Vào dòng rong chơi

Sau buổi ăn sáng, tôi nhẹ nhàng bước vào văn phòng. Vừa mở cửa, tôi đã nghe tiếng điện thoại reo vang trong nắng sớm. Tin vui đem lại từ cô Hạnh Lưu: “Vài ngày nữa thôi Sư Ông sẽ đến Làng Mai Thái Lan”. Sau khi biết chắc chắn đó là sự thật, chúng tôi ai cũng tấm tắc: “Ôi! thật mầu nhiệm! Ôi! thật mầu nhiệm!”. Không riêng tôi mà tất cả bảy chị em đều tràn ngập hạnh phúc, cảm nhận rõ tình thương của Người bao phủ mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Nếu gọi tên Thầy con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay”. Chưa gọi tên Thầy, chỉ mới nghe tin Thầy về thôi mà các sư em tôi đã hân hoan trong niềm vui sướng: “Sư cô ơi! Mình đi hết cả chúng qua Thái Lan thăm Sư Ông nhé sư cô”. “Nhưng,…tài khoản mình trong ngân hàng gần hết rồi đó”, sư cô Trí Duyên nhỏ nhẹ, e ngại pha lẫn chút lo lắng (vì sư cô làm thủ quỹ đó mà). Tôi trả lời không cần đắn đo, suy tính: “Không sao… không sao! Bụt sẽ cho mình lại thôi, chúng ta ao ước muốn được thăm Sư Ông từ lâu rồi phải không?” Chị em chúng tôi đã bắt đầu xây ước mơ về Làng Mai ở Pháp thăm Người từ ngày hay tin Người bị bịnh. Chúng tôi đã chờ đợi… chờ đợi… và bây giờ cơ hội đã đến thật rồi! Tôi quay qua sư cô: “Thỉnh sư cô Trí Duyên cùng đi cho vui nữa nhé!” (Bởi vì thường thường sư cô ít khi đi đâu, rất tiết kiệm và giữ gìn cho đại chúng). Tất cả đều quay qua nhìn sư cô chờ đợi, sau vài phút sư cô chỉ mỉm cười. Chúng tôi cùng hiểu đó là dấu hiệu của sự đồng ý…

Sư em Phát Nghiêm chắp tay lên tiếng ngay: “Con xin phép quý sư cô, mình có nhiều dầu olive lắm, cho con mang qua cúng dường đại chúng Thái Lan nha. Mình gởi biếu quý sư cô Diệu Trạm, Long Thành, quý thầy Từ Hiếu nữa sư cô nhé”. Sư em quay qua nhìn tôi với nụ cười rạng rỡ… (tình thương của tri khố là rứa đó).

Sư em Trăng Sông Hồng tiếp theo: “Sư cô ơi! Luôn tiện con nhờ quý thầy ở Hong Kong giúp mình mua thêm mấy cái đồng hồ treo tường, nhờ quý thầy đem qua Thái rồi mình mang về Úc cho thiền sinh ở đây thỉnh về nhà thực tập, sư cô nhé.” Tôi thầm cám ơn các sư em tôi đã luôn nghĩ đến mọi người ở khắp nơi.

Chiều hôm ấy, sư em Trăng Thường Trú cười tủm tỉm cho tôi biết đã mua được bảy vé máy bay qua Thái Lan. Niềm vui lan tỏa khắp cả xóm Bạch Vân. Còn bảy ngày nữa chúng tôi mới lên máy bay, thời gian như chậm lại, như đùa với lòng háo hức mong được gặp Sư Ông, mong được hòa vào dòng chảy lớn của tăng thân. Tuy vậy, năng lượng hạnh phúc, bình an của Người đã tràn về trong mỗi chúng tôi, trên mỗi chiếc lá, nụ hoa và len lỏi qua rừng cây, trong từng hơi thở ngay bây giờ và ở đây rồi.

Cuối cùng, chúng tôi đã đến Làng Mai Thái Lan. Sáng nay, 14 tháng 12 năm 2016, tất cả mọi người cùng nhìn về hướng Sư Ông đang ngồi chứng minh buổi lễ truyền giới Sadi và Sadi nữ. Chắc chắn mỗi người có những cảm xúc khác nhau. Riêng tôi, cảm giác thật bình lặng, tưởng như mới gặp Người hôm qua. Đôi mắt ấy vẫn sáng tinh anh như ngày nào, dáng ngồi vẫn kiên định; và tình thương yêu, che chở cho tất cả chúng tôi, những người con còn non dại vẫn dũng mãnh biết bao.

Ý thức gọi tôi về, nghe rõ tiếng Thầy đang nói trong tôi: “Con ơi! Thầy luôn ở trong con và con đang tiếp tục đưa Thầy đi tới tương lai”, khi bàn tay tôi đặt lên mái đầu xanh của em. Với đôi bàn tay búp sen chắp lại, em xin được làm con Thầy, để hôm nay em được tiếp nhận giới Sadi nữ. Niềm tin vào Thầy, vào con đường này đang rúng động trong tôi, cùng hòa với hơi thở ý thức của em, đang quỳ gối chờ đợi cắt mái tóc xanh…

Nhìn các sư em hồn nhiên tung tăng, tíu tít cười đùa như “cá được trở về với nước” trong đại chúng lớn, hạnh phúc trong tôi cũng dâng đầy không kém như khi tôi gặp lại “những người xưa”, từ thuở tôi mới về Làng. Khi ấy, Làng vỏn vẹn chỉ có hơn mười chị em, lại đang có nhiều khó khăn với hàng xóm vì họ chưa hiểu được pháp môn của Làng. Thêm vào đó là những thiếu thốn về cả vật chất lẫn nhân sự, thời khóa và công việc thì dày đặc trong các khóa tu và lễ hội, nhưng niềm vui và hạnh phúc thì quá dư thừa. Đến nỗi các thiền sinh đến Làng tu học thắc mắc hỏi: “Ô! Năng lượng các sư cô làm sao mà nhiều thế, nơi nào, chương trình nào cũng thấy các sư cô xuất hiện và luôn cười được như vậy?” Những kỷ niệm vui trong tôi ùa về khi nhìn thấy “những người xưa ấy vẫn còn đây”. Trong tôi dâng lên niềm biết ơn các sư chị, sư em đã chấp nhận, thương yêu và nâng đỡ, để tôi cùng được đi chung một lối. Nụ cười vừa hé mở, hơi thở buông thả nhẹ nhàng cho đôi bàn chân tôi thêm sức sống trong những bước thiền hành vững chãi trên con đường còn thơm mùi đất mới, khi mặt trời vẫn còn đang say ngủ sáng nay.

Về lại Nhập Lưu, thấy các chú thợ đang loay hoay lắp ráp, lên khung cho dãy nhà mới. Sau hai năm chờ đợi thủ tục xin giấy phép, công trình xây dựng nhà khách đã được bắt đầu giữa tháng 12 năm 2016 và hy vọng đến tháng 7 năm 2017 sẽ hoàn tất theo như hợp đồng đã ký. Đó là niềm vui chung cho Nhập Lưu cũng như các tăng thân cư sĩ trong nước Úc. Bên cạnh đó, chú Vinh và Khoa – là con trai mà cũng là đệ nhị thân của chú, đã đến Nhập Lưu từ giữa tháng Chín tới giữa tháng Mười một. Tuy mùa đông đã qua nhưng chú vẫn còn sợ lạnh. May thay, tình thương con quá lớn đã giúp chú vượt qua bức tường sợ lạnh ấy. Chú đã giúp xây dựng một nơi đậu xe có ba chỗ, cộng thêm một kho chứa dụng cụ máy móc vừa đẹp, vừa rất khang trang rộng rãi, ai đến cũng khen. Chú có nhiều tài năng và khéo tay nên không cần có bằng cấp gì vẫn làm ra được những công trình hoàn hảo. Khoa có nhiều ý tưởng mới và rất thương cha nên hết lòng giúp sức. Qua đó, các sư cô thấy rõ sự tiếp nối của chú trong Khoa thật rõ ràng, như Sư Ông từng dạy “cha có trong con và con có trong cha”, không thể bỏ ai ra khỏi ai được. Có lẽ hai cha con có nhiều chuyển hóa và hạnh phúc trong thời gian ở Nhập Lưu nên con đã dẫn cha về dự An cư kiết đông 2016- 2017 trọn ba tháng với quý thầy xóm Thượng – Làng Mai, Pháp.

Tuy thiền viện Nhập Lưu có số lượng các vị xuất sĩ ít nhất so với những trung tâm khác, nhưng Nhập Lưu vẫn đang nhẹ nhàng, vững chãi vươn mình theo tinh thần tùy duyên và tùy hoàn cảnh cho phép. Dù chỉ có bảy chị em nhưng chúng tôi vẫn cố gắng duy trì, tổ chức những ngày chánh niệm vào thứ Năm và Chủ nhật hằng tuần tại thiền viện và ở những nơi nào cần đến chúng tôi. Những chuyến hoằng pháp vào tháng Tư và khóa tu gia đình ở Cave Hill Creek (một khu nghĩ dưỡng gần Nhập Lưu) vào tháng Chín hàng năm đã mang lại thật nhiều an lạc, hạnh phúc và niềm tin cho những người mới tiếp xúc lần đầu với pháp môn và với tăng đoàn. Đây cũng là cơ hội cho những người đã thực tập lâu năm được trở về cùng tăng thân tắm mát trong dòng sông hiện pháp lạc trú. Hạnh phúc của chúng tôi là sau mỗi khóa tu lại có thêm người tiếp nối đường đi khi nhận “Năm phép thực tập chánh niệm” để mang về thực tập với gia đình.

Lễ Bông hồng cài áo năm nay, số người về tham dự lên đến 300, ngoài dự tính của chúng tôi. Lễ Tắm Bụt cũng vậy, số người tham dự đông hơn năm ngoái, thiền đường hết chỗ phải ngồi ra tận hành lang. May quá, chúng tôi vừa đổ xi-măng làm hành lang mới, chỉ hai tháng trước ngày lễ Bông hồng cài áo theo yêu cầu của Hội đồng thành phố.

Bên cạnh đó, còn có những chuyến hành hương 50 hoặc 100 người đi bằng xe bus lên thăm thiền viện. Thời gian từ phố lên đây (rừng) mất hơn sáu tiếng vừa đi vừa về. Vì vậy, chúng tôi cố gắng hướng dẫn ngày “chánh niệm cấp tốc” cho họ. Nhìn ai cũng hết lòng lắng nghe, ham thực tập và thích thú khi ra về, chúng tôi cũng vui lây, quên hết mọi mệt nhọc trong ngày. Các sư cô rất ngạc nhiên khi thấy những người vừa mới tới, tuy chưa được hướng dẫn tổng quát mà ai cũng đều biết thực tập nghe chuông và ăn cơm im lặng trong chánh niệm. Chúng tôi lên tiếng khen ngợi thì nhiều vị nở nụ cười sung sướng, khoe rằng: “Chúng con bước lên xe bus là được trưởng đoàn dặn dò liền là chùa này khác chùa ở phố đó nhe, nghe chuông là phải đứng lại lắng nghe hơi thở và ăn cơm thì không được nói chuyện ồn ào. Các sư cô ăn chung với mình đấy nên phải nhớ nhé”. À thì ra là thế!  Thiền sinh dưới phố, khi có thân nhân, bạn bè từ xa về thăm đều đưa lên tu học với Nhập Lưu. Khi ai đó có khó khăn, khổ đau, thì Nhập Lưu là nơi cho họ trở về tiếp nhận hạnh phúc và chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau ấy. Nhập Lưu cũng là nơi để những ai nghe nói đến Làng Mai về thực tập cho biết pháp môn Làng Mai ra sao.

Nhập Lưu đang giữa mùa hạ, mùa mà những ai ở Úc đều lo lắng và sợ hãi khi lửa dễ bắt cháy trên những cánh đồng cỏ khô bát ngát, và những cánh rừng rộng thêng thang. Những cơn gió mạnh cuốn hút bụi đường tạo thành những cơn lốc xoáy đưa vào không gian mênh mông, làm cho những thân cây cũng phải nghiêng ngã uốn mình chìu theo từng cơn bão gió trong nắng hạ, những hạt nắng óng ánh rơi trên những nhánh lá xanh cùng nhau nhảy múa khúc hát vô sinh. Tuy thiền viện tọa lạc trong cánh rừng rộng bao la hơn 45 mẫu nhưng chúng tôi không lo lắng. Những thứ cần thiết đã sẵn sàng trong túi đãy, chỉ cần nhận được tin “khẩn” của phòng chữa cháy là chúng tôi lên đường “tỵ nạn” ngay thôi. May mắn thay, trước khi vào hạ, những cơn mưa đã đổ về làm tràn đầy các hồ nước trong đất Nhập Lưu sau vài năm khô cạn vì hạn hán. Màu xanh của nước là màu trời xanh biếc, những bông hoa li li khoe sắc thắm dưới ánh nắng chan hòa của mùa hạ đã thu hút những loài chim trời quay về đoàn tụ dưới bầu trời tĩnh lặng, bình yên.

Sư Ông vẫn thường nhắc chúng tôi: “Hạnh phúc không phải là hạnh phúc riêng”. Chúng ta có trong nhau, chúng ta đều cần nhau. Nhờ nương vào pháp môn “đi như một dòng sông” với mái chèo chánh niệm Thầy đã trao ấy, chị em chúng tôi có thêm năng lượng và sức mạnh để vượt qua những khúc sông đầy cám dỗ, khó khăn và thử thách của cuộc đời.

Cúi đầu với lòng kính ngưỡng chân thành, kính cám ơn Thầy đã trao truyền cho chúng con những kinh nghiệm, những tuệ giác của Người, để hôm nay và ngày mai, chúng con có thể mang những bông hoa hiểu biết và trái ngọt thương yêu hiến tặng cho mọi người và mọi nơi.

Chân Thuần Tiến

Phần V

Tình yêu dành cho đất mẹ không còn là ý niệm về môi trường

(Dưới đây là bài phỏng vấn của Jo Confino cho Guardian Professional Network.
Theo guardian.co.uk thứ Hai, ngày 20 tháng 2 năm 2012.)

Thiền sư Nhất Hạnh nói để đối phó với những thách thức của môi trường, chúng ta cần có một cuộc cách mạng tâm linh.

Thiền sư Nhất Hạnh có 70 năm kinh nghiệm thực tập thiền và chánh niệm. Từ Thầy tỏa ra một sự bình an và tĩnh lặng lạ thường. Đây là con người đang sống những gì mình nói, con người được giới Phật tử coi như một vị Bồ Tát, không ngừng tìm kiếm những cách thức tốt nhất để giúp người.

Ngay từ những ngày tháng trực tiếp sống và đối mặt với cuộc chiến thảm khốc tại Việt Nam, vị Thầy hiện đã 86 tuổi này đã phát nguyện cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp hòa bình và hóa giải xung đột. Năm 1967, mục sư Martin Luther King đã đề cử Thầy cho giải Nobel Hòa Bình vì theo Mục sư “Những phát kiến cho hòa bình của Thích Nhất Hạnh, nếu được áp dụng, sẽ dựng nên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản.

Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi những năm gần đây, Thầy không chỉ chú trọng tới việc hòa giải xung đột trong mối quan hệ giữa người với người, mà còn hướng sự quan tâm tới hành tinh xanh của chúng ta – nơi nương náu của mọi loài.

Thầy, như hàng ngàn thiền sinh và đệ tử vẫn gọi, thấy rằng vì đời sống thiếu ý nghĩa, thiếu sự liên hệ mật thiết với nhau mà chúng ta trở thành con nghiện của chủ nghĩa tiêu thụ. Chúng ta cần phải nhận ra và ứng phó với những áp lực mà chúng ta đang gây cho Trái đất nếu nhân loại muốn sống sót.

Điều mà đạo Bụt có thể đóng góp cho nhân loại là nhận diện những khổ đau ta đang gánh chịu và một con đường thoát khổ là trực tiếp đối diện, mà không phải tìm cách trốn tránh hay khỏa lấp bằng những  công việc, mua sắm, giải trí hay chăm chút làm đẹp. Những ham muốn về danh vọng, giàu sang, quyền lực và tình dục chỉ có tác dụng tạo nên ảo giác về hạnh phúc mà không phải là hạnh phúc đích thực, kết cục chỉ làm trầm trọng thêm những cảm giác trống trải, xa cách.

Thầy lấy ví dụ câu chuyện của một tỷ phú, điều hành một trong những tập đoàn lớn nhất Hoa Kỳ. Ông này tới tham dự một khóa tu với Thầy, kể về những khổ đau, lo lắng và nghi ngờ của ông. Ông nghĩ rằng mọi người đến với ông chỉ vì muốn lợi dụng, nên ông chẳng có ai để làm bạn.

Trong một cuộc phỏng vấn tại Làng Mai –  một trung tâm thiền tập của Thầy gần Bordeaux, Thầy đã chỉ rõ tại sao chúng ta lại cần một cuộc cách mạng tâm linh khi phải đối mặt với vô số thách thức về tình trạng môi trường hiện nay.

Trong khi các chuyên gia khác chỉ tập trung nói về sự phức tạp và khó khăn của vấn đề, như sự hủy diệt của hệ sinh thái, nạn tuyệt chủng của hàng triệu loài sinh vật, thì Thầy nhìn xuyên suốt được vấn đề hóc búa này, và chỉ cần một “lát dao bén’ của Thầy là có thể tháo gỡ được.

Vượt thoát ý niệm “môi trường”

Thầy nói rằng chúng ta phải vượt thoát ý niệm về môi trường, vì điều này khiến mọi người có cảm tưởng bản thân mình và Trái Đất là hai thực thể riêng biệt và trái đất phải phục vụ cho con người.

Chỉ khi ta công nhận con người và hành tinh này hoàn toàn là một và đồng nhất thì mới thay đổi được được tình trạng.

Thầy nói: “Bạn đang mang Mẹ Đất trong bạn. Mẹ Đất không ở bên ngoài. Mẹ Đất không chỉ là môi trường. Mẹ Đất là bạn. Nhìn bằng tuệ giác tương tức đó, chúng ta mới có thể thực sự truyền thông với Mẹ Đất, đó là hình thức cầu nguyện tối ưu nhất. Trong mối tương quan này, bạn có đủ tình thương, sức mạnh và sự thức tỉnh để thay đổi cuộc sống của bạn. Thay đổi, không chỉ là thay đổi những yếu tố bên ngoài ta.

Trước hết, chúng ta cần có chánh kiến – cái thấy đúng – để vượt thoát mọi ý niệm, kể cả ý niệm về có và không, về tạo hóa và tạo vật, về tâm và vật. Tuệ giác này rất cần cho sự chuyển hóa và chữa lành. Chúng ta sợ hãi, xa cách, hận thù, sân giận là do cái thấy sai lầm cho rằng chúng ta và Trái Đất là hai thực thể riêng biệt, Trái Đất chỉ là môi trường. Chúng ta coi mình là tâm điểm và muốn làm điều gì đó cho Trái Đất để chúng ta có thể sống sót. Đó là cái thấy nhị nguyên.

Vì vậy để cứu lấy Đất Mẹ, bạn hãy thở vào, ý thức về cơ thể bạn và nhìn sâu vào cơ thể để thấy rằng bạn là Trái Đất, và tâm thức bạn cũng là tâm thức của Trái Đất. Không chặt phá rừng, không làm ô nhiễm nguồn nước – chừng ấy chưa đủ.”

Đặt cho thiên nhiên một giá trị kinh tế là chưa đủ

Mùa xuân này Thầy sẽ tới nước Anh để hướng dẫn một khóa tu 5 ngày và một ngày hội thảo về chánh niệm trong lĩnh vực giáo dục. Thầy nói hiện nay trong giới kinh tế và kinh doanh xuất hiện trào lưu cho rằng cách tốt nhất để bảo vệ hành tinh là đặt cho môi trường thiên nhiên một giá trị kinh tế, như vậy thì chẳng khác nào băng bột lên một vết thương.

“Tôi không nghĩ là biện pháp đó đem lại hiệu quả. Chúng ta cần một sự thức tỉnh và giác ngộ thực sự để thay đổi cách suy nghĩ và nhìn nhận sự việc của chúng ta.

Muốn thay đổi tận gốc thì thay vì đặt lên cho những khu rừng và thảm san hô những trị giá nào đó, ta phải thương yêu Đất Mẹ trở lại. “Trái Đất không thể được miêu tả bằng vật chất hay tinh thần. Vật chất và tinh thần chỉ là khái niệm. Thực chất chúng là hai mặt của cùng một thực tại. Cây tùng kia không chỉ là vật chất, bởi vì trong nó có chứa cái thấy biết của nó. Một hạt bụi không chỉ là vật chất bởi từng nguyên tử trong hạt bụi đều là một thực thể sống và có trí thông minh. Khi ta nhận ra những đức hạnh, tài năng và vẻ đẹp của Mẹ Đất, thì trong ta sẽ nảy sinh một cái gì đó. Cái đó là sự tương quan mật thiết giữa ta với Đất Mẹ, là tình thương của ta dành cho Đất Mẹ. Chúng ta muốn được kết nối, muốn tương quan, muốn được là một, đó là ý nghĩa của tình thương. Khi thương một người nào đó, ta muốn nói ta cần người đó, ta muốn nương tựa vào người đó. Ta làm tất cả vì lợi ích của Đất Mẹ và Đất Mẹ sẽ làm tất cả cho sự an vui của chúng ta”

Trong giới kinh doanh, Thầy lấy ví dụ  của Yvon Chouinard, người sáng lập và sở hữu của công ty may mặc Patagonia. Ông đã kết hợp giữa việc phát triển kinh doanh thành công với sự thực tập chánh niệm và từ bi. Thầy khẳng định: “Làm giàu theo cách không tàn phá, đề cao công bằng xã hội, làm tăng sự hiểu biết, giảm thiểu khổ đau đang tồn tại quanh ta là điều ta có thể thực hiện được. Nhìn cho sâu, ta thấy ngay trong thế giới kinh doanh ta có thể mang lại nhiều hạnh phúc cho ta và cho người khác. Và như vậy thì công việc của ta có ý nghĩa.”

Thầy, người đã viết hơn 100 cuốn sách, chỉ ra rằng sở dĩ ta đánh mất sự tương quan mật thiết với nhịp điệu tự nhiên của Đất Mẹ là do rất nhiều căn bệnh thời đại gây ra và thậm chí là do ta đổ lỗi cho Đất Mẹ một cách vô thức mà ta không hề hay biết, cũng giống như ta hay đổ lỗi cho những khổ đau bất hạnh của ta là do cha mẹ gây ra.

Trong bài viết Lời Khấn Nguyện Đất Mẹ mới đây, Thầy viết “Trong chúng con, có những người oán hận Mẹ vì mẹ đã sinh ra họ và làm họ khổ, đó là bởi vì họ chưa có khả năng hiểu được Mẹ và chưa biết trân quí Mẹ.”

Chánh niệm giúp ta thiết lập lại mối tương quan mật thiết giữa ta và Đất Mẹ

Thầy đưa ra rất nhiều bằng chứng để chứng tỏ chánh niệm có thể giúp loài người tiếp lập lại mối tương quan mật thiết giữa mình với Đất Mẹ bằng cách sống chậm lại và trân quí tất cả những món quà mà Đất Mẹ hiến tặng cho ta.

“Rất nhiều người đau khổ cùng cực mà không biết là mình đang đau khổ. Họ cố gắng che đậy nỗi khổ đau bằng cách bận rộn. Nhiều người ốm đau bệnh tật chỉ vì họ xa lánh Đất Mẹ. Thực tập chánh niệm giúp chúng ta tiếp xúc được với Đất Mẹ trong ta và sự thực tập này có thể giúp chữa lành bệnh tật. Quá trình trị liệu, chữa lành cho con người phải được tiến hành đồng thời với việc chữa lành cho Đất Mẹ. Đây là tuệ giác và ai cũng có thể thực tập được. Sự giác ngộ này đưa tới sự thức tỉnh cộng đồng. Trong Đạo Phật, thiền là một sự thức tỉnh, thức tỉnh một sự kiện là trái đất đang lâm nguy, mọi loài sinh vật đang trong tình trạng nguy kịch.”

Thầy lấy một ví dụ rất đơn giản và bình dị, là việc uống một ly trà cũng có thể giúp chuyển hóa cuộc đời một con người nếu người đó thực sự để hết tâm ý vào việc uống trà.

“Khi có chánh niệm, tôi thưởng thức ly trà sâu sắc hơn.” Thầy nói và rót cho mình một ly trà rồi chậm rãi nhấp ngụm đầu tiên. “Tôi có mặt hoàn toàn trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây, không bị cuốn đi bởi sợ hãi, buồn đau, dự án, quá khứ và tương lai. Tôi có mặt cho sự sống. Khi ta uống trà, giây phút uống trà là giây phút mầu nhiệm. Ta không cần nhiều quyền lực, danh vọng hay tiền bạc để có thể hạnh phúc. Chánh niệm có thể giúp ta hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Mỗi giây phút đều là giây phút hạnh phúc. Chúng ta hãy thực tập để những người khác theo đó cùng thực tập theo. Chúng ta hãy dành ra vài phút để thực chứng sự thực này.”

Cần phải xử lý cơn giận trong tự thân trước khi muốn trở thành một nhà hoạt động xã hội hiệu quả

Trong hàng thập kỷ qua, Thầy đã dày công phát triển dòng Đạo Bụt Dấn Thân mà nền tảng là sự thực tập 5 nguyên tắc đạo đức – 5 phép thực tập chánh niệm hay còn gọi là 5 Giới – rất rõ ràng và quan trọng đối với việc giải quyết công bằng xã hội.

Tuy nhiên, Thầy nhấn mạnh, nếu các nhà hoạt động xã hội và môi trường muốn làm việc có hiệu quả, trước tiên họ phải xử lý cơn giận trong họ. Chỉ khi nào phát khởi được tình thương và lòng từ bi đối với chính bản thân mình, ta mới có khả năng đối phó với những lực lượng mà ta qui trách nhiệm đang làm ô nhiễm biển và chặt phá rừng.

“Trong Đạo Bụt có nói về hành động cộng đồng. Khi có một điều gì đó sai lầm đang diễn ra trên thế giới, chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng đó là chuyện của người khác, người khác làm mà không phải là ta. Nhưng qua cách sống hàng ngày của ta, ta cũng đang góp một phần vào sai lầm ấy. Nếu ta có khả năng hiểu ra sự thật này, rằng không chỉ ta đang khổ mà người khác cũng đang khổ thì đó đã là một tuệ giác.

Khi thấy ai đó đang khổ, ta không muốn trừng phạt hay lên án người đó, mà ta muốn giúp người đó bớt khổ. Nhưng nếu chính ta đang đầy sợ hãi, giận hờn, vô minh và đau khổ thì ta làm sao giúp được người khác? Khi có hạnh phúc, ta nhẹ nhàng hơn, tươi cười hơn, ai cũng dễ chịu khi ở gần ta và ta có khả năng giúp đỡ người khác. Những nhà hoạt động và tranh đấu cần phải thực tập tâm linh để có khả năng nuôi dưỡng hạnh phúc, xử lý khổ đau và giúp người bớt khổ, như vậy công việc phụng sự thế giới của họ mới có hiệu quả. Nếu trong ta còn đầy giận dữ và bất mãn thì ta không thể làm được gì cả.”

Tiếp xúc Bản môn

Điểm chính trong bài giảng của Thầy là, trong khi sống và sinh hoạt trong thế giới tích môn (thế giới phân biệt, lưỡng nguyên), ta cần hiểu rằng hạnh phúc, an lạc của ta tùy thuộc vào việc nhận diện và tiếp xúc với “bản môn”. Điều này rất quan trọng. “Nếu ta có khả năng tiếp xúc sâu sắc với tích môn – một chiếc lá, một bông hoa, một viên sỏi, một tia nắng, một con chim, ngọn núi, dòng sông và chính thân thể ta – thì khi đó ta cũng đang tiếp xúc được với bản môn. Bản môn không thể được diễn tả là con người hay phi con người, là vật chất hay tinh thần, chủ thể nhận thức hay đối tượng nhận thức. Ta chỉ có thể nói rằng nó luôn luôn tỏa sáng và tự tỏa sáng. Tiếp xúc với bản môn, ta cảm thấy hạnh phúc, thoải mái như con chim tự do trên bầu trời, như con nai được tự do trên đồng cỏ. Ta biết rằng ta không cần phải tìm kiếm bản môn ở ngoài ta, bản môn luôn có trong ta và trong mỗi phút giây.

Trong khi tin rằng có một phương cách tạo ra mối tương quan mật thiết hơn giữa loài người và trái đất, Thầy cũng thấy được một hiểm họa thực sự đang xảy ra là con người vẫn tiếp tục lối sống tàn hoại và nền văn minh này sẽ tới ngày sụp đổ.

Thầy nói tất cả những gì chúng ta cần làm là thấy được rằng chúng ta không làm chủ được trước những phản ứng của thiên nhiên đối với những loài sinh vật khác. “Khi nhu yếu sinh tồn bị thay thế bởi lòng tham lam và ngạo mạn thì bạo động sẽ phát sinh và luôn đưa tới những hủy diệt không đáng có. Chúng ta đã học bài học rằng gây bạo lực cho con người và cho những loài sinh vật khác chính là ta đang gây bạo lực với chính ta, còn khi ta biết bảo hộ mọi loài thì ta cũng đang bảo hộ chính ta.”

Lạc quan trước nguy cơ thảm hỏa

Trong thần thoại Hy Lạp, khi Pandora mở hộp quà, tất cả tai họa được thoát ra ngoài và tràn xuống trái đất. Chỉ có một thứ còn sót lại, đó là “hy vọng”.

Thầy rất rõ ràng khi khẳng định duy trì niềm lạc quan là điều rất cần thiết nếu chúng ta muốn tìm một con đường thoát khỏi nguy cơ hủy diệt do khí hậu thay đổi thất thường, mà điều này sẽ dẫn đến những biến động tiêu cực lớn lao của xã hội.

Tuy nhiên, Thầy không ngây thơ để không nhận ra rằng những lực lượng hùng mạnh vẫn đang tiếp tục không ngừng trừng phạt chúng ta và đẩy loài người tới bờ vực thẳm.

Trong cuốn sách nổi tiếng viết về môi trường, cuốn Hướng Đi Của Đạo Bụt Cho Hòa Bình và Môi Sinh (The World We Have), Thầy viết: “Chúng ta đã tạo nên một hệ thống xã hội mà ta không làm chủ được. Ta để cho tiện nghi vật chất làm chủ đời mình. Để áp lực đè nặng và biến mình thành nạn nhân, nô lệ”.

Chúng ta tạo nên một xã hội mà người giàu càng giàu thêm và người nghèo càng thêm túng quẫn. Ta chỉ biết chăm chút lo cho riêng mình, và chỉ thấy những cái lợi trước mắt mà quên đi những hậu quả về sau, chúng ta ít khi để tâm đến số phận của người khác, đến tương lai của hành tinh mẹ của chúng ta. Chúng ta có khác gì những con gà đang bị nhốt trong chuồng và đang giành xé nhau một vài hạt bắp mà không biết rằng lát nữa mình sẽ bị giết làm thịt.

______________________________________________

dịch từ: Beyond environment: falling back in love with Mother Earth

Tôn trọng sinh môi

Khải Bạch
Bạch đức Thế Tôn, trong nửa sau thế kỷ trước và trong những năm đầu của đầu thế kỷ này con đã thấy ý thức về sinh môi trở thành sáng tỏ. Nhiều người trong chúng con đang vận động để trong khi chăn nuôi và gieo trồng chúng con không gây tàn hại cho sinh môi như trong thế kỷ trước. Bao nhiêu rừng cây đã được đốn xuống để làm đồng cỏ nuôi súc vật. Phân rác do công nghiệp chăn nuôi tạo ra đã làm ô nhiễm đất đai và các nguồn nước rất trầm trọng. Sự sử dụng chất độc hóa học trong ngành canh nông cũng đã gây tàn hại trầm trọng cho các loài chúng sanh, cho đất, nước và khí trời. Cũng chỉ vì loài người chúng con tham ăn mà trái đất này phải gánh chịu bao nhiêu thảm hại. Chúng con xin nguyện sẽ ăn uống cho có chánh niệm, không ăn thịt, không uống rượu, và nỗ lực khuyến khích và yểm trợ cho một nền nông nghiệp lành mạnh, biết tôn trọng mạng sống chúng sinh và sinh môi. Trong vườn nhà, vườn chùa, chúng con sẽ tập trồng rau trái theo phương thức hữu cơ, ra chợ chúng con cố gắng mua các thứ rau trái trồng theo lối hữu cơ, để yểm trợ cho những nông dân sản xuất thực phẩm theo đường hướng này. Chúng con sẽ tập ăn ít lại để có đủ tiền mua các thức rau đậu và cây trái trồng theo lối hữu cơ.

Địa Xúc
Con xin lạy xuống ba lạy để sám hối với đất Mẹ, đất Mẹ đã chở che nuôi dưỡng và ôm ấp chúng con bao nhiêu đời mà chúng con đã không ý thức được điều đó và đã gây tàn hại quá nhiều cho đất Mẹ. Xin đức Thế Tôn và các vị tổ sư chứng minh cho con khi con lạy xuống (C)

Con duy trì địa xúc

Khải Bạch
Bạch đức Thế Tôn, con nhớ trước ngày Ngài thành đạo dưới cội bồ đề, Ma Vương có xuất hiện và hỏi Ngài những câu hỏi với mục đích là để làm cho Ngài nản chí. Ma vương hỏi: Ngươi là ai mà dám nghĩ rằng mình sẽ đạt đến quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác? Ngươi tu hành đã bao nhiêu kiếp mà bây giờ dám nghĩ là trong vòng hăm bốn tiếng đồng hồ nữa là có thể đạt thành đạo quả? Ai có thể chứng minh được rằng những điều ngươi nói đúng với sự thực? Bạch đức Thế Tôn, khi Ma vương hỏi Ngài những câu ấy thì Ngài đã đưa bàn tay phải của Ngài để xúc chạm vào mặt đất, và Ngài nói với Ma vương: Có Đất này chứng minh rằng những điều ta nói là có thực. Đất đã rung động. Và Ma vương đã rút lui. Bạch đức Thế Tôn, con rất muốn chiêm ngưỡng hình ảnh của Ngài khi Ngài ngồi vững chãi trên mặt đất và tay phải của Ngài đang bắt ấn địa xúc. Mỗi lần thấy hình ảnh ấy là con cảm động. Đất đã chứng minh rằng Ngài đã từng được hiện thân trong vô lượng kiếp và Ngài đã liên tiếp  thành công trong mỗi kiếp. Ngài có chỗ nương tựa rất vững chãi để có thể biểu hiện hàng trăm triệu lần trong những hóa thân mầu nhiệm để tu tập và độ đời. Bụt Tỳ Bà Thi trong quá khứ cũng đã là Ngài mà Bụt Từ Thị trong tương lai cũng sẽ là Ngài. Và còn trăm triệu hóa thân khác nữa. Chỗ nương tựa vững chãi của Ngài là Đất. Ngài biểu hiện từ Đất và luôn luôn trở về với Đất để rồi Ngài biểu hiện trở lại. Con biết là con cũng có thể nương tựa vào Đất như Ngài và nương tựa vào Đất con cũng sẽ có được năng lượng vững chãi như Ngài.

Phật bảo sáng vô cùng
Đã từng vô lượng kiếp thành công
Đoan nghiêm thiền tọa giữa non sông
Sáng rực đỉnh Linh Phong
Trên trán phóng hào quang rực rỡ
Chiếu soi sáu nẻo hôn mông
Long Hoa hội lớn nguyện tương phùng
Tiếp nối Pháp chánh tông
Xin quy y thường trú Phật đà gia!

Con biết thực tập địa xúc trong tư thế ngồi, trong tư thế đi hay trong tư thế nằm, con có thể đạt tới năng lượng ấy và con có thể nối tiếp được sự nghiệp của Ngài.

Địa Xúc
Con xin đức Thế Tôn cho con lạy xuống ba lạy để tiếp xúc với Đất một cách sâu sắc và để cảm thấy năng lượng vững chãi vô cùng của Đất (C)

Ấn địa xúc

Khải Bạch
Bạch đức Thế Tôn, con nhớ trước ngày Ngài thành đạo dưới cội bồ đề, Ma Vương có xuất hiện và hỏi Ngài những câu hỏi với mục đích là để làm cho Ngài nản chí. Ma vương hỏi: Ngươi là ai mà dám nghĩ rằng mình sẽ đạt đến quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác? Ngươi tu hành đã bao nhiêu kiếp mà bây giờ dám nghĩ là trong vòng hăm bốn tiếng đồng hồ nữa là có thể đạt thành đạo quả? Ai có thể chứng minh được rằng những điều ngươi nói đúng với sự thực? Bạch đức Thế Tôn, khi Ma vương hỏi Ngài những câu ấy thì Ngài đã đưa bàn tay phải của Ngài để xúc chạm vào mặt đất, và Ngài nói với Ma vương: Có Đất này chứng minh rằng những điều ta nói là có thực. Đất đã rung động. Và Ma vương đã rút lui. Bạch đức Thế Tôn, con rất muốn chiêm ngưỡng hình ảnh của Ngài khi Ngài ngồi vững chãi trên mặt đất và tay phải của Ngài đang bắt ấn địa xúc. Mỗi lần thấy hình ảnh ấy là con cảm động. Đất đã chứng minh rằng Ngài đã từng được hiện thân trong vô lượng kiếp và Ngài đã liên tiếp  thành công trong mỗi kiếp. Ngài có chỗ nương tựa rất vững chãi để có thể biểu hiện hàng trăm triệu lần trong những hóa thân mầu nhiệm để tu tập và độ đời. Bụt Tỳ Bà Thi trong quá khứ cũng đã là Ngài mà Bụt Từ Thị trong tương lai cũng sẽ là Ngài. Và còn trăm triệu hóa thân khác nữa. Chỗ nương tựa vững chãi của Ngài là Đất. Ngài biểu hiện từ Đất và luôn luôn trở về với Đất để rồi Ngài biểu hiện trở lại. Con biết là con cũng có thể nương tựa vào Đất như Ngài và nương tựa vào Đất con cũng sẽ có được năng lượng vững chãi như Ngài.

Phật bảo sáng vô cùng
Đã từng vô lượng kiếp thành công
Đoan nghiêm thiền tọa giữa non sông
Sáng rực đỉnh Linh Phong
Trên trán phóng hào quang rực rỡ
Chiếu soi sáu nẻo hôn mông
Long Hoa hội lớn nguyện tương phùng
Tiếp nối Pháp chánh tông
Xin quy y thường trú Phật đà gia!

Con biết thực tập địa xúc trong tư thế ngồi, trong tư thế đi hay trong tư thế nằm, con có thể đạt tới năng lượng ấy và con có thể nối tiếp được sự nghiệp của Ngài.

Địa Xúc
Con xin đức Thế Tôn cho con lạy xuống ba lạy để tiếp xúc với Đất một cách sâu sắc và để cảm thấy năng lượng vững chãi vô cùng của Đất (C)

Học hạnh của Đất

Khải Bạch
Bạch đức Thế Tôn, con biết rằng một trong những người anh lớn trong giáo pháp của chúng con là Bồ Tát Địa Tạng, một vị bồ tát lớn có hạnh nguyện rất cao thâm: chừng nào địa ngục chưa trống không thì Ngài vẫn chưa dừng nghỉ công việc hóa độ. Bạch đức Thế Tôn, con thấy danh hiệu Địa Tạng rất hay. Danh hiệu ấy có nghĩa là trái đất với tính cách vững chãi và dày dặn của nó có khả năng chứa đựng và ôm ấp được tất cả (Địa ngôn kiên, hậu, quảng hàm tàng). Tuy biết rằng khổ đau và phiền não không có giới hạn, nhưng hạnh nguyện cứu đời của một vị bồ tát cũng không có giới hạn. Chừng nào còn có khổ đau, còn có phiền não, thì vị bồ tát còn chưa dừng tay cứu độ. Trái đất của chúng con cần những con người như Bồ Tát Địa Tạng, và con cũng rất muốn giúp Ngài một tay. Con thấy địa ngục của hiểu lầm, của hận thù và bạo động được dựng lên khắp nơi, nhưng nơi nào cũng có mặt của những vị bồ tát đang hành động để nỗ lực giải tỏa những địa ngục ấy. Có một lần đức Thế Tôn giáo giới cho thầy La Hầu La và Ngài đã dạy thầy La Hầu La nên học hạnh của đất. Đức Thế Tôn dạy: Này La Hầu La, con hãy học theo hạnh của đất. Khi người ta đổ và rải lên đất những thứ thơm tho và tinh sạch như hoa hương và sữa thơm, đất không thấy tự hào, mà khi người ta đổ lên đất những thứ dơ dáy và hôi hám như phân, nước tiểu và máu mủ, hoặc khạc nhổ xuống đất, thì đất cũng không cảm thấy giận hờn, chán ghét hoặc tủi nhục. Đất có khả năng tiếp nhận ôm ấp và chuyển hóa tất cả. Con biết là Bồ Tát Địa Tạng cũng có năng lượng vững chãi và bao dung của đất, vì thế nên Ngài có thể ôm ấp và chuyển hóa tất cả. Con cũng muốn được học hạnh của đất như Bồ Tát Địa Tạng và như thầy La Hầu La. Con có những tủi đau buồn chán và khổ nhục trong con, con xin lạy xuống để đất ôm lấy con, ôm lấy tất cả những tủi đau buồn chán và khổ nhục trong con, để đất và con có thể từ từ chuyển hóa được những tủi đau, buồn chán và tủi nhục ấy, và để mai sau hoa trái của tình thương và niềm vui được xuất hiện trên mặt đất cũng như trong trái tim con.

Địa Xúc
Nam mô đức Bồ Tát Đại Kiên Đại Hậu Đại Lực Địa Tạng Vương và Tôn Giả Mật Hạnh La Hầu La (C)

Nương tựa nơi đất Mẹ

Khải Bạch
Bạch đức Thế Tôn, nhìn sâu vào lòng Đất con thấy có sự có mặt của vầng thái dương, của hơi ấm, có khả năng làm cho vạn vật được sinh sôi nẩy nở. Hành tinh này sở dĩ xinh đẹp vì có hơi ấm của vầng thái dương. Con cũng thấy được những dòng nước mát lưu nhuận và cất giữ trong lòng đất. Nếu không có nước, làm sao hành tinh này có được sự sống? Con cũng thấy được sự có mặt của gió nghĩa là của các chất khí trong không gian như dưỡng khí, thán khí, khinh khí… nếu không có những chất khí ấy thì cũng không có sự sống của mọi loài và cũng không có những nét diễm lệ trên mặt đất như liễu xanh, trúc tím, hoa vàng. Con thấy khắp nơi bốn đại: địa, thủy, hỏa và phong đang tương giao và tương tức, và con cũng nhận thấy bốn đại mầu nhiệm ấy đang tương giao và tương tức nơi con. Con xin lạy xuống, năm vóc sát đất để thấy con là một với đất mẹ, là một với vầng thái dương, là một với sông hồ biển cả và mây trời bao la… Bốn đại trong cơ thể con và bốn đại trong cơ thể của hành tinh không phải là hai thực thể cách biệt. Con xin trở về nương tựa nơi đất mẹ để thấy được tính vững chãi và bất hoại của con.

Địa Xúc
Con xin cúi đầu lạy xuống ba lạy trước đức Bồ Tát Trì Địa và đức Bồ Tát Địa Tạng (C)

Cùng Tăng thân ở lại

Khải Bạch
Bạch đức Thế Tôn, Ngài là một đứa con của trái đất và Ngài đã chọn trái đất để làm đạo tràng hành đạo của Ngài. Trong quá trình tu tập và giáo hóa, đức Thế Tôn đã đào tạo nên biết bao nhiêu vị bồ tát có khả năng bảo hộ hành tinh xinh đẹp này. Con nhớ trong hội Pháp Hoa, vào lúc Tùng Địa Dũng Xuất, đức Thế Tôn đã gọi các vị bồ tát ấy ra trình diện, và hàng trăm ngàn vị đã xuất hiện từ dưới mặt đất. Các vị ấy đã hứa với đức Thế Tôn là sẽ ở lại chăm sóc mãi mãi cho hành tinh này và cũng để nối tiếp sự nghiệp của đức Như Lai.

Bạch đức Thế Tôn, con cũng là một đứa con của trái đất, và con cũng muốn góp phần vào việc bảo hộ hành tinh xinh đẹp của chúng ta. Con cũng muốn làm một vị bồ tát nhỏ trong số vô lượng những vị bồ tát tùng địa dũng xuất. Con xin nguyện cùng ở lại với tăng thân của đức Thế Tôn để tiếp tục sự nghiệp độ sinh của Ngài

Cùng tăng thân xin nguyện ở lại trong cõi đời làm việc độ sinh,
giờ phút này sông núi chứng minh, cúi xin đức Từ Bi nhiếp thọ.

Con đã được biểu hiện từ đất mẹ, con sẽ trở về đất mẹ để tiếp tục được biểu hiện hàng triệu lần nữa, để cùng với tăng thân con làm công việc chuyển rác thành hoa, bảo hộ sự sống và xây dựng một tịnh độ ngay trên mặt đất này. Chúng con biết chất liệu hiểu biết và thương yêu là chất liệu căn bản để xây dựng nên tịnh độ, cho nên chúng con nguyện là trong mỗi giây phút của cuộc sống hàng ngày chúng con sẽ nỗ lực chế tác chất liệu hiểu biết và thương yêu.

Địa Xúc
Xin đức Thế Tôn cho con lạy xuống ba lạy làm bền vững thêm lòng cam kết của con đối với đất Mẹ, đối với hành tinh xanh (C)

Phần IV

Thực tập Sám Pháp Địa Xúc

”Sơn hạ hữu tuyền trạc chi tắc dũ” (Dưới chân núi có dòng suối, lấy nước ấy mà rửa thì sẽ lành bệnh). Nước suối này là nước từ bi, có công năng tiêu diệt tội chướng trong quá khứ để làm cho niềm vui sống có cơ hội trở về. Đó là nguyên ủy của một sám pháp do thầy Tri Huyền tức Quốc sư Ngộ Đạt đời Đường sáng tác, thường gọi là Thủy Sám, hoặc Từ Bi Sám, hay Từ Bi Tam Muội Thủy Sám Pháp.

Ý niệm chính của Sám Pháp là nước từ bi. Từ bi cũng là phép quán. Đó là Từ quán và Bi quán đã được nhắc tới trong phẩm Phổ Môn của Kinh Pháp Hoa. Để tâm chuyên chú vào Từ và vào Bi làm cho năng lượng của từ bi được chế tác và lớn mạnh, đó là phép quán, đó là niệm lực và định lực. Niệm lực và Định lực ấy là tam muội. Cho nên gọi là Từ Bi Tam Muội Thủy Sám Pháp. Sự thực tập niệm định về Từ Bi làm lưu lộ ra dòng nước Từ Bi có khả năng tiêu trừ mọi tội chướng. Phép sám của Quốc sư Ngộ Đạt là phép sám sử dụng nước tam muội từ bi, gọi tắt là Thủy Sám.

Sám pháp mà quý vị đang có trong tay không phải là Thủy Sám mà là Địa Sám. Địa là đất. Tiếp xúc với đất, nương tựa vào đất, tiếp nhận năng lượng vững chãi và sâu dày của đất để cho đất ôm lấy mình và giúp mình chuyển hóa vô minh, khổ đau và tuyệt vọng, đó là phương pháp Địa Sám. Ở đâu cũng có Đất, ở đâu ta cũng có thể tiếp xúc với Đất, ở đâu ta cũng lạy xuống để tiếp nhận năng lượng vững chãi và vô úy của Đất. Ta có thể nói: ”Xứ xứ hữu địa, xúc chi tắc an” nghĩa là đâu đâu cũng có đất, tiếp xúc được với đất thì sẽ an lành.

Sám pháp này được gọi tắt là Địa Sám, nói cho đủ là Sám Pháp Địa Xúc hoặc Kiên Hậu Tam Muội Địa Xúc Sám Pháp. Kiên (vững chãi) và hậu (dày đặc) là hai đặc tính của đất. Bài tựa kinh Địa Tạng có câu ca ngợi Bồ Tát Địa Tạng như sau: ”Địa ngôn kiên hậu quảng hàm tàng” (địa có nghĩa là vững chãi, dày dặn và có tác dụng ôm ấp rất rộng lớn). Năng lượng của Niệm và của Định được chế tác trong khi tiếp xúc với Đất có khả năng thức tỉnh, chuyển hóa, thanh lọc, đem lại nguồn vui sống cho ta ngay trong khi thực tập sám hối, và cố nhiên là sau buổi thực tập.

Ta có thể một mình thực tập Sám Pháp Địa Xúc hoặc thực tập chung với nhiều người. Vị nào có giọng truyền cảm và có nhiều năng lượng niệm và định sẽ được chỉ định để đọc tụng, còn những vị khác lắng nghe. Sau mỗi đoạn kinh, mọi người thực tập lạy xuống. Mỗi lần lạy ta chỉ nên lạy hai hoặc ba lạy, và nằm yên trong tư thế phủ phục ít nhất là trong thời gian ba hơi thở vào ra để có đủ thì giờ quán chiếu. Trong khi lạy, ta hoàn toàn phú thác thân mạng ta cho Đất, để đất có thể ôm lấy ta và giúp ta chuyển hóa những khổ đau và bế tắc trong ta. Nếu có nhu yếu thì ta đọc tụng lại phần kinh văn vừa đọc và lạy xuống một lần thứ hai. Thực tập như thế, hành giả sẽ thấy được rằng trong khi thực tập, niềm vui được sinh khởi, phiền não được chuyển hóa, và thân tâm càng lúc càng nhẹ nhàng. Các bạn hành giả ưa thích sám pháp này có thể thực tập ba tháng một lần, ít nhất là trong năm phải thực tập hai lần. Công phu sẽ được đền bù một cách xứng đáng, ngay trong thời gian thực tập.

Phần III

Bài kinh ca tụng Đất Mẹ

Nam mô Bồ tát Thanh Lương Địa

Mẹ của trần gian của mọi loài

Chúng con xin hướng về chiêm ngưỡng

Ngôi sao xanh biếc giữa lưng trời

Mẹ đã sinh ra bao chủng loại

Tạo bao mầu nhiệm ở trên đời

Thương yêu hết mực, không kỳ thị

Ôm lấy muôn loài chẳng sót ai

Thuần hậu, bao dung và vững chãi

Mẹ đang chuyên chở cả muôn loài

Hằng sa Bồ tát từng xuất hiện

Từ lòng đất Mẹ thật xanh tươi

Mẹ còn ôm ấp và chuyển hóa

Xóa đi thù hận của con người

Ngày đêm  sáng tạo và nuôi dưỡng

Làm cho lòng đất nở hoa trời

Trái tim mở rộng về muôn cõi

Ba ngàn thế giới cũng chung vui

Thấy được duyên sinh là tự tính

Giữ gìn bảo hộ không rớt rơi

Không có, không không, không còn mất

Không đồng, không dị, không khứ lai

 

Tình thương của Mẹ không biên giới

Đức độ mười phân vẹn cả mười

Bốn tâm vô lượng là tình Mẹ

Đầy như bốn biển chẳng hề vơi

Mỗi độ Xuân về mang áo mới

Hoa hồng liễu lục thật xinh tươi

Hạ đến ngàn cây phô sắc thắm

Hạt lành, trái ngọt khắp nơi nơi

Rừng Thu rực rỡ bày muôn sắc

Đông sang hoa tuyết ngập lưng trời

Chiều xướng Hải Triều như sấm động

Sáng họa bình minh cảnh tuyệt vời

Thị hiện nhiệm mầu trong vũ trụ

Bông hoa đẹp nhất hệ Mặt trời

Trí tuệ chiếu mười phương pháp giới

Tâm tư mở rộng về muôn nơi

Mẹ là Tịnh độ trong hiện tại

Trong cả tương lai của mọi loài

Chúng con quay về nương tựa Mẹ

Không còn tìm kiếm, không ngược xuôi

Thấy được trong con luôn có Mẹ

Thấy con trong Mẹ cả muôn đời

 

Xin nguyện noi gương lành của Mẹ

Sống từng giây phút thật an vui

Nam mô Bồ tát Thanh Lương Đại Địa  (ba lần).