Khoá tu mùa hè 2019

 

 

Khoá tu mùa hè hàng năm tại Làng Mai Pháp là khoá tu được rất nhiều người trông đợi, nhất là những gia đình có các em nhỏ lứa tuổi teen và thiếu nhi. Ba mẹ và các em có cơ hội cùng sống trong một cộng đồng, một gia đình tâm linh lớn, được hưởng năng lượng tập thể cũng như học hỏi và thực tập những phương pháp tái thiết lập truyền thông, hiểu biết và thương yêu …. Khoá tu luôn hứa hẹn một khoảng thời gian của những nụ cười, niềm thông hiểu và làm mới trong khung cảnh xanh mát, tươi tắn và ấm áp của Làng Mai. Hơn thế nữa, ai cũng có thể mang về theo mình gia tài của Bụt, của Sư Ông và tăng thân để được tiếp tục thực tập và hạnh phúc trong cuộc sống hàng ngày.

Các em nhỏ và các em tuổi teen được quý thầy, quý sư cô chăm sóc trong các chương trình riêng. Cùng vui chơi và chia sẻ, các em được tiếp nhận hạt giống chánh niệm và tình thương. Trong khoá tu mùa hè, mỗi tuần đều có một hoạt động kỷ niệm đặc biệt của tuần như Tết Trung Thu, Lễ Bông Hồng Cài Áo…, những buổi lễ luôn để lại dấu ấn sâu đậm trong trái tim của các em cũng như các bậc phụ huynh.

 

Thời gian: từ ngày 05.7 đến ngày 02.8.2019

Địa điểm: tại Làng Mai, nước Pháp

Ngôn ngữ chính: Anh /Pháp /Việt

(Các bài pháp thoại sẽ được phiên dịch trực tiếp sang 6 ngôn ngữ: Đức, Hà Lan, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, tiếng Hoa và tiếng Việt)

 

Nếu quý vị muốn đến Làng Mai Pháp tham dự khóa tu mùa hè năm nay, xin vui lòng đọc kỹ các hướng dẫn dưới đây và điền vào đơn đăng ký. Quý vị có thể đăng ký tham dự từ 1 tuần đến 4 tuần:

Tuần 1: Thứ sáu, ngày 05 tháng 7  –  Thứ sáu, ngày 12 tháng 7
Tuần 2: Thứ sáu, ngày 12 tháng 7 – Thứ sáu, ngày 19 tháng 7
Tuần 3: Thứ sáu, ngày 19 tháng 7 – Thứ sáu, ngày 26 tháng 7
Tuần 4Thứ sáu, ngày 26 tháng 7 – Thứ sáu, ngày 02 tháng 8

Như thường lệ, mỗi tuần Làng Mai sẽ có khoảng hơn 500 thiền sinh thực tập tại các xóm. Vì vậy xin quý vị đăng ký trước ngày 01.06 để giữ chỗ. 

Ngày đón và đưa thiền sinh là ngày thứ sáu mỗi tuần.

Làng Mai không có chương trình cho trẻ em dưới 6 tuổi. Xin các bậc phụ huynh tự chăm sóc các bé trong suốt khoá tu.

 

Xin bấm vào đây để đăng ký online: 

https://plumvillage.org/register/summer-opening-retreat-2019/

 

Xin đọc thêm thông tin tổng quát khi đến tham dự khóa tu tại Làng Mai ở đây: https://langmai.org/cong-tam-quan/toi-tham-lang-mai/thong-tin-chung-ve-khoa-tu-tai-lang-mai

 

Rong chơi nơi hiện pháp

(Thầy Trời Nguyện Lực người Thái Lan, xuất gia năm 2013 thuộc gia đình Cây Đoàn, tại Làng Mai Pháp, trong chương trình Xuất gia 5 năm. Thay vì trở lại nếp sống của người cư sĩ sau khi hoàn tất chương trình, thầy phát nguyện tiếp tục tu học và phụng sự với tư cách một người xuất sĩ. Dưới đây là những chia sẻ của thầy được Ban biên tập chuyển ngữ từ tiếng Anh.)

 

Cách đây hơn năm năm vào ngày 8 tháng 12 năm 2013, con được thọ giới Sa di. Và cũng từ thời điểm đó, chương trình Xuất gia 5 năm của con bắt đầu. Lúc đó con thông báo cho người thân trong gia đình và bè bạn rằng con tham dự vào chương trình này “ít nhất là 5 năm” vì con muốn xem điều gì sẽ xảy ra sau năm năm. Có thể con sẽ trở về đời sống cư sĩ hoặc tiếp tục con đường xuất gia suốt đời. Con cũng chưa chắc lắm vào lúc ấy. Con chỉ biết rằng con muốn thực hiện chương trình 5 năm trước rồi sẽ suy nghĩ về tương lai sau vì con nghĩ rằng thời gian năm năm sẽ đủ cho con làm quyết định ấy.

Nhìn lại quãng thời gian qua, con có thể nói rằng năm năm sống và thực tập như một xuất sĩ đã mang đến rất nhiều lợi lạc cho con. Con đã có rất nhiều hạnh phúc và cũng đã đi qua những khổ đau. Tất cả những điều đó đã mang đến cho con cơ hội để thực tập và chuyển hóa tự thân. Có những giai đoạn đầy niềm vui, bình an, vững chãi và cũng có những giây phút lên xuống trong đời sống tu tập. Tuy nhiên nhờ vào những kinh nghiệm này, con đã học được rất nhiều về chính mình và về mọi người. Con hiểu bản thân mình hơn và nhận diện được những giới hạn của tự thân. Và quan trọng nhất là tâm bồ đề, niềm tin vào pháp môn thực tập trong con vẫn còn mạnh mẽ.

Thời điểm bước sang năm 2018, cũng là năm cuối của con trong chương trình 5 năm, nhiều suy tư và câu hỏi bắt đầu đi lên trong con. Con sẽ làm gì sau khi chương trình 5 năm kết thúc? Con nên trở lại đời sống cư sĩ hay tiếp tục con đường xuất gia? Con có thực sự muốn trở lại đời sống cư sĩ không? Con sẽ tìm công việc gì để làm? Liệu cuộc sống ấy có giúp con hoàn thành được ước nguyện của mình không? Còn nếu tiếp tục con đường xuất gia thì sao? Con có sẵn sàng cam kết làm một vị xuất sĩ suốt đời không? Lỡ các điều kiện thay đổi trong tương lai và con không thể giữ được cam kết ấy? Con có bị dán nhãn hiệu là đã thất bại nếu con không thể giữ được lời hứa của mình không?

Nhiều tuần liên tiếp trôi qua và những suy tư kia tiếp tục tăng thêm cường độ. Con bắt đầu lo lắng rằng mình phải đi đến một quyết định trước ngày 8 tháng 12 năm 2018. Con sẽ trả lời ra sao khi đại chúng hỏi về quyết định của con? Còn nếu gia đình con hỏi thì sao? Chuyện gì sẽ xảy ra khi thời điểm đó đến và con vẫn chưa có câu trả lời? Năm năm chưa đủ để biết mình muốn hoặc không muốn tiếp tục con đường tu tập hay sao? Con phải làm gì? Con phải trả lời ra sao? Và nhiều câu hỏi nữa đã đi lên trong con.

Một ngày nọ, con nhận ra rằng con đã để cho sự suy tư và lo lắng về tương lai chiếm ngự tâm mình quá lâu. Những suy tư đó không đưa con đến gần với câu trả lời, mà lại kéo con ra khỏi những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Con tự nói với chính mình rằng sao mình không buông bỏ những suy tư, lo lắng và trở về với hiện tại? Không phải đây là điều mà mình thường chia sẻ cho mọi người hay sao? Tại sao mình lại không thực tập chính những điều mình chia sẻ? Với cái thấy này, con quyết định buông hết mọi suy tư và đặt mình vào sự thực tập trở về an trú trong giờ phút hiện tại. Nếu con chăm sóc tốt giờ phút hiện tại thì tương lai sẽ tự nhiên được tốt đẹp. Con muốn để tàng thức cho con câu trả lời đối với một quyết định quan trọng như vậy thay vì sử dụng ý thức. Vài năm trước, quyết định “trở thành một người tu” cũng đến với con theo cách này. Con đã đến Làng Mai như một cư sĩ, thực tập trong ba tháng An cư mùa đông để trải nghiệm cuộc sống ở đây và cũng để xem thử con có thực sự muốn trở thành một vị xuất sĩ hay không. Đến cuối khóa tu mùa Đông, con đã gần 100% chắc chắn, nhưng con muốn kiểm chứng rằng con đã không chỉ bị ảnh hưởng bởi môi trường ở Làng Mai. Vì vậy con đã trở về Thái Lan để sinh hoạt lại trong môi trường bình thường tại gia đình và xem mình có còn muốn làm người tu nữa hay không. Con để câu hỏi ấy lắng sâu vào lòng và tiếp tục thực tập có mặt trong giây phút hiện tại, không cố gắng tìm câu trả lời bằng lý trí. Rồi một ngày nọ câu trả lời đã đến một cách tự nhiên, rằng con muốn sống cuộc sống của một người tu. Con cần sống cuộc sống của một người tu!

Vì vậy, cuối cùng con đã thực tập đặt niềm tin vào tàng thức để làm quyết định cho chương trình 5 năm. Con không cần đánh mất mình trong sự lo lắng về tương lai. Đâu có ai tạo áp lực bắt con phải quyết định sớm, ngay cả tăng thân. Người tạo áp lực cho con là chính con. Con chỉ cần tiếp tục tưới tẩm hạt giống chánh niệm bằng cách sống sâu sắc trong giây phút hiện tại. Và đó là giây phút bắt đầu của cái mà con gọi là chương trình “Bây giờ” (Now program). Đám mây lo lắng bay tới bay lui trên đầu con đã biến mất. Những bông hoa nhiều màu, thảm cỏ, bầu trời, ánh nắng, cùng vẻ đẹp thiên nhiên xung quanh con trở thành hiện thực. Con thưởng thức trở lại sự thực tập đơn giản của hơi thở và bước chân chánh niệm. Con có thể nhận diện nhiều điều kiện hạnh phúc con đang có và niềm biết ơn trào dâng trong con.

Một vài thầy hỏi con định sẽ làm gì sau khi xong chương trình 5 năm và con đã trả lời rằng con sẽ tham gia vào chương trình “Bây giờ”. Thực sự, chương trình “Bây giờ” đã bắt đầu ngay giây phút con giác ngộ ra rằng con nên buông bỏ sự suy tư và trở về với cái “bây giờ”. Đó là một chương trình ai cũng có thể tham gia vào, dù cư sĩ hay xuất sĩ mà không cần phải viết một lá thư phát nguyện xin làm tập sự. Chương trình này chấm dứt vào giây phút mình bị kéo đi bởi quá khứ hay tương lai. Nó bắt đầu trở lại khi mình trở về với giây phút hiện tại. Đối với con, chương trình này có nhiều thử thách hơn chương trình 5 năm hoặc ngay cả chương trình tu suốt đời. Mình có thể là một xuất sĩ trọn đời nhưng lười tu tập và ít khi an trú trong hiện tại. Mình cũng có thể là một cư sĩ và thực tập siêng năng, thường trở về giây phút hiện tại. Con nghĩ điều quan trọng là mình cần phải là một người thực tập đích thực, dù trong bất cứ hình tướng nào. Đây là bản chất của chương trình “Bây giờ”.

Con rất may mắn được có cơ hội sống và thực tập như một vị xuất sĩ. Đời sống xuất gia cho con nhiều điều kiện tốt để thực tập và con không nên xem thường. Ngược lại con phải tận dụng hết những điều kiện này bằng cách thực tập hết lòng. Dù trong năm năm qua, con đã trải nghiệm nhiều giây phút rất khó khăn, nhưng con vui là con vẫn còn được ở lại trong tăng thân. Niềm tin của con với con đường này vẫn vững mạnh vì con biết những giây phút khó khăn kia là những cơ hội cho con thực tập hiểu mình và chuyển hóa bùn thành sen. Nhiều lúc con tự hỏi Sư Ông sẽ làm gì trong những trường hợp khó khăn kia nếu Sư Ông ở trong hoàn cảnh của con, ở độ tuổi đời và tuổi đạo này? Sư Ông sẽ tiếp xử như thế nào? Sư Ông sẽ làm hoặc không làm những gì? Những câu hỏi trên mời gọi sự có mặt của Sư Ông trong con, hướng dẫn con trở về với hiện tại, về với chương trình “Bây giờ”, để chăm sóc cho những cảm thọ và thiết lập lại sự bình an, tĩnh lặng. Từ đó con sẽ biết cách tiếp xử với hoàn cảnh như thế nào.

Quyết định tham gia và an trú vào chương trình “Bây giờ” giúp con buông bỏ mọi đòi hỏi về chính mình và về người khác. Nó giúp con ngưng lại chuỗi suy tư, lo lắng về tương lai. Nó cũng giúp con làm vơi bớt và trị liệu những khổ đau từ quá khứ hoặc trong hiện tại. Nó cũng đem con về giây phút hiện tại để tiếp xúc với các yếu tố trị liệu và nuôi dưỡng trong tự thân và chung quanh con. Điều quan trọng hơn nữa là nó cho con thêm hiểu biết và hạnh phúc.

Con xin mời mọi người cùng con tham dự và cam kết trọn đời với chương trình “Bây giờ”!

Kính tặng mọi người một nụ cười với niềm biết ơn.

Chân Trời Nguyện Lực

Hạnh phúc mỗi ngày

(Trích từ cuốn “Thiền tập cho người bận rộn” – Sư Ông Làng Mai)

 

 

Thức dậy vào mỗi buổi sáng

Ngay khi mới thức dậy, bạn có thể mỉm cười liền lập tức, nụ cười này mang tính giác ngộ: bạn ý thức là một ngày mới được bắt đầu và hăm bốn giờ tinh khôi là món quà mà sự sống đang hiến tặng cho bạn. Đó là tặng phẩm quý giá nhất. Bạn có thể đọc thầm hoặc đọc lớn tiếng bài thơ này:

Thức dậy miệng mỉm cười
Hăm bốn giờ tinh khôi
Xin nguyện sống trọn vẹn
Mắt thương nhìn cuộc đời.

Bạn có thể vẫn nằm yên trên giường, buông thẳng hai tay và hai chân một cách thoải mái trong khi đọc bài thi kệ ấy. Thở vào, đọc thầm câu đầu. Thở ra, đọc thầm câu thứ hai. Thở vào, đọc câu thứ ba. Thở ra, đọc câu thứ tư. Và với nụ cười, bạn ngồi dậy, quơ dép và đi vào phòng rửa mặt.

Múc nước đổ vào chậu, thau hay vặn nước máy để rửa mặt

Bạn có thể có nhiều hạnh phúc trong thời gian rửa mặt, súc miệng. chải đầu, cạo râu hay tắm, nếu bạn biết đem ý thức chiếu rọi vào những gì bạn đang làm. Ví dụ khi mở nước, bạn biết là nước bắt đầu chảy ra từ vòi nước và bạn cũng biết được là nước từ đâu chảy tới tận phòng rửa mặt của bạn. Bạn có thể thầm đọc bài thi kệ sau đây:

Nước từ nguồn suối cao
Nước từ lòng đất sâu
Nước mầu nhiệm tuôn chảy
Ơn nước luôn tràn đầy.

Bài thi kệ này giúp bạn thấy được nước từ đâu tới, biết được nước từ đâu tới. Cái thấy đó đã là thiền quán. Bạn cũng biết rằng bạn đang may mắn, vì nước không bị cúp. Cái biết đó đem lại cho bạn hạnh phúc. Cái biết đó là chánh niệm. Chánh niệm là ý thức, là khả năng nhận diện được cái gì đang xảy ra ở đây trong giây phút này. Cái đang xảy ra là bạn đang mở nước và có nước đang chảy ra. Ở Làng Mai bên Pháp thỉnh thoảng cũng bị cúp nước. Mỗi lần như thế mình biết được cái khổ khi không có nước và hạnh phúc khi có nước. Cái hạnh phúc chỉ được nhận diện khi mình nhớ tới cái đau khổ! Tôi thường mở nước nhẹ thôi và lấy bàn tay hứng nước mát lạnh phả vào hai mắt. Bên này mùa Đông nước lạnh lắm! Cái cảm giác do nước lạnh gây nên trên ngón tay, trên hai mắt và trên gò má rất dễ chịu. Bạn hãy nhận diện cảm giác đó. Bạn tỉnh hẳn ra do cảm giác đó. Bạn hãy tận hưởng cái cảm giác đó. Bạn hạnh phúc cũng nhờ bạn biết trân quý nước và nhờ tâm niệm biết ơn của bạn.

Lấy gáo múc nước trong chum hay trong vại để đổ vào thau rửa mặt cũng thế, bạn hãy để tâm ý vào từng động tác, đừng suy nghĩ đến những chuyện khác và quan trọng nhất là phải thấy có niềm vui trong từng động tác, đừng làm hấp tấp cho mau xong. Thiền là như thế ! Thiền là có mặt thực sự cho mình trong từng giây phút của sự sống, và khả năng nhận diện rằng mỗi giây phút của sự sống là một tặng phẩm của sự sống, một tặng phẩm của đất trời. Cái hạnh phúc này được gọi là thiền duyệt (The joy of meditation).

Chải răng

Đây là một thử thách cho bạn. Bạn có một tới hai phút để chải răng. Làm sao để bạn có hạnh phúc trong thời gian ngắn ngủi ấy? Đừng hấp tấp, đừng cố chải răng cho mau xong. Phải đem hết tâm ý đặt vào việc chải răng. Bạn có thì giờ để chải răng. Bạn có bàn chải, có kem và có răng để chải. Tôi đã trên tám mươi tuổi, vậy mà mỗi khi chải răng tôi đều có hạnh phúc: tôi thấy đến tuổi này mà còn có mấy mươi cái răng để chải là cũng mầu nhiệm lắm. Đây là sự thách thức: chải răng như thế nào để bạn có được thảnh thơi và hạnh phúc trong thời gian từ một phút đến hai phút chải răng. Làm được như thế là có thiền, là thành công rồi đấy.
Đây là một bài kệ bạn có thể sử dụng trong khi chải răng:

Chải răng và súc miệng
Cho sạch nghiệp nói năng
Miệng thơm lời chánh ngữ
Hoa nở tự vườn tâm.

Những bài thi kệ giúp ta đưa ý thức trở về với những gì trong giây phút hiện tại. Ta đừng bị kẹt vào những bài thi kệ, nếu ta có niệm, có định, nếu ta an trú được trong hiện tại thì ta cũng không cần đến những bài thi kệ ấy lắm đâu.

Tắm dưới gương sen, gội đầu, chải đầu, cạo râu, mặc áo

Trong khi kỳ cọ, xoa xà phòng, cạo râu, chải đầu, mặc áo, ta đều có thể thực tập như khi ta chải răng. Ta để tâm ý hoàn toàn vào cái ta đang làm. Ta làm cho thong dong, cho hạnh phúc, như thể cạo râu, chải tóc, cạo đầu là việc quan trọng nhất trên đời. Đừng để suy tư kéo ta đi về quá khứ, đi về tương lai hay làm ta kẹt vào những lo lắng, sầu khổ, giận hờn. Bạn tập đi, vài ba ngày sẽ thấy tiến bộ, giống như tập đàn, chơi bóng bàn, tập hát… Bạn hãy tập sống sâu sắc và thảnh thơi mỗi giây phút của đời sống hàng ngày. Mà muốn được như vậy, tâm ý phải rời bỏ quá khứ, rời bỏ tương lai và rời bỏ ưu tư để trở về với giây phút hiện tại. Giây phút hiện tại là giây phút duy nhất chứa đựng sự sống với tất cả những mầu nhiệm của nó.

Ngồi thở

Có người ngồi thiền mỗi lần nửa giờ, bốn mươi lăm phút hoặc nhiều hơn. Ở đây tôi chỉ xin bạn ngồi hai hoặc ba phút. Nếu sau này thấy ngồi thiền dễ chịu, bạn cứ việc ngồi thêm, ngồi bao lâu cũng được.

Nếu trong nhà bạn có bàn thờ Phật thì bạn có thể ngồi trước bàn Phật. Nếu không, bạn chọn một nơi nào thích hợp, có thể là trước cửa sổ, ngồi nhìn ra ngoài trời. Sắm một cái gối nhỏ, dày chừng mười tới mười lăm phân, kê dưới mông; hai bàn chân xếp lại đầu gối đặt xuống bên ngoài chiếc gối nhỏ, như vậy mông và đầu gối trở thành thế ba chân vạc, ngồi rất vững, không kẹt, có thể ngồi lâu không tê chân. Chọn chiếc gối nhỏ có chiều dày thích hợp với bạn. Bạn cũng có thể đốt một cây nhang cho khung cảnh được thanh thoát hơn. Tay cầm cây nhang cho khoan thai, tập trung tâm ý vào việc đốt nhang và cắm nhang vào bình. Làm sao cho có chú tâm (niệm) và tập trung (định) trong khi đốt nhang. Tâm ý hoàn toàn có mặt trong khi đốt nhang. Ngồi xuống, để lưng và đầu thành một đường thật thẳng, thẳng mà không cứng. Thở vào và chú ý tới tác động của hơi thở vào nơi bụng và nơi ngực. Thở ra và chú ý tới tác động của hơi thở ra nơi bụng và nơi ngực.

“Thở vào, tôi để ý tới tác động của hơi thở vào nơi bụng tôi và ngực tôi.
Thở ra, tôi để ý tới tác động của hơi thở ra nơi bụng tôi và ngực tôi.”

“Thở vào, tôi ý thức được sự có mặt của toàn thân tôi.
Thở ra, tôi mỉm cười với toàn thân tôi.”

“Thở vào, tôi ý thức về sự có mặt của những căng thẳng và đau nhức trong toàn thân tôi.
Thở ra, tôi buông thả những căng thẳng và đau nhức trong toàn thân tôi.”

“Thở vào, tôi thấy dễ chịu trong khi thở vào.
Thở ra, tôi thấy thoải mái trong khi thở ra.”

Bài tập này nếu muốn, bạn có thể thực tập nhiều lần trong ngày, ngay cả ở sở làm, để có thể dừng lại, thư giãn, và nhiều tươi mát hơn.

 

 

Đi cầu, đi tiểu

Bạn cũng có thể tập thiền khi đi cầu hay đi tiểu. Đi cầu và đi tiểu cũng quan trọng như thở, như đi, như ngồi, như ăn, như uống, như thắp hương. Phải có sự sống, phải có niềm vui trong khi đi cầu hay đi tiểu. Phải sống sâu sắc trong giờ phút đi cầu hay đi tiểu. Để hết tâm ý vào việc đi cầu và đi tiểu. Buông thư, có mặt hoàn toàn, và cảm thấy thoải mái, thích thú khi đi cầu hay đi tiểu. Nghĩ đến những trường hợp táo bón, nhiễm trùng đường tiểu, đi cầu đi tiểu không được, hoặc rất đau, bạn mới thấy đi cầu đi tiểu không có vấn đề là một lạc thú. Bạn có cần một bài thi kệ không? Nó đây:

Không dơ cũng không sạch
Không bớt cũng không thêm,
Bát Nhã Ba La Mật
Không có pháp nào trên.

Trong khi đi cầu hoặc đi tiểu, cũng như trong khi chải răng hoặc bước đi, bạn có thể đầu tư 100% thân tâm của bạn vào những việc ấy. Đó là Thiền!

Làm thức ăn sáng

Làm thức ăn sáng cũng là thiền tập! Nấu nước sôi, pha trà, lọc cà-phê, nấu cháo trắng, nướng bánh mì, chiên cơm nguội, sắp đặt bàn… tất cả những việc đó đều có thể được làm trong chánh niệm, nghĩa là trong ý thức sáng tỏ rằng bạn đang làm cái đó, bạn đang vui khi làm cái đó, cái đó đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Chánh niệm là năng lượng thắp sáng ý thức chiếu rọi vào những gì đang xảy ra bây giờ và ở đây. Chánh niệm là trái tim của thiền tập. Khi pha trà mà bạn ý thức rằng mình đang pha trà, không nghĩ tới quá khứ, không nghĩ về tương lai, tâm mình đặt hết vào việc pha trà, như thế là bạn đang có chánh niệm. Chánh niệm giúp ta sống sâu sắc từng giây phút của cuộc sống hằng ngày! Ai cũng có khả năng chánh niệm, nhưng với người thực tập chánh niệm hùng hậu hơn, và người ấy có khả năng an trú trong hiện tại nhiều hơn.

Thời gian làm thức ăn sáng có thể được biến thành một buổi thiền tập, vui lắm. Nếu có người khác đã xuống bếp rồi và đang chuẩn bị làm thức ăn sáng, bạn cũng nên đi xuống bếp và giúp người ấy, mời người ấy cùng làm trong chánh niệm, cả hai thực tập sống trong giây phút hiện tại, biến thời gian làm thức ăn sáng thành một niềm vui.

Ăn sáng

Bạn có thể sắp đặt để buổi ăn sáng được thảnh thơi và yên vui. Đừng đọc báo, đừng mở máy truyền hình, đừng nghe đài phát thanh. Ngồi thẳng, nhìn thức ăn trên bàn, nhìn mọi người, thở và mỉm cười, để nhận diện và trân quý. Bạn có thể nói một câu gì đó với người ngồi trước mặt bạn. Ví dụ: Có mẹ đang ngồi ăn sáng với con, con hạnh phúc quá! Hoặc: Hôm nay trời nắng đẹp, bố nhớ ra thăm vườn và nằm võng cho con nhé. Hoặc: Hôm nay anh sẽ thu xếp về sớm một chút để có dịp giúp em làm cơm chiều, v.v… Những câu nói như thế là để công nhận sự có mặt quý giá của những người thương, đó là sự thực tập chánh niệm. Có chánh niệm thì tất cả những trao đổi trong bữa ăn sáng đều có công năng giúp bạn và những người khác nhận diện và trân quý những điều kiện hạnh phúc mình đang có. Rửa bát, dọn bàn sau khi ăn sáng có thể trở thành niềm vui như vào một ngày đẹp trời.

 

Khóa tu tiếng Pháp (từ 13-20/4/2019)

Những ngày qua, tại Làng Mai Pháp đã diễn ra khoá tu dành cho người nói tiếng Pháp (từ ngày 13-20.04.2019). Có khoảng 600 thiền sinh về tham dự khóa tu trong nắng ấm mùa xuân, trong bầu không khí ấm áp tình gia đình và tình tăng thân.

 

 

Mùa xuân 2019

Khi nhìn một bông hoa, ban đầu ta thấy màu hoa, rồi đến hình dáng của từng cánh hoa. Nếu biết nhìn sâu thì ta có thể thấy được rằng bông hoa chứa đựng tất cả những mầu nhiệm của vũ trụ, của sự sống. Bông hoa mang tất cả những mầu nhiệm của vũ trụ trong lòng nó. Khi nhìn bông hoa, có người chỉ mới thấy được một phần mười cái đẹp của bông hoa, một phần mười cái mầu nhiệm của bông hoa. Nhưng những người đã có kinh nghiệm, đã có tuệ giác tuy cũng nhìn vào bông hoa đó, cũng nhìn trong thời gian đó nhưng cái thấy rất sâu sắc. Càng thấy sâu sắc chừng nào, hạnh phúc càng lớn chừng đó.

(Trích đoạn: Đi gặp mùa xuân – Sư Ông Làng Mai)

Mùa xuân đang về.  Với mùa xuân tươi đẹp, tứ chúng Làng Mai cùng nhau thực tập những pháp môn căn bản như thiền hành, thiền tọa, pháp đàm… để cùng nhau chế tác hạnh phúc trong đời sống hàng ngày.

Và sau đây là một vài hình ảnh, kính mời đại chúng xem qua:

 

Trở về

Sấm chớp rền trời
Cuồn cuộn âm thanh xuyên lòng đất
Dòng suối trở mình
Những giọt mưa khuya gọi về trên mái lá
Tôi tỉnh giấc
Nghe trong thâm sâu tiềm thức
Tiếng gọi em về từ bản thể uyên nguyên
Tôi nằm yên
Gió mưa còn đó
Cánh cửa lòng tôi đã mở
Sửa soạn đón chào cuộc trở về mầu nhiệm
Rưng rưng
Nơi từng tế bào tâm thức
Em trở về
Năm uẩn đã vô biên
Giọt sáng toé tung xé toang màn mưa bạc
Ánh mai long lanh đầu lá non gỗ dẻ
Sẻ chia nguyên vẹn hình hài
Rạng ngời rừng thẳm
Biển tâm thức bao la
Tôi gọi tên em
Tôi gọi tên tôi
Năm uẩn trở thành đền đài linh thiêng làm chứng
Quyền năng thương yêu
Tôi hôm nay trao lại hết cho em
Đứa bé con năm nao trở lại
Ngôi nhà xưa còn ấm nồng bếp lửa
Tựa tay bên bậu cửa
Dù gió mưa giông bão
Dù nghiêng ngã tinh cầu
Dù khắc khoải thương đau
Bếp lửa thương yêu vẫn đượm than hồng ngày đêm chờ đợi
Giữ gìn nguyện ước ban sơ
Nó về rồi
Mái quê nghèo toả rạng
Ấm lòng dịu nỗi bơ vơ
Nó về rồi
Vần thơ năm xưa cháy thơm lửa đỏ
Vút lên thành dấu trăng sao
Nguyện cầu mười phương minh chứng
Duy nhất một cuộc trở về.

Thầy Nguyên Tịnh

Thầy có khi nào nổi giận không?

(Trích từ sách “Sống tự do bất cứ nơi nào và ở đâu” của Sư Ông Làng Mai)

H.: Thầy có khi nào nổi giận điên lên không? Lần cuối Thầy nổi giận là khi nào?

T.L.: Là một con người, tôi có hạt giống nóng giận trong tôi, nhưng nhờ có thực tập, tôi có thể xử lý sự nóng giận trong tôi. Nếu cơn giận nổi lên, tôi biết cách chăm sóc nó. Tôi không phải là thánh, nhờ tôi biết thực tập, tôi không còn là nạn nhân của sự nóng giận nữa.

H.: Xin Thầy nói thêm về sự tha thứ.

T.L.: Tha thứ là hoa trái của hiểu biết. Ðôi khi, mặc dù ta muốn tha thứ cho một người, ta không thể làm được. Thiện chí muốn tha thứ có đấy, nhưng sự chua chát và đau khổ cũng còn đấy. Với tôi, tha thứ là kết quả của sự nhìn sâu và hiểu biết.

Một buổi sáng trong văn phòng chúng tôi ở Paris trong thập niên bảy mươi và tám mươi, chúng tôi nhận được nhiều tin buồn. Một bức thư đến, kể rằng một em bé gái mười một tuổi đi trên một chiếc thuyền vượt biển từ Việt Nam, đã bị bọn hải tặc hãm hiếp. Khi người cha cố can thiệp thì chúng vứt ông xuống biển. Vì vậy em bé gái cũng nhảy xuống biển và chết đuối . Tôi nổi giận. Là một con người, bạn có quyền nổi giận; nhưng là một người biết thực tập, bạn không có quyền ngưng thực tập.

Tôi không ăn sáng được; tin tức đã tràn ngập tôi. Tôi thực tập thiền hành trong khu rừng kế cận. Tôi cố tiếp xúc với cây, với chim và bầu trời xanh để an tịnh tâm hồn, và rồi tôi ngồi xuống để thiền định. Tôi ngồi thiền khá lâu .

Trong lúc ngồi thiền, tôi thấy mình là một em bé sinh ra trên vùng bờ biển Thái Lan. Cha tôi là một người đánh cá nghèo, mẹ tôi là một người vô học. Quanh tôi đầy cảnh nghèo khó. Khi tôi mười bốn tuổi, tôi phải làm việc cùng với cha tôi trên chiếc thuyền đánh cá để mưu sinh; làm việc rất nhọc nhằn. Khi cha tôi mất, tôi phải làm thay cha tôi để nuôi sống gia đình.

Một người đánh cá tôi quen cho tôi biết rằng nhiều thuyền nhân Việt Nam đi vượt biên, mang theo nhiều của quý, như vàng và nữ trang. Anh ta đề nghị rằng nếu chúng tôi chận đánh chỉ một trong những chiếc thuyền ấy và lấy được một số vàng thì chúng tôi sẽ giàu. Là một người đánh cá nghèo, còn trẻ, không có học thức, tôi bị anh ta cám dỗ. Và một hôm tôi quyết định đi theo anh ta để cướp thuyền nhân. Khi tôi thấy anh ta hiếp một người đàn bà trên thuyền, tôi cũng bị cám dỗ làm theo. Tôi nhìn quanh và khi thấy không có gì ngăn cản, không cảnh sát, không ai hăm dọa; tôi tự nói: “tôi cũng làm như vậy được, chỉ một lần thôi.” Ðó là vì sao tôi trở thành một tên cướp biển đi hãm hiếp một em bé gái.

Bây giờ giả sử bạn ở trên thuyền đó và bạn có một cây súng. Nếu bạn bắn tôi và giết tôi, hành động của bạn sẽ không giúp gì được tôi . Suốt đời tôi, không ai giúp tôi và suốt đời cha mẹ tôi cũng không ai giúp ông bà. Là môt đứa bé, tôi không được đi học. Tôi chơi với những đứa trẻ hư hỏng, và lớn lên tôi thành một người đánh cá nghèo khổ. Không một nhà chính trị hay giáo dục nào giúp tôi bao giờ. Và vì không ai giúp nên tôi trở thành một tên cướp biển. Nếu bạn bắn tôi thì tôi chết.

Ðêm ấy, tôi thiền quán về điều này. Tôi lại thấy mình là một chàng đánh cá trẻ trở nên một tên hải tặc. Tôi cũng thấy hàng trăm em bé sinh ra đêm ấy trên vùng dọc theo bờ biển Thái lan. Tôi nhận thấy rằng nếu không ai giúp những em bé này lớn lên có học vấn và có cơ hội sống đời sống đứng đắn, thì trong vòng hai mươi năm nữa, những em bé này cũng sẽ thành những tên hải tặc. Tôi bắt đầu hiểu rằng nếu tôi sinh ra làm một chú bé trong làng đánh cá ấy, tôi cũng đã trở thành một tên hải tặc. Khi tôi hiểu được như vậy cơn giận của tôi đối với những tên hải tặc tan biến mất.

Thay vì nổi giận chàng đánh cá, tôi cảm thấy có lòng từ bi đối với anh ta. Tôi nguyện nếu tôi có thể làm được gì để giúp những em bé sinh ra đêm ấy trên vùng bờ biển Thái lan, thì tôi sẽ giúp. Năng lượng của cơn giận đã được chuyển hóa thành năng lượng của từ bi nhờ thiền quán. Ta không thể tha thứ nếu không hiểu biết, và hiểu biết là hoa trái của sự nhìn sâu mà tôi gọi là thiền quán.

H.: Có một mãnh lực nào hướng dẫn đời sống chúng ta? Có một lực nào mạnh hơn để chỉ đường cho chúng ta?

T.L.: Tôi đã nói rằng trong mỗi tế bào của cơ thể, bạn đều có thể tìm thấy vừa Ðịa ngục vừa Thiên đàng của Thượng đế. Mãnh lực tâm linh cao hơn hay thấp hơn đều có sẵn trong người bạn. Khi bạn có từ tâm bạn có thể tiếp xúc với từ bi khắp nơi. Khi bạn có hạt giống bạo động và hận thù, bạn sẽ bắt liên lạc với những năng lượng ấy quanh bạn. Vì vậy rất là quan trọng khi bạn lựa chọn một đài vô tuyến để mở ra xem.

Nếu bạn quyết định chỉ nuôi dưỡng mình bằng những năng lượng tích cực mà thôi, thì chánh niệm có thể giúp bạn phân biệt giữa những năng lượng thích hợp và những năng lượng không thích hợp cho bạn. Ví dụ người nào bạn nên hợp tác, loại thực phẩm nào bạn không nên ăn, chương trình truyền hình nào bạn nên xem, v.v… Chánh niệm có khả năng cho bạn biết những gì bạn cần và những gì có hại cho bạn.

Phải mất bao lâu mới có thành công trong sự thực tập?

(Trích từ cuốn “Sống tự do bất cứ nơi nào, ở đâu” – Sư Ông Làng Mai)

Thiền sinh: Thưa Thầy, phải mất bao lâu mới có thành công trong sự thực tập?

Sư Ông Làng Mai: Không phải vấn đề thời gian. Nếu bạn thực tập đúng và có niềm vui, bạn sẽ thành công nhanh. Tuy nhiên, nếu bạn mất nhiều thời giờ nhưng không thực tập đúng, có thể bạn sẽ không thành công được. Cũng giống như hơi thở trong chánh niệm. Nếu bạn thở đúng, hơi thở vào đầu tiên đã có thể đem lại khỏe nhẹ và niềm vui. Nhưng nếu bạn làm không đúng, ba hay bốn tiếng đồng hồ cũng không đem lại kết quả mong muốn. Tốt nhất là có một người bạn, một người anh hay người chị đã thành công trong sự thực tập, giúp bạn và nâng đỡ bạn.

Bạn cũng có thể thực tập một mình. Khi bạn thở vào, hãy để cho hơi thở đi vào một cách tự nhiên. Hãy chú tâm đến hơi thở vào. Khi bạn thở ra, hãy để cho hơi thở đi ra một cách tự nhiên. Bạn chỉ cần nhận biết hơi thở ra.

Ðừng xen vào nó. Ðừng ép nó. Nếu bạn để cho hơi thở đi vào đi ra một cách tự nhiên và bạn nhận biết hơi thở ấy, thì sẽ có tiến bộ trong vòng mười lăm hay hai mươi giây. Bạn sẽ bắt đầu cảm thấy thích thú trong khi thở vào thở ra.

Có một lần tôi tổ chức khóa tu ở Montreal, Canada. Sau lần thiền hành đầu tiên, một bà đến hỏi tôi: “Thưa Thầy, con có thể chia sẻ thực tập thiền hành với người khác không?” Trong bảy năm từ ngày bà đến xứ này, bà chưa bao giờ được bước đi với nhiều thảnh thơi và an lạc như bà cảm thấy sau chỉ một lần thiền hành ở khóa tu. Nó đem lại sự hàn gắn, sự tươi mát cho bà nên bà muốn chia sẻ sự thực tập đi trong chánh niệm này với các bạn. Tôi trả lời: “Ðược chứ!” Bà tin tưởng rằng sau một tiếng đồng hồ đi thiền hành, người ta có thể cảm thấy nhẹ khỏe và có niềm vui. Nhưng đừng đo lường bằng thời gian. Dù là thở trong chánh niệm, đi trong chánh niệm, ăn trong chánh niệm hay làm việc trong chánh niệm, khi bạn cảm thấy có hiệu quả ngay tức khắc, và khi sự thực tập có vui thích, là bạn đã thực tập đúng.

 

Thiền sinh: Tôi nên dành bao nhiêu thời giờ cho sự thực tập?

Sư Ông Làng Mai: Cách thiền mà tôi giới thiệu có thể được thực tập bất cứ lúc nào. Khi bạn đi từ chỗ này đến chỗ khác, bạn có thể áp dụng phương pháp đi trong chánh niệm. Khi bạn làm việc, bạn có thể dùng phương pháp làm việc trong chánh niệm. Khi bạn ăn, bạn có thể ăn trong chánh niệm. Bạn không cần phải xếp đặt một thời gian cố định nào cho sự thực tập; bạn có thể thực tập bất cứ lúc nào trong ngày.

Tuy nhiên, nếu hoàn cảnh cho phép, bạn có thể để ra một ít thời giờ để làm công chuyện riêng. Ví dụ thức dậy sớm hơn mười lăm phút để bạn có thể có thú vị ngồi thiền mười lăm phút. Hay trước khi ngủ – dù cho đèn đã tắt rồi – bạn ngồi trên giường để thực tập thở trong chánh niệm. Vì bạn có nhiều việc phải làm chung với người khác, nên có thể bạn không có thời giờ riêng để làm điều bạn muốn. Vì vậy còn tuỳ thuộc vào sáng kiến của bạn về sự xếp đặt thời giờ. Nhưng bạn nên nhớ, bạn có thể thực tập bất cứ lúc nào, dù là lúc bạn đi tiểu hay lúc bạn lau sàn nhà.

Bạn có thể lau nhà như một người tự do hay như một nô lệ, điều ấy tuỳ bạn. Ở đây, mọi người đều phải làm những công việc nhất định, nhưng bạn có thể làm những việc ấy như một người tự do. Bạn có thể nuôi dưỡng sự tự do cho lớn lên. Ðiều ấy sẽ đem lại cho bạn sự oai nghi và mọi người sẽ nhận thấy. Với sự thực tập, bạn thực sự là một người tự do, bất kể bạn đang sống trong hoàn cảnh nào.

Tôi đề nghị rằng mỗi lần bạn đi vào phòng vệ sinh, mỗi lần bạn đi đại tiện, đi tiểu tiện hay rửa tay, bạn hãy để hết 100 phần trăm của con người bạn vào động tác ấy. Hãy ngưng mọi suy tư. Chỉ cần làm động tác ấy với niềm vui. Bạn có thể cảm thấy thích thú. Trong vài tuần, bạn sẽ thấy hiệu quả tuyệt vời của sự thực tập này.

Thiền sinh: Xin Thầy nói rõ về chánh niệm. Làm sao chúng con có thể thực tập khi tâm trí bị phân tán?

Sư Ông Làng Mai: Tiếng Việt, “chánh niệm” có nghĩa là thực sự có mặt trong giây phút hiện tại. Khi bạn ăn, bạn biết là bạn đang ăn. Khi bạn bước, bạn biết là bạn đang bước. Ðối nghịch với chánh niệm là “thất niệm.” Bạn ăn nhưng bạn không biết là bạn đang ăn, bởi vì tâm trí bạn để ở đâu đâu. Khi bạn đem tâm bạn trở về với những gì đang xẩy ra bây giờ và ở đây, đó là chánh niệm, và chánh niệm có thể đem lại cho bạn sự sống, thích thú và niềm vui. Ví dụ đơn giản như ăn một trái cam trong chánh niệm có thể đem lại thích thú gấp ngàn lần hơn khi ăn cam mà bạn bị vướng mắc vào lo âu, sợ hãi hay tuyệt vọng. Vậy chánh niệm là năng lượng giúp bạn thực sự có mặt với những gì đang hiện hữu.

 

 

Ví dụ bạn nghe nhiều tiếng ồn chung quanh. Bạn có thể dùng tiếng ồn làm đối tượng của chánh niệm. “Thở vào tôi nghe nhiều tiếng ồn. Thở ra, tôi mỉm cười với tiếng ồn. Tôi biết rằng người làm ồn không luôn luôn có an lạc, và tôi cảm thấy có lòng từ bi đối với họ.” Vì vậy thực tập hơi thở có chánh niệm và dùng sự đau khổ quanh bạn làm đối tượng của chánh niệm sẽ giúp những năng lượng hiểu biết và thương yêu sinh khởi trong lòng bạn.

Ở một khóa tu, một bà than phiền rằng người bạn cùng phòng ngáy lớn quá làm cho bà không ngủ được. Bà sắp đem túi ngủ đi vào thiền đường, nhưng sực nhớ điều tôi dạy, nên bà ở lại. Bà dùng tiếng ngáy như một thứ chuông chánh niệm để làm phát sinh lòng từ bi. “Thở vào tôi biết có tiếng ngáy. Thở ra, tôi mỉm cười với tiếng ấy.” Mười phút sau bà đã ngủ ngon lành. Thật là một sự khám phá kỳ diệu cho bà ấy.

Tiếng chuông và nền văn hoá tâm linh

(Pháp thoại ngày 03.10.2005 trong khóa tu dành cho người xuất gia tại tu viện Lộc Uyển)

 

 

Tiếng đại hồng chung

Chuông đại hồng là chuông chúng ta thỉnh vào buổi sáng sớm và chiều tối. Đó là truyền thống đã có từ ngàn năm ở các thiền viện Việt Nam. Trong khi thỉnh chuông đại hồng, người tri chung sẽ xướng lên những bài kệ. Tri chung là một chức vụ rất quan trọng, và chúng ta phải đem hết trái tim để làm chức vụ tri chung. Trước khi thỉnh chuông, một vị tri chung giỏi luôn xá chuông và thực tập hơi thở theo bài kệ:

Ba nghiệp lắng thanh tịnh

Gửi lòng theo tiếng chuông

Nguyện người nghe tỉnh thức

Vượt thoát nẻo đau buồn.

Sau khi thở vào, thở ra nhiều lần tâm ta trở nên khỏe và tĩnh lặng. Lúc ấy ta mới bắt đầu thỉnh chuông. Trước hết phải thức chuông rồi mới được thỉnh. Buổi sáng khi nghe chuông, có thể có người đang làm việc dưới bếp, có người đang làm việc trong thiền đường hay trong Phật đường, có người đang pha trà cho các vị sư trưởng. Vì vậy, chúng ta chỉ thực tập đứng yên sau ba tiếng chuông đầu. Tới tiếng chuông thứ tư ta có thể tiếp tục công việc mình ̣đang làm. Tất cả mọi người trong chùa, dù đang chấp tác, đang chuẩn bị đi ngồi thiền hay đi tụng kinh, cũng phải thực tập nghe chuông. Mỗi tiếng chuông đưa ta về với giây phút hiện tại, ta được thở vào, thở ra một cách có chánh niệm. Vì ai cũng thực tập như vậy nên không khí buổi sáng rất tĩnh lặng, không ai nói chuyện với ai.

Tiếng chuông buổi sáng nâng hơi thở của mình lên và không để cho hơi thở rơi xuống đất. Những giờ phút đó là những giờ phút rất thanh tịnh trong chốn thiền môn. Chỉ khi có chuyện quá quan trọng, quá cấp bách thì ta mới nói với người kia một câu. Còn thường thì tất cả đều lặng lẽ, đi tới, đi lui, làm việc một cách rất chánh niệm, yên lặng. Tất cả mọi người đều được tiếng chuông nâng lên và thường trú trong chánh niệm suốt thời gian đại hồng chung được thỉnh. Chúng ta không dùng từ “im lặng hùng tráng” nhưng quả thật sự im lặng hùng tráng đang có mặt trong giờ phút đó.

Tiếng đại hồng chung buổi sáng hơi khác với buổi chiều. Buổi sáng, tiếng chuông nhặt hơn, tức là khoảng cách giữa hai tiếng chuông gần nhau hơn.Thông thường, ta có rất nhiều năng lượng vào buổi sáng và tiếng chuông có tính cách yểm trợ, đưa ta đi tới. Buổi chiều, tiếng chuông thưa hơn, khoảng cách giữa hai tiếng chuông dài hơn. Khi tiếng chuông đại hồng vọng lên thì không ai được nói chuyện. Chuông đại hồng có thể kéo dài nửa giờ đồng hồ với tiếng kệ. Nếu ở gần lầu chuông ta có thể nghe được tiếng kệ. Mọi người đều phải theo dõi hơi thở, tập thở trong chánh niệm. Tuy có những công việc đang làm nhưng ta luôn an trú trong chánh niệm. Ta cảm thấy nhẹ nhàng, thư thái, an vui trong khi nghe chuông và thở.

Không khí trong thiền viện rất tinh khiết, nhẹ nhàng và đầy năng lượng của hùng, của lực là nhờ tất cả mọi người đều thực tập thở theo tiếng chuông. Tiếng chuông rất linh thiêng. Tiếng chuông là sự có mặt đích thực của Đức Thế Tôn. Ta vâng kính theo tiếng chuông giống như vâng kính theo lời của Đức Bổn Sư. Vì vậy buổi sáng nghe chuông, ta phải nghe hết lòng và thở theo chuông. Ta nghe chuông và thở theo chuông như thế nào để có niệm, có định và có hạnh phúc. Hạnh phúc này được chế tác bởi toàn chúng chứ không phải bởi một người.

 

Thỉnh chuông là để cho người sống

Tiếng chuông được chế tác ra cho chúng ta thực tập, cho có an lạc. Tiếng chuông không chỉ là hiệu lệnh mà là sự nhắc nhở. Tiếng chuông là bạn đường nên ta phải cam kết với chuông là mỗi khi nghe tiếng chuông ta sẽ thực tập hết lòng. Hiện nay, nhiều chùa và nhiều người nghĩ thỉnh chuông là để cho tiếng chuông vọng tới địa ngục, làm thức tỉnh và xoa dịu bớt khổ đau nơi ngục tối. Họ đã thỉnh chuông trong niềm tin như thế:

Chuông đại hồng mới vọng

Tiếng kệ xướng đã vang

Trên vọng tới thiên đường

Dưới thông về địa phủ.

Như vậy có nghĩa là chúng ta thỉnh chuông cho chư thiên nghe, để cho họ hạnh phúc hơn và để những người ở địa ngục nghe cho bớt khổ. Điều này có thể có, nhưng trước hết tiếng chuông có tác dụng phụng sự những người đang sống. Vì vậy người sống trên mặt đất phải nghe tiếng chuông, thở theo chuông và có hạnh phúc với chuông. Nếu chúng ta không làm được chuyện đó thì chẳng lẽ đạo Bụt chỉ để cho chư thiên và những âm hồn dưới địa ngục hay sao? Chúng ta phải nhớ thỉnh chuông trước hết là cho đại chúng – từ các vị sư trưởng cho đến các thầy lớn, các sư cô lớn, các thầy trẻ, các sư cô trẻ và các sư chú – cùng thực tập.

 

 

Ngôi chùa là ngôi nhà linh thiêng lãnh đạo tâm linh trong làng. Vì vậy, tiếng chuông cũng có ảnh hưởng đến đời sống dân chúng trong làng. Nhiều bà mẹ thức dậy theo tiếng chuông. Những người Phật tử chân chính sẽ biết nghe chuông và thở theo chuông trong khi nấu cơm, làm thức ăn cho chồng con trước khi đi làm ruộng. Nếu có nghe chuông, nếu từng đi chùa, từng được nghe giảng hay nghe tụng kinh thì hạt giống tâm linh đó đã được gieo trồng trong tâm thức của ta dù ta là một cô bé, là một chàng thanh niên hay một cô thiếu nữ sống trong làng.

Người ăn trộm đang dùng thanh sắt để mở khóa một ngôi nhà, đột nhiên nghe tiếng chuông thì hạt giống lương thiện trong người đó được tưới tẩm và người đó có thể dừng lại, không xâm nhập vào nhà người khác nữa. Một người cầm dao muốn sát hại người khác, đang đưa dao lên, bỗng nghe tiếng chuông đại hồng thì giật mình nghĩ lại hành động này có thể đưa mình xuống địa ngục và buông dao xuống. Những chuyện như vậy đã từng xảy ra trong xóm làng, trong xã hội. Đó là nhờ ảnh hưởng của tiếng chuông. Tiếng chuông có tác dụng thức tỉnh, làm sống dậy lương tri của con người để họ đừng nhúng tay vào tội ác. Tiếng chuông không chỉ phục vụ các thầy, các sư cô mà còn phục vụ cho cả làng xóm, khu phố. Vì vậy tiếng chuông rất quan trọng!

Vị tri chung phải đem hết trái tim của mình để thỉnh chuông. Tiếng chuông là một thông điệp của lương tri, của trí tuệ, của lòng từ bi. Thỉnh chuông như vậy thì vị tri chung gửi theo được từ bi và trí tuệ vào tiếng chuông.

Ba nghiệp lắng thanh tịnh

Gửi lòng theo tiếng chuông.

Bài kệ này rất đúng! Sau khi đi chơi chùa Hương, thi sĩ Chu Mạnh Trinh làm một bài thơ khá hay có tựa là “Hương Sơn phong cảnh ca”, trong đó có hai câu:

Thoảng bên tai một tiếng chày kình

Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.

Tiếng chày kình là tiếng vồ chuông. Mình đang ở trong một giấc mơ, đang đánh mất mình trong những lo lắng buồn khổ, vọng tưởng. Nghe một tiếng chuông đại hồng, mình tỉnh dậy và ra khỏi giấc mơ. Tang hải là sự thay đổi của biển dâu. Tang là ruộng dâu và hải là biển cả. Vì cuộc đời vô thường nên biển cả hóa thành ruộng dâu và ruộng dâu hóa thành biển cả (Thương hải tang điền). Khách tang hải là người sống trong cuộc sống vô thường.

Tiếng chuông đại hồng là một phần trong nền văn hóa tâm linh dân tộc. Vì vậy, chúng ta phải bảo vệ tiếng chuông, phải nuôi tiếng chuông, phải làm cho tiếng chuông sống mãi về tương lai. Nuôi tiếng chuông không có nghĩa là đúc nhiều chuông. Đúc nhiều chuông mà nghe chuông như bò nghe âm nhạc thì cũng không có ích gì. Nuôi được tiếng chuông là do ta biết nghe chuông. Hiện nay trong nhiều chùa, khi nghe chuông người ta nói chuyện râm ran, coi tiếng chuông không ra gì hết. Vì thế, tuy vẫn còn người thỉnh chuông nhưng tiếng chuông đã mất. Chính một số các thầy, các sư cô khi nghe tiếng chuông cũng không dừng lại để thở. Như vậy là chúng ta đang đánh mất tiếng chuông, chúng ta đang đánh mất hồn thiêng của sông núi, của dân tộc, của văn hóa. Tiếng chuông còn đó chỉ như một cái xác không hồn. Hồn của tiếng chuông là ở chỗ thực tập nghe chuông.

Tiếng chuông đại hồng buổi sáng, tiếng chuông đại hồng buổi chiều là nền văn minh của chúng ta, nền văn minh tâm linh mà chúng ta phải bồi dưỡng bằng sự thực tập.

 

Vì tình thương mà thực tập

Có một người khách tới chùa và ở lại một đêm. Buổi sáng người đó nghe tiếng chuông đại hồng, thức dậy và cảm được năng lượng vĩ đại chốn thiền môn. Tất cả các thầy, các sư cô, sư chú đều đang im lặng thực tập hơi thở. Trong sự im lặng hùng tráng, tự nhiên năng lượng vĩ đại đó đi vào trong thân và tâm của người khách kia. Chỉ có chuyện này thôi cũng đủ để thay đổi con người đó. Người khách kia lần đầu được thấm năng lượng tâm linh, sự tĩnh lặng, tinh tiến và giải thoát.

Trong khóa tu, chúng ta phải thực tập tiếng chuông một cách nghiêm chỉnh để khi về lại địa phương, ta có thể cứu được tiếng chuông, không để tiếng chuông tiếp tục làm một cái xác không hồn. Cái hồn đó, chúng ta biết, là sự thực tập của mỗi người trong chúng ta.

Boong… boong… Tôi là chuông đại hồng, ngôi chùa xưa trên đỉnh núi.

Đỉnh núi này là đỉnh núi chót vót của nền văn hóa tâm linh.

Tôi khua vang mở đầu cho một bình minh mới

Nghe tiếng tôi, xin người nở nụ cười

Nghe tiếng tôi, xin người đem mắt thương nhìn cuộc đời.

 

 

Tiếng chuông nhắc nhở chúng ta thực tập nụ cười, hơi thở và cách nhìn với con mắt từ bi. Nghe tiếng chuông mình giật mình tỉnh thức và trở về với hơi thở chánh niệm. Nghe chuông như vậy là thực tập tỉnh thức. Đạo Bụt là đạo tỉnh thức, ngay trong khi nghe tiếng chuông thì mình là người tỉnh thức. Những lúc đó mình gần với Đức Thế Tôn hơn bất cứ lúc nào. Là người tỉnh thức, mình biết mình đang làm gì, mình đang có tâm hành nào, thiện hay bất thiện. Nếu đó là tâm hành thiện thì mình hân hoan, nuôi dưỡng. Nếu đó là tâm hành bất thiện thì mình ôm ấp, chuyển hóa. Trong cả hai trường hợp mình đều đang đi về hướng của giải thoát, của giác ngộ.

Mỗi bước chân đi phải tỏa chiếu sự vững chãi, thảnh thơi. Mình đi đâu, đi đâu mà vội, đi đâu mà vàng? Thiền hành là đi mà không cần phải tới. Thiền hành là đi mà mỗi bước chân đều đi vào Tịnh độ, vào sự thật. Thiền hành là đi và có ý thức là mình đang đi. Mỗi bước chân đi vào Tịnh độ, bước trên thực địa. Đi như vậy thì mình là sự tiếp nối của Đức Thế Tôn, mình là con cháu đích thực của Đức Thế Tôn. Mình đi vững chãi, thảnh thơi và có an lạc. Đi từ xóm dưới lên xóm trên hay từ xóm trên xuống xóm dưới, mình cũng đi với những bước chân có an lạc, có thảnh thơi, có hạnh phúc. Những bước chân đó nuôi dưỡng mình. Đi như vậy, mình không cần phải cố gắng, tại vì mỗi bước chân đều có an lạc, thảnh thơi.

Mình đi cho ai? Mình đi cho chính mình. Mình đi để nuôi dưỡng sự vững chãi, thảnh thơi và an lạc. Đồng thời mình cũng nuôi dưỡng Đức Thế Tôn để Ngài có thể đi về tương lai. Mình mang Đức Thế Tôn đi tới tương lai vô cùng. Mình đi cho cha, cho mẹ, cho tổ tiên. Có thể ngày xưa cha, mẹ, tổ tiên không có cơ duyên được học hỏi, thực tập và đi những bước chân như vậy. Bây giờ, mình đi cho mình đã đành rồi mà mình còn đi cho Bụt, cho các vị Bồ tát, cho tổ tiên huyết thống. Đi như vậy thì hạnh phúc sẽ rất lớn.

Sự thực tập nghe chuông cũng như sự thực tập thiền đi, không phải là những lao tác mệt nhọc mà mình bắt buộc phải làm. Dù sao tiếng chuông cũng đang được thỉnh và mình cũng đang nghe tiếng chuông. Dù sao mình cũng phải lên xóm Thượng, mình cũng phải xuống xóm Hạ. Mình chỉ thay đổi cách đi mà thôi. Mình đừng đi như bị ma đuổi hay đi như bị bắt phải đi, mà mình đi như một người giải thoát, an lạc, hạnh phúc. Vì tình thương mà đi. Không ai bắt mình đi, bắt mình thở hay nghe chuông. Không phải vì sợ bị người ta chê cười mà mình bắt buộc phải làm. Mình không tự bắt mình phải làm, mình làm bởi vì mình thích làm.

Khi ăn cơm cũng vậy, mình ngồi ăn cơm cho thảnh thơi, ăn như một người vô sự. Mình ăn cơm không phải chỉ để nuôi mình. Mình cũng đang nuôi cha, nuôi mẹ, nuôi thầy, nuôi cả tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh. Nếu mình không ăn thì cha mẹ không thể tiếp tục đi về tương lai, Bụt và các vị thánh tăng cũng không thể tiếp tục đi về tương lai. Ăn như vậy là ăn vì tình thương. Khi có tình thương thì mình không cảm thấy bị ép buộc phải ăn, phải nghe chuông, phải đi thiền. Mình đừng nói sở dĩ mình phải thực tập vì người ta bắt ép mình thực tập. Mình phát tâm muốn thực tập vì mình muốn nuôi dưỡng tăng thân, chuyển hóa thân tâm và giúp chuyển hóa thân tâm của tổ tiên, ông bà và con cháu. Vì thương con cháu nên mình thực tập, mình nghe chuông, mình thở, mình đi. Dù muốn hay không thì mình cũng đi về tương lai, và con cháu là một phần của tương lai.

Khi ngồi thiền cũng vậy. Đừng nghĩ mình ngồi thiền là vì bị bắt buộc. Nếu không ngồi thiền hay tụng kinh thì Phật tử cư sĩ sẽ không tới cúng chùa. Mình ngồi thiền hay tụng kinh không phải là để có cơm, có áo. Mình đi tu không phải là vì cơm áo. Mình không ngồi thiền, tụng kinh, đi thiền vì kinh tế của chùa, vì thầy hay vì đại chúng bắt mình làm. Mình làm vì mình muốn làm, mình thấy hạnh phúc trong khi làm.

Quý vị thử nhớ lại xem. Có hôm mình hơi mệt, hơi làm biếng, hơi bị cảm, hay ngủ hơi ít nên thay vì đi ngồi thiền, mình nghĩ ngủ nướng thêm thì sẽ đỡ cho mình hơn. Nhưng vì một lý do nào đó rất nhỏ mà mình choàng dậy, đi tới thiền đường. Giữa đường mình nghĩ, nếu hồi nãy mình ngủ nướng thêm thì uổng biết mấy. Ra ngoài trời không khí quá trong lành, bước chân quá thảnh thơi. Ngồi thiền xong mình thấy trong lòng khỏe và phơi phới. Nếu nằm nướng trong phòng thì chắc giờ này mình vẫn chưa khỏe. Mình biết rằng nằm nướng thêm cho tới giờ này thì mình cũng không khỏe thêm chút nào mà trong lòng còn có mặc cảm tội lỗi và hối hận. Chỉ cần một chút xíu quyết định là mình có thể chuyển cái tiêu cực thành tích cực và sau đó mình rất hân hoan vì đã làm được chuyện đó. Con ma làm biếng luôn luôn có đó. Cho nên, đôi khi mình phải giúp người bạn tu một chút, chỉ cần đưa tay vỗ nhẹ hay kéo người đó lên là đủ rồi. Mình nhờ nhau trong những lúc đó, chỉ cần một chút xíu là mình có thể giúp cho người kia thoát ra khỏi tình trạng tiêu cực và đi vào thế giới hân hoan, an lạc của sự thực tập.

 

 

Gần bùn nhưng chẳng hôi tanh mùi bùn

Đi thiền mà không có hạnh phúc thì đó là một cực hình. Một nhà báo bên Pháp tới Làng vì muốn viết bài về Làng Mai. Được mời đi thiền hành với đại chúng, ông đau khổ vô cùng. Người ta đi thảnh thơi, an lạc còn ông đi về thì mệt nhoài, tại vì ông bắt ép ông làm. Mục đích của ông đến Làng Mai không phải để thiền hành mà là để viết bài. Nếu bắt ông ngồi thiền thì ông cũng sẽ rất đau khổ.

Mình ngồi thiền không phải để ép xác, để khổ đau. Mình ngồi thiền để được thong dong, tự tại, vững chãi, thảnh thơi. Ngồi thiền là để được nuôi dưỡng. Nếu trong khi ngồi thiền mình cảm thấy bị bức xúc, bị đè nén, bị bắt làm cái mà mình không muốn làm thì đó không phải là ngồi thiền mà là ngồi trong hầm tối, ngồi trong địa ngục. Tại sao mình phải ngồi trong địa ngục? Ngồi trong Tịnh độ, ngồi trong Thiên đường hay ngồi trong địa ngục là tùy theo cách mình ngồi. Đúng giờ đi thiền hành với đại chúng, đúng giờ thức dậy, đúng giờ đi ngồi thiền, đúng giờ đi ăn cơm với đại chúng, để cho năng lượng tập thể của đại chúng đưa mình đi. Đi như một dòng sông rất dễ. Mình không có cảm tưởng bị ép làm những cái mình không muốn làm.

Những khổ đau, những tập khí, những phiền não tiếp nhận từ thế hệ trước có thể còn đó. Chính vì vậy nên mình mới đến với tăng thân để thực tập. Nếu thực tập thành công, đi thiền có hạnh phúc, ngồi thiền có hạnh phúc, ăn cơm có hạnh  phúc, nghe chuông có hạnh phúc thì những phiền não, những tập khí, những khổ đau đó mới được chuyển hóa. Nếu không có hạnh phúc trong khi làm những công việc thường ngày gọi là công phu đó thì mình làm gì có cơ hội để chuyển hóa những phiền não, khổ đau, tập khí tiếp nhận từ cha mẹ, tổ tiên? Sự thực tập cũng có công năng tưới tẩm những hạt giống tốt lành do cha mẹ và tổ tiên để lại.

Có những người phải dành dụm cả năm trời mới có đủ tiền tham dự một khóa tu năm ngày. Trong khi đó mình không cần dành dụm, mỗi ngày mình đều có cơ duyên để tu, để ngồi thiền, để đi thiền, để ăn cơm im lặng, để nghe chuông, để thở. Tu viện là một cơ duyên rất lớn để mình có thể ở và làm được những điều này. Khi làm được thì mình nuôi dưỡng mình và làm chỗ nương tựa cho không biết bao nhiêu người.

Chúng ta vừa có một khóa tu cho 800 người Mỹ. Nhìn vào nét mặt họ trong ngày cuối của khóa tu, mình biết họ đã có rất nhiều chuyển hóa và an lạc. Nếu không có tu viện, không có tăng thân thì làm sao có được khóa tu? Trong khi ở chùa, trong khi thực tập, chúng ta cũng đang phục vụ cho xã hội bên ngoài. Đừng nghĩ là mình đang bị tách ra khỏi những khổ đau của xã hội bên ngoài, mình không giúp gì được cho xã hội bên ngoài. Cách hay nhất mình có thể giúp cho xã hội bên ngoài là mình nghe chuông, mình ngồi thiền, đi thiền, ăn cơm cho đàng hoàng, cho có hạnh phúc. Chính nhờ như vậy nên mình mới có thể tiếp đón những người có khổ đau, có nội kết, có những vết thương trong tâm hồn và giúp cho họ chuyển hóa, trị liệu.

Chúng ta không làm việc trong xã hội như những tác viên xã hội nhưng ta thật sự đang làm việc cho xã hội, đang giúp cho mọi người chữa lành được những thương tích trong tâm, trong gia đình và trong xã hội của họ. Chúng ta ở trong tu viện nhưng đồng thời ta cũng đang ở ngoài cuộc đời. Chúng ta như một bông sen mọc lên từ bùn hôi nhưng không dính mùi hôi của bùn. Gần bùn nhưng chẳng hôi tanh mùi bùn, đó là hình ảnh của một người xuất gia.

 

 

Nhìn bằng con mắt của chính mình

Chúng ta hãy tập nhìn anh chị em trong đại chúng như những tế bào của cùng một cơ thể. Trong cơ thể ta có trên 50 ngàn tỷ tế bào. Những tế bào đó sinh diệt không ngừng, một tế bào mẹ có thể sinh ra bốn tế bào con. Cứ mỗi ba ngày thì tất cả tế bào trong đường ruột đều trở thành những tế bào mới. Mỗi người được sinh ra nhiều lần trong một ngày. Vì vậy, ta phải nhìn sư anh, sư chị, sư em của ta bằng con mắt trí tuệ. Có những chuyện ta nghe nói về người đó nhưng nó đã thuộc về ngày xưa. Người đó bây giờ đã khác, nếu ta giữ lại những gì ta đã nghe và nhìn người đó qua những hình ảnh cũ thì rất tội cho ta và cho người đó.

Ta phải có con mắt của chính mình, đừng nhìn người khác qua những gì mình nghe mà phải có nhận xét của chính mình. Đó là sự thực tập của thầy. Mỗi khi nhìn một sư chú, một sư cô hay một thầy thì thầy nhìn bằng con mắt của thầy chứ không phải bằng con mắt của người khác. Thầy luôn thấy sư chú đó mới, sư cô đó mới và thầy có niềm tin nơi sư chú, sư cô đó. Mỗi ngày chúng ta đều có thay đổi, có chuyển hóa. Nhiều khi ngủ một đêm, thức dậy mình đã trở thành một người khác rồi. Đó là sự mầu nhiệm thường xảy ra. Hôm qua có tâm hành kia nhưng hôm nay tâm hành đó không còn nữa. Nó đã chuyển hóa. Cho nên khi nhìn một người, mình đừng nhìn bằng ký ức ghi lại từ những gì mình đã nghe một người khác nói. Mình phải là một con người tự do, để khi nhìn huynh đệ, mình thấy người nào cũng có cơ hội đi tới. Thầy không bao giờ có thành kiến với bất cứ một đệ tử nào, vì thầy có khả năng nhìn đệ tử bằng con mắt của chính thầy chứ không nghe qua những gì người khác nói, nhất là đã nói từ năm ngoái hay hai ba năm về trước.

Nếu chúng ta biết nhìn nhau như vậy thì không khí trong đại chúng sẽ rất nhẹ, rất trong sáng. Nhìn như vậy chúng ta sẽ lạc quan, sẽ đi tới và giúp cho huynh đệ đi tới. Chúng ta nâng đỡ nhau để đi tới như một dòng sông. Ta đi tới một bước thì tăng thân đi tới một bước. Sư anh đi tới một bước thì tăng thân cũng đi tới một bước. Sư em đi tới một bước thì tăng thân cũng đi tới một bước. Bằng mỗi bước chân, ta đưa tăng thân đi tới.

 

 

Nguyên tắc vô ngã

Sau trận hải chấn có biết bao nhiêu người đã chết. Người ta đặt câu hỏi với nhà thần học người Thụy Sĩ Hans Küng:

  • Là một nhà thần học lớn, ngài có thể trả lời câu hỏi: Tại sao Thượng đế có thể để một tai nạn, một khổ đau lớn như thế xảy ra?

Sau khi suy nghĩ, Hans Küng trả lời (tôi nghe thuật lại):

  • Chỉ có sự im lặng mới có thể trả lời được thôi.

Mới nghe qua, ta có cảm giác như đó là một câu trả lời rất “thiền”. Nhưng nhìn lại cho kỹ thì nó nói lên một sự bế tắc. Trong tiếng Anh, “thần học” là theology. Theology là biện chứng, là logic, tức là diễn đạt được bằng lời nói. Nếu không nói thì không phải thần học. Thần học là phải nói ra, cho dù là nói bằng ngôn ngữ “thiền”.

Khi nghe và tiếp xúc với những khổ đau do trận hải chấn gây ra, tôi cũng đã quán chiếu. Tôi thấy trong đạo Bụt có câu trả lời rất rõ. Tuệ giác của đạo Bụt là tuệ giác vô ngã, mà nguyên tắc vô ngã hiện nay đã được khoa học chứng minh. Khi nhìn vào trong cơ thể con người, khoa học thấy đó là một đoàn thể, một community, một sangha (tăng thân) của những tế bào. Hơn năm mươi ngàn tỷ tế bào mà trong đó không có tế bào nào làm chủ. Đó là một đoàn thể các tế bào có sự liên hệ, có sự truyền thông thường xuyên với nhau. Có những tế bào chuyên môn làm công việc truyền thông. Có những tế bào chuyên môn làm công việc lọc máu. Có những tế bào chuyên làm công việc đưa những chất phế thải ra ngoài. Trong cơ thể của ta, các tế bào chia ra làm nhiều nhóm, mỗi nhóm chuyên về một ngành riêng nhưng tất cả đều có mục đích là bảo vệ, nuôi dưỡng và giúp cho cơ thể lớn lên. Nhìn cho kỹ ta thấy không có tế bào nào ra lệnh cho những tế bào khác, kể cả những tế bào óc.

Tế bào óc liên hệ với nhau bằng những chất hóa học gọi là neurotransmitter – chất dẫn truyền thần kinh. Sự liên hệ giữa các tế bào xảy ra thường xuyên. Trong mỗi giây có hàng ngàn lần liên lạc như những dòng điện được truyền đi hay những chất hóa học được tiết ra từ đầu mút của các tế bào. Nếu có một quyết định thì đó là kết quả của sự đi tới với nhau giữa các tế bào óc và rồi truyền tới các tế bào khác. Đồng thời quyết định đó cũng cơ bản dựa trên những tin tức nhận được từ các tế bào khác. Các tế bào như tế bào gan hay tế bào tim, v.v. cũng đều gởi tin tức về cho hệ thần kinh trung ương. Chúng ta có một hệ thần kinh trung ương (the central nervous system) và một hệ thần kinh ngoại biên (the peripheral nervous system). Hai hệ thần kinh làm việc với nhau một cách rất chặt chẽ.

Nhìn vào tăng thân, ta thấy tăng thân cũng giống như một cơ quan, một sinh vật. Quan sát kỹ ta thấy tăng thân Làng Mai làm việc rất giống cơ thể của con người. Có sư anh, sư chị chuyên về âm thanh. Có sư anh, sư chị chuyên về máy vi tính. Có sư anh, sư chị chuyên về việc chăm sóc thiếu niên và thiếu nhi. Càng làm việc thì họ càng giỏi. Họ càng khám phá ra những sư em có khiếu về ngành của mình, mời sư em tham dự vào ngành và trao truyền kinh nghiệm, tài năng của mình cho sư em,  giống như các tế bào trong cơ thể sinh ra những tế bào con.

Những nhóm tế bào, khi làm việc trong phạm vi chuyên môn của mình cũng thấy được sự đóng góp của mình vào sự an bình, sự vươn lên của cơ thể mà không có sự cạnh tranh, sự ganh tỵ, giận hờn. Bởi vì các tế bào trong cơ thể thật sự hoạt động trên tuệ giác vô ngã. Tuệ giác vô ngã đem lại sự an bình, hòa điệu và hạnh phúc. Nhìn vào cơ thể, ta thấy được tính vô ngã của đạo Bụt. Nhìn vào loài người như một cơ thể ta cũng thấy như vậy! Trong xã hội có những người chuyên môn làm nghề này và có những người chuyên môn làm nghề khác. Có người đắp đường xây cầu, có người lo cày ruộng, có người đi buôn bán. Vì vậy, toàn thể nhân loại cũng có thể được coi như một cơ thể.

 

 

Nếu một phần của cơ thể bị đau nhức thì tất cả cơ thể đều phải gánh chịu. Vì vậy, khi có hàng chục ngàn người chết trong trận hải chấn thì niềm đau nỗi khổ đó không chỉ dành riêng cho người đã chết và thân nhân của họ. Tất cả chúng ta trên thế giới đều hứng chịu khổ đau đó, vì đó là một phần của cơ thể nhân loại. Chúng ta có mặt và khi nhận được tin tức thì chúng ta cũng đau niềm đau của những người chết và đau niềm đau của những người còn sống có thân nhân đã mất trong trận hải chấn. Mình thấy rất rõ, người chết tức là mình chết, cũng giống như khi tay trái bị thương thì tay phải cũng bị thương, tay trái bị đứt thì tay phải cũng bị đứt. Tay phải không nói: “May quá! Anh bị đứt chứ không phải tôi!”.

Và nhờ mình còn sống đây nên những người chết vẫn còn sống, nhờ tay phải không bị cắt nên tay trái vẫn còn. Bây giờ tay phải đang làm công việc của tay trái. Khi thấy được như vậy thì mình nhận ra rằng mình sống đây cũng là sống cho những người đã chết trong trận hải chấn. Vì họ chết nên mình cũng chết theo và vì mình sống nên họ cũng được sống theo. Cái thấy đó chỉ có thể đạt được với tuệ giác vô ngã. Đó là câu trả lời của đạo Bụt. Anh chết tức là tôi chết, nhưng nếu tôi sống thì anh cũng đang còn sống. Thấy được như vậy là  nhờ ánh sáng của tuệ giác vô ngã. Căn cứ trên cái thấy đó thầy đã viết một bài có tựa đề: “Ôm lấy niềm đau sau trận hải chấn”. Bài viết đã an ủi được rất nhiều người.

 

Không có gì quan trọng hơn tình huynh đệ

Trong chuyến về thăm Việt Nam ba tháng vừa rồi, có một câu mà thầy lặp đi lặp lại: “Không có tôn giáo nào, không có ý thức hệ nào cao hơn tình huynh đệ”. Đó cũng là phương châm của chúng ta. Dù đang xây chùa hay tu viện, dù đang tổ chức một khóa tu hay một khóa lễ nào đó, thì không có công việc xây cất hay công việc tổ chức nào quan trọng bằng tình huynh đệ. Vì vậy sự thực tập căn bản của chúng ta là nhìn sư anh, sư chị, sư em mình như chính bản thân mình. Dù cho người đó còn yếu kém nhưng những thắng lợi hàng ngày của mình trong sự tu tập không phải chỉ để cho mình mà còn là để cho người đó. Nếu tay trái không làm việc được thì tay phải làm việc gấp đôi cho tay trái. Lúc leo lên núi Yên Tử thì cánh tay trái của thầy rất yếu nên cánh tay phải của thầy phải làm việc cho cả hai.

Nếu có một huynh đệ đang trồi sụt, yếu kém thì mình phải tu thêm cho người đó và đừng trách móc người đó. Mình phải cho người đó cơ hội để đi tới. Nếu nhìn người huynh đệ dưới con mắt như vậy thì đỡ khổ cho mình và cho người huynh đệ kia rất nhiều. Mình không nhìn bằng con mắt trách móc, chê bai mà nhìn bằng con mắt hiểu và thương. Cái gì người đó chưa làm được thì mình làm giùm cho người đó. Người đó sẽ không còn mặc cảm vì biết rằng mình là một phần của cơ thể, mình đang được các phần khác của cơ thể ôm lấy, đưa lên để cùng đi một nhịp với cơ thể.

Cũng như một đàn chim bay trên trời, con chim đầu đàn có khi mệt, nhường chỗ cho con chim thứ hai bay tới. Bất cứ con chim nào cũng cần nương vào năng lượng tập thể của cả đàn chim. Khoa học đã chứng minh rằng khi bay chung thì mỗi con chim sẽ sử dụng ít năng lượng hơn khi bay một mình, tại vì có năng lượng tập thể chuyên chở.

Trong đại chúng luôn có sự tu tập, sự chuyển hóa, sự đi tới. Năng lượng tập thể đó nâng tất cả mọi người đi theo, kể cả những người còn yếu kém. Ý thức được như vậy ta sẽ không có mặc cảm là mình giỏi hơn hay dở hơn người đó. Người kia không còn đau khổ và ta cũng nuôi dưỡng được thêm lòng từ bi.

 

 

Thơ xuân

 

Tĩnh lặng

ngự giữa rừng tre

Những con chim

còn yên trong giấc ngủ

Hơi thở màn đêm

thâm sâu bao phủ

Mát trong

hương khí đất trời

Con tim tôi

bỏ ngỏ

Đón chào

sự sống muôn nơi.

 

Nguyên tác tiếng Anh:

 

Spring Poem

The birds are still

Sleeping,

no sounds

Arising from the

bamboo.

In the dark

breath of night

The air is cool.

My heart is open

To receive Life.

 

Chân Từ Nghiêm