Chánh niệm là con đường

Chánh niệm và tà niệm

Bất cứ ai cũng cần sự giúp đỡ, trong đó có cả Bụt. Bụt cũng cần chúng ta giúp Ngài. Bụt chỉ có hai tai thì làm sao nghe được hết những khổ đau trên thế giới? Bụt chỉ có hai tay thì làm sao có thể giúp hết được cho thế giới này bớt khổ? Thành ra, chúng ta phải giúp Bụt, chúng ta phải trở thành mắt của Bụt, thành lỗ tai của Bụt, thành cánh tay của Bụt…

Không những người nghèo đau khổ mà người giàu cũng đau khổ. Những nhà lãnh đạo doanh nghiệp rất giàu có nhưng họ cũng đau khổ rất nhiều. Họ mời chúng ta đến giảng dạy chánh niệm để giúp họ bớt khổ và đồng thời giúp họ thành công hơn nữa trong việc kinh doanh.

Vấn đề đặt ra là: Chúng ta có nên giảng dạy chánh niệm cho những nhà lãnh đạo doanh nghiệp để giúp họ làm giàu nhiều hơn nữa hay không? Có người trả lời: “Tại sao không? Làm giàu thì có gì sai? Họ làm giàu thì họ tạo được công ăn việc làm cho những người khác và cung cấp vật dụng cần thiết cho chúng ta”. Thành ra có rất nhiều ý kiến tranh luận về việc ta có nên giúp cho những nhà lãnh đạo doanh nghiệp hay không.

Chúng ta cũng biết rằng hiện nay trong quân đội có rất nhiều khổ đau, nhiều căng thẳng và nghi ngờ, nhiều người đã tự tử. Người ta muốn mời các vị giáo thọ đến hướng dẫn thực tập chánh niệm cho những người lính trong quân đội trước khi họ được gửi ra trận. Nhiều vị giáo thọ đã từ chối với lý do: “Tôi không thể làm như thế được! Tôi không thể hướng dẫn cho những người lính thực tập chánh niệm để họ có khả năng tập trung cao hơn và giết người giỏi hơn!” Nhưng cũng có ý kiến cho rằng: “Nếu những người lính có chánh niệm thì họ sẽ không giết hại thường dân mà chỉ giết kẻ địch thôi, điều đó cũng đủ có ích lợi rồi”.

Như vậy, một cuộc tranh luận đã mở ra và đang tiếp diễn xoay quanh vấn đề: chúng ta có nên loại trừ các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và những người trong quân đội ra khỏi sự thực tập chánh niệm hay không? Những người làm nghề đánh cá cũng bắt nhiều cá và tàn hại rất nhiều sinh mạng. Và còn những người trong ngành công nghiệp sản xuất thịt hay chế tạo vũ khí nữa, ta có nên loại trừ hết những người đó ra khỏi sự thực tập chánh niệm hay không?

Cho nên, một câu hỏi rất quan trọng được đặt ra là: Chánh niệm có thể làm lợi lạc cho tất cả mọi người hay chỉ làm lợi lạc cho một số thành phần nào đó mà thôi?

Hôm nay chúng ta phải để thì giờ đi sâu vào chủ đề này. Câu hỏi đặt ra là: Chúng ta có thực sự hiểu chánh niệm là gì hay không? Trong giáo lý đạo Bụt có danh từ chánh niệm (right mindfulness), mà đã có chánh niệm thì cũng có tà niệm (wrong mindfulness). Thành ra, trước tiên chúng ta phải phân biệt được chánh niệm và tà niệm.

Sự khác biệt giữa chánh niệm và tà niệm, chánh kiến và tà kiến

Chánh niệm, tiếng Phạn là  samyak smṛti, ngược lại với tà niệm là mithya smṛti. Có sự khác biệt gì giữa chánh niệm và tà niệm? Câu trả lời là:

1. Chánh niệm không phải là một công cụ, một phương tiện mà là một con đường

Ta có thể sử dụng một dụng cụ để làm nhiều việc, ví dụ ta dùng dao để chặt cây, cắt gọt rau quả v.v. nhưng cũng có người dùng dao để đi ăn cướp, để giết người. Chánh niệm không phải là con dao mà ta có thể dùng để làm cả những chuyện tốt lẫn những chuyện xấu. Chánh niệm không phải là một công cụ. Nhưng rất nhiều người trong chúng ta cho chánh niệm là một công cụ, chúng ta nghĩ rằng có thể dùng chánh niệm để trị liệu, để hòa giải hoặc làm ra nhiều tiền, hoặc để giết kẻ thù cho hay hơn.

Chánh niệm không phải là một phương tiện hay một công cụ mà là một con đường. Bởi vì chánh niệm là một trong tám chi phần của Bát chánh đạo. Chánh niệm thuộc về chánh đạo (samyak marga). Nếu ta lấy chánh niệm ra khỏi bối cảnh của chánh đạo thì nó không còn là chánh niệm nữa. Đây là điều rất quan trọng!

Chánh đạo (right path) là con đường đúng đắn, bắt đầu bằng chánh kiến (right view). Chánh kiến là cái thấy vượt thoát mọi sự kỳ thị, giận hờn và sợ hãi. Vì vậy, nếu chánh niệm không chuyên chở chánh kiến trong đó thì không phải là chánh niệm thật sự.

Chánh đạo là sự thật thứ tư của Tứ đế, mà chánh niệm là một thành phần trong đó. Chánh đạo là con đường đúng đắn đưa tới hạnh phúc, tức là đưa tới sự thật thứ ba của Tứ đế.

Tà đạo (wrong path) ngược lại với chánh đạo, đó là con đường đưa tới sự thật thứ nhất tức là khổ. Ta có thể nhìn sự thật thứ hai của Tứ Đế như là một con đường, con đường sai lầm (tà đạo). Con đường sai lầm bắt đầu bằng cái thấy sai lầm, tức tà kiến (wrong view). Cái gì đưa tới cái thấy sai lầm? Tà niệm, tà định đưa tới tà kiến. Và tà kiến đưa tới tà tư duy, tà ngữ và tà nghiệp.

Cho nên, chánh niệm nằm trong chánh đạo, và tà niệm thuộc về tà đạo. Rất rõ ràng. Ta phải phân biệt được chánh niệm với tà niệm. Danh từ chánh niệm và tà niệm đã có từ thời của Bụt. Nếu có chánh niệm thì luôn luôn có tà niệm. Tà niệm luôn đi đôi với tà kiến và tà tư duy. Vì vậy, những loại niệm nào đưa tới tà kiến, tà tư duy, tà nghiệp thì không phải là chánh niệm.

Có những người không hề học hỏi và thực tập chánh niệm, chánh kiến nhưng họ cũng có một ít chánh niệm và chánh kiến. Họ không phải là Phật tử, không cần phải là Phật tử mới có được chánh niệm và chánh kiến.

Trong cuộc chiến tranh Đông Dương người ta báo cáo rằng hai phe, phe cộng sản và phe chống cộng sản đã tàn sát lẫn nhau. Họ đã làm theo lệnh của cấp trên nhưng thật ra những người lính của hai bên không hề muốn giết nhau. Người ta kể lại rằng phe cộng sản đã đến đóng ở bờ bên kia sông còn phe chống cộng thì đóng ở bờ bên này sông, hai bên đã nhìn thấy nhau nhưng họ không tấn công nhau. Họ đứng im như vậy trong một hay hai giờ đồng hồ. Cuối cùng để làm tròn phận sự của mình, họ đã chỉa súng bắn lên trời rồi lấy khẩu phần thức ăn của mình ra ăn và rút lui. Chuyện này đã xảy ra rất nhiều lần ở Lào.

Điều này có nghĩa là những người chiến sĩ đó có được chánh kiến. Họ không hiểu tại sao mình lại phải chém giết lẫn nhau, tại sao mình phải giết người và bị người giết. Họ thấy bên kia không phải là kẻ thù của mình, bên kia cũng giống như mình, bị đưa ra trận tuyến để giết người và bị người giết.

Từ đâu mà ta có được cái thấy đó? Đó là nhờ chánh niệm, chánh niệm có chứa tuệ giác trong đó. Ở đâu có chánh niệm thì ở đó có tuệ giác. Ta thấy được rằng những người kia là nạn nhân bị bắt đến để giết người và để bị người giết, và ta cũng bị bắt đến để giết người và để bị người giết. Đó là chánh kiến! Ta không thể lấy chánh kiến ra khỏi chánh niệm vì chánh niệm đã chứa sẵn chánh kiến trong đó. Ở Làng Mai chúng ta thường nói rằng chánh niệm chứa đựng năng lượng của định và tuệ trong đó.

Ví dụ như ta thực tập:Thở vào tôi biết là tôi còn sống. Chánh niệm về hơi thở đưa tới cái thấy là ta đang còn sống. Có những người sống mà không biết là mình đang sống nên họ không thấy vui sướng khi được sống. Có chánh niệm thì tuệ tới ngay lập tức. Chánh niệm mà không có tuệ thì không thật sự là chánh niệm.

Những người lính từ chối đánh nhau vì họ có được chánh niệm và tuệ giác. Điều này làm cho các cấp chỉ huy rất tức giận. Trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, những trường hợp tương tự cũng đã từng xảy ra. Người ta báo cáo rằng có từ 75-80% chiến sĩ đã hành xử như vậy. Cấp chỉ huy đã rất tức giận nên bây giờ họ tìm cách hướng quân đội về một loại niệm và một cái thấy khác, một loại tà niệm và tà kiến. Họ biến niệm và định trở thành một phương tiện, một công cụ để giúp cho quân đội mạnh hơn, phục vụ tốt hơn trong việc tàn sát kẻ thù. Đó là chủ ý của các cấp lãnh đạo quân sự. Như vậy nếu chúng ta đến để giúp cho họ thực hiện được mục đích đó thì chúng ta không giảng dạy chánh niệm thật sự.

Ví dụ một người lính ra trận, ở ngay trận địa anh ta thực tập thở vào, thở ra và ý thức được rằng kẻ thù của mình đang ở trước mặt mình, và nếu anh không giết kẻ thù đó thì kẻ thù sẽ giết anh.

Thở vào tôi biết là kẻ thù đang có mặt

Thở ra tôi phải giết hắn vì nếu không thì hắn sẽ giết tôi.

Sự thực tập này được thúc đẩy bởi sự sợ hãi, bởi ý chí muốn sống còn và bởi tà kiến. Nếu không coi người kia là kẻ thù thì ta không thể nào giết họ được. Ta bị nhồi vào đầu tư tưởng “Những kẻ đó là kẻ thù của ta, là người ác, là mối hiểm họa cho sự an nguy của đất nước mình. Những kẻ đó đi ngược lại lợi ích của dân tộc mình, không có họ thì mọi chuyện sẽ tốt hơn”. Người ta đã đào tạo những người lính như vậy và làm cho họ có ý muốn giết người.

Trong chiến tranh Việt Nam, những người lính Mỹ bị nhồi vào đầu là cộng sản rất nguy hiểm, nếu để Việt Nam rơi vào tay cộng sản thì cộng sản sẽ chiếm hết Đông Nam Á và có thể bành trướng sang Tân Tây Lan (New Zealand), Úc (Australia) và sớm muộn gì cũng sang tận Hoa Kỳ. Tư tưởng đó được thúc đẩy bởi sự sợ hãi.

Hiện nay, Hoa Kỳ đang hợp tác kinh tế với Việt Nam. Nhìn lại quá khứ, ta thấy việc đổ vào Việt Nam không biết bao nhiêu là tiền bạc, súng ống, chất độc hóa học và hy sinh biết bao nhiêu mạng người không phải là một hành động thông minh, đó không phải là chánh kiến. Hàng triệu người đã trở thành nạn nhân của tà kiến đó. Cái thấy sai lầm của những nhà lãnh đạo chính trị đã đưa tới sự tàn phá, hủy diệt môi trường và cái chết của hàng triệu dân thường.

Hoa Kỳ có thể làm hay hơn, như hỗ trợ cho hai miền Nam-Bắc xây dựng lại đất nước và phát triển kinh tế, giáo dục, v.v. Như thế Hoa Kỳ sẽ chi phí ít hơn, và còn giúp được cho hai miền Nam – Bắc cùng nhau xây dựng một đất nước hạnh phúc hơn. Thông qua đó, nước Mỹ cũng thu phục được nhiều bạn bè hơn. Đó là cái thấy tốt đẹp, là chánh kiến.

Để có thể huấn luyện một người lính thành một sát thủ giỏi, người ta phải nhồi vào đầu họ tư tưởng là nếu không có kẻ thù đó thì sẽ tốt đẹp hơn cho mình và cho đất nước. Tôi nhớ Tổng thống Bush đã từng tuyên bố như vậy về Bin Laden: “Nếu không có ông thì thế giới sẽ tốt đẹp hơn!” (the world will be a better place without you!). Đó là chính sách loại trừ mà hiện nay chúng ta vẫn đang tiếp tục sử dụng. Nếu thấy người nào đó có thể là mối nguy hiểm cho an ninh của mình và cho đất nước mình thì chúng ta tìm cách loại trừ người đó, loại trừ bằng cách này hay bằng cách khác, bằng phương tiện hợp pháp hay không hợp pháp.

Là một vị giáo thọ, nếu ta được mời đến hướng dẫn cho những người lính thực tập chánh niệm thì ta không thể nói với họ rằng: “Công việc của các anh là đi giết kẻ thù. Các anh phải có niệm và định để làm việc đó cho tốt!” Ta không thể nói như vậy. Nếu nói như vậy thì chánh niệm trở thành một phương tiện mà không phải là con đường.

2. Chánh niệm không phải là một phương tiện để đạt tới mục tiêu

Khi ta thở vào có chánh niệm thì hơi thở vào không phải là một phương tiện. Nếu biết cách thở thì ta có được niềm vui, bình an và sự trị liệu ngay trong khi thở vào. Không có sự phân biệt giữa phương tiện và cứu cánh. Nếu ta không cảm thấy thoải mái trong khi thở nhưng ta vẫn cố gắng chịu đựng để đạt được một mục đích nào đó thì đó không phải là chánh niệm thật sự.

Không có sự khác biệt giữa phương tiện và cứu cánh, vì chánh niệm chính là con đường. Con đường được làm bằng những bước chân và mỗi bước chân chính là con đường. Mỗi bước chân đều chứa đựng chánh niệm, chánh định, chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn. Mỗi hơi thở vào là một bước chân, trong mỗi bước chân đó ta phải có sự thư giãn, có an, có định và có tuệ.

Chánh niệm không phải là một công cụ, một phương tiện. Ở Làng Mai chúng ta luôn được nhắc nhở phải thực tập như thế nào để có bình an, niềm vui và tình huynh đệ ngay trong khi ngồi, trong khi đi, trong khi thở, trong khi nấu ăn hay chùi nhà. Có chánh niệm thì làm việc gì ta cũng thấy vui. Chánh niệm cho ta niềm vui, tuệ giác và sự bình an.

3. Chánh niệm tương tức với các chi phần khác của Bát Chánh Đạo

Điều này rất quan trọng! Chánh niệm mà không có tuệ giác thì không phải là chánh niệm thật sự. Những người lính ở Lào mặc dù không được giảng dạy về chánh niệm và tuệ giác nhưng họ cũng thấy được rằng những người phía bên kia cũng giống như mình, họ cũng bị ép buộc tới đây để giết và để bị giết, đó là tuệ giác. Những người kia là nạn nhân của chiến tranh và chúng ta không muốn trở thành nạn nhân của chiến tranh. Cho nên thay vì chĩa súng vào nhau, họ đã chĩa súng và bắn lên không trung. Họ có chánh niệm và có tuệ giác.

Chúng ta đã được học rằng chánh niệm cũng là tuệ giác, chánh niệm cũng là sự giác ngộ.

Thở vào, tôi ý thức là tôi đang sống.

Thở vào có chánh niệm đưa tới cái thấy là ta đang sống. Đang sống là một sự mầu nhiệm! Chúng ta không cần phải thực tập 10 năm hay 10 ngày để có được tuệ giác. Chánh niệm trong tự thân nó đã chứa đựng chánh kiến rồi. Và nếu có chánh kiến thì ta không thể nào làm sai. Chánh kiến đưa tới chánh nghiệp, tức là hành động đúng đắn. Ta chỉ hành động sai lầm (tà nghiệp) khi ta có tà kiến.

Chánh kiến là tuệ giác. Có chánh kiến thì cái ta tư duy là chánh tư duy, cái ta nói là chánh ngữ và cái ta làm là chánh nghiệp. Chánh kiến phát sinh từ chánh niệm. Vì vậy, nếu ta hướng dẫn cho những người lính đó thực tập được chánh niệm thì họ sẽ có chánh kiến. Thành ra, không có gì nguy hiểm khi giảng dạy chánh niệm cho những người lính trong quân đội. Người ta tưởng nếu giảng dạy chánh niệm cho quân đội thì họ sẽ sử dụng chánh niệm khi ra trận để có đủ sự bình tĩnh và sự tập trung mà giết được nhiều người hơn. Điều này không đúng! Chúng ta giảng dạy chánh niệm để họ biết thở như thế nào, đi như thế nào, biết nhận diện cảm thọ và cảm xúc của họ, ý thức được sự sợ hãi, giận hờn trong mình, v.v. Ý thức được thì họ có cái thấy đúng (chánh kiến), và chánh kiến giúp cho ta tránh được tà tư duy, tà ngữ và tà nghiệp.

Chánh niệm tương tức với các chi phần khác của Bát Chánh Đạo (chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ…) trong đó có chánh mạng, tức nghề nghiệp đúng đắn. Có chánh niệm thì ta có chánh kiến và với cái thấy đúng đắn thì ta không thể nào tiếp tục lối sống sai lầm nữa (tà mạng). Để có được hạnh phúc, ta phải từ bỏ tà mạng và tìm một việc làm khác có thể giúp ta phát khởi tâm từ bi và trân quí đối với sự sống. Đó là chánh đạo! Tất cả các yếu tố của chánh đạo đều là cứu cánh mà không phải là phương tiện.

Giả sử vòng tròn này tượng trưng cho chánh niệm, mà đã là chánh niệm thì phải chứa đựng trong nó năng lượng của định và tuệ.

Khi có chánh niệm về một cái gì đó thì cũng có nghĩa là ta đang đưa sự chú tâm (định) vào đối tượng đó. Ví dụ như khi ta có chánh niệm về hơi thở vào thì cũng có nghĩa là ta đang định tâm vào hơi thở vào. Năng lượng của niệm và định chuyên chở trong nó năng lượng của tuệ giác. Và nếu niệm, định và tuệ có mặt thì 5 yếu tố còn lại của Bát Chánh Đạo (chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn) cũng có mặt.

Có niệm, định và tuệ thì lời nói của ta là chánh ngữ. Trên nền tảng của chánh kiến thì không thể nào có tà tư duy. Chánh kiến là một cái thấy không có sự phân biệt, kỳ thị. Chánh kiến là cái thấy tương tức (interbeing), duyên khởi (interdependant origination) và vô ngã (no self). Có chánh kiến thì ta không thể chế tác tà tư duy, tà ngữ và không thể tạo ra tà nghiệp. Chúng ta phải nhớ rằng chánh niệm tương tức với tất cả những yếu tố khác của Bát chánh đạo. Vì vậy chúng ta không cần phải lo lắng là chánh niệm có thể bị lạm dụng. Chánh niệm không thể nào gây hại cho bất kỳ ai hay cho bất kỳ cái gì, vì trong chánh niệm đã có chánh kiến, và khi đã có chánh kiến rồi thì ta không bao giờ có thể làm những điều sai lầm.

Sự thực tập chánh niệm dành cho tất cả mọi người, không loại trừ một ai

Những người trong quân đội có rất nhiều đau khổ, họ cũng cần sự giúp đỡ. Vì vậy giúp cho họ bớt khổ không có gì là sai cả. Ta có thể hiến tặng sự thực tập chánh niệm để giúp họ:

1. Chế tác niềm vui và hạnh phúc

Chánh niệm giúp cho ta trở về với giây phút hiện tại và nhận ra rằng chúng ta đang có quá nhiều những điều kiện hạnh phúc. Những người lính cũng như chúng ta, họ có khả năng nhận diện những mầu nhiệm của sự sống, của thiên nhiên, những điều kiện hạnh phúc đang có mặt và nhờ đó, họ có thể chế tác được niềm vui, niềm hạnh phúc để nuôi dưỡng và trị liệu cho chính mình.

2. Chăm sóc khổ đau

Khi ta hướng dẫn cho những người lính thực tập chánh niệm, họ có thể nhận diện được sự sợ hãi, giận dữ và tuyệt vọng trong mình. Họ học được cách chăm sóc khổ đau của chính mình và giúp mình bớt khổ.

3. Thấy được hạnh phúc chân thật

Khi đi sâu vào sự thực tập chế tác niềm vui, niềm hạnh phúc và chăm sóc khổ đau của chính mình, họ sẽ đạt tới chánh kiến. Họ có thể thấy rõ được thế nào là hạnh phúc chân thật.

Khi gia nhập quân đội, họ nghĩ đời sống trong quân đội sẽ dễ dàng hơn, họ có thể hạnh phúc hơn khi làm một người lính. Đó là một ý niệm, một cái nhìn về hạnh phúc. Nhưng khi được hướng dẫn thực tập cách thở, cách đi, cách ngồi, cách ôm ấp cơn giận và sự sợ hãi thì họ bắt đầu nếm được hạnh phúc thật sự. Họ so sánh và bỗng nhiên thay đổi quan niệm của mình về hạnh phúc.

Lúc đầu ta cho rằng làm một người lính thì có nhiều quyền lợi và đem tới cho ta hạnh phúc. Nhưng bây giờ thì ta đau khổ quá và ta bắt đầu nghi ngờ. Khi có người đến chỉ dẫn cho ta phương pháp thở, phương pháp đi, phương pháp nhận diện những mầu nhiệm của sự sống, phương pháp thưởng thức từng hơi thở và từng bước chân thì ta thức tỉnh, ta nhận ra được thế nào là hạnh phúc thật sự. Ta thay đổi cái nhìn của ta về hạnh phúc, từ cái nhìn sai lạc ta chuyển sang cái nhìn đúng đắn, và động lực thúc đẩy cuộc đời ta cũng thay đổi.

Vì vậy nếu quý vị là những vị giáo thọ giỏi được mời hướng dẫn chánh niệm cho những người lính trong quân đội thì quý vị cũng đừng nên lo ngại. Chánh niệm luôn luôn đem lại lợi lạc và chuyển hóa tốt đẹp cho mọi người, dù rằng sự chuyển hóa đó có thể diễn ra chậm.

Một điều mà tôi rất quan tâm là chúng ta cũng nên đồng thời giúp cho những vị chỉ huy, cấp trên, bộ tham mưu và những nhà hoạch định chính sách… Bởi vì nếu những người lãnh đạo chính trị còn có cái nhìn sai lạc về hạnh phúc, về an ninh và quyền lợi của quốc gia thì nhiều người trẻ như chúng ta vẫn sẽ tiếp tục là nạn nhân của bạo lực, chúng ta vẫn bị buộc phải chém giết và bị chém giết. Sử dụng phương tiện bạo động không phải là cách duy nhất để bảo đảm an ninh và quyền lợi quốc gia, còn có nhiều cách hay hơn như vậy.

Là những người thực tập chánh niệm và hiểu rõ bản chất của chánh niệm, chúng ta phải giúp cho quân đội, nếu không thì họ sẽ tự đào tạo đội ngũ những người giảng dạy chánh niệm riêng của mình. Những người đó có thể giảng dạy chánh niệm theo kiểu:

Thở vào, tôi biết là kẻ thù đang có mặt và tôi phải giết hắn.

Thở ra, tôi kéo cò súng…

Đó là niệm và định căn cứ trên tà kiến.

Chúng ta là những giáo thọ giảng dạy chánh niệm, ta không thể dạy như vậy. Chúng ta không bảo những người lính phải từ bỏ nghề nghiệp của mình, ta chỉ đến để giúp họ bớt khổ mà thôi. Và khi đã bớt khổ thì họ sẽ có cái thấy đúng đắn về hạnh phúc chân thật và mọi việc sẽ tự dần dần thay đổi.

Vì vậy kết luận của tôi là: Thực tập chánh niệm là pháp môn tu học dành cho tất cả mọi người, không loại trừ một ai.

Tuần trước có hai vị thuộc Bộ Ngoại giao Pháp từ Paris tới thăm Làng Mai. Tôi hỏi hai vị ấy: “Sự thực tập chánh niệm có thể giúp được cho rất nhiều người trẻ và các thầy cô giáo bớt khổ. Chúng tôi đang tìm cách đem sự thực tập chánh niệm vào trường học. Chúng tôi đã và đang huấn luyện cho các thầy cô giáo ở nhiều quốc gia trên thế giới để họ có thể đem sự thực tập chánh niệm vào lớp học và giúp cho học sinh bớt khổ hơn. Khi học sinh bớt khổ thì thầy cô giáo cũng bớt khổ, sự truyền thông sẽ tốt hơn, việc dạy và học cũng trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, nước Pháp có chính sách biệt lập tôn giáo (laïcité), người ta cấm những sinh hoạt có tính chất tôn giáo ở những nơi cộng cộng. Vậy quý vị có thể giúp chúng tôi tìm ra cách thức nào để đem sự thực tập này vào những nơi công cộng, đặc biệt là ở các bệnh viện, trường học… hay không?”

Trong những năm qua, chúng ta đã tổ chức khóa tu cho cảnh sát, cho nhân viên của các trại tù, v.v… Những đối tượng này đều nhận ra rằng sự thực tập chánh niệm giúp họ rất nhiều vì họ có quá nhiều đau khổ. Hôm qua chúng ta được báo cáo là một thiếu niên trẻ 16 tuổi đã bị cảnh sát bắn chết. Qua đó, ta thấy rằng không những người trẻ cần sự giúp đỡ của chúng ta, mà lực lượng cảnh sát cũng cần sự giúp đỡ. Vì vậy sự thực tập chánh niệm cần thiết cho tất cả mọi người, không loại trừ bất kỳ một ai.

Vấn đề là chúng ta không có đủ giáo thọ. Chúng ta phải đào sâu sự thực tập, phải cải tiến phương pháp giảng dạy để sự giảng dạy và tu tập của chúng ta là sự giảng dạy và thực tập chánh niệm thật sự (true mindfulness). Chúng ta phải đào tạo hàng trăm, hàng ngàn người có khả năng hướng dẫn thực tập chánh niệm ở khắp nơi trên thế giới.

Chúng ta biết rằng không cần phải là một Phật tử mới có thể tu tập chánh niệm. Điều quan trọng nhất là: chánh niệm phải là chánh niệm thật sự và điều này tùy thuộc vào sự học hỏi và tu tập của chúng ta. Như vậy chúng ta sẽ không còn lo là chánh niệm bị biến chất và không còn có khả năng giúp được cho mọi người.

Giáo lý về chánh niệm, nếu không được hiểu một cách thấu đáo, thì không thể nào giúp ích được cho mọi người. Có rất nhiều người đã coi chánh niệm như là một công cụ.

Nhiều truyền thống tâm linh từ phương Đông khi được du nhập vào xã hội Tây phương đã bị biến chất. Người Tây phương vốn quen với lối tư duy lưỡng nguyên (dualistic thinking) như: tạo hóa không phải là tạo vật, chủ thể không phải là đối tượng, vì vậy đã làm biến chất, làm thế tục hóa (secularise) những yếu tố tâm linh đến từ châu Á, kể cả Thiên chúa giáo. Thiên chúa giáo tới từ phương Đông, nhưng sự giảng dạy và sự thực tập Thiên chúa giáo ở Tây phương hiện nay hoàn toàn theo lối tư duy lưỡng nguyên. Người cầu nguyện và người được cầu nguyện là hai thực thể riêng biệt nằm ngoài nhau. Thượng đế ở ngoài ta và ta ở ngoài Thượng đế. Trong khi đó theo giáo lý nguyên thỉ thì Thượng đế ở trong ta và ta ở trong Thượng đế. Ta và Thượng đế tương tức. Điều này đang xảy ra cho sự thực tập chánh niệm trong xã hội Tây phương. Chánh niệm không còn là con đường hạnh phúc hay con đường chuyển hóa mà trở thành một công cụ phục vụ cho một mục đích nào đó, ví dụ như làm ra nhiều tiền hơn, đào tạo nhiều sát thủ hơn, v.v. Vì vậy, là một người giảng dạy về chánh niệm, chúng ta phải ý thức được điều này.

Tôi xin nhắc lại là: chánh niệm là một con đường mà không phải là công cụ để phục vụ cho mục tiêu của mình, chánh niệm không thể tách rời khỏi những yếu tố khác của Bát chánh đạo. Ta không thể tách chánh niệm ra khỏi chánh kiến. Có chánh niệm là có chánh kiến. Chánh kiến giúp chúng ta thay đổi những quan niệm lỗi thời của mình mà trước tiên là quan niệm về hạnh phúc.

Mùa đông vừa rồi có một phóng viên đến từ London đã phỏng vấn tôi về vấn đề giảng dạy chánh niệm cho các tập đoàn kinh tế trên thế giới. Câu hỏi mà người phóng viên đó đặt ra là:

– Có nên đưa sự thực tập chánh niệm vào các tập đoàn quốc tế hay không? Người lãnh đạo kinh doanh nào cũng muốn trở thành số 1 trong lĩnh vực của mình, vì vậy nếu đưa chánh niệm vào các tập đoàn, có phải là chúng ta đang giúp cho họ thỏa mãn được tham vọng của họ và làm cho chánh niệm bị biến chất hay không?

Tôi đã trả lời ngắn gọn:

– Nếu là chánh niệm thật sự thì sẽ giúp cho những người đó có được chánh kiến và thấy được cái gì là hạnh phúc chân thật và cái gì không phải là hạnh phúc chân thật. Khi có cái thấy đúng đắn thì họ sẽ thay đổi động cơ ban đầu của mình, thay vì muốn trở thành số 1 họ sẽ muốn có được hạnh phúc thật sự.

Trong một buổi giảng tại Ngân hàng Thế giới (World Bank), tôi cũng đã nói rằng: “Quí vị phải lựa chọn một trong hai cái, trở thành số 1 hay là có được hạnh phúc”.

Khi ta giảng dạy và giúp cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp thực tập chánh niệm, họ sẽ có cơ hội nếm được hạnh phúc, tình thương và tự do chân thật. Từ đó họ sẽ thay đổi cách nhìn và động cơ ban đầu thúc đẩy họ thực tập chánh niệm cũng sẽ thay đổi theo.

Ở Rwanda năm 1994, hai sắc tộc Hutu và Tutsi đã tàn sát lẫn nhau và khoảng một triệu người đã chết trong cuộc xung đột ấy. Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc cũng có mặt ở Rwanda vào thời điểm đó. Vị chỉ huy của lực lượng gìn giữ hòa bình đã xin phép sử dụng một tiểu đoàn để can thiệp và ngăn cản các vụ tàn sát có thể xảy ra giữa người Hutu và người Tutsi. Nhưng yêu cầu của ông đã bị từ chối. Vị tướng này nghĩ rằng nếu khi đó ông được phép dùng một tiểu đoàn của lực lượng gìn giữ hòa bình để can thiệp thì ông đã có thể ngăn chặn được vụ thảm sát xảy ra và cứu được tính mạng của hơn một triệu người Rwanda.

Sau sự kiện này, vị tướng đó bị rơi vào tình trạng trầm cảm. Ông hối hận là đã không chủ động can thiệp dù không được sự cho phép của cấp trên. Nếu lúc đó ông cứ quyết tâm hành động thì ông đã có thể ngăn chặn được cuộc tàn sát, và nếu sau đó ông có bị bãi chức thì cũng không sao. Nhưng ông đã không hành động như vậy, nên bây giờ ông cảm thấy rất hối hận.

Điều gì sẽ xảy ra nếu vị chỉ huy đó sử dụng quân đội của mình để can thiệp vào cuộc tàn sát ở Rwanda? Có thể là một số người của lực lượng gìn giữ hòa bình sẽ hy sinh nhưng họ có thể cứu được mạng sống của một triệu người. Vì vậy chúng ta không thể nói rằng sự có mặt của quân đội là không cần thiết. Điều quan trọng là quân đội cần có khả năng thực tập chánh nghiệp, tức là hành động chân chính.

Hôm qua có một câu hỏi rất hay về vấn đề phạm pháp, về án tử hình, v.v. Chúng ta đã nói: Tất cả mọi người đều cần sự giúp đỡ, kể cả Bụt. Những người phạm pháp cũng cần sự giúp đỡ. Trước khi phạm tội, họ đã không được sự giúp đỡ từ gia đình, thầy cô giáo và bạn bè. Nếu được giúp đỡ thì họ đã không phạm tội như vậy. Bây giờ họ đã phạm tội và họ cần sự giúp đỡ mà không cần sự trừng phạt.

Sở dĩ người thanh niên đó trở thành tội phạm là vì chúng ta đã không chăm sóc tốt cho anh ta. Bây giờ anh ta bị bắt giam trong tù, anh ta cũng cần sự giúp đỡ của chúng ta. Nếu người đó phá hoại và giết người thì việc cần làm là bắt người đó giam vào tù, đó là phận sự của cảnh sát. Điều quan trọng là ta làm việc với tình thương, ta phải bắt giam người đó để ngăn không cho người đó ngày càng lún sâu vào tội ác. Và thời gian ở trong tù là một cơ hội để người đó làm mới lại chính mình và trở thành một người tốt. Xã hội cần phải dành nguồn nhân lực và ngân sách cần thiết để đào tạo, giúp cho các phạm nhân học cách làm thế nào để xử lý khổ đau, giận hờn, sợ hãi, thèm khát, để có được những niềm vui lành mạnh và có cái thấy đúng đắn về hạnh phúc chân thật.

Vấn đề là hiện nay chúng ta không có những người làm công việc giảng dạy chánh niệm cho các tù nhân. Ban quản lý trại giam không biết những phương pháp thực tập và chính họ cũng có nhiều đau khổ. Họ không thể quản lý, chăm sóc những người tù với sự nhẹ nhàng và lòng từ bi. Cả tù nhân và người cai tù đều đau khổ.

Sự thực tập chánh niệm có khả năng giúp cho cả hai bên. Nhưng vấn đề là chúng ta không có đủ người để làm công việc giảng dạy chánh niệm cho tù nhân. Có những nơi, chúng ta cũng không được phép làm công việc này.

Tôi cho rằng thời gian giam giữ tù nhân nên được xác định dựa trên thời gian cần thiết để người đó được trị liệu và chuyển hóa, vì bắt giam một người không phải là một sự trừng phạt mà là một hành động thương yêu. Vì vậy, chúng ta phải cung cấp cho người đó những phương tiện, những phương pháp tu tập để họ có thể thức tỉnh và trở thành một người tốt, một người có hạnh phúc. Nếu người đó chuyển hóa nhanh, thể hiện được niềm vui, hạnh phúc và lòng từ bi thì ta có thể cho họ ra khỏi tù và tạo điều kiện để họ tái hòa nhập cộng đồng.

Ngày xưa ở Việt Nam, các chùa được phép tiếp nhận những người tù và chăm sóc cho họ. Người tù giúp những công việc đồng áng cho chùa. Họ thực tập Năm giới và sống dưới sự giám sát của các thầy. Các thầy có trách nhiệm chăm sóc cho họ. Nếu người đó có chuyển hóa tốt thì các thầy giúp cho họ xây dựng gia đình, có một mảnh đất để canh tác và xây dựng cuộc sống mới. Khi được các thầy công nhận là đã chuyển hóa tốt thì người tù đó sẽ được nhà cầm quyền cấp cho giấy phóng thích xác nhận là họ đã mãn hạn tù và trở thành một người tự do. Đó là việc ngày xưa chúng ta đã làm. Bây giờ chúng ta cũng có thể làm như vậy nhưng có hệ thống hơn.

Ta phải huấn luyện, đào tạo những người có khả năng hướng dẫn thực tập cho tù nhân để họ có thể thay đổi, chuyển hóa, sống hạnh phúc và trở thành một thành phần tốt của xã hội. Thời gian họ ở trong tù tùy thuộc vào sự tiến bộ trong thực tập của họ. Tôi nghĩ đây là vấn đề mà chúng ta cần nên quán chiếu.

Đối diện với năng lượng bất an

Hỏi: Kính thưa Thầy, con thấy sự thực tập dừng lại và an trú trong giây phút hiện tại đối với con khó quá. Xin Thầy hướng dẫn thêm cho con để con có thể thực tập thành công.

Thầy: Trong ta có một nguồn năng lượng luôn thúc đẩy ta đi về phía trước, đó là năng lượng của tập khí. Năng lượng này rất mạnh, nó đã được huân tập từ nhiều đời nhiều kiếp của thế hệ tổ tiên. Ta đã thừa kế năng lượng ấy từ ông bà tổ tiên, cha mẹ ta. Bất cứ ở đâu, làm việc gì ta cũng bị năng lực tập khí này khống chế, nó thúc đẩy ta làm những điều ta không muốn làm, nói những điều ta không muốn nói; nó làm cho ta bất an và luôn chạy như bị ma đuổi. Vì vậy ta tới khóa tu là để tập thở, tập đi, tập ngồi và tập ăn cơm trong chánh niệm để có cơ hội dừng lại cái tập khí chạy như bị ma đuổi ấy.

Trong khi ăn, ta hãy tập ăn như thế nào để có thể thưởng thức trọn vẹn từng miếng cơm hoặc miếng bánh mì mà ta đang nhai. Nếu thực tập thành công trong miếng cơm đầu thì ta có thể thực tập thành công trong miếng cơm thứ hai, thứ ba và trong suốt bữa ăn. Thực tập ăn trong chánh niệm, đi trong chánh niệm có thể giúp ta dừng lại tập khí rong ruổi lâu đời của ta. Nếu khi nào quý vị cảm thấy trong người bất an, lăng xăng, quý vị có thể trở về với hơi thở, thực tập đi từng bước khoan thai, vững chãi và thảnh thơi. Nếu bước đầu đem lại cho quý vị sự vững chãi và an lạc, thì những bước kế tiếp cũng sẽ được như vậy.

Năng lượng của sự bất an trong ta có thể rất mạnh. Như tôi đã trình bày, nếu ta bị bối rối hoặc cảm thấy bất an, không biết cách đối phó với năng lượng tập khí mỗi khi nó phát khởi và hoành hành ta, thì ta nên thực tập nhận diện và gọi đúng tên của nó. Thở vào, quý vị có thể thầm nói: ”Chào anh bạn bất an. Tôi biết anh rồi.” Dùng hơi thở vào và hơi thở ra có ý thức để nhận diện sự có mặt của nó và mỉm cười với nó.

Có vài người đã rời bỏ khóa tu vì họ thực tập chưa thành công trong các phép tu căn bản của chánh niệm. Trong những ngày đầu của sự thực tập, ta thường cảm thấy khó chịu; điều này rất tự nhiên. Song, nếu ta biết nương vào đại chúng, thì ta sẽ thừa hưởng được năng lượng chánh niệm hùng hậu của đại chúng, được đại chúng nâng đỡ, dìu dắt và sự thực tập của ta trở nên dễ dàng hơn. Chắc chắn tới cuối khóa tu, tất cả chúng ta sẽ gặt hái được nhiều kết quả tốt, đạt được nhiều chuyển hóa, an lạc và hạnh phúc.

Điều quan trọng là ta phải có niềm tin nơi sự thực tập. Ta thực tập ăn cơm như thế nào để có an lạc, hạnh phúc trong mỗi miếng ăn, ta thở và đi như thế nào để có an lạc và thảnh thơi trong từng hơi thở và bước chân của ta. Qua bước chân, hơi thở và miếng cơm ta nhai trong chánh niệm, ta đã có thể tái lập lại được niềm tự do mà ta đã đánh mất. Bất cứ ta đang ở trong tư thế sinh hoạt nào dù đó là công việc chùi nhà, rửa bát hay bước một bước, ta đều thực hành trong chánh niệm, thân tâm hoàn toàn tự do. Làm được như thế, ta sẽ không còn là nạn nhân của năng lượng tập khí bất an nữa.

Nguồn hình ảnh: Paul Davis

(Trích từ tác phẩm “Hơi thở nuôi dưỡng, Hơi thở trị liệu” – Sư Ông Làng Mai)

Thực tập như thế nào khi không có Thầy và Tăng thân yểm trợ?

Hỏi: Kính thưa Thầy, Thầy thường dạy rằng quay về nương tựa Tăng thân, tu tập với Tăng thân là điều hết sức quan trọng và thiết yếu. Con công nhận điều đó đúng. Con đã được nuôi dưỡng rất nhiều bởi năng lượng tu tập của Tăng thân. Hoàn cảnh của con bây giờ là con sẽ đi làm việc ở miền Tây nước Phi Châu trong thời gian khoảng một hoặc hai năm và là một đất nước có thể nói rất khó để con có thể tạo dựng một Tăng thân. Xứ Phi Châu là xứ Công Giáo. Con thật sự không muốn sự thực tập của con sẽ bị mai một, vậy thì làm thế nào con có thể tổ chức sự thực tập để tiếp tục tự nuôi dưỡng mình? Con biết tu tập một mình rất khó. Xin thầy chỉ dạy cho con làm thế nào để sự thực tập của con vẫn giữ được mức bền vững và sâu sắc khi mình thực tập một mình, không có thầy và Tăng thân bên cạnh yểm trợ?

Thầy: Tôi nghĩ chúng ta có thể tạo dựng một Tăng thân tu học bất cứ nơi nào ta đang sinh sống. Thế giới đang cần sự vững chãi, bình an và chánh niệm của ta. Cái khó có lẽ là vì ta chưa biết làm cách nào để chia sẻ sự tu tập chánh niệm của ta với môi trường và con người ở bản xứ nơi mà ta sẽ cư trú, nhất là những vùng ấy chưa có khái niệm gì nhiều về truyền thống tu tập đạo Bụt.

Theo tôi, quý vị nên tránh sử dụng những danh từ đạo Bụt thì sự áp dụng đạo Bụt ở các vùng ấy sẽ dễ dàng. Lúc khoảng bốn mươi tuổi, tôi đã viết được thành công cuốn sách về cách thực tập những lời dạy của Bụt mà không cần sử dụng đến một danh từ giáo lý đạo Bụt nào cả. Khi tổng thống Nam Phi Nelson Mandela viếng thăm nước Pháp, các phóng viên nhà báo đến tiếp kiến ông. Họ hỏi tổng thống một câu rằng: ‘‘Thưa tổng thống, tổng thống muốn làm gì nhất bây giờ?’’ Tổng thống trả lời: ”Điều tôi mong muốn nhất là được ngồi yên mà không cần phải làm gì hết. Từ khi tôi được trả lại tự do sau nhiều năm tù, tôi nhận thấy mình vô cùng bận rộn. Tôi làm việc không hở tay. Được có cơ hội ngồi yên mà không cần phải làm gì hết, là điều tôi ao ước nhất.” Thỉnh thoảng trong các buổi pháp thoại tôi đem câu chuyện này kể cho các thầy, các sư chú các sư cô và các đệ tử cư sĩ nghe. Trong số các sư chú, có một sư chú trẻ pháp tự là Chân Pháp Châu người Nam Phi và tôi thường nói với sư chú rằng: ”Sư chú hãy ngồi yên giùm cho tổng thống của sư chú đi.” Không phải chỉ có tổng thống Nelson Mandela mới có ước mong đó, mà có rất nhiều người trên thế giới đều có ước mong đó. Có rất nhiều người chỉ muốn được ngồi xuống thật yên mà không cần phải làm gì hết. Họ chỉ muốn được ngồi yên tĩnh và thảnh thơi trong từng giây từng phút của đời sống hàng ngày của họ.

Lời khuyên của tôi là cô nên tránh sử dụng những danh từ có tính cách Phật giáo; chỉ thể hiện chánh pháp qua cách sống chánh niệm của mình, nghĩa là sống làm sao cho tươi mát, sâu sắc và ôn hòa trong cách tiếp xử, hành xử của mình với người bản xứ. Tập lắng nghe mọi người với tâm từ bi và sử dụng ngôn từ hòa ái. Như thế cô có thể làm bạn với họ một cách dễ dàng. Ngoài ra cây cỏ, sông hồ, khe suối, sỏi đá và chim chóc cũng là những thành phần thuộc Tăng thân của cô. Không khí trong lành cô hít vào mỗi ngày cũng là một thành phần thuộc Tăng thân. Con đường cô sử dụng để thực tập thiền đi cũng là một phần thuộc tăng thân. Những em bé mà cô trò chuyện cùng cũng là một thành phần thuộc Tăng thân.

Cả danh từ Tăng thân – sangha cũng nên tránh sử dụng. Nếu cô mời những người bạn đã quen biết tới nhà chơi, uống trà, thì thay vì cô nói: ‘‘Mời các bạn uống trà trong chánh niệm;’’ cô có thể nói: ‘‘Mời các bạn uống trà trong bình an và ý thức rằng chúng ta đang hạnh phúc được ngồi thưởng thức từng tách trà bên nhau trong giây phút này.’’ Tôi nghĩ nếu cô sử dụng loại ngôn ngữ bình thường như thế, cô sẽ dễ dàng và mau chóng tạo dựng được một Tăng thân tại địa phương của cô. Nếu cô sử dụng ngôn ngữ của đạo Bụt ngay từ lúc đầu khi người ta chưa biết gì về đạo Bụt thì cô sẽ làm cho họ bị dội và việc dựng Tăng sẽ không thành công. Có lẽ sau này khi họ đã nếm được mùi vị của an lạc và hạnh phúc trong sự thực tập rồi, thì cô có thể nhẹ nhàng và khéo léo sử dụng ngôn từ của đạo Bụt. Chúc cô thành công. Tôi biết cô có thể làm được. Tất cả chúng ta đều có thể tạo dựng được một Tăng thân để tu tập ngay tại trú xứ của mình.

(Trích từ tác phẩm “Hơi thở nuôi dưỡng, Hơi thở trị liệu” – Sư Ông Làng Mai)

Con phải làm gì khi bị phân biệt, kỳ thị giới tính?

Hỏi: Câu hỏi của con có liên quan tới vấn đề đồng tính và con chưa được nghe Thầy đề cập đến hoặc giải đáp về vấn đề này. Vì vậy con tự nói với chính mình rằng: ‘‘Những hạt giống đồng tính trong mình bị tưới tẩm trở lại. Mình phải làm gì với nó hay mình chỉ ngồi và thở với nó?’’ Con thấy rằng con đã sống như vậy trong suốt cuộc đời của con. Con cũng ý thức rằng những hạt giống trong những người đồng tính luyến ái đã bị tưới tẩm trong suốt cuộc đời của họ, bởi vì họ không được công nhận. 

Con là người mới đối với cộng đồng này và với truyền thống tu tập này. Con đến đây để tìm sự khuây khỏa cho tâm hồn và học hỏi thêm từ Tăng thân, nhưng những hạt giống khổ đau trong con bị tưới tẩm như bất cứ nơi nào khác trong cuộc đời con vì con thấy trong buổi vấn đáp hôm nay con không thấy có người đồng tính nào hỏi và chia sẻ về vấn đề này. Con rất ngạc nhiên. Con ở đây đã một tuần rưỡi của khóa tu, nhưng con chưa bao giờ nghe Thầy đề cập đến vấn đề đồng tính và con cảm thấy rất khó chịu, con phải ôm nỗi khổ đó một mình.

Thầy trả lời: Đám mây là đám mây. Nhìn sâu vào bản tính của đám mây, ta thấy được vũ trụ. Cũng như một đóa hoa, nếu nhìn sâu vào bản chất của đóa hoa, ta thấy được cả thiên hà đại địa. Mọi vật đều có vị trí của nó. Bản chất của mọi sự mọi vật là vô ngã, tương tức. Khi nhìn vào biển cả, quý vị thấy có nhiều con sóng khác nhau – hình dáng và tầm cỡ của mỗi con sóng đều khác, nhưng tính chất của các con sóng là nước. Nếu quý vị biểu hiện như là một người đồng tính luyến ái thì tuy sự biểu hiện của quý vị và tôi có khác, nhưng bản chất của chúng ta là một. Nhà thần học đạo Tin Lành tên là Paul Tillich có nói rằng Thượng Đế là nền tảng của hiện hữu. Quý vị phải là quý vị. Nếu Thượng Đế đã tạo ra tôi là hoa hồng, thì tôi phải chấp nhận tôi là hoa hồng và liên hệ của tôi với Thượng Đế sẽ là với Thượng Đế của hoa hồng. Nếu quý vị sinh ra là một người nữ đồng tính luyến ái, thì quý vị hãy chấp nhận mình là người nữ đồng tính luyến ái và sự liên hệ của quý vị với Thượng Đế sẽ là Thượng Đế của giới đồng tính luyến ái. Qua quá trình thực tập nhìn sâu, quý vị thấy rằng một khi đã tiếp xúc được với bản tính chân thực của mình, thì bao nhiêu lo buồn, sợ hãi sẽ tan biến và quý vị sẽ chạm tới được trạng thái bình an và tự do thật sự.

Nếu quý vị là nạn nhân của sự phân biệt, kỳ thị, thì con đường đi tới giải thoát không phải chỉ có than khóc về sự bất công và sự bất công ấy không thể được hồi phục bằng sự công nhận của mọi người, mà chính nhờ khả năng tiếp xúc được với bản chất đích thực của chính mình. Tôi có kinh nghiệm rất sâu sắc về điều này. Sự kỳ thị, sự thiếu bao dung, độ lượng và sự đàn áp là do tri giác sai lầm, thiếu hiểu biết, thiếu từ bi đưa tới. Nếu quý vị có khả năng tiếp xúc được với bản chất đích thực của mình, thì quý vị có thể tự giải phóng mình ra khỏi vũng lầy của khổ đau, của sự phân biệt, kỳ thị và đàn áp.

Có lẽ quý vị bị đàn áp, kỳ thị do sự khác biệt về màu da hoặc chủng tộc hoặc giới tính, và người ta kỳ thị, đàn áp quý vị là vì họ chưa hiểu được mình, chưa có cái thấy đúng như pháp, cái thấy sai lạc đó danh chuyên môn trong đạo Bụt gọi là vô minh – không có trí tuệ. Người đó không thấy được cái bản chất đích thực của người đó và không nhận ra được rằng tất cả chúng ta đều phát xuất từ một bản chất. Vì vậy cho nên người đó mới kỳ thị và đàn áp mình. Những người thiếu trí tuệ (vô minh) nên mới thường sinh tâm kỳ thị và họ làm cho người khác đau khổ; họ cũng là những người không có hạnh phúc trong lòng, cũng đang đau khổ cực kỳ.

Tuy quý vị là nạn nhân của sự kỳ thị, của sự bất công, nhưng nếu quý vị có khả năng tiếp xúc được với bản chất chân thực của mình – bản chất của không sinh không diệt, không một không khác…, thì quý vị là người có trí tuệ, có từ bi và có thể nói với Thượng Đế rằng: ”Thượng Đế ơi! Xin Ngài tha thứ cho họ vì họ không biết là họ đang làm gì. Vì vô minh nên họ đã sinh tâm kỳ thị và phạm nhiều lầm lỗi như thế. Xin Ngài thương xót họ, tha thứ cho họ.” Mỗi khi đã chạm tới được bản tính không sinh không diệt, không một không khác, bản tính tương tức, vô ngã của chính mình thì quý vị sẽ được trang bị bằng chất liệu của hiểu biết; chất liệu của hiểu biết làm phát khởi chất liệu thương yêu và quý vị có thể tha thứ, bao dung được những người đang làm khổ quý vị, đàn áp và kỳ thị quý vị.

Nếu quý vị bị kỳ thị, thì chớ ngây thơ nghĩ rằng xã hội sẽ làm sáng tỏ sự bất công cho mình và trả lại sự công bằng cho mình. Giải thoát chân thực tùy thuộc vào khả năng nhìn sâu của mình, chứ không phải tùy thuộc vào các điều kiện ở bên ngoài (ngoại cảnh). Một khi đã chạm tới được chiều sâu của bản chất không sinh không diệt, không một không khác của mình thì quý vị sẽ được tự do, giải thoát. Lúc ấy quý vị sẽ có khả năng ôm lấy tất cả và giúp đỡ những người hoặc những nhóm người đã có cái nhìn sai lạc về chính họ và về mình, kỳ thị mình mà không một lời oán trách, thù hận.

Cố nhiên khi quý vị đau khổ vì cảm thấy mình là đối tượng của sự kỳ thị thì trong lòng luôn luôn có sự thôi thúc muốn nói ra sự bất công ấy. Nhưng dù có bỏ ra một ngàn năm để nói lên sự bất công, thì niềm đau nỗi khổ của quý vị vẫn chưa chắc được giải tỏa hoàn toàn. Chỉ có sự hiểu biết thâm sâu và tự do khỏi vòng vô minh thì nỗi khổ của quý vị mới có thể được chuyển hoá hoàn toàn và đạt tới giải thoát.

Chúng tôi đã đau khổ rất nhiều trong cuộc chiến Việt Nam. Nếu nhìn kỹ lại về cái bản chất của chiến tranh, quý vị sẽ thấy rằng giá trị mạng sống của người dân Việt Nam không là gì so với mạng sống của một người lính Mỹ. Khi người phi công Mỹ nhận lệnh thả bom vào một vùng quan trọng nào đó mà họ cho là có kẻ địch, người phi công đó đã mường tượng được cái gì sẽ xảy ra sau khi anh ta thả bom. Tuy nhiên, anh ta không cần phải quan tâm đến điều đó vì nhiệm vụ của anh là thả bom, chỉ có thế. Anh phải phục tùng mệnh lệnh. Đối với những người ra lệnh thả bom, thì hàng ngàn, hàng triệu sinh mạng vô tội ở dưới những vùng ấy không có giá trị gì cả. Họ chỉ muốn đạt được mục tiêu. Đương đầu với nỗi khổ lớn lao như vậy thì tiếng nói nào có thể làm vơi được nỗi khổ của quý vị?

Khi quý vị thấy được sự thật và chọc thủng được nó, thì tình thương sẽ tuôn chảy như dòng suối mát. Với tình thương ấy, quý vị có thể ôm lấy được những người đã làm khổ quý vị, đã kỳ thị, đàn áp và khủng bố quý vị. Khi trái tim của quý vị được thúc đẩy bởi ước muốn giúp đỡ những người đã và đang là nạn nhân của sự vô minh, thì lúc ấy quý vị mới thật sự thoát ra khỏi nỗi khổ và cảm giác bị xúc phạm của quý vị. Đó là sự khuyên nhủ của tôi. Đừng trông đợi nơi sự thay đổi của hoàn cảnh bên ngoài. Đừng nghĩ rằng phải lên tiếng kêu gọi công bằng tháng này qua năm nọ thì niềm đau nỗi khổ của mình sẽ được thuyên giảm, giãi bày và chuyển hóa. Không đâu! Quý vị phải thực tập nhìn sâu để tự cởi trói chính mình, hoàn cảnh thuận lợi bên ngoài chỉ là điều kiện phụ trợ. Thực tập nhìn sâu, quý vị sẽ chế tác và trang bị cho mình bằng chất liệu hiểu biết và thương yêu – loại năng lượng có khả năng chuyển hóa tình trạng của sự kỳ thị và bất công. Quý vị phải trở thành một con người có trí tuệ và từ bi, một đại trượng phu, một người có thể thể hiện được năng lượng của sự bao dung, hiểu biết và thương yêu. Quý vị chuyển hóa tự thân thành pháp khí để có khả năng chuyển đổi tình trạng xã hội và tâm thức cộng đồng của nhân loại.

Phước đức lớn nhất

Hỏi: Chúng con không nghe Thầy nhắc đến tầm quan trọng của sự tích lũy phước đức trong đời hiện tại hoặc tránh tạo ra những nghiệp xấu ác; sự thực tập này có liên hệ tốt xấu như thế nào đối với vấn đề tái sinh trong tương lai. Với tuổi của con, con không biết là mình có nên cố gắng tích lũy phước đức bằng cách thực tập “an trú trong hiện tại” thêm gấp đôi hay không, nghĩa là con có nên khẩn trương thực tập tích lũy phước đức càng nhiều càng tốt để được tái sanh về hướng an lành trong tương lai hay không?

Thầy: Khi quý vị thực tập thở vào, thở ra, an tịnh thân tâm và mỉm cười là quý vị đang tích lũy được rất nhiều phước đức. Quý vị trở nên một người có hạnh phúc. Tự thân của quý vị tỏa ra được phong thái của một người tự do, thanh thản, nhẹ nhàng và hạnh phúc. Cho dù quý vị không cố gắng làm cho những người chung quanh mình hạnh phúc, nhưng họ vẫn cảm thấy hạnh phúc được sống gần gũi với quý vị. Quý vị cũng làm cho ông bà, cha mẹ, tổ tiên và con cháu của quý vị được hạnh phúc. Quý vị có thể tích lũy phước đức như thế ngay trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày.

Tái sinh là quá trình xảy ra trong từng giây từng phút, trong từng sát na của sự sống. Chúng ta chết đi và sinh ra trở lại trong từng phút giây. Có thể quý vị nghĩ rằng mình đã già, kỳ thực quý vị còn trẻ lắm; quý vị vừa mới sinh ra. Khi nhìn vào chính mình, tôi không cần phải hỏi là sau khi chết tôi sẽ như thế nào? Tôi sẽ đi về đâu? Tôi sẽ sinh ra, sẽ tái sinh dưới hình thức nào? Bởi vì bằng sự quán chiếu sâu sắc trong giây phút hiện tại, tôi thấy tôi đã tái sinh dưới muôn ngàn hình thức của sự sống. Nhìn vào đại chúng, quý vị sẽ thấy sự có mặt của tôi trong các thầy, các sư cô, sư chú, các đệ tử cư sĩ, và có mặt luôn trong từng cọng cây ngọn cỏ… Tôi đã tái sinh trong mỗi quý vị. Quý vị là sự tiếp nối của tôi. Tôi đang có mặt trong từng tế bào cơ thể quý vị đứng về phương diện trí tuệ, tình thương và tâm linh. Tôi là quý vị, quý vị là tôi. Tôi không cần phải chết đi mới bắt đầu tái sinh. Trong giây phút này đây, tôi không cần vội vàng, khẩn trương để thực tập tích lũy phước đức.

Có người nói với tôi rằng: “nếu ba năm đầu làm sa di của Thầy thành công, thì Thầy có thể trở thành một người hạnh phúc trong suốt đời tu”. Điều này rất đúng đối với trường hợp của tôi. Phước đức lớn nhất mà mình có thể thực hiện được là đừng bao giờ nghĩ tới chuyện tích lũy nó. Quý vị chỉ cần sống đời sống của mình cho thật chánh niệm, sâu sắc, vun trồng tình thương mỗi ngày, thì hạnh phúc sẽ đến với quý vị liền lập tức ngay trong phút giây của sự thực tập.

Đức Thế Tôn có dạy: ‘‘Giáo lý của ta nói ra mầu nhiệm, đẹp đẽ ở chặng đầu, ở chặng giữa và ở chặng cuối.’’ Điều này có nghĩa là quý vị không cần phải thực tập mười năm, hai mươi năm hay ba, bốn mươi năm sau mới có kết quả. Đức Thế Tôn có nói: ‘‘Giáo pháp của ta có tính cách vượt thoát thời gian (akalika); là giáo pháp hiện pháp lạc trú – nghĩa là những lời dạy nếu đem ra thực tập đúng mức thì quý vị có thể đạt tới an lạc, hạnh phúc và giải thoát ngay trong kiếp sống hiện tại. Giây phút mà quý vị bắt đầu thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười, là quý vị nếm được an lạc, giải thoát và hạnh phúc ngay trong sự thực tập, chứ không phải là vấn đề thời gian, năm tháng.’’

Trong khi thực tập, ta chỉ cần thực tập, sống với pháp lạc, không khởi tâm mong cầu phước đức thì phước đức tự khắc được tích lũy. Sự thật là tôi đã tái sinh trong rất nhiều hình tướng khác nhau mà có thể quý vị chưa nhận ra. Quý vị nghĩ rằng tôi đang ngồi đây với cái thân tướng có chiều cao một thước mấy này, lớn cỡ chừng này là quý vị lầm rồi. Tôi đang biểu hiện khắp mọi nơi và trong nhiều hình thức khác nhau ngay trong giây phút này. Chúng ta phải tập nhìn để thấy sự thật mầu nhiều của thực tại, của thế giới không sinh không diệt, không một không khác, không đến không đi… mà đừng để bị đánh lừa bởi tri giác sai lầm, bởi các tướng trạng bên ngoài. Trong kinh Bụt có nói rằng chỗ nào còn có tướng là chỗ đó còn có sự lường gạt. Chúng ta phải tu tập và quán chiếu để đạt tới cái thấy vô tướng.

(Trích từ tác phẩm “Hơi thở nuôi dưỡng, Hơi thở trị liệu” – Sư Ông Làng Mai)

Kệ truyền đăng năm 2018

Trong khóa tu xuất sĩ với chủ đề “Còn nhau ta còn tương lai” tại Làng Mai, Pháp, từ ngày 26.02 đến ngày 8.3.2018 đã diễn ra lễ truyền đăng cho 27 vị tân giáo thọ. Dưới đây là những bài kệ truyền đăng mà tăng thân thay mặt Sư Ông Làng Mai trao cho các vị tân giáo thọ.

1.  Thầy Thích Chân Nguyên Tịnh
Thế danh:  Trần Hiếu Quang
Pháp danh: Quảng Huy

Căn nguyên lục giác thể đồng quang
Ngũ uẩn hành thâm tịnh thế gian
Chân vọng tùy tâm y tha khởi
Viên thành thật tánh tự an ban.

2. Thầy Thích Chân Pháp Diên
Thế danh: Thái Anh Tuấn
Pháp danh: Tâm Đăng Tú

Cổ pháp vang rền hội diên khai
Bến xưa, quê cũ dựng lâu đài
Quân vương hạ chiếu thi lục độ
Cứu hết trần gian, cứu muôn loài.

            
3. Thầy Thích Chân Pháp Chất
Thế danh: Lê Văn Khanh
Pháp danh: Tâm Nhuận Dụng

Pháp trong cõi bụt hằng sa
Siêng năng chất phác cũng là thệ xưa
Sớm hôm tinh tấn hương đưa
Quán sâu một pháp cũng vừa độ sanh.

4. Thầy Thích Chân Pháp Kính
Thế danh: Bùi Đức Tân
Pháp danh: Tâm Giác Minh

Vạn pháp quay về nương một pháp
Chiếu soi rạng rỡ kính Chân Như
Trăng khuya vằng vặc trời phương ngoại
Rộng nẻo đi về nguyện hà sa.

5. Thầy Thích Chân Pháp Ẩn
Thế danh: Phan Viết Khoa
Pháp danh: Tâm Liên Khiêm

Pháp Bụt ẩn sâu lý nhiệm mầu
Văn tư cần sách thật bền lâu
Mỗi đường kim chỉ đều nuôi dưỡng
Ơn thầy nghĩa bạn quả thánh cầu.

 
6. Thầy Thích Chân Pháp Đại
Thế danh: Nguyễn Quang Nhật
Pháp danh: Tâm Liên Nhẫn

Pháp hoa phương tiện đại thừa
Rồng dâng châu ngọc trời mưa Mạn thù
Bao năm xuân hạ công phu
Sen vàng đỡ gót vân du độ đời.

7. Thầy Thích Chân Pháp Côn
Thế danh: Phan Đặng Duy Thuật
Pháp danh: Tâm Liên Thành

Pháp lành soi sáng ngọc côn sơn
Sạch hết bao nhiêu kiếp tủi hờn
Chuyên tâm học hỏi tỳ ni pháp
Chánh kiến nhìn sâu rõ giả chơn.

 
8. Thầy Thích Chân Pháp Biểu
Thế danh: Matino Toneri
Pháp danh: Peaceful Artist of the Heart

Phápbiểu hiện từ tâm
Cảnh kia đẹp đẽ do chăm đúng thời
Uy nghi đĩnh đạc gọi mời
Độ người khắp chốn thảnh thơi độ mình.

9. Thầy Thích Chân Pháp Lịch
Thế danh: Cao Văn Bình
Pháp danh: Tâm Liên Trung

Rỗng rang giới định nghiêm thân
Pháp sâu hiển lộ trong ngần nước trăng
Công phu trác lịch thâm ân
Bi hoa viên mãn thuyền giăng biển ngoài.

 
10. Sư cô Thích Nữ Chân Lưu Nghiêm
Thế danh: Nguyễn Thị Bích Chi
Pháp danh: Phước Ngàn

Pháp giới thanh tịnh ngọc lưu ly
Nghiêm hành chân niệm thấy chân tâm
Bài hát bản môn tuôn bất tuyệt
Vườn xưa đào lý gảy cung cầm.

11. Sư cô Thích Nữ Chân Lữ  Nghiêm
Thế danh: Nguyễn Thị Duyên
Pháp danh: Tâm Thanh Đạo

Chân thật vun bồi một đức tin
Bạn lữ xây nên đại địa nghiêm
Không gian mở rộng khung trời mới
Lối về soi chiếu mảnh đất thiêng.

 
12. Sư cô Thích Nữ Chân Phượng Nghiêm
Thế danh: Nguyễn Thị Thu Hiền
Pháp danh: Tâm Nhật Tưởng

Phượng hoàng tái sinh từ lửa đỏ
Không đến không đi chẳng bận lòng
Nghiêm trang chào đón vầng nhật nguyệt
Từ bi tiếp độ khắp non sông.

 
13. Sư cô Thích Nữ Chân Giản Nghiêm
Thế danh: Trần Thị Mỹ Hòa
Pháp danh: Tâm Duyên Lai

Giản tuyển muôn hạnh thể dung thông
Nhật dụng công phu nghiêm tự lòng
Vườn thiền tuệ giác vừa khởi sắc
Quê cũ sen hồng đã đơm bông.

 
14. Sư cô Thích Nữ Chân Chỉnh Nghiêm
Thế danh: Lê Thị Thắm
Pháp danh: Tâm Nhuận Hồng

Chỉnh trang dạo bước trời phương ngoại
Nghiêm trì lĩnh hội ý tăng thân
Nụ cười tỏa chiếu hồn thơ trẻ
Mỗi bước đi về bụt hiện thân.

15. Sư cô Thích Nữ Chân Kiên Nghiêm
Thế danh: Nguyễn Thị Diệu Trang
Pháp danh: Tâm Quảng Nghiêm

Kiên tâm tiến bước đường muôn lối
Tình thương soi rõ hướng đi về
Trang nghiêm cười nói trong hoà ái
Đuốc tuệ rạng ngời thoát bến mê.

 
16. Sư cô Thích Nữ Chân Cao Nghiêm
Thế danh: Trần Thị Thanh
Pháp danh: Tâm Hạnh Ân

Tâm cao tầng thượng giới
Thân nghiêm đại địa an
Một sáng về vô tận
Nguyện tung cánh đại bàng.

17. Sư cô Thích Nữ Chân Ưu Nghiêm
Thế danh: Trần Thị Quốc Thái
Pháp danh: Tâm Phước Đạt
Cùng chị em sum họp vui vầy

Mở rộng tấm lòng quyết dựng xây

Tối thắng hạnh chính là ưu hạnh

Chốn tùng lâm một cõi tịnh nghiêm.

 
18. Sư cô Thích Nữ Chân Xương Nghiêm
Thế danh: Nguyễn Thị Thương
Pháp danh: Tâm Thanh Đức

Tông môn pháp bảo mãi xương long
Gia nghiệp giữ nghiêm tại cõi lòng
Hải triều vang vọng từng giây phút
Nguyện ước lên đường bước thong dong.

 
19. Sư cô Thích Nữ Chân Kiệt Nghiêm
Thế danh: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Pháp danh: Thánh Hiếu Ngộ

Một bước kiệt xuất sen hồng nở
Một lời nghiêm nhẹ thấu sơ tâm
Muôn phương quy tụ bên rừng tía
Tấu khúc vô sinh sáng đạo thiền.

 
20. Sư cô Thích Nữ Chân Vượng Nghiêm
Thế danh: Trần Thị Hiếu
Pháp danh: Tâm Ngọc Hạnh

Trên đỉnh linh sơn còn thịnh vượng
Bước chân chánh niệm vẫn nghiêm soi
Ngày đêm an trú trong địa xúc
Hạt giống trồng gieo hé miệng cười.

 
21. Sư cô Thích Nữ Chân Chiêu Nghiêm
Thế danh: Đặng Thị Yến
Pháp danh: Tâm Liên Thanh

Một lòng khiêm hạ thoả chiêu minh
Nghiêm xây cõi Bụt khắp mọi miền
Một sớm vang ca lời diệu pháp
Tuổi trăng tuổi núi nhập chân nguyên.

 
22. Sư cô Thích Nữ Chân Sứ Nghiêm
Thế danh: Cudorge Dupuis Chloe
Pháp danh: L’amour vivant du coeur

Offrir le Dharma véritable est notre mission
Qui embellit les montagnes et les rivières
En foulant l’herbe ornée de rosée, à l’aube
Notre coeur s’épanouit et embrasse le monde entier.

 

23. Sư cô Thích Nữ Chân Phú Nghiêm
Thế danh: Trần Thị Thu Hằng
Pháp danh: Tâm Nghiêm Vĩnh

Đại ý thiền môn thiên phú quý
Rạng rỡ trang nghiêm hợp quần uy
Cất bước dạo chơi hoa đàm nở
Bảo bối cầm tay vượt thịnh suy.

 
24. Sư cô Thích Nữ Chân Chuẩn Nghiêm
Thế danh: Phạm Thị Lập
Pháp danh: Tâm Liên Hòa

Nhẹ nhàng và chuẩn mực
Ân cần từng nụ hoa
Nghiêm trang bồi giới đức
Tịnh độ có đâu xa.

 
25. Sư cô Thích Nữ Chân  Chuyên Nghiêm
Thế danh: Lê Hồng Nguyễn
Pháp danh: Tâm Phước Hải

Chuyên tâm vun xới đức từ hòa
Nếp học nghiêm thông dưỡng khiêm cung
Một sáng trần gian lên tiếng gọi
Lối cũ quay về rạng tổ tông.

 
26. Sư cô Thích Nữ Chân Trì Nghiêm
Thế danh: Gabrille Dyce
Pháp danh: Tâm Vững Tỉnh – Steady Awareness of the Heart

Holding the heritage of both ancestral lines
Our Pure Land is already adorned
Firmly rooted, fearlessly embracing our true nature
Freely offering joy and healing without discrimination.

27. Sư cô Thích Nữ Chân Sinh Nghiêm
Thế danh: Phan Tố Loan
Pháp danh: Tâm Từ Hòa

Tâm bồ đề dũng liệt
Nguồn sinh khí vô biên
Nghiêm thân thủ hộ ý
Tịnh độ chính là đây.

 

 

 

 

Nhìn lá nghe mưa

(Chân Văn Nghiêm)

Trạm Tịch ngày ni

Con đang ngồi bên góc nhỏ trong phòng tại ni xá Trạm Tịch. Trạm Tịch ẩn mình dưới một ngọn đồi với những con đường quanh co bao bọc cây xanh. Nơi đây sáng chiều vang vọng tiếng đại hồng và lời kinh thân quen. Con thương cảnh núi đồi và tình sư chị, sư em sum vầy bên nhau cùng học, cùng tu nên con thường gọi đùa đây là Phương Bối Am.

Phương Bối trong lòng con bây giờ đông vui hơn, Phương Bối không có nhà rông mà thay vào đó là thiền đường lộng gió lá bay. Ngồi trong thiền đường nhìn ra lá xanh vây quanh như đang ở trong nhà sàn giữa rừng vậy đó. Ngồi đây con thấy rừng cây như che chở, nâng đỡ chúng con và thấy mình thật gần với thiên nhiên. Mỗi ngày tiếng kinh vọng về với núi đồi rồi thấm vào lòng chúng con. Con như nghe rõ lời dặn dò của Thầy: “Về Việt Nam nhớ nhìn lá và nghe mưa cho Thầy”. Để rồi mỗi khi ngồi thật yên trong lòng tăng thân con cảm nhận rõ tăng thân chính là nhà, là nơi cho con trở về. Nơi đó có lời nói chân thành từ đời sống của Bụt, Tổ, được Thầy làm mới lại thành ngôn ngữ sao mà gần gũi như những cơn mưa mỗi ngày tưới tẩm hạt giống Bồ đề, đi vào tâm hồn chúng con và mọi loài nơi đây. Con thấy mình được nuôi sống bằng một nguồn thực phẩm lành mạnh, bằng những lời hay ý đẹp như gột rửa những muộn phiền qua lời kinh bình dị và được tắm mát bằng những giọt nước thanh lương. Tự nhiên con reo lên khi chạm vào sự thật trong câu nhạc kinh “… những cơn mưa pháp tắm mát những mảnh vườn nóng bức, khô cằn…” trong ngày giỗ Sư Tổ Khương Tăng Hội.

Ngày mới đến, không khí nơi đây thật lạnh lẽo và u tịch, cho nên mới gọi là Trạm Tịch, bởi cái âm u và hoang sơ của núi đồi như thiếu nắng, thiếu mưa… Vậy rồi Trạm Tịch trở mình với lời kinh khuya sớm, với tiếng nói cười hồn nhiên, với tấm lòng trẻ ham tu, ham học… Trạm Tịch thay áo mới, cây cối và cảnh quang không còn âm u nữa mà hơi ấm tình người và bếp lửa tình huynh đệ đã làm cho nơi đây thân quen và gần gũi hơn. Con ngồi yên, đôi mắt chạm vào bụi chuối, rặng tre trước mặt và bắt gặp ánh mắt Thầy giữa lòng quê hương. Con chợt nhớ bài học yêu quê hương những ngày còn bé:

“Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ

‘Ai bảo chăn trâu là khổ’

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao.”

(Quê hương _ Giang Nam)

Yêu cái chân thật và sự sống

Thế rồi con lớn lên, rồi đi tu. Tháng năm sống trong chùa đã cho con một tình yêu mới, yêu những điều bình dị trong cuộc sống hằng ngày, yêu lời kinh tiếng kệ, yêu cây cối quanh mình, yêu con đường đất đỏ, yêu nải chuối, vườn rau… yêu cái chân thật và sự sống. Bao năm xa quê, con ngập ngừng khi trở về quê hương. Cũng bờ rau muống, bụi chuối, lũy tre… mà sao bây giờ cái gì cũng thật mới mẻ nhỉ? À! Thế ra quê hương có liên hệ với mình nhiều lắm, và trong mình có một quê hương thực thụ mà càng tu học mình như được trở về sống và ngắm nhìn quê hương thật rõ qua đôi mắt ý thức cùng lời ca câu hát:

“Quê hương là chùm khế ngọt

Cho con trèo hái mỗi ngày

Quê hương là đường đi học

Con về rợp bướm vàng bay

Quê hương là con diều biếc

Tuổi thơ con thả trên đồng

Quê hương là con đò nhỏ

Êm đềm khua nước ven sông

Quê hương là cầu tre nhỏ

Mẹ về nón lá nghiêng che

Quê hương là đêm trăng tỏ

Hoa cau rụng trắng ngoài thềm…”

(Quê hương_Đỗ Trung Quân)

Bài hát quê hương đã vọng về trong con từ ngày con ở Trạm Tịch. Cứ sáng sớm tinh mơ, mở cửa bước ra khỏi phòng là con cảm nhận được mùi hương tinh khiết của đất trời thật mát mẻ, tinh khôi. Con như cảm nhận sự may mắn của người tu khi được sống với bài kệ:

“Mở cửa nhìn pháp thân

Đời mầu nhiệm không cùng

Lòng dặn lòng tỉnh thức

Dòng nước tâm trong ngần.”

(Mở cửa_Thi kệ Nhật dụng)

Con chợt nhận ra pháp thân của đất trời bao la, hùng tráng và linh thiêng. Và con chỉ cần thả mình trong bước chân nhẹ nhàng men theo lối nhỏ lên đến thiền đường, nơi yêu thương mà con gọi đùa là điểm hẹn của tình huynh đệ, chắp tay xá chào Bụt bằng tấm lòng của một người con thương kính cha trong ngôi nhà tâm linh thân thương, rồi nhẹ nhàng ngồi xuống bên các sư chị, sư em mình, để cảm nhận sự sống trong mình và đất trời gặp nhau.

Học đến gần với mình hơn

Để rồi trong cái yên lặng của ban mai, con thích được cảm nhận rõ ràng hơi thở của mình qua bài kệ hô canh buổi sáng:

“Pháp thân tỏa sáng buổi ban mai

Tĩnh tọa lòng an miệng mỉm cười

Ngày mới nguyện đi trong tỉnh thức

Mặt trời trí tuệ rạng muôn nơi.”

Pháp thân là điều gì đó thật mầu nhiệm mà con học hoài vẫn thấy mới mẻ, nhưng cảm nhận như mỗi ngày thấy mình được đến gần với chính mình hơn thì phải. Chỉ bốn câu kệ ngắn thôi mà học mười năm rồi con vẫn thấy không đủ thiếu vào đâu cả. Có những hôm trời mưa, nước mưa hắt vào thiền đường, tiếng lá cây xào xạc, mở mắt ra nhìn mưa và thấy lá rơi rơi thiệt đẹp. Con như cảm nhận rõ hơn vì sao Thầy gọi thiền đường là Hiên Nghe Mưa. Những cơn mưa pháp của đất trời và những cơn mưa pháp theo tiếng mõ và nhịp thở của chúng con đan quyện vào nhau làm nên những hạt mưa xuân trên quê hương thân yêu:

“Mưa xuân nhẹ hạt đất tâm ướt

Hạt đậu năm xưa hé miệng cười

Người đã tới thăm, trăng một túi

Lá tía tô gọi hạt mồng tơi

Rậm lục thưa hồng chuông gợi bước

Chân hôn mặt đất mắt ôm trời…”

(Cúc cu đúng hẹn _ Sư Ông Làng Mai)

Con mỉm cười nhận ra tín hiệu của mùa xuân đang đến trong cơn mưa nhẹ hạt và những chồi non vươn mình đón nắng ấm ban mai. Bước ra khỏi thiền đường, lòng nhẹ tênh trong nắng sớm, bắt gặp sự mới tinh đầu ngày của mình và cỏ cây hoa lá. Thả những bước chân thân quen ra vườn rau, Trạm Tịch sau những ngày dọn dẹp, chuyển chúng lại bắt đầu thấy những luống cải mầm xanh non đang lên. Trăng treo trên nền trời trong veo như ngọn đèn ấm áp dọi xuống mái hiên ni xá, quây quần sư chị sư em ngồi trò chuyện bên nhau. Thi thoảng tiếng chuông, nhịp mõ, lời kinh vọng lại vào những hôm làm biếng, nghỉ công phu, làm cho nơi đây như đẹp hơn bởi tấm lòng ham tu của các sư em nhỏ. Con thấy như cái ngày ấy trở về qua câu thư pháp nhỏ có nét chữ của Thầy mà sư em con tặng: “Lòng hôm ấy sẽ là lòng muôn thuở”. Bây giờ con như thấy Thầy đang cười và nheo mắt đọc cho chúng con câu thơ năm nào: “…Người đã tới thăm, trăng một túi. Lá tía tô gọi hạt mồng tơi…”

Học nghe mưa

Chúng con luôn thấy bóng hình Thầy trong lời thơ tiếng hát và những câu chữ hay chiếc lá, nụ hoa… Và con thấy có những bài hát con nghe nhiều lần, nhưng bất giác có một ngày câu hát chui tọt vào tâm thức con và ở đó nhắc nhở cho sự tu học và dõi theo con từng ngày. Bây giờ con mới thấm lời Thầy dạy: “Tụng kinh là để lời kinh đi vào mà không phải chỉ tụng cho hay, và một ngày nào đó mình sẽ thấy lời kinh đi ra giúp mình sống với lời kinh và phải luôn tự hỏi rằng những giáo lý thậm thâm vi diệu ấy có ảnh hưởng như thế nào tới hạnh phúc và khổ đau của chính mình?” Và con nghiệm ra rằng, nghe mưa cũng vậy.

Ngày xưa con nghe mưa là tự nhiên nỗi buồn đi theo. Bây giờ con nghe mưa thật bình an không còn những suy tư buồn đau vây quanh. Một cảm giác tự do của tâm thật rõ ràng và chân thật. Con biết mình không nên níu giữ kỷ niệm hay bị tác động bởi một cảm thọ buồn vu vơ không có thật trong con. Con nghe mưa như đang nghe tiếng hát của đất trời, tiếng nói thân thương của một người bạn. Và khi con nghe mưa bình an cũng là lúc con tập nghe kinh bình an, không thêm bớt một cảm thọ, một tri giác nào cả, chỉ có mặt cho hơi thở và lời kinh.

Học nhìn lá

Thưa Thầy, mỗi lần nghe bài hát Cúc cu đúng hẹn con lại thấy những ngày bình minh lên trên ngọn đồi xóm Mới, hình ảnh thầy trò bên nhau leo lên đồi mận, ngồi yên nhìn xuống xóm Mới thiệt đẹp. Và một ngày, khi nghe tiếng chim cúc cu, Thầy dừng lại như nghe tiếng chuông và thưởng thức nắng ấm đầu xuân. Và bấy giờ con như hiểu thêm lời thơ “Rậm lục thưa hồng chuông gợi bước. Chân hôn mặt đất mắt ôm trời” là một hình ảnh rất đẹp và khí khái của người tu. Hình ảnh đó luôn nuôi dưỡng sự thực tập của con mỗi ngày. Để rồi mỗi ngày con tập nhìn lá, nhìn sự sống và sinh hoạt trong tu viện bằng đôi mắt mới và nghe những giọt mưa tí tách rơi trên hiên nhà, trong sân chùa và trong lòng mình. Con nhận ra sau hơn mười năm đi tu, bây giờ con như mới tập tễnh vào chùa để cảm nhận rõ hơn những điều rất thật:

“Tình yêu non nước về trên lá

Nhân loại mừng vui rộn nẻo đường

Hoa lòng trời đất vô cùng nhỉ

Mỗi một mùa xuân lại nhả hương.”

(Đường quê_Sư Ông Làng Mai)

Đó là những câu thơ Thầy đọc cho con nghe vào một buổi sáng con ngồi đưa võng cho Thầy bên lũy tre ở Sơn Cốc. Đôi mắt Thầy nhìn lên tán lá tre như thầm nhủ: “Lại một mùa xuân nữa xa quê!” Con nhớ đó là những ngày giáp Tết, mọi người về Làng an cư mỗi năm một đông hơn, nhất là những năm Thầy bắt đầu bệnh. Tại Sơn Cốc, tiếng võng hòa cùng tiếng kẽo kẹt của bụi tre nghe thật gần với quê nhà. Hai thầy trò ngồi yên lặng bên nhau nghe tiếng hát của lá, tiếng suối róc rách và ánh nắng xuyên qua những tán lá rơi xuống trên vai, trên áo Thầy, cùng nụ cười thầm lặng trong câu thơ “Hoa lòng trời đất vô cùng nhỉ?”như treo lơ lửng trong hư không rồi đọng lại trên tán lá để “mỗi một mùa xuân lại nhả hương”.

Thầy nhìn rất lâu vào màu xanh của lá như đang cảm nhận sự sống thực thụ của quê nhà trên đất Pháp. Dừng lại một giây trên lá mà quê hương như hiện về thật rõ, cho nên mỗi lần Thầy đưa tay cầm chiếc lá và nhìn vào nó là con thấy như sự sống về trong ánh mắt trìu mến ấy. Con thấy có những điều kỳ diệu trong chiếc lá mà lâu nay con không hay, và chắc trong con cũng có nhiều điều mà con chưa biết rõ về bản thân mình. Cả quê hương, ba mẹ và bạn bè quanh con cũng vậy.

Học xây dựng xứ sở của giây phút hiện tại

Lần này con trở lại quê hương để học lại bài học yêu quê hương qua “bàn tay trên liếp cửa”, qua đôi mắt trầm tĩnh và nụ cười trẻ thơ mà Thầy đã sống. Yêu cả những nét đẹp trong sách vở còn ghi lại trên trang lịch sử hay thời gian đang đi qua, hiện tại phút chốc trở thành quá khứ. Và chúng con đang đi tới tương lai trong bước chân thiền hành cùng tăng thân. Trong dòng chảy của sự sống này, tăng thân là con thuyền mà mỗi thành phần trong tăng thân là một tay chèo trên con thuyền Bát nhã vượt qua những khúc quanh trong lòng mình và trong cuộc đời này. Mầu nhiệm thay những giây phút được chiêm nghiệm hạnh phúc và khổ đau của chính mình trong giây phút hiện tại để vẫn thấy mình thích tu, thích học nghề chuyển hóa, chuyển hóa buồn đau, cơn giận, và học cách làm cho mình bớt khổ. Đi tu, con được học lại nhiều thứ bằng con mắt mới, tình yêu mới, con người mới qua sắc màu quen thuộc và tiếng nói thân thương của Thầy, và đến gần với những lời thơ câu chữ thật đẹp:

“…Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của tổ tông.”

(Nhớ chùa _ Hòa thượng Mãn Giác – hiệu Huyền Không)

Khoá tu xuất sĩ 2018: “Còn nhau ta còn tương lai” (26.02 – 08.03)

Thong dong cùng Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong “Walk with me”

Bộ phim Bước chân an lạc (Walk with me) đã và đang tiếp tục được ra mắt người xem tại thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hà Nội. Trang nhà Làng Mai xin được giới thiệu bài viết cảm nhận về bộ phim của tác giả Bùi Lan Xuân Phượng được đăng tại trang Tuổi trẻ online ngày 09.03.2018.

 

 Cảnh trong phim Bước chân an lạc (Walk with me). Phim đang được công chiếu tại VN – Ảnh: BHD

  

Chậm rãi và thong thả

Trong lời tựa cho sách viết vào năm 2006, Thiền sư Thích Nhất Hạnh ghi rằng: “Hãy tưởng tượng một con đường lên núi theo hình trôn ốc và người leo núi đi rất thảnh thơi, không có cảm tưởng mình đang leo núi, quên rằng mình đang leo núi. Đường có hoa thơm cỏ lạ.

Đến đỉnh núi nhìn xuống mới biết mình đã leo tới đỉnh núi. Khi đi xuống cũng vậy, mình đi theo con đường trôn ốc xuống núi.

Cấu trúc của sách Nẻo về của Ý cũng thế, không thật sự là một cấu trúc nhưng cũng là một cấu trúc. Bốn mươi năm trước tôi đã viết Nẻo về của Ý như thế, không có chút dụng công. Ngòi bút rong chơi nơi chốn núi đồi…”.

Bước chân an lạc (Walk with me) được kể theo cách: Lời dẫn chuyện được lấy ra từ những ngôn từ đắt nhất trong cuốn Nẻo về của Ý, còn bối cảnh và hình ảnh thì điểm xuyết một vài sinh hoạt đời thường và những hoạt động điển hình liên quan đến việc tu tập tại Làng Mai.

Không kịch bản. Không nhân vật chính. Thật quá khó để diễn tả bằng ngôn ngữ phim ảnh, chỉ trong gần 90 phút, toàn bộ tinh thần Làng Mai và cốt tủy Pháp môn của Làng Mai.

Do đó, những ai mong cầu qua bộ phim này sẽ hiểu về cuộc đời và thành tựu của thiền sư Thích Nhất Hạnh thì sẽ thất vọng. Mọi thứ đan xen nhau chậm rãi, thong thả, góp nhặt dưới sự liễu ngộ của chính người làm phim.

Cảnh trong Bước chân an lạc (Walk with me)

Vui sống với lẽ vô thường

Phim có nhiều khung hình cận cảnh, thậm chí đại cận, như đặc tả nhà sư nhìn những con kiến chơi đùa trên các xớ chiếu bông, những con bọ cánh cam chạy đâu đó trên sàn gỗ, hai bàn tay của một vị sư đang để trên bụng cảm nhận nhịp thở, rồi chú rùa, cánh bướm nhiều màu sắc đậu trên một đài hoa khô…

Xem phim có cảm giác như người làm phim chẳng bận tâm công việc, cứ rong chơi, kiểu như xách cái máy quay đi lang thang, thấy cái gì đẹp thì ghi lại, mà ghi lại thật tỉ mẩn và đầy mỹ cảm…

Tất cả những điều này đòi hỏi một trái tim biết thấy những điều nhỏ nhặt vốn dễ bị lãng quên trong đời sống thường nhật.

Tinh thần này chính là điểm cốt lõi trong cuốn Nẻo về của Ý, mà ở đó thiền sư Thích Nhất Hạnh mô tả chi tiết bông hoa, chiếc lá, con châu chấu, cánh bướm…

Tinh thần đó là tinh thần của một đời sống chánh niệm – làm việc gì biết mình đang làm việc đó, biết ta đang rửa chén, biết ta đang nấu ăn; nhìn thật sâu, lắng nghe thật kỹ, thấy mùa đông là sự chuẩn bị cho mùa xuân, thấy sự thay đổi, sự vô thường chính là cuộc sống và vui sống với nó.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong phim

 

Thấy núi như thấy pháp

Sau nhiều đoạn chuyển cảnh khá gắt, cảm giác các cảnh không liên quan gì nhau, cho đến cảnh cuối thì người xem mới cảm ngộ rằng hóa ra Bước chân an lạc có một kết cấu chắc chắn.

Mở đầu phim là lời dẫn chuyện bằng câu hỏi tu từ “…Vẫn biết giận dỗi, vẫn thích được ngợi khen, vẫn sẵn sàng khóc cười. Nhưng ở dưới đáy những cái đó còn có gì nữa? Có hay không? Nếu có, sao ta lôi nó lên không được? Nếu không, sao ta cứ đinh ninh rằng có?”.

Mở ra như thế, rồi bỏ ngỏ, rồi đi lang thang và rủ rê người xem cùng đi với mình – walk with me (Hãy đi cùng tôi). Để rồi kết phim là hình ảnh “Tôi trỗi dậy và ngồi trong tư thế tham thiền suốt đêm đó. Không còn gì hết, chỉ có sự vững chãi và an tĩnh. Tôi ngồi như một trái núi và miệng tôi mỉm cười”.

Cấu trúc như thế thì hóa ra không cấu trúc mà có cấu trúc. Hành trình từ sự hoài nghi không biết đến sự tỉnh thức. Hành trình đó làm gì có cấu trúc, có kế hoạch, có kịch bản?

Cảnh trong Bước chân an lạc (Walk with me)

Trong đạo Phật, hình ảnh trái núi vững chãi được hiểu là cái như như, là sự giác ngộ. Thấy núi như thấy pháp. Nhưng pháp ở đâu? Trong cuốn Người vô sự, tác giả Thích Nhất Hạnh viết: “Cái chứa đựng pháp là tâm của ta”.

Vì lẽ đó, với những ai đang đi tìm sự bình an nội tại, có lẽ thấu cảm Bước chân an lạc dễ dàng hơn.

Những âm thanh vi diệu

Âm thanh là một yếu tố gây ấn tượng mạnh trong Bước chân an lạc. Từ những tiếng động thật trong sinh hoạt thường nhật và tu tập, những cuộc trò chuyện đến tiếng chuông tỉnh thức cứ mỗi 15 phút vang lên để ai đang làm gì cũng phải dừng lại, rồi tiếng chuông đại hồng trong mưa gió, tiếng đàn tiếng hát, tiếng ngâm các bài kệ của tăng thân Làng Mai…

Đặc biệt là những đoạn im lặng, rất im lặng, chỉ có thanh âm của thiên nhiên. Im lặng là âm thanh ở tần số vi tế nhất, mà ở Làng Mai gọi là Im lặng hùng tráng – “Noble Silence”.

Đó là pháp âm. Pháp âm có khả năng làm cho tạp âm, tà âm biến mất. Pháp âm có khả năng giúp con người tỉnh thức và giác ngộ.

Bùi Lan Xuân Phượng

 

 Những bài viết có liên quan:

Tâm tình người tu sĩ

Các sư em thương,

Có một sư em hỏi chị: “Sư cô ơi, sư cô đi tu năm nào, làm sao sư cô giữ vững bồ đề tâm để còn tu và sống trong tăng thân cho tới ngày hôm nay?” Khi nghe sư em hỏi vậy, chị nhìn vào mắt của sư em rồi nói: “À, câu hỏi này rất hay. Chị không chỉ trả lời cho một mình sư em, mà chị dành tâm tình này cho tất cả các sư em trẻ đang mang đầy nhiệt huyết, muốn được tu tập, muốn được chuyển hóa thân tâm, muốn nuôi lớn hoài bão yêu thương để thực hiện ước mơ sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ”.

Chị đến Làng mùa đông năm 1995, tham dự được năm tuần của khóa An cư kiết đông năm ấy. Làng hồi đó còn nghèo, đơn sơ và mộc mạc như làng quê nghèo, chân phương ở Việt Nam vậy. Đời sống của quý sư cô, cũng như các vị thiền sinh đến tu học rất ư là khiêm tốn. Chỗ ngủ chỉ là một tấm ván ép mỏng được kê bằng bốn cục gạch to. Đêm đông sưởi ấm bằng lò củi chứ chưa có sưởi gas, sưởi điện như bây giờ. Ngủ nửa đêm lỡ hết củi là lạnh cóng cả người. Tuy đời sống đơn giản và thiếu thốn như vậy, nhưng khi nhìn quý sư cô trẻ, là sư chị của chị bây giờ, vị nào cũng tươi mát, rạng rỡ niềm tin và đầy hỷ lạc. Và chính bản thân chị cũng được ướp mình trong nguồn năng lượng tươi khỏe, an vui đó.

Mở lối yêu thương

Thời đó chị chưa biết làm thơ. Nhưng đối cảnh, tâm an, chị xúc cảm nên đã ra được một bài thơ. Cho đến bây giờ mỗi khi đọc lại những dòng thơ ấy, chị thấy niềm vui và niềm tin vẫn còn tinh khôi với hai câu cuối của bài thơ:

“Ôi! Tuyệt diệu tình thương Vô ngã,

Đến với tôi tất cả niềm tin.”

Chính hai câu thơ đó là động lực sâu sắc cho chị bước vào tăng thân. Bởi chị thấy được môi trường tu học ở Làng là nơi mà chị đã trông chờ từ lâu. Chị đã gọi về Mỹ xin gia đình cho ở lại Làng tu luôn, nhưng không được sự đồng ý của ba má chị. Thế là chị phải trở về nhà, mang theo nguồn năng lượng an lạc, nhẹ nhàng mà chị đã nuôi dưỡng được trong thời gian tu học ở Làng. Về nhà, chị xin phép gia đình đàng hoàng rồi trở lại Làng xin tập sự và được xuất gia vào cuối tháng Sáu năm 1996.

Xuất gia chưa đầy một năm chị phải về lại Mỹ để thi quốc tịch thành công dân Mỹ. Các sư em biết đó, chị mới tu, còn nhỏ mà phải rời Thầy và tăng thân nên có tâm trạng không muốn về. Nhưng Thầy dạy: “Giấy tờ cần thiết, quan trọng lâu dài về sau. Con về Mỹ, thầy sẽ gởi con cho Sư bà Đức Viên. Bốn tháng sau, thầy qua Mỹ dạy, con sẽ gặp lại thầy và các sư chị, sư anh của con”. Lời chỉ dạy ân cần của Thầy là động lực cho chị yên lòng, mạnh mẽ để về Mỹ lo giấy tờ và ở với Sư bà Đức Viên.

Nhân duyên biểu hiện

Quả thật, bốn tháng sau, vào thượng tuần tháng Tám năm 1997, Thầy cùng ba mươi hai thầy và sư cô qua Mỹ dạy. Năng lượng chánh niệm của một tăng đoàn tươi trẻ tỏa ra đã tạo ấn tượng và gây cảm hứng cho nhiều người hướng về tu tập. Ngay trong chuyến đi này có một số người trẻ phát tâm xuất gia, trong đó có thầy Pháp Ân, thầy Pháp Lạc và sư cô Hằng Nghiêm. Một số sư cô, sư chú trẻ lúc đó chưa có quốc tịch Mỹ để qua Pháp, nên Thầy mới nói với một vị cư sĩ kiếm nơi nào đó để thành lập tu viện. Thế là hội đủ nhân duyên, tu viện Rừng Phong được thành lập ở Vermont vào cuối thu năm 1997. Thầy đưa các sư con mới xuất gia cùng hai sư em khác và chị về tu viện Rừng Phong ngày 11 tháng 11 năm 1997.

Về nơi này, sáng sớm hôm sau là có tuyết rơi, cảnh núi rừng bên đồi tuyết trắng, đẹp tinh khiết như cảnh tiên bồng vậy. Mỗi sáng, thầy trò ngồi thiền, tụng kinh với nhau, năng lượng tu học liền được thiết lập ngay. Thầy trực tiếp dạy thỉnh chuông mõ cho các sư con trẻ. Trước khi về lại Làng, Thầy nhắn nhủ với các sư con rằng: “Này các con, các con là những người đệ tử nhỏ nhất của thầy. Thông thường, người học trò nào cũng muốn được làm thị giả cho thầy, thời Đức Thế Tôn cũng vậy. Nếu các con muốn được gần thầy, ở đây các con hãy chăm sóc cho nhau. Khi các con chăm sóc cho nhau được, thì thầy luôn có mặt bên các con. Thầy sẽ gởi Sư cô Chân Đức qua chăm sóc và dạy dỗ cho các con”. Nhân duyên ban đầu thành lập tu viện ở Mỹ cho đến nay thấm thoát đã tròn 20 năm. Thầy Pháp Ân, thầy Pháp Lạc, sư cô Hằng Nghiêm nay cũng đã xuất gia tròn 20 năm, bàn chân của các vị cũng đã bao lần giẫm lên vô sinh của lá thu qua bốn mùa thay lá.

Trăng tỏ gió nâng hương đồng nội

Các sư em thương, thỉnh thoảng chị có những tư duy ngộ nghĩnh như thế này: “Mình đi xuất gia cũng giống như một chàng hiệp sĩ vào trận, trước mặt là bao mạo hiểm, thách đố với nội tâm”. Cũng giống như những bạn trẻ ở đời kết hôn với nhau, có lẽ hôn nhân cũng là một cuộc mạo hiểm đầy thử thách. Mới gặp, cảm mến nhau, vội vã tìm hiểu về nhau, thể hiện cho nhau những gì đẹp và yêu kiều nhất. Họ cảm thấy người này hiểu, thương, hợp với mình, họ đồng ý cưới nhau. Nhưng khi về sống với nhau, mới vỡ lẽ ra có quá nhiều khác biệt. Là người phát tâm xuất gia cũng vậy, mình cũng có những cái tưởng. Mới đầu mình bắt gặp và tiếp xúc với hình ảnh của các vị xuất sĩ, trái tim mình bị đánh động, rung cảm trước sự thanh thoát, đẹp và thánh thiện. Mình muốn phát tâm sống như các vị xuất sĩ kia. Nhưng khi vào sống trong tăng thân, thực tế không như mình tưởng nên mình thất vọng, buồn khổ, đòi hỏi, tủi hờn. Chẳng ai có cái nhìn giống ai nhưng mình cho cái “cho là” của mình mới đúng hơn cái “cho là” của người khác. Trong đời sống hằng ngày, nếu mình thiếu đi công phu hàm dưỡng thì chắc hẳn mình sẽ gặp phải những khó khăn, chùn bước trước mọi khác biệt. Có khác gì cặp vợ chồng trẻ ở ngoài kia, phải không các sư em?  

Sống trong tăng thân, anh chị lớp trước nuôi dưỡng lớp sau, nuôi nhau mà đi tới. Chúng ta sống trong một tăng thân đa văn hóa, dĩ nhiên cũng song hành với nhiều sự khác biệt. Chỉ có công phu tu tập của mỗi tự thân, hành trì uy nghi và giới luật là chất keo đem tới sự hòa hợp, kết lại với nhau, giúp nhau chuyển hóa, cùng tăng thân mang yêu thương đến cho mọi người. Các sư em đừng quên nắm lấy cơ hội, biết mình có nhiều may mắn, để sau này không hối tiếc là mình đã không biết nắm lấy cơ hội mà tăng thân đã cho mình.

Mặc cảm xây thành chợt vỡ tung

Các sư em có biết không? Sống trong tăng thân, chị có cơ hội lưu chuyển nhiều trung tâm. Sinh hoạt với các sư em, chị thường được hỏi một câu hỏi giống nhau là: “Làm sao để chuyển hóa năng lượng mặc cảm trong con, vì con thấy con không giỏi”. Lạ lắm các sư em à, có bao giờ các sư em nhận ra rằng mặc cảm tự ti cũng chính là mặc cảm tự tôn không? Cả hai năng lượng này đều khống chế mình, làm cho mình không hài lòng và không chấp nhận những yếu kém, đồng thời cũng thiếu luôn khả năng nhận diện những tài năng của mình. Chính mình không có khả năng chấp nhận mình mà chờ đợi người khác công nhận mình thì khổ lắm. Hồi chị mới vào tu, phải học vi tính để làm việc, chỉ số thông minh để học vi tính của chị khiêm tốn quá nên học hoài vẫn thấy mình “ngu”. Nhờ thấy mình “ngu” nên mới đi tu. Và cho tới bây giờ, chị vẫn thấy mình còn “ngu”, nên mới còn hứng thú để tiếp tục tu. Khi nào mình thấy mình “ngu” thì mình mới kiên nhẫn, mở lòng khiêm cung trước mọi vấn đề sư em ạ. Chỉ khi nào mình biết mình, niềm tin đong đầy, và còn một tấm lòng muốn tu, muốn cống hiến thì các sư em sẽ thực hiện được chí nguyện ban đầu của mình. Các sư em hãy luôn nhớ quay về tự hỏi lòng mình bây giờ đang ở đâu? Niềm tin của mình còn tròn đầy và mạnh mẽ không? Các sư em đừng chờ đợi và đòi hỏi phải được công nhận mới thỏa mãn và hạnh phúc. Hãy thành thật với những yếu kém, vụng về của mình. Hãy nuôi mình bằng những bước chân an lạc, đầu tư cho mình qua hơi thở miên mật. Mỗi buổi ngồi thiền, tụng kinh là một cơ hội. Tất cả những yếu tố này sẽ giúp các sư em vượt thoát mặc cảm. Đừng để cơ hội của mình tuột khỏi tầm tay nha các sư em.

                                  Thương ai mấy dặm đoạn trường

                                  Vòng quanh lên xuống vấn vương buộc ràng

                                  Hôm nay em bước thênh thang

                                 Giữa hoa đồng nội tâm an cõi trần.

Thủy chung vẫn một niềm tin

Chị đã kể cho các sư em nghe bước ngoặt đi xuất gia của chị, với sự tiếp xúc dung dị ban đầu nhưng lại sâu sắc, đọng lại trong chị nhiều ấn tượng, để rồi “đến với tôi tất cả niềm tin”. Niềm tin đó của chị bây giờ còn lớn hơn xưa, thấy mình có nhiều may mắn còn được ở trong tăng thân. Vẫn còn nhiều cảm hứng và yêu quý sự thực tập. Dù lắm lúc gặp phải nhiều khó khăn và đối diện với những thử thách chông gai, nhưng chị vẫn chưa sờn lòng. Đó là nhờ chị luôn thắp sáng niềm tin nơi tự thân.  

Đôi khi tôi thích trở về

Nhìn em thấy rõ chưa hề đổi thay

Nâng niu từng chút hiển bày

Vào ra sâu chậm bậc thầy hiểu thương.

(Chân Hỷ Nghiêm)