Khoá tu nấu ăn 2016, từ ngày 5-12/8 tại xóm Mới, Làng Mai

Phỏng vấn Cây Đan Mộc

Ngày 01.12.2015, tại Làng Mai đã diễn ra lễ xuất gia của gia đình Cây Đan Mộc (Red Wood), 10 em được xuất gia tại Làng và 9 em được xuất gia tại Thái Lan. Sau lễ xuất gia, BBT đã có một buổi ngồi chơi với 8 cây Đan Mộc tại Làng (hôm ấy có hai cây Đan Mộc bận… nấu ăn). Đến từ nhiều quốc gia khác nhau: Ái Nhĩ Lan, Ý, Hòa Lan, Pháp, Úc, Đức, Indonesia và Việt Nam, không hẹn mà gặp, những người trẻ chung lý tưởng này đã tìm về dưới mái nhà tâm linh để cùng đi trên con đường của hiểu biết và thương yêu. BBT xin được chia sẻ nội dung buổi trò chuyện.

BBT: Các sư em cảm thấy như thế nào khi Thầy không được khỏe và không có mặt ở Làng gần như trong suốt thời gian các sư em tập sự xuất gia? Sự vắng mặt của Thầy có ảnh hưởng gì đến sự thực tập hay chí nguyện của các sư em không?

Sư chú Trời Đạo Lực (người Việt): Ngày con lên máy bay để sang Pháp, các bạn trong Gia đình Phật tử đã hỏi con một câu tương tự. Khi đó con trả lời vui là Bụt đã tịch hơn 2600 năm rồi mà người ta vẫn phát tâm thực tập những lời Bụt dạy. Tại vì giáo nghĩa Bụt dạy rất cụ thể và phù hợp với mọi người. Trong lòng con thầm nghĩ: Thầy đã trao truyền rất nhiều pháp môn để tu học, vì vậy khi xuất gia, mình nương tựa vào pháp môn và vào pháp thân của Thầy để thực tập. Những lời Thầy dạy rất thực tế và phù hợp với xã hội hiện nay. Con đến Làng đúng vào lễ Tự tứ kết thúc mùa An cư kết Đông năm 2014 – 2015. Đó là lần đầu tiên con nghe nói đến “Tăng thân là sự tiếp nối của Thầy”. Con thấy đó là sự thật, bởi vì trong một năm con ở đây, con không chỉ học hỏi rất nhiều từ Thầy mà còn từ đại chúng. Vì vậy con không lo lắng lắm khi Thầy không có mặt trực tiếp để chỉ dạy cho chúng con.

Sư cô Trăng Tĩnh Mặc (người Indonesia): Thực sự, khi đến Làng, con chưa biết nhiều về Thầy, cũng chưa đọc nhiều sách của Thầy. Con thấy Làng Mai qua quý thầy, quý sư cô từ trung tâm Làng Mai Thái Lan đến Indonesia để hướng dẫn khóa tu. Lần đầu tiên tiếp xúc với quý thầy, quý sư cô, con đã có nhiều cảm mến. Tuy con không biết Thầy là ai, nhưng nhìn quý thầy, quý sư cô, con thấy rất muốn được tham dự vào tăng đoàn. Khi quyết định đến Làng, con nghe nói Thầy bị bệnh. Ở Indonesia, người ta còn đồn là Thầy đã viên tịch. Nghe tin đó, con buồn lắm. Tuy thế con không lấy đó làm trở ngại, bởi vì con muốn gặp tăng thân. Ở Indonesia, có được một tăng đoàn đông đảo như tăng đoàn Làng Mai là rất hiếm. Vì vậy con đến đây không phải vì Thầy mà vì sự tiếp nối của Thầy. Quý thầy, quý sư cô trong chuyến hoằng pháp tại Indonesia là những người rất đẹp, rất vui tươi và đã tạo cho con rất nhiều cảm hứng.

Sư chú Trời Đạo Sơn (người Pháp): Khi con tới Làng Mai lần đầu vào tháng 10 năm 2014, Thầy không có mặt ở Làng. Lúc đó con ở Sơn Hạ và hoàn toàn chưa biết gì về Làng Mai. Lần đầu tiên tiếp xúc với tăng thân, con đã bị tăng thân chinh phục. Vì thế con không bị ảnh hưởng nhiều khi nghe tin Thầy bệnh nặng, thậm chí có thể viên tịch. Khi đó đang là mùa An cư kết Đông, có khoảng 60 vị cư sĩ nam đến an cư suốt ba tháng tại xóm Thượng. Đại chúng không có chọn lựa nào khác là phải tiếp tục đi tới dù cho bất cứ chuyện gì có thể sẽ xảy ra với Thầy, khi ấy ai cũng nương vào nội lực của mình để đóng góp cho đại chúng. Mỗi tuần đều có tin về Thầy nhưng vẫn không thể biết là chuyện gì sẽ đến. Đại chúng chỉ có thể lên kế hoạch cho từng tuần một. Quý thầy, quý sư cô và tất cả thiền sinh ai cũng thực tập hết lòng để yểm trợ tăng thân và để tiếp nối Thầy, để tăng thân vẫn tiếp tục đi tới. Con rất cảm động khi thấy điều này. Mỗi lần nhớ lại, con đều thấy có nhiều cảm hứng. Chúng ta cứ tiếp tục đi tới thôi. Thầy đã lớn tuổi. Dù sau này Thầy có bình phục, chúng ta vẫn phải tiếp tục thôi. Giờ đây con là một sư chú trẻ, con đã trở thành một thành phần của sức mạnh đi tới đó.

BBT: Chấp nhận là chìa khóa của sự thành công khi sống trong tăng thân. Các sư em thực tập như thế nào để chấp nhận những gì chưa hoàn hảo, những khác biệt và đa dạng về văn hóa trong tăng thân?

Sư chú Trời Đạo Quy (người Úc gốc Việt): Trước khi đến Làng Mai con có xem pháp thoại của Thầy trên Youtube và một số video clip giới thiệu về Làng. Khi nhìn thấy Thầy và hình ảnh rất đẹp của mùa xuân, con nghĩ là người làm phim đã chọn những hình ảnh đẹp nhất để trình bày. Khi con mới tới Làng và chạm với thực tại, con nhận ra rằng những tri giác mà con có về Làng chỉ là qua các video clip. Con chưa thực sự hiểu về tăng thân. Cách mà con đối trị với những gì chưa hay trong tăng thân là đi vào phòng và… đấm vào bao cát (cười). Con nói đùa vậy thôi chứ thật sự càng sống và thực tập lâu trong đại chúng, con càng thấy vui hơn, thấy những điểm hay, điểm đẹp của đại chúng nhiều hơn. Con vẫn còn thấy những khiếm khuyết, tuy nhiên những cái đó không làm con kém vui hay đánh mất mình. Những lúc con thực tập không giỏi, không đối trị được với những khó khăn từ trong lòng mình là những lúc con nhìn ra ngoài và chỉ thấy những điều tiêu cực rồi khởi tâm bực bội. Khi đó con quay trở lại chính mình, đi theo thời khóa, không tách mình ra khỏi sinh hoạt của đại chúng để nuôi dưỡng chính con. Ba sự thực tập căn bản giúp con là hơi thở, bước chân và ăn trong chánh niệm.

Sư chú Trời Đạo Phương (người Ý): Con nghĩ khi mình có một tâm bồ đề thật sự mạnh mẽ thì nó sẽ giúp mình vượt thắng những khó khăn. Thầy Kai Li có nói rằng khi mình đang đau khổ, mình hay có khuynh hướng nhìn thấy những điểm tiêu cực của tăng thân và của huynh đệ. Khi ấy, mình nên ý thức đến những cái đẹp đã có sẵn trong đại chúng. Ở Làng Mai, chúng ta đang thật sự có tình huynh đệ. Nếu so sánh tăng thân với những gì đang xảy ra ở ngoài đời, mình sẽ thấy tăng thân thật sự đã quá đẹp. Đây là điều mà con luôn ghi nhớ khi có khó khăn.

Sư chú Trời Đạo Hành (người Hà Lan): Thực tập chấp nhận những gì chưa hay nơi người khác cũng vui lắm. Bởi vì nếu tất cả mọi thứ đều hoàn hảo thì một ngày như mọi ngày, dù mình đang ở thiên đường thì cũng chán lắm. Vì vậy những khác biệt giữa mọi người đem lại nhiều lý thú. Con nghĩ ai cũng có những cái đẹp riêng, cho nên mình cần để tâm đến những cái đẹp hơn là cái chưa đẹp. Nếu con quá để ý tới những gì chưa hay của người khác thì có lẽ chính con mới có quá nhiều những cái chưa hay.

Sư chú Trời Đạo Sinh (người Pháp): Con nghĩ vấn đề của con là làm thế nào để nhận diện sự đòi hỏi của mình đối với người khác. Đây là thực tập chủ yếu của con trong mùa An cư năm nay. Con nhớ có một lần trong gia đình tập sự của chúng con đang có khó khăn, khi ấy, con chỉ thấy những điểm tiêu cực của mọi người mà thôi. Con chia sẻ với Y chỉ sư, cố gắng không nói về các huynh đệ của mình một cách tiêu cực mà chỉ chia sẻ cái thấy của mình. Y chỉ sư của con lập tức nói: “Em biết không, em có một gia đình tập sự rất tuyệt vời, rất hòa điệu và yểm trợ nhau. Chúng ta có thể tin tưởng lẫn nhau.” Ngay khi đó con không thấy mình được lắng nghe và được hiểu. Vài ngày sau, khi sự căng thẳng đã lắng xuống, con thấy hình như Y chỉ sư của mình đã nói đúng, thầy đã cho con một câu trả lời rất hay. Chúng con là một gia đình nói chung khá hòa hợp, tuy lúc xảy ra chuyện thì con khó mà thấy được điều đó. Chỉ khi con bình tĩnh lại, con mới thấy cái hòa hợp, cái đẹp ở đó. Thỉnh thoảng mới có một chút chuyện và điều đó là rất bình thường. Thực tế thì không có gì là như con nghĩ. Tri giác của con và thực tại là hai cái hoàn toàn khác nhau. Sống trong tăng xá, con rất cảm động trước cách sống của quý thầy. Ở đây tình huynh đệ rất mạnh mẽ, rất rõ ràng và rất thật. Dù thực tại không hoàn hảo, nhưng đó là sự liên hệ thật sự giữa con người với con người, từ trái tim đến trái tim. Điều ấy làm cho con dễ đến và chấp nhận mọi người hơn bởi vì chính con cũng có những điểm chưa toàn hảo. Con cần phải luôn luôn ghi nhớ điều này.

BBT: Từ khi đến với tăng thân, có những hình ảnh, những kỷ niệm đẹp nào mà mỗi khi nghĩ đến, các sư em cảm thấy được nuôi dưỡng và được tiếp thêm sức mạnh để đi qua những giai đoạn khó khăn trong đời sống tu học?

Sư chú Trời Đạo Quy: Đó là khi con gọi điện về nhà qua Skype để chia sẻ những niềm vui trong sự tu học của mình với ba mẹ. Con cảm thấy sự có mặt của con ở Làng Mai đã có một ảnh hưởng tích cực đến ba mẹ, dù đó chỉ là những thay đổi nhỏ. Con chưa bao giờ thấy ba mẹ vui như vậy khi nói chuyện và thấy mặt con qua Skype. Con thương ba mẹ con rất nhiều. Tình thương ấy dù vẫn còn có sự vướng mắc và phân biệt, nhưng nó mang lại cho con một nguồn năng lượng lớn trên con đường chuyển hóa. Con ý thức rằng con đang tu cho chính mình và cũng đang tu cho ba mẹ. Ba mẹ và con không phải là những thực thể riêng biệt. Vì ba mẹ, con có thể làm bất cứ việc gì, đây là niềm vui lớn nhất của con khi ở Làng.

Sư chú Trời Đạo Sơn: Một kỷ niệm mà con nghĩ sẽ giúp con đi qua khó khăn là hình ảnh ba mẹ của con trong ngày con được xuất gia. Cho đến tận lúc ấy, con vẫn không thể giải thích để cho ba mẹ, nhất là ba, hiểu được vì sao con lại chọn đời sống xuất gia ở Làng Mai. Trong ngày xuất gia, con nghĩ ba mẹ của con bắt đầu cảm nhận được phần nào cái đẹp của tăng thân như con đã cảm nhận. Con sẽ nhớ mãi hình ảnh ba con ngồi sau lưng con và khóc khi nghe con bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với hai đấng sanh thành trước cả một đại chúng lớn. Con biết khi ấy sự cảm thông đã được thiết lập giữa hai cha con. Ngày hôm ấy đã mở ra một cơ hội tuyệt vời để gia đình con được hàn gắn và trị liệu. Con cảm thấy thật sự bây giờ con đã trở thành một người có thể giúp đỡ được cho ba mẹ, chỉ đơn giản là nhờ lễ xuất gia hôm đó. Hình ảnh ấy và cảm giác ấy sẽ là điều mà con nhớ mãi trong suốt cuộc đời xuất gia của mình.

BBT: Mỗi năm vào dịp Tết, trong ngày mồng Một, đại chúng Làng Mai thường dâng hoa, trà, quả làm phẩm vật cúng dường lên Thầy như là một biểu tượng để bày tỏ lòng biết ơn và hiếu kính của mình đối với Người. Đây là lẵng quả của sự thực tập do gia đình Cây Đan Mộc ở Làng Mai chọn và dâng lên Thầy nhân dịp Tết Nguyên Đán năm nay.

Quả chuối: Đây là loại quả mà sư cô Trăng Tĩnh Mặc đã chọn. Sư cô chia sẻ:

Con thấy mình giống như một con khỉ, cứ chuyền hết cành này sang cành khác để chọn trái chuối nào to và ngọt nhất. Trước khi con biết đến pháp môn thực tập chánh niệm, con luôn tìm kiếm hết cách giải trí này đến cách giải trí khác để thỏa mãn khao khát của mình nhưng con chưa bao giờ thấy thỏa mãn. Khi tham gia một khóa tu do quý thầy, quý sư cô Làng Mai hướng dẫn và tìm ra phương pháp thực tập chánh niệm, con đã thật sự bị đánh động. Trong khóa tu ấy con đã được biết đến quyển sách Ước hẹn với sự sống. Bây giờ thì chú khỉ ấy đã tìm ra được quả chuối lớn nhất và ngọt ngào nhất rồi. Chú khỉ đã dừng lại để thưởng thức nó. Tận đáy lòng con rất biết ơn Thầy vì Thầy đã bỏ nhiều tâm huyết tạo nên những điều kiện thuận lợi để chúng con thực tập và chia sẻ sự thực tập cho người khác. Thầy cũng đã dạy dỗ quý thầy, quý sư cô rất thành công vì con thấy phần lớn quý thầy, quý sư cô thật sự đang làm công việc tiếp nối Thầy rất giỏi.

Quả xoài: Sư chú Trời Đạo Lực đã chọn quả này để dâng lên Thầy.

Con xin dâng lên Thầy trái xoài quê hương. Xoài ngon lắm Thầy ạ. Mình cũng có thể làm bánh tráng xoài nữa, rất tuyệt. Ngày nào con cũng thực tập thiền hành để được đi những bước chân thảnh thơi. Con luôn tác ý là con đi cho những người đang không đi được, trong đó có Thầy, ông Nội con và những người khác nữa. Mỗi lần tác ý như vậy, con thấy trân quý hơn những bước chân của mình. Con nuôi dưỡng bước chân của con như thể là giây tiếp theo con sẽ không đi được. Vì vậy từ lúc đến Làng tới bây giờ, con thích nhất là thời khóa thiền hành. Đi từ xóm Thượng xuống xóm Hạ trong ngày quán niệm cũng vậy, mỗi bước chân, mỗi cái nhìn con thường tác ý đến Thầy. Thỉnh thoảng đi ngang qua Đàn voi của Thầy, con mỉm cười rất hạnh phúc. Con cảm ơn Thầy đã tạo ra một môi trường thực tập tuyệt vời. Qua Làng, con được dạy rằng tăng thân là sự tiếp nối của Thầy nên con tập nhìn thấy Thầy trong mỗi thầy, mỗi sư cô. Con rất hạnh phúc khi có rất nhiều thầy đang ở bên con, có mặt cho con, nuôi dưỡng con. Nhìn thấy sự thực tập vững chãi và thảnh thơi của quý thầy, quý sư cô, con rất được nuôi dưỡng. Con xin cảm ơn nhiều nhiều.

Quả Sầu Riêng: Chúng ta hãy tìm hiểu vì sao sư chú Trời Đạo Quy đã chọn quả sầu riêng dù sư chú biết Thầy không thích loại quả này.

Trái cây con ưa nhất là sầu riêng. Con biết Thầy không thích sầu riêng, nhưng sầu riêng đã được ông bà tổ tiên của con yêu chuộng từ vô lượng kiếp. Cho nên con xin dâng Thầy trái sầu riêng. Thầy có nói: “Ta có là ta, ta mới đẹp”, vậy nên con đang thực tập là chính con. Con nghĩ Thầy sẽ hạnh phúc khi con ưa thích sầu riêng.

Mấy ngày đầu tiên khi mới đến Làng, con nghĩ là mình phải ngồi thiền 12 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Khi có giờ rảnh, mình phải đi thiền hành. Như thế mình sẽ có hạnh phúc. Thế nhưng càng ngày con càng cảm thấy bực bội và không được thảnh thơi. Con hiểu rằng sự cố gắng quá sức chỉ đem lại bực bội cho tâm con, làm con càng ngày càng trạo cử, càng không toại nguyện hơn. Vì vậy con không cảm thấy e ngại khi dâng Thầy trái sầu riêng dù biết là Thầy không thích. Con thấy thoải mái khi mình có sự tự do đó. Cũng như con không cần phải ngồi thiền mỗi ngày 12 tiếng đồng hồ, hoặc cố gắng quá sức. Con chỉ cần có niềm vui và sự thảnh thơi trong khi tu tập, không cần có sự cưỡng ép. Bởi khi con cố ép buộc thì tâm con chạy trốn, nó không muốn ở với con. Khi con thư giãn, không cố gắng một cách mê muội nữa thì sự thực tập lại có tiến bộ, tâm con thích trở lại với thân hơn. Con ý thức là trong khi tu học, mình không nên quá gồng ép, nhưng cũng không nên để buông lung.

Quả cà chua: Sư chú Trời Đạo Hành đã chọn để dâng Thầy.

Con muốn chọn trái chấp nhận. Cuộc sống ở Làng rất khác biệt so với cuộc sống của con ở gia đình, nhưng đây là một sự khác biệt tích cực. Cuộc sống ở Làng Mai rất đa dạng bởi vì mọi người đến đây từ nhiều lứa tuổi, quốc gia và lai lịch khác nhau. Tất cả đều đẹp theo cách riêng của mình. Năm nay con tập chấp nhận mọi người nhiều hơn một chút. Người quan trọng nhất mà con đang tập chấp nhận là chính bản thân con. Những suy nghĩ, cảm thọ, và nhiều cái nữa trong con đang cần sự chấp nhận của con. Con cũng cần học hỏi để chấp nhận những hoàn cảnh, kinh nghiệm mà mình đã trải qua. Con sẽ cố gắng hết sức mình để chăm sóc cho “cây chấp nhận” càng ngày càng lớn và cho nhiều hoa trái. Con biết, trái của cây chấp nhận sẽ rất ngon ngọt và bổ ích trong suốt cuộc đời tu còn lại của con. Chính vì vậy, để chọn một loại quả dâng Thầy, con xin chọn quả cà chua. Vâng, cà chua cũng là một loại quả và nó không cần phải trở thành bất cứ một loại quả nào khác để được chọn dâng Thầy. Xin Thầy từ bi nhận nó.

Quả hồng: Loại quả mà sư chú Trời Đạo Phương dâng lên Thầy.

Trái cây ưa thích của con là hồng. Con rất thích nhìn trái hồng khi còn ở trên cây, nó tô điểm thêm cho sắc màu của mùa thu. Nó nhắc con phải thực tập kiên nhẫn, chờ đợi cho đến khi sẵn sàng cho con thưởng thức. Đôi khi con muốn chạy ra cây hồng, hái một trái ăn liền nhưng rồi con nhớ lại là con phải kiên nhẫn chờ thêm cho đến khi nó thật chín thì trái mới ngon và ngọt.

Trong quá trình tu tập, đôi khi điều duy nhất mà con nghĩ mình nên làm là tưới tẩm hạt giống tốt trong con và chờ đợi. Giống như trái hồng trên cây cần phải hấp thu thêm nước và ánh nắng mặt trời thì mới có thể trở thành một quả hồng chín thơm ngon. Con cũng cần phải làm như thế. Đối với con, sự kiên nhẫn còn có nghĩa là mình không bỏ cuộc giữa chừng, kiên định tiếp bước trên con đường sáng đẹp mà Thầy đã mở lối cho chúng con. Vì vậy con muốn dâng lên Thầy sự kiên nhẫn của con để trong tương lai con có thể trở thành một nhánh khỏe mạnh trên cây tăng thân của Thầy và của đại chúng.

Quả đào: Sư chú Trời Đạo Sơn đã chọn loại quả này để dâng lên Thầy.

Nếu chọn một hoa trái thực tập của mình để dâng Thầy, con xin chọn trái đào của tình huynh đệ. Đây là lợi lạc con được hưởng từ khi bước chân đến Làng. Khi ấy con rất cô đơn, đang quẩn quanh tìm kiếm cho mình một hướng đi. Con đến Làng trong khóa tu mùa Thu, khi Thầy không có mặt ở nhà. Tuy thế, tình huynh đệ mà con cảm nhận được ở Sơn Hạ đã cho con thấy rõ ràng tăng thân và sự thực tập ở đây chính là con đường mà con đang tìm kiếm.

Đến tận bây giờ con vẫn đang tiếp tục thực tập như thế, tiếp tục mở rộng trái tim mình để làm một người anh em, thưởng thức sự có mặt của những người anh, người em khác. Đây là thực tập chủ yếu của con trong suốt thời gian tập sự xuất gia, cũng là nguồn hạnh phúc chính của con, làm cho con càng ngày càng tin tưởng và nương tựa vào huynh đệ, càng cảm thấy đây chính là gia đình mình. Sau khi xuất gia, con chuyển vào sống trong tăng xá với quý thầy. Điều làm con xúc động nhất lại là tình huynh đệ. Trong đại gia đình tâm linh của chúng ta, ai cũng có mặt cho nhau và chấp nhận nhau không điều kiện.

Tình huynh đệ cũng rất ngon ngọt như quả đào, chỉ nhìn thôi cũng đủ thích rồi. Cũng giống như khi nhấm nháp một quả đào, khi nếm được tình huynh đệ con thấy rất ngon lành, mát mẻ và những vết thương trong lòng con được chữa lành. Và, cũng giống như quả đào, sự nhu nhuyến, ngọt ngào của tình huynh đệ giúp ta có thể làm chủ tâm mình để ta có đủ tĩnh lặng, bình ổn và vững chãi. Khi ấy mọi người có thể yểm trợ lẫn nhau và thực sự mở lòng ra với nhau. Tình huynh đệ là động lực giúp con tu học. Tình huynh đệ là hoa trái thực tập quý báu nhất của con. Tình huynh đệ chính là sự thực tập của con.

BBT: Xin cảm ơn các sư em.

                                                              Lễ dẫn thỉnh Cây Đan Mộc tại Làng Mai, Pháp

Nắng ban mai tràn về

Vừa rồi về thăm Học viện EIAB (Học viện Phật học Ứng dụng châu Âu của Làng Mai tại Waldbrol, Đức) nhân dịp lễ Giáng sinh,  một sư cô hỏi con có muốn viết về kỷ niệm lần đầu tiên đến Làng Mai không, rồi sư cô gửi giúp cho. Con cười hì hì từ chối, sợ văn chương không hay mà “lỡ” đâu được đăng thật rồi mọi người đọc thì xấu hổ quá.

Miệng thì nói thế, chứ trong đầu con đã hiện ngay ra bài con viết trong blog sau lần đầu tiên được về Làng, lần đầu tiên con được biết thế nào là hạnh phúc ở đây và trong giây phút này rồi. Và giờ con ngồi gõ những dòng này, mong rằng nếu có bạn nào đó đọc được, cũng sẽ may mắn được biết về Sư Ông, biết về Làng và lối sống chánh niệm đầy hạnh phúc như con lúc này.

Con có duyên lành biết đến Làng Mai qua người bạn tri kỉ. Lúc đó con sang Đức được một năm, vẫn còn buồn bã vì nhớ nhà, lo âu chuyện học hành, chuyện tương lai. Đi du học mà lúc nào cũng chỉ chăm chăm nhắn tin về Việt Nam, trò chuyện với các bạn để bớt cô đơn. Rồi con thấy bạn, sau khi đi khóa tu cho người Việt ở Làng Mai Thái Lan về thì yêu thương, hạnh phúc quá trời, con cũng vui lây. Mỗi lần nghĩ lại con thấy buồn cười lắm, vì con biết đến khóa tu sinh viên ở Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) là do bạn thông báo. Cách nhau hơn 8000 cây số mà bạn còn biết ở Đức có khóa tu sinh viên trước để thúc con đăng kí. Và thế là con đặt vé, bỏ lại hết mọi ngổn ngang dang dở để tìm đường “về nhà”.

Chắc hẳn, ai đến Làng Mai, khi nhìn thấy chiếc biển hiệu nho nhỏ: “Đã về, đã tới” cũng sẽ có cảm giác an tâm, cảm giác được về nhà. Con cũng vậy, và lần đầu tiên thì cảm giác đó lại càng rõ rệt hơn, bởi sau 12 giờ đi lạc tàu, thì thực sự con đã mừng rơi nước mắt khi tìm được đến Học viện! Mọi người chào đón con bằng những nụ cười hiền từ, những cử chỉ dịu dàng và tràn đầy yêu thương. Đêm đó con biết mình đã ngủ bình yên lắm.

“Em cứ đi từ từ thôi, ở đây không cần chạy, không cần vội vã”.

“Con có biết sao đồ ăn ở đây lại ngon không? Vì đồ ăn được nấu bằng tình yêu thương của quý thầy, quý sư cô đó”.

“Em cứ khóc đi. Ở đây không ai đánh giá em, không ai ghét bỏ em, mọi người đều yêu thương em dù em có làm gì”.

Suốt thời gian tham gia khóa tu, con đã được học cách đi lại, cách ăn uống, cách ngồi thiền, học những điều con nghĩ rằng mình đã làm nhuần nhuyễn từ bé mà hóa ra chẳng phải. Cái đứa bé loắt choắt chân lúc nào cũng phải bước nhanh gấp đôi bình thường mới có thể đi ngang hàng với các bạn bây giờ đã có thể tận hưởng những bước chân chậm rãi, thảnh thơi. Và con cũng mê quá trời những món chay ở Học viện, những món chay đã khiến con dũng cảm “chia tay” các loại thịt, quyết định thọ giới không sát sinh. Và chắc cũng chỉ có ở đây, con mới cảm thấy bản thân sống trọn vẹn từng giây phút. Con cứ hay tự hỏi, sao mà năm ngày ở Học viện lâu đến thế, lâu đủ để con được làm quen với bao người dễ thương, để tạo nên bao kỷ niệm, để tự chiêm nghiệm bao điều, để biết và học thêm bao thứ. Miệng con cứ cười hoài …

Trước đây con hay thấy mình cô đơn, con hay buồn lắm; chỉ cứ băn khoăn tìm kiếm xem mình là ai, mình sống để làm gì, mình cống hiến được gì và thay đổi được gì. Rồi có đôi khi lại buồn thiu vì nhận ra xung quanh đầy rẫy nhưng bạo lực, bất công và lừa lọc. Đôi khi cái tính cứng đầu không cho con thỏa hiệp với những bất công, những tiêu cực ấy, mối hoài nghi về những gì chính nghĩa, cao đẹp và tràn đầy yêu thương luôn tồn tại trong con. Nhưng khi được “về nhà”, được nghe pháp thoại của quý thầy quý sư cô, con thật sự đã vỡ òa, thật sự rất hạnh phúc vì đã tìm thấy niềm tin, thấy không còn cô đơn trên bước đường này, lối suy nghĩ này! Giống như cái cảm giác đang quờ quạng trong đêm tối thì ánh nắng ban mai tràn về, như ngụp sâu dưới nước được kéo lên để hớp đầy một ngụm khí vậy đó.

Trong bài giảng về ý nghĩa cuộc sống, thầy Pháp Thiên có nói một câu: “Không phải được sống có ích, được giúp người khác là  cao đẹp nhất, mà cái đích cần đến chính là sự tĩnh tại trong tâm hồn, là biết dựa vào chính mình để tìm thấy bình yên. Mình không hạnh phúc sao có thể giúp người khác hạnh phúc?” Con ngẫm mà thấy đúng quá! Con cũng vẫn biết luôn có những người làm nhiều việc cho người khác nhưng bản thân vẫn băn khoăn, vẫn muộn phiền, vẫn không thực sự vui. Mọi người đuổi theo nghĩa cử cao đẹp, đuổi theo an nhiên thanh thản nhưng chính trong  khi đó lại đánh mất sự thanh thản cao đẹp”.

”Không có con đường đi đến hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường” (“There is no way to happiness, happiness is the way”)

Con ngẫm rồi nghĩ đến Chấu, nghĩ đến mình, nghĩ đến những anh chị ở đây, và những người trẻ khác chắc cũng đã tìm thấy niềm tin nơi Sư Ông, nơi đạo Bụt. Con thấy rạo rực quá, con thấy hạnh phúc ghê lắm. Đó là phần con đã không biết, là phần nhựa sống chuyển mình dưới lớp vỏ khô ráp, tràn trề, là nội lực, đẹp như thế mà bấy lâu nay con không hề cảm nhận được. Hóa ra trên thế giới còn thật nhiều yêu thương, yêu thương người và yêu thương nguồn cội. Con thấy không còn cô đơn nữa, vì con thuộc về một tập thể, một gia đình, cùng hòa chung trong không khí đó, cùng chuyển mình tốt đẹp hơn.

Con cũng đã rưng rưng khi nghe sư cô Trăng Sáng Soi trả lời câu hỏi trong thời khóa vấn đáp: “Trong mỗi con người đều có hạt giống thiện lương, hạt giống tích cực. Nếu nó được tưới tắm bởi tình thương, bởi những hành động tốt đẹp, bởi những người xung quanh thì chắc chắn nó sẽ nảy mầm, chắc chắn sẽ đẹp. Khi bản thân có những bi quan sầu muộn, làm sao có thể nuôi dưỡng người khác. Một ly nước nhỏ sao có thể chứa nổi dòng sông. Đừng cố lo lắng xa xôi mà hãy tin rằng thế giới này sẽ tốt đẹp hơn, đẹp hơn khi được nuôi dưỡng bởi tình yêu thương…”

Ấy thế mà đã mấy tháng trôi qua. Lần thứ hai con về Học viện, đã không còn bỡ ngỡ nữa, đã nhớ được tên quý thầy, quý sư cô, quen với lối sinh hoạt trong chánh niệm của mọi người. Con nhớ trước ngày về, người ta đếm ngược ngày đến lễ Giáng sinh, còn con đếm ngược ngày để được trở về nhà, về với những phút giây an nhiên, bình lặng. Và trên chuyến bus 530 dài một tiếng ấy, con lại dè sẻn nhớ lại những kỉ niệm đáng yêu lần đầu về Học viện, những kỷ niệm sưởi ấm con trong những giây phút khó khăn và cổ vũ con cố gắng trong những ngày qua. Con biết mình đang sống có ý nghĩa.

“Cảm ơn Sư Ông đã giúp con cảm nhận được tình thương bao la, cảm ơn quý thầy, quý sư cô đã giúp con hiểu, cảm ơn gia đình luôn bảo vệ con, cảm ơn bạn bè luôn ở bên con, cảm ơn vì con được sống và cảm nhận cuộc đời xinh đẹp này. Con thấy hạnh phúc quá!!”

(Tâm Viên Từ)

Có một mùa đông không lạnh

Vài hôm trước trời có nắng ấm, rồi sau đó liên tiếp mấy ngày mưa rét. Sáng nay, 5h15’, vừa bước ra khỏi cửa thấy trời tạnh ráo. Dưới ánh đèn pin tôi đã nhìn thấy có những hạt li ti lấp lánh phủ trên lá cây, ngọn cỏ.

Chà! Lạnh quá! Cái lạnh của châu Âu, vùng miền Nam nước Pháp những ngày cuối năm này thật khó diễn tả bằng lời, chỉ biết mặc bao nhiêu quần áo cũng không hết lạnh.

“Con chào má. Kính chúc má một mùa đông không lạnh!” (Ở Làng Mai, quý thầy quý sư cô đều coi ba mẹ của huynh đệ là ba mẹ của mình). Tiếng sư cô chợt vang lên trong lòng tôi, làm ấm áp buổi sớm mai trên đường đến Phật đường theo thời khoá của mùa An cư. Sư cô người Hà Lan, nói tiếng Việt nghe thật dễ thương. Sau khoá tu mùa thu, sư cô xin phép tăng thân về nhà thăm mẹ. Các sư cô xóm Mới gửi quà về biếu và tôi gói giúp trước khi sư cô ra xe. Những chiếc chả giò rất xinh được gói bởi những đôi bàn tay khéo léo và tình thân thương mà các sư cô gửi về làm quà biếu mẹ thật là ý nghĩa và thắm tình huynh đệ. Đưa gói quà vào tay sư cô, chợt sư cô ôm choàng lấy tôi và nói :

– Con chào má. Chúc má một mùa đông không lạnh!

– Con cảm ơn sư cô. Chắc chắn là mùa đông sẽ không lạnh, vì xung quanh con có bao nhiêu tình thương của các sư cô đã sưởi ấm con rồi.

Tôi và sư cô chắp tay búp sen xá chào nhau trong tiếng cười vui của mọi người. Sự chia tay người ở, người đi thật ấm áp. Các sư cô xóm Mới thật chu đáo với người đi xa, còn sư cô người Hà Lan thì cứ bịn rịn như vừa muốn về thăm mẹ, vừa không muốn xa tăng thân – gia đình mà sư cô đã gắn bó từ lâu.

Tôi chầm chậm bước theo con đường dẫn đến Phật Đường. Từ khu nhà tôi ở sang đó không xa là mấy, ngoài trời vẫn lạnh giá (đêm qua lạnh âm 5 độ) mà sao lòng tôi ấm áp và rất bình yên. Phải chăng vì mình đã có một niềm tin, có một con đường để đi, có sự vững vàng và biết thực tập. Còn nếu mình luôn sống trong nỗi lo âu, sợ hãi, luẩn quẩn trong vòng danh, lợi, bạc tiền, tham lam và sân hận thì dù có ở ngay trong ngôi nhà của mình, bên cạnh người thân và mọi thứ đã có trong tay ta vẫn cảm thấy trống trải, cô đơn và lạnh lẽo.

Tôi thấy mình thật may mắn được sống ở đây trong những ngày của mùa an cư. Buổi sáng đều đặn theo thời khoá, 5 giờ sáng dậy và chuẩn bị lên thiền đường. Tất cả thiền sinh đều chăm chỉ và an vui tu tập. Ở Làng Mai, nhìn vào quý thầy, quý sư cô luôn thấy có sự vững chãi, thảnh thơi, và bình an trong mọi sinh hoạt, trong những bước chân…, đó là hình ảnh về nếp sống tỉnh thức mà mọi người nương tựa để thực hành. Quý thầy quý sư cô thực tập và hướng dẫn thiền sinh tu tập theo thời khóa. Thời khóa nào cũng giúp cho mọi người học cách sống chậm lại, nhận biết được sự màu nhiệm của cuộc sống theo từng hơi thở có chánh niệm, trong mỗi bước chân thiền hành. Thực tập chánh niệm trong khi ăn, khi nói, khi làm việc và trong cách im lặng. Những thực tập này rất thú vị và mới lạ với thiền sinh nhưng mọi người thực tập hết lòng và có sự chuyển hóa rõ rệt. Trong những giờ pháp đàm hay những buổi ngồi chơi bên nhau, những nụ cười và những giọt nước mắt hạnh phúc in trên má những thiền sinh không kìm nổi nỗi xúc động trong lòng khi thấy mình có bình an, trong lòng thấy tươi mát và nở hoa.

Thật là màu nhiệm khi mà ngay trong thế kỷ 21, giữa ồn ào, ngột ngạt ngoài kia vẫn có một nơi mà người ta có thể sống thảnh thơi, được cùng nhau ca hát, được cười, được khóc với nhau và được sống là chính mình. May mắn cho những ai được biết và tu tập các pháp môn ở Làng Mai để rồi một ngày họ chợt nhận ra rằng cuộc đời này đáng sống biết bao, có “Chim hót thông reo hoa nở. Trời xanh mây trắng là đây…” (Lời của Sư Ông Làng Mai trong bài thơ “Châu ngọc Pháp Hoa”).

Ở tuổi 60, trải qua những thăng trầm của cuộc đời, giờ đây tôi thấy mình như trẻ lại. Tôi được là một đứa trẻ, học lại từ đầu như ngày thơ bé. Đôi mắt của tôi đã ngắm được vẻ đẹp huy hoàng của bình minh mỗi sáng và vẻ hùng tráng của hoàng hôn. Tai tôi được nghe tiếng chim cu gáy rộn rã ngoài cánh đồng vừa mới cày lật, đất còn nguyên màu nâu tươi mới… Tôi thấy lòng mình tràn ngập lòng biết ơn tổ tiên tâm linh, tổ tiên huyết thống, ơn cha mẹ, ơn thầy cô, gia đình, bè bạn và biết ơn cả muôn loài đã cho tôi nương tựa, đã nâng đỡ và nuôi tôi, cho tôi được sống trên cõi đời này.

Tôi chợt mỉm cười và nhớ lại nụ cười rạng rỡ và tươi mát của sư cô lúc chia tay. Giờ này sư cô đang ở đâu? Mẹ sư cô chắc là rất vui và hạnh phúc khi đón con gái về thăm. Bà đang ở một mình, ba sư cô mới mất hồi mùa hè và tăng thân đã tạo điều kiện để sư cô có thời gian được ở bên mẹ.

“Con chúc má một mùa đông không lạnh”. Lời chào vẫn như văng vẳng đâu đây đủ làm cho tôi ấm lại. Buổi sớm mùa đông Châu Âu lạnh thật đấy. Cái giá lạnh bao trùm cả không gian trong màn sương mù giăng ngập lối càng khiến cảm giác lạnh lẽo như bám riết lấy người đi đường. Nhưng lòng tôi dâng lên một cảm xúc biết ơn quý sư cô  đã cho tôi tình yêu thương, cho tôi điều kiện tu tập, đó chính là nguồn năng lượng đủ sưởi ấm cả mùa đông này.

(Tâm Diệu Minh)

Thư giãn là hạnh phúc có mặt

(Trích từ Pháp thoại  trong khóa tu An cư kiết đông 2008 – 2009)

Trong đời sống, rất nhiều người không có sự thư giãn. Chúng ta cần phải học cho được cách thư giãn. Ví dụ, tập đi thiền hành là cơ hội để tập thư giãn. Sự căng thẳng và thư giãn đi đôi với nhau, chúng có mặt cùng một lúc. Vấn đề là cái nào nhiều, cái nào ít mà thôi. Trong chúng ta có sự căng thẳng, nhưng cũng có sự thư giãn. Tùy cách sống của mình mà ta có nhiều sự căng thẳng hay nhiều sự thư giãn.

Phát triển sự thư giãn, buông bỏ những lo lắng, sợ hãi và bạo động là hạnh phúc đang có mặt. Mỗi người đều có khả năng chế tác ra sự thư giãn với tư cách cá nhân và năng lượng đó sẽ ảnh hưởng tới tập thể. Thí dụ một người giáo viên nếu có ý thức nuôi dưỡng sự thư giãn trong mình và chế tác sự thư giãn đó cho học sinh thì việc dạy và học sẽ thành công hơn. Giữa giáo viên và học sinh có sự nhẹ nhàng mà không phải căng thẳng mệt mỏi.

Đạo đế là con đường mà trong đó có những phương pháp đưa tới sự thư giãn. Yếu tố đầu tiên của hạnh phúc là biết thư giãn để chấm dứt lo lắng, sợ hãi. Đứng về phương diện sinh học thì chính sự căng thẳng tạo ra lo lắng, sợ hãi, bạo động và bệnh tật. Trong não của ta có tuyến yên. Khi cảm thấy có tình trạng nguy hiểm thì tự nhiên tuyến yên sẽ tiết ra một chất hoá học trong máu. Nội trong mấy giây sau chất hoá học đó đụng tới tuyến thượng thận và nhả ra chất adrenalin, chất này vào trong máu thì sẽ khiến trái tim đập mạnh hơn để dồn máu tới hai chân, hai tay và đôi mắt để sẵn sàng đối phó với tình trạng nguy hiểm. Đó là phản ứng hoặc chống cự, hoặc là bỏ chạy. Muốn chống cự hay bỏ chạy đều cần dùng tới rất nhiều năng lượng và vì vậy các cơ năng khác phải dừng lại hết. Chất đó cũng khóa bộ máy tiêu hoá lại và không cho làm việc nữa. Lúc này cơ thể tạo ra sự căng thẳng. Nếu sự căng thẳng kéo dài thì nó sẽ làm hỏng bao tử và bộ phận tiêu hóa. Cho nên những người nào hay lo sợ rất có hại cho bao tử. Một thí dụ khác là trong lúc chạy đua thi đấu, trước khi người phát lệnh thổi còi cho bắt đầu cuộc thi chính là giây phút trong cơ thể các vận động viên tiết ra chất adrenalin. Nếu giây phút đó kéo dài quá lâu thì đương sự có thể sẽ chết.

Đôi khi trong đời sống hằng ngày khi nghe tiếng điện thoại reo ta cũng lo. Có khi nhìn những tờ báo ta cũng thấy lo vì không biết cổ phần đang lên hay đang xuống. Tuy không có những lo lắng lớn hay nguy hiểm lớn xảy ra nhưng những lo lắng nhỏ trong đời sống hằng ngày cũng làm cho chất adrenalin tiếp tục được tiết ra và  nó cũng khoá bộ máy tiêu hoá lại khiến ta bị căng thẳng. Những căng thẳng ấy dồn chứa mỗi ngày sẽ sinh ra đủ thứ bệnh. Mỗi khi căng thẳng thì hành động trở nên thô tháo và lời nói cộc cằn sẽ làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình, làm hư hoại tổ chức, bè bạn của ta. Do đó phải nắm cho được phương pháp thư giãn để giải tỏa những căng thẳng.

Những lúc ngồi thiền, thiền hành hay buông thư thì chất adrenalin không tiết ra. Buông thư toàn thân và nương vào hơi thở có ý thức thì trong ta bắt đầu có sự thư giãn. Thở vào tôi ý thức đây là hơi thở vào, thở vào tôi sung sướng được thở vào. Thở ra tôi ý thức về thân thể tôi, thở ra tôi làm cho thân thể tôi thư giãn. Là một người thực tập, chúng ta phải biết nuôi dưỡng sự thư giãn trong mỗi giây phút.

Khi làm việc với máy vi tính cũng có thư giãn mà đọc sách cũng thư giãn, lúc nào cũng thư giãn hết. Khi đi, phải đi sao cho có bình an mà không vội vàng như bị ma đuổi; khi ngồi thì phải ngồi như đang ngồi trên một đóa sen. Trong lúc thư giãn thì nhịp đập của trái tim sẽ chậm lại và hệ miễn dịch được tăng cường. Thư giãn không phải chỉ là vấn đề thể chất và hình hài. Nếu trong tâm đang có điều bất an thì sự thư giãn rất khó thực hiện được. Do đó phải tổ chức lại đời sống hàng ngày để đừng bị áp lực quá nhiều đừng để lo lắng, buồn khổ. Muốn vậy thì phải quán chiếu cho sâu sắc.

Khi có bạo động tức là trong thân thể không có sự buông thư. Khi ấy phải tập thở, tập đi để nhận diện và ôm ấp những bạo động, giận hờn, bực bội trong mình. Nếu những tâm hành đó được ôm ấp thì tự nhiên nó sẽ lắng dịu. Nền văn minh mới của chúng ta tạo ra rất nhiều căng thẳng, cho nên sự thực tập của mình là làm lắng dịu thân tâm. Mà muốn thư giãn thì phải thực hành những pháp môn cụ thể như buông thư, thiền hành, ngồi thiền,… Cho nên nền đạo đức học hiện đại phải là đạo đức ứng dụng chứ không phải là đạo đức lý thuyết. Phải biết rõ rằng muốn có thư giãn thì ta không nên làm gì và nên làm gì. Đạo đế được diễn đạt qua con đường Bát chánh, trong đó có chánh kiến. Các vị tổ sư giải thích chánh kiến là một cái thấy sâu sắc về Bốn sự thật. Nhưng trí óc con người thường hay đi kiếm tìm sự thật của chân lý vạn hữu. Ta thường có ý muốn đi vào siêu hình học, thực thể học. Khuynh hướng hay phóng tâm ra vũ trụ và đặt những câu hỏi như: Vũ trụ này từ đâu mà có? Những nguyên lý cai quản vũ trụ là những nguyên lý nào? Bởi có những câu hỏi này mà ta có siêu hình học và bản thể luận.

Đức Thế Tôn rất thực tế, Ngài nói đừng phóng tâm ra vũ trụ bên ngoài mà hãy đưa tâm về với tình trạng đích thực trong đó ta đang sống. Phải nhận diện nỗi khổ đang có mặt, tìm ra nguồn gốc của khổ và phải tìm ra con đường thoát khổ. Rất là thực tế. Hai chân chấm đất. Chánh kiến đức Thế Tôn nói ở đây không phải là kiến thức về vũ trụ vạn hữu mà là về Bốn sự thật. Mình phải có cái thấy khá vững chãi về Bốn sự thật. Khi mới học về Tứ diệu đế, mới nghe nói về Bốn sự thật, ta nói nó quá dễ, nhưng thật sự thì ta chưa hiểu rõ về nó. Cách đây một năm có người hỏi tôi: “Thầy có hiểu hết về Tứ diệu đế chưa?” Tôi trả lời: “Chưa, tôi chưa hiểu hết, tôi vẫn đang trên con đường tìm hiểu”.

Muốn có được cái thấy sâu sắc đòi hỏi chúng ta phải bỏ ra rất nhiều công phu tu tập. Phần lớn chúng ta chỉ nắm được ý niệm về Bốn sự thật chứ chưa nắm được Bốn sự thật. Chúng ta không nắm được bản chất của Bốn sự thật. Bốn sự thật tương tức với nhau, Sự thật này nằm trong Sự thật kia. Không hiểu được khổ đế thì không hiểu được diệt đế, ngược lại nếu không thấy được diệt đế thì không hiểu được khổ đế. Chánh kiến trước hết là cái thấy sâu sắc về Bốn sự thật. Bốn sự thật tương tức với nhau, chúng không thể có mặt độc lập, chúng liên hệ với nhau chặt chẽ cho đến nỗi không thấy được cái này thì không thấy được cái kia.

Trong lĩnh vực trao truyền, khi không thấy được ta thì sẽ không thấy được cha ta. Chưa thấy được cha ta là ai thì sẽ không thấy được ta là ai. Khi thấy được sự tương tức của bốn sự thật thì tự nhiên ta cũng sẽ thấy được sự tương tức của các pháp. Tương tức nghĩa là cái này chính là cái kia, cái này nằm trong cái kia, không có cái này thì không có cái kia. Không có sự thật nào có mặt riêng rẽ. Cái này cũng gọi là không. Thí dụ như bông hoa: bông hoa do mặt trời, ánh nắng, đám mây, đất, phân bón, người làm vườn… tạo nên. Cho nên bông hoa không có mặt riêng biệt, bông hoa đầy hết tất cả vũ trụ. Bông hoa là vũ trụ, nó không thể có mặt riêng biệt được. Bốn sự thật không thể có mặt một mình được. Nếu không có bùn thì sẽ không có sen. Nếu như nhận Bốn sự thật là riêng biệt thì ta rất sai lầm.

Trong Kinh Bát Nhã nói “không khổ, không tập, không diệt, không đạo”, Bốn sự thật là không. Bản chất của sự thật này là bản chất của  sự thật kia. Sự thật thứ nhất được làm bằng sự thật thứ hai, thứ ba, và thứ tư. Lấy sự thật thứ hai, thứ ba, thứ tư ra thì không có sự thật thứ nhất. Đó là tính tương tức của sự thật thứ nhất. Nếu thấy được Bốn sự thật có liên hệ với nhau thì chúng mới đích thực là Bốn sự thật.

Dừng lại và buông thư

Thiền, Dhyana, nghĩa là dừng lại và làm cho buông thư. Sự dừng lại và buông thư được gọi là thiền chỉ. Trong sự thực tập, nếu chưa có khả năng dừng lại và buông thư thì hành giả sẽ không thể đi xa hơn được. Bởi vì nếu không thành công được trong thiền chỉ thì khó có thể nhìn sâu (thiền quán) để thấy rõ bản chất của các hiện tượng.

Mỗi người đều sẵn có hạt giống rong ruổi, tìm kiếm. Chúng ta không thể ở yên lâu được. Hạt giống này chúng ta được tiếp nhận từ tổ tiên. Sở dĩ ta không dừng lại được bởi vì ta thiếu khả năng buông thư. Những căng thẳng trong cơ thể bị dồn nén khiến cho yếu tố trầm tĩnh của đời sống mất đi. Nếu thực tập vững vàng phương pháp thở và đi trong chánh niệm thì ta sẽ dừng được sự chạy đua. Lúc ấy, sự buông thư và niềm an lạc sẽ lập tức có mặt.

Ngồi thiền là cơ hội để thực tập dừng lại hoàn toàn. Trong khi ngồi, chúng ta sử dụng hơi thở có ý thức để hỗ trợ cho việc dừng lại ấy. Dừng lại được là bắt đầu có chủ quyền đối với thân và tâm của chính mình. Ngồi thiền trước hết là dừng lại và buông thư. Nếu trong khi ngồi mà phải đấu tranh, phải gồng mình và xem việc ngồi thiền như một lao tác mệt nhọc thì đó chưa phải là cách ngồi thiền đúng. Khi ngồi, tư thế phải thật thoải mái, lưng thẳng nhưng buông thư. Và sau đó mới bắt đầu theo dõi hơi thở. Thở vào, tôi ý thức về toàn thân của tôi; thở ra, tôi buông thư toàn thân. Ta phải đem cái tâm đi vào cái thân.  Cái tâm của ta chỗ nào cũng có cái thân hết, tức là tâm đầy trong thân. Giống như việc ta ngâm đậu xanh với nước ấm vậy, đậu xanh được ngâm trong nước ấm một hồi, nước sẽ thấm vào trong hạt đậu, hạt đậu sẽ nở ra gấp hai lần ban đầu. Sở dĩ cái thân khô héo là bởi vì cái tâm không thấm được vào trong thân. Nếu muốn cái thân được tươi mát, được thấm nhuận thì cần phải để cho tâm đi vào trong thân. Lúc ấy, thân của ta sẽ trở thành một thực thể linh động chứ không còn là một xác chết nữa vì tâm đã được thấm vào trong từng tế bào. Tức là cái thân đầy cả cái tâm. Trong khi ngồi thiền, thiền hành, phải làm như thế nào để thân của ta đầy tâm mà tâm cũng đầy thân. Khi thân và tâm hợp nhất, là khi ta có được những giây phút sống sâu sắc.

Thiền là một phương pháp thực tập, và nếu thực tập đúng thì hạnh phúc sẽ có liền tức khắc. Hạnh phúc này bắt đầu từ sự dừng lại và buông thư. Không có sự dừng lại và buông thư, thì không thể nào có hạnh phúc được. Hạnh phúc này được gọi là thiền duyệt. Thiền duyệt tức là niềm vui do sự thực tập thiền đem lại. Và người tu phải lấy niềm an lạc mà thiền tập đem lại làm thực phẩm hàng ngày (Thiền duyệt vi thực). Trong nghi thức cúng ngọ có câu: “Nhược phạn thực thời, đương nguyện chúng sanh, thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn”. (Khi ăn cơm, con nguyện cho chúng sinh nếm được niềm vui mà thiền tập đem lại, hạnh phúc luôn tràn đầy). Mỗi lần ăn cơm, cúng ngọ, lúc nào ta cũng nguyện cho tất cả chúng sanh đều hưởng được niềm vui của thiền tập nhưng chính ta đã làm được chưa? Có khi ta đã để cho chính ta bị đói và để cho những người bạn đến với ta cũng bị đói. Những người bạn tin tưởng vào ta, trông cậy vào ta, nhất là khi ta là một vị giáo thọ, nhưng ta quên mất vai trò của chính mình. Đôi khi ta bỏ đói đại chúng, bỏ đói các bạn đến với ta. Nếu ta bắt đầu dừng lại và buông thư được, tức khắc ta sẽ có được hỷ lạc. Khi có được hỷ lạc, ta mới bắt đầu quán chiếu vào lòng sự vật để thấy được bản chất của sự vật.

Chúng ta có thể thực tập theo những hướng dẫn của đức Thế Tôn để dừng lại. Thở vào, con ý thức về hình hài của con. Thở ra, con ý thức về toàn thể hình hài con. Lúc đó, cái tâm đi vào cái thân và cái thân đi vào cái tâm. Tiếp tục thực tập như vậy, ta để cho tâm thấm dần vào trong thân. Ta có thân đầy trong tâm và tâm cũng đầy trong thân. Kế tiếp, nương vào hơi thở chánh niệm ta buông thư cả thân và tâm. Thở vào, con buông thư thân thể con, tâm hồn con. Thở ra, con tiếp tục để cho tâm hồn con, thân thể con được buông thư. Hãy cho ra ngoài hết tất cả những dồn nén, những căng thẳng. Sự buông thư này sẽ mang lại sự trị liệu. Do vậy, khi đề cập đến khổ hay gọi tên những nỗi khổ, ta đừng quên đề cập đến những căng thẳng trong thân thể và tâm hồn. Bởi nó đích thực là một nỗi khổ và rất cần được chúng ta quan tâm đến.

Chánh niệm là phép tu căn bản

Khi thực tập thiền hành, phải thực tập như thế nào để dừng lại được trong khi đi. Đi như là đi chơi trong Tịnh Độ mà không đi như bị ma đuổi. Buông thư được trên từng bước chân. Đường dài, em bước như dạo chơi. Đường càng dài càng hay, vì ta có thể dạo chơi càng nhiều.  Mặc dù chưa là giáo thọ nhưng ta cũng không được bỏ đói các bạn thiền sinh đến với ta, ta có bổn phận phải giúp họ. Vì mỗi ngày ta được hưởng thức ăn của thiền tập nên khi có ai đến, phải hỏi: Các anh, các chị có đói không? Thực phẩm đây! Tức là phương pháp giúp họ biết thở, biết đi, biết cười. Do vậy, khi ngồi thiền, cho dù nửa giờ hay bốn mươi lăm phút, cũng phải biết tận dụng khoảng thời gian ấy để nắm lấy chủ quyền, phải để cho thân tâm được buông thư, nghỉ ngơi. Nếu không làm được như vậy thì ta đã phung phí một cách oan uổng nguồn thời gian quý báu của chính mình.

Ở ngoài đời có thể bạn có rất nhiều tiền, nhiều bạc, nhưng thời gian được ngồi yên thì rất hiếm. Được ngồi yên là một cơ hội để nuôi dưỡng và trị liệu thân tâm. Nếu thực tập thiền chỉ giỏi, tất nhiên ta sẽ có niệm và định. Niệm tức là sự chú tâm, biết rõ cái gì đang xảy ra. Ví dụ, khi theo dõi hơi thở, thở vào ta biết rõ đây là hơi thở vào, thở ra ta biết rõ đây là hơi thở ra. Đó gọi là chánh niệm về hơi thở. Khi đang đi, ta biết ta đang đi mà không để cho đầu óc trôi dạt ở một phương nào. Đó gọi là niệm bước chân. Còn khi uống trà mà biết là ta uống trà thì gọi là niệm uống trà. Khi chải răng, ta biết là ta đang chải răng, chải cho có hạnh phúc, chải cho buông thư thì gọi là niệm chải răng. Khi đi tiểu, đi cầu cũng vậy. Mọi lúc mọi nơi đều là cơ hội cho ta thực tập chánh niệm. Chánh niệm là phép tu căn bản, và nó cũng là nền tảng đạo đức của Phật giáo.

Trái tim màu xanh

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai trong khóa tu mùa hè, ngày 31.7.2007 tại Làng Mai)

Tình nghĩa

Trong tiếng Việt có chữ tình lại có chữ nghĩa. Chữ Nghĩa là chữ rất khó dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh. Chữ tình (amour, love) viết ra chữ Hán (情), bên trái có bộ tâm (心) tức là trái tim, bên phải có chữ thanh (青) là màu xanh lục. Trái tim màu xanh. Trái tim ban đầu thì màu xanh, sau có thể biến màu thành màu khác, nhưng làm sao để nó đừng thành màu đen. Cái tình lúc ban đầu thì rất bồng bột, nóng bỏng, có tính chất đam mê. Đó là bản chất của tình. Khi đang bị năng lượng tình chiếm cứ thì mình không được an ổn lắm. Ăn không an, mà ngủ cũng không an, giống như bị đốt cháy vậy. Đó là ngọn lửa. Người nào có đi qua rồi thì biết. Khó an trú trong hiện tại lắm, cứ nghĩ tới cái giây phút mình sẽ được gặp người đó, được ngắm nhìn người đó, chỉ ngồi ngắm không là đủ no rồi, khỏi cần ăn. Càng nhiều trở ngại chừng nào thì đam mê càng lớn chừng nấy. Sự trở ngại là một chất liệu làm cho tình yêu càng lớn mạnh (lễ giáo, công ước xã hội, v.v…). Hoàn cảnh dễ dàng quá thì nó không lớn mạnh.

 

 

Ngày xưa chưa có điện thư, điện thoại, đôi khi đợi một lá thư tình phải chờ từ tuần này sang tuần khác. Và mỗi ngày bồn chồn tự hỏi: Đáng lý ngày hôm qua lá thư đó phải tới rồi, nhưng sao nó chưa tới? Mình đợi cả hai mươi bốn giờ đồng hồ, cho tới cái giờ mà ông phát thư đi ngang qua trước ngõ. Ông phát thư thường đi qua lúc mười giờ sáng, lúc chín giờ mình đã bắt đầu đợi. Ông phát thư sáng nay sao mà đi trễ quá, đi chậm quá! Mình đếm từng bước của ông ta. Và nếu ông đi ngang qua mà không dừng lại thì mình buồn lắm. Phải đợi hai mươi bốn giờ đồng hồ nữa. Khi bị tình yêu chiếm cứ, mình không có khả năng an trú trong hiện tại.

Ai có qua cầu mới hay. Nó có sự bồng bột, sự đốt cháy. Nó không có được sự an ổn. Cho nên ở Tây phương, người ta nói khi yêu tức là mình bị té, bị ngã (tomber amoureux, falling in love). Đang đi bình thường tự nhiên té xuống. Người Việt Nam thay vì nói té thì nói ốm, nói cảm. Tây phương cũng nói ốm (love sick). Nguyễn Bính có viết hai câu thơ: “Gió mưa là bệnh của trời, tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”. Trời tốt đẹp thì không bị bệnh, mà hễ có gió, có mưa là bị bệnh. Tương tư tức là cứ ngồi đó mà nhớ nhau, không làm ăn được gì hết. Và càng nhiều trở ngại chừng nào, thì cái tình càng mạnh chừng đó. Nó rất bồng bột, nó làm cho mình bất an. Nếu không được thỏa mãn, nó sẽ làm cho mình sầu, mình ốm tương tư. Ốm tương tư là nhớ quá thành bệnh, như nàng Mỵ Nương với chàng Trương Chi. Thành ra, tình yêu là một cơn bệnh (C’est une maladie). Tình yêu bùng lên rất mạnh nhưng nếu được dễ dàng thỏa mãn thì nó chết cũng rất mau. Đam mê như một ngọn lửa lên rất cao, khi tàn lụi cũng rất là mau.

Keo sơn ơn nghĩa

Một cặp vợ chồng ở được với nhau lâu dài, đó không phải là nhờ tình yêu mà nhờ cái thứ hai là nghĩa (義). Nếu mình biết yêu cho đàng hoàng thì tự nhiên từ cái tình đưa tới cái nghĩa. Và chính cái nghĩa đó là keo sơn gắn chặt hai người, để hai người có thể sống được lâu dài với nhau. Cho nên phải nuôi cái nghĩa. Người ta không thể sống trăm năm với nhau bằng tình được. Tình là một đam mê (passion), tàn lụi rất mau. Nghĩa là một cái gì bền chặt hơn nhiều. Nghĩa đi đôi với chữ ơn – ơn nghĩa. Ơn đầu tiên mình cảm nhận được của người kia là khi ý thức rằng: Có biết bao nhiêu người, tại sao anh ấy không chọn, mà lại chọn mình? Có biết bao nhiêu người con trai có bằng cấp, có địa vị, tại sao nàng không chọn, mà nàng chọn ta? Đó là cái ơn mà mình ý thức được. Ý thức đó làm mình có thể biết ơn suốt đời.

Và tình nghĩa này không phải chỉ giới hạn trong vấn đề nam nữ thôi. Cái nghĩa giữa bạn bè, cha mẹ, thầy trò cũng vậy. Mình sinh ra một đứa con, đứa con đã chọn mình làm mẹ, chọn mình làm cha. Tại sao nó không sinh ra ở nhà khác mà chọn nhà mình để sinh ra? Thành ra cha mẹ có thể biết ơn đứa con. Sự ra đời của đứa con nó có thể đem lại ánh sáng và hạnh phúc cho cặp vợ chồng đó. Vì vậy, cha mẹ có thể biết ơn đứa con. Tại sao có nhiều  người đến quy y với vị thầy này mà không tới quy y thầy khác? Thầy cũng phải biết ơn người đệ tử. Sự biết ơn là một yếu tố của hạnh phúc.

Chọn người tri kỷ

Tại sao anh đã không chọn người khác mà chọn mình? Sự lựa chọn đó do đâu mà có? Sự ham muốn bóng sắc tự nó không đủ. Phải có cái gì đó. Ở bên Mỹ, có anh chàng kia rất đẹp trai, tài ba, tốt nghiệp đại học thuộc hàng ưu tú, có việc làm lương rất lớn, và có rất nhiều cô bạn gái thật xinh đẹp. Bà mẹ rất ngạc nhiên khi thấy anh rất thân với một cô gái không phải là đẹp nhất. Cô này hơi thấp, nước da hơi đen, mà sao con trai mình có vẻ thích cô này hơn các cô khác? Bà cũng tò mò. Bữa đó hai mẹ con ngồi riêng với nhau, bà nói: “Má thấy mấy đứa kia ngó được quá mà sao con không chọn, con lại đi chọn con nhỏ này hơi đen mà lại thấp nữa?”Anh chàng không biết trả lời làm sao hết. Anh chàng chưa suy nghĩ thành ra bị hỏi bất ngờ quá không trả lời mẹ được.

Nhưng sau ba bốn ngày quán chiếu, anh ta tìm ra câu trả lời. Cô này mỗi khi anh nói chuyện, cô biết lắng nghe. Anh là nhà khoa học nhưng anh cũng ưa làm thơ. Mỗi khi anh đọc thơ, cô lắng nghe, và cô hỏi những câu hỏi chứng tỏ cô hiểu được thơ của anh. Còn những cô khác cũng nghe, nhưng nghe do lễ phép, bắt buộc phải nghe thơ nhưng không thích. Thành ra cái đặc biệt của cô này là cô thích thơ, cô hiểu thơ, cô lắng nghe thơ. Và cô trở thành tri kỷ của anh.

Tri kỷ là người hiểu được mình. Trên cuộc đời này mà tìm được một người có thể hiểu được mình thì mình là người có hạnh phúc. Món quà quý nhất mà người kia có thể tặng cho mình là khả năng hiểu được mình. Có những người sống trong cuộc đời này mà chưa bao giờ tìm được một người có thể gọi là hiểu mình cả. Dù là con trai hay con gái, trong cuộc sống này nếu mình có thể tìm được một người có khả năng lắng nghe mình, có thể hiểu được những khó khăn, những khổ đau, những ước vọng của mình thì tức là mình tìm thấy nơi người đó một tâm hồn tri kỷ. Tri kỷ là biết nhau, là hiểu nhau.

Con người đi tìm trong đời này một tri kỷ, một người biết được mình. Tìm ra được người đó thì hạnh phúc. Ngày xưa có một vị quan lớn chơi đàn thập lục huyền cầm rất tuyệt diệu. Trong giới quan quyền, bạn hữu không có ai hiểu được nghệ thuật, tài năng của ông cả. Vì vậy mỗi lần đánh đàn ông thường đem theo một vài người hầu cận lên trên núi, tìm một chỗ đẹp. Ông trải chiếu, pha trà rồi đốt trầm lên. Trong không khí trang nghiêm ông chơi đàn. Rất hạnh phúc. Và ông có cảm tưởng là chỉ có suối, cây, núi, mây mới hiểu được tiếng đàn của ông. Bữa đó, đang đàn thì tự nhiên một dây đàn bị đứt. Ông ta tháo dây đàn đứt đó ra, thay một dây mới. Vừa đàn thêm một câu nữa thì dây đàn bị đứt nữa, và cứ đứt như vậy ba lần. Ông ta nghĩ: “Chắc có người đang nghe trộm mình”. Ông đứng lên, nói lớn: “Có vị tri kỷ nào đang nghe trộm tiếng đàn của tôi xin cho gặp mặt”.

 

Tự nhiên có một anh tiều phu xuất hiện. Anh tiều phu này đã nghe lén, đã cảm được tất cả những cái hay, cái đẹp, cái tài ba của người đàn. Và vì vậy cho nên dây đàn đứt. Ông quan đánh đàn tên là Vương Bá Nha, người tiều phu tên là Chung Tử Kỳ. Hai người nói chuyện rất tâm đầu ý hợp. Bá Nha lần đầu tiên tìm ra được một tri kỷ, một người hiểu được nghệ thuật của mình. Tử Kỳ chấp nhận làm bạn tri kỷ của Bá Nha, nhưng không muốn về kinh đô nhận những cái chức như là thư ký văn phòng. Tử Kỳ chỉ muốn làm tiều phu thôi. Lâu lâu, Bá Nha nhớ tới bạn, sắp đặt công việc trong triều rồi hẹn với bạn, hai người cùng uống trà. Bá Nha hạnh phúc vô cùng vì Bá Nha đã tìm ra được một người tri kỷ, tri âm. Tình bạn đó lưu truyền cho tới ngày hôm nay.

Hồi mới mười tám tuổi, tôi đã làm một bài thơ ca tụng tình bạn của Bá Nha và Tử Kỳ. Trong cuộc đời mà có một người nghe được mình, hiểu được mình thì mình là một trong những người may mắn nhất ở trên đời rồi. Cho nên anh chàng ở Cali, ba ngày sau gặp lại mẹ, mới trả lời câu hỏi của mẹ: “Hôm trước má hỏi tại sao con thương cô đó. Tại sao má biết không? Tại vì người đó hiểu con. Thành ra dầu có hơi đen một chút, hơi thấp một chút, con thương cô đó hơn tất cả những cô xinh đẹp, cao ráo, sang trọng kia”.

Đời người mà tìm ra được một người hiểu mình đó là hạnh phúc vô cùng. Con mà hiểu cha, đệ tử mà hiểu thầy thì cũng làm cho cha, cho thầy rất hạnh phúc. Đó là nói ra từ kinh nghiệm. Thành ra mình biết ơn người đã hiểu được mình. Cảm ơn em đã hiểu được anh, cảm ơn con đã hiểu được cha, cảm ơn cha đã hiểu được con. Tu tập là làm thế nào để có thể có được cái hiểu. Muốn hiểu thì phải lắng nghe, phải quan sát mới hiểu được. Khi mình sống với một người có khả năng hiểu mình thì mình có hạnh phúc lắm. Vì cái hiểu là nền tảng của cái thương. Không hiểu thì không thể nào thương. Trong tình yêu đôi lứa người ta phải cẩn thận. Mình chỉ cần thử nghiệm vài cái là biết người đó có hiểu mình hay không. Mà nếu người đó không hiểu mình thì dù người đó có bằng cấp cao, lương nhiều, xe đẹp, nhà cửa sang trọng, bảnh trai, hay sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành đi nữa, khi cưới người đó thì mình cũng sẽ khổ suốt đời, như là khổ sai chung thân. Và tình yêu đó là một cái nhà tù.

Cái người mà khi mình nói cứ cắt lời mình, không để cho mình nói, cứ khoe cái của họ, không có khả năng hiểu được những khó khăn, những khổ đau của mình, không biết lắng nghe mình… muốn nhận ra người đó rất dễ, chỉ cần vài ba phút là được. Đừng để cho mình bị hấp dẫn bởi những cái bên ngoài: Sắc đẹp, địa vị, danh lợi, xe hơi, nhà cửa, lương tiền, bằng cấp… Đừng để cho những cái đó làm cho mình mờ mắt. Hai con mắt mình hãy tỉnh táo để có thể nhận rằng người con gái đó, hay người con trai đó là một người có thể hiểu được mình, và hiểu được mình thì có thể có khả năng thương mình. Rất rõ ràng như vậy. Đó là tiêu chuẩn của đạo Phật về hạnh phúc, về tình yêu. Những người yếu đuối thường bị hấp dẫn bởi những cái phù phiếm bên ngoài.

Trong xã hội Việt Nam mới phát triển, một cô gái có thể đánh mất tiết trinh của mình để đánh đổi lấy một chiếc xe gắn máy. Thật dễ sợ! Đạo đức đã suy đồi tới mức đó. Mình muốn thoát ra khỏi cái thân phận nghèo khổ, mình muốn có một chiếc xe giống như người ta, và mình đánh mất cái quý giá nhất của đời mình. Chuyện đó đã và đang xảy ra. Thành ra những cái hấp dẫn của vật chất, của bề ngoài phù phiếm mình không thể coi thường được. Mình sẽ dấn thân vào những nẻo đời khổ đau nếu mình không cẩn thận.

Có hiểu mới thương

Ở trong đạo Phật chúng ta thấy rất rõ cái thương đích thực được làm bằng cái hiểu, không có hiểu thì không có thương. Không hiểu con thì cha càng thương, con càng khổ. Vợ không hiểu chồng thì càng thương chồng, chồng càng khổ. Hiểu là nền tảng của tình thương. Sống với nhau như thế nào để càng ngày mình càng hiểu được nhau nhiều hơn và để cho người kia càng ngày càng hiểu được mình nhiều hơn. Nếu cái hiểu không lớn lên, thì cái thương cũng không lớn lên mà dậm chân tại chỗ. Nếu quý vị thấy tình thương của mình đang dậm chân tại chỗ thì quý vị biết rằng quý vị thiếu tu.

Cái hiểu không lớn thêm và cái thương không lớn thêm thì chúng có thể từ từ co rút. Tình yêu có thể co rút lại cho đến khi thành ra một cục cứng ngắc không còn sinh khí. Tình yêu có thể chết nếu mình không biết nuôi dưỡng nó bằng cái hiểu và cái thương. Và khi người kia hiểu mình thì mình biết ơn người đó, biết ơn suốt đời. Chính sự biết ơn đó là chất liệu nuôi dưỡng liên hệ giữa mình và người đó cho đến suốt đời. Đó là nghĩa, không phải là cái bồng bột lúc ban đầu nữa, không phải là ngọn lửa nhất thời nữa.

Kinh nghiệm nuôi lửa

Ở Việt Nam ngày xưa người ta không nấu cơm bằng gas hay bằng điện mà nấu bằng rơm. Ngày xưa tôi cũng đã từng nấu cơm bằng rơm. Rơm cháy rất mau. Có cách để làm cho rơm cháy chậm lại: mình đặt một nắm rơm vào và lấy cái đũa bếp đè xuống thì nắm rơm sẽ cháy từ từ, được lâu hơn. Ở nhà quê Việt Nam ngày xưa còn nấu bằng trấu. Trấu tức là vỏ lúa. Không có hộp quẹt vì vậy người ta phải nuôi lửa. Nuôi lửa hay nhất là nuôi bằng lửa trấu: mình đổ vào một vài bát trấu, thì trấu cháy ngún rất lâu. Lửa trấu không cháy phừng phừng như lửa rơm mà cháy chầm chậm. Chầm chậm thôi mà cháy cả đêm. Sáng dậy mình khơi ra thì còn lửa trong bếp.

Tình là ngọn lửa rơm mau tàn. Còn Nghĩa là lửa trấu, cháy suốt đêm. Ngày xưa Việt Nam có truyền thống đi xin lửa, vì không có hộp quẹt, cũng không có đèn dầu. Mỗi khi nấu cơm, nếu nhà mình không có trấu để giữ lửa thì mình phải qua hàng xóm xin lửa. Các cháu có thể là chưa bao giờ thấy Con Cúi. Con Cúi không phải là một sinh vật mà mình vẫn gọi là con. Mình lấy rơm bện lại thành một con Cúi bằng rơm thật chặt, đốt một đầu và nó cứ cháy ngún từ từ, được năm bảy giờ đồng hồ. Mỗi khi cần lửa nấu cơm thì mình tới Con Cúi lấy lửa. Nếu mình không có Con Cúi và cũng không có lửa trấu thì mình phải đi xin thôi. Thế hệ của quý vị bây giờ không biết đi xin lửa là gì. Ngày xưa tôi có làm một bài thơ về chuyện đi xin lửa:

Xóm Mới

Sáng hôm nay hộp diêm của tôi hết rồi
Bếp lạnh như trời cuối thu ướt lạnh
Tác phẩm dở dang còn đó
Tôi qua nhà láng giềng xin lửa
(hồi bé chúng tôi thường hai đứa chạy xin)
Em hỏi tôi sẽ làm sao nếu nhà láng giềng không còn lửa
Chúng tôi sẽ họp hai người hát ca
Nhớ lời em dặn “là những bông hoa”.
Chúng tôi sẽ cầm đuốc đi bên nhau hướng về Xóm Mới
Em cũng cứ hát ca đi, trong khi chờ đợi,
Thế nào trong xóm ta cũng có nhà còn lửa
Thôi tôi xin mọi người đưa tay nói thực:
Có phải tất cả chúng ta
Đang tin ở điều đó như đang tin hôm nay
Ở hiện hữu nhiệm mầu?
Tôi biết có những nhà nghèo,
nhưng trấu hồng ngún cháy
ngày đêm trong bếp hồng âm ỉ
Tôi sẽ nhớ lời em không khuấy động bếp lành
Một nắm rơm đặt vào
Đợi khói tỏa mầu xanh,
Em nhìn xem:
chỉ một hơi thở nhẹ của hồn tôi thôi
Cũng đủ gọi về lửa đỏ.

Đi xin lửa mình phải cầm một nắm rơm dài. Tới bếp của người ta thì mình đừng nên quấy động cái bếp, vì người ta đang nuôi lửa trong đó. Mình lấy nắm rơm của mình, dúi vào chỗ lửa trấu đang còn cháy, và mình đợi độ chừng hai, ba chục giây. Trong khi đó mình thở. Từ từ khi thấy khói lên thì mình biết nắm rơm của mình đã được lửa bén vào rồi. Khi đó mình chỉ cần thổi một hơi thở nhẹ là lửa cháy lên. Mình lấy một nắm rơm khác, nắm nó lại, đem về thì nó tiếp tục cháy. Ngày xưa đi xin lửa là chuyện mỗi ngày.

Lửa rơm cháy mau được ví dụ cho tình yêu. Lửa trấu ngún cháy cả ngày đêm được tượng trưng cho Nghĩa. Ân Nghĩa là cái phải tiếp nối cái Tình. Tình phải được bắt đầu cho khéo để từ từ đưa tới cái Nghĩa. Ân Nghĩa là cái nuôi dưỡng một cặp vợ chồng cho tới khi đầu bạc răng long. Răng long thì đi làm răng giả, còn đầu bạc thì đi mua thuốc nhuộm. Và nuôi dưỡng Nghĩa là nuôi dưỡng thương yêu. Mỗi ngày mình phải làm cho cái tình của mình lớn lên và biến thành nghĩa. Mình phải biết lợi dụng cái ngọn lửa đầu tiên. Ban đầu mình dúi nắm rơm vô lửa trấu là để cho ngún cháy, khói đi lên, mình thổi phù nhè nhẹ thì lửa bốc lên. Nhưng mình đem lửa đó về nhà không được, nửa đường sẽ tắt. Và vì vậy khi lửa rơm cháy lớn rồi thì mình phải ủ nó vào trong nắm rơm khác cho lửa cháy ngún từ từ mà đem về.

Mỗi ngày mình phải xây dựng cái ơn và cái nghĩa. Mỗi lời nói, mỗi cử chỉ săn sóc đều là tạo ra ơn và nghĩa. Chính cái đó nó là keo sơn giúp cho một cặp vợ chồng sống với nhau suốt đời. Tình bạn cũng vậy. Tình bạn thì không có sự cháy bùng, đam mê như là tình yêu, cho nên tình bạn dễ hơn nhiều. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói rất rõ là tình bạn thì lâu dài, bền chắc, và nuôi dưỡng mình nhiều hơn tình yêu. Cho nên bí quyết là mình phải biến tình yêu lúc ban đầu trở thành tình bạn. Hai người ban đầu là hai người yêu, nhưng từ từ sẽ trở thành hai người bạn.

Khi trở thành hai người bạn thì đó là tình yêu đang còn. Còn nếu tình yêu không trở thành được tình bạn thì nó sẽ chết, nó không thành công. Mà sở dĩ tình yêu trở thành tình bạn được là vì mình phát khởi được cái ơn và cái nghĩa. Cái ơn nghĩa đó bắt đầu từ chỗ ý thức được rằng tại sao giữa bao nhiêu người mà người đó lại chọn mình. Và mình biết ơn người đó đã chọn mình. Cái chọn của mình không phải là nhất thời. Sự chọn này phải xảy ra trong một quá trình nào đó, với trí tuệ chứ không phải chỉ với đam mê mà thôi. Nếu chỉ có đam mê thì mình sẽ hối hận. Phải có trí tuệ và phải biết lắng nghe, Lắng nghe bạn bè của mình, lắng nghe cha mẹ của mình, lắng nghe các em của mình. Vì họ cũng có cái thấy, mà cái thấy của họ đôi khi khách quan hơn, chắc chắn là khách quan hơn mình, tại vì mình chủ quan quá. Mình đam mê rồi thì mình không thấy được sự thật rõ ràng bằng những người khác.

Thư của Sư Cô Chân Không gửi Chính phủ Myanmar – ngày 21.12.2017

Liên quan đến sự kiện hai phóng viên của Reuteurs – những người đang tường thuật về cuộc khủng hoảng Rohingya ở miền bắc Myanmar – bị  bắt giữ vào ngày 12 tháng 12 năm 2017, Sư Cô Chân Không – người chị cả của Dòng tu Tiếp Hiện – đã viết lá thư dưới đây gửi những người đứng đầu Nhà nước Myanmar.

Ngày 21 tháng 12 năm 2017

Kính thưa Ngài Tổng thống U Htin Kyaw,

Kính thưa Bà Cố vấn Nhà nước Myanmar Daw Aung San Suu Kyi,

Tôi là tỳ kheo ni Thích Nữ Chân Không, đệ tử lớn nhất  của Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Với tất cả khiêm cung và e dè, tôi xin được đề cập đến những vấn đề có liên quan tới người dân và các cơ quan chức năng của Myanmar. Tôi không dám lên án bất cứ ai, cũng không dám đòi hỏi hay thúc giục ai làm một điều gì. Tôi chỉ có một ước mong duy nhất là hiến tặng lời dạy rất giản dị nhưng vô cùng sâu sắc của Bụt Shakyamuni mà  nguồn tuệ giác trong suốt 2600 năm qua  luôn được kính ngưỡng.

Bụt dạy rằng mỗi khi chúng ta nhìn thấy cái gì, nghe thấy điều gì, chúng ta thường có cảm tưởng rằng đối tượng tri giác của mình – tức là cái thấy của mình – là sự thật và chính xác. Chúng ta chắc chắn rằng tri giác của mình là đúng 100%. Nhưng theo lời Bụt dạy, những tri giác của con người trên thực tế chỉ đúng một phần thôi. Những tri giác có thể đúng ở một vài khía cạnh, nhưng lại có thể không hoàn toàn chính xác và toàn vẹn ở những khía cạnh khác.

Những tri giác mà cảnh sát hoặc Chính phủ Myanmar đang nắm giữ liên quan đến hai nhà báo Wa LoneKyaw Soe Oo, có thể chỉ là những tri giác mà thôi. Đó không phải là toàn bộ sự thực. Tại sao một nữ tu sĩ Phật giáo lớn tuổi và khiêm nhường như tôi lại dám nói điều này?! Bởi vì tôi và những người bạn của mình đã có cơ hội tìm hiểu từ nhiều nguồn tin về thân thế của Wa Lone và Kyaw Soe Oo. Hai nhà báo này xuất thân từ những gia đình nông dân nghèo nhưng thông minh và từ mẫn. Chúng tôi được nghe kể về cách sống của Wa Lone: mặc dù bận rộn với nhiều trách nhiệm, Wa Lone vẫn dành thời giờ để viết  sách cho trẻ em nghèo nông thôn và chơi với các em, đọc truyện cho các em nghe. Chúng tôi cũng được biết rằng nhà thơ Kyaw Soe Oo rất đam mê với việc sáng tác thơ trước khi quyết định dấn thân vào sự nghiệp của một nhà báo, chứng tỏ rằng Kyaw Soe Oo yêu thích vẻ đẹp của thi ca hơn là việc lên án hay chỉ trích người khác với tư cách một nhà báo.

Trong suốt 2600 năm qua, có rất nhiều đệ tử của Bụt Shakyamuni đã chứng thực rằng tri giác của chúng ta luôn phiến diện. Một ví dụ điển hình là chuyện những người mù sờ voi. Một người sờ vào ngà của con voi và cho rằng con voi là một cái gì sắc, cứng và có thể gây nguy hiểm. Một người mù khác sờ vào đuôi voi thì cho rằng con voi giống như một cái chổi. Và một người sờ vào chân voi thì cho rằng con voi giống như những cái cột nhà. Không ai trong số những người đó có thể thấy được con voi một cách toàn vẹn. Đối với chúng ta cũng như vậy, tri giác của chúng ta về tình trạng chỉ mang tính phiến diện và không phản ánh sự thật một cách toàn vẹn.

Bụt cũng từng đưa ra một ví dụ khác về một sợi dây thừng vắt ngang trên đường đi. Khi thoáng thấy sợi dây, ta phản ứng liền và tin chắc đó là một con rắn lớn. Rồi ta có ý định giết con rắn càng nhanh càng tốt. Chỉ sau đó chúng ta mới nhận ra rằng đó chỉ là một sợi dây.

Trong chiến tranh Việt Nam, vào tháng 5 năm 1966, có hai người bạn của tôi ở trường Thanh niên Phụng sự Xã hội đã bị giết bằng những quả lựu đạn do những người mang mặt nạ ném vào nơi chúng tôi đang ngồi. Trong tang lễ của hai người bạn, tôi đã đọc một bài điếu văn ngắn, trong đó nói rằng: “chúng tôi không dám giận các anh, những người đã giết hai người bạn tôi. Ước mong duy nhất của chúng tôi là lấy đi những tri giác sai lầm mà các anh đang có về chúng tôi. Chúng tôi muốn nói với các anh  rằng, thực tế chúng tôi chỉ là những người trẻ có trái tim nhân hậu, những tình nguyện viên được Thầy của chúng tôi – Thiền sư Thích Nhất Hạnh – dạy bảo để đi tới những ngôi làng nghèo khổ không có trường học, không có điều kiện chăm sóc y tế ở nông thôn. Chúng tôi xin các anh  biết rằng chúng tôi không căm thù các anh, chúng tôi chỉ muốn xin các anh  lấy đi những tri giác sai lầm của các anh về chúng tôi. Chúng tôi biết rằng những gì các anh gây nên có vẻ như là một tội ác và sở dĩ các anh  làm vậy vì các anh nghĩ chúng tôi là những con rắn độc mà các anh cần phải giết đi để giải phóng cho thế giới khỏi bị nguy hiểm. Trong khi đó trên thực tế, chúng tôi đơn giản chỉ là những người em nhỏ của các anh, chúng tôi  rất thương quý các cháu bé ở nông thôn không có trường học, không được chăm sóc về mặt y tế và đang cần sự giúp đỡ”.

Kính thưa Bồ tát Daw Aung San Suu Kyi,

Kính thưa Ngài Tổng thống Myanmar U Htin Kyaw,

Tôi kính xin quý vị nên nhìn sâu hơn thêm tri giác của mình về Wa Lone và Kyaw Soe Oo. Tôi không dám phán xét hay chỉ trích quý vị. Là một người tu, đệ tử của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, tôi chỉ muốn mời quý vị trở về với hơi thở của mình để tiếp xúc với sự tĩnh lặng trong hơi thở vào và tiếp xúc với sự sáng tỏ trong hơi thở ra. Khi quý vị đặt sự chú tâm hoàn toàn vào hơi thở của mình thì quý vị cũng đồng thời tiếp xúc được với bình an trong hơi thở vào và từ bi trong hơi thở ra. Xin hãy tặng cho chính mình một ngày không có sự căng thẳng và giận dữ. Xin đừng hiểu lầm tôi, tôi không dám chỉ trích quý vị hay những quyết định của quý vị. Có thể trong một hoặc hai ngày nhìn lại, quý vị sẽ lấy làm mừng rằng mình đã không phán xét sai lầm những người con dễ thương đẹp đẽ của Myanmar như Wa Lone và Kyaw Soe Oo.

Chúng tôi biết rằng quý vị thương tất cả dân chúng của Myanmar, nhưng tình trạng phức tạp của đất nước đã không cho phép quý vị hành động như vị Bụt trong quý vị. Tôi viết lá thư này không phải để phán xét mà để chạm tới vị Bụt an tĩnh và Bồ tát đại bi trong quý vị, để cho lòng từ có thể nở hoa và quý vị có thể vượt qua những chướng ngại đang che lấp tâm mình.

Nam Mô Đức Bụt Shakyamuni

Nam Mô tất cả các đức Bụt của Myanmar

Chúng tôi hiểu rằng lòng bi mẫn, lòng từ ái đang có mặt trong trái tim quý vị.

Với lòng biết ơn sâu sắc,

Tỳ kheo ni Thích Nữ Chân Không

Đại diện Cộng đồng tăng thân quốc tế Làng Mai tại Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Hồng Kông, Úc  và Thái Lan.

____________________________

Nguyên bản tiếng Anh:

Sister-Chan-Khong’s-Statement-on-Burma-December-2017-1

Bài viết có liên quan:

https://langmai.org/cong-tam-quan/thong-bach/giot-nuoc-tu-bi/

Khoá tu doanh nhân tại xóm Thượng và xóm Hạ, Làng Mai, ngày 31.05 – 07.06.2017

Câu đối và Chương trình đón xuân Mậu Tuất 2018 tại Làng Mai

“… Trời đất hân hoan mừng nắng dậy
Một đàn em nhỏ rộn yêu thương
Quần điều áo lục theo chân mẹ
Hái lộc đầu xuân chật ngả đường.”

Ngày xuân đang về, trước thềm năm mới, bốn chúng Làng Mai xin kính chúc quý thân hữu một năm mới thật nhiều sức khỏe, nhiều niềm vui và bình an trong từng hơi thở và bước chân. Trong dịp chào đón năm mới Mậu Tuất, tăng thân Làng Mai có hai câu đối  “An khi thở, Lạc khi đi” làm món quà gởi đến quý thân hữu để quý vị có thể in lên giấy hồng điều và trang trí trong nhà… cùng vui xuân và thực tập với tăng thân.

Tải về câu đối Tết 2018

“Buổi sáng khi thức dậy, ta biết rằng ta có hai mươi bốn giờ trước mặt để sống. Đó là một món quà quý giá. Ta sống như thế nào để có an lạc và hạnh phúc trong suốt hai mươi bốn giờ, mà người khác cũng nhờ đó mà có an lạc và hạnh phúc. An lạc có mặt trong ta ngay tại đây trong giờ phút này, trong mỗi vật và mỗi việc ta làm hay ta thấy. Vấn đề là ta có biết tiếp xúc với nó không. Bầu trời xanh ở ngay trước mắt ta, ta đâu cần phải đi đâu xa để thưởng thức trời xanh. Ta cũng không cần rời thành phố ta ở mới thấy được vẻ đẹp của đôi mắt trẻ thơ. Không khí trong lành ta thở đã có thể cho ta biết bao hạnh phúc rồi.

Ta hãy đi, đứng, thở, mỉm cười và ăn cơm như thế nào để luôn luôn được tiếp xúc với những mầu nhiệm quanh ta. Ta sắp đặt và chuẩn bị đời sống rất giỏi nhưng ta chưa giỏi trong cách sống. Ta có thể hy sinh mười năm trời để dành cho được mảnh bằng kỹ sư hay bác sĩ, ta sẵn sàng làm việc rất cực nhọc để có công ăn việc làm, để mua nhà, mua xe v.v… Nhưng ta quên rằng ta đang sống trong hiện tại và ta chỉ có thể thật sự sống trong giây phút hiện tại mà thôi. Chỉ cần tỉnh thức thì mỗi hơi thở và mỗi bước chân là một nguồn an lạc, chúng cho ta biết bao niềm vui và biết bao sự thanh thản….” – Sư Ông Làng Mai

Chương trình đón Xuân Mậu Tuất 2018 tại Làng Mai

Để sống với những nét đẹp văn hóa cổ truyền của đất nước và cũng để thắp sáng truyền thống vui xuân với không khí ấm cúng của đại gia đình Việt tự ngàn xưa, Tăng thân Làng Mai xin mời các thân hữu gần xa cùng về xum họp tại Làng Mai từ ngày 29 tháng chạp cho đến ngày mùng 4 tháng giêng để cùng vui Xuân.

Ngày đầu xuân mồng Một, sau lễ đầu năm là phần Bói Kiều đầu Xuân. Bói Kiều là tham khảo ý kiến cụ Nguyễn Du, ni sư Giác Duyên và đạo cô Tam Hợp về tình trạng hiện tại của mình và để biết tu tập tiếp xử cách nào cho có hạnh phúc và thành công trong năm tới. ‘Thác là thể phách, còn là tinh anh’, tuy hình hài cụ Tiên Điền không còn, nhưng tinh anh của thi hào vẫn còn mãi mãi trong ta, chung quanh ta và trong sức sống của dân tộc.

Đặc biệt hơn nữa quý vị sẽ được viếng thăm phòng của quý thầy quý sư cô (chỉ được thăm trong ngày Tết thôi!), được tận hưởng những nụ cười, bánh mứt, hạt dưa và những câu chuyện vui đầu Xuân trong không khí ấm áp tình đạo hữu.

Ngày đón khách cho dịp Tết sẽ là ngày 14 tháng 2 năm 2018, xin quý vị sắp xếp thời gian để đến đúng ngày để yểm trợ cho sự sinh hoạt của đại chúng cũng như tiện cho sự sắp xếp chỗ ở, ghi danh, đưa đón…  Nếu không thể đến đúng ngày xin yểm trợ tự sắp xếp taxi để đến Làng.  Và xin tới sớm trước giờ ăn chiều  5:30

Chương trình bình thơ và đón giao thừa tại xóm Mới (nhằm ngày 15/02/2018 dương lịch)
 

14:30 Bình thơ

17:30 Lễ Giao Thừa

  • Ngồi thiền 30’ trước khi làm lễ đón giao thừa
  • Lễ đón giao thừa
  • Chuông trống Bát Nhã
  • Đọc Lời khấn nguyện đầu năm
  • Ăn tối picnic
  • Văn nghệ

Mùng một Tết (nhằm ngày 16/02/2018) – xóm Thượng

10:00 Tập họp tại thiền đường Nước Tĩnh

  • Ngồi thiền
  • Đốt pháo, múa lân
  • Quý thầy và quý sư cô lạy nhau đầu năm mới
  • Bói Kiều với quý thầy, quý sư cô
  • Ăn trưa
  • Thăm phòng
  • Ăn chiều
  • Đại chúng tiếp tục thăm phòng

Mùng hai Tết (nhằm ngày 17/02/2018) – xóm Hạ

10:00 Tập họp tại thiền đường Hội Ngàn Sao để bói Kiều với quý thầy, quý sư cô

  • Ăn trưa
  • Thăm phòng
  • Ăn chiều
  • Đại chúng tiếp tục thăm phòng

Mùng ba Tết (nhằm ngày 18/02/2018) – xóm Mới

10:00 Tập họp tại thiền đường Trăng Rằm để bói Kiều với quý thầy, quý sư cô

  • Hội chợ ẩm thực đầu Xuân (với các đặc sản như samosa, bánh lọc, chinese soup, chinese dumpling, bánh bao, đậu hủ đường…)
  • Thăm phòng.
  • Ăn chiều.
  • Đại chúng tiếp tục thăm phòng.
  • Trên đây là chương trình những ngày vui Xuân tại Làng Mai. Kính mời quý vị thân hữu gần xa về Làng đón xuân Mậu Tuất cùng tăng thân Làng Mai. Xin đăng ký tại đường link dưới đây:
  • Xóm Hạ: dành cho phụ nữ độc thân và các cặp vợ chồng

  • Xóm Mới: dành cho phụ nữ độc thân và các cặp vợ chồng

  • Xóm Thượng: dành cho nam độc thân và các cặp vợ chồng
  • Trân kính,
    Tăng thân Làng Mai