Đất Mẹ là một vị đại Bồ tát

(Phiên tả pháp thoại của Sư Ông Làng Mai trong khoá An cư kiết đông 2011-2012)

 

 

 

Mặt trời là một pháp, hành tinh trái đất cũng là một pháp. Nếu mặt trời là một vị Bồ tát thì hành tinh của chúng ta cũng là một vị Bồ tát, Đất Mẹ là một vị Bồ tát. Là những người hành trì, chúng ta phải bắt đầu nhìn trái đất như một vị Bồ tát, một vị Bồ tát rất xinh đẹp. Các nhà khoa học đã dùng kính viễn vọng để tìm kiếm, nhưng cho tới nay họ chưa tìm được một hành tinh nào xinh đẹp như trái đất. Chiếc áo khoác lên người của Đất Mẹ là một chiếc áo rất xinh đẹp, chiếc áo có màu xanh của đại dương, màu xanh của cây cỏ. Nhìn cho kỹ, ta thấy có biết bao nhiêu mầu nhiệm biểu hiện trên mặt đất, trong đó có con người. Con người tự hào mình giỏi về toán học, nhưng khi nhìn một cánh hoa anh đào hay nhìn một vỏ ốc thì con người phải cúi đầu khâm phục. Phải rất giỏi toán mình mới làm ra được một cánh hoa anh đào hay một vỏ ốc như vậy. Muốn xây một ngôi nhà hay một cây cầu vững chãi, chúng ta phải nhờ kiến thức của toán học. Đất Mẹ cũng là một nhà toán học tài tình, đã tạo ra những cái rất mầu nhiệm.

Những nhạc sĩ đã tạo ra những bản nhạc rất hào hùng. Nhưng nếu lắng nghe tiếng hải triều, tiếng gió, tiếng chim, tiếng thông reo thì chúng ta sẽ thấy rằng Bồ tát Thanh Lương Địa của chúng ta là một nhạc sĩ rất tài tình. Không bản nhạc nào hào hùng hơn bản nhạc của đất trời, của mưa, của gió, của hải triều sớm tối. Các họa sĩ đã sáng tạo ra những bức tranh thật tuyệt vời, nhưng không họa sĩ nào có thể sáng tạo ra những bức tranh tuyệt vời như Đất Mẹ. Buổi sáng khi mặt trời lên, đứng trên núi nhìn xuống, chúng ta thấy bức tranh mà trái đất thực hiện đẹp hơn những bức tranh của con người rất nhiều.

Không hẳn chỉ con người mới được gọi là Mẹ. Ta có thể nhìn trái đất như một vị Bồ tát, gọi là Bồ tát Thanh Lương Đại Địa. Ta có thể chắp tay lại niệm: Nam mô Bồ tát Thanh Lương Đại Địa. Vị Bồ tát này là Mẹ của muôn loài, có khả năng chuyên chở, nuôi dưỡng và trị liệu. Mỗi khi đau ốm, ta đánh mất mình thì ta phải trở lại với bà Mẹ này để được nuôi dưỡng, trị liệu. Vì vậy, thiền hành là một phương pháp thực tập rất hay để chúng ta có thể trở về tìm sự nuôi dưỡng và trị liệu từ Đất Mẹ. Tuy không mang hình thức của một con người, nhưng Đất Mẹ đích thực là một vị Bồ tát, tại vì Đất Mẹ có những đức tính rất lớn như vững chãi và kiên nhẫn. Trong kinh Địa Tạng có câu: Địa ngôn kiên hậu quảng hàm tàng (có nghĩa là đất kiên cố, dày dặn và cất chứa được rất nhiều). Đất có khả năng nuôi dưỡng, che chở, trị liệu và có khả năng cho ra đời biết bao nhiêu là mầu nhiệm. Nhiều vị Bụt và Bồ tát đã được đất sinh ra. Chính Chúa Kitô cũng do đất sinh ra. Ta không biết Chúa Kitô có phải do Thượng đế sinh ra thật hay không, nhưng ta biết chắc Chúa Kitô do trái đất sinh ra. Có những lúc ta lao đao, cô đơn, lạc hướng hay ốm đau thì ta phải trở lại Đất Mẹ để được nuôi dưỡng.

Trong khóa tu mùa Đông này, chúng ta nên đưa vị Bồ tát Đất Mẹ vào trong danh sách để lạy: Nhất tâm kính lễ Bồ tát Thanh Lương Đại Địa, mẹ của muôn loài luôn luôn chở che, nuôi dưỡng và trị liệu cho chúng con.

Bồ tát là tên gọi tắt của chữ bồ đề tát đỏa. Bodhisattva, đọc phiên âm ra là bồ đề tát đỏa. Bodhi là bồ đề, sattva là tát đỏa. Sattva nghĩa là một sinh vật, một hữu tình (being), bodhi nghĩa là giác ngộ (enlightened). Bồ đề tát đỏa là giác hữu tình (enlightened being).

Bồ tát là một sinh vật có hạnh phúc, có giác ngộ, có chánh niệm, có hiểu và có thương. Bất cứ sinh vật nào có sự tỉnh thức, có bình an, có hiểu và thương thì được gọi là một vị Bồ tát. Không phải chỉ có con người mới làm được Bồ tát. Trong những câu chuyện tiền thân, có khi Bồ tát là một con nai, một con khỉ, một tảng đá hay một cây xoài, tại vì nhìn vào cây xoài đó ta thấy có hạnh phúc, có sự tươi mát. Cây hiến tặng cho đời vẻ đẹp của nó và nuôi dưỡng sự sống, làm chỗ nương tựa cho bao nhiêu chim muông. Ta có thể thấy cây là một vị Bồ tát, vì vậy Bồ tát không hẳn phải là con người. Bồ tát không phải là cái gì xa xôi ở trên mây, mà là những cái ở ngay chung quanh mình. Một người trẻ hơn ta nhưng có tình thương, có sự hiểu biết, có sự tươi mát và hiến tặng cho ta nhiều niềm vui thì người đó là một vị Bồ tát. Cây thông ngoài vườn có thể tạo cho ta nhiều niềm vui, hiến tặng cho ta dưỡng khí và làm đẹp cho cuộc đời. Cây thông đó là một vị Bồ tát.

 

 

Vì vậy, chúng ta có thể nói trái đất của chúng ta là một vị Bồ tát. Đích thực địa cầu là một vị Bồ tát rất lớn. Địa cầu có nhiều đức tính rất tốt. Trước hết là sự vững chãi. Đất chuyên chở ta, đất có sức chịu đựng rất lớn, rất kiên nhẫn. Đất không kỳ thị. Ta có đổ nước thơm, hương hoa hay đổ phân, nước tiểu xuống, đất cũng chấp nhận được. Đất hiến tặng cho ta không biết bao nhiêu là phẩm vật. Đất đưa ta ra đời, nuôi nấng ta, cho ta không khí để thở, cho ta nước để uống. Như vậy rõ ràng đất là một vị Bồ tát. Khi bước trên mặt đất là ta tiếp xúc với một vị Bồ tát.

Ta đừng nên cho đất là vật chất, tại vì vật chất làm sao giỏi như vậy được? Đất là một vị Bồ tát lớn đã đưa ra đời nhiều vị Bụt và nhiều vị Bồ tát khác. Đất là Mẹ của nhiều vị Bụt và nhiều vị Bồ tát. Đức Thích Ca, thầy của ta, cũng là con của đất. Cha ta, mẹ ta cũng là con của đất. Nhờ mẹ ta, ta nhận diện ra đất cũng là một bà Mẹ, một bà Mẹ lớn. Đất đưa mẹ ta ra đời, đưa ta ra đời qua mẹ ta; vì vậy đi trên mặt đất là ta tiếp xúc được với bà Mẹ đó và ta phải có hạnh phúc. Bà Mẹ này rất xinh đẹp. Trong Thái Dương hệ, đất là hành tinh đẹp nhất. Trái đất là vị Bồ tát xinh đẹp nhất trong các vị Bồ tát mà ta thấy, gọi là Bồ tát Thanh Lương Địa, một vị Bồ tát vừa trong, vừa mát, vừa xinh đẹp. Vì vậy được bước đi trên địa cầu này là một hạnh phúc rất lớn.

Có những người dại dột xúi ta phải phát tâm nhàm chán trái đất này để cầu sinh sang một cõi nào đó không biết có thực hay không. Ta đừng nên nghe họ, ta phải quay về nương tựa nơi đất, ta phải quy y đất. Ta phải thương Đất Mẹ, mỗi bước chân ta biểu lộ tình thương đối với Đất Mẹ, và bước đi như vậy ta không thể không có hạnh phúc. Hạnh phúc là chuyện có thể có được.

Chúng ta phải tập nhìn địa cầu của ta không như một vật vô tri vô giác, địa cầu của ta là một sinh vật (living-being). Nhiều nhà khoa học, nhất là các nhà sinh vật học như Thomas Lewis, thấy rằng trái đất là một sinh vật. Ông viết một cuốn sách với tựa đề “The Lives of a Cell“ (Sự sống của một tế bào), ông xem trái đất như một tế bào của vũ trụ, một tế bào rất xinh đẹp trong đó có rất nhiều sự sống, rất nhiều mầu nhiệm.

Khi nhìn trái đất, chúng ta thấy trái đất là một hành (formation), tại vì trái đất được làm bằng những yếu tố trong vũ trụ trong đó có Mặt trời và các vì sao. Các vì sao đã gửi tới trái đất rất nhiều yếu tố. Nhìn vào bông hoa ta thấy bông hoa được làm bằng nhiều yếu tố, bông hoa là một hành. Ta thấy cả vũ trụ trong một bông hoa, trong đó có mặt trời, có trái đất. Trái đất cũng là một bông hoa rất xinh đẹp, ta thấy trong trái đất sự có mặt của toàn vũ trụ (the whole cosmos in the Earth).

 

 

Nhìn vào ta, ta thấy Đất Mẹ ở trong ta. Ta đừng tưởng Đất Mẹ ở ngoài ta. Ta mang Đất Mẹ trong ta. Mẹ sinh ra ta ở trong ta và trái đất, mẹ của mẹ ta cũng ở trong ta. Ta đừng tưởng trái đất ở ngoài ta, trái đất cũng ở trong ta. Những người có gốc Cơ Đốc giáo biết rằng trong Thánh Kinh cũng có những câu như vậy. Chính Chúa Jésus đã nói: I am my father, my father is in me(Tôi là cha tôi, cha tôi có trong tôi). Đó là giáo lý tương tức rất gần với đạo Bụt.

Trong trái đất có cả vũ trụ. Nhìn vào trong hình hài của mình, ta thấy Đất Mẹ, nghĩa là có đủ cả vũ trụ trong ta. Đó là tuệ giác. Trong khóa tu cho người Việt ở Washington, có người hỏi:

  • Chúng con tu theo Tịnh độ. Khi niệm Bụt A Di Đà chúng con biết khi chết chúng con sẽ về đâu. Tăng thân Làng Mai tu chỉ biết thở ra thở vô, không biết mai mốt chết rồi sẽ đi về đâu? Các thầy, các sư cô trả lời như thế nào?

Có một điều rất rõ ràng là: ta được biểu hiện ra từ trái đất thì ta sẽ về với trái đất. Đất Mẹ đưa ta ra một lần thì Đất Mẹ đón ta trở về, rồi ta sẽ đi-về hàng nghìn lần như vậy, ta có chỗ về rõ ràng. Nhưng như vậy không có nghĩa là chúng ta chối bỏ giáo lý Tịnh độ. Tịnh độ không phải là cái gì mơ hồ, chỉ có ở nơi khác hay trong tương lai. Tịnh độ có mặt trong giây phút hiện tại. Trong mỗi hơi thở vào và hơi thở ra, ta trở về tiếp xúc với giây phút hiện tại ngay bây giờ, tại vì Đất Mẹ là một Tịnh độ. Đức Thích Ca là con của Đất Mẹ, Đức Thích Ca nhận đây là quê hương, “xin nhận nơi này là quê hương”. Là học trò của Đức Thích Ca, không lý chúng ta lại đi tìm một chỗ nào khác? Tại sao ta không nhận quê hương của thầy mình là quê hương của mình mà lại đi tìm một chỗ nào khác chưa chắc đã có thật? Chỗ này đang có thật, đang là một hiện thực rất mầu nhiệm. Đi vào thiền đường, chúng ta đi bằng những bước chân có cái thấy đó, có hạnh phúc và có tình thương đó.

Trên xóm Thượng, sau khi ngồi thiền nửa giờ, chúng ta đi kinh hành, thở vào ta đi một bước và thở ra ta đi một bước. Chúng ta đi như vậy để tiếp xúc với đại địa, với Đất Mẹ. Khi tiếp xúc với Đất Mẹ bằng tuệ giác thì mỗi bước chân có tính cách nuôi dưỡng và trị liệu. Đi 30 bước là chúng ta có 30 cơ hội để nuôi dưỡng và trị liệu, vì vậy chúng ta đừng đi hình thức mà phải đi cho có nội dung. Mỗi bước chân phải có chánh niệm, phải đem lại sự bình an cho thân và tâm, phải đem lại cái thấy. Cái thấy đó không khó, chỉ cần một chút chánh niệm là ta có thể thấy Đất Mẹ là Mẹ của mình, Mẹ của mẹ mình, Mẹ của thầy mình.

Khi giẫm lên Đất Mẹ chúng ta đừng nghĩ đất là vật chất, đất cũng là tâm thức, có tâm thức trong mỗi hạt bụi. Trong hạt bụi có vô số Bụt, mỗi vị an trú chúng hội mình, đó là lời dạy của kinh Hoa Nghiêm. Đi thiền hành với tuệ giác đó, chúng ta đi vào thế giới của Hoa Nghiêm, chúng ta tiếp xúc với một sự sống linh động, đó là Đất Mẹ. Chúng ta là một phần của Đất Mẹ, Đất Mẹ có trong ta, cũng như mặt trời, tức đức A Di Đà, một vị Bụt lớn, cũng có trong ta. Chúng ta phải thực tế, đừng nên viển vông đi tìm Bụt hay Bồ tát ở một nơi xa nào. Bụt và Bồ tát có mặt trong giây phút hiện tại, và Tịnh độ cũng có mặt trong hiện tại. Đi thiền hành như vậy đem lại sự dừng lại, sự bình an, sự vui sống để nuôi dưỡng chúng ta và nuôi dưỡng cả thế giới.

Mỗi bước chân con đi vào Tịnh độ
Mỗi bước chân con trở lại suối nguồn

Thở vào chúng ta đi ba bước: mỗi bước một từ, mỗi-bước-chân. Thở ra đi năm bước: con-đi-vào-Tịnh-độ. Đi thiền hành một mình tôi thường làm như vậy. Mỗi bước chân con đi vào Tịnh độ, tôi tiếp xúc với đất. Mỗi  bước  chân  con  trở  lại  suối  nguồn, tôi  tiếp  xúc với trời.

Hôm nay đi thiền hành, ta nhớ tiếp xúc với đất, đừng cho đất là vật chất, đất cũng là tâm. Vật và tâm là hai mặt của một thực tại, cái này nương vào cái kia mà có mặt, không có cái này thì không có cái kia. Đi thiền như vậy chúng ta có hạnh phúc, mỗi bước chân đều có khả năng nuôi dưỡng, trị liệu, mỗi bước chân đều có thể chế tác được niềm vui và năng lượng bình an. Ta đi cho ta và cho cả thế giới, đi cho bản thân và làm cho trái đất được an lành. Con người có thể trở nên độc ác, có khả năng phá hủy hình hài của mình và phá hủy trái đất là do cái thấy phân biệt nhị nguyên: tâm và vật khác nhau, sinh và diệt khác nhau. Vượt thoát được cái thấy nhị nguyên, chúng ta không còn phân biệt, chúng ta có sự chấp nhận, bình an.

 

 

Nếu tu tập, con người sẽ trở thành những vị Bụt và Bồ tát có khả năng bảo vệ, không những bảo vệ cho con người mà còn bảo vệ cho các chủng loại khác trên trái đất và bảo vệ cho Đất Mẹ. Vì vậy sự tu tập của chúng ta rất cần thiết cho sự sống hằng ngày của thế giới. Ta đi thiền hành không cho riêng ta mà đi cho thế giới và cho Đất Mẹ. Chúng ta đã tổ chức đi thiền hành ở các thành phố lớn trên thế giới.

Khi đi thiền hành, chúng ta không chỉ đi bằng thân mà phải đi bằng cả tâm của mình, gọi là thân tâm nhất như (the oneness of body and mind). Miệng (khẩu) của ta cũng phải đi theo. Cho nên trong khi thiền hành ta không được nói chuyện. Thân, khẩu, ý hợp nhất gọi là tương ưng. Trong khi giẫm lên mặt đất chúng ta không thấy đất là vật chất. Cho đất là vật chất tức là theo chủ trương duy vật luận (matérialisme). Nếu thấy đất là ý niệm, là tâm thì đó là duy tâm luận (idéalisme). Duy vật luận là một cực đoan và duy tâm luận là một cực đoan khác, căn cứ trên ý niệm vật và tâm là hai cái khác nhau. Nhiều nhà khoa học cho rằng tâm là do vật chất tạo ra, thức là một sản phẩm của não bộ. Khuynh hướng này rất gần với chủ nghĩa duy vật. Nhiều người khác lại cho rằng chính tâm tạo ra vật chất. Nhưng khi quán chiếu về thân thể, ta thấy rằng hình hài của ta không phải chỉ là vật chất. Trong hình hài có tâm, có cái biết và có sự thông minh của nó. Một tế bào cơ thể là một thực tại linh động có tâm trong đó, nếu lấy tâm đi thì nó trở thành một tế bào chết. Trong cơ thể của chúng ta có hàng tỷ tế bào và mỗi tế bào có sự thông minh, có cái biết rất sâu sắc. Vì vậy nói hình hài chỉ là vật chất, hay chỉ là sinh lý là không đúng.

Nhìn vào thế giới, ví dụ như một cọng cỏ hay một cái cây, ta thấy đó không phải là vật chất vô tri mà trong đó có cái biết. Ta không thể nói hạt bắp là vật chất, tại vì trồng hạt bắp xuống đất thì hạt bắp biết nẩy mầm, lên cây, làm lá, làm hoa và làm ra trái bắp. Như vậy, hạt bắp có cái biết. Nếu nói hạt bắp là vật chất là sai. Nhìn trái đất, ta thấy trái đất là một thực tại mầu nhiệm như những tế bào trong cơ thể. Trái đất có cái biết trong nó. Hành tinh đất có khả năng hiến tặng và nuôi dưỡng sự sống. Cho rằng hành tinh đất là một khối vật chất là sai. Hành tinh đất có sự thông minh, sáng tạo trong đó. Hành tinh này đã sản xuất ra những điều hết sức mầu nhiệm. Loài người là một trong bao nhiêu loài mà hành tinh này đã sản sinh ra. Bụt Thích Ca hay Chúa Jésus cũng là con của hành tinh này. Ta và mẹ ta cũng là những đứa con của hành tinh này. Nếu thấy được ta là con của mẹ ta thì ta cũng thấy được ta và mẹ ta cũng là con của trái đất. Trái đất là một thực tại mầu nhiệm, tuy không phải là con người nhưng trái đất cũng là một bà mẹ, gọi là Đất Mẹ.

Rất nhiều nền văn minh đã nhìn trái đất như một bà mẹ. Nhà sinh vật học người Mỹ, Thomas Lewis viết một cuốn sách về hành tinh trái đất, trong đó ông nói: theo ông thì trái đất giống như một tế bào trong cơ thể con người. Trong trái đất có sự sống, có sự thông minh, tại vì khi nghiên cứu về tế bào trong cơ thể, ông thấy mỗi tế bào đều mầu nhiệm vô cùng. Nhìn trái đất ông thấy trái đất cũng là một sinh vật biết đau, biết buồn, biết suy tư, có thông minh, có trí tuệ, có tài năng. Khi đi thiền hành chúng ta phải sử dụng trí bất nhị để thấy, đừng cho là ta đang giẫm lên trên vật chất. Ta phải thấy ta đang tiếp xúc với Đất Mẹ, với một thực tại vô cùng mầu nhiệm.

 

 

Phép lạ là đi trên mặt đất

(Trích từ cuốn “An trú trong hiện tại” – Sư Ông Làng Mai)

Thiền hành là thực tập Thiền trong khi bách bộ. Thiền hành có thể đem lại cho ta sự an lạc ngay trong giờ phút ta thực tập.

Người thực tập thiền hành bước những bước khoan thai, chậm rãi, ung dung, môi nở một nụ cười hàm tiếu và lòng cảm thấy an lạc. Bạn phải bước những bước chân thật thanh thản, như người thanh nhàn vô sự nhất trên đời. Bao nhiêu lo lắng và phiền muộn đều nên được rũ bỏ trong khi bạn bước những bước chân như thế. Muốn có an lạc, muốn có giải thoát, bạn phải bước được những bước chân như thế. Điều này không khó đâu. Bạn có thể làm được. Ai cũng có thể làm được nếu có một chút tự giác và nếu thực sự muốn được an lạc.

Đi mà không tới

Trong cuộc sống bận rộn hằng ngày, ta không bị một áp lực thúc đẩy đi về phía trước. Ta thường phải “rảo bước”. Rảo bước để đi đến đâu, ta ít khi tự hỏi mình. Thiền hành cũng như đi bách bộ, không có mục đích đi tới một địa điểm nào trong thời gian cũng như trong không gian. Mục đích của thiền hành là thiền hành. Cái quan trọng là đi chứ không phải tới. Thiền hành không phải là phương tiện. Thiền hành là cứu cánh. Mỗi bước chân là sự sống mỗi bước chân là sự an lạc. Vì vậy ta mà ta không cần phải rảo bước. Vì vậy mà ta đi chậm lại. Đi mà không đi; đi mà không bị một mục đích nào kéo ta về phía trước. Vì vậy mà khi ta đi, ta có thể nở một nụ cười.

Bước chân thanh thản

Trong cuộc sống hằng ngày, bước chân ta trĩu nặng lo âu, thấp thỏm và sợ hãi. Có khi cuộc đời của chúng ta chỉ là một chuỗi năm tháng lo âu. Bước chân ta vì thế không được thanh thản. Trái đất của chúng ta thật đẹp, trên trái đất có biết bao nhiêu nẻo đường tuyệt đẹp. Bạn có biết quanh ta có bao nhiêu ngõ trúc quanh co, bao nhiêu con đường lúa thơm tho, bao nhiêu bìa rừng xanh mát, bao nhiêu lối đi đẹp màu lá rụng, nhưng ít khi ta thưởng thức được, cũng bởi vì lòng ta không thanh thản, bước chân ta không thanh thản. Thiền hành là tập đi trở lại với những bước chân thanh thản. Hồi ta một tuổi rưỡi, ta tập đi những bước chập chững. Bây giờ đây thực tập thiền hành, ta cũng sẽ lại đi những bước chập chững như thế. Sau nhiều tuần lễ tập đi, ta có thể bước những bước vững chãi, an lạc, vô ưu. Những dòng này tôi viết là để giúp bạn một phần nào trong công trình thực tập. Tôi chúc bạn thành công.

Rũ bỏ lo lắng

Giả dụ tôi có thiên nhãn thông, tôi sẽ có thể nhìn vào dấu chân của bạn để thấy rõ dấu vết của những lo lắng phiền muộn mà bạn đã in lên mặt đất khi bạn đi qua chỗ tôi đứng, như một nhà khoa học lấy kính hiển vi soi tỏ những sinh vật bé nhỏ có mặt trong một ly nước lấy ở ao hồ. Bạn phải bước đi như thế nào để chỉ in trong dấu chân của bạn sự an lạc và sự giải thoát mà thôi; đó là bí quyết của thiền hành. Mà muốn làm được như thế, bạn phải biết rũ bỏ. Rũ bỏ phiền não, rũ bỏ lo lắng.

Cái ấn của một vị quốc vương

Bạn chọn một con đường dễ đi để mà tập. Bờ sông, công viên, sân thượng, rừng Vincenes hay ngõ trúc. Tôi biết có người thực tập thiền hành trong trại cải tạo, hoặc ngay trong phòng giam chật hẹp nữa. Nếu con đường không khập khễnh và lên dốc xuống dốc nhiều quá thì tốt. Bạn bước chậm lại, và tập trung sự chú  ý vào những bước chân. Bước đi bước nào, bạn có ý thức về bước ấy. Bước khoan thai, trang trọng, trầm tĩnh, thẳng thắn. Bước như in bàn chân của bạn trên mặt đất. Bước đi như một đức Phật. In bàn chân của bạn trên mặt đất, trang trọng như một quốc vương đóng cái ấn của mình trên một tờ chiếu chỉ.

Cái ấn của quốc vương trên tờ chiếu chỉ có thể làm cho cơn mưa móc thấm nhuần trăm họ, hoặc cũng có thể làm cho trăm họ điêu linh. Bước chân của bạn cũng thế. Thế giới có an lạc hay không là do bước chân của bạn có an lạc hay không. Tất cả tùy thuộc nơi một bước chân của bạn. Nếu bạn bước một bước an lạc thì bạn có khả năng bước được hai bước an lạc. Và bạn có thể bước được một trăm lẻ tám bước an lạc.

Hơi thở, con số và bước chân

Hơi thở có ý thức khác với hơi thở không có ý thức. Thở có ý thức là thở mà biết rằng mình đang thở, hơi thở dài thì mình biết là hơi thở dài, hơi thở ngắn thì mình biết là hơi thở ngắn, hơi thở êm ái dịu dàng thì mình biết là hơi thở êm ái dịu dàng. Bạn có thể hỏi: nếu chú ý tới hơi thở thì làm sao đồng thời chú ý tới bước chân? Tôi xin trả lời: có thể được, nếu ta đồng nhất hơi thở với bước chân. Ta có thể làm như vậy được bằng áp dụng phương pháp đếm. Đếm ở đây không phải là đếm hơi thở mà là đếm bước chân, nói một cách khác hơn là đo chiều dài của hơi thở bằng số lượng của bước chân. Ví dụ: trong khi thở ra thì tôi bước được mấy bước, và trong khi tôi thở vào thì tôi bước được mấy bước.

Bạn bước chậm lại, nhưng đừng quá chậm, trong khi bạn thở bình thường, đừng cố tình kéo dài hơi thở. Như thế trong vài ba phút. Rồi bạn bắt đầu chú ý quan sát xem trong khi phổi bạn thở ra thì chân bạn bước được mấy bước và trong khi phổi bạn thở vào thì chân bạn bước được mấy bước. Như thế, cả hai thứ hơi thở và bước chân đồng thời nằm gọn trong sự chú ý của bạn nói một cách khác hơn, đối tượng của sự quán niệm của bạn vừa là hơi thở và bước chân là sự đếm, là con số (bao nhiêu bước). Nụ cười hàm tiếu của bạn có liên hệ mật thiết đến sự tịnh lạc của bước chân và của hơi thở. Nó cũng là phương tiện duy trì sự chú ý và sự an lạc, và nó cũng có thể đồng thời là đối tượng của sự chú ý. Sau một vài giờ thực nghiêm chỉnh, bạn sẽ thấy cả bốn thứ hơi thở, con số, bước chân và nụ cười hàm tiếu hòa hợp với nhau một cách mầu nhiệm trong một trạng thái chú ý của tâm thức. Đó là định tuệ và sự an lạc của định tuệ tạo nên do sự thực tập thiền hành. Bốn trở thành một.

Tốc độ

Để tôi nói tiếp bạn nghe về phép đếm, muốn đếm cho dễ, bạn phải điều chỉnh tốc độ của bước chân. Ví dụ hơi thở của bạn chưa kéo dài được tới ba bước mà chỉ kéo dài tới hai bước rưỡi thôi. Trong trường hợp đó, hoặc giả bạn bước mau hơn một chút để hơi thở của bạn đo đúng được ba bước, hoặc bạn bước chậm lại một chút để hơi thở của bạn đo đúng được hai bước. Rồi bạn duy trì tốc độ ấy mà đếm và thở.

Hơi thở ra có thể dài hơn hơi thở vào, nhất là đối với người mới tập. Quan sát một hồi, bạn sẽ tìm ra “chiều dài” của hơi thở bình thường. Ví dụ 3-3 hay 2-3. Trong trường hợp đầu, hơi thở vào và hơi thở ra “dài” bằng nhau (3-3). Trong trường hợp thứ hai, hơi thở vào ngắn hơn hơi thở ra (2-3). Nếu hơi thở bình thường của bạn là 2-3 làm con số của hơi thở bình thường, nghĩa là hơi thở vừa với buồng phổi bạn, làm cho bạn dễ chịu. Bạn có thể thở như thế trong một thời gian khá lâu mà không thấy mệt. Con số đầu 2 là con số của hơi thở vào và con số sau là 3 con số của hơi thở ra. Trong trường hợp bạn leo dốc thì “chiều dài” của hơi thở sẽ rút lại, và đó không phải là hơi thở bình thường. Lúc đầu tập thiền hành, bạn nên theo nhịp thở bình thường của bạn

Lấy thêm thanh khí

Sau đó vài ba hôm, bạn có thể thí nghiệm phương pháp sau đây. Đang bước bình thường và thở bình thường bạn gia tăng một bước cho hơi thở ra. Ví dụ hơi thở bình thường của bạn là 2-2 thì bạn thực tập 2-3, và lặp lại như thế chừng bốn hay năm lần, rồi trở lại hơi thở bình thường của bạn là 2-2. Thực tập như thế bạn có thể thấy khỏe, vì khi thở ra dài hơn, bạn ép hai lá phổi thêm chút nữa để cho không khí dơ trong buồng phổi đi ra ngoài nhiều hơn. Khi ta thở bình thường, ta không cho ra hết phần không khí dơ nằm ở phía dưới buồng phổi. Nếu ta thêm vào một bước khi ta thở ra, không khí ấy bị dồn ra. Tôi dặn bạn đừng thở quá bốn năm hơi như vậy vì tôi sợ làm nhiều hơn thì bạn mệt. Thở bốn năm hơi như thế rồi bạn trở lại hơi thở bình thường. Lát nữa, nghĩa là sau đó năm ba phút, bạn có thể làm trở lại, cũng bốn năm lần thôi, rồi trở về hơi thở  bình thường. Xin bạn nhớ cho là chỉ thêm một bước cho hơi thở ra chớ đừng thêm cho hơi thở vào.

Thực tập như thế vài ba lần hoặc vài ba hôm, bạn sẽ thấy có nhu yếu muốn thêm một bước nữa cho hơi thở vào. Buồng phổi của bạn như nói với bạn; bây giờ nếu được thở 3-3 nghĩa là thêm vào một bước nữa cho hơi thở vào thì sẽ khoan khoái lắm. Lúc ấy, và chỉ lúc ấy thôi, bạn mới thêm một bước cho hơi thở vào. Bạn thấy khỏe lắm. Tuy nhiên bạn đừng thở như thế (nghĩa là 3-3) quá bốn hay năm lần. Hãy trở lại hơi thở bình thường là 2-2. Vài phút sau, nếu muốn, bạn sẽ lại thở 2-3 rồi 3-3 trở lại. Chừng vài tháng sau, hiệu năng của hai lá phổi bạn sẽ lớn hơn, phổi của bạn sẽ lành mạnh hơn và máy huyết của bạn sẽ được lọc kỹ lưỡng hơn. Hơi thở gọi là “bình thường” của bạn có thể được thay đổi. Ví dụ từ 2-2, nó có thể trở thành 3-3. Dùng hơi thở bình thường để thực tập thiền hành. Tốc độ của bước chân trở nên thuần nhất.

Phép lạ là đi trên mặt đất

Bước những bước đi thanh thản và an lạc trên mặt đất, đó là một phép lạ mầu nhiệm. Có người bảo đi trên than hồng, đi trên bàn chông hoặc đi trên mặt nước mới là phép lạ. Tôi thì tôi thấy đi trên mặt đất đã là một phép lạ rồi. Phép lạ là đi trên mặt đất. Tôi ưa cái đề sách ấy lắm. Giá dụ bạn và tôi là hai phi hành gia không gian, chúng ta lên tới mặt trăng rồi, nhưng không trở về trái đất được vì phi thuyền chúng ta bị hỏng máy mà chúng ta không có phương tiện nào sửa chữa được. Trung tâm không gian ở dưới trái đất không kịp thì giờ gởi một phi thuyền khác lên cứu chúng ta, và chúng ta biết rõ rằng trong hai ngày nữa chúng ta sẽ chết vì hết dưỡng khí. Lúc đó, trong bạn và trong tôi, chúng ta không còn mơ tưởng và ước ao gì khác ngoài sự được trở về trái đất xanh mát và thân yêu của chúng ta để lại có thể bước bên nhau những bước đi thanh thản và vô ưu. Biết chắc là sẽ chết, chúng ta mới thấy được những bước chân trên hành tinh xanh là quý giá. Giờ đây chúng ta hãy tự xem mình là những phi hành gia sống sót trở về được tới trái đất: chúng ta phải bước thật sung sướng thật an lạc trên hành tinh thân yêu của chúng ta. Chúng ta thực hiện phép lạ trong từng bước chân. Hoa sen nở dưới chân ta là như thế. Bạn thực tập đi, ý thức rằng mình đang bước những bước nhiệm mầu trên mặt đất. Trái đất sẽ xuất hiện trước mắt ta và dưới chân ta như một thực thể mầu nhiệm. Với chánh niệm đó, với phép quán tưởng đó, bạn có thể bước được những bước cực kỳ sung sướng trên mặt đất này.

Chọn lựa đối tượng

Mục đích của thiền hành là sự tỉnh thức và sự an lạc. Tỉnh thức và an lạc được liên tục. Vì vậy ta sử dụng tới hơi thở, bước chân, con số và nụ cười. Sự phối hợp của bốn yếu tố này tạo nên niệm lực và định lực. Niệm là sự tỉnh táo, sự không quên lãng, sự có mặt của ý thức và sự nhớ biết. Chữ niệm vốn dược dịch từ Phạn ngữ smrti tiếng Pali là sati. Còn “định” là sự ngưng tụ, tập trung, trạng thái không tán loại và không đi lạc của tâm thức. Thiền hành tạo ra niệm, định và sự an lạc. Tuy vậy, không nhất thiết là bạn phải quy tụ được cả bốn yếu tố hơi thở, con số, bước chân và nụ cười bạn mới đạt được chánh niệm và sự an lạc. Có khi chỉ cần bước chân mà thôi bạn cũng đủ có chánh niệm và sự an lạc rồi. Khi chánh niệm và sự an lạc ấy rời rạc và không được liên tục bạn mới cầu viện tới hơi thở, con số và nụ cười. Phối hợp hơi thở, con số, và bước chân là điều mà ai cũng có thể làm được. Nhưng khi bạn đặt trọng tâm của sự chú ý vào bước chân thì ý thức về hơi thở và con số có thể yếu đi, như khi ta cắm lò sưởi điện vào thì các bóng đèn lu bớt. Điều đó không sao nếu bạn vẫn duy trì được chánh niệm nơi bước chân. Bạn hỏi: nếu dồn hết niệm lực vào bước chân để quán tưởng, ví dụ quán tưởng bông sen đang nở dưới chân mình, thì làm sao còn thấy được những mầu nhiệm khác như nõ trúc mát hay bờ lúa thơm? Đúng vậy, môi trường của định càng lớn thì định chú ý tới bông sen thì bạn hãy chỉ chú ý tới bông sen thôi. Nếu bạn chọn trái đất khi nó xuất hiện. Bàn chân bạn đặt lên mặt đất, tức thì bạn thấy cả đại địa dưới bàn chân bạn. Đại địa ấy là trọn vẹn cả trái đất. Bạn có thể đồng thời thấy bàn chân bạn và cả quả địa cầu xanh.

Nếu bạn muốn chú ý tới lúa thơm, tre mát, hoặc cây lá cây trời, thì bạn dừng lại. Duy trì hơi thở, bạn nhìn ngắm tất cả những thứ ấy theo sự chú ý của bạn. Bạn cũng có thể nở nụ cười hàm tiếu và duy trì nụ cười ấy mà không thấy gì trở ngại. Một lát sau, bạn lại tiếp tục thiền hành, và chú ý tới bước chân.

Thuyền từ lướt sóng

(Sư cô Trăng Giác Ân người Singapore, xuất gia ngày 14 tháng 12 năm 2017, trong gia đình cây Bạch Dương tại Làng Mai, Pháp. Sư cô đang sống và tu học bình yên, hạnh phúc ở xóm Hạ. Trước đây, sư cô sống và làm việc tại Hawaii. Bài viết được Ban biên tập chuyển ngữ từ tiếng Anh.)

Tôi rời thiền đường Hội Ngàn Sao, xóm Hạ bước ra bãi đậu xe có những cây bạch dương thẳng tắp. Mặt trăng đang tỏa ánh sáng dịu dàng, làm cả khu vườn như dát bạc.

Tôi thấy mình đang trở về một khu vườn khác đẫm ánh trăng, đó là một bến tàu với rất nhiều con thuyền đang đung đưa nhè nhẹ. Không khí ấm nồng mùi muối biển. Các sợi dây xích lặng lẽ va vào cột buồm tạo nên một bản hòa tấu êm dịu. Trong ánh sáng lờ mờ, hình dạng của chiếc thuyền buồm nhỏ – vốn từng là của tôi – dần hiện rõ.

Cách đây không lâu, tôi sống ở Hawaii. Là một nhà sinh vật học, phần lớn thời gian tôi sống ở ngoài trời. Tôi cũng là một người đam mê lái thuyền buồm nên hầu như lúc nào tôi cũng ở dưới nước, hoặc là ở trên mặt nước trong thời gian rảnh rỗi. Từ bờ biển nơi tôi ở nhìn ra là Thái Bình Dương mênh mông. Chỉ cần dong thuyền ra khơi khoảng mười phút là đã có thể thấy mình ở giữa những con sóng cuộn lừng lững rất nổi tiếng ở Hawaii.

Tôi đã gặp pháp môn Làng Mai trong khóa tu đầu tiên ở San Diego năm 2002, tại trường đại học California. Trong khóa tu đó, tôi đã được học cách thở trong chánh niệm và thực sự có mặt cho những cái đẹp xung quanh. Tôi nhớ mình đã từng đứng trên boong tàu, mắt uống trọn sắc màu của nắng đang nhảy múa trên mặt biển xanh, tôi nghe tiếng nước chảy dưới thân tàu, cảm được gió mát trên da và nắng ấm trên mặt. Bất kể tôi đi biển bao nhiêu lần, vẻ đẹp ấy không bao giờ suy giảm. Đó là nhờ khả năng có mặt trọn vẹn trong phút giây hiện tại. Phải chăng đó chính là hương vị của tâm ban đầu mà lần đầu tiên tôi được nếm?

Lướt thuyền buồm trên biển là một thú tiêu khiển đòi hỏi người chơi phải hoàn toàn có mặt. Gió, sóng và thuyền hòa với nhau trong một vũ điệu sôi động, không ngừng thay đổi. Một người lái thuyền giỏi là một người luôn biết những gì đang xảy ra. Rất nhiều người lái thuyền buồm và những người trượt sóng mà tôi quen biết hay đùa rằng có mặt trên biển trong những ngày Chủ nhật cũng giống như đi nhà thờ vậy. Đó là cách chúng tôi kết nối với đại dương, kết nối với một cái gì đó lớn hơn mình rất nhiều. Dần dần tôi học được rằng nếu lắng nghe sâu thì ta có thể nghe được tiếng đại dương trò chuyện. Đại dương dạy ta, cũng như nó đã từng dạy những người Hawaii cổ xưa cách vượt biển và theo hướng các vì sao để đi từ Polynesia đến Hawaii. Cách tôi lèo lái chiếc thuyền buồm của mình chẳng khác gì mấy với cách người xưa đã làm khi giương chiếc buồm đầu tiên trên biển. Biết bao thế hệ người lái thuyền buồm trước tôi đã quan sát độ cong và sự rập rờn của các cánh buồm trong khi họ điều khiển nó. Bài học quan trọng nhất không phải từ sách vở mà chỉ từ sự quan sát, lắng nghe rồi sau đó thử nghiệm những điều mà mình cảm thấy thích hợp.

Một cách để ta có thể nhìn cuộc sống từ góc độ mới là lướt buồm đi rất xa trên biển cho đến khi không còn thấy được đất liền. Một chiếc tàu dù có lớn đến đâu, với tất cả các hành khách trên tàu, cũng trở thành một chấm nhỏ ở chân trời. Ta là ai? Ta thực sự là cái gì? Những câu hỏi này sẽ trở thành vô nghĩa khi tất cả những gì bạn cần làm là vượt qua từng con sóng một.

Chỉ một vài tuần trước khi xuất gia, tôi đã phải vượt qua một con sóng nghi ngờ rất lớn. Quyết định của tôi có đúng không? Tôi đang thực tập ở một nơi có thích hợp không? Truyền thống này có đúng cho tôi không? Tôi như đang bước vào một nơi vô định. Tôi đã bỏ nghề nghiệp, bỏ chiếc thuyền buồm yêu quý và ngôi nhà của mình lại phía sau để đi tìm kiếm một cái gì đó quý giá hơn, bền lâu hơn là những hạnh phúc đời thường ở một nơi tuyệt đẹp mà tôi từng sống. Có lẽ một lực kéo vô hình đã chi phối, thúc đẩy tôi đi tìm một thiên đường nội tâm đẹp tương đương như vậy. Trong khi cố gắng quyết định có nên xuất gia hay không, tôi đã cân nhắc thật rốt ráo bằng cách sử dụng tất cả trí năng của mình, thế nhưng tôi vẫn không thể quyết định được. Đang ở Làng Mai nhưng tôi cũng rất sẵn sàng khăn gói để ra đi bất cứ lúc nào.

Một sư cô biết tôi bị kẹt trong cái vòng luẩn quẩn nên trước khi đi hướng dẫn khóa tu dài một tháng, sư cô đã từ bi nói với tôi: “Hứa với chị là em sẽ vẫn còn ở đây khi chị trở lại”. Tất cả những gì tôi có thể đáp lại là im lặng lắc đầu. Quả thật tôi rất ngạc nhiên khi tăng thân vẫn chấp thuận cho tôi xuất gia. Có thể chính vì niềm tin này của tăng thân mà có một lúc nào đó, đột nhiên tôi nhận ra rằng ngọn gió cuộc đời đang thuận chiều đưa tôi về hướng xuất gia. Đó là một ngọn gió huyền bí đang thổi tôi vào một nơi vô định. Nhưng là một người lái thuyền buồm, tôi biết mình cần phải làm gì. Tôi trở về có mặt cho chiếc thuyền của mình, tôi biết gió đang thổi về hướng nào. Bất chợt tôi nhận thấy rõ nơi mình phải đến. Bỏ ra đi có nghĩa là tôi phải đi ngược gió, đó là lý do tại sao tâm tôi trở nên kiệt quệ. Tôi đã đi ngược lại dòng chảy của sự sống. Và tôi đã làm một quyết định. Kết cục thật đơn giản.

Tôi cùng một người bạn đã từng tham gia vào các cuộc đua của câu lạc bộ thuyền buồm trên chiếc thuyền của anh ấy, chiếc thuyền mà cả hai chúng tôi đều rất quen thuộc. Sau nhiều năm lướt sóng cùng với đội thuyền của câu lạc bộ, chúng tôi đã đạt được một kỹ năng cho phép chúng tôi đua thuyền hai, ba tiếng đồng hồ, và chỉ thua người về nhất một vài giây. Người bạn và tôi thường hỏi nhau: “Ở chỗ nào trong cuộc đua mình có thể làm ra hai giây đó nhỉ?”. Câu hỏi này đã khích lệ chúng tôi điều khiển chiếc thuyền buồm với sự chính xác tối đa có thể, luôn luôn tỉnh táo. Tôi, trong vai trò người cầm lái, phải chú ý đến từng sự thay đổi dù là nhỏ nhất của hướng gió. Trong khi đó, bạn tôi là người điều khiển buồm và giữ cho chiếc thuyền đi đúng hướng. Đại dương, gió, chiếc thuyền buồm và tôi đã hòa thành một, niềm vui thích tuyệt đỉnh của sự tập trung cao độ trong giây phút hiện tại! Khi chiếc thuyền buồm được điều khiển một cách khéo léo nhất, nó thực sự lướt đi trong một vũ điệu trên mặt nước. Chúng tôi đã thực sự tiết kiệm từng giây phút trong cuộc đua thuyền bằng cách có mặt đích thực trong từng khoảnh khắc.

Giờ đây tôi sống ở Làng Mai, quanh tôi là nông trại, cây ăn trái và những vườn nho. Đôi khi có ai đó hỏi tôi có nhớ lái thuyền buồm không. Tôi có thể trả lời một cách trung thực là tôi nhớ đại dương da diết, nhớ mùi biển mặn, không khí ẩm nồng, nhớ mặt biển, một không gian mênh mông lúc nào cũng chuyển động. Tuy nhiên, tôi không cảm thấy nhớ lái thuyền buồm. Tại sao? Tôi nghĩ là vì lúc ở trên thuyền tôi đã hoàn toàn có mặt (ngay cả khi tôi bị say sóng!). Vì đã hoàn toàn có mặt, nên có lẽ tôi không có gì để nhớ. Tôi có thể nhớ lại thật rõ ràng cái cảm giác và âm thanh của chiếc thuyền khi nó lướt đi trên mặt nước. Đối với tôi lúc này, như vậy là đã đủ đầy rồi.

Hồi đó, tôi thường nằm trên chiếc giường trong buồng lái và đi vào giấc ngủ trong khi vẫn nghe tiếng tôm quẫy nhẹ ngoài mạn thuyền. Còn bây giờ thì tôi lắng nghe tiếng cú kêu trong đêm, đôi khi tôi chạy ra khỏi giường với hy vọng nhìn thấy một con cú. Tháng 11 báo hiệu bọn cá voi di cư từ Alaska sẽ về đến Hawaii. Nhìn thấy con cá voi đầu tiên là một sự kiện mà ai cũng chờ đợi. Ở Làng, tôi mong ngóng những đàn ngỗng trời di cư vào mùa thu và mùa xuân, biết rằng chúng phải bay một hành trình dài để đến hoặc trở về từ những vùng nóng bức của châu Phi. Chừng nào những con cá voi và những con ngỗng trời còn di cư theo mùa thì tôi vẫn thấy thế giới còn vận hành một cách bình thường.

Là một nhà sinh vật học, tôi biết thiên nhiên thường biểu hiện một cách rất kỳ thú, khó đoán định. Tôi rất thích khi nhớ lại có lần tôi đang đi dọc theo bến tàu đến chỗ tắm công cộng, lần đầu tiên tôi nhìn thấy một con cá ngựa ở dưới nước. Khi tôi kể cho một người bạn, một người đam mê môn lặn, bạn ấy nói: “Mình đã lặn dưới biển không biết bao nhiêu lần, vậy mà chưa bao giờ mình nhìn thấy một con cá ngựa. Còn cậu, cậu chỉ cần đi đến nhà tắm thôi mà đã nhìn thấy được!”. Tuệ giác có vẻ hơi tương tự với việc bắt gặp một con cá ngựa, bạn sẽ không bao giờ biết được khi nào thì nó xuất hiện. Vì vậy sự thực tập của tôi là luôn sẵn sàng để có mặt bất cứ khi nào nó đến.

Tôi đã thiết lập nên một mối liên hệ với đại dương, mối liên hệ này cũng rất thật như bất cứ mối liên hệ nào khác của tôi đối với một con người. Bởi vì đại dương trò chuyện với ta nếu ta lắng nghe thật sâu, và dạy cho ta nếu ta sẵn sàng học hỏi. Tôi chưa bao giờ thấy mình cô đơn khi ở trên biển. Tôi nhớ lại khóa tu mùa Hè vừa qua ở Làng Mai, có lần tôi mơ thấy núi và biển ở Hawaii. Tôi có thể nghe tiếng gọi của núi và biển nhưng lại thấy hơi sợ khi nghe tiếng gọi ấy bởi vì tôi không muốn mình có cảm giác nhớ nhà. Tuy vậy, một buổi chiều nọ, tôi đã dừng lại và lắng nghe. Tôi có thể nghe tiếng gọi dịu dàng của núi và biển, và tôi định trả lời: “Tôi chưa thể trở về đâu…”, nhưng rồi tôi lại nghe: “Chúng tôi vẫn đang có mặt với bạn đây, không có gì mất đi hết”.

Chín mươi ngày an cư năm 2018 vừa mới đi qua. Trong 90 ngày đó, tôi đã quyết định thực tập với Bốn tâm vô lượng là từ, bi, hỷ, xả (Brahma Vihara). Brahma Vihara còn được gọi là phạm trú. Trú là trú ngụ. Tôi muốn trú ngụ trong tình thương, từ bi, hỷ, xả càng nhiều càng tốt, muốn hành xử của tôi đến từ tấm lòng thương yêu. Trong lớp học dành cho sa di ni, chúng tôi được khuyến khích không chỉ nhận diện và chấp nhận những gì đang xảy ra trong tâm mà còn thực tập như lý tác ý (để ý tới những đối tượng có thể giúp ta đi về hướng chánh niệm, đi về hướng hiểu biết và thương yêu). Phần lớn sự thực tập của tôi là quán sát tâm mình, nhưng đây là lần đầu tiên tôi nhận ra rằng ta có thể đóng một vai trò chủ động hơn trong việc điều khiển suy nghĩ và cảm xúc của mình. Tôi không cần phải chờ đợi chúng tự phát khởi. Vì vậy, tôi đã tập mời những hạt giống thương yêu và từ bi đi lên khi thực tập địa xúc hàng ngày. Còn nếu tâm tôi trống rỗng trong khi thiền hành thì tôi tập an trú trong thương yêu và từ ái. Tôi viết cách thực tập bốn tâm vô lượng ra rồi để trên bàn học để nhắc nhở mình mỗi tối trước khi đi ngủ. Bốn tâm này là những cái giếng chứa nước thương yêu và từ bi cung cấp nước uống cho tâm tôi. Tôi phát hiện ra rằng mình đang khát! Khu vườn tâm của tôi đang khô cằn và bụi bặm, vì vậy tôi đã uống thật thỏa lòng. Thực tập bốn tâm vô lượng còn có nghĩa là hiến tặng cho chính mình chất liệu của từ, bi, hỷ và xả, rồi sau đó dần mở rộng ra cho người khác ở chung quanh và cho cả thế giới. Những tâm này có thể mở rộng ra không giới hạn.

Tôi quyết định chỉ thực tập tâm vô lượng kế tiếp khi nào tôi thấy thật là “no đủ” và “mãn ý”, cũng như tôi chỉ nới rộng vòng tay kết nối thương yêu của mình khi nào cái vòng tay mà tôi đang kết nối đã “đầy đủ” và “mãn ý”. Vì vậy, tôi phải thú thật là trong 90 ngày an cư, tôi chỉ thực tập từ và bi – hai trong Bốn tâm vô lượng và chỉ mới thực tập cho chính bản thân mình, thỉnh thoảng mới mở rộng ra cho một vài người khác. Tôi cảm thấy mình chỉ vừa mới bắt đầu khởi hành cho một cuộc hải trình rất dài, và tôi vẫn còn có thể nhìn thấy ánh sáng nhấp nháy trên bờ biển. Giờ đây tôi phát hiện ra rằng tuy những ngọn gió trong tâm đang có đó, nhưng tôi là một người lèo lái chiếc thuyền tâm, tôi có thể đóng một vai trò chủ động trong suy nghĩ và cảm xúc của mình. Tôi cũng có thể quyết định mình sẽ đi theo ngôi sao định hướng nào.

Giờ đây tôi vẫn còn đang căng buồm lướt sóng. Biển vẫn còn tối, nhưng tôi có thể cảm được những chiếc thuyền của các sư anh, sư chị, sư em trong tăng thân đang ở gần bên. Chúng tôi là một đoàn thuyền buồm đang được cùng một ngọn gió đưa đi. Đây không phải là một cuộc đua thuyền, mà là một hành trình cùng nhau khám phá. Tôi cũng biết là nếu thuyền tôi bị rò rỉ, tôi luôn có thể kêu gọi sự trợ giúp từ các huynh đệ của mình. Hồn thiêng của đất đai và biển Hawaii vẫn cùng tôi lướt sóng. Cả ba mẹ, những người thân của tôi và vạn vật cũng vậy.

Chân Trăng Giác Ân

Góp chút gió mây

Hạnh phúc của sự hiến tặng

Tôi lại viết lách cái gì đó nơi góc nhỏ của mình cho bạn sáng nay. Cái cảm giác lành lạnh khiến cho nến và trà thêm ấm, thêm vui. Không khí những ngày cuối năm thật ý nghĩa cho việc nhìn lại chuỗi thời gian đã đi qua và cũng là cơ hội chị em tôi sum vầy bên nhau, gửi tặng nhau niềm thương yêu, trân quý. Nhìn những món quà trước mặt, tôi lại càng hạnh phúc. Tôi đã chuẩn bị những món quà này hơn một tháng nay. Tôi đã xem việc gói quà là sự thực tập và là niềm vui rất sâu trong lòng. Những tờ giấy cũ được tái sử dụng là tình thương tôi gửi tới đất Mẹ. Và giây phút ngồi gói những món quà, tôi đặt trọn lòng mình vào từng hành động tỉ mỉ để tiếp xúc sâu sắc hơn với từng chị, từng em – những người đang cùng tôi sẻ chia không gian và niềm vui chốn này.

Tôi ngồi đây gói tặng chị em của mình thông điệp của tình thương, biết ơn và trân quý. Trạm Tịch là chúng nhỏ nên thật dễ để tôi nghĩ đến từng người. Những món quà ấy, đúng hơn là dành cho tôi vì tôi là người trước tiên tận hưởng tròn đầy những hạnh phúc ấy – hạnh phúc của sự hiến tặng.

Lặng lẽ chuyển mình

Tuệ Uyển, nơi lưu lại không ít ký ức đẹp, tôi thấy mình đã nhẹ bước khi ra đi. Về Trạm Tịch, tôi như đã thuộc về nơi này từ lâu rồi. Đi qua một năm cùng Trạm Tịch, tôi luôn ý thức đến những thay đổi liên hồi nhưng rất lặng lẽ, khiêm nhường. Như dòng sông chỉ có nó mới nhận ra những con nước mới và những con nước cũ chuyển mình. Trạm Tịch đã tiễn chân thật nhiều sư em và đón vào các sư em mới. Các sư chị ở đây trở thành hai bờ của con sông để giữ dòng nước luôn lưu chuyển.

Tôi thấy hạnh phúc khi được sống nơi này bạn ạ. Mọi điều đến với tôi không quá lớn lao, mà vừa vặn. Đời sống tu học luôn là điều được quan tâm nhất. Các lớp học dành cho các em đều đặn, những buổi công phu hùng tráng giữa rừng khuya. Tôi được chăm sóc các sư em và các sư em tương lai – những cây trong vườn ươm, mai này có khi sẽ trở thành cổ thụ. Niềm vui nuôi dưỡng tôi là khi thấy các sư em lớn lên mỗi ngày như những cây con, luôn thấy rõ sự vươn mình đổi khác. Các sư em trở thành niềm tin, hạnh phúc và ý nghĩa sự sống của tôi. Càng gần gũi, chăm sóc và hướng dẫn các em tôi lại càng hiểu Thầy hơn – vì sao Thầy luôn luôn thương và chăm lo cho người trẻ. Thầy luôn dạy: “Thầy tuy tuổi hơn 80, nhưng Thầy chưa bao giờ thấy mình xa cách với tuổi trẻ”. Tôi muốn nuôi dưỡng nhận thức ấy để có thêm động lực trên con đường tiếp nhận và trao truyền. Tôi cảm nhận sâu sắc hơn hạnh phúc của sự trao truyền và tiếp xúc lại với niềm hạnh phúc khi tôi là người được tiếp nhận. Những bài pháp thoại, những lời chia sẻ mà tôi đã từng được nghe bằng trái tim trong sáng năm nào đã âm thầm lưu lại một cách sâu sắc trong tôi. Để giờ đây tôi thực sự có thật nhiều tình thương khi muốn gửi lại cho các em của mình tất cả những thông điệp quý giá ấy. Tuy tôi không giàu có nhiều trong vốn liếng học hỏi cũng như thực tập nhưng tôi có tấm lòng san sẻ, hiến tặng.

“Hiến tặng niềm an vui, mình sẽ được an vui”. Lẽ sống này giúp tôi mạnh dạn trong việc hiến tặng, chăm sóc, hướng dẫn, trao truyền cho các sư em bằng tất cả tấm lòng và khả năng của mình.

Gốc rễ đắp bồi

Ở đây tôi cũng được chăm sóc các tăng thân cư sĩ để niệm ơn và thực hiện phần nào chí nguyện của mình. Những ngày tu học, những khóa thực tập không quá quy mô và rầm rộ, nhưng cũng tỏ lộ được tấm lòng dành cho quê hương và đồng bào mình. Nhìn và tiếp xúc với trái tim luôn mong mỏi được tu học và phụng sự của những người cư sĩ miền Nam, tôi luôn cảm kích, trân trọng và biết ơn họ. Họ là nguồn cảm hứng mà cũng là động lực cho tôi luôn muốn đi tới trong sự tu học của chính mình. Càng muốn hiến tặng bình an và những sự thực tập cho họ, tôi lại càng phải luôn nhắc mình phải thực tập hết lòng để không phải là người bán hàng giả. Tôi luôn nhớ một kỷ niệm về lời dạy của Thầy khi tôi còn là một sư cô sa di nhỏ. Ngồi đưa võng cho Thầy trong không gian tĩnh lặng và bình yên, thầy dạy chị em thị giả chúng tôi thật nhiều điều. Trong đó có bài học sâu sắc là: “Các con phải thực tập làm sao để không bị rơi vào chiếc bẫy hình thức, giả trang thiền tướng hay làm người bán hàng giả”. Tôi giật mình về điều Thầy dạy vì điều đó rất dễ xảy ra cho người mới thực tập như tôi. Và bài học đó đã trở thành tấm gương “mê ngộ cảnh” của chàng dũng sĩ trong Cửa tùng đôi cánh gài để tôi luôn nhìn lại, sách tấn mình trong việc thực tập và trải nghiệm sự sống.

Khóa tu “Bồi đắp gốc rễ” vừa chấm dứt, lưu lại trong tôi hình ảnh của các em tuổi thiếu niên mà tôi có dịp chăm sóc trong bốn ngày. Tôi đã tâm sự với các em rằng tôi đã từng chọn tuổi thiếu niên là lứa tuổi mình sẽ chăm sóc, nhưng đến hôm nay khi chăm sóc các em tôi thấy cái tuổi 33 của mình và cái tuổi 13 của các em thật xa cách. Tôi không hiểu và biết nhiều về thế giới các em hôm nay. Tình thương vẫn còn đó, nhưng tôi thấy mình không giúp được các em nhiều. Làm sao tôi giúp được các em khi môi trường sống của các em bị bủa vây bởi những nguồn thức ăn độc hại và quá nhiều những vấn đề nan giải: ba mẹ ly dị, bạo lực gia đình, áp lực học hành, khó khăn trong truyền thông, v.v. Các em đang sống trong môi trường ít lành mạnh, thường bị cuốn vào sự tiêu thụ internet không chừng mực như chơi game quá nhiều, hay tìm kiếm những nguồn thông tin không nuôi dưỡng sự trong sáng và thánh thiện. Rất nhiều em không tìm thấy hạnh phúc ấm áp trong gia đình, học đường và cả xã hội. Tôi nhìn các em mà thấy mình nhỏ nhoi, bất lực vì không giúp được các em bao nhiêu. Khóa tu kết thúc, tôi lắng nghe những chia sẻ mộc mạc của các em: “Con thích khóa tu này vì ở đây con có được tình bạn, con không sử dụng máy móc nhiều, con được gần gũi với thiên nhiên, con được thư giãn sau áp lực học hành, con học được cách thở để lắng yên,…” Và rồi tất cả những cánh tay đưa lên sau câu hỏi: “Em nào muốn trở lại khóa tu sau?”. Tôi nhìn cánh tay em trai bị tự kỷ và hỏi: “Vì sao em muốn trở lại?”. Em trả lời tôi: “Con không biết”. Nhìn em, tôi cảm nhận được sự ấm áp và hạnh phúc. Câu trả lời ấy mang theo niềm hân hoan của sự chuyển hóa. Từ một cậu bé không muốn tiếp xúc, không muốn chơi chung với ai trong ngày đầu của khóa tu, em đã hòa vào tiếng cười và những trò tinh nghịch với các bạn đồng trang lứa. Tôi thầm biết ơn em, sự có mặt của em đã cho tôi niềm khích lệ.

Nhiều lúc các em không ngoan khiến tôi mệt mỏi và buồn lòng, nhưng rồi những câu nói của các em như: “Sư cô đừng bỏ tụi con nhe”, hay những lời xin lỗi của các em giúp tôi nhìn lại ý niệm mình đã già cỗi, không còn chơi được với các em của mình. Tôi nhìn lại lời tôi nói với các em mà thấy mình cần học theo Thầy để có tư duy đẹp hơn: “Tình thương không bao giờ nói rằng đây là lần cuối”, “Đừng bao giờ từ bỏ ước mơ”. Tôi thiết nghĩ mình sẽ tiếp tục tình thương ấy bằng những hình thức khác phù hợp hơn để thực hiện lý tưởng phụng sự. Tôi nhận ra mình có thể tiếp tục làm bạn với các em mà không xa cách như tôi nghĩ. Tôi sẽ học bài học của Thầy: “Thầy chưa bao giờ thấy mình xa cách với tuổi trẻ”.

Những ngày sau khóa tu, tôi được nghỉ ngơi, trở về chơi với tự thân. Tôi có cơ hội nhìn lại những tư duy của mình, tìm hướng đi đúng đắn và những thức ăn nuôi dưỡng cho tâm thức. Tôi nhận ra mình thật may mắn khi được theo các sư chị, sư em ngày ngày xây dựng tăng thân, hiến tặng hiểu thương cho mọi người. Tôi thấy cuộc đời mình mang nhiều ý nghĩa. Mỗi ngày đi qua tôi vẫn muốn mình khỏe mạnh để luôn luôn đi tới, thực hiện những ước mơ đẹp trên con đường thực tập.

Về Trạm Tịch, tôi có cảm giác đang ẩn mình trong rừng sâu để trở về lắng nghe tâm tư tỏ rõ. Trạm Tịch đã lặng lẽ chuyển mình, và tôi cũng thế. Nếu bạn về thăm lại hẳn sẽ ngạc nhiên. Từng con đường quanh co, từng con suối với hai dòng trong đục, hương rừng vẫn vậy, đến và đi, nhưng tất cả luôn là dòng yên ả êm trôi.

Chân Tuyết Nghiêm

Khóa tu đầu tiên của sư bé

 
Con nhớ đó là ngày 30 tháng 4 của ba năm về trước, lúc đó con là một cư sĩ chẳng biết gì về Phật pháp, chẳng biết Sư Ông là ai. Vô tình con được giới thiệu đi tham dự một khóa tu mang tên “Trở về đất Tổ”. Và con đã trở về thật!

Bây giờ con là một sư bé, sau ba năm ở chùa, lần đầu tiên “ra trận” trong hình thức một sư cô. Một sự thật con chưa bao giờ dám mơ tới trong đời. Mình là một sư cô? Trước đây con cứ nghĩ sư cô là ai kia ở tít trên cao chẳng bao giờ với tay tới được so với con là một người tà tà dưới mặt đất. Bây giờ thì con đã là một sư cô rồi và còn được tham dự vào khóa tu với vai trò hoàn toàn mới nữa. Con là sư bé lần đầu tiên “ra trận”!
 


 Sư bé làm “thiền sư”

Cảm giác đầu tiên đến với con khi nghe tên mình được đi khóa tu là vừa vui mừng vừa lo sợ. Mình sẽ nói gì đây, mình sẽ làm gì đây? Với bản tính nhát gan, sợ hãi, con biết mình sẽ run cầm cập trước đám đông. Bình thường, con chỉ giỏi mở miệng “ăn hiếp” các sư chị, sư em trong chùa thôi. Rồi con chợt nhận ra là mình chẳng cần phải làm gì cả, mọi chuyện đã có các sư cha, sư mẹ lo rồi. Con là sư bé mà, chỉ cần thở và cười, bước cho vững chãi, giữ tâm cho an là được rồi. Khi thấy được như vậy lòng con nhẹ nhàng lắm, cảm giác run sợ đi chơi đâu mất. Tuy nhiên, có những chuyện đến bất ngờ mà con không thể nào chạy đi cầu cứu các sư cha, sư mẹ được. Và con phải tự giải quyết lấy.

Chuyện là con được chăm sóc cho các em tuổi thiếu niên từ 10 đến 16 tuổi. Đêm thứ ba của khóa tu và cũng là đêm cuối cùng, thời khóa của các em là tập văn nghệ. Hôm đó, sư cô Trăng Tịnh Thường – người phụ trách hướng dẫn cho nhóm đi tham dự sinh hoạt Làm mới với đại chúng. Nhóm chỉ còn con và sư em Trăng Hải Chiếu ở lại sinh hoạt với các em. Trong lúc đang sinh hoạt thì có hai bác đùng đùng kéo vào. Thấy thái độ hai bác rất lạ lại thêm có mùi rượu nên con biết không phải là thiền sinh tham dự khóa tu trong mấy ngày qua. Con run lắm và chưa biết làm sao cả! Quý sư cô lớn đi hết rồi nên con lớn nhất trong nhóm xuất sĩ. Con lấy hết can đảm đến chào và hỏi thăm, mặc dù con cảm nhận được hai chân con sắp khuỵ xuống. Hóa ra một trong hai bác là ông của hai em trong nhóm con chăm sóc. Ông vào tìm để đưa hai cháu về vì bà hai cháu bị xuất huyết dạ dày phải nhập viện và nhà không còn ai. Ông đang rất lo lắng và mất bình tĩnh, nhất quyết phải đưa hai cháu về. Ông làm rất dữ và chính con cũng thấy sợ nhưng chưa biết phải làm sao. Nếu có quý sư cô ở đây thì mọi chuyện đỡ hơn cho con biết mấy. Sư em con vẫn tiếp tục chơi với các em, chỉ còn lại mình con.

Con nhớ lời dạy của quý sư mẹ nên thở thật sâu và bình tĩnh trước mọi tình huống. Lúc đó, trong đầu con chỉ có một ý thức bà của hai em đang bệnh và mình phải hỏi thăm bà. Vậy là con hỏi ông về bà bằng tất cả sự quan tâm của con. Con xin ông tên của bà để nhờ đại chúng cầu an cho bà. Sau một hồi con nói chuyện và hướng dẫn cho ông cách trở về để chăm sóc sự lo lắng, sợ hãi và gửi năng lượng an lành cho bà, ông từ từ dịu lại.

Con cảm được ông rất cảm động, chắc vì đã được san sẻ về nỗi lo, được hiểu và được quan tâm. Ông như người đi lạc bắt gặp bảng chỉ đường vậy. Con vừa cho ông một niềm tin mà lúc đó con đâu biết, con chỉ làm với những gì rất thật trong mình thôi. Nhưng con biết những điều con làm đó không phải của con đâu mà nhờ con được tưới tẩm mỗi ngày từ tăng thân. Rồi ông rút tiền đưa cho con. Ban đầu con không nhận vì con nghĩ mình chia sẻ đâu phải để được cúng dường. Nhưng ông nài nỉ mãi, biết làm sao đây? Và bỗng dưng lời dạy của Sư Ông đi lên trong con: “Mình đang đại diện cho một tăng thân, khi họ lễ mình thì đó là họ đang lễ tăng thân trong mình…”. Đúng rồi, ông đang cúng dường cho tăng thân trong con, mà không phải cúng dường cho riêng con. Vì vậy, con chắp tay và nói: “Con xin đại diện quý thầy, quý sư cô nhận tấm lòng của ông”. Tự nhiên con thấy khỏe và nhẹ nhàng quá chừng luôn. Cuối cùng ông hứa ngày mai sẽ cho hai cháu đến tham dự nốt ngày còn lại của khóa tu.

Lạ thiệt, nghĩ lại mà con chẳng hiểu ra làm sao cả. Bình thường con sợ nói lắm, và với những trường hợp trên là con đã bỏ chạy mất tiêu rồi. Chắc lúc đó Bụt hay Bồ tát nói hộ con chứ không phải là con rồi. Nhìn lại chuyện xảy ra hôm đó, tự nhiên con thấy mình thật “phi thường”. Con đã làm một việc mà con nghĩ mình không bao giờ có thể làm được.

Rồi đến mẹ các em nữa. Khi mẹ các em lên đón các em về, con mời mẹ các em ra trước ghế ngồi chơi. Con nói đến tính cách của các em, tài năng của các em và chia sẻ với ba mẹ cách con tưới tẩm năng khiếu mà các em đang có. Có bà mẹ nắm tay con và nói: “Sư cô ơi, con chăm cháu mười mấy năm nay mà không bằng sư cô chăm cháu có mấy ngày. Lần này, con thấy cháu nó thay đổi nhiều lắm”. Nghe vậy con chỉ biết cười và nói rằng vì con được chơi với các em, có mặt đó và lắng nghe các em chia sẻ nên con được hiểu thêm về các em đôi chút. Những gì con chia sẻ với các em cũng chỉ là những chuyện đơn giản trong cuộc sống hằng ngày mà thôi. Chỉ trong một buổi tối mà con tiếp bốn phụ huynh. Con lấy đâu ra nhiều can đảm vậy ta, chắc chắn đó không phải là riêng con mà nhờ con được tưới tẩm từ Sư Ông và tăng thân. Chắc chắn là Sư Ông và quý sư cô nói giùm con trong những buổi gặp mặt nói chuyện đó rồi!

Năm quán

Con hiểu được đôi chút tinh thần của khóa tu là luôn “sẵn sàng chiến đấu” khi cần thiết và “pháp khí” luôn để sẵn bên mình. Pháp khí của con chưa được tốt lắm nên khi “ra trận” gặp sự cố và nó đã trở thành kỷ niệm rất vui.
 

 

Giờ cơm trưa trong vòng tròn, đại chúng đã vào rất đông nhưng chỗ của vị ngồi chuông vẫn còn trống. Bình thường sẽ có người phụ trách phần mời người ngồi chuông cho các thời khóa. Vậy mà trưa nay chỗ quan trọng ấy lại để trống. Con lại ngồi ngay phía sau chỗ trống ấy, con thở nhưng vẫn thấy thắc mắc quá chừng, con đưa mắt nhìn quanh thì thấy quý thầy, quý sư cô đã an tọa cả rồi. Mắt con chạm phải ánh mắt của sư em và sư em nhìn con rồi nhìn lên cái chuông. Hiểu ý, con lấy hết can đảm còn lại bước vào chỗ trống, “an nhiên” ngồi xuống nhưng bên trong thì nhịp tim đập không còn được bình thường nữa. Thở đi con, thở đi tôi ơi! Theo thói quen tự nhiên con ngồi nhẩm lại Năm quán. Rồi thì giờ cũng đến, con đọc rõ to, suôn sẻ và rất bình tĩnh. Có lẽ mọi người nhìn thấy con rất vững chãi nhưng thực sự thì tim con đã bị… rớt xuống đất từ lúc nào rồi. Có ai biết tay con run khi cầm dùi chuông, nhưng vì trước mặt con toàn các vị cư sĩ nên con phải… đóng mặt tỉnh thôi. Con tự hỏi mình như vậy có phải bán hàng giả không nhỉ? Sau vài hơi thở con bắt đầu cầm bát cơm lên và sự bình an thực sự đã trở về với con. Con biết, đây là lần đầu con ngồi chuông trước đại chúng đông nên con run, lần sau con sẽ bớt run hơn và lần tiếp nữa con sẽ khá hơn, cứ thế mà đi tới thôi.

Được sống trong tăng thân là một quá trình để con rèn luyện mình, tập cho mình tự tin hơn. Nói là một nghệ thuật và con biết khả năng nói của con chưa giỏi, cách diễn đạt cũng còn hạn chế nhưng chỉ cần con có mặt đó, mỉm cười, thở cho bình an cũng đủ rồi. Lời nói từ trái tim sẽ đến với trái tim dễ dàng hơn. Chuyến đi này cho con bài học ấy. Mỗi lần con làm một việc gì với tinh thần giúp đỡ thì con nhận lại được rất nhiều. Vì không đòi hỏi mình nên con thấy bình an và nhẹ nhàng. Con biết mình có cả một tăng thân bên cạnh nên con chẳng có gì phải lo sợ hay mặc cảm. Và cũng bởi vì con là sư bé, sư bé lần đầu tiên ra trận.

Sức mạnh của niềm tin

Con mầu nhiệm lắm con biết không, Thầy tin con làm được”. Đó là câu thư pháp một sư cô tặng con hồi con còn tập sự. Con được nuôi dưỡng bởi câu thư pháp ấy rất nhiều. Một người tu hạnh phúc khi được thầy đặt niềm tin nơi mình, mà có niềm tin là có tất cả. Niềm tin có sức mạnh lạ kỳ và vượt thắng mọi chông gai. Một trong những sứ mệnh của người tu là gieo niềm tin vào lòng người áo trắng (người cư sĩ). Nhờ niềm tin mà cuộc sống trở nên tươi vui hơn, có ý nghĩa hơn. Đó là trường hợp bà nội của em nhỏ mà con đã chăm sóc trong khóa tu. Có ai ngờ rằng từ một người bệnh nằm liệt giường, bác sĩ trả về, dặn gia đình chuẩn bị tâm lý mà bây giờ bà có thể đi lại được và nói chuyện cười đùa với mọi người. Ba của em đã đến Diệu Trạm để báo tin cho chị em con biết là bà đã khỏe trở lại. Đó là một kỳ tích đối với gia đình. Trong nhà ai cũng mừng, nhất là ông nội của em. Nhớ lại ngày bà bệnh, ông lo lắng, bất an, sợ hãi đến mất bình tĩnh và lên đòi cháu về giữa khóa tu. Con biết lúc đó ông cảm thấy hụt hẫng và bơ vơ khi nghĩ đến sự vắng mặt của bà có thể xảy ra. Ông cần một nơi để nương tựa, để được an ủi và ông cần có người bên cạnh cho bớt trống trải – đó là đứa cháu của ông. Ông đã được gặp quý sư cô, những người đã cho ông niềm tin và ông đã đặt niềm tin nơi tăng thân với tất cả tấm lòng. Niềm tin đã giúp ông và gia đình vượt qua sự sợ hãi mất người thân.

Ba em kể rằng trong đêm bà đang cấp cứu ấy, nhờ tăng thân gửi năng lượng cầu an cho bà nên bà đã vượt qua được cơn nguy hiểm và phục hồi mau chóng. Con nghĩ chính nhờ ông và gia đình đã đặt hết niềm tin, giữ sự bình an và tha thiết cầu nguyện cùng tăng thân nên phép mầu đã hiển hiện. Con từng có lúc hoang mang, thấy mình bấp bênh. Những lúc ấy, con trở về hướng đến niềm tin. Con tin vào con đường mình đi và con sẽ tiếp tục như vậy. Em nhỏ đó có viết thư cho con và nhờ ba mang vào. Em kể từ ngày ấy đến nay ba hay ngồi yên hơn, còn nhiệt tình tham dự thiền trà với em và có khi hai cha con cùng pháp đàm với nhau. Được tặng một túi sỏi ba rất hạnh phúc, đi đâu ba cũng mang theo bên mình để thực tập. Ba nói rằng ba sẽ thọ Năm giới và hành trì theo vì Năm giới mang lại cho ba sự bình an trong tâm hồn. Ba cũng muốn được học thêm Mười bốn giới Tiếp hiện nữa. Sau đó, trong một lần vào Diệu Trạm ba đã tiếp nhận Năm giới. Con nghĩ ba không chỉ đơn giản mang theo túi sỏi, ba em đang mang theo cả một niềm tin lớn vào cuộc sống của mình. Và ba em cũng đang gieo niềm tin vào những người xung quanh.
 

 

Ngày Thầy trao cho con niềm tin, niềm tin vào sự chuyển hóa nơi bản thân mình và cho cả tổ tiên mình, con thấy rằng sứ mệnh của con không hề đơn giản. Con đang mang cả tổ tiên tâm linh và huyết thống trong con. Tổ tiên đặt niềm tin nơi con, tổ tiên đã chọn con để trao lại trọng trách ấy thì con làm sao có thể quên được. Như một người chiến sĩ giữ ấn tín trong tay, nhiệm vụ của người ấy là đưa được nó đến nơi an toàn. Sứ mệnh của người ấy được đặt trên cả một quốc gia, một dân tộc. Cả đất nước đang nằm trong tay người ấy vì vậy dù gặp khó khăn, nguy hiểm người ấy vẫn luôn hướng về phía trước. Người chiến sĩ cần biết sứ mệnh mình đang làm và cần có dũng khí để đối mặt với những cạm bẫy và hiểm nguy luôn có mặt trên đường.

Con luôn tin rằng chỉ cần tu thôi thì con sẽ chiến thắng mọi chướng ngại, khó khăn. Mà tu thì phải có niềm tin. Niềm tin với con là thần dược có khả năng chữa trị được tất cả mọi chứng bệnh. Con có niềm tin nơi niềm tin, có niềm tin nơi sự thực tập và con có niềm tin nơi con người, nơi tương lai đạo pháp. Chỉ cần có niềm tin thôi là con có bình an rồi.

 

Chân Trăng Thuận Hóa

Cho tuổi thơ ươm nắng

 

Cuối cùng tôi đã đặt chân lên mảnh đất, nơi mà đa số người Mỹ xem là thù địch, nơi chứa chấp những kẻ khủng bố của thế giới. Những bức họa trên báo chí và các thông tin trên mạng vẽ ra ý tưởng những người Hồi giáo là những người rất bảo thủ, không thân thiện, nhất là với những tôn giáo khác.

Hai em thanh niên tươi cười chạy đến đón: “Chào thầy đã đến. Mong chuyến bay của thầy không quá mệt nhọc. Mời thầy vào trong uống nước. Thầy cứ để vali đó, chúng con sẽ lấy và đưa đến phòng”. Nụ cười của hai em rất chân thật và thân thiện. Ánh mắt xoe tròn nhìn tôi đầy hiếu kỳ. Có thể đây là lần đầu tiên hai em gặp tu sĩ Phật giáo. Tôi trò chuyện với hai em, biết được hai em rất mê bóng đá và gần như đã nhớ hết tên của những cầu thủ trên thế giới. Tuy mới quen nhưng hai em không ngần ngại kể về bản thân, về gia đình và về ước mơ của mình. Một em chia sẻ: “Con không biết gì về thiền, nhưng con rất thích đi một mình ra sa mạc, cách đây khoảng 50km. Ngồi yên giữa biển cát mịn màng và lắng nghe gió thì thào, lắng nghe con”. Em ấy vừa kể vừa nhắm mắt như đang tả giấc mơ thiên đàng của mình. Rồi bất chợt em mở mắt: “Nhưng thầy đừng thử nha. Lỡ như thầy đi lạc hướng, dù chỉ một chút thôi thì có thể sẽ lạc luôn trong sa mạc, rất nguy hiểm. Nếu thầy muốn đi thì để con dẫn thầy đi. Đừng bao giờ đi một mình”. Em ấy thật hồn nhiên, thật ngây thơ, dễ thương. Tôi thấy mến ngay sự thân thiện, cởi mở trong câu chuyện từ trái tim đến trái tim như vậy.

Ngày hôm sau là ngày đầu tiên của hội nghị. Sáng sớm ai cũng đứng xếp hàng hướng về quầy nước. Tuy thân của tôi cũng đứng đó nhưng tâm thì đang an vị ngay tại bình cà phê. Vì tôi mới bay tối qua, chưa đuổi kịp múi giờ nên không ngủ được và … ngáp một ngáp, nhích lên được một bước. Ai cũng thong thả chọn nước uống mình thích nhất cho buổi sáng. Có người đứng đó đọc từng túi trà, xem trà từ đâu đến, có chất caffeine hay không, hương vị gì, muốn thử cái gì mới hay chọn loại mình biết, v.v. Bình cà phê thì đã pha sẵn, nhưng nếu tôi chen vô thì e rằng hơi bất lịch sự, trong khi ai ai cũng đứng xếp hàng. Bỗng nhiên mọi người dãn ra nhường cho tôi. Tôi thật ngại. Tôi chỉ là một thầy tu còn rất nhỏ. Nhưng đã nhường rồi thì tôi chỉ biết chắp tay, nhìn xuống, và bước từng bước nhẹ nhàng đến bình cà phê với nụ cười chào ngày mới và với lòng tràn đầy niềm biết ơn.

Cà phê thật đậm đà, như cà phê đen của Việt Nam. Tôi nhắm mắt, định tâm lại để tiếp xúc với độ nóng và “vị đắng ngọt ngào” của cà phê. Thưởng thức cà phê quen rồi, tôi dễ dàng nhận ra vị đắng ngọt ngào này. Cà phê này thật đặc biệt vì thấp thoáng trong đó bóng dáng và hương vị thanh thoát của một loài hoa. Mỗi ngụm cà phê như tiếng chuông đại hồng vang lên, đánh thức từng tế bào trong cơ thể tôi. Đứng đó dùng ly cà phê thơm ngon, tôi cảm thấy như trên thế gian này chỉ còn tôi với ly cà phê thôi. Thật là hạnh phúc. Tôi từ từ mở mắt ra thì thật sự chỉ còn tôi với ly cà phê đứng đó thôi. Thì ra không phải tôi được nhường chỗ mà vì mọi người đã chạy về hướng cửa để đón chào Thái tử Mohamed bin Zayed bin Sultan Al-Nahyan, em trai của Tổng thống, Phó Tư lệnh tối cao Các lực lượng vũ trang của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE)!

Bất chợt ánh đèn của máy chụp hình chớp lên lia lịa. Thái tử giang tay ra ôm vào lòng một phụ nữ như con ôm mẹ, và người phụ nữ ấy ôm lại thái tử như người mẹ ôm con với tất cả tình thương yêu âu yếm. Người phụ nữ ấy có danh hiệu là Amma, nghĩa là Mẹ. Amma lớn lên trong vùng nghèo nhất của Ấn Độ, lượm từng miếng cơm và trải nghiệm những khổ đau do nghèo đói gây ra. Hạnh nguyện của Amma là muốn gánh bớt sự khổ đau của nhân loại. Qua mỗi cái ôm, Amma giúp người đang khổ cảm nhận được năng lượng từ bi vẫn còn đó trên thế gian. Qua lời nói và hành động, Amma giúp gây quỹ từ thiện để cung cấp thực phẩm, nhà ở, giáo dục và thuốc men cho những nơi nghèo nàn và cơ cực ở khắp nơi trên thế giới.

Vị Thái tử này là người cầm quyền lãnh đạo và cũng là người đứng ra tổ chức hội nghị này, kêu gọi tất cả những tôn giáo cùng nhau bàn luận và tìm cách bảo vệ trẻ em khỏi những kẻ lạm dụng tình dục trẻ em qua mạng lưới toàn cầu, và ngăn chặn thế giới buôn bán dữ liệu ảnh khiêu dâm trẻ em trên mạng.

Đây là diễn đàn Liên Tôn Vì một môi trường an toàn hơn cho trẻ em trước nạn lạm dụng tình dục qua Internet, diễn ra tại Abu Dhabi, thủ đô của UAE.

Nạn lạm dụng tình dục trẻ em qua Internet đã trở thành một vấn nạn toàn cầu hiện nay và cần sự quan tâm khẩn cấp của cộng đồng thế giới.

Từ nghèo khổ sinh tuyệt vọng (hay sinh tệ nạn thì đúng hơn). Hơn 80% các em bị chụp hình hay quay phim trực tuyến trên mạng trong những lúc bị lạm dụng tình dục là từ người thân trong gia đình, theo yêu cầu của những người xem trực tuyến. Thậm chí có khi là từ ba mẹ, để bán kiếm tiền nuôi gia đình. Số tiền ước tính cho công nghệ mại dâm trên mạng riêng về trẻ em là hơn 3 tỷ đô la vào năm 2003, và bây giờ (2018) đã tăng hơn 20 tỷ đô la. Khi có người mua thì sẽ có người bán, và tuổi thơ của các em sẽ tiếp tục bị chà đạp bởi dục tâm và lòng tham không đáy của nhân loại. Vấn đề này không có vẻ gì dính líu đến tôn giáo hay dân tộc. Nhưng vấn đề này lại rất cần các tôn giáo nắm tay nhau, cùng nhau bảo vệ các em, bất kể các em thuộc dân tộc nào trên thế giới.

Đạo đức là chìa khoá để giúp bảo vệ các em. Người có đạo đức sẽ không lên những trang mạng khiêu dâm vì biết làm như thế là đang trực tiếp tàn hại các em và ủng hộ các trang mạng kiếm tiền qua quảng cáo. Người có đạo đức sẽ không hành hạ các em để thoát nghèo, hay làm giàu trên khổ đau của các em. Nhiệm vụ của những vị lãnh đạo tâm linh là nuôi lớn mầm đạo đức trong xã hội và nói lên tiếng nói về nhân quyền thay cho các em đang sống trong tình trạng áp bức và bất công, nhằm mang vấn đề ra ánh sáng. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cần sự yểm trợ của luật lệ quốc gia và công nghệ thông tin để phát hiện và vô hiệu hoá những máy chủ dùng trong việc lan truyền dữ liệu phim ảnh khiêu dâm. Thầy cô giáo cũng đóng vai trò rất lớn vì thầy cô giáo như là ba và mẹ của các em, dạy các em cách làm người, gieo hạt đạo đức trong các em ngay từ thuở ban đầu.

Hội nghị có đề cập đến vấn đề tăng độ trừng phạt đối với những tội phạm, nhưng đề nghị này bị loại rất nhanh bởi các vị lãnh đạo tôn giáo đang có mặt. Hội chúng thấy rất rõ rằng vấn đề trừng phạt dù có mạnh bao nhiêu cũng không đủ, và cũng không bảo vệ được các em, vì hình phạt chỉ sử dụng để xử lý sau khi chuyện thương tâm đã xảy ra. Thêm nữa, cho dù những kẻ ấu dâm có bị bỏ tù 10 năm hay 20 năm, khi mãn hạn tù, những kẻ đó vẫn có khuynh hướng lặp lại sai phạm bởi vì họ không biết làm gì khác. Các bác sĩ tâm lý trị liệu chia sẻ kinh nghiệm rất rõ trong buổi hội nghị rằng nếu không có một chí nguyện mạnh, một đường hướng và nề nếp tâm linh vững vàng, thì những tội phạm sẽ rơi vào lối cũ, vì đó là tập khí.

Tập khí rất dễ để nhận ra khi mình có chánh niệm. Những pháp môn căn bản của Làng Mai là để giúp nâng cao chánh niệm, để ý thức những gì đang xảy ra trong mình, để ý thức được những gì mình đang tạo ra qua biểu hiện của thân, miệng và ý. Khi có chánh niệm, mình sẽ ý thức được và không tiêu thụ những sản phẩm có độc tố, trong đó có mạng lưới toàn cầu, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, sách báo, bài bạc và cả chuyện trò. Một khi tâm tư ta đã tiếp thu những độc tố như hình ảnh khiêu dâm thì những hình ảnh đó sẽ mãi mãi nằm trong tàng thức, và rồi, chúng sẽ tìm cách bén rễ vào bản năng sinh tồn nguyên thuỷ và thúc đẩy tâm thức đi tìm kiếm thêm. Mỗi lần xem sẽ tạo đường mòn trong tâm thức, trở thành tập khí, và đó là căn bệnh hệ trọng mà thời đại thông tin đang mắc phải.

Tôi rất may mắn được sống ở Làng Mai vì đa số những sản phẩm độc hại này đã được máy chủ sàng lọc. Đây không phải là sự ngăn chặn thông tin mà là sự bảo vệ cho tôi. Không ai có thể cho rằng mình đã thanh tịnh viên mãn. Khi còn thân này thì vẫn còn bản năng sinh tồn nguyên thuỷ của những loài dã thú. Vì vậy, chánh niệm rất cần thiết trong đời sống hằng ngày để giúp mình có ý thức và lựa chọn những gì tốt cho mình, có cơ hội tránh được những gì độc hại và mang đến khổ đau. Cũng như vậy, không một ai hoàn toàn là ác quỷ. Vì môi trường, vì hoàn cảnh mà người đó đã lớn lên như vậy. Mình phải tập thương như Mẹ Amma, ôm từng người như con, để ác quỷ có thể cảm nhận trên thế gian này vẫn còn tình thương chân thật, vẫn còn sự tha thứ bao dung. Mình phải thấy được ác quỷ trong mình, và cũng phải thấy được thiên thần trong mình, thì mình mới có khả năng thấy được thiên thần trong ác quỷ, có thể chấp nhận, ôm ấp và chuyển hóa được ác quỷ. Đây là một quá trình tu tập suốt đời, và ai cũng có khả năng làm được.

Tuổi thơ là lúc đẹp nhất để tiếp xúc với những hạt giống thiên thần trong mình. Tuổi thiếu nhi là lúc mình tìm hiểu và khám phá thế giới xung quanh. Cơ hội học hỏi đó sẽ làm nền tảng cho các em khi lớn lên. Trong môi trường tốt lành đầy đủ sự thương yêu và đạo đức thì khó để em đó trở thành ác quỷ. Môi trường tốt không cần giàu sang đầy vật chất. Môi trường tốt chỉ cần tình thương chân thật và sự có mặt thật sự cho các em. Có mặt thực sự cho nhau, đây cũng là một đặc điểm của Làng Mai. Nếu mình không sống trong giây phút hiện tại cùng với người mình thương, thì thực sự mình không có mặt trong cuộc đời của người ấy. Cho nên dù thương bao nhiêu, làm bao nhiêu, hy sinh bao nhiêu, cũng là ảo thôi vì mình không hiện hữu trong thế giới của người ấy.

Đôi khi chúng ta cảm thấy các em còn nhỏ, nói gì cũng được, hay những gì các em nói chỉ là chuyện con nít, không cần để tâm đến. Chúng ta nghe bằng tai nhưng đầu thì suy tư chuyện khác. Đó là sai lầm rất lớn. Tâm của các em rất thuần khiết. Các em luôn sống trong giây phút hiện tại và không bị chi phối nhiều bởi các yếu tố khác, nên các em rất dễ cảm được người đang đối thoại có quan tâm các em thực sự hay không. Đôi lúc các em muốn nói những gì xảy ra, nhưng vì chúng ta không quan tâm nên các em không nói nữa, và có thể sẽ mãi mãi không muốn nói. Đây cũng là một điều được nêu lên trong buổi hội nghị. Một vị giám mục trong hội nghị chia sẻ: “Là một người lãnh đạo tâm linh, không có nghĩa là đứng đó và rao giảng truyền đạo thao thao bất tuyệt. Việc làm đầu tiên của một người lãnh đạo tâm linh là phải lắng nghe hội chúng. Lắng nghe mà không phán xét. Lắng nghe với hết tình thương của người cha cho con”. Là người lớn, chúng ta phải tập dừng lại để lắng nghe các em, cho các em niềm tin để mở lòng nói lên mà không sợ xấu hổ, nghi ngại hay cảm giác mình bị tổn thương vì không được quan tâm hay tôn trọng đủ. Đôi khi chúng ta có thể bắt gặp được những tín hiệu kêu cứu, khi ấy ta có thể tìm cách giúp các em nói lên những gì các em không dám nói.

Tôi rất xúc động khi hội trưởng của hội đồng trưởng lão Hồi giáo, người lớn nhất trong đạo, chia sẻ phần kết thúc: “Tôi được mẹ của tôi sinh ra. Tôi nghĩ ai ai trong hội chúng này cũng vậy. Các vị cũng từ mẹ sinh ra. Chúng tôi rất trân trọng tình mẹ dành cho con, nuôi nấng và hy sinh hết tất cả cho con, hy sinh cả tính mạng của mình để bảo vệ con”. Và ngài trích một câu chuyện trong kinh Cô-ran (Qur’an) của người Hồi giáo. Câu chuyện kể về một chú chim con. Chú chim đã được bảo vệ, mang về lại tổ ấm, về với mẹ, lớn lên trong tự do thay vì bị nuôi trong một chiếc lồng vàng. Tâm điểm mà ngài muốn nêu lên là phải bảo vệ tuổi thơ của các em, đừng để các em lớn lên trong ngục tù của thế giới khiêu dâm trên mạng lưới đen tối.

“Tôi cũng là mẹ của các em. Quý vị cũng là mẹ của các em”, Ngài đã kết thúc phần chia sẻ của mình như vậy.

Chân Pháp Khởi

Nụ cười trên nẻo đường con đi

Nằm bẹp hai ngày vì bị cúm, chiều nay tôi thưởng cho mình một vòng chạy bộ quanh Xóm. Mấy hôm nay trời nắng đẹp, tôi nghĩ bụng thế nào bên mé rừng mấy cụm mai trắng cũng đã nở. Tôi chạy về hướng mặt trời lặn, cánh rừng phía Tây của Xóm Thượng. Chạy hết cái dốc thì đến cánh đồng lúa, nhưng năm nay người ta bỏ hoang chưa làm đất gì cả. Nhưng vui chưa, có một lối đi chừng hai mét, cỏ mới cắt. Tôi thích thú chạy trên con đường mới, nghĩ rằng chắc mình là người đầu tiên khám phá ra con đường này.

Đến giữa đồng tôi gặp hai chú thanh niên khiêng hai sọt rau. À, thì ra đây là con đường nối dài từ Xóm Thượng xuống nông trại Hạnh Phúc. Nhưng con đường không dừng lại ở đó, nó tiếp tục kéo dài về phía trước. Những cụm mai rừng trắng xóa như bông tuyết lộ ra trước mắt làm tôi không thể dừng lại. Tôi nghĩ, có khi nào đây là con đường đi bộ mới mở từ Xóm Thượng xuống Xóm Hạ không nhỉ! Có thể lắm chứ vì ngôi nhà mới mua chỉ ở gần đây thôi và đất ruộng này đã thuộc về Xóm Thượng rồi. Vui lắm, cứ như có một điều bí mật sắp được tôi khám phá.

Tôi chạy tiếp về phía trước. Không tưởng tượng được là bao nhiêu hoa mai rừng nở trắng xóa góc này góc kia. Con đường cứ uốn quanh thật nên thơ. Khen cho ai đã khéo vẽ nên con đường này. Sao mà đẹp thế không biết. Chạy hết cánh đồng lúa thì tôi lạc vào cánh đồng của những cây thistle. Bây giờ chưa phải là mùa hoa, chỉ còn là cây khô nhưng dáng rất đẹp, nếu đến mùa hoa nở thì đẹp biết chừng nào nữa. Tôi thích thú nhảy qua khe nước rồi chạy về phía trước. Băng qua mấy cụm mai rừng là đồng cỏ xanh mướt và trước mặt là cụm rừng sồi, ai đó cũng đã dùng máy cày mở một con đường băng qua cụm rừng đó.

Đến cuối con đường tôi quay trở lại, tôi muốn ngắm con đường này từ Xóm Hạ đi lên Xóm Thượng. Nếu đi từ Xóm Thượng về Xóm Hạ vào buổi chiều thì ta đón ánh nắng hoàng hôn; còn đi từ Xóm Hạ lên Xóm Thượng vào buổi sáng thì đó chắc là những giây phút rất mầu nhiệm để đón chào bình minh buổi sáng. Cánh đồng lúa đó là nơi có nhiều chú nai ra ăn cỏ, vào sáng sớm và lúc chạng vạng tối. Nếu khẽ bước thế nào cũng gặp chúng. Có rất nhiều heo rừngvà nai ở trong mé rừng phía Tây của Xóm Thượng. Đó là thiên đường của chúng, vì không ai xâm phạm được. Những cây bụi rậm rạp và gai, chỉ có chúng mới len lỏi được qua.

Khám phá ra một con đường mới, một điều lạ gì trên con đường cũng đều làm tôi thích thú. Tôi thích thú trong giây phút hiện tại và tôi cũng thích thú khi nghĩ về tương lai, nghĩ đến chừng vài tuần nữa, vài tháng nữa, rồi mùa Hạ, mùa Thu, mùa Đông đi qua, rồi các anh em tôi, các thiền sinh về Làng đi trên con đường ấy. Chắc họ sẽ vui lắm, vui nhiều lắm. Con đường này đẹp thế mà sao không vui cho được. Bất chợt tôi nghĩ đến một bài hát rất xưa của Làng. Bài này xưa lắm, tôi nghe pháp thoại rồi vô tình nhặt được:

Hôm nay em về Làng

Vui bên mẹ dịu dàng

Quanh em bao họ hàng

Thêm sư cô cười hiền, cười hiền.

Tung tăng trên đường làng

Hoa xinh hoa thơm lừng

Ô! Con chim trong rừng

Em nghe chuông đại hồng, vang vang

An nhiên em ngồi thiền

Tê chân em quay nhìn

Trông ai cũng hiền lành

Búp sen như cười chào em, chào em

Bài hát trở về với tôi một cách rất tự nhiên, như chính tôi là chú bé ấy đã về Làng mấy mươi năm về trước. Con đường Làng vẫn còn đó, nụ cười vẫn còn đó, chuông đại hùng, hoa rừng, tiếng chim hót, tất cả vẫn còn ở đó.

Xóm nào ở Làng cũng đẹp, tôi muốn ôm mảnh đất thân thương này trên mỗi bàn chân của tôi. Bất cứ lúc nào nếu mở cửa bước ra là tôi bắt gặp bầu trời xanh, bầu trời xanh đã đẹp lắm rồi mà có thêm vài cụm mây trắng nữa thì nền trời được pha loãng đi, đẹp và hiền lắm. Mỗi khi nhìn lên bầu trời tôi thấy khỏe, thấy nhẹ tênh.

Mỗi buổi sáng, mặt trời mọc ở cánh rừng phía Đông và mỗi buổi chiều mặt trời lặn ở cánh rừng phía Tây. Đứng từ trên Xóm Thượng nếu thích thì ai cũng có thể thưởng thức được những cảnh tượng huy hoàng và lộng lẫy ấy mỗi ngày. Chúng tôi thầm cảm ơn tổ tiên đất đai đã dành mảnh đất này cho chúng tôi và cho những ai muốn trở về nơi đây. Trở về nơi đây để cùng học làm một con người mới, con người hạnh phúc, con người tự do.

Chân Minh Hy

Giữ gìn đất Mẹ

(Trong khóa tu 21 ngày năm 2018 tại Làng Mai, một số thành viên của tăng thân Trì Địa (Earth Holder) đã xin Sư cô Chân Đức chia sẻ về cách thực tập với những khó khăn do hậu quả của thay đổi khí hậu trên trái đất, để ta có thể trở nên vững chãi và làm chỗ nương tựa cho chính bản thân, gia đình và cho xã hội. Dưới đây là những chia sẻ của Sư cô được Ban biên tập chuyển ngữ từ tiếng Anh.)

Sự thực tập của Chân Đức (CĐ) là gìn giữ, chăm sóc trái đất mỗi ngày: cách mình đi trên mặt đất chính là cách tốt nhất để giữ gìn trái đất, bởi vì cách đi ấy sẽ thiết lập mối quan hệ giữa mình với trái đất. Khi đi, CĐ không thấy trái đất là một cái gì nằm bên ngoài mình. Trái đất không chỉ là vật chất mà còn là tinh thần. Trái đất chính là một phần của CĐ và CĐ chính là một phần của trái đất.

CĐ thấy việc thiết lập mối quan hệ này rất quan trọng đối với bất kỳ ai thực sự quan tâm tới trái đất. Không có mối quan hệ này thì chúng ta không thể bắt đầu việc chữa lành thương tích cho trái đất và cho chính chúng ta. Trái đất đang cố gắng hết sức mình. Sự sống trên trái đất rất mãnh liệt và cái mà chúng ta gọi là trái đất chính là sự sống trên trái đất, bởi nếu không có sự sống trên trái đất thì trái đất không còn là trái đất nữa. Chúng ta nói về dải lụa màu xanh, nhưng đó thực sự chính là trái đất. Và dĩ nhiên, không khí cũng là trái đất. Loài người chúng ta là những đứa con của đất Mẹ, vì vậy tình huynh đệ của chúng ta cũng là một yếu tố rất quan trọng trong việc bảo hộ trái đất. Chúng ta cùng nhau gìn giữ bảo hộ trái đất này như một tăng thân, một cộng đồng gồm các anh chị em thương mến nhau.

Sư Ông Làng Mai là vị thầy đầu tiên trong Phật giáo khởi xướng việc lạy danh hiệu đất Mẹ (Gaia) như một vị Bồ tát – Bồ tát Thanh Lương Đại Địa – trong các buổi lễ, giống như cách chúng ta lạy trước Bồ tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi hay Bồ tát Đại Bi Quán Thế Âm, v.v. Kể từ đó, chúng ta bắt đầu có một mối liên hệ tâm linh với đất Mẹ. Chúng ta không còn liên hệ với đất Mẹ giống như trước đây nữa. Giờ đây, trong lòng chúng ta đất Mẹ là một vị Bồ tát, và chúng ta cũng có một mối quan hệ tình cảm thân thuộc với Mẹ. Ta thấy trái đất là Mẹ của ta, người mà ta cần chăm sóc và bảo hộ.

Cách nhìn mới mẻ và vô cùng căn bản này trong mối quan hệ với trái đất là cách có thể giúp loài người chăm sóc trái đất hữu hiệu nhất. Chúng ta có thể lên nhiều kế hoạch, đề ra các kỹ thuật và có nhiều tranh luận về việc làm sao có thể giữ gìn trái đất, nhưng nếu ta không thay đổi mối quan hệ căn bản với đất Mẹ, CĐ không cho rằng những kế hoạch, kỹ thuật hay những tranh luận kia cuối cùng sẽ đem lại kết quả khả quan.

Loài người xưa nay vẫn quen cho rằng mình và trái đất là hai thực thể tách rời – trái đất có đó cho chúng ta khai thác và sử dụng mà không phải để cho chúng ta yêu thương, kính trọng như đối với một người mẹ, hay như một vị Bồ tát. Đó là lý do tại sao mỗi ngày khi CĐ nhìn đất Mẹ, CĐ luôn nói với chính mình và nói với đất Mẹ rằng: “Mẹ ơi, Mẹ đang cố gắng hết sức mình và con vô cùng mang ơn Mẹ”. Khi những thiên tai xảy đến, CĐ cảm thấy đất Mẹ đang khổ đau, và CĐ cũng thấy được những nhân duyên đưa đến những thiên tai ấy. Sự khổ đau của đất Mẹ tương tức với sự khổ đau của những đứa con của Mẹ. Khi chúng ta khổ đau thì đất Mẹ cũng khổ đau.

Những hành động chữa lành thương tích cho đất Mẹ – nền tảng cho những điều tốt đẹp 

Khi bạn có một mối quan hệ thương yêu như thế với đất Mẹ, bất cứ một hoạt động, một sự kiện nào được bạn tổ chức trong chánh niệm, với lòng từ bi và thương yêu cũng đều có ích lợi. Cho dù bạn không thấy việc mình làm có chút kết quả nào nhưng một khi bạn thực tập thiền hành với tâm từ bi và với một cái thấy đúng đắn (chánh kiến) thì ngay lúc đó bạn đã gửi đi một năng lượng thiện lành. Cái thấy đúng đắn tức là thấy rằng loài người và trái đất có trong nhau, chúng ta chính là con của đất Mẹ. Cũng như nhiệt lượng, năng lượng thiện lành ấy sẽ không bao giờ mất đi. Không có một loại năng lượng nào mất đi cả, đó là nguyên lý bảo tồn năng lượng. Đó cũng chính là nguyên lý của sự tương tức và tự tính không sinh không diệt của vạn vật.

Bất cứ một hoạt động nào của chúng ta, trên bình diện tương đối, dù cho hoạt động đó có vẻ như không thành công – thí dụ như ta bị vào tù vì hành động đó – miễn là khi hành động, ta có tình thương, có sự hòa hợp và có từ bi thì ta đã thành công rồi. Và điều ta làm sẽ chế tác ra một năng lượng làm nền tảng cho những điều tốt đẹp xảy ra.

Duy trì sự tươi mát và vững chãi

Chúng ta có thể đến một trung tâm thiền tập để phục hồi sự tươi mát, để thấy xung quanh ta vẫn có những người quan tâm tới đất Mẹ và thấy họ là một với đất Mẹ. Những người này đang làm việc trong chánh niệm vì đất Mẹ. Khi đến thực tập trong tu viện hay tham gia một khóa tu như thế, chúng ta sẽ không rơi vào tình trạng kiệt sức hay tuyệt vọng.

Chúng ta có thể thực tập địa xúc, một thực tập rất tuyệt vời. Ta lạy xuống trong tư thế phủ phục, năm vóc sát đất. Ta có thể đứng trước một cái cây hay trước một ngọn núi và thực tập địa xúc để cảm được sức mạnh và hùng lực của thiên nhiên đang đi vào trong ta. Chúng ta có thể thực tập theo sách Tâm tình với đất Mẹ mà Sư Ông Làng Mai đã biên soạn.

Vô thường

CĐ muốn nhấn mạnh một điểm về vô thường. Đôi khi có những người không vui lắm khi CĐ nói đến điều này, nhưng đây là sự thật: Trái đất vô thường. Đến một lúc nào đó, trên trái đất sẽ không còn sự sống. Đây là một sự thật mà ta phải chấp nhận. Nói như thế không có nghĩa là điều đó xảy ra ngay lập tức. Chúng ta vẫn còn cơ hội, nhưng trong ánh sáng của vô thường, chúng ta sẽ dễ chấp nhận hơn.

Cũng giống như khi ta thiền quán về sự vô thường của chính ta:

Thở vào, tôi ý thức về đôi mắt của tôi

Thở ra, tôi biết rằng đôi mắt của tôi vô thường.

Ta cũng có thể thiền quán như thế về đất nước của chúng ta và về trái đất.

Thở vào, tôi ý thức đến quốc gia tôi đang sống

Thở ra, tôi ý thức quốc gia của tôi vô thường.

Thở vào, tôi ý thức đến trái đất

Thở ra, tôi ý thức trái đất vô thường.

Trái đất rất kiên cường, như nhà sinh học vĩ đại Lynn Margulis đã nói. Tuy thế trái đất cũng vô thường. Và chúng ta phải thấy được điều đó, chúng ta cần quán chiếu:

Thở vào, tôi ý thức đến đất Mẹ

Thở ra, tôi ý thức rằng đất Mẹ vô thường.

Rõ ràng năng lượng do đất Mẹ chế tác ra sẽ không bao giờ mất đi. Một mặt thì đất Mẹ vô thường và khi chúng ta thấy được điều đó, tâm nguyện bảo hộ đất Mẹ của chúng ta lại càng sâu sắc hơn. Mặt khác, ý thức đó giúp ta tiếp xúc được với thực tại, nghĩa là ta có khả năng chấp nhận bất cứ điều gì có thể xảy ra. Nhờ thế ta sẽ không bị tuyệt vọng, bởi vì vạn vật đều vô thường.

Đó là lý do vì sao chúng ta cần cố gắng hết sức mình. Và khi bạn giận ai đó, bạn nên nhìn người ấy để thấy rằng người ấy cũng vô thường. Khi đó, cơn giận của bạn sẽ tan đi. Bạn đâu muốn phí thời gian cho cơn giận khi bạn biết quá rõ rằng bạn và người ấy đâu còn có mặt cho nhau trong 200 năm tới. Vì vậy, thiền quán về vô thường rất quan trọng, nó giúp cho ta đối trị với tuyệt vọng và làm tất cả những gì ta có thể làm trong khi còn có thể.

Khi hiểu được vô thường, ta sẽ có động lực làm những gì tốt nhất có thể để gìn giữ, chăm sóc. Thí dụ nếu bạn có một đóa hoa, bạn biết đóa hoa là vô thường. Nếu bạn bỏ mặc đóa hoa đó mà không tưới nước, sự vô thường của đóa hoa sẽ đến vô cùng nhanh chóng. Nếu bạn chăm sóc đóa hoa thật hết lòng thì đóa hoa sẽ không vô thường quá nhanh. Điều này cũng đúng đối với trái đất.

Thiền quán về vô thường sẽ giúp chúng ta chăm sóc tốt cho trái đất, có động lực và yêu thương trái đất nhiều hơn trong giây phút hiện tại. Chúng ta có thể thiền hành và tiếp xúc với đất Mẹ thường xuyên hơn. Những điều kiện cho phép sự sống của loài người xuất hiện trên trái đất hiện đang bị đe dọa. Đó là một phần quan trọng trong sự thực tập quán vô thường của chúng ta:

Thở vào, tôi thấy loài người vô thường

Thở ra, tôi mỉm cười với sự vô thường của loài người.

Đó là sự thật. Chúng ta vô thường và nếu chúng ta không chăm sóc chính chúng ta và không có một hướng đi đúng đắn trong quá trình phát triển thì sự vô thường của chúng ta sẽ  đến rất nhanh.

Thực tập với giận dữ và tuyệt vọng

Chúng ta nên ra khỏi cái đầu đầy suy tư của mình và trở về với trái tim. Điều này rất quan trọng. Những thực tập như sám pháp địa xúc, thiền hành mỗi ngày và xem đất Mẹ là tinh thần mà không chỉ là vật chất sẽ giúp ta làm được điều đó.

Nếu nghiên cứu vật lý hạt cơ bản (particle physics), bạn sẽ thấy tất cả đều là tương đối. Không nhất thiết chỉ có một đường thẳng đi trực tiếp từ điểm A đến điểm B. Cũng tương tự như vậy khi nói về sự khỏe mạnh hay ốm yếu của đất Mẹ, chúng ta không thể dự đoán được tương lai. Dù khoa học có cung cấp cho ta nhiều thông tin đến đâu, khoa học cũng không thực sự dự đoán được tương lai. Vì vậy, việc tiếp xúc với đất Mẹ mỗi ngày – với tình trạng hiện tại của đất Mẹ – là điều rất quan trọng. Những gì chúng ta làm ngay thời điểm này chính là chất liệu làm nên tương lai. Ngay bây giờ, nếu chúng ta có những hành động tích cực thì tương lai sẽ khác; còn nếu chúng ta có những hành động gây tàn hại thì tương lai cũng sẽ khác.

Sự thực tập trở về với trái tim – nơi đem lại sự chuyển hóa

Ta có thể thực tập để làm lớn thêm niềm tin trong ta. Năng lượng của sự thực tập tâm linh sẽ giữ gìn và bảo hộ cho chúng ta và cả cho trái đất. Nếu mỗi ngày chúng ta làm phát khởi năng lượng của tuyệt vọng, bế tắc, giận dữ,… thì đâu có ích gì cho chính tự thân và cho trái đất.

Có những người hoạt động lâu năm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và bị kẹt vào “trạng thái tranh đấu” (‘activist mode’) – rất nguy hiểm. Những người này đã tranh đấu suốt cuộc đời, từ lúc còn trẻ tuổi. Giờ đây họ đang ở vào tuổi 60 hay 70 và vẫn tiếp tục tranh đấu. Một người hoạt động vì môi trường mà phải liên tục vật lộn, đấu tranh như thế thật không hay. Một mặt, chúng ta rất tri ân những người này vì họ đã cắm lều bên ngoài các công trình gây hại cho môi trường để phản đối từ năm này qua năm khác. Thế nhưng khi làm những việc đó, họ không được nuôi dưỡng bởi niềm vui và sự bình an. Họ có thói quen lúc nào cũng đấu tranh, chống đối, rồi có cảm giác bị chống trả lại và thấy không ai quan tâm đến những nỗ lực của họ. Là một nhà hoạt động vì môi trường, ta phải thật cẩn thận trong việc chăm sóc chính mình. Ta cần một sự thực tập tâm linh để nuôi dưỡng tự thân.

Biết cách đối trị với những cảm xúc tuyệt vọng và giận dữ là điều rất quan trọng. Bởi vì khi tâm ta bị tuyệt vọng và giận dữ trấn ngự, ta không còn sáng suốt nữa. Và khi đó ta không thể nào hành động một cách đúng đắn, ta không thể thấy cái gì nên làm hoặc không nên làm. Tâm ta cũng là một môi trường – môi trường bên trong, mà môi trường bên trong và bên ngoài đều tương tức với nhau.

Sư cô Chân Đức

Bảo châu trong vạt áo

(Thầy Chân Pháp Biểu, người Ý, là một vị giáo thọ trẻ tu tập và phụng sự có nhiều hạnh phúc ở xóm Thượng. Bài viết được Ban biên tập chuyển ngữ từ tiếng Anh.)

Mười ba tuổi, lần đầu tôi đến với pháp môn. Hồi đó tôi chẳng nhớ gì mấy về Làng, bởi tôi chưa nói được tiếng Anh và thường ngủ gục lúc Thầy cho pháp thoại. Tuy nhiên phong thái đi đứng khoan thai, vui vẻ của quý thầy, quý sư cô đã ghi sâu vào lòng tôi từ ngày đó.

Về lại Ý, ở nhà, tôi thường mơ mộng thấy mình làm người tu. Nằm trên giường mà tưởng tượng cảnh mình trong chiếc áo nâu ngồi dưới gốc cây thiền định. Chao ôi, hình ảnh thật đẹp! Có lần tắm xong, tôi quấn chiếc khăn tắm quanh mình làm bộ như đó là áo cà sa, rồi ngắm mình thật lâu trong gương, nét mặt ra vẻ trang nghiêm và thông tuệ. Tôi đã nghĩ nếu một ngày nào đó khi tôi đi tu thì mọi rắc rối sẽ không còn nữa. Với tôi, cuộc sống đó xem chừng thật lý tưởng.

Nhiều năm trôi qua, khi đã thực sự xuất gia rồi, tôi nhanh chóng nhận ra “cuộc đời không như là mơ”, nghĩ vậy mà không phải vậy. Tôi thử sống nếp sống lý tưởng của người tu mà tôi đã vẽ trong đầu, nhưng nhanh chóng phát hiện mọi chuyện phức tạp hơn thế nhiều. Tôi thích làm “ẩn sĩ” chốn núi mù sương, nhưng thay vào đó, tôi lại thấy mình đang sống chung phòng với bốn người khác trong một cộng đồng khá năng động. Tôi rất hăng hái học hỏi và làm theo lời Thầy dạy, nhưng không hiểu sao cuộc sống của mình trong tu viện xem ra chẳng khác gì mấy so với cuộc sống của mình lúc còn ở nhà.

Đương nhiên là tôi có dậy sớm ngồi thiền với đại chúng, rồi đi học lớp sa di, tham dự ngày quán niệm, ấy vậy mà tất cả vẫn dường như quá đỗi tầm thường, quá “đời thường” không thể gọi là cuộc sống đích thực của người xuất sĩ. Nhưng trên hết, tôi thấy cách sống ở Làng không hợp với lý tưởng về một pháp môn tu tập nghiêm túc trong tôi. Ở Làng hay hát những bài hát của trẻ em, ở Làng có thiền ôm, tượng Bụt trong thiền đường mà người ta lại sơn màu hồng nhạt! Tôi chẳng dám than thở, nhưng rõ ràng chật vật lắm tôi mới có thể hóa giải những điều đó cho hài hòa với tư tưởng của mình.

Tôi mất nhiều năm mới có thể thưởng thức mọi việc như nó đang là, và thay vì tìm kiếm lý tưởng cao siêu mầu nhiệm, tôi tìm hạnh phúc trong nét đơn giản của thực tại trước mặt. Tôi thường nghe trong những giờ pháp đàm thiền sinh chia sẻ rằng họ hoàn toàn không ngờ được một tuần của họ ở Làng sẽ như thế nào. Nếu biết trước chắc họ sẽ chẳng muốn đến. Khi đăng ký khóa tu, họ nghĩ họ sẽ có cả tuần thiền tập yên lặng trong bầu không khí yên tĩnh của miền quê nước Pháp. Hóa ra, đến nơi mới thấy mình đang ở chỗ quy tụ hơn cả nghìn người, trẻ em chạy nhảy lung tung, người trẻ chơi đá bóng, người lớn chơi đàn. Thế mà sau năm ngày thực tập, họ có cảm giác cuộc đời đã thay đổi và họ sẽ không bao giờ quên cảm giác đó.

Có lần vào đêm Giao thừa trong khóa tu cuối năm, một anh chàng kể cho tôi nghe, hai ngày đầu anh ta cứ nghĩ đến chuyện bỏ khóa tu để về nhà. Rốt cuộc, đến ngày thứ tư, anh mới mở miệng chia sẻ trong pháp đàm, nói được năm ba câu là bắt đầu khóc. Vì ngại người ta thấy mình có cảm xúc nên anh nói không nhiều. Ngày cuối khóa tu, anh cho biết đó là lần đầu tiên anh khóc trong đời. Khi nghe vậy, tôi không tránh khỏi cảm giác vừa vui vừa biết ơn anh. Giống như mình đang chứng kiến một khoảnh khắc lịch sử, bởi vì có thể cả cuộc đời anh sẽ thay đổi từ giây phút đó.

Loài người chúng ta có khả năng trừu tượng hóa vấn đề rất tài tình. Chúng ta tạo các cảnh giới, và tự thuyết phục chính mình rằng chúng là thật. Thế nhưng, cái đẹp và sự thâm sâu mà tự thân ta tìm kiếm chỉ biểu hiện khi nào ta có thể hòa giải được với những mớ bòng bong trong cuộc đời bằng cách an trú trong giây phút hiện tại. Tuy thực tại không tuyệt hảo và trong sạch như những gì chúng ta suy tưởng, nhưng sự trở về với giây phút hiện tại giúp ta cảm thấy kết nối, đủ đầy.

Có một ngày, tôi ngồi trong rừng đọc kinh A Di Đà. Tâm trí tôi chan chứa hình ảnh về những hàng cây bảo châu, hoa sen bằng vàng và một mặt trời chưa từng lặn xuống phía chân trời. Khi ấy, có một chú chim nhỏ đậu trên cành cây cách chỗ tôi ngồi chừng vài mét, và ngay lập tức tôi liền thấy sao mình thương chú chim bé nhỏ quá đỗi. Tôi nghĩ nếu cái gì cũng đều được làm bằng vàng bạc và châu báu thì tôi sẽ nhớ lắm những nét sinh động và mùi hương của rừng, nhớ những lớp rêu phong và cả những thảm lá mục. Tôi chợt nhận ra một điều là không có gì đẹp hơn những gì ta đang trải nghiệm và đang sống ngay trong giờ phút hiện tại. Bạn có thể cho rằng tôi nói ngược với ý kinh, nhưng tôi tin đó mới chính là điểm mà kinh muốn nêu ra. Khi bạn thực sự có mặt để ôm ấp và chấp nhận những gì đang xảy ra thì đến cái nhỏ nhất, đơn giản nhất cũng trở thành châu ngọc.

Qua năm tháng, cách nhìn này đã giúp chuyển hóa sâu sắc cái hiểu của tôi về đời sống xuất sĩ. Tôi bắt đầu thấy vui khi hát các bài hát trẻ em và tôi cũng nhận thấy thực ra chính người lớn mới là người cần hát những bài hát trẻ em, vì người lớn quen nghiêm nghị quá rồi. Tôi quý cái nét năng động và khó lường của đời sống tăng thân, vì nó luôn làm tôi ngạc nhiên, giúp tôi thoát ra khỏi ngục tù của mong chờ và kỳ vọng. Có lúc nhìn tăng thân thấy đúng là thiếu tổ chức thật, nhưng nhìn xem, có ai tổ chức, sắp xếp cho khu rừng hay những đám mây trên trời đâu nào? Thiên nhiên đẹp vì không có ý niệm thế nào là trật tự hay hoàn chỉnh, ấy vậy mà thiên nhiên lại hài hòa với nhau trong dòng chảy liên tục, luôn tươi vui và mới lạ. Đôi khi gió bắt đầu thổi, rồi mây đen vần vũ như chực nuốt cả mặt trời. Cảnh tượng có vẻ bi thảm, nhưng chẳng có gì nghiêm trọng lắm. Mặt trời không sớm thì muộn cũng sẽ xóa tan mây, đưa sự sống trở về với núi rừng

Vậy thì cớ chi tôi phải tìm kiếm thêm điều gì khác nữa? Tôi không cho là mấy con chim, con sóc sẽ thích thú khi phải sống trong khu rừng cẩm thạch “lý tưởng” mà tôi dựng nên.

Chân Pháp Biểu

Tiếng xuân

Lắng nghe trong gió mùa xuân đến. 

Mát cả khung trời đất dậy hương. 

Sương đêm choàng ngủ còn say giấc. 

Chim đã trên cành vui líu lo. 

Đâu cành lộc mới vươn song cửa. 

Lay giấc mai hồng ai đó quên.

Vũ trụ xôn xao bừng nắng dậy. 

Mai nở vườn ai trắng cả trời. 

Ai đi trong gió mùa xuân ấy. 

Mới cả tình xuân mới cả lòng. 

Bàn tay ai đặt lên cung ấy. 

Nghe tiếng mùa xuân vươn lộc non. 

Nghe cả lòng ai đương mở cửa. 

Nghe cả đất trời sức sống vươn. 

Nghe trên nét bút người thi sĩ.

Họa bức xuân tươi giữa nắng hồng.

 

    Chân Trăng Hương Tích