Lễ xuất gia cây Nguyệt Quế (Laurel Tree) ngày 16.06.2019

Ngày 16.06.2019, tăng thân Làng Mai Thái Lan tổ chức lễ xuất gia cho 17 thành viên trong gia đình xuất gia cây Nguyệt Quế.

Gia đình xuất gia cây Nguyệt Quế có 3 sư chú và 14 sư cô, đa phần đều là người Việt Nam, có một sư cô người Trung Quốc và một sư cô người Indonesia: Chân Trăng Vững Chãi, Chân Trời Bạch Vân, Chân Trăng Dung Hòa, Chân Trăng Phúc Châu, Chân Trăng Lắng Yên, Chân Trăng Rộng Mở, Chân Trời Hải Vân, Chân Trăng Hòa Thuận, Chân Trăng Thuận Thảo, Chân Trăng Đức Hạnh, Chân Trăng Non Sông, Chân Trăng Khiêm Hạ, Chân Trăng Sáng Tỏ, Chân Trăng Thanh Bình, Chân Trăng Hòa Nhã, Chân Trăng Mây Trắng, Chân Trời Tịnh Vân.

 

Khóa tu Doanh nhân tại xóm Thượng và xóm Hạ, Làng Mai, ngày 01.06 – 08.06.2019

 

 

Khoá tu nấu ăn trong chánh niệm tại xóm Mới (từ 01.06-07.06.2019)

Lễ xuất gia cây Đầu Xuân (Linh Kiều – Forsythias) ngày 18.05.2019

Lễ xuất gia cây Đầu Xuân (Linh Kiều – Forsythias) diễn ra tại tu viện Bích Nham vào ngày 18.05.2019, gồm 1 sư chú và 2 sư cô : Chân Trời Đại Lực (Bích Nham), Chân Trăng Khánh Thiền (Bích Nham), Chân Trăng Nguyên Anh (Mộc Lan)

22 Mẹ gửi quà cho trẻ em đói

Có một hôm đang cùng Tý tưới cải trong nhà mặt trời, Ba hỏi Tý:

– Con có nhớ em Du không?

Tý nhớ lắm chứ. Du là con của dì Sương. Tý đã được ẵm Du vài lần

tại nhà bà ngoại Tý. Hồi gia đình Tý cư ngụ ở Làng Báo Chí ở Thủ

Ðức, thỉnh thoảng dì Sương có đem Du lên chơi và có khi ở lại ba

hoặc bốn ngày. Ðộ ấy Du mới biết đi. Nó đi chập chững. Tý và Miêu

đều cưng Du. Tý vừa được tin từ Việt Nam cho biết là dì Sương vừa

sinh cho Du một đứa em trai, và em tên là Vi Khang. Vi Khang nhỏ

hơn Chó Con chừng hai tháng.

Tý nhớ cứ mỗi lần từ Bến Tre lên chơi là dì Sương lại mang lên cho

nào là dừa trái, nào là đường thẻ, nào là bánh ú. Có khi dì đem lên cả

gà vịt để Mẹ nuôi nữa. Tý thấy Mẹ và dì Sương thương nhau và có vẻ

thân thiết với nhau lắm. Tý cũng rất thương dì Sương và cậu Ứng.

Cậu Ứng là ba của bé Du, đáng lý Tý phải gọi cậu Ứng là dượng,

nhưng vì Tý đã quen miệng gọi cậu ấy là cậu rồi, nên Tý không còn

thay đổi được nữa. Gọi cậu Ứng là dượng thì Tý cảm thấy bớt thân

thiết đi nhiều. Cậu Ứng là một người gan dạ và vui tính. Ba cũng rất

cưng cậu Ứng. Hồi dự tính vượt biên Ba cũng đã mời cậu cùng đi;

nhưng vì gia đình cậu không đồng ý nên cậu đã không đi.

Thỉnh thoảng Mẹ có gởi cho dì Sương một bưu kiện thuốc tây để dì có

đủ thuốc men săn sóc cho bé Du và bé Khang. Tý biết rằng ở xứ Việt

Nam của Tý có rất nhiều em bé bị bệnh mà không có thuốc. Bệnh ho,

bệnh cảm, bệnh tiêu chảy, bệnh sốt xuất huyết. Trẻ em ở Việt Nam rất

dễ bị bệnh sốt xuất huyết. hễ bị bệnh này mà không có thuốc thì coi

như là chết. Ba nói theo tài liệu thống kê của tổ chức Văn Hóa Liên

Hiệp Quốc (viết tắt là UNESCO) thì trong năm vừa qua đã có tới

mười lăm triệu trẻ em chết vì đói và vì thiếu thốn thuốc men. Tý chưa

thấy rõ mười lăm triệu là nhiều chừng nào nhưng Ba nói rằng nếu căn

cứ vào con số đó thì mỗi ngày tại các nước nghèo trên thế giới có tới

trên bốn mươi ngàn đứa trẻ dưới năm tuổi bị chết đói và chết vì thiếu

thuốc men. Tý rùng mình. Bé Du và bé Khang đều là hai đứa bé dưới

năm tuổi. Hai đứa em con dì ấy của Tý là những đứa trẻ may mắn bởi

vì chúng nó có thuốc men của Mẹ gởi về. Nhưng còn hàng triệu đứa

khác ở Việt Nam, ai mà gởi về cho chúng?

Ba đã tưới xong mấy vồng cải và bắt đầu ngồi xuống để nhổ bớt cỏ

giữa những hàng hẹ. Tý cũng ngồi nhổ cỏ với Ba. Ba nói:

– Gia đình mình may mắn lắm mới có thể gởi được thuốc men về

để giúp các trẻ em bên nhà, con biết không?

Tý chưa biết tại sao gởi thuốc về giúp trẻ con bên nhà là may mắn thì

Ba đã nói tiếp:

– Hồi còn ở Việt Nam, Ba và Mẹ đã làm việc rất cực nhọc mà cũng

không đủ để lo cho gia đình mình, nói gì có thể giúp cho ai.

Thuốc men cho các con và thuốc men cho bà ngoại nữa, đều do

cô Chín gởi từ bên này về. Hồi đó Ba đã làm nhiều nghề: nào

đóng sách, nào đi buôn chuối… cuộc sống chiếm hết thì giờ của

Ba. Khi mà mình đã không có thì giờ thì mình không thể lo lắng

và giúp đỡ cho những người khác. Ở bên này, tuy cũng làm việc

cực nhọc, nhưng Ba và Mẹ cũng có được chút thì giờ để lo cho

những người thân bên nhà. Làm được điều này, Ba cảm thấy vui

trong lòng lắm. Vì vậy mà Ba nói rằng gia đình mình may mắn.

May mắn vì có thể giúp đỡ được người khác…

Tý hiểu rồi. Lâu nay Ba và Mẹ không những đã gửi thuốc men về cho

dì Sương để dì săn sóc cho em Du và em Khang mà Ba và Mẹ còn gởi

thuốc về cho nhiều trẻ em đang bị đói nữa. Hồi gia đình Tý mới dọn

về đây, cô Chín có bàn với Ba, Mẹ và chú Dũng lập một tiểu ban để

giúp đỡ việc nuôi nấng trẻ em nghèo đói bên nhà. Tiểu ban này gọi là

Tiểu Ban Giúp Trẻ Em Ðói do Mẹ và chú Dũng trông coi, còn Ba và cô

Chín thì làm cố vấn và giúp đỡ. Ba nói với Tý là đói khát và bệnh tật

luôn luôn đi đôi với nhau, bởi vì thiếu ăn thì sinh ra đau ốm, và đã

đau ốm thì không làm lụng được cho nên lại sinh ra thiếu ăn thêm. Vì

vậy mà giúp cho trẻ em có cơm ăn cũng là giúp cho trẻ em tránh được

đau ốm. Như bé Du chẳng hạn. Sở dĩ nó ít đau ốm là vì nó tạm có đủ

ăn, và thức ăn của nó có đủ chất dinh dưỡng. Khi một đứa trẻ ăn

uống thiếu thốn và không có đủ chất dinh dưỡng thì nó cứ bèo nhèo

đau ốm hoài. Mẹ và chú Dũng lâu nay đã thường trực giúp được

mười bốn thiếu nhi đói bên nhà bằng cách gửi hàng hóa từ Pháp về,

và bên nhà đã đem các thức ấy đổi thành gạo để nuôi thiếu nhi. Sở dĩ

gia đình Tý có tiền mua các thức quà có thể biến thành gạo ấy là một

phần vì Ba quyết định bớt sự chi tiêu trong gia đình, một phần nhờ ở

sự đóng góp của các bạn của Ba và cô Chín. Chú Dũng cũng hăng hái

trong công việc này lắm. Có bao nhiêu tiền phụ cấp xã hội, chú đều bỏ

vào quỹ của Ủy Ban Giúp Trẻ Em Ðói hết. Ba đi lượm những thùng

giấy cạc tông và làm thành những cái hộp thật đẹp và thật chắc có thể

đựng được khoảng một hai kí lô hàng hóa. Trong mỗi cái hộp như

thế, Mẹ và chú Dũng bỏ vào một ít thuốc bổ, thuốc cảm và thuốc ho

để dành cho thiếu nhi được giúp đỡ. Số thuốc này chỉ mới chiếm một

phần tư hộp. Chỗ còn lại trong hộp, Mẹ và chú Dũng để vào các thứ

hàng hóa thông dụng để các bạn của Mẹ có thể đổi thành gạo, sách vở

và bút mực cho thiếu nhi học. Sau khi Mẹ và chú Dũng sắp thuốc vào

hộp, Ba đậy nắp hộp lại, dán kỹ, buộc dây, đề địa chỉ và dán tem.

Những hộp thuốc này được gởi về Việt Nam bằng máy bay. Nếu

người đi lãnh quà bên nhà là một người khéo tay thì số hàng hóa bán

được sẽ có thể nuôi thiếu nhi trong vòng ba tháng. Mỗi năm người ấy

nhận bốn bưu kiện của Mẹ và chú Dũng gửi.

Thỉnh thoảng Mẹ và chú Dũng lại để ra một ngày trọn để làm bưu

kiện. Kỳ nào Ba cũng phụ vào một tay. Có khi có cả cô Chín tới giúp.

Không khí vui lắm. Những lúc đó Tý giúp Mẹ bằng cách săn sóc cho

Chó Con để Mẹ rảnh tay làm việc. Ai cũng tỏ vẻ sung sướng vì được

giúp trẻ em đói bên nhà.

Tý sẽ không bao giờ quên những ngày tháng ở quê nhà. Mẹ nói hồi

Tý còn nhỏ, chưa bao giờ trong nhà mấy mẹ con bị thiếu thốn thức gì.

Ấy vậy mà khi lớn lên, Tý đã biết được một phần nào cái thiếu thốn

khó khăn của những đứa trẻ nghèo. Có nhiều bữa Tý đâu có cơm mà

ăn. Tý phải ăn bo bo. Tý “biết điều” hơn bọn gà của Tý ở bên Pháp. Có

nhiều bữa, để thay cơm, Ba cán bột, một thứ bột gì lạ lắm, làm thành

những cái bánh tai bèo để luộc chín mà ăn. Dì Sương biết được những

khổ cực ấy. Từ Bến Tre, dì lén lút mang lên một ít gạo, nhét vào túi áo

vài nắm, nhét vào trái dừa đã móc ruột vài lon. Người ta cấm đem

gạo và thịt từ miền quê lên thành phố, dù là để bán hoặc là để ăn. Dì

kể chuyện có một bà khách đồng hành cột gạo vào bụng giả làm

người có mang. Qua trại kiểm soát, mấy người cán bộ khám phá ra

được chuyện ấy, bắt bà tháo gạo ra. Bà khóc, nói rằng bảy đứa con của

bà ở thành phố đang đói, bà phải lén về quê mua gạo đem lên cho

con. Bà năn nỉ mấy, người cán bộ cũng không cho bà đem gạo đi. Bà

bảo nếu không cho bà đem gạo về nuôi con, chắc bà phải tự tử chết.

Người cán bộ vẫn cứng rắn. Cuối cùng, thất chí quá, bà lao mình vào

một chiếc xe hơi đang chạy qua và bị xe cán chết.

Dì Sương cũng nói là trên một chuyến xe khác, dì thấy có một bà cột

thịt heo vào bụng, giả làm người có chửa, để đem thịt về thành phố

bán. Mưu mẹo của bà này cũng bị phát giác, và thịt heo của bà bị tịch

thâu._

Hiểu Thương

 

 

                    Em nói một lời không hiểu thương

                    Vô tình làm vỡ giọt tâm trong

                    Chút ân, chút nghĩa chị vun bón

                    Chút hiểu, chút thương anh ươm mầm

 

                    Anh Chị nói lời không Hiểu Thương

                    Em như trẻ nhỏ lạc giữa đường

                    Tâm linh bến đỗ là đâu nhỉ?

                    Gạn lại dòng sông cho nắng lên

 

                    Tôi nói một lời không Hiểu Thương

                    Tôi thấy Thầy tôi bước một mình

                    Đất Mẹ lặng im độ lượng hứng

                    Những ăn năn về giữa mắt trong

 

          Tôi cũng là em, cũng là anh

          Xin cho lầm lỗi chút không gian

          Cho khổ đau được tự nhiên biểu hiện

          Để em tôi được thắp sáng đong đầy.

 

          Chị cũng là tôi, cũng là em

          Chọn đời thanh đạm làm quê hương

          Chọn lắng nghe sâu để chuyển hóa

          Chọn thương yêu để bước vào đời

 

          Thôi hãy thứ tha và lãng quên

          Mây về núi ngủ thuở hồng hoang

          Trời xanh mây trắng tự nguyên thủy

          Mãi học hiểu thương mỗi mỗi ngày.

 

 

Chân Hạ Nghiêm

Sen búp từng cánh hé

(Trích từ cuốn “Sen búp từng cánh hé” của Sư Ông Làng Mai)

 

 

Trong truyền thống đạo Bụt, thiền tập có công năng giúp ta khôi phục sự toàn vẹn của con người ta, giúp ta trở nên tươi mát, ổn định, chăm chú để ta nhìn sâu vào bản thân và vào hoàn cảnh mà thấy rõ được thực tại của bản thân ấy và hoàn cảnh ấy. Cái thấy có khả năng giúp ta vượt thoát khổ đau và ràng buộc. Một khi đã trở nên thảnh thơi hơn và an lạc hơn, chúng ta sẽ không còn làm khổ kẻ khác bằng cách hành xử và nói năng của chúng ta nữa, và chúng ta có thể bắt đầu chuyển hóa hoàn cảnh chung quanh và giúp kẻ khác được thảnh thơi và an lạc hơn. Thiền tập có tác dụng trị liệu và chuyển hóa. Để có thể thực tập nhìn sâu và lắng nghe, chúng ta phải biết cách thức khôi phục sự toàn vẹn của con người chúng ta, biết cách thức trở thành tươi mát, ổn định và chăm chú. Năng lượng được sử dụng để làm công việc ấy là chánh niệm.

Chánh niệm có khả năng giúp ta ý thức được những gì đang có mặt, đang xảy ra trong ta và chung quanh ta. Chánh niệm chiếu rọi ánh sáng trên đối tượng thiền quán, dù đối tượng ấy là một tri giác, một cảm thọ, một động tác, một phản ứng hoặc một hiện tượng sinh lý hoặc vật lý. Chánh niệm lại có khả năng nhìn sâu và hiểu thấu được tự tính và gốc rễ của đối tượng quán chiếu. Trong quá trình thiền quán, năng lượng chánh niệm được thường trực phát khởi, nuôi dưỡng và làm lớn mạnh. Chánh niệm giúp ta tiếp xúc thật sự với sự sống, nghĩa là với tất cả những gì đang xảy ra trong hiện tại, giúp ta sống sâu sắc cuộc đời của chúng ta, giúp chúng ta thực tập quán chiếu để nhìn sâu và lắng nghe. Hoa trái của sự thực tập nhìn sâu và lắng nghe là sự kiến đạo, là giác ngộ, là giải thoát.

Trong quá trình thực tập, những sợi dây ràng buộc (triền sử) từ từ được tháo mở, những nội kết khổ đau như sợ hãi, hận thù, giận dữ, nghi kỵ, đam mê,… từ từ được chuyển hóa, biên giới chia cách từ từ được tháo gỡ, và liên hệ giữa ta và người, giữa ta và thiên nhiên trở nên dễ dàng, sự thảnh thơi và niềm vui sống tự nhiên xuất hiện, và hành giả cảm thấy như là một đóa sen búp đang từ từ hé nở. Thật ra, con người cũng là một loại hoa và có thể nở ra đẹp đẽ và tươi mát như bất cứ một loại hoa nào. Bụt là một đóa hoa người đã mãn khai, vô cùng tươi mát và xinh đẹp. Tất cả chúng ta đều là Bụt sẽ thành. Vì vậy cho nên tại các trung tâm thiền tập, mỗi khi thiền sư gặp gỡ nhau, họ thường chấp tay thành búp sen để chào nhau. “Sen búp xin tặng người, Một vị Bụt tương lai”, đó là bài kệ được sử dụng trong khi chào nhau bằng chánh niệm. (Bạn hãy nhớ thở vào khi đọc “Sen búp xin tặng người” và thở ra khi đọc “một vị Bụt tương lai”. Và hãy mỉm cười khi thở ra. Bạn sẽ có dáng dấp của một bông sen hơn).

Không có minh sư và không có tăng thân ta cũng có thể thực tập một mình. Minh sư là một vị thầy đã có kinh nghiệm thực tập và tu chứng. Tăng Thân là đoàn thể của những người cùng thực tập chung với nhau và phương pháp thực tập có thể nói là gần giống như nhau. Cũng vì tất cả một người cùng thực tập nên bạn thấy thực tập rất dễ. Năng lượng của tâm thức cộng đồng rất mạnh, có thể yểm trợ ta rất nhiều, nếu ta có cơ hội thực tập trong một tăng thân. Ta cũng có thể học được kinh nghiệm của mỗi thành viên ấy. Có nhiều cái ta không làm được khi ta ở một mình, nhưng trong môi trường tăng thân ta lại làm được dễ dàng. Những ai đã từng thực tập với một tăng thân đều đã nhận thấy điều đó.

Nếu bạn chưa có cơ hội gặp gỡ một vị minh sư và một tăng thân thì tập sách này sẽ có thể giúp bạn trong buổi ban đầu. Trong sách có nhiều bài thiền tập có hướng dẫn, tất cả đều xuất phát từ các minh sư và các tăng thân trong lịch sử. Trong khi thực tập bạn sẽ có cảm giác được yểm trợ phần nào bởi các vị minh sư và các tăng thân.

Thực tập một số bài trong sách, bạn sẽ có thể tạo ra năng lượng của chánh niệm trong bạn và bạn sẽ trở nên tươi mát hơn, chăm chú hơn và có nhiều niềm vui hơn trong cuộc sống hằng ngày. Và lúc ấy bạn sẽ có nhiều cơ hội hơn để gặp gỡ một minh sư hay một đoàn thể tăng thân. Có thể là vị minh sư ấy hoặc tăng thân ấy đã có mặt sát bên bạn nhưng bạn chưa có cơ hội tiếp xúc. Sách này có thể giúp bạn gặp được thầy và được tăng thân. Xin bạn hãy vững tâm thực tập theo sách.

Trong truyền thống đạo Bụt, tăng thân được xem là một viên ngọc quý trong số ba viên ngọc quý là Bụt, Pháp, và Tăng. Tam bảo đã có mặt ngay trong lòng bạn. Tăng Bảo trong lòng bạn sẽ dẫn bạn tới tăng thân trong vùng bạn cư trú. Dù biết rằng tất cả tùy thuộc nơi năng lượng chánh niệm của bạn, chúng tôi vẫn chúc bạn “may mắn” vì chúng ta, ai cũng là đóa sen sắp nở, một vị Bụt tương lai.

 

Thiền duyệt

 

Bài Tập Thứ Nhất 

Thở vào, tâm tĩnh lặng / Tĩnh lặng
Thở ra, miệng mỉm cười / Mỉm cười

Thở vào, an trú trong hiện tại / Hiện tại
Thở ra, giây phút đẹp tuyệt vời / Tuyệt vời

Nhiều người bắt đầu thực tập thiền bằng bài tập này. Có nhiều người dù đã thực tập bài tập này nhiều năm vẫn còn tiếp tục thực tập, bởi vì nó tiếp tục đem tới nhiều lợi lạc cho hành giả. Thở vào, ta chú ý tới hơi thở: hơi thở vào tới đâu ta cảm thấy tĩnh lặng tới đó, giống như khi ta uống nước mát, nước tới đâu thì ruột gan ta mát tới đó. Trong thiền tập, hễ tâm tĩnh lặng thì thân cũng tĩnh lặng, bởi vì hơi thở có ý thức đem thân và tâm về một mối. Khi thở ra, ta mỉm cười, để thư giãn tất cả các bắp thịt trên mặt (có khoảng 300 bắp thịt trên mặt ta). Thần kinh ta cũng được thư giãn khi ta mỉm cười. Nụ cười là kết quả của sự tĩnh lặng do hơi thở đem lại, mà cũng vừa là nguyên nhân giúp ta trở nên thư thái và cảm thấy sự an lạc phát hiện rõ ràng thêm.

Hơi thở thứ hai đem ta về giây phút hiện tại, cắt đứt mọi ràng buộc với quá khứ và mọi lo lắng về tương lai, để ta có thể an trú trong giây phút hiện tại. Sự sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại, vì vậy ta phải trở về sự sống chân thật. Biết mình đang sống và biết mình có thể tiếp xúc với tất cả mầu nhiệm của sự sống trong ta và xung quanh ta. Đó là một phép lạ. Chỉ cần mở mắt hoặc lắng nghe là ta tiếp nhận được những mầu nhiệm của sự sống. Vì vậy cho nên giây phút hiện tại có thể là giây phút đẹp nhất và tuyệt vời nhất, nếu ta biết thực tập hơi thở thứ nhất nhiều lần trước khi đi sang hơi thở thứ hai.

Bài này có thể thực tập bất cứ ở đâu: trong thiền đường, trên xe lửa, trong nhà bếp, ngoài bờ sông, trong công viên, trong các tư thế đi, đứng, nằm, ngồi và ngay cả đang lúc làm việc.

 

 

Bài Tập Thứ Hai 

Thở vào, biết thở vào / Vào
Thở ra, biết thở ra / Ra

Hơi thở vào càng sâu / Sâu
Hơi thở ra càng chậm / Chậm

Thở vào, ý thức toàn thân / Ý thức
Thở ra, buông thư toàn thân / Buông thư

Thở vào, an tịnh toàn thân / An tịnh
Thở ra, lân mẫn toàn thân / Lân mẫn

Thở vào, cười với toàn thân / Cười
Thở ra, thanh thản toàn thân / Thanh thản

Thở vào, cười với toàn thân / Cười
Thở ra, buông thả nhẹ nhàng / Buông thả

Thở vào, cảm thấy mừng vui / Mừng vui
Thở ra, nếm nguồn an lạc / An lạc

Thở vào, an trú hiện tại / Hiện tại
Thở ra, hiện tại tuyệt vời / Tuyệt vời

Thở vào, thế ngồi vững chãi / Vững chãi
Thở ra, an ổn vững vàng  / An ổn

Bài này tuy dễ thực tập nhưng hiệu quả thì to lớn vô cùng. Những người mới bắt đầu thiền tập nhờ bài này mà nếm được sự tịnh lạc của thiền tập. Tuy nhiên, những người đã thiền tập lâu năm cũng vẫn cần thực tập bài này để tiếp tục nuôi dưỡng thân tâm, để có thế đi xa.

Hơi thở đầu (vào, ra) là để nhận diện hơi thở. Nếu đó là hơi thở vào thì hành giả biết đó là hơi thở vào. Nếu đó là hơi thở ra thì hành giả biết đó là hơi thở ra. Thực tập như thế vài lần tự khắc hành giả ngưng được sự suy nghĩ về quá khư, về tương lai và chấm dứt mọi tạp niệm. Sở dĩ được như thế là vì tâm hành giả đã để hết vào hơi thở để nhận diện hơi thở, và do đó tâm trở thành một với hơi thở. Tâm bây giờ không phải là tâm lo lắng hoặc tâm tưởng nhớ mà chỉ là tâm hơi thở (the mind of breathing).

Hơi thở thứ hai (sâu, chậm) là để thấy được rằng hơi thở vào đã sâu hơn và hơi thở ra đã chậm lại. Điều này xảy ra một cách tự nhiên mà không cần sự cố ý của hành giả. Thở và ý thức mình đang thở (như trong hơi thở đầu) thì tự nhiên hơi thở trở nên sâu hơn, nghĩa là có phẩm chất hơn. Mà khi hơi thở trở nên điều hòa, an tịnh và nhịp nhàng thì hành giả bắt đầu có cảm giác an lạc trong thân và trong tâm. Sự an tịnh của hơi thở kéo theo sự an tịnh của thân và tâm. Lúc bấy giờ hành giả bắt đầu có pháp lạc, tức là thiền duyệt.

Hơi thở thứ ba (ý thức toàn thân, buông thư toàn thân): Hơi thở vào đem tâm về với thân và làm quen lại với thân. Hơi thở là cây cầu bắc từ thân sang tâm và từ tâm sang thân. Hơi thở ra có công dụng buông thư (relaxing) toàn thân.
Trong lúc thở ra hành giả làm cho các bắp thịt trên vai, trong cánh tay và trong toàn thân thư giãn ra để cho cảm giác thư thái đi vào trong toàn thân. Nên thực tập hơi thở này ít ra là mười lần.

Hơi thở thứ tư (an tịnh toàn thân, lân mẫn toàn thân): Bằng hơi thở vào, hành giả làm cho an tịnh lại sự vận hành của cơ thể (Kinh Niệm Xứ gọi là an tịnh thân hành); bằng hơi thở ra hành giả tỏ lòng lân mẫn săn sóc toàn thân. Tiếp tục hơi thở thứ ba, hơi thở này làm cho toàn thân lắng dịu và giúp hành giả thực tập đem lònh từ bi mà tiếp xử với chính thân thể của mình.

Hơi thở thứ năm (cười với toàn thân, thanh thản toàn thân): Nụ cười làm thư giãn tất cả các bắp thịt trên mặt (có đến hàng trăm bắp thịt trên mặt). Hành giả gửi nụ cười ấy đến với toàn thân như một giòng suối mát. Thanh thản là làm cho nhẹ nhàng và thư thái (easing). Hơi thở này cũng có mục đích nuôi dưỡng toàn thân bằng lòng lân mẫn của chính hành giả.

Hơi thở thứ sáu (cười với toàn thân, buông thả nhẹ nhàng): Tiếp nối hơi thở thứ năm, hơi thở này làm cho tan biến tất cả những gì căng thẳng (tentions) còn lại trong cơ thể.

Hơi thở thứ bảy (cảm thấy mừng vui, nếm nguồn an lạc): Trong khi thở vào hành giả cảm nhận nỗi mừng vui thấy mình còn sống, khoẻ mạnh, có cơ hội săn sóc và nuôi dưỡng cơ thể lẫn tinh thần mình. Hơi thở ra đi với cảm giác hạnh phúc. Hạnh phúc luôn luôn đơn sơ và giản dị. Ngồi yên và thở có ý thức, đó có thể là một hạnh phúc lớn rồi. Biết bao nhiêu người đang xoay như một chiếc chong chóng trong đời sống bận rộn hàng ngày và không có cơ hội nếm được pháp lạc này.

Hơi thở thứ tám (an trú hiện tại, hiện tại tuyệt vời): Hơi thở vào đưa hành giả về an trú trong giây phút hiện tại. Bụt dạy rằng quá khứ đã đi mất, tương lai thì chưa tới, và sự sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại mà hành giả tiếp xúc được tất cả những mầu nhiệm của cuộc đời. An lạc, giải thoát. Phật tính và niết bàn…tất cả đều chỉ có thể tìm thấy trong giây phút hiện tại. Hạnh phúc nằm trong giờ phút hiện tại. Hơi thở vào giúp hành giả tiếp xúc với những mầu nhiệm ấy. Hơi thở ra đem lại rất nhiều hạnh phúc cho hành giả, vì vậy hành giả nói: hiện tại tuyệt vời.

Hơi thở thứ chín (thế ngồi vững chãi, an ổn vững vàng): Hơi thở này giúp hành giả thấy được thế ngồi vững chãi của mình. Nếu thế ngồi chưa được thẳng và đẹp thì sẽ trở nên thẳng và đẹp. Thế ngồi vững chãi đưa đến cảm giác an ổn vững vàng trong tâm ý. Chính trong lúc ngồi như vậy mà hành giả làm chủ được thân tâm mình, không bị lôi kéo theo thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp có tác dụng làm chìm đắm.

Lời của một giọt sương

 

Ngàn năm giọt giọt tinh khôi

Ngàn năm đọng mật đất trời trong veo

 

Tôi đã đến trên mỗi cành lá biếc

Những bông hoa, ngọn cỏ sớm an lành

Sợi tơ mỏng, thảm lá mục an nhiên

Nghe đất mẹ từ hòa ca trong gió

 

Giọt bình yên mang ngàn đời hơi thở

Của bao la trời đất giữa luân hồi

Mát lành ở trong tôi

Thảnh thơi cười dâng hiến

 

 

Dành tặng bạn một phút giây mầu nhiệm

Lắng suy tư sau giấc ngủ đêm dài

Mở mắt chạm ban mai

Thở và cười cùng tình tôi biêng biếc

 

Soi vào tôi, và rồi bạn sẽ gặp

Cánh hoa thơm đêm trước đã cựa mình

Lấp lánh một vầng trăng

Con dế khuya kéo vĩ cầm ru gió

 

Soi vào tôi, bạn biết bạn đang thở

Biết mặt trời lấp ló sắp vươn lên

Biết nhẹ nhàng thầm lặng tôi biến tan

Nhưng tình tôi vẫn còn trong đôi mắt

 

Tôi đã đến, phút giây này rất thật

Tôi đã đi như trời đất xoay vần

Một nụ cười bé nhỏ giữa nhân gian

Dành tặng bạn khi bình minh thức giấc.

 

Tôi đi nhé, khẽ khàng tan vào đất

Tan vào hoa, vào cỏ, nắng mai hiền

Tan vào bạn – từng hơi thở an nhiên

Có trong nhau từ ánh nhìn đang sống.

 

Hát lên đi, ngày hôm nay đẹp lắm

Bước thong dong trên từng phút vô thường

 

 

(Lương Đình Khoa)