Hãy giữ chân Thầy Nhất Hạnh cho nước Đức và châu Âu

Hãy giữ chân thầy Nhất Hạnh 
cho nước Đức và châu Âu 
Chân Y Nghiêm

Các bạn thân mến,

Tôi lớn lên trong cảnh bất công và quê hương nhuộm đầy máu lửa. Trái tim tôi đã dược nuôi dưỡng bằng tình yêu quê hương qua những tấm gương của các vị anh hùng yêu nuớc. Tôi yêu lí‎ tưởng Từ Bi của Đức Phật qua tinh thần bất bạo động, tôi không thích tham gia vào các tổ chức và các cuộc đấu tranh. Tôi đã đi dự những khóa tu của thầy Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai tổ chức trong một số chùa lớn của ba miền đất nuớc, trong thời gian Thầy về Việt Nam.

Năm 2011, tôi theo Tăng thân đi bốn tiểu bang nuớc Mỹ nghe Thầy thuyết giảng. Tôi đã chia sẻ với các bạn sáu bài văn một cách chân tình.

Năm nay, tôi về Làng Mai dự lễ kỷ niệm Ba Mươi Năm Sinh Nhật của Làng. Tôi đã chia sẻ với các bạn bài văn Mười Năm Tình Cũ.

vphudca_1Bây giờ, tôi sẽ tiếp tục chia sẻ với các bạn khóa tu của Sư ông Làng Mai và Tăng thân ở Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu – Nước Đức. Trước khi chia sẻ về Viện Phật Học Ứng Dụng Âu Châu, tôi xin nhắc sơ qua về quá trinh hành đạo của thầy Nhất Hạnh.

Truớc năm 1960, Thầy đã đi dạy các trường đai học ở Pháp và Mỹ. Năm 1964, theo lời kêu gọi của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Thầy về Việt Nam mở Trường Cao Đẳng Phật Học – sau này là Viện Đại Học Vạn Hạnh – tạo nên một phong trào sinh viên và trí thức theo đạo Phật rất đông.

Sau đó, những biến cố chính trị dồn dập xảy ra, xô đẩy đất nuớc vào cảnh nồi da xáo thịt. Chính quyền Saigon kêu gọi nước Mỹ viện trợ tài chánh và quân sự. Họ đã mang quân viễn chinh đổ xô vào miền Nam cùng với phi cơ và bom đạn, gây nên thảm họa chiến tranh ‎‎ý‎ thức hệ, gây đau thương cho đồng bào khắp hai miền đất nước.

Trước cảnh đau thương khôn cùng, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất yêu cầu thầy Nhất Hạnh đi khắp thế giới kêu gọi hai phe ngưng chiến, thiết lập tình huynh đệ giữa hai miền Nam Bắc, thống nhất đất nước, mang lại hòa bình, tự do, độc lập cho dân tộc Việt Nam. Lời kêu gọi của Thầy được thế giới ủng hộ, nhưng chính quyền Saigon đã phản ứng mạnh, cấm Thầy trở lại quê hương. Thầy sống đời lưu vong từ năm 1966.

Năm 1975, trước cảnh đồng bào ra đi tìm tự do, lênh đênh trên biển cả, mạng sống mong manh, Thầy đã mang tàu ra cứu, tìm đủ mọi phương tiện để giúp đồng bào tị nạn. Việc làm dũng cảm của Thày và các đệ tử đã gây ra biết bao rắc rối cho Thầy trên đất khách quê người, nhưng Thầy vẫn không nản chí. Chính nỗi đau khổ của quê hương đã nuôi dưỡng tình yêu thương Thầy rộng lớn.

Năm 1982 Làng Hồng chính thức được thành lập trên nuớc Pháp. Lúc đầu chỉ có 3 người xuất giasư cô Chân Không, Chân Đức, Chân Vị. Có các sư cô Viên Quang, Như Phước, Thanh Luơng, Huệ Hảo,…về tu học và một số các thầy. Số người đến tu học ở Làng Hồng phần lớn là những Phật tử Việt Nam đã quen biết Thầy khi còn ở quê nhà.

Năm năm sau, số đệ tử xuất gia của Thầy tăng nhanh, số người đến tu học mỗi lúc một đông, phần lớn là người ngọai quốc. Đồi mận – loại mận mà người Việt Nam miền Bắc gọi là mai – trái ô mai – rộng lớn ở xóm Mới, Xóm Hạ nở bông trắng xóa vào Mùa Xuân nên Thầy đổi tên thành Làng Mai.

Hai muơi năm sau, Làng Mai đã trở thành Trung tâm tu thiền chánh niệm nổi tiếng ở vùng Bordeaux, miền Nam nuớc Pháp. Các thiền sinh khắp thế giới về tu học rất đông, nhất là về mùa hè. Mỗi tuần số thiền sinh tham dự tu học lên đến trên ngàn người.

phương tiện di chuyển tốn thời gian, nên các tăng thân cư sĩ trên nhiều nuớc thỉnh cầu Thầy và tăng thân đến mở khóa tu, do Phật tử tổ chức. Thế nên hàng năm tăng thân tháp tùng Thầy đi mở khóa tu khắp thế giới.

Tu viện Lộc Uyển ở miền bắc California đựơc thành lập. Thầy Giác Thanh đựoc cử làm Trú trì bên tăng và sư cô Trung chính làm trú trì bên ni. Sau đó đến Tu viện Rừng Phong, rồi Thiền viện Thanh Sơn và sau này là Tu viện Bích Nham (Blue Cliffs) ở NewYork được thành lập đã là nơi thực tập thiền chánh niệm cho giới trẻ và trí thức Mỹ rất đông.

Nhu cầu thực tập thiền chánh niệm cho người Việt và ngọai quốc ngày một mở rộng. Phật tử cúng dường đất cho Thầy nhiều nơi, nhưng Thầy đều từ chối vì không đủ nhân lực. Số giáo thọtăng ni có hạn.

Năm 2005, Thầy được nhà nuớc Việt Nam mời về quê hương. Thầy dự đoán những bất trắc có thể xảy ra, nhưng với tình yêu quê hương thiết tha, Thầy chấp thuận trở về nuớc với những yêu cầu đựơc mở khóa tu thìền chánh niệm cho Phật tử trên một số chùa lớn khắp ba miền đất nuớc. Thầy nhận lời thành lập Tu viện Bát Nhãgấp rút đào tạo tăng ni.

Chỉ trong vòng ba năm, Thầy đã nhận được 400 tăng ni ưu tú, đa số từ trung học và đại học. Biến cố Bát Nhã xảy ra, làm chấn động lương tâm nhân lọai.

Thầy nhận 120 mẫu đất do Phật tử cúng dường ở tiểu bang Mississipi. Đến năm 2006, Tu viện Mộc Lan được thành lập và đón nhận các tăng ni trẻ ở Tu việt Bát Nhã Việt Nam sang tu học. Năm 2011, dù Tu viện Mộc Lan chưa xây cất xong, nhưng số thiền sinh từ các tiểu bang nuớc Mỹ về dự khóa tu trên một ngàn người

Làng Mai là nơi thành lập đầu tiên của Thầy và tăng thân, hàng năm đã quy tụ hàng ngàn thiền sinh đủ các màu da, sắc tộc trên khắp thế giới về tu học. Tỉnh Bordeaux nằm ở cuối bản đồ nuớc Pháp, rất xa toàn thể khối Châu Âu. Làng lại xây dựng trên vùng nông thôn, cách xa phi truờng Bordeaux 120km, xa phố thị khiến sự sinh họat và đi lại của thiền sinh gặp nhiều trở ngại. Thầy ước mong thành lập được một trung tâm thực tập thiền chánh niệm ở Châu Âu để cho các nước lân bang về tu học .

Duyên may đã đến, các Phật tử ở Đức báo cáo rằng: Bộ Quốc phòng Đức đang bán những dẫy nhà lớn ngày xưa dành cho quân đội với giá rẽ lắm 100 000 € một dẫy 20 phòng. Nhưng thầy trò đi xem mấy chục chỗ không vừa ý thì có một người Đức, làm việc ở Bộ Quốc phòng Đức chuyên đặc trách về viêc bán những bất động sản cho Bộ. Ông có người em làm việc ở Sứ quán Đức tại Hà Nội và một người em làm việc bên Nhật, cả hai em của ông đang làm việc tại hai nước Phật giáo. Khi nghe ông anh hỏi về Thiền sư Nhất Hạnh, cả hai người đều khuyến khích ông anh “Nếu anh giữ được vị tu sĩ này ở lại Đức là một phước lớn cho nước ta và cho toàn Âu Châu” Ông anh nghe thế bèn tìm một địa điểm sinh họat lý tưởng ở thị trấn Waldbroel không xa thành phố KOELN cũng gần BONN là thủ đô Tây Đức ngày xưa.

Đây là bệnh viện rộng lớn cũ, có nhà bảo sinh, có chỗ nuôi người khuyết tật. Quân Đức hồi đó do Đức Quốc Xã cầm đầu có nhiều tư tưởng rất kỳ thị, chọn những thanh niên thiếu nữ hình dáng xinh đẹp làm những bức tranh vĩ đại, thân thể đẹp xinh, những kiệt tác về mosaic tuyệt hảo trên các bức tường vĩ đại tại phòng tiếp tân. Điều đó cũng tốt. Nhưng Đức Quốc Xã đã sai lầm nghĩ rằng người Do Thái là người bán chúa Ki Tô nên đã cho hàng ngàn người vào lò hơi ngạt giết chết họ. Thật là khốc liệt ác đức không thể. Riêng 700 trẻ em khuyết tật ở bệnh viện Waldbroel, họ cho chở đi đâu mất tích.

Khi Đức Quốc Xã sụp đổ, Bộ Quốc phòng Tây Đức tự do đã dùng tòa nhà năm tầng rộng lớn, lót sàn nhà toàn bằng đá cẩm thạch hồng có hoa vân hồng, nâu, tím rất đẹp, dài 150m. Tòa nhà này là nơi để các tướng lãnh lớn của Liên Minh Quân Sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) về đây hội họp.

Ông nhân viên cao cấp của Bộ Quốc phòng đã được hai người em khuyến khích “Giữ cho được ông thầy tu Thích Nhất Hạnh này ở lại Đức”, và sau đó ông đọc nhiều sách, lên trang nhà Làng Mai âm thầm tìm hiểut hêm, nên ông đã quyết định tìm cách mời cho được Thiền Sư về đây. Khi hai chị trong hai tăng thân cư sĩ ở Đức thuộc Làng Mai (chị Chân Diệu và chị Ilona phu nhân anh Chân Pháp Nhãn Karl Scmied) đến hỏi thì tòa nhà trị giá khoảng 30 triệu €.

Hai chị được biết rằng: Sư ông đã dùng phần lớn số tiền Phật tử cúng dường cho các cháu học sinh, sinh viên nghèo hiếu học và các lớp mẫu giáo ở vùng sâu vùng xa trên cao nguyên, hay những vùng nông thôn thiếu thốnquê nhà. Ngân quỹ Làng Mai chỉ còn khoảng 400.000 € thôi, nên hai chị lắc đầu từ chối.

Ông nhân viên Bộ Quốc phòng mời mọc: “Có một nhóm người Thổ Nhĩ kỳ vừa mới đến trả giá tòa nhà này bảy triệu bảy trăm ngàn € để làm trường học, nhưng chúng tôi không bán. Chúng tôi muốn bán cho Thiền sư Nhất Hạnh với giá rẻ đó. Vì chúng tôi tin tưởng Thầy sẽ mang lại niềm an lạc cho đất nước Đức. Hai chị từ chối vì thật tình, tăng thân không có được số tiền đó.

Bốn tháng sau, Ông nhân viên gọi báo tin: Có nhóm người Đức chịu mua với giá 3 triệu 500.000 €, chắc chính phủ Đức sẽ bán mất. Quý vị nên đến mua ngay kẻo không kịp.

Làng Mai vẫn không đủ sức. Lúc đó một vị nữ Phật tử người Đức, chị Annabelle Zínser bỗng phát tâm cúng 4 trăm ngàn €, cùng với sự giúp đỡ của vài Phật tử Việt Nam, Tăng Thân cố gắng lên giá mua là 1 triệu €. Ông đại diện Bộ Quốc phòng chê quá ít, ông sợ bị cấp trên khiển trách. Nhưng cuối cùng Bộ Quôc phòng đã chịu bán tòa nhà 6 tầng đó cho Làng Mai với gia một triệu một trăm nghìn €. Nhưng khi sắp ký giao kèo mua bán, ông đại diện Bộ Quốc phòng đâm ra lo lắng, sợ Làng Mai không kham nổi chi phí điện nước nên do dự hỏi quí vị có kham nổi 200.000 € mỗi năm chi phí sưởi điện và nước không. Chị Chân Diệu nói nửa đùa nửa thật “Thì quý vị trả giúp chúng tôi!!”. Ông ấy nghe có lý và quyết định giúp ba năm đầu là 600.000 € . Thừa thế hiểu biết của ông, chị Thục Quyên tức Chân Diệu nói khéo. Chúng tôi còn phải xài nhiều tiền lắm về chuyện sửa chữa… Ông ta cao hứng đồng ý bớt thêm 200.000 nữa, tồng cộng là 800.000 €.

Như vậy, Tăng thân trả tiền ngôi nhà đó từ 30 triệu thành ba trăm ngàn !!! (1% của trị giá ) Đúng là chư tổ bắt Sư Ông phải về đây để giúp chuyển hóa nghiệp lực lớn lao nầy.

Người có công thương thuyết là chị Chân Diệu-Thục Quyên và Ilona Schmied. Người làm giấy tờ thủ tục luật lệluật sư tiến sĩ Alexander Publick. Chị Thục Quyên làm Giám đốc trong thời gian giao tiếp. Sau đó Sư ông Làng Mai đề nghị thầy Pháp Ấn làm Viện chủsư cô Chân Đức làm Giám đốc Giáo Dục. Cả hai vị này đều có bằng tiến sĩ bên Mỹ và Anh. Thầy Chân Pháp Trạch là Trụ trì. Ban Giáo Thọsư cô Chân Châu Nghiêm tốt nghiệp thủ khoa Viện đại học Standford, California. Sư cô viết văn rất thanh thoát, có thể kế tiếp sự nghiệp văn học của Sư Ông. Có năm chục tăng ni trẻ: 23 từ Làng Mai và 28 từ Tu viện Bát Nhã Việt Nam, và một số vị giáo thọ trẻ từ bên Làng Mai qua tu họcphụ giúp. Những tu sĩ trẻ Việt Nam đựơc chính phủ Đức cho theo học các trường nhà nuớc miễn phí. Khóa học sáu tháng. Sau mỗi khóa phải thi kiểm tra học lực. Sau khi tốt nghiệp sẽ đựơc phát bằng cấp, đựơc tạm trú lâu dài tại Đức.

vphudca_2Chiều nay, 11-8, Tăng thân tổ chức lễ Trai Đàn cầu siêu cho những vong hồn bị chết thê thảm, oan ức. Ban kinh sư do các thầy từ Tổ đình Từ Hiếu và Làng Mai tụng kinh theo nghi thức cầu siêu độ, có sự tham dự của Tăng Thân các nơi, người Đức, người Hòa Lan và rất đông các cháu thiếu nhi.

Bài chiêu hồn được đọc bằng tiếng Anh, tiếng Đức, thầy Pháp Ấn đọc tiếng Việt, giọng Thày xúc động: Xin hương linh quý vị và các cháu lắng nghe và chứng giám. Bảy mươi năm về truớc, người ta đã đối sử rất tệ hại với liệt vị. Ngày nay Tăng thân đã tới, Tăng thân đã lắng nghe và đã hiểu tất cả những nỗi khổ đau tủi nhục vá uất ức ấy. Tăng thân đã đi thìền hành, đã ngồi thiền, đã thở trong chánh niệm, đã trì chú, tụng kinh, thí thực để cầu ơn trên : chư Bụt, chư vị Bồ Tát, chư vị Tổ Sư để quý Ngài hồi hướng công đức vĩ đại của quý Ngài cho liệt vị và các cháu, để quý vị và các cháu có cơ hội chuyển hóa, tái sinh ra dưới những hình thức mới. Những người đã làm khổ quý vị, họ cũng đã gánh chịu nghiệp quả khổ đau, xin quý vị mở lòng từ bitha thứ cho họ để họ cũng có cơ hội giải thoátchuyển hóa. Xin hộ trì cho Tăng thân và cho các thế hệ hành giả kế tiếp, để họ có thể biến nơi này thành một cơ sở thực tập chuyển hóatrị liệu, không những cho thành phố Waldbroel mà cho cả nuớc Đức và cả toàn thế giới.

Tôi ngồi đó mà tưởng chừng như đang trở về quá khứ, mắt nhìn thấy rất nhiều người thoi thóp trong phòng ngạt của Đức Quốc Xã, tai nghe thấy những tiếng kêu hãi hùng của nạn nhân.

Tôi liên tưởng đến đồng bào quê hương tôi, bị chết dưới những hố bom của Mỹ, bị chết trong những trận đấu tố cải cách ruộng đất, bị chết vùi dập trên đại lộ Kinh Hòang – Quảng Trị, bị chết chôn vùi tập thể ở Huế tết Mậu Thân, bị chết nơi Côn Đảo và rất nhiều nhà tù, hàng trăm ngàn người bị đày ải ở bao nhiêu trại học tập cải tạo. Tôi rùng mình, trái tim se lạnh. Tôi thầm gọi: Mẹ Trái Đất ơi, danh vọngquyền lực đã khiến những người con của mẹ trở nên khát máu, bạo tàn, gây bao tang tóc đau thương cho chính anh em, cùng là con của Mẹ !

***

Tôi đựơc các Thầy cho đi chợ mua thực phẩm. Siêu thị ở Đức cũng giống như các siêu thị khác, nhưng giá cả ở đây rẻ hơn. Các siêu thị cách Viện Phật Học không xa. Waldbroel là một thị trấn lớn, có đầy đủ các siêu thị và nhà hàng ăn uống của người Hoa, Đại Hàn, người Việt. Các Thầy đưa chúng tôi tới quán ăn Việt Nam Hạ Long book. Quán thiết kế dân dã, đẹp mắt. Chủ quán là người miền Bắc, có các món ăn Việt Nam ngon khiến các gia đình người Đức thường xuyên đến ăn. Quán chỉ mở cửa vào buổi chiều. Kem của Đức nổi tiếng ngon và rẻ. Buổi chiều, nguời ra phố đông đúc, họ đi bộ và đi xe đạp, nên đường phố ở Đức ít khi bị kẹt xe. Trong tất cả các nuớc tôi đã viếng thăm, tôi thích nuớc Đức hơn cả, vì nó sạch sẽ, nhà thiết kế đẹp và đều, dân chúng có tinh thần kỷ luật cao, họ không gây ồn ào những nơi công cộng như người Châu Á. Họ bảo vệ môi truờng bằng cách mang các chai lọ làm bằng plastic phế thải bỏ vào thùng có hệ thống máy trả tiền bằng hóa đơn ở siêu thị. Chỉ cần bỏ vào máy sáu vỏ chai coca, máy sẽ nhả ra hóa đơn là 2 €. Hóa đơn đó sẽ được thanh toán với quầy tính tiền.

Từ Học Viện bạn chỉ cần đi băng qua đường là bạn sẽ thấy các cửa hàng, siêu thị, bênh viện, nhà băng, bưu điện. Đi xa hơn chút nữa, bạn sẽ gặp xe bus đưa tới nhà ga; nơi đây bạn sẽ có tàu lửa đưa bạn đi Paris hoặc các thành phố lớn khắp nước Đức. Đây là nơi l‎í tưởng để bạn ghi tên nghỉ ngơi, tu học. Chung quanh Học Viện là bãi cỏ, đồi táo xanh tươi. Từ đồi táo này, bạn có thể đi xuyên qua những con đường mòn trong rừng thông cao vút. Những vạt nắng sớm xuyên qua khóm lá, long lanh, nhảy nhót theo từng bước chân. Chiều đến, bạn có thể ngồi dưới gốc cây táo ngắm mặt trời lúc hoàng hôn trong không gian xanh yên tĩnh.

Bạn có thể thăm Thành Phố KOELN hay BONN cách Học Viện không xa. Đấy là một trong những thành phố lớn của nuớc Đức. Các cửa hàng và siêu thị rộng lớn đầy đủ hàng hóa, giá rẻ hơn các nơi. Trung tâm thành phố có một nhà thờ Thiên Chúa giáo cao ngất, vĩ đại, khách du lịch đến chiêm bái kiến trúc xưa cỗ của ngôi thánh đường này rất đông.

Cách xa Phật học viện, đi xe hơi hơn sáu giờ bạn sẽ gặp thành phố BERLIN (Bá Linh) nơi đây có bức tường phân nước Đức ra làm hai gọi là Đông Đức và Tây Đức. Họ cũng đã từng thù ghét nhau. Nhưng rồi chính quyền cả hai bên đều nhận ra: Sự chia rẽ ấy chỉ làm dân tộc Đức yếu hơn trước đà phát triển nhanh của khối Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Nuớc Đức có nhiiều người tài giỏi. Họ có tinh thần dân tộc và đoàn kết rất cao. Hai bên đã nắm tay nhau, hòa hợp để xây dựng lại một nuớc Đức thống nhất hùng mạnh. Bức tuờng Bá Linh ô nhục đã bị toàn dân phá bỏ. Họ thống nhất đất nước mà không tốn đạn viện trợ, không cần kêu gọi các nước đàn anh tiếp sức để cõng rắn cắn gà nhà. Quá khứ đau thương của họ đã được đền bù bằng những nhà lãnh đạo đương thời sáng suốt, tài ba và trong sạch! Họ tôn trọng tự do nhân quyền nhưng tinh thần kỷ luật của người dân rất cao. Pháp luật của nước Đức công bằng, không đối xử thiên vị với những kẻ phạm pháp.

Tôi ít đi ra ngoài, nên chỉ biết một vài chi tiết nhỏ kể cho bạn. Thấy môi trường nước Đức phố thị sạch sẽ, công viên, rừng cây xanh tươi mát. Đời sống sinh họat của họ đậm nét văn hóa cao, công nghệ văn minh vượt bực mà phục quá đi thôi.

***

Tòa nhà sáu tầng cao ngất của Học Viện chưa có kinh phí sửa chữa. Thầy Pháp Ấn phải thuê công ty xây dựng Đức làm tạm cái lều mica, rộng 1000m2, có thể chứa đựợc 1.500 thiền sinh. Hôm nay bắt đầu vào khóa tu cho người Hòa Lan, Thiền đường rộng vậy mà đông kín những người. Mở đầu, Sư ông Làng Mai nói về chánh niệmchuyển hóa khổ đau cho thân và tâm.

Mỗi bước chân chánh niệm, lời nói chánh niệm, hành động chánh niệm, suy nghĩ chánh niệm thì trái tim sẽ nảy mầm hạt giống hiểu biếtthương yêu. Sự hiểu biếtyêu thương sẽ mang lại cho nhân lọai một nền hòa bình trong tình huynh đệ…

Bài pháp thọai Sư Ông nói bằng tiếng Anh, đựơc sư cô Sáng Nghiêm dịch ra tiếng Hòa Lan, đã lôi cuốn thiền sinh lắng nghe chăm chú

Cả rừng người đi thiền hành với Sư Ông trong im lặng. Mặc dù một tháng qua, Sư Ông giảng pháp thoại liên tục, một tuần bốn buổi, có khi năm hay sáu buổi – mỗi buổi khỏang 2 tiếng đồng hồ – sức khỏe Sư Ông đã sút giảm, dáng người gầy đi nhiều, nhưng bước chân Sư Ông vẫn thanh thản, nhẹ nhàng, nụ cượi Sư Ông mỗi ngày một tươi thêm. Sư Ông dắt tay các em bé Hòa Lan đi thiền hành. Phía sau, Tăng thân và thiền sinh vẫn từng buớc chân tiếp nối.

Khóa tu cho thiền sinh Hòa Lan kết thúc. Sáng nay, thay vì ngồi thiền, chúng tôi đi dự lễ truyền 5 giới. Các giới tử chiếm phân nửa thiền đường. Có các cụ già và nhiều cháu bé nữa. Nhìn họ quỳ lạy một cách kính cẩn khi nghe Sư Ông đọc năm giới, tôi thấy xúc động và vui quá đi thôi. Tôi nhớ năm ngoáiTu viện Blue Cliffs – New York, một bà thiền sinh, sau khi nhận giới, cảm động nói trong nuớc mắt: Tôi mong rằng sẽ có rất nhiều người đựơc nhận năm giới thì chiến tranh và hận thù sẽ vắng bóng trên thế giới này.

Nhìn lên rừng cây cao, mùa hè sắp qua đi, mùa thu đang tới, lá vàng sẽ rụng theo từng đợt gió đong đưa, cuốn trôi theo sóng vô thường. Tôi nhìn xuống thấy các sư em tươi thắm như những hoa hướng dương, thấy các cháu bé như những nụ hồng vừa hé nở, dưới chân tôi sân cỏ mát xanh. Trên rặng thông già, bầy chim rừng đang hát bài ca mùa hè bằng tiếng Đức, nghe lạ lắm. Tôi thấy niềm tin yêu – hy vọng đang bừng nở, khe khẽ hát hòa với tiếng chim và tiếng thông reo:

Sóng vô thường vẫn trôi
Ngàn lá thu vẫn rơi
Mang theo người yêu dấu
Em và tôi cũng vậy
Rồi ta sẽ đi thôi
Không có gì mất đi
Không có gì còn lại
Trái đất vẫn xinh tươi
Chúng ta vẫn ca hát
Mặc vô thường nổi trôi…

Các bạn thân mến ơi, những điều gì cần làm ngày hôm nay thì bạn hãy làm đi, đừng để đến ngày mai. Ngày mai dài vô tận, nó sẽ làm bạn lỡ nhịp hẹn, nhất là bạn hẹn sẽ gặp lại người thương. Sóng vô thường không đợi chờ ai cả. Nó đến và cuớp đi rất nhanh mạng sống muôn loài. Sư ông Nhất Hạnh năm nay 86 tuổi rồi, mặc dù sức khỏe mong manh, nhưng Sư Ông vẫn đến giảng những khóa tu, dạy cho chúng ta pháp môn Thiền Chánh Niệm của Đức Phật từ phụ Thích Ca, dạy chúng ta chuyển hóa khổ đau thành an lạc, sống tỉnh thức trong tình thương yêu, mang lại hạnh phúc cho gia đình, hòa bình cho thế giới. Chúng tôiniềm tin lớn rằng: chư Phật, chư Bồ tát, chư Tổ, chư Thần linh đất đai và, với tài đức song toàn của thầy Pháp Ấnsư cô Chân Đức – các vị Giáo thọ lớn và các sư em mẫn tuệ của Sư Ông, cùng với Tăng thân cư sĩ khắp thế giới, Phật tử Việt Nam sẽ hỗ trợ cho Viện Phật Học Châu Âu ngày càng vững mạnh để cho người dân Đức và toàn thể thế giới quay về đây thực tập thiền Chánh Niệm, chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc, chuyển hóa hận thù thành yêu thương, để tất cả nơi nơi đều sống trong hòa bình, an lạc.

Xin mời các bạn đến dự các khóa tu, thực tập pháp môn Thiền Chánh Niệm đi. Nó sẽ giúp bạn tỉnh táo, sáng suốt ra, trái tim bạn được tưới tẩm hạt giống từ bi, bạn sẽ nhìn mọi người bằng đôi mắt thương. Bạn sẽ mang lại hạnh phúc cho cha mẹ, vợ con, anh em hoặc người mà bạn thương yêu để cùng nhau đi suốt cuộc hành trình trong hạnh phúc, xây dựng quê hương tươi sáng, bạn có biết không ?

Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu
Tháng 8 -2012.
Chân Y Nghiêm

Tết Mậu Tuất 2018

Lặng lẽ nụ quỳnh

 

Bây giờ là gần nửa đêm, hội quỳnh đã tan, mọi người đã ngủ hết, trời vừa tạnh mưa, khí đêm mát lạnh, tiếng nước chảy róc rách đều đều, tiếng dế ngân vang, thỉnh thoảng có vài tiếng ếch nhái từ góc vườn vọng tới, chú tắc kè hoa cũng tham dự với những chuỗi âm thanh dài, không gian tĩnh tịch nhưng sinh động lạ thường, và chú đang ngồi một mình ngoài hiên, trước mặt chú là những đóa quỳnh mãn khai trắng tinh đang tỏa hương thơm ngát.

Chú mới vừa xả chân sau một lúc ngồi yên. Trên chiếc ghế sô pha bằng mây đặt trước những đóa quỳnh đang mãn khai, chú đã trải tọa cụ rồi xếp chân trên bồ đoàn và chưa bao giờ chú có cảm giác là hơi thở của mình “ngon lành” đến như vậy. Những đóa quỳnh được ba cây đèn thắp sáng và tất cả những đóa hoa đã được điều chỉnh để cùng quay về một hướng. Lâu lâu chú mới mở mắt ra nhìn rồi lặng lẽ mỉm cười trong bóng đêm với hơi thở ngọt lịm thơm tho.

 

 

Từ thiền đường về là anh em chú đã bắt đầu thiết kế ánh sáng cho các chậu quỳnh. Góc nào trong tăng xá cũng có quỳnh. Hiên Xanh của chú có chừng hai chục hoa và tất cả các bông hoa đều hướng về phía người ngồi ngắm với ánh đèn làm nổi bật những bông hoa trắng giữa nền lá xanh. Anh em chú ngồi quanh, rất gần với những đóa hoa đang bung từng cánh một. Chú còn thiết trí cái bàn nhỏ trước những đóa hoa, rồi lại thỉnh chậu hoa nước với tượng bồ tát Di Lặc ngồi giữa chậu đặt lên trên chiếc bàn nhỏ ấy, mặt bồ tát hướng về các bông hoa với tư thế đang ngắm hoa một cách trầm tư chăm chú. Đèn điện được tắt hết ngoại trừ ba bóng đèn chiếu vào hoa và đèn trong lòng hồ nước. Xong đâu đó rồi thì mới pha trà. Anh em chú ngồi yên lặng bên nhau uống trà ngắm hoa. Tiếng mưa, tiếng gió nhè nhẹ, tiếng ếch nhái, tiếng dế, tiếng nước chảy, tiếng pha trà và tiếng thở tạo thành một bản hợp tấu lặng lẽ mà hùng tráng, bình dị mà linh thiêng.

Một hộp hạt điều rang muối được mang ra và mỗi người chia nhau một nắm nhỏ. Trà được châm thêm và những đóa hoa cũng từ từ mở ra, xòe dần những cánh trắng tinh khôi và rồi thì hiển bày cả lòng hoa vi diệu. Những cánh nhỏ ngoài cùng mảnh mai phớt hồng uốn ngược ra sau đến chạm cả vào cuống hoa. Những cánh trắng lớp ngoài lớn hơn một tí cũng vươn rộng ra, rộng hết mức có thể, như một người giang rộng hai cánh tay. Lớp cánh tiếp theo là một vành cánh trắng lớn hơn nhưng không dang rộng hết cỡ đôi tay mà hơi khép lại như thể đang chực ôm lấy không gian phía trước. Những cánh trắng lớp trong cùng là lớn nhất, không xòe hết mà chỉ mở vừa đủ như những cánh sen với hai lớp cánh trắng tuyền ôm lấy cả trăm nhụy hoa trắng phớt vàng xếp hàng thẳng tắp như những nàng tiên đang tung tăng nhảy múa. Nhụy cái vươn hẳn ra ngoài như những vũ công tung mình lên không trung xòe rộng những cánh tay thon dài mong manh trắng muốt. Gió rung nhẹ làm bật tung một cánh hoa, cả trăm cánh hoa liền bật rung theo rất đồng điệu.

Mãn khai rồi. Lúc lòng hoa hiển bày hết sự vi diệu cũng là lúc hương hoa tỏa ngát khắp không gian tịch lặng của Hiên Xanh. Những người ngồi bên hoa không ai là không trầm trồ kinh ngạc với sắc hương vi diệu ấy, duy chỉ có tôn tượng của đức bồ tát trầm tư là vẫn lặng lẽ trầm tư, không biểu lộ bất cứ một xúc cảm nào như thể vốn dĩ ngài là người luôn luôn an trú miên mật trong sự vi diệu ấy của chân hương diệu sắc. Sự sống vô tận như dừng lại miên viễn trong khoảnh khắc mãn khai của loài hoa mong manh ấy.

Quá nửa đêm rồi, đã qua ngày mới. Hơi lạnh rồi. Chú vừa phải kéo chăn phủ quanh vai. Một cơn gió lạnh thổi tới làm những đóa quỳnh run rẩy, xô những bông hoa nghiêng ngả giữa màn đêm. Ánh sáng từ những cây đèn, ngoài những đóa quỳnh trắng và những thân quỳnh xanh, chỉ đủ soi một vùng hẹp mờ ảo quanh Hiên Xanh với những thân trúc vàng ở góc hồ, với tượng Bụt đứng lặng yên bên mỏm đá, với ngọn tùng đổ xuống từ chiếc chậu cao, với thác nước chảy xuống từ tảng đá phủ rêu, với những giỏ lan khép nép lơ lửng giữa lòng hồ và với mặt hồ lấp lánh theo những cái quẫy đuôi của đàn cá chép đủ màu trong lòng nước. Còn lại là một vùng đen sâu thẳm vô tận, mênh mông, thâm u và bất trắc của một đêm khuya đầu tháng u ám không một vì sao.

Những đóa hoa hãy còn sung mãn, với những cánh hoa vươn rộng với những đài hoa vững chắc và với những cuống hoa uốn cong kiêu hãnh. Đẹp đẽ, huy hoàng, tinh khôi và viên mãn. Đó là những mỹ từ to tát nhất có thể được dùng, nhưng trong giây phút này, chúng bỗng trở nên nghèo nàn kinh khủng khi chẳng thể nào diễn bày được, dù là chỉ một phần nhỏ sự thật sống động về những đóa quỳnh đang lan tỏa hương sắc giữa lòng đêm.

Tiếng nước chảy như rộn ràng hơn. Dế không ngủ thì phải. Tăng xá lặng lẽ chìm sâu vào giấc ngủ. Không gian cũng ngủ vùi trong màn đêm vô định. Nhưng những đóa quỳnh thì đang tưng bừng hiến tặng sự sống của mình, với hình dáng đoan nghiêm, với sắc màu tinh khôi, với hương thơm thanh khiết và với một tấm lòng mở rộng vi diệu nhiệm màu vô cầu vô nguyện giữa lòng đêm sâu thẳm, vô tận, mênh mông, thâm u và bất trắc. Chú đang thức hay ngủ? Chú đang hiến tặng gì đây? Tại sao chú cần thế nhân công nhận?

Bồ tát tự tại trầm tư vừa lặng lẽ mỉm cười. Chú cũng vừa lặng lẽ mỉm cười. Những đóa quỳnh cũng lặng lẽ mỉm cười. Và đêm thâu cô tịch, sâu thẳm, vô tận, mênh mông, thâm u và bất trắc ấy cũng vừa lặng lẽ mỉm cười.

 

Thầy Trung Hải

Vịnh cây cóc già

 

 

Hiên ngang cô ngạo giữa rừng Đông

Lá trả đất, hương trả về không

Héo hắt hoang vu cô quạnh quá

Lạnh lùng xơ xác tận mông lung

Sức hùng thu hết về nội thể

Chí cả thả vào đám lá rong

Ung dung lặng lẽ vầng trăng khuyết

Lòng vời trùng điệp một trời xuân.

Thầy Trung Hải

 

Niềm vui từ Pak Chong

Duyên lành gặp Thầy

Ở Làng Mai, con thích những buổi sáng nhất, bởi bầu không khí quá tuyệt vời khiến không ai muốn bỏ phí. Con đã nghe kể rằng có những buổi sáng ở Pháp, khi cùng với các học trò của mình đi thiền hành, Sư Ông thường dùng ngón tay đón lấy những hạt sương sớm mai trên lá thông và truyền tay từng người. Hay con còn nghe kể về những cuộc trò chuyện với cái cây hay bông hoa ở bên đường khi thiền hành. Còn con, con thích lần đi qua một con đường thiền hành cỏ mọc um tùm ở Làng. Con đã hạnh phúc lắm vì ở đây có mùi cỏ, và mùi của đất Mẹ mà đi đâu con cũng kiếm tìm.

Lần đó, con “đi bộ” trong tâm thái rất thong dong, rất bình yên và dù có bao nhiêu người đi xung quanh, con tập trung vào bước đi của mình và thi thoảng ngắm mây, ngắm trời, ngắm cây cỏ hoa lá (như con vẫn luôn thế) nên chẳng mấy chốc bị tụt lại tít phía sau. Đi được một đoạn khá xa, con thấy mọi người đằng trước tụ tập lại trước một ngôi thất và đồng thanh hát. Ban đầu, con còn nghĩ truyền thống ở đây là vậy, nhưng tiến gần hơn tới trước thất, con mới quan sát kỹ hơn và nhận ra… ngồi trên hành lang tầng hai của ngôi thất chính là… Sư Ông. Sư Ông ngồi đó trên xe lăn, tay trái cầm ly trà, lắng tai nghe đại chúng hát, bình yên thật là bình yên…

Nhiều người khi gặp Sư Ông đã vái lạy, nhiều người đã khóc. Nhiều người đã tu theo phép tu của Sư Ông từ lâu, con thì chỉ mới biết qua sách của Sư Ông, qua trang Facebook của Làng, nhưng khi nhìn thấy Sư Ông, con thấy xúc động khôn cùng. Con thấy ngưỡng mộ, ngưỡng mộ một con người đã dành bao nhiêu năm kêu gọi hòa bình và thức tỉnh nhiều người đến vậy. Lúc đó con chỉ biết nhìn Sư Ông, nhìn mãi, không rời mắt. Đến khi phải rời đi, con cũng chỉ biết ngoái theo, ngoái theo mãi, tay chắp búp sen chào Sư Ông. Cô giáo con đi cùng nói rằng: “Mọi người cúi lạy Sư Ông vì họ muốn tỏ lòng tôn kính, nhưng món quà ý nghĩa nhất dành tặng Sư Ông chính là sự tỉnh thức và sự thực hành của mình con ạ”. Con hiểu những điều cô nói và với cơ duyên được gặp cô, được gặp Sư Ông và tất cả những người khác trong lần đi Làng Mai, đó thực sự là thông điệp mạnh mẽ nhất để con tin tưởng và bước tiếp trên con đường hướng tới hiểu biết và yêu thương hơn.

Con mong Sư Ông mau khỏe lên nhiều vì thêm một người được gặp Sư Ông là thêm một người được yểm trợ bởi nguồn năng lượng tươi mát nơi Sư Ông, Sư Ông ơi!

Lớp học Lá  Bối

Không có nhiều từ mà vừa nghe đã thấy hay thật hay như “Lá Bối” – đại bản doanh, nơi tề tựu mỗi ngày của Gia đình Chồi Cúc.

Phòng Lá Bối của gia đình Chồi Cúc chắc là một trong những nơi ngắm hoàng hôn đẹp nhất ở đây. Theo suy luận địa lý của con thì phòng học hướng về phía Nam, một bên cửa sổ hướng về hướng Tây có mặt trời chiếu cuối ngày đẹp đến nao lòng người, bên còn lại nhìn ra đằng sau chánh điện (mà chánh điện cũng đẹp nao lòng nốt!). Và dù mình không có ý định bỏ thời khóa nào đâu nhưng ánh mặt trời đó vẫn luôn là một động lực để con đi tham dự gia đình pháp đàm.

Kỷ niệm vui nhất ở Gia đình Chồi Cúc và làm con rất yêu quý gia đình này có lẽ là trải nghiệm thỉnh chuông. Chuyến đi Làng Mai khiến con thấy tiếng chuông thật kỳ diệu. Từ tiếng chuông đồng hồ 15 phút một lần mà mỗi khi vang lên là tất cả mọi người dừng hết tất cả mọi hoạt động lại để theo dõi hơi thở, đến tiếng chuông, tiếng khánh trong thời khóa nhắc mọi người quay về với chính mình. Vì thế nên lúc được nghe dạy thỉnh chuông, con hào hứng lắm. Sau phần giảng là đến phần thực hành, mọi người cũng ngồi thành vòng tròn và chuyền chuông để lần lượt từng người thử. Đến lượt mình, con run quá mức, và con thỉnh chuông mắc cười ghê lắm. Sư cô vừa dạy rằng ai mà tươi mát, an lạc thì tiếng chuông sẽ thanh và rất vang, vậy mà con thỉnh ra một tiếng chuông dở quá. Nhưng sau khi được sư cô chỉ cho rằng con cầm dùi sai và chỉnh lại cho, thì con thỉnh đúng kỹ thuật và tiếng chuông cũng khá thanh và cũng hơi vang, còn được mọi người vỗ tay, khen: Hay quá! nữa.

Sau bữa đó, con rất thích đi sinh hoạt gia đình. Các giờ lao động chấp tác là vui nhất. Bây giờ về Hà Nội, con nhớ những bữa ngồi cắt rau húng hay những hôm đi bê rau được nửa đường thì phát hiện ra quên mất cặp vẫn treo ở cành cây, phải quay lại để lấy. Và tất nhiên nhớ nhất vẫn là bữa ngồi ở gốc cây đối diện nhà bếp mọi người vừa nhặt rau muống vừa ca hát. Nhưng vui nhất, chắc là khi cứ đến bữa ăn mà thấy rau mình nhổ hay nhặt là con lại quay sang chị Tuyến hãnh diện khoe: Rau này em nhổ đấy nhé!

Và tất nhiên con cũng thật nhớ buổi thiền trà chia tay của bữa sinh hoạt cuối cùng. Đó cũng là một ngày hoàng hôn thật đẹp, mọi người lại ngồi thành vòng tròn, ăn bánh, uống trà và trò chuyện. Rồi mọi người đọc thơ, có người hát và còn được tặng bookmark nữa. Hôm đó, con đã lại thật sung sướng được tắm nắng và lắng nghe mọi người. Những câu chuyện của các anh chị làm con thấy mình còn đang may mắn quá và sẽ còn thật nhiều điều đang chờ mình ở những năm tiếp theo. Từ câu chuyện của mọi người và từ những thực tập ở đây, khi về nhà có lẽ con sẽ sẵn sàng hơn để đón nhận những điều đang chờ mình ở phía trước.

Giống như Lá Bối được dùng để chép lại kinh Phật, thì phòng học Lá Bối hình như cũng ghi lại “hơi” nhiều những kỷ niệm, những câu chuyện của Chồi Cúc rồi.

 “Relax” là như thế chứ đâu!

Chuyến đi Làng Mai lần đó, con có mang theo một cuốn sách được một người ban tặng. Đó là cuốn “How to relax” của Sư Ông. Và cũng chính trong chuyến đi đó, con đã tìm thấy những giây phút, những công việc khiến mình phải thốt lên rằng: “Relax là đây chứ đâu!”

Điều đầu tiên con thích ở Pak Chong đó là thiên nhiên quá tuyệt vời. Khi về con có tìm hiểu và đọc được thông tin rằng vùng núi Khao Yai ở Pak Chong là một trong bảy vùng núi có năng lượng tốt nhất thế giới. Ngồi thiền ngoài trời hay là thiền hành ở đây thì không gì bằng! Mà ở Làng Mai, ai cũng tươi mát như một bông hoa, dễ thương vô cùng, mọi người ai cũng cười và chào nhau, dù chẳng quen biết trước. Thực sự có những ngày, chỉ cần ngồi cạnh nhà bếp nhìn mọi người cứ  ngồi không hoặc đi lại thôi cũng thấy thật yên bình rồi. “Relax” là như thế chứ đâu!

Ngày đầu con đến đây, con đã bất ngờ khi bỗng nhiên có tiếng đàn hát phát ra từ đâu đó. Ở đây vài ngày thì con thấy chuyện đó không còn lạ nữa, mà trở thành cái gì đó thật quen thuộc. Khi nào cũng có tiếng đàn hát, hoặc tiếng piano,… Và đến những ngày cuối, cứ khi không có thời khoá thì chính con cũng tự dưng ngâm nga một vài câu thiền ca, như là: “Khi yêu thương, lòng như đứa trẻ…” chẳng hạn. “Relax” là như thế chứ đâu!

Có một hôm khi mới đến, vì chưa có lịch trình gì nên mấy chị em con dắt nhau lên đồi chơi. Nói thiệt là khi con ngồi ô tô qua đây, trên đường đi qua biên giới Thái Lan con ngủ li bì nên chưa biết khung cảnh ở đây thế nào. Và bữa đó, sau khi leo những bậc đá xi măng lên cao cao đến một khoảnh đất bằng, con thích lắm vì khung cảnh trước mặt, có núi và nhìn thấy một phần xung quanh, toàn một màu xanh!!! Thậm chí, thấy đồi cao, gió mát, cảnh đẹp, con đã chỉ nghĩ được một chuyện: “Giờ mà ngủ ở đây thì tuyệt!” Và nghĩ xong phải làm ngay, con nằm ra đấy, gối lên cái cặp, úp cái mũ lên mặt và ngủ ngon ơ! Bên cạnh còn có cô giáo đi cùng ngồi hát hết bài này đến bài kia nữa. Bây giờ ngẫm ra thì đó chính là lần đầu con được hưởng thiền buông thư có hướng dẫn. Thật là “relax”!

Pak Chong đầy nắng và gió nên một vài cái xích đu được làm bằng gỗ với dây thừng gắn thật chắc chắn vào mấy cây me lớn là “số dzách”. Từ hôm mới đến, con đã để ý đến mấy em xích đu đó rồi, mà đến hôm cuối mới được đu đưa vì mấy bữa trước không tranh được với các em bé con. Mà hình như cứ ngồi trên xích đu thì ai trông cũng như trẻ con ấy. Hình như cứ ngồi lên xích đu là dù mới lớn hay… lớn lâu rồi đều sẽ tự nhiên mà gạt hết mọi thứ sang một bên và chơi như hồi mình còn bé con vậy!

Ở Làng Mai cũng có nhạc hội. Bình thường nghe “nhạc hội” là con nghĩ ngay phải có mấy màn nhạc sôi động mọi người nhảy múa. Nhưng Làng Mai mà, Làng Mai nên nhạc hội ở đây cũng cứ thật yên bình với toàn những bài hát thật nhẹ nhàng. Mọi người hát, biểu diễn, văn nghệ theo kiểu… rất Làng Mai… Con thích nhất tiết mục “Chú Cuội” với tiếng violin, tiếng sáo và tiếng guitar thật nhẹ nhàng mà bay khắp không gian trong một đêm trăng non thật mát và trong. Thú thật là sau đêm nhạc hội, con mới hiểu vì sao khu đất tổ chức nhạc hội đó gọi là Sân Trăng. Vì ngắm trăng từ đây đẹp quá mà! “Relax” là đây chứ đâu!

Con nhớ nhất ngày cuối ở Làng Mai, hai chị đi cùng đã về rồi, sửa soạn hành lý xong hết rồi, con thấy chị nào đó đang quét sân, mà quét sân quét lá là việc con rất thích nên con phải… chớp ngay cơ hội. Và thế mà con tung tăng đi quét sân, hết bên này đến bên kia với chị. Chỉ một việc bé tí teo thế thôi mà sao con thấy vui quá trời, và thấy bình yên lắm! Quét xong cái sân thật bự, hai chị em cười với nhau toe toét rồi tự khen: “Chị em mình quét sạch phết em nhỉ?!” (Nghĩ lại lại thấy vui!)

Yên bình “bị phá vỡ”

Làng Mai yên bình là thế, mà cũng có những khi cái yên bình đó “bị phá vỡ”. Có một hôm con cùng với mấy chị nữa ở Hà Nội qua đang ngồi nói chuyện ở lán gỗ gần khu lều, thì có một chiếc xe máy tiến tới, đi kèm với tiếng keng keng leng keng khá lớn. Mọi người dồn hết chú ý vào đó luôn. Một chị cất tiếng: “Như kiểu bán kem ở Việt Nam ý nhỉ?!”, thì hóa ra là xe máy bán kem thật.

Bữa đó thấy chú, cô giáo đưa con tiền rồi bảo: “Tiền lẻ này Chấu, con chạy ra mua kem đi!”

Và con, như một đứa trẻ được mẹ cho tiền, tung tăng hớn hở chạy ra mua kem.

Ở đây có hạnh phúc không?

Để kết lại, con xin kể một câu chuyện rằng có một hôm ở Làng Mai, khi con đang đi loăng quăng một mình hướng về lại phía lều thì gặp một sư cô cười rất tươi với mình (và khi con gặp quý sư cô, con cũng đều cười tươi đó) và sư cô gọi con:

“Ở đây có hạnh phúc không?”

Con cười lại (cũng siêu tươi) với sư cô và trả lời: “Dạ! Hạnh phúc lắm, sư cô!”

Tối hôm rời Làng về lại Việt Nam, khi xe nổ máy, con ngồi cạnh cửa sổ nhìn ra cổng xóm Trời Quang mà thấy thật bịn rịn. Vì không muốn xa nên càng nhìn thì lại càng chẳng muốn rời và tự nhiên xúc động lắm. Nhưng cũng đâu thể nào khác được, chỉ biết mong lần sau lại có đủ duyên để quay lại và tự hứa về nhà phải thực tập làm sao cho tốt vì mỗi khi thực tập là mỗi lần nhớ về Làng và có thêm động lực để quay lại. Sáng ngày sau nữa, khi ngồi ăn một cốc mì úp nước sôi ở cửa 7Eleven lúc 05:30 sáng, con lại nhớ Pak Chong khủng khiếp. Nhưng nghĩ lại thì nỗi nhớ nào rồi cũng sẽ vơi và trước những sự thật thì điều tốt nhất nên làm có lẽ là chấp nhận và đối mặt với nó. Nhưng nỗi nhớ Làng Mai chắc chắn là không thể sớm mà vơi đi được, vì cảm giác muốn quay lại mạnh mẽ quá.

Một trong những bài hát yêu thích nhất mà con cứ hát đi hát lại khi ở Làng có câu:

“Khi yêu thương, lòng như đứa trẻ

Xin cho hoài không đắn đo chi

Tình thân quyến gặp trong mọi nẻo,

Và nơi chốn bình an là nhà…”

Nhận được sự yêu thương của mọi người, con cũng xin nguyện sẽ học cách “Hiểu và thương”, bởi:

“Có hiểu mới có thương

Hiểu càng sâu, thương càng rộng

Hiểu càng rộng, thương càng sâu…”

Viết xong bài viết này, con nhớ đến câu hỏi mà sư cô đã hỏi mình hôm đó: “Ở đây có hạnh phúc không con?” Và câu trả lời của mình thì vẫn luôn vậy: “Dạ! Hạnh phúc lắm cô!”.

Hà Nội, ngày 23/07/2017, một đêm mưa.

Chân Giang

Khoá tu nấu ăn 2016, từ ngày 5-12/8 tại xóm Mới, Làng Mai

Phỏng vấn Cây Đan Mộc

Ngày 01.12.2015, tại Làng Mai đã diễn ra lễ xuất gia của gia đình Cây Đan Mộc (Red Wood), 10 em được xuất gia tại Làng và 9 em được xuất gia tại Thái Lan. Sau lễ xuất gia, BBT đã có một buổi ngồi chơi với 8 cây Đan Mộc tại Làng (hôm ấy có hai cây Đan Mộc bận… nấu ăn). Đến từ nhiều quốc gia khác nhau: Ái Nhĩ Lan, Ý, Hòa Lan, Pháp, Úc, Đức, Indonesia và Việt Nam, không hẹn mà gặp, những người trẻ chung lý tưởng này đã tìm về dưới mái nhà tâm linh để cùng đi trên con đường của hiểu biết và thương yêu. BBT xin được chia sẻ nội dung buổi trò chuyện.

BBT: Các sư em cảm thấy như thế nào khi Thầy không được khỏe và không có mặt ở Làng gần như trong suốt thời gian các sư em tập sự xuất gia? Sự vắng mặt của Thầy có ảnh hưởng gì đến sự thực tập hay chí nguyện của các sư em không?

Sư chú Trời Đạo Lực (người Việt): Ngày con lên máy bay để sang Pháp, các bạn trong Gia đình Phật tử đã hỏi con một câu tương tự. Khi đó con trả lời vui là Bụt đã tịch hơn 2600 năm rồi mà người ta vẫn phát tâm thực tập những lời Bụt dạy. Tại vì giáo nghĩa Bụt dạy rất cụ thể và phù hợp với mọi người. Trong lòng con thầm nghĩ: Thầy đã trao truyền rất nhiều pháp môn để tu học, vì vậy khi xuất gia, mình nương tựa vào pháp môn và vào pháp thân của Thầy để thực tập. Những lời Thầy dạy rất thực tế và phù hợp với xã hội hiện nay. Con đến Làng đúng vào lễ Tự tứ kết thúc mùa An cư kết Đông năm 2014 – 2015. Đó là lần đầu tiên con nghe nói đến “Tăng thân là sự tiếp nối của Thầy”. Con thấy đó là sự thật, bởi vì trong một năm con ở đây, con không chỉ học hỏi rất nhiều từ Thầy mà còn từ đại chúng. Vì vậy con không lo lắng lắm khi Thầy không có mặt trực tiếp để chỉ dạy cho chúng con.

Sư cô Trăng Tĩnh Mặc (người Indonesia): Thực sự, khi đến Làng, con chưa biết nhiều về Thầy, cũng chưa đọc nhiều sách của Thầy. Con thấy Làng Mai qua quý thầy, quý sư cô từ trung tâm Làng Mai Thái Lan đến Indonesia để hướng dẫn khóa tu. Lần đầu tiên tiếp xúc với quý thầy, quý sư cô, con đã có nhiều cảm mến. Tuy con không biết Thầy là ai, nhưng nhìn quý thầy, quý sư cô, con thấy rất muốn được tham dự vào tăng đoàn. Khi quyết định đến Làng, con nghe nói Thầy bị bệnh. Ở Indonesia, người ta còn đồn là Thầy đã viên tịch. Nghe tin đó, con buồn lắm. Tuy thế con không lấy đó làm trở ngại, bởi vì con muốn gặp tăng thân. Ở Indonesia, có được một tăng đoàn đông đảo như tăng đoàn Làng Mai là rất hiếm. Vì vậy con đến đây không phải vì Thầy mà vì sự tiếp nối của Thầy. Quý thầy, quý sư cô trong chuyến hoằng pháp tại Indonesia là những người rất đẹp, rất vui tươi và đã tạo cho con rất nhiều cảm hứng.

Sư chú Trời Đạo Sơn (người Pháp): Khi con tới Làng Mai lần đầu vào tháng 10 năm 2014, Thầy không có mặt ở Làng. Lúc đó con ở Sơn Hạ và hoàn toàn chưa biết gì về Làng Mai. Lần đầu tiên tiếp xúc với tăng thân, con đã bị tăng thân chinh phục. Vì thế con không bị ảnh hưởng nhiều khi nghe tin Thầy bệnh nặng, thậm chí có thể viên tịch. Khi đó đang là mùa An cư kết Đông, có khoảng 60 vị cư sĩ nam đến an cư suốt ba tháng tại xóm Thượng. Đại chúng không có chọn lựa nào khác là phải tiếp tục đi tới dù cho bất cứ chuyện gì có thể sẽ xảy ra với Thầy, khi ấy ai cũng nương vào nội lực của mình để đóng góp cho đại chúng. Mỗi tuần đều có tin về Thầy nhưng vẫn không thể biết là chuyện gì sẽ đến. Đại chúng chỉ có thể lên kế hoạch cho từng tuần một. Quý thầy, quý sư cô và tất cả thiền sinh ai cũng thực tập hết lòng để yểm trợ tăng thân và để tiếp nối Thầy, để tăng thân vẫn tiếp tục đi tới. Con rất cảm động khi thấy điều này. Mỗi lần nhớ lại, con đều thấy có nhiều cảm hứng. Chúng ta cứ tiếp tục đi tới thôi. Thầy đã lớn tuổi. Dù sau này Thầy có bình phục, chúng ta vẫn phải tiếp tục thôi. Giờ đây con là một sư chú trẻ, con đã trở thành một thành phần của sức mạnh đi tới đó.

BBT: Chấp nhận là chìa khóa của sự thành công khi sống trong tăng thân. Các sư em thực tập như thế nào để chấp nhận những gì chưa hoàn hảo, những khác biệt và đa dạng về văn hóa trong tăng thân?

Sư chú Trời Đạo Quy (người Úc gốc Việt): Trước khi đến Làng Mai con có xem pháp thoại của Thầy trên Youtube và một số video clip giới thiệu về Làng. Khi nhìn thấy Thầy và hình ảnh rất đẹp của mùa xuân, con nghĩ là người làm phim đã chọn những hình ảnh đẹp nhất để trình bày. Khi con mới tới Làng và chạm với thực tại, con nhận ra rằng những tri giác mà con có về Làng chỉ là qua các video clip. Con chưa thực sự hiểu về tăng thân. Cách mà con đối trị với những gì chưa hay trong tăng thân là đi vào phòng và… đấm vào bao cát (cười). Con nói đùa vậy thôi chứ thật sự càng sống và thực tập lâu trong đại chúng, con càng thấy vui hơn, thấy những điểm hay, điểm đẹp của đại chúng nhiều hơn. Con vẫn còn thấy những khiếm khuyết, tuy nhiên những cái đó không làm con kém vui hay đánh mất mình. Những lúc con thực tập không giỏi, không đối trị được với những khó khăn từ trong lòng mình là những lúc con nhìn ra ngoài và chỉ thấy những điều tiêu cực rồi khởi tâm bực bội. Khi đó con quay trở lại chính mình, đi theo thời khóa, không tách mình ra khỏi sinh hoạt của đại chúng để nuôi dưỡng chính con. Ba sự thực tập căn bản giúp con là hơi thở, bước chân và ăn trong chánh niệm.

Sư chú Trời Đạo Phương (người Ý): Con nghĩ khi mình có một tâm bồ đề thật sự mạnh mẽ thì nó sẽ giúp mình vượt thắng những khó khăn. Thầy Kai Li có nói rằng khi mình đang đau khổ, mình hay có khuynh hướng nhìn thấy những điểm tiêu cực của tăng thân và của huynh đệ. Khi ấy, mình nên ý thức đến những cái đẹp đã có sẵn trong đại chúng. Ở Làng Mai, chúng ta đang thật sự có tình huynh đệ. Nếu so sánh tăng thân với những gì đang xảy ra ở ngoài đời, mình sẽ thấy tăng thân thật sự đã quá đẹp. Đây là điều mà con luôn ghi nhớ khi có khó khăn.

Sư chú Trời Đạo Hành (người Hà Lan): Thực tập chấp nhận những gì chưa hay nơi người khác cũng vui lắm. Bởi vì nếu tất cả mọi thứ đều hoàn hảo thì một ngày như mọi ngày, dù mình đang ở thiên đường thì cũng chán lắm. Vì vậy những khác biệt giữa mọi người đem lại nhiều lý thú. Con nghĩ ai cũng có những cái đẹp riêng, cho nên mình cần để tâm đến những cái đẹp hơn là cái chưa đẹp. Nếu con quá để ý tới những gì chưa hay của người khác thì có lẽ chính con mới có quá nhiều những cái chưa hay.

Sư chú Trời Đạo Sinh (người Pháp): Con nghĩ vấn đề của con là làm thế nào để nhận diện sự đòi hỏi của mình đối với người khác. Đây là thực tập chủ yếu của con trong mùa An cư năm nay. Con nhớ có một lần trong gia đình tập sự của chúng con đang có khó khăn, khi ấy, con chỉ thấy những điểm tiêu cực của mọi người mà thôi. Con chia sẻ với Y chỉ sư, cố gắng không nói về các huynh đệ của mình một cách tiêu cực mà chỉ chia sẻ cái thấy của mình. Y chỉ sư của con lập tức nói: “Em biết không, em có một gia đình tập sự rất tuyệt vời, rất hòa điệu và yểm trợ nhau. Chúng ta có thể tin tưởng lẫn nhau.” Ngay khi đó con không thấy mình được lắng nghe và được hiểu. Vài ngày sau, khi sự căng thẳng đã lắng xuống, con thấy hình như Y chỉ sư của mình đã nói đúng, thầy đã cho con một câu trả lời rất hay. Chúng con là một gia đình nói chung khá hòa hợp, tuy lúc xảy ra chuyện thì con khó mà thấy được điều đó. Chỉ khi con bình tĩnh lại, con mới thấy cái hòa hợp, cái đẹp ở đó. Thỉnh thoảng mới có một chút chuyện và điều đó là rất bình thường. Thực tế thì không có gì là như con nghĩ. Tri giác của con và thực tại là hai cái hoàn toàn khác nhau. Sống trong tăng xá, con rất cảm động trước cách sống của quý thầy. Ở đây tình huynh đệ rất mạnh mẽ, rất rõ ràng và rất thật. Dù thực tại không hoàn hảo, nhưng đó là sự liên hệ thật sự giữa con người với con người, từ trái tim đến trái tim. Điều ấy làm cho con dễ đến và chấp nhận mọi người hơn bởi vì chính con cũng có những điểm chưa toàn hảo. Con cần phải luôn luôn ghi nhớ điều này.

BBT: Từ khi đến với tăng thân, có những hình ảnh, những kỷ niệm đẹp nào mà mỗi khi nghĩ đến, các sư em cảm thấy được nuôi dưỡng và được tiếp thêm sức mạnh để đi qua những giai đoạn khó khăn trong đời sống tu học?

Sư chú Trời Đạo Quy: Đó là khi con gọi điện về nhà qua Skype để chia sẻ những niềm vui trong sự tu học của mình với ba mẹ. Con cảm thấy sự có mặt của con ở Làng Mai đã có một ảnh hưởng tích cực đến ba mẹ, dù đó chỉ là những thay đổi nhỏ. Con chưa bao giờ thấy ba mẹ vui như vậy khi nói chuyện và thấy mặt con qua Skype. Con thương ba mẹ con rất nhiều. Tình thương ấy dù vẫn còn có sự vướng mắc và phân biệt, nhưng nó mang lại cho con một nguồn năng lượng lớn trên con đường chuyển hóa. Con ý thức rằng con đang tu cho chính mình và cũng đang tu cho ba mẹ. Ba mẹ và con không phải là những thực thể riêng biệt. Vì ba mẹ, con có thể làm bất cứ việc gì, đây là niềm vui lớn nhất của con khi ở Làng.

Sư chú Trời Đạo Sơn: Một kỷ niệm mà con nghĩ sẽ giúp con đi qua khó khăn là hình ảnh ba mẹ của con trong ngày con được xuất gia. Cho đến tận lúc ấy, con vẫn không thể giải thích để cho ba mẹ, nhất là ba, hiểu được vì sao con lại chọn đời sống xuất gia ở Làng Mai. Trong ngày xuất gia, con nghĩ ba mẹ của con bắt đầu cảm nhận được phần nào cái đẹp của tăng thân như con đã cảm nhận. Con sẽ nhớ mãi hình ảnh ba con ngồi sau lưng con và khóc khi nghe con bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với hai đấng sanh thành trước cả một đại chúng lớn. Con biết khi ấy sự cảm thông đã được thiết lập giữa hai cha con. Ngày hôm ấy đã mở ra một cơ hội tuyệt vời để gia đình con được hàn gắn và trị liệu. Con cảm thấy thật sự bây giờ con đã trở thành một người có thể giúp đỡ được cho ba mẹ, chỉ đơn giản là nhờ lễ xuất gia hôm đó. Hình ảnh ấy và cảm giác ấy sẽ là điều mà con nhớ mãi trong suốt cuộc đời xuất gia của mình.

BBT: Mỗi năm vào dịp Tết, trong ngày mồng Một, đại chúng Làng Mai thường dâng hoa, trà, quả làm phẩm vật cúng dường lên Thầy như là một biểu tượng để bày tỏ lòng biết ơn và hiếu kính của mình đối với Người. Đây là lẵng quả của sự thực tập do gia đình Cây Đan Mộc ở Làng Mai chọn và dâng lên Thầy nhân dịp Tết Nguyên Đán năm nay.

Quả chuối: Đây là loại quả mà sư cô Trăng Tĩnh Mặc đã chọn. Sư cô chia sẻ:

Con thấy mình giống như một con khỉ, cứ chuyền hết cành này sang cành khác để chọn trái chuối nào to và ngọt nhất. Trước khi con biết đến pháp môn thực tập chánh niệm, con luôn tìm kiếm hết cách giải trí này đến cách giải trí khác để thỏa mãn khao khát của mình nhưng con chưa bao giờ thấy thỏa mãn. Khi tham gia một khóa tu do quý thầy, quý sư cô Làng Mai hướng dẫn và tìm ra phương pháp thực tập chánh niệm, con đã thật sự bị đánh động. Trong khóa tu ấy con đã được biết đến quyển sách Ước hẹn với sự sống. Bây giờ thì chú khỉ ấy đã tìm ra được quả chuối lớn nhất và ngọt ngào nhất rồi. Chú khỉ đã dừng lại để thưởng thức nó. Tận đáy lòng con rất biết ơn Thầy vì Thầy đã bỏ nhiều tâm huyết tạo nên những điều kiện thuận lợi để chúng con thực tập và chia sẻ sự thực tập cho người khác. Thầy cũng đã dạy dỗ quý thầy, quý sư cô rất thành công vì con thấy phần lớn quý thầy, quý sư cô thật sự đang làm công việc tiếp nối Thầy rất giỏi.

Quả xoài: Sư chú Trời Đạo Lực đã chọn quả này để dâng lên Thầy.

Con xin dâng lên Thầy trái xoài quê hương. Xoài ngon lắm Thầy ạ. Mình cũng có thể làm bánh tráng xoài nữa, rất tuyệt. Ngày nào con cũng thực tập thiền hành để được đi những bước chân thảnh thơi. Con luôn tác ý là con đi cho những người đang không đi được, trong đó có Thầy, ông Nội con và những người khác nữa. Mỗi lần tác ý như vậy, con thấy trân quý hơn những bước chân của mình. Con nuôi dưỡng bước chân của con như thể là giây tiếp theo con sẽ không đi được. Vì vậy từ lúc đến Làng tới bây giờ, con thích nhất là thời khóa thiền hành. Đi từ xóm Thượng xuống xóm Hạ trong ngày quán niệm cũng vậy, mỗi bước chân, mỗi cái nhìn con thường tác ý đến Thầy. Thỉnh thoảng đi ngang qua Đàn voi của Thầy, con mỉm cười rất hạnh phúc. Con cảm ơn Thầy đã tạo ra một môi trường thực tập tuyệt vời. Qua Làng, con được dạy rằng tăng thân là sự tiếp nối của Thầy nên con tập nhìn thấy Thầy trong mỗi thầy, mỗi sư cô. Con rất hạnh phúc khi có rất nhiều thầy đang ở bên con, có mặt cho con, nuôi dưỡng con. Nhìn thấy sự thực tập vững chãi và thảnh thơi của quý thầy, quý sư cô, con rất được nuôi dưỡng. Con xin cảm ơn nhiều nhiều.

Quả Sầu Riêng: Chúng ta hãy tìm hiểu vì sao sư chú Trời Đạo Quy đã chọn quả sầu riêng dù sư chú biết Thầy không thích loại quả này.

Trái cây con ưa nhất là sầu riêng. Con biết Thầy không thích sầu riêng, nhưng sầu riêng đã được ông bà tổ tiên của con yêu chuộng từ vô lượng kiếp. Cho nên con xin dâng Thầy trái sầu riêng. Thầy có nói: “Ta có là ta, ta mới đẹp”, vậy nên con đang thực tập là chính con. Con nghĩ Thầy sẽ hạnh phúc khi con ưa thích sầu riêng.

Mấy ngày đầu tiên khi mới đến Làng, con nghĩ là mình phải ngồi thiền 12 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Khi có giờ rảnh, mình phải đi thiền hành. Như thế mình sẽ có hạnh phúc. Thế nhưng càng ngày con càng cảm thấy bực bội và không được thảnh thơi. Con hiểu rằng sự cố gắng quá sức chỉ đem lại bực bội cho tâm con, làm con càng ngày càng trạo cử, càng không toại nguyện hơn. Vì vậy con không cảm thấy e ngại khi dâng Thầy trái sầu riêng dù biết là Thầy không thích. Con thấy thoải mái khi mình có sự tự do đó. Cũng như con không cần phải ngồi thiền mỗi ngày 12 tiếng đồng hồ, hoặc cố gắng quá sức. Con chỉ cần có niềm vui và sự thảnh thơi trong khi tu tập, không cần có sự cưỡng ép. Bởi khi con cố ép buộc thì tâm con chạy trốn, nó không muốn ở với con. Khi con thư giãn, không cố gắng một cách mê muội nữa thì sự thực tập lại có tiến bộ, tâm con thích trở lại với thân hơn. Con ý thức là trong khi tu học, mình không nên quá gồng ép, nhưng cũng không nên để buông lung.

Quả cà chua: Sư chú Trời Đạo Hành đã chọn để dâng Thầy.

Con muốn chọn trái chấp nhận. Cuộc sống ở Làng rất khác biệt so với cuộc sống của con ở gia đình, nhưng đây là một sự khác biệt tích cực. Cuộc sống ở Làng Mai rất đa dạng bởi vì mọi người đến đây từ nhiều lứa tuổi, quốc gia và lai lịch khác nhau. Tất cả đều đẹp theo cách riêng của mình. Năm nay con tập chấp nhận mọi người nhiều hơn một chút. Người quan trọng nhất mà con đang tập chấp nhận là chính bản thân con. Những suy nghĩ, cảm thọ, và nhiều cái nữa trong con đang cần sự chấp nhận của con. Con cũng cần học hỏi để chấp nhận những hoàn cảnh, kinh nghiệm mà mình đã trải qua. Con sẽ cố gắng hết sức mình để chăm sóc cho “cây chấp nhận” càng ngày càng lớn và cho nhiều hoa trái. Con biết, trái của cây chấp nhận sẽ rất ngon ngọt và bổ ích trong suốt cuộc đời tu còn lại của con. Chính vì vậy, để chọn một loại quả dâng Thầy, con xin chọn quả cà chua. Vâng, cà chua cũng là một loại quả và nó không cần phải trở thành bất cứ một loại quả nào khác để được chọn dâng Thầy. Xin Thầy từ bi nhận nó.

Quả hồng: Loại quả mà sư chú Trời Đạo Phương dâng lên Thầy.

Trái cây ưa thích của con là hồng. Con rất thích nhìn trái hồng khi còn ở trên cây, nó tô điểm thêm cho sắc màu của mùa thu. Nó nhắc con phải thực tập kiên nhẫn, chờ đợi cho đến khi sẵn sàng cho con thưởng thức. Đôi khi con muốn chạy ra cây hồng, hái một trái ăn liền nhưng rồi con nhớ lại là con phải kiên nhẫn chờ thêm cho đến khi nó thật chín thì trái mới ngon và ngọt.

Trong quá trình tu tập, đôi khi điều duy nhất mà con nghĩ mình nên làm là tưới tẩm hạt giống tốt trong con và chờ đợi. Giống như trái hồng trên cây cần phải hấp thu thêm nước và ánh nắng mặt trời thì mới có thể trở thành một quả hồng chín thơm ngon. Con cũng cần phải làm như thế. Đối với con, sự kiên nhẫn còn có nghĩa là mình không bỏ cuộc giữa chừng, kiên định tiếp bước trên con đường sáng đẹp mà Thầy đã mở lối cho chúng con. Vì vậy con muốn dâng lên Thầy sự kiên nhẫn của con để trong tương lai con có thể trở thành một nhánh khỏe mạnh trên cây tăng thân của Thầy và của đại chúng.

Quả đào: Sư chú Trời Đạo Sơn đã chọn loại quả này để dâng lên Thầy.

Nếu chọn một hoa trái thực tập của mình để dâng Thầy, con xin chọn trái đào của tình huynh đệ. Đây là lợi lạc con được hưởng từ khi bước chân đến Làng. Khi ấy con rất cô đơn, đang quẩn quanh tìm kiếm cho mình một hướng đi. Con đến Làng trong khóa tu mùa Thu, khi Thầy không có mặt ở nhà. Tuy thế, tình huynh đệ mà con cảm nhận được ở Sơn Hạ đã cho con thấy rõ ràng tăng thân và sự thực tập ở đây chính là con đường mà con đang tìm kiếm.

Đến tận bây giờ con vẫn đang tiếp tục thực tập như thế, tiếp tục mở rộng trái tim mình để làm một người anh em, thưởng thức sự có mặt của những người anh, người em khác. Đây là thực tập chủ yếu của con trong suốt thời gian tập sự xuất gia, cũng là nguồn hạnh phúc chính của con, làm cho con càng ngày càng tin tưởng và nương tựa vào huynh đệ, càng cảm thấy đây chính là gia đình mình. Sau khi xuất gia, con chuyển vào sống trong tăng xá với quý thầy. Điều làm con xúc động nhất lại là tình huynh đệ. Trong đại gia đình tâm linh của chúng ta, ai cũng có mặt cho nhau và chấp nhận nhau không điều kiện.

Tình huynh đệ cũng rất ngon ngọt như quả đào, chỉ nhìn thôi cũng đủ thích rồi. Cũng giống như khi nhấm nháp một quả đào, khi nếm được tình huynh đệ con thấy rất ngon lành, mát mẻ và những vết thương trong lòng con được chữa lành. Và, cũng giống như quả đào, sự nhu nhuyến, ngọt ngào của tình huynh đệ giúp ta có thể làm chủ tâm mình để ta có đủ tĩnh lặng, bình ổn và vững chãi. Khi ấy mọi người có thể yểm trợ lẫn nhau và thực sự mở lòng ra với nhau. Tình huynh đệ là động lực giúp con tu học. Tình huynh đệ là hoa trái thực tập quý báu nhất của con. Tình huynh đệ chính là sự thực tập của con.

BBT: Xin cảm ơn các sư em.

                                                              Lễ dẫn thỉnh Cây Đan Mộc tại Làng Mai, Pháp

Nắng ban mai tràn về

Vừa rồi về thăm Học viện EIAB (Học viện Phật học Ứng dụng châu Âu của Làng Mai tại Waldbrol, Đức) nhân dịp lễ Giáng sinh,  một sư cô hỏi con có muốn viết về kỷ niệm lần đầu tiên đến Làng Mai không, rồi sư cô gửi giúp cho. Con cười hì hì từ chối, sợ văn chương không hay mà “lỡ” đâu được đăng thật rồi mọi người đọc thì xấu hổ quá.

Miệng thì nói thế, chứ trong đầu con đã hiện ngay ra bài con viết trong blog sau lần đầu tiên được về Làng, lần đầu tiên con được biết thế nào là hạnh phúc ở đây và trong giây phút này rồi. Và giờ con ngồi gõ những dòng này, mong rằng nếu có bạn nào đó đọc được, cũng sẽ may mắn được biết về Sư Ông, biết về Làng và lối sống chánh niệm đầy hạnh phúc như con lúc này.

Con có duyên lành biết đến Làng Mai qua người bạn tri kỉ. Lúc đó con sang Đức được một năm, vẫn còn buồn bã vì nhớ nhà, lo âu chuyện học hành, chuyện tương lai. Đi du học mà lúc nào cũng chỉ chăm chăm nhắn tin về Việt Nam, trò chuyện với các bạn để bớt cô đơn. Rồi con thấy bạn, sau khi đi khóa tu cho người Việt ở Làng Mai Thái Lan về thì yêu thương, hạnh phúc quá trời, con cũng vui lây. Mỗi lần nghĩ lại con thấy buồn cười lắm, vì con biết đến khóa tu sinh viên ở Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) là do bạn thông báo. Cách nhau hơn 8000 cây số mà bạn còn biết ở Đức có khóa tu sinh viên trước để thúc con đăng kí. Và thế là con đặt vé, bỏ lại hết mọi ngổn ngang dang dở để tìm đường “về nhà”.

Chắc hẳn, ai đến Làng Mai, khi nhìn thấy chiếc biển hiệu nho nhỏ: “Đã về, đã tới” cũng sẽ có cảm giác an tâm, cảm giác được về nhà. Con cũng vậy, và lần đầu tiên thì cảm giác đó lại càng rõ rệt hơn, bởi sau 12 giờ đi lạc tàu, thì thực sự con đã mừng rơi nước mắt khi tìm được đến Học viện! Mọi người chào đón con bằng những nụ cười hiền từ, những cử chỉ dịu dàng và tràn đầy yêu thương. Đêm đó con biết mình đã ngủ bình yên lắm.

“Em cứ đi từ từ thôi, ở đây không cần chạy, không cần vội vã”.

“Con có biết sao đồ ăn ở đây lại ngon không? Vì đồ ăn được nấu bằng tình yêu thương của quý thầy, quý sư cô đó”.

“Em cứ khóc đi. Ở đây không ai đánh giá em, không ai ghét bỏ em, mọi người đều yêu thương em dù em có làm gì”.

Suốt thời gian tham gia khóa tu, con đã được học cách đi lại, cách ăn uống, cách ngồi thiền, học những điều con nghĩ rằng mình đã làm nhuần nhuyễn từ bé mà hóa ra chẳng phải. Cái đứa bé loắt choắt chân lúc nào cũng phải bước nhanh gấp đôi bình thường mới có thể đi ngang hàng với các bạn bây giờ đã có thể tận hưởng những bước chân chậm rãi, thảnh thơi. Và con cũng mê quá trời những món chay ở Học viện, những món chay đã khiến con dũng cảm “chia tay” các loại thịt, quyết định thọ giới không sát sinh. Và chắc cũng chỉ có ở đây, con mới cảm thấy bản thân sống trọn vẹn từng giây phút. Con cứ hay tự hỏi, sao mà năm ngày ở Học viện lâu đến thế, lâu đủ để con được làm quen với bao người dễ thương, để tạo nên bao kỷ niệm, để tự chiêm nghiệm bao điều, để biết và học thêm bao thứ. Miệng con cứ cười hoài …

Trước đây con hay thấy mình cô đơn, con hay buồn lắm; chỉ cứ băn khoăn tìm kiếm xem mình là ai, mình sống để làm gì, mình cống hiến được gì và thay đổi được gì. Rồi có đôi khi lại buồn thiu vì nhận ra xung quanh đầy rẫy nhưng bạo lực, bất công và lừa lọc. Đôi khi cái tính cứng đầu không cho con thỏa hiệp với những bất công, những tiêu cực ấy, mối hoài nghi về những gì chính nghĩa, cao đẹp và tràn đầy yêu thương luôn tồn tại trong con. Nhưng khi được “về nhà”, được nghe pháp thoại của quý thầy quý sư cô, con thật sự đã vỡ òa, thật sự rất hạnh phúc vì đã tìm thấy niềm tin, thấy không còn cô đơn trên bước đường này, lối suy nghĩ này! Giống như cái cảm giác đang quờ quạng trong đêm tối thì ánh nắng ban mai tràn về, như ngụp sâu dưới nước được kéo lên để hớp đầy một ngụm khí vậy đó.

Trong bài giảng về ý nghĩa cuộc sống, thầy Pháp Thiên có nói một câu: “Không phải được sống có ích, được giúp người khác là  cao đẹp nhất, mà cái đích cần đến chính là sự tĩnh tại trong tâm hồn, là biết dựa vào chính mình để tìm thấy bình yên. Mình không hạnh phúc sao có thể giúp người khác hạnh phúc?” Con ngẫm mà thấy đúng quá! Con cũng vẫn biết luôn có những người làm nhiều việc cho người khác nhưng bản thân vẫn băn khoăn, vẫn muộn phiền, vẫn không thực sự vui. Mọi người đuổi theo nghĩa cử cao đẹp, đuổi theo an nhiên thanh thản nhưng chính trong  khi đó lại đánh mất sự thanh thản cao đẹp”.

”Không có con đường đi đến hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường” (“There is no way to happiness, happiness is the way”)

Con ngẫm rồi nghĩ đến Chấu, nghĩ đến mình, nghĩ đến những anh chị ở đây, và những người trẻ khác chắc cũng đã tìm thấy niềm tin nơi Sư Ông, nơi đạo Bụt. Con thấy rạo rực quá, con thấy hạnh phúc ghê lắm. Đó là phần con đã không biết, là phần nhựa sống chuyển mình dưới lớp vỏ khô ráp, tràn trề, là nội lực, đẹp như thế mà bấy lâu nay con không hề cảm nhận được. Hóa ra trên thế giới còn thật nhiều yêu thương, yêu thương người và yêu thương nguồn cội. Con thấy không còn cô đơn nữa, vì con thuộc về một tập thể, một gia đình, cùng hòa chung trong không khí đó, cùng chuyển mình tốt đẹp hơn.

Con cũng đã rưng rưng khi nghe sư cô Trăng Sáng Soi trả lời câu hỏi trong thời khóa vấn đáp: “Trong mỗi con người đều có hạt giống thiện lương, hạt giống tích cực. Nếu nó được tưới tắm bởi tình thương, bởi những hành động tốt đẹp, bởi những người xung quanh thì chắc chắn nó sẽ nảy mầm, chắc chắn sẽ đẹp. Khi bản thân có những bi quan sầu muộn, làm sao có thể nuôi dưỡng người khác. Một ly nước nhỏ sao có thể chứa nổi dòng sông. Đừng cố lo lắng xa xôi mà hãy tin rằng thế giới này sẽ tốt đẹp hơn, đẹp hơn khi được nuôi dưỡng bởi tình yêu thương…”

Ấy thế mà đã mấy tháng trôi qua. Lần thứ hai con về Học viện, đã không còn bỡ ngỡ nữa, đã nhớ được tên quý thầy, quý sư cô, quen với lối sinh hoạt trong chánh niệm của mọi người. Con nhớ trước ngày về, người ta đếm ngược ngày đến lễ Giáng sinh, còn con đếm ngược ngày để được trở về nhà, về với những phút giây an nhiên, bình lặng. Và trên chuyến bus 530 dài một tiếng ấy, con lại dè sẻn nhớ lại những kỉ niệm đáng yêu lần đầu về Học viện, những kỷ niệm sưởi ấm con trong những giây phút khó khăn và cổ vũ con cố gắng trong những ngày qua. Con biết mình đang sống có ý nghĩa.

“Cảm ơn Sư Ông đã giúp con cảm nhận được tình thương bao la, cảm ơn quý thầy, quý sư cô đã giúp con hiểu, cảm ơn gia đình luôn bảo vệ con, cảm ơn bạn bè luôn ở bên con, cảm ơn vì con được sống và cảm nhận cuộc đời xinh đẹp này. Con thấy hạnh phúc quá!!”

(Tâm Viên Từ)