Lễ xuất gia của gia đình Cây Bạch Dương

Chân tâm một quyết lên đường

Sáng ngày 14.12.2017, tứ chúng Làng Mai đã vân tập tại thiền đường Nước Tĩnh – xóm Thượng để yểm trợ năng lượng cho lễ xuất gia của 22 vị trong gia đình Cây Bạch Dương (9 vị được xuất gia tại Pháp và 13 vị được xuất gia tại Làng Mai Thái Lan). Buổi lễ diễn ra thật trang nghiêm và ấm áp trong màu y vàng cùng tiếng tụng kinh, niệm Bụt đầy hùng lực của gần 200 xuất sĩ. Buổi lễ còn có sự chứng minh của Sư Bà Như Tuấn, chùa Phổ Hiền, Strasbourg, Pháp. Rất đông cư sĩ cùng cha mẹ và người thân của các giới tử cũng có mặt để yểm trợ các em trong giờ phút linh thiêng này. 

Giới tử trình diện trước Tam Bảo – lễ xuất gia tại Làng Mai Pháp
Giới tử lạy bốn ơn: ơn cha mẹ, ơn thầy, ơn bè bạn, ơn mọi loài chúng sinh

Năng lượng Bồ đề tâm dũng mãnh và tinh khôi của 22 giới tử đến từ 12 quốc gia khác nhau (Pháp, Đức, Áo, Ý, Colombia, Úc, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam) đã lan tỏa và và làm xúc động tất cả mọi người có mặt trong buổi lễ  hôm ấy.

Đã thấy đời cơn huyễn mộng
Chân tâm một quyết lên đường
Nghe hải triều lên mấy độ
Nguyện phát túc về siêu phương
Sáng nay cạo sạch mái tóc
Mở thêm rộng lớn con đường
Phiền não vô biên nguyện đoạn

Một tâm mà động mười phương.

Khu vườn tăng thân giờ đây  lại có thêm 22 Cây Bạch Dương xanh tươi, cùng đứng bên nhau làm đẹp cho tăng thân và cho cuộc đời. Mỗi cây mang một cái tên thật đẹp và ý nghĩa, chứa đựng bao tình thương và sự gửi gắm của Bụt, của Sư Ông và tăng thân:

Chân Trời Nhật Quang, Chân Trời Khiết Hỷ, Chân Trời Khiết Lâm, Chân Trời Khiết Minh, Chân Trời Địa Xúc, Chân Trời Lặng Chiếu, Chân Trời Khiết Anh, Chân Trời Khiết Tâm, Chân Trời Tâm Không, Chân Trời Thinh Không, Chân Trời Núi Cao, Chân Trời Đuốc Thiêng;

Chân Trăng Giác Ân, Chân Trăng Giác Hiếu, Chân Trăng An Bình, Chân Trăng An Tâm, Chân Trăng An Cư, Chân Trăng Giác Hòa, Chân Trăng An Nhiên, Chân Trăng Giác Minh, Chân Trăng Tuệ Văn, Chân Trăng Tuệ Viên.

Gia đình Cây Bạch Dương chụp hình chung với quý thầy quý sư cô Y chỉ sư tại thất Ngồi Yên của Sư Ông

Dưới đây là cảm nhận của một thiền sinh có mặt trong buổi lễ xuất gia của gia đình Cây Bạch Dương:

Ngày hôm nay đẹp lắm thật mà!

Hôm nay là một ngày thật đặc biệt, giữa mùa đông mà lại có một ngày nắng đẹp khô ráo. Gió vẫn thổi dạt dào từng cơn mang theo hơi lạnh vừa đủ để mỗi người cảm thấy thật ấm áp và hạnh phúc khi được ở bên nhau, có mặt cùng đại chúng trong thiền đường Nước Tĩnh, Xóm Thượng, Làng Mai. Ngày hôm nay quý thầy quý sư cô và tăng thân Làng Mai làm lễ xuất gia cho 22 giới tử trong gia đình xuất gia Cây Bạch Dương. Ngày này cũng là kỷ niệm tròn một năm xuất gia của những Cây Mai Vàng. Một năm nay Mai nở hoa và đang góp mặt cùng tăng thân phụng sự và độ đời.

Hôm nay là ngày của hôm nay, niềm vui nối tiếp niềm vui. Trong thiền đường Nước Tĩnh năng lượng bình an như bao trùm lên tất cả mọi người. Quý thầy quý sư cô và thiền sinh từ nhiều quốc gia về tu tập trong ba tháng An cư kiết đông có mặt đông đủ. Ba tiếng chuông trang nghiêm vang lên mở đầu buổi lễ. Tôi cảm nhận rằng dù từ quốc gia nào, nền văn hóa nào, lứa tuổi nào thì trong giờ phút thiêng liêng này, sự im lặng hùng tráng sau mỗi tiếng chuông đang kết nối tất cả đại chúng lại trong hơi thở chánh niệm tràn đầy tình thương.

Là một thiền sinh lần đầu được tu tập trong khóa An cư và cũng là lần đầu được tham dự một buổi lễ xuất gia, lòng tôi có nhiều cảm xúc thật khó diễn tả thành lời. Có lúc tôi thấy mình hòa tan vào đại chúng, cảm nhận được sự thành kính thiêng liêng trào dâng khi nghe tiếng chuông ngân, nghe âm vang tiếng tụng kinh hào hùng của quý thầy quý sư cô, cảm nhận sự hòa hợp muôn người như một của tăng thân.

Có lúc tôi lại ước gì mình có thể trở lại thời tuổi trẻ, đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời và băn khoăn tự hỏi: “Chọn con đường nào? Học lên cao, lấy chồng hay đi tu?”… Rồi tôi quyết cho mình một lối đi. Tôi đang đứng cùng với các em, trong màu áo lam tinh khiết chờ đợi giờ phút linh thiêng và đẹp nhất đời mình…

Tự nhiên tôi nhớ đến cậu bé Cát Tường trong cuốn “Đường xưa mây trắng” của Sư Ông, lòng tôi lâng lâng một cảm giác nhẹ nhàng, bình an đến lạ. Nước mắt tôi đang lăn dài trên má. Tôi ý thức được mình đang đứng cùng đại chúng, xung quanh tôi vài người cũng đang lau nước mắt. Tôi đoán biết trong sự im lặng và chú tâm này, lòng nhiều người đang nổi cơn giông, có khi có sấm, có sét và những cơn mưa. Những giọt nước mắt xúc động chính là những hạt nước mưa đang tưới tẩm cho những hạt giống tốt đã bị bỏ quên lâu rồi. Dù chỉ là cái thấy hạn hẹp của mình nhưng tôi biết họ cũng như tôi, chúng tôi thật may mắn được có mặt ở đây, được có những giây phút an lạc và hạnh phúc này.

Đây là giây phút hạnh phúc!

Bây giờ trước mặt tôi là những gương mặt mới. Vẫn là những người tôi thường gặp vào những ngày quán niệm mà sao khác quá! Mái tóc đã cạo, ánh mắt sáng tươi, nụ cười rạng rỡ yêu thương và hạnh phúc khiến cho tất cả toát lên một vẻ đẹp tuyệt vời. Tôi chợt nhận ra rằng vẻ đẹp đó chính là tấm gương phản chiếu nội tâm của họ sau quá trình tu tập và chuyển hóa ở Làng Mai. Từ ngày hôm nay họ được gọi bằng tên mới: những Sadi và Sadi nữ, những sư chú và sư cô. Bao nhiêu người chúng ta biết rằng chúng ta cũng có vẻ đẹp này nếu thật sự biết dừng lại, tu tập và chuyển hóa?

Tôi cứ ngắm mãi sự tươi mát của các sư chú, sư cô mới và thầm biết ơn họ đã cho tôi câu trả lời: Họ đã biết dừng lại. Dù có những sư chú và sư cô tuổi đã trung niên nhưng điều đáng trân trọng là họ đã biết dừng lại và lựa chọn cho mình một con đường sáng đẹp, con đường của tình thương và sự hiểu biết, của phụng sự và độ đời.

Xung quanh tôi tiếng nói cười của nhiều thứ ngôn ngữ vang lên. Dù từ nhiều quốc gia, từ nhiều nền văn hóa nhưng trong lòng chúng tôi chắc chắn đã có một cơn mưa tưới tẩm những hạt giống thiện lành… Rồi sẽ còn có những chàng trai hiền, cô gái hiền có đủ duyên để chọn cho mình một con đường lớn: “Ta hạnh phúc liền giây phút này. Lòng đã quyết dứt hết âu lo…”. Ngày hôm nay đẹp lắm, thật mà!

Tâm Diệu Minh

Xem thêm hình ảnh của lễ xuất giahttps://langmai.org/dai-may-tim/vien-anh/le-xuat-gia/le-xuat-gia-cay-bach-duong/

Khoá tu tiếng Pháp 2017

Hơn 550 thiền sinh đã về Làng tham dự khóa tu tiếng Pháp (từ ngày 10 – 17.04) trong nắng ấm mùa xuân, trong bầu không khí ấm áp tình gia đình, tình tăng thân.

Ngọn nến mỉm cười – phần II

Ôm đứa con tật nguyền

Hồi đó tôi có làm nội trú (internship) ở bệnh viện Kikuyu Hospital ở nước Kenya, Phi châu và đã chứng kiến một phụ nữ trẻ chỉ mới 18 tuổi sinh đứa con đầu lòng. Thường thì các nước nghèo không có chương trình chăm sóc phụ nữ trước khi sinh, và họ cũng không hề đi bác sĩ để khám thai thường xuyên. Hôm đó cô ta sinh rất khó nên chúng tôi phải mổ để lấy đứa bé ra, và chúng tôi thấy đứa bé đã bị bệnh tràn dịch não (hydrocephalus). Có nghĩa là não thất bị chặn và dịch thủy không thể lưu thông bình thường và do đó, đầu đứa bé đã bị nở lớn ra.

Đứa bé được sinh ra với một cơ thể có kích thước bình thường nhưng với một cái đầu lớn gấp ba lần, trông rất kỳ quặc, dễ sợ, và khủng khiếp; khi tôi mới nhìn đứa bé đó, tôi cũng phải giật mình. Nhưng tôi thấy cô gái mười tám tuổi này đã nâng đứa con đầu lòng của cô lên một cách vô cùng trìu mến và nhẹ nhàng. Cô ôm đứa bé vào lòng, cô nâng niu và đỡ cái đầu kỳ dị của con mình lên rồi dịu dàng áp má cô vào đó. Mặc dù cô biết đứa bé này không thể sống lâu nhưng cô ta vẫn hết lòng yêu thương đứa con tật nguyền này khi nó đang còn đó.

Bạn có thể ôm ấp niềm khổ đau của bạn như thế không? Như ôm ấp đứa con riêng của bạn, như một cái gì đó mà bạn có thể chăm sóc, có thể có mặt với nó? Chúng ta không thể ruồng bỏ khổ đau, bạn biết chứ? Nhiều người nói rằng họ chỉ muốn quên đi nỗi khổ của họ. Nhưng nếu bạn quên đi khổ đau, có nghĩa bạn phải bị bệnh mất trí nhớ (dementia, amnesia), hoặc bị một vật gì đó đập mạnh vào đầu làm bạn tạm thời mất trí nhớ. Có những người thậm chí còn tìm cách phát minh ra loại thuốc có thể chích vào máu để ngăn chặn sự ghi nhận của một dữ kiện vào bộ nhớ, hoặc xóa bỏ một ký ức nào đó trong bộ nhớ.

Nhưng thuốc nào có thể chỉ xoá đi những ký ức bạn không muốn có? Bạn có thật sự muốn xóa bỏ trí nhớ của mình không? Chúng ta tu học là để đừng quên lãng; chúng ta không tu học để có thể quên hoặc trở nên vô cảm. Chánh niệm hàng ngày là để có thể giúp chúng ta ôm ấp những đau nhức và khổ đau của mình, dù là ở phương diện thể chất hay tinh thần. Chúng ta có thể làm theo cách mà người phụ nữ trẻ Kenya đã ôm ấp đứa con của mình với tất cả sự dịu dàng và kiên nhẫn. Cô ta đã thật sự chấp nhận và thương yêu đứa con mình!

Mối tình cho sự sống

Tôi đến nước Mỹ lúc tôi 16 tuổi rưỡi và tôi không nói được tiếng Anh ngoại trừ “How are you?” và “I am fine, thank you.” Lúc đó, tôi đang học lớp ngôn ngữ ESL (English as a Second Language) và có anh bạn trẻ hỏi tôi: “What are you doing?” (Cô đang làm gì vậy?), tôi đáp: “I am fine, thank you!” (Tôi khoẻ, cảm ơn). Năm phút sau tôi mới nhận ra lỗi của mình và tôi mắc cở đỏ mặt cả ngày hôm đó mỗi lần tôi thấy anh ta. Tôi đã dành nhiều năm để cố gắng học tiếng Anh, để học xong trung học, lên học Đại học, và vào trường Y. Do đó, thực sự tôi không có thời gian để chú ý đến thiên nhiên và trân quý thiên nhiên. Nhưng tôi đã may mắn có những người bạn rất yêu thiên nhiên và đã nhiều lần đưa tôi đi dạo chơi hoặc cắm trại trong các khu rừng; và đó là món quà lớn nhất mà những người thương tôi đã trao tặng cho tôi.

Khi tôi về Làng Mai, Thầy của chúng tôi đã tiếp tục tưới tẩm hạt giống yêu thiên nhiên trong tôi. Trong cộng đồng chúng tôi có nhiều thầy và sư cô cũng yêu thiên nhiên, vì vậy chúng tôi giúp nhau phát triển tình yêu này. Thầy đã nói nhiều về Đất Mẹ và Cha Trời trong các bài kinh, bài tụng mới. Những gì tôi học được giúp tôi tiếp xúc sâu sắc hơn với tình yêu và lòng biết ơn của tôi đối với thiên nhiên.

Trong gần 2 năm qua tôi bị bệnh Lyme, và chứng bệnh mãn tính (chronic illness) làm tôi rất mệt mỏi. Đôi khi tôi rất vui vẻ, hạnh phúc và có nhiều năng lượng, rồi chỉ vài phút sau là tôi đã thấy mệt, mất sức và không thể làm gì được. Tôi như một quả bóng đã bị xì hơi và xẹp xuống. Những khi tôi quá mệt mỏi và phải nằm xuống, tôi thích để màn cửa sổ kéo sang một bên để tôi có thể nhìn ra bên ngoài và thấy bầu trời, thấy mây và cây cối, và điều này giúp tôi nhớ rằng sự sống vẫn đang tiếp diễn. Dù tôi mạnh khỏe hay ốm đau, đang ngủ hay đang thức, hiện hữu hay không hiện hữu, sự sống vẫn tiếp tục không ngừng.

Cuộc đời rất đẹp, và tôi luôn nhớ nghĩ điều này. Khi thấy tuyết rơi đầy trời và phủ kín mọi vật, tôi thì thầm: “Mẹ ơi, mẹ vừa khoác lên một chiếc áo choàng màu trắng tinh khôi xinh đẹp và thanh lịch! Cảm ơn mẹ cho con thưởng thức được điều đó.” Ngày qua ngày, tôi học cách tiếp xúc sâu sắc hơn với cái đẹp của sự sống, với mối tình tôi dành cho sự sống. Những khi nằm xuống, tôi thường nói: “Đất Mẹ thân yêu, xin hãy ôm ấp con, tiếp nhận những đau nhức trong cơ thể con, và giúp con ôm ấp chúng,” “Xin giúp con chăm sóc những niềm đau này và chấp nhận như chúng đang là.” Khi bạn có thể giao phó khổ đau của mình cho một cái gì đó bao la vĩ đại hơn so với cái thân hình trên dưới 1mét 7 này, bạn sẽ không còn cảm thấy quá cô đơn hoặc bị vướng mắc vào niềm đau nỗi khổ. Bạn sẽ không còn cảm thấy quá giận dữ hay thất vọng, vì bạn đã giao phó nó cho Đất Mẹ, cho Cha Trời, cho Bụt Tổ. Vì bạn là một phần của sự sống nên dù có gì xảy ra đi nữa, bạn vẫn sẽ tiếp tục hành trình với sự sống.

Vào đêm Giao thừa năm nay, đại chúng xuất sĩ và cư sĩ huân tập để nghe lời cầu nguyện và thực tập Sám pháp địa xúc để tạ ơn Đất Mẹ. Trên đường trở về phòng, một cái thấy đã đến với tôi. Nhiều năm về trước, khi tôi còn nhỏ, tôi đã bước trên lưng mẹ tôi và tôi không hề quan tâm đến cơ thể của mẹ, không màng đến sự đau đớn của mẹ. Nhưng giờ đây tôi là một người đã trưởng thành, có học thức, có hiểu biết, nếu tôi đi bộ trên mặt đất và không biết rằng mình đang đi bộ trên mặt đất thì chẳng khác gì tôi của mấy chục năm về trước, đi trên lưng Mẹ mà không biết là đang đi, đang dẫm đạp lên cơ thể Mẹ, đang gây nhiều đau đớn cho Mẹ mà không hề biết đến điều đó.

Trái đất là Mẹ của chúng ta. Một số người trong chúng ta chưa bao giờ được gặp mẹ và một số khác đã mất mẹ khi còn nhỏ hoặc khi đã lớn; nhưng chúng ta luôn luôn tìm kiếm mẹ. Ngay cả khi bạn còn có mẹ bên mình, có thể bạn vẫn không thấy hạnh phúc, không hài hòa với mẹ. Hoặc có thể là bạn không thể tha thứ cho những vụng về của mẹ, những nỗi khổ đau và buồn phiền mà mẹ đã trao truyền cho bạn. Vì thế, bạn hãy tiếp xúc với Đất Mẹ tuyệt vời này. Đất Mẹ có thua kém gì mẹ của bạn không? Người ta định nghĩa “mẹ” như thế nào? Đất Mẹ cung cấp tất cả mọi thứ, ngay cả cơ thể của chúng ta, nuôi dưỡng chúng ta hàng ngày, và cả không khí để chúng ta thở. Khi người mẹ ruột sinh ta ra, dây rốn đã được cắt ngay sau đó; nhưng với Đất Mẹ, dây rốn không bao giờ bị cắt. Tại sao? Bởi vì chúng ta vẫn còn nằm trong tử cung của Mẹ, trong vùng khí quyển bao la này, phải không? Ra khỏi bầu khí quyển là bạn mất hết mọi thứ, và không thở được là đời bạn chấm dứt! Vì vậy, chúng ta vẫn còn trong tử cung của Đất Mẹ chúng ta.

Khi bạn thực sự tiếp xúc với Đất Mẹ và ý thức điều đó mỗi ngày, bạn sẽ không còn cảm thấy buồn khổ và cô đơn. Bạn sẽ không nói: “Tội nghiệp cho tôi, tôi không có mẹ.” “Tội nghiệp cho tôi, tôi đã mất cha khi còn nhỏ dại.” Hoặc: “Thật khổ cho tôi, cha mẹ tôi quá thô bạo.” Hãy nhớ rằng Đất Mẹ và Trời Cha luôn luôn có mặt đó cho chúng ta. Như vậy, khi đang đi trở về phòng, tôi bỗng nhận ra rằng bây giờ chưa phải là quá muộn để chăm sóc những gì đã thành quá khứ. Hồi đó tôi không nghĩ gì đến cơ thể và cơn đau của mẹ tôi, nhưng bây giờ tôi ý thức được cơ thể và sự đau đớn của Đất Mẹ nên tôi có thể hết lòng chăm sóc Đất Mẹ, hết lòng sống một cuộc sống đẹp nhất, sống một cách bình an, thanh thản nhất, để có thể bước trên thân Mẹ những bước nhẹ nhàng và đầy chánh niệm. Như vậy, một ngày nào đó, tôi sẽ không nhìn lại quá khứ và hối tiếc, nhất là vào thời điểm cuối cùng của cuộc đời, tôi sẽ không phải nói rằng: “Tôi đã không biết sống cuộc đời của tôi, tôi đã không tiếp xúc được với tình yêu trong cuộc đời.”

Nhiều người đã thực sự khóc lóc hay gào thét trong giờ phút cuối cùng của họ; tiếng kêu gào của họ nghe rất rùng rợn, kinh khiếp. Tôi đã nhiều lần nghe các bệnh nhân nguyền rủa các bác sĩ và y tá và họ cứ la la hét hét mãi vì họ quá sợ hãi. Tôi cũng đã thấy nhiều bệnh nhân khi nằm trên giường bệnh, họ chỉ nhìn ra ngoài cửa phòng để chờ một ai đó đến; nhưng ngày này qua ngày khác vẫn không có người nào đến, thậm chí vợ chồng hoặc con cái của họ. Như thế, họ cứ lặng lẽ chìm dần vào niềm tuyệt vọng sâu thẳm trong những giây phút cuối cùng của đời họ, thật thê thảm và tội nghiệp.

Nỗi khổ đau to lớn của tôi!

Chúng ta thường ao ước rằng chúng ta có thể tìm thấy một người nào đó yêu thương chúng ta, một người hoàn hảo, tương hợp (compatible) và người đó có thể chăm sóc chúng ta. Nhưng bao nhiêu người trong chúng ta đã tìm được một người lý tưởng như vậy? Dù có tìm được, liệu chúng ta có đủ khả năng để duy trì được tình yêu đó và chăm sóc người đó nếu chúng ta không biết có mặt với chính mình, không biết chăm sóc và trân quý cơ thể của chính mình? Nếu bạn không biết chăm sóc bản thân mình như vậy, thì ngay cả khi bạn tìm thấy một người hoàn hảo nhất – ví dụ như Đức Bụt hay Đức Chúa Trời – bạn cũng sẽ làm hư hỏng con người tuyệt vời ấy và biến họ thành một kẻ hay tức giận, lo lắng và ganh tị.

Ngay cả khi người hoàn hảo ấy đến với bạn, nhưng nếu bạn không có mặt với chính mình, thì trong những giờ phút khó khăn, bạn sẽ đẩy người đó ra, không để họ gần gũi chăm sóc cho bạn. Khi không biết chăm sóc mình, chúng ta chỉ muốn sống co rút lại với những nỗi khổ niềm đau của riêng mình và chúng ta không tiếp xúc sâu sắc được với ai khác. Bạn có kinh nghiệm này không?

Bạn chỉ muốn tránh xa những gì tốt đẹp để có thể ôm chặt những khổ đau này lại với mình. Như vậy, chúng ta thấy có nhiều cách để xử lý khổ đau. Người thiếu phụ trẻ Kenya đã ôm ấp đứa con tật nguyền của cô với sự dịu dàng hiếm thấy. Nhưng nhiều người trong chúng ta không biết làm thế nào để đối xử với những khổ đau của mình. Một là chúng ta chạy xa nó, chúng ta chối bỏ nó ngay cả khi nó có ở đó. Một cách khác là chúng ta bám víu vào nó để nó luôn là bóng ma che mờ hiện tại.

Khi còn là sinh viên y khoa, tôi rất thích làm thơ nên thường đến dự những buổi đọc thơ tự do công cộng. Tôi nhớ một hôm có một người đứng lên đọc bài thơ của anh ta. Anh la lớn: “Nỗi khổ đau! Nỗi khổ đau to lớn của tôi! Nỗi khổ đau của tôi to lớn hơn tất cả khổ đau của bạn! Ôi, nỗi khổ đau của tôi!” Tôi không nhớ phần còn lại của bài thơ này mà chỉ nhớ “nỗi khổ đau to lớn” của anh ta thôi. Hầu hết chúng ta ôm giữ niềm khổ đau của chúng ta theo cách đó: “Nỗi khổ đau của tôi là như thế và không ai được chạm vào nó, hoặc nói về nó! Đừng làm bất cứ điều gì với khối khổ đau này vì nó là của riêng tôi.” Chúng ta ôm chặt lấy khổ đau như tình nhân tuyệt vời nhất của đời mình. Nếu tôi hỏi bạn thích tự do hay đau khổ? thì chắc chắn tất cả các bạn đều ngỏ ý thích tự do. Nhưng sự thật là chúng ta rất ghiền khổ đau! We are addicted to our own suffering. Dù trốn chạy nó hay ôm ghì nó, đó cũng chỉ là những phương cách để chúng ta giữ lấy khổ đau và nuôi dưỡng nó, vì nó là “của” chúng ta. Vì vậy, chúng ta phải làm cách nào để tránh không bị vướng mắc với những niềm đau và nỗi khổ của chúng ta?

Niết Bàn hữu dư

Như một người đang quan sát chim bay lượn trên trời cao (a bird watcher), thở vào, bạn hãy ý thức hơi thở vào như nó đang là. Thở ra, bạn hãy ý thức hơi thở ra như nó đang là. Rồi để ý xem bạn có thể theo dõi hơi thở từ đầu đến cuối và có thể tiếp xúc với khoảng nghỉ (a pause) ở cuối hơi thở vào. Hãy mỉm cười ở khoảng nghỉ đó. Khi thở ra, bạn cũng theo hơi thở ra từ đầu đến cuối cho đến khoảng nghỉ. Khi đang ở trong khoảng nghỉ đó, hãy thư giãn toàn bộ thân và tâm của bạn. Tiếp tục theo dõi hơi thở vào, ra của bạn. Nếu một cảm xúc hoặc một ý nghĩ khởi lên, bạn chỉ cần đơn giản mỉm cười với nó. Bạn đừng để dính mắc vào nó nhưng cũng đừng xua đuổi nó; bạn chỉ cần mỉm cười với nó, thở nó ra, và neo tâm mình vào hơi thở chánh niệm.

Trong đêm Giao thừa dương lịch vừa qua, Thầy đã nói một bài Pháp thoại trong đó có nhắc đến Niết Bàn. Hầu hết khi nghe từ Niết Bàn, chúng ta nghĩ đến một nơi hay một trạng thái siêu nhiên phi thường. Nhưng Thầy đã cho biết rằng chữ “Niết Bàn” thực sự đã bắt nguồn từ một từ ngữ phổ biến của người dân nông thôn ở Ấn Độ để mô tả một ngọn lửa đã được dập tắt qua đêm, tro không còn nóng, và tất cả mọi thứ đang ở trong trạng thái mát mẻ (a state of coolness). Nếu bạn đặt bàn tay vào đó, nó sẽ không thiêu đốt bạn như trước, đó là Niết bàn. Vì vậy, Niết bàn được định nghĩa là trạng thái mát mẻ của tâm, khi tâm không còn phiền não và tri kiến sai lầm.

Khi bạn theo dõi hơi thở từ đầu đến cuối và tâm của bạn ngừng suy nghĩ, tâm có mặt với hơi thở thì đó là Niết Bàn, bạn thấy không? Bởi vì trong thời điểm đó, bạn đã thoát ra khỏi phiền não, thoát ra mọi tri kiến, chỉ còn có không gian bao la, sự tĩnh lặng và yên bình. Bạn không nghĩ về quá khứ và không bị những gì trong quá khứ níu kéo hệ luỵ. Bạn không nghĩ về tương lai và không bị tương lai nắm bắt, không tính toán âu lo. Bạn chỉ đơn giản có mặt trong hiện tại, thân và tâm là một với hơi thở vô biên. Vì bạn có chánh niệm, có sự dừng lại, nên trong một hơi thở, bạn có thể tiếp xúc và trải nghiệm Niết bàn. Theo dõi hơi thở vào từ đầu đến cuối, mỉm cười và buông thư trong khoảng nghỉ ở cuối hơi thở. Theo dõi hơi thở ra từ đầu đến cuối, mỉm cười và buông thư trong khoảng nghỉ ở cuối hơi thở. Bạn được giải thoát và hoàn toàn tự do trong thời điểm của khoảng nghỉ này. Có điều gì phi thường hơn mà bạn muốn nghe hoặc thấy ngoài điều bạn vừa trải nghiệm? Điều phi thường có ngay ở đó!

Hoặc khi bạn thấy một cái gì đó như thị, bạn cũng đang trải nghiệm Niết bàn, bởi vì bạn đã thoát ra khỏi các kinh nghiệm quá khứ, thoát ra khỏi các thể loại đã thiết lập mã hóa trong não bộ, và bạn thấy nó đang là ngay trong giây phút này, đó là Niết bàn. Mặc dù vẫn còn những khổ đau trong thân và tâm, vẫn có những điều đang thiêu đốt chúng ta (hữu dư nghĩa là vẫn còn những phiền não – with residues or remnants), nhưng trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta vẫn có thể tiếp xúc với sự tự do, thanh thản, với sự mát mẻ của Niết bàn; đó là Niết bàn hữu dư. Chúng ta vẫn có thể tiếp xúc với niềm vui và sự linh thiêng khi chúng ta biết trở về với hơi thở và hình hài 5 uẩn, khi chúng ta biết có mặt với sự sống như nó đang là.

Một tích tắc do dự

Khoảng 2 tháng trước khi tôi về Làng Mai để xuất gia, một hôm tôi lái xe đến bệnh viện để trả sách và cũng để nói đôi lời tạm biệt với các bạn đồng nghiệp và ông giám đốc của bệnh viện. Trên đường về, trong khi lái xe trên xa lộ, có một bà đang lái xe song song với tôi đã đưa tay vẫy vẫy và chỉ vào trước xe tôi; tôi thấy đầu xe của tôi đang bốc khói. Tuy kiến thức về xe cộ của tôi rất ít ỏi, nhưng khi đó tôi cũng biết là mình phải tìm một Exit để ra khỏi xa lộ và ngừng xe lại. Nhưng khi tôi đạp nhẹ thắng để vào Exit, chiếc xe vẫn chạy nhanh; tôi đạp mạnh hơn nhưng nó vẫn tiếp tục chạy rất nhanh, và cuối cùng tôi đạp hết cỡ vào thắng nhưng xe vẫn lao nhanh vào Exit.

Trong giây phút đó, vô số hình ảnh đã xuất hiện trong tâm trí tôi. Tôi nhìn vào những hình ảnh đang liên tiếp lật qua trong đầu tôi, trong khi hai tay tôi vẫn bám chặt vào tay lái. Không phải trí năng của tôi, mà từ một nơi sâu xa của tâm thức cho tôi biết đây là những hình ảnh của cuộc đời tôi, những khoảnh khắc khác nhau mà tôi đã sống qua, và tuy những hình ảnh liên tục hiện ra như tia chớp, tôi “biết” rõ ý nghĩa của mỗi hình ảnh.

Tôi tiếp tục nhìn những hình ảnh và chỉ có một ý nghĩ duy nhất khởi lên trong tôi: “Bạn của tôi đã chết rất đẹp, nhưng tôi, tôi sẽ chết với đầy bạo động.” Tay tôi vẫn bám chặt cứng vào tay lái trong khi chiếc xe lao nhanh vào cuối đường exit, băng qua trục giao thông, qua đèn xanh đèn đỏ và tất cả mọi thứ cho đến khi nó hết đà và dừng lại ngay giữa một con đường vắng vẻ. Tôi bước ra khỏi xe, đi bộ khoảng 15 phút đến cửa hàng gần nhất để mua vài thùng nước để đổ lên đầu xe đang bốc khói; khi đó tôi mới nhận ra rằng tôi không thể xách các thùng nước này trở lại xe vì chúng quá nặng đối với tôi.

Sau đó, tôi thấy một người đàn ông rất cao lớn khoảng 40 tuổi đang đi tới và tôi liền hỏi ông ta: “Ông có thể giúp tôi không?” tôi nói với ông tất cả những gì vừa xảy ra. Ông đồng ý chở tôi cùng các thùng nước đến xe giùm tôi. Ông nhận xét tình hình xe và nói: “Nếu cô đổ nước lạnh lên cái động cơ đang nóng khủng khiếp này, nó sẽ bị rạn nứt. Bộ tản nhiệt đã bị hỏng, không làm mát được động cơ.” Sau đó, ông ta đã giúp tôi gọi người đến câu xe đi. Tôi lại hỏi ông: “Ông có thể lái xe đưa tôi đến ga xe lửa không? Bởi vì tôi cần tham dự buổi cúng thất của bạn tôi và bây giờ đã quá trễ. Tôi xin ông vui lòng đưa tôi đến ga xe lửa.” Ông nói ok và lái xe đưa tôi đi. Vì tôi vừa ra khỏi xa lộ để vào một exit lạ nên đây là thành phố nào và tôi đang ở đâu, tôi cũng không biết nữa. Vì vậy, khi ông lái xe, tôi chỉ ngồi và nói chuyện một cách rất thân tình với ông ta.

Là một bác sĩ trẻ mới ra trường, tôi đã không ngần ngại cho ông nhiều lời khuyên: “Ông biết đấy, ông hơi mập, ông cần ăn uống lành mạnh, ông cần phải tập thể dục nhiều hơn để được khỏe mạnh hơn.” Ông ấy kể với tôi rằng ông ta thường lái một chiếc mô-tô hạng nặng loại Harley Davison và ông có một cô con gái mà đã nhiều năm nay ông không được gặp. Tôi lại “giảng” tiếp: “Điều quan trọng là ông phải khỏe mạnh”- hồi đó tôi chỉ mới đi tu học có một lần, nhưng hình như ý niệm này đã có sẵn trong gene của tôi – “Ông phải chăm sóc tốt cho bản thân để ông có thể thực sự có mặt cho con gái của ông và ông nên cố gắng giữ liên lạc với cháu vì cháu rất cần một người cha. Tôi lớn lên không được gần cha mình nên tôi bị mất mát rất nhiều. Ông nên cố gắng tìm gặp con ông để con ông vui.” Như vậy là chúng tôi đã thành thật tâm sự với nhau một lúc khá lâu trong xe.

Bất chợt khi nhìn ra ngoài cửa xe, tôi rất ngạc nhiên và nhận ra rằng chúng tôi đang ở trong sa mạc, bởi vì tôi trông thấy rất nhiều cây xương rồng mọc rải rác khắp nơi. Tôi ngừng nói và giữ im lặng hoàn toàn khi tôi nhìn quanh và thấy xe đã chạy vào một con đường đất trông rất hoang vắng và xa lạ. Một lúc sau, xe đến một khu nhà di động trông tồi tàn, cũ nát, cách xa nhau. Ông ta ngừng xe trước một căn nhà như vậy và nói: “Tôi cần phải gọi điện thoại,” và ông lấy theo chìa khoá xe, đi vào nhà, để tôi ngồi trong xe một mình.

Tôi ngồi đó một lúc lâu nhưng cuối cùng tôi cũng bước ra khỏi xe, tôi bước lên thang cấp, nhìn vào và thấy ông ta đang đứng ngay tại một cái bàn nhỏ, kế bên là cái giường, và phần còn lại trong phòng thì tối thui. Tôi cảm được rằng ông ta đang đắn đo suy nghĩ không biết phải làm gì trong thời điểm đó; ông đang bị cấu xé và do dự trong tâm. Ông nhìn lên, tôi đứng thật yên, rồi tôi đi lùi vài bước và trở lại ngồi trong xe. Tôi biết tôi không thể chạy trốn và cũng không thể la lớn vì xung quanh tôi là sa mạc, hoàn toàn hoang vắng, không có một bóng người. Tôi không thể làm gì khác hơn là ngồi yên trong xe. Tôi rất biết ơn tổ tiên của tôi đã cho tôi khả năng này; trong những giây phút nguy hiểm của cuộc đời tôi, tôi rất bình tĩnh có mặt ngay trong giây phút đó, không suy nghĩ gì, và không làm gì cả. Thái độ bình tĩnh, im lặng này thực sự đã nhiều lần cứu tôi, và lần này là một. Tôi chỉ ngồi yên ở đó. Từ từ ông ấy bước ra khỏi nhà, mở cửa xe, leo lên và ông đóng sầm cửa lại. Rồi ông mở máy, lái xe đưa tôi ra khỏi khu vực hẻo lánh đó và đưa tôi đến ga xe lửa.

Suốt đoạn đường đi, ông và tôi không hề nói với nhau một lời nào. Tôi biết, vì một lý do nào đó, ông ấy đã tha cho tôi, không hành hạ hoặc xúc phạm đến tôi. Bạn biết không, tôi đã ôm người đàn ông cao lớn khổng lồ ấy, hai cánh tay tôi tuy không thể ôm hết vòng bụng của ông nhưng tôi ôm ông rất chặt – dù tôi chưa được học về phương pháp thiền ôm lúc đó! Nhưng đó là một cái thiền ôm thực sự bởi vì tôi đã có mặt ở đó, tôi biết ông ấy cũng có mặt ở đó, và tôi biết rất rõ tôi vẫn còn sống. Sau đó ông lái xe đi và tôi đã đến dự buổi lễ cúng thất cho bạn tôi. Tôi đã thoát chết hai lần trong một ngày, lần đầu khi xe của tôi lao vào Exit mà không có thắng, và lần thứ hai khi người đàn ông chở tôi vào sa mạc. Nhưng rồi chuyện này cũng rơi vào quên lãng vì tôi phải thu xếp nhiều việc trước khi về Làng.

Cho đến sau khi tôi xuất gia, một hôm trong buổi ngồi thiền những hình ảnh này đã trở về trong tâm trí và tôi nhận ra điều gì đã cứu tôi. Đó là bởi vì tôi đã đối xử với người đàn ông ấy như một con người, không hề có sự phân biệt kỳ thị, bởi vì tôi đã quan tâm đến hạnh phúc và khổ đau của ông ta như của chính tôi. Tôi thấy được một con người đẹp trong ông ta và tôi muốn ông được hạnh phúc, tôi muốn con ông được hạnh phúc. Vì vậy, mặc dù đã có những động cơ khác trong ông, ông đã không nỡ làm tổn hại tôi. Phật tánh trong ông đã được tưới tẩm và đã làm cho ông do dự (hesitated). Chỉ cần ông do dự trong một tích tắc mà mạng sống của tôi đã được bảo toàn.

Nụ cười đêm thâu

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta có thể rất vụng về trong ý nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta. Chúng ta có thể vụng về, thiếu sót đối với bản thân, với những người thân yêu và nhiều người khác. Những người khác cũng có thể rất vụng về khi đối xử với chúng ta. Nhưng chúng ta có can đảm để có thể tiếp tục cởi mở với sự sống, tiếp xúc với mọi thứ như chúng đang là trong giây phút đó, không để chúng bị bóp méo bởi khung kính màu của quá khứ hay không?

Đối với tôi, đây là khả năng quý báu nhất khi chúng ta có thể có mặt với những gì xảy ra trong hiện tại, dù đó là niềm vui hay nỗi khổ, dù sự việc dễ dàng hay khó khăn. Chỉ cần có mặt với nó. Hơi thở và các bước chân ý thức sẽ giúp bạn; tâm an trú trong thân sẽ giúp bạn. Chúng giúp bạn sống giây phút hiện tại như nó đang là, thay vì sống như một nạn nhân của quá khứ hoặc của tương lai.

Ngay trong thời điểm này khi bạn tiếp xúc với sự vật như nó đang là (as it is), bạn đang thực sự chăm sóc và chữa lành quá khứ. Quá khứ vẫn còn sống động trong hiện tại, và quá khứ sẽ được chữa lành khi tâm của bạn tiếp xúc nó với sự thanh thản, với niềm vui và sự linh thiêng. Nếu bạn có thể tiếp xúc với sự thanh thản, với niềm vui và sự linh thiêng trong thời điểm hiện tại, bạn biết rằng tương lai cũng đang được chăm sóc, vì nền tảng của tương lai chính là hiện tại. Chúng ta thường muốn hy sinh giây phút hiện tại để cố gắng níu kéo quá khứ hoặc theo đuổi tương lai. Chúng ta thường nói: “Tôi không có thì giờ để thực tập, đó là một thứ xa xỉ!” hoặc giả “Để vài năm nữa rồi tôi thực tập.” Vâng, nhưng khi bạn già hơn, tâm của bạn có thể sẽ không còn sáng suốt như bây giờ để dễ dàng tu học.

Nếu bạn không tiếp xúc với thời điểm hiện tại như nó đang là, bạn vẫn phải đi qua những thời điểm đó, bạn không thấy sao? Bạn vẫn phải ăn, vẫn phải thở, vẫn phải đi bộ, vẫn phải dùng phòng vệ sinh, và vẫn phải làm việc, có gì khác đâu? Chúng ta thường hay hiểu lầm về sự thực tập chánh niệm và nghĩ rằng nó là một cái gì đó nằm ngoài cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Nhưng sự thực tập không nằm ngoài cuộc sống, không nằm ngoài những sự bình thường và phàm tục. “Nó” nằm ngay trong thời điểm của bất cứ điều gì bạn đang làm, như đang ăn, đang thở, đang đi và đang làm việc; và “nó” có thể là khổ đau, “nó” có thể là một lỗi lầm, và “nó” cũng có thể là niềm vui và sự linh thiêng mà bạn đang tiếp xúc.

Có một câu chuyện thiền nổi tiếng về một đệ tử hỏi vị Thiền sư: “Con có thể tìm Vô sinh và Bất diệt ở đâu?” và vị thiền sư trả lời: “Tìm vô sinh bất diệt ngay trong sinh diệt.” Như thế, trong truyền thống đạo Bụt, khi tìm hiểu về sự thực tập, chúng ta không nên tìm cầu những điều siêu nhiên hoặc huyền bí, mà chỉ cần làm lắng dịu thân và tâm để chúng ta có thể có mặt thật sự với cuộc đời của chúng ta.

Cây nến trước mặt tôi đã cháy gần một giờ, và khi sắp tắt nó sẽ bừng sáng lên một lần cuối rồi mới tắt. Ban đêm tôi thường thắp một ngọn nến và nằm xuống để thở, để làm giảm sự căng thẳng, đau nhức trong thân tôi, và xin Đất Mẹ ôm lấy chúng. Tôi nằm thở như thế rất lâu với ánh nến mờ nhạt ở phía sau tôi, nhưng đến một lúc nào đó đột nhiên nó bừng sáng lên và tôi biết rằng ngọn nến sắp tắt.

Một nén hương cũng vậy, nó sáng lên rồi mới tắt; và một sư anh của tôi nói đó là nén hương mỉm cười (the incense smiles). Nến cũng mỉm cười trước khi tắt. Chúng ta có thể mỉm cười như thế với cái chết trong giờ phút cuối cùng của đời mình, với cái chết mà hiện bây giờ đang có mặt trong từng giây từng phút? Bạn có thể mỉm cười mỗi khi bạn cảm nhận sự đau nhức và khổ đau trong thân tâm của bạn? Bạn có biết làm thế nào để thư giãn, để có mặt với những gì đang xảy ra như nó đang là? Chúng ta phải thực tập hàng ngày mới có được những khả năng này chứ không phải tình cờ mà có.

Cũng có những người không tu học theo một pháp môn nhất định nào, nhưng trong cuộc sống hàng ngày, họ có những xu hướng bẩm sinh khiến họ sống hồn nhiên, hài hoà và tiếp xúc được với sự thiêng liêng của sự sống. Với năng lượng chánh niệm chế tác hàng ngày, chúng ta chắc chắn có thể tiếp xúc với hạnh phúc và sự thiêng liêng trong đoá hoa, ngọn cỏ, nụ cười của ngọn nến, của nén hương.

Khi tôi đang đi thiền hành trở về phòng sau buổi lễ mừng năm mới, tôi chợt hiểu rằng sở dĩ chúng ta rất sợ chết là bởi vì trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta không tiếp xúc được với sự sống của chúng ta. Nếu tiếp xúc sâu sắc với sự sống, chúng ta sẽ thấy cái chết nằm ngay trong sự sống và nó luôn luôn có mặt ở đó. Chúng ta biết rằng mỗi tế bào trong cơ thể chúng ta vẫn tiếp tục tái sinh và chết đi, tiếp tục sinh diệt. Khi bạn thở một hơi thở vào, cái gì đã xảy ra với hơi thở ra trong khoảng nghỉ trước đó để hơi thở vào này có thể xảy ra? Bạn phải buông hơi thở ra để hơi thở vào kế tiếp có thể xảy ra. Vì vậy, bạn có thể thực tập theo dõi hơi thở bất cứ nơi nào, khi bạn ngồi vào máy tính, khi lái xe, hoặc khi điện thoại reng và bạn thở, bạn sẽ tiếp xúc với cái đến và cái đi của sự sống và bạn cũng sẽ tiếp xúc với cái không-đến và không-đi, cái Vô sinh bất diệt của nó.

Bạn có thể thực tập thiền đi, thực tập trở về ngôi nhà đích thực trong cuộc sống hàng ngày của bạn. Nhà là cơ thể của bạn, nhà là những gì bạn đang có bây giờ và ở đây, nhà là Đất Mẹ. Sau này bạn sẽ không phải sợ hãi khi bạn phải nằm xuống vì thân thể của bạn không thể làm gì khác nữa. Bạn sẽ không phải sợ hãi khi thở đến hơi thở cuối cùng của bạn bởi vì bạn đã biết cách trở về nhà trong mỗi phút giây. Chỉ có những người không chịu về nhà, cứ quanh quẩn bên ngoài và xa lạ với chính bản thân mình, chính những người đó mới có nhiều sợ hãi. Cây nến dạy chúng ta mỉm cười, nén hương cũng dạy chúng ta mỉm cười; đây là những bậc thầy của chúng ta. Đây cũng là những gì những người tu chúng tôi thực nghiệm trong sự tu học hàng ngày. Ngoài ra, chúng tôi không có gì phi thường hoặc siêu phàm hơn để có thể làm vui các bạn.

Đã có đường đi rồi con không còn lo sợ

Mùa an cư năm nay, đại chúng Thái Lan rất hạnh phúc khi được đón quý thầy, quý sư cô từ các trung tâm tu học khắp nơi trở về thăm Sư Ông và đại chúng. Một trong những hạnh phúc đó là sự hiện diện của thầy Pháp Hữu, thầy trụ trì xóm Thượng Làng Mai Pháp. Thầy đã hiến tặng năng lượng tươi mát của một vị xuất sĩ trẻ với tinh thần mang đạo Bụt đi vào cuộc đời. Các sư em trong BBT đã có một buổi ngồi chơi cùng thầy, được thầy chia sẻ những niềm vui, những trải nghiệm thú vị trong quá trình thực tập và tiếp nối sự nghiệp của Sư Ông và tăng thân . Mời quý vị cùng BBT ngồi chơi với thầy nhé!

BBT: Thầy là một người trẻ lớn lên ở Tây phương, vậy điều gì ở Làng Mai đã thu hút thầy và khiến cho thầy quyết định trở thành một người tu theo truyền thống Làng Mai?

Thầy Pháp Hữu: Ngày xưa khi Pháp Hữu mới đến Làng, cảm nhận đầu tiên của một chú bé mới chín tuổi lúc đó là sự hạnh phúc và tươi mát của quý thầy, quý sư cô. Hình ảnh đánh động Pháp Hữu nhất là khi có một sư chú tới chào mình một cách rất kính lễ, tuy mình mới chín tuổi. Lần đầu tiên Pháp Hữu được một người lớn hơn kính trọng mình. Lúc đó tuy còn rất nhỏ nhưng Pháp Hữu cảm thấy có một cái gì đó rất mới, rất đặc biệt nơi người tu trẻ này.

Pháp Hữu có ý đi tu vì nghĩ rằng nếu đi tu mà thành công thì sẽ đem lại lợi lạc cho nhiều người. Pháp Hữu thấy Sư Ông luôn có tinh thần cởi mở, khám phá và làm mới đạo Bụt để đáp ứng cho người trẻ, nhất là Làng Mai ở Pháp phải đáp ứng nhu cầu cho người trẻ Tây Phương. Cái đặc biệt của Làng Mai, của Sư Ông chính là Sư Ông hết sức giữ gìn những tinh hoa, cốt tủy của truyền thống đạo Bụt nhưng đồng thời luôn mở rộng cửa cho sự thay đổi. Sư Ông từng nói: Đạo Bụt nếu đứng yên tại chỗ và không được làm mới thì sẽ không thể tồn tại, và sẽ không có khả năng đáp ứng được những khổ đau hiện thực. Khi đó mối liên hệ giữa người xuất sĩ và cư sĩ sẽ trở nên xa cách, không có truyền thông, và người cư sĩ sẽ không thấy ngôi chùa là nơi họ có thể nương tựa.

Một điểm đặc biệt nữa của Làng Mai là Sư Ông luôn muốn tăng thân có sự tiếp nối. Pháp Hữu đi tu khi còn rất trẻ. Lúc đó, ở Làng có sáu, bảy người tu trẻ nữa. Lúc đó câu hỏi của đại chúng đặt ra là có nên cho các sư chú, sư cô này đi học ở trường ngoài xã hội hay không, vì đây là lần đầu tiên có các em thiếu niên vào trong tăng thân. Cuối cùng đại chúng quyết định là không cho các em đi học bên ngoài vì thấy các em còn quá non, tâm của các em còn trong sáng lắm; các em như những miếng bọt biển, cái gì cũng thấm được. Cho nên muốn thực sự đầu tư vào người xuất sĩ trẻ thì môi trường xung quanh họ rất quan trọng. Sư Ông dạy là: tất cả những gì mà các em cần học thì các thầy, các sư cô có thể dạy. Trong tu viện có thể cung cấp được những kiến thức cần thiết, không chỉ về Phật giáo, mà còn về cơ thể học, khoa học, toán, văn… Đại chúng có đủ người có kinh nghiệm ở ngoài đời để chia sẻ cho các vị xuất gia trẻ. Hồi xưa Pháp Hữu biết là mình sẽ không đi học mà sẽ đầu tư rất nhiều cho con đường thực tập của mình.

BBT: Thầy có thể chia sẻ một chút về kinh nghiệm xây dựng tăng thân trên cương vị một vị trú trì trẻ?

Khi nhìn về tăng thân, Pháp Hữu thấy cách Sư Ông đào tạo xuất sĩ rất đặc biệt, qua bốn lĩnh vực là tu, học, chơi và phụng sự. Quanh năm, đại chúng sẽ tạo cơ hội đó cho mình. Nếu khéo léo, mình sẽ tận dụng được những cơ hội đó để lớn lên. Cái khó của người trẻ là sự lười biếng. Người trẻ chúng ta vừa có nhiều năng lượng, lại vừa ham chơi một chút. Hồi đó Sư Ông và bố của Pháp Hữu dạy là: “khi còn trẻ thì con phải trẻ”, có nghĩa là mình phải biết chơi, mình phải biết tận hưởng chứ đừng đợi tới lúc già mình mới chơi thì hơi kì. Khi đó mình phải vững, mình phải trầm hơn một chút rồi. Khi tận dụng được tuổi trẻ của mình thì tuổi trẻ rất đẹp, đừng có đánh mất tuổi trẻ đó.

Có một lần nhân dịp Tết Trung Thu ở Làng được tổ chức trong khóa tu mùa hè, Pháp Hữu và một thầy trẻ khác nữa cùng với hai em thiếu niên hát hip-hop rất sôi động. Ngày hôm sau, Sư Ông gặp Pháp Hữu ở trên Cốc và hỏi: “Nghe nói con hát nhạc hip-hop phải không, Thầy thích lắm!”. Điều này cho Pháp Hữu thấy là Làng Mai vừa trở về với gốc rễ nguyên thủy vừa mở rộng cho sự đổi mới, và điều này giúp cho những người trẻ như chúng ta không cảm thấy bơ vơ, lạc lối.

Điều mà Pháp Hữu rất mang ơn Sư Ông là Sư Ông đã đào tạo, đã xây dựng nên một tăng thân mà khi mình sống trong đó, cái ngã của mình có cơ hội được mài mòn. Ví dụ Pháp Hữu cho pháp thoại nhưng Pháp Hữu cũng phải xếp hàng ăn cơm với đại chúng, cũng phải vô ngồi thiền và tham gia các sinh hoạt của đại chúng; có lúc thì cũng quét lá, chấp tác như anh chị em thôi… Những điều đó bảo vệ đời tu của mình. Nếu sau khi Pháp Hữu cho pháp thoại, giảng dạy, hướng dẫn xong khóa tu rồi, vào thời khóa bình thường Pháp Hữu không muốn sinh hoạt nữa thì đó là tiếng chuông cảnh báo đầu tiên để Pháp Hữu trở về.

Cái khó nhất của người tu là khi mình càng tu lâu thì người ta sẽ càng muốn tới gần mình, muốn tôn kính mình. Nếu không khéo thì mình đi trật đường hồi nào không hay, lúc đó đại chúng kéo mình lại khó lắm. Pháp Hữu thấy khi thế giới bên ngoài cần mình thì mình phải vừa nuôi tâm bồ đề vừa giữ bản chất của một người tu.  Có những lúc Pháp Hữu nhận ra là mình đi khóa tu nhiều quá thì Pháp Hữu phải tìm lại sự quân bình bằng cách lần tới Pháp Hữu sẽ ở nhà để người khác đi. Hiện tại ở xóm Thượng, điều mà Pháp Hữu hay làm nhất là luôn kêu gọi các thầy giáo thọ có mặt cho đại chúng ở nhà. Sư Ông dạy rằng “thương yêu nghĩa là có mặt cho nhau”. Pháp Hữu đang thực tập theo lời dạy đó của Sư Ông. Rất dễ dàng để Pháp Hữu xung phong đi khóa tu, vì trong đại chúng ai cũng thấy Pháp Hữu có khả năng nói tiếng Anh, có thể chia sẻ, hướng dẫn thiền sinh. Nhưng vào thời điểm này, Pháp Hữu thấy vị trí cần thiết của Pháp Hữu là có mặt cho đại chúng, yểm trợ đại chúng, không cần phải hướng dẫn gì cả, chỉ cần có mặt thôi. Khi mình ngồi thiền, ăn cơm chung mà thấy sự có mặt của các sư anh, sư chị lớn thì tự động mình cảm thấy có sự yểm trợ.

Có vài sư em nói với Pháp Hữu: “Lúc này thầy cần có mặt bên Sư Ông chứ, thầy là thị giả lâu năm, lại rất gần gũi Sư Ông mà!” Theo suy nghĩ riêng của Pháp Hữu thì Pháp Hữu thấy mình cũng  đang chăm sóc Sư Ông bằng cách mình chăm sóc xóm Thượng, chăm sóc Làng Mai, chăm sóc các sư em Tây phương bên đó. Trong hai năm vừa qua Pháp Hữu quyết định không đi khóa tu nhiều, có những lúc cần thiết Pháp Hữu cũng phải đi một hai ngày nhưng Pháp Hữu không muốn vắng mặt nhiều trong chúng. Sư Ông từng dạy rằng: mỗi chúng ta là một tế bào trong cơ thể của Tăng thân, ai cũng cần xác định được vị trí của mình trong đó. Pháp Hữu thấy vị trí của sư anh Pháp Ứng, sư anh Pháp Dung là phải đi hướng dẫn khóa tu thì mình phải về để yểm trợ quý sư anh vào những công việc khác như chăm sóc các sư em để quý sư anh có không gian đi giảng dạy. Khi thấy như vậy rồi thì tuy ở xóm Thượng Pháp Hữu làm nhiều việc, vừa trụ trì, vừa ban văn phòng, vừa các ban tổ chức, có mặt cho anh em, có mặt với thiền sinh nhưng Pháp Hữu không thấy mệt, do mình đang được sống với lý tưởng của mình. Bố của Pháp Hữu thường nói đùa là “ở ngoài xã hội hiện nay có nhiều người trẻ không biết phải làm gì hết, còn con ngày nào cũng có việc làm, sướng quá đi”.

Nhìn lại đời sống của mình Pháp Hữu thấy đúng là như vậy. Ngày nào thức dậy, Pháp Hữu cũng biết mình phải làm gì, phải chuẩn bị gì. Khi nhìn đại chúng, Pháp Hữu thấy sức sống mới, thấy tăng thân là một thực tại linh động – “a living community”. Sư Ông thường dạy rằng nếu Tăng thân là một thực tại linh động – “living Sangha” – thì Bụt và Pháp cũng là những thực tại linh động – “living Buddha, living Dhama”. Bụt và Pháp có thể tồn tại và phát triển là nhờ vào Tăng thân. Ở châu Âu, mỗi năm Làng Mai nhận được rất nhiều lời mời đi tổ chức khóa tu, vậy nên anh chị em mình không phải sợ thiếu công việc đâu. Nhưng điều quan trọng là anh em mình phải giữ được sự thực tập, giữ được gốc rễ tâm linh của mình.

BBT: Sắp tới là ngày tiếp nối của Sư Ông, chúng con rất muốn được nghe thầy chia sẻ, nhắn nhủ về sự thực tập để tiếp nối Sư Ông.

Tu học rất cần sự kiên nhẫn. Sư Ông đã trải qua biết bao thử thách, đi qua những khổ đau, khó khăn như chiến tranh, mất mát, lưu vong… Những khó khăn đó đã làm nên nội lực của Sư Ông. Sư Ông đã giữ tâm bồ đề, giữ gìn chí nguyện lớn để tu tập và thành lập được tăng thân Làng Mai hôm nay. Là sự tiếp nối của Sư Ông, chúng ta cũng cần thời gian để trưởng thành, để lớn lên từ những khó khăn, thách thức.

Thoạt đầu khi Sư Ông bệnh, Pháp Hữu nghĩ thiền sinh về Làng Mai Pháp chắc sẽ ít lắm. Nhưng sự thật thì năm đầu họ về rất đông, ai cũng ngạc nhiên. Pháp Hữu đã nghĩ chắc họ thương mình nên họ về yểm trợ. Mà gần ba năm rồi, số lượng thiền sinh về còn đông hơn lúc Sư Ông còn giảng dạy nữa. Năm ngoái, trong ngày ăn mừng Tết dương lịch có một nghìn người về, thiền đường của xóm Thượng không đủ sức chứa, quý thầy, quý sư cô phải ra ngoài để dành chỗ cho thiền sinh. Khi chứng kiến những gì xảy ra trong các khóa tu, Pháp Hữu thấy được anh chị em đã hết lòng cống hiến trong mọi mặt, như cho hướng dẫn, hát thiền ca, pháp thoại, chấp tác, nấu ăn… Đó là mình đang tiếp nối Sư Ông .

Trong việc phụng sự, đại chúng đã có khả năng rồi, điều mà Pháp Hữu luôn nhắn nhủ anh chị em là đừng bao giờ quên sự thực tập. Sự thực tập căn bản phải luôn được đào sâu và làm mới. Khi nhìn lại sự thực tập của mình, có thể nói rằng hiện tại sự thực tập “thở vào thở ra, đã về đã tới” của Pháp Hữu hôm nay rất khác mười năm trước. Khi sự thực tập đã trở thành sự sống, mình có thể thực sự dừng lại và an trú được. Những cái đó cần thời gian, không gian và mình phải nuôi chí nguyện của mình. Qua thời gian, nhiều khi những mong muốn khác xuất hiện, tâm thức dần thay đổi khiến mình dễ quên, chính vì thế mà mình cần nuôi lời thề và ước nguyện năm xưa. Đó là những thức ăn nuôi mình.Những lời dạy của Sư Ông đã truyền cảm hứng cho mình nhưng nó cũng sẽ dễ dàng bị soi mòn. Có nhiều vị đã có chí nguyện lớn nhưng chưa chịu nuôi những chí nguyện nhỏ, như là duy trì sự thực tập theo dõi hơi thở vào – ra. Ngày xưa khi mới tu, Pháp Hữu luôn phát nguyện là “Ngày hôm nay khi đánh răng, mình phải đánh răng có chánh niệm”. Khi nhìn lại, Pháp Hữu thấy mình đi tới được là nhờ những cái “tự đẩy” mình như vậy. Đại chúng, môi trường, không gian, thời khóa luôn có đó cho anh chị em mình tu học nhưng mà mình phải có sự khéo léo và năng động của mình. Mình cần lập nguyện, và làm tròn những nguyện nhỏ thì từ từ nguyện lớn của mình sẽ thực tế, rõ ràng hơn. Sư Ông khéo léo đưa mình về với hiện tại từ những gì đơn giản, những giác ngộ nho nhỏ, mầu nhiệm. Phải luôn tự hỏi “Mình có thực tập thật hết lòng hay không?”. Nguyện lớn sẽ thành khi mình nuôi được những nguyện nhỏ đó.

Ở xóm Thượng Làng Mai, bây giờ Pháp Hữu ước nguyện mọi người cùng thực tập lời dạy của Sư Ông: “Đã có đường đi rồi, con không còn lo sợ”. Mình phải thật sự tin con đường của mình, của tăng thân. Có nhiều anh em xuất gia trong chương trình năm năm nhưng cách sống rất biết trân quý, rất hết lòng vì thấy đây chính là đời sống của mình. Trong tăng thân, mình luôn đi như một dòng sông để yểm trợ và nhắc nhau trong sự thực tập. Ở Làng Mai Thái Lan, Pháp Hữu ấn tượng về sự thực tập uy nghi rất đẹp của các anh chị em và sự tham gia thời khóa đầy đủ. Pháp Hữu thấy sự năng động, hết lòng của các sư em.

Khi xuất gia và được Sư Ông đặt tên “Pháp Hữu” – có nghĩa là bạn, Pháp Hữu được Sư Ông dạy: “con phải tập làm bạn với mọi người”. Pháp Hữu thấy mình cũng cởi mở và thích quen với nhiều người. Lúc mới xuất gia, Pháp Hữu rất thích thực tập mỉm cười: Thức dậy miệng mỉm cười, hăm bốn giờ tinh khôi… Tuy nhiên tập mỉm cười lúc thức dậy hơi khó một chút vì lúc đó còn nhỏ quá, nhìn đồng hồ điểm đến giờ phải đi ngồi thiền thì hơi khó mỉm cười. Trong khi ngồi thiền, Pháp Hữu thực tập câu “Tĩnh tọa lòng an, miệng mỉm cười”, và nếu ngày nào thật sự thực tập điều đó thì dần dần mình ngồi mỉm cười thiệt luôn. Từ từ, qua sự nhắc nhở của bản thân, nụ cười đã trở thành sự sống của Pháp Hữu. Giống như khi thực tập quán niệm hơi thở, mình chỉ cần trở về với hơi thở, cái an lạc đã có mặt ở đó. Pháp Hữu vẫn đang thực tập mỉm cười kèm theo câu: “Mọi thứ sẽ ổn thôi, chuyện gì cũng có lối ra thôi” (Everything will be okay. There will be a way out). Đó là con đường, chỉ cần mình hết lòng thực tập.

Trong khi làm thị giả cũng vậy, mình cũng thực tập hết lòng. Theo Pháp Hữu, phẩm chất giỏi của một thị giả là sự có mặt. Nếu mình ngồi và để ý tới Thầy, mình có mặt đó thì mình sẽ biết Thầy cần gì. Trong khi pháp đàm, mình tập quan sát ngôn ngữ cơ thể, tiếp xúc với anh chị em trong cách hành xử của họ và mình cũng có thể hiểu họ đang cần yểm trợ gì. Ở trong đại chúng, đôi khi mình thấy có vài vị đang khổ. Qua cách họ sống thôi là mình có thể biết họ đang trong trình trạng ấy. Có thể họ chỉ cần một câu hỏi “sư em có khỏe không?” (How are you?), mà mình phải hỏi rất thật chứ không phải là nói cho xong. Đó là can đảm của một vị xuất sĩ. Nếu nói mình là một tăng thân có tình thương, có sự hiểu biết thì đây là cơ hội để mình thực sự thể hiện bằng hành động. Qua những điều Sư Ông dạy, thần chú không chỉ áp dụng cho người tại gia thôi, mà là để cho mấy anh chị em mình trước tiên. Nếu mình xem pháp thoại của Sư Ông thì sẽ thấy một phần những lời dạy chính là cách mà Sư Ông nhìn đại chúng. Đó là sự kết nối, tiếp xúc, có mặt.

Huynh đệ tặng quà cho nhau trong dịp Giáng sinh

Có một pháp môn căn bản rất tuyệt vời là pháp đàm. Đó là cách thực tập mình được dạy, được học mà đôi khi ở ngoài không có được. Sự chia sẻ những cái thấy, những tuệ giác thực tập của mình làm mọi người có thể hiểu được, thực tập theo được. Sống trong tăng thân cũng có những khó khăn, va vấp để mình lớn lên, để mình áp dụng pháp môn tu tập vào thực tế. Và khi tham dự pháp đàm, lắng nghe các vị cư sĩ chia sẻ, mình cũng học hỏi được nhiều từ những chia sẻ đó. Có những lúc mình không cần kinh nghiệm trực tiếp cái khổ, nhưng nếu nghe câu chuyện của họ bằng thiền quán thì mình cũng có thể hiểu được cái khổ đó. Những khóa tu do tăng thân tổ chức là cơ hội cho chúng ta học hỏi trực tiếp. Đối với Pháp Hữu, tham dự pháp đàm giúp cho sự học hỏi của mình rất nhiều, nhất là đối với những người xuất gia trẻ.

Hồi đó, có những buổi pháp đàm Sư Ông đi vào mà không báo cho ai biết. Ai mà đi trễ thì thật là lúng túng với Sư Ông. Có một lần Sư Ông dạy Pháp Hữu chia sẻ, mình rất bất ngờ nhưng phải chia sẻ thôi. Bây giờ Pháp Hữu mới thấy, nhờ lần đó, mình đã có những bước đi đầu. Sư Ông biết cần phải đẩy mình một cái. Lúc đó, Pháp Hữu cảm thấy ngại lắm khi chia sẻ, nhưng nhờ vậy mà bây giờ mình có những khả năng khác.

Nói về sự tươi mát, có lúc Pháp Hữu cũng không tươi mát lắm đâu, nhưng mình biết là mình cần có mặt và hiến tặng những gì đẹp nhất. Muốn vậy, mình phải có ý thức chăm sóc cảm xúc và sắp xếp thời gian để chăm sóc bản thân. Hồi mười mấy hai mươi tuổi, Pháp Hữu rất thích ngồi chơi, ai mời cũng ngồi. Khi lớn lên, có nhiều việc hơn thì thấy mình cần có thời gian riêng để lắng yên. Không phải mình không muốn có mặt với huynh đệ, có điều mình phải chăm sóc mình đủ. Pháp Hữu học được từ Sư Ông bí quyết đó. Sư Ông biết chăm sóc mình để có mặt cho đại chúng. Chưa bao giờ Sư Ông xin đại chúng cho nghỉ một tháng không cho pháp thoại. Sự đều đặn đó không chỉ có tình thương mà còn là trách nhiệm và sự có mặt cho đại chúng. Mình cần học được tinh thần đó. Đó không phải là sự hy sinh mà là mình cần chọn lọc. Có lúc thấy anh chị em chơi vui nhưng mình biết nếu vào chơi thì mình sẽ tốn năng lượng, mình cần thời gian để lắng yên. Khi mình trưởng thành, những khoảng yên đó rất quý. Hiện tại Pháp Hữu đang học làm trụ trì, học có mặt cho anh em. Khả năng biết lắng yên lại giúp Pháp Hữu thấy rõ hơn. Người trẻ cần phải nhận ra lúc nào mình cần nghỉ ngơi, lúc nào mình không cần uống trà, không cần tiếp xúc nhiều quá mà cần sự tĩnh lặng.

Có một điều mà Pháp Hữu rất ấn tượng nhưng chưa làm được như Sư Ông là nếu Pháp Hữu thưa: “Thưa Thầy, đến giờ ăn rồi!” thì Sư Ông sẽ dừng mọi việc. Sư Ông có khả năng buông xuống hoàn toàn để đi ăn. Điều ấy đơn giản nhưng khó thực tập lắm. Giống như khi Pháp Hữu làm văn phòng, đã nghe chuông rồi, ai cũng nói tới giờ ăn nhưng mà Pháp Hữu cứ nói “còn chút nữa thôi” và đã kéo thêm thời gian của mình. Mình nghĩ là mình tiết kiệm thời gian nhưng sự thật là mình kéo dài thời gian, kéo năng lượng của mình xuống. Những cái đó Pháp Hữu được học từng li từng tí từ Sư Ông. Buổi sáng Sư Ông thường ngồi thiền với đại chúng, có khi ngồi thiền ở trong Cốc. Sư Ông biết lựa chọn cách để nuôi dưỡng, chăm sóc chính mình. Mùa an cư, Sư Ông không bỏ một buổi ngồi thiền nào mà luôn luôn có mặt. Dù lạnh bao nhiêu mà mỗi lần vào thiền đường là Sư Ông cởi nón ra, áo lạnh thì mặc nhưng nón mũ thì không. Những cái nhỏ nhỏ như vậy là những bài học nuôi lớn Pháp Hữu khi được ở gần Sư Ông.

Một điều mà Sư Ông dạy trong việc bảo vệ đời tu đó là nuôi dưỡng sự khiêm cung của mình. Lúc Pháp Hữu làm thị giả, mỗi Chủ Nhật có ăn quá đường theo hạ lạp, thứ Năm thì ăn vòng tròn không theo hạ lạp. Hôm thứ Năm đó, nghe thỉnh chuông xá Bụt xong, đại chúng cùng nhau ra khỏi thiền đường. Sư Ông cũng đang đi ra cửa. Lúc đó, Pháp Hữu thấy đại chúng đang đứng rất đông chờ từng người ra. Mình tự hào là thị giả nên mình nhanh chân mở đường cho Sư Ông. Pháp Hữu vừa đi lên nhanh một chút thì cảm giác có ai kéo ở đằng sau. Sư Ông không nói gì hết, chỉ kéo Pháp Hữu lại. Khi Sư Ông tới cửa thì tự động mọi người mở đường. Khi về tới Cốc, Sư Ông mới xoay qua dạy: “Khi Thầy ở trong chúng, Thầy cũng như đại chúng thôi, Thầy cũng đi ra như các con đi ra, Thầy chưa cần các con mở đường. Những lúc Thầy đi ra ngoài thì các con cần bảo vệ Thầy, lúc ấy mình mới phải làm như vậy”. Những lời đó làm Pháp Hữu nhớ suốt đời. Sư Ông chỉ muốn mình là một vị xuất sĩ bình dị như bao người. Khi mình có đức thì mình không cần đẩy người ta ra để biểu lộ là có Thiền sư sắp đến, mà khi Thiền sư tới thì một cách tự nhiên con đường sẽ mở. Pháp Hữu thấy lời dạy luôn đi đôi với những hành xử hằng ngày của Sư Ông. Cuốn sách “Bước tới thảnh thơi” hay những chi tiết trong đời sống hàng ngày của Sư Ông mà Pháp Hữu đã chứng kiến, nhắc nhở Pháp Hữu phải luôn trở về với phẩm chất căn bản của một người tu.

BBT: Xin thầy chia sẻ về hoàn cảnh ra đời của chương trình xuất gia năm năm tại Làng Mai? Và thầy nghĩ như thế nào về chương trình này?

Nói về chương trình xuất gia năm năm, Pháp Hữu nhớ ngày đầu tiên mà Sư Ông đưa ra ý đó là lúc Sư Ông đang trên máy bay qua đi qua Anh Quốc. Sư Ông gọi thầy Pháp Lai và Pháp Hữu tới và nói: “Thầy đang nghĩ ra một cánh cửa mới, cánh cửa xuất gia ba năm”. Hai anh em đều giật mình khi nghe ý tưởng đó. Sau đó, Sư Ông chia sẻ ý tưởng này trong khóa tu. Mình biết là một khi Sư Ông có một cái thấy và đã chia sẻ ra với công chúng thì chắc chắn nó sẽ đi tới. Sau hơn một năm, tin này đến với đại chúng, ai cũng lo ngại và hàng loạt câu hỏi đi lên: xếp những anh chị em đó vào loại xuất sĩ gì? họ có ở chung với chúng thường trú đã phát nguyện xuất gia cả đời hay không? họ sẽ thực tập như thế nào?… Nhiều câu hỏi lắm, tại vì đó là cánh cửa mới mà. Mình chưa rõ thì phải hỏi để hiểu.

Sau đó, Sư Ông quyết định chương trình năm năm: ba năm thực tập làm sa di, hai năm Tỳ kheo. Đại chúng đến hỏi Sư Ông và chia sẻ những ưu tư, những tri giác của mình thì được Sư Ông dạy: Thứ nhất, con đường của mình là đem đạo Bụt vào xã hội Tây phương, muốn vậy thì phải có những cánh cửa để đạo Bụt được cắm rễ. Nhiều vị Tây Phương trẻ về làng tu học, họ có hạt giống muốn tu nhưng khi nghĩ tới tu cả đời thì thấy sợ, vì theo văn hóa bên ngoài anh không thích công việc này thì anh nghỉ và đi tìm việc khác cho đến khi nào thấy thích. Sư Ông thấy mình cần giúp họ chuyển hóa nỗi sợ đó. Vì khi cư sĩ bắt đầu muốn bước vào con đường xuất gia, họ có nhiều đắn đo, mình cần phải có một cánh cửa phương tiện mở ra để mời họ vào. Chương trình đó cho họ thấy là sau năm năm họ có thể ra đời, rất nhẹ nhàng và tất nhiên chỉ dành cho người trẻ. Bởi người trẻ sau thời gian đó họ có thể quay về, vẫn còn sức khỏe, sự nghiệp để sinh sống.

Thứ hai là chuyện có liên quan đến những người muốn ra đi, Sư Ông có nhắc: Các thầy, các sư cô ai cũng phát nguyện đi tu cả đời, vậy mà có nhiều vị mới một năm đã ra đi rồi thì có khác gì đâu. Đây là cách mình đổi tâm thức, có một nguồn năng lượng mới để người ta cam kết với tăng thân. Và các anh chị em hỏi các vị xuất sĩ đó gọi là xuất sĩ gì, Sư Ông có dạy: Tu thì giống nhau chứ có khác gì đâu, cũng thọ mười giới và hành trì cho đàng hoàng. Cũng giống như trong đại chúng, ai đã phát nguyện tu mà không thực tập đàng hoàng thì mời ra thôi. Cho nên ai quyết định tu năm năm cũng phải sống đời tu như một vị xuất gia tu trọn đời.

Theo Pháp Hữu, đó là một phương tiện quyền xảo của Sư Ông để giúp đạo Bụt cắm rễ vào xã hội Tây phương. Thực sự, nhờ đó mà các vị Tây phương đã vào tăng thân đông hơn. Sư Ông dạy rất rõ, sau năm năm nếu họ muốn tiếp tục thì mình mời họ tiếp tục còn nếu họ muốn ra đời thì họ đã có năm năm sống đời xuất sĩ rất quý rồi. Và nếu muốn, họ có thể về thực tập làm giáo thọ cư sĩ. Mình không đánh mất liên hệ quý giá đó khi họ ra đi. Đó là một tuệ giác mà Sư Ông nhìn thấy cho năm mươi năm nữa. Hiện tại, ở xóm Thượng có một thầy sau năm năm tu đã muốn ở lại thêm nữa nên xin gia hạn thêm năm năm. Hội đồng Tỳ kheo đã đồng ý, mình cũng dựa trên tinh thần của Sư Ông, tìm cách nuôi chúng xuất sĩ vì mình biết nuôi một vị xuất sĩ thành công không dễ. Đó là phương tiện quyền xảo đầy tuệ giác của Thầy mà mình học được, có thể đó là một ý tưởng táo bạo nhưng đã đưa lại rất nhiều kết quả, giúp cho tăng thân phát triển. Trong năm năm, những vị đó học hỏi được rất nhiều và khi ra đời lúc ba mươi lăm hay ba mươi bảy tuổi thì họ rất cần sự trưởng thành đó. Có rất nhiều các bạn trẻ không biết mình muốn làm gì với cuộc đời mình, vì vậy Sư Ông rất thương họ và muốn họ đem bát chánh đạo vào cuộc đời bằng chính sự sống của mình. Sư Ông muốn chỉ thẳng cho họ, không để họ phải loay hoay hoài mà uổng phí cuộc đời. Cho nên chương trình năm năm có nhiều khía cạnh hay lắm và đã có nhiều anh chị em tu học rất đàng hoàng, yểm trợ và làm nhiều việc rất hay cho đại chúng. Và chúng ta hoàn toàn có thể đi tới vì chúng ta có giới luật, uy nghi bảo hộ cho mình.

Về Vườn Ươm Thái Lan, Pháp Hữu rất vui khi thấy có chương trình xuất gia gieo duyên ba tháng. Pháp Hữu nghe là các vị muốn tham gia khóa xuất gia gieo duyên phải có lời giới thiệu từ các tăng thân và họ đã có kinh nghiệm thực tập pháp môn Làng Mai rồi chứ không phải ai có cảm hứng cũng được tham dự. Pháp Hữu thấy rất hay vì điều đó luôn nuôi dưỡng năng lượng của đại chúng, những cái hay đó rất cần yểm trợ và học hỏi.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh trả lời truyền hình Ý về vấn đề Tây Tạng

Quốc hội Âu châu nên mở phiên họp đặc biệt về Tây Tạng, và gửi 1 phái đoàn đa quốc gia đến Lhassa tìm hiểu sự kiện..;

– Các nước Tây phương nên can thiệp để đức Đạt Lai Lạt Ma cũng được về viếng thăm, thuyết pháp, giảng dạy và tổ chức những khóa tu như thiền sư Thích Nhất Hạnh đã được về Việt Nam giảng dạy và hoằng pháp..;

– Dân chúng Tây Tạng và Phật tử Trung Quốc cần được thấy nhân cách của đức Đạt Lai Lạt Ma, và dù chỉ giảng dạy Phật pháp và khuyến khích bảo tồn di sản văn hóa Tây Tạng mà không cần nói đến chính trị, ngài cũng đã có thể đem lại rất nhiều hạnh phúc cho dân chúng và quê hương ngài rồi;

– Sẳn sàng theo đức Đạt Lại Lạt Ma cùng đi Tây Tạng để ủng hộ ngài và cũng sẽ cùng ngài dạy Phật pháp cho Phật tử Tây Tạng  nếu được phép.

– Phật tử Tây Tạng đừng nên tuyệt vọng bởi vì Việt Nam ngày xưa tuy bị nội thuộc Trung quốc gần 1000 năm nhưng cuối cùng cũng đã dành được độc lập cho mình;

– Nhà nước Việt Nam nên cho phép ban tổ chức Ngày Lễ Phật đản Quốc tế mời đức Đatlai Latma về Việt Nam dự lễ Phật đản vào tháng Năm sắp tới. Điều này sẽ đem hạnh phúc thật nhiều cho Phật tử Việt Nam và cũng để chứng tỏ Việt Nam có lập trường về Tây Tạng rất khác với Trung quốc…

Đó là những đề nghị chính yếu của thiền sư Thích Nhất Hạnh trong cuộc trả lời phỏng vấn truyền hình Ý quốc vào sáng thứ Năm (20.03.2008) tại thành phố Roma.

[PSN/ROMA/30.03.2008] Khi tăng đoàn Làng Mai do thiền sư Thích Nhất Hạnh dẫn đầu vừa đặt chân tới thành phố Roma (La Mã)  trong chuyến hoằng pháp 14 ngày tại Ý quốc thì cuộc tuần hành trong ôn hòa của 600 nhà sư Tây Tạng nhân kỷ niệm 49 năm cuộc khởi nghĩa chống ách thống trị của Trung quốc đã diễn ra đến ngày thứ 8. Thủ phủ Lhassa đã bị xe tăng, thiết giáp và quân đội Trung quốc cắt đứt với thế giới bên ngoài; Đàn áp đẫm máu đã xảy ra, thi thể của hàng trăm nạn nhân mà đa số là thanh niên cũng như giới tu sĩ Phật giáo Tây Tạng nằm rải rác khắp đường phồ Lhassa.

Trước tình cảnh đó, chỉ hai ngày sau khi yên vị, Tăng Đoàn đã tổ chức một cuộc thiền hành công cộng cho Hòa bình do Thiền Sư dẫn đầu với sự hưởng ứng của hơn 3000 cư dân của thành phố Roma, thủ phủ truyền thống Cơ Đốc La Mã trên thế giới. Cuộc thiền hành đã diễn ra vào lúc 10 giờ 30 phút, sáng ngày 20 tháng 3 năm 2008.

Ba ngàn người cùng đi trong im lặng, mà mỗi bước chân là một niệm cho Hòa bình tự thân trên lộ trình nhiều cây số, đồng loạt và liên tục trong nhiều giờ trên thành phố đã làm ra không biết bao nhiêu là năng lượng yên bình. Tất cả năng lượng đó đã được chuyển tới tới Lhassa xoa dịu đau nhức, chia xẻ yêu thương, hiểu biết cho nạn nhân và cả tác nhân gây ra đau khổ trong những ngày qua.

Ngay sau đó, đài truyền hình quốc gia Ý Đại Lợi đã có cuộc phỏng vấn về vấn đề nóng bỏng mà cả thế giới cùng quan tâm này. Nội dung cuộc phỏng vấn đã được chiếu lại trong các bản tin chính thức vào các buổi trưa (13:30) và tối (20:30) trong ngày 21.03.2008.

Sau khi trả lời những câu hỏi có tính thời sự thiền sư Thích Nhất Hạnh đã đưa ra hai đề nghị chính yếu :

  1. Quốc hội Âu châu nên mở một phiên họp đặc biệt về tình hình Tây Tạng và gửi một phái đoàn nhiều nước về Lhassa và các địa điểm đau nhức khác để thực tập lắng nghe những khổ đau của cả các phía và về báo cáo lại cho Tây phương.
  2. Các nước Tây phương nên can thiệp để đức Đạt Lai Lạt Ma cũng được về viếng thăm, thuyết pháp, giảng dạy và tổ chức những khóa tu như thiền sư Thích Nhất Hạnh đã được về Việt Nam giảng dạy và hoằng pháp. Nếu thiền sư Thích Nhất Hạnh được về Việt Nam giảng dạy thì đức Đạt Lai Lạt Ma cũng phải được Trung quốc cho về giảng dạy. Dân chúng Tây Tạng và Phật tử Trung Quốc cần được thấy nhân cách của đức Đạt Lai Lạt Ma, và dù chỉ giảng dạy Phật pháp và khuyến khích bảo tồn di sản văn hóa Tây Tạng mà không cần nói đến chính trị, ngài cũng đã có thể đem lại rất nhiều hạnh phúc cho dân chúng và quê hương ngài rồi. Nếu áp lực các nước Tây phương đủ mạnh như trong trường hợp thiền sư Thích Nhất Hạnh thì chuyện đức Đạt Lai Lạt Ma về nước cũng sẽ được xảy ra.

Ngoài ra (trong buổi phỏng vấn), thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng đề nghị nhà nước Việt Nam nên cho phép ban tổ chức Ngày Lễ Phật đản Quốc tế mời đức Đạt Lai Lạt Ma về Việt Nam dự lễ Phật đản vào tháng Năm sắp tới. Điều này sẽ đem hạnh phúc thật nhiều cho Phật tử Việt Nam và cũng để chứng tỏ Việt Nam có lập trường về Tây Tạng rất khác với Trung quốc.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng nhắn Phật tử Tây Tạng là đừng nên tuyệt vọng bởi vì Việt Nam ngày xưa tuy bị nội thuộc Trung quốc gần 1000 năm nhưng cuối cùng cũng đã dành được độc lập cho mình.

Được biết trong chuyến đi hoằng pháp này của tăng thân Làng Mai tại Ý đại lợi, một khóa tu có 890 thiền sinh Ý tham dự đã được tổ chức tại trung tâm Castelfusano ở thủ đô Rome, đem lại hạnh phúc cho mọi người. Ngày chót của Khóa Tu cũng có hàng trăm người xin quy y thọ trì năm giới. Sau đó phái đoàn đã đi Napoli, miền cực Nam nước Ý.

Ngày 27.03. 2008, trong buổi họp báo tại tòa thị sảnh Napoli, thiền sư Thích Nhầt Hạnh đã lập lại những điều đã nói với đài I truyền hình Ý, nhưng Thiền Sư có thêm rằng Thiền Sư sẽ sẳn sàng theo Đức Đạt Lại Lạt Ma cùng đi Tây Tạng để ủng hộ ngài và cũng sẽ cùng ngài dạy Phật pháp cho Phật tử Tây Tạng  nếu được phép. Nhật báo Il Manifesto, nhật báo El Corriere della Sera và nhật báo La Republica ngày 28.03.2008 đều dành riêng nửa trang  thật to của nhật báo để đăng hình ông thầy tu Việt Nam  với đề nghị khá độc đáo về Tây Tạng.

Ngày 28.03.2008 lúc 9 giờ 30 sáng, 500 người trẻ từ 16 đến 19 tuổi được giáo sư các trường mình đưa tới Rạp Xi Nê Modernissimo tại Napoli  để được thiền sư Việt Nam Thích Nhất Hạnh dạy cách làm chủ được những cảm xúc mạnh của mình như sợ hãi, giận dữ, tuyệt  vọng… Các cháu và các giáo sư vô cùng hạnh phúc vì cách giảng dạy rất dễ nhớ và có thể thực hành được. Tất cả các cháu đều được quý thầy quý sư cô Làng Mai hướng dẫn tập hát bài  Thở vào thở ra, Là Hoa Tươi Mát, Là Núi Vững Vàng bằng tiếng Ý.

14 giờ cùng ngày,  tăng thân Làng Mai được các bạn đưa đi thăm thành phố Pompei. Thành phố này, cách đây 1000 năm, đã bị thạch hỏa của núi lửa Vesuvo phủ lên và làm cho nguyên thành phố biến thành than hồng rồi hóa thạch. Riêng sư cô Chân Không và một nhóm tăng thân Napoli đã đến Phòng khánh tiết của bảo tàng viện Pignatelli của Napoli lúc 17 giờ 30 chiều để hướng dẫn thiền lạy cho hơn 1000 người. Số người đến tham dự quá đông nên lúc 17 giờ ban tổ chức bị buộc phải từ chối dòng người cứ tiếp tục đổ tới không ngừng. Sau buổi thiền lạy, rất đông người tham dự đã đến xin bái tạ Sư cô vì pháp môn quá mầu nhiệm.

Sáng 29.03.2008, Thiền Sư đã thuyết pháp tại Rạp Hát lớn của thành phố với 1500 người đến nghe. Sau đó mọi người theo Thiền Sư ra công trường Plebiscita để cùng đi thiền hành đến tận công viên sát bờ biển. Tại đây mọi người đều quyến luyến không muốn rời Thiền Sư và tăng thân Làng Mai. Hơn hai ngàn người cùng đứng giữa công viên hát Thở vào thở ra, là hoa tươi mát, là núi vững vàng… để tiển đưa Sư Ông và Tăng Thân. Tình người ở Napoli rất đậm đà. Về đến đây tăng thân mới biết rằng bài hát Trở Về Mái Nhà Xưa, nhạc ngoại quốc lời Việt mà nhiều người Việt Nam rất thích vốn là từ bản nhạc Trở Về Suriento, Napoli, lời hát và nhạc gốc là tiếng Ý cũng đậm đà tình cảm như lời Việt.

(Nguồn: Phù Sa – http://phusaonline.free.fr/PhatHoc/TinTuc/TDTS_4/13_TraloiphongvantruyenhinhY.htm)

Gieo hạt từ bi

 

Kính thưa quý thân hữu,

Đầu thềm xuân mới trước cửa thiền, Thích Nhất Hạnh Foundation kính xin chúc quý đạo hữu một mùa xuân Đinh Dậu thân tâm thường an lạc, phúc duyên nhiều thiện lành, cháu con về hội tụ, nguồn sống mãi tràn dâng.

Chúng tôi vô cùng tri ân tấm chân tình đầy nghĩa quê hương và  những món quà đóng góp bằng trái tim từ ái của quý vị từ bao năm nay cho các trung tâm Làng Mai. Lòng từ bi của quý thân hữu như những trận mưa xuân thấm vào đất để cho hạt giống nẩy mầm thành cỏ cây, hoa lá khắp mọi nơi. Từ tấm lòng yêu thương này mà những  dự án xây dựng tăng xá cho các tu viện được hình thành, những chi phí cho sức khoẻ của Sư Ông Làng Mai được yểm trợ, những khoá tu thực tập sống chánh niệm được tổ chức khắp nơi trên thế giới.

Thêm vào đó, hàng ngàn cánh tay với hạnh nguyện Quan Âm của quý vị đã vượt vùng biển mênh mông để trải dài và ôm lấy quê cha đất mẹ dấu yêu bên kia bờ đại dương; đã cùng về với chương trình Hiểu và Thương làm trọn tình huynh đệ, sống vẹn nghĩa đồng bào; đã giúp bao người thoát cảnh đói rách, khổ đau và vượt qua thiên tai, lũ lụt; đã tạo cơ hội cho những trẻ em nghèo nơi hẻo lánh được cơm ăn, áo mặc, còn được cắp sách đến trường, còn được một tuổi thơ vang tiếng cười khi đời sống của các em vẫn còn quá cơ hàn, khổ cực.

Hiện nay, với sự đóng góp nhiệt tình của quý vị trong chương trình Giọt Nước Cánh Chim, chúng tôi đã và đang góp phần cứu trợ các nạn nhân khốn khổ ở những vùng bị ảnh hưởng bởi chất độc từ Formosa. Cùng với tài vật, lần này chúng tôi có gửi kèm theo một lá thư với câu chuyện tiền thân của đức Thế Tôn để nuôi dưỡng cả thân và tâm của đồng bào. Trong kiếp đó, Bụt là một con chim. Thấy khu rừng đang bị lửa cháy, vì quá thương những sinh vật đang bị chết trong cơn hoả hoạn, con chim nhỏ bé bèn nhúng nước cho ướt hai cánh rồi quyết chí bay qua bay lại để rải từng giọt nước xuống, mong sao đámn lửa sẽ ngừng. Con chim kiệt sức nhưng cuối cùng, lòng từ bi bao la đã chuyển động được đất trời, cơn nắng nóng bức thành một trận mưa thật lớn, thật mát dịu.

Chính giọt nước cánh chim giọt nước Cam Lồ này đã dập tắt được ngọn lửa rừng gây hiểm hoạ. Cũng vậy, chúng ta hãy cùng nhau nối vòng tay mà:

Khơi nguồn hiểu biết. Mở lối yêu thương.

Cùng nhau rải những giọt nước của trái tim chan hoà nhân ái để dập tắt ngọn lửa khổ đau đang bủa vây khắp phía trên quả địa cầu. Xin nguyện làm những giọt mưa xuân thấm tình quê mẹ về tưới mát ruộng đồng. Xin thành tâm nguyện cầu cho:

Từng hơi thở tóm thâu trời tịnh lạc. Mỗi bước chân tiếp nối đất từ bi.

Cung điệu mùa xuân vừa vang lên khúc hát nghìn xưa. Đất trời non nước reo vui trong không gian trầm lắng. Vạn vật chuyển mình thoắt tỉnh giấc ngủ đông. Cỏ cây hoa lá khắp mười phương bừng bừng nhịp sống, hoà điệu xuân ca cùng dòng vận hành của thiên nhiên, cùng bản diệu âm của khung trời tịnh lạc.

Một tiếng sấm xuân vừa chấn động. Khắp nơi cây cối nẩy mầm non.

Một lần nữa, chúng tôi xin kính chúc quý thân hữu tâm lạc hoa khai, nhẹ bước dạo chơi dưới khung trời mùa xuân bất tận.

Vạn mai muôn trúc kính tặng người.

Chân Bảo Thành – Hồ Mộng Lan Đại diện Thích Nhất Hạnh Foundation

Thư gửi người thương

Xóm Hạ, ngày của ngày hôm nay

Thầy kính thương!

Đây là giây phút mầu nhiệm, rất mầu nhiệm và quý báu của tất cả chúng con. Được trở về đây là một điều không thể ngờ cho con. Con lại được nhìn thấy Thầy, thấy Thầy ngồi ăn, Thầy vẫy tay, Thầy nhìn đại chúng, Thầy uống trà, Thầy xá chào, Thầy còn đó một cách rất sống động. Con hạnh phúc lắm!

Thầy ơi! Mỗi ngày qua đi, dù không luôn luôn được kề cận nhưng ý thức Thầy còn đó cho chúng con là con hạnh phúc vô cùng. Con mang theo tình thương, trái tim nghĩ về Thầy của quý sư cha, quý thầy chùa Tổ, các sư con của Thầy ở Diệu Trạm qua đây. Con mang theo đây tất cả tình thương của mọi người gửi đến Thầy, ôm Thầy những 100 cái, nhìn Thầy 100 lần, vuốt tay Thầy 100 cái, để Thầy tiếp xúc với quý sư cha, quý thầy Từ Hiếu, các sư con bé xíu xiu ở Diệu Trạm, qua con. Con đã nhìn Thầy thật kỹ, con đã cười, đã vui với Thầy bằng trái tim của quý sư cha, quý thầy Từ Hiếu, và các sư em “baby nuns” ở Diệu Trạm, nên niềm vui, hạnh phúc của con ngập tràn, vì trong đó có thêm hàng trăm niềm vui sướng cộng lại trong con. Thầy có cảm được điều đó không, bạch Thầy?

Con đang chúc mừng ngày Tiếp nối của Thầy, và con cũng đang chúc mừng sự tiếp nối của Thầy đang chảy trong con. Những gì con đã đi qua chỉ là một phần rất nhỏ Thầy đã đi qua, con biết vậy nên con không lo lắng. Thầy đã làm được, tăng thân sẽ làm được, con cũng sẽ làm được, phải không Thầy?

Hồi trước, khi còn chăm sóc các sư em cây Sồi Đỏ ở Diệu Trạm, con đã viết một câu thế này trong sổ công phu của một sư em: “Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ!” (TCS) để nhắc sư em ấy sống để tâm hơn đến các chị em xung quanh. Hôm nay, nhân ngày này con lại nhắc con rằng: “Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ!” để con nhớ rằng con cần nuôi dưỡng lý tưởng, con đường mà con đang đi, bởi cuộc đời ấy có bao lâu, phải không ạ? Con mang ơn nhiều người, nhiều thứ quá trong cuộc đời này, nên con không thể chỉ nghĩ cho riêng con, cũng không thể sống thờ ơ được. Thầy đã dành cả cuộc đời Thầy cho tất cả. Điều đó đẹp quá Thầy ạ, một con đường tìm về chăm sóc tự thân mà không nghĩ riêng cho bản thân. Một con đường giúp người tìm thấy bình an, hạnh phúc mà đồng thời cũng đang mang bình an, hạnh phúc đến cho chính mình. Cần lắm những tấm lòng, những trái tim như vậy.

Con đường mà Thầy đã đi qua, Sư cô đã đi qua, Mẹ Teresa đã đi qua, ngài Gandhi đã đi qua, mục sư Luther King đã đi qua, … đã có rất nhiều trái tim Bồ Tát đi qua. Hôm nay cần thêm nhiều nhiều nữa những trái tim như vậy làm đẹp cho cuộc đời.

Con kính chúc Thầy sức khỏe, nguyện cầu hồng ân Tam Bảo, chư Bụt Tổ gia hộ để sức khỏeThầy được khá hơn, để Thầy có thể đi lại được nè, để Thầy có thể viết thư pháp được nè, để Thầy có thể đọc những dòng con viết đây thoải mái nhất. Con đang học làm những gì Thầy chưa làm xong, con tin rồi Thầy sẽ lại cùng chúng con leo đồi, đi dạo…

Con chúc Thầy một ngày thật vui, thật khỏe.

Thương kính Thầy luôn,
Con của Thầy,
Chân Xướng Nghiêm.

________________

Thầy thương kính,

Lâu lắm rồi, con không còn viết thư thăm Thầy. Hôm nay nghe tin Thầy đang tập đọc nên con viết lá thư này mong rằng Thầy sẽ đọc được lá thư của con.

Mùa đông này là mùa đông thứ ba con ở tu viện Bích Nham rồi đó thưa Thầy. Mùa đông năm nay lạnh hơn nhiều so với năm trước. Tu viện Bích Nham năm nay có 22 sư cô và 2 em tập sự xuất gia cùng an cư. Nghe sư em trụ trì nói năm nay là năm mạnh nhất của xóm Hạc Trắng, vì toàn là những sư cô còn rất trẻ, chỉ có con là “tra” nhất thôi Thầy ạ.

Mùa an cư này các sư em nhỏ bầu con làm giám niệm. Con nghĩ: “Là một sư chị lớn đã đủ mệt rồi, bây giờ lại thêm chức giám niệm nữa!”. Các em nói: “Sư mẹ lớn nhất làm giám niệm là đúng rồi”. Con yêu cầu các em nên tham gia sinh hoạt đầy đủ, nếu vắng mặt quá ba lần mà không có lý do chính đáng thì phải ra sám hối. Con làm bảng để theo dõi mọi sinh hoạt của các em. Mỗi ngày con đều quan sát sự sinh hoạt của các em có đều đặn hay không, để chấm vào bảng thực tập. Chao ôi, đôi mắt của con đã biến thành cái máy CCTV (camera quan sát) mất rồi!

Đầu mùa an cư, năng lượng thực tập của đại chúng lên rất cao, không biết vì tự giác hay vì các em sợ sám hối. Hôm nay đã là tuần thứ ba của mùa an cư và năng lượng tu học của đại chúng vẫn rất cao. Dù bên ngoài trời mưa, giông, gió, tuyết nhưng mọi người đều có mặt đầy đủ, chỉ trừ những vị bị bệnh thôi.

Ngày 14 tháng 12, có lễ xuất gia cho ba em: chú John là tập sự ở Lộc Uyển và hai em gái Katherine (người Mỹ) và Thanh Tâm (người Việt) tập sự ở Bích Nham. Con được biết đây là lễ xuất gia thứ hai được tổ chức tại Bích Nham. Lần đầu tiên là gia đình cây Mướp Hương do Thầy làm lễ, có hai em xuất gia. Lần này, chúng con được phép đại diện Thầy làm lễ xuất gia cho các em. Con thấy chúng con thật sự đang thực hiện những hoài bão mà Thầy mong muốn – tiếp nối sự nghiệp của Thầy. Chúng con – các sư cô trong Ban giáo thọ – cùng ngồi lại đặt tên cho hai em rất vui. Khi buổi lễ xuất gia diễn ra thì thầy Pháp Hải, sư cô Giới Nghiêm và con đại diện đại chúng cùng làm lễ cạo tóc cũng như truyền y cho các em. Mặc dù thầy Pháp Hải được mời đến từ tu viện Lộc Uyển, và ba tu viện Làng Mai ở Mỹ cách xa nhau, nhưng chúng con xem nhau như một nhà. Nhìn lại diễn tiến buổi lễ, con thấy chúng con không làm với tư cách một cá nhân mà cùng làm với nhau như một cơ thể, thật mầu nhiệm.

Thầy ơi! Trong khi làm việc chung, đôi khi vì vụng về, mất chánh niệm, chúng con thấy mình vẫn còn gây cho nhau sự hiểu lầm và làm khổ lòng nhau. Nhưng may nhờ có pháp môn làm mới, thực tập nói lời ái ngữ và lắng nghe sâu; cùng với ý thức gìn giữ tình huynh đệ, không ai muốn làm khổ ai, nên chúng con đã bỏ qua những sai sót của nhau trong khi làm việc. Con rất biết ơn Thầy đã đưa đường chỉ lối cho chúng con trong cuộc đời, giúp cho chúng con giữ mãi lý tưởng xuất gia, nuôi lớn tình huynh đệ, phụng sự và độ đời.

Sáng nay phòng con có thêm thành viên mới, đó là sư em Trăng Hoàng Yên. Trong gia đình cây Mai Vàng, sư em là người đứng thứ 20 nhưng ở Bích Nham thì sư em là nhỏ nhất. Chính vì vậy mà sư em rất được “cưng”. Lớn lên ở Mỹ nên sư em nói tiếng Mỹ giỏi hơn tiếng Việt. Sư em rất hồn nhiên và cũng rất khéo tay. Ngày lễ Noel, sư em đã cắt những tấm hoa tuyết rất đẹp. Phòng con, từ ngày có sư em, luôn có tiếng cười rộn rã. Sư em Cẩn Nghiêm cũng ở chung phòng, sư em rất có duyên và biết chơi với các sư em trẻ, nên nhiều sư em quý sư chị Cẩn Nghiêm lắm.

Ngày làm biếng, hai sư em rủ con đi rừng chơi. Chúng con mang theo trà và đi xuống con suối nhỏ. Hai sư em lấy một miếng ván bắc cầu ngang qua dòng suối, chúng con trải chiếu và ngồi trên miếng ván. Con bắt đầu pha trà cho ba người. Thấy con hơi chật vật nên các sư em khiêng những viên đá phẳng làm cái bàn trà ngay bên dòng suối. Ánh nắng nhẹ xuyên qua những hàng cây khô, khí trời lành lạnh của mùa đông, tiếng suối chảy róc rách, khung cảnh thật đẹp. Ngồi yên, cầm ly trà nóng trên tay con thưởng thức hương vị của trà và lắng nghe tiếng suối, lắng nghe tiếng nói cười của các sư em. Con thấy mình đang hạnh phúc vô cùng! Con đã nếm được hương vị của “Hiện pháp lạc trú” là như thế nào. Trong giây phút ấy, con hoàn toàn không thấy một chút lo âu, phiền muộn nào nữa cả.

Nhớ đến Thầy, con ước gì Thầy có mặt ở đây để cùng chúng con thưởng thức cái đẹp của cõi tịnh độ Bích Nham. Thầy ơi, Thầy còn nhớ tới bài hát của bác Tư không? “Mời bạn hãy nâng ly trà, tình bạn sẽ luôn đậm đà…”. Con kính dâng Thầy một ly trà Xuân thật thơm. Thầy trò mình cùng tận hưởng núi rừng thiên nhiên, cùng chúng con thưởng thức hạnh phúc trong giây phút hiện tại. Thầy luôn có mặt đó trong con, dù bất cứ ở đâu và hoàn cảnh nào. Và con biết Thầy sẽ hạnh phúc biết bao khi thấy tình huynh đệ của chúng con ấm áp, dù tiết trời mùa đông đang rất lạnh.

Con của Thầy,
Chân Hoa Nghiêm.

Thầy kính thương,

Bước theo dấu chân thầy con biết con đang đi trên con đường chánh, con đường của Hiểu và Thương.

Tháng 6 năm 1990, khi con nhìn Thầy bước đi, con biết con đã tìm ra được quê hương tâm linh sau bao nhiêu năm tìm kiếm.

Con giữ gìn và trân quý những giây phút được sống bên Thầy, được Thầy dạy dỗ bằng những phương tiện khác nhau.

Con nguyện sẽ đi trên con đường này, bình an và vui vẻ.
Và con nguyện mở rộng con đường đó cho những thế hệ tương lai.
Với tất cả sự thương yêu và lòng biết ơn sâu sắc,

Mái xưa Thầy bước chân vào
Âm thanh học trò im bặt
Vượt thoát muôn trùng con chữ
Pháp mầu đích thực truyền trao.

(The Teacher enters the hall
The students fall silent
Beyond words Transmission happens.)

Con, Chân Diệu Nghiêm

______________________

Góc nhỏ, đồi mận xóm Hạ

Sư Ông kính thương,

Nhiều lần con đã muốn viết chuyện ni để kể cho Sư Ông nghe. Nhưng con cứ ngần ngại mãi. Bây giờ đầy đủ nhân duyên, con xin kể cho Sư Ông nghe ạ.

Trong thời khóa dành cho người Đức vừa qua ở EIAB, con có cơ hội chăm sóc các bé trai, bé gái từ 9 đến 12 tuổi trong chương trình trẻ em. Con kể về Sư Ông cho các em nghe. Các em ngồi chăm chú, thích thú nghe con kể từ lúc con còn nhỏ vào tu viện xuất gia như thế nào rồi đến chuyện được về Làng an cư và làm thị giả cho Sư Ông. Tối hôm đó, trước khi kết thúc chương trình sinh hoạt, các bé đã ngồi yên năm phút để gửi năng lượng bình an, yêu thương đến Sư Ông. Chúng con ngồi vòng tròn, nắm tay nhau thật chặt, theo dõi hơi thở đều đặn vào ra. Hình ảnh các bé ngồi yên như những ông Bụt nhỏ làm con vô cùng xúc động. Sau đó chúng con đến trước bàn thờ Bụt, con đưa một cây hương cho một em dâng lên Bụt, còn những bé còn lại đều chắp tay thành kính hướng về Bụt. Những ngày kế tiếp chúng con đều cùng các bé kết thúc buổi sinh hoạt bằng sự thực tập ngồi thiền năm phút và dâng hương lên Bụt.

Sư Ông ơi, con hạnh phúc vô cùng! Con thấy Sư Ông trong các bé. Các bé đang tiếp nối Sư Ông theo cách của trẻ thơ. Các bé dù chưa có cơ hội được gặp trực tiếp Sư Ông nhưng các bé đã đi tìm Bụt, tìm Sư Ông, đã gặp được Sư Ông trong thiền sỏi, thiền quýt, thiền nghe chuông. Con tin là các bé sẽ trở thành những người trẻ biết tu tập, sống có hạnh phúc, lành mạnh trong xã hội.

Con cảm ơn Sư Ông đã gieo trồng những hạt giống tốt đẹp trong con và con đang tiếp tục công trình ươm mầm ấy vào thế hệ tương lai. Sư Ông ơi, con thương Sư Ông lắm vì Sư Ông cười rất dễ thương!

Kính thương
Con đã từng và mãi là sư bé Năng Nghiêm.

_____________________________

Thầy kính thương,

Cảm ơn Thầy đã có đó cho chúng con. Cảm ơn Thầy đang có mặt trong chúng con và xung quanh chúng con trong từng giây từng phút. Cảm ơn thân giáo cao quý tuyệt vời của Thầy đã phòng hộ, yểm trợ và dìu dắt chúng con một cách thật vững vàng, đầy tình thương và vô úy.

Cảm ơn Thầy đã biến giấc mơ Làng Mai thành một thực tại để bây giờ tất cả chúng con đều có cơ hội được sống, được nuôi dưỡng và lớn lên từ nơi đây.

Cảm ơn tinh thần hành động của Thầy, không bao giờ ngồi yên khi biết có những việc cần làm để giúp, có những nơi cần phải đến để tạo một ảnh hưởng cần thiết và lớn lao (như là Thầy đã đến Thái Lan vào mùa đông năm nay…).

Cảm ơn Thầy đã ôm ấp chúng con, những đứa con tâm linh của Thầy, trong vòng ôm bao dung không bờ bến của tàng thức Thầy, suốt hai năm qua. Cảm ơn Thầy đã đi thăm các xóm, tham gia những ngày quán niệm, và thậm chí Thầy còn viếng thăm những giấc chiêm bao của chúng con. Cảm ơn Thầy đã cho chúng con được lớn lên trong sự yểm trợ và bảo hộ lớn lao như thế.

Thầy thương quý nhất của con, nhờ Thầy mà chúng con được ở đây, được sống một cuộc đời không thể nào tưởng tượng được. Con xin nguyện sẽ hết lòng làm tất cả những gì có thể để tiếp nối những gì mà Thầy đã trao truyền cho chúng con. Có lẽ sang năm chúng con sẽ hoàn tất quyển sách về phong trào Wake Up mà 10 năm trước Thầy đã dạy chúng con thực hiện. Chúng con sẽ không bỏ cuộc.

Với tất cả niềm thương kính,
Con, Hiến Nghiêm.

______________________________________

“Lắng lòng nghe tiếng gọi quê hương
Sông núi trông ra đẹp lạ thường…”

Con kính bạch Sư Ông!

Đã một năm con có mặt ở đây, gần Sư Ông về mặt địa lý, và con cũng thấy con gần hơn với những pháp môn Sư Ông giảng dạy và truyền trao cho chúng con. Con cảm được thở thực sự là như thế nào, ăn có chánh niệm là thế nào, tinh tấn thực tập là như thế nào, thương yêu thật sự là như thế nào,…

Biết bao điều không cần Sư Ông nói và làm gì cả, con cũng đã thấy bình an; những điều con muốn thực tập, con thấy con có cố gắng và tinh tấn hơn.

Con kính biết ơn Người đã cho con được theo và học hỏi, tiếp xúc với nhiều điều mầu nhiệm mà con nghĩ không bao giờ con thấy được. Con thật sự muốn làm người tu có nhiều hạnh phúc và thảnh thơi dù phụng sự thật nhiều – như Sư Ông vậy ạ!

Chỉ cần Người luôn khỏe là chúng con hạnh phúc rồi!

“…Về tới quê xưa tìm gốc cũ,
Qua rồi cầu Hiểu tới cầu Thương”

Một trong nhiều sư út của Sư Ông,

Sư út của Linden Tree (Cây Đoàn),

Con, Trăng Hàm Tiếu.

_________________________________________

Thầy kính thương của chúng con,

Bạch Thầy, con kính dâng lên Thầy lòng tri ân sâu nhất của con, bởi vì Thầy đang có đó và đọc thư của con, con xúc động lắm.

Mùa đông này con thấy Thầy trong con, trong những pháp môn Thầy chỉ dạy rõ ràng hơn. Con hứa con sẽ đi cho đàng hoàng, sống cho sâu sắc. Tuy con vẫn còn nhiều vụng về nhưng con có thật nhiều cảm hứng để tu, để học, để sống và phụng sự. Thầy đã từng dạy con: “Làm gì thì làm, cũng phải đi cho đàng hoàng, chân phải thật sự chạm đất”. Con đang cố gắng làm điều đó. Con đi cho con, cho Tổ tiên con và con đi cho Thầy.

Thầy ơi! Con thương Thầy nhiều lắm, nhiều như những tinh hà trong vũ trụ. Nhân mùa Giáng sinh này, con nguyện sẽ sống cho sâu sắc hơn, thở cho đều đặn hơn.

Nguyện cầu chư Bụt, chư Tổ gia hộ cho Thầy sống với chúng con có nhiều sức khỏe và Thầy mãi cùng đàn con leo đồi thế kỷ ngắm thế giới tròn đầy mầu nhiệm. Con kính cám ơn Thầy đã là Thầy của con.

Con của Thầy,
Sư bé Nhất Nghiêm.

__________

Thầy thương kính của con!

Thầy ơi! Con tự hỏi không biết giờ này Thầy đang làm gì? Thầy có đang khỏe không? Thầy đang ngủ hay thức? Cơ thể Thầy có đang đau nhức không? Nhưng dù Thầy có đang không khỏe mấy đi nữa thì Thầy vẫn thấy rất vui và ấm áp vì được về Thái gặp rất nhiều các con của Thầy, phải không thưa Thầy? Thầy biết không, con đã rất muốn viết thư cho Thầy, con đã viết rồi nhưng lại không gửi, vì có quá nhiều thứ con muốn nói, muốn kể cho Thầy nghe nhưng mỗi khi cầm bút lên thì con lại thấy bối rối. Có lẽ vì con không biết phải bắt đầu từ đâu.

Nghe tin Thầy về đất Thái con đã thấp thỏm đếm từng ngày, từng giờ để được gặp Thầy, điều kỳ diệu mà chưa khi nào con nghĩ sẽ xảy ra. Con chờ giây phút mà con sẽ được thấy Thầy lần đầu tiên trong đời, thấy trực tiếp mà không phải qua hình ảnh. Con đứng đó, trong hàng trăm người con của Thầy cũng đang mong gặp Thầy, và đợi. Tim con tự dưng đập nhanh hơn bình thường. Con nắm chặt lấy tay con và thở. Con nói với lòng mình là phải thật sự sống trong giờ phút thiêng liêng đó, phải thở cho sâu, nhìn Thầy cho kỹ. Lúc Thầy xuống xe, thấy Thầy lòng con se lại, con cũng không rõ vì quá vui hay vì một điều gì khác, những cảm giác đó con vẫn còn nhớ rất rõ. Có nhiều người bật khóc, không hát nữa. Con cũng ngưng hát nhưng không khóc. Con đã đứng nhìn Thầy và thở rất sâu. Con muốn chụp khoảnh khắc ấy lại trong tim và con đã lưu ảnh Thầy rất đẹp bằng đôi mắt của con, Thầy ạ! Lúc đó Thầy có nghe con gọi Thầy không? Con đã gọi: “Thầy ơi! Con đây nè, con đang có mặt cho Thầy đây, Thầy cũng đang có mặt cho con đó phải không Thầy?”. Con không biết Thầy có trả lời con không, nhưng con nghe một tiếng “Có” vang lên đâu đó to lắm ạ!

Ở Diệu Trạm con vẫn hay gọi Thầy. Con thích gọi “Thầy ơi!” lắm. Thầy đã từng nói “nếu con gọi ‘Thầy ơi’ thì dù Thầy đang ở đâu, lúc nào Thầy cũng ‘ơi!’ lại con”. Thầy còn nhớ không? Cái này con đọc trong Lá thư Làng Mai, cho nên con biết rằng con cũng có thể gọi Thầy như vậy. Vì lần nào con gọi, con cũng nghe Thầy ‘Ơi!’ cả. Những lần con thấy Thầy, dù là Thầy đang cùng với quý thầy thị giả đi thiền hành xuống ni xá hay trong lễ xuất gia, thiền trà, tại cốc Nhìn Xa,… lần nào con cũng ngắm Thầy rất kỹ và lần nào con cũng cười tươi hết. Con đã thật sự có mặt để tận hưởng Thầy một cách sâu sắc.

Ngày các sư em cây Mai Vàng xuất gia, nhìn Thầy đi giữa hai hàng giới tử đang được cắt tóc và trao y, con đã có cảm tưởng là chính con đang được Thầy trao y và cắt tóc. Con đã rất xúc động với hình ảnh ấy. Có lẽ lúc đó Thầy cũng đang ý thức chính Thầy đang là người trực tiếp làm những việc ấy và con thấy cánh tay của Thầy đã được nối dài thành bàn tay của quý thầy, quý sư cô lớn rồi. Con xuất gia khi Thầy vừa trở bệnh nhưng chưa khi nào con thấy thiếu vắng tình Thầy, Thầy ạ. Nhờ lễ xuất gia của các sư em, vô tình đã cho con có được những cảm giác thiêng liêng ấy. Với con như vậy đã quá đủ.

Thầy ơi! Lúc mới vào chùa con hay được quý sư cô dạy mời Thầy cùng đi thiền hành, cùng ăn cơm, cùng ngồi chơi… với mình. Lúc đó con làm không được. Con nghĩ chắc sẽ không bao giờ con có thể làm được điều đó. Nhưng rồi khi con đào sâu, chú tâm vào sự thực tập thì điều kỳ diệu đã đến. Có những khoảnh khắc con cảm nhận rất rõ sự có mặt của Thầy ở đó bên con, gần lắm Thầy ạ, và có ngày con thấy Thầy có mặt trong chính bước chân con. Con đã rất xúc động vì Thầy được đi thiền hành qua những con đường thân thương ở đất Tổ bằng đôi chân của con, rồi con thương Thầy hồi nào không biết.

Con hay nhìn kỹ Thầy khi nghe pháp thoại, khoảnh khắc nào con thấy Thầy cũng thật đẹp. Con đã cười rất tươi. Con nuôi lớn tình thương đó bằng nhiều cách và tập tiếp xúc với Thầy nữa. Và giờ đây con mừng lắm khi biết rằng tình thương trong con dành cho Thầy đích thực là tình thương của một đứa con, một người học trò mà không còn sự cung kính xa lạ. Con biết rằng một khi đã thương Thầy, nghĩa là con có thêm động lực rất lớn, rất quan trọng để thực tập và giữ vững con đường của mình, điều đó nuôi con nhiều lắm. Ah! Để con kể Thầy nghe về giấc mơ của con, Thầy nha. Con mơ thấy Thầy ở một cái cốc gỗ đơn giản lắm, nhìn như nhà kiểu xưa vậy. Con đạp xe đạp qua. Gặp Thầy, con thưa:

  • Bạch Thầy! Thầy có thể cho con mượn hai sợi dây cột võng được không ạ?

Rồi Thầy gọi con vô chơi. Thầy bày con chơi một trò chơi với các ngón tay, xếp làm sao để chúng bằng nhau (sau này khi xem hình Thầy con phát hiện ra đó là một cái ấn, hì hì). Hai thầy trò ngồi chơi vui lắm, rất say sưa, cho nên sau đó con về mà quên mượn hai sợi dây võng luôn. Cũng thật mầu nhiệm vì con nhớ rất rõ từng chi tiết của giấc mơ đó, chứ thường con quên hết khi tỉnh dậy à. Vậy coi như con đã có một kỷ niệm đẹp, thật đẹp với Thầy rồi, phải không Thầy?

Thầy ơi! Con vẫn đang thực tập mỗi ngày để chuyển hóa tự thân và nuôi lớn thêm sự tỉnh thức và hạnh phúc. Sống đời xuất sĩ trong hai năm, nhìn lại con thấy mỗi ngày đã và đang thật đẹp với con. Con có niềm tin với con đường mà con đã chọn, nên Thầy hãy yên lòng Thầy nhé! Con đang được sống trên đất Tổ, con sẽ tận hưởng cho cả Thầy nữa. Con mong Thầy khỏe hơn mỗi ngày. Được làm con của Thầy, với con đó là một món quà thật lớn. Con xin cám ơn Thầy vì tình thương, vì đức hạnh và vì tất cả những gì thuộc về Thầy, Thầy ơi!

Thương kính Thầy luôn,
Con của Thầy, Trăng Từ Hiếu

_____________________________

Viết Cho Bố…

Bố kính thương,

Con viết những dòng cảm niệm này gửi đến bố trong lúc ngồi trên máy bay về Việt Nam khi con nghe tin bố qua đời. Bên nhà, bố đã được mẹ, các em, quý thầy, quý sư cô chăm sóc và lo lắng cho bố chu toàn. Bố hãy nằm yên, cảm nghe tiếng niệm Bụt và năng lượng thương yêu, nâng đỡ của mọi người.

Hôm nghe tin bố đang trong tình trạng nguy cấp, quý thầy, quý sư cô ở Phật học viện rất thương, tổ chức một buổi lễ cầu an cho bố. Con rất xúc động và thấy trong lòng tràn ngập biết ơn. Suốt buổi lễ, con đã thực tập nhiếp niệm theo hơi thở, thành tâm để lòng mình lắng yên, nương vào năng lượng của đại chúng, tụng và lắng nghe từng câu kinh, cho lời kinh thấm sâu vào từng tế bào trong cơ thể. Vì con ý thức giờ phút đó con cũng đang lắng nghe bằng đôi tai của bố.

Bố ơi, bố con mình đã cùng nhau đi qua những năm tháng đong đầy niềm vui, hạnh phúc và cũng không thiếu những khó khăn. Nhưng có một điều, con mừng vì gia đình mình biết nuôi nhau bằng tình thương, sự chấp nhận, tha thứ và bao dung. Con đã từng nói với bố, cuộc đời con, con hạnh phúc vì con được làm con của bố. Được biểu hiện trong sự sống này, chúng con mang nặng ân sinh thành, dưỡng dục của bố và mẹ. Công ơn đó không sao đền đáp cho hết được.

Bố ơi, món quà quý giá nhất bố tặng cho con là sự yểm trợ hết lòng của bố: cho phép con đi tu. Ngày con nói con muốn xuất gia, bố đã nói rằng: “Từ nhỏ đến giờ con rất tự lập, bố biết con quyết định rồi thì không thay đổi, nhưng con đường là do con chọn, con phải đi cho trọn đời”. Câu nói của bố cho con rất nhiều sức mạnh và lòng quyết tâm. Bố biết không, bố con mình đã làm một quyết định tuyệt vời bố à. Thầy và tăng thân mà con đang đi theo là một đại gia đình tâm linh có nhiều tình thương và sự hiểu biết. Thầy của con đã dạy dỗ và mở mắt cho con, giúp cho con thấy được tự thân mình, biết nhìn sâu vào gốc rễ gia đình huyết thống để thấy được rằng con không phải là một cá thể biệt lập. Vì vậy, con không chỉ tu cho con mà con cũng đang tu cho cả nhà mình. Con chuyển hóa những khó khăn, khổ đau trong con cũng là chuyển hóa những khó khăn, khổ đau cho gia đình. Con nuôi dưỡng niềm vui, tình thương và sự hiểu biết trong con cũng là nuôi dưỡng niềm vui, tình thương và sự hiểu biết trong gia đình. Bố con mình vậy là đã có con đường rồi bố ơi. Mình phải ăn mừng!

Những ngày tháng con về thăm nhà sau năm năm tu học ở Đức là những ngày trọn vẹn. Bố con mình đã uống trà, đã đi biển, ngắm mặt trời lặn, ăn tối chung với nhau, cùng ngồi chơi và cười vui vào mỗi buổi tối. Bên mâm cơm có bố, mẹ và thức ăn do bố nấu thì lúc nào cũng ngon. Bố còn làm hướng dẫn viên cho con đi thăm Phú Quốc. Với tính hài hước của bố, con đã cười rất nhiều vì thấy bố sao mà dễ thương. Có hôm bố con mình còn bơi thi với nhau nữa, bố nhớ không? Mình đi Bãi Sao, đi chùa Hộ Quốc, đi Hàm Ninh, rồi đi bãi Ông Lang mỗi chiều. Tối về thì quây quần kể chuyện và cười vui. Con phát hiện ra, bố là người yêu thích và biết sống cùng thiên nhiên.

Có dịp ngồi nghe bố kể chuyện ngày bố còn nhỏ, những kỷ niệm của bố với ông nội,… con hiểu bố nhiều hơn và con biết con cần phải sống sao cho xứng đáng với niềm tin và tình thương của bố.

Bố biết không, hình ảnh bố trong con là một người sống lạc quan, tấm lòng rộng rãi, luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người, không bao giờ tính toán thiệt hơn. Cuộc đời của bố cũng có nhiều khổ đau và lầm lỡ nhưng trong thâm tâm, bố một đời không muốn phiền ai, chỉ muốn sống là cho đi, không cầu mong nhận lại điều gì. Chị em con cũng nhờ vào đức của bố mà lớn lên khỏe mạnh.

Bố ơi, sự sống dàn trải thênh thang, bố hãy nhẹ nhàng buông bỏ thân này, ra đi cho thảnh thơi. Bố đang được tiếp nối nơi chúng con, chị em con sẽ tiếp tục sống hạnh phúc, kiên cường cho bố. Chúng con luôn thương yêu bố và sẽ luôn chăm sóc, thương yêu mẹ. Bố hãy yên lòng!

“Như hương sen tỏa ngát
Nhẹ nhàng bố rong chơi
Thảnh thơi tay cùng người
Cùng con đi muôn nơi”.

Thương kính bố thật nhiều,

Con gái của bố
Chân Sắc Nghiêm

________________________________

Thương gửi: Anh trai của nhỏ

Sáng nay trời đượm chút nắng sớm, một chút thôi nên trông sợi nắng mỏng manh lắm anh à. Em gái bắt đầu ngày làm biếng bằng một chuyến đi dạo thật thảnh thơi. Trên cỏ xanh còn vương chút sương lạnh. Hít những hơi sâu, nghe vị trời lành đến trong trẻo. Bước những bước thật vững cho anh, tận hưởng khoảng không đó cho anh, cười với anh, sống thật sâu sắc cùng anh qua mỗi bước chân. Hẳn nhiên là em đang hạnh phúc và điều đó có nghĩa anh cũng đang hạnh phúc. Cái hạnh phúc đơn giản vậy thôi anh à!

Em viết lá thư này vì sáng nay, em bắt gặp hình ảnh anh qua dáng một sư chú. Hình ảnh chiếc áo nâu, thật hiền và thật trang nghiêm. Hiền đến nỗi em phải chắc chắn rằng em sẽ mặc chiếc áo ấy suốt đời. Đến nỗi em nằng nặc đòi theo anh đi xuất gia. Em nhìn thấy mình qua mỗi bước chân anh…. Những kỉ niệm về tuổi thơ bên cạnh tiếng sóng biển rì rào, tiếng gây nhau của hai đứa om sòm khắp nhà, tiếng cười và những trò đùa chọc em khóc của anh. Không có mẹ, ba đi làm xa nhà, hai anh em mình trải qua nhiều ký ức vui buồn cùng nhau. Có cùng tiếng cười và có cùng vết thương. Mình là nhau, mình không xa nhau mấy đâu anh trai, chỉ cần nhắm mắt và thở thật ý thức, em thấy anh, rất rõ!

Em đang đi trên một con đường đẹp, và anh là một trong những hình ảnh để đưa em đến con đường này. Em biết bây giờ tuy anh không còn mang hình ảnh ấy nữa, nhưng với em, anh vẫn đẹp. Trước đây em cứ nghĩ trên cuộc đời này mình không là gì của ai cả, mình thật rắc rối và phức tạp, mình là thứ có tồn tại hay không cuộc đời cũng không quan tâm. Tuổi thơ mình giống nhau nên em hiểu anh đang mang trong lòng cảm giác ấy. Quá khứ buồn thường đi theo những đứa trẻ mồ côi ba mẹ, dai dẳng in hằn trong đầu chúng một thứ ngôn ngữ bất cần và cô đơn: “Đời không thương ta, mẹ ta sinh ra ta mà còn ghét ta huống gì người khác”. Nhưng không, mình đã sai anh à. Ít nhất là lúc này đây, anh rất quan trọng với em, với ba. Đó chỉ là ít nhất thôi, vì còn nhiều người đang nghĩ tới anh với tình thương mến không diễn tả thành lời nên anh không biết được.

Những kẻ mồ côi bất cần nhưng lại cô đơn, chúng không nhận ra mình cô đơn đâu, cho đến khi chúng ngạc nhiên thấy mình thèm một lời hỏi thăm dù vô tình. Và mình thường phủ nhận cảm giác ấy, cười lạnh lùng, đóng chặt cửa yêu thương vì sợ những người mình thương lại sẽ ra đi không có mặt bên cạnh mình nữa. Sợ chạm vào vết thương có sẵn. Sợ bị ghét bỏ. Đó là những con người thiếu thốn. Mình cũng là hai trong vô số những đứa trẻ như thế. Em đã chấp nhận cảm giác ấy, mở cửa ra đón chào những ánh nắng như ánh nắng của sáng hôm nay. Lòng sẽ ấm lắm đó anh trai. Nhiều khi cuộc sống ôm mình trong tay, mà mình cứ gặm nhấm quá khứ nhiều vết cắt rồi gạt bỏ biết bao mầu nhiệm đã có sẵn bên cạnh, thiệt là uổng phí phải không anh? Tuổi thơ đi qua dù hạnh phúc hay đau khổ, thì trái tim lớn lên từ những hạnh phúc, khổ đau đó vẫn giá trị. Một trái tim có nhiều vết xước là trái tim hoàn hảo, vì nó từng trải và dễ đồng cảm, vì nó sẽ hiểu giá trị của niềm đau nỗi khổ, nó sẽ dễ lắng lại để chung nhịp với cuộc đời, để mà thấu hiểu, ôm ấp và chuyển hóa cùng cuộc sống xung quanh.

Anh trai thương, những dòng này được viết lên khi em đã phần nào đó nhìn thấy cô bé mồ côi trong em. Em thấy luôn anh qua đứa nhỏ mười hai tuổi đã bôn ba nơi phố thị Sài Gòn, một mình vật lộn với cám dỗ, mồ hôi nước mắt đổi lấy miếng cơm, thay vì cũng tuổi đó, con người ta được ba mẹ nuôi nấng bảo bọc. Em đã ngồi xuống, nhìn thật sâu vào quá khứ của mình. Bên cạnh em còn có Thầy và tăng thân, rồi em nhận ra nhiều điều. Mở mắt ra em thấy bầu trời, em cảm nhận những cánh hoa chớm nở đón bình minh. Một sư chị mời em ly trà, em đón lấy và có mặt với sư chị, với tất cả. Em chợt nhật ra: “Mình có rất nhiều người thương, người thương mình sẽ có mặt nếu như mình có mặt. Cái quan trọng không phải là cái mình cần đạt ở tương lai hay là kỷ niệm của quá khứ mà quan trọng nhất là ở đây, những gì đang thật sự diễn ra với mình”. Em tập thở, tập cười, tập lại tất cả như một đứa bé, và em thấy mình chưa từng mồ côi. Mình hạnh phúc hơn rất nhiều người, và mình là một kẻ giàu có, hơn cả những triệu phú đang sở hữu hàng tỉ đôla.

Thái đã bắt đầu vào mùa mưa, những cơn mưa chiều mang cái lạnh đến miền núi Vườn Ươm, sự sống ủ mình chuẩn bị cho một mùa xuân sắp tới. Em gái biết trong lòng anh cũng đang ấp ủ những hạt mầm yêu thương, anh nhắm mắt lại đi và nghe trái tim mình tuôn dậy.

Em gái,

Chân Trăng Thiên Hà

Quán nguyện các vị Bồ tát lớn

Lạy đức Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, biết dừng lại và nhìn sâu vào lòng sự vật và vào lòng người. Chúng con xin tập nhìn với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con. Chúng con xin tập nhìn với con mắt không thành kiến. Chúng con xin tập nhìn mà không phán xét, không phản ứng. Chúng con nguyện tập nhìn sâu để thấy và để hiểu những gốc rễ của mọi khổ đau, để thấy được tự tính vô thường và vô ngã của vạn vật. Chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, dùng gươm trí tuệ để đoạn trừ phiền não, giải thoát khổ đau cho chúng con và cho mọi giới. (C)

Lạy đức Bồ Tát Quán Thế Âm, chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, biết lắng tai nghe cho cuộc đời bớt khổ. Ngài là trái tim biết nghe và biết hiểu. Chúng con xin tập ngồi nghe với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con. Chúng con xin tập ngồi nghe với tâm không thành kiến. Chúng con xin tập ngồi nghe mà không phán xét, không phản ứng. Chúng con nguyện tập ngồi nghe để hiểu. Chúng con xin nguyện ngồi nghe chăm chú để có thể hiểu được những điều đang nghe và cả những điều không nói. Chúng con biết chỉ cần lắng nghe thôi, chúng con cũng đã làm vơi bớt rất nhiều khổ đau của kẻ khác rồi. (C)

Lạy đức Bồ Tát Phổ Hiền, chúng con xin học theo hạnh nguyện của Bồ Tát, biết đem con mắt và trái tim đi vào cuộc sống. Chúng con xin nguyện buổi sáng dâng niềm vui cho người, buổi chiều giúp người bớt khổ. Chúng con biết hạnh phúc của người chính là hạnh phúc của mình, và nguyện thực hiện niềm vui trên con đường phụng sự. Chúng con biết mỗi lời nói, mỗi cái nhìn, mỗi cử chỉ và mỗi nụ cười đều có thể đem lại hạnh phúc cho người. Chúng con biết rằng nếu chúng con siêng năng tu tập thì tự thân chúng con có thể là một nguồn an lạc bất tuyệt cho những người thân yêu của chúng con và cho cả muôn loài. (C)

Lạy đức Bồ Tát Địa Tạng, chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, tìm cách có mặt ở bất cứ nơi nào mà bóng tối, khổ đau, tuyệt vọng và áp bức còn đang trấn ngự, để có thể mang đến những nơi ấy ánh sáng, niềm tin, hy vọng và giải thoát. Chúng con nguyện không bao giờ quên lãng và bỏ rơi những người còn đang bị kẹt trong những tình huống tuyệt vọng, nguyện cố gắng thiết lập liên lạc với những ai đang không còn lối thoát, những ai bị bưng bít không có phương tiện lên tiếng kêu gọi công bình, nhân phẩm và quyền được làm người. Chúng con biết địa ngục có mặt khắp nơi trên thế giới và chúng con nguyện sẽ không bao giờ tiếp sức xây dựng thêm những địa ngục trần gian như thế; trái lại, chúng con xin nguyện nỗ lực giải trừ những địa ngục còn đang có mặt. Chúng con nguyện tu học để đạt được đức vững chãi và kiên trì của Đất, để có thể trở thành trung kiên và không kỳ thị như Đất, và cũng được như Đất có thể làm nơi nương tựa cho tất cả những ai cần đến chúng con.

Lạy đức Bồ tát Thường Bất Khinh, chúng con xin học theo hạnh của Bồ Tát, luôn nhìn sâu với con mắt không kỳ thị để thấy được những đức tánh tốt đẹp nơi người khác. Mỗi khi gặp ai Ngài cũng luôn xá chào cung kính và khen ngợi rằng: “Tôi rất kính quý Ngài, Ngài là một vị Bụt tương lai.” Chúng con xin nguyện nhìn sâu vào tự thân để nhận diện những điều tích cực nơi chúng con, để tự chấp nhận và thương yêu được chính mình. Chúng con nguyện chỉ tưới tẩm những hạt giống tốt nơi chúng con và nơi những người xung quanh, để những tư tưởng, lời nói và hành động của chúng con sẽ có khả năng gây thêm niềm tự tin và chấp nhận nơi chính chúng con, nơi con cháu chúng con và nơi tất cả mọi người. Chúng con xin tập nhìn sâu với con mắt không kỳ thị để thấy niềm vui và sự thành công của người là niềm vui và sự thành công của chính mình. Chúng con nguyện tập hành xử và nói năng với đức khiêm cung và niềm cung kính, nguyện học hạnh ái ngữ để giúp những ai có tự ti mặc cảm thấy được rằng họ cũng là những màu nhiệm của vũ trụ. Chúng con biết chỉ có khi nào chúng con vượt thoát được biên giới ngã chấp thì chúng con mới phá bỏ được mặc cảm hơn người, thua người và bằng người và đạt đến tự do và hạnh phúc chân thật. (CC)

Hội những cây tùng – bảo bọc nếp sống tâm linh

Denise Nguyễn

Câu chuyện quanh bữa cơm tối gia đình tôi bắt đầu như thường lệ bằng việc kể cho nhau nghe những việc đã xảy ra trong ngày.

Bỗng nhiên mẹ tôi nói: “Mẹ đang suy nghĩ về cái di chúc của ba mẹ”.

Đang nhai miếng bánh phở tôi liền ngưng lại. Có những vấn đề quan trọng cần bàn thảo nhưng thật ngại ngùng khi nghĩ tới: nào là vấn đề di chúc, nào là ý nghĩ một ngày nào đó ba mẹ tôi sẽ ra đi để tiếp tục dưới một hình thức khác. Để lấy lại bình tĩnh, tôi thở một hơi thật sâu và nhớ lại lời Sư Ông dạy về Không sinh, không diệt.

Mẹ tôi nói tiếp: “Ba mẹ đang suy nghĩ về việc để “Thích Nhất Hạnh Foundation vào trong di chúc”. Tôi có cảm giác là mẹ tôi hơi có chút ngại ngần.

Tập tục bình thường của người Việt là để lại tất cả tiền bạc, của cải cho con sau khi qua đời. Để di chúc đóng góp vào các quỹ thiện nguyện là chuyện rất bình thường trong xã hội Tây phương nhưng chưa được thông dung trong thế hệ của ba mẹ tôi.

Cũng như bao nhiêu bậc cha mẹ khác, ba mẹ tôi lo lắng cho tôi. Mặc dầu tôi đã trưởng thành, ba mẹ tôi vẫn lo cho đời sống vật chất của tôi sau khi qua đời. Di chúc của ba mẹ sẽ đảm bảo đảm tài chánh cho tôi sau này; thương con nên ba mẹ muốn bằng cách đó vẫn tiếp tục chăm sóc cho tôi khi hai vị không còn nữa.

“Như vậy là quá hay đó mẹ”, tôi trả lời không chút ngập ngừng. Để  giúp mẹ bớt ngại ngần, tôi chia sẻ một chút về sự tương tức trong dự định tuyệt vời đó của ba mẹ: “Mẹ à, ba mẹ để Thich Nhat Hanh Foundation vào di chúc thì chẳng khác gì ba mẹ lo cho con. Ba mẹ lo cho tinh thần và đời sống tâm linh của con thì cũng quan trọng như lo cho con được vững vàng tài chánh về sau. Sự giúp đỡ của ba mẹ sẽ giúp cho các tu viện như Lộc Uyển hay Bích Nham còn đó để cho con có chỗ nương tựa những khi căng thẳng hay cần nơi tu tập”.

Tôi nói thêm: “Số tiền đóng góp sẽ lo cho sức khoẻ của các thầy, các sư cô. Đó là những giáo thọ, là các sư anh, sư chị của con – cũng là gia đình con”.

Như Sư Ông đã có viết trong cuốn An lạc từng bước chân: “Dù có bao nhiêu tiền trong ngân hàng đi nữa, mình vẫn có thể chết dễ dàng vì những đau khổ của mình. Cho nên nếu có được một người bạn tốt, xây dựng được một tăng thân tốt gồm những người bạn chân thật, biết nâng đỡ và bảo bọc ta trong lúc khó khăn, đó là một nguồn đầu tư lớn. Những người bạn này giúp ta tiếp xúc với những yếu tố tươi mát và lành mạnh trong con người ta và xung quanh ta, làm chỗ nương tựa cho ta khi gặp khó khăn”.

Khi mà tin tức trong ngày quá tồi tệ và niềm hy vọng trở nên mong manh thì tôi có thể tìm an ủi nơi một cộng đồng quốc tế của tăng thân tu tập.

Ba mẹ tôi hiểu rất rõ giá trị của tăng thân và sự quan trọng của việc giúp quảng bá pháp môn tu tập mà Sư Ông đang giảng dạy trên khắp thế giới. Ba mẹ tôi biết rằng đây là một sự đầu tư cho tất cả chúng ta và cho cả địa cầu. Tôi rất cảm ơn ba mẹ đã đem quan niệm đó vào hành động bằng cách gia nhập “Hội những cây tùng”, là một chương trình Món quà từ di sản thuộc Thich Nhat Hanh Foundation (tạm dịch từ Thich Nhat Hanh Foundation’s legacy gift program).

“Hôi những cây tùng” được thành lập để tiếp nối tinh thần của những cây tùng – là tên Sư Ông đã đặt cho nhóm thiền sinh đệ tử đầu tiên của Sư Ông gồm 13 vị. Đó là những hỗ trợ Sư Ông khi Người còn là một giáo thọ trẻ, mới bắt đầu giảng dạy tại Việt Nam.

Nhìn Sư Ông, chúng ta có thể thấy truyền thống của Sư Ông đang cắm rễ trong xã hội Tây phương dưới một biểu hiện mới, đồng thời trong Sư Ông vẫn còn đó những cây Tùng. Ngày hôm nay, chúng ta có đây bởi năm xưa, những cây tùng còn đó.

Tôi rất sung sướng vì ba mẹ tôi sẽ được tiếp nối không những qua bản thân tôi mà toàn thể tăng thân. Tôi thấy rõ là tôi đang được bảo hộ bởi “Những cây tùng” của năm xưa cũng như của ngày mai.

Denise Nguyễn, Chân Nguyệt Đăng – Giám đốc Thich Nhat Hanh Foundation and practices, Los Angeles, California.

Để biết thêm về Hội những cây tùng, xin vào trang mạng:
thichnhathanhfoundation.org/bequest
hay email info@thichnhathanhfoundation.org

Nơi hẹn về là chốn an vui

Thêm một năm với bao nhiêu là biến chuyển. Thầy từ Mỹ về lại Làng, và từ Làng qua Thái. Cứ ngỡ như những ngày ở Mỹ đã xa xôi lắm chứ không phải chỉ mới xảy ra năm ngoái. Tôi khép lại một năm ghi chép để có bài cho Lá Thư Làng Mai mà bâng khuâng. Phút giây nào đi qua, khi đọc lại, bỗng ý thức phút giây đó có bao giờ còn được xảy ra? Nên Thầy dạy phải sống hết lòng để mỗi phút giây trở thành huyền thoại, mà mình quên hoài, bạn hiền thấy không!

 

Tháng một

Thầy về Làng như một tin vui. Tôi đi từng bước quanh Phương Khê mà bồi hồi. Nhìn những chậu lan đất lại nhớ đến những chậu lan ở nhà của Marc mà mỗi ngày, trong sáu tháng, tôi đi qua đi về nhìn bỗng thành thân quen. Phương Khê gọn gàng, xanh mát. Các sư em hẳn đã bỏ nhiều công sức để chăm sóc Phương Khê đón Thầy về. Tôi xin xóm Hạ và xóm Mới cho mười sáu sư em chia làm tám đội để nấu ăn hầu Thầy. Phải dịch các tài liệu của chuyên gia dinh dưỡng về chế độ ăn của Thầy, rồi làm một buổi “hướng dẫn tổng quát” để các sư em làm quen với cách nấu mới, thực phẩm mới. Thật đúng là rất mới, vì trước giờ mình quen nấu với thực phẩm giàu tinh bột, còn thức ăn Thầy bây giờ cữ kiêng đủ thứ. Nhưng tôi tin với óc sáng tạo của tuổi trẻ, các sư em sẽ có khả năng nấu những món ăn phong phú, ngon và lạ mỗi ngày cho Thầy. Tôi theo sát từng đội trong giai đoạn đầu để các sư em khỏi bỡ ngỡ. Còn mình thì lo những buổi ăn khuya khi Thầy ăn ngủ còn bị trái giờ. Thấy sức khỏe Thầy có tăng tiến hơn trước. Chế độ ăn uống theo bác sĩ Hyman rất phù hợp nên Thầy bớt đau nhiều lắm.

Ngày cuối tháng, ở xóm Thượng có tổ chức gói bánh chưng và chợ hoa như mọi năm. Trời mưa nhưng Thầy cũng lên xe đi. Thầy vào cốc Ngồi Yên, uống trà (như những ngày xưa), thiên hạ kéo đến đông nghẹt. Tôi vào chơi với ban biên tập Lá Thư Làng Mai một chút, tội nghiệp, năm nào cũng chạy nước rút cho Lá Thư được trình làng kịp Tết; ghé qua cười với các cô hàng hoa (dân xóm Mới mà) rồi về sớm để mở cửa Phương Khê cho các sư em lo cơm trưa cho Thầy. Nghe kể Thầy đi thăm chợ hoa rồi ghé vào nhà ăn xem thiền sinh gói bánh chưng, mọi người tha hồ chụp hình Thầy nhé.

Coi như một bước tiến nữa trong việc chữa trị của Thầy.

Tháng hai

Thầy lên ở xóm Thượng và tiếp tục ở đó, thậm chí ngày cuối năm cũng không về để xông đất Sơn Cốc. Chúng tôi, ban thị giả nấu ăn, cười với nhau: “Chắc Thầy nhớ hồi đó An cư kiết đông là ở xóm Thượng nên bây giờ Thầy lên xóm Thượng ở rồi”.

Đêm cuối năm, đón Giao thừa xong, tôi gặp bác sĩ Quốc đang ở gite sư cô Định Nghiêm chờ chữa bệnh cho thầy Pháp Đôn. Ông hỏi thăm nên tôi khai bịnh, và thế là đầu năm đầu tháng đã được chữa bịnh. Kỳ này chữa đau hơn lần trước vì bác sĩ chỉnh lại một cái xương sườn của tôi không được thẳng. Nhưng ông chữa bịnh thật tài. Tôi nghĩ bụng: “Đầu năm được chữa bịnh tức là suốt năm được chữa bịnh – không biết hên hay không hên nữa”. Nói vậy thôi chứ hên là cái chắc, nhất là được một bác sĩ giỏi giúp cho mình đỡ đau. Tôi về Phương Khê pha trà, xếp mứt cúng bàn thờ ông bà đầu năm. Hương trầm thơm ngát. Nhà vắng lặng. Tôi khai bút. Lòng bâng khuâng. Một năm nữa qua rồi…

Ngày mồng 1 – Sáng Thầy ra dự lễ đầu năm, Thầy ngồi đó và lòng ai cũng rộn ràng niềm vui. Có hình bóng Thầy có khác. Lễ xong, Thầy về lại cốc, còn chúng xuất sĩ lạy nhau và bói Kiều như mọi năm. Bác sĩ Quốc được mời lên bốc một quẻ Kiều và ai cũng giải là “bác sĩ nên đi tu” làm bác sĩ ngồi cười quá chừng. A, cười đầu năm là nguyên năm hoan hỷ rồi. Tôi cũng lên lạy Bụt, bốc một quẻ và tự giải là “đại cát”. Trên đường vô thăm tăng xá, tôi và sư em Sinh Nghiêm ghé chúc Tết Thầy. Ghé cầu may vì đâu phải cứ ghé là gặp, là được cho vô. Nhưng đúng là đại cát, hai chị em đi xuống mà không gặp thị giả, lại gặp Thầy đang ngồi nhìn ra rừng cây. Thế là được chúc Tết Thầy đầu năm, kể chuyện bói Kiều cho bác sĩ Quốc, chuyện xông đất Phương Khê. Thầy ngồi nghe, gật đầu, cười nhẹ. Trông Thầy bình an đến lạ.

Sau đó, tôi đi thăm phòng quý thầy hào hứng, ăn rất tận tình. Ăn Tết mà. Lâu lâu mới có dịp gặp đủ mọi người. Lúc tính xuống Sơn Hạ thì nghe nói Thầy muốn về lại Sơn Cốc nên tôi vội vàng ra xe đi về trước để… mở cửa. Thầy về, tôi đã kịp đốt trầm, hương thoang thoảng khắp nhà. Thầy ngồi trong phòng ngắm bàn thờ, yên lặng, sau đó ra dùng bữa. Dùng xong, Thầy ngồi trên ghế đu. Có Thầy, thấy nhà ấm áp hẳn ra. Ngày đầu năm, được gặp Thầy như vậy là hạnh phúc quá. Buổi chiều, Thầy ra dấu đi lấy cơm ăn với Thầy nữa. Bạn hiền có thấy quẻ “đại cát” ứng nghiệm không?

Bịnh của Thầy vẫn lúc này lúc khác. Khi rất đau khi lại bớt hẳn, rồi lại đau. Có khi Thầy bỏ cơm cả ngày. Có khi Thầy khỏe, đi thăm tăng xá, xuống Sơn Hạ. Thầy đã dọn lên lại xóm Thượng. Sư cô Chân Không thì đi Mỹ ba tuần. Tôi về lại xóm Mới tham gia sinh hoạt với đại chúng, qua về “chấp tác” ở Sơn Cốc. Dọn phòng để tài liệu, sách lưu trữ. Các sư em xóm Mới qua phụ thay giấy dán tường. Đúng là đông người nên việc gì cũng xong, phục quá đi mất.

Tháng ba

Đầu tháng có khóa tu xuất sĩ hàng năm. Mọi người dọn lên xóm Thượng. Thầy thỉnh thoảng đi vào dự buổi vấn đáp hay nghe các sư con chia sẻ giờ pháp thoại, chỉ ngồi khoảng 20 phút rồi đi ra mà đủ đem hạnh phúc cho mọi người rồi. Có một hôm họp Hội đồng quản trị của UBC (Unified Buddhist Church of United State) bằng skype ở văn phòng xóm Thượng, tôi thưa cho Thầy biết (vì Thầy vẫn là Chủ tịch của hội đồng này mà). Tới giờ không ngờ là Thầy cũng ra dự, dù chỉ đứng ở cửa cho có mặt rồi chào và làm dấu cho thị giả đẩy xe đi. Nghĩa là Thầy trở về với hoạt động ngày cũ rất trách nhiệm đó bạn hiền, đáng nể không?

Giữa tháng, Thầy đi ngang căn nhà đổ nát đằng sau Phương Khê, ra dấu dọn dẹp để làm thiền đường. Thế là ngày nào rảnh, tôi cũng ra cắt bớt mấy bụi gai um tùm. Rồi xin ba xóm lên chấp tác chung được một ngày, dọn sạch cái kho bên hông để làm phòng chứa sách, rồi khiêng cây, dọn dẹp. Căn nhà có từ thế kỷ thứ 19, toàn bằng đá, bây giờ đã đổ nát. Cây dại mọc thành cổ thụ. Có cây vòng theo bức tường đá như hình ảnh của đền Angkor. Không biết dọn tới bao giờ mới xong, nhưng cứ làm thì mới có ngày xong chứ, tôi tự nhủ như vậy. Đại chúng hẹn nhau tới sau Đại giới đàn mới có giờ làm tiếp.

Ngày khai mạc Đại giới đàn Ân Nghĩa, Thầy cũng có mặt. Bạn hiền tưởng tượng coi mọi người mừng đến chừng nào, nhất là các giới tử. Thầy ngồi đó, trang nghiêm, bình an. Thị giả đứng sau cầm hương giúp Thầy trong lúc dâng hương cùng quý Hòa thượng. Ngày truyền giới Tỳ kheo, Thầy đắp y ra ngồi chứng minh. Lâu lắm rồi mới thấy lại hình ảnh Thầy đắp y, tôi xúc động muốn khóc. Thầy đã cố gắng vượt qua những đau đớn, những bất tiện, những mệt nhọc để có mặt đó cho đại chúng. Làm sao học trò Thầy không kính yêu vị ân sư của mình cho được? Ngày khai mạc lễ truyền đăng ở xóm Mới, Thầy cũng xuống, tới trưa Thầy ngồi ăn cơm chung với quý Hòa thượng và Sư bà làm ai cũng hạnh phúc.

Gần cuối tháng có ngày trăng tròn thật sáng. Tôi ngắm trăng, nghĩ tới năm xưa còn là sa di ni, nhận được mấy dòng chữ Thầy fax cho đại chúng xóm Hạ: “I just ordered a beautiful moon for you, enjoy!” (Thầy vừa đặt một ông trăng rất sáng cho các con đó, thưởng thức đi con!). Lúc nào Thầy cũng nhắc học trò đừng bỏ quên giây phút hiện tại và những tuyệt vời của cuộc sống. Sau đó, tôi nghe nói Thầy ở xóm Thượng cũng ngắm trăng với thị giả ở Cốc Ngồi Yên rất vui.

Tháng tư

Tháng này là tháng làm thuế nên tôi hơi bị vất vả, vì thời gian ở Mỹ phải nhờ người ký chi phiếu giúp, giấy tờ tôi lại bị lạc lung tung vì di chuyển nhiều. Nhưng rồi cũng xong, và tôi lại tung tăng ra vườn dọn dẹp tiếp khu nhà đổ nát, làm việc chung với hai sư chú Trời Đại Nghĩa và Trời Đạo Sinh để mướn thợ khởi sự, vì dự tính sẽ làm một phòng cho Thầy ở kế thiền đường. Mỗi lần đi thiền hành là Thầy lại ghé ngang xem “công trình” đến đâu. Có khi Thầy ra dấu cho thị giả đẩy xe vào căn phòng vẫn còn bề bộn gạch đá và ngồi ở đó rất lâu, lắng nghe tiếng chim, tiếng gió, cả tiếng xe chạy ngoài đường.

Đại giới đàn đã xong, ba xóm lại họp nhau lên dọn tiếp cái nhà cũ. Đông người nên tới chiều là phần lớn những gì làm được bằng tay đều đã xong. Hôm sau, thợ tới dọn những phần nặng với máy xúc. Căn nhà gọn hẳn ra. Đúng là sức mạnh của đại chúng. Xóm Mới ở gần nên chia người lên làm thêm mấy buổi. Các sư em này hên quá, không ngờ được chụp hình với Thầy khi Thầy ra thăm “công trình” nên quá hạnh phúc.

Giữa tháng có tang của Hòa thượng Thích Giải Thích, anh của Thầy. Ôn tịch tại Sài Gòn. Ban thị giả thiết lập bàn thờ ở Sơn Cốc đơn giản mà trang nghiêm. Sư em Hạnh Nghĩa và một số sư em ở xóm Mới nấu mâm cúng. Thầy đích thân chỉ bảo phải chọn hình nào, in chữ lớn ra sao,… và mặc áo tràng đứng dự suốt buổi lễ. Sau đó, Thầy ngồi xuống ghế, nhìn bàn thờ lâu lắm, khi đại chúng lạy ba lạy xong Thầy mới về lại Nội viện. Và Thầy im lặng suốt buổi chiều…

Cuối tháng, đại chúng ba xóm lại lên chấp tác rất hoành tráng, thị giả đưa Thầy đi ra đi vô mấy lần xem “công trình”, buổi tối đi ngang qua đống lửa nơi anh em đốt đống cây khô vừa dọn, dừng lại chơi khá lâu. Mọi người ăn măng nướng (măng bẻ ở Phương Khê đó), khoai lùi, rất vui. Vui hơn nữa vì có Thầy tham gia, dù Thầy không ăn được món nào hết.

Tháng năm

Có một cái nhà chỉ cách xóm Mới có một căn muốn bán. Nhà nhỏ, đất cũng nhỏ, nhưng được cái rất gần xóm Mới nên ai cũng muốn mua cho xóm Mới có thêm không gian. Căn nhà được đặt tên là Vườn Hồng, vì có một số cây hồng đang nở hoa. Tôi và Sư Cô đi mua thêm ít cây nữa về trồng cho kịp mùa hè nhà sẽ được sử dụng. Trước nhà có một cái hồ bơi dành cho trẻ em, sâu khoảng nửa thước, không đủ chiều dài để bơi vì chỉ vài sải tay là hết, nhưng có nước nhìn là thấy mát. Hai sư chú Trời Đại Nghĩa và Trời Đại Đồng đã phải bỏ ra nhiều giờ để làm việc với thợ: chùi hồ, lọc nước, bơm nước, v.v. Được voi đòi tiên, có người mơ ước chủ căn nhà sát bên bán luôn để xóm Mới được mở rộng. Ai biết đâu được. Chúng tôi cười với nhau: “Mình thích quá thế nào cũng làm động lòng thổ địa”.

Đại chúng chuẩn bị cho khóa tu 21 ngày sắp tới. Lần này không có Thầy, không biết khóa tu sẽ như thế nào đây? Ban Giáo thọ họp và phân công người phụ trách phần giảng dạy theo chủ đề. Tôi chỉ xin nhận phần vấn đáp vì thời giờ không ổn định, không soạn bài nổi.

Tháng sáu

Tháng này bận rộn với khóa tu 21 ngày và có phần chia sẻ về 50 năm thành lập Dòng tu Tiếp Hiện. Quý cô bác lão thành của Tiếp Hiện Việt Nam (những thành viên của trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội ngày xưa) cũng qua dự khá đông, tóc ai cũng bạc trắng. Tiếp Hiện trên khắp thế giới về tụ họp cũng nhiều. Có cô giáo thọ Cheri Maples làm trong ngành cảnh sát chia sẻ hào hứng nhất vì cô đem chánh niệm dạy cho cảnh sát, cai tù, luật sư, thậm chí cả lực lượng không quân (Air force) cũng mời cô tới dạy. Điều đặc biệt là cô lập được nhiều tăng thân gồm người trẻ và cho họ lập một tòa án nhân dân để giải quyết vấn đề người trẻ phạm luật. Thời gian tù treo của những người phạm luật này cũng sẽ dưới quyền quản lý của những người trẻ. Họ hiểu nhau. Nên sự chuyển hoá xảy ra rất tự nhiên và những người phạm tội không bị ghi vết đen vào hồ sơ. Một hôm, trong khi cô đang cho vấn đáp ở xóm Mới thì Thầy vào thiền đường. Ôi, ai cũng ngạc nhiên và hạnh phúc. Cheri cúi đầu xá Thầy và được Thầy vuốt đầu, sau đó Thầy ngồi nghe một chút rồi bảo thị giả đưa hộp bánh cầm theo cho cô. Bạn hiền thấy Thầy mình “sweet” (ngọt ngào) chưa?

Giữa tháng, tôi xuống Sơn Hạ đem những bức thư pháp của Thầy đã từng triển lãm ở Hồng Kông, Đài Loan về cất ở Sơn Cốc, mới thấy nhu yếu làm thêm chỗ để cất giữ đồ quả thật là quá lớn. May là cái kho đã được khởi sự sửa chữa lại.

Tháng bảy

Tưởng là nhanh mà không nhanh, giấy phép nộp vào xin sửa lại căn nhà bị đổ nát cứ bị trục trặc. Chưa có giấy phép thì không dám làm gì cả, dù sư chú Trời Đại Nghĩa đã liên lạc được thợ tới xem và sắp xếp công việc. Nên “công trình” bị đình lại, máy móc hết đào xới ầm ì. Một ngày kia, Thầy đi dạo quanh vườn, ra dấu hỏi. Tôi giải thích là phải chờ giấy phép và Thầy không chịu, sau đó Thầy ra dấu hủy bỏ công trình xây cất đó. Ôi chao, sư chú Đại Nghĩa vừa bảo tôi là mình vẫn có thể làm khâu chuẩn bị được trong khi chờ giấy phép, và sư chú đã hẹn người tuần sau tới làm. Thôi đành vậy. Thầy bảo hủy công trình nhưng chúng tôi vẫn phải làm tiếp thôi. Nhưng chắc sẽ làm “lén”.

Trong khóa tu mùa hè năm nay, Thầy không ra được với đại chúng mỗi ngày, nhưng ít nhất là mỗi tuần, và mỗi xóm đều có cơ hội được đi thiền hành chung với Thầy. Nghe nói có khi các em nhỏ cũng vây quanh Thầy, có em đến xá rồi tặng quà lên Thầy, dễ thương lắm.

Giữa tháng

Một buổi chiều tôi vừa ăn cơm xong, Thầy đi ngang và làm dấu bảo tôi đi với Thầy, rồi Thầy cầm chặt tay tôi. “Cầm chặt” nghe! Vì cửa ra vào không đủ chỗ cho xe Thầy và tôi qua cùng lần, nhưng Thầy vẫn không buông tay tôi, thế là tôi đi trước rồi xe Thầy đi sau. Sau đó, Thầy làm dấu đi ra vườn. Đi bên Thầy mà nghĩ tới thời gian mới xuất gia được nắm tay Thầy đi thiền hành cùng đại chúng ở bãi biển. Đến căn nhà đổ nát đang sửa sang, Thầy làm dấu muốn vào xem. Tôi “ngộ” ra là Thầy muốn tôi cùng ra coi nhà đó với Thầy, vì sau cái hôm Thầy bảo hủy công trình, tôi… trốn luôn, không biết thợ đã làm được gì. Hôm nay, Thầy nhìn quanh, thấy có tiến triển và có vẻ hài lòng. Vậy là khỏi phải làm “lén” nữa rồi.

Cuối tháng, Thầy qua xóm Mới dùng trưa ngoài xích đu ở Sân Chim với mọi người, ai cũng hạnh phúc. Những thiền sinh dự khóa hè xong chưa về được gặp Thầy, vui quá.

Tháng tám

Tháng tám là tháng đại chúng Làng Mai kéo qua yểm trợ cho khóa tu ở Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB). Ở nhà, mỗi xóm chỉ còn ít người để dọn dẹp, chuẩn bị cho khóa tu mùa thu. Tôi vẫn loanh quanh với công việc thường ngày, chuyện xây cất lại căn nhà đổ và chăm sóc Thầy. Giữa tháng phải bay qua Đức để họp Ban quản trị của UBC vì đa phần người trong Ban quản trị đang ở Đức. Đi có ba ngày, họp hết ngày rưỡi nhưng rất là lợi lạc và kết quả. Bận về, tôi rảnh rỗi nên xin đi xe buýt thay vì bay về. Đi xe về mà khỏe hơn bay vì khỏi phải chờ tới bảy tiếng ở phi trường. Nhà mình chuyên môn đi máy bay rẻ mà, nên giờ bay có tiếng rưỡi nhưng đi mất một ngày.

Về lại Làng, nghe nói Thầy khỏe ra vì có bác sĩ Quốc “đau đâu chữa đó” từ Mỹ tới. Thầy muốn dùng bánh mì (vốn dĩ là món bị cấm ngặt trong danh sách thức ăn kiêng lâu nay), vì ngán thực đơn ăn kiêng quá rồi. Nhìn Thầy ăn mà cũng hạnh phúc lây. Bởi vậy mình lại càng trân quý cái sức khỏe  mình đang có được, muốn ăn gì thì ăn, không phải kiêng cữ nhiều quá.

Tháng chín

Đại chúng đi Đức về được nghỉ ngơi. Ban thị giả tự túc nấu ăn nên tôi có cơ hội vào bếp. Làm không mệt lắm nhưng mất hết giờ. Có một ngày trúng vào sinh nhật, tôi nấu ăn đãi nhóm thị giả thay vì mua cây trồng như những năm xưa. Buổi tối ngồi yên ít phút, tự chúc mình thêm tuổi thì thong dong thêm, đủ sức khỏe để tiếp tục phụng sự. Tháng này, Sư Cô bận rộn cho chương trình Giọt Nước Cánh Chim để cứu trợ nạn nhân của Formosa. Thầy ít tập đi, có lẽ thời tiết làm Thầy mệt. Có một hôm đi xóm Hạ, Thầy ở lại đêm. Nghe nói buổi tối các sư em xóm Hạ vào hát với Thầy để Thầy tập hát (tập hát là bước đầu của việc phục hồi ngôn ngữ). Xong các sư em khen là Thầy hát hay, Thầy xua tay, và tự dưng miệng bật ra tiếng: “Thôi được rồi!”. Ai cũng mừng. Nhưng đó chỉ là bộc phát của não phải, chứ không phải Thầy đã nói được như mình mong muốn. Sáng hôm sau, tôi đưa cơm, ghé vào thăm. Thầy làm dấu muốn về lại Sơn Cốc, và lại tiếp tục im lặng như xưa nay.

Cuối tháng, Thầy làm nên kỳ tích: tự tập chân trên giường nguyên đêm tới gần hơn 10 tiếng đồng hồ.

Tháng mười

Sư Cô đã đi Mỹ để dự hội nghị Dreamforce ở San Francisco với một số các thầy và các sư cô. Tôi loay hoay mấy ngày để giúp tổ chức nhưng xin không đi vì sẽ về thăm nhà. Mẹ tôi lớn tuổi, ra vô nhà thương hơi thường xuyên, gần đây lại phải đi đặt cái pacemaker (máy tạo nhịp tim) do bị “chết giả” hết một lần, may lúc đó đang ở trong nhà thương nên bác sĩ khám phá ra được nguyên nhân xỉu lên xỉu xuống của mẹ từ mấy năm nay. Mẹ tôi dọa nếu tôi không về thì sẽ có lúc về không kịp, nên tôi cũng lo. Năm ngoái ở San Francisco, tôi cũng hay tranh thủ lâu lâu chạy về nhà một đêm. Nhưng bịnh già mà, được ngày nào mừng ngày đó chứ đâu tính trước được chuyện gì.

Ngày tiếp nối của Thầy, đại chúng các xóm kéo lên Sơn Cốc hát, tặng quà, đảnh lễ, đi thiền hành. Rồi Thầy dùng cơm chung với hai Hòa thượng Minh Cảnh và Minh Nghĩa trong khi đại chúng ăn picnic ngoài sân. Thầy vui lắm, thời được rất nhiều. Tôi dự xong ngày tiếp nối của Thầy là ra phi trường về lo cho gia đình huyết thống.

Tháng mười một

Tôi trở lại Làng vào giữa tháng. Thời gian ở nhà qua nhanh đến không ngờ. Lần này về, tôi giúp được mẹ tôi chữa ít bệnh do kinh nghiệm chăm sóc Thầy. Lại có Nguyên Hương, cô bạn thân lên thăm nên nhà cũng vui. Ngày tôi đi, mẹ bớt quyến luyến nên tôi cũng nhẹ lòng. Thật ra, ba mẹ tôi yểm trợ cho tôi hết sức, nhất là khi Thầy đang đau, ba tôi còn thưa với Thầy là tôi phải ở lại chăm sóc Thầy khi ba gặp Thầy ở San Francisco năm ngoái. Chỉ vì sức khoẻ mẹ tôi cũng mong manh, 80 tuổi rồi còn gì, nên mẹ muốn tôi về thường xuyên hơn. Trên đường bay về Làng, thấy mắt đau đau, tôi nghĩ là do ham đọc sách. Ai ngờ về tới Pháp thấy mắt bị nhiều triệu chứng lạ bèn lên mạng hỏi Mr. Google. Thì ra là tình trạng lão hóa mắt xảy ra, nào là thấy “ruồi bay” (nên bây giờ hết tin tưởng vào mắt mình khi bắt muỗi được rồi vì có khi là nắm bắt ảo giác), nào là thấy “lóe sáng”. Ngẫm nghĩ mắt mình tới giờ mới đau thì cũng là vừa, vì xài máy tính nhiều quá mà, mắt lại vốn cũng yếu vì phải đeo kính từ mấy chục năm nay.

Trước ngày đi, tôi mua được ít chậu cúc đại đóa đầu mùa để ở Nội viện. Đi một tháng về, thấy cúc đại đóa đầy sân, đầy vườn. Ai cũng biết Thầy thích hoa cúc, nên các xóm đem lên cúng dường quá chừng. Cả cái sân trước như một vườn hoa cúc. Nhưng năm nay, không rõ vì sao cúc ít thắm và lại nở không đẹp, cứ còn búp rồi héo đi hoặc nở bung rồi héo liền, có lẽ vì bị cho thuốc kích thích không đều. Luống hoa cúc đại đóa ở nhà mẹ tôi rất tươi, cắt vào cúng Bụt cả mấy tuần chưa tàn.

Ngày 15/11 – Sáng nay có lễ Đối thú an cư ở xóm Thượng. Thầy lên tham dự và ngồi cho các vị trú trì đối thú. Sau đó, các vị cao niên của các xóm lên thay mặt Thầy để đáp từ. Tôi quỳ xuống đối thú với sư cô đại diện hội đồng trú trì xóm Mới, nghĩ bụng năm nay mình được dự an cư với đại chúng đây. Thầy vẫn bảo “may mắn lắm mình mới được dự ba tháng an cư” và điều đó tôi cảm nhận rất rõ khi hai năm nay tôi đều phải tâm niệm an cư chứ không được an cư với chúng do phải đi theo Thầy. Buổi chiều, tôi cầm chổi quét sân. Mùa thu nên sân lúc nào cũng ngập lá vàng. Lại thêm mưa gió nên đôi khi cái sân nhìn rất dơ và quét rất vất vả. Tôi vừa quét lá vừa ngẫm nghĩ. Năm xưa tôi được học là lá rơi thì cứ rơi mà quét thì cứ quét, nên thong dong chẳng mong chờ cho không còn lá rơi. Năm nay tôi lại có thêm cái thấy là những gì rơi vào tàng thức cũng như lá rơi, ở lâu thì khắng lại thành bùn, mới rơi vào thì chỉ một nhát chổi nhẹ là lên đường ngay.

Ngày 21/11 –  Chiều nay có lễ truyền đăng phương trượng ở Sơn Cốc cho Hòa thượng Nguyên Minh. Căn phòng nhỏ, ít người được tham dự nhưng rất trang nghiêm và ấm cúng. Sư Ông trao đèn, trao kệ cho Hòa thượng. Cảm động lắm. “Chức sắc” đại diện cho các xóm đều có mặt. Gặp sư cô Diệu Nghiêm xuống dự, Thầy chỉ tay ra ý lâu quá không xuống thăm Thầy. Xong buổi lễ, Thầy còn ngồi yên nhìn theo mọi người ra về. Thấy Thầy vui, khỏe, tôi xin Thầy cho các em sắp xuất gia được ngồi chung với Thầy một buổi. Thầy gật đầu đồng ý. Được voi đòi tiên (mấy sư em thì bảo là được voi đòi hai bà Trưng), tôi nói “lễ xuất gia xin đẩy xe Thầy đi ngang từng em để Thầy sờ đầu”, Thầy làm dấu ngăn lại, chắc Thầy cần suy nghĩ.

Những ngày cuối tháng, Thầy không khỏe nên nhịn đói, chỉ uống nước. Rồi khỏe đủ để tập đi lên lầu, vào lại phòng ngủ cũ để ngủ một bữa cho vui. Rồi lại đau và muốn đi nhà thương. Vậy chứ khi nào khỏe, Thầy đi ra ngoài gặp mọi người, đố ai biết được Thầy mới vừa bịnh xong… và… sẽ bịnh tiếp.

Tháng mười hai

Ngày 3/12 – Hôm nay Thầy đòi đi Thái Lan quyết liệt. Đang đi thiền hành ngoài trời Thầy bỗng chỉ tay đòi vào nhà gấp, và sau đó làm dấu muốn đi. Thị giả hỏi từng địa điểm thì khi tới Thái Lan Thầy gật đầu, và ra dấu không cần hỏi thêm nữa.

Tôi nghĩ có lẽ trời lạnh quá nên làm cơ thể Thầy, vốn đã yếu, lại càng không khỏe. Thầy lại không thể không ra ngoài để đi thiền hành. Và Thầy biết rất rõ là Thầy cần phải tìm cách để giúp trị liệu cho Thầy khi tình trạng hiện tại có vẻ đứng yên tại chỗ, cứ loanh quanh đau lên đau xuống thì biết bao giờ mới đủ sức để tập vật lý trị liệu.

Thế là tôi “rên” trong nhật ký: có lẽ an cư năm nay lại không được ở yên nữa rồi! Sư cô Định Nghiêm thì rầu rĩ vì bao nhiêu là bác sĩ hẹn tới Pháp vào tháng 12 này để lo cho Thầy. Rồi còn lễ xuất gia sắp tới nữa… Sư cô Chân Không thì lo liên lạc để kiếm cách có máy bay đưa Thầy đi. Thầy trú trì Làng Mai Thái thì vội vã email: “xin cho bên Thái 15 ngày để chuẩn bị.

Sáu ngày sau, chúng tôi lên đường. Sau bao nhiêu ngày làm việc liên tục, mọi chuyện rồi cũng xong. Sáu thầy thị giả bay trước để chuẩn bị đón Thầy ở Thái Lan. Nhóm còn lại đi chung với Thầy. Chuyến bay dài hơn lần đi Mỹ, nhưng Thầy cũng khỏe hơn rất nhiều nên không có bác sĩ đi cùng. Vé máy bay mua một chiều. Ngày về chưa biết. Thầy đi thì trò đi thôi.

Làng Mai Thái Lan

Thất Nhìn Xa khá yên nên Thầy được nghỉ ngơi không bị quấy rầy, nhưng mọi người cũng khó được lên gần Thầy. Tôi nhớ mới ngày nào tôi đi thăm thất Thầy mà hơi rưng rưng, nghĩ rằng đây chỉ là một biểu tượng chứ không bao giờ thất được đón Người. Vậy mà chuyến đi huyền thoại đã thành. Thầy đang ở đây, với những người con áo nâu mà có người được Thầy sinh ra khi Thầy còn… nằm trên giường bịnh.

Làng Mai Thái đẹp quá, cây cối đã lên cao và xanh ngắt. Nghe tin Thầy về Thái Lan, tăng thân xuất sĩ từ Việt Nam, Hồng Kông, Úc kéo về. Cả những người đang xa chúng vì duyên sự cũng trở về. Ôi là đông vui như ngày hội. Đi đâu cũng gặp người thương.

Căn phòng tôi ở buổi sáng nghe tiếng chim ríu rít, buổi tối thì có một con tắc kè đêm nào cũng kêu. Không biết nó bao lớn nhưng tiếng kêu rất dõng dạc. Dù đang đọc sách hay đánh máy tôi cũng dừng lại để lắng nghe. Thường thường nó kêu liền vài tiếng rồi từ từ nhỏ lại và tắt tị như cái máy bị hết pin. Làng Mai Thái đúng là ở đồng quê, đêm nghe chó sủa, gà gáy (lạ là con gà này không gáy buổi sáng mà 10 giờ khuya mới gáy), bước ra thì có khi gặp rắn trên đường, lá tre xào xạc, rừng lau khỏi đầu. Lúc này vào mùa đu đủ, đi phòng nào cũng thấy vài ba trái. Năm xưa trồng đu đủ vì cây dễ mọc, lại rẻ nên tôi và Hạnh Liên cứ trồng nhiều vào. Bây giờ thì chẳng những đủ mà còn . Đu đủ nhà, không thuốc, vừa chín cây, ăn ngọt và ngon ghê lắm, khác xa chừng những trái đu đủ sượng mua ở Pháp. Hôm nào tôi cũng xin thị giả cho một dĩa đu đủ và thấy mình hạnh phúc quá chừng chừng luôn.

Mà nào chỉ có đu đủ, chuối cũng nhiều như vậy, dừa thì mua rất dễ vì cũng trúng mùa. Kỳ này về Thái, tôi thấy mình rất may mắn.  Khí hậu thì mát mẻ, gió thổi suốt ngày. Những buổi ngồi thiền ngoài trời trên mảnh sân rộng (mà các sư em ở Thái gọi là “Bãi biển”) nhìn quanh thấy núi bao bọc bỗng có cảm giác an toàn và êm đềm, thấy mình như nhỏ dại lại. Còn vào thiền đường nghe hô canh thì lại nhớ Bát Nhã vì đông người và tiếng đáp lại rất hùng tráng. Lúc chúng tôi mới tới, có khóa tu cho mấy trăm người trong ngành y khoa, người ngồi chật ra tới các hành lang. Chẳng trách nào các sư em ở Thái đang lo vận động tiền để xây một cái thiền đường lớn như thiền đường Cánh Đại Bàng ngày xưa, vì các khóa tu lớn không đủ chỗ để ngồi thiền chung hay nghe pháp thoại.

Thầy về Thái, không những khí hậu dễ chịu mà còn có bác sĩ vật lý trị liệu đến tập thường xuyên, vì họ là thiền sinh đang dự khóa tu. Chúng tôi mừng quá, vì như vậy thì sự tập luyện để phục hồi của Thầy không bị gián đoạn. Giữa tháng có lễ xuất gia Cây Mai Vàng. Thầy ra dự cả buổi lễ làm ai cũng mừng. Trời Pak Chong chiêu đãi khách phương xa nên cho những ngày thật đẹp. Và Thầy đi thăm núi. Những “trái núi” nhỏ như cái đồi, nhưng rất dốc. Tôi đã leo lên đồi An Ban, muốn mỏi chân vì những bục xi măng các thầy làm quá cao. Ngọn núi bên kia Thất Nhìn Xa, chỗ thiền đường Vách Núi, không có thang cấp mà lại dốc vô cùng, tôi phải níu cây hai bên đường mới đi mà không trượt té. Ấy vậy mà có một hôm, nghe tiếng hát vang vang từ trên cao, tôi hỏi thì hay tin Thầy đã lên tới đỉnh núi và đang chơi với các sư em từ Long Thành và Hồng Kông. Thị giả khiêng xe Thầy lên cũng phải vững chân lắm, còn Thầy thì vững tim trong khi người xung quanh ai cũng hồi hộp. Thầy đi chơi núi với các sư em, thoải mái và rất vui. Tôi xin lại cái video clip để xem mà lòng cũng hạnh phúc lây.

Tối 24/12 – Tôi đang làm việc thì các sư em vào nhắn sư cô Định Nghiêm vừa gọi điện thoại bảo Thầy mời lên cốc Thầy ngắm cây “Noel”, nghĩa là cái cây được ban chăm sóc gắn đèn chớp chớp trước cốc Thầy. Kéo nhau lên thấy mọi người đang đứng hát. Thầy chịu chơi, ngồi đó nghe mấy bài xong mới về phòng. Còn tôi đi về, nghĩ tới một buổi Noel rất  đơn giản chưa từng có trong lịch sử Làng. Sau mới biết, ở Thái Lan các sư em chỉ ăn mừng tết Tây chứ không ăn Noel như ở Pháp hay Mỹ, vì Làng Mai đi đâu cũng nhập gia tùy tục mà.

25/12 – Tôi và một số thị giả Thầy về Việt Nam để xin visa ba tháng ở Thái Lan. Hôm trước rời Pháp gấp nên chưa kịp đi xin visa ở lâu. Bước chân xuống Sài Gòn tôi bồi hồi, mới đó mà đã bảy năm tôi không hề trở lại. Chuyến đi này có hai ngày rưỡi, nhận visa xong là đi thẳng ra phi trường bay về lại Thái.

Cuối tháng, cuối năm, có khóa tu dành cho những người nồng cốt trong các tăng thân ở Đông Nam Á. Buổi sáng tôi cho vấn đáp, buổi chiều cho tham vấn. Xong việc đi ra gặp ‘Sangha fair’ (Hội chợ tăng thân) rất vui. Chỉ có mấy tăng thân: Nhật, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Indonesia, Hồng Kông, nhưng mỗi tăng thân đều bày bàn của mình rất màu sắc, có thức ăn vặt quê hương, có hình ảnh sinh hoạt tăng thân. Bàn của tăng thân Nhật lại có thêm chỗ dạy xếp giấy, gói quà bằng khăn. Bàn của tăng thân Trung Quốc có thêm cây đàn thập lục. Tiếng hát vang vang. Những khuôn mặt rạng rỡ. “Ăn khách” nhất là “gian hàng” cho mượn kimono. Ai cũng thích hóa trang, mượn áo kimono mặc thử, chụp hình. Có một thiền sinh người Nhật vốn theo Thần giáo nên mặc y phục rất nổi bật. Buổi sáng đi nhận giới Tiếp Hiện anh ấy đã mặc bộ y phục cổ truyền này nên buổi chiều nhiều người chạy tới mượn để mặc chụp hình. Tôi đi ngang bắt gặp hình ảnh một sư chú trong bộ đồ Nhật đang cầm cây tre hoa lên như kiếm sĩ Nhật Bản, trong khi một anh Nhật thì xúng xính khăn đóng áo dài. Chao ơi, nghĩ tới ‘Sangha fair’ ở Pháp nhiều tăng thân hơn nhưng không nhiều màu sắc và lắm trò như ở đây. Bên đó chủ yếu là giới thiệu sinh hoạt tăng thân cho thiền sinh biết để tham gia. Còn ở đây thì không có thiền sinh (khóa tu dành cho người nòng cốt mà) mà hơi giống gian hàng triển lãm. Nhưng không gian ngập tràn tình huynh đệ và nụ cười.

Và bạn hiền ơi, tôi cũng kết thúc bài viết này bằng một nụ cười. Hai năm đi theo Thầy từ nhà thương này tới nhà thương kia, từ nước này tới nước nọ. Tôi chứng kiến sự bình phục của Thầy từng ngày. Chậm, nhưng không phải là không có. Thầy vất vả với cơn bịnh, nhưng ý chí của Thầy vẫn mạnh mẽ. Thầy vẫn là người quyết định trong mọi chuyện để sự hồi phục có thể tiến triển nhanh hơn. Tôi có dịp học hỏi thêm về căn bịnh này qua những người đã từng có kinh nghiệm và biết rằng hai năm không phải là dài đủ để mọi sự được như mình mong muốn. Nên lòng càng an, niềm tin càng mạnh. Và xin gởi điều đó đến bạn hiền như lời chúc của năm mới nhé.

       Thương quý.

Chân Thoại Nghiêm