng không cần phải biết tất cả. Có những lãnh vực chuyên môn chỉ được giao cho một nhóm, do toàn cộng đồng ong chỉ định ra. Chỉ định xong rồi thì tin tưởng, giao khoán việc đó cho nhóm đó thực thi. Chúng có những nguyên tắc sống còn được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Ví dụ như xây dựng tổ thì phải theo bốn tiêu chuẩn: cách mặt đất ít nhất là 4,5m để các loài thú khác khó phá; lỗ ra vào tổ khoảng 20cm2, lớn vừa đủ để ra vào và nhỏ đủ để các loài vật khác khó vào; lớn khoảng 40 lít khối cho một cộng đồng mấy chục ngàn ong; và ở trên/trong thân cây còn sống. Khi có nhu cầu tạo chỗ mới, cộng đồng mấy chục ngàn con ong này giao cho ban xây dựng, gồm khoảng 500 con ong thợ thâm niên và có nhiều kinh nghiệm. 500 con ong thuộc ban xây dựng này nghiêm túc theo bốn nguyên tắc trên mà kiếm chỗ, xong về bàn bạc với nhau, khi có quyết định rồi thì cả đàn mấy chục ngàn con đi theo thôi.
Và nếu vì nhu cầu sống còn hay nhu cầu phát triển mà phải thay đổi bốn tiêu chuẩn xây tổ trên thì chúng cũng làm. Nhưng sự thay đổi đó cần phải qua kinh nghiệm sống và phải hiểu rõ những cái cũ. Cần phải biết rõ truyền thống trước khi thay đổi.
Trong đời sống tăng thân Làng Mai, sự thay đổi cần được làm theo tinh thần “Bồi đắp gốc rễ, khai thông suối nguồn”. Trong sự nghiệp duy trì và phát triển các pháp môn sau này, Thầy dạy là cần phải có bốn pháp ấn – đã về đã tới, đi như một dòng sông, thời đế tương tức và sát na dị thục – nền tảng của các pháp môn giảng dạy và thực tập của Làng Mai.
Khóa tu An cư kiết đông năm 2010 – 2011, tôi có dịp về Làng ba tháng và được giao nhiệm vụ hướng dẫn nhóm thiết kế trang nhà Làng Mai mới. Các sư em hỏi tôi: “Thầy dạy nên có mục ‘Đài Mây Tím’, nhưng các sư em không hiểu nó là gì, nghe hơi lạ tai, không biết có nên làm không?”. Tôi trả lời: “Chưa nghe Thầy nói về điều đó, có thể không làm, nhưng nên thỉnh ý Thầy lại cho chắc”. Một tuần sau, khi đang ngồi uống trà với thầy Pháp Ứng thì Thầy và thị giả ghé qua phòng chơi. Thầy gọi tôi lại gần và nói: “Ngày xưa các thầy tu rất thảnh thơi, mỗi chùa thường có một đài để ngắm mây tím, lại có hiên để nghe mưa nữa, cho nên cần có mục Đài Mây Tím”. Tôi mắc cỡ sám hối với Thầy vì không biết nên mới khuyên các sư em như vậy. Có nhiều điều tôi chưa biết, thật may mắn khi có người chỉ những điều đó cho mình.
Tôi đến Làng lần đầu tiên vào năm 1987, lúc 26 tuổi. Hồi đó tôi gặp khó khăn về tình cảm, cần có nhu cầu chuyển hóa khổ đau nên tôi đến Làng để hiểu về tâm lý học chứ không phải vì quan tâm đến tôn giáo. Tu học được vài năm, tôi thật sự có chuyển hóa nên rất có niềm tin vào pháp môn. Mùa thu năm 1998, lần đầu tiên được tiếp xúc với Duy biểu học, tôi thấy những lời dạy trong đó giống nhiều điều tôi đã trải qua. Ta không thể nào hiểu Duy biểu qua ngôn từ được, chỉ có thể sống, kinh nghiệm và thực chứng Duy biểu mà thôi. Sau đó, tôi có dịp đọc cuốn Duy biểu học – phiên tả những bài pháp thoại Thầy giảng trong khóa tu mùa đông 1993-1994. Trong mục mong muốn của tác giả, Thầy nói: “Nếu nội dung của năm chục bài kệ Duy biểu có thể dùng làm tài liệu trong các khóa tu dành cho ngành tâm lý trị liệu để trị các bệnh tâm thần thì những bài kệ đó đã làm được vai trò của chúng”. Câu nói đó ở mãi trong tâm thức tôi, là tư niệm thực để hướng dẫn tôi tìm hiểu và làm một cái gì ý nghĩa về lĩnh vực này.
Từ năm 2007, khi bắt đầu sinh hoạt tại Hồng Kông, tôi thích tìm hiểu về lãnh vực chánh niệm trong y học thân tâm (mind-body medicine). Vào mùa hè năm 2012, Centre of Behaviorial Health (Trung tâm Sức khỏe Hành vi) của Đại học Hồng Kông mời tôi hướng dẫn chánh niệm cho nhóm chuyên gia trong lĩnh vực y tế và phụng sự xã hội (Health care and social service professionals). Tôi bắt đầu nghiên cứu thêm về thần kinh học, sinh học tế bào (Cellular biology) và các ngành tâm lý Tây phương. Tôi chia sẻ những việc này với Thầy và bắt đầu tổ chức các khóa tu chuyên ngành cho các chuyên gia y tế và tâm lý học. Thầy khuyến khích và nhắc tôi nên kết hợp việc hướng dẫn của mình với những kiến thức khoa học, vì với giới hàn lâm thì “nói có sách, mách có chứng”. Thầy cũng gởi cho tôi tập tài liệu tại hội nghị Chánh niệm – Y học thân tâm mà Thầy đã hướng dẫn tại đại học Harvard vào tháng 9 năm 2013. Sau một khóa tu chuyên ngành dài tám ngày cho ba mươi bác sĩ tâm lý trị liệu vào tháng 11 năm 2013 tại Thái Lan, tôi xin phép Thầy cho AIAB thành lập “Trung tâm Thân tâm kiện an thở và cười”. Sau hơn 2 năm chuẩn bị, trung tâm đi vào hoạt động vào tháng 4 năm 2016. Nhìn lại, hạt giống của trung tâm này đã được nuôi dưỡng mười tám năm, từ khi tôi đọc câu nói của Thầy trong cuốn Duy biểu học.
Trong tập tài liệu “Trăng sao là tâm thức”, Thầy nhắc “Duy biểu trong thế kỷ của ta phải đi sát với sinh học và lý học, chứ không phải chỉ đi sát với luận lý học như ở thời kỳ Pháp Xứng và Trần Na. Tâm lý học và sinh lý học phải đi đôi với nhau. Nghiên cứu về quá trình phát sinh tư tưởng và cảm thọ, ta phải có kiến thức về thần kinh và não bộ…” và Thầy dạy các sư anh, sư chị tìm hiểu thêm về lĩnh vực này để hướng dẫn cho các sư em. Những khám phá về thần kinh học kể từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay cho biết là hệ thống thần kinh cảm xúc (limbic system) có những hành vi tương tự như ý căn (mạt na căn) và tình thức (ý, mạt na thức) vậy. Nó cũng giải thích cách làm việc của tàng thức, ý thức và năm thức giác quan khá rõ ràng. Tôi cũng thấy rằng Duy biểu học có thể được xem là nền tảng cho những trường phái tâm lý học Tây phương. Trong khóa tu mùa đông năm nay tại EIAB, tôi có hướng dẫn một lớp về đề tài này cho các thầy, các sư cô trẻ. Tôi có một ước mơ đưa Duy biểu học trở thành một ngành học Tâm lý hiện đại. Cho nên tôi cũng gieo hạt giống này cho các vị cư sĩ nữa, nhất là cho các chuyên gia tâm lý học. Nhiệm vụ của người hoằng pháp là gieo hạt. Hạt giống có thành cây hay không là tùy duyên. Tạo duyên nhưng tùy duyên.
Xin tạ ơn Thầy đã gieo những hạt giống tốt cho tôi và cũng đã tạo điều kiện cho những hạt giống đó được nẩy mầm và phát triển thành hoa trái.
Chân Pháp Khâm
Có một góc riêng
Mùa Giáng sinh lại về.
Không biết sao, một người tu Phật như ri mà mỗi khi tới mùa Giáng sinh là lòng cứ như được quà.
Sáng nay, nhìn ngọn đèn dầu trên bàn học và vài bóng đèn Noel trước hành lang khu vực phòng học của quý sư cô, nghe lòng… một chút thổn thức. Có lẽ vì, những ngày đầu mới đi tu nằm ở thời điểm này và lại ở ngay cái xứ Vermont đầy tuyết trắng nên sâu đậm cái chất Giáng sinh như vậy.
Thầy chúng ta thường nói và Bụt cũng dạy là không nên nhớ nghĩ về quá khứ hay lo lắng về tương lai mà hãy an trú trong hiện tại. Nhưng cũng đâu có hề chi nếu nhớ về một quá khứ đẹp, phải vậy không?! Không những nhớ Noel là vì lễ Giáng sinh đẹp ngay xứ tuyết thôi đâu, mà có thể còn nhiều kỷ niệm khác nữa. Nhớ cái sinh khí tươi vui và tu học của các anh chị em trong buổi đầu “sơ khai lập quốc”, lúc đó “các vị tướng” non choẹt, ngơ ngác nơi xứ người ở Rừng Phong sâu thẳm ấy. Anh chị em thời ấy bây giờ dù xa hay gần đâu đó trên trái đất này… thì ai cũng là “một thời để nhớ”.
Kể lại để chúng ta cùng nhau nuôi dưỡng tâm mình bằng những gì mình đã từng có và được cất giữ đâu đó nơi góc riêng của tâm hồn. Có thể không đẹp với ai khác, nhưng là một “thời vàng son” đáng nhớ. Và cũng để nhắc cho nhau những lời Thầy dạy: “Nếu ai chưa thấy mình có quá khứ đẹp thì nên bắt đầu tạo cho mình. Tạo bằng cả trái tim và sự nhiệt huyết để nó cũng sẽ ở mãi trong dòng huyết quản và trái tim của mình”.

Cách đây mấy ngày, thấy vài sư cô và các bạn thiền sinh mang đồ Noel ra trang trí, thêm nhận được thư của vị thầy y chỉ sư nhắn nhủ, lại thấy mình may mắn vô cùng. Muốn được chia sẻ những sự ngọt ngào mạnh mẽ ấy của các bậc thầy để chúng ta cùng tận hưởng thêm những tháng ngày mà mình còn được cái quyền làm y chỉ muội, nằm trong vòng tay thương yêu và che chở của vị y chỉ sư mình, trọn vẹn và ấm áp (nhưng đừng nhõng nhẽo quá mức mà nhọc y chỉ sư nhe): ” …thầy cũng có mơ ước an cư nơi một vùng trời hơi lạnh, có mưa, có tuyết để hứng trên hai tay, có rất nhiều anh chị em chung quanh để giận người này một chút, cười với người kia một chút. Gẫm ra mọi thứ mình gieo hôm nay sẽ gặt hái ngày mai. Trên con đường mình đi có Bụt, có Tăng thân và có những kinh nghiệm tu tập gọi là Pháp bảo. Đầy đủ và trọn vẹn. Con nên đưa hai tay để đón nhận những gì người trao cho mình. Với tất cả trân trọng, …”.
Truyền thống của mình là An cư mùa mưa nên mình có cơ hội nếm trải cái lạnh của đông.
Ở Làng, rừng mận của xóm Hạ, mùa đông nó như cây khô, trơ xương suốt mấy tháng dưới cái lạnh không tuyết mà buốt như cắt của vùng thung lũng. Ấy vậy mà, khi có nắng xuân về thì hoa thôi là hoa, “không thể dùng toán học mà kiểm đếm được” – hằng hà sa số. Nếu những cây mận ấy không được trải qua một mùa đông băng giá thì hoa trái không thể kết nụ dâng mầm được. Hoặc có chăng nữa cũng rất ít. Như ở Lộc Uyển nè, mùa đông lạnh và mưa ít quá nên những cây mận cứ như cây mới trồng hoài, hoặc già cỗi đi mà chẳng thấy hoa và trái đâu. Mùa đông mà không mưa không lạnh thì con người ta thấy khỏe đó. Nhưng rồi… có sức sống gì trên sa mạc đâu! Thành ra, những cánh hoa tuyết rơi khi đông về tuy hơi lạnh, nhưng đưa hai tay ra mà hứng hoa tuyết, mà cười mà vui. Hóa ra, cái khắt khe của “bác đông già” hay sự “khổ luyện” của tuyết mưa lại là chất liệu chính yếu cho hoa xuân được biểu hiện một cách tròn trịa và có ý nghĩa.
Thôi, không viết nữa. Mượn chút tuyết của Rừng Phong – Vermont ngày xưa để có dịp trò chuyện cho nhau nghe vậy.
Nhiều nhân duyên lành và ân nghĩa lớn vẫn trải đầy quanh ta, mong rằng chúng ta nuôi mãi ý thức chánh niệm để những nhân duyên lành ấy không lướt qua trước mặt một cách đáng tiếc vì sự hời hợt của mình!
Bên cạnh tuyết là mưa, xin mượn hai câu thơ của một vị thầy, gởi tặng các bạn tôi nhân mùa Giáng sinh về nhé:
“Mưa làm trễ tràng hơn công việc, nhưng để cỏ xanh hơn lá xanh hơn.” – QN
Và Thầy chúng ta vẫn nhắc hoài: “Đừng phụ suối đồi”. Thành thử, tiết đông tuy buốt, nhưng hãy “mang áo ấm vào và đừng mang theo cuốn sách nào cả. Hãy để cho ngày nay là của hôm nay và sống mãi đến muôn cùng.”
Mong tất cả chúng ta có một mùa đông nữa thật nhiều tin yêu và sáng tạo trên đường tu của mình.

Chân Hằng Nghiêm
Lễ xuất gia cây Sơn Thù Du (Dogwood Tree) ngày 20.10.2017
Nơi ấy vẫn còn thu
Mùa thu vẫn chờ mình
Trên kia còn ít lá
Bước chân ai thật nhẹ
Đi về giữa thênh thang.
Chuông chùa vẫn ngân vang
Cứ mỗi chiều mỗi sớm
Làng quê nào tĩnh lặng
Thấp thoáng bước chân thiền.
Ai che nghiêng chiếc nón
Lặng ngắm lá thu rơi
Giữa bao la đất trời
Nghe ra lòng thảnh thơi.
Mùa thu còn đứng đó
Thả lá vàng bay bay
Ai sắp về có hay
Chiếc là vàng năm ấy.
Vẫn ngàn năm ngàn năm
Cùng mùa thu trở lại
Cùng hẹn mùa thu tới
Kể bao chuyện đầy vơi.
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Lắng vào trong tĩnh mặc
Đi qua mùa tháng năm
Đón đợi người năm cũ.
Ngày nao ai trở lại
Gặp đúng mùa thu sang
Chuông chùa lại ngân vang
Chiếc lá vàng sẽ kể
Chuyện ngày xưa ngày sau
Bao lần mình gặp nhau
Vẫn thấy mùa thu đợi!
(Chân Trăng Hương Tích)
Ngồi cho yên để bắt đầu thấy rõ
| Ngồi xuống đi bạn sẽ nhìn thấy rõ Giây phút này đẹp lắm, mỉm cười vui Mưa đang rơi, mưa mùa thu lạnh Cho hạt mầm trong đất nảy chồi tươi. Hãy ngồi xuống và lặng yên, thật khẽ Những nội kết lâu rồi chưa gỡ rối Giờ rõ mặt thì không còn sợ nữa Nỗi khổ đau sẽ tan như viên đá Hãy ngồi xuống, lặng im và nhận diện Bây giờ, ở đây, bình an là có thực |
Diệu Minh
Sen nở vườn tâm
Thầy kính thương,
Con là học trò Hà Nội của thầy từ năm 2005 khi lần đầu tiên Thầy về Việt Nam. Thế là đã 12 năm kể từ lần đầu tiên con được gặp Thầy. Và con đã được gặp Thầy không chỉ ở Hà Nội mà ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam yêu quý, trong đó có Cố đô Huế trong lần Thầy về Việt Nam mới đây. Con cũng đã may mắn được gặp thầy nhiều lần tại Pháp và Thái Lan.
“Hoa sen không thể mọc và tỏa hương trên đá quý hay kim cương. Sen chỉ nở và tỏa ngát trên bùn. Hạnh phúc và khổ đau cũng vậy, chúng nương vào nhau. Chúng ta không thể thấy được hạnh phúc ngọt ngào nếu chưa nếm trải vị cay đắng của khổ đau.
Nếu chưa bao giờ bị đói, ta sẽ không biết trân quý món ăn.
Nếu chưa bao giờ thấy chiến tranh, ta sẽ không thấy được giá trị lớn lao của hòa bình.
Vì thế, nếu có được những kinh nghiệm đau buồn, đó là điều rất tốt. Nhờ thế mà trên nền tảng ấy ta nhận diện được hạnh phúc.”

Cậu học trò Hà Nội của Thầy đang ở Frankfurt của nước Đức. Con đọc và cứ nghĩ rằng Thầy viết những câu này dành riêng cho cậu ấy. Bởi con chính là cậu bé sinh ra trong khó khăn gian khổ, trong bùn đen hôi để sau này và bây giờ đang được thưởng thức hạnh phúc ngọt ngào. Con cũng đã chứng kiến chiến tranh nên cảm nhận rất rõ hòa bình thật vi diệu và rằng chúng con đang vô cùng may mắn được sống trong hòa bình.
12 năm trước lần đầu tiên con được gặp Thầy, người mà tất cả đều gọi là Sư Ông Làng Mai. Trong 12 năm qua con được tiếp xúc với rất nhiều học trò khác của Thầy cũng là cư sỹ tại gia như con từ khắp thế giới và con đã trực tiếp nghe họ tâm sự rằng họ quá may mắn được học tập và chuyển hóa chính mình dưới sự hướng dẫn của Thầy, một ông thầy tu Việt Nam. Chỉ lắng nghe và cảm nhận những chuyển hóa trong họ và người thân mà con đã thấy hạnh phúc lắm lắm rồi.
Tu tập cũng giống như chuyện sen nở vậy. Con may mắn gặp Thầy và cứ vậy sen trong đầm con nở từ đó đến nay. Sen hiểu biết và thương yêu cũng nở trong con suốt những năm qua. Và kết quả là hạnh phúc và bình an trong con là kết quả của bao năm thực hành. Mỗi ngày trôi qua là bình an và hạnh phúc tăng lên, nhanh đến bất ngờ.
Con nhớ rằng thời gian ban đầu khi mới tập tu thấy khó quá. Thất niệm dài dài. Đau khổ vẫn triền miên, mặc dù con đã có đủ thứ trên tay. Nhưng nếu những ngày đó không trồng sen, không bắt đầu, không dốc sức thì làm gì có được những bông sen đầu tiên.
Thầy thương kính,
Bao năm qua con đã đọc “Đường xưa mây trắng” và rồi nghe “Đường xưa mây trắng” mỗi đêm, có khi nghe suốt đêm, kể cả khi con đã ngủ. Con đọc và nghe mà như thấy Thầy chính là đức Phật của 2.600 năm trước. Đây là một trong những tác phẩm mà con thích nhất, đã làm thay đổi con nhiều nhất.
Nhân sinh nhật của Thầy con ngồi xem lại một loạt sách do Thầy viết như “Nẻo về của ý”, “An lạc từng bước chân”, “Phép lạ của sự tỉnh thức”, “Gieo trồng hạnh phúc”, “Muốn an được an”, “Thiền sư Khương Tăng Hội”, “Hạnh phúc cầm tay”, “Con đường chuyển hóa”, “Đạo Phật của tuổi trẻ”, “Đạo Phật đi vào cuộc đời” và “Tay thầy trong tay con”. Đêm qua con đã đọc lại hai cuốn mới nhất, xuất bản nhân dịp Thầy về Việt Nam năm 2017 này là “Tìm bình yên trong gia đình” và “Tĩnh lặng”.
Con đã bình yên và tĩnh lặng một mình để cảm nhận Thầy đang và luôn có mặt bên con ngay bây giờ, trong mọi nẻo đường, trong từng bước chân, trong từng hơi thở. Rồi con cùng các đồng nghiệp, bạn hữu đang ngồi tại khắp bốn phương trời để nguyện cầu và gửi năng lượng yêu thương tới Thầy. Thầy có biết rằng, sức khỏe và bình an cũng như sự có mặt của Thầy là món quà quý giá nhất mà chúng con nhận được.
Con nhắm mắt lại và nhớ đến câu nói thân thương và những lời dặn của Thầy. Rằng: Này con, có rất nhiều khách sẽ đến viếng nhà con. Khách thích con hay không thích con, khách hạnh phúc hay khổ đau, khách như ý hay bất như ý, khách thị phi hay hiểu biết, yên lặng hay mỉm cười …. Con phải giữ nguyên vị trí chủ nhân ngôi nhà. Sống với khách nhưng không là khách. Con không cần phải trốn tránh! Khách đến rồi khách đi. Hãy nhớ câu chuyện của Bụt, ai đem đến những gì mà con không nhận, những cái đó sẽ trả về cho chính họ!
Con đang ngồi tĩnh lặng theo đúng lời dạy của Thầy. Tĩnh lặng là điều cốt lõi. Chúng ta cần tĩnh lặng như chúng ta cần không khí, như cái cây cần ánh sáng mặt trời. Nếu tâm trí của chúng ta luôn chứa đầy những toan tính và lo lắng thì chúng ta chẳng thể tìm được một khoảng trống cho chính mình.
Con và các cộng sự thực tập ngồi yên trong tĩnh lặng để bên Thầy từ nay đến ngày sinh nhật lần thứ 91 của Thầy và dài lâu hơn nữa. Chúng con đang bình yên và hạnh phúc bên Thầy, với Thầy, cùng Thầy. Ngày tiếp nối của Thầy cũng là ngày tiếp nối của con, của chúng con mà.
Tâm Thiện Đức Nguyễn Mạnh Hùng
Công ty sách Thái Hà
Gom lá mùa thu
CÁI NHÌN ĐẦU TIÊN
Trước khi đến Làng, những danh từ như Xóm Thượng, Xóm Hạ, Xóm Mới, hay Sơn Hạ, Sơn Cốc…, tôi nghe có một cảm xúc rất lạ. Cái gì đó tương phùng, vừa gần, vừa xa. Hôm nay tôi đến Làng, thấy mình như cậu bé. Một cậu bé lạc giữa khu rừng cổ tích; khu rừng Xóm Hạ, khu rừng Xóm Thượng, khu rừng Xóm Mới… Bị lạc nhưng không sợ hãi, chỉ thấy thoả lòng.
Ngày nào tôi cũng tranh thủ lắng nghe và ngắm nhìn mọi thứ chung quanh. Tôi nhớ rất rõ cái ngày chiếc xe chở tôi từ nhà ga rẽ vào cổng chùa Sơn Hạ, hai hàng phong đã niềm nở thế nào. Cái lần đầu tiên thấy tượng Bụt được đặt trong bức tường đá ở thiền đường, nó linh thiêng làm sao; hay khi thấy mùa thu về trên ngọn đồi Xóm Mới, tôi đều nhớ hết. Có lần thiền hành ở Xóm Hạ ngắm lá bạch dương nhẩn nha rơi, tôi biết pháp thân đã được hiện ra bằng sắc màu và âm hưởng. Tôi chăm chú nhìn vào tất cả những gì mình thấy đầu tiên. Nghe ai đó bảo tâm đầu tiên là tâm trong sáng.
Có người bạn bảo là ở Làng thì mùa xuân rất tuyệt, hay là rừng phong ở EIAB còn nhỉnh hơn. Tôi chỉ gật gù vì chưa thấy mùa xuân ở đây, cũng chưa đến EIAB bao giờ. Nhưng cảm nhận của tôi với Làng thật đẹp. Nó đẹp vì là “cái nhìn đầu tiên”. Rừng tùng, vườn Bụt, hoa cẩm tú cầu, hay tháp chuông đều thiền vị, hữu tình. Đặt chân trên con đường Huyền Thoại, tôi nhận ra mình đã thật sự ở Làng. Sư Ông và quý thầy quý sư cô đi trước đã để lại trên mảnh đất này biết bao tinh hoa, làm cho Làng khác thường và sống động. Làng đơn giản nhưng có dư vị thánh hiền, công phu tu tập phảng phất ngay cả nơi những giọt sương vương trên đầu ngọn cỏ. Chỉ ngắm nhìn thôi cũng đủ cho lòng đầy vơi sung sướng!

NHÀ THỜ, CÁNH ĐỒNG, VÀ TRĂNG
Từ Sơn Hạ muốn lên Xóm Thượng sẽ đi qua rừng tùng, muốn lên thăm nhà thờ sẽ qua cánh đồng nho. Ai đó nói khuôn mặt khi ngủ của đứa trẻ đẹp như một cánh đồng. Sư Ông nói nếu con yêu cánh đồng thì hãy làm cho nó một bài thơ. Còn tôi thì thấy những gì Sư Ông để lại cho đời bao la như cánh đồng vậy. Tôi nghĩ đến Làng Mai Thái, nơi cũng có những thung lũng rộng mênh mông. Thay vì nho, ở đó là cánh đồng dệt bằng ngô và sắn. Ở đó có chùa làng, với một tượng Bụt rất lớn nằm trên đỉnh đồi. Con đường qua đồng nho ở đây thì không có tượng Bụt, nhưng có nhà thờ, với thánh giá gắn ở nóc cao, cũng nằm trên một ngọn đồi thanh tao như thế!
Không biết nhà thờ này có tự bao giờ, nhưng chắc là sớm hơn Làng Mai rồi, vì tường đá cũ thế cơ mà. Tôi thích cứ mỗi chiều đi bộ lên thăm nhà thờ. Khi thì đi với một hai người bạn, khi thì một mình. Đi để thấy mình lên cao hơn ngọn đồi Xóm Thượng, để nắng chiều soi rõ vào màu chiếc áo tôi mặc, hay để phóng mắt ngắm thung lũng lồng lộng dài đến tận chân trời. Ngắm nhìn thung lũng lúc về chiều, thoạt đầu thì thấy mình nhỏ bé, sau đó lại thấy mình vô cùng. Có lẽ khi nhìn kỹ một khung cảnh nào, tâm tư trọn vẹn, chúng sẽ đi vào trong ta, ta bỗng trở lên rộng rãi lạ thường!
Đứng trên sân nhà thờ, ngoài việc ngắm thung lũng, còn được nghe tiếng chuông treo trên cửa chính ra vào. Mỗi lần chuông điểm, tôi nhắm mắt; thở; thấy đâu có khác gì với tiếng chuông của Làng đâu. Ở đây, ai cũng xem tiếng chuông nhà thờ làm tiếng chuông của Làng. Nhờ đó mà tôi thấy gần gũi với nhà thờ ngay từ cái ngày đầu tiên ấy.
Có người bạn nói với tôi, vào mùa này, tức là mùa thu, muốn thấy hết vẻ đẹp của Sơn Hạ, thì phải đứng ngắm từ nhà thờ. Ra là vậy, đứng đó tôi mới thấy rừng phong ngả màu đang ôm lấy Sơn Hạ, mới thấy khu rừng cổ tích mà cậu bé đang sống, nó “cổ tích” thế nào! Con đường dẫn lên nhà thờ được ai đó đặt những chậu hoa, nở vô tư bên bức tường rêu cũ, đẹp đến lạ lùng!
Cái đêm trung thu, trăng tròn vành vạnh, tôi và một thầy khác lại lên nhà thờ ngắm trăng, nó treo lơ lửng trên cánh đồng. Thầy ấy còn kể những năm trước, vào những ngày làm biếng, thầy cùng nhiều vị khác còn đem cả trà, cả chiếu lên nhà thờ uống trà ngắm trăng đến khuya sương xuống, lạnh lắm mới về. Thầy nói rằng những đêm đó, cũng như đêm nay, thầy là người tự do và giàu có nhất. Thật vậy, đi chơi nhà thờ, bạn sẽ thấy thênh thang, vì góc nào cũng đẹp. Đứng ở đó một hồi lâu, tôi bỗng thấy nơi đây cũng cần tình thương và tấm lòng rộng rãi của con người, để mỗi khi chiều về nó không cảm thấy mình riêng lẻ. Tôi nhớ đến đoạn thơ của Sư Ông, đoạn thơ mà tôi thường lẩm nhẩm một mình mỗi khi thấy lòng trống vắng:
“…Bóng dáng tiên trần còn thôi xuất hiện
… Gương nga lặng lẽ
… Nhìn vào đâu cũng thấy nụ tinh khôi.”

MÙA THU
Mùa thu ở đây rõ ràng quá! Tôi muốn viết về mùa thu. Diện mạo của mùa thu là những chiếc lá phong đỏ thắm rơi theo gió. Nó cứ đến từng ngày trên khu rừng, khi những chiếc lá cứ đua nhau đỏ dần, làn gió se lạnh cho hơi thở được dài hơn. Thở thật chậm và sâu để mùa thu đi vào trong cơ thể. Những người nông dân tất bật tối ngày với ruộng nho; tôi xem họ là những người hoạ sĩ điểm tô màu sắc cho cánh đồng. Sau mỗi ngày làm việc họ sẽ tranh thủ ngước mắt trông mùa thu, bớt đi một chút nhọc nhằn. Đại chúng Sơn Hạ mỗi lúc thiền hành đều còn một góc thật đẹp để yên lặng ngắm nhìn. Nhìn mùa thu mà khởi niệm yêu thương, buông xuống những muộn phiền nhân thế. Mùa thu là một món quà ý nghĩa về hình thức và nội dung, hễ ngước mắt lên thì con người sẽ lắng đi những âu lo toan tính. Tôi gửi tôi trong chiếc lá phong màu đỏ, ngoạn mục lìa cành về an trú ở cội nguồn. Mùa xuân năm sau lại biểu hiện qua những chồi, những búp, thêm một chu kỳ, và niềm tin vào con đường vui vẫn còn y nguyên, không hề thay đổi.
NGÔI NHÀ NỘI TÂM
Tối hôm đó, sau giờ công phu, có thầy nhen trước phòng một đống lửa. Thầy bảo chút xíu nữa trăng lên. Vì có chút se lạnh nên việc đốt lửa trở thành có lý. Tôi khoác thêm áo bước ra, các thầy khác thấy bếp lửa cũng tự mình mang ghế lại. Trăng đã lên rồi, chúng tôi nhắc nhau như thế. Bếp lửa cũng dần kêu tí tách, những chiếc áo nâu co cụm lại hàn huyên, nhưng không quên lâu lâu ngẩng mặt lên nhìn trăng sáng. Chúng tôi thích những phút giây ngồi lại vòng quanh với nhau, những mẩu chuyện cứ đến rồi đi nhưng cái gần gũi thân quen thì ai cũng cảm nhận được. Nó cũng giá trị như khi ngồi yên, đi thiền. Như những viên gạch được xây thêm trong tâm tư mỗi người; dần tạo nên dáng hình của một ngôi nhà nội tâm ấm áp, nơi có bóng dáng của những người anh em sẽ đi chung với nhau thật lâu trên cùng một con đường. Tôi lại nhớ đến một đoạn thơ của Thầy, khung cảnh trong bài thơ hiện ra cũng na ná với những gì anh em tôi đang có:
“…Về Xóm Mới chúng tôi đi! tất cả vẫn mong chờ
Em tôi vẫn còn trông nom chút lửa hồng bếp cũ
Mái chèo xuôi nước sông
Thuyền về không do dự
Sao đêm an lành thuyền anh đi mãi
Nhìn bóng chiều sa không ngại
Vì biết tình thương hôm nay còn đủ sưởi ấm ngày mai…”

HOÀI BÃO
Tôi vừa đến Làng thì có một sư anh lại sắp đi đến một Làng Mai khác. Tôi tự hứa là sẽ lên chơi với sư anh mỗi ngày, thế mà không làm được điều này đều đặn. Khi ai đó sắp đi, sắp rời xa một nơi nào đó gắn bó đã lâu, họ cần mình đến chơi không chỉ là để cho đi những vật dùng không mang theo được. Họ muốn cùng ngồi uống trà để kể về những kỷ niệm đáng nhớ họ có nơi đây. Họ muốn trân quý những tháng ngày còn lại được ở trên vùng đất đó; hay là để chia sẻ cho mình những hoài bão họ mong muốn làm trong những tháng năm sắp tới. Và đặc biệt là, họ muốn thấy họ có ở trong mình để được tiếp tục ở lại; không cảm thấy phải chia tay với cái nơi họ rất mến, rất thương. Có gì chưa làm được ở đây, sư anh nhờ tôi làm dùm. Sư anh nói hoài bão là hoài bão chung.
Những lúc như vậy với sư anh không nhiều, nhưng đủ cho chúng tôi hiểu nhau, xem nhau là tri kỷ. Sư anh tặng tôi cái gối, bảo là tôi sẽ ngủ ngon. Rồi cho thêm cái đèn, bảo là đèn này ngồi học thì không lo đau mắt. Tôi thì chỉ biết đến ngồi, thế thôi; vậy mà tôi cũng nghĩ là mình đã tặng sư anh một cái gì to lớn lắm. Tôi vui khi được nhận, sư anh vui khi cho đi. Mơ ước của tôi là đá bóng sau mỗi ngày quán niệm, mơ ước của sư anh là làm vơi bớt khổ đau của cuộc đời. Sư anh nói mùa thu ở đây êm đềm lắm, cứ ở yên mà tận hưởng. Sáng hôm đó sư anh rời Làng, tôi tiếc vì mải chơi quên không ra tiễn. Tôi còn chưa kịp nói rằng những hoài bão nơi đây tôi mong là sẽ thay sư anh làm nốt phần còn lại. Thôi thì sẽ trả lời khi nào thấy lòng yên lắng nhất. Không biết khi nào sư anh mới thực hiện hết những hoài bão của mình. Nhưng hoài bão ban đầu; xây dựng ngôi nhà nội tâm có lẽ đang được trợ duyên hết mực. Hoài bão về một kiếp thảnh thơi, hoài bão về một cái gì nhỏ thôi mà tóm thâu tất cả!
Những cảm nhận ban đầu ở Làng làm cho tôi thấy mình mới mẻ và biết ơn, bạn ạ. Có cái đó thúc đẩy tôi đến gần hơn với nắng, mưa, với bước chân, rừng tùng và cả những dáng hình áo nâu nơi đây nữa. Những ngày đầu sao mà dễ thương quá đỗi; tôi sẽ gom chúng như gom lá mùa thu, cất vào trong túi áo, để lâu lâu yên ắng lại mang ra ngắm nhìn. Tôi xem chúng là vốn liếng, là gia tài, và cũng là phương thuốc để xử lý khổ đau. Nhìn Làng hôm nay mà thấy Làng ngày xưa, nhìn nhau hôm nay mà thấy nhau ngày xưa, mới toanh và đề huề, bạn nhỉ?
Chân Pháp Khả
Đi cùng Thầy
(Chia sẻ của nhóm tăng thân Sài Gòn – Indonesia – Trung Quốc sau hành trình 8 ngày xuyên Việt tìm về quê hương tâm linh.)
Sài gòn những ngày đầu tháng 10.
Không khí tấp nập và ồn ã của thành phố làm con hơi lao xao. Con tự nhắc mình quay về với hơi thở để thư giãn toàn thân, quay về với những gì nuôi dưỡng nơi tự thân mình. Thế rồi khung cảnh của những ngọn núi xanh ngập trong mây hiện lên trong tâm trí con, những bậc đá nối nhau đưa bước chân con lên đỉnh cao Yên Tử, nơi con như hòa tan vào không gian bao la. Con thấy mình là ngọn cỏ xanh, là bông hoa dại trắng, là hòn đá, là cơn gió nhẹ. Cảm giác tự do và trọn vẹn. Cùng anh chị em, chúng con đã bước những bước vững chãi đến nơi chân mây, cùng cất lời ca “mình là cụm mây bay cũng như trời xanh cao, là cánh chim ngàn dang đôi cánh bay thật xa…”. Hòa cùng sương khói, đỉnh thiên bỗng trở nên vang vọng và đi vào lòng người. Con thấy trong thoáng chốc những người khách du lịch đã dừng lại và lắng nghe mình. Tình anh chị em thật đẹp trong giờ phút ấy!
Chúng con đang nuôi dưỡng niềm bình an và hạnh phúc của nhau. Chúng con đang cùng nhau trên hành trình trở về với chính mình để tiếp xúc với những nhiệm màu của sự sống, để cởi bỏ mọi ràng buộc quá khứ và tương lai, để sống trọn vẹn với thiên nhiên, với anh chị em.
Sau chuyến đi, điều làm con nhớ nhất không phải là những cảnh đẹp thiên nhiên mà là vẻ đẹp của tăng thân, là tình cảm ấm áp của tăng thân khắp chốn dành cho nhau ở mỗi nơi chúng con có mặt, là những buổi ngồi yên và uống trà với anh chị em… Và con biết rằng chừng nào con còn có sự thực tập thì chừng đó con còn có tăng thân trong tim mình.
Trăng khuya đã lên, tuy không tròn như trăng 16 nhưng trăng đêm nay vẫn là trăng thu. Cũng như vậy, dù là tăng thân ở Sài Gòn, Đà Nẵng hay Hà Nội, chúng con vẫn cùng hòa vào một dòng sông lớn của sự thực tập đang làm lan tỏa tỉnh thức, bình an và hạnh phúc.
(Chia sẻ của Phan Thị Hiếu – Tâm Hạnh Nguyện tăng thân Trăng Rằm)

Trong chuyến trở về với quê hương tâm linh – Việt Nam, con rất biết ơn miền đất xinh đẹp và bao dung đã sinh ra Thầy. Con đã tiếp xúc sâu sắc hơn với Thầy, với tăng thân Làng Mai, đã có cơ hội được gặp gỡ tăng thân khắp chốn từ Nam ra Bắc. Con rất biết ơn rằng mình đang cùng hòa vào dòng sông tăng thân ấy.
Thầy từng nói rằng: Cuộc đời Thầy là một thông điệp. Chúng con cũng chuyên chở thông điệp riêng của mình, có thể là khác nhau nhưng không hề tách biệt mà hòa hợp như nước của một dòng sông. Thầy kính thương, kính mừng ngày tiếp nối của Thầy. Nhờ những lời dạy của Thầy mà Thầy luôn có trong chúng con và chúng con luôn có trong Thầy. Chúng con chính là sự tiếp nối của Thầy. Cùng với nhau chúng ta là một.
(chuyển ngữ từ bài viết của Andie Yu – tăng thân Trung Quốc)
Những chặng đường mà con qua, những nơi mà con đến – Huế hay Bảo Lộc, Từ Hiếu hay Phương Bối Am – đều mang dấu chân Thầy. Thầy đã cống hiến cuộc đời mình cho mảnh đất này và trải qua bao thăng trầm cho đến khi Thầy tìm ra được con đường xây dựng tăng thân.
Chuyến đi đã cho con nhiều trải nghiệm quý giá, được tiếp xúc với tăng thân khắp nơi và học được cách kết nối tăng thân trong sự hòa hợp như Thầy luôn căn dặn. Con được tiếp xúc với những ánh mắt, nụ cười ấm áp và vô tư của quý thầy và quý sư cô mặc dù điều kiện sinh hoạt rất giản đơn và xa rời chốn phố thị. Điều này làm cho con thêm niềm tự tin vào con đường thực tập.
Con nghe thấy tiếng gọi: Hãy bước cùng Thầy! Vâng, con đang bước đi cùng Người trên con đường Hiểu và Thương. Cùng với tăng thân, chúng con đi về biển lớn.
(chuyển ngữ từ bài viết của Finny- Owen True Island of Loving Kindness Chân Từ Châu – tăng thân Indonesia)
































