Thong dong cùng Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong “Walk with me”
Bộ phim Bước chân an lạc (Walk with me) đã và đang tiếp tục được ra mắt người xem tại thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hà Nội. Trang nhà Làng Mai xin được giới thiệu bài viết cảm nhận về bộ phim của tác giả Bùi Lan Xuân Phượng được đăng tại trang Tuổi trẻ online ngày 09.03.2018.
Cảnh trong phim Bước chân an lạc (Walk with me). Phim đang được công chiếu tại VN – Ảnh: BHD
Chậm rãi và thong thả
Trong lời tựa cho sách viết vào năm 2006, Thiền sư Thích Nhất Hạnh ghi rằng: “Hãy tưởng tượng một con đường lên núi theo hình trôn ốc và người leo núi đi rất thảnh thơi, không có cảm tưởng mình đang leo núi, quên rằng mình đang leo núi. Đường có hoa thơm cỏ lạ.
Đến đỉnh núi nhìn xuống mới biết mình đã leo tới đỉnh núi. Khi đi xuống cũng vậy, mình đi theo con đường trôn ốc xuống núi.
Cấu trúc của sách Nẻo về của Ý cũng thế, không thật sự là một cấu trúc nhưng cũng là một cấu trúc. Bốn mươi năm trước tôi đã viết Nẻo về của Ý như thế, không có chút dụng công. Ngòi bút rong chơi nơi chốn núi đồi…”.
Bước chân an lạc (Walk with me) được kể theo cách: Lời dẫn chuyện được lấy ra từ những ngôn từ đắt nhất trong cuốn Nẻo về của Ý, còn bối cảnh và hình ảnh thì điểm xuyết một vài sinh hoạt đời thường và những hoạt động điển hình liên quan đến việc tu tập tại Làng Mai.
Không kịch bản. Không nhân vật chính. Thật quá khó để diễn tả bằng ngôn ngữ phim ảnh, chỉ trong gần 90 phút, toàn bộ tinh thần Làng Mai và cốt tủy Pháp môn của Làng Mai.
Do đó, những ai mong cầu qua bộ phim này sẽ hiểu về cuộc đời và thành tựu của thiền sư Thích Nhất Hạnh thì sẽ thất vọng. Mọi thứ đan xen nhau chậm rãi, thong thả, góp nhặt dưới sự liễu ngộ của chính người làm phim.
Cảnh trong Bước chân an lạc (Walk with me)
Vui sống với lẽ vô thường
Phim có nhiều khung hình cận cảnh, thậm chí đại cận, như đặc tả nhà sư nhìn những con kiến chơi đùa trên các xớ chiếu bông, những con bọ cánh cam chạy đâu đó trên sàn gỗ, hai bàn tay của một vị sư đang để trên bụng cảm nhận nhịp thở, rồi chú rùa, cánh bướm nhiều màu sắc đậu trên một đài hoa khô…
Xem phim có cảm giác như người làm phim chẳng bận tâm công việc, cứ rong chơi, kiểu như xách cái máy quay đi lang thang, thấy cái gì đẹp thì ghi lại, mà ghi lại thật tỉ mẩn và đầy mỹ cảm…
Tất cả những điều này đòi hỏi một trái tim biết thấy những điều nhỏ nhặt vốn dễ bị lãng quên trong đời sống thường nhật.
Tinh thần này chính là điểm cốt lõi trong cuốn Nẻo về của Ý, mà ở đó thiền sư Thích Nhất Hạnh mô tả chi tiết bông hoa, chiếc lá, con châu chấu, cánh bướm…
Tinh thần đó là tinh thần của một đời sống chánh niệm – làm việc gì biết mình đang làm việc đó, biết ta đang rửa chén, biết ta đang nấu ăn; nhìn thật sâu, lắng nghe thật kỹ, thấy mùa đông là sự chuẩn bị cho mùa xuân, thấy sự thay đổi, sự vô thường chính là cuộc sống và vui sống với nó.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong phim
Thấy núi như thấy pháp
Sau nhiều đoạn chuyển cảnh khá gắt, cảm giác các cảnh không liên quan gì nhau, cho đến cảnh cuối thì người xem mới cảm ngộ rằng hóa ra Bước chân an lạc có một kết cấu chắc chắn.
Mở đầu phim là lời dẫn chuyện bằng câu hỏi tu từ “…Vẫn biết giận dỗi, vẫn thích được ngợi khen, vẫn sẵn sàng khóc cười. Nhưng ở dưới đáy những cái đó còn có gì nữa? Có hay không? Nếu có, sao ta lôi nó lên không được? Nếu không, sao ta cứ đinh ninh rằng có?”.
Mở ra như thế, rồi bỏ ngỏ, rồi đi lang thang và rủ rê người xem cùng đi với mình – walk with me (Hãy đi cùng tôi). Để rồi kết phim là hình ảnh “Tôi trỗi dậy và ngồi trong tư thế tham thiền suốt đêm đó. Không còn gì hết, chỉ có sự vững chãi và an tĩnh. Tôi ngồi như một trái núi và miệng tôi mỉm cười”.
Cấu trúc như thế thì hóa ra không cấu trúc mà có cấu trúc. Hành trình từ sự hoài nghi không biết đến sự tỉnh thức. Hành trình đó làm gì có cấu trúc, có kế hoạch, có kịch bản?
Cảnh trong Bước chân an lạc (Walk with me)
Trong đạo Phật, hình ảnh trái núi vững chãi được hiểu là cái như như, là sự giác ngộ. Thấy núi như thấy pháp. Nhưng pháp ở đâu? Trong cuốn Người vô sự, tác giả Thích Nhất Hạnh viết: “Cái chứa đựng pháp là tâm của ta”.
Vì lẽ đó, với những ai đang đi tìm sự bình an nội tại, có lẽ thấu cảm Bước chân an lạc dễ dàng hơn.
Những âm thanh vi diệu
Âm thanh là một yếu tố gây ấn tượng mạnh trong Bước chân an lạc. Từ những tiếng động thật trong sinh hoạt thường nhật và tu tập, những cuộc trò chuyện đến tiếng chuông tỉnh thức cứ mỗi 15 phút vang lên để ai đang làm gì cũng phải dừng lại, rồi tiếng chuông đại hồng trong mưa gió, tiếng đàn tiếng hát, tiếng ngâm các bài kệ của tăng thân Làng Mai…
Đặc biệt là những đoạn im lặng, rất im lặng, chỉ có thanh âm của thiên nhiên. Im lặng là âm thanh ở tần số vi tế nhất, mà ở Làng Mai gọi là Im lặng hùng tráng – “Noble Silence”.
Đó là pháp âm. Pháp âm có khả năng làm cho tạp âm, tà âm biến mất. Pháp âm có khả năng giúp con người tỉnh thức và giác ngộ.
Bùi Lan Xuân Phượng
Những bài viết có liên quan:
- Bộ phim “Bước chân an lạc” ra mắt khán giả Việt Nam: https://langmai.org/cong-tam-quan/thong-tin-sinh-hoat/sinh-hoat-nam-2018/bo-phim-buoc-chan-an-lac-ra-mat-khan-gia-viet-nam/
- Cuộc hành trình trở về: https://langmai.org/dai-may-tim/van/van-nam-2018/cuoc-hanh-trinh-tro-ve/
Tâm tình người tu sĩ
Các sư em thương,
Có một sư em hỏi chị: “Sư cô ơi, sư cô đi tu năm nào, làm sao sư cô giữ vững bồ đề tâm để còn tu và sống trong tăng thân cho tới ngày hôm nay?” Khi nghe sư em hỏi vậy, chị nhìn vào mắt của sư em rồi nói: “À, câu hỏi này rất hay. Chị không chỉ trả lời cho một mình sư em, mà chị dành tâm tình này cho tất cả các sư em trẻ đang mang đầy nhiệt huyết, muốn được tu tập, muốn được chuyển hóa thân tâm, muốn nuôi lớn hoài bão yêu thương để thực hiện ước mơ sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ”.
Chị đến Làng mùa đông năm 1995, tham dự được năm tuần của khóa An cư kiết đông năm ấy. Làng hồi đó còn nghèo, đơn sơ và mộc mạc như làng quê nghèo, chân phương ở Việt Nam vậy. Đời sống của quý sư cô, cũng như các vị thiền sinh đến tu học rất ư là khiêm tốn. Chỗ ngủ chỉ là một tấm ván ép mỏng được kê bằng bốn cục gạch to. Đêm đông sưởi ấm bằng lò củi chứ chưa có sưởi gas, sưởi điện như bây giờ. Ngủ nửa đêm lỡ hết củi là lạnh cóng cả người. Tuy đời sống đơn giản và thiếu thốn như vậy, nhưng khi nhìn quý sư cô trẻ, là sư chị của chị bây giờ, vị nào cũng tươi mát, rạng rỡ niềm tin và đầy hỷ lạc. Và chính bản thân chị cũng được ướp mình trong nguồn năng lượng tươi khỏe, an vui đó.
Mở lối yêu thương
Thời đó chị chưa biết làm thơ. Nhưng đối cảnh, tâm an, chị xúc cảm nên đã ra được một bài thơ. Cho đến bây giờ mỗi khi đọc lại những dòng thơ ấy, chị thấy niềm vui và niềm tin vẫn còn tinh khôi với hai câu cuối của bài thơ:
“Ôi! Tuyệt diệu tình thương Vô ngã,
Đến với tôi tất cả niềm tin.”
Chính hai câu thơ đó là động lực sâu sắc cho chị bước vào tăng thân. Bởi chị thấy được môi trường tu học ở Làng là nơi mà chị đã trông chờ từ lâu. Chị đã gọi về Mỹ xin gia đình cho ở lại Làng tu luôn, nhưng không được sự đồng ý của ba má chị. Thế là chị phải trở về nhà, mang theo nguồn năng lượng an lạc, nhẹ nhàng mà chị đã nuôi dưỡng được trong thời gian tu học ở Làng. Về nhà, chị xin phép gia đình đàng hoàng rồi trở lại Làng xin tập sự và được xuất gia vào cuối tháng Sáu năm 1996.
Xuất gia chưa đầy một năm chị phải về lại Mỹ để thi quốc tịch thành công dân Mỹ. Các sư em biết đó, chị mới tu, còn nhỏ mà phải rời Thầy và tăng thân nên có tâm trạng không muốn về. Nhưng Thầy dạy: “Giấy tờ cần thiết, quan trọng lâu dài về sau. Con về Mỹ, thầy sẽ gởi con cho Sư bà Đức Viên. Bốn tháng sau, thầy qua Mỹ dạy, con sẽ gặp lại thầy và các sư chị, sư anh của con”. Lời chỉ dạy ân cần của Thầy là động lực cho chị yên lòng, mạnh mẽ để về Mỹ lo giấy tờ và ở với Sư bà Đức Viên.
Nhân duyên biểu hiện
Quả thật, bốn tháng sau, vào thượng tuần tháng Tám năm 1997, Thầy cùng ba mươi hai thầy và sư cô qua Mỹ dạy. Năng lượng chánh niệm của một tăng đoàn tươi trẻ tỏa ra đã tạo ấn tượng và gây cảm hứng cho nhiều người hướng về tu tập. Ngay trong chuyến đi này có một số người trẻ phát tâm xuất gia, trong đó có thầy Pháp Ân, thầy Pháp Lạc và sư cô Hằng Nghiêm. Một số sư cô, sư chú trẻ lúc đó chưa có quốc tịch Mỹ để qua Pháp, nên Thầy mới nói với một vị cư sĩ kiếm nơi nào đó để thành lập tu viện. Thế là hội đủ nhân duyên, tu viện Rừng Phong được thành lập ở Vermont vào cuối thu năm 1997. Thầy đưa các sư con mới xuất gia cùng hai sư em khác và chị về tu viện Rừng Phong ngày 11 tháng 11 năm 1997.
Về nơi này, sáng sớm hôm sau là có tuyết rơi, cảnh núi rừng bên đồi tuyết trắng, đẹp tinh khiết như cảnh tiên bồng vậy. Mỗi sáng, thầy trò ngồi thiền, tụng kinh với nhau, năng lượng tu học liền được thiết lập ngay. Thầy trực tiếp dạy thỉnh chuông mõ cho các sư con trẻ. Trước khi về lại Làng, Thầy nhắn nhủ với các sư con rằng: “Này các con, các con là những người đệ tử nhỏ nhất của thầy. Thông thường, người học trò nào cũng muốn được làm thị giả cho thầy, thời Đức Thế Tôn cũng vậy. Nếu các con muốn được gần thầy, ở đây các con hãy chăm sóc cho nhau. Khi các con chăm sóc cho nhau được, thì thầy luôn có mặt bên các con. Thầy sẽ gởi Sư cô Chân Đức qua chăm sóc và dạy dỗ cho các con”. Nhân duyên ban đầu thành lập tu viện ở Mỹ cho đến nay thấm thoát đã tròn 20 năm. Thầy Pháp Ân, thầy Pháp Lạc, sư cô Hằng Nghiêm nay cũng đã xuất gia tròn 20 năm, bàn chân của các vị cũng đã bao lần giẫm lên vô sinh của lá thu qua bốn mùa thay lá.
Trăng tỏ gió nâng hương đồng nội
Các sư em thương, thỉnh thoảng chị có những tư duy ngộ nghĩnh như thế này: “Mình đi xuất gia cũng giống như một chàng hiệp sĩ vào trận, trước mặt là bao mạo hiểm, thách đố với nội tâm”. Cũng giống như những bạn trẻ ở đời kết hôn với nhau, có lẽ hôn nhân cũng là một cuộc mạo hiểm đầy thử thách. Mới gặp, cảm mến nhau, vội vã tìm hiểu về nhau, thể hiện cho nhau những gì đẹp và yêu kiều nhất. Họ cảm thấy người này hiểu, thương, hợp với mình, họ đồng ý cưới nhau. Nhưng khi về sống với nhau, mới vỡ lẽ ra có quá nhiều khác biệt. Là người phát tâm xuất gia cũng vậy, mình cũng có những cái tưởng. Mới đầu mình bắt gặp và tiếp xúc với hình ảnh của các vị xuất sĩ, trái tim mình bị đánh động, rung cảm trước sự thanh thoát, đẹp và thánh thiện. Mình muốn phát tâm sống như các vị xuất sĩ kia. Nhưng khi vào sống trong tăng thân, thực tế không như mình tưởng nên mình thất vọng, buồn khổ, đòi hỏi, tủi hờn. Chẳng ai có cái nhìn giống ai nhưng mình cho cái “cho là” của mình mới đúng hơn cái “cho là” của người khác. Trong đời sống hằng ngày, nếu mình thiếu đi công phu hàm dưỡng thì chắc hẳn mình sẽ gặp phải những khó khăn, chùn bước trước mọi khác biệt. Có khác gì cặp vợ chồng trẻ ở ngoài kia, phải không các sư em?
Sống trong tăng thân, anh chị lớp trước nuôi dưỡng lớp sau, nuôi nhau mà đi tới. Chúng ta sống trong một tăng thân đa văn hóa, dĩ nhiên cũng song hành với nhiều sự khác biệt. Chỉ có công phu tu tập của mỗi tự thân, hành trì uy nghi và giới luật là chất keo đem tới sự hòa hợp, kết lại với nhau, giúp nhau chuyển hóa, cùng tăng thân mang yêu thương đến cho mọi người. Các sư em đừng quên nắm lấy cơ hội, biết mình có nhiều may mắn, để sau này không hối tiếc là mình đã không biết nắm lấy cơ hội mà tăng thân đã cho mình.
Mặc cảm xây thành chợt vỡ tung
Các sư em có biết không? Sống trong tăng thân, chị có cơ hội lưu chuyển nhiều trung tâm. Sinh hoạt với các sư em, chị thường được hỏi một câu hỏi giống nhau là: “Làm sao để chuyển hóa năng lượng mặc cảm trong con, vì con thấy con không giỏi”. Lạ lắm các sư em à, có bao giờ các sư em nhận ra rằng mặc cảm tự ti cũng chính là mặc cảm tự tôn không? Cả hai năng lượng này đều khống chế mình, làm cho mình không hài lòng và không chấp nhận những yếu kém, đồng thời cũng thiếu luôn khả năng nhận diện những tài năng của mình. Chính mình không có khả năng chấp nhận mình mà chờ đợi người khác công nhận mình thì khổ lắm. Hồi chị mới vào tu, phải học vi tính để làm việc, chỉ số thông minh để học vi tính của chị khiêm tốn quá nên học hoài vẫn thấy mình “ngu”. Nhờ thấy mình “ngu” nên mới đi tu. Và cho tới bây giờ, chị vẫn thấy mình còn “ngu”, nên mới còn hứng thú để tiếp tục tu. Khi nào mình thấy mình “ngu” thì mình mới kiên nhẫn, mở lòng khiêm cung trước mọi vấn đề sư em ạ. Chỉ khi nào mình biết mình, niềm tin đong đầy, và còn một tấm lòng muốn tu, muốn cống hiến thì các sư em sẽ thực hiện được chí nguyện ban đầu của mình. Các sư em hãy luôn nhớ quay về tự hỏi lòng mình bây giờ đang ở đâu? Niềm tin của mình còn tròn đầy và mạnh mẽ không? Các sư em đừng chờ đợi và đòi hỏi phải được công nhận mới thỏa mãn và hạnh phúc. Hãy thành thật với những yếu kém, vụng về của mình. Hãy nuôi mình bằng những bước chân an lạc, đầu tư cho mình qua hơi thở miên mật. Mỗi buổi ngồi thiền, tụng kinh là một cơ hội. Tất cả những yếu tố này sẽ giúp các sư em vượt thoát mặc cảm. Đừng để cơ hội của mình tuột khỏi tầm tay nha các sư em.
Thương ai mấy dặm đoạn trường
Vòng quanh lên xuống vấn vương buộc ràng
Hôm nay em bước thênh thang
Giữa hoa đồng nội tâm an cõi trần.
Thủy chung vẫn một niềm tin
Chị đã kể cho các sư em nghe bước ngoặt đi xuất gia của chị, với sự tiếp xúc dung dị ban đầu nhưng lại sâu sắc, đọng lại trong chị nhiều ấn tượng, để rồi “đến với tôi tất cả niềm tin”. Niềm tin đó của chị bây giờ còn lớn hơn xưa, thấy mình có nhiều may mắn còn được ở trong tăng thân. Vẫn còn nhiều cảm hứng và yêu quý sự thực tập. Dù lắm lúc gặp phải nhiều khó khăn và đối diện với những thử thách chông gai, nhưng chị vẫn chưa sờn lòng. Đó là nhờ chị luôn thắp sáng niềm tin nơi tự thân.
Đôi khi tôi thích trở về
Nhìn em thấy rõ chưa hề đổi thay
Nâng niu từng chút hiển bày
Vào ra sâu chậm bậc thầy hiểu thương.
(Chân Hỷ Nghiêm)
Hãy ngắm dùm tôi những đợt mưa rào
Hơi thở của bầu trời
Bạn thân!
Mỗi ngày mới, tôi thường ra đứng ở trước hiên nhà để nhìn ngắm bầu trời. Mùa đông đến thật nhanh, phải chờ lâu lắm thì trời mới sáng. Thời tiết khá lạnh, nên mỗi lúc thở nhẹ là tôi nhìn thấy làn khói từ hơi thở của mình. Thú vị lắm! Màu của nó bàng bạc như khi bạn mở nắp vung một nồi cơm mới nấu, hay là màu của những làn sương. Mấy ngày này, buổi sáng nào sương cũng giăng tràn. Nhìn những làn sương buông đều lên đám cỏ, tôi thấy chúng là hơi thở của bầu trời, như một màn tơ kéo trời xuống gần với đất hơn. Mỗi lần bước đi trong sương, tôi thấy từng hạt mong manh theo nhau về đậu trên khuôn mặt mát lạnh, mỗi hạt mang theo một thông điệp lạ lùng. Sương có thể làm sờn dần vai áo, có thể làm lạnh khuôn mặt và đôi bờ vai, có thể sẽ không thấy rõ nụ cười bạn trong một sớm mai, nhưng lại làm tôi như hòa vào và tan theo buổi sáng!
Như là để cho đi
Bạn ơi!
Từ khi đặt chân đến đây, tôi chỉ đếm được mấy mươi lần mặt trời đi ngủ, hoặc chỉ vài lần hồ sen xóm Thượng phản chiếu con trăng to tròn. Vậy mà lại có cảm tưởng mình đã ở đây lâu lắm! Tôi được đi lượm táo, được nghe hát thánh ca, hàng ngày nghe ai đó gọi tên bốn mùa với những sắc màu riêng biệt. Người bạn cùng phòng tôi cần mẫn lắm, mỗi lần trang trí gian phòng là khuôn mặt bạn ấy hớn hở hẳn lên. Bức tranh mùa thu vừa tháo xuống, thay bằng một biểu tượng của mùa đông với con đường phủ tuyết trắng tinh, và một bức tranh khác cho mùa xuân năm sau với cành hoa anh đào. Bạn ấy gìn giữ gian phòng luôn gọn gàng và tươi mới, vì tâm bạn đó sáng như một vì sao. Tôi trầm trồ vì không ngờ bạn tôi lại yêu đời đến thế! Đúng là có những người sinh ra như là chỉ để cho đi những hoa trái của tâm hồn. Vì trong họ đã có sẵn kho tàng của những điều tươi đẹp. Bốn anh em trong gian phòng nhỏ đến từ bốn châu lục khác nhau, ai cũng thích sống chậm lại, ai cũng thích thảnh thơi nên thấy nhau thân quen như là một. Tôi cảm thấy những sở trường, những yếu kém của bốn chúng tôi đều là chuyện chung, chẳng của riêng ai cả. Mùa này chúng tôi dành nhiều thời gian ngồi lại bên góc trà, bên bức tranh mùa đông, thi thoảng kể về cái hay của từng mùa trên từng đất nước. Ai cũng muốn đem bốn mùa nơi mình sinh ra về trong gian phòng chung bạn ạ! Ở đây bốn mùa thật hẳn hoi, chỉ cần mở mắt cho tròn mỗi khi sáng trời thì sẽ nhìn thấy những sắc màu thay đổi. Thay đổi có ở khắp nơi, trên cánh đồng, trên ngàn cây… hay trên những khuôn mặt nơi đây nữa.
Để là chắt chiu
Thật lạ, những thay đổi quá nhiều đôi khi làm tôi thèm những cái ít đổi thay hơn. Có lần trong đêm Giáng sinh, bỗng nhiên cảm thấy lạc lõng giữa “biển người xa lạ”, tôi nhắm mắt lại, trong đầu hiện ra hình ảnh của Làng Mai Thái, nơi chỉ có hai mùa nắng mưa, nơi đất trời đổi thay khi lòng người phải trở về sâu lắng. Tôi bỗng thèm cái vị chua của ổi, cái vị ngọt của đu đủ vườn, hay cái vị chao đậm đà trong bát cơm chiều ngồi phía sau nhà bếp ngắm mặt trời lặn. Tôi nhớ những cơn mưa đầu mùa nặng hạt, xói mòn đất cát trên con đường mới đổ quanh đồi An Ban. Những ngày mưa lớn, nước ở đâu trên đồi ào ào tuôn xuống qua những mỏm đá lớn sau thất Nhìn Xa, tạo thành dòng thác lạ kỳ. Tôi thích cái cảm giác sau cơn mưa, đi dạo một vòng tu viện, ngắm nhìn đất trời trong chiếc áo mới, thơm tho và tinh sạch. Làng Mai Thái cũng đầy chất thơ, bạn ạ. Những hình ảnh đó bây giờ trong tôi vẫn còn rõ lắm, vì tôi vừa rời xa chúng mới đây thôi!
Tôi thích cái cảnh đi học ngôn ngữ với mọi người, điểm hẹn lý tưởng của chúng tôi là con đường mòn rải sỏi dưới hàng me, nơi những cái xích đu là chiếc ghế lý tưởng cho những người đến sớm. Dưới hàng cây râm mát ấy, chúng tôi tập nói tiếng Anh. Nếu có người khách lạ đến thăm, sẽ không thể nhận ra đó là một lớp học thường ngày, mà là khung cảnh tươi vui khi những bóng áo nâu đang vui chơi trong thế giới thần tiên của họ. Đến giờ tôi cũng không nhớ rõ là đã học được chữ tiếng Anh nào nữa, chỉ nhớ tiếng cười giòn khi ai đó đong đưa chiếc xích đu, hay cái vẻ ngây ngô của các thầy, các sư cô hỏi nhau một câu Anh văn nào đó.
Những chiều cùng anh em đi hái xoài, chúng tôi ngồi tận hưởng ngay dưới gốc cây. Những cây xoài ngọt thì dù chưa chín cũng chẳng đến lượt tôi đâu, trong khi những cây xoài chua đã chín rồi cũng trở nên ngọt lịm. Rồi những chiều sau giờ pháp đàm ngày quán niệm, chúng tôi ai nấy đều mang giày ùa ra sân bóng, như quên hết mọi thứ trên đời, chỉ còn cái đảo chân với trái bóng tròn, và tiếng cười đùa sảng khoái. Tối đến mệt lử, ăn tối chia nhau vài cọng rau vườn, vài nhúm rong biển khô, đôi lúc nuốt chẳng trôi, vậy mà thầy lớn thầy bé vẫn cười vang góc nhỏ. Cái cảm giác chạy theo trái bóng giữa đám cỏ xanh với trời, mây, nắng, gió sao mà sung sướng quá! Cái oi ả xứ Thái, anh em ai cũng chung một màu da rám nắng, chúng bắt đầu làm tôi khắc khoải, chạnh lòng vì một cái gì đó gắn bó, quê hương…
Tôi muốn trải lòng những ký ức này cùng bạn, để là ghi nhớ, để là chắt chiu. Có thể thật lâu sau tôi mới được trở về, thăm hai cái mùa thân quen dung dị. Nếu bạn có ghé qua nơi chốn ấy, hãy ngắm dùm tôi những đợt mưa rào. Ở đó anh em tôi hiền lành và ngây ngô lắm! Có những giọng hô canh vang vọng rừng trưa, những tiếng cười trong như tiếng kinh sớm tối, những phiến đá xanh như cũng có linh hồn. Nơi cụ già có thể trở thành bé thơ, và là nơi tôi thấy những tuổi thanh xuân dồn hết sức trẻ cho mảnh vườn chung chưa bao giờ tính toán. Vườn Ươm là chiếc nôi của tuổi trẻ tôi, nơi những con đường tôi đã đi qua hay hàng tre anh em trồng từ cái thuở ban sơ đều trở nên huyền thoại. Với tôi chúng gần gũi lắm, êm đềm như một giấc mơ trưa, chỉ cần làn gió thoảng qua là tôi được trở về và ngủ yên nơi gốc rễ.
![]() | ![]() |
Tương duyên
Sáng hôm trước, lúc đang ngồi nơi góc nhỏ nhìn ra cánh rừng, bỗng có một người anh em gõ cửa vào phòng và đến ngồi cạnh bên. Chẳng nói gì cả, tôi chỉ cười mỉm rồi đưa hộp bánh đã mở sẵn ra mời khách. Vị ấy lấy bánh ăn tự nhiên mà cũng lặng im. Tôi cũng cầm bánh lên, hai người cùng ngồi ăn bánh, kiệm lời, mắt hướng ra bên ngoài đợi ngắm những chiếc lá rơi thi thoảng. Người anh em đó sau một lúc ngồi yên như thế thì đứng dậy vỗ vai tôi rồi rời đi với một nụ cười rất nhẹ, tôi thấy lòng mình cũng nở hoa. Hiếm khi chúng tôi không nói gì mà lại hiểu nhau nhiều như thế! Đúng là khi đã nhàn rồi thì hai dòng tâm gặp nhau sẽ cho ra những điều tươi mới, ngôn ngữ không cần nhiều mà cũng thấy lưu thông. Niềm vui huyên náo thường đến đi chóng vánh, còn niềm vui ở lại thật lâu thì lại rất kiệm lời. Những gì trân quý thường bộc bạch một cách giản đơn, và cảm giác bình an tỏa ra khi để tâm vào những điều rất bé. Tôi sẽ tập nuôi lớn một nguồn tâm hài hòa mà khoáng đạt, để cái xa xôi về không gian chẳng còn là ngăn cách nữa, vì khi ấy tôi với bạn đã thật gần nhau ở trong lòng.
Bỗng hóa dài lâu
Chiều nay, một chiều cuối năm, tôi cùng với một người bạn đi ra ngoài để mua vài món đồ. Chưa ra hết con đường xóm Thượng thì hai chúng tôi vỡ oà, vì hoàng hôn rực rỡ quá! Bạn tôi nói: “Ôi! Nhìn đi! Hoàng hôn cuối cùng của năm 2017, chỉ đến một lần duy nhất, sẽ không bao giờ ta được ngắm hoàng hôn của NĂM 2017 thêm một lần nào nữa đâu!” Tôi giật mình, lâng lâng hết sức! Lúc đó, tôi nhận ra cái vẻ diệu kỳ mà mong manh của từng mầm sống. Những gì đẹp thường rất đỗi mong manh, và vì mong manh nên chúng càng xinh đẹp. Cái ý niệm mơ hồ về thời gian bỗng tan đi như bọt sóng. Hai chúng tôi cứ hướng mắt về phía tây, nơi ánh nắng chiều xuyên qua rừng cây lặng lẽ. Tối đến mà trong đầu vẫn còn dư âm câu nói: “Hoàng hôn cuối cùng của năm 2017”.
Đêm giao thừa, tôi sẽ để ý tới những khuôn mặt, những nụ cười cuối cùng của năm 2017. Tôi cũng sẽ để ý đến những xúc cảm cuối cùng của mình, cho dù là những thoáng đãng tâm tư hay là nỗi cô đơn đến đi bất chợt. Tôi hứa sẽ viết xuống biến chúng thành con chữ, để tâm hồn là thứ mình hoàn toàn có thể gọi tên. Cứ tưởng những gì cuối cùng thường dễ làm ta hối tiếc. Nhưng bạn biết không? Lòng tôi bây giờ mới lắm, mới như cánh đồng vừa được cày xới ngoài kia. Lần cuối cùng mà bỗng hoá dài lâu bạn ạ! Tôi có nhiều tin tưởng vào những tuổi thanh xuân đang có mặt nơi hai mùa nắng mưa kia lắm! Họ đang vẽ một bức tranh diệu kỳ. Anh em còn để ngỏ những con đường cho đôi chân tôi giẫm lên, những quả ổi treo trên cành chờ bàn tay tôi với tới. Thật vui khi cảm thấy mình hoà vào chốn ấy ngay tại nơi này. Thời gian sẽ khó lấy đi những gì đã qua, không gian sẽ khó ngăn ta trở về. Bạn hãy đi hết những tháng năm, để nhận ra nơi nào ta đi qua đều trở thành vô giá. Và bạn sẽ mỉm cười, một nụ cười đáng nhớ. Nó vẫn nở dù đã qua bao mùa gió mưa. Còn tôi, sẽ giữ cho riêng mình những buổi chiều nghiêng nắng, dưới gốc cây ngồi chấm xoài chua muối ớt. Biết đâu có lúc tôi cần đến chúng thì sao?
(Chân Pháp Khả)
Đường về nhà
(Phiên tả pháp thoại của Sư Ông Làng Mai vào đêm Giao thừa Tết Mậu Tý – ngày 06.02.2008)
Hôm nay là ngày 30 Tết. Bây giờ tại thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng là 3 giờ 8 phút chiều. Ngày Tết Việt Nam có giá trị tương đương với ngày Giáng sinh ở Tây phương. Ở Tây phương trong ngày Giáng sinh, người nào cũng tìm cách về với gia đình. Tuần trước bên Trung Quốc có bão tuyết rất nhiều. Hàng trăm ngàn người bị giữ lại phi trường vì máy bay không cất cánh. Xe lửa ở nhà ga cũng không chạy được. Rất nhiều người lo lắng mình sẽ không về nhà kịp để ăn Tết. Hôm nay không biết đã có bao nhiêu người về được tới nhà?
Trong chúng ta ai cũng có niềm thao thức muốn về nhà. Nhà là một nơi mà ở đó chúng ta cảm thấy đầm ấm, hạnh phúc và được ôm ấp bởi tình thương. Có những người chưa bao giờ từng có nhà, tại vì tuổi thơ của họ có nhiều sóng gió. Bố mẹ chưa bao giờ thương nhau, làm khổ nhau và gia đình tan vỡ. Có những người trong chúng ta may mắn tìm được tới tăng thân và tìm thấy nhà của mình nơi tăng thân. Cũng có nhiều người trong chúng ta vừa có gia đình huyết thống vừa có gia đình tâm linh. Hai gia đình đó nâng đỡ nhau, nương tựa nhau. Gia đình huyết thống nâng đỡ, giúp xây dựng gia đình tâm linh và gia đình tâm linh nâng đỡ, giúp xây dựng lại gia đình huyết thống.
Việt Nam có câu ca dao:
“Chim bay về núi tối rồi
Sao không lo liệu còn ngồi chi đây?”
Trời đã tối, những con chim bay về núi vì ở đó có nhà của chúng. Còn anh, tại sao lại ngồi thơ thẩn mà chưa lo về nhà đi thôi?
Vua Trần Thái Tông là một người thực tập Thiền rất sâu sắc. Ngài là một nhà Phật học đã sáng tác những tác phẩm về Thiền được truyền lại cho đến nay. Vua đã nói tới sự tu tập như là để về được nhà của mình. Vua đã chú giải Kinh Kim Cương Tam Muội và trong bài tựa Vua đã viết như thế này:
“Chỉ vì sự tập hợp huân nhiễm lâu đời của chúng sanh mà phát ra sóng gió tri kiến của thần thức (tức là hành duyên thức). Vì chúng sanh buông mình theo con đường ô trược che lấp nên không biết đem ánh sáng tuệ giác để chiếu soi, khiến cho bốn phương thành ra xứ lạ, mơ hồ cho nên không biết rõ lối về nhà”.
Nếu chúng ta cảm thấy chung quanh ta xa lạ, cảm thấy bơ vơ không nơi nương tựa, ta cảm thấy mình không có quê hương là tại vì ta không biết dùng ánh sáng của tuệ giác để chiếu soi. Khi chiếu soi được thì ta biết ngay con đường về nhà. Con đường về nhà không xa, ta không cần lâu ngày để đi về. Trong bốn mươi ba công án của vua Trần Thái Tông, có công án liên hệ tới vấn đề “về nhà’’.
Cử (chủ đề của công án): Một vị xuất gia hỏi Đức Văn Thù: “Nếu tất cả vạn pháp quay về một pháp thì pháp đó quay về đâu?” (Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ?) Đó là câu hỏi, là một công án. Tất cả đi về một, vậy một đi về đâu? Đức Văn Thù trả lời: “Chín khúc sông Hoàng Hà”.
Sông Hoàng Hà (Yellow River) là một con sông rất dài, có những đoạn có thác có ghềnh, mà chín khúc thì con đường về cũng khá xa.
Vua Trần Thái Tông đưa ra lời Niêm (lời nhận xét ý nghĩa của công án):
“Hữu thời nhân hảo nguyệt
Bất giác quá Thương Châu.”
Có nghĩa là: Gặp lúc vui trăng sáng, không ngờ vượt Thương Châu. May mắn mình tiếp xúc được và vui với ánh trăng thì mình vượt qua được chín khúc sông Hoàng Hà trong giây lát.
Bài Kệ (kệ tụng hướng dẫn để nhìn sâu vào công án) là:
“Hoàng hà cửu khúc vị quân cử
Một thiệp đồ trình tự đáo gia
Bạch trú kỷ đa khai nhãn vọng
Bất tri Diêu tử quá Tân La.”
Trong Sử Luận dịch:
“Chín khúc sông Hoàng khai tuệ nhãn
Đường xa không bước vẫn về nhà
Mở mắt bao lần quan sát lưới
Không dè chim hạc đã bay qua.”
Nếu có tuệ nhãn thì con đường không phải là chín khúc sông Hoàng Hà nữa mà ta về nhà ngay trong một khoảnh khắc. Đâu cũng là nhà. Vì vậy tuệ giác rất quan trọng!
Trong bài kệ mà vua Trần Thái Tông viết về bốn ngọn núi cũng có một bài nói đến chuyện ‘‘về nhà”. Đối với vua thì mỗi người trong chúng ta đều có sự thao thức muốn về nhà. Có thể vì những nguyên do nào đó mà ta bị lưu lạc, ta cảm thấy không có gốc rễ, không có quê hương. “Tứ sơn” tức là bốn ngọn núi. Đây là hình ảnh Đức Thế Tôn đưa ra khi thuyết pháp cho vua Ba Tư Nặc (Pasenadi). Một hôm, Đức Thế Tôn nói với vua Ba Tư Nặc:
– Giả dụ trong lúc Bệ hạ đang ngồi chơi thì quân tình báo tới nói với Bệ hạ là ở phương Bắc có một ngọn núi lớn đang từ từ di chuyển lại gần. Một đoàn thám tử khác lại đến báo cáo rằng ở phương Nam có một ngọn núi rất lớn đang di chuyển tới gần, và phương Tây, phương Đông cũng vậy. Mỗi phương có một ngọn núi đang di chuyển tới gần, áp lại và mình không còn không gian để sống nữa. Nếu vua nghe tin đó thì sẽ phản ứng như thế nào? Bốn ngọn núi đó tượng trưng cho sinh, lão, bệnh, tử, tức bốn tai nạn của con người.
Sinh, lão, bệnh, tử là bốn tai họa, bốn sự thật. Chúng đang vây quanh, đang xáp lại từ từ. Trong khi đó thì ta không thấy mà cứ nhởn nhơ. Như vậy thì làm sao mà một ngày nào đó ta có thể thoát được?
Vua Ba Tư Nặc nói:
– Nếu biết bốn tai nạn (sinh, lão, bệnh, tử) đang vây quanh và đang siết chặt thì con đường duy nhất là phải tu tập trong giây phút hiện tại để có thể thoát ra.
Bụt nói:
– Hay lắm!
Vua Trần Thái Tông khi đọc tới đoạn kinh về bốn ngọn núi đó thì có cảm hứng. Vua đã ngồi thiền về bốn núi và đã chứng ngộ. Vua ngồi xuống viết một bài về bốn núi sinh-lão-bệnh-tử, và đây là bài kệ thứ nhất trong bốn bài kệ đó (Nhất Sơn Kệ). Trong bài kệ này, vua Trần Thái Tông muốn nói: Hãy tỉnh dậy và tìm đường về nhà lập tức.
“Chân tể huân đào vạn tượng thành
Bản lai phi triệu hựu phi manh
Chỉ sai hữu niệm vong vô niệm
Khước bội vô sinh thụ hữu sinh
Tị trước chư hương thiệt tham vị
Nhãn manh chúng sắc nhĩ văn thanh
Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách
Nhật viễn gia hương vạn lý trình.”
Bản dịch của Thầy Làng Mai:
“Chân như huân đúc vạn muôn hình
Vốn không tướng trạng diệt và sinh
Cũng do hữu niệm quên vô niệm
Nên bỏ vô sinh chuốc hữu sinh
Mũi vướng hương thơm lưỡi vướng vị
Mắt mờ sắc tướng tai âm thanh
Lênh đênh làm khách phong trần mãi
Ngày hết quê xa vạn dặm trình.”
Hai câu cuối có nghĩa là cứ đi lang thang suốt đời (Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách), trong khi đó thì ngày tháng đã hết và quê hương thì còn rất xa (Nhật viễn gia hương vạn lý trình). “Gia hương” là quê nhà, còn “vạn lý trình” là xa ngàn vạn dặm.
Bài kệ nói: Vì không có tuệ giác, vì vọng tưởng nên đánh mất vô sinh mà vướng vào hữu sinh, đánh mất vô niệm mà vướng vào hữu niệm. Triết lý của bài kệ rất sâu sắc, chứng tỏ kiến thức về Phật học của vua Trần Thái Tông rất thâm uyên.
Hai câu “Lênh đênh làm khách phong trần mãi, ngày hết quê xa vạn dặm trình” một lần nữa cho ta thấy: Đối với vua Trần Thái Tông, sự tu tập hàng ngày là để có thể trở về quê hương đích thực của mình.
Xây dựng quê hương mới để trị liệu và chuyển hóa
Trong mấy tuần qua, khi học Hoa Nghiêm kim sư tử chương, chúng ta có nói về tinh cầu nhỏ của Hoàng tử bé. Hoàng tử bé đã tới từ tinh cầu của mình. Mỗi chúng ta đều có một tinh cầu riêng. Đó là thế giới của tuổi thơ, của kỷ niệm, của cái gì rất riêng biệt của mình. Ta đến với tăng thân từ tinh cầu của riêng ta. Trong tinh cầu riêng của ta có thể có sóng gió, có nỗi buồn đau, có những kỷ niệm, những thương yêu và hạnh phúc. Nơi đó có thể là nhà, là quê hương của ta, quê hương tuổi thơ. Nơi đó cũng có thể có những vết thương sâu đậm chưa lành mà ta còn đang mang trong lòng. Khi tới với nhau như một tăng thân chúng ta thành lập một tinh cầu mới, một tinh cầu tập thể. Từ những tinh cầu cá nhân, chúng ta tới với nhau để lập ra một quê hương mới có tính cách tập thể. Đó là gia đình tâm linh của chúng ta. Chúng ta đã xây dựng tinh cầu đó. Tăng thân là một nơi nương tựa. Nếu tạo được tình huynh đệ, tạo được kỷ niệm đẹp và tình thương thì tinh cầu đó sẽ là quê hương mới của chúng ta và cũng là nơi nương tựa cho những người khác.
Ta hãy tưởng tượng có một số tinh cầu nhỏ sắp thành vòng tròn và ở giữa là tinh cầu mới, tinh cầu chung của tất cả mọi người. Chúng ta đang cùng xây dựng tinh cầu mới đó. Ta đang học cách xây dựng. Có thể trong quá khứ vì lỡ lầm nên ta đã gây ra khổ đau và tan vỡ. Những kỷ niệm đó còn trong ta. Khi tới với nhau như một tăng thân, chúng ta tạo ra một thế giới mới. Vì được thừa hưởng tuệ giác của cha ông nên ta biết cách xây dựng trở lại. Những cái ta xây dựng trong tinh cầu mới có tác dụng chữa trị những đổ vỡ, những vết thương trong tinh cầu bé nhỏ của ta. Chúng ta có một quá khứ. Quá khứ đó có thể có những kỷ niệm êm đẹp, có tình thương và sự ấm áp. Quá khứ đó cũng có thể có những vết thương rất nặng, những tan vỡ, những buồn đau. Nhưng ta không thể từ chối quá khứ đó, tại vì đó là gia tài, là tinh cầu của ta. Ta đem quá khứ đó tới trong hiện tại. Và nhờ tiếp xúc được với tăng thân, với pháp Bụt mà ta biết cách để trở về dọn dẹp, tái thiết và xây dựng lại tinh cầu riêng của mình.
Có những sư cô, sư chú hay những Phật tử cư sĩ đã đạt tới sự chuyển hóa sau khi tu học một thời gian. Họ đã đem hạnh phúc đó về nhà để giúp cho bố mẹ và anh chị em chuyển hóa. Như vậy quá khứ vẫn còn trong hiện tại. Sự tu tập của chúng ta có khả năng thay đổi cả quá khứ. Pháp Bụt rất cao siêu, rất mầu nhiệm. Ta có thể sử dụng mỗi giây phút để làm mới lại, trị liệu và chuyển hóa. Trong khi xây dựng tăng thân trong giây phút hiện tại thì ta cũng đồng thời xây dựng lại quá khứ của mình. Tại vì ta có hiện tại và có quá khứ cho nên ta cũng có một tương lai, như ý trong một bài hát của Tịnh Thủy: “Ta vẫn có ngày mai, ta vẫn còn quá khứ”. Biết rằng mình vẫn còn quá khứ, mình vẫn có ngày mai nên hôm nay mình có thể sống an lạc, nhịp nhàng trong tình huynh đệ.
Nét đặc biệt trong văn hóa Việt Nam
Trong văn hóa Việt Nam có những yếu tố rất lạ kỳ. Ta sẽ không tìm ra được chữ trong ngôn ngữ Việt Nam để dịch từ “I” và “You”. Người ngoại quốc rất ngạc nhiên, họ hỏi làm sao mà ta có thể nói chuyện được nếu không dùng từ “I” và “You”? Vậy mà người Việt vẫn nói chuyện được. Chữ “tôi” mà ta dùng để dịch chữ “I” có nghĩa là mình chỉ đáng làm tôi tớ của người kia thôi. “Tôi” là chữ dùng để xưng đối với vua, với chủ của mình như “vua-tôi”, “quân-thần”. Vua tức là “quân”, “thần” tức là tôi. Chữ “tôi” từ đó mà ra. “Tôi” là tôi tớ, dịch cho đúng nghĩa là: your servant (À votre service, je suis votre servant). Chữ “ông” có nghĩa là my grandfather.
Lúc gặp nhau, trước khi nói chuyện thì người Việt phải thiết lập một sự liên hệ gia đình. Nếu người kia trẻ hơn thì mình gọi người đó là “em”, nếu người kia trẻ lắm thì mình gọi là “cháu” hay là “con”. Nếu người kia lớn hơn thì ta gọi là “chị”, là “anh”. Nếu người kia lớn lắm thì ta có thể gọi là “cô” hay “dì”. Nhưng bất kỳ chữ nào được sử dụng để gọi người kia cũng phải định rõ được chức vị trong gia đình. Gặp người lớn thì mình thưa “chú” hay thưa “bác”, thưa “ông” hay thưa “cụ”. Tất cả đều không phải là “you”. Trước khi nói chuyện với một người thì ta phải thiết lập sự liên hệ thân tộc với người đó. Gặp một em bé chưa quen ta gọi nó là “em” (younger brother, younger sister) hay “cháu” (nephew, niece). Trong tiếng Việt không có chữ “I” hay chữ “you”. Đó là một nét rất đặc biệt, khi ra đường mình chỉ gặp toàn là người thân trong gia đình.
Ngày xưa, người trong gia đình ra ngoài lập làng, cho nên lên xóm trên, xuống xóm dưới gì ta cũng gặp người trong gia đình, không có người xa lạ. Xã hội cũng được tổ chức như vậy, người nào cũng là em hoặc cháu, chị hoặc anh, ông hoặc bà mà không thể là một cái “you” lạnh ngắt và không có vị trí. Đó là một nét rất đặc biệt của văn hóa Việt Nam.
Có một điều lạ là khi hai vợ chồng gọi nhau thì cũng xưng là “anh” (big brother) và “em” (younger sister). Người chồng hay người vợ nói về vợ hay chồng mình thì gọi đó là “nhà tôi” (my home). Muốn giới thiệu vợ (chồng) với bạn thì nói: “Đây là nhà tôi” (This is my home). Người kia là nhà của mình, là quê hương, là chỗ mình nương náu. Khi cưới nhau thì người kia chính là ngôi nhà rất êm ấm của mình. Các bà, tuy có rất nhiều quyền, nhưng cũng nói rất khiêm nhượng: “Bác ơi, ở đây cái gì nhà tôi cũng lo hết! Tôi đâu có biết làm gì đâu.” Ông chồng cũng trả lời như vậy. Khi người ta hỏi:
- Chị có ở nhà không anh?
Thì anh trả lời:
- Nhà tôi có ở nhà.
Câu trên dịch ra tiếng Anh là “My home is at home”, rất là buồn cười! Người vợ hay người chồng, người bạn lứa đôi của mình chính là nhà của mình. Nếu cơm không ngon, canh không ngọt thì rất khó ở nhà. Vì vậy sự thực tập của một cặp vợ chồng là phải làm thế nào để mình mãi mãi còn là nhà của người kia và người kia vĩnh viễn là nhà của mình. Trong văn hóa có những dấu hiệu, những hướng đi như vậy.
Tăng thân cũng là nhà của mình. Mỗi khi rời xa tăng thân thì mình thương, mình nhớ. Ngày xưa trong Phật học đường, tôi đã từng ở với các sư chú và tôi chăm sóc, thương yêu họ rất nhiều. Khi ra ngoại quốc có những đêm tôi nằm mơ thấy toàn là các sư chú. Họ ở trong cư xá, một phòng có năm bảy người, mỗi người có một cái rương nhỏ dưới gầm giường để đựng sách vở, áo quần. Đời sống trong Phật học đường là như vậy, mình sống với nhau và làm phát hiện ra tình huynh đệ. Chính tình huynh đệ đã nuôi dưỡng mình trong thời gian đó. Sau này lỡ có phải rời xa thì mình thương nhớ tăng thân, đó là nhà của mình.
Làng Mai có xóm Thượng, xóm Hạ, xóm Mới và Sơn Hạ. Nếu được đề nghị sang Hoa Kỳ hay về Việt Nam thì mình hơi buồn tại vì mình phải xa tăng thân. Nhưng mình sang Bích Nham hay Lộc Uyển cũng là để xây dựng tăng thân. Sang đó ở được ba bốn tháng, có sự lưu luyến thì nơi đó sẽ trở thành nhà của mình. Bên này là nhà mà bên kia cũng là nhà!
Thân thể cũng là nhà
Nhà, hay quê hương là kết quả của sự tạo dựng, sự tu tập. Nếu trong quá khứ, trong thời thơ ấu mình không có phước được có nhà, được có quê hương đầm ấm của tuổi thơ thì bây giờ bằng sự tu tập, mình xây dựng cho mình một quê hương, một tổ ấm ngay trong giây phút hiện tại. Thân thể cũng là nhà của mình, mình trở về thân thể của mình. Ta đã được học là thân ta có những căng thẳng, đau nhức, bất an. Trở về với thân thể để lấy đi những căng thẳng, đau nhức, bất an cũng là một cách xây dựng nhà của mình.
Đức Thế Tôn dạy ta kinh Niệm Thân, dùng hơi thở để trở về với thân thể của mình, buông thư những căng thẳng, làm dịu đi những đau nhức nơi cơ thể. Đem tâm trở về với thân để cho thân tâm nhất như (thân hợp nhất với tâm), để thân có cơ hội nghỉ ngơi, đó cũng là một hành động “về nhà”. Điều này rất cần thiết, rất cơ bản! Nhà trước hết là cơ thể của mình. Nếu ta oán hận, thù ghét thân thể mình thì làm sao ta có được nhà? Nhà trước hết là cơ thể bằng xương bằng thịt. Trong giáo lý của Đức Thế Tôn, ta thấy rất rõ những phương pháp đem tâm trở về với thân để làm cho thân êm dịu. Chúng ta có bài thực tập “Quay về nương tựa hải đảo tự thân”. Thân mình là một phần của hải đảo đó. Đó là nhà của mình!
Lúc 3 giờ chiều nay chúng ta đã ngồi với nhau, đã ý thức được rằng trong thân thể mình có bố mẹ, có tổ tiên, có quê hương. Trong từng tế bào cơ thể mình có sự có mặt của bố mẹ, của tổ tiên. Về với cơ thể cũng là về với tổ tiên, với đất nước và văn hóa của mình. Đi đâu ta cũng mang tổ tiên, mang đất nước và văn hóa đi theo. Về với hình hài là về nhà rồi, mình có thể thoải mái được. Vì vậy kinh Niệm Thân rất quan trọng (Contemplation on the body in the body). Ta phải làm cho tâm được thoải mái trong thân, tâm hòa giải với thân và thân tâm nhất như.
Có những chủ thuyết hay những tôn giáo phân biệt thân và tâm, cho thân và tâm là hai cái hoàn toàn khác biệt. Nhưng đạo Bụt không có cái thấy lưỡng nguyên về thân và tâm. Thân và tâm nhất như. Hành động về nhà trước hết là về với thân của mình trong tư thế đi, đứng, nằm hay ngồi. Làng Mai có pháp môn thiền hành rất mầu nhiệm, mỗi bước chân đều đưa mình về nhà. Mỗi bước chân phải là một bước về nhà. Chỉ cần một bước thôi là ta có thể về nhà.
“Gió vẫn còn bay con biết không
Khi mưa xa tiếp áng mây gần
Hạt nắng từ cao rơi xuống thấp
Cho lòng đất thấy bầu trời trong
Ta vẫn còn đến đi thong dong
Có không còn mất chẳng băn khoăn
Bước chân con hãy về thanh thản
Không tròn không khuyết một vầng trăng.”
(Đến đi thong dong – Sư Ông Làng Mai)
Mỗi bước chân của ta đều là để trở về nhà. Ta không cần nhiều bước, một bước thôi là có thể trở về. Vì mỗi ngày phải bước đi nhiều bước nên ta có nhiều cơ hội để về nhà. Nếu thực tập giỏi thì mỗi bước chân là một cơ hội để ta trở về quê hương của mình, về với thân tâm để tìm thấy sự an bình. Có được sự an bình thì ta có thể xây dựng tăng thân thành một ngôi nhà lớn làm niềm vui và nơi nương tựa cho rất nhiều người.
“Bước chân con hãy về thanh thản”, trong câu thơ đó thầy đã nhắn nhủ, gởi gắm không biết bao nhiêu là tình thương, bao nhiêu là kỳ vọng nơi đệ tử: Mỗi bước chân là một cơ hội cho con trở về được với quê hương, với tổ tiên.
Sự trở về trong từng giây từng phút để chăm sóc nhà của chúng ta là công trình để xây dựng quê hương. Khi trở về với cơ thể, không những ta làm lắng dịu những đau nhức, buông bỏ những căng thẳng và làm cho thân tâm hợp nhất mà ta còn nhận diện được những tâm hành, nhất là những cảm thọ như cảm thọ buồn đau, lo lắng của mình. Người không tu thường tìm cách trốn tránh những cảm thọ không dễ chịu đó và tìm những vui nhộn bên ngoài để khỏa lấp và che giấu nỗi khổ niềm đau. Là người tu, ta không làm như vậy. Ta biết là ta phải trở về để chăm sóc và chuyển hóa. Sự thực tập hàng ngày là để cho ta có đủ năng lượng niệm và định để trở về nhận diện và ôm ấp nỗi khổ niềm đau hay những cảm giác lẻ loi, lạc loài trong con người mình.
Trong năm mới chúng ta phải tập ngồi cho giỏi, tập ngồi cho cha mẹ, tổ tiên. Ta tập ngồi cho yên. Ta ngồi yên được thì thế giới sẽ yên, tổ tiên và con cháu sẽ yên. Sang năm mới chúng ta hãy tập đi thiền hành cho giỏi, mỗi bước chân đưa ta trở về được quê hương. “Bước chân con hãy về thanh thản”, đó là thông điệp của thầy gởi cho tất cả các đệ tử. Mỗi bước chân trở về như vậy thì mình sẽ gặp thầy, gặp Bụt, gặp cha mẹ, gặp tổ tiên, gặp quê hương trong đó. Rất là mầu nhiệm! Niệm lực càng hùng tráng thì sự trở về của mình càng sâu sắc.
Xin chúc đại chúng năm mới có nhiều thành công trong sự tu tập và xây dựng tăng thân.
Bộ phim “Bước chân an lạc” ra mắt khán giả Việt Nam
Sau nhiều tháng ngày chờ đợi, “Bước chân an lạc” (tựa đề tiếng Anh là “Walk With Me”) – một bộ phim tài liệu về Thiền sư Thích Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai đã được chiếu hơn 150 rạp khắp nước Mỹ, Âu Châu, Úc, Hồng Kông, Thái Lan – giờ đây đã có cơ hội ra mắt khán giả Việt Nam. Một món quà đầy ý nghĩa nhân dịp xuân về!
Dưới đây là những dòng chia sẻ của chị Chân Xuân Tản Viên – người đã có mặt tại buổi ra mắt bộ phim tại Sài Gòn vào tối hôm qua, ngày 23.02. 2018.
Trở lại Sài Gòn sau chuyến nghỉ Tết dài ngày, hôm nay tôi may mắn được tham dự buổi ra mắt bộ phim “Bước chân an lạc” (Walk With Me) cùng với tăng thân và bạn bè. Có mặt ở Bitexco từ rất sớm rồi rảo bước một vòng trước sảnh chiếu phim, tôi cảm nhận được trong lòng dâng lên niềm vui và lòng biết ơn vô cùng đối với những nhân duyên nhiệm mầu đang hiện hữu.
Chưa đến giờ khai mạc mà khu sảnh ra mắt phim đã chật kín khách mời. Tôi nhìn thấy các vị tôn túc, quý thầy và quý sư cô ai cũng hoan hỷ và hạnh phúc. Các vị khách mời ai cũng xinh tươi trong những bộ trang phục áo dài truyền thống với nụ cười trên môi như đã quen nhau tự lúc nào. Chương trình đón khách thật phong phú với quầy giới thiệu sách của nhà xuất bản sách Phương Nam, quầy thức ăn nhẹ là đồ chay thanh tịnh và nước mát nhẹ nhàng…

Khai mạc chương trình, Sư cô Chân Không đại diện cho Làng Mai chia sẻ đôi lời với quan khách. Ánh mắt của Sư cô long lanh niềm vui khó tả, nụ cười hiền hậu và giọng nói rất chân chất, mộc mạc. Sư cô mời một thầy thỉnh ba tiếng chuông cho thính chúng dừng lại thở và cười để cảm nhận được sự nhiệm mầu của cuộc sống. Và sau đó là lời cảm ơn của ban tổ chức cũng như nhà tài trợ của chương trình. Bản hòa tấu saxophone bài hát “Một cõi đi về” của cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn vang lên cũng chính là lúc cảm xúc trong tôi dâng trào. Tôi đã nhắm mắt lại, hít thở thật sâu, thật nhẹ và để cho tâm hồn thư giãn hoàn toàn…
Sau buổi giới thiệu, tất cả mọi người được mời vào trong rạp để xem phim. Ai cũng đi nhẹ nhàng, nói khe khẽ và từ từ chọn ghế cho mình. Tối hôm nay khách mời kín hết cả hai phòng chiếu ở tầng ba và tôi nghe nói ban tổ chức còn sắp xếp thêm một phòng chiếu nữa ở tầng bốn. Đúng như lời Sư cô Chân Không chia sẻ lúc ban đầu, bộ phim thật sống động nhưng lại mang đậm chất thiền với những đoạn phim tư liệu kể về đời sống tu học của chúng xuất sĩ Làng Mai, những ngày bình thường ở tu viện và kể cả những lúc có khóa tu hay là những chuyến đi hoằng pháp.
Mặc dù là phim tư liệu nhưng tôi cảm nhận được chiều sâu tâm hồn cũng như là sự thực tập sâu sắc hết lòng của người quay phim. Từ những mẩu chuyện rất nhỏ tưởng chừng như không có liên quan gì như là chuyện con chó cưng bị chết của em bé thiền sinh tây phương, hình ảnh cô thiền sinh khóc nức nở khi nghe quý thầy, quý sư cô niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Thế Âm, sự thực tập làm mới của hai mẹ con khi đến tham dự khóa tu ở tu viện, quý thầy quý sư cô vấn đáp với tù nhân trong trại giam hay là cuốn nhật ký với bảng kế hoạch cho tương lai xa xôi cực kỳ chi tiết của một vị thầy trẻ tuổi, tôi đã cảm nhận được thông điệp thật là tinh tế và sâu sắc mà tác giả muốn gửi gắm đến cho người xem về sự thực tập chánh niệm để chuyển hóa khổ đau và gieo trồng hạnh phúc.
Nghệ thuật của bộ phim còn được thể hiện ở sự lồng ghép tài tình hình ảnh “bốn mùa thay lá” đi cùng với lời dẫn truyện lấy từ cuốn sách “Nẻo về của ý” của Sư Ông Làng Mai. Cách truyền tải sự cảm nhận và trạng thái giác ngộ thật khéo léo qua những hình ảnh và âm thanh thinh lặng trong trẻo đến lạ kỳ…
Trân quý và biết ơn,
Sài gòn tối mùng 8 tết Mậu Tuất
Chân Xuân Tản Viên


- Tại Sài Gòn, phim sẽ chiếu tại hệ thống BHD, Lotte, Galaxy vào ngày 1/3.
- Tại Hà Nội sẽ công chiếu vào lúc 20 giờ ngày thứ Bảy (10/3) tại rạp BHD Vincom Phạm Ngọc Thạch. Lễ ra mắt có sự hiện diện của Sư Cô Chân Không và tăng đoàn Làng Mai, diễn ra vào lúc 19 giờ .
Làng Mai năm qua
Kính thưa quý vị thân hữu,
Khi lá thư này đến tay quý vị thì tại Làng Mai, khóa An cư kiết đông 2017 – 2018 vừa kết thúc viên mãn vào ngày 12.2.2018 trong tiếng chuông trống Bát Nhã trầm hùng. Đại chúng gồm 209 xuất sĩ và 116 cư sĩ đã cùng an trú và tu tập trong 90 ngày với tâm niệm hết lòng làm mới sức khỏe tâm linh cũng như thể chất để có thể đi tới trên con đường tu tập và độ đời. Những bài pháp thoại của quý thầy, quý sư cô giáo thọ với chủ đề “Bảy yếu tố giác ngộ” đã mang lại cho đại chúng rất nhiều cảm hứng để đào sâu sự thực tập của mình.
Trước lễ Tự tứ một vài ngày, đại chúng được thăm và thưởng thức chợ hoa do các sư cô xóm Mới tổ chức, rồi cùng quây quần bên nhau gói bánh chưng, bánh tét. Trong lúc đó thì Ban biên tập cũng đang nỗ lực để Lá Thư Làng Mai được ra đời đúng vào dịp Tết Mậu Tuất, làm món quà tinh thần gởi đến tất cả mọi người trong dịp đón chào năm mới.
Sau đây chúng tôi xin lược thuật những gì xảy ra trong năm 2017:
Niềm vui trên đất Thái
Thế là một năm đi qua thật mau! Cuối năm 2016, Sư Ông Làng Mai bỗng có tuệ giác cần phải về vùng ấm áp Thái Lan để chữa bệnh. Mười bảy thị giả đã đi theo Sư Ông. Cả vùng Đông Nam Á bỗng bừng lên hy vọng và hạnh phúc vì sẽ được gặp mặt Sư Ông. Số lượng các sư cô, sư chú xuất gia trong gia đình cây Mai Vàng (ngày 14.12.2016) bỗng đông hơn…
Mới về tới tu viện Làng Mai Thái Lan, ban thị giả quá ngạc nhiên vì mảnh đất toàn là đá nằm trên núi Khao Yai mà Làng mua được năm 2013 nay bỗng tươi tốt, đông vui với nhiều cây xanh, nhà ở và 200 xuất sĩ.
Xóm Trời Quang là xóm của quý thầy gồm: cư xá dành cho quý thầy, được thiết kế theo hình vuông, ở giữa là một thiền đường nhỏ. Bên cạnh là một nhà trà để tiếp khách và một dãy nhà dành cho cư sĩ nam.
Xóm Trăng Tỏ là xóm của quý sư cô gồm: hai cư xá, kiến trúc cũng giống tăng xá của các thầy; một nhà cư sĩ nữ cất tạm bằng lá, có thể chứa tối đa là 72 giường. Ngoài ra, còn có 2 khu đất rộng để căng lều. Tổng cộng khoảng 400 chỗ cho cư sĩ nữ.
Khi Sư Ông vừa tới Thái Lan thì Phật tử Việt Nam ùn ùn kéo sang Thái. Các sư cô “hết hồn” thấy đồng bào sẵn sàng ngủ trong những khu lều lót bằng bạt nylon, bên dưới cũng là bạt nylon mỏng tanh và trên đó sắp san sát các tấm nệm dày 5 cm, rộng 80 cm và dài 1,80 mét. Các cư sĩ nữ nằm san sát nhau trong một cái mùng dài 10 mét và bề ngang là 2 mét. Thế là 10 bác ngủ chung một mùng. Thấy thương quá đi! Ban tri khách thấy các bác cực khổ cũng nóng ruột, nên giăng thêm mùng dài cho các bác trong các thiền đường nhỏ bên trong mỗi cư xá, cũng có thể được thêm 30 người. Các sư cô đi thương thuyết với các resort chung quanh để tìm chỗ cho các bác trai, nhưng các bác trai rầu lắm, nói ở đó không phải chỗ tu hành, dù resort cho ăn chay nhưng không được ngồi thiền mỗi sáng sớm, không được nghe quý thầy và quý sư cô tụng kinh nên cũng xin cắm lều trong tu viện.
Tóm lại, 700 thiền sinh cư sĩ đã cùng về tu tập với hơn 200 quý thầy, quý sư cô (200 xuất sĩ thường trú và 100 quý thầy, sư cô từ Việt Nam, Hồng Kông, Úc…) Ôi chao là vui! Thường thường cứ hai phòng ngủ (3 – 6 người chung một phòng) thì có một phòng ở giữa dùng làm phòng học hay là nơi để huynh đệ uống trà chung với nhau. Nhưng mỗi cư xá đành chịu mất phòng học nên 30 sư cô khách mới có chỗ ở tạm.
Theo thiết kế ban đầu, căn nhà hiện giờ được dùng làm nhà ăn (ở tầng dưới) và thiền đường (ở tầng trên) là chỉ dùng làm nhà ăn mà thôi. Nhưng vì nhu yếu sinh hoạt của tu viện nên quý thầy, quý sư cô đã quyết định lấy phần bên trên nhà ăn dùng làm thiền đường cho hai xóm, có ban-công hai bên để có thể chứa 350 người. Ở nhà ăn bên dưới cũng có loa để cho khoảng 700 thiền sinh có thể nghe pháp thoại. Kế nhà ăn là nhà bếp lớn chung cho hai xóm, còn nhà khất thực để đại chúng lấy thức ăn thì chưa kịp xây.
Đầu năm 2017, mới tháng Hai mà khóa tu cho đồng bào người Việt vào tháng Sáu đã hết chỗ nên các anh chị trong tăng thân cư sĩ ở Sài Gòn có đề nghị làm khóa tu tại một resort ở Bình Phước, không xa thành phố Hồ Chí Minh và có rất nhiều không gian. Nhưng đồng bào vẫn thích đi Làng Mai Thái hơn, dù biết không có chỗ. Cuối cùng ban tổ chức đành xin lỗi, hủy bỏ khóa tu ở Việt Nam. Khóa tu ở Làng Mai Thái hết chỗ đã lâu, nhưng người Việt vẫn có câu châm ngôn chật bụng chứ không chật nhà nên khóa tu cho 600 người mà vẫn “nhét” được cả ngàn người.
Khóa tu xuất sĩ “Cùng nhau chúng ta là một” tại Làng Mai, Pháp (từ ngày 19.2 đến ngày 02.3)
Đã thành thông lệ, sau An cư kiết đông, tăng thân xuất sĩ ở Làng lại tập họp về xóm Thượng để tham dự khóa tu xuất sĩ. Năm nay, khóa tu xuất sĩ Cùng nhau chúng ta là một (Together We Are One) diễn ra trong 12 ngày, với gần 250 xuất sĩ từ ba xóm của Làng Mai, Thiền đường Hơi thở nhẹ (Paris) và Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB), Đức. Đại chúng rất hạnh phúc bởi sự có mặt của quý thầy, quý sư cô lớn từ khắp nơi về tham dự, như thầy Pháp Ấn, thầy Pháp Khâm, sư cô Chân Đức, sư cô Diệu Nghiêm, sư cô Giác Nghiêm… Đây thực sự là một ngày hội của gia đình Áo nâu.
Những bông hoa thủy tiên đã nở vàng ở Pháp thân tạng như hòa chung niềm vui với các vị xuất sĩ! Thật là ấm áp và nuôi dưỡng khi 250 xuất sĩ cùng tọa thiền trong buổi sớm mai, cùng thiền hành trên những con đường mòn dẫn xuống Sơn Hạ. Dù không có Sư Ông ở Làng nhưng ai cũng cảm nhận được sự có mặt của Sư Ông nơi từng hơi thở, từng bước chân cẩn trọng của mình. Khóa tu cũng là cơ hội để đại chúng mở lòng chia sẻ những băn khoăn, thao thức trên bước đường thực tập, cùng lắng nghe kinh nghiệm giữ lửa của các sư anh, sư chị đi trước, cùng vui chơi trong giải bóng đá PV Cup và đêm văn nghệ “miệt vườn”, rồi cùng thưởng thức Lễ hội hoa thủy tiên trong nắng ấm đầu xuân… Năng lượng nhẹ nhàng, tươi vui và đầm ấm của gia đình tâm linh trong khóa tu xuất sĩ đã tạo hứng khởi và tiếp thêm năng lượng cho tất cả mọi người trong đại chúng.
Trong khóa tu xuất sĩ cũng đã diễn ra lễ Truyền đăng cho 10 vị tân giáo thọ. Thầy Pháp Ấn và sư cô Chân Đức thay mặt Sư Ông và tăng thân trao đèn và kệ truyền đăng cho các vị tân giáo thọ.
Đại giới đàn Tánh Thiên (từ ngày 21 đến ngày 25.02.2017, tại Làng Mai Thái Lan)
Cùng thời gian diễn ra khóa tu xuất sĩ tại Làng Mai Pháp thì tại Làng Mai Thái Lan đã diễn ra Đại giới đàn Tánh Thiên với sự chứng minh của Sư Ông Làng Mai. Đại giới đàn đã cung thỉnh được quý Hòa thượng: HT. Thích Chí Mãn – Trú trì chùa Pháp Vân, Đà Nẵng; HT. Thích Huệ Ấn – Trú trì chùa Phổ Quang, Huế; HT. Thích Minh Cảnh – Viện chủ Tu viện Huệ Quang, Sài Gòn; HT. Thích Minh Nghĩa, Viện chủ Tổ đình Giác Nguyên, Sài Gòn; và quý Ni trưởng: NT. Thích nữ Lưu Phương – Trú trì chùa Liên Hoa, Nha Trang; NT. Thích nữ Lưu Phong – Viện chủ Ni viện Kiều Đàm, Sài Gòn; NT. Thích nữ Như Minh – Trú trì chùa Pháp Hỷ, Huế; NT. Thích Nữ Như Ngọc – Trú trì chùa Phước Hải, Sài Gòn vào Hội đồng truyền giới.
Với sự chứng minh của Sư Ông Làng Mai và chư Tôn đức, Đại giới đàn đã truyền các giới Tiếp hiện, giới Khất sĩ và Khất sĩ nữ. Có tất cả 23 vị thọ giới Tiếp hiện, 28 vị được thọ giới Khất sĩ và 30 vị thọ giới Khất sĩ nữ. Dù đang dưỡng bệnh, Sư Ông vẫn có mặt hết lòng trong lễ khai mạc cũng như trong lễ truyền giới Khất sĩ. Sự hiện diện vô hành của Sư Ông khiến cho chư Tôn đức cũng như tất cả đại chúng Làng Mai đều xúc động. Niềm vui thắp sáng trong từng ánh mắt, nụ cười của tất cả mọi người có mặt trong Đại giới đàn.
Trong Đại giới đàn cũng đã diễn ra lễ Truyền đăng vào ngày 23 và ngày 24 tháng 2. Dưới đây là những bài kệ truyền đăng do thầy Pháp Niệm, sư cô Chân Không và sư cô Đoan Nghiêm thay mặt Sư Ông và tăng thân trao cho 13 vị tân giáo thọ:
Khóa tu tiếng Pháp (từ ngày 10.04 đến ngày 17.04.2017)
Năm nay, dù không có Sư Ông ở Làng nhưng khóa tu dành cho người nói tiếng Pháp vẫn thu hút hơn 550 thiền sinh từ các nước Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ và Quebec (Canada) về tham dự. Thầy Pháp Khí cùng quý sư cô: Chân Không, Giác Nghiêm và Đào Nghiêm đã cho pháp thoại trong khóa tu về những chủ đề: sự thực tập trở về với hải đảo tự thân, chế tác những giây phút hạnh phúc trong đời sống hàng ngày, chăm sóc cảm xúc mạnh, cách thiết lập truyền thông trong gia đình… Thiền sinh cũng có cơ hội được đặt những câu hỏi trực tiếp với các vị giáo thọ trẻ: thầy Pháp Lưu, thầy Pháp Linh, sư cô Hài Nghiêm và sư cô Lực Nghiêm. Niềm vui và những chuyển hóa sau một tuần thực tập cùng tăng thân đã tạo cảm hứng cho hơn 100 thiền sinh tiếp nhận Năm giới để hành trì. Trong khóa tu này còn có lễ truyền 14 giới Tiếp hiện cho 21 vị, đây là niềm vui lớn của tăng thân Tiếp hiện ở Pháp cũng như các nước châu Âu.
Khóa tu tiếng Pháp vừa kết thúc cũng là lúc quý thầy, quý sư cô lớn trong tăng thân bắt đầu những chuyến hoằng pháp tại châu Âu ( Đức, Ý, Ireland, Hà Lan, Tây Ban Nha) và châu Á (Nhật Bản, Indonesia); ngoài ra còn có hai khóa tu tại Israel và Palestine.
Khóa tu dành cho doanh nhân (từ ngày 31.05 đến ngày 07.06.2017)
Đây là khóa tu thứ hai dành cho doanh nhân tại Làng Mai (lần thứ nhất là vào năm 1999). Quý thầy, quý sư cô Làng Mai cùng với tăng thân cư sĩ Work’ Inspir, Pháp đã phối hợp tổ chức khóa tu này. Tham gia khóa tu có 200 thiền sinh từ khắp nơi trên thế giới: Bỉ, Đức, Anh, Ireland, Mỹ, Brazil, Mexico, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật… Tổ chức khóa tu dành cho doanh nhân cũng là thực hiện ước muốn bấy lâu của Sư Ông, đó là đem hạt giống của hiểu và thương vào trong lĩnh vực kinh doanh. Những bài pháp thoại trong khóa tu giúp cho thiền sinh thấy rằng sự thực tập không hề tách rời khỏi công việc chuyên môn của họ. Nếu muốn thay đổi thế giới, dù đó là thế giới kinh doanh hay bất cứ một lĩnh vực nào khác, trước tiên chúng ta cần phải trở về ngôi nhà đích thực trong chính tự thân, phải có khả năng kết nối với chính mình. Bất cứ hành động nào của người giám đốc hay nhà lãnh đạo cũng mang chữ ký của chính họ, vì vậy nếu họ không có sự chuyển hóa tự thân thì làm sao có thể mong giúp cho môi trường thay đổi.
Một thiền sinh, trước đây đã tham dự nhiều khóa tu chánh niệm, chia sẻ rằng đây là một khóa tu rất có ý nghĩa và đặc biệt nhất đối với anh. Anh đã đến khóa tu này với rất nhiều mong đợi bởi vì đó là lần đầu tiên anh được tu tập chung với những người cùng lĩnh vực. Anh đã học hỏi rất nhiều từ những bài pháp thoại, từ cách tổ chức khóa tu, thời khóa đến sự kết hợp làm việc chung rất hòa điệu như trong một gia đình của quý thầy, quý sư cô.
“Trong khóa tu này, không những tôi có cơ hội được thực tập những pháp môn thực tiễn, có thể áp dụng bất cứ nơi đâu (như thiền tọa, thiền hành, ăn cơm trong chánh niệm, lắng nghe sâu…) mà còn được học hỏi rất nhiều từ các bài pháp thoại có liên quan trực tiếp đến những nhu yếu trong công tác quản lý và tổ chức doanh nghiệp. Tôi cũng học hỏi từ những chia sẻ của các bạn thiền sinh khác. Tôi cảm thấy mình có nhiều sức mạnh trong vai trò lãnh đạo hơn bởi vì giờ đây tôi hiểu hơn về bản thân, về những nhu yếu và giá trị sống của chính mình” – một bạn thiền sinh đến từ Tây Ban Nha tâm sự.
Vào cuối khoá tu, có 70 thiền sinh đã tiếp nhận Năm giới quý báu trong sự chứng minh và yểm trợ của tứ chúng Làng Mai.
Khóa tu nấu ăn tại xóm Mới (từ ngày 31.5 đến ngày 7.6.2017)
Trong khi khóa tu doanh nhân diễn ra tại xóm Thượng và xóm Hạ thì tại xóm Mới cũng diễn ra khóa tu nấu ăn, với khoảng 160 thiền sinh về tham dự.
Các sư cô xóm Mới đã cho thiền sinh có cơ hội được đi “du lịch” ba miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam, qua các món ăn được chọn để thuyết trình: cà tím kho (miền Bắc), bánh xèo (miền Trung) và hủ tiếu (miền Nam).

Món cà tím kho được sư cô Đàn Nghiêm trình bày rất khéo và đẹp. Món kho thì phải ăn với cơm nên sư cô đã hướng dẫn cho các bạn thiền sinh cách nấu cơm sao cho ngon, nhất là khi phải nấu cơm bằng bếp gas mà không phải là nồi cơm điện. Cà tím kho là một món khá đơn giản, dễ nấu, nhưng “bí quyết” để nấu ăn ngon mà sư cô chia sẻ với các bạn thiền sinh là năng lượng bình an, thương yêu mà mình chế tác trong khi cắt gọt và nấu ăn. Với “gia vị đặc biệt” này, món ăn sẽ ngon hơn rất nhiều.
Có một cô thiền sinh chia sẻ rằng cô đã chọn tham dự khóa tu nấu ăn mà không chọn khóa tu doanh nhân (diễn ra cùng thời gian đó tại xóm Thượng và xóm Hạ), mặc dù cô quản lý hơn 1000 nhân viên. Vậy mà trong khóa tu nấu ăn, cô đã học được cách điều phục cảm xúc, học chế tác niềm vui, bình an… qua những bài pháp thoại, những buổi thiền tọa, thiền hành, ăn cơm chánh niệm,… Và cô mong muốn chia sẻ lại với nhân viên của cô những gì cô được học từ Làng Mai.
Dù là khóa tu nấu ăn nhưng có rất nhiều thiền sinh nam về tham dự. Có người về một mình, cũng có người về cùng vợ hay bạn gái của mình. Cả hai người không chỉ học nấu ăn mà còn học cách làm sao để nuôi dưỡng hạnh phúc gia đình. Có một em gái, còn rất trẻ, trước khi về tham dự khóa tu em vẫn còn hút hơn hai mươi điếu thuốc mỗi ngày. Vậy mà không ngờ, về tới Làng, nhờ sự thực tập và năng lượng bình an, tươi vui của đại chúng mà em đã bỏ thuốc được. Em chia sẻ điều này trong giờ pháp đàm khiến ai cũng xúc động. Em hứa rằng khi rời Làng về nhà em sẽ vẫn giữ sự thực tập này.
Đến cuối khóa tu, số người nhận Năm giới là trên 70 người, tức là một nửa số thiền sinh tham dự. Một con số mà không ai ngờ tới. Thiền sinh về đây không chỉ được học nấu những món chay ngon và lành mà còn được học cách chế tác hạnh phúc cho chính mình, từ đó hiến tặng hạnh phúc cho gia đình và xã hội. Qua khóa tu nấu ăn, nhiều thiền sinh nhận thấy rằng ăn chay cũng rất ngon và chỉ cần ăn chay thôi cũng đã giúp bảo vệ đất Mẹ rất nhiều rồi.
Khóa tu mùa Hè (từ ngày 08.07 đến ngày 05.08.2017)

Khóa tu mùa Hè là khóa tu dành cho gia đình diễn ra trong bốn tuần, mỗi tuần là một khoá tu nhỏ. Các gia đình có thể tham gia 1 tuần, 2 tuần, 3 tuần hay cả 4 tuần. Năm nay, các gia đình về dự khóa tu vẫn đông như khi Sư Ông còn ở Làng, mỗi tuần có khoảng 800 – 1000 thiền sinh, vừa người lớn vừa trẻ em đến từ hơn 40 quốc gia trên thế giới. Văn phòng các xóm vừa mở ghi danh trong một thời gian ngắn là đã kín chỗ. Đây là mùa duy nhất trong năm mà các em thiếu nhi và thiếu niên có chương trình tu tập riêng.
Năm nay xóm Thượng như thường lệ vẫn đón tiếp gia đình có các em thiếu nhi nói tiếng Pháp, Ý và Tây Ban Nha. Trong khi đó, xóm Mới đón các gia đình có các em thiếu nhi nói tiếng Hà Lan và Đức. Xóm Hạ đón các gia đình có các em thiếu nhi nói tiếng Anh. Các em thiếu niên (teens) thì ở hai xóm, nam ở xóm Thượng và nữ ở xóm Mới. Các em được các thầy, các sư cô hướng dẫn riêng. Vì vậy, đôi khi cũng có những trường hợp khó xử xảy ra. Thí dụ như gia đình một bà mẹ đơn thân nói tiếng Pháp có một con gái tuổi teen và một con trai tuổi thiếu nhi. Vậy là bà mẹ phải nhờ một người bạn hay người bà con về xóm Mới làm bảo hộ cho con gái. Dù đôi khi có những khó khăn trong việc sắp xếp cho cả gia đình về Làng tu tập, nhưng không vì vậy mà các thiền sinh nản lòng. Có nhiều em thiếu niên khi ba mẹ hỏi: “Con muốn đi nghỉ hè ở đâu?” thì em trả lời liền: “Con muốn về Làng!” Thật là một món quà vô giá và vô cùng ý nghĩa mà ba mẹ có thể tặng cho con cái khi cùng các em về tu tập như một gia đình.
Cũng có những em ban đầu không thích môi trường ở Làng, cái gì cũng lạ lẫm, lại không có Internet để chơi game hay dùng facebook như khi ở nhà, vậy mà chỉ sau một, hai ngày là em đã tìm thấy niềm vui khi chơi với các bạn cùng độ tuổi. Được sống trong một môi trường an lành, gần gũi với thiên nhiên, được các thầy, các sư cô chăm sóc và lắng nghe, các em có cơ hội sống thật với chính mình và mở lòng chia sẻ những khó khăn ở trường học, cũng như trong liên hệ với ba mẹ… Những buổi thực tập Làm mới luôn tạo ra phép mầu, giúp cho ba mẹ và con cái hiểu nhau hơn, trân quý nhau hơn. Vì vậy mà nhiều gia đình vừa mới kết thúc khóa tu năm nay đã lên kế hoạch về Làng cho mùa hè sang năm rồi.
Mở đầu khóa tu mùa Hè năm nay, sư cô Diệu Nghiêm cho bài pháp thoại đầu tiên về Sáu câu thần chú. Sư cô đã chia sẻ những phương pháp thực tập để hiến tặng sự có mặt đích thực của mình cho những người mà mình thương yêu. Sự có mặt của mình chính là món quà quý nhất mà mình có thể hiến tặng cho người thương.
Tiếp đó là những bài pháp thoại của quý thầy, quý sư cô giáo thọ khác như: thầy Kai Li, thầy Pháp Dung, thầy Pháp Lai, thầy Pháp Liệu; sư cô Chân Đức, sư cô Từ Nghiêm, sư cô Thanh Ý, sư cô Giác Nghiêm và sư cô Đào Nghiêm. Tất cả các pháp thoại vào khóa tu mùa Hè đều bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, có phiên dịch ra nhiều thứ tiếng khác.
Trước pháp thoại cho người lớn bao giờ cũng có một pháp thoại ngắn cho các em thiếu nhi. Đặc biệt mùa hè năm nay, thầy Pháp Bản người Ý, đồng thời cũng là một người vẽ hình hoạt họa tài năng đã cho một bài pháp thoại cho thiếu nhi dựa trên câu chuyện về bàn tay trái và bàn tay phải của Sư Ông. Thầy Pháp Bản đã dùng những hình vẽ màu sắc vui tươi và sinh động để chuyển tải giáo lý tương tức, không kỳ thị đến các em một cách dễ hiểu và hấp dẫn.
Các gia đình người Việt thì về xóm Trung và cũng có chương trình sinh hoạt tương tự như tại các xóm khác. Đồng bào người Việt ở xóm Trung cũng tham gia những ngày quán niệm tại các xóm như tất cả các thiền sinh khác. Ai không biết tiếng Anh hoặc tiếng Pháp thì có thể nghe pháp thoại qua thông dịch. Ngoài ra đồng bào người Việt còn được nghe thêm các bài pháp thoại bằng tiếng Việt tại xóm Trung trong những ngày khác do quý thầy quý sư cô giáo thọ người Việt phụ trách. Về xóm Trung, đồng bào được nói tiếng Việt, ăn thức ăn Việt. Một số thiền sinh không nói tiếng Việt nhưng quen thuộc với Làng Mai trong nhiều năm qua thường hay “đến thăm” xóm Trung để được thưởng thức các món ăn Việt nên đôi khi đội nấu ăn trong ngày phải nấu gấp thêm để… “chữa cháy”.
Khóa tu mùa Hè khép lại với hình ảnh gần một ngàn người cùng chờ đón trăng lên trong Lễ hội Trăng rằm tại đồi Bụt, xóm Thượng. Ngày xưa ông cha ta có thời gian để ăn mừng trăng lên hay ăn mừng hoa đào nở, nhưng trong xã hội hiện nay chúng ta bị lôi cuốn theo những thiết bị điện tử và các trò chơi vô bổ mà quên đi nghệ thuật thưởng thức những mầu nhiệm của cuộc sống. Vì vậy, lễ hội Trăng rằm ở Làng Mai cũng là cơ hội giới thiệu cho các bạn thiền sinh về tham dự khóa tu một nét đẹp của văn hóa Việt Nam. Các em thiếu nhi đặc biệt thích lễ hội này vì được quý thầy, quý sư cô hướng dẫn làm lồng đèn để các em cùng nhau rước vào đêm lễ hội.

Cũng trong khóa tu mùa Hè, Sư cô Chân Không và Sư cô Chân Đức đã thay mặt Sư Ông và tăng thân làm lễ Truyền đăng cho sư cô Chân An Nghiêm – người Mỹ, gốc Phi, xuất gia trong gia đình Sen Trắng, tại Phật đường, xóm Mới, vào ngày 19.07.2017. Dưới đây là hai bài kệ truyền đăng dành cho sư cô Chân An Nghiêm (một bài tiếng Anh và một bài tiếng Việt):
Khóa tu Wake Up Earth dành cho các bạn trẻ (từ ngày 11.08 đến ngày 18.08.2017)
Một tuần sau khi khóa tu mùa Hè kết thúc, Làng lại tiếp tục mở cửa để đón hơn 500 bạn trẻ từ khắp nơi trên thế giới về tu tập, từ ngày 11 đến ngày 18.8.2017 tại xóm Thượng. Trong mười năm qua, phong trào Wake Up – một phong trào dành cho các bạn trẻ muốn sống một nếp sống tỉnh thức do Sư Ông Làng Mai khởi xướng vào năm 2008 – đã phát triển rất mạnh trên khắp thế giới. Vì vậy mà số lượng các bạn trẻ đến với những khóa tu Wake Up do tăng thân Làng Mai tổ chức ngày càng đông. Những năm trước đây, ở Làng mỗi hai năm mới có một khóa tu dành cho người trẻ, nhưng gần đây do nhu yếu tu tập của người trẻ ngày càng tăng nên quý thầy, quý sư cô đã quyết định tổ chức khóa tu Wake Up mỗi năm một lần.

Rất nhiều bạn trẻ lần đầu tiên đến với khóa tu đã rất xúc động khi thấy hơn 500 người trẻ cùng ngồi thiền, cùng đi thiền hành trong buổi sớm mai. Có một buổi sáng, sau khi thiền hành xuống đồi Bụt, thầy Pháp Dung hướng dẫn các bạn tập mười động tác chánh niệm, rồi bỗng nhiên thầy dẫn cả đại chúng thực tập… thiền chạy. Ai cũng vui với sự bất ngờ thú vị này!
Những bài pháp thoại của quý thầy, quý sư cô giáo thọ: thầy Pháp Dung, thầy Pháp Hữu, thầy Pháp Lưu, sư cô Lăng Nghiêm và sư cô Hài Nghiêm; cũng như buổi vấn đáp với thầy Kai Li, thầy Pháp Linh, sư cô Hiến Nghiêm và sư cô Lực Nghiêm đã giúp các bạn trẻ học cách trở về chăm sóc chính mình, chăm sóc những vết thương, những tập khí không lành mạnh, thiết lập lại truyền thông với chính mình, với những người thương,…
Khóa tu người trẻ nên năng lượng rất trẻ trung và vui tươi! Ngoài những giờ sinh hoạt theo thời khóa, lúc nào cũng nghe tiếng đàn, tiếng hát… Đúng là sức mạnh của âm nhạc, có thể kết nối mọi người lại với nhau một cách dễ dàng, không phân biệt ngôn ngữ, tôn giáo…
Khóa tu cho người nói tiếng Đức và tiếng Hà Lan tại Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB):
Ngay sau khóa tu mùa Hè ở Làng, 70 thầy và sư cô đã đi xe buýt 16 tiếng đồng hồ từ Làng Mai sang EIAB, Đức để yểm trợ đại chúng Học viện tổ chức khóa tu dành cho người nói tiếng Đức và tiếng Hà Lan, với chủ đề Kiên nhẫn là dấu ấn của tình thương.

Học viện ngày càng khang trang hơn, với nhà bếp và nhà ăn mới, đáp ứng được những yêu cầu đề ra của chính phủ Đức. Theo đó, quý thầy, quý sư cô cũng được học hỏi cách thức sử dụng nhà bếp mới như: cách sử dụng các thiết bị nấu ăn, thay giày, mặc đồng phục trước khi vào nhà bếp, v.v..
Khóa tu dành cho người nói tiếng Đức diễn ra từ ngày 07 đến ngày 12 tháng 8, có khoảng 350 người tham dự. Trong khóa tu này, thầy Pháp Ấn cho bài pháp thoại đầu tiên và thầy đã hát bài Hoa mặt trời phổ từ thơ của Sư Ông làm cho nhiều người cảm động đến rơi nước mắt.
Tiếp đó là những bài pháp thoại của quý sư cô: sư cô Chân Không chia sẻ về cách áp dụng pháp môn chánh niệm để đối trị với tri giác sai lầm và những cảm xúc mạnh; sư cô Bi Nghiêm, người Đức, đã mời mọi người cùng quán chiếu câu hỏi: “Mối quan tâm tối hậu của mình là gì?” Sư cô cũng chia sẻ kinh nghiệm tu tập của bản thân khi bị bệnh nặng, làm thế nào để thực sự thấy bùn và sen là một để đi qua khó khăn. Sư cô Chân Đức cho bài pháp thoại cuối cùng của khóa tu, giúp thiền sinh quán chiếu về không sinh – không diệt qua câu hỏi: “Chúng ta từ đâu đến và chúng ta sẽ đi về đâu?” Sư cô cũng khuyến khích và hướng dẫn mọi người huấn luyện tâm. Bởi vì Bụt có dạy: Ở trên đời có một cái mà khi được huấn luyện, thuần hóa sẽ mang lại hạnh phúc tột độ, nhưng nếu không được thuần hóa thì sẽ đem lại những đau khổ vô cùng, đó chính là tâm của chúng ta.
Ngày 13.08 là ngày quán niệm và có pháp thoại công cộng cho người nói tiếng Đức. Tiếp sau đó là khóa tu dành cho người nói tiếng Hà Lan từ ngày 14.08 đến ngày 19.08, với 200 người tham dự. Trong khóa tu này, thầy Pháp Ấn, sư cô Chân Không, sư cô Chân Đức và sư cô Diệu Nghiêm cho pháp thoại.
Đại học Hồng Kông trao bằng Tiến sĩ danh dự cho Sư Ông
Ngày 29 tháng 8 năm 2017, tại khách sạn MG Mansion ở Băng Cốc, Thái Lan, Giáo sư Lee Chi-Kin, Phó hiệu trưởng trường Đại học Giáo dục Hồng Kông đã trao tặng bằng Tiến sĩ danh dự về Nhân văn cho Sư Ông Làng Mai. Dự tính buổi lễ được tổ chức tại Trung tâm Làng Mai Thái Lan ở Pak Chong vào ngày 30 tháng 8, nhưng vì chương trình Sư Ông đi Việt Nam được thực hiện vào ngày 29 tháng 8, cho nên buổi lễ được tổ chức tại nơi Sư Ông đang nghỉ dưỡng trước khi đi Việt Nam.
Đại học Giáo dục Hồng Kông trước đây có tên là Học viện Giáo dục Hồng Kông (Hong Kong Insitute of Education, HKIEd), là một đại học chuyên ngành về giáo dục, được xếp hạng thứ nhì trong các trường đại học giáo dục tại châu Á và thứ 13 trong các trường đại học giáo dục trên thế giới. Tháng 5 năm 2007, trường đã mời Sư Ông và tăng thân qua Hồng Kông hoằng pháp. Những năm trước đó, Hồng Kông tổ chức lại các cơ sở giáo dục và nhập lại thành một vài cơ sở chính. Sự tổ chức lại này tạo ra nhiều căng thẳng và có một vài nhân viên chịu không nổi áp lực phải tự tử. Họ hy vọng các khóa tu trong chuyến hoằng pháp và đặc biệt là một ngày quán niệm dành cho các giáo sư, nhân viên và các sinh viên, học sinh sẽ giúp giảm bớt áp lực đó. Trong các chuyến đi năm 2010 và 2013, Sư Ông đều có hướng dẫn một ngày quán niệm tương tự tại trường. Để duy trì sinh hoạt đó, tăng thân Làng Mai Hồng Kông đã tổ chức ngày quán niệm hàng tháng tại đây từ tháng 7 năm 2007 cho đến nay.
Sau khi giáo sư phó hiệu trưởng trao bằng, mũ áo Tiến sĩ danh dự và quà tặng, Sư cô Chân Không đã thay mặt Sư Ông và tăng thân đáp lời (BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh):
“Vị Thầy kính thương của chúng tôi thường dạy rằng Hiểu và Thương phải luôn luôn đi với nhau. Giáo dục không phải chỉ là thu nạp kiến thức mà còn là vun trồng hiểu biết – và hiểu biết luôn đi cùng với từ bi, với tình thương. Thầy thường nhắc nhở tất cả chúng ta rằng tình thương của chúng ta phải hướng đến tất cả hành tinh này chứ không phải chỉ dành riêng cho một dân tộc hay một giống nòi. Chúng ta phải biết cách mở rộng trái tim mình. Tình thương của chúng ta phải làm sao ôm trọn được cả hành tinh này.
Vun trồng hiểu biết và thương yêu là phương thức giáo dục cao nhất mà chúng ta có thể thực hiện với tư cách con người. Chúng ta cần nuôi dưỡng Chánh niệm và Từ bi một cách bền bỉ trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày.
Nhưng làm cách nào chúng ta có thể tự rèn luyện mình theo phương hướng đó? Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta dường như thấy mình khác biệt với những người xung quanh: bạn khác biệt với tôi và chúng ta lại khác biệt với những người khác. Có những người mình thấy “giỏi hơn, hay hơn”, có những người mình thấy “kém hơn”, có những người có vẻ tử tế, có những người lại có vẻ không tốt. Nhưng những khác biệt này chỉ đúng trong thế giới hiện tượng mà thôi. Nếu nhìn sâu hơn, chúng ta có thể thấy rằng trong thế giới bản thể, tất cả chúng ta đều tương tức. Có một mối liên hệ mật thiết, thâm sâu kết nối tất cả chúng ta. Cũng giống như khi nhìn ra đại dương, ta thấy có rất nhiều con sóng khác nhau trên bề mặt đại dương, nhưng ta cũng có thể thấy rằng tất cả các con sóng đều là nước. Không có sự tách biệt. Chúng ta cần phải thực tập nhìn sâu để mở rộng tình thương, để có thể mở lòng ôm được tất cả mọi người, mọi nền văn hóa và mọi dân tộc.
Có một lần Thầy đã kể về một giấc mơ của Thầy. Trong giấc mơ đó, Thầy được gợi lại lần lượt từng biến cố và khổ đau mà Thầy đã trải qua – những khổ đau không chỉ trong cuộc đời này mà còn trong vô số kiếp trước đây: những khổ đau vì nghèo đói, bạo lực, chiến tranh, thiên tai, tù ngục, oan ức và tuyệt vọng. Trong giấc mơ có một tiếng nói rất mạnh mẽ, có lẽ là tiếng nói của thần Định mệnh, bỗng cất lên: “Các người sẽ phải sống lại tất cả những điều này một lần nữa!” Trong một khoảnh khắc rất ngắn ngủi, Thầy đã phản ứng lại: “Ồ, không!” Lúc đó Thầy cảm thấy rằng bị nhấn chìm bởi một cơn lũ khổng lồ của những hành động tàn ác trong chiến tranh, những dã man bạo lực… trong quá khứ, như vậy là đã đủ lắm rồi. Thật quá kinh khủng nếu phải sống lại những kinh nghiệm này một lần nữa. Nhưng sau một hơi thở sâu, Thầy mỉm một nụ cười kỳ diệu và nói to: “Với chánh niệm, từ bi và hạnh nguyện thương yêu sâu – Thầy trỏ thẳng vào ông ta – tôi (Thích Nhất Hạnh) sẵn sàng trở lại cùng với tất cả những trẻ em và những con người đầy khổ đau này. Tôi sẵn sàng trở lại một lần nữa, nhiều lần nữa…!”
Chúng ta biết rằng rất nhiều người thuộc những thế hệ sau này đã được truyền cảm hứng từ cuộc đời và những lời dạy của Thầy. Chúng ta hy vọng rằng trường Đại học Giáo dục Hồng Kông sẽ tiếp nối việc trao truyền sự thực tập lắng nghe và nhìn sâu để có thêm hiểu biết cũng như tình thương lớn, không chỉ để phục vụ cho xã hội Hồng Kông nói riêng mà còn để phụng sự cho tất cả hành tinh và muôn loài. Hy vọng rằng chương trình đào tạo của trường hay những luận án tốt nghiệp của sinh viên sẽ thể hiện được kiến thức được trao truyền đi đôi với sự chuyển hóa trong tự thân mỗi sinh viên.”
Sư Ông về Việt Nam (từ ngày 29.8 đến ngày 4.9.2017)
Chuyến bay đưa Sư Ông từ Thái Lan đã hạ cánh tại sân bay quốc tế Đà Nẵng vào 12 giờ 35 phút (giờ Việt Nam) ngày 29 tháng 8 năm 2017. Kể từ năm 2008, đây là lần đầu tiên Sư Ông về thăm lại Việt Nam. Chiều Chủ nhật, 03.09.2017, lúc 18 giờ 40 phút, Sư Ông về đến Tổ đình Từ Hiếu, Huế.
Chuyến về thăm của Sư Ông lần này rất bất ngờ, mặc dù vậy, chư Tôn đức cùng Phật tử cư sĩ đã có mặt sau khi biết tin và đón Sư Ông rất ấm cúng và đầy đạo tình. Quý thầy ở Từ Hiếu với y hậu trang nghiêm đã đón tiếp Sư Ông trong tiếp chuông trống bát nhã trầm hùng.
Sư Ông trông rất hạnh phúc khi trở về thăm lại quê hương và thăm lại Tổ đình Từ Hiếu – nơi Sư Ông bắt đầu con đường xuất gia tu học vào năm 1942. Từ cổng tam quan, Sư Ông thăm qua hồ bán nguyệt, lên chánh điện, niêm hương cúng dường ở nhà hậu Tổ, thăm thiền đường Trăng Rằm, thăm thất Lắng Nghe rồi mới về phòng nghỉ. Những cái nắm tay của Sư Ông với Hòa thượng Giác Quang, Thượng tọa Từ Đạo đã khiến nhiều người không kìm được nước mắt. Mặc dù phải di chuyển trên xe một đoạn đường dài từ Đà Nẵng ra Huế nhưng sức khoẻ của Sư Ông vẫn rất tốt sau chuyến đi. Về phòng, chỉ mới nghỉ được một lúc, Sư Ông đã dạy thị giả đưa ra ngoài và dạo quanh chốn Tổ một vòng trước khi dùng cơm tối và nghỉ ngơi.
Hơn tám giờ sáng, thứ Hai, ngày 04.09.2017, Sư Ông đã có gần hai giờ đồng hồ rong chơi quanh khuôn viên Tổ đình Từ Hiếu, nơi đã gắn bó sâu sắc với những năm đầu tiên Sư Ông xuất gia học đạo.
Quý thầy trong phiên thị giả cho biết rằng, lúc mười giờ tối và hai giờ khuya, Sư Ông cũng đã đi dạo những nơi gần thất Lắng Nghe, ra thăm thiền đường Trăng Rằm, nơi có chân dung của thiền sư Tánh Thiên Nhất Định, bậc cao tăng khai sơn Tổ đình. Sư Ông muốn đi xuống Tổ đường nhưng đường dẫn xuống đã bị phá bỏ. Sư Ông dạo quanh khuôn viên thiền đường Trăng Rằm và ngắm nhìn rất kỹ những cây cối trong vườn, ngắm nhìn cây vả đang cho rất nhiều trái bên hông thất Sư Ông trong ánh trăng tháng Bảy.
Buổi chiều, Sư Ông cũng ra ngoài dạo chơi, thăm giếng nước xưa, thăm đồi thông cổ, thăm lại những cây bùi già đã cho rất nhiều trái ngon. Từ khoảng sân đất quen thuộc bên hông chánh điện, Sư Ông ra thăm tháp Bổn sư là Sư cố Thanh Quý Chân Thật. Sư Ông đã đi thiền quanh tháp một vòng, dừng lại đọc bài kệ bằng chữ Hán in nơi bức tường thành, thật chậm rãi và kính cẩn, trước khi qua thăm tháp của Sư thúc Chí Mậu và về lại thất nghỉ ngơi. Nơi bốn trụ lớn trước tháp Sư thúc, lúc Sư Ông dừng lại thăm, có những con chim bồ câu bay đến đậu rất yên bình.
Cũng ngay trong buổi chiều cùng ngày, vào lúc 15 giờ 40 phút, sau khi đi dạo quanh chốn Tổ, Sư Ông đã ra hiệu cho thị giả dừng lại, rồi hướng về cổng tam quan, Sư Ông chắp tay, cúi đầu xá chào và ra dấu đưa Sư Ông rời Tổ đình. Các thị giả cảm thấy rất bất ngờ trước quyết định đột ngột và dứt khoát của Sư Ông.
Ngày 05.09 là một ngày dường như im lặng tuyệt đối và trong lúc hầu Sư Ông, các vị thị giả chỉ thấy nơi ánh mắt của Sư Ông vẫn chưa vơi được nét trầm tư kỳ lạ ấy và thường hay lắc đầu. Ngay vào buổi sáng này, Sư Ông đã ra dấu đưa Sư Ông về Thái Lan. Sư Ông đã chỉ vào sư cô Linh Nghiêm, một sư cô lớn người Thái Lan xuất gia tu học với Sư Ông, rồi chỉ lên trời và các vị thị giả hiểu ý là Sư Ông muốn đi xa. Để chắc chắn, sư cô Linh Nghiêm xác nhận lại với Sư Ông: “Bạch Thầy, có phải Thầy muốn về Thái Lan không?” Sư Ông gật đầu và ra dấu phải tiến hành liền. Lại một lần nữa các vị thị giả vô cùng bất ngờ và không hiểu được lý do vì sao!
Chiều tối, có Hòa thượng Giác Quang vào tận Đà Nẵng thăm Sư Ông. Hòa thượng Giác Quang đã có mặt rất sớm tại Diệu Trạm để chờ đón Sư Ông trong ngày Sư Ông trở về Từ Hiếu. Thầy Từ Hải và quý sư cô từ Diệu Trạm cũng có mặt hầu thăm Sư Ông, dùng cơm tối chung với Sư Ông và hát thiền ca. Thầy Từ Minh, thầy Từ Tế, thầy Minh Hy, thầy Pháp Nhiệm và các sư cô Diệu Trạm sáng hôm sau cũng có mặt thăm Sư Ông.
Chiều 06.09, lúc 2 giờ, Sư Ông chào tạm biệt đại chúng, chào tạm biệt gia đình chủ nhà và các thân hữu, lên xe ra sân bay. Sau khi làm các thủ tục, máy bay đã cất bánh khỏi đường băng sân bay quốc tế Đà Nẵng đúng 15 giờ 13 phút. 16 giờ 31 phút, máy bay đáp xuống sân bay quốc tế Don Mueang, Bangkok. Sư Ông về đến tu viện Làng Mai Thái Lan vào lúc 19 giờ 50 phút với đông đảo hàng đệ tử xuất sĩ và cư sĩ cung đón. Sáng hôm sau, Sư Ông ngồi thưởng thức trà nơi hành lang thất Nhìn Xa và nhìn bốn chúng dùng cơm sáng quanh hồ trước thất với ánh nhìn tràn đầy yêu thương nhưng cũng không giấu được nét ưu tư còn đọng lại trong ánh mắt, có lẽ đó là ưu tư về vận mệnh của chùa Tổ Từ Hiếu! Sức khỏe của Sư Ông vẫn rất tốt sau chuyến đi dài.
Chuyến hoằng pháp tại Mỹ (từ ngày 23.8 đến ngày 15.10.2017)
Cứ hai năm một lần, tăng thân Làng Mai lại có một chuyến hoằng pháp tại nhiều tiểu bang trong nước Mỹ. Chuyến hoằng pháp tại Mỹ năm nay có chủ đề Awakening Together (tạm dịch: Thắp sáng tỉnh thức cộng đồng), với sự có mặt của khoảng 60 vị xuất sĩ đến từ các tu viện Bích Nham, Mộc Lan, Lộc Uyển và Làng Mai (Pháp).
Chuyến hoằng pháp khởi đầu tại tu viện Bích Nham với khóa tu dành cho người nói tiếng Anh Together We Are One (Cùng nhau chúng ta là một) từ ngày 23.08 đến ngày 27.08 và sau đó là khóa tu cho người Việt với chủ đề Khơi nguồn hiểu biết, mở lối yêu thương, từ ngày 30.08 đến ngày 03.09.
Trước đó, vào ngày thứ sáu 18.08, khoảng 25 vị xuất sĩ Làng Mai đã lên xe buýt đi New York để dự buổi chiếu ra mắt bộ phim Walk with me (tạm dịch: Bước chân an lạc) tại viện bảo tàng Robin. Sau vài hôm nghỉ ngơi, tăng đoàn đã lên đường đi California để hướng dẫn hai khóa tu tại tu viện Lộc Uyển: khóa tu tiếng Anh Khơi nguồn hiểu biết (12.09 – 17.09) và khóa tu tiếng Việt Mở lối yêu thương (20.09 – 24.09).
Đặc biệt trong thời gian từ ngày 28.09 đến ngày 01.10, tăng thân đã hướng dẫn khóa tu có chủ đề: Many Streams, One Source (tạm dịch: Ngàn suối chung một nguồn). Khóa tu này có ba chủ đề riêng biệt đáp ứng nhu cầu của ba nhóm khác nhau: nhóm người da màu (People of Colour-POC), nhóm LGBQ (những người đồng tính luyến ái nữ, đồng tính luyến ái nam, song tính luyến ái…) và nhóm thứ ba dành cho tất cả những người còn lại. Có thể nói khóa tu được tổ chức theo yêu cầu của thiền sinh này là khoá tu một trong ba, ba trong một.
Khóa tu dành cho những người da màu (POC) là một khóa tu quan trọng đã được tổ chức trong rất nhiều năm qua. Sở dĩ có khóa tu này là vì những thiền sinh người da màu không thấy đủ thoải mái để chia sẻ những nỗi niềm của họ trong một khóa tu bình thường, nhất là khi có liên quan đến vấn đề kỳ thị chủng tộc.
Tại thành phố New Mexico, cũng từ ngày 28.09 đến 01.10, đồng thời với khóa tu Many Streams, One Source, một số quý thầy quý sư cô đã đến yểm trợ và hướng dẫn một khóa tu dành cho tăng thân Trì Địa (Earth Holder), với chủ đề In the Arms of Mother Earth (Trong vòng tay của đất Mẹ). Có khoảng 200 người trong tăng thân, những người có tâm huyết thực tập để giảm thiểu sự hâm nóng địa cầu, đã đến tham dự khóa tu 5 ngày này. Mọi người đã cùng thực tập chăm sóc những cảm thọ như buồn thương, tuyệt vọng trước tình trạng biến đổi khí hậu đáng báo động như hiện nay và cách thức hành động để có thể thay đổi tình trạng. Đây cũng là cơ hội để quý thầy, quý sư cô học hỏi về những vấn đề phát sinh ngoài xã hội và cách hướng dẫn các pháp môn tu tập thế nào cho tất cả mọi người, từ bất cứ văn hoá, tôn giáo, nguồn gốc xã hội, kinh tế hay giới tính nào cũng cảm thấy mình được ôm ấp và tìm được hứng khởi để thực tập.
Ngày 01.10.2017, tăng đoàn đã tổ chức một ngày quán niệm cho đồng bào người Việt tại Santa Ana. Sau đó tăng đoàn đã lên đường đi Mississippi để hướng dẫn tu tập ở tu viện Mộc Lan trong ngày quán niệm 08.10 và khóa tu Tâm bình, thế giới bình từ ngày 10.10 đến ngày 15.10.
Chuyến hoằng pháp tại Mỹ kết thúc với khóa tu xuất sĩ diễn ra từ ngày 22.10 đến ngày 29.10 tại tu viện Mộc Lan. Có khoảng 200 vị xuất sĩ cùng tu, cùng học, cùng chơi trong một tuần. Trong tuần lễ này, quý thầy quý sư cô đã có cơ hội xây dựng tình huynh đệ qua thực tập lắng nghe sâu về những băn khoăn, niềm vui và hạnh phúc của cá nhân các vị xuất sĩ nói riêng và của tăng thân nói chung. Cúp bóng chuyền đã đem lại nhiều niềm vui cho các huynh đệ nhờ các đội (gồm cả các thầy và các sư cô) đã thi đấu rất hết lòng. Đội nào cũng nhận được sự cổ vũ không phân biệt của khán giả và cả của bình luận viên. Sư cô Chân Đức nhân dịp có mặt ở Mỹ để đại diện Sư Ông nhận Huân chương Liên hiệp đã tham dự khoá tu này để dạy dỗ, sách tấn các sư em, đem lại rất nhiều hạnh phúc cho chúng xuất sĩ. Đặc biệt trong suốt khóa tu này, quý thầy quý sư cô không phải vào bếp vì ba mẹ của quý thầy và quý sư cô cùng một số thân hữu đã đảm nhiệm việc nấu ăn trong suốt một tuần với nhiều món ăn đầy hương vị Việt Nam.

Làng Mai đến Dreamforce 2017
Mỗi năm, công ty Salesforce.com – một trong những công ty kinh doanh phần mềm có sức phát triển nhanh nhất thế giới hiện nay – đều thu hút hàng trăm ngàn người về San Francisco để tham dự hội nghị thường niên quan trọng có tên “Dreamforce”. Năm nay, từ ngày 6 đến ngày 11.09.2017, Salesforce đã đón 170 ngàn nhân viên và khách mời đến tham dự hội nghị thường niên này. Theo lời mời của ông Marc Benioff – giám đốc điều hành của Salesforce, khoảng 25 quý thầy quý sư cô Làng Mai đã đến Dreamforce để hướng dẫn pháp môn chánh niệm trong suốt thời gian hội nghị.
Khu vực chánh niệm (“Mindfulness Zones”) được thiết lập ngay trung tâm khuôn viên hội nghị Dreamforce. Tại khu vực này, các vị khách tham dự Dreamforce có thể tham vấn trực tiếp với quý thầy, quý sư cô Làng Mai. Mỗi buổi sáng, tăng đoàn đều hướng dẫn thiền hành xung quanh khu vực diễn ra hội nghị. Nhiều người đang vội vã đến các buổi hội thảo, rất ấn tượng khi nhìn thấy hình ảnh quý thầy, quý sư cô hướng dẫn khoảng 60 đến 70 người đi thiền hành thật chậm rãi và bình an.

Ngoài ra, quý thầy, quý sư cô còn tổ chức những buổi thiền tập cho người bận rộn, với tên tiếng Anh là Super Sessions of Mindfulness for Busy People. Mặc dù đã tổ chức nhiều buổi hướng dẫn mỗi ngày, nhưng vì không gian có hạn nên rất nhiều người muốn tham dự mà không có cơ hội. Hy vọng sang năm, ban tổ chức sẽ dành cho tăng đoàn một không gian rộng rãi hơn, đủ chỗ cho tất cả những ai muốn tham dự.
Quý thầy, quý sư cô cũng được mời đến thăm tòa nhà văn phòng mới của Salesforce. Mỗi tầng lầu của tòa nhà đều có một phòng thiền dành cho nhân viên, gọi là “mindfulness room” (phòng chánh niệm). Đây là điều mà Sư Ông đã từng gợi ý với ông Marc Benioff – giám đốc điều hành của Salesforce.
Sư Ông được trao Huân chương Liên hiệp (Union Medal)
Ngày 06.09.2017, Hội Chủng viện Thần học Hoa Kỳ (Union Theological Seminary – gọi tắt là Union) tại thành phố New York đã trao Huân chương Liên Hiệp cho Sư Ông tại Hội nghị thường niên của Hội. Sư cô Chân Đức đã thay mặt Sư Ông đón nhận Huân chương này. Sư Ông đã nhận bằng Thạc sĩ về Tôn giáo từ Hội Chủng viện và trường đại học Columbia năm 1963.
Huân chương Liên Hiệp là giải thưởng cao nhất do Chủng viện đề cử, được đưa ra vào năm 1981 như một biểu tượng vinh danh những cá nhân mà cuộc sống của họ là tấm gương thực hiện những sứ mạng hướng thượng trên thế giới. Trong số những người từng nhận huân chương này có cựu Phó Tổng thống Hoa Kỳ thứ 45 (nhiệm kỳ 1993-2001) và Desmond Tutu – Tổng Giám mục Nam Phi, đấu tranh vì Nhân quyền.
Trong bài phát biểu tại buổi lễ, Sư cô Chân Đức đã chia sẻ rằng: “Tôi thấy cá nhân mình quá nhỏ bé để đại diện cho Làng Mai và cho vị thầy kính thương của chúng tôi. Năm 2014, thầy chúng tôi bị đột quỵ, điều đó cũng có nghĩa là Thầy không thể có mặt ở đây hôm nay trong hình tướng quen thuộc. Nhưng thực sự, Thầy vẫn đang có mặt ở đây với chúng ta. Tôi nghĩ là Thầy đã có mặt ở đây từ lâu, và đã đi thiền hành dọc theo hành lang của tòa nhà này. Năm 2001, ngay sau sự kiện 11 tháng 9, Thầy đã có một bài pháp thoại tuyệt vời tại Nhà thờ Riverside, hướng dẫn người dân nước Mỹ cách thực tập để đối diện với hành động khủng bố tồi tệ xảy ra vào thời điểm đó.
Nếu bây giờ Thầy có thể nói được thì Thầy cũng sẽ trao cho chúng ta cùng một thông điệp, giống như Thầy đã từng làm vào năm 2001, để giúp chúng ta trong bối cảnh đất nước có quá nhiều khó khăn trong liên hệ với Bắc Triều Tiên. Thầy sẽ dạy chúng ta cách thực tập, trước tiên là lắng nghe chính mình, lắng nghe những nỗi khổ niềm đau, những vết thương nằm sâu trong tâm thức. Tiếp đến là lắng nghe những nỗi khổ niềm đau của những người ở quanh ta. Rồi đến lắng nghe nỗi khổ của những người tự xưng là kẻ thù của chúng ta. Bằng sự lắng nghe sâu cũng như khả năng thể hiện và lắng nghe chính mình, chúng ta có thể vượt qua những khó khăn chướng ngại mà loài người có trí tuệ (homo sapiens) và trái đất này hiện đang phải đối diện. Thay vì hủy diệt loài người có trí tuệ (homo sapiens), chúng ta có thể chuyển hóa loài người có trí tuệ (homo sapiens) thành loài người có ý thức, có chánh niệm (homo conscious), biết sống đời sống hàng ngày một cách sâu sắc, với từ bi, niềm vui, hạnh phúc và tình thương sâu.
….
Chúng tôi rất biết ơn vì được có mặt tại đây với các bạn và được nhận tấm huân chương vinh dự này. Chúng tôi sẽ mang nó về với Thầy. Thầy sẽ luôn có mặt ở đây trong trái tim các bạn. Bất cứ khi nào các bạn thực tập thiền hành với những bước chân an lạc dọc theo hành lang nơi này, thì khi đó các bạn sẽ tiếp xúc được với Thầy”.
Ba lễ xuất gia trong năm
Lễ xuất gia của gia đình cây Giáng Hương tại Làng Mai Thái Lan vào ngày 02.07.2017, gồm 4 sư chú và 4 sư cô: Chân Trời Trúc Lâm, Chân Trăng Tuệ Phương, Chân Trăng Tuệ Khai, Chân Trăng Tuệ Nhã, Chân Trời Đại Lão, Chân Trời Uyên Nguyên, Chân Trăng Tuệ Uyển và Chân Trời Hồng Lĩnh.

Lễ xuất gia của gia đình cây Sơn Thù Du (Dogwood) tại thiền đường Hải Triều Lên (tu viện Mộc Lan) vào ngày 20.10.2017, gồm có sư chú Chân Trời Minh Dung, sư cô Chân Trăng Kim Sơn và sư cô Chân Trăng Quang Sơn, cả ba đều là người Mỹ.

Lễ xuất gia của gia đình cây Bạch Dương (Poplar) tại Làng Mai Pháp và Thái Lan, vào ngày 14.12.2017, gồm 12 sư chú: Chân Trời Nhật Quang, Chân Trời Khiết Hỷ, Chân Trời Khiết Lâm, Chân Trời Khiết Minh, Chân Trời Địa Xúc, Chân Trời Lặng Chiếu, Chân Trời Khiết Anh, Chân Trời Khiết Tâm, Chân Trời Tâm Không, Chân Trời Thinh Không, Chân Trời Núi Cao và Chân Trời Đuốc Thiêng; và 10 sư cô: Chân Trăng Giác Ân, Chân Trăng Giác Hiếu, Chân Trăng An Bình, Chân Trăng An Tâm, Chân Trăng An Cư, Chân Trăng Giác Hòa, Chân Trăng An Nhiên, Chân Trăng Giác Minh, Chân Trăng Tuệ Văn và Chân Trăng Tuệ Viên.

Khép lại một năm sinh hoạt tại Làng Mai, kính chúc quý thân hữu đón Năm Mới Mậu Tuất 2018 thật dồi dào sức khỏe, an lạc và có một cái Tết sum vầy thật bình an, đầy niềm vui và tiếng cười.
Lịch sinh hoạt của tăng thân Làng Mai năm 2018
Lịch sinh hoạt của tăng thân Làng Mai năm 2018
Tại Làng Mai:
15.11.2017 – 12.02.2018: Khoá tu An cư kiết Đông 2017-2018
15.02 – 18.02: Đón Tết Nguyên Đán Mậu Tuất
26.02 – 08.03: Khoá tu xuất sĩ
23.03 – 29.06: Khóa tu mùa xuân
23.03 – 30.03: Tuần lễ dành cho người Tây Ban Nha tại xóm Thượng
14.04 – 21.04 : Khoá tu tiếng Pháp
29.04 – 05.05: Khoá tu tiếng Ý
11.05 – 18.05: Tuần lễ dành cho những vị đại sứ chương trình Wake-up tại xóm Thượng
01.06 – 21.06: Khoá tu 21 ngày
06.07 – 03.08: Khoá tu mùa Hè
06.08 – 19.08: Khoá tu tại Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB)
10.08 – 17.08: Khoá tu Wake-up dành cho người trẻ tại xóm Thượng
14.09 – 12.12: Khoá tu An cư kiết Thu 2018 – 2019
Xin vào trang nhà Làng Mai để xem chi tiết: – Tiếng Việt: www.langmai.org
Tại Pháp và các nước châu Âu khác:
07.03 – 12.03: Khoá tu trượt tuyết tại Andorra
15.03 – 18.03: Khoá tu tại Hoà Lan
23 – 24.03: Khoá tu cuối tuần tại Lille, Pháp
23 – 25.03: Khoá tu cuối tuần tại Berlin, Đức
26 – 29.03: Khoá tu dành cho giới Giáo chức tại Ireland
30.03 – 08.04: Khoá tu Im lặng tại Hoà Lan
06 – 08.04: Khoá tu Wake-up tại Tineke, Hoà Lan
10.04 – 25.04: Khoá tu và các ngày quán niệm tại Thuỵ Điển
15.04 – 11.05: Hoằng pháp tại Nhật Bản
22.04 – 28.04: Khoá tu Im Lặng tại Pháp
15.04 – 07.05: Hoằng pháp tại Do Thái (Israel)
04.05 – 13.05: Khoá tu Bắc Ireland
04.05 – 11.05: Khoá tu dành cho người Việt tại Hoà Lan
08.05 – 22.05: Khoá tu và các ngày quán niệm tại các trung tâm chánh niệm tại Anh
09.05 – 13.05: Khoá tu tại Tremargat, Pháp
10.05 – 13.05: Khoá tu cuối tuần tại Treminis, Pháp
17.05 – 22.05: Khoá tu và pháp thoại công cộng tại Nantes, Pháp
18.05 – 21.05: Khoá tu cuối tuần tại Avioth, Bỉ
20.04 – 17.05: Khoá tu tại Liege, Belgium
Tháng 05: Khoá tu cuối tuần dành cho giới Giáo chức tại Barcelona, Tây Ban Nha
Tuần thứ 3 của tháng 5, khoá tu tại Bồ Đào Nha
07.09 – 09.09: Khoá tu dành cho Bác sĩ tại Berlin, Đức
23.06 – 30.06: Khóa tu Wake-up tại trung tâm Dharma Mountain, Ardectie
20.08 – 02.09: Khoá tu sức khoẻ tại Treminis, Pháp
Tại EIAB – Đức:
15.11.2017 – 15.02.2018: Khoá tu An cư
15.02 – 18.02.2018: Đón Tết Nguyên Đán
06.08 – 19.08.2018: Khoá tu mùa Hè và các ngày quán niệm
06.08 – 11.08: Khoá tu chủ đề “Finding Peace within constant change”
12.08: Ngày quán niệm với chủ đề “Discovering how precious life is”
13.08 – 18.08: Khoá tu chủ đề “Nourishing happiness in our hearts”
19.08: Ngày quán niệm dành cho người Việt
05.09 – 09.09: Khoá tu tiếng Việt
19.09 – 23.09: Khoá tu đi bộ
Xin vào trang nhà của Học viện để xem chi tiết: www.eiab.eu
Tại AIAB – Chùa Trúc Lâm, Liên Trì, Ngnong Ping, HongKong:
11.01 – 14.01. 2018: Khoá tu Wake-up chủ đề “A Pocket of Happiness”
19.01 – 21.01: Khoá tu dành cho giới Giáo chức
16.02 – 19.02: Đón Tết Nguyên Đán
14.03 – 18.03: Khoá tu mùa Xuân “Open the Door to Your Heart”
13.04 – 15.04: Khoá tu dành cho giới Giáo chức
03.06 – 02.09: Khoá tu An cư 3 tháng cho chúng Xuất sĩ
11.07 – 15.07: Khoá tu gia đình mùa Hè
08.08 – 12.08: Khoá tu Giáo viên, chủ đề “Thầy cô giáo hạnh phúc sẽ thay đổi thế giới”
17.10 – 21.10: Khoá tu sức khoẻ thân tâm an kiện
30.10 – 04.11: Khoá tu Tiếp hiện châu Á/ Khoá tu cho người Việt (luân phiên mỗi năm)
Xin vào trang nhà của Học viện để xem chi tiết: www.pvfhk.org
Tại các nước châu Á – Thái Bình Dương:
28.04 – 11.05: Hoằng pháp tại Nhật Bản
12.05 – 28.05: Hoằng pháp tại Indonesia
14.09 – 30.09: Hoằng pháp tại Úc
10.06 – 25.06: Hoằng pháp tại Singapore
01.10 – 14.10: Hoằng pháp tại Trung Quốc đại lục
14.11 – 26.11: Hoằng pháp tại Philippines
19.11 – 30.11: Hoằng pháp tại Malaysia
30.11 – 14.12: Hoằng pháp tại Đài Loan
26.12 – 02.01.2019: Khoá tu cho các tăng thân và thành viên nòng cốt khu vực châu Á Thái Bình Dương tại Thái Lan
Xin xem thêm chi tiết tại: www.plumvillageasia.org
Tại Làng Mai – Thái Lan:
26 – 28.01: Khoá tu cuối tuần dành cho người Thái
16.02 – 18.02: Đón Tết Nguyên Đán
21.02 – 25.02: Khoá tu tiếng Việt đón Xuân
16.03 – 21.03: Khoá tu xuất sĩ mở rộng
12.04 – 16.04: Khoá tu gia đình dành cho người Thái
25.05 – 29.05: Khoá tu Wake-up quốc tế
08.06 – 10.06: Khoá tu cuối tuần dành cho người Thái
28.06 – 02.07: Khoá tu tiếng Việt mùa Hè
28.07 – 25.10: Khoá tu An cư mùa mưa cho xuất sĩ và chương trình xuất gia gieo duyên 3 tháng
08.11 – 11.11: Khoá tu dành cho các bạn tuổi Teen người Thái
01.12 – 15.12: Khoá tu Wake-up tại Chiang Mai
10.12 – 05.12: Khoá tu dành cho Bác sĩ và chuyên viên Y tế người Thái
26.12.2018 – 02.01.2019: Khoá tu cho thiền sinh khu vực châu Á Thái Bình Dương
Xin vào trang nhà của Trung tâm để xem chi tiết: www.thaiplumvillage.org
Tại Tu viện Lộc Uyển:
- 03 – 01.04: Khoá tu Wake-up
20.06 – 24.06: Khoá tu Gia đình
10.07 – 15.07: Khoá trại Hè dành cho tuổi Teen
01.08 – 05.08: Khoá tu dành cho người Việt
14.09 – 16.12: Khoá tu An cư mùa Thu
30.12.2018 – 04.01.2019: Khoá tu tuần lễ Tết
Xin vào trang nhà của Tu viện để xem chi tiết: www.deerparkmonastery.org
Tại Tu viện Bích Nham:
15.02 – 17.02: Đón Tết Nguyên Đán
18.02.2019: Lễ Tự Tứ
25.04 – 29.04: Khoá tu Tiếp hiện chủ đề “The Road Ahead: Building Beloved Community”
27.05: Lễ Phật Đản
20.06 – 24.06: Khoá tu Wake-up dành cho người trẻ
10.07 – 15.07: Khoá tu mùa Hè dành cho gia đình (Summer Family retreat)
01.08 – 05.08: Khoá tu Giáo dục (Educators Retreat)
22.08 – 26.08: Khoá tu dành cho người Việt
13.10.2018 – 13.01.2019: Khoá tu An cư kiết Đông
Xin vào trang nhà của Tu viện để xem chi tiết: www.bluecliffmonastery.org
Tại Tu viện Mộc Lan:
16.02 – 18.02: Đón Tết Nguyên Đán
12.04 – 15.04: Khóa tu Im Lặng (Silence Retreat)
25.05 – 27.05: Khóa tu cuối tuần dịp lễ Phật Đản, chủ đề “Bụt trong bạn, Bụt trong tôi”
21.06 – 25.06: Khóa tu Gia đình Phật tử miền Tịnh Khiết
01.07 – 05.07: Khóa tu mùa Hè dành cho gia đình, chủ đề “Về Nhà” (Going Home)
14.07: Mở cửa Làng (Open House)
21.07 – 24.07: Khóa tu dành cho thiền sinh người An Bằng
16.08 – 19.08: Khóa tu trong “chương trình 12 bước – 12 Steps Program” với chủ đề “Phòng Hộ và Chuyển Hoá”
30.08 – 02.09: Khóa tu Tiếp hiện
21.11 – 23.11: Quán niệm cuối tuần lễ Tạ Ơn “Thanksgiving weekend”
28.12.2018 – 01.01.2019: Tuần lễ khoá tu Tết cho gia đình
Xin vào trang nhà của Tu viện để xem chi tiết: www.magnoliagrovemonastery.org
Tại Tu viện Nhập Lưu – Úc:
Xin vào trang nhà của Tu viện để xem chi tiết: www.nhapluu.org
Thư cảm ơn của Thích Nhất Hạnh Foundation
2499 Melru Lane Escondido, CA 92026 •760-291-1003 ext.104• info@ThichNhatHanhFoundation.org •ThichNhatHanhFoundation.org
Kính thưa quý thân hữu,
Thấm thoát, một mùa xuân mai vàng trúc biếc lại lướt đến giữa khung trời thênh thang. Cùng với ánh dương trước thềm năm mới, Thích Nhất Hạnh Foundation xin kính chúc quý đạo hữu một mùa xuân Mậu Tuất thân an tâm lạc, vạn sự duyên lành, gia đình hội tụ với chén trà ngọt vị quê hương.
Chúng tôi vô cùng tri ân tấm lòng từ bi và bàn tay nhân ái của quý vị trong suốt thời gian qua đã tận tâm yểm trợ và đóng góp cho các trung tâm Làng Mai, cho các chương trình từ thiện, các khóa tu thực tập chánh niệm, các dự án xây tăng xá và ni xá, chương trình chăm lo sức khỏe cho Thiền Sư Nhất Hạnh và các vị xuất sĩ, chương trình Wake Up và Cedar Society, v.v.. . Chúng tôi cũng xin thành tâm tri ân trái tim “nhớ về quê mẹ” của quý vị trong chương trình Hiểu Và Thương. Tấm lòng từ ái của quý vị đã trợ giúp chúng tôi duy trì và tiếp nối con đường của Thiền Sư Nhất Hạnh.
Thầy đã dạy: “Quê hương là tăng thân đó. Bàn chân địa xúc hãy về”. Thật vậy, những bước chân tỉnh thức từ quê hương tâm linh dẫn lối cho ta về nơi quê cha đất mẹ yêu thương. Và những lời ca dao ru con tha thiết từ quê hương huyết thống đưa đường cho ta đến chốn rừng trúc vô sinh bất diệt. “Không có con đường đưa về quê hương. Quê hương chính là con đường”. Con đường đời và đạo viên thông. Con đường tuệ nhật vừng xanh bừng sáng cả sơn khê, chiếu soi muôn nẻo cuộc hành trình về quê hương đích thực.
Chén trà hồn dân tộc đậm đà hương vị thiền, quyện hòa thành bản diệu khúc xuân ca, như lời của Thiền Sư Nhất Hạnh, “Đó là điệp khúc tôi muốn ca hát cho anh nghe hôm nay. Và anh hãy ca, chị hãy ca, em hãy ca …” điệp khúc Bông hồng cài áo của mùa xuân bất tận. Như lời của Tuệ Trung Thượng Sĩ, “Diệu khúc xưa nay xin hãy xướng” cung bậc Phật Tâm Ca. Giữa suối rừng tịch nhiên trên đỉnh thiêng Yên Tử, dưới ánh trăng tĩnh mặc nơi Am Mây Ngủ núi Bảo Đài, vẫn lồng lộng vang rền âm điệu “Phật quốc bất thắng xuân” xướng lên từ tiếng sáo ngọc Trần Nhân Tông Trúc Lâm Đại Sĩ.
Chúng tôi xin kính chúc quý vị một năm mới nhiều sức khỏe, niềm vui, gia đình bình an hạnh phúc, có hiểu có thương để tiếp bước vững vàng trên con đường của chư Bụt và chư vị Bồ Tát.
Rừng trúc mai thôn xin tặng người,
Chân Bảo Thành Hồ Mộng Lan
Thành viên Ban Điều Hành Thích Nhất Hạnh Foundation
___________________________________________________________________________________________________
Kính bạch Thầy,
Kính thưa các đạo hữu,
Con đã dành cả cuộc đời mình để kiếm tìm sự bình an. Và chỉ đến khi tìm ra pháp môn chánh niệm thì con mới biết đâu là nơi để hướng về.
Có lẽ nhu cầu này có liên quan đến việc con là một đứa trẻ được sinh ra và lớn lên trong chiến tranh: cuộc chiến tranh diễn ra trên đất nước và cả cuộc chiến tranh diễn ra trong gia đình con giữa hai đấng sinh thành. Không có cuộc chiến tranh nào đối với con là không đáng sợ cả. Con có cảm giác một phần con người mình đã bị huỷ diệt bởi từng cuộc chiến tranh.
Ký ức sớm nhất là lúc con lên hai tuổi rưỡi, nấp dưới tầng hầm cùng với bà nội và ba mẹ. Tổ quốc con bị xâm chiếm, và đội quân ngoại xâm đã tiến đánh thành phố thủ đô nơi gia đình con cư ngụ. Mặt đất rung chuyển như sấm động khi những chiếc xe tăng tiến vào. Con siết chặt bạn búp bê trong tay và nhắm nghiền mắt lại.
Mười năm sau:
Con lên mười một tuổi, bị đánh thức bởi tiếng vật lộn. Em trai con đang nằm khóc trên sàn phòng khách trong tiếng ồn ào của ti-vi. Ba mẹ con lại đang đánh nhau. Con chạy đến bế em bé lên và van xin cha dừng lại.
Mười bốn năm sau:
Con hai mươi lăm tuổi, đang ngồi trong văn phòng tư vấn của một trường tiểu học nơi con làm việc. Hoài bão của con là bảo vệ trẻ em, giúp các em có được một tuổi thơ bình an, hạnh phúc, một tuổi thơ mà con chưa từng có. Một em trai học lớp hai bước vào, nói với con rằng em rất sợ phải về nhà. Con ngồi đó, nắm tay em. Bên ngoài, nhìn con có vẻ rất điềm tĩnh khi lắng nghe câu chuyện của em, nhưng lòng con lại đầy lo ngại cho em.
Ba năm sau:
Con hai mươi tám tuổi và đang ngồi trong một nhóm pháp đàm tại thiền đường Thái Bình Dương, tu viện Lộc Uyển. Đó là lần đầu tiên con đến một trung tâm tu học. Đến lượt con chia sẻ. Con thấy hơi mất tự nhiên. Con muốn khoác lên một vẻ tươi vui nhưng gương mặt đã phản bội con, nước mắt con ràn rụa chảy. Trong nước mắt, con nghe giọng nói của chính mình: “Tôi không tin vào cuộc đời này. Tôi muốn tin rằng có sự tồn tại của một vũ trụ đã được tạo dựng một cách thông minh và từ bi, nhưng cuộc sống của tôi đã chứng tỏ điều ngược lại.” Con ôm mặt khóc trong sợ hãi và giận dữ – giận bởi vì phần lớn cuộc đời mình, con đã sống trong lo sợ. Mệt mỏi vì cảm thấy mong manh và không có được sự chở che trong một thế giới có vẻ điên rồ, con đã đến đây tìm nơi nương tựa, và con đã đồng thời mang theo với mình những câu hỏi chưa được trả lời. Ý nghĩa của cuộc đời là gì? Cái gì là mục đích của khổ đau? Tại sao bất hạnh lại xảy đến cho những người vô tội? Điều duy nhất con chắc chắn là không biết mình có thể tin gì về bản chất của cuộc đời, hay thậm chí về bản chất của chính mình.
Mười ba năm sau:
Con bốn mươi mốt tuổi và đang ngồi tại bàn làm việc trong văn phòng của Thích Nhất Hạnh Foundation. Con nhắm mắt lại, thở trong khi đi thăm lại dòng ký ức, quán chiếu xem điều gì đã đem con đến với sự tu tập, và sự tu tập đã đem lại cho con được những gì.
Đã mười sáu năm trôi qua kể từ khi con đọc quyển sách đầu tiên của Thầy, mười ba năm từ khi con tham dự khoá tu đầu tiên, và chỉ ba năm từ khi con bắt đầu đem sự thực tập vào lòng thay vì chỉ mang những lời dạy của Thầy đi vòng quanh như những người sưu tầm kiến thức.
Sự thực tập tiếp tục giúp con chuyển hoá. Nhờ đó, dần dần con đã trở thành một nơi nương tựa an toàn cho chính mình và phần nào đó có thể tiếp xúc với hải đảo bình an không gì lay chuyển được của tự thân. Sự thực tập bảo hộ cho con, giúp con ý thức được sự lên xuống của thuỷ triều trong biển khổ của chính mình để con không tự làm khổ mình và làm khổ người khác trong vô thức. Sự thực tập giúp con tìm được bến bờ, nơi con có thể nghỉ ngơi và khám phá được cái đẹp của sự thăng trầm đã làm nên cuộc đời mình. Và thậm chí ngay cả trong những ngày con có nhiều lên xuống nhất, sự thực tập vẫn có thể giúp con tìm được rất nhiều yếu tố nuôi dưỡng trong tự thân và ở chung quanh.
Con kinh nghiệm rằng sự thực tập chánh niệm chính là một liều thuốc giải độc cho chiến tranh, dù cuộc chiến đó đang diễn ra bên trong hay bên ngoài con cũng thế.
Sự thực tập chánh niệm chính là một pháp môn hoà giải tuyệt vời nhất mà chúng ta có được.
Xin cảm ơn quý vị đã góp phần đem pháp môn này đến với nhiều người bằng cách yểm trợ cho Thích Nhất Hạnh Foundation.
Khi con thực tập pháp môn chánh niệm với lòng từ bi cho chính mình và cho người khác, con thường có nhiều bình an và hiểu biết hơn. Bản thân con đã tìm được sự vững chãi trong chính tự thân nên con tin rằng sự vững chãi ấy sẵn có trong tất cả chúng ta và ai cũng có thể tự mình trải nghiệm điều này bằng sự thực tập. Và một khi chúng ta tìm được sự vững chãi không lay chuyển ấy thì không có một cuộc chiến tranh hay sự bạo động nào có thể phá vỡ nó được.
Cảm ơn sự thực tập của quý thân hữu và cảm ơn quý thân hữu đã tham gia vào cộng đồng của những nhà hoạt động hoà bình trên toàn thế giới.
Mousqa Katawazi
Solid Trust of the Heart
Annual Fund Manager, Thich Nhat Hanh Foundation
Sustaining Circle Member
Cuộc hành trình trở về
“Bước chân an lạc” (Walk With Me) là một bộ phim tài liệu và không đem lại cảm giác bùng nổ kiểu bom tấn nào cả. Nó chỉ đọng lại ở bạn khi bạn thật sự cảm được những tầng lớp chiều sâu của nó.
Tôi là cô học trò bỡ ngỡ, ngơ ngác trên con đường rất mới mẻ này. Tự nhận rằng mọi sự diễn ra là những cơ duyên may mắn của cuộc đời. May mắn để cơ bản có thể hiểu được một cách sơ khai nhất thông điệp mà bộ phim mang lại.
May mắn hiểu rằng toàn bộ quá trình phát triển cá nhân là một chuỗi những vật vã đấu tranh nội tại, lột xác và trưởng thành. Ý thức, tư tưởng, giá trị, niềm tin… nó không đơn thuần tự dưng mà có. Mãi cho đến bây giờ, ở một số phương diện nhất định, tôi vẫn còn là một mầm xanh cần thêm rất nhiều nội lực để thực sự vững vàng trước bão. Và ở đây, qua những thước phim, tôi tìm thấy sự uy nghi, trầm mặc và vững chãi vô cùng của thân cây in đậm dáng hình, trơ cành khẳng khiu trong bão tuyết.
Cái triết lý tĩnh lặng là nốt trầm trong một bản nhạc trở nên đậm nét trong suốt chiều dài bộ phim. Đó là lý do hầu hết âm thanh trong phim đều sử dụng âm thanh thực. Âm thanh cuộc sống. Giữa tiếng chim hót ríu rít qua khung cửa sổ, tiếng ầm ào của động cơ xe cộ, trong tiếng huyên náo của phố phường, thậm chí tiếng chửi rủa, lăng mạ của những người không tôn trọng sự khác biệt tôn giáo, họ vẫn ngồi đó, thâm trầm, vững chãi. Tôi bị cuốn hút bởi khuôn mặt của một sư thầy người phương Tây, có khóe mắt và nụ cười vui nhộn, hài hước theo kiểu các anh cao bồi trong phim Mỹ, lại có chút nếp nhăn từng trải nhẹ nhàng sâu sắc. Thầy dẫn đầu đoàn người băng qua ngã tư nhộn nhịp bằng những bước đi chậm, thật chậm, khoan thai với ánh nhìn… vào bên trong. Thần thái đó, con người đó, bối cảnh đó, âm thanh đó thuyết phục tôi hoàn toàn. Bởi nó rất đời và rất thực!

Hình ảnh của nhóm xuất sĩ Làng Mai tiếp cận với các anh em trong tù gợi tôi nhớ đến những câu chuyện tôi từng được nghe chia sẻ, dẫn dắt tôi quay về chiêm nghiệm câu chuyện các anh em sinh viên từng tham gia phong trào “Mùa hè xanh” ở các trại cai nghiện hay giao lưu với tù nhân Bố Lá năm nào. Khi các bạn chưa được trang bị những chân giá trị và định hướng sống sâu sắc như thế này, thì việc tương tác trong môi trường nhạy cảm ấy đem lại nhiều hậu quả đáng tiếc. Và sự mong cầu cái ngây thơ, trong trẻo của sinh viên có thể cảm hóa được sự dày dạn, lõi đời trong môi trường đó phần nào là một nước cờ chủ quan duy ý chí.
Bối cảnh của bộ phim không lộng lẫy, kiêu sa, cũng không tận dụng những góc quay rất đẹp về thiên nhiên mà Làng Mai vốn có, những hình ảnh mà bạn có thể dễ dàng tìm thấy qua Google. Đạo diễn chọn xoáy sâu vào những hình ảnh nhiều gai góc, lạnh lẽo, ướt át. Bởi đó là đại diện cho quá trình chuyển hóa, là quá trình đấu tranh nội tại từ cái rối ren, bát nháo, mơ hồ sang sáng tỏ, nhẹ nhàng. Không có tất cả những điều ấy, người ta sẽ không thấy được ánh bình minh tỏa sáng cuối chân trời. Sự thừa nhận và chấp nhận, tiến tới buông bỏ dường như luôn là điều khó khăn nhất.
Ở cái mức độ cô đơn cùng cực khi sự chuyển hóa đang diễn ra như một quá trình đấu tranh khủng khiếp của nội tại, chỉ có mỗi cá nhân mới có thể hiểu nổi mình. Cả người thân yêu nhất của mình cũng khó có thể nắm bắt được. Người thân chỉ nhận ra được điều đó sau khi bạn trở về, mang tận sâu trong mình nguồn năng lượng mạnh mẽ, đủ sức lan tỏa ra để thu về những tiếng cười hạnh phúc cho những người xung quanh. Dư âm về hình ảnh người bố già tập “thở và cười”, luôn miệng cám ơn Chúa bên cạnh người con gái – sư cô, mang lại cảm xúc thực sự ngọt ngào. Thiên đường là ở đây!
“Mẹ xin lỗi con vì mẹ quá stress trong công việc và cuộc sống sau khi ba con rời đi, nên rất nhiều lần mẹ đối xử không tốt với con”, người ta nói với tôi rằng đó là phương pháp “Làm mới”. Còn tôi, khi tai tôi nghe những lời đó và mắt nhìn thấy hai mẹ con họ, là trong đầu tôi tràn về hình ảnh căn phòng ngập ánh nến của chương trình Học Giỏi và Sống Tốt năm nào. Nước mắt và đôi tay run rẩy giữa cha mẹ và các con. Ngay khoảnh khắc ấy của bộ phim, tôi nhận ra rằng cuộc hành trình của hai mẹ con họ sẽ giống hệt như cuộc hành trình của những cặp bố mẹ và con mà tôi từng gặp. Nếu người trong cuộc không đủ kiên định trên con đường thay đổi thật sự, không đủ kiên nhẫn để lột xác thật sự, mọi chuyện sẽ quay trở lại trạng thái cũ. Và người chịu nhiều ảnh hưởng nhất, là những đứa con vô cùng tinh tế và nhạy cảm.
Đó cũng là cuộc hành trình của chính tôi.
Cái điểm trũng trong sự hiểu biết còn nhiều manh mún của quá trình làm mẹ, cái mong cầu hạnh phúc, mong đủ đầy trọn vẹn ở quá nhiều khía cạnh và quan trọng hơn tất cả, cái thói quen trong quá trình phát triển tính cách cá nhân rất nhiều khi kéo mình lỗi nhịp với con cái và người thân. Ân hận không chưa đủ. Tôi cần làm nhiều hơn thế nữa. Hành trình lột xác này cần nhiều thử thách, đau đớn và kiên tâm hơn thế nữa. Để đi vào tận sâu trong chính bản thân mình, không chỉ cần đọc hiểu lý thuyết của người khác về quá khứ – hiện tại – tương lai mà còn là sự rèn luyện không ngừng để tồn tại trọn vẹn cho nhau ở thời khắc này.
Cái duyên lành may mắn là khi cuộc đời cho tôi được gặp và chia sẻ với những người đi trước và đã thành công như vợ chồng chị Mỹ Hằng. May mắn khi tôi được làm việc trong một môi trường mà các đồng sự có cùng chí hướng giá trị và niềm tin, sẵn sàng giúp tôi cân bằng và định hướng lại bản thân. May mắn khi trong một năm qua được tiếp cận (dù rất ít dịp nói chuyện sâu) với các đoàn đưa thực tập Chánh niệm (Mindfulness) tới trường trao đổi và làm việc. May mắn khi có hậu phương chia sẻ để ngày đầu năm mới được đến tham dự ra mắt bộ phim và được ôm Sư Cô Chân Không, 80 tuổi vẫn tràn đầy năng lượng.
Từ sự tò mò về một xu thế tư tưởng đang tác động mạnh mẽ đến nhiều đất nước, con người, tầng lớp, kể cả các tôn giáo khác nhau trên toàn thế giới, năm rồi tôi đã tìm hiểu về hầu hết các trường lớn bé, kể cả Monash University mà tôi học ngày xưa, cũng đã đưa Chánh niệm vào thành nội dung giảng dạy, thậm chí có nơi thành lập luôn trung tâm thực tập Chánh niệm. Điều đó chứng minh hiệu quả thực tế trong cuộc sống mà tư tưởng của Thầy Thích Nhất Hạnh mang lại cho sự phát triển của xã hội loài người. Những tư tưởng này đã vượt qua giới hạn tôn giáo đơn thuần khi họ biết cách hiện thực hóa những lý thuyết khô cằn, cao siêu thành thực tiễn mà mỗi chúng ta có thể chạm vào.
Người ta đã có thể HIỂU, có thể THƯƠNG, nhưng để THỰC HÀNH được cái hiểu và thương ấy đúng cách, biến nó thành sự tiếp nhận đúng mực và chia sẻ hằng ngày, hằng giờ là quá trình lắm cam go. Chánh niệm hay thiền tập tuyệt đối không nên và không phải là vật trang sức thời thượng của các chính khách, doanh nhân hay nghệ sĩ. Nó phải là giá trị sâu sắc của sự thấu hiểu và chuyển hóa từng bước một, vì hạnh phúc thật sự đến từ nội tại chứ không phải chỉ là vỏ bọc bên ngoài. Những bước đi đầu tiên có thể gai góc và nhức nhối, nhưng nếu đủ niềm tin, đủ thực hành thì tôi tin rằng hạnh phúc sẽ có mặt.
Nga Nguyễn.




























































































































