Pháp thoại ngày 15 tháng 11 năm 2012
Khoá giảng “Tri kỷ của Bụt” – An cư kiết đông 2012-2013
Pháp thoại ngày 15 tháng 11 năm 2012
Khoá giảng “Tri kỷ của Bụt” – An cư kiết đông 2012-2013
Quỹ Hòa bình Schengen và Diễn đàn Hòa bình Thế giới đã đề nghị được trao giải thưởng Hoà bình Luxembourg năm 2019 cho Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Thầy Pháp Hữu, trụ trì chùa Pháp Vân, xóm Thượng, Làng Mai Pháp đã được tăng thân cử làm đại diện cho Sư Ông tới Luxembourg để nhận giải thưởng này. Dưới đây là những thông tin về Giải thưởng này (Luxembourg Peace Prize) và tin tức về buổi trao giải. (BBT tổng hợp)
Hàng năm, kể từ năm 2012, Quỹ Hòa bình Schengen và Diễn đàn Hòa bình Thế giới đều tổ chức trao Giải thưởng Hòa bình Luxembourg, một giải thưởng nhằm tôn vinh những cá nhân có đóng góp xuất sắc cho hòa bình trên thế giới. Giải thưởng Hòa bình Luxembourg và lễ trao giải thưởng là sự góp phần vào mục tiêu của Diễn đàn Hòa bình Thế giới.
Vào thứ Sáu, ngày 14 tháng 6 năm 2019, các nhà hoạt động vì hòa bình từ khắp nơi trên thế giới đã tập trung tại Tòa nhà Quốc hội Châu Âu lịch sử ở Luxembourg để chào mừng Lễ trao giải Hòa bình năm 2019. Lễ trao giải Hòa bình Luxembourg đã được tổ chức với sự tham gia của gần 150 người, trong đó có sự hiện diện của Bộ trưởng Lao động tại Luxembourg, Đại sứ Ethiopia và Eritrea, Đại sứ quán Hoa Kỳ và các chính trị gia quan tâm đến hòa bình, các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học và bác sĩ, đạo diễn phim, diễn viên, nghệ sĩ, v.v. Buổi lễ đã được khai mạc với nghi thức kéo cờ mandala ấm áp và đoàn kết. Sau đó, lễ trao giải Hòa bình đã bắt đầu. Các giải thưởng Hòa bình đã được trao theo 10 lĩnh vực: Báo chí vì hòa bình, hỗ trợ hòa bình, nghệ thuật vì hòa bình, tổ chức hòa bình, giáo dục hòa bình, nhà hoạt động hòa bình, công nghệ hòa bình, hòa bình môi trường, tiến trình hòa bình, hòa bình nội tâm.
Giải “Hòa bình nội tâm” (Inner Peace) đã được trao cho Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Quỹ Hoà bình Luxembourg đã viết về Thầy như sau: “Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một nhà lãnh đạo tinh thần, nhà thơ và nhà hoạt động hòa bình toàn cầu, được tôn kính trên khắp thế giới vì những bài pháp thoại đầy thuyết phục và những cuốn sách bán chạy nhất về chánh niệm và hòa bình. Giáo lý quan trọng của Thiền sư là với chánh niệm, chúng ta có thể học cách sống hạnh phúc trong hiện tại, đây là cách duy nhất để thực sự có được bình an trong tự thân và trên thế giới.
Là một nhà văn nổi tiếng, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã xuất bản hơn 100 đầu sách bằng tiếng Anh, từ các sách hướng dẫn cơ bản về thiền tập, thực tập chánh niệm và Phật giáo dấn thân, thi ca, truyện thiếu nhi, cho đến luận giảng về những bản kinh Phật giáo cổ . Thầy là người tiên phong trong việc đưa Phật giáo đến phương Tây, thành lập sáu tu viện và hàng chục trung tâm thực tập chánh niệm tại Mỹ và châu Âu, cũng như hơn 1.000 cộng đồng thực hành chánh niệm địa phương, được gọi là tăng thân (sangha). Thầy đã xây dựng một cộng đồng thịnh vượng với hơn 700 các vị xuất sĩ trên toàn thế giới cùng với hàng chục ngàn đệ tử tại gia, những người thực tập những lời dạy của Thầy về chánh niệm, bình an và giúp xây dựng cộng đồng thực tập trên khắp thế giới; trong trường học, nơi làm việc, doanh nghiệp, thậm chí cả nhà tù.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh, hiện đang ở tuổi 93, là một tu sĩ hiền lành, khiêm nhường – người mà Mục sư Martin Luther King gọi là Sứ giả của hòa bình và bất bạo động. Các phương tiện truyền thông đã gọi ông là Người cha của chánh niệm, và là vị Thiền sư có khả năng làm người nghe đến kín cả sân vận động.”
(Nguồn: https://luxembourgpeaceprize.org; https://www.facebook.com/worldpeaceforum/)
90 ngày an cư
An cư là truyền thống của đạo Bụt có từ 2600 năm về trước, dành cho các vị xuất sĩ trong ba tháng mùa mưa. Ở Ấn Độ vào mùa mưa, việc đi lại gặp nhiều khó khăn, cho nên các vị xuất sĩ đều ở tại tu viện trong ba tháng để tu tập mà không đi ra ngoài và cũng để tránh dẫm đạp côn trùng trên đường đi.
Theo truyền thống, An Cư chỉ dành riêng cho người xuất gia, còn người tại gia chỉ đứng bên ngoài để yểm trợ mà thôi. Sự kiện chúng cư sĩ được an cư chung với các vị xuất sĩ là một nét đặc thù của Đạo Tràng Mai Thôn. Điều này cho thấy, tu viện không chỉ là nơi dành riêng cho các vị xuất gia, nơi đây cũng có thể trở thành ngôi nhà chung cho tất cả những ai có mong muốn tiến xa hơn trên con đường tu tập.
An Cư là một cơ hội lớn dành cho các vị xuất sĩ cũng như cư sĩ chuyên tâm đào sâu vào sự thực tập. Cơ hội được tu tập chung với tăng thân sẽ cho mỗi người nhiều điều kiện thuận lợi để chuyển hóa, để chế tác hạnh phúc dễ dàng hơn so với khi tu tập một mình. Năng lượng tập thể của tăng thân có thể giúp mình bước được những bước rất dài trong sự chuyển hóa.
Thời gian
Tăng thân Làng Mai kính mời quý vị thân hữu về tham dự khóa tu An cư kiết thu 2019 tại Làng Mai, từ ngày 15.09.2019 đến ngày 12.12.2019. Quý vị có thể đến tu học trong suốt ba tháng, nếu không đủ điều kiện để ở trọn 3 tháng thì có thể tham dự ít nhất là hai tuần
Dành cho những vị đăng ký trọn ba tháng an cư:
Xóm Mới: dành cho phụ nữ độc thân và các cặp vợ chồng
Xóm Hạ: dành cho phụ nữ độc thân và các cặp vợ chồng
Xóm Thượng: dành cho nam độc thân và các cặp vợ chồng
Dành cho những vị đăng ký ngắn hạn: (Đường link đăng ký sẽ được mở trong thời gian tới)
Ngày bắt đầu nhận khách : thứ Sáu 20.09.2019
Xóm Mới: dành cho phụ nữ độc thân và các cặp vợ chồng
Xóm Hạ: dành cho phụ nữ độc thân và các cặp vợ chồng
Xóm Thượng: dành cho nam độc thân và các cặp vợ chồng
* Xin đọc thêm thông tin tổng quát khi đến tham dự khóa tu tại Làng Mai : https://langmai.org/cong-tam-quan/toi-tham-lang-mai/thong-tin-chung-ve-khoa-tu-tai-lang-mai
Ngày 16.06.2019, tăng thân Làng Mai Thái Lan tổ chức lễ xuất gia cho 17 thành viên trong gia đình xuất gia cây Nguyệt Quế.
Gia đình xuất gia cây Nguyệt Quế có 3 sư chú và 14 sư cô, đa phần đều là người Việt Nam, có một sư cô người Trung Quốc và một sư cô người Indonesia: Chân Trăng Vững Chãi, Chân Trời Bạch Vân, Chân Trăng Dung Hòa, Chân Trăng Phúc Châu, Chân Trăng Lắng Yên, Chân Trăng Rộng Mở, Chân Trời Hải Vân, Chân Trăng Hòa Thuận, Chân Trăng Thuận Thảo, Chân Trăng Đức Hạnh, Chân Trăng Non Sông, Chân Trăng Khiêm Hạ, Chân Trăng Sáng Tỏ, Chân Trăng Thanh Bình, Chân Trăng Hòa Nhã, Chân Trăng Mây Trắng, Chân Trời Tịnh Vân.
Lễ xuất gia cây Đầu Xuân (Linh Kiều – Forsythias) diễn ra tại tu viện Bích Nham vào ngày 18.05.2019, gồm 1 sư chú và 2 sư cô : Chân Trời Đại Lực (Bích Nham), Chân Trăng Khánh Thiền (Bích Nham), Chân Trăng Nguyên Anh (Mộc Lan)
Có một hôm đang cùng Tý tưới cải trong nhà mặt trời, Ba hỏi Tý:
– Con có nhớ em Du không?
Tý nhớ lắm chứ. Du là con của dì Sương. Tý đã được ẵm Du vài lần
tại nhà bà ngoại Tý. Hồi gia đình Tý cư ngụ ở Làng Báo Chí ở Thủ
Ðức, thỉnh thoảng dì Sương có đem Du lên chơi và có khi ở lại ba
hoặc bốn ngày. Ðộ ấy Du mới biết đi. Nó đi chập chững. Tý và Miêu
đều cưng Du. Tý vừa được tin từ Việt Nam cho biết là dì Sương vừa
sinh cho Du một đứa em trai, và em tên là Vi Khang. Vi Khang nhỏ
hơn Chó Con chừng hai tháng.
Tý nhớ cứ mỗi lần từ Bến Tre lên chơi là dì Sương lại mang lên cho
nào là dừa trái, nào là đường thẻ, nào là bánh ú. Có khi dì đem lên cả
gà vịt để Mẹ nuôi nữa. Tý thấy Mẹ và dì Sương thương nhau và có vẻ
thân thiết với nhau lắm. Tý cũng rất thương dì Sương và cậu Ứng.
Cậu Ứng là ba của bé Du, đáng lý Tý phải gọi cậu Ứng là dượng,
nhưng vì Tý đã quen miệng gọi cậu ấy là cậu rồi, nên Tý không còn
thay đổi được nữa. Gọi cậu Ứng là dượng thì Tý cảm thấy bớt thân
thiết đi nhiều. Cậu Ứng là một người gan dạ và vui tính. Ba cũng rất
cưng cậu Ứng. Hồi dự tính vượt biên Ba cũng đã mời cậu cùng đi;
nhưng vì gia đình cậu không đồng ý nên cậu đã không đi.
Thỉnh thoảng Mẹ có gởi cho dì Sương một bưu kiện thuốc tây để dì có
đủ thuốc men săn sóc cho bé Du và bé Khang. Tý biết rằng ở xứ Việt
Nam của Tý có rất nhiều em bé bị bệnh mà không có thuốc. Bệnh ho,
bệnh cảm, bệnh tiêu chảy, bệnh sốt xuất huyết. Trẻ em ở Việt Nam rất
dễ bị bệnh sốt xuất huyết. hễ bị bệnh này mà không có thuốc thì coi
như là chết. Ba nói theo tài liệu thống kê của tổ chức Văn Hóa Liên
Hiệp Quốc (viết tắt là UNESCO) thì trong năm vừa qua đã có tới
mười lăm triệu trẻ em chết vì đói và vì thiếu thốn thuốc men. Tý chưa
thấy rõ mười lăm triệu là nhiều chừng nào nhưng Ba nói rằng nếu căn
cứ vào con số đó thì mỗi ngày tại các nước nghèo trên thế giới có tới
trên bốn mươi ngàn đứa trẻ dưới năm tuổi bị chết đói và chết vì thiếu
thuốc men. Tý rùng mình. Bé Du và bé Khang đều là hai đứa bé dưới
năm tuổi. Hai đứa em con dì ấy của Tý là những đứa trẻ may mắn bởi
vì chúng nó có thuốc men của Mẹ gởi về. Nhưng còn hàng triệu đứa
khác ở Việt Nam, ai mà gởi về cho chúng?
Ba đã tưới xong mấy vồng cải và bắt đầu ngồi xuống để nhổ bớt cỏ
giữa những hàng hẹ. Tý cũng ngồi nhổ cỏ với Ba. Ba nói:
– Gia đình mình may mắn lắm mới có thể gởi được thuốc men về
để giúp các trẻ em bên nhà, con biết không?
Tý chưa biết tại sao gởi thuốc về giúp trẻ con bên nhà là may mắn thì
Ba đã nói tiếp:
– Hồi còn ở Việt Nam, Ba và Mẹ đã làm việc rất cực nhọc mà cũng
không đủ để lo cho gia đình mình, nói gì có thể giúp cho ai.
Thuốc men cho các con và thuốc men cho bà ngoại nữa, đều do
cô Chín gởi từ bên này về. Hồi đó Ba đã làm nhiều nghề: nào
đóng sách, nào đi buôn chuối… cuộc sống chiếm hết thì giờ của
Ba. Khi mà mình đã không có thì giờ thì mình không thể lo lắng
và giúp đỡ cho những người khác. Ở bên này, tuy cũng làm việc
cực nhọc, nhưng Ba và Mẹ cũng có được chút thì giờ để lo cho
những người thân bên nhà. Làm được điều này, Ba cảm thấy vui
trong lòng lắm. Vì vậy mà Ba nói rằng gia đình mình may mắn.
May mắn vì có thể giúp đỡ được người khác…
Tý hiểu rồi. Lâu nay Ba và Mẹ không những đã gửi thuốc men về cho
dì Sương để dì săn sóc cho em Du và em Khang mà Ba và Mẹ còn gởi
thuốc về cho nhiều trẻ em đang bị đói nữa. Hồi gia đình Tý mới dọn
về đây, cô Chín có bàn với Ba, Mẹ và chú Dũng lập một tiểu ban để
giúp đỡ việc nuôi nấng trẻ em nghèo đói bên nhà. Tiểu ban này gọi là
Tiểu Ban Giúp Trẻ Em Ðói do Mẹ và chú Dũng trông coi, còn Ba và cô
Chín thì làm cố vấn và giúp đỡ. Ba nói với Tý là đói khát và bệnh tật
luôn luôn đi đôi với nhau, bởi vì thiếu ăn thì sinh ra đau ốm, và đã
đau ốm thì không làm lụng được cho nên lại sinh ra thiếu ăn thêm. Vì
vậy mà giúp cho trẻ em có cơm ăn cũng là giúp cho trẻ em tránh được
đau ốm. Như bé Du chẳng hạn. Sở dĩ nó ít đau ốm là vì nó tạm có đủ
ăn, và thức ăn của nó có đủ chất dinh dưỡng. Khi một đứa trẻ ăn
uống thiếu thốn và không có đủ chất dinh dưỡng thì nó cứ bèo nhèo
đau ốm hoài. Mẹ và chú Dũng lâu nay đã thường trực giúp được
mười bốn thiếu nhi đói bên nhà bằng cách gửi hàng hóa từ Pháp về,
và bên nhà đã đem các thức ấy đổi thành gạo để nuôi thiếu nhi. Sở dĩ
gia đình Tý có tiền mua các thức quà có thể biến thành gạo ấy là một
phần vì Ba quyết định bớt sự chi tiêu trong gia đình, một phần nhờ ở
sự đóng góp của các bạn của Ba và cô Chín. Chú Dũng cũng hăng hái
trong công việc này lắm. Có bao nhiêu tiền phụ cấp xã hội, chú đều bỏ
vào quỹ của Ủy Ban Giúp Trẻ Em Ðói hết. Ba đi lượm những thùng
giấy cạc tông và làm thành những cái hộp thật đẹp và thật chắc có thể
đựng được khoảng một hai kí lô hàng hóa. Trong mỗi cái hộp như
thế, Mẹ và chú Dũng bỏ vào một ít thuốc bổ, thuốc cảm và thuốc ho
để dành cho thiếu nhi được giúp đỡ. Số thuốc này chỉ mới chiếm một
phần tư hộp. Chỗ còn lại trong hộp, Mẹ và chú Dũng để vào các thứ
hàng hóa thông dụng để các bạn của Mẹ có thể đổi thành gạo, sách vở
và bút mực cho thiếu nhi học. Sau khi Mẹ và chú Dũng sắp thuốc vào
hộp, Ba đậy nắp hộp lại, dán kỹ, buộc dây, đề địa chỉ và dán tem.
Những hộp thuốc này được gởi về Việt Nam bằng máy bay. Nếu
người đi lãnh quà bên nhà là một người khéo tay thì số hàng hóa bán
được sẽ có thể nuôi thiếu nhi trong vòng ba tháng. Mỗi năm người ấy
nhận bốn bưu kiện của Mẹ và chú Dũng gửi.
Thỉnh thoảng Mẹ và chú Dũng lại để ra một ngày trọn để làm bưu
kiện. Kỳ nào Ba cũng phụ vào một tay. Có khi có cả cô Chín tới giúp.
Không khí vui lắm. Những lúc đó Tý giúp Mẹ bằng cách săn sóc cho
Chó Con để Mẹ rảnh tay làm việc. Ai cũng tỏ vẻ sung sướng vì được
giúp trẻ em đói bên nhà.
Tý sẽ không bao giờ quên những ngày tháng ở quê nhà. Mẹ nói hồi
Tý còn nhỏ, chưa bao giờ trong nhà mấy mẹ con bị thiếu thốn thức gì.
Ấy vậy mà khi lớn lên, Tý đã biết được một phần nào cái thiếu thốn
khó khăn của những đứa trẻ nghèo. Có nhiều bữa Tý đâu có cơm mà
ăn. Tý phải ăn bo bo. Tý “biết điều” hơn bọn gà của Tý ở bên Pháp. Có
nhiều bữa, để thay cơm, Ba cán bột, một thứ bột gì lạ lắm, làm thành
những cái bánh tai bèo để luộc chín mà ăn. Dì Sương biết được những
khổ cực ấy. Từ Bến Tre, dì lén lút mang lên một ít gạo, nhét vào túi áo
vài nắm, nhét vào trái dừa đã móc ruột vài lon. Người ta cấm đem
gạo và thịt từ miền quê lên thành phố, dù là để bán hoặc là để ăn. Dì
kể chuyện có một bà khách đồng hành cột gạo vào bụng giả làm
người có mang. Qua trại kiểm soát, mấy người cán bộ khám phá ra
được chuyện ấy, bắt bà tháo gạo ra. Bà khóc, nói rằng bảy đứa con của
bà ở thành phố đang đói, bà phải lén về quê mua gạo đem lên cho
con. Bà năn nỉ mấy, người cán bộ cũng không cho bà đem gạo đi. Bà
bảo nếu không cho bà đem gạo về nuôi con, chắc bà phải tự tử chết.
Người cán bộ vẫn cứng rắn. Cuối cùng, thất chí quá, bà lao mình vào
một chiếc xe hơi đang chạy qua và bị xe cán chết.
Dì Sương cũng nói là trên một chuyến xe khác, dì thấy có một bà cột
thịt heo vào bụng, giả làm người có chửa, để đem thịt về thành phố
bán. Mưu mẹo của bà này cũng bị phát giác, và thịt heo của bà bị tịch
thâu._