Vịnh cây cóc già

 

 

Hiên ngang cô ngạo giữa rừng Đông

Lá trả đất, hương trả về không

Héo hắt hoang vu cô quạnh quá

Lạnh lùng xơ xác tận mông lung

Sức hùng thu hết về nội thể

Chí cả thả vào đám lá rong

Ung dung lặng lẽ vầng trăng khuyết

Lòng vời trùng điệp một trời xuân.

Thầy Trung Hải

 

Niềm vui từ Pak Chong

Duyên lành gặp Thầy

Ở Làng Mai, con thích những buổi sáng nhất, bởi bầu không khí quá tuyệt vời khiến không ai muốn bỏ phí. Con đã nghe kể rằng có những buổi sáng ở Pháp, khi cùng với các học trò của mình đi thiền hành, Sư Ông thường dùng ngón tay đón lấy những hạt sương sớm mai trên lá thông và truyền tay từng người. Hay con còn nghe kể về những cuộc trò chuyện với cái cây hay bông hoa ở bên đường khi thiền hành. Còn con, con thích lần đi qua một con đường thiền hành cỏ mọc um tùm ở Làng. Con đã hạnh phúc lắm vì ở đây có mùi cỏ, và mùi của đất Mẹ mà đi đâu con cũng kiếm tìm.

Lần đó, con “đi bộ” trong tâm thái rất thong dong, rất bình yên và dù có bao nhiêu người đi xung quanh, con tập trung vào bước đi của mình và thi thoảng ngắm mây, ngắm trời, ngắm cây cỏ hoa lá (như con vẫn luôn thế) nên chẳng mấy chốc bị tụt lại tít phía sau. Đi được một đoạn khá xa, con thấy mọi người đằng trước tụ tập lại trước một ngôi thất và đồng thanh hát. Ban đầu, con còn nghĩ truyền thống ở đây là vậy, nhưng tiến gần hơn tới trước thất, con mới quan sát kỹ hơn và nhận ra… ngồi trên hành lang tầng hai của ngôi thất chính là… Sư Ông. Sư Ông ngồi đó trên xe lăn, tay trái cầm ly trà, lắng tai nghe đại chúng hát, bình yên thật là bình yên…

Nhiều người khi gặp Sư Ông đã vái lạy, nhiều người đã khóc. Nhiều người đã tu theo phép tu của Sư Ông từ lâu, con thì chỉ mới biết qua sách của Sư Ông, qua trang Facebook của Làng, nhưng khi nhìn thấy Sư Ông, con thấy xúc động khôn cùng. Con thấy ngưỡng mộ, ngưỡng mộ một con người đã dành bao nhiêu năm kêu gọi hòa bình và thức tỉnh nhiều người đến vậy. Lúc đó con chỉ biết nhìn Sư Ông, nhìn mãi, không rời mắt. Đến khi phải rời đi, con cũng chỉ biết ngoái theo, ngoái theo mãi, tay chắp búp sen chào Sư Ông. Cô giáo con đi cùng nói rằng: “Mọi người cúi lạy Sư Ông vì họ muốn tỏ lòng tôn kính, nhưng món quà ý nghĩa nhất dành tặng Sư Ông chính là sự tỉnh thức và sự thực hành của mình con ạ”. Con hiểu những điều cô nói và với cơ duyên được gặp cô, được gặp Sư Ông và tất cả những người khác trong lần đi Làng Mai, đó thực sự là thông điệp mạnh mẽ nhất để con tin tưởng và bước tiếp trên con đường hướng tới hiểu biết và yêu thương hơn.

Con mong Sư Ông mau khỏe lên nhiều vì thêm một người được gặp Sư Ông là thêm một người được yểm trợ bởi nguồn năng lượng tươi mát nơi Sư Ông, Sư Ông ơi!

Lớp học Lá  Bối

Không có nhiều từ mà vừa nghe đã thấy hay thật hay như “Lá Bối” – đại bản doanh, nơi tề tựu mỗi ngày của Gia đình Chồi Cúc.

Phòng Lá Bối của gia đình Chồi Cúc chắc là một trong những nơi ngắm hoàng hôn đẹp nhất ở đây. Theo suy luận địa lý của con thì phòng học hướng về phía Nam, một bên cửa sổ hướng về hướng Tây có mặt trời chiếu cuối ngày đẹp đến nao lòng người, bên còn lại nhìn ra đằng sau chánh điện (mà chánh điện cũng đẹp nao lòng nốt!). Và dù mình không có ý định bỏ thời khóa nào đâu nhưng ánh mặt trời đó vẫn luôn là một động lực để con đi tham dự gia đình pháp đàm.

Kỷ niệm vui nhất ở Gia đình Chồi Cúc và làm con rất yêu quý gia đình này có lẽ là trải nghiệm thỉnh chuông. Chuyến đi Làng Mai khiến con thấy tiếng chuông thật kỳ diệu. Từ tiếng chuông đồng hồ 15 phút một lần mà mỗi khi vang lên là tất cả mọi người dừng hết tất cả mọi hoạt động lại để theo dõi hơi thở, đến tiếng chuông, tiếng khánh trong thời khóa nhắc mọi người quay về với chính mình. Vì thế nên lúc được nghe dạy thỉnh chuông, con hào hứng lắm. Sau phần giảng là đến phần thực hành, mọi người cũng ngồi thành vòng tròn và chuyền chuông để lần lượt từng người thử. Đến lượt mình, con run quá mức, và con thỉnh chuông mắc cười ghê lắm. Sư cô vừa dạy rằng ai mà tươi mát, an lạc thì tiếng chuông sẽ thanh và rất vang, vậy mà con thỉnh ra một tiếng chuông dở quá. Nhưng sau khi được sư cô chỉ cho rằng con cầm dùi sai và chỉnh lại cho, thì con thỉnh đúng kỹ thuật và tiếng chuông cũng khá thanh và cũng hơi vang, còn được mọi người vỗ tay, khen: Hay quá! nữa.

Sau bữa đó, con rất thích đi sinh hoạt gia đình. Các giờ lao động chấp tác là vui nhất. Bây giờ về Hà Nội, con nhớ những bữa ngồi cắt rau húng hay những hôm đi bê rau được nửa đường thì phát hiện ra quên mất cặp vẫn treo ở cành cây, phải quay lại để lấy. Và tất nhiên nhớ nhất vẫn là bữa ngồi ở gốc cây đối diện nhà bếp mọi người vừa nhặt rau muống vừa ca hát. Nhưng vui nhất, chắc là khi cứ đến bữa ăn mà thấy rau mình nhổ hay nhặt là con lại quay sang chị Tuyến hãnh diện khoe: Rau này em nhổ đấy nhé!

Và tất nhiên con cũng thật nhớ buổi thiền trà chia tay của bữa sinh hoạt cuối cùng. Đó cũng là một ngày hoàng hôn thật đẹp, mọi người lại ngồi thành vòng tròn, ăn bánh, uống trà và trò chuyện. Rồi mọi người đọc thơ, có người hát và còn được tặng bookmark nữa. Hôm đó, con đã lại thật sung sướng được tắm nắng và lắng nghe mọi người. Những câu chuyện của các anh chị làm con thấy mình còn đang may mắn quá và sẽ còn thật nhiều điều đang chờ mình ở những năm tiếp theo. Từ câu chuyện của mọi người và từ những thực tập ở đây, khi về nhà có lẽ con sẽ sẵn sàng hơn để đón nhận những điều đang chờ mình ở phía trước.

Giống như Lá Bối được dùng để chép lại kinh Phật, thì phòng học Lá Bối hình như cũng ghi lại “hơi” nhiều những kỷ niệm, những câu chuyện của Chồi Cúc rồi.

 “Relax” là như thế chứ đâu!

Chuyến đi Làng Mai lần đó, con có mang theo một cuốn sách được một người ban tặng. Đó là cuốn “How to relax” của Sư Ông. Và cũng chính trong chuyến đi đó, con đã tìm thấy những giây phút, những công việc khiến mình phải thốt lên rằng: “Relax là đây chứ đâu!”

Điều đầu tiên con thích ở Pak Chong đó là thiên nhiên quá tuyệt vời. Khi về con có tìm hiểu và đọc được thông tin rằng vùng núi Khao Yai ở Pak Chong là một trong bảy vùng núi có năng lượng tốt nhất thế giới. Ngồi thiền ngoài trời hay là thiền hành ở đây thì không gì bằng! Mà ở Làng Mai, ai cũng tươi mát như một bông hoa, dễ thương vô cùng, mọi người ai cũng cười và chào nhau, dù chẳng quen biết trước. Thực sự có những ngày, chỉ cần ngồi cạnh nhà bếp nhìn mọi người cứ  ngồi không hoặc đi lại thôi cũng thấy thật yên bình rồi. “Relax” là như thế chứ đâu!

Ngày đầu con đến đây, con đã bất ngờ khi bỗng nhiên có tiếng đàn hát phát ra từ đâu đó. Ở đây vài ngày thì con thấy chuyện đó không còn lạ nữa, mà trở thành cái gì đó thật quen thuộc. Khi nào cũng có tiếng đàn hát, hoặc tiếng piano,… Và đến những ngày cuối, cứ khi không có thời khoá thì chính con cũng tự dưng ngâm nga một vài câu thiền ca, như là: “Khi yêu thương, lòng như đứa trẻ…” chẳng hạn. “Relax” là như thế chứ đâu!

Có một hôm khi mới đến, vì chưa có lịch trình gì nên mấy chị em con dắt nhau lên đồi chơi. Nói thiệt là khi con ngồi ô tô qua đây, trên đường đi qua biên giới Thái Lan con ngủ li bì nên chưa biết khung cảnh ở đây thế nào. Và bữa đó, sau khi leo những bậc đá xi măng lên cao cao đến một khoảnh đất bằng, con thích lắm vì khung cảnh trước mặt, có núi và nhìn thấy một phần xung quanh, toàn một màu xanh!!! Thậm chí, thấy đồi cao, gió mát, cảnh đẹp, con đã chỉ nghĩ được một chuyện: “Giờ mà ngủ ở đây thì tuyệt!” Và nghĩ xong phải làm ngay, con nằm ra đấy, gối lên cái cặp, úp cái mũ lên mặt và ngủ ngon ơ! Bên cạnh còn có cô giáo đi cùng ngồi hát hết bài này đến bài kia nữa. Bây giờ ngẫm ra thì đó chính là lần đầu con được hưởng thiền buông thư có hướng dẫn. Thật là “relax”!

Pak Chong đầy nắng và gió nên một vài cái xích đu được làm bằng gỗ với dây thừng gắn thật chắc chắn vào mấy cây me lớn là “số dzách”. Từ hôm mới đến, con đã để ý đến mấy em xích đu đó rồi, mà đến hôm cuối mới được đu đưa vì mấy bữa trước không tranh được với các em bé con. Mà hình như cứ ngồi trên xích đu thì ai trông cũng như trẻ con ấy. Hình như cứ ngồi lên xích đu là dù mới lớn hay… lớn lâu rồi đều sẽ tự nhiên mà gạt hết mọi thứ sang một bên và chơi như hồi mình còn bé con vậy!

Ở Làng Mai cũng có nhạc hội. Bình thường nghe “nhạc hội” là con nghĩ ngay phải có mấy màn nhạc sôi động mọi người nhảy múa. Nhưng Làng Mai mà, Làng Mai nên nhạc hội ở đây cũng cứ thật yên bình với toàn những bài hát thật nhẹ nhàng. Mọi người hát, biểu diễn, văn nghệ theo kiểu… rất Làng Mai… Con thích nhất tiết mục “Chú Cuội” với tiếng violin, tiếng sáo và tiếng guitar thật nhẹ nhàng mà bay khắp không gian trong một đêm trăng non thật mát và trong. Thú thật là sau đêm nhạc hội, con mới hiểu vì sao khu đất tổ chức nhạc hội đó gọi là Sân Trăng. Vì ngắm trăng từ đây đẹp quá mà! “Relax” là đây chứ đâu!

Con nhớ nhất ngày cuối ở Làng Mai, hai chị đi cùng đã về rồi, sửa soạn hành lý xong hết rồi, con thấy chị nào đó đang quét sân, mà quét sân quét lá là việc con rất thích nên con phải… chớp ngay cơ hội. Và thế mà con tung tăng đi quét sân, hết bên này đến bên kia với chị. Chỉ một việc bé tí teo thế thôi mà sao con thấy vui quá trời, và thấy bình yên lắm! Quét xong cái sân thật bự, hai chị em cười với nhau toe toét rồi tự khen: “Chị em mình quét sạch phết em nhỉ?!” (Nghĩ lại lại thấy vui!)

Yên bình “bị phá vỡ”

Làng Mai yên bình là thế, mà cũng có những khi cái yên bình đó “bị phá vỡ”. Có một hôm con cùng với mấy chị nữa ở Hà Nội qua đang ngồi nói chuyện ở lán gỗ gần khu lều, thì có một chiếc xe máy tiến tới, đi kèm với tiếng keng keng leng keng khá lớn. Mọi người dồn hết chú ý vào đó luôn. Một chị cất tiếng: “Như kiểu bán kem ở Việt Nam ý nhỉ?!”, thì hóa ra là xe máy bán kem thật.

Bữa đó thấy chú, cô giáo đưa con tiền rồi bảo: “Tiền lẻ này Chấu, con chạy ra mua kem đi!”

Và con, như một đứa trẻ được mẹ cho tiền, tung tăng hớn hở chạy ra mua kem.

Ở đây có hạnh phúc không?

Để kết lại, con xin kể một câu chuyện rằng có một hôm ở Làng Mai, khi con đang đi loăng quăng một mình hướng về lại phía lều thì gặp một sư cô cười rất tươi với mình (và khi con gặp quý sư cô, con cũng đều cười tươi đó) và sư cô gọi con:

“Ở đây có hạnh phúc không?”

Con cười lại (cũng siêu tươi) với sư cô và trả lời: “Dạ! Hạnh phúc lắm, sư cô!”

Tối hôm rời Làng về lại Việt Nam, khi xe nổ máy, con ngồi cạnh cửa sổ nhìn ra cổng xóm Trời Quang mà thấy thật bịn rịn. Vì không muốn xa nên càng nhìn thì lại càng chẳng muốn rời và tự nhiên xúc động lắm. Nhưng cũng đâu thể nào khác được, chỉ biết mong lần sau lại có đủ duyên để quay lại và tự hứa về nhà phải thực tập làm sao cho tốt vì mỗi khi thực tập là mỗi lần nhớ về Làng và có thêm động lực để quay lại. Sáng ngày sau nữa, khi ngồi ăn một cốc mì úp nước sôi ở cửa 7Eleven lúc 05:30 sáng, con lại nhớ Pak Chong khủng khiếp. Nhưng nghĩ lại thì nỗi nhớ nào rồi cũng sẽ vơi và trước những sự thật thì điều tốt nhất nên làm có lẽ là chấp nhận và đối mặt với nó. Nhưng nỗi nhớ Làng Mai chắc chắn là không thể sớm mà vơi đi được, vì cảm giác muốn quay lại mạnh mẽ quá.

Một trong những bài hát yêu thích nhất mà con cứ hát đi hát lại khi ở Làng có câu:

“Khi yêu thương, lòng như đứa trẻ

Xin cho hoài không đắn đo chi

Tình thân quyến gặp trong mọi nẻo,

Và nơi chốn bình an là nhà…”

Nhận được sự yêu thương của mọi người, con cũng xin nguyện sẽ học cách “Hiểu và thương”, bởi:

“Có hiểu mới có thương

Hiểu càng sâu, thương càng rộng

Hiểu càng rộng, thương càng sâu…”

Viết xong bài viết này, con nhớ đến câu hỏi mà sư cô đã hỏi mình hôm đó: “Ở đây có hạnh phúc không con?” Và câu trả lời của mình thì vẫn luôn vậy: “Dạ! Hạnh phúc lắm cô!”.

Hà Nội, ngày 23/07/2017, một đêm mưa.

Chân Giang

Khoá tu nấu ăn 2016, từ ngày 5-12/8 tại xóm Mới, Làng Mai

Phỏng vấn Cây Đan Mộc

Ngày 01.12.2015, tại Làng Mai đã diễn ra lễ xuất gia của gia đình Cây Đan Mộc (Red Wood), 10 em được xuất gia tại Làng và 9 em được xuất gia tại Thái Lan. Sau lễ xuất gia, BBT đã có một buổi ngồi chơi với 8 cây Đan Mộc tại Làng (hôm ấy có hai cây Đan Mộc bận… nấu ăn). Đến từ nhiều quốc gia khác nhau: Ái Nhĩ Lan, Ý, Hòa Lan, Pháp, Úc, Đức, Indonesia và Việt Nam, không hẹn mà gặp, những người trẻ chung lý tưởng này đã tìm về dưới mái nhà tâm linh để cùng đi trên con đường của hiểu biết và thương yêu. BBT xin được chia sẻ nội dung buổi trò chuyện.

BBT: Các sư em cảm thấy như thế nào khi Thầy không được khỏe và không có mặt ở Làng gần như trong suốt thời gian các sư em tập sự xuất gia? Sự vắng mặt của Thầy có ảnh hưởng gì đến sự thực tập hay chí nguyện của các sư em không?

Sư chú Trời Đạo Lực (người Việt): Ngày con lên máy bay để sang Pháp, các bạn trong Gia đình Phật tử đã hỏi con một câu tương tự. Khi đó con trả lời vui là Bụt đã tịch hơn 2600 năm rồi mà người ta vẫn phát tâm thực tập những lời Bụt dạy. Tại vì giáo nghĩa Bụt dạy rất cụ thể và phù hợp với mọi người. Trong lòng con thầm nghĩ: Thầy đã trao truyền rất nhiều pháp môn để tu học, vì vậy khi xuất gia, mình nương tựa vào pháp môn và vào pháp thân của Thầy để thực tập. Những lời Thầy dạy rất thực tế và phù hợp với xã hội hiện nay. Con đến Làng đúng vào lễ Tự tứ kết thúc mùa An cư kết Đông năm 2014 – 2015. Đó là lần đầu tiên con nghe nói đến “Tăng thân là sự tiếp nối của Thầy”. Con thấy đó là sự thật, bởi vì trong một năm con ở đây, con không chỉ học hỏi rất nhiều từ Thầy mà còn từ đại chúng. Vì vậy con không lo lắng lắm khi Thầy không có mặt trực tiếp để chỉ dạy cho chúng con.

Sư cô Trăng Tĩnh Mặc (người Indonesia): Thực sự, khi đến Làng, con chưa biết nhiều về Thầy, cũng chưa đọc nhiều sách của Thầy. Con thấy Làng Mai qua quý thầy, quý sư cô từ trung tâm Làng Mai Thái Lan đến Indonesia để hướng dẫn khóa tu. Lần đầu tiên tiếp xúc với quý thầy, quý sư cô, con đã có nhiều cảm mến. Tuy con không biết Thầy là ai, nhưng nhìn quý thầy, quý sư cô, con thấy rất muốn được tham dự vào tăng đoàn. Khi quyết định đến Làng, con nghe nói Thầy bị bệnh. Ở Indonesia, người ta còn đồn là Thầy đã viên tịch. Nghe tin đó, con buồn lắm. Tuy thế con không lấy đó làm trở ngại, bởi vì con muốn gặp tăng thân. Ở Indonesia, có được một tăng đoàn đông đảo như tăng đoàn Làng Mai là rất hiếm. Vì vậy con đến đây không phải vì Thầy mà vì sự tiếp nối của Thầy. Quý thầy, quý sư cô trong chuyến hoằng pháp tại Indonesia là những người rất đẹp, rất vui tươi và đã tạo cho con rất nhiều cảm hứng.

Sư chú Trời Đạo Sơn (người Pháp): Khi con tới Làng Mai lần đầu vào tháng 10 năm 2014, Thầy không có mặt ở Làng. Lúc đó con ở Sơn Hạ và hoàn toàn chưa biết gì về Làng Mai. Lần đầu tiên tiếp xúc với tăng thân, con đã bị tăng thân chinh phục. Vì thế con không bị ảnh hưởng nhiều khi nghe tin Thầy bệnh nặng, thậm chí có thể viên tịch. Khi đó đang là mùa An cư kết Đông, có khoảng 60 vị cư sĩ nam đến an cư suốt ba tháng tại xóm Thượng. Đại chúng không có chọn lựa nào khác là phải tiếp tục đi tới dù cho bất cứ chuyện gì có thể sẽ xảy ra với Thầy, khi ấy ai cũng nương vào nội lực của mình để đóng góp cho đại chúng. Mỗi tuần đều có tin về Thầy nhưng vẫn không thể biết là chuyện gì sẽ đến. Đại chúng chỉ có thể lên kế hoạch cho từng tuần một. Quý thầy, quý sư cô và tất cả thiền sinh ai cũng thực tập hết lòng để yểm trợ tăng thân và để tiếp nối Thầy, để tăng thân vẫn tiếp tục đi tới. Con rất cảm động khi thấy điều này. Mỗi lần nhớ lại, con đều thấy có nhiều cảm hứng. Chúng ta cứ tiếp tục đi tới thôi. Thầy đã lớn tuổi. Dù sau này Thầy có bình phục, chúng ta vẫn phải tiếp tục thôi. Giờ đây con là một sư chú trẻ, con đã trở thành một thành phần của sức mạnh đi tới đó.

BBT: Chấp nhận là chìa khóa của sự thành công khi sống trong tăng thân. Các sư em thực tập như thế nào để chấp nhận những gì chưa hoàn hảo, những khác biệt và đa dạng về văn hóa trong tăng thân?

Sư chú Trời Đạo Quy (người Úc gốc Việt): Trước khi đến Làng Mai con có xem pháp thoại của Thầy trên Youtube và một số video clip giới thiệu về Làng. Khi nhìn thấy Thầy và hình ảnh rất đẹp của mùa xuân, con nghĩ là người làm phim đã chọn những hình ảnh đẹp nhất để trình bày. Khi con mới tới Làng và chạm với thực tại, con nhận ra rằng những tri giác mà con có về Làng chỉ là qua các video clip. Con chưa thực sự hiểu về tăng thân. Cách mà con đối trị với những gì chưa hay trong tăng thân là đi vào phòng và… đấm vào bao cát (cười). Con nói đùa vậy thôi chứ thật sự càng sống và thực tập lâu trong đại chúng, con càng thấy vui hơn, thấy những điểm hay, điểm đẹp của đại chúng nhiều hơn. Con vẫn còn thấy những khiếm khuyết, tuy nhiên những cái đó không làm con kém vui hay đánh mất mình. Những lúc con thực tập không giỏi, không đối trị được với những khó khăn từ trong lòng mình là những lúc con nhìn ra ngoài và chỉ thấy những điều tiêu cực rồi khởi tâm bực bội. Khi đó con quay trở lại chính mình, đi theo thời khóa, không tách mình ra khỏi sinh hoạt của đại chúng để nuôi dưỡng chính con. Ba sự thực tập căn bản giúp con là hơi thở, bước chân và ăn trong chánh niệm.

Sư chú Trời Đạo Phương (người Ý): Con nghĩ khi mình có một tâm bồ đề thật sự mạnh mẽ thì nó sẽ giúp mình vượt thắng những khó khăn. Thầy Kai Li có nói rằng khi mình đang đau khổ, mình hay có khuynh hướng nhìn thấy những điểm tiêu cực của tăng thân và của huynh đệ. Khi ấy, mình nên ý thức đến những cái đẹp đã có sẵn trong đại chúng. Ở Làng Mai, chúng ta đang thật sự có tình huynh đệ. Nếu so sánh tăng thân với những gì đang xảy ra ở ngoài đời, mình sẽ thấy tăng thân thật sự đã quá đẹp. Đây là điều mà con luôn ghi nhớ khi có khó khăn.

Sư chú Trời Đạo Hành (người Hà Lan): Thực tập chấp nhận những gì chưa hay nơi người khác cũng vui lắm. Bởi vì nếu tất cả mọi thứ đều hoàn hảo thì một ngày như mọi ngày, dù mình đang ở thiên đường thì cũng chán lắm. Vì vậy những khác biệt giữa mọi người đem lại nhiều lý thú. Con nghĩ ai cũng có những cái đẹp riêng, cho nên mình cần để tâm đến những cái đẹp hơn là cái chưa đẹp. Nếu con quá để ý tới những gì chưa hay của người khác thì có lẽ chính con mới có quá nhiều những cái chưa hay.

Sư chú Trời Đạo Sinh (người Pháp): Con nghĩ vấn đề của con là làm thế nào để nhận diện sự đòi hỏi của mình đối với người khác. Đây là thực tập chủ yếu của con trong mùa An cư năm nay. Con nhớ có một lần trong gia đình tập sự của chúng con đang có khó khăn, khi ấy, con chỉ thấy những điểm tiêu cực của mọi người mà thôi. Con chia sẻ với Y chỉ sư, cố gắng không nói về các huynh đệ của mình một cách tiêu cực mà chỉ chia sẻ cái thấy của mình. Y chỉ sư của con lập tức nói: “Em biết không, em có một gia đình tập sự rất tuyệt vời, rất hòa điệu và yểm trợ nhau. Chúng ta có thể tin tưởng lẫn nhau.” Ngay khi đó con không thấy mình được lắng nghe và được hiểu. Vài ngày sau, khi sự căng thẳng đã lắng xuống, con thấy hình như Y chỉ sư của mình đã nói đúng, thầy đã cho con một câu trả lời rất hay. Chúng con là một gia đình nói chung khá hòa hợp, tuy lúc xảy ra chuyện thì con khó mà thấy được điều đó. Chỉ khi con bình tĩnh lại, con mới thấy cái hòa hợp, cái đẹp ở đó. Thỉnh thoảng mới có một chút chuyện và điều đó là rất bình thường. Thực tế thì không có gì là như con nghĩ. Tri giác của con và thực tại là hai cái hoàn toàn khác nhau. Sống trong tăng xá, con rất cảm động trước cách sống của quý thầy. Ở đây tình huynh đệ rất mạnh mẽ, rất rõ ràng và rất thật. Dù thực tại không hoàn hảo, nhưng đó là sự liên hệ thật sự giữa con người với con người, từ trái tim đến trái tim. Điều ấy làm cho con dễ đến và chấp nhận mọi người hơn bởi vì chính con cũng có những điểm chưa toàn hảo. Con cần phải luôn luôn ghi nhớ điều này.

BBT: Từ khi đến với tăng thân, có những hình ảnh, những kỷ niệm đẹp nào mà mỗi khi nghĩ đến, các sư em cảm thấy được nuôi dưỡng và được tiếp thêm sức mạnh để đi qua những giai đoạn khó khăn trong đời sống tu học?

Sư chú Trời Đạo Quy: Đó là khi con gọi điện về nhà qua Skype để chia sẻ những niềm vui trong sự tu học của mình với ba mẹ. Con cảm thấy sự có mặt của con ở Làng Mai đã có một ảnh hưởng tích cực đến ba mẹ, dù đó chỉ là những thay đổi nhỏ. Con chưa bao giờ thấy ba mẹ vui như vậy khi nói chuyện và thấy mặt con qua Skype. Con thương ba mẹ con rất nhiều. Tình thương ấy dù vẫn còn có sự vướng mắc và phân biệt, nhưng nó mang lại cho con một nguồn năng lượng lớn trên con đường chuyển hóa. Con ý thức rằng con đang tu cho chính mình và cũng đang tu cho ba mẹ. Ba mẹ và con không phải là những thực thể riêng biệt. Vì ba mẹ, con có thể làm bất cứ việc gì, đây là niềm vui lớn nhất của con khi ở Làng.

Sư chú Trời Đạo Sơn: Một kỷ niệm mà con nghĩ sẽ giúp con đi qua khó khăn là hình ảnh ba mẹ của con trong ngày con được xuất gia. Cho đến tận lúc ấy, con vẫn không thể giải thích để cho ba mẹ, nhất là ba, hiểu được vì sao con lại chọn đời sống xuất gia ở Làng Mai. Trong ngày xuất gia, con nghĩ ba mẹ của con bắt đầu cảm nhận được phần nào cái đẹp của tăng thân như con đã cảm nhận. Con sẽ nhớ mãi hình ảnh ba con ngồi sau lưng con và khóc khi nghe con bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với hai đấng sanh thành trước cả một đại chúng lớn. Con biết khi ấy sự cảm thông đã được thiết lập giữa hai cha con. Ngày hôm ấy đã mở ra một cơ hội tuyệt vời để gia đình con được hàn gắn và trị liệu. Con cảm thấy thật sự bây giờ con đã trở thành một người có thể giúp đỡ được cho ba mẹ, chỉ đơn giản là nhờ lễ xuất gia hôm đó. Hình ảnh ấy và cảm giác ấy sẽ là điều mà con nhớ mãi trong suốt cuộc đời xuất gia của mình.

BBT: Mỗi năm vào dịp Tết, trong ngày mồng Một, đại chúng Làng Mai thường dâng hoa, trà, quả làm phẩm vật cúng dường lên Thầy như là một biểu tượng để bày tỏ lòng biết ơn và hiếu kính của mình đối với Người. Đây là lẵng quả của sự thực tập do gia đình Cây Đan Mộc ở Làng Mai chọn và dâng lên Thầy nhân dịp Tết Nguyên Đán năm nay.

Quả chuối: Đây là loại quả mà sư cô Trăng Tĩnh Mặc đã chọn. Sư cô chia sẻ:

Con thấy mình giống như một con khỉ, cứ chuyền hết cành này sang cành khác để chọn trái chuối nào to và ngọt nhất. Trước khi con biết đến pháp môn thực tập chánh niệm, con luôn tìm kiếm hết cách giải trí này đến cách giải trí khác để thỏa mãn khao khát của mình nhưng con chưa bao giờ thấy thỏa mãn. Khi tham gia một khóa tu do quý thầy, quý sư cô Làng Mai hướng dẫn và tìm ra phương pháp thực tập chánh niệm, con đã thật sự bị đánh động. Trong khóa tu ấy con đã được biết đến quyển sách Ước hẹn với sự sống. Bây giờ thì chú khỉ ấy đã tìm ra được quả chuối lớn nhất và ngọt ngào nhất rồi. Chú khỉ đã dừng lại để thưởng thức nó. Tận đáy lòng con rất biết ơn Thầy vì Thầy đã bỏ nhiều tâm huyết tạo nên những điều kiện thuận lợi để chúng con thực tập và chia sẻ sự thực tập cho người khác. Thầy cũng đã dạy dỗ quý thầy, quý sư cô rất thành công vì con thấy phần lớn quý thầy, quý sư cô thật sự đang làm công việc tiếp nối Thầy rất giỏi.

Quả xoài: Sư chú Trời Đạo Lực đã chọn quả này để dâng lên Thầy.

Con xin dâng lên Thầy trái xoài quê hương. Xoài ngon lắm Thầy ạ. Mình cũng có thể làm bánh tráng xoài nữa, rất tuyệt. Ngày nào con cũng thực tập thiền hành để được đi những bước chân thảnh thơi. Con luôn tác ý là con đi cho những người đang không đi được, trong đó có Thầy, ông Nội con và những người khác nữa. Mỗi lần tác ý như vậy, con thấy trân quý hơn những bước chân của mình. Con nuôi dưỡng bước chân của con như thể là giây tiếp theo con sẽ không đi được. Vì vậy từ lúc đến Làng tới bây giờ, con thích nhất là thời khóa thiền hành. Đi từ xóm Thượng xuống xóm Hạ trong ngày quán niệm cũng vậy, mỗi bước chân, mỗi cái nhìn con thường tác ý đến Thầy. Thỉnh thoảng đi ngang qua Đàn voi của Thầy, con mỉm cười rất hạnh phúc. Con cảm ơn Thầy đã tạo ra một môi trường thực tập tuyệt vời. Qua Làng, con được dạy rằng tăng thân là sự tiếp nối của Thầy nên con tập nhìn thấy Thầy trong mỗi thầy, mỗi sư cô. Con rất hạnh phúc khi có rất nhiều thầy đang ở bên con, có mặt cho con, nuôi dưỡng con. Nhìn thấy sự thực tập vững chãi và thảnh thơi của quý thầy, quý sư cô, con rất được nuôi dưỡng. Con xin cảm ơn nhiều nhiều.

Quả Sầu Riêng: Chúng ta hãy tìm hiểu vì sao sư chú Trời Đạo Quy đã chọn quả sầu riêng dù sư chú biết Thầy không thích loại quả này.

Trái cây con ưa nhất là sầu riêng. Con biết Thầy không thích sầu riêng, nhưng sầu riêng đã được ông bà tổ tiên của con yêu chuộng từ vô lượng kiếp. Cho nên con xin dâng Thầy trái sầu riêng. Thầy có nói: “Ta có là ta, ta mới đẹp”, vậy nên con đang thực tập là chính con. Con nghĩ Thầy sẽ hạnh phúc khi con ưa thích sầu riêng.

Mấy ngày đầu tiên khi mới đến Làng, con nghĩ là mình phải ngồi thiền 12 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Khi có giờ rảnh, mình phải đi thiền hành. Như thế mình sẽ có hạnh phúc. Thế nhưng càng ngày con càng cảm thấy bực bội và không được thảnh thơi. Con hiểu rằng sự cố gắng quá sức chỉ đem lại bực bội cho tâm con, làm con càng ngày càng trạo cử, càng không toại nguyện hơn. Vì vậy con không cảm thấy e ngại khi dâng Thầy trái sầu riêng dù biết là Thầy không thích. Con thấy thoải mái khi mình có sự tự do đó. Cũng như con không cần phải ngồi thiền mỗi ngày 12 tiếng đồng hồ, hoặc cố gắng quá sức. Con chỉ cần có niềm vui và sự thảnh thơi trong khi tu tập, không cần có sự cưỡng ép. Bởi khi con cố ép buộc thì tâm con chạy trốn, nó không muốn ở với con. Khi con thư giãn, không cố gắng một cách mê muội nữa thì sự thực tập lại có tiến bộ, tâm con thích trở lại với thân hơn. Con ý thức là trong khi tu học, mình không nên quá gồng ép, nhưng cũng không nên để buông lung.

Quả cà chua: Sư chú Trời Đạo Hành đã chọn để dâng Thầy.

Con muốn chọn trái chấp nhận. Cuộc sống ở Làng rất khác biệt so với cuộc sống của con ở gia đình, nhưng đây là một sự khác biệt tích cực. Cuộc sống ở Làng Mai rất đa dạng bởi vì mọi người đến đây từ nhiều lứa tuổi, quốc gia và lai lịch khác nhau. Tất cả đều đẹp theo cách riêng của mình. Năm nay con tập chấp nhận mọi người nhiều hơn một chút. Người quan trọng nhất mà con đang tập chấp nhận là chính bản thân con. Những suy nghĩ, cảm thọ, và nhiều cái nữa trong con đang cần sự chấp nhận của con. Con cũng cần học hỏi để chấp nhận những hoàn cảnh, kinh nghiệm mà mình đã trải qua. Con sẽ cố gắng hết sức mình để chăm sóc cho “cây chấp nhận” càng ngày càng lớn và cho nhiều hoa trái. Con biết, trái của cây chấp nhận sẽ rất ngon ngọt và bổ ích trong suốt cuộc đời tu còn lại của con. Chính vì vậy, để chọn một loại quả dâng Thầy, con xin chọn quả cà chua. Vâng, cà chua cũng là một loại quả và nó không cần phải trở thành bất cứ một loại quả nào khác để được chọn dâng Thầy. Xin Thầy từ bi nhận nó.

Quả hồng: Loại quả mà sư chú Trời Đạo Phương dâng lên Thầy.

Trái cây ưa thích của con là hồng. Con rất thích nhìn trái hồng khi còn ở trên cây, nó tô điểm thêm cho sắc màu của mùa thu. Nó nhắc con phải thực tập kiên nhẫn, chờ đợi cho đến khi sẵn sàng cho con thưởng thức. Đôi khi con muốn chạy ra cây hồng, hái một trái ăn liền nhưng rồi con nhớ lại là con phải kiên nhẫn chờ thêm cho đến khi nó thật chín thì trái mới ngon và ngọt.

Trong quá trình tu tập, đôi khi điều duy nhất mà con nghĩ mình nên làm là tưới tẩm hạt giống tốt trong con và chờ đợi. Giống như trái hồng trên cây cần phải hấp thu thêm nước và ánh nắng mặt trời thì mới có thể trở thành một quả hồng chín thơm ngon. Con cũng cần phải làm như thế. Đối với con, sự kiên nhẫn còn có nghĩa là mình không bỏ cuộc giữa chừng, kiên định tiếp bước trên con đường sáng đẹp mà Thầy đã mở lối cho chúng con. Vì vậy con muốn dâng lên Thầy sự kiên nhẫn của con để trong tương lai con có thể trở thành một nhánh khỏe mạnh trên cây tăng thân của Thầy và của đại chúng.

Quả đào: Sư chú Trời Đạo Sơn đã chọn loại quả này để dâng lên Thầy.

Nếu chọn một hoa trái thực tập của mình để dâng Thầy, con xin chọn trái đào của tình huynh đệ. Đây là lợi lạc con được hưởng từ khi bước chân đến Làng. Khi ấy con rất cô đơn, đang quẩn quanh tìm kiếm cho mình một hướng đi. Con đến Làng trong khóa tu mùa Thu, khi Thầy không có mặt ở nhà. Tuy thế, tình huynh đệ mà con cảm nhận được ở Sơn Hạ đã cho con thấy rõ ràng tăng thân và sự thực tập ở đây chính là con đường mà con đang tìm kiếm.

Đến tận bây giờ con vẫn đang tiếp tục thực tập như thế, tiếp tục mở rộng trái tim mình để làm một người anh em, thưởng thức sự có mặt của những người anh, người em khác. Đây là thực tập chủ yếu của con trong suốt thời gian tập sự xuất gia, cũng là nguồn hạnh phúc chính của con, làm cho con càng ngày càng tin tưởng và nương tựa vào huynh đệ, càng cảm thấy đây chính là gia đình mình. Sau khi xuất gia, con chuyển vào sống trong tăng xá với quý thầy. Điều làm con xúc động nhất lại là tình huynh đệ. Trong đại gia đình tâm linh của chúng ta, ai cũng có mặt cho nhau và chấp nhận nhau không điều kiện.

Tình huynh đệ cũng rất ngon ngọt như quả đào, chỉ nhìn thôi cũng đủ thích rồi. Cũng giống như khi nhấm nháp một quả đào, khi nếm được tình huynh đệ con thấy rất ngon lành, mát mẻ và những vết thương trong lòng con được chữa lành. Và, cũng giống như quả đào, sự nhu nhuyến, ngọt ngào của tình huynh đệ giúp ta có thể làm chủ tâm mình để ta có đủ tĩnh lặng, bình ổn và vững chãi. Khi ấy mọi người có thể yểm trợ lẫn nhau và thực sự mở lòng ra với nhau. Tình huynh đệ là động lực giúp con tu học. Tình huynh đệ là hoa trái thực tập quý báu nhất của con. Tình huynh đệ chính là sự thực tập của con.

BBT: Xin cảm ơn các sư em.

                                                              Lễ dẫn thỉnh Cây Đan Mộc tại Làng Mai, Pháp

Nắng ban mai tràn về

Vừa rồi về thăm Học viện EIAB (Học viện Phật học Ứng dụng châu Âu của Làng Mai tại Waldbrol, Đức) nhân dịp lễ Giáng sinh,  một sư cô hỏi con có muốn viết về kỷ niệm lần đầu tiên đến Làng Mai không, rồi sư cô gửi giúp cho. Con cười hì hì từ chối, sợ văn chương không hay mà “lỡ” đâu được đăng thật rồi mọi người đọc thì xấu hổ quá.

Miệng thì nói thế, chứ trong đầu con đã hiện ngay ra bài con viết trong blog sau lần đầu tiên được về Làng, lần đầu tiên con được biết thế nào là hạnh phúc ở đây và trong giây phút này rồi. Và giờ con ngồi gõ những dòng này, mong rằng nếu có bạn nào đó đọc được, cũng sẽ may mắn được biết về Sư Ông, biết về Làng và lối sống chánh niệm đầy hạnh phúc như con lúc này.

Con có duyên lành biết đến Làng Mai qua người bạn tri kỉ. Lúc đó con sang Đức được một năm, vẫn còn buồn bã vì nhớ nhà, lo âu chuyện học hành, chuyện tương lai. Đi du học mà lúc nào cũng chỉ chăm chăm nhắn tin về Việt Nam, trò chuyện với các bạn để bớt cô đơn. Rồi con thấy bạn, sau khi đi khóa tu cho người Việt ở Làng Mai Thái Lan về thì yêu thương, hạnh phúc quá trời, con cũng vui lây. Mỗi lần nghĩ lại con thấy buồn cười lắm, vì con biết đến khóa tu sinh viên ở Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) là do bạn thông báo. Cách nhau hơn 8000 cây số mà bạn còn biết ở Đức có khóa tu sinh viên trước để thúc con đăng kí. Và thế là con đặt vé, bỏ lại hết mọi ngổn ngang dang dở để tìm đường “về nhà”.

Chắc hẳn, ai đến Làng Mai, khi nhìn thấy chiếc biển hiệu nho nhỏ: “Đã về, đã tới” cũng sẽ có cảm giác an tâm, cảm giác được về nhà. Con cũng vậy, và lần đầu tiên thì cảm giác đó lại càng rõ rệt hơn, bởi sau 12 giờ đi lạc tàu, thì thực sự con đã mừng rơi nước mắt khi tìm được đến Học viện! Mọi người chào đón con bằng những nụ cười hiền từ, những cử chỉ dịu dàng và tràn đầy yêu thương. Đêm đó con biết mình đã ngủ bình yên lắm.

“Em cứ đi từ từ thôi, ở đây không cần chạy, không cần vội vã”.

“Con có biết sao đồ ăn ở đây lại ngon không? Vì đồ ăn được nấu bằng tình yêu thương của quý thầy, quý sư cô đó”.

“Em cứ khóc đi. Ở đây không ai đánh giá em, không ai ghét bỏ em, mọi người đều yêu thương em dù em có làm gì”.

Suốt thời gian tham gia khóa tu, con đã được học cách đi lại, cách ăn uống, cách ngồi thiền, học những điều con nghĩ rằng mình đã làm nhuần nhuyễn từ bé mà hóa ra chẳng phải. Cái đứa bé loắt choắt chân lúc nào cũng phải bước nhanh gấp đôi bình thường mới có thể đi ngang hàng với các bạn bây giờ đã có thể tận hưởng những bước chân chậm rãi, thảnh thơi. Và con cũng mê quá trời những món chay ở Học viện, những món chay đã khiến con dũng cảm “chia tay” các loại thịt, quyết định thọ giới không sát sinh. Và chắc cũng chỉ có ở đây, con mới cảm thấy bản thân sống trọn vẹn từng giây phút. Con cứ hay tự hỏi, sao mà năm ngày ở Học viện lâu đến thế, lâu đủ để con được làm quen với bao người dễ thương, để tạo nên bao kỷ niệm, để tự chiêm nghiệm bao điều, để biết và học thêm bao thứ. Miệng con cứ cười hoài …

Trước đây con hay thấy mình cô đơn, con hay buồn lắm; chỉ cứ băn khoăn tìm kiếm xem mình là ai, mình sống để làm gì, mình cống hiến được gì và thay đổi được gì. Rồi có đôi khi lại buồn thiu vì nhận ra xung quanh đầy rẫy nhưng bạo lực, bất công và lừa lọc. Đôi khi cái tính cứng đầu không cho con thỏa hiệp với những bất công, những tiêu cực ấy, mối hoài nghi về những gì chính nghĩa, cao đẹp và tràn đầy yêu thương luôn tồn tại trong con. Nhưng khi được “về nhà”, được nghe pháp thoại của quý thầy quý sư cô, con thật sự đã vỡ òa, thật sự rất hạnh phúc vì đã tìm thấy niềm tin, thấy không còn cô đơn trên bước đường này, lối suy nghĩ này! Giống như cái cảm giác đang quờ quạng trong đêm tối thì ánh nắng ban mai tràn về, như ngụp sâu dưới nước được kéo lên để hớp đầy một ngụm khí vậy đó.

Trong bài giảng về ý nghĩa cuộc sống, thầy Pháp Thiên có nói một câu: “Không phải được sống có ích, được giúp người khác là  cao đẹp nhất, mà cái đích cần đến chính là sự tĩnh tại trong tâm hồn, là biết dựa vào chính mình để tìm thấy bình yên. Mình không hạnh phúc sao có thể giúp người khác hạnh phúc?” Con ngẫm mà thấy đúng quá! Con cũng vẫn biết luôn có những người làm nhiều việc cho người khác nhưng bản thân vẫn băn khoăn, vẫn muộn phiền, vẫn không thực sự vui. Mọi người đuổi theo nghĩa cử cao đẹp, đuổi theo an nhiên thanh thản nhưng chính trong  khi đó lại đánh mất sự thanh thản cao đẹp”.

”Không có con đường đi đến hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường” (“There is no way to happiness, happiness is the way”)

Con ngẫm rồi nghĩ đến Chấu, nghĩ đến mình, nghĩ đến những anh chị ở đây, và những người trẻ khác chắc cũng đã tìm thấy niềm tin nơi Sư Ông, nơi đạo Bụt. Con thấy rạo rực quá, con thấy hạnh phúc ghê lắm. Đó là phần con đã không biết, là phần nhựa sống chuyển mình dưới lớp vỏ khô ráp, tràn trề, là nội lực, đẹp như thế mà bấy lâu nay con không hề cảm nhận được. Hóa ra trên thế giới còn thật nhiều yêu thương, yêu thương người và yêu thương nguồn cội. Con thấy không còn cô đơn nữa, vì con thuộc về một tập thể, một gia đình, cùng hòa chung trong không khí đó, cùng chuyển mình tốt đẹp hơn.

Con cũng đã rưng rưng khi nghe sư cô Trăng Sáng Soi trả lời câu hỏi trong thời khóa vấn đáp: “Trong mỗi con người đều có hạt giống thiện lương, hạt giống tích cực. Nếu nó được tưới tắm bởi tình thương, bởi những hành động tốt đẹp, bởi những người xung quanh thì chắc chắn nó sẽ nảy mầm, chắc chắn sẽ đẹp. Khi bản thân có những bi quan sầu muộn, làm sao có thể nuôi dưỡng người khác. Một ly nước nhỏ sao có thể chứa nổi dòng sông. Đừng cố lo lắng xa xôi mà hãy tin rằng thế giới này sẽ tốt đẹp hơn, đẹp hơn khi được nuôi dưỡng bởi tình yêu thương…”

Ấy thế mà đã mấy tháng trôi qua. Lần thứ hai con về Học viện, đã không còn bỡ ngỡ nữa, đã nhớ được tên quý thầy, quý sư cô, quen với lối sinh hoạt trong chánh niệm của mọi người. Con nhớ trước ngày về, người ta đếm ngược ngày đến lễ Giáng sinh, còn con đếm ngược ngày để được trở về nhà, về với những phút giây an nhiên, bình lặng. Và trên chuyến bus 530 dài một tiếng ấy, con lại dè sẻn nhớ lại những kỉ niệm đáng yêu lần đầu về Học viện, những kỷ niệm sưởi ấm con trong những giây phút khó khăn và cổ vũ con cố gắng trong những ngày qua. Con biết mình đang sống có ý nghĩa.

“Cảm ơn Sư Ông đã giúp con cảm nhận được tình thương bao la, cảm ơn quý thầy, quý sư cô đã giúp con hiểu, cảm ơn gia đình luôn bảo vệ con, cảm ơn bạn bè luôn ở bên con, cảm ơn vì con được sống và cảm nhận cuộc đời xinh đẹp này. Con thấy hạnh phúc quá!!”

(Tâm Viên Từ)

Có một mùa đông không lạnh

Vài hôm trước trời có nắng ấm, rồi sau đó liên tiếp mấy ngày mưa rét. Sáng nay, 5h15’, vừa bước ra khỏi cửa thấy trời tạnh ráo. Dưới ánh đèn pin tôi đã nhìn thấy có những hạt li ti lấp lánh phủ trên lá cây, ngọn cỏ.

Chà! Lạnh quá! Cái lạnh của châu Âu, vùng miền Nam nước Pháp những ngày cuối năm này thật khó diễn tả bằng lời, chỉ biết mặc bao nhiêu quần áo cũng không hết lạnh.

“Con chào má. Kính chúc má một mùa đông không lạnh!” (Ở Làng Mai, quý thầy quý sư cô đều coi ba mẹ của huynh đệ là ba mẹ của mình). Tiếng sư cô chợt vang lên trong lòng tôi, làm ấm áp buổi sớm mai trên đường đến Phật đường theo thời khoá của mùa An cư. Sư cô người Hà Lan, nói tiếng Việt nghe thật dễ thương. Sau khoá tu mùa thu, sư cô xin phép tăng thân về nhà thăm mẹ. Các sư cô xóm Mới gửi quà về biếu và tôi gói giúp trước khi sư cô ra xe. Những chiếc chả giò rất xinh được gói bởi những đôi bàn tay khéo léo và tình thân thương mà các sư cô gửi về làm quà biếu mẹ thật là ý nghĩa và thắm tình huynh đệ. Đưa gói quà vào tay sư cô, chợt sư cô ôm choàng lấy tôi và nói :

– Con chào má. Chúc má một mùa đông không lạnh!

– Con cảm ơn sư cô. Chắc chắn là mùa đông sẽ không lạnh, vì xung quanh con có bao nhiêu tình thương của các sư cô đã sưởi ấm con rồi.

Tôi và sư cô chắp tay búp sen xá chào nhau trong tiếng cười vui của mọi người. Sự chia tay người ở, người đi thật ấm áp. Các sư cô xóm Mới thật chu đáo với người đi xa, còn sư cô người Hà Lan thì cứ bịn rịn như vừa muốn về thăm mẹ, vừa không muốn xa tăng thân – gia đình mà sư cô đã gắn bó từ lâu.

Tôi chầm chậm bước theo con đường dẫn đến Phật Đường. Từ khu nhà tôi ở sang đó không xa là mấy, ngoài trời vẫn lạnh giá (đêm qua lạnh âm 5 độ) mà sao lòng tôi ấm áp và rất bình yên. Phải chăng vì mình đã có một niềm tin, có một con đường để đi, có sự vững vàng và biết thực tập. Còn nếu mình luôn sống trong nỗi lo âu, sợ hãi, luẩn quẩn trong vòng danh, lợi, bạc tiền, tham lam và sân hận thì dù có ở ngay trong ngôi nhà của mình, bên cạnh người thân và mọi thứ đã có trong tay ta vẫn cảm thấy trống trải, cô đơn và lạnh lẽo.

Tôi thấy mình thật may mắn được sống ở đây trong những ngày của mùa an cư. Buổi sáng đều đặn theo thời khoá, 5 giờ sáng dậy và chuẩn bị lên thiền đường. Tất cả thiền sinh đều chăm chỉ và an vui tu tập. Ở Làng Mai, nhìn vào quý thầy, quý sư cô luôn thấy có sự vững chãi, thảnh thơi, và bình an trong mọi sinh hoạt, trong những bước chân…, đó là hình ảnh về nếp sống tỉnh thức mà mọi người nương tựa để thực hành. Quý thầy quý sư cô thực tập và hướng dẫn thiền sinh tu tập theo thời khóa. Thời khóa nào cũng giúp cho mọi người học cách sống chậm lại, nhận biết được sự màu nhiệm của cuộc sống theo từng hơi thở có chánh niệm, trong mỗi bước chân thiền hành. Thực tập chánh niệm trong khi ăn, khi nói, khi làm việc và trong cách im lặng. Những thực tập này rất thú vị và mới lạ với thiền sinh nhưng mọi người thực tập hết lòng và có sự chuyển hóa rõ rệt. Trong những giờ pháp đàm hay những buổi ngồi chơi bên nhau, những nụ cười và những giọt nước mắt hạnh phúc in trên má những thiền sinh không kìm nổi nỗi xúc động trong lòng khi thấy mình có bình an, trong lòng thấy tươi mát và nở hoa.

Thật là màu nhiệm khi mà ngay trong thế kỷ 21, giữa ồn ào, ngột ngạt ngoài kia vẫn có một nơi mà người ta có thể sống thảnh thơi, được cùng nhau ca hát, được cười, được khóc với nhau và được sống là chính mình. May mắn cho những ai được biết và tu tập các pháp môn ở Làng Mai để rồi một ngày họ chợt nhận ra rằng cuộc đời này đáng sống biết bao, có “Chim hót thông reo hoa nở. Trời xanh mây trắng là đây…” (Lời của Sư Ông Làng Mai trong bài thơ “Châu ngọc Pháp Hoa”).

Ở tuổi 60, trải qua những thăng trầm của cuộc đời, giờ đây tôi thấy mình như trẻ lại. Tôi được là một đứa trẻ, học lại từ đầu như ngày thơ bé. Đôi mắt của tôi đã ngắm được vẻ đẹp huy hoàng của bình minh mỗi sáng và vẻ hùng tráng của hoàng hôn. Tai tôi được nghe tiếng chim cu gáy rộn rã ngoài cánh đồng vừa mới cày lật, đất còn nguyên màu nâu tươi mới… Tôi thấy lòng mình tràn ngập lòng biết ơn tổ tiên tâm linh, tổ tiên huyết thống, ơn cha mẹ, ơn thầy cô, gia đình, bè bạn và biết ơn cả muôn loài đã cho tôi nương tựa, đã nâng đỡ và nuôi tôi, cho tôi được sống trên cõi đời này.

Tôi chợt mỉm cười và nhớ lại nụ cười rạng rỡ và tươi mát của sư cô lúc chia tay. Giờ này sư cô đang ở đâu? Mẹ sư cô chắc là rất vui và hạnh phúc khi đón con gái về thăm. Bà đang ở một mình, ba sư cô mới mất hồi mùa hè và tăng thân đã tạo điều kiện để sư cô có thời gian được ở bên mẹ.

“Con chúc má một mùa đông không lạnh”. Lời chào vẫn như văng vẳng đâu đây đủ làm cho tôi ấm lại. Buổi sớm mùa đông Châu Âu lạnh thật đấy. Cái giá lạnh bao trùm cả không gian trong màn sương mù giăng ngập lối càng khiến cảm giác lạnh lẽo như bám riết lấy người đi đường. Nhưng lòng tôi dâng lên một cảm xúc biết ơn quý sư cô  đã cho tôi tình yêu thương, cho tôi điều kiện tu tập, đó chính là nguồn năng lượng đủ sưởi ấm cả mùa đông này.

(Tâm Diệu Minh)

Thư giãn là hạnh phúc có mặt

(Trích từ Pháp thoại  trong khóa tu An cư kiết đông 2008 – 2009)

Trong đời sống, rất nhiều người không có sự thư giãn. Chúng ta cần phải học cho được cách thư giãn. Ví dụ, tập đi thiền hành là cơ hội để tập thư giãn. Sự căng thẳng và thư giãn đi đôi với nhau, chúng có mặt cùng một lúc. Vấn đề là cái nào nhiều, cái nào ít mà thôi. Trong chúng ta có sự căng thẳng, nhưng cũng có sự thư giãn. Tùy cách sống của mình mà ta có nhiều sự căng thẳng hay nhiều sự thư giãn.

Phát triển sự thư giãn, buông bỏ những lo lắng, sợ hãi và bạo động là hạnh phúc đang có mặt. Mỗi người đều có khả năng chế tác ra sự thư giãn với tư cách cá nhân và năng lượng đó sẽ ảnh hưởng tới tập thể. Thí dụ một người giáo viên nếu có ý thức nuôi dưỡng sự thư giãn trong mình và chế tác sự thư giãn đó cho học sinh thì việc dạy và học sẽ thành công hơn. Giữa giáo viên và học sinh có sự nhẹ nhàng mà không phải căng thẳng mệt mỏi.

Đạo đế là con đường mà trong đó có những phương pháp đưa tới sự thư giãn. Yếu tố đầu tiên của hạnh phúc là biết thư giãn để chấm dứt lo lắng, sợ hãi. Đứng về phương diện sinh học thì chính sự căng thẳng tạo ra lo lắng, sợ hãi, bạo động và bệnh tật. Trong não của ta có tuyến yên. Khi cảm thấy có tình trạng nguy hiểm thì tự nhiên tuyến yên sẽ tiết ra một chất hoá học trong máu. Nội trong mấy giây sau chất hoá học đó đụng tới tuyến thượng thận và nhả ra chất adrenalin, chất này vào trong máu thì sẽ khiến trái tim đập mạnh hơn để dồn máu tới hai chân, hai tay và đôi mắt để sẵn sàng đối phó với tình trạng nguy hiểm. Đó là phản ứng hoặc chống cự, hoặc là bỏ chạy. Muốn chống cự hay bỏ chạy đều cần dùng tới rất nhiều năng lượng và vì vậy các cơ năng khác phải dừng lại hết. Chất đó cũng khóa bộ máy tiêu hoá lại và không cho làm việc nữa. Lúc này cơ thể tạo ra sự căng thẳng. Nếu sự căng thẳng kéo dài thì nó sẽ làm hỏng bao tử và bộ phận tiêu hóa. Cho nên những người nào hay lo sợ rất có hại cho bao tử. Một thí dụ khác là trong lúc chạy đua thi đấu, trước khi người phát lệnh thổi còi cho bắt đầu cuộc thi chính là giây phút trong cơ thể các vận động viên tiết ra chất adrenalin. Nếu giây phút đó kéo dài quá lâu thì đương sự có thể sẽ chết.

Đôi khi trong đời sống hằng ngày khi nghe tiếng điện thoại reo ta cũng lo. Có khi nhìn những tờ báo ta cũng thấy lo vì không biết cổ phần đang lên hay đang xuống. Tuy không có những lo lắng lớn hay nguy hiểm lớn xảy ra nhưng những lo lắng nhỏ trong đời sống hằng ngày cũng làm cho chất adrenalin tiếp tục được tiết ra và  nó cũng khoá bộ máy tiêu hoá lại khiến ta bị căng thẳng. Những căng thẳng ấy dồn chứa mỗi ngày sẽ sinh ra đủ thứ bệnh. Mỗi khi căng thẳng thì hành động trở nên thô tháo và lời nói cộc cằn sẽ làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình, làm hư hoại tổ chức, bè bạn của ta. Do đó phải nắm cho được phương pháp thư giãn để giải tỏa những căng thẳng.

Những lúc ngồi thiền, thiền hành hay buông thư thì chất adrenalin không tiết ra. Buông thư toàn thân và nương vào hơi thở có ý thức thì trong ta bắt đầu có sự thư giãn. Thở vào tôi ý thức đây là hơi thở vào, thở vào tôi sung sướng được thở vào. Thở ra tôi ý thức về thân thể tôi, thở ra tôi làm cho thân thể tôi thư giãn. Là một người thực tập, chúng ta phải biết nuôi dưỡng sự thư giãn trong mỗi giây phút.

Khi làm việc với máy vi tính cũng có thư giãn mà đọc sách cũng thư giãn, lúc nào cũng thư giãn hết. Khi đi, phải đi sao cho có bình an mà không vội vàng như bị ma đuổi; khi ngồi thì phải ngồi như đang ngồi trên một đóa sen. Trong lúc thư giãn thì nhịp đập của trái tim sẽ chậm lại và hệ miễn dịch được tăng cường. Thư giãn không phải chỉ là vấn đề thể chất và hình hài. Nếu trong tâm đang có điều bất an thì sự thư giãn rất khó thực hiện được. Do đó phải tổ chức lại đời sống hàng ngày để đừng bị áp lực quá nhiều đừng để lo lắng, buồn khổ. Muốn vậy thì phải quán chiếu cho sâu sắc.

Khi có bạo động tức là trong thân thể không có sự buông thư. Khi ấy phải tập thở, tập đi để nhận diện và ôm ấp những bạo động, giận hờn, bực bội trong mình. Nếu những tâm hành đó được ôm ấp thì tự nhiên nó sẽ lắng dịu. Nền văn minh mới của chúng ta tạo ra rất nhiều căng thẳng, cho nên sự thực tập của mình là làm lắng dịu thân tâm. Mà muốn thư giãn thì phải thực hành những pháp môn cụ thể như buông thư, thiền hành, ngồi thiền,… Cho nên nền đạo đức học hiện đại phải là đạo đức ứng dụng chứ không phải là đạo đức lý thuyết. Phải biết rõ rằng muốn có thư giãn thì ta không nên làm gì và nên làm gì. Đạo đế được diễn đạt qua con đường Bát chánh, trong đó có chánh kiến. Các vị tổ sư giải thích chánh kiến là một cái thấy sâu sắc về Bốn sự thật. Nhưng trí óc con người thường hay đi kiếm tìm sự thật của chân lý vạn hữu. Ta thường có ý muốn đi vào siêu hình học, thực thể học. Khuynh hướng hay phóng tâm ra vũ trụ và đặt những câu hỏi như: Vũ trụ này từ đâu mà có? Những nguyên lý cai quản vũ trụ là những nguyên lý nào? Bởi có những câu hỏi này mà ta có siêu hình học và bản thể luận.

Đức Thế Tôn rất thực tế, Ngài nói đừng phóng tâm ra vũ trụ bên ngoài mà hãy đưa tâm về với tình trạng đích thực trong đó ta đang sống. Phải nhận diện nỗi khổ đang có mặt, tìm ra nguồn gốc của khổ và phải tìm ra con đường thoát khổ. Rất là thực tế. Hai chân chấm đất. Chánh kiến đức Thế Tôn nói ở đây không phải là kiến thức về vũ trụ vạn hữu mà là về Bốn sự thật. Mình phải có cái thấy khá vững chãi về Bốn sự thật. Khi mới học về Tứ diệu đế, mới nghe nói về Bốn sự thật, ta nói nó quá dễ, nhưng thật sự thì ta chưa hiểu rõ về nó. Cách đây một năm có người hỏi tôi: “Thầy có hiểu hết về Tứ diệu đế chưa?” Tôi trả lời: “Chưa, tôi chưa hiểu hết, tôi vẫn đang trên con đường tìm hiểu”.

Muốn có được cái thấy sâu sắc đòi hỏi chúng ta phải bỏ ra rất nhiều công phu tu tập. Phần lớn chúng ta chỉ nắm được ý niệm về Bốn sự thật chứ chưa nắm được Bốn sự thật. Chúng ta không nắm được bản chất của Bốn sự thật. Bốn sự thật tương tức với nhau, Sự thật này nằm trong Sự thật kia. Không hiểu được khổ đế thì không hiểu được diệt đế, ngược lại nếu không thấy được diệt đế thì không hiểu được khổ đế. Chánh kiến trước hết là cái thấy sâu sắc về Bốn sự thật. Bốn sự thật tương tức với nhau, chúng không thể có mặt độc lập, chúng liên hệ với nhau chặt chẽ cho đến nỗi không thấy được cái này thì không thấy được cái kia.

Trong lĩnh vực trao truyền, khi không thấy được ta thì sẽ không thấy được cha ta. Chưa thấy được cha ta là ai thì sẽ không thấy được ta là ai. Khi thấy được sự tương tức của bốn sự thật thì tự nhiên ta cũng sẽ thấy được sự tương tức của các pháp. Tương tức nghĩa là cái này chính là cái kia, cái này nằm trong cái kia, không có cái này thì không có cái kia. Không có sự thật nào có mặt riêng rẽ. Cái này cũng gọi là không. Thí dụ như bông hoa: bông hoa do mặt trời, ánh nắng, đám mây, đất, phân bón, người làm vườn… tạo nên. Cho nên bông hoa không có mặt riêng biệt, bông hoa đầy hết tất cả vũ trụ. Bông hoa là vũ trụ, nó không thể có mặt riêng biệt được. Bốn sự thật không thể có mặt một mình được. Nếu không có bùn thì sẽ không có sen. Nếu như nhận Bốn sự thật là riêng biệt thì ta rất sai lầm.

Trong Kinh Bát Nhã nói “không khổ, không tập, không diệt, không đạo”, Bốn sự thật là không. Bản chất của sự thật này là bản chất của  sự thật kia. Sự thật thứ nhất được làm bằng sự thật thứ hai, thứ ba, và thứ tư. Lấy sự thật thứ hai, thứ ba, thứ tư ra thì không có sự thật thứ nhất. Đó là tính tương tức của sự thật thứ nhất. Nếu thấy được Bốn sự thật có liên hệ với nhau thì chúng mới đích thực là Bốn sự thật.

Dừng lại và buông thư

Thiền, Dhyana, nghĩa là dừng lại và làm cho buông thư. Sự dừng lại và buông thư được gọi là thiền chỉ. Trong sự thực tập, nếu chưa có khả năng dừng lại và buông thư thì hành giả sẽ không thể đi xa hơn được. Bởi vì nếu không thành công được trong thiền chỉ thì khó có thể nhìn sâu (thiền quán) để thấy rõ bản chất của các hiện tượng.

Mỗi người đều sẵn có hạt giống rong ruổi, tìm kiếm. Chúng ta không thể ở yên lâu được. Hạt giống này chúng ta được tiếp nhận từ tổ tiên. Sở dĩ ta không dừng lại được bởi vì ta thiếu khả năng buông thư. Những căng thẳng trong cơ thể bị dồn nén khiến cho yếu tố trầm tĩnh của đời sống mất đi. Nếu thực tập vững vàng phương pháp thở và đi trong chánh niệm thì ta sẽ dừng được sự chạy đua. Lúc ấy, sự buông thư và niềm an lạc sẽ lập tức có mặt.

Ngồi thiền là cơ hội để thực tập dừng lại hoàn toàn. Trong khi ngồi, chúng ta sử dụng hơi thở có ý thức để hỗ trợ cho việc dừng lại ấy. Dừng lại được là bắt đầu có chủ quyền đối với thân và tâm của chính mình. Ngồi thiền trước hết là dừng lại và buông thư. Nếu trong khi ngồi mà phải đấu tranh, phải gồng mình và xem việc ngồi thiền như một lao tác mệt nhọc thì đó chưa phải là cách ngồi thiền đúng. Khi ngồi, tư thế phải thật thoải mái, lưng thẳng nhưng buông thư. Và sau đó mới bắt đầu theo dõi hơi thở. Thở vào, tôi ý thức về toàn thân của tôi; thở ra, tôi buông thư toàn thân. Ta phải đem cái tâm đi vào cái thân.  Cái tâm của ta chỗ nào cũng có cái thân hết, tức là tâm đầy trong thân. Giống như việc ta ngâm đậu xanh với nước ấm vậy, đậu xanh được ngâm trong nước ấm một hồi, nước sẽ thấm vào trong hạt đậu, hạt đậu sẽ nở ra gấp hai lần ban đầu. Sở dĩ cái thân khô héo là bởi vì cái tâm không thấm được vào trong thân. Nếu muốn cái thân được tươi mát, được thấm nhuận thì cần phải để cho tâm đi vào trong thân. Lúc ấy, thân của ta sẽ trở thành một thực thể linh động chứ không còn là một xác chết nữa vì tâm đã được thấm vào trong từng tế bào. Tức là cái thân đầy cả cái tâm. Trong khi ngồi thiền, thiền hành, phải làm như thế nào để thân của ta đầy tâm mà tâm cũng đầy thân. Khi thân và tâm hợp nhất, là khi ta có được những giây phút sống sâu sắc.

Thiền là một phương pháp thực tập, và nếu thực tập đúng thì hạnh phúc sẽ có liền tức khắc. Hạnh phúc này bắt đầu từ sự dừng lại và buông thư. Không có sự dừng lại và buông thư, thì không thể nào có hạnh phúc được. Hạnh phúc này được gọi là thiền duyệt. Thiền duyệt tức là niềm vui do sự thực tập thiền đem lại. Và người tu phải lấy niềm an lạc mà thiền tập đem lại làm thực phẩm hàng ngày (Thiền duyệt vi thực). Trong nghi thức cúng ngọ có câu: “Nhược phạn thực thời, đương nguyện chúng sanh, thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn”. (Khi ăn cơm, con nguyện cho chúng sinh nếm được niềm vui mà thiền tập đem lại, hạnh phúc luôn tràn đầy). Mỗi lần ăn cơm, cúng ngọ, lúc nào ta cũng nguyện cho tất cả chúng sanh đều hưởng được niềm vui của thiền tập nhưng chính ta đã làm được chưa? Có khi ta đã để cho chính ta bị đói và để cho những người bạn đến với ta cũng bị đói. Những người bạn tin tưởng vào ta, trông cậy vào ta, nhất là khi ta là một vị giáo thọ, nhưng ta quên mất vai trò của chính mình. Đôi khi ta bỏ đói đại chúng, bỏ đói các bạn đến với ta. Nếu ta bắt đầu dừng lại và buông thư được, tức khắc ta sẽ có được hỷ lạc. Khi có được hỷ lạc, ta mới bắt đầu quán chiếu vào lòng sự vật để thấy được bản chất của sự vật.

Chúng ta có thể thực tập theo những hướng dẫn của đức Thế Tôn để dừng lại. Thở vào, con ý thức về hình hài của con. Thở ra, con ý thức về toàn thể hình hài con. Lúc đó, cái tâm đi vào cái thân và cái thân đi vào cái tâm. Tiếp tục thực tập như vậy, ta để cho tâm thấm dần vào trong thân. Ta có thân đầy trong tâm và tâm cũng đầy trong thân. Kế tiếp, nương vào hơi thở chánh niệm ta buông thư cả thân và tâm. Thở vào, con buông thư thân thể con, tâm hồn con. Thở ra, con tiếp tục để cho tâm hồn con, thân thể con được buông thư. Hãy cho ra ngoài hết tất cả những dồn nén, những căng thẳng. Sự buông thư này sẽ mang lại sự trị liệu. Do vậy, khi đề cập đến khổ hay gọi tên những nỗi khổ, ta đừng quên đề cập đến những căng thẳng trong thân thể và tâm hồn. Bởi nó đích thực là một nỗi khổ và rất cần được chúng ta quan tâm đến.

Chánh niệm là phép tu căn bản

Khi thực tập thiền hành, phải thực tập như thế nào để dừng lại được trong khi đi. Đi như là đi chơi trong Tịnh Độ mà không đi như bị ma đuổi. Buông thư được trên từng bước chân. Đường dài, em bước như dạo chơi. Đường càng dài càng hay, vì ta có thể dạo chơi càng nhiều.  Mặc dù chưa là giáo thọ nhưng ta cũng không được bỏ đói các bạn thiền sinh đến với ta, ta có bổn phận phải giúp họ. Vì mỗi ngày ta được hưởng thức ăn của thiền tập nên khi có ai đến, phải hỏi: Các anh, các chị có đói không? Thực phẩm đây! Tức là phương pháp giúp họ biết thở, biết đi, biết cười. Do vậy, khi ngồi thiền, cho dù nửa giờ hay bốn mươi lăm phút, cũng phải biết tận dụng khoảng thời gian ấy để nắm lấy chủ quyền, phải để cho thân tâm được buông thư, nghỉ ngơi. Nếu không làm được như vậy thì ta đã phung phí một cách oan uổng nguồn thời gian quý báu của chính mình.

Ở ngoài đời có thể bạn có rất nhiều tiền, nhiều bạc, nhưng thời gian được ngồi yên thì rất hiếm. Được ngồi yên là một cơ hội để nuôi dưỡng và trị liệu thân tâm. Nếu thực tập thiền chỉ giỏi, tất nhiên ta sẽ có niệm và định. Niệm tức là sự chú tâm, biết rõ cái gì đang xảy ra. Ví dụ, khi theo dõi hơi thở, thở vào ta biết rõ đây là hơi thở vào, thở ra ta biết rõ đây là hơi thở ra. Đó gọi là chánh niệm về hơi thở. Khi đang đi, ta biết ta đang đi mà không để cho đầu óc trôi dạt ở một phương nào. Đó gọi là niệm bước chân. Còn khi uống trà mà biết là ta uống trà thì gọi là niệm uống trà. Khi chải răng, ta biết là ta đang chải răng, chải cho có hạnh phúc, chải cho buông thư thì gọi là niệm chải răng. Khi đi tiểu, đi cầu cũng vậy. Mọi lúc mọi nơi đều là cơ hội cho ta thực tập chánh niệm. Chánh niệm là phép tu căn bản, và nó cũng là nền tảng đạo đức của Phật giáo.