An cư kiết Đông 2007-2008 – Kim Sư Tử Chương

Pháp thoại 2007.11.11: Đồng thời tương ứng- mp3

Kim Sư Tử Chương

012007-11-22Duyen khoi-Sac khong-Tam Tinh 1mp3
022007-11-25Duyen khoi-Sac khong-Tam Tinh 2mp3
032007-11-29Vo tuong-vo sinh-thap huyen 1mp3
042007-12-02Thap huyen 2mp3
052007-12-06Thap huyen 3mp3
062007-12-09Sau tuong-Bo de-Niet banmp3
072007-12-13Luan ve ngu giao 1mp3
082007-12-16Ngu Giao 2mp3
092007-12-20Ngu giao 3mp3
102007-12-27Ngu giao 4mp3
112008-01-13Thap tongmp3
 
2008.01.17Nương vào hơi thở của chính mình mp3
2008.01.20Ai là người vãng lai trong tam giớimp3
2008.01.24Thượng đế tạo hay tâm tạomp3
2008.01.27Nghiệp lựcmp3
2008.01.31Thiên thu trong khoảnh khắcmp3
2008.02.14Vô íchmp3

An cư kiết Đông 2011-2012- Du Già Sư Địa Luận & Quán Sở Duyên Duyên Luận

Du Già Sư Địa Luận 2011-2012

0124-11-2011Bài kệ 1; 2mp3
0227-11-2011Bài kệ 3-5mp3
0301-12-2011Bài kệ 6-8mp3
0404-12-2011Bài kệ 9-12mp3
0508-12-2011Bài kệ 13mp3
0611-12-2011Bài kệ 14-17mp3
0715-12-2011Bài kệ 18-21mp3
0818-12-2011Bài kệ 22-24mp3
0921-12-2011Bài kệ 25-28mp3
1008-01-2012Bài kệ 29-33mp3
1112-01-2012Bài Kệ 34-37mp3
1215-01-2012Bài kệ 38-41mp3

13

19-01-2012

Bài kệ 42-44mp3

 

Pháp thoại ngày 23-01-2012: Bình thơ Đêm Giao Thừa- mp3
Pháp thoại ngày 26-01-2012: Bài thơ ca ngợi Bụt Amitabha- mp3
Pháp thoại ngày 29-01-2012: Lưới nghi muôn trùng phá -Đuốc tuệ vạn nẻo soi- mp3

 

Quán Sở Duyên Duyên Luận 2012

0102-02-2012Quán sở duyên duyên luận 01/05mp3
0205-02-2012Quán sở duyên duyên luận 02/05mp3
0309-02-2012Quán sở duyên duyên luận 03/05mp3
0412-02-2012Quán sở duyên duyên luận 04/05mp3
0516-02-2012Quán sở duyên duyên luận 05/05mp3
0619-02-2012Linh đan đổi cốt mới ra vềmp3

 

Phần 3: Những phương pháp tu tập tại Làng Mai

531996-11-17Quy y tam bảomp3
541996-11-21Lịch sử đạo Bụt đi vào cuộc đờimp3
551996-11-24Hải đảo tự thânmp3
561996-11-28Hiện pháp lạc trúmp3
571996-12-01Ai hay hátmp3
581996-12-05Pháp lạc & Pháp nhũmp3
591996-12-08Pháp lạcmp3
601996-12-12Nghê thuật nói chuyện – thiên thần bảo hộmp3
611996-12-15Chánh ngữmp3
621996-12-19Ai là tri kỉmp3
631996-12-22Hướng thượng thiền đimp3
641997-01-02Thiền đi và người đi vòng quanhmp3
651997-01-05Mở cửa bất sanh bất diệt – 3 lạymp3
661997-01-09Nhận diện điều kiện hạnh phúcmp3
671997-01-12Kinh thí dụmp3
681997-01-16Hơi thở chánh niệmmp3
691997-01-19Tịnh khẩu ngồi yênmp3
701997-01-23Nghê thuật ngồi yên tĩnh tâmmp3
711997-01-26Chánh niệm hơi thở trong mỗi động tácmp3
721997-01-30Làm cho tâm ý lưu thôngmp3
731997-02-02Buông bỏ ngũ dụcmp3
741997-02-06Chuyển rác thành hoamp3
751997-02-09Thực tập trong cõi sinh diệtmp3
761997-02-13Đối thủ an cưmp3

 

Phần 2: Vườn thiền Việt Nam

 

101995-01-05Đạo Bụt truyền qua VNmp3
111995-01-08Phương pháp đạt thiềnmp3
121995-01-12Tựa Kinh An ban thủ ý & 16 hơi thởmp3
131995-01-15Tứ thiền & Đạo chímp3
141995-01-19Pháp môn của Tăng Hội & hơi thở 11,12mp3
151995-01-22Lão Tử hóa Hồ & hơi thở 13mp3
161995-01-26Quán li tham và tịch diệtmp3
171995-01-29
Thiên đường và địa đường
mp3
181995-02-02Nhất hạnh & Tổng trì tam muộimp3
191995-02-05Thực tập có mặt & Tổng trì tam muộimp3
201995-02-09Tu cho tổ tiênmp3
211995-02-12Ngũ phần hương & Tổ Vô ngôn thông
221995-02-16Thức dậy mỉm cườimp3
231995-02-19Bảo trì khu vườn – thế tam giácmp3
241995-02-23Bài khảo nghiệm – bẻ thế tam giácmp3
251995-02-26Thực tập căn bảnmp3
261995-03-02Vô đắc & thiền phái Vô Ngôn Thôngmp3
271995-03-05Mỗi hiên tượng là bông hoa – 3 lạymp3
281995-03-09Thiền thoại đầump3
291995-03-12Đi chơi trong bản mônmp3
301995-03-16Ru nội kết – thực tập trong bản mônmp3
311995-11-23Thiền hành là ngưng lạimp3
321995-11-26Chánh báo, y báo & 3 lạymp3
331995-11-30Tổ Thảo Đường & các tổ truyền qua VNmp3
341995-12-03Chánh tín & ngũ lựcmp3
351995-12-07Trần Thái Tôngmp3
361995-12-10Tu tập trong tăng thân & Trần Thái Tôngmp3
371995-12-14Thiền phổ và nhu yếu của vuamp3
381995-12-21Vô vị chân nhânmp3
391996-01-04Thiền sư Thường Chiếump3
401996-01-07Hiện pháp lạc trúmp3
411996-01-11Tuệ Trung Thượng sĩmp3
421996-01-14Cái nhìn bất nhịmp3
431996-01-18Oai nghi & Tuệ trung thượng sĩmp3
441996-01-21Cư trần lạc đạo (Trần Nhân Tông)mp3
451996-01-25Cư trần lạc đạo (tt)mp3
461996-01-28Thương không hưởng thụ & CưTLĐ (hồi 3)mp3
471996-02-01Cư trần lạc đạo (hồi 3; 4)mp3
481996-02-04Cư trần lạc đạo (hồi 5; 6)mp3
491996-02-08Cư trần lạc đạo (hồi 7; 8)mp3
501996-02-11Cư trần lạc đạo (hồi 8; 9)mp3
511996-02-11Cư trần lạc đạo (hồi 10)mp3
521996-02-18Cư trần lạc đạo (hồi 10 tt)mp3
 

Học tiếp >> Phần 3: Những phương pháp tu tập tại Làng Mai

Ngày xuất sĩ 09.04.2019

Ngày 09.04.2019 vừa qua, chúng xuất sĩ ba xóm Làng Mai đã có một ngày sinh hoạt thật đầm ấm, vui tươi, tràn đầy tình huynh đệ. Tuy là vui chơi theo các đội, nhưng ai cũng chơi với tinh thần “Tình huynh đệ là chính, phần thưởng là phụ”. Tất cả đã làm nên một ngày thật tuyệt vời.

 

Đất Mẹ là một vị đại Bồ tát

(Phiên tả pháp thoại của Sư Ông Làng Mai trong khoá An cư kiết đông 2011-2012)

 

 

 

Mặt trời là một pháp, hành tinh trái đất cũng là một pháp. Nếu mặt trời là một vị Bồ tát thì hành tinh của chúng ta cũng là một vị Bồ tát, Đất Mẹ là một vị Bồ tát. Là những người hành trì, chúng ta phải bắt đầu nhìn trái đất như một vị Bồ tát, một vị Bồ tát rất xinh đẹp. Các nhà khoa học đã dùng kính viễn vọng để tìm kiếm, nhưng cho tới nay họ chưa tìm được một hành tinh nào xinh đẹp như trái đất. Chiếc áo khoác lên người của Đất Mẹ là một chiếc áo rất xinh đẹp, chiếc áo có màu xanh của đại dương, màu xanh của cây cỏ. Nhìn cho kỹ, ta thấy có biết bao nhiêu mầu nhiệm biểu hiện trên mặt đất, trong đó có con người. Con người tự hào mình giỏi về toán học, nhưng khi nhìn một cánh hoa anh đào hay nhìn một vỏ ốc thì con người phải cúi đầu khâm phục. Phải rất giỏi toán mình mới làm ra được một cánh hoa anh đào hay một vỏ ốc như vậy. Muốn xây một ngôi nhà hay một cây cầu vững chãi, chúng ta phải nhờ kiến thức của toán học. Đất Mẹ cũng là một nhà toán học tài tình, đã tạo ra những cái rất mầu nhiệm.

Những nhạc sĩ đã tạo ra những bản nhạc rất hào hùng. Nhưng nếu lắng nghe tiếng hải triều, tiếng gió, tiếng chim, tiếng thông reo thì chúng ta sẽ thấy rằng Bồ tát Thanh Lương Địa của chúng ta là một nhạc sĩ rất tài tình. Không bản nhạc nào hào hùng hơn bản nhạc của đất trời, của mưa, của gió, của hải triều sớm tối. Các họa sĩ đã sáng tạo ra những bức tranh thật tuyệt vời, nhưng không họa sĩ nào có thể sáng tạo ra những bức tranh tuyệt vời như Đất Mẹ. Buổi sáng khi mặt trời lên, đứng trên núi nhìn xuống, chúng ta thấy bức tranh mà trái đất thực hiện đẹp hơn những bức tranh của con người rất nhiều.

Không hẳn chỉ con người mới được gọi là Mẹ. Ta có thể nhìn trái đất như một vị Bồ tát, gọi là Bồ tát Thanh Lương Đại Địa. Ta có thể chắp tay lại niệm: Nam mô Bồ tát Thanh Lương Đại Địa. Vị Bồ tát này là Mẹ của muôn loài, có khả năng chuyên chở, nuôi dưỡng và trị liệu. Mỗi khi đau ốm, ta đánh mất mình thì ta phải trở lại với bà Mẹ này để được nuôi dưỡng, trị liệu. Vì vậy, thiền hành là một phương pháp thực tập rất hay để chúng ta có thể trở về tìm sự nuôi dưỡng và trị liệu từ Đất Mẹ. Tuy không mang hình thức của một con người, nhưng Đất Mẹ đích thực là một vị Bồ tát, tại vì Đất Mẹ có những đức tính rất lớn như vững chãi và kiên nhẫn. Trong kinh Địa Tạng có câu: Địa ngôn kiên hậu quảng hàm tàng (có nghĩa là đất kiên cố, dày dặn và cất chứa được rất nhiều). Đất có khả năng nuôi dưỡng, che chở, trị liệu và có khả năng cho ra đời biết bao nhiêu là mầu nhiệm. Nhiều vị Bụt và Bồ tát đã được đất sinh ra. Chính Chúa Kitô cũng do đất sinh ra. Ta không biết Chúa Kitô có phải do Thượng đế sinh ra thật hay không, nhưng ta biết chắc Chúa Kitô do trái đất sinh ra. Có những lúc ta lao đao, cô đơn, lạc hướng hay ốm đau thì ta phải trở lại Đất Mẹ để được nuôi dưỡng.

Trong khóa tu mùa Đông này, chúng ta nên đưa vị Bồ tát Đất Mẹ vào trong danh sách để lạy: Nhất tâm kính lễ Bồ tát Thanh Lương Đại Địa, mẹ của muôn loài luôn luôn chở che, nuôi dưỡng và trị liệu cho chúng con.

Bồ tát là tên gọi tắt của chữ bồ đề tát đỏa. Bodhisattva, đọc phiên âm ra là bồ đề tát đỏa. Bodhi là bồ đề, sattva là tát đỏa. Sattva nghĩa là một sinh vật, một hữu tình (being), bodhi nghĩa là giác ngộ (enlightened). Bồ đề tát đỏa là giác hữu tình (enlightened being).

Bồ tát là một sinh vật có hạnh phúc, có giác ngộ, có chánh niệm, có hiểu và có thương. Bất cứ sinh vật nào có sự tỉnh thức, có bình an, có hiểu và thương thì được gọi là một vị Bồ tát. Không phải chỉ có con người mới làm được Bồ tát. Trong những câu chuyện tiền thân, có khi Bồ tát là một con nai, một con khỉ, một tảng đá hay một cây xoài, tại vì nhìn vào cây xoài đó ta thấy có hạnh phúc, có sự tươi mát. Cây hiến tặng cho đời vẻ đẹp của nó và nuôi dưỡng sự sống, làm chỗ nương tựa cho bao nhiêu chim muông. Ta có thể thấy cây là một vị Bồ tát, vì vậy Bồ tát không hẳn phải là con người. Bồ tát không phải là cái gì xa xôi ở trên mây, mà là những cái ở ngay chung quanh mình. Một người trẻ hơn ta nhưng có tình thương, có sự hiểu biết, có sự tươi mát và hiến tặng cho ta nhiều niềm vui thì người đó là một vị Bồ tát. Cây thông ngoài vườn có thể tạo cho ta nhiều niềm vui, hiến tặng cho ta dưỡng khí và làm đẹp cho cuộc đời. Cây thông đó là một vị Bồ tát.

 

 

Vì vậy, chúng ta có thể nói trái đất của chúng ta là một vị Bồ tát. Đích thực địa cầu là một vị Bồ tát rất lớn. Địa cầu có nhiều đức tính rất tốt. Trước hết là sự vững chãi. Đất chuyên chở ta, đất có sức chịu đựng rất lớn, rất kiên nhẫn. Đất không kỳ thị. Ta có đổ nước thơm, hương hoa hay đổ phân, nước tiểu xuống, đất cũng chấp nhận được. Đất hiến tặng cho ta không biết bao nhiêu là phẩm vật. Đất đưa ta ra đời, nuôi nấng ta, cho ta không khí để thở, cho ta nước để uống. Như vậy rõ ràng đất là một vị Bồ tát. Khi bước trên mặt đất là ta tiếp xúc với một vị Bồ tát.

Ta đừng nên cho đất là vật chất, tại vì vật chất làm sao giỏi như vậy được? Đất là một vị Bồ tát lớn đã đưa ra đời nhiều vị Bụt và nhiều vị Bồ tát khác. Đất là Mẹ của nhiều vị Bụt và nhiều vị Bồ tát. Đức Thích Ca, thầy của ta, cũng là con của đất. Cha ta, mẹ ta cũng là con của đất. Nhờ mẹ ta, ta nhận diện ra đất cũng là một bà Mẹ, một bà Mẹ lớn. Đất đưa mẹ ta ra đời, đưa ta ra đời qua mẹ ta; vì vậy đi trên mặt đất là ta tiếp xúc được với bà Mẹ đó và ta phải có hạnh phúc. Bà Mẹ này rất xinh đẹp. Trong Thái Dương hệ, đất là hành tinh đẹp nhất. Trái đất là vị Bồ tát xinh đẹp nhất trong các vị Bồ tát mà ta thấy, gọi là Bồ tát Thanh Lương Địa, một vị Bồ tát vừa trong, vừa mát, vừa xinh đẹp. Vì vậy được bước đi trên địa cầu này là một hạnh phúc rất lớn.

Có những người dại dột xúi ta phải phát tâm nhàm chán trái đất này để cầu sinh sang một cõi nào đó không biết có thực hay không. Ta đừng nên nghe họ, ta phải quay về nương tựa nơi đất, ta phải quy y đất. Ta phải thương Đất Mẹ, mỗi bước chân ta biểu lộ tình thương đối với Đất Mẹ, và bước đi như vậy ta không thể không có hạnh phúc. Hạnh phúc là chuyện có thể có được.

Chúng ta phải tập nhìn địa cầu của ta không như một vật vô tri vô giác, địa cầu của ta là một sinh vật (living-being). Nhiều nhà khoa học, nhất là các nhà sinh vật học như Thomas Lewis, thấy rằng trái đất là một sinh vật. Ông viết một cuốn sách với tựa đề “The Lives of a Cell“ (Sự sống của một tế bào), ông xem trái đất như một tế bào của vũ trụ, một tế bào rất xinh đẹp trong đó có rất nhiều sự sống, rất nhiều mầu nhiệm.

Khi nhìn trái đất, chúng ta thấy trái đất là một hành (formation), tại vì trái đất được làm bằng những yếu tố trong vũ trụ trong đó có Mặt trời và các vì sao. Các vì sao đã gửi tới trái đất rất nhiều yếu tố. Nhìn vào bông hoa ta thấy bông hoa được làm bằng nhiều yếu tố, bông hoa là một hành. Ta thấy cả vũ trụ trong một bông hoa, trong đó có mặt trời, có trái đất. Trái đất cũng là một bông hoa rất xinh đẹp, ta thấy trong trái đất sự có mặt của toàn vũ trụ (the whole cosmos in the Earth).

 

 

Nhìn vào ta, ta thấy Đất Mẹ ở trong ta. Ta đừng tưởng Đất Mẹ ở ngoài ta. Ta mang Đất Mẹ trong ta. Mẹ sinh ra ta ở trong ta và trái đất, mẹ của mẹ ta cũng ở trong ta. Ta đừng tưởng trái đất ở ngoài ta, trái đất cũng ở trong ta. Những người có gốc Cơ Đốc giáo biết rằng trong Thánh Kinh cũng có những câu như vậy. Chính Chúa Jésus đã nói: I am my father, my father is in me(Tôi là cha tôi, cha tôi có trong tôi). Đó là giáo lý tương tức rất gần với đạo Bụt.

Trong trái đất có cả vũ trụ. Nhìn vào trong hình hài của mình, ta thấy Đất Mẹ, nghĩa là có đủ cả vũ trụ trong ta. Đó là tuệ giác. Trong khóa tu cho người Việt ở Washington, có người hỏi:

  • Chúng con tu theo Tịnh độ. Khi niệm Bụt A Di Đà chúng con biết khi chết chúng con sẽ về đâu. Tăng thân Làng Mai tu chỉ biết thở ra thở vô, không biết mai mốt chết rồi sẽ đi về đâu? Các thầy, các sư cô trả lời như thế nào?

Có một điều rất rõ ràng là: ta được biểu hiện ra từ trái đất thì ta sẽ về với trái đất. Đất Mẹ đưa ta ra một lần thì Đất Mẹ đón ta trở về, rồi ta sẽ đi-về hàng nghìn lần như vậy, ta có chỗ về rõ ràng. Nhưng như vậy không có nghĩa là chúng ta chối bỏ giáo lý Tịnh độ. Tịnh độ không phải là cái gì mơ hồ, chỉ có ở nơi khác hay trong tương lai. Tịnh độ có mặt trong giây phút hiện tại. Trong mỗi hơi thở vào và hơi thở ra, ta trở về tiếp xúc với giây phút hiện tại ngay bây giờ, tại vì Đất Mẹ là một Tịnh độ. Đức Thích Ca là con của Đất Mẹ, Đức Thích Ca nhận đây là quê hương, “xin nhận nơi này là quê hương”. Là học trò của Đức Thích Ca, không lý chúng ta lại đi tìm một chỗ nào khác? Tại sao ta không nhận quê hương của thầy mình là quê hương của mình mà lại đi tìm một chỗ nào khác chưa chắc đã có thật? Chỗ này đang có thật, đang là một hiện thực rất mầu nhiệm. Đi vào thiền đường, chúng ta đi bằng những bước chân có cái thấy đó, có hạnh phúc và có tình thương đó.

Trên xóm Thượng, sau khi ngồi thiền nửa giờ, chúng ta đi kinh hành, thở vào ta đi một bước và thở ra ta đi một bước. Chúng ta đi như vậy để tiếp xúc với đại địa, với Đất Mẹ. Khi tiếp xúc với Đất Mẹ bằng tuệ giác thì mỗi bước chân có tính cách nuôi dưỡng và trị liệu. Đi 30 bước là chúng ta có 30 cơ hội để nuôi dưỡng và trị liệu, vì vậy chúng ta đừng đi hình thức mà phải đi cho có nội dung. Mỗi bước chân phải có chánh niệm, phải đem lại sự bình an cho thân và tâm, phải đem lại cái thấy. Cái thấy đó không khó, chỉ cần một chút chánh niệm là ta có thể thấy Đất Mẹ là Mẹ của mình, Mẹ của mẹ mình, Mẹ của thầy mình.

Khi giẫm lên Đất Mẹ chúng ta đừng nghĩ đất là vật chất, đất cũng là tâm thức, có tâm thức trong mỗi hạt bụi. Trong hạt bụi có vô số Bụt, mỗi vị an trú chúng hội mình, đó là lời dạy của kinh Hoa Nghiêm. Đi thiền hành với tuệ giác đó, chúng ta đi vào thế giới của Hoa Nghiêm, chúng ta tiếp xúc với một sự sống linh động, đó là Đất Mẹ. Chúng ta là một phần của Đất Mẹ, Đất Mẹ có trong ta, cũng như mặt trời, tức đức A Di Đà, một vị Bụt lớn, cũng có trong ta. Chúng ta phải thực tế, đừng nên viển vông đi tìm Bụt hay Bồ tát ở một nơi xa nào. Bụt và Bồ tát có mặt trong giây phút hiện tại, và Tịnh độ cũng có mặt trong hiện tại. Đi thiền hành như vậy đem lại sự dừng lại, sự bình an, sự vui sống để nuôi dưỡng chúng ta và nuôi dưỡng cả thế giới.

Mỗi bước chân con đi vào Tịnh độ
Mỗi bước chân con trở lại suối nguồn

Thở vào chúng ta đi ba bước: mỗi bước một từ, mỗi-bước-chân. Thở ra đi năm bước: con-đi-vào-Tịnh-độ. Đi thiền hành một mình tôi thường làm như vậy. Mỗi bước chân con đi vào Tịnh độ, tôi tiếp xúc với đất. Mỗi  bước  chân  con  trở  lại  suối  nguồn, tôi  tiếp  xúc với trời.

Hôm nay đi thiền hành, ta nhớ tiếp xúc với đất, đừng cho đất là vật chất, đất cũng là tâm. Vật và tâm là hai mặt của một thực tại, cái này nương vào cái kia mà có mặt, không có cái này thì không có cái kia. Đi thiền như vậy chúng ta có hạnh phúc, mỗi bước chân đều có khả năng nuôi dưỡng, trị liệu, mỗi bước chân đều có thể chế tác được niềm vui và năng lượng bình an. Ta đi cho ta và cho cả thế giới, đi cho bản thân và làm cho trái đất được an lành. Con người có thể trở nên độc ác, có khả năng phá hủy hình hài của mình và phá hủy trái đất là do cái thấy phân biệt nhị nguyên: tâm và vật khác nhau, sinh và diệt khác nhau. Vượt thoát được cái thấy nhị nguyên, chúng ta không còn phân biệt, chúng ta có sự chấp nhận, bình an.

 

 

Nếu tu tập, con người sẽ trở thành những vị Bụt và Bồ tát có khả năng bảo vệ, không những bảo vệ cho con người mà còn bảo vệ cho các chủng loại khác trên trái đất và bảo vệ cho Đất Mẹ. Vì vậy sự tu tập của chúng ta rất cần thiết cho sự sống hằng ngày của thế giới. Ta đi thiền hành không cho riêng ta mà đi cho thế giới và cho Đất Mẹ. Chúng ta đã tổ chức đi thiền hành ở các thành phố lớn trên thế giới.

Khi đi thiền hành, chúng ta không chỉ đi bằng thân mà phải đi bằng cả tâm của mình, gọi là thân tâm nhất như (the oneness of body and mind). Miệng (khẩu) của ta cũng phải đi theo. Cho nên trong khi thiền hành ta không được nói chuyện. Thân, khẩu, ý hợp nhất gọi là tương ưng. Trong khi giẫm lên mặt đất chúng ta không thấy đất là vật chất. Cho đất là vật chất tức là theo chủ trương duy vật luận (matérialisme). Nếu thấy đất là ý niệm, là tâm thì đó là duy tâm luận (idéalisme). Duy vật luận là một cực đoan và duy tâm luận là một cực đoan khác, căn cứ trên ý niệm vật và tâm là hai cái khác nhau. Nhiều nhà khoa học cho rằng tâm là do vật chất tạo ra, thức là một sản phẩm của não bộ. Khuynh hướng này rất gần với chủ nghĩa duy vật. Nhiều người khác lại cho rằng chính tâm tạo ra vật chất. Nhưng khi quán chiếu về thân thể, ta thấy rằng hình hài của ta không phải chỉ là vật chất. Trong hình hài có tâm, có cái biết và có sự thông minh của nó. Một tế bào cơ thể là một thực tại linh động có tâm trong đó, nếu lấy tâm đi thì nó trở thành một tế bào chết. Trong cơ thể của chúng ta có hàng tỷ tế bào và mỗi tế bào có sự thông minh, có cái biết rất sâu sắc. Vì vậy nói hình hài chỉ là vật chất, hay chỉ là sinh lý là không đúng.

Nhìn vào thế giới, ví dụ như một cọng cỏ hay một cái cây, ta thấy đó không phải là vật chất vô tri mà trong đó có cái biết. Ta không thể nói hạt bắp là vật chất, tại vì trồng hạt bắp xuống đất thì hạt bắp biết nẩy mầm, lên cây, làm lá, làm hoa và làm ra trái bắp. Như vậy, hạt bắp có cái biết. Nếu nói hạt bắp là vật chất là sai. Nhìn trái đất, ta thấy trái đất là một thực tại mầu nhiệm như những tế bào trong cơ thể. Trái đất có cái biết trong nó. Hành tinh đất có khả năng hiến tặng và nuôi dưỡng sự sống. Cho rằng hành tinh đất là một khối vật chất là sai. Hành tinh đất có sự thông minh, sáng tạo trong đó. Hành tinh này đã sản xuất ra những điều hết sức mầu nhiệm. Loài người là một trong bao nhiêu loài mà hành tinh này đã sản sinh ra. Bụt Thích Ca hay Chúa Jésus cũng là con của hành tinh này. Ta và mẹ ta cũng là những đứa con của hành tinh này. Nếu thấy được ta là con của mẹ ta thì ta cũng thấy được ta và mẹ ta cũng là con của trái đất. Trái đất là một thực tại mầu nhiệm, tuy không phải là con người nhưng trái đất cũng là một bà mẹ, gọi là Đất Mẹ.

Rất nhiều nền văn minh đã nhìn trái đất như một bà mẹ. Nhà sinh vật học người Mỹ, Thomas Lewis viết một cuốn sách về hành tinh trái đất, trong đó ông nói: theo ông thì trái đất giống như một tế bào trong cơ thể con người. Trong trái đất có sự sống, có sự thông minh, tại vì khi nghiên cứu về tế bào trong cơ thể, ông thấy mỗi tế bào đều mầu nhiệm vô cùng. Nhìn trái đất ông thấy trái đất cũng là một sinh vật biết đau, biết buồn, biết suy tư, có thông minh, có trí tuệ, có tài năng. Khi đi thiền hành chúng ta phải sử dụng trí bất nhị để thấy, đừng cho là ta đang giẫm lên trên vật chất. Ta phải thấy ta đang tiếp xúc với Đất Mẹ, với một thực tại vô cùng mầu nhiệm.

 

 

Phép lạ là đi trên mặt đất

(Trích từ cuốn “An trú trong hiện tại” – Sư Ông Làng Mai)

Thiền hành là thực tập Thiền trong khi bách bộ. Thiền hành có thể đem lại cho ta sự an lạc ngay trong giờ phút ta thực tập.

Người thực tập thiền hành bước những bước khoan thai, chậm rãi, ung dung, môi nở một nụ cười hàm tiếu và lòng cảm thấy an lạc. Bạn phải bước những bước chân thật thanh thản, như người thanh nhàn vô sự nhất trên đời. Bao nhiêu lo lắng và phiền muộn đều nên được rũ bỏ trong khi bạn bước những bước chân như thế. Muốn có an lạc, muốn có giải thoát, bạn phải bước được những bước chân như thế. Điều này không khó đâu. Bạn có thể làm được. Ai cũng có thể làm được nếu có một chút tự giác và nếu thực sự muốn được an lạc.

Đi mà không tới

Trong cuộc sống bận rộn hằng ngày, ta không bị một áp lực thúc đẩy đi về phía trước. Ta thường phải “rảo bước”. Rảo bước để đi đến đâu, ta ít khi tự hỏi mình. Thiền hành cũng như đi bách bộ, không có mục đích đi tới một địa điểm nào trong thời gian cũng như trong không gian. Mục đích của thiền hành là thiền hành. Cái quan trọng là đi chứ không phải tới. Thiền hành không phải là phương tiện. Thiền hành là cứu cánh. Mỗi bước chân là sự sống mỗi bước chân là sự an lạc. Vì vậy ta mà ta không cần phải rảo bước. Vì vậy mà ta đi chậm lại. Đi mà không đi; đi mà không bị một mục đích nào kéo ta về phía trước. Vì vậy mà khi ta đi, ta có thể nở một nụ cười.

Bước chân thanh thản

Trong cuộc sống hằng ngày, bước chân ta trĩu nặng lo âu, thấp thỏm và sợ hãi. Có khi cuộc đời của chúng ta chỉ là một chuỗi năm tháng lo âu. Bước chân ta vì thế không được thanh thản. Trái đất của chúng ta thật đẹp, trên trái đất có biết bao nhiêu nẻo đường tuyệt đẹp. Bạn có biết quanh ta có bao nhiêu ngõ trúc quanh co, bao nhiêu con đường lúa thơm tho, bao nhiêu bìa rừng xanh mát, bao nhiêu lối đi đẹp màu lá rụng, nhưng ít khi ta thưởng thức được, cũng bởi vì lòng ta không thanh thản, bước chân ta không thanh thản. Thiền hành là tập đi trở lại với những bước chân thanh thản. Hồi ta một tuổi rưỡi, ta tập đi những bước chập chững. Bây giờ đây thực tập thiền hành, ta cũng sẽ lại đi những bước chập chững như thế. Sau nhiều tuần lễ tập đi, ta có thể bước những bước vững chãi, an lạc, vô ưu. Những dòng này tôi viết là để giúp bạn một phần nào trong công trình thực tập. Tôi chúc bạn thành công.

Rũ bỏ lo lắng

Giả dụ tôi có thiên nhãn thông, tôi sẽ có thể nhìn vào dấu chân của bạn để thấy rõ dấu vết của những lo lắng phiền muộn mà bạn đã in lên mặt đất khi bạn đi qua chỗ tôi đứng, như một nhà khoa học lấy kính hiển vi soi tỏ những sinh vật bé nhỏ có mặt trong một ly nước lấy ở ao hồ. Bạn phải bước đi như thế nào để chỉ in trong dấu chân của bạn sự an lạc và sự giải thoát mà thôi; đó là bí quyết của thiền hành. Mà muốn làm được như thế, bạn phải biết rũ bỏ. Rũ bỏ phiền não, rũ bỏ lo lắng.

Cái ấn của một vị quốc vương

Bạn chọn một con đường dễ đi để mà tập. Bờ sông, công viên, sân thượng, rừng Vincenes hay ngõ trúc. Tôi biết có người thực tập thiền hành trong trại cải tạo, hoặc ngay trong phòng giam chật hẹp nữa. Nếu con đường không khập khễnh và lên dốc xuống dốc nhiều quá thì tốt. Bạn bước chậm lại, và tập trung sự chú  ý vào những bước chân. Bước đi bước nào, bạn có ý thức về bước ấy. Bước khoan thai, trang trọng, trầm tĩnh, thẳng thắn. Bước như in bàn chân của bạn trên mặt đất. Bước đi như một đức Phật. In bàn chân của bạn trên mặt đất, trang trọng như một quốc vương đóng cái ấn của mình trên một tờ chiếu chỉ.

Cái ấn của quốc vương trên tờ chiếu chỉ có thể làm cho cơn mưa móc thấm nhuần trăm họ, hoặc cũng có thể làm cho trăm họ điêu linh. Bước chân của bạn cũng thế. Thế giới có an lạc hay không là do bước chân của bạn có an lạc hay không. Tất cả tùy thuộc nơi một bước chân của bạn. Nếu bạn bước một bước an lạc thì bạn có khả năng bước được hai bước an lạc. Và bạn có thể bước được một trăm lẻ tám bước an lạc.

Hơi thở, con số và bước chân

Hơi thở có ý thức khác với hơi thở không có ý thức. Thở có ý thức là thở mà biết rằng mình đang thở, hơi thở dài thì mình biết là hơi thở dài, hơi thở ngắn thì mình biết là hơi thở ngắn, hơi thở êm ái dịu dàng thì mình biết là hơi thở êm ái dịu dàng. Bạn có thể hỏi: nếu chú ý tới hơi thở thì làm sao đồng thời chú ý tới bước chân? Tôi xin trả lời: có thể được, nếu ta đồng nhất hơi thở với bước chân. Ta có thể làm như vậy được bằng áp dụng phương pháp đếm. Đếm ở đây không phải là đếm hơi thở mà là đếm bước chân, nói một cách khác hơn là đo chiều dài của hơi thở bằng số lượng của bước chân. Ví dụ: trong khi thở ra thì tôi bước được mấy bước, và trong khi tôi thở vào thì tôi bước được mấy bước.

Bạn bước chậm lại, nhưng đừng quá chậm, trong khi bạn thở bình thường, đừng cố tình kéo dài hơi thở. Như thế trong vài ba phút. Rồi bạn bắt đầu chú ý quan sát xem trong khi phổi bạn thở ra thì chân bạn bước được mấy bước và trong khi phổi bạn thở vào thì chân bạn bước được mấy bước. Như thế, cả hai thứ hơi thở và bước chân đồng thời nằm gọn trong sự chú ý của bạn nói một cách khác hơn, đối tượng của sự quán niệm của bạn vừa là hơi thở và bước chân là sự đếm, là con số (bao nhiêu bước). Nụ cười hàm tiếu của bạn có liên hệ mật thiết đến sự tịnh lạc của bước chân và của hơi thở. Nó cũng là phương tiện duy trì sự chú ý và sự an lạc, và nó cũng có thể đồng thời là đối tượng của sự chú ý. Sau một vài giờ thực nghiêm chỉnh, bạn sẽ thấy cả bốn thứ hơi thở, con số, bước chân và nụ cười hàm tiếu hòa hợp với nhau một cách mầu nhiệm trong một trạng thái chú ý của tâm thức. Đó là định tuệ và sự an lạc của định tuệ tạo nên do sự thực tập thiền hành. Bốn trở thành một.

Tốc độ

Để tôi nói tiếp bạn nghe về phép đếm, muốn đếm cho dễ, bạn phải điều chỉnh tốc độ của bước chân. Ví dụ hơi thở của bạn chưa kéo dài được tới ba bước mà chỉ kéo dài tới hai bước rưỡi thôi. Trong trường hợp đó, hoặc giả bạn bước mau hơn một chút để hơi thở của bạn đo đúng được ba bước, hoặc bạn bước chậm lại một chút để hơi thở của bạn đo đúng được hai bước. Rồi bạn duy trì tốc độ ấy mà đếm và thở.

Hơi thở ra có thể dài hơn hơi thở vào, nhất là đối với người mới tập. Quan sát một hồi, bạn sẽ tìm ra “chiều dài” của hơi thở bình thường. Ví dụ 3-3 hay 2-3. Trong trường hợp đầu, hơi thở vào và hơi thở ra “dài” bằng nhau (3-3). Trong trường hợp thứ hai, hơi thở vào ngắn hơn hơi thở ra (2-3). Nếu hơi thở bình thường của bạn là 2-3 làm con số của hơi thở bình thường, nghĩa là hơi thở vừa với buồng phổi bạn, làm cho bạn dễ chịu. Bạn có thể thở như thế trong một thời gian khá lâu mà không thấy mệt. Con số đầu 2 là con số của hơi thở vào và con số sau là 3 con số của hơi thở ra. Trong trường hợp bạn leo dốc thì “chiều dài” của hơi thở sẽ rút lại, và đó không phải là hơi thở bình thường. Lúc đầu tập thiền hành, bạn nên theo nhịp thở bình thường của bạn

Lấy thêm thanh khí

Sau đó vài ba hôm, bạn có thể thí nghiệm phương pháp sau đây. Đang bước bình thường và thở bình thường bạn gia tăng một bước cho hơi thở ra. Ví dụ hơi thở bình thường của bạn là 2-2 thì bạn thực tập 2-3, và lặp lại như thế chừng bốn hay năm lần, rồi trở lại hơi thở bình thường của bạn là 2-2. Thực tập như thế bạn có thể thấy khỏe, vì khi thở ra dài hơn, bạn ép hai lá phổi thêm chút nữa để cho không khí dơ trong buồng phổi đi ra ngoài nhiều hơn. Khi ta thở bình thường, ta không cho ra hết phần không khí dơ nằm ở phía dưới buồng phổi. Nếu ta thêm vào một bước khi ta thở ra, không khí ấy bị dồn ra. Tôi dặn bạn đừng thở quá bốn năm hơi như vậy vì tôi sợ làm nhiều hơn thì bạn mệt. Thở bốn năm hơi như thế rồi bạn trở lại hơi thở bình thường. Lát nữa, nghĩa là sau đó năm ba phút, bạn có thể làm trở lại, cũng bốn năm lần thôi, rồi trở về hơi thở  bình thường. Xin bạn nhớ cho là chỉ thêm một bước cho hơi thở ra chớ đừng thêm cho hơi thở vào.

Thực tập như thế vài ba lần hoặc vài ba hôm, bạn sẽ thấy có nhu yếu muốn thêm một bước nữa cho hơi thở vào. Buồng phổi của bạn như nói với bạn; bây giờ nếu được thở 3-3 nghĩa là thêm vào một bước nữa cho hơi thở vào thì sẽ khoan khoái lắm. Lúc ấy, và chỉ lúc ấy thôi, bạn mới thêm một bước cho hơi thở vào. Bạn thấy khỏe lắm. Tuy nhiên bạn đừng thở như thế (nghĩa là 3-3) quá bốn hay năm lần. Hãy trở lại hơi thở bình thường là 2-2. Vài phút sau, nếu muốn, bạn sẽ lại thở 2-3 rồi 3-3 trở lại. Chừng vài tháng sau, hiệu năng của hai lá phổi bạn sẽ lớn hơn, phổi của bạn sẽ lành mạnh hơn và máy huyết của bạn sẽ được lọc kỹ lưỡng hơn. Hơi thở gọi là “bình thường” của bạn có thể được thay đổi. Ví dụ từ 2-2, nó có thể trở thành 3-3. Dùng hơi thở bình thường để thực tập thiền hành. Tốc độ của bước chân trở nên thuần nhất.

Phép lạ là đi trên mặt đất

Bước những bước đi thanh thản và an lạc trên mặt đất, đó là một phép lạ mầu nhiệm. Có người bảo đi trên than hồng, đi trên bàn chông hoặc đi trên mặt nước mới là phép lạ. Tôi thì tôi thấy đi trên mặt đất đã là một phép lạ rồi. Phép lạ là đi trên mặt đất. Tôi ưa cái đề sách ấy lắm. Giá dụ bạn và tôi là hai phi hành gia không gian, chúng ta lên tới mặt trăng rồi, nhưng không trở về trái đất được vì phi thuyền chúng ta bị hỏng máy mà chúng ta không có phương tiện nào sửa chữa được. Trung tâm không gian ở dưới trái đất không kịp thì giờ gởi một phi thuyền khác lên cứu chúng ta, và chúng ta biết rõ rằng trong hai ngày nữa chúng ta sẽ chết vì hết dưỡng khí. Lúc đó, trong bạn và trong tôi, chúng ta không còn mơ tưởng và ước ao gì khác ngoài sự được trở về trái đất xanh mát và thân yêu của chúng ta để lại có thể bước bên nhau những bước đi thanh thản và vô ưu. Biết chắc là sẽ chết, chúng ta mới thấy được những bước chân trên hành tinh xanh là quý giá. Giờ đây chúng ta hãy tự xem mình là những phi hành gia sống sót trở về được tới trái đất: chúng ta phải bước thật sung sướng thật an lạc trên hành tinh thân yêu của chúng ta. Chúng ta thực hiện phép lạ trong từng bước chân. Hoa sen nở dưới chân ta là như thế. Bạn thực tập đi, ý thức rằng mình đang bước những bước nhiệm mầu trên mặt đất. Trái đất sẽ xuất hiện trước mắt ta và dưới chân ta như một thực thể mầu nhiệm. Với chánh niệm đó, với phép quán tưởng đó, bạn có thể bước được những bước cực kỳ sung sướng trên mặt đất này.

Chọn lựa đối tượng

Mục đích của thiền hành là sự tỉnh thức và sự an lạc. Tỉnh thức và an lạc được liên tục. Vì vậy ta sử dụng tới hơi thở, bước chân, con số và nụ cười. Sự phối hợp của bốn yếu tố này tạo nên niệm lực và định lực. Niệm là sự tỉnh táo, sự không quên lãng, sự có mặt của ý thức và sự nhớ biết. Chữ niệm vốn dược dịch từ Phạn ngữ smrti tiếng Pali là sati. Còn “định” là sự ngưng tụ, tập trung, trạng thái không tán loại và không đi lạc của tâm thức. Thiền hành tạo ra niệm, định và sự an lạc. Tuy vậy, không nhất thiết là bạn phải quy tụ được cả bốn yếu tố hơi thở, con số, bước chân và nụ cười bạn mới đạt được chánh niệm và sự an lạc. Có khi chỉ cần bước chân mà thôi bạn cũng đủ có chánh niệm và sự an lạc rồi. Khi chánh niệm và sự an lạc ấy rời rạc và không được liên tục bạn mới cầu viện tới hơi thở, con số và nụ cười. Phối hợp hơi thở, con số, và bước chân là điều mà ai cũng có thể làm được. Nhưng khi bạn đặt trọng tâm của sự chú ý vào bước chân thì ý thức về hơi thở và con số có thể yếu đi, như khi ta cắm lò sưởi điện vào thì các bóng đèn lu bớt. Điều đó không sao nếu bạn vẫn duy trì được chánh niệm nơi bước chân. Bạn hỏi: nếu dồn hết niệm lực vào bước chân để quán tưởng, ví dụ quán tưởng bông sen đang nở dưới chân mình, thì làm sao còn thấy được những mầu nhiệm khác như nõ trúc mát hay bờ lúa thơm? Đúng vậy, môi trường của định càng lớn thì định chú ý tới bông sen thì bạn hãy chỉ chú ý tới bông sen thôi. Nếu bạn chọn trái đất khi nó xuất hiện. Bàn chân bạn đặt lên mặt đất, tức thì bạn thấy cả đại địa dưới bàn chân bạn. Đại địa ấy là trọn vẹn cả trái đất. Bạn có thể đồng thời thấy bàn chân bạn và cả quả địa cầu xanh.

Nếu bạn muốn chú ý tới lúa thơm, tre mát, hoặc cây lá cây trời, thì bạn dừng lại. Duy trì hơi thở, bạn nhìn ngắm tất cả những thứ ấy theo sự chú ý của bạn. Bạn cũng có thể nở nụ cười hàm tiếu và duy trì nụ cười ấy mà không thấy gì trở ngại. Một lát sau, bạn lại tiếp tục thiền hành, và chú ý tới bước chân.

Thuyền từ lướt sóng

(Sư cô Trăng Giác Ân người Singapore, xuất gia ngày 14 tháng 12 năm 2017, trong gia đình cây Bạch Dương tại Làng Mai, Pháp. Sư cô đang sống và tu học bình yên, hạnh phúc ở xóm Hạ. Trước đây, sư cô sống và làm việc tại Hawaii. Bài viết được Ban biên tập chuyển ngữ từ tiếng Anh.)

Tôi rời thiền đường Hội Ngàn Sao, xóm Hạ bước ra bãi đậu xe có những cây bạch dương thẳng tắp. Mặt trăng đang tỏa ánh sáng dịu dàng, làm cả khu vườn như dát bạc.

Tôi thấy mình đang trở về một khu vườn khác đẫm ánh trăng, đó là một bến tàu với rất nhiều con thuyền đang đung đưa nhè nhẹ. Không khí ấm nồng mùi muối biển. Các sợi dây xích lặng lẽ va vào cột buồm tạo nên một bản hòa tấu êm dịu. Trong ánh sáng lờ mờ, hình dạng của chiếc thuyền buồm nhỏ – vốn từng là của tôi – dần hiện rõ.

Cách đây không lâu, tôi sống ở Hawaii. Là một nhà sinh vật học, phần lớn thời gian tôi sống ở ngoài trời. Tôi cũng là một người đam mê lái thuyền buồm nên hầu như lúc nào tôi cũng ở dưới nước, hoặc là ở trên mặt nước trong thời gian rảnh rỗi. Từ bờ biển nơi tôi ở nhìn ra là Thái Bình Dương mênh mông. Chỉ cần dong thuyền ra khơi khoảng mười phút là đã có thể thấy mình ở giữa những con sóng cuộn lừng lững rất nổi tiếng ở Hawaii.

Tôi đã gặp pháp môn Làng Mai trong khóa tu đầu tiên ở San Diego năm 2002, tại trường đại học California. Trong khóa tu đó, tôi đã được học cách thở trong chánh niệm và thực sự có mặt cho những cái đẹp xung quanh. Tôi nhớ mình đã từng đứng trên boong tàu, mắt uống trọn sắc màu của nắng đang nhảy múa trên mặt biển xanh, tôi nghe tiếng nước chảy dưới thân tàu, cảm được gió mát trên da và nắng ấm trên mặt. Bất kể tôi đi biển bao nhiêu lần, vẻ đẹp ấy không bao giờ suy giảm. Đó là nhờ khả năng có mặt trọn vẹn trong phút giây hiện tại. Phải chăng đó chính là hương vị của tâm ban đầu mà lần đầu tiên tôi được nếm?

Lướt thuyền buồm trên biển là một thú tiêu khiển đòi hỏi người chơi phải hoàn toàn có mặt. Gió, sóng và thuyền hòa với nhau trong một vũ điệu sôi động, không ngừng thay đổi. Một người lái thuyền giỏi là một người luôn biết những gì đang xảy ra. Rất nhiều người lái thuyền buồm và những người trượt sóng mà tôi quen biết hay đùa rằng có mặt trên biển trong những ngày Chủ nhật cũng giống như đi nhà thờ vậy. Đó là cách chúng tôi kết nối với đại dương, kết nối với một cái gì đó lớn hơn mình rất nhiều. Dần dần tôi học được rằng nếu lắng nghe sâu thì ta có thể nghe được tiếng đại dương trò chuyện. Đại dương dạy ta, cũng như nó đã từng dạy những người Hawaii cổ xưa cách vượt biển và theo hướng các vì sao để đi từ Polynesia đến Hawaii. Cách tôi lèo lái chiếc thuyền buồm của mình chẳng khác gì mấy với cách người xưa đã làm khi giương chiếc buồm đầu tiên trên biển. Biết bao thế hệ người lái thuyền buồm trước tôi đã quan sát độ cong và sự rập rờn của các cánh buồm trong khi họ điều khiển nó. Bài học quan trọng nhất không phải từ sách vở mà chỉ từ sự quan sát, lắng nghe rồi sau đó thử nghiệm những điều mà mình cảm thấy thích hợp.

Một cách để ta có thể nhìn cuộc sống từ góc độ mới là lướt buồm đi rất xa trên biển cho đến khi không còn thấy được đất liền. Một chiếc tàu dù có lớn đến đâu, với tất cả các hành khách trên tàu, cũng trở thành một chấm nhỏ ở chân trời. Ta là ai? Ta thực sự là cái gì? Những câu hỏi này sẽ trở thành vô nghĩa khi tất cả những gì bạn cần làm là vượt qua từng con sóng một.

Chỉ một vài tuần trước khi xuất gia, tôi đã phải vượt qua một con sóng nghi ngờ rất lớn. Quyết định của tôi có đúng không? Tôi đang thực tập ở một nơi có thích hợp không? Truyền thống này có đúng cho tôi không? Tôi như đang bước vào một nơi vô định. Tôi đã bỏ nghề nghiệp, bỏ chiếc thuyền buồm yêu quý và ngôi nhà của mình lại phía sau để đi tìm kiếm một cái gì đó quý giá hơn, bền lâu hơn là những hạnh phúc đời thường ở một nơi tuyệt đẹp mà tôi từng sống. Có lẽ một lực kéo vô hình đã chi phối, thúc đẩy tôi đi tìm một thiên đường nội tâm đẹp tương đương như vậy. Trong khi cố gắng quyết định có nên xuất gia hay không, tôi đã cân nhắc thật rốt ráo bằng cách sử dụng tất cả trí năng của mình, thế nhưng tôi vẫn không thể quyết định được. Đang ở Làng Mai nhưng tôi cũng rất sẵn sàng khăn gói để ra đi bất cứ lúc nào.

Một sư cô biết tôi bị kẹt trong cái vòng luẩn quẩn nên trước khi đi hướng dẫn khóa tu dài một tháng, sư cô đã từ bi nói với tôi: “Hứa với chị là em sẽ vẫn còn ở đây khi chị trở lại”. Tất cả những gì tôi có thể đáp lại là im lặng lắc đầu. Quả thật tôi rất ngạc nhiên khi tăng thân vẫn chấp thuận cho tôi xuất gia. Có thể chính vì niềm tin này của tăng thân mà có một lúc nào đó, đột nhiên tôi nhận ra rằng ngọn gió cuộc đời đang thuận chiều đưa tôi về hướng xuất gia. Đó là một ngọn gió huyền bí đang thổi tôi vào một nơi vô định. Nhưng là một người lái thuyền buồm, tôi biết mình cần phải làm gì. Tôi trở về có mặt cho chiếc thuyền của mình, tôi biết gió đang thổi về hướng nào. Bất chợt tôi nhận thấy rõ nơi mình phải đến. Bỏ ra đi có nghĩa là tôi phải đi ngược gió, đó là lý do tại sao tâm tôi trở nên kiệt quệ. Tôi đã đi ngược lại dòng chảy của sự sống. Và tôi đã làm một quyết định. Kết cục thật đơn giản.

Tôi cùng một người bạn đã từng tham gia vào các cuộc đua của câu lạc bộ thuyền buồm trên chiếc thuyền của anh ấy, chiếc thuyền mà cả hai chúng tôi đều rất quen thuộc. Sau nhiều năm lướt sóng cùng với đội thuyền của câu lạc bộ, chúng tôi đã đạt được một kỹ năng cho phép chúng tôi đua thuyền hai, ba tiếng đồng hồ, và chỉ thua người về nhất một vài giây. Người bạn và tôi thường hỏi nhau: “Ở chỗ nào trong cuộc đua mình có thể làm ra hai giây đó nhỉ?”. Câu hỏi này đã khích lệ chúng tôi điều khiển chiếc thuyền buồm với sự chính xác tối đa có thể, luôn luôn tỉnh táo. Tôi, trong vai trò người cầm lái, phải chú ý đến từng sự thay đổi dù là nhỏ nhất của hướng gió. Trong khi đó, bạn tôi là người điều khiển buồm và giữ cho chiếc thuyền đi đúng hướng. Đại dương, gió, chiếc thuyền buồm và tôi đã hòa thành một, niềm vui thích tuyệt đỉnh của sự tập trung cao độ trong giây phút hiện tại! Khi chiếc thuyền buồm được điều khiển một cách khéo léo nhất, nó thực sự lướt đi trong một vũ điệu trên mặt nước. Chúng tôi đã thực sự tiết kiệm từng giây phút trong cuộc đua thuyền bằng cách có mặt đích thực trong từng khoảnh khắc.

Giờ đây tôi sống ở Làng Mai, quanh tôi là nông trại, cây ăn trái và những vườn nho. Đôi khi có ai đó hỏi tôi có nhớ lái thuyền buồm không. Tôi có thể trả lời một cách trung thực là tôi nhớ đại dương da diết, nhớ mùi biển mặn, không khí ẩm nồng, nhớ mặt biển, một không gian mênh mông lúc nào cũng chuyển động. Tuy nhiên, tôi không cảm thấy nhớ lái thuyền buồm. Tại sao? Tôi nghĩ là vì lúc ở trên thuyền tôi đã hoàn toàn có mặt (ngay cả khi tôi bị say sóng!). Vì đã hoàn toàn có mặt, nên có lẽ tôi không có gì để nhớ. Tôi có thể nhớ lại thật rõ ràng cái cảm giác và âm thanh của chiếc thuyền khi nó lướt đi trên mặt nước. Đối với tôi lúc này, như vậy là đã đủ đầy rồi.

Hồi đó, tôi thường nằm trên chiếc giường trong buồng lái và đi vào giấc ngủ trong khi vẫn nghe tiếng tôm quẫy nhẹ ngoài mạn thuyền. Còn bây giờ thì tôi lắng nghe tiếng cú kêu trong đêm, đôi khi tôi chạy ra khỏi giường với hy vọng nhìn thấy một con cú. Tháng 11 báo hiệu bọn cá voi di cư từ Alaska sẽ về đến Hawaii. Nhìn thấy con cá voi đầu tiên là một sự kiện mà ai cũng chờ đợi. Ở Làng, tôi mong ngóng những đàn ngỗng trời di cư vào mùa thu và mùa xuân, biết rằng chúng phải bay một hành trình dài để đến hoặc trở về từ những vùng nóng bức của châu Phi. Chừng nào những con cá voi và những con ngỗng trời còn di cư theo mùa thì tôi vẫn thấy thế giới còn vận hành một cách bình thường.

Là một nhà sinh vật học, tôi biết thiên nhiên thường biểu hiện một cách rất kỳ thú, khó đoán định. Tôi rất thích khi nhớ lại có lần tôi đang đi dọc theo bến tàu đến chỗ tắm công cộng, lần đầu tiên tôi nhìn thấy một con cá ngựa ở dưới nước. Khi tôi kể cho một người bạn, một người đam mê môn lặn, bạn ấy nói: “Mình đã lặn dưới biển không biết bao nhiêu lần, vậy mà chưa bao giờ mình nhìn thấy một con cá ngựa. Còn cậu, cậu chỉ cần đi đến nhà tắm thôi mà đã nhìn thấy được!”. Tuệ giác có vẻ hơi tương tự với việc bắt gặp một con cá ngựa, bạn sẽ không bao giờ biết được khi nào thì nó xuất hiện. Vì vậy sự thực tập của tôi là luôn sẵn sàng để có mặt bất cứ khi nào nó đến.

Tôi đã thiết lập nên một mối liên hệ với đại dương, mối liên hệ này cũng rất thật như bất cứ mối liên hệ nào khác của tôi đối với một con người. Bởi vì đại dương trò chuyện với ta nếu ta lắng nghe thật sâu, và dạy cho ta nếu ta sẵn sàng học hỏi. Tôi chưa bao giờ thấy mình cô đơn khi ở trên biển. Tôi nhớ lại khóa tu mùa Hè vừa qua ở Làng Mai, có lần tôi mơ thấy núi và biển ở Hawaii. Tôi có thể nghe tiếng gọi của núi và biển nhưng lại thấy hơi sợ khi nghe tiếng gọi ấy bởi vì tôi không muốn mình có cảm giác nhớ nhà. Tuy vậy, một buổi chiều nọ, tôi đã dừng lại và lắng nghe. Tôi có thể nghe tiếng gọi dịu dàng của núi và biển, và tôi định trả lời: “Tôi chưa thể trở về đâu…”, nhưng rồi tôi lại nghe: “Chúng tôi vẫn đang có mặt với bạn đây, không có gì mất đi hết”.

Chín mươi ngày an cư năm 2018 vừa mới đi qua. Trong 90 ngày đó, tôi đã quyết định thực tập với Bốn tâm vô lượng là từ, bi, hỷ, xả (Brahma Vihara). Brahma Vihara còn được gọi là phạm trú. Trú là trú ngụ. Tôi muốn trú ngụ trong tình thương, từ bi, hỷ, xả càng nhiều càng tốt, muốn hành xử của tôi đến từ tấm lòng thương yêu. Trong lớp học dành cho sa di ni, chúng tôi được khuyến khích không chỉ nhận diện và chấp nhận những gì đang xảy ra trong tâm mà còn thực tập như lý tác ý (để ý tới những đối tượng có thể giúp ta đi về hướng chánh niệm, đi về hướng hiểu biết và thương yêu). Phần lớn sự thực tập của tôi là quán sát tâm mình, nhưng đây là lần đầu tiên tôi nhận ra rằng ta có thể đóng một vai trò chủ động hơn trong việc điều khiển suy nghĩ và cảm xúc của mình. Tôi không cần phải chờ đợi chúng tự phát khởi. Vì vậy, tôi đã tập mời những hạt giống thương yêu và từ bi đi lên khi thực tập địa xúc hàng ngày. Còn nếu tâm tôi trống rỗng trong khi thiền hành thì tôi tập an trú trong thương yêu và từ ái. Tôi viết cách thực tập bốn tâm vô lượng ra rồi để trên bàn học để nhắc nhở mình mỗi tối trước khi đi ngủ. Bốn tâm này là những cái giếng chứa nước thương yêu và từ bi cung cấp nước uống cho tâm tôi. Tôi phát hiện ra rằng mình đang khát! Khu vườn tâm của tôi đang khô cằn và bụi bặm, vì vậy tôi đã uống thật thỏa lòng. Thực tập bốn tâm vô lượng còn có nghĩa là hiến tặng cho chính mình chất liệu của từ, bi, hỷ và xả, rồi sau đó dần mở rộng ra cho người khác ở chung quanh và cho cả thế giới. Những tâm này có thể mở rộng ra không giới hạn.

Tôi quyết định chỉ thực tập tâm vô lượng kế tiếp khi nào tôi thấy thật là “no đủ” và “mãn ý”, cũng như tôi chỉ nới rộng vòng tay kết nối thương yêu của mình khi nào cái vòng tay mà tôi đang kết nối đã “đầy đủ” và “mãn ý”. Vì vậy, tôi phải thú thật là trong 90 ngày an cư, tôi chỉ thực tập từ và bi – hai trong Bốn tâm vô lượng và chỉ mới thực tập cho chính bản thân mình, thỉnh thoảng mới mở rộng ra cho một vài người khác. Tôi cảm thấy mình chỉ vừa mới bắt đầu khởi hành cho một cuộc hải trình rất dài, và tôi vẫn còn có thể nhìn thấy ánh sáng nhấp nháy trên bờ biển. Giờ đây tôi phát hiện ra rằng tuy những ngọn gió trong tâm đang có đó, nhưng tôi là một người lèo lái chiếc thuyền tâm, tôi có thể đóng một vai trò chủ động trong suy nghĩ và cảm xúc của mình. Tôi cũng có thể quyết định mình sẽ đi theo ngôi sao định hướng nào.

Giờ đây tôi vẫn còn đang căng buồm lướt sóng. Biển vẫn còn tối, nhưng tôi có thể cảm được những chiếc thuyền của các sư anh, sư chị, sư em trong tăng thân đang ở gần bên. Chúng tôi là một đoàn thuyền buồm đang được cùng một ngọn gió đưa đi. Đây không phải là một cuộc đua thuyền, mà là một hành trình cùng nhau khám phá. Tôi cũng biết là nếu thuyền tôi bị rò rỉ, tôi luôn có thể kêu gọi sự trợ giúp từ các huynh đệ của mình. Hồn thiêng của đất đai và biển Hawaii vẫn cùng tôi lướt sóng. Cả ba mẹ, những người thân của tôi và vạn vật cũng vậy.

Chân Trăng Giác Ân