Góp chút gió mây

Hạnh phúc của sự hiến tặng

Tôi lại viết lách cái gì đó nơi góc nhỏ của mình cho bạn sáng nay. Cái cảm giác lành lạnh khiến cho nến và trà thêm ấm, thêm vui. Không khí những ngày cuối năm thật ý nghĩa cho việc nhìn lại chuỗi thời gian đã đi qua và cũng là cơ hội chị em tôi sum vầy bên nhau, gửi tặng nhau niềm thương yêu, trân quý. Nhìn những món quà trước mặt, tôi lại càng hạnh phúc. Tôi đã chuẩn bị những món quà này hơn một tháng nay. Tôi đã xem việc gói quà là sự thực tập và là niềm vui rất sâu trong lòng. Những tờ giấy cũ được tái sử dụng là tình thương tôi gửi tới đất Mẹ. Và giây phút ngồi gói những món quà, tôi đặt trọn lòng mình vào từng hành động tỉ mỉ để tiếp xúc sâu sắc hơn với từng chị, từng em – những người đang cùng tôi sẻ chia không gian và niềm vui chốn này.

Tôi ngồi đây gói tặng chị em của mình thông điệp của tình thương, biết ơn và trân quý. Trạm Tịch là chúng nhỏ nên thật dễ để tôi nghĩ đến từng người. Những món quà ấy, đúng hơn là dành cho tôi vì tôi là người trước tiên tận hưởng tròn đầy những hạnh phúc ấy – hạnh phúc của sự hiến tặng.

Lặng lẽ chuyển mình

Tuệ Uyển, nơi lưu lại không ít ký ức đẹp, tôi thấy mình đã nhẹ bước khi ra đi. Về Trạm Tịch, tôi như đã thuộc về nơi này từ lâu rồi. Đi qua một năm cùng Trạm Tịch, tôi luôn ý thức đến những thay đổi liên hồi nhưng rất lặng lẽ, khiêm nhường. Như dòng sông chỉ có nó mới nhận ra những con nước mới và những con nước cũ chuyển mình. Trạm Tịch đã tiễn chân thật nhiều sư em và đón vào các sư em mới. Các sư chị ở đây trở thành hai bờ của con sông để giữ dòng nước luôn lưu chuyển.

Tôi thấy hạnh phúc khi được sống nơi này bạn ạ. Mọi điều đến với tôi không quá lớn lao, mà vừa vặn. Đời sống tu học luôn là điều được quan tâm nhất. Các lớp học dành cho các em đều đặn, những buổi công phu hùng tráng giữa rừng khuya. Tôi được chăm sóc các sư em và các sư em tương lai – những cây trong vườn ươm, mai này có khi sẽ trở thành cổ thụ. Niềm vui nuôi dưỡng tôi là khi thấy các sư em lớn lên mỗi ngày như những cây con, luôn thấy rõ sự vươn mình đổi khác. Các sư em trở thành niềm tin, hạnh phúc và ý nghĩa sự sống của tôi. Càng gần gũi, chăm sóc và hướng dẫn các em tôi lại càng hiểu Thầy hơn – vì sao Thầy luôn luôn thương và chăm lo cho người trẻ. Thầy luôn dạy: “Thầy tuy tuổi hơn 80, nhưng Thầy chưa bao giờ thấy mình xa cách với tuổi trẻ”. Tôi muốn nuôi dưỡng nhận thức ấy để có thêm động lực trên con đường tiếp nhận và trao truyền. Tôi cảm nhận sâu sắc hơn hạnh phúc của sự trao truyền và tiếp xúc lại với niềm hạnh phúc khi tôi là người được tiếp nhận. Những bài pháp thoại, những lời chia sẻ mà tôi đã từng được nghe bằng trái tim trong sáng năm nào đã âm thầm lưu lại một cách sâu sắc trong tôi. Để giờ đây tôi thực sự có thật nhiều tình thương khi muốn gửi lại cho các em của mình tất cả những thông điệp quý giá ấy. Tuy tôi không giàu có nhiều trong vốn liếng học hỏi cũng như thực tập nhưng tôi có tấm lòng san sẻ, hiến tặng.

“Hiến tặng niềm an vui, mình sẽ được an vui”. Lẽ sống này giúp tôi mạnh dạn trong việc hiến tặng, chăm sóc, hướng dẫn, trao truyền cho các sư em bằng tất cả tấm lòng và khả năng của mình.

Gốc rễ đắp bồi

Ở đây tôi cũng được chăm sóc các tăng thân cư sĩ để niệm ơn và thực hiện phần nào chí nguyện của mình. Những ngày tu học, những khóa thực tập không quá quy mô và rầm rộ, nhưng cũng tỏ lộ được tấm lòng dành cho quê hương và đồng bào mình. Nhìn và tiếp xúc với trái tim luôn mong mỏi được tu học và phụng sự của những người cư sĩ miền Nam, tôi luôn cảm kích, trân trọng và biết ơn họ. Họ là nguồn cảm hứng mà cũng là động lực cho tôi luôn muốn đi tới trong sự tu học của chính mình. Càng muốn hiến tặng bình an và những sự thực tập cho họ, tôi lại càng phải luôn nhắc mình phải thực tập hết lòng để không phải là người bán hàng giả. Tôi luôn nhớ một kỷ niệm về lời dạy của Thầy khi tôi còn là một sư cô sa di nhỏ. Ngồi đưa võng cho Thầy trong không gian tĩnh lặng và bình yên, thầy dạy chị em thị giả chúng tôi thật nhiều điều. Trong đó có bài học sâu sắc là: “Các con phải thực tập làm sao để không bị rơi vào chiếc bẫy hình thức, giả trang thiền tướng hay làm người bán hàng giả”. Tôi giật mình về điều Thầy dạy vì điều đó rất dễ xảy ra cho người mới thực tập như tôi. Và bài học đó đã trở thành tấm gương “mê ngộ cảnh” của chàng dũng sĩ trong Cửa tùng đôi cánh gài để tôi luôn nhìn lại, sách tấn mình trong việc thực tập và trải nghiệm sự sống.

Khóa tu “Bồi đắp gốc rễ” vừa chấm dứt, lưu lại trong tôi hình ảnh của các em tuổi thiếu niên mà tôi có dịp chăm sóc trong bốn ngày. Tôi đã tâm sự với các em rằng tôi đã từng chọn tuổi thiếu niên là lứa tuổi mình sẽ chăm sóc, nhưng đến hôm nay khi chăm sóc các em tôi thấy cái tuổi 33 của mình và cái tuổi 13 của các em thật xa cách. Tôi không hiểu và biết nhiều về thế giới các em hôm nay. Tình thương vẫn còn đó, nhưng tôi thấy mình không giúp được các em nhiều. Làm sao tôi giúp được các em khi môi trường sống của các em bị bủa vây bởi những nguồn thức ăn độc hại và quá nhiều những vấn đề nan giải: ba mẹ ly dị, bạo lực gia đình, áp lực học hành, khó khăn trong truyền thông, v.v. Các em đang sống trong môi trường ít lành mạnh, thường bị cuốn vào sự tiêu thụ internet không chừng mực như chơi game quá nhiều, hay tìm kiếm những nguồn thông tin không nuôi dưỡng sự trong sáng và thánh thiện. Rất nhiều em không tìm thấy hạnh phúc ấm áp trong gia đình, học đường và cả xã hội. Tôi nhìn các em mà thấy mình nhỏ nhoi, bất lực vì không giúp được các em bao nhiêu. Khóa tu kết thúc, tôi lắng nghe những chia sẻ mộc mạc của các em: “Con thích khóa tu này vì ở đây con có được tình bạn, con không sử dụng máy móc nhiều, con được gần gũi với thiên nhiên, con được thư giãn sau áp lực học hành, con học được cách thở để lắng yên,…” Và rồi tất cả những cánh tay đưa lên sau câu hỏi: “Em nào muốn trở lại khóa tu sau?”. Tôi nhìn cánh tay em trai bị tự kỷ và hỏi: “Vì sao em muốn trở lại?”. Em trả lời tôi: “Con không biết”. Nhìn em, tôi cảm nhận được sự ấm áp và hạnh phúc. Câu trả lời ấy mang theo niềm hân hoan của sự chuyển hóa. Từ một cậu bé không muốn tiếp xúc, không muốn chơi chung với ai trong ngày đầu của khóa tu, em đã hòa vào tiếng cười và những trò tinh nghịch với các bạn đồng trang lứa. Tôi thầm biết ơn em, sự có mặt của em đã cho tôi niềm khích lệ.

Nhiều lúc các em không ngoan khiến tôi mệt mỏi và buồn lòng, nhưng rồi những câu nói của các em như: “Sư cô đừng bỏ tụi con nhe”, hay những lời xin lỗi của các em giúp tôi nhìn lại ý niệm mình đã già cỗi, không còn chơi được với các em của mình. Tôi nhìn lại lời tôi nói với các em mà thấy mình cần học theo Thầy để có tư duy đẹp hơn: “Tình thương không bao giờ nói rằng đây là lần cuối”, “Đừng bao giờ từ bỏ ước mơ”. Tôi thiết nghĩ mình sẽ tiếp tục tình thương ấy bằng những hình thức khác phù hợp hơn để thực hiện lý tưởng phụng sự. Tôi nhận ra mình có thể tiếp tục làm bạn với các em mà không xa cách như tôi nghĩ. Tôi sẽ học bài học của Thầy: “Thầy chưa bao giờ thấy mình xa cách với tuổi trẻ”.

Những ngày sau khóa tu, tôi được nghỉ ngơi, trở về chơi với tự thân. Tôi có cơ hội nhìn lại những tư duy của mình, tìm hướng đi đúng đắn và những thức ăn nuôi dưỡng cho tâm thức. Tôi nhận ra mình thật may mắn khi được theo các sư chị, sư em ngày ngày xây dựng tăng thân, hiến tặng hiểu thương cho mọi người. Tôi thấy cuộc đời mình mang nhiều ý nghĩa. Mỗi ngày đi qua tôi vẫn muốn mình khỏe mạnh để luôn luôn đi tới, thực hiện những ước mơ đẹp trên con đường thực tập.

Về Trạm Tịch, tôi có cảm giác đang ẩn mình trong rừng sâu để trở về lắng nghe tâm tư tỏ rõ. Trạm Tịch đã lặng lẽ chuyển mình, và tôi cũng thế. Nếu bạn về thăm lại hẳn sẽ ngạc nhiên. Từng con đường quanh co, từng con suối với hai dòng trong đục, hương rừng vẫn vậy, đến và đi, nhưng tất cả luôn là dòng yên ả êm trôi.

Chân Tuyết Nghiêm

Khóa tu đầu tiên của sư bé

 
Con nhớ đó là ngày 30 tháng 4 của ba năm về trước, lúc đó con là một cư sĩ chẳng biết gì về Phật pháp, chẳng biết Sư Ông là ai. Vô tình con được giới thiệu đi tham dự một khóa tu mang tên “Trở về đất Tổ”. Và con đã trở về thật!

Bây giờ con là một sư bé, sau ba năm ở chùa, lần đầu tiên “ra trận” trong hình thức một sư cô. Một sự thật con chưa bao giờ dám mơ tới trong đời. Mình là một sư cô? Trước đây con cứ nghĩ sư cô là ai kia ở tít trên cao chẳng bao giờ với tay tới được so với con là một người tà tà dưới mặt đất. Bây giờ thì con đã là một sư cô rồi và còn được tham dự vào khóa tu với vai trò hoàn toàn mới nữa. Con là sư bé lần đầu tiên “ra trận”!
 


 Sư bé làm “thiền sư”

Cảm giác đầu tiên đến với con khi nghe tên mình được đi khóa tu là vừa vui mừng vừa lo sợ. Mình sẽ nói gì đây, mình sẽ làm gì đây? Với bản tính nhát gan, sợ hãi, con biết mình sẽ run cầm cập trước đám đông. Bình thường, con chỉ giỏi mở miệng “ăn hiếp” các sư chị, sư em trong chùa thôi. Rồi con chợt nhận ra là mình chẳng cần phải làm gì cả, mọi chuyện đã có các sư cha, sư mẹ lo rồi. Con là sư bé mà, chỉ cần thở và cười, bước cho vững chãi, giữ tâm cho an là được rồi. Khi thấy được như vậy lòng con nhẹ nhàng lắm, cảm giác run sợ đi chơi đâu mất. Tuy nhiên, có những chuyện đến bất ngờ mà con không thể nào chạy đi cầu cứu các sư cha, sư mẹ được. Và con phải tự giải quyết lấy.

Chuyện là con được chăm sóc cho các em tuổi thiếu niên từ 10 đến 16 tuổi. Đêm thứ ba của khóa tu và cũng là đêm cuối cùng, thời khóa của các em là tập văn nghệ. Hôm đó, sư cô Trăng Tịnh Thường – người phụ trách hướng dẫn cho nhóm đi tham dự sinh hoạt Làm mới với đại chúng. Nhóm chỉ còn con và sư em Trăng Hải Chiếu ở lại sinh hoạt với các em. Trong lúc đang sinh hoạt thì có hai bác đùng đùng kéo vào. Thấy thái độ hai bác rất lạ lại thêm có mùi rượu nên con biết không phải là thiền sinh tham dự khóa tu trong mấy ngày qua. Con run lắm và chưa biết làm sao cả! Quý sư cô lớn đi hết rồi nên con lớn nhất trong nhóm xuất sĩ. Con lấy hết can đảm đến chào và hỏi thăm, mặc dù con cảm nhận được hai chân con sắp khuỵ xuống. Hóa ra một trong hai bác là ông của hai em trong nhóm con chăm sóc. Ông vào tìm để đưa hai cháu về vì bà hai cháu bị xuất huyết dạ dày phải nhập viện và nhà không còn ai. Ông đang rất lo lắng và mất bình tĩnh, nhất quyết phải đưa hai cháu về. Ông làm rất dữ và chính con cũng thấy sợ nhưng chưa biết phải làm sao. Nếu có quý sư cô ở đây thì mọi chuyện đỡ hơn cho con biết mấy. Sư em con vẫn tiếp tục chơi với các em, chỉ còn lại mình con.

Con nhớ lời dạy của quý sư mẹ nên thở thật sâu và bình tĩnh trước mọi tình huống. Lúc đó, trong đầu con chỉ có một ý thức bà của hai em đang bệnh và mình phải hỏi thăm bà. Vậy là con hỏi ông về bà bằng tất cả sự quan tâm của con. Con xin ông tên của bà để nhờ đại chúng cầu an cho bà. Sau một hồi con nói chuyện và hướng dẫn cho ông cách trở về để chăm sóc sự lo lắng, sợ hãi và gửi năng lượng an lành cho bà, ông từ từ dịu lại.

Con cảm được ông rất cảm động, chắc vì đã được san sẻ về nỗi lo, được hiểu và được quan tâm. Ông như người đi lạc bắt gặp bảng chỉ đường vậy. Con vừa cho ông một niềm tin mà lúc đó con đâu biết, con chỉ làm với những gì rất thật trong mình thôi. Nhưng con biết những điều con làm đó không phải của con đâu mà nhờ con được tưới tẩm mỗi ngày từ tăng thân. Rồi ông rút tiền đưa cho con. Ban đầu con không nhận vì con nghĩ mình chia sẻ đâu phải để được cúng dường. Nhưng ông nài nỉ mãi, biết làm sao đây? Và bỗng dưng lời dạy của Sư Ông đi lên trong con: “Mình đang đại diện cho một tăng thân, khi họ lễ mình thì đó là họ đang lễ tăng thân trong mình…”. Đúng rồi, ông đang cúng dường cho tăng thân trong con, mà không phải cúng dường cho riêng con. Vì vậy, con chắp tay và nói: “Con xin đại diện quý thầy, quý sư cô nhận tấm lòng của ông”. Tự nhiên con thấy khỏe và nhẹ nhàng quá chừng luôn. Cuối cùng ông hứa ngày mai sẽ cho hai cháu đến tham dự nốt ngày còn lại của khóa tu.

Lạ thiệt, nghĩ lại mà con chẳng hiểu ra làm sao cả. Bình thường con sợ nói lắm, và với những trường hợp trên là con đã bỏ chạy mất tiêu rồi. Chắc lúc đó Bụt hay Bồ tát nói hộ con chứ không phải là con rồi. Nhìn lại chuyện xảy ra hôm đó, tự nhiên con thấy mình thật “phi thường”. Con đã làm một việc mà con nghĩ mình không bao giờ có thể làm được.

Rồi đến mẹ các em nữa. Khi mẹ các em lên đón các em về, con mời mẹ các em ra trước ghế ngồi chơi. Con nói đến tính cách của các em, tài năng của các em và chia sẻ với ba mẹ cách con tưới tẩm năng khiếu mà các em đang có. Có bà mẹ nắm tay con và nói: “Sư cô ơi, con chăm cháu mười mấy năm nay mà không bằng sư cô chăm cháu có mấy ngày. Lần này, con thấy cháu nó thay đổi nhiều lắm”. Nghe vậy con chỉ biết cười và nói rằng vì con được chơi với các em, có mặt đó và lắng nghe các em chia sẻ nên con được hiểu thêm về các em đôi chút. Những gì con chia sẻ với các em cũng chỉ là những chuyện đơn giản trong cuộc sống hằng ngày mà thôi. Chỉ trong một buổi tối mà con tiếp bốn phụ huynh. Con lấy đâu ra nhiều can đảm vậy ta, chắc chắn đó không phải là riêng con mà nhờ con được tưới tẩm từ Sư Ông và tăng thân. Chắc chắn là Sư Ông và quý sư cô nói giùm con trong những buổi gặp mặt nói chuyện đó rồi!

Năm quán

Con hiểu được đôi chút tinh thần của khóa tu là luôn “sẵn sàng chiến đấu” khi cần thiết và “pháp khí” luôn để sẵn bên mình. Pháp khí của con chưa được tốt lắm nên khi “ra trận” gặp sự cố và nó đã trở thành kỷ niệm rất vui.
 

 

Giờ cơm trưa trong vòng tròn, đại chúng đã vào rất đông nhưng chỗ của vị ngồi chuông vẫn còn trống. Bình thường sẽ có người phụ trách phần mời người ngồi chuông cho các thời khóa. Vậy mà trưa nay chỗ quan trọng ấy lại để trống. Con lại ngồi ngay phía sau chỗ trống ấy, con thở nhưng vẫn thấy thắc mắc quá chừng, con đưa mắt nhìn quanh thì thấy quý thầy, quý sư cô đã an tọa cả rồi. Mắt con chạm phải ánh mắt của sư em và sư em nhìn con rồi nhìn lên cái chuông. Hiểu ý, con lấy hết can đảm còn lại bước vào chỗ trống, “an nhiên” ngồi xuống nhưng bên trong thì nhịp tim đập không còn được bình thường nữa. Thở đi con, thở đi tôi ơi! Theo thói quen tự nhiên con ngồi nhẩm lại Năm quán. Rồi thì giờ cũng đến, con đọc rõ to, suôn sẻ và rất bình tĩnh. Có lẽ mọi người nhìn thấy con rất vững chãi nhưng thực sự thì tim con đã bị… rớt xuống đất từ lúc nào rồi. Có ai biết tay con run khi cầm dùi chuông, nhưng vì trước mặt con toàn các vị cư sĩ nên con phải… đóng mặt tỉnh thôi. Con tự hỏi mình như vậy có phải bán hàng giả không nhỉ? Sau vài hơi thở con bắt đầu cầm bát cơm lên và sự bình an thực sự đã trở về với con. Con biết, đây là lần đầu con ngồi chuông trước đại chúng đông nên con run, lần sau con sẽ bớt run hơn và lần tiếp nữa con sẽ khá hơn, cứ thế mà đi tới thôi.

Được sống trong tăng thân là một quá trình để con rèn luyện mình, tập cho mình tự tin hơn. Nói là một nghệ thuật và con biết khả năng nói của con chưa giỏi, cách diễn đạt cũng còn hạn chế nhưng chỉ cần con có mặt đó, mỉm cười, thở cho bình an cũng đủ rồi. Lời nói từ trái tim sẽ đến với trái tim dễ dàng hơn. Chuyến đi này cho con bài học ấy. Mỗi lần con làm một việc gì với tinh thần giúp đỡ thì con nhận lại được rất nhiều. Vì không đòi hỏi mình nên con thấy bình an và nhẹ nhàng. Con biết mình có cả một tăng thân bên cạnh nên con chẳng có gì phải lo sợ hay mặc cảm. Và cũng bởi vì con là sư bé, sư bé lần đầu tiên ra trận.

Sức mạnh của niềm tin

Con mầu nhiệm lắm con biết không, Thầy tin con làm được”. Đó là câu thư pháp một sư cô tặng con hồi con còn tập sự. Con được nuôi dưỡng bởi câu thư pháp ấy rất nhiều. Một người tu hạnh phúc khi được thầy đặt niềm tin nơi mình, mà có niềm tin là có tất cả. Niềm tin có sức mạnh lạ kỳ và vượt thắng mọi chông gai. Một trong những sứ mệnh của người tu là gieo niềm tin vào lòng người áo trắng (người cư sĩ). Nhờ niềm tin mà cuộc sống trở nên tươi vui hơn, có ý nghĩa hơn. Đó là trường hợp bà nội của em nhỏ mà con đã chăm sóc trong khóa tu. Có ai ngờ rằng từ một người bệnh nằm liệt giường, bác sĩ trả về, dặn gia đình chuẩn bị tâm lý mà bây giờ bà có thể đi lại được và nói chuyện cười đùa với mọi người. Ba của em đã đến Diệu Trạm để báo tin cho chị em con biết là bà đã khỏe trở lại. Đó là một kỳ tích đối với gia đình. Trong nhà ai cũng mừng, nhất là ông nội của em. Nhớ lại ngày bà bệnh, ông lo lắng, bất an, sợ hãi đến mất bình tĩnh và lên đòi cháu về giữa khóa tu. Con biết lúc đó ông cảm thấy hụt hẫng và bơ vơ khi nghĩ đến sự vắng mặt của bà có thể xảy ra. Ông cần một nơi để nương tựa, để được an ủi và ông cần có người bên cạnh cho bớt trống trải – đó là đứa cháu của ông. Ông đã được gặp quý sư cô, những người đã cho ông niềm tin và ông đã đặt niềm tin nơi tăng thân với tất cả tấm lòng. Niềm tin đã giúp ông và gia đình vượt qua sự sợ hãi mất người thân.

Ba em kể rằng trong đêm bà đang cấp cứu ấy, nhờ tăng thân gửi năng lượng cầu an cho bà nên bà đã vượt qua được cơn nguy hiểm và phục hồi mau chóng. Con nghĩ chính nhờ ông và gia đình đã đặt hết niềm tin, giữ sự bình an và tha thiết cầu nguyện cùng tăng thân nên phép mầu đã hiển hiện. Con từng có lúc hoang mang, thấy mình bấp bênh. Những lúc ấy, con trở về hướng đến niềm tin. Con tin vào con đường mình đi và con sẽ tiếp tục như vậy. Em nhỏ đó có viết thư cho con và nhờ ba mang vào. Em kể từ ngày ấy đến nay ba hay ngồi yên hơn, còn nhiệt tình tham dự thiền trà với em và có khi hai cha con cùng pháp đàm với nhau. Được tặng một túi sỏi ba rất hạnh phúc, đi đâu ba cũng mang theo bên mình để thực tập. Ba nói rằng ba sẽ thọ Năm giới và hành trì theo vì Năm giới mang lại cho ba sự bình an trong tâm hồn. Ba cũng muốn được học thêm Mười bốn giới Tiếp hiện nữa. Sau đó, trong một lần vào Diệu Trạm ba đã tiếp nhận Năm giới. Con nghĩ ba không chỉ đơn giản mang theo túi sỏi, ba em đang mang theo cả một niềm tin lớn vào cuộc sống của mình. Và ba em cũng đang gieo niềm tin vào những người xung quanh.
 

 

Ngày Thầy trao cho con niềm tin, niềm tin vào sự chuyển hóa nơi bản thân mình và cho cả tổ tiên mình, con thấy rằng sứ mệnh của con không hề đơn giản. Con đang mang cả tổ tiên tâm linh và huyết thống trong con. Tổ tiên đặt niềm tin nơi con, tổ tiên đã chọn con để trao lại trọng trách ấy thì con làm sao có thể quên được. Như một người chiến sĩ giữ ấn tín trong tay, nhiệm vụ của người ấy là đưa được nó đến nơi an toàn. Sứ mệnh của người ấy được đặt trên cả một quốc gia, một dân tộc. Cả đất nước đang nằm trong tay người ấy vì vậy dù gặp khó khăn, nguy hiểm người ấy vẫn luôn hướng về phía trước. Người chiến sĩ cần biết sứ mệnh mình đang làm và cần có dũng khí để đối mặt với những cạm bẫy và hiểm nguy luôn có mặt trên đường.

Con luôn tin rằng chỉ cần tu thôi thì con sẽ chiến thắng mọi chướng ngại, khó khăn. Mà tu thì phải có niềm tin. Niềm tin với con là thần dược có khả năng chữa trị được tất cả mọi chứng bệnh. Con có niềm tin nơi niềm tin, có niềm tin nơi sự thực tập và con có niềm tin nơi con người, nơi tương lai đạo pháp. Chỉ cần có niềm tin thôi là con có bình an rồi.

 

Chân Trăng Thuận Hóa

Cho tuổi thơ ươm nắng

 

Cuối cùng tôi đã đặt chân lên mảnh đất, nơi mà đa số người Mỹ xem là thù địch, nơi chứa chấp những kẻ khủng bố của thế giới. Những bức họa trên báo chí và các thông tin trên mạng vẽ ra ý tưởng những người Hồi giáo là những người rất bảo thủ, không thân thiện, nhất là với những tôn giáo khác.

Hai em thanh niên tươi cười chạy đến đón: “Chào thầy đã đến. Mong chuyến bay của thầy không quá mệt nhọc. Mời thầy vào trong uống nước. Thầy cứ để vali đó, chúng con sẽ lấy và đưa đến phòng”. Nụ cười của hai em rất chân thật và thân thiện. Ánh mắt xoe tròn nhìn tôi đầy hiếu kỳ. Có thể đây là lần đầu tiên hai em gặp tu sĩ Phật giáo. Tôi trò chuyện với hai em, biết được hai em rất mê bóng đá và gần như đã nhớ hết tên của những cầu thủ trên thế giới. Tuy mới quen nhưng hai em không ngần ngại kể về bản thân, về gia đình và về ước mơ của mình. Một em chia sẻ: “Con không biết gì về thiền, nhưng con rất thích đi một mình ra sa mạc, cách đây khoảng 50km. Ngồi yên giữa biển cát mịn màng và lắng nghe gió thì thào, lắng nghe con”. Em ấy vừa kể vừa nhắm mắt như đang tả giấc mơ thiên đàng của mình. Rồi bất chợt em mở mắt: “Nhưng thầy đừng thử nha. Lỡ như thầy đi lạc hướng, dù chỉ một chút thôi thì có thể sẽ lạc luôn trong sa mạc, rất nguy hiểm. Nếu thầy muốn đi thì để con dẫn thầy đi. Đừng bao giờ đi một mình”. Em ấy thật hồn nhiên, thật ngây thơ, dễ thương. Tôi thấy mến ngay sự thân thiện, cởi mở trong câu chuyện từ trái tim đến trái tim như vậy.

Ngày hôm sau là ngày đầu tiên của hội nghị. Sáng sớm ai cũng đứng xếp hàng hướng về quầy nước. Tuy thân của tôi cũng đứng đó nhưng tâm thì đang an vị ngay tại bình cà phê. Vì tôi mới bay tối qua, chưa đuổi kịp múi giờ nên không ngủ được và … ngáp một ngáp, nhích lên được một bước. Ai cũng thong thả chọn nước uống mình thích nhất cho buổi sáng. Có người đứng đó đọc từng túi trà, xem trà từ đâu đến, có chất caffeine hay không, hương vị gì, muốn thử cái gì mới hay chọn loại mình biết, v.v. Bình cà phê thì đã pha sẵn, nhưng nếu tôi chen vô thì e rằng hơi bất lịch sự, trong khi ai ai cũng đứng xếp hàng. Bỗng nhiên mọi người dãn ra nhường cho tôi. Tôi thật ngại. Tôi chỉ là một thầy tu còn rất nhỏ. Nhưng đã nhường rồi thì tôi chỉ biết chắp tay, nhìn xuống, và bước từng bước nhẹ nhàng đến bình cà phê với nụ cười chào ngày mới và với lòng tràn đầy niềm biết ơn.

Cà phê thật đậm đà, như cà phê đen của Việt Nam. Tôi nhắm mắt, định tâm lại để tiếp xúc với độ nóng và “vị đắng ngọt ngào” của cà phê. Thưởng thức cà phê quen rồi, tôi dễ dàng nhận ra vị đắng ngọt ngào này. Cà phê này thật đặc biệt vì thấp thoáng trong đó bóng dáng và hương vị thanh thoát của một loài hoa. Mỗi ngụm cà phê như tiếng chuông đại hồng vang lên, đánh thức từng tế bào trong cơ thể tôi. Đứng đó dùng ly cà phê thơm ngon, tôi cảm thấy như trên thế gian này chỉ còn tôi với ly cà phê thôi. Thật là hạnh phúc. Tôi từ từ mở mắt ra thì thật sự chỉ còn tôi với ly cà phê đứng đó thôi. Thì ra không phải tôi được nhường chỗ mà vì mọi người đã chạy về hướng cửa để đón chào Thái tử Mohamed bin Zayed bin Sultan Al-Nahyan, em trai của Tổng thống, Phó Tư lệnh tối cao Các lực lượng vũ trang của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE)!

Bất chợt ánh đèn của máy chụp hình chớp lên lia lịa. Thái tử giang tay ra ôm vào lòng một phụ nữ như con ôm mẹ, và người phụ nữ ấy ôm lại thái tử như người mẹ ôm con với tất cả tình thương yêu âu yếm. Người phụ nữ ấy có danh hiệu là Amma, nghĩa là Mẹ. Amma lớn lên trong vùng nghèo nhất của Ấn Độ, lượm từng miếng cơm và trải nghiệm những khổ đau do nghèo đói gây ra. Hạnh nguyện của Amma là muốn gánh bớt sự khổ đau của nhân loại. Qua mỗi cái ôm, Amma giúp người đang khổ cảm nhận được năng lượng từ bi vẫn còn đó trên thế gian. Qua lời nói và hành động, Amma giúp gây quỹ từ thiện để cung cấp thực phẩm, nhà ở, giáo dục và thuốc men cho những nơi nghèo nàn và cơ cực ở khắp nơi trên thế giới.

Vị Thái tử này là người cầm quyền lãnh đạo và cũng là người đứng ra tổ chức hội nghị này, kêu gọi tất cả những tôn giáo cùng nhau bàn luận và tìm cách bảo vệ trẻ em khỏi những kẻ lạm dụng tình dục trẻ em qua mạng lưới toàn cầu, và ngăn chặn thế giới buôn bán dữ liệu ảnh khiêu dâm trẻ em trên mạng.

Đây là diễn đàn Liên Tôn Vì một môi trường an toàn hơn cho trẻ em trước nạn lạm dụng tình dục qua Internet, diễn ra tại Abu Dhabi, thủ đô của UAE.

Nạn lạm dụng tình dục trẻ em qua Internet đã trở thành một vấn nạn toàn cầu hiện nay và cần sự quan tâm khẩn cấp của cộng đồng thế giới.

Từ nghèo khổ sinh tuyệt vọng (hay sinh tệ nạn thì đúng hơn). Hơn 80% các em bị chụp hình hay quay phim trực tuyến trên mạng trong những lúc bị lạm dụng tình dục là từ người thân trong gia đình, theo yêu cầu của những người xem trực tuyến. Thậm chí có khi là từ ba mẹ, để bán kiếm tiền nuôi gia đình. Số tiền ước tính cho công nghệ mại dâm trên mạng riêng về trẻ em là hơn 3 tỷ đô la vào năm 2003, và bây giờ (2018) đã tăng hơn 20 tỷ đô la. Khi có người mua thì sẽ có người bán, và tuổi thơ của các em sẽ tiếp tục bị chà đạp bởi dục tâm và lòng tham không đáy của nhân loại. Vấn đề này không có vẻ gì dính líu đến tôn giáo hay dân tộc. Nhưng vấn đề này lại rất cần các tôn giáo nắm tay nhau, cùng nhau bảo vệ các em, bất kể các em thuộc dân tộc nào trên thế giới.

Đạo đức là chìa khoá để giúp bảo vệ các em. Người có đạo đức sẽ không lên những trang mạng khiêu dâm vì biết làm như thế là đang trực tiếp tàn hại các em và ủng hộ các trang mạng kiếm tiền qua quảng cáo. Người có đạo đức sẽ không hành hạ các em để thoát nghèo, hay làm giàu trên khổ đau của các em. Nhiệm vụ của những vị lãnh đạo tâm linh là nuôi lớn mầm đạo đức trong xã hội và nói lên tiếng nói về nhân quyền thay cho các em đang sống trong tình trạng áp bức và bất công, nhằm mang vấn đề ra ánh sáng. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cần sự yểm trợ của luật lệ quốc gia và công nghệ thông tin để phát hiện và vô hiệu hoá những máy chủ dùng trong việc lan truyền dữ liệu phim ảnh khiêu dâm. Thầy cô giáo cũng đóng vai trò rất lớn vì thầy cô giáo như là ba và mẹ của các em, dạy các em cách làm người, gieo hạt đạo đức trong các em ngay từ thuở ban đầu.

Hội nghị có đề cập đến vấn đề tăng độ trừng phạt đối với những tội phạm, nhưng đề nghị này bị loại rất nhanh bởi các vị lãnh đạo tôn giáo đang có mặt. Hội chúng thấy rất rõ rằng vấn đề trừng phạt dù có mạnh bao nhiêu cũng không đủ, và cũng không bảo vệ được các em, vì hình phạt chỉ sử dụng để xử lý sau khi chuyện thương tâm đã xảy ra. Thêm nữa, cho dù những kẻ ấu dâm có bị bỏ tù 10 năm hay 20 năm, khi mãn hạn tù, những kẻ đó vẫn có khuynh hướng lặp lại sai phạm bởi vì họ không biết làm gì khác. Các bác sĩ tâm lý trị liệu chia sẻ kinh nghiệm rất rõ trong buổi hội nghị rằng nếu không có một chí nguyện mạnh, một đường hướng và nề nếp tâm linh vững vàng, thì những tội phạm sẽ rơi vào lối cũ, vì đó là tập khí.

Tập khí rất dễ để nhận ra khi mình có chánh niệm. Những pháp môn căn bản của Làng Mai là để giúp nâng cao chánh niệm, để ý thức những gì đang xảy ra trong mình, để ý thức được những gì mình đang tạo ra qua biểu hiện của thân, miệng và ý. Khi có chánh niệm, mình sẽ ý thức được và không tiêu thụ những sản phẩm có độc tố, trong đó có mạng lưới toàn cầu, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, sách báo, bài bạc và cả chuyện trò. Một khi tâm tư ta đã tiếp thu những độc tố như hình ảnh khiêu dâm thì những hình ảnh đó sẽ mãi mãi nằm trong tàng thức, và rồi, chúng sẽ tìm cách bén rễ vào bản năng sinh tồn nguyên thuỷ và thúc đẩy tâm thức đi tìm kiếm thêm. Mỗi lần xem sẽ tạo đường mòn trong tâm thức, trở thành tập khí, và đó là căn bệnh hệ trọng mà thời đại thông tin đang mắc phải.

Tôi rất may mắn được sống ở Làng Mai vì đa số những sản phẩm độc hại này đã được máy chủ sàng lọc. Đây không phải là sự ngăn chặn thông tin mà là sự bảo vệ cho tôi. Không ai có thể cho rằng mình đã thanh tịnh viên mãn. Khi còn thân này thì vẫn còn bản năng sinh tồn nguyên thuỷ của những loài dã thú. Vì vậy, chánh niệm rất cần thiết trong đời sống hằng ngày để giúp mình có ý thức và lựa chọn những gì tốt cho mình, có cơ hội tránh được những gì độc hại và mang đến khổ đau. Cũng như vậy, không một ai hoàn toàn là ác quỷ. Vì môi trường, vì hoàn cảnh mà người đó đã lớn lên như vậy. Mình phải tập thương như Mẹ Amma, ôm từng người như con, để ác quỷ có thể cảm nhận trên thế gian này vẫn còn tình thương chân thật, vẫn còn sự tha thứ bao dung. Mình phải thấy được ác quỷ trong mình, và cũng phải thấy được thiên thần trong mình, thì mình mới có khả năng thấy được thiên thần trong ác quỷ, có thể chấp nhận, ôm ấp và chuyển hóa được ác quỷ. Đây là một quá trình tu tập suốt đời, và ai cũng có khả năng làm được.

Tuổi thơ là lúc đẹp nhất để tiếp xúc với những hạt giống thiên thần trong mình. Tuổi thiếu nhi là lúc mình tìm hiểu và khám phá thế giới xung quanh. Cơ hội học hỏi đó sẽ làm nền tảng cho các em khi lớn lên. Trong môi trường tốt lành đầy đủ sự thương yêu và đạo đức thì khó để em đó trở thành ác quỷ. Môi trường tốt không cần giàu sang đầy vật chất. Môi trường tốt chỉ cần tình thương chân thật và sự có mặt thật sự cho các em. Có mặt thực sự cho nhau, đây cũng là một đặc điểm của Làng Mai. Nếu mình không sống trong giây phút hiện tại cùng với người mình thương, thì thực sự mình không có mặt trong cuộc đời của người ấy. Cho nên dù thương bao nhiêu, làm bao nhiêu, hy sinh bao nhiêu, cũng là ảo thôi vì mình không hiện hữu trong thế giới của người ấy.

Đôi khi chúng ta cảm thấy các em còn nhỏ, nói gì cũng được, hay những gì các em nói chỉ là chuyện con nít, không cần để tâm đến. Chúng ta nghe bằng tai nhưng đầu thì suy tư chuyện khác. Đó là sai lầm rất lớn. Tâm của các em rất thuần khiết. Các em luôn sống trong giây phút hiện tại và không bị chi phối nhiều bởi các yếu tố khác, nên các em rất dễ cảm được người đang đối thoại có quan tâm các em thực sự hay không. Đôi lúc các em muốn nói những gì xảy ra, nhưng vì chúng ta không quan tâm nên các em không nói nữa, và có thể sẽ mãi mãi không muốn nói. Đây cũng là một điều được nêu lên trong buổi hội nghị. Một vị giám mục trong hội nghị chia sẻ: “Là một người lãnh đạo tâm linh, không có nghĩa là đứng đó và rao giảng truyền đạo thao thao bất tuyệt. Việc làm đầu tiên của một người lãnh đạo tâm linh là phải lắng nghe hội chúng. Lắng nghe mà không phán xét. Lắng nghe với hết tình thương của người cha cho con”. Là người lớn, chúng ta phải tập dừng lại để lắng nghe các em, cho các em niềm tin để mở lòng nói lên mà không sợ xấu hổ, nghi ngại hay cảm giác mình bị tổn thương vì không được quan tâm hay tôn trọng đủ. Đôi khi chúng ta có thể bắt gặp được những tín hiệu kêu cứu, khi ấy ta có thể tìm cách giúp các em nói lên những gì các em không dám nói.

Tôi rất xúc động khi hội trưởng của hội đồng trưởng lão Hồi giáo, người lớn nhất trong đạo, chia sẻ phần kết thúc: “Tôi được mẹ của tôi sinh ra. Tôi nghĩ ai ai trong hội chúng này cũng vậy. Các vị cũng từ mẹ sinh ra. Chúng tôi rất trân trọng tình mẹ dành cho con, nuôi nấng và hy sinh hết tất cả cho con, hy sinh cả tính mạng của mình để bảo vệ con”. Và ngài trích một câu chuyện trong kinh Cô-ran (Qur’an) của người Hồi giáo. Câu chuyện kể về một chú chim con. Chú chim đã được bảo vệ, mang về lại tổ ấm, về với mẹ, lớn lên trong tự do thay vì bị nuôi trong một chiếc lồng vàng. Tâm điểm mà ngài muốn nêu lên là phải bảo vệ tuổi thơ của các em, đừng để các em lớn lên trong ngục tù của thế giới khiêu dâm trên mạng lưới đen tối.

“Tôi cũng là mẹ của các em. Quý vị cũng là mẹ của các em”, Ngài đã kết thúc phần chia sẻ của mình như vậy.

Chân Pháp Khởi

Nụ cười trên nẻo đường con đi

Nằm bẹp hai ngày vì bị cúm, chiều nay tôi thưởng cho mình một vòng chạy bộ quanh Xóm. Mấy hôm nay trời nắng đẹp, tôi nghĩ bụng thế nào bên mé rừng mấy cụm mai trắng cũng đã nở. Tôi chạy về hướng mặt trời lặn, cánh rừng phía Tây của Xóm Thượng. Chạy hết cái dốc thì đến cánh đồng lúa, nhưng năm nay người ta bỏ hoang chưa làm đất gì cả. Nhưng vui chưa, có một lối đi chừng hai mét, cỏ mới cắt. Tôi thích thú chạy trên con đường mới, nghĩ rằng chắc mình là người đầu tiên khám phá ra con đường này.

Đến giữa đồng tôi gặp hai chú thanh niên khiêng hai sọt rau. À, thì ra đây là con đường nối dài từ Xóm Thượng xuống nông trại Hạnh Phúc. Nhưng con đường không dừng lại ở đó, nó tiếp tục kéo dài về phía trước. Những cụm mai rừng trắng xóa như bông tuyết lộ ra trước mắt làm tôi không thể dừng lại. Tôi nghĩ, có khi nào đây là con đường đi bộ mới mở từ Xóm Thượng xuống Xóm Hạ không nhỉ! Có thể lắm chứ vì ngôi nhà mới mua chỉ ở gần đây thôi và đất ruộng này đã thuộc về Xóm Thượng rồi. Vui lắm, cứ như có một điều bí mật sắp được tôi khám phá.

Tôi chạy tiếp về phía trước. Không tưởng tượng được là bao nhiêu hoa mai rừng nở trắng xóa góc này góc kia. Con đường cứ uốn quanh thật nên thơ. Khen cho ai đã khéo vẽ nên con đường này. Sao mà đẹp thế không biết. Chạy hết cánh đồng lúa thì tôi lạc vào cánh đồng của những cây thistle. Bây giờ chưa phải là mùa hoa, chỉ còn là cây khô nhưng dáng rất đẹp, nếu đến mùa hoa nở thì đẹp biết chừng nào nữa. Tôi thích thú nhảy qua khe nước rồi chạy về phía trước. Băng qua mấy cụm mai rừng là đồng cỏ xanh mướt và trước mặt là cụm rừng sồi, ai đó cũng đã dùng máy cày mở một con đường băng qua cụm rừng đó.

Đến cuối con đường tôi quay trở lại, tôi muốn ngắm con đường này từ Xóm Hạ đi lên Xóm Thượng. Nếu đi từ Xóm Thượng về Xóm Hạ vào buổi chiều thì ta đón ánh nắng hoàng hôn; còn đi từ Xóm Hạ lên Xóm Thượng vào buổi sáng thì đó chắc là những giây phút rất mầu nhiệm để đón chào bình minh buổi sáng. Cánh đồng lúa đó là nơi có nhiều chú nai ra ăn cỏ, vào sáng sớm và lúc chạng vạng tối. Nếu khẽ bước thế nào cũng gặp chúng. Có rất nhiều heo rừngvà nai ở trong mé rừng phía Tây của Xóm Thượng. Đó là thiên đường của chúng, vì không ai xâm phạm được. Những cây bụi rậm rạp và gai, chỉ có chúng mới len lỏi được qua.

Khám phá ra một con đường mới, một điều lạ gì trên con đường cũng đều làm tôi thích thú. Tôi thích thú trong giây phút hiện tại và tôi cũng thích thú khi nghĩ về tương lai, nghĩ đến chừng vài tuần nữa, vài tháng nữa, rồi mùa Hạ, mùa Thu, mùa Đông đi qua, rồi các anh em tôi, các thiền sinh về Làng đi trên con đường ấy. Chắc họ sẽ vui lắm, vui nhiều lắm. Con đường này đẹp thế mà sao không vui cho được. Bất chợt tôi nghĩ đến một bài hát rất xưa của Làng. Bài này xưa lắm, tôi nghe pháp thoại rồi vô tình nhặt được:

Hôm nay em về Làng

Vui bên mẹ dịu dàng

Quanh em bao họ hàng

Thêm sư cô cười hiền, cười hiền.

Tung tăng trên đường làng

Hoa xinh hoa thơm lừng

Ô! Con chim trong rừng

Em nghe chuông đại hồng, vang vang

An nhiên em ngồi thiền

Tê chân em quay nhìn

Trông ai cũng hiền lành

Búp sen như cười chào em, chào em

Bài hát trở về với tôi một cách rất tự nhiên, như chính tôi là chú bé ấy đã về Làng mấy mươi năm về trước. Con đường Làng vẫn còn đó, nụ cười vẫn còn đó, chuông đại hùng, hoa rừng, tiếng chim hót, tất cả vẫn còn ở đó.

Xóm nào ở Làng cũng đẹp, tôi muốn ôm mảnh đất thân thương này trên mỗi bàn chân của tôi. Bất cứ lúc nào nếu mở cửa bước ra là tôi bắt gặp bầu trời xanh, bầu trời xanh đã đẹp lắm rồi mà có thêm vài cụm mây trắng nữa thì nền trời được pha loãng đi, đẹp và hiền lắm. Mỗi khi nhìn lên bầu trời tôi thấy khỏe, thấy nhẹ tênh.

Mỗi buổi sáng, mặt trời mọc ở cánh rừng phía Đông và mỗi buổi chiều mặt trời lặn ở cánh rừng phía Tây. Đứng từ trên Xóm Thượng nếu thích thì ai cũng có thể thưởng thức được những cảnh tượng huy hoàng và lộng lẫy ấy mỗi ngày. Chúng tôi thầm cảm ơn tổ tiên đất đai đã dành mảnh đất này cho chúng tôi và cho những ai muốn trở về nơi đây. Trở về nơi đây để cùng học làm một con người mới, con người hạnh phúc, con người tự do.

Chân Minh Hy

Giữ gìn đất Mẹ

(Trong khóa tu 21 ngày năm 2018 tại Làng Mai, một số thành viên của tăng thân Trì Địa (Earth Holder) đã xin Sư cô Chân Đức chia sẻ về cách thực tập với những khó khăn do hậu quả của thay đổi khí hậu trên trái đất, để ta có thể trở nên vững chãi và làm chỗ nương tựa cho chính bản thân, gia đình và cho xã hội. Dưới đây là những chia sẻ của Sư cô được Ban biên tập chuyển ngữ từ tiếng Anh.)

Sự thực tập của Chân Đức (CĐ) là gìn giữ, chăm sóc trái đất mỗi ngày: cách mình đi trên mặt đất chính là cách tốt nhất để giữ gìn trái đất, bởi vì cách đi ấy sẽ thiết lập mối quan hệ giữa mình với trái đất. Khi đi, CĐ không thấy trái đất là một cái gì nằm bên ngoài mình. Trái đất không chỉ là vật chất mà còn là tinh thần. Trái đất chính là một phần của CĐ và CĐ chính là một phần của trái đất.

CĐ thấy việc thiết lập mối quan hệ này rất quan trọng đối với bất kỳ ai thực sự quan tâm tới trái đất. Không có mối quan hệ này thì chúng ta không thể bắt đầu việc chữa lành thương tích cho trái đất và cho chính chúng ta. Trái đất đang cố gắng hết sức mình. Sự sống trên trái đất rất mãnh liệt và cái mà chúng ta gọi là trái đất chính là sự sống trên trái đất, bởi nếu không có sự sống trên trái đất thì trái đất không còn là trái đất nữa. Chúng ta nói về dải lụa màu xanh, nhưng đó thực sự chính là trái đất. Và dĩ nhiên, không khí cũng là trái đất. Loài người chúng ta là những đứa con của đất Mẹ, vì vậy tình huynh đệ của chúng ta cũng là một yếu tố rất quan trọng trong việc bảo hộ trái đất. Chúng ta cùng nhau gìn giữ bảo hộ trái đất này như một tăng thân, một cộng đồng gồm các anh chị em thương mến nhau.

Sư Ông Làng Mai là vị thầy đầu tiên trong Phật giáo khởi xướng việc lạy danh hiệu đất Mẹ (Gaia) như một vị Bồ tát – Bồ tát Thanh Lương Đại Địa – trong các buổi lễ, giống như cách chúng ta lạy trước Bồ tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi hay Bồ tát Đại Bi Quán Thế Âm, v.v. Kể từ đó, chúng ta bắt đầu có một mối liên hệ tâm linh với đất Mẹ. Chúng ta không còn liên hệ với đất Mẹ giống như trước đây nữa. Giờ đây, trong lòng chúng ta đất Mẹ là một vị Bồ tát, và chúng ta cũng có một mối quan hệ tình cảm thân thuộc với Mẹ. Ta thấy trái đất là Mẹ của ta, người mà ta cần chăm sóc và bảo hộ.

Cách nhìn mới mẻ và vô cùng căn bản này trong mối quan hệ với trái đất là cách có thể giúp loài người chăm sóc trái đất hữu hiệu nhất. Chúng ta có thể lên nhiều kế hoạch, đề ra các kỹ thuật và có nhiều tranh luận về việc làm sao có thể giữ gìn trái đất, nhưng nếu ta không thay đổi mối quan hệ căn bản với đất Mẹ, CĐ không cho rằng những kế hoạch, kỹ thuật hay những tranh luận kia cuối cùng sẽ đem lại kết quả khả quan.

Loài người xưa nay vẫn quen cho rằng mình và trái đất là hai thực thể tách rời – trái đất có đó cho chúng ta khai thác và sử dụng mà không phải để cho chúng ta yêu thương, kính trọng như đối với một người mẹ, hay như một vị Bồ tát. Đó là lý do tại sao mỗi ngày khi CĐ nhìn đất Mẹ, CĐ luôn nói với chính mình và nói với đất Mẹ rằng: “Mẹ ơi, Mẹ đang cố gắng hết sức mình và con vô cùng mang ơn Mẹ”. Khi những thiên tai xảy đến, CĐ cảm thấy đất Mẹ đang khổ đau, và CĐ cũng thấy được những nhân duyên đưa đến những thiên tai ấy. Sự khổ đau của đất Mẹ tương tức với sự khổ đau của những đứa con của Mẹ. Khi chúng ta khổ đau thì đất Mẹ cũng khổ đau.

Những hành động chữa lành thương tích cho đất Mẹ – nền tảng cho những điều tốt đẹp 

Khi bạn có một mối quan hệ thương yêu như thế với đất Mẹ, bất cứ một hoạt động, một sự kiện nào được bạn tổ chức trong chánh niệm, với lòng từ bi và thương yêu cũng đều có ích lợi. Cho dù bạn không thấy việc mình làm có chút kết quả nào nhưng một khi bạn thực tập thiền hành với tâm từ bi và với một cái thấy đúng đắn (chánh kiến) thì ngay lúc đó bạn đã gửi đi một năng lượng thiện lành. Cái thấy đúng đắn tức là thấy rằng loài người và trái đất có trong nhau, chúng ta chính là con của đất Mẹ. Cũng như nhiệt lượng, năng lượng thiện lành ấy sẽ không bao giờ mất đi. Không có một loại năng lượng nào mất đi cả, đó là nguyên lý bảo tồn năng lượng. Đó cũng chính là nguyên lý của sự tương tức và tự tính không sinh không diệt của vạn vật.

Bất cứ một hoạt động nào của chúng ta, trên bình diện tương đối, dù cho hoạt động đó có vẻ như không thành công – thí dụ như ta bị vào tù vì hành động đó – miễn là khi hành động, ta có tình thương, có sự hòa hợp và có từ bi thì ta đã thành công rồi. Và điều ta làm sẽ chế tác ra một năng lượng làm nền tảng cho những điều tốt đẹp xảy ra.

Duy trì sự tươi mát và vững chãi

Chúng ta có thể đến một trung tâm thiền tập để phục hồi sự tươi mát, để thấy xung quanh ta vẫn có những người quan tâm tới đất Mẹ và thấy họ là một với đất Mẹ. Những người này đang làm việc trong chánh niệm vì đất Mẹ. Khi đến thực tập trong tu viện hay tham gia một khóa tu như thế, chúng ta sẽ không rơi vào tình trạng kiệt sức hay tuyệt vọng.

Chúng ta có thể thực tập địa xúc, một thực tập rất tuyệt vời. Ta lạy xuống trong tư thế phủ phục, năm vóc sát đất. Ta có thể đứng trước một cái cây hay trước một ngọn núi và thực tập địa xúc để cảm được sức mạnh và hùng lực của thiên nhiên đang đi vào trong ta. Chúng ta có thể thực tập theo sách Tâm tình với đất Mẹ mà Sư Ông Làng Mai đã biên soạn.

Vô thường

CĐ muốn nhấn mạnh một điểm về vô thường. Đôi khi có những người không vui lắm khi CĐ nói đến điều này, nhưng đây là sự thật: Trái đất vô thường. Đến một lúc nào đó, trên trái đất sẽ không còn sự sống. Đây là một sự thật mà ta phải chấp nhận. Nói như thế không có nghĩa là điều đó xảy ra ngay lập tức. Chúng ta vẫn còn cơ hội, nhưng trong ánh sáng của vô thường, chúng ta sẽ dễ chấp nhận hơn.

Cũng giống như khi ta thiền quán về sự vô thường của chính ta:

Thở vào, tôi ý thức về đôi mắt của tôi

Thở ra, tôi biết rằng đôi mắt của tôi vô thường.

Ta cũng có thể thiền quán như thế về đất nước của chúng ta và về trái đất.

Thở vào, tôi ý thức đến quốc gia tôi đang sống

Thở ra, tôi ý thức quốc gia của tôi vô thường.

Thở vào, tôi ý thức đến trái đất

Thở ra, tôi ý thức trái đất vô thường.

Trái đất rất kiên cường, như nhà sinh học vĩ đại Lynn Margulis đã nói. Tuy thế trái đất cũng vô thường. Và chúng ta phải thấy được điều đó, chúng ta cần quán chiếu:

Thở vào, tôi ý thức đến đất Mẹ

Thở ra, tôi ý thức rằng đất Mẹ vô thường.

Rõ ràng năng lượng do đất Mẹ chế tác ra sẽ không bao giờ mất đi. Một mặt thì đất Mẹ vô thường và khi chúng ta thấy được điều đó, tâm nguyện bảo hộ đất Mẹ của chúng ta lại càng sâu sắc hơn. Mặt khác, ý thức đó giúp ta tiếp xúc được với thực tại, nghĩa là ta có khả năng chấp nhận bất cứ điều gì có thể xảy ra. Nhờ thế ta sẽ không bị tuyệt vọng, bởi vì vạn vật đều vô thường.

Đó là lý do vì sao chúng ta cần cố gắng hết sức mình. Và khi bạn giận ai đó, bạn nên nhìn người ấy để thấy rằng người ấy cũng vô thường. Khi đó, cơn giận của bạn sẽ tan đi. Bạn đâu muốn phí thời gian cho cơn giận khi bạn biết quá rõ rằng bạn và người ấy đâu còn có mặt cho nhau trong 200 năm tới. Vì vậy, thiền quán về vô thường rất quan trọng, nó giúp cho ta đối trị với tuyệt vọng và làm tất cả những gì ta có thể làm trong khi còn có thể.

Khi hiểu được vô thường, ta sẽ có động lực làm những gì tốt nhất có thể để gìn giữ, chăm sóc. Thí dụ nếu bạn có một đóa hoa, bạn biết đóa hoa là vô thường. Nếu bạn bỏ mặc đóa hoa đó mà không tưới nước, sự vô thường của đóa hoa sẽ đến vô cùng nhanh chóng. Nếu bạn chăm sóc đóa hoa thật hết lòng thì đóa hoa sẽ không vô thường quá nhanh. Điều này cũng đúng đối với trái đất.

Thiền quán về vô thường sẽ giúp chúng ta chăm sóc tốt cho trái đất, có động lực và yêu thương trái đất nhiều hơn trong giây phút hiện tại. Chúng ta có thể thiền hành và tiếp xúc với đất Mẹ thường xuyên hơn. Những điều kiện cho phép sự sống của loài người xuất hiện trên trái đất hiện đang bị đe dọa. Đó là một phần quan trọng trong sự thực tập quán vô thường của chúng ta:

Thở vào, tôi thấy loài người vô thường

Thở ra, tôi mỉm cười với sự vô thường của loài người.

Đó là sự thật. Chúng ta vô thường và nếu chúng ta không chăm sóc chính chúng ta và không có một hướng đi đúng đắn trong quá trình phát triển thì sự vô thường của chúng ta sẽ  đến rất nhanh.

Thực tập với giận dữ và tuyệt vọng

Chúng ta nên ra khỏi cái đầu đầy suy tư của mình và trở về với trái tim. Điều này rất quan trọng. Những thực tập như sám pháp địa xúc, thiền hành mỗi ngày và xem đất Mẹ là tinh thần mà không chỉ là vật chất sẽ giúp ta làm được điều đó.

Nếu nghiên cứu vật lý hạt cơ bản (particle physics), bạn sẽ thấy tất cả đều là tương đối. Không nhất thiết chỉ có một đường thẳng đi trực tiếp từ điểm A đến điểm B. Cũng tương tự như vậy khi nói về sự khỏe mạnh hay ốm yếu của đất Mẹ, chúng ta không thể dự đoán được tương lai. Dù khoa học có cung cấp cho ta nhiều thông tin đến đâu, khoa học cũng không thực sự dự đoán được tương lai. Vì vậy, việc tiếp xúc với đất Mẹ mỗi ngày – với tình trạng hiện tại của đất Mẹ – là điều rất quan trọng. Những gì chúng ta làm ngay thời điểm này chính là chất liệu làm nên tương lai. Ngay bây giờ, nếu chúng ta có những hành động tích cực thì tương lai sẽ khác; còn nếu chúng ta có những hành động gây tàn hại thì tương lai cũng sẽ khác.

Sự thực tập trở về với trái tim – nơi đem lại sự chuyển hóa

Ta có thể thực tập để làm lớn thêm niềm tin trong ta. Năng lượng của sự thực tập tâm linh sẽ giữ gìn và bảo hộ cho chúng ta và cả cho trái đất. Nếu mỗi ngày chúng ta làm phát khởi năng lượng của tuyệt vọng, bế tắc, giận dữ,… thì đâu có ích gì cho chính tự thân và cho trái đất.

Có những người hoạt động lâu năm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và bị kẹt vào “trạng thái tranh đấu” (‘activist mode’) – rất nguy hiểm. Những người này đã tranh đấu suốt cuộc đời, từ lúc còn trẻ tuổi. Giờ đây họ đang ở vào tuổi 60 hay 70 và vẫn tiếp tục tranh đấu. Một người hoạt động vì môi trường mà phải liên tục vật lộn, đấu tranh như thế thật không hay. Một mặt, chúng ta rất tri ân những người này vì họ đã cắm lều bên ngoài các công trình gây hại cho môi trường để phản đối từ năm này qua năm khác. Thế nhưng khi làm những việc đó, họ không được nuôi dưỡng bởi niềm vui và sự bình an. Họ có thói quen lúc nào cũng đấu tranh, chống đối, rồi có cảm giác bị chống trả lại và thấy không ai quan tâm đến những nỗ lực của họ. Là một nhà hoạt động vì môi trường, ta phải thật cẩn thận trong việc chăm sóc chính mình. Ta cần một sự thực tập tâm linh để nuôi dưỡng tự thân.

Biết cách đối trị với những cảm xúc tuyệt vọng và giận dữ là điều rất quan trọng. Bởi vì khi tâm ta bị tuyệt vọng và giận dữ trấn ngự, ta không còn sáng suốt nữa. Và khi đó ta không thể nào hành động một cách đúng đắn, ta không thể thấy cái gì nên làm hoặc không nên làm. Tâm ta cũng là một môi trường – môi trường bên trong, mà môi trường bên trong và bên ngoài đều tương tức với nhau.

Sư cô Chân Đức

Bảo châu trong vạt áo

(Thầy Chân Pháp Biểu, người Ý, là một vị giáo thọ trẻ tu tập và phụng sự có nhiều hạnh phúc ở xóm Thượng. Bài viết được Ban biên tập chuyển ngữ từ tiếng Anh.)

Mười ba tuổi, lần đầu tôi đến với pháp môn. Hồi đó tôi chẳng nhớ gì mấy về Làng, bởi tôi chưa nói được tiếng Anh và thường ngủ gục lúc Thầy cho pháp thoại. Tuy nhiên phong thái đi đứng khoan thai, vui vẻ của quý thầy, quý sư cô đã ghi sâu vào lòng tôi từ ngày đó.

Về lại Ý, ở nhà, tôi thường mơ mộng thấy mình làm người tu. Nằm trên giường mà tưởng tượng cảnh mình trong chiếc áo nâu ngồi dưới gốc cây thiền định. Chao ôi, hình ảnh thật đẹp! Có lần tắm xong, tôi quấn chiếc khăn tắm quanh mình làm bộ như đó là áo cà sa, rồi ngắm mình thật lâu trong gương, nét mặt ra vẻ trang nghiêm và thông tuệ. Tôi đã nghĩ nếu một ngày nào đó khi tôi đi tu thì mọi rắc rối sẽ không còn nữa. Với tôi, cuộc sống đó xem chừng thật lý tưởng.

Nhiều năm trôi qua, khi đã thực sự xuất gia rồi, tôi nhanh chóng nhận ra “cuộc đời không như là mơ”, nghĩ vậy mà không phải vậy. Tôi thử sống nếp sống lý tưởng của người tu mà tôi đã vẽ trong đầu, nhưng nhanh chóng phát hiện mọi chuyện phức tạp hơn thế nhiều. Tôi thích làm “ẩn sĩ” chốn núi mù sương, nhưng thay vào đó, tôi lại thấy mình đang sống chung phòng với bốn người khác trong một cộng đồng khá năng động. Tôi rất hăng hái học hỏi và làm theo lời Thầy dạy, nhưng không hiểu sao cuộc sống của mình trong tu viện xem ra chẳng khác gì mấy so với cuộc sống của mình lúc còn ở nhà.

Đương nhiên là tôi có dậy sớm ngồi thiền với đại chúng, rồi đi học lớp sa di, tham dự ngày quán niệm, ấy vậy mà tất cả vẫn dường như quá đỗi tầm thường, quá “đời thường” không thể gọi là cuộc sống đích thực của người xuất sĩ. Nhưng trên hết, tôi thấy cách sống ở Làng không hợp với lý tưởng về một pháp môn tu tập nghiêm túc trong tôi. Ở Làng hay hát những bài hát của trẻ em, ở Làng có thiền ôm, tượng Bụt trong thiền đường mà người ta lại sơn màu hồng nhạt! Tôi chẳng dám than thở, nhưng rõ ràng chật vật lắm tôi mới có thể hóa giải những điều đó cho hài hòa với tư tưởng của mình.

Tôi mất nhiều năm mới có thể thưởng thức mọi việc như nó đang là, và thay vì tìm kiếm lý tưởng cao siêu mầu nhiệm, tôi tìm hạnh phúc trong nét đơn giản của thực tại trước mặt. Tôi thường nghe trong những giờ pháp đàm thiền sinh chia sẻ rằng họ hoàn toàn không ngờ được một tuần của họ ở Làng sẽ như thế nào. Nếu biết trước chắc họ sẽ chẳng muốn đến. Khi đăng ký khóa tu, họ nghĩ họ sẽ có cả tuần thiền tập yên lặng trong bầu không khí yên tĩnh của miền quê nước Pháp. Hóa ra, đến nơi mới thấy mình đang ở chỗ quy tụ hơn cả nghìn người, trẻ em chạy nhảy lung tung, người trẻ chơi đá bóng, người lớn chơi đàn. Thế mà sau năm ngày thực tập, họ có cảm giác cuộc đời đã thay đổi và họ sẽ không bao giờ quên cảm giác đó.

Có lần vào đêm Giao thừa trong khóa tu cuối năm, một anh chàng kể cho tôi nghe, hai ngày đầu anh ta cứ nghĩ đến chuyện bỏ khóa tu để về nhà. Rốt cuộc, đến ngày thứ tư, anh mới mở miệng chia sẻ trong pháp đàm, nói được năm ba câu là bắt đầu khóc. Vì ngại người ta thấy mình có cảm xúc nên anh nói không nhiều. Ngày cuối khóa tu, anh cho biết đó là lần đầu tiên anh khóc trong đời. Khi nghe vậy, tôi không tránh khỏi cảm giác vừa vui vừa biết ơn anh. Giống như mình đang chứng kiến một khoảnh khắc lịch sử, bởi vì có thể cả cuộc đời anh sẽ thay đổi từ giây phút đó.

Loài người chúng ta có khả năng trừu tượng hóa vấn đề rất tài tình. Chúng ta tạo các cảnh giới, và tự thuyết phục chính mình rằng chúng là thật. Thế nhưng, cái đẹp và sự thâm sâu mà tự thân ta tìm kiếm chỉ biểu hiện khi nào ta có thể hòa giải được với những mớ bòng bong trong cuộc đời bằng cách an trú trong giây phút hiện tại. Tuy thực tại không tuyệt hảo và trong sạch như những gì chúng ta suy tưởng, nhưng sự trở về với giây phút hiện tại giúp ta cảm thấy kết nối, đủ đầy.

Có một ngày, tôi ngồi trong rừng đọc kinh A Di Đà. Tâm trí tôi chan chứa hình ảnh về những hàng cây bảo châu, hoa sen bằng vàng và một mặt trời chưa từng lặn xuống phía chân trời. Khi ấy, có một chú chim nhỏ đậu trên cành cây cách chỗ tôi ngồi chừng vài mét, và ngay lập tức tôi liền thấy sao mình thương chú chim bé nhỏ quá đỗi. Tôi nghĩ nếu cái gì cũng đều được làm bằng vàng bạc và châu báu thì tôi sẽ nhớ lắm những nét sinh động và mùi hương của rừng, nhớ những lớp rêu phong và cả những thảm lá mục. Tôi chợt nhận ra một điều là không có gì đẹp hơn những gì ta đang trải nghiệm và đang sống ngay trong giờ phút hiện tại. Bạn có thể cho rằng tôi nói ngược với ý kinh, nhưng tôi tin đó mới chính là điểm mà kinh muốn nêu ra. Khi bạn thực sự có mặt để ôm ấp và chấp nhận những gì đang xảy ra thì đến cái nhỏ nhất, đơn giản nhất cũng trở thành châu ngọc.

Qua năm tháng, cách nhìn này đã giúp chuyển hóa sâu sắc cái hiểu của tôi về đời sống xuất sĩ. Tôi bắt đầu thấy vui khi hát các bài hát trẻ em và tôi cũng nhận thấy thực ra chính người lớn mới là người cần hát những bài hát trẻ em, vì người lớn quen nghiêm nghị quá rồi. Tôi quý cái nét năng động và khó lường của đời sống tăng thân, vì nó luôn làm tôi ngạc nhiên, giúp tôi thoát ra khỏi ngục tù của mong chờ và kỳ vọng. Có lúc nhìn tăng thân thấy đúng là thiếu tổ chức thật, nhưng nhìn xem, có ai tổ chức, sắp xếp cho khu rừng hay những đám mây trên trời đâu nào? Thiên nhiên đẹp vì không có ý niệm thế nào là trật tự hay hoàn chỉnh, ấy vậy mà thiên nhiên lại hài hòa với nhau trong dòng chảy liên tục, luôn tươi vui và mới lạ. Đôi khi gió bắt đầu thổi, rồi mây đen vần vũ như chực nuốt cả mặt trời. Cảnh tượng có vẻ bi thảm, nhưng chẳng có gì nghiêm trọng lắm. Mặt trời không sớm thì muộn cũng sẽ xóa tan mây, đưa sự sống trở về với núi rừng

Vậy thì cớ chi tôi phải tìm kiếm thêm điều gì khác nữa? Tôi không cho là mấy con chim, con sóc sẽ thích thú khi phải sống trong khu rừng cẩm thạch “lý tưởng” mà tôi dựng nên.

Chân Pháp Biểu

Tiếng xuân

Lắng nghe trong gió mùa xuân đến. 

Mát cả khung trời đất dậy hương. 

Sương đêm choàng ngủ còn say giấc. 

Chim đã trên cành vui líu lo. 

Đâu cành lộc mới vươn song cửa. 

Lay giấc mai hồng ai đó quên.

Vũ trụ xôn xao bừng nắng dậy. 

Mai nở vườn ai trắng cả trời. 

Ai đi trong gió mùa xuân ấy. 

Mới cả tình xuân mới cả lòng. 

Bàn tay ai đặt lên cung ấy. 

Nghe tiếng mùa xuân vươn lộc non. 

Nghe cả lòng ai đương mở cửa. 

Nghe cả đất trời sức sống vươn. 

Nghe trên nét bút người thi sĩ.

Họa bức xuân tươi giữa nắng hồng.

 

    Chân Trăng Hương Tích

Vừng ơi, mở ra!

Vừa rồi trong một bài pháp thoại, thầy Pháp Dung có kể rằng sống trong đại chúng, thầy hay “mượn tạm” kim cương của người khác, theo kiểu “năng nhặt chặt bị”. “Mượn tạm” ở đây nghĩa là nếu người khác có kim cương thì mình chỉ việc copy nó rồi tha hồ sử dụng. Vấn đề là mình có khả năng tìm ra kim cương ở người khác hay không. Kim cương này đặc biệt lắm vì người ta không đo bằng cara và nó cũng giống như xá lợi của Bụt, càng ngày càng sinh sôi nảy nở. Kim cương ở đây chính là những cái đẹp, cái hay có thể tìm thấy trong tất cả mọi người mà đôi khi chính người đó cũng không biết là mình đang sở hữu.

Ngay sau khi nghe thầy Pháp Dung chia sẻ, tôi hỏi ý kiến một sư chú thì được cho biết tìm được kim cương không phải dễ. Câu nói của sư chú làm tôi suy nghĩ. Nó vương vấn trong đầu tôi đến mấy ngày. Tôi nghĩ, thay vì tìm kim cương, mình thử tìm vụn, hoặc bụi kim cương xem sao.

Ngày hôm kia, một sư cô cho thiền hướng dẫn bằng hai thứ tiếng Anh, Pháp thật trôi chảy và nhẹ nhàng. Tôi lắng nghe, thực tập theo trong hạnh phúc và kinh ngạc. Tôi nhớ chỉ vài năm trước đây, sư cô vừa từ Việt Nam sang, nói giọng Huế đặc sệt. Một lần nọ, khi hai chị em ngồi làm cỏ ngoài vườn, sư cô nói tôi bày tiếng Anh rồi lặp lại một số câu đơn giản với giọng rất nặng và ngượng nghịu. Vậy mà bây giờ sư cô đã có thể cho thiền sinh tham vấn, hướng dẫn pháp đàm bằng tiếng Anh và thông dịch cho các buổi họp tỳ kheo ni, các buổi làm mới, Soi sáng hay bất kỳ một buổi họp nào trong đại chúng. Sư cô còn… tấn công qua tiếng Pháp và đã lấy được bằng lái xe ở Pháp, đã có thể đọc sách của Sư Ông bằng nguyên bản tiếng Pháp. Sư cô đi tu lúc mới mười lăm, mười sáu tuổi, chưa có dịp học hết phổ thông trung học. Tôi thầm nghĩ nếu sư cô có điều kiện để học hành và tiến thân như bên ngoài, không biết về mặt này sư cô sẽ còn đi xa đến đâu. Ngoài sư cô ra, trong đại chúng còn có nhiều sư cô cũng làm được điều đó.

Điều này khiến tôi phải nghiêng mình nể phục và nhận ra những gì tôi biết và làm được thật vô cùng khiêm tốn. Câu chuyện này đã gây hứng khởi cho tôi đầu tư thêm vào tiếng Pháp. Nếu bỏ qua viên kim cương lóng lánh của tâm hiếu học, chí vượt lên chính mình này thì thật là đáng tiếc.

Hai ba năm nay, lúc giáp Tết, tôi hay có dịp cùng một số quý sư cô lên xóm Thượng để làm báo Lá Thư Làng Mai. Tôi thấy có một thầy thường âm thầm dọn dẹp, lau chùi sắp xếp nhà bếp, nhà kho, nhà ăn. Thường là thầy bỏ giờ riêng ra làm để cho đại chúng thảnh thơi đi thời khoá. Thầy chăm sóc, tìm hiểu để mua thức ăn sạch và lành cho đại chúng. Một thầy khác cần mẫn lắp ráp, đóng tủ đóng kệ cho dàn âm thanh của ba xóm bốn chùa được ngăn nắp, tu bổ lại các dụng cụ máy móc cần thiết để cho ban âm thanh của Làng Mai đáp ứng được nhu cầu phụng sự trong các khóa tu lớn nhỏ. Thầy cũng bỏ công ra huấn luyện các sư cô trong ban âm thanh (liên tục đổi thay người) để các xóm có thể độc lập, nhưng thầy sẵn sàng có mặt để yểm trợ lúc cần.

Làng Mai quanh năm khoá tu nối tiếp khóa tu. Vì vậy ai cũng phải thực tập sao để có thể học, chơi, làm việc và nghỉ ngơi cùng một lúc. Nếu không thì làm sao có thể vừa nằm trong các ban tổ chức khóa tu, vừa âm thầm làm những công việc không tên “phía sau hậu trường” mà ta không thể nào biết hết được? Làm sao vừa giúp tổ chức một buổi lễ Truyền đăng vừa phải liên lạc với các tăng thân địa phương ở khắp nơi để những chuyến hoằng pháp vào mùa xuân, mùa thu diễn ra suôn sẻ? Làm sao vừa ngồi gõ máy tính để thiền sinh ở xa có thể đặt vé về Làng cho kịp khóa tu Doanh nhân hay khóa tu tiếng Pháp, vừa chuẩn bị cho bài thuyết trình Làm mới hay Hướng dẫn tổng quát? Đó là chưa kể còn tham gia thời khóa hàng ngày và có mặt trong các đội luân phiên nấu ăn, rửa nồi, dọn dẹp, v.v.

Các thầy, các sư cô tri khố, tri kho, tri sự, tri may, tri vườn, tri website, tri kế toán, thủ quỹ,… trong các xóm, phần lớn đều dành giờ riêng của mình để làm việc cho tăng thân. Có sư cô năm này qua năm nọ âm thầm yểm trợ, lo lắng cho thiền sinh trong thời gian họ tu tập ngắn hạn ở Làng. Có vị ngày làm biếng bỏ thì giờ ra chăm sóc sức khỏe cho các chị em, cho cả thiền sinh. Vốc kim cương này sáng chói tinh thần phụng sự quên mình.

Đôi khi ngồi nhìn quý thầy, quý sư cô mà tôi thấy trong lòng dâng lên một niềm biết ơn chi lạ. Sống ở Làng Mai, điều kiện vật chất khá khiêm tốn, nhất là về mặt nhà ở. Cả ba xóm đều được cải thiện từ các trang trại chăn nuôi cho nên phòng ốc vừa nhỏ, vừa cũ. Nhất là ở xóm Hạ và xóm Mới, chỗ ở chật chội nhưng tình chị em thì bao giờ cũng rộng rãi. Lâu lâu có thiền sinh, Phật tử người Việt, thậm chí ngay cả các sư cô từ các trung tâm khác của Làng Mai tới thăm, nhất là vào dịp Tết được đi thăm phòng của quý sư cô, họ rất thương. Họ nói: “Không ngờ trung tâm quốc tế Làng Mai mà lại như ri!”. Đôi khi có người nghĩ là Làng Mai giàu. Ừ, thì Làng Mai giàu thật đó, có cả quặng kim cương làm sao mà không giàu cho được. Kim cương mà tôi góp nhặt đầy cả ra đó còn gì!

Sư Ông nhận đệ tử xuất gia hơi trễ nên quý thầy, quý sư cô đệ tử lớn nhất của Sư Ông tính đến năm nay chỉ mới được 30 hạ lạp. Nhưng như vậy cũng là những cây cổ thụ so với một cây non như tôi. Trong đại chúng, sự có mặt của quý thầy quý sư cô có 20, 30 tuổi hạ là rất quý, nhất là những người không nói tiếng Việt. Trong bao nhiêu năm đó, các vị đã vừa tu tập, vừa sát cánh bên Sư Ông để xây dựng Chúng, chăm lo hướng dẫn các sư em, tổ chức và hướng dẫn khóa tu, cho pháp thoại,… Và luôn có mặt vào các thời thiền tọa, thiền hành, ăn cơm im lặng,… với đại chúng. Người đời có nói đến “hạt gạo cội”, tôi thấy đích thực đây là những hạt kim cương… cội.

Mấy năm nay, Sư Ông không khỏe nên một số quý sư cô lớn cần có mặt bên cạnh Người. Xóm tôi ở chỉ còn lại rất ít quý sư mẹ lớn. Ở trong chùa, sự có mặt của người lớn rất cần thiết. Thiếu người lớn, các sư chị của tôi phải trưởng thành thật nhanh để chăm em. Nhiều sư chị của tôi còn ở tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới” mà bây giờ nào là đứng ra cáng đáng các công việc thường ngày trong Chúng, lại còn phải tập nhìn xa trông rộng để làm sao cho Chúng đi lên, rồi lúc nào cũng có các em muốn vào tu nên phải trở thành nơi nương tựa cho các em. Vừa chăm em mới, vừa phải duy trì chăm sóc, nâng đỡ các em cũ, sách tấn, khuyến khích, làm gương, đồng thời phải tiếp tay với người lớn tổ chức khóa tu, hướng dẫn thiền sinh đến Làng tu học, ra ngoài hướng dẫn các khóa tu ở ngoài. Quanh năm ít khi có thời gian rảnh rỗi. Đây là viên kim cương của hy sinh và phụng sự, của tinh thần “lượng cả bao dung”.

Trong nhiều lĩnh vực khác như xây dựng, bảo trì, quý sư cô còn rất trẻ tuổi đời đã thật dũng cảm đứng ra đảm nhiệm dù là vừa phải học thêm tiếng Pháp vừa dùng ngôn ngữ tay chân để truyền thông với kỹ sư hay mấy ông thợ Pháp.

Mùa an cư vừa qua, có nhiều thiền sinh đến cùng thực tập an cư ba tháng. Hai sư cô giáo thọ rất trẻ đã nhận lời làm y chỉ sư của khoảng 12 thiền sinh trong nhóm nói tiếng Anh. Khi mới gặp, các thiền sinh đã hơi lo lắng vì các sư cô trông quá trẻ, làm sao có đủ kinh nghiệm và năng lực để hướng dẫn họ. Ba tháng ở cùng nhau, cùng tu tập một chỗ, không đi ra ngoài là thời gian mà ai cũng phải đối diện với những khó khăn của riêng mình. Những tập khí chỉ khi ở chung mới có dịp bộc lộ làm các bạn thiền sinh này lên xuống không ít. Làm y chỉ sư cho các bạn nghĩa là phải cho tham vấn, hướng dẫn họ cách thực tập khi họ lên xuống. Có lúc cần phải nhu, lúc khác lại phải cương, phải sử dụng rất nhiều phương pháp thích ứng với tuổi tác của họ (các vị này tuổi từ 21 đến 71). Cuối an cư, sáu trong số mười hai người đã đăng ký để trở lại tu tập từ 6 đến 12 tháng. Họ nói rằng không ngờ y chỉ sư nhỏ tuổi như vậy mà có thể thấy và biết rất nhiều. Tôi rất hãnh diện về các sư chị của mình. Suốt ba tháng an cư, các sư chị đã phải bỏ ra rất nhiều tâm lực và thực tập miên mật để có thể duy trì sự vững chãi, tạo không gian trong lòng mình để có mặt cho thiền sinh. Có thể nói là các sư chị đã thực tập được điều mà Sư Ông luôn căn dặn: thực tập, làm việc, chơi và nghỉ ngơi – bốn trong một.

Lâu lâu các sư chị của tôi cũng có khóc một chút vì… tủi thân, thấy sao mình còn nhỏ mà phải cáng đáng đủ thứ, y như người lớn. Nhưng như Sư Ông Làng Mai có lần đã nói: “Thương mà ra hết”. Thương Sư Ông, thương đại chúng, thương con đường đẹp mà mình đang đi nên khóc một tí cho khỏe rồi lau nước mắt và làm tiếp. Những giọt nước mắt đó đã biến thành những viên kim cương sáng chói, đưa đường cho sư chị sư em bước tới thảnh thơi.

Sư Ông lại không cho bán hàng giả. Có nghĩa là nói sao thì làm vậy. Hay ít ra thì cũng cố gắng nói sao làm vậy! Lòng biết ơn của tôi đối với quý thầy quý sư cô tràn dâng bởi tôi biết khi có tài năng, một người trẻ có thể lập thân theo cách rất thông thường mà mọi người trẻ trên đời này vẫn đang làm. Tài năng đi đôi với danh vọng, tài lợi, quyền hành. Thay vào đó, những người trẻ này đang đi ngược dòng, đang làm nên hiểu nên thương để thế giới này trở thành một nơi đẹp đẽ hơn. Làm sao mà tôi không biết ơn cho được. Đây là một viên kim cương của sự buông bỏ, xả ly. Nó làm tôi thấy rất thương mỗi khi nghĩ về quý sư anh sư chị sư em của tôi. Và thương thì tự nhiên mình cũng rảo chân chạy lúp xúp theo để coi có phụ giúp gì được hay không.

Chiều nay nói chuyện với một sư em, tôi thấy mình thật sự đã phát hiện ra được một viên kim cương nữa. Sư em nói rằng khi phát tâm xuất gia, sư em đã làm một cái nguyện là dù gì đi nữa sư em quyết tâm đến đây và ở lại đây, không đi đâu nữa hết. Có nghĩa là sư em đã tìm ra pháp môn, sư em sẽ quyết tâm thực tập dù cho có khó khăn đến đâu cũng nhất quyết không tìm cầu một cái gì khác. Đây không phải là một việc dễ làm. Khi được khuyến khích chia sẻ điều này ra để nuôi dưỡng huynh đệ, sư em nói rằng đây là một điều mà phần lớn ai cũng sẽ tiếp nhận bằng trí năng. Còn thực tế thì lại khác. Tôi mừng vì sư em này là một người không nói tiếng Việt. Tôi thấy tràn đầy hy vọng và biết ơn sư em rất nhiều bởi sư em có một viên kim cương rất quý: viên kim cương đã về đã tới.

Nhìn tới nhìn lui, tôi bỗng giật mình nhận ra mình đang có cả một… quặng kim cương. Tuy là vụn, hay bụi kim cương, nhưng vẫn là kim cương, có phải không?

Quặng kim cương này tôi đang mới bắt đầu khai thác. Điều kỳ diệu là mới ban đầu tôi chỉ có ý định “mượn tạm kim cương” thôi. Nhưng rồi tôi thấy mình đang đứng trên cả mỏ kim cương, giống như Alibaba đã mở được cánh cửa kho tàng nhờ câu thần chú “Vừng ơi, mở ra!” vậy. Câu thần chú để mở cửa quặng kim cương của tôi chính là câu: “Ngày nào con còn biết ơn, ngày đó con còn hạnh phúc”.

Chân Trăng Mai Thôn

Chân tâm một quyết lên đường

(Sư chú Trời Đức Hiền là người Pháp, xuất gia năm 2016 trong gia đình cây Mai vàng tại Làng Mai – Pháp. Với tâm nguyện trở thành một vị đại sứ của niềm vui và tình thương, sư chú đang hết lòng tu tập và phụng sự tại xóm Thượng, Làng Mai – Pháp. Dưới đây là những chia sẻ của sư chú được Ban biên tập chuyển ngữ từ tiếng Pháp)

Con đường tâm linh

Cha mẹ con đột ngột ra đi khi con mới mười tuổi. Mẹ qua đời trong một tai nạn, cha tự kết thúc đời mình vì quá tuyệt vọng trước sự ra đi của mẹ chỉ vài tháng sau đó. Chuyện này đã gây ra một chấn thương tâm lý lớn, để lại một vết thương rất sâu trong con. Môi trường xung quanh con hồi đó đã không thể có một chút hướng dẫn hay nâng đỡ nào về mặt tâm lý cũng như tinh thần cho con.

Trong vòng 19 năm tiếp theo, con đã làm mọi cách để trốn chạy khổ đau của mình. Tràn đầy năng lượng của tuổi trẻ nên con có thể “chạy” nhanh hơn những niềm đau trong con. Con vội vàng khỏa lấp đời mình bằng những mối tình, bằng công việc, những trò giải trí, những cuộc du hí đó đây hoặc bằng tất cả những gì có thể khiến con lấp đầy được cảm giác trống trải sâu thẳm trong mình. Những cuộc trốn chạy có tính toán này chỉ nhằm giúp con tồn tại. Đôi khi, nó cũng ít nhiều mang lại cho con sự dễ chịu nhưng nó luôn quá đà và làm con kiệt sức.

Năm con 29 tuổi, đang rất thăng hoa trên con đường sự nghiệp với vai trò bác sĩ tâm lý trong doanh nghiệp, mọi thứ trong con bỗng sụp đổ. Cơ thể con lần lượt bộc lộ những dấu hiệu suy yếu và không ngừng gửi tín hiệu báo động đỏ. Con liên tục bị những cơn đau bụng dữ dội và chóng mặt hành hạ. Vậy mà con vẫn tiếp tục làm như trước, vẫn cố kéo căng sợi dây thêm nữa cho tới khi nó đứt hẳn! Cơ thể con không còn có thể đáp ứng được nữa. Con phải dừng làm việc hoàn toàn và thực sự không thể làm ngơ trước tình trạng trầm cảm ngày càng tăng trong con.

Trong giai đoạn bão táp này, nhờ vào sự lắng nghe sâu và sự khéo léo của người bạn đời, con đã dần vượt qua những nỗi sợ hãi, bất an và bắt đầu tiếp xúc được với những khổ đau trong mình. Trong con có một đứa trẻ đã bị mất mát và tổn thương quá nhiều nhưng nó muốn được sống vui. Nó không muốn bị thiếu không khí, bị chết ngạt vì đã phải lớn quá nhanh. Nó khao khát được hít thở sự sống một cách trọn vẹn hơn, thoáng đạt hơn.

Con quyết định dừng lại tất cả để dành thời gian cho riêng mình, đi du lịch để khám phá bản thân, nhìn ngắm thế giới xung quanh mà cũng chính là nhìn vào tấm gương phản chiếu thế giới nội tâm của chính mình.

Những điều kiện thuận lợi mau chóng hội tụ giúp con thực hiện chuyến du lịch dài ngày này. Con đã thực sự đến gần và dần tiếp xúc được với chính mình. Tiếng gọi trở về với nội tâm luôn có mặt trong chuyến ngao du kéo dài một năm ở Nam Mỹ, và năm tiếp theo nữa ở châu Á. Ở đây, con khám phá những cách tiếp cận sự sống và cái chết vô cùng khác biệt với những gì con đã từng biết. Sự khác biệt lớn đến mức những gì con tin chắc, những tín ngưỡng trong con tan chảy ra như tuyết dưới ánh mặt trời. Sau cái chết của cha mẹ, con đã chối bỏ hết những gì thuộc về tôn giáo. Nỗi đau trong con quá lớn khiến con chẳng thể tin vào bất cứ điều gì. Con nghĩ mình chỉ có thể trông cậy vào chính bản thân mình thôi.

Nền tâm linh Đông phương đã giúp con chạm tới một cái gì đó lớn lao hơn trong con. Tiếp xúc với những tư tưởng về “Trí tuệ siêu việt” (Supramental) của Sri Aurobindo, Mẹ Mirra Alfassa và Satprem đã mở ra trước mắt con cách tiếp cận và thấu hiểu sự sống rất mới mẻ, mang lại nhiều cảm hứng cho con – người không ngừng tìm kiếm lạc thú trong nhiều năm dù chưa bao giờ có được cảm giác mãn nguyện thực sự.

Năm 1995, tại Himalaya, lần đầu tiên con tham gia vào một khóa tu do các đệ tử của Đức Đạt Lai Lạt Ma hướng dẫn. Con vẫn còn nhớ rõ cảm nhận của mình khi lần đầu tiên nhìn thấy các thầy tu ở Dharamshala (miền bắc Ấn Độ). Một cảm giác rất thật đi lên mách bảo con rằng có những khía cạnh đặc biệt quan trọng của nội tâm mà con không biết tới và nó có thể giúp con đạt được sự thăng hoa trong đời sống. Được ở bên những vị thầy tu đầy bình an này đem lại cho con rất nhiều cảm hứng. Con vẫn còn như thấy ánh mắt, nụ cười và sự có mặt đầy thương yêu của các thầy. Chính các thầy đã đóng góp một phần không nhỏ vào nguyện ước trở thành tu sĩ của con sau này.

Hai năm du lịch đã chữa lành nhiều vết thương trong con. Con đã dành thời gian để sống, đi theo nhịp điệu của cơ thể mình và tiếp xúc với những tổn thương nội tâm.

Rồi con trở lại nước Pháp. Con và người bạn đời hạnh phúc chào đón sự ra đời của hai bé gái Eléa và Lucia. Sau đó, con làm việc trở lại với tư cách một nhà tâm lý trị liệu. Quyết định này đến với con không mấy khó khăn. Con đã không chọn lựa công việc này mà dường như chính nó đã chọn con. Con thấy mình đã có thể lại gần thêm chút nữa với “em bé bị tổn thương” trong con. Đây là một hành trình dài vì em bé ấy bị thương tổn sâu sắc, đầy sợ hãi và không còn tin tưởng ở người lớn. Con đã cảm hóa em từ từ bằng cách làm em yên lòng mỗi ngày qua những buổi ngồi thiền. Sau khóa tu ở Himalaya, thiền tọa trở thành thực tập hằng ngày của con. Đó là những giờ phút quý báu, “buổi hẹn hò” yêu thương với chính bản thân con mỗi sáng. Phải có một lý do gì cấp bách lắm mới có thể khiến con bỏ ngồi thiền. Ngồi yên, mỉm cười, hai bàn tay đặt nhẹ lên nhau, con trò chuyện với mình, lắng nghe mình và quan sát những gì xảy ra. Sự thực tập này mang lại cho con những niềm vui rất sâu. Kết hợp với các phương pháp tâm lý trị liệu khác, thiền tập đã nâng đỡ, dẫn dắt con trên con đường chữa trị và khám phá bản thân trong một thời gian khá dài.

Gặp gỡ Làng Mai

Sau mười năm, con nhận ra rằng sự chuyển hóa nội tâm trong con không tiến triển nữa, con đã “bị lờn” với sự thực tập. Con thấy con đang làm “người đi vòng quanh”, luẩn quẩn trong cái vòng tròn an toàn, tiện nghi do mình tạo ra.

Con bắt đầu tìm kiếm một trung tâm thực tập nơi con có thể được hướng dẫn tu học và được yểm trợ từ năng lượng tập thể. Cuộc sống đã dẫn lối cho con đến với Làng Mai. Giáng sinh năm 2017, con có mặt ở Làng. Lần tiếp xúc đầu tiên này ghi dấu ấn sâu đậm trong con, khiến con cảm động vô cùng. Cuộc gặp mặt với tăng thân, cả xuất sĩ và cư sĩ, thật ấm áp, sống động, còn với Thầy thì an lạc, đầy tình thương. Điều làm con xúc động nhất ở Làng Mai chính là năng lượng nhẹ nhàng, thanh thoát mà rất sâu lắng của tăng thân. Với con, khả năng chế tác được sự cân bằng này là một điều kỳ diệu. Con có mặt ở đây để chăm sóc những khổ đau trong con, đồng thời để học cách tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống. Nếu con không thể nuôi dưỡng được niềm vui, nụ cười, tình huynh đệ trong con thì con sẽ không thể có năng lượng để tiến bước trên con đường chuyển hóa khổ đau. Trong tuần lễ Giáng sinh đó ở Làng, những buổi thực tập “chính thống” không nhiều, chỉ có vài buổi ngồi thiền, nhưng niềm hạnh phúc được có mặt bên nhau thì rất lớn. Con bị thuyết phục hoàn toàn trước khả năng có mặt cho nhau, cùng ăn mừng sự sống và vượt qua mọi rào cản để gắn kết với nhau một cách bình dị của tăng thân.

Con vui mừng khôn xiết, con đã tìm ra được một cộng đồng nơi con có thể nương tựa để tiếp tục thực tập, để được hướng dẫn và đồng thời được góp sức mình. Ở Làng Mai, bạn có thể đóng góp khả năng của mình ngay lần đầu bạn đến, chẳng cần phải đợi tới khi bạn là một thiền sinh có nhiều kinh nghiệm, đã từng tọa thiền nhiều giờ hay đã đọc rất nhiều kinh sách. Trở về nhà, tham gia sinh hoạt với tăng thân vùng Nantes, con mau chóng tìm được chỗ đứng của mình và trở thành một thành viên tích cực. Trong những năm tiếp theo, con tới tham dự nhiều khóa tu ở Làng. Con khám phá ra rằng tình thương và sức mạnh của năng lượng chánh niệm tập thể chính là yếu tố kích hoạt những biến chuyển nội tâm. Con hiểu ra vì sao Thầy luôn nhấn mạnh tới tầm quan trọng của sự thực tập với tăng thân. Con nhận ra sự khác biệt rõ rệt khi con thực tập một mình và khi thực tập với năng lượng tập thể của tăng thân.

Tăng thân trở thành nơi nương tựa của con, nơi con thấy mình được đón chào, được thương yêu, được chia sẻ. Khi tìm được tăng thân, con thấy mình giống như được ban phước lành. Trước đó, con khổ đau nhiều vì luôn thấy mình không có gia đình. Tăng thân là một gia đình lớn vô cùng kỳ diệu, gia đình ấy thường xuyên có những thành viên mới nhưng khả năng ôm ấp, nâng đỡ mọi người thì không hề thay đổi.

Trong những năm tháng thực tập với tăng thân, con được chứng kiến sự chuyển hóa lớn ở rất nhiều thiền sinh. Một trong những nguồn hạnh phúc của con là được nhìn thấy các bạn ấy rời Làng vào mỗi cuối tuần với khuôn mặt thư giãn, buông bỏ được nhiều sợ hãi, lo lắng.

Trở thành thành viên của dòng tu Tiếp hiện năm 2012, con có thêm cơ hội để hiến tặng sự có mặt của mình cho tăng thân, đặc biệt là vào những khóa tu mùa Hè với chương trình chăm sóc trẻ em. Dần dần, con nhìn thấy trong mình ước mong được tham dự nhiều hơn nữa vào đời sống tăng thân. Nguyện ước được làm một vị xuất sĩ lớn dần theo năm tháng. Con âm thầm đợi các con gái của con lớn lên và sẵn sàng cho một cuộc sống tự lập.

Tháng Hai năm 2015, nhân duyên đầy đủ cho phép con bày tỏ ước mong này trước mặt hai con gái con và toàn thể đại chúng.

Con đường nào chân chính cũng sẽ là con đường lành

Giờ đây, khi nhìn lại những gì đã xảy ra vào dịp Tết năm 2015 ấy, con thấy mình như đang được uống nước ở dòng suối hỷ lạc và thương yêu mà con đã được uống ngày hôm ấy.

Cùng hai con gái, chúng con đến Làng vào tuần lễ Tết Nguyên đán để được sống trong không khí lễ hội tươi vui của Làng. Hạt giống làm người xuất sĩ trong con đã nhiều lần biểu hiện trong những năm trước đó nhưng lúc này, nó ngủ yên. Con rất thích pháp môn bói Kiều (hoặc thơ của Shakespeare/Victor Hugo). Đây là cơ hội cho cư sĩ được tiếp xúc và hưởng được những cái thấy sáng suốt của quý thầy, quý sư cô đối với sự thực tập.

Vào đầu tuần, khi mới tới Làng, trong con đi lên câu hỏi: “Mình sẽ lựa chọn con đường nào cho cuộc đời mình đây?”. Tuy không thực sự rõ ràng nhưng câu hỏi này của con lại mang một chút dấu ấn về mong ước trở thành tu sĩ. Con xin cụ Victor Hugo một quẻ. Cụ dạy con:

David chante et voit Dieu de près,

Quand le chemin est droit jamais il n’est mauvais.

Tạm dịch:

David hát ca và thấy Chúa rất gần mình

Con đường nào chân chính cũng là con đường lành.

Quả thật, con rất thích hát và muốn nuôi dưỡng những rung động tâm linh đẹp trong mình khi hát. Câu thứ hai kích thích sự tò mò trong con. Con quyết định nhờ các thầy, các sư cô giải giúp. Con nghĩ, chính những chia sẻ này đã thổi bùng lên những biến chuyển mạnh mẽ trong tâm con. Sau những buổi tham vấn, con đã có một giấc mơ kỳ lạ. Con nghĩ chiều sâu tâm thức con muốn được thể hiện, muốn con hiểu nó. Trong giấc mơ, con thấy mình đang đi lên một cầu thang xoáy trôn ốc. Con gặp một phụ nữ đã có tuổi, rất đáng kính, mặc quần áo màu tím. Bà mỉm cười thân thiện với con. Con tiếp tục leo lên cầu thang. Tới điểm dừng chân ở giữa cầu thang, con thấy một người đàn ông, cũng mặc đồ tím, ngồi trong chiếc xe lăn. Khuôn mặt ông cúi gằm, mang vẻ ủ rũ, chán nản. Con tránh không làm phiền tới ông và tiếp tục leo thêm vài nấc thang nữa. Bỗng con nghe một tiếng động mạnh, khi quay lại, con thấy người đàn ông đó đã ngã lăn trên những bậc thang. Con sửng sốt, chết lặng vì nghĩ rằng chính mình đã làm ông ấy ngã khi bước qua. Con định chạy xuống đỡ ông lên nhưng không hiểu sao, có gì đó mách bảo con cần tiếp tục đi lên. Con tỉnh dậy và thấy trong lòng nhẹ nhõm vì đã đi tiếp mà không dừng lại.

Con cảm nhận sự có mặt của người phụ nữ nhân hậu như biểu tượng của sự nâng đỡ, tình thương và niềm tin của tăng thân, khích lệ con tiếp tục tiến lên trên con đường tu tập chuyển hóa thân tâm. Người đàn ông thể hiện một phần nào đó trong con mà con cần phải vượt qua, phải để cho nó “rơi rụng” xuống, giống như phải tự thoát mình khỏi lớp da cũ sau khi đã lột xác thì mới có thể được hồi sinh trở lại.

Không còn nghi ngờ gì nữa, hạt giống tu sĩ trong con đã thức dậy.

Ngày cuối cùng của tuần lễ Tết, trên đường đi bộ tới xóm Hạ, con đã hỏi hai con gái: “Thế nào, các con gái, các con nghĩ sao nếu cha xin một quẻ bói về chuyện xuất gia của cha? Các con có đồng ý để cha đi con đường này không?”. Cả hai trả lời: “Chúng con đồng ý. Cha đi theo con đường mà cha chọn đi. Cha đã cho chúng con đủ rồi. Chúng con ủng hộ cha!”. “Nhưng cha cũng đừng đi sớm quá nhé!”, đứa em gái nói thêm.

Tới xóm Hạ, trong buổi bói Kiều, con đặt lại câu hỏi của mình hôm trước rồi xin quẻ cụ Nguyễn Du. Đại chúng cười rộ lên khi nghe câu hỏi của con và câu trả lời của cụ. Con chưa kịp hiểu gì hết nhưng thấy lòng rất hân hoan với tiếng cười của đại chúng. Quẻ con nhận được nói thế này:

Nỗi mừng biết lấy chi cân

Tuyết sương che chở cho thân cát đằng.

Vị thầy ngồi chuông hỏi con: “Chú muốn xuất gia nhưng chú còn có các con phải không?”.

Vâng, thưa thầy.

Các con của chú có đồng ý để chú xuất gia không?

Thưa thầy, hai đứa con gái con đều đang ở đây, xin thầy hỏi các cháu.

Thế nào, các cháu có đồng ý không?

Dạ thưa có, chúng con đồng ý.

Đại chúng cười lên trong niềm hạnh phúc và xúc động. Với con, đây là một ân sủng. Dường như cả vũ trụ đã quy tụ lại trong giờ phút mầu nhiệm ấy để xác nhận điều tất yếu sẽ xảy ra.

Từ khi đó, những gì cần làm để chuẩn bị cho cuộc đời mới của con tự động diễn ra một cách êm thấm. Cảm được nhu yếu trong mình, con đã dành cả thời gian, không gian để chuẩn bị thân và tâm trước khi bắt đầu hành trình trở về. Con quyết định hành hương về Làng, chặng đường đi bộ dài 500km, bắt đầu từ thành phố Nantes nơi con sống. Sau ba tuần lễ, vào một ngày cuối tháng 10 năm 2015, con đã về tới Làng Mai.

Con rồng “hộ mệnh”

Thời gian ngay sau khi được xuống tóc, trong lòng con tràn đầy niềm biết ơn. Con đã rất hạnh phúc. Nhưng sau đó, vào mùa đông đầu tiên của cuộc đời xuất sĩ, khó khăn bắt đầu đến với con. Những thói quen cũ cần thay đổi, những thói quen mới cần tạo dựng. Việc ở chung trong một phòng với bảy huynh đệ khác thực sự rất thử thách với con. Chưa hết, những yếu tố mới mẻ, khác biệt của đời sống tăng thân càng làm con thêm bối rối. Với những khó khăn nội tâm có sẵn, sau một lần va chạm với một thầy khác, Làng Mai trong con – cái góc nhỏ thiên đường – bỗng chốc biến thành một nơi khủng khiếp, làm con sợ hãi và thấy bị đe dọa. Trong tích tắc, con thấy mình như đang ở địa ngục. Trong ba ngày liên tiếp, trong con chỉ có những suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực – chỉ toàn bóng tối. Tâm ý con dường như đã bị một thế lực nào đó chiếm hữu.

May mắn thay, trong một giây phút sáng suốt, con đã “ngộ” ra rằng những cảm xúc của mình đóng một vai trò quan trọng, thậm chí quyết định cách mình nhìn thế giới xung quanh. Con thầm nhủ: “Chỉ có một lối thoát: Bám vào sự thực tập”. Con quyết tâm ngồi thật vững trên bồ đoàn, tập trung vào mỗi hơi thở. Con thực tập thiền hành, nhận diện, ôm ấp những cảm thọ đi lên và chia sẻ tâm trạng của mình trong buổi pháp đàm. Không bao lâu, trong một buổi tọa thiền, con đã cảm được sự giận dữ xen lẫn với niềm cay đắng trong con bùng phát lên dữ dội và hiện lên trong hình tướng của một con rồng! Giây phút đó thật ấn tượng! Con rồng hiện lên oai vệ. Nó tuyệt đẹp nhưng có uy lực và ẩn chứa đầy sự nguy hiểm! Con run lên và cảm nhận rõ rằng con không thể “lại gần” nó.

Ngày tiếp theo, một chuyện rất cảm động đã xảy ra với con. Trong bữa điểm tâm, một bạn thiền sinh đặt trước mặt con một bức tượng nhỏ bằng đất mà bạn đã làm suốt đêm hôm trước. Bức tượng thể hiện con đang ngồi thiền, một con rồng nhỏ nằm cuộn xung quanh con, đầu rồng gối trên đùi con và bàn tay con đặt trên đầu rồng như đang vuốt ve nó. Thì ra, bạn thiền sinh này có mặt trong buổi pháp đàm ngày hôm trước. Sau khi nghe con chia sẻ, bạn đã cảm được tâm trạng của con và muốn giúp con thuần hóa được sức mạnh của con rồng đang hiện diện trong tâm con. Quá bất ngờ, mắt con nhòa lệ, trái tim mềm ra, thổn thức trước lòng tốt của người bạn mới quen. Con xúc động ôm người bạn trong tay, miệng ấp úng những lời cảm ơn.

Những câu chuyện về tinh thần nâng đỡ lẫn nhau giữa các bạn đồng tu như thế này thường xảy ra ở Làng.

Sau đó, kiên trì thực tập, con đã thực sự đến gần, tiếp xúc và thuần hóa được con rồng. Con đã “chơi” được với nó. Con hiểu ra rằng, con rồng ấy cũng là một người bảo hộ cho con. Nó xuất hiện để “bảo vệ”, thực chất là để che giấu những gì rất riêng, nhạy cảm, dễ bị tổn thương trong con mà con chưa dám bộc lộ ra vì sợ sẽ lại bị tổn thương. Con rồng ấy cũng giống như một người bạn che chở, bảo vệ con nhưng đồng thời có thể gây cho con nhiều thương tích. Khi nhận thấy có sự đe dọa, nó trở nên rất khó lường. Nó có thể chiếm lĩnh tâm trí con, khạc ra ngọn lửa chứa đầy năng lượng bạo động và tuyệt vọng giống như những gì nó đã làm trong những ngày đen tối trước đây.

Con hiểu ra rằng, nếu con có thể tiếp xúc sâu sắc hơn và chấp nhận được những gì yếu đuối, dễ bị tổn thương trong con và đặc biệt không sợ bị tổn thương thì “con rồng hộ mệnh” ấy sẽ không còn làm con sợ hãi.

Một lần nữa, con thấy rõ rằng bằng tình thương yêu, sự quan tâm và tấm lòng bao dung được chế tác mỗi ngày qua sự thực tập, tăng thân đã hiến tặng cho con cơ hội tiếp xúc với những niềm đau, nỗi khổ sâu kín trong con – những miền cấm địa – mà cho tới lúc này con không dám và cũng không thể chạm tới. Đã từ nhiều năm, con ý thức để chăm sóc nó bằng nhiều cách khác nhau nhưng cánh cửa đi vào những vùng tổn thương ấy vẫn còn đóng chặt. Cần phải có một không gian đủ an toàn, có nhiều tình thương và sự nâng đỡ mới có thể làm cánh cửa ấy mở ra. Mỗi khi đi vào vùng tổn thương nhạy cảm đó, cả cơ thể con run lên, nóng như đang bị sốt, mọi sức lực biến đâu hết, con không còn một chút năng lượng nào, cũng không thể nói hay làm bất cứ chuyện gì. Con chỉ có thể ngồi thở, có mặt đó và đón nhận những gì đang diễn ra bên trong. Khi cơ thể bắt đầu run lên như vậy, con biết là có một biến chuyển nào đó đang diễn ra trong chiều sâu tâm thức con. Con có cảm giác là không chỉ cả thân thể cần phải run lên như vậy mà mỗi tế bào trong cơ thể con cũng phải run lên như thế để nó được mềm ra, lỏng hơn. Có như vậy, năng lượng chuyển hóa, giống như một luồng gió mát, mới có thể đi vào làm lắng dịu căng thẳng, hóa giải được những uẩn ức sâu kín. Con thấy đây là những giây phút rất nhạy cảm, mình cần được ở trong một môi trường an toàn, có tình thương và sự cảm thông. Nếu không thì cả thân và tâm sẽ “rút lại”, chuyển sang thế “phòng thủ”, tạo thành mâu thuẫn bên trong – nguồn gốc của mọi căng thẳng.

Khi được làm một sư chú, con có ước nguyện rằng trái tim con sẽ rộng mở hơn, con sẽ là một vị đại sứ của niềm vui và tình thương, tạo được cảm hứng cho những người xung quanh. Sau một thời gian sống trong tăng thân, con thấy lòng mình vẫn còn nhỏ bé lắm so với khả năng cởi mở rộng lớn của nó. Nhưng thật mầu nhiệm, chính trong những lúc khó khăn, nó lại dễ dàng mở ra nếu con có thể cảm được tình thương mà tăng thân đang dành cho con. Chính tình thương này sẽ khiến cho mọi phản kháng, mọi sự che chắn, lo lắng, sợ hãi trong con rơi rụng hết. Lúc ấy, con trải nghiệm sâu sắc sự buông bỏ và chạm được vào một thực tại rộng lớn hơn mình rất nhiều – tính tương tức.

Chân Trời Đức Hiền

Thưởng thức im lặng nội tâm

Trong thời khóa tu học, chúng ta có giờ im lặng bắt đầu từ sau giờ sinh hoạt buổi tối cho đến sau buổi ăn sáng ngày hôm sau. Đôi lúc chúng ta còn kéo dài giờ im lặng này cho đến sau buổi ăn trưa. Tôi đã gom giữ thời khóa của nhiều khóa tu qua nhiều năm và thấy rằng vào năm 1993, chúng ta bắt đầu gọi pháp môn này là “Im Lặng Hùng Tráng”.

Im lặng hùng tráng không có nghĩa là chúng ta không được phép nói chuyện mà chúng ta không cần phải nói chuyện, không nhất thiết phải nói trong khoảng thời gian ấy.

Sự im lặng trở nên hùng tráng khi nó là một sự im lặng nội tâm. Tâm ta bình thản và nhẹ nhàng. Mỗi khi nghe chuông, dù là tiếng chuông báo chúng bên ngoài, tiếng chuông điện thoại, hay tiếng chuông đồng hồ, tôi đều thực tập Im lặng hùng tráng. Tôi trở về với hơi thở, tôi cảm nhận không khí đi vào và đi ra khỏi thân. Tôi ý thức về nhiệt độ và phẩm chất của không khí qua mũi. Với sự thực tập dừng lại và lắng nghe tiếng chuông, tâm tôi dần đi về hướng im lặng nội tâm.

Tôi nhận ra rằng khi tâm mình đang bận rộn nghĩ suy, thân mình cũng bận rộn và hành động của mình cũng trở nên ồn ào. Tôi thường xem thân là cánh cửa đi vào sự im lặng nội tâm. Vì vậy, tôi thực tập ý thức về các âm thanh gây ra qua sự cử động của chính tôi. Sự thực tập này đã đưa đến một kết quả mầu nhiệm: sự cử động của thân tôi trở nên rất yên lặng và tâm tôi trở nên lắng dịu.

Mỗi khi ngồi thiền, tôi thấy sự thực tập ý thức về thân giúp tôi thiết lập được sự quân bình và vững chãi. Đôi lúc ngồi trên bồ đoàn hoặc ngồi trên ghế nhưng ta không thực sự ngồi thiền. Tâm ta dường như không có mặt ở đó. Khi ngồi trên bồ đoàn, tôi ý thức sự tiếp xúc của thân với chiếc bồ đoàn và sự căng thẳng nếu có trong thân. Sự căng thẳng này có thể đang hiện diện trên trán, trên vai hoặc nơi bụng. Khi thở vào, tôi ý thức về thân mình và khi thở ra, tôi buông bỏ sự căng thẳng ấy từ thân. Rồi từ từ với mỗi hơi thở ra, tôi tiếp xúc sâu thêm với chiếc bồ đoàn cho đến khi tôi thực sự ngồi vững vàng như một quả núi.

Sự thực tập ý thức toàn thân, từ đỉnh đầu đến các ngón chân, và duy trì ý thức này trong suốt buổi ngồi thiền đem đến cảm giác hỷ lạc trong thân tâm, một sự nuôi dưỡng rất lớn.

Khi thực tập thiền đi chậm (kinh hành) trong thiền đường, tôi ý thức thân mình đang di chuyển trong không gian. Mỗi khi bước một bước, tôi ý thức đến sự tiếp xúc giữa bàn chân và mặt đất. Tôi thích đặt hết trọng lượng của thân trên mỗi bước chân. Khi đặt chân xuống, tôi ngừng một chút để buông thư và cảm được sự lắng đọng trong bước chân ấy.

Tôi cũng thích thực tập như vậy khi đi bên ngoài, tuy ít chậm hơn. Đôi lúc sự thực tập buông thư trong từng bước chân có thể là một thử thách lớn. Thí dụ, khi tiếng chuông báo chúng được thỉnh lên, chúng ta có cảm tưởng rằng chúng ta phải vội hơn để đi đến điểm sinh hoạt kế tiếp. Khi chúng ta bước đi một cách vội vàng, chúng ta không buông thư được trong từng bước chân. Thay vì vậy, chúng ta đi để cho mau đến một nơi nào đó. Trong những lúc như thế, tôi thực tập buông bỏ sự vội vàng để có thể nghỉ ngơi trong mỗi bước chân. Điều này có thể là một sự thử thách, vì trong tôi có tiếng nói rằng nếu không nhanh chân tôi sẽ bị trễ. Nhưng thực ra, nếu không vội vàng, tôi có thể đến nơi sớm hơn, vì vội vàng đến từ lo lắng và năng lượng lo lắng là một năng lượng rất nặng nề, làm chậm bước chân tôi. Nếu buông bỏ được sự vội vàng và lo lắng, chúng ta sẽ di chuyển một cách nhẹ nhàng hơn, có mặt trong từng bước và đến nơi đúng giờ. Chúng ta có thể di chuyển nhanh mà không cần phải vội vàng.

Khi các hành động của thân có sự bình an, lắng đọng, tâm cũng được lắng đọng và an bình. Sự im lặng bên ngoài sẽ trở thành sự im lặng bên trong. Sự im lặng bên trong này là nền tảng cho pháp môn Lắng nghe. Đây là bản chất của sự thực tập Hiện pháp lạc trú và khả năng tiếp xúc với những gì đang xảy ra trong thân tâm và xung quanh ta. Sự im lặng bên trong cho ta tiếp xúc với chính mình, với người thân của mình và với những mầu nhiệm của cuộc sống.

Chân Diệu Nghiêm