Mười năm tiếp nối con đường

 
Sau khi thọ giới lớn, Sư Ông thường khuyến khích con về lại quê hương hoằng pháp. Lần đầu tiên con về Thái Lan hướng dẫn khóa tu là vào khoảng năm 2002. Bắt đầu từ đó, năm nào quý thầy, quý sư cô từ Làng Mai Pháp cũng đều về đây để giảng dạy. Năm 2007, ban tổ chức Đại lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc tại MCU (Mahachulalongkornrajavidyalaya University) đã thỉnh mời Sư Ông cho một bài diễn thuyết chính tại hội trường Liên Hiệp Quốc Châu Á Thái Bình Dương ở Bangkok. Trong chuyến đi này, Sư Ông đã trực tiếp hướng dẫn một khóa tu, một ngày quán niệm và thuyết giảng bốn buổi pháp thoại công cộng tại nhiều địa điểm khác nhau ở Bangkok, Chiang Mai, Nakhon Pathom. Thiền sinh Thái Lan rất xúc động và hạnh phúc khi được tiếp xúc với giáo pháp của Sư Ông. Trước đây, họ đã từng mong muốn có một trung tâm thực tập chánh niệm theo pháp môn Làng Mai tại Thái Lan để có nhiều cơ hội tiếp xúc và tu học thường xuyên cùng quý thầy, quý sư cô. Niềm mong muốn này lại càng trở nên mãnh liệt hơn sau khi họ được gặp Sư Ông. Đó là động lực chính thức xúc tiến việc thành lập một tu viện tại Thái Lan vào năm 2009.

Để Bụt lo

Ngày 09 tháng 09 năm 2009, năm thầy và năm sư cô đầu tiên từ tu viện Bát Nhã đã đặt chân đến đất nước Thái Lan để xây dựng trung tâm thực tập (gồm quý thầy Pháp Toàn, thầy Pháp Toại, thầy Pháp Anh, thầy Pháp Tánh, thầy Pháp Xứ và quý sư cô Hạnh Nghĩa, sư cô Tịnh Chánh, sư cô Dung Nghiêm, sư cô Cẩm Nghiêm, sư cô Đài Nghiêm). Lúc đó, quý thầy được ở tạm trên miếng đất của mẹ con ở Parchong và quý sư cô cũng ở gần đó trong một khu nhà rộng lớn với rất nhiều cây ăn trái của bác Bun Lư. Bác là một cảnh sát trưởng đã nghỉ hưu, hiền lành, tốt bụng và là một người bạn thân quý lâu năm của gia đình con.

Ngay sau khi quý thầy, quý sư cô đến đây, con cùng với các tình nguyện viên cư sĩ đã tìm cách xin visa dài hạn cho quý thầy, quý sư cô. Nhưng Ban tôn giáo đã từ chối giúp đỡ vì mình không thuộc vào truyền thống Theravada (Nam tông – truyền thống Phật giáo tại Thái) và cũng vì có các tỳ kheo ni trong giáo đoàn. Bộ ngoại giao cũng không thể yểm trợ gì vì mọi vấn đề của người xuất gia phải đi qua Ban tôn giáo để được giải quyết. Cuối cùng, người đã giúp các chị em con là thầy Wo (Phra Medhi Vajirodom). Thầy là một thầy tu trẻ nổi tiếng ở Thái Lan, người đã từng đọc sách của Sư Ông và đã xem Sư Ông như một vị thầy của mình. Thầy Wo đã chỉ cho chị em con tìm đến trường đại học Phật giáo hoàng gia Thái Lan – MCU. Chúng con và các tình nguyện viên liền đi đảnh lễ thầy hiệu trưởng – Ngài Phra Brahmapundit. Khi nghe chúng con chia sẻ về khó khăn xin visa cho quý thầy, quý sư cô Việt Nam, thầy hiệu trưởng rất hiểu và hoan hỷ yểm trợ ngay. Thầy hướng dẫn chúng con đến gặp thầy phó hiệu trưởng – Ngài Phra Sophonvachira Phorn. Và nhờ vậy mà năm thầy, năm sư cô đầu tiên đến Thái đã xin được visa dài hạn. Làng Mai Thái Lan đã được trường đại học MCU đỡ đầu từ đó và thầy Wo là một trong những người có công mở đường trong bước đầu hình thành Làng Mai ở Thái Lan.
 

 
Đúng 18 ngày sau, ngày 27 tháng 9, tai nạn Bát Nhã xảy ra và 400 người xuất sĩ trẻ bị đuổi đi. Đa số các anh chị em mình chạy qua tị nạn nơi chùa Phước Huệ gần đó và bắt đầu vào giữa tháng mười một, rất nhiều quý thầy, quý sư cô sang Thái Lan tị nạn. Từ tháng 12 năm 2009 đến tháng 1 năm 2010, mỗi ngày đều có từ mười đến hai mươi sư em sang Thái. Điện thoại mở 24/24 để luôn sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi gọi thình lình từ phi trường. May mắn là đa số những công an hải quan đều thương và rất kính trọng người xuất sĩ bởi vì Thái Lan là một nước Phật giáo. Các tình nguyện viên của mình cũng luôn trong tinh thần “chạy” để đặt xe cho những chuyến đi đột xuất, đôi khi vào lúc hai, ba giờ sáng. Đến Thái, mỗi tháng quý thầy, quý sư cô lại phải thay phiên nhau đi ra các biên giới, các cửa khẩu xin đóng dấu để được phép ở thêm. Mỗi lần như vậy, các tình nguyện viên luôn đi theo để giúp đỡ đoàn. Tuy nhiên, đoàn cũng gặp phải không ít khó khăn: có nhiều nơi, công an đặt rất nhiều câu hỏi; có nơi họ cho, có nơi không; tại cùng một nơi, có khi lúc này họ cho rồi lúc khác thì không. Thế là chúng con phải cầu cứu sự yểm trợ từ khắp mọi nơi. Có những lúc không xoay sở được, chúng con đành phải “thả”, chỉ biết ngồi thở và “để Bụt lo”. Mọi việc như nằm ngoài khả năng của mình rồi! Nhưng thật may, những vị “bồ tát” đã lần lượt xuất hiện và sẵn sàng tìm cách giúp đỡ mình vượt qua hết khó khăn này đến trở ngại khác. Sự thực tập “để Bụt lo” quả thật là mầu nhiệm!

Trong giai đoạn đó, khó khăn đã đến gần như mỗi ngày và con chỉ tâm niệm là làm sao cho hôm nay tốt nhất thôi. Ngay những chuyện đơn giản nhất là chỗ ăn, chỗ ở cũng có thể trở thành một vấn đề khó khăn khi người cứ đến liên tục, có khi mấy chục quý thầy, quý sư cô cùng đến một lúc. Trên miếng đất của mẹ con chỉ có những chiếc lều và một thiền đường. Thiền đường chưa có nền xi-măng nên đại chúng phải ngồi thiền trên các giường tre đóng đinh. Ngồi thiền xong đứng dậy, quý thầy thường bị đinh làm rách quần. Đó là lý do vì sao sau này thiền đường được mang tên là thiền đường Hội Ngàn Đinh. Các tình nguyện viên khắp nơi đang kêu gọi sự giúp đỡ từ trong nước. Các tăng thân trên thế giới như Pháp, Đức, Mỹ, Canada… rồi đến cả Việt Nam cũng đều hướng về yểm trợ chúng con. Mỗi khi ngân sách sắp cạn và chúng con không biết ngày mai sẽ ra sao thì lại xuất hiện những vị bồ tát đến cúng dường đủ để trang trải tiếp. Mỗi ngày đều hiện ra những khó khăn mới, những thử thách mới cho nên lúc đó chúng con thực sự chỉ biết sống với ngày hôm nay, an trú hay nhất trong ngày hôm nay thôi và để quý thầy, quý sư cô vẫn có cơm ăn, chỗ ở và tăng thân mình vẫn còn được cùng nhau tu học. Sống được hôm nay thì sẽ có ngày mai.

Bụt Tổ đã sắp đặt

Một hôm, bác Bun Lư có kể lại rằng: một năm trước khi quý thầy, quý sư cô tới Thái Lan bác đã cho sửa chữa lại hết khu nhà của bác. Lúc đó chính bác cũng không biết lý do tại sao bác lại muốn sửa, bác chỉ biết là bác phải sửa thôi. Và khi pháp nạn Bát Nhã xảy ra, thấy quý thầy, quý sư cô phải sang Thái Lan, bác mới hiểu. Phước đức của bác Bun Lư cũng đã giúp cho quý thầy, quý sư cô sống bình an và an toàn trên mảnh đất mới. Đúng là Bụt Tổ đã sắp đặt.

Khi pháp nạn Bát Nhã xảy ra, quý thầy quý sư cô phải rời khỏi tu viện và chia nhau ra đi trú ẩn khắp nơi. Vì sự an toàn và để được tiếp tục tu tập với tăng thân, quý thầy, quý sư cô đã phải rời khỏi nước mình đột xuất. Có phải là khi sang Thái Lan, các anh chị em mình có cảm giác như phải đi tị nạn, cảm thấy bị tổn thương, phải cần thời gian và không gian để được ôm ấp và trị liệu không? May mắn thay, Thái Lan là một nước Phật giáo, người dân rất hiền lành và Bụt Tổ nơi đây luôn bảo hộ, yểm trợ người tu.

Vào tháng 09 năm 2010, con được tham dự khoá tu ở Mã Lai trong chuyến đi hoằng hóa tại khu vực Đông Nam Á của Sư Ông. Con đã hỏi Sư Ông với niềm trăn trở của mình: “Bạch Thầy con phải làm sao để các anh chị em của con xóa đi mặc cảm mình là người tị nạn”. Nghe câu hỏi này, Sư Ông liền trả lời: “Con tổ chức khóa tu cho Thầy qua Thái mỗi năm đi”. Trong chuyến hoằng pháp này, Sư Ông cũng có qua Thái để gặp các sư con, hướng dẫn khóa tu và cho một buổi pháp thoại công cộng tại trường đại học MCU. Năm sau, vào mùa xuân 2011, Sư Ông đã gặp và trò chuyện với thầy hiệu trưởng và phó hiệu trưởng của trường MCU.
 

 
Ngay sau buổi gặp gỡ, vào ngày 26 tháng 3 năm 2011, Làng Mai và trường đại học MCU đã ký kết văn bản Hiệp ước đối tác, một sự cộng tác giữa hai bên trong việc trao đổi sinh viên và phát triển ngành Phật Học Ứng Dụng. Từ đó, quý thầy, quý sư cô được ở lại đất Thái một cách dễ dàng hơn, được về thành phố Hồ Chí Minh làm visa một năm. Suốt một năm rưỡi khi chưa có sự bảo trợ của MCU, đại chúng mình đã phải chịu khó đi ra, đi vào biên giới Campuchia – Thái Lan để được phép ở lại từng tháng một. Số tiền thuê xe để chở mọi người đi làm giấy tờ, tính ra chắc cũng đủ để mua được một chiếc xe hơi. Vì vậy tăng thân quyết định khi nào có đủ tiền viện trợ từ khắp nơi gởi về là sẽ mua hẳn luôn một chiếc xe mới và thuê tài xế lái.

Trong thời gian đầu, con đã phải đứng ra lãnh nhiều công việc như tri xa, tri visa, tri văn phòng, thủ quỹ, ngoại giao… Đã nhiều lần, con cảm thấy khá căng thẳng. Với cảm giác như đang bị bỏ rơi, con luôn cảm thấy mình rất cần sự yểm trợ của tăng thân từ khắp nơi. Con đã từng thưa với Sư Ông lần đầu khi Sư Ông đến Thái Lan sau chuyện Bát Nhã: “Thưa Sư Ông, chính tại thiền đường này, chúng con đã ngồi thành vòng tròn và chia sẻ cùng nhau với biết bao nhiêu là nước mắt”. Ai cũng đang bị tổn thương! Người lớn về đây đầu tiên để yểm trợ trong giai đoạn khó khăn đó là sư cô Đoan Nghiêm. Sư cô là một sư cô lớn trong chúng và đã thường xuyên chỉ dạy con khi còn ở Pháp. Sư cô về đây là một niềm hạnh phúc và an ủi rất lớn cho con. Sau đó, quý sư cô lớn khác cũng bắt đầu lần lượt về giúp đỡ như sư cô Hoa Nghiêm, sư cô Kính Nghiêm, sư cô Đàn Nghiêm… Trong lòng con dâng lên một niềm biết ơn sâu sắc vì sự có mặt của quý sư cô trong giai đoạn ban sơ này. Tuy sống trong một hoàn cảnh rất khó khăn và vất vả nhưng đã để lại rất nhiều kỷ niệm vui, tình huynh đệ, chị em lại thêm đoàn kết và gắn bó keo sơn với nhau hơn.
 

 
Khi mọi việc đã ổn định, việc tìm mua đất đã được triển khai và xúc tiến để đại chúng có nơi ở cố định. Các thành viên cư sĩ của tổ chức Làng Mai Thái Lan cùng với quý thầy, quý sư cô đi xem đất mỗi tuần hai, ba lần. Trong vòng chín tháng, mình đều đến xem hầu hết vùng đất đai gần đó để hỏi mua. Nhưng việc mua đất đã không dễ dàng mà còn khá phức tạp nữa. Có một miếng đất mình ưng ý thì lại không có giấy tờ hợp pháp, hoặc môi trường xung quanh bị ô nhiễm, hoặc chủ đất đổi ý không bán hoặc lên giá… Có những mảnh đất dường như mình sắp mua được rồi nhưng lại có những chuyện xảy ra ngoài dự tính. Chỉ còn một tháng nữa là Sư Ông trở lại Thái Lan rồi mà mình vẫn chưa tìm được miếng đất nào phù hợp. Một ngày nọ, Pi Nuch – thủ quỹ của tổ chức Làng Mai Thái Lan lúc đó – tình cờ gặp một người bạn đồng tu và chia sẻ về việc mình đang tìm mua đất. May thay, bạn của Pi Nuch có biết một người đang sở hữu một miếng đất nằm trong vòng tay dãy núi Khao Yai. Ngay ngày hôm sau, mình đã tìm đến miếng đất này. Lúc mới tới xem, các thành viên của tổ chức Làng Mai Thái Lan chỉ thấy toàn là đất đá nên hơI e ngại để mời quý thầy, quý sư cô tới xem thử. Nhưng khi đến, tất cả quý thầy, quý sư cô đều rất thích cảnh thiên nhiên rộng lớn và hùng vĩ nơi đây. Chỉ có một câu hỏi mà ai cũng thắc mắc là đất đá như vậy thì có xây nhà được không. Thế là một nhà khảo cổ và các kiến trúc sư được mời đến xem xét. Những chuyên gia này cho biết mình không cần lo lắng về vật liệu làm móng cho việc xây nhà nữa vì đã có lớp đá quý, rất rắn chắc, tuổi đời khoảng 240 triệu năm, có mặt trên trái đất trước con người.

Những miếng đất gần núi Khao Yai giá rất đắt, vì vậy trước đó, tăng thân đã không bao giờ dám mơ tưởng đến. Nhưng không ngờ là bác chủ đất này đã từng đọc tác phẩm Giận của Sư Ông và bác rất thích quyển sách này. Ba mẹ của bác đã lớn tuổi và đang mắc bệnh nên bác muốn làm việc tốt, tạo thêm phước đức cho gia đình. Và bác đã quyết định bán miếng đất cho tăng thân mình. Trong suốt chín tháng, mình đi tìm mua đất mỗi tuần ở những nơi mà họ giăng bảng bán, nhưng cuối cùng, mình lại mua được một miếng đất mà chủ đất không có ý định bán. Thế mới thấy rằng có phải mọi chuyện cũng là do Bụt Tổ sắp đặt không chứ?

Cuối tháng 10 năm 2010, hai tuần trước khi Sư Ông về, việc mua đất đã hoàn tất nhưng mình chỉ có đủ tiền để trả đặt cọc. Mình đã phải xin họ thêm sáu tháng để quyên góp từ khắp nơi, từ các khóa tu và từ tăng thân Mã Lai. Ấy vậy mà đến tháng giêng năm sau, mình đã kiếm được một số tiền lớn như thế. Một trung tâm đã chính thức được thành lập.
 

 
Sau này, các thành viên của tổ chức Làng Mai Thái Lan đã nói với con:

“Có một điều mà chúng con học được từ sư cô là niềm tin (Faith). Khi mua mảnh đất này, trong ngân hàng, mình cũng không có đủ tiền đặt cọc nữa và mình đã phải năn nỉ chủ đất cho mình đặt cọc ít lại”. Lúc đó, con chỉ tự nói với mình: “Just Trust! Hãy có niềm tin nơi tăng thân và phước đức của Sư Ông”. Vì con đã đi qua những giai đoạn khó khăn với Bát Nhã, với chuyện visa Thái Lan nên con chỉ biết đặt niềm tin nơi con đường mình đang đi. Mọi chuyện đã có Bụt Tổ sắp đặt, nhân duyên sẽ tới vì phước đức của Sư Ông, của tăng thân, của đất nước Thái Lan. Tấm lòng người dân Thái Lan thấm nhuần giáo lý Phật giáo sẽ luôn yểm trợ cho tăng thân. Nếu mình tu hết lòng ngày hôm nay thì mình sẽ có ngày mai. Những gì tăng thân mình đang có hôm nay không phải do một cá nhân nào có thể tạo dựng được. Mình luôn biết ơn tất cả, biết ơn tăng thân khắp nơi, gia tài của tổ tiên đất nước ở đây và những người đầu tiên đã đến xây dựng tăng thân trong một hoàn cảnh thiếu thốn và khó khăn nhất.

Đây là đôi dòng tâm sự chia sẻ từ những trải nghiệm thực, một chặng đường mười năm Làng Mai Thái Lan đã đi qua. Ngày hôm nay được làm từ chất liệu của những tháng ngày vất vả đầu tiên để mình trân quý, biết ơn, sống và tu học cho có thật nhiều hạnh phúc trên thực địa xinh đẹp này.
 

Chân Linh Nghiêm

Hạnh phúc và sức khoẻ tinh thần trong trường học

(Trích từ cuốn “Thầy cô giáo hạnh phúc sẽ thay đổi thế giới” – Sư Ông Làng Mai và Katherine Weare)

 

 

Hạnh phúc và sự khoẻ mạnh về tinh thần (well-being) là đề tài càng ngày càng được công nhận chính thức để đưa vào lớp học cho các học sinh nghiên cứu. Một phần là vì ngày càng có nhiều căn cứ khoa học chứng minh tầm quan trọng của đề tài này; mặt khác, vấn đề hạnh phúc và sự khoẻ mạnh tinh thần có liên hệ tới việc học tập của học sinh. Trong phần này, chúng tôi đưa ra một vài ví dụ cụ thể và tạo nhiều cảm hứng về cách thức mà một số giáo viên đã áp dụng phương pháp của Làng Mai và tinh thần của phép thực tập chánh niệm thứ hai (trong Năm phép chánh niệm) vào lớp học của mình. Các giáo viên này đã mời học sinh đủ mọi lứa tuổi cùng quan sát và nhìn lại xem thói quen và sự lựa chọn có ảnh hưởng tới hạnh phúc của các em như thế nào.

Người lớn thường lo sợ rằng người trẻ đi tìm hạnh phúc bằng những con đường sai lầm, quá chạy theo vật chất, sử dụng phương tiện truyền thông, công nghệ và ma tuý để chạy trốn khỏi những cảm xúc không dễ chịu. Nhưng khi nói chuyện với người trẻ, chúng tôi nhận thấy họ thường giải thích rõ ràng, ít nhất về mặt lý thuyết, là những thứ đó không đem lại cho họ hạnh phúc. Khi thảo luận về đề tài hạnh phúc với các học sinh ở tuổi thiếu niên trong lớp của mình, Mike Bell khám phá ra rằng người trẻ không có khó khăn gì trong việc đưa ra một số quy tắc cụ thể để xây dựng một xã hội hạnh phúc.

Các học sinh đã đề ra một danh sách những điều lệ mà họ gọi là “Những quy tắc cho một xã hội hạnh phúc”. Trong đó gồm có:

  1. Tôn trọng người khác – không kỳ thị vì tuổi tác, giới tính, tôn giáo, hay khuyết tật.
  2. Không trộm cắp.
  3. Không làm hại, không xâm phạm, không giết chóc.
  4. Bảo vệ tôn giáo và văn hoá.
  5. Chấp nhận một mức độ rủi ro mà mình gặp phải – không tìm cách đổ lỗi cho ai khác.
  6. Tiếp nhận người tị nạn, nhưng trục xuất người di cư bất hợp pháp.
  7. Đảm bảo cơ sở và điều kiện sống thuận lợi cho mọi người ở mọi lứa tuổi.
  8. Giới hạn việc sử dụng các chất gây nghiện.

Tôi đã thử làm một bài tập tương tự với các em học sinh 12 tuổi. Tôi giới thiệu sự thực tập với tên gọi “Khoa học về hạnh phúc”. Tôi bảo các em đừng tin những gì tôi nói mà hãy xem xét, kiểm chứng từ thực tế. Và thật bất ngờ là dù không có sự chỉ dẫn nào, các em đã chia những quan tâm của mình thành năm phạm trù giống như Năm phép thực tập chánh niệm: Bạo động, trộm cắp, lời nói, tà dâm và sự tiêu thụ. Theo kinh nghiệm thì tôi nghĩ mình nên đặt thêm một câu hỏi nữa như là: “Các em thấy những sản phẩm nào mà khi mình ăn, mình mua hay mình tiêu thụ có thể làm cho người khác không có hạnh phúc?”. Đưa ra câu hỏi như vậy sẽ giúp cho các em dễ dàng nhận thấy những thói quen không đem lại hạnh phúc như sự ăn uống không có chừng mực, sự say sưa và nghiện ngập.

Trong một ví dụ khác, Mike sử dụng một viên đá và một cây xanh để giúp các em học sinh suy nghĩ sâu sắc hơn về nhu cầu phức tạp của các sinh vật, giúp cho các em nhận ra được những điều kiện hạnh phúc đang có mặt khắp nơi, trong đó mối liên hệ với con người và môi trường xung quanh cũng đóng một vai trò quan trọng.

Năm nay tôi dự định giảng cho các em học sinh 11 tuổi về đặc tính của các sinh vật. Tôi nhờ anh kỹ thuật viên đem cho tôi một cây xanh và một tảng đá to. Tôi chỉ cho các em học sinh hai vật đó và đặt câu hỏi điều gì sẽ xảy ra khi tôi cất tảng đá vào tủ, rồi một năm sau lấy nó ra. Các em trả lời không chút do dự là tảng đá vẫn gồ ghề như vậy, có lẽ nó có nhiều bụi hơn hay bị mốc một chút nhưng căn bản thì nó vẫn như cũ. Khi tôi hỏi các em điều gì sẽ xảy ra nếu tôi cất cây vào tủ một năm thì các em đều đồng ý với nhau là cây sẽ chết, mục ruỗng hay khô lại.

Rồi tôi hỏi nếu các em bị nhốt vô tủ một năm thì sao (tôi nhấn mạnh là mình không cố ý làm như vậy). Các em trả lời một cách dễ dàng là các em sẽ chết, thối rữa và bốc mùi. Tôi hỏi các em cần gì để sống thì đầu tiên các em nghĩ tới thức ăn, nước và không khí. Sau đó các em thêm vô bạn bè, gia đình và nhà ở. Các em nhận ra rằng mình không thể tồn tại một mình. Rồi tôi hỏi các em cần gì để có hạnh phúc, và một lần nữa tôi lại nhận thấy các em không cảm thấy khó khăn gì khi đưa ra một danh sách những thứ có thể làm cho mình hạnh phúc.

 

 

Cũng về chủ đề hạnh phúc, cô giáo Lyndsay Lunan – giảng viên đại học tại Vương quốc Anh – đã sử dụng một phương pháp đặc biệt lấy sinh viên làm trọng tâm. Cô đề nghị các sinh viên lập một bản đồ và nghiên cứu các phản ứng cảm xúc của họ ở những thời điểm khác nhau trong ngày. Phương pháp này giúp cho sinh viên có ý thức hơn, một cách tự nhiên và trực tiếp, về cái gì nuôi dưỡng hạnh phúc và cái gì làm cho hạnh phúc của các em bị tiêu hao.

Tôi đề nghị các em vẽ một biểu đồ về cảm xúc của các em trong một ngày bình thường và quan sát xem các cảm xúc tích cực, tiêu cực hay trung tính phát sinh chiếm khoảng bao nhiêu thời gian trong một ngày. Các em đã khám phá ra rằng rất nhiều các cảm xúc tiêu cực và chán nản bắt nguồn từ những hành động dựa trên thói quen của mình như là dùng Facebook hay xem tivi. Và điều này đưa đến những cuộc thảo luận hấp dẫn về đề tài: “Cái gì thực sự nuôi dưỡng chúng ta?” Những giây phút hạnh phúc của các em luôn là những giây phút được gần gũi với những người mình thương yêu hay khi đi chơi bên ngoài. Từ các khám phá đó, chúng tôi cùng thực tập chế tác những cảm xúc tích cực. Thay vì đề xuất những “điều kiện hạnh phúc” mà đôi khi không gần với nhu yếu của các em, tôi để các em tự lựa chọn một trải nghiệm về hạnh phúc mà các em đã từng nếm được và ngồi yên, mời những trải nghiệm đó đi lên trong tâm trí. Các em biết ý thức về hơi thở và chú tâm vào cảm xúc mà những trải nghiệm đó đem lại trong lòng mình. Đây là cách mà các em có thể dễ dàng áp dụng được để trở về với chính mình. Và có lẽ đây cũng là sự thực tập công hiệu nhất đối với các em.

Angelica Hoberg, một giáo viên tiểu học người Đức đã về hưu, từng cho các em học sinh lớp Ba làm một cuốn sổ chánh niệm để ghi lại những thành công của các em trong việc tưới tẩm hạt giống tốt nơi tự thân. Qua sự quan sát, suy ngẫm của các em cùng với kinh nghiệm hướng dẫn của cô Angelica Hoberg, các em đã dần phát triển khả năng sống hạnh phúc và có nhiều tình thương hơn. Các em biết trân quý những điều kiện hạnh phúc đang có mặt bây giờ và ở đây. Phương pháp thực tập rất thực tiễn này không những thúc đẩy các em học sinh (và cả cô giáo) phải suy nghĩ và hành động mà còn thu hút cả các bậc phụ huynh.

Tôi mời các em tự làm cho mình một cuốn sổ ghi chép, gọi là cuốn sổ chánh niệm. Tôi vẽ một biểu đồ thật lớn tượng trưng cho ý thức và tàng thức. Và chúng tôi cùng nhau suy nghĩ xem hạt giống nào mình muốn tưới tẩm trong tự thân mình. Tôi viết xuống tất cả những đề nghị của các em và treo lên cùng với tấm biểu đồ.

Các em vẽ lại biểu đồ vào cuốn sổ chánh niệm của mình và mỗi người ghi xuống những hạt giống mà mình đã chọn để tưới tẩm, từ danh sách các hạt giống mà cả lớp cùng đề nghị ra với nhau. Mục đích của bài tập này là khuyến khích các em tưới tẩm hạt giống mà mình đã lựa chọn trong vòng một tuần lễ. Sau đó các em viết bên cạnh sơ đồ của mình về những hoàn cảnh/ tình huống mà các em đã thực tập thành công.

Có lần, một em nhỏ trong lớp tự nhiên khen ngợi sự thành công của một bạn khác. Tôi hỏi em lúc đó em cảm thấy như thế nào thì em ngập ngừng. “Em có thấy vui không? Cảm thấy hạnh phúc khi giúp đỡ và khen ngợi người khác chẳng phải là điều rất tuyệt vời sao?”, tôi hỏi. Từ giây phút đó cho đến cuối tiết học, tôi thấy em chạy hết chỗ này đến chỗ khác để giúp các bạn của mình. Tôi phải nói rằng, trước nay điều này chưa bao giờ là ưu điểm của em. Cách hành xử này thực sự cũng là một sự khám phá vô cùng ngạc nhiên đối với em. Chính tôi cũng thấy mình còn nhiều thứ để khám phá. Tôi có cuốn sổ chánh niệm của mình. Tôi nhận thấy có một sự khác biệt rất lớn khi tôi bắt một em học sinh đang giận dữ, ồn ào phải yên lặng với khi tôi chỉ hỏi em một câu: “Em đang tưới tẩm hạt giống nào vậy?”. Các bạn khác giúp em suy nghĩ và em dừng lại để lắng nghe cảm xúc của mình. “Hạt giống giận dữ? Chúng ta đã chọn tưới tẩm hạt giống nào trong tuần này?”. “Hạt giống hạnh phúc”. Và em cười. Không có gì cần phải nói nữa.

 

 

Trong những trường hợp như vậy, các em học được rằng mình có thể chọn lựa cách nhìn sự vật/ sự việc và quyết định nên có thái độ như thế nào cho phù hợp. Các em không còn phản ứng như là nạn nhân của những điều kiện bên ngoài. Khi họp với các bậc phụ huynh học sinh vào buổi tối, tôi chia sẻ cuốn sổ chánh niệm của lớp. Tôi chỉ cho cha mẹ của các em xem cuốn sổ sau khi họ đã hứa là không chỉ trích những lỗi lầm của con họ khi trở về nhà. Lẽ dĩ nhiên là trước đó tôi đã xin phép các em rồi! Các phụ huynh xem cuốn sổ và tôi cảm thấy trong phòng có một bầu không khí lắng yên và đầy tôn trọng.

Chúng tôi đã nghiên cứu việc giảng dạy chánh niệm trong các lớp học, dưới hình thức một khoá học chánh niệm theo đúng nghĩa, hoặc dưới hình thức của một phần khoá học về đạo đức hoặc một phần trong chương trình giáo dục cảm xúc – xã hội. Chúng tôi nhận thấy có một tiềm năng rất lớn trong việc đưa chánh niệm vào trong chương trình giáo dục. Chánh niệm ngày càng được học sinh, sinh viên, giáo viên và phụ huynh xem như một phương pháp thực sự quan trọng, đáng tin cậy. Việc thực tập chánh niệm có thể giúp cho học sinh, sinh viên thay đổi cách nhìn và lối sống của mình một cách lâu dài, một khi nó được đưa vào trong chương trình giáo dục chính quy.

Cuộc tương phùng với Đức Thế Tôn

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 16.11.1997 tại tu viện Rừng Phong, Phần 2)

 

Ngày xưa, có một Thầy tên là Vakkhali. Thầy Vakkhali thương Bụt vì Bụt đẹp quá về phương diện hình thức. Thấy vị đạo sư đẹp quá, tướng hảo quang minh quá, thành ra thương vậy thôi. Thầy kẹt vào bóng dáng của Bụt. Thầy ngồi đó, tuy nghe Pháp Thoại nhưng không nghe nhiều và chỉ để ngắm Bụt. “Yêu nhau tức là nhìn nhau” đó! Nhìn, nhưng thầy không nhìn sâu, chỉ nhìn bóng dáng bên ngoài thôi. Sau vài tháng, Đức Thế Tôn biết là Thầy bị kẹt và đi đâu Bụt cũng không cho Thầy đi theo. Ngày xưa cũng không khác ngày nay, có người không thật sự tu tập quán chiếu, chỉ muốn hưởng sự có mặt của một người khác và kẹt vào đó mà thôi.

 

 

Bữa đó, Thầy Vakkhali “thất tình”. Thất tình vì bị Bụt “hắt hủi” không cho đi theo. Bụt muốn giúp Thầy trị bịnh của Thầy. Thầy đã có lần muốn nhảy từ triền núi xuống để tự tử. Đức Thế Tôn biết trước cái gì sẽ xảy ra. Ngài tìm cách có mặt lúc đó để dạy cho Thầy Vakkhali. Sau này Thầy Vakkhali thoát khỏi tình trạng vướng mắc và đã thực tập đàng hoàng. Thầy Vakkhali cũng đã đi tìm một cái gì mà Thầy thấy thiếu, tìm cái đẹp. Nhưng sự đi tìm không sâu sắc lắm. Và Bụt đã giúp Thầy tìm đến một cái gì sâu sắc hơn. Thầy Vakkhali sau này bị một chứng bệnh nan y và cuối cùng Thầy đã phải tự tử bằng dao. Nhưng Bụt đã từ bi làm lơ để Thầy làm như vậy. Thầy chết trong nhà một người thợ gốm. Bụt có tới thăm Thầy hai hôm trước khi Thầy tịch. Quý vị muốn biết chuyện Thầy Vakkhali xin đọc trong “Đường Xưa Mây Trắng”.

Thời của Bụt cũng có một cô gái thuộc giai cấp hạ tiện, tên là Matanga. Cô này xinh lắm và cô yêu Thầy A Nan. Chuyện bắt đầu xảy ra hôm thầy A Nan đi khất thực, khát nước và ghé vào một cái giếng để tìm nước uống. Thầy thấy cô gái kia đang múc nước. Thầy nói: “Cô cho tôi uống một ngụm.” Cô trả lời: “Con là con gái giai cấp hạ tiện. Con đâu có quyền đưa nước cho Thầy uống.” Thầy A Nan thấy tội, nói: “Theo giáo lý của Đức Thế Tôn dạy, tôi không phân biệt và kỳ thị giai cấp. Cô cứ đưa gàu cho tôi uống.” Cô mừng quá, đưa gàu nước cho Thầy uống và từ đó cô tương tư Thầy.

Cô ngủ không được. Cô bị bệnh. Rồi cuối cùng cô bàn với bà mẹ mời Thầy tới để cô có dịp tỏ tình. Hai mẹ con đã dùng bùa chú, dùng một thứ lá cây nào đó làm nước trà mà khi uống vào Thầy A Nan mất cả sự tỉnh táo. Thấy Thầy A Nan quá giờ mà chưa về, Bụt sai các thầy khác đi tìm và may mắn kiếm được Thầy A Nan trước khi Thầy làm một cái gì sai với uy nghi và hại tới giới phẩm. Thầy A Nan uống xong thứ nước trà kia, biết là bị trúng độc, liền ngồi im vận dụng phép thở khí công. Thầy thở theo chánh niệm và đợi các thầy khác tới giải cứu đem về. Các thầy cũng đem luôn cả cô Matanga về. Tội nghiệp cho cô. Cô cũng cảm thấy thiếu một nửa và đi kiếm, vậy thôi. Lần này, cái nửa cô đi tìm là một ông thầy tu trẻ.

Bụt gọi cô vào hỏi: “Con thương Thầy A Nan lắm hả?” Cô trả lời: “Dạ, con thương Thầy A Nan lắm.” “Con thương cái gì nơi Thầy A Nan?” Bụt hỏi. Ngây thơ, cô trả lời: “Cái gì của Thầy con cũng thương. Con mắt Thầy con cũng thương, cái mũi Thầy con cũng thương. Cái gì của Thầy con cũng thương hết.” Bụt nói: “Nhưng mà thương như vậy con chỉ mới thương được một chút xíu của Thầy A Nan thôi. Con chưa biết gì nhiều về Thầy A Nan. Ví dụ như chí nguyện của Thầy A Nan, con đã thấy gì đâu. Một người trẻ như vậy mà đi xuất gia là vì chí nguyện rất lớn, chí nguyện độ đời, giúp cho bao nhiêu người thoát khổ. Con đâu đã thấy cái đó. Nếu thấy cái đó mà con cũng thương được thì con đã không cho Thầy A Nan uống thứ nước trà kia.

 

 

Thầy A Nan có một tình thương rất đẹp. Tình thương của Thầy A Nan là Bồ Đề Tâm, là chí hướng muốn làm hạnh phúc cho nhiều người khác. Nếu con thấy được tình thương đó thì con cũng sẽ thương. Và nếu con thương được thì không bao giờ con muốn chiếm Thầy A Nan cho riêng một mình con.” Bụt dạy từ từ như vậy để cho cô thấy được cái đẹp của thầy A Nan trong chiều sâu của nó. Bụt nói tiếp: “Con cũng vậy, con cũng có cái tình thương ấy trong con.Thương được Bồ Đề Tâm của Thầy A Nan thì con cũng có thể thương được Bồ Đề Tâm trong con.” Ngạc nhiên, cô Matanga hỏi: “Đức Thế Tôn muốn nói là con cũng xuất gia được? Con cũng sống được một đời có lý tưởng như Thầy A Nan sao?” Bụt cười: “Tại sao không?” Và rốt cuộc cô Matanga cũng được Bụt cho phép xuất gia, làm Tỳ kheo ni.

Cho nên cuộc tương phùng giữa ta với Đức Thế Tôn là một cơ hội để ta tìm ra được là ta cũng có tiềm tàng trong ta khả năng vững chãi và thảnh thơi. Khi ta tiếp xúc được với cái vững chãi, thảnh thơi và hạnh phúc đó trong ta, ta bắt đầu có đức tin nơi tự thân và hạnh phúc mới thật sự có được. Nếu không, thì ta vẫn đầy mặc cảm. Ta nghĩ ta không có giá trị gì và ta vẫn tiếp tục đi tìm cầu nơi một kẻ khác. Ban đầu ta tìm cầu một cái vung để đậy lên cái nồi của mình, nhưng sau thấy đậy vung rồi mà nồi vẫn còn lạnh, vẫn còn trống trải, ta mới đi tìm tới một vị đạo sư. Có người đã may mắn gặp được vị đạo sư đích thực, bởi vì đạo sư giả cũng rất nhiều. Vị đạo sư đích thực là vị đạo sư có khả năng chỉ cho mình thấy được cái mà mình đi tìm đang nằm trong bản thân của mình. Cho nên tôi luôn luôn nhắc quý vị: Một ông thầy giỏi là một ông thầy giúp cho mình thấy được ông thầy trong bản thân mình” (The best teacher is the teacher who can help you to find the teacher within yourself). Quí vị nên nhớ lời căn dặn này.

Mình không thể làm như Thầy Vakkhali, ngày nào cũng tới ngồi kè kè bên Bụt và không bao giờ có thể tự chủ được. Ngồi ngắm Thầy, ngồi bên vị đạo sư có sự vững chãi, thảnh thơi và tiếp tục tin rằng không bao giờ mình có được chất liệu của sự vững chãi, thảnh thơi trong mình hết, và kẹt vào cách hành xử này, đó là một thói quen của nhiều người. Người thương của ta có thể là Đức Thế Tôn, có thể là Thầy A Nan. Người thương của ta cũng có thể là bất cứ ai mà bản thân biểu hiện được cái Chân, cái Thiện và cái Mỹ chân thật. Khi thương một người và nhận diện được chất liệu vững chãi, bình yên, thảnh thơi và từ bi nơi người ấy là ta đã có một cơ hội rồi. Ta có quyền thừa hưởng những yếu tố ấy. Nhưng sau khi học nhận diện những yếu tố ấy, khen ngợi những yếu tố ấy và học nuôi dưỡng những yếu tố ấy nơi người đó, ta phải trở về bản thân mà tìm cách làm phát hiện những yếu tố ấy trong ta, vì ta cũng có những hạt giống tốt tiềm tàng trong tâm thức. Đây là tính Bụt, đây là kho tàng Như Lai, đây là kho tàng bảo sở tự tâm. Thương cũng là giúp người mình thương trở về tìm lại kho tàng ấy, phát hiện kho tàng ấy.

Thương yêu không phải là vấn đề cá nhân

Bây giờ ta hãy tìm tới một khía cạnh khác của tình thương. Mình thường nói tới thương yêu như một vấn đề cá nhân, nhưng không biết thương yêu cũng là một sản phẩm tập thể. Mình có thể thương chung (Love is a collective practice). Khi thương Đức Thế Tôn, mình có cơ hội tìm ra được Phật tánh trong chính mình. Mình nói: “Đức Thế Tôn, xin Ngài cho phép con thương chung với Ngài”. Mình muốn tham dự vào sự nghiệp thương yêu của Đức Thế Tôn. Mình muốn làm đệ tử của Đức Thế Tôn, làm con của Đức Thế Tôn và tiếp tục công trình của Ngài. Đó gọi là “cùng nhìn về một hướng”. Ban đầu thì mình nhìn nhau trước. Nhìn nhau để thấy có tôi ở trong anh và có anh ở trong tôi. Sau đó chúng ta cùng tập thương chung.

 

 

Khi mình đã có lý tưởng, mình phải giúp cho người thương của mình có lý tưởng đó. Đức Thế Tôn thương mình cho nên Ngài chỉ cho mình thấy cái đó, cái Bồ Đề Tâm trong mình. Thành ra mình không thương đơn độc. Cả hai đứa mình đều có cái đó hết và vì vậy mình có thể thương chung. Khi hai người cùng thương chung thì hai người có hạnh phúc như nhau. Tại sao anh đi một đường mà tôi lại đi một đường khác? Tại sao tôi có lý tưởng của tôi, còn anh có lý tưởng của anh? Mình với Đức Thế Tôn là như vậy đó, là “associés” của nhau (Associated lovers). Người anh, người chị, người mẹ, người cha của mình cũng có thể cùng đi trên con đường mình đi. Người hôn phối của mình cũng vậy. Nếu người kia chưa đi chung với mình thì mình phải làm cho người đó có thể thương được như mình. Và như vậy sẽ không có sự trách móc, rằng: “anh cứ đi con đường lý tưởng của anh nhiều quá, anh không dành cho tôi thì giờ. Anh không “nhìn tôi” anh cứ nhìn về hướng “của anh” thôi.” (You don’t look at me, you only look at the direction of your love. I am not included). Cái nhìn đó vẫn là cái nhìn lưỡng nguyên (dualistic view), phải không?

Khi mình thương và biết cách thương thì người kia cũng thương được như mình. Và “chúng ta” luôn luôn có nhau trên bước đường lý tưởng, trên bước đường thương. Tại sao cứ phải trách móc là anh cứ lo cái lý tưởng của anh nhiều quá và anh không để ý tới tôi? Chuyện nhìn nhau và chuyện cùng nhìn về một hướng phải là một. Chúng ta đã bắt đầu bằng câu nói của Antoine de St. Exupéry: “Yêu nhau không phải là nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng.” Đến đây ta có thể trả lời rằng: “Ông nhà văn ơi, ông nói lại đi: Thương nhau cũng là nhìn nhau để nhận diện rằng chúng ta có trong nhau, để chúng ta cũng có thể cùng nhìn chung về một hướng.” Phần chót là để quý vị quán chiếu và phát hiện.


(Phần 1: Trở về thương lấy chính mình)

Pháp thoại năm 2007

012007.02.22Bí quyết an lạc trong đời sốngmp3
022007.03.01Pháp thoại tại Tu viện Bát Nhã  Chuyển hoá khổ đaump3
032007.03.06Vấn đáp tại Tu viện Bát Nhãmp3
042007.03.15Tình thương và hạnh phúc trong Doanh Nghiệpmp3
052007.03.16Pháp thoại tại Chùa Vĩnh Nghiêmmp3
062007.03.18Chùa Vĩnh Nghiêm:  Người thương tôi chết bây giờ ở đâu?mp3
072007.03.19Tiếp chuyện với toà soạn báo Giác Ngộmp3
082007.03.22Pháp thoại tại chùa Phổ Quang Mục đích của người tump3
092007.03.27Này thôi hết kiếp đoạn trường từ đâymp3
102007.04.18Hãy là một hành giảmp3
112007.04.20Người thương tôi chết bây giờ ở đâu 01mp3
122007.04.21Người thương tôi chết bây giờ ở đâu 02mp3
132007.04.22Người thương tôi chết bây giờ ở đâu 03mp3
142007.04.23Tuệ giác của đạo Bụt trong Truyện Kiềump3
152007.09.13Để có thể chăm sóc thân và tâmmp3
162007.09.14Nghệ thuật hóa giải những khó khăn trong gia đìnhmp3
172007.09.15Vấn đápmp3
182007.09.16Hàn gắn những vết thương trong gia đìnhmp3

Cho Windows

Mindful Clock

Đây là một ứng dụng Chuông Chánh Niệm được lấy cảm hứng từ những lời dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Bạn có thể tải xuống toàn bộ chương trình hoặc chỉ có Tiếng Chuông. Bạn có thể đặt chuông trong một khoảng thời gian chính xác hoặc ngẫu nhiên.

Bạn hãy tải xuống chương trình trước, sau đó tải xuống tiếng chuông vào thư mục c:\Program Files\MindfulClock. Khi các tệp đã được tải xuống, mở điều khiển Mindfulclock và nhấp đúp vào tên tệp âm thanh để lựa chọn.

Click vào đây để tải về và cài đặt

Cho máy Mac

Download App  

Cho trình duyệt Chrome

Bước 1: Click vào đây để mở trang cài đặt 

Bước 2: Click vào biểu tượng:

Bước 3: Trình duyệt sẽ hiện ra cửa sổ giống dưới đây: 

Tiếp tục Click vào nút “thêm tiện ích và chờ trong chốc lát để Trình duyệt tải về và cài đặt.

Bước 4: Sau khi cài đặt xong Màn hình sẽ tự động xuất hiện biểu tượng Logo bên cạnh thanh trình duyệt. Bạn có thể Click vào Biểu tượng Logo và bắt đầu cài đặt sử dụng theo thời gian thích hợp cho sự thực tập của bạn.

 

Trở về thương lấy chính mình

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 16.11.1997 tại tu viện Rừng Phong)

 

Chúng ta ai cũng đã có thương nhưng có lẽ ít người có cơ hội nhìn lại tình thương của mình, xem thử ta đã khổ đau như thế nào trong khi thương? Chúng ta đã hạnh phúc như thế nào trong khi thương và đã học được gì trong quá trình thương yêu? Thật ra phần lớn ai trong chúng ta cũng bận rộn rất nhiều và chưa có cơ hội để ngồi lại và làm việc ấy để có thể học được từ những kinh nghiệm thương yêu, khổ đau và hạnh phúc.

Chúng ta thương cha, thương mẹ, thương con, thương cháu, thương trời, thương đất… Chúng ta thương nhiều thứ lắm. Mỗi người trong chúng ta nên để ra độ chừng bảy ngày để suy nghĩ và ta phải nhìn cho sâu, phải thành thật, để có thể bắt đầu thấy được bản chất của tình thương cũng như của những khổ đau, khó khăn và hạnh phúc mà tình thương ấy đã đem tới. Từ đó, chúng ta sẽ rút ra những kinh nghiệm và sẽ chuyển hóa được tình thương, để tình thương ấy bớt gây đau khổ cho mình và cho người, và cũng để bắt đầu tạo thêm hạnh phúc cho mình và cho người mình thương.

 

 

Chúng ta thương nhưng thực sự ít ai biết được bản chất của tình thương.

Nếu biết thực tập chánh niệm và quán chiếu, thì chúng ta sẽ có cơ hội nhiều hơn để hiểu biết và chuyển hóa bản chất của tình thương trong ta. Nhà văn Pháp Antoine de St. Exupéry, tác giả quyển “Hoàng tử bé” (Le Petit Prince), có nói: “Thương nhau không phải là nhìn nhau, mà là cùng nhìn về một hướng.” (Aimer, ce n’est pas se regarder l’un l’autre, c’est regarder ensemble dans la même direction). Chúng ta thử xét xem lời tuyên bố của ông có đúng không?

Tôi nghĩ là thương nhau mình có thể ngồi nhìn nhau được chứ, miễn là đừng ngồi suốt ngày mà thôi! Lâu lâu phải nhìn nhau, phải nhận diện rằng người thương của mình có mặt. Nhìn nhau ở đây có nghĩa là công nhận sự có mặt của người kia. Nếu thương mà không công nhận sự có mặt của người kia thì người kia sẽ tủi chết và sẽ nghĩ là mình không thật sự được thương. Người kia sẽ nói: “Anh không bao giờ để ý tới tôi, anh không bao giờ nhìn mặt tôi, anh không bao giờ ý thức là tôi đang có mặt!”. Như vậy không được. Chúng ta phải biết nhìn nhau và phải tập nhìn có chánh niệm. Nhìn như thế nào và nói như thế nào để người kia biết mình thật sự có mặt cho người đó, và người đó thấy sự có mặt của họ đang được công nhận và trân quý. Nếu người mình thương làm như mình không có mặt trên cõi đời này thì mình sẽ có cảm tưởng là mình không thực sự được thương, là mình đang bị bỏ quên bởi người ấy. Nhìn nhau vì vậy rất quan trọng.

Nhưng mà vấn đề là khi nhìn nhau mình sẽ thấy gì? Khi thấy có cái gì dễ thương thì mình mới thương. Bắt đầu là như vậy. Mình phải thấy người kia đẹp, mình phải thấy người kia thật, mình phải thấy người kia hiền. Ai cũng muốn thương, ai cũng cần đến cái Chân, cái Thiện và cái Mỹ. Thiện là sự hiền từ. Ai lại đi thương một bà chằng bao giờ! Mỹ là đẹp. Quỷ Dạ Xoa xấu quá, khó thương lắm! Ngoài ra, đối tượng của sự thương yêu còn phải thật -Chân. Nếu đối tượng đó chỉ là một cái bóng dáng, một cái mặt nạ hoặc một sự giả trang thì làm sao mình thương được, phải không? Nếu đối tượng đó chẳng qua chỉ là phấn sáp, chẳng qua chỉ là cái hào nhoáng bên ngoài thì nó không thật. Không ai mà lại đi thương cái giả dối. Vì thế, đối tượng của sự thương yêu phải là sự thật. Trừ khi mình dại dột, bị đánh lừa thì mình mới kẹt vào cái giả ngụy mà thôi.

Cho nên trong khi thương, ta phải sáng suốt lắm. Nếu không thì ta sẽ mua lầm hàng giả. Mà bây giờ thiên hạ bán hàng giả rất nhiều. Thiên hạ chuyên đi mua những sản phẩm hóa trang về để sơn phết. Họ dùng những phương tiện kỹ thuật làm ra đủ thứ giả: lỗ mũi cũng giả, ngực cũng giả, rồi đạo đức cũng giả. Giả dối nhiều lắm. Nước hoa có nhiều thứ. Nước hoa có công dụng lấp đi những cái không đẹp, không thơm. Cái giả dối rất nhiều, nếu không tỉnh táo, mình sẽ bị kẹt. Đối tượng của sự thương yêu như vậy không “chân”. Đó là đứng về phương diện hình hài. Còn đứng về phương diện đạo đức cũng vậy, có đạo đức giả. Nghĩa là mình không thánh thiện, không hiền lành, không có lòng tốt nhưng mình làm ra cái kiểu là mình có thánh thiện, có sự hiền lành, có sự tốt bụng. Nhiều người bị lừa về chuyện giả trang đạo đức lắm.

Do đó, khi thương ta phải tỉnh táo. Nhưng thường thường, thương thì không có tỉnh táo. Thương còn được gọi là “cơn mê”. Trong tâm trạng thương, vì mình không được tỉnh táo nên mình mới bị kẹt vào những cái không có thật. Đứng về phương diện bóng sắc cũng như đứng về phương diện đạo đức sự tình đều như vậy. Người đó không hiền mà mình tưởng là hiền. Thấy bề ngoài hiền khô vậy, nhưng mà hãy coi chừng! Nếu biết nhìn bằng con mắt của chánh niệm ta sẽ thấy ba cái Chân, Thiện và Mỹ dính liền với nhau. Đó là tính tương tức của cả ba. Trong Chân phải có Thiện và Mỹ, trong Thiện phải có Chân và Mỹ, trong Mỹ phải có Chân và Thiện. Một cái phải có hai cái kia thì mới thực sự là nó được. Nếu không có Thiện và Mỹ thì đó chưa phải là Chân. Mình phải thấy ba cái đó tương tức.

Thương là một quá trình quán sát, nhưng người thương ít khi chịu quán sát. Mình để cho mình bị vướng vào đó thôi. Bước đi, mình bị té, mình bị sập bẫy. “Fall in love” (tomber amoureux) tức là té. Đi làm sao mà bị té? Không có chánh niệm, không biết cái gì xảy ra, thế là mình bị té, bị kẹt. Có khi mình mơ hồ biết là có hầm hố, có hiểm nguy nhưng mình vẫn đi, mình vẫn muốn bị “té”. Ở đời, biết bao nhiêu người trẻ bị kẹt trong tình huống như vậy làm tan tành cuộc đời của mình. Đó là tại vì họ không cẩn thận, cứ để cho những cái bề ngoài đánh lừa. Mình có quyền thương cái chân, cái thiện và cái mỹ, với điều kiện đó là chân thật, thiện thật và mỹ thật, phải vậy không? Và đối tượng của sự thương yêu không thể là vọng tưởng, không thể là một tri giác sai lầm. Không chân mà tưởng là chân, không thiện mà tưởng là thiện, không mỹ mà tưởng là mỹ, đó gọi là tri giác sai lầm. Vì thế tình thương thường thường là một cơn mê, một passion, một cái dream. Và khi tỉnh dậy được rồi thì trong thân và trong tâm đã có biết bao nhiêu thương tích.

Đức Thế Tôn dạy là mình phải thương; nhưng cái thương của mình phải dựa trên cái thấy chân thực chứ không nên dựa trên vọng tưởng. Khi đối tượng tình thương của mình là một vọng tưởng mà không phải là sự thật thì mình sẽ đau khổ rất nhiều. Có những cái đẹp thầm kín, có những cái đẹp mình phải nhìn kỹ lắm mới thấy được. Và thường thường những cái đẹp chân thật đều như vậy, mình phải nhìn kỹ mới thấy. Khi cái đẹp là cái đẹp chân thật thì cái đẹp đó có khả năng nuôi dưỡng mình, có khả năng làm đẹp cuộc đời mình. Vì thế thương cái đẹp rất quan trọng, với điều kiện cái đẹp đó phải là cái đẹp đích thực. Cái thiện cũng là cái đẹp. Ví dụ như lòng từ bi. Lòng từ bi cũng là một cái gì rất đẹp. Khi thương Đức Thế Tôn, mình thấy một phần quan trọng của tình thương mình là do ở chỗ Đức Thế Tôn có lòng từ bi. Mình thương tình thương của Đức Thế Tôn. Đó là một thứ tình thương rất cần thiết cho cuộc đời. Đức Thế Tôn có khả năng thấy được những đau khổ ở xung quanh Ngài và Đức Thế Tôn không quên những đau khổ đó. Ngài tìm những biện pháp để làm vơi đi những khổ đau đó. Và cả cuộc đời của Đức Thế Tôn là để làm chuyện ấy, chuyện nhắm tới làm vơi đi những khổ đau của mọi người.

Khi mình thương ai thì mình thương từ trong ra ngoài và cả ngoài lẫn trong. Bên trong Đức Thế Tôn có một tình thương rất lớn, cho nên mình thương cái tình thương ấy của Đức Thế Tôn. Từ tình thương đó, mình muốn hòa nhập làm một với Đức Thế Tôn và mình muốn tham dự vào tình thương đẹp đẽ này, mình muốn học thương được như Đức Thế Tôn. Và từ từ mình khám phá ra rằng ở trong mình cũng có cái đó. Nơi Đức Thế Tôn, tình thương này phát hiện rất rõ. Nhưng như vậy không có nghĩa là mình không có tình thương ấy trong bản thân mình. Chính Đức Thế Tôn đã nói với mình là: “Con cũng có cái đó, con cũng có hạt giống từ bi và tuệ giác đó.” Ban đầu, mình thấy nó ở nơi người khác nhưng từ từ mình thấy nó ở ngay chính mình. Mình trở thành đối tượng thương yêu của chính mình. Mình thương tình thương đó nơi chính mình.

 

 

Trở về thương lấy chính mình

Thường thường, mình cứ nghĩ rằng thương là thương những thứ ở ngoài mình, nhưng thực sự ở trong bản thân mình cũng có những thứ rất dễ thương. Ở trong mình có Chân, có Thiện và có Mỹ mà mình chưa nhận diện được. Đôi khi mình chỉ tiếp xúc được với những thứ không phải là Chân, không phải là Thiện, không phải là Mỹ ở nơi mình. Vì thế mình cứ tự đánh giá rất thấp về mình. Mình có mặc cảm là mình giả dối, không có lòng từ bi, không đẹp. Vì vậy mình có khuynh hướng giả trang. Mình giả dối với mình, mình giả dối với người khác. Mình khoác vào cho mình những bóng dáng của Chân, của Thiện và của Mỹ để mình có thể “impress” (“gây ấn tượng”) được người khác. Sở dĩ mình giả dối như vậy là vì mình chưa có khả năng thấy được cái đẹp, cái thật và cái lành ở nơi mình. Nếu mình có khả năng tiếp xúc được với cái Chân, Thiện và Mỹ ở tự thân thì mình không cần giả dối nữa. Mình có đức tin là: “I am something”. Lúc đó mình bắt đầu sống thật với mình. Mà nếu mình không sống thật với chính mình được thì mình không thể nào sống thật được với người khác.

Chúng ta có cái mặc cảm là chúng ta không có cái đẹp, cái thật và cái hiền. Chúng ta phải nhổ gốc cho được cái mặc cảm đó. Đức Thế Tôn đã xác nhận điều này: “Con có Chân- Thiện và Mỹ nơi con.” Chúng ta đôi khi gọi Chân-Thiện- Mỹ này là Phật tánh. Và: “Con phải tiếp xúc được với những cái đó để con đừng có mặc cảm và từ lúc đó con sẽ không còn giả dối nữa và con sẽ không còn đi tìm kiếm ở bên ngoài, bởi vì trong con đã có đầy đủ những cái này.”

Nhìn Đức Thế Tôn, mình thấy Chân, Thiện, Mỹ rõ ràng. Và khi mình soi gương vào Đức Thế Tôn để thực tập, mình cũng thấy trong mình có Chân, Thiện và Mỹ. Vì vậy, thương Đức Thế Tôn tức là mình tạo một cơ hội để trở về thương lấy chính mình. Trong giáo lý đạo Phật, trước khi mình có thể thương ai mình phải thương được mình trước. Điều này rất quan trọng. Self-love is the foundation for the love of others. Điều này quan trọng nhưng ít người nói tới là vì ai cũng nghĩ “cái đó” không có trong mình, cho nên mình mới đi tìm ở ngoài. Và khi mình đi tìm như vậy, ít khi mình tìm ra được đối tượng chân thật mà lại bị vướng mắc vào những hình tướng ngụy trang bên ngoài. Vì thế đã khổ rồi, mình lại khổ thêm nhiều tầng nữa.

Mình thương Đức Thế Tôn là vì Đức Thế Tôn có sự vững chãi, thảnh thơi và hạnh phúc, không có gì lay chuyển nổi. Còn mình thì thiếu cái vững chãi đó. Mình có cảm tưởng là mình rất dễ bị tan vỡ, rất dễ bị lung lay, cho nên mình mới đi kiếm sự vững chãi ở một chỗ khác, đi kiếm ở Đức Thế Tôn. Thương là vì thiếu cho nên đi tìm. Cái “vững chãi” ấy trong Kinh gọi là bất động. “Diệu trạm tổng trì bất động tôn”. Lúc đầu mình nghĩ là mình không có, nhưng sau khi mình tin vào Đức Thế Tôn và nhận Đức Thế Tôn làm Thầy, thì mình được nghe Ngài nói: “’Con cũng có cái đó. Con phải về tìm cho được cái đó.” Đức Thế Tôn có sự giải thoát, có sự tự do, có sự thảnh thơi và mình cần những cái đó quá. Mình thấy là mình hệ lụy, mình vướng mắc, mình không có tự do gì cả. Đối với các phiền não, mình dễ trở thành con mồi. Mình không có tự do đối với các phiền não tham, sân, si, mạn, nghi và kiến, thành thử mình đi tìm tự do ở chỗ khác. Cố nhiên là mình đi tìm ở các bậc đạo sư. May mắn là mình gặp một con người như Đức Thế Tôn. Con người đó có chất liệu đích thực của sự vững chãi và sự thảnh thơi. Như thế, mình có cơ hội trở về với chính mình và tìm ra các chất liệu đó trong mình.

Mình không có hạnh phúc. Những cái mình thường gọi là hạnh phúc đó chưa phải là hạnh phúc chân thật. Đó chỉ là những vui nhộn nhất thời, những ồn ào, những bóng dáng giả tạo bên ngoài để che lấp những niềm đau nỗi khổ bên trong. Mình vui nhộn như vậy nhưng đến giây phút ngồi yên lại, mình thấy những cái vui đó rất giả tạo và niềm đau nỗi khổ của mình ở dưới tiềm thức quá lớn, bắt đầu trồi lên, rồi mình lại phải đi ra, đi nhảy disco, đi nghe nhạc, đi mở tivi… để che lấp nó. Những cái mà mình gọi là hạnh phúc đó không thật sự là hạnh phúc. Khi mình thấy một người có hạnh phúc chân thật, mình rất ham. Mình thấy Đức Thế Tôn ngồi rất vững chãi, rất thảnh thơi, rất an lạc. Tại sao ở đời hạnh phúc lại có thể có được như thế hả? Mình không tin là hạnh phúc có thật. Khi gặp được một người có hạnh phúc thật sự mình mừng quá. Lúc đó mình bắt đầu nghĩ là hạnh phúc có thể có được. Đức Thế Tôn dạy: “Hạnh phúc đó có ở trong con, con phải trở về tìm cho ra nó”. Cuộc gặp gỡ giữa mình với Đức Thế Tôn bắt đầu từ sự đi tìm những cái mình tưởng là mình không có. Đến khi thật sự được gặp Đức Thế Tôn, mình có cơ hội để trở về với mình và nhận diện ra cái mà ngày xưa mình tưởng là không có.

Thường thường chúng ta có cái cảm giác thiếu vắng. Mình nghĩ mình là một cái nồi chưa có vung và mình đi khắp tam thiên đại thiên thế giới để tìm một cái vung đậy lên cái nồi của mình. Cái vung đó có thể là một người con trai hay một người con gái nào đó mà mình hy vọng sẽ gặp được. Gặp được người yêu lý tưởng là tìm được cái vung đậy lên cái nồi. Và người nào cũng có cảm tưởng mình là một cái nồi không có vung. Cái nồi không có vung đó là cái gì vậy? Nhìn cho kỹ thì đó là sự trống vắng. Những cái mình cho là mình không có, tức là Chân, Thiện và Mỹ, mình tin là mình không có, cho nên mình mới đi lý tưởng hóa người yêu chỉ vì mình nghĩ người yêu đó là Chân, là Thiện, là Mỹ.

Nhưng ác hại thay, sau vài tháng hay là một năm, mình khám phá ra rằng người yêu của mình cũng không phải là Chân, không phải là Thiện, không phải là Mỹ. Người yêu của mình cũng như mình thôi. Người yêu của mình cũng chỉ là “một cái nồi không có vung!” Hầu hết chúng ta đều đi tìm trong thế giới cái nửa mà chúng ta thiếu (the other half of yourself), và biết bao nhiêu người trong chúng ta đã thất vọng. Bởi vì “cái nửa kia”, mới tìm ra đó, mình tưởng là cái đích thực mà mình cần, chỉ sau một thời gian mình lại khám phá ra rằng nó không phải là cái đích thực mà mình cần. “Cái nửa kia” cũng là một cái nửa đang đi tìm như mình vậy!

Khi Đức Thế Tôn thành đạo dưới cây Bồ Đề, Ngài đã thốt lên một câu để tỏ lộ sự ngạc nhiên: “Lạ thay, tất cả mọi chúng sanh đều có cái đó mà không hề biết là mình có cái đó”. “Cái đó” tức là khả năng vững chãi, thảnh thơi và bản chất giác ngộ. Chúng ta cứ trôi lăn từ đời này sang đời khác trong đại dương của khổ não. Trôi lăn như thế là để đi tìm cái nửa kia. Mà đi tìm cái nửa kia là vì mình không biết cái nửa kia đã nằm ngay trong cái nửa này rồi. Bây giờ nói thì người ta báng bổ, nhưng mà kỳ thực tình thương có nghĩa là thương chính mình và nhận ra những gì mình thiếu, mình tìm kiếm đã có sẵn trong chính mình (to love means to love yourself, to recognize that what you lack is within yourself). Khi mình bắt đầu khám phá và tiếp xúc được với hạt giống của Chân, của Thiện và của Mỹ trong mình, thì mình bắt đầu có tự tin. Và hạnh phúc chân thật chỉ có được khi lòng tự tin đó nứt mầm.

 

 

(Phần 2: Cuộc tương phùng giữa ta với Đức Thế Tôn)

Sơ Tổ Thiền tông Việt Nam – Thiền sư Khương Tăng Hội

(Trích từ cuốn “Thiền sư Khương Tăng Hội” – Sư Ông Làng Mai)

 

 

Thiền sư Tăng Hội là tổ sư của Thiền tông Việt Nam. Thân phụ của thầy là người Khương Cư (Sogdiane, Bắc Ấn), mẹ thầy là người Việt. Mới hơn mười tuổi thì cả cha và mẹ đều qua đời, và thầy được nhận vào chùa làm chú tiểu.

Sa di Tăng Hội đã được học kinh Phật bằng tiếng Phạn và cũng đã được học chữ Hán. Lớn lên, thọ giới lớn, không những thầy tinh thông Phật học mà cũng tinh thông cả Nho học lẫn Lão học nữa. Vì tài liệu thiếu thốn, ta không biết thầy đã học đạo và hành đạo tại đạo tràng nào ở kinh đô Luy Lâu của Giao Chỉ, trước đó nội thuộc nhà Hán mà kinh đô là Lạc Dương, và sau năm 229, khi nhà Hán sụp đổ, thì nội thuộc vào nước Đông Ngô, một trong ba nước của đời Tam Quốc. Kinh đô Đông Ngô là Kiến Nghiệp, tức là Nam Kinh bây giờ.


Trung Tâm Luy Lâu

Thầy đã thiết lập đạo tràng, huấn luyện đồ chúng và phiên dịch kinh điển tại Giao Chỉ. Trung tâm hành đạo của thầy có thể đã được thiết lập ở chùa Diên Ứng, còn gọi là chùa Dâu hay chùa Pháp Vân, ở thủ phủ Luy Lâu, tức phủ Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Chùa Pháp Vân dựng gần nha môn của quan thái thú Sĩ Nhiếp, đã là một trung tâm hành đạo phồn thịnh cho đến triều nhà Lý, dù rằng sau đó Luy Lâu không còn là thủ phủ của Giao Châu nữa. Tăng sĩ người Giao Châu cư trú đông đảo ở đây và tu tập hành đạo dưới sự hướng dẫn của thiền sư Tăng Hội. Tại trung tâm này cũng có hai vị cư sĩ từ kinh đô Lạc Dương tỵ nạn chạy về, đó là Trần Tuệ và Bì Nghiệp. Cả hai đều là đệ tử tại gia của thiền sư An Thế Cao ở Lạc Dương. Thầy An Thế Cao là người An Tức (Parthia) cũng Bắc Ấn. Hồi đó bên nhà Hán, người Hán chưa được phép xuất gia làm tăng sĩ. Chỉ ở Giao Châu mới có tăng đoàn địa phương, ngoài một số ít tăng sĩ người Ấn độ. Hai vị cư sĩ này đã mang theo về Luy Lâu một số kinh thiền do thiền sư An Thế Cao dịch. Thầy Tăng Hội đã mời các vị này gia nhập vào ban nghiên cứu phiên dịch và chú giải kinh điển của trung tâm Luy Lâu. Cư sĩ Trần Tuệ đã chú giải kinh An Ban Thủ Ý. Thầy Tăng Hội đã đọc lại bản chú giải, thêm bớt, và viết bài tựa. Bài tựa của kinh An Ban Thủ Ý, theo tài liệu chắc chắn, đã được viết tại Giao Châu, và nhiều kinh khác mang tên thầy là dịch giả chắc hẳn cũng đã được dịch tại Giao Châu.

Truyền thống của thầy Tăng Hội thành lập đã trở nên một thiền phái vững mạnh, tồn tại mãi tới đời Lý và sau đó đến đời Trần mới hòa nhập cùng các thiền phái như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường, v.v… vào thiền phái Trúc Lâm. Sách Thiền Uyển Tập Anh có cho biết là người đại diện cho thiền phái Tăng Hội ở thế kỷ thứ 12 là thiền sư Lôi Hà Trạch. Rất tiếc là ta không có tài liệu gì thêm về thiền phái này. Tại Luy Lâu hồi ấy, giới trí thức nhà Hán về tỵ nạn đông lắm và vì vậy giáo pháp của đạo Bụt đã phải được trình bày theo một phương cách để người có Lão học và Khổng học có thể dễ hiểu và dễ tiếp nhận. Tác phẩm đầu tiên viết bằng chữ Hán về đạo Bụt đã được viết tại Luy Lâu. Mâu Tử tác giả sách này đã mở đường cho công trình hoằng pháp theo phương hướng ấy. Mâu Tử có thể đã là một trong những vị thân giáo sư của thiền sư Tăng Hội. Tại trung tâm Luy Lâu, tăng sĩ người Giao Châu đã được học hỏi cả kinh điển chữ Phạn và chữ Hán, đã phải học hỏi cả Lão giáo và Khổng giáo để có thể hoằng pháp với giới trí thức. Thầy Tăng Hội là một mẫu người lý tưởng cho giới xuất gia thời đó, bởi vì ngoài Phật học, thầy còn lão thông Nho học, Lão học và những khoa học khác như đồ vỹ, thiên văn, địa lý, v.v… Sử dụng Tứ thư và Ngũ kinh để diễn bày Phật học, đó là việc rất thông dụng trong thời ấy. Có những danh từ Phật học mà sau đó mấy trăm năm không còn được dùng, như danh từ Đức Chúng Hựu chỉ cho Đức Thế Tôn, danh từ Tông Miếu chỉ cho tự viện, danh từ Đạo chỉ cho Pháp và Bồ Đề, danh từ Tang Môn chỉ cho Sa Môn, danh từ vô ngô chỉ cho vô ngã, danh từ vô vi chỉ cho Niết Bàn. Ngoài các thiền kinh căn bản như kinh An Ban Thủ Ý, kinh Ấm Trì Nhập, kinh Pháp Cảnh, kinh Đạo Thọ, kinh Niệm Xứ, kinh Tứ Thập Nhị Chương, còn có các kinh đại thừa như kinh Đạo Hành Bát Nhã, kinh Lục Độ Tập. Tăng sĩ Giao Châu thọ trì 250 giới theo giới bản Thập Tụng của Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvastivada), tuy nhiên tất cả đều thực tập theo truyền thống đại thừa và tất cả đều ăn chay. Lúc ấy chưa có giáo đoàn tỳ khưu ni. Các thầy còn quấn y tăng già lê, chưa mặc áo tràng, vì áo tràng chỉ xuất hiện vào đầu đời Đường. Thầy Tăng Hội sang Ngô cũng đắp y tăng già lê màu vàng. Chắc chắn là hồi ấy dân ta đã gọi Buddha là Bụt, đã biết đọc tam quy ngũ giới và xưng tán tam bảo bằng tiếng Sanskrit, cũng có thể đã biết tụng đọc bằng tiếng Việt. Các thầy đã học hỏi và sử dụng các thiền kinh nguyên thỉ theo tinh thần đại thừa. Giáo lý của thầy Tăng Hội chứng tỏ một cách rõ ràng khuynh hướng ấy. Giáo lý Lục Độ là giáo lý đại thừa căn bản. Ngoài việc biên tập kinh Lục Độ Tập, thầy Tăng Hội còn sáng tác Lục Độ Yếu Mục để làm sách giáo khoa cho đạo tràng Luy Lâu.

Chùa Pháp Vân tại Luy Lâu là một đạo tràng hưng thịnh thực tập thiền học. Đến thế kỷ thứ 6, khi thiền sư Vinitaruci vân du tới Giao Châu (562), ông đã tới cư trú tại chùa này và đã gặp thiền sư Quán Duyên người đang chủ trì sự giảng dạy và hướng dẫn thiền tập tại đây. Thiền sư Pháp Hiền là một trong những đệ tử xuất sắc của thiền sư Quán Duyên, sau này lại được đắc pháp với thiền sư Vinitaruci nữa. Ta có nhiều lý do để tin tưởng rằng các thiền sư Huệ Thắng (chùa Tiên Châu Sơn) của Giao Châu, người đã qua dạy thiền ở chùa U Thê ở Bành Thành, cũng như thiền sư Quán Duyên (chùa Pháp Vân) đều là những người thuộc hệ phái thiền Tăng Hội.

Sau một thời gian hành đạo tại Luy Lâu, thầy sang nước Ngô. Thầy tới Kiến Nghiệp kinh đô nước Ngô năm 247, nghĩa là vào năm thứ 10 của niên hiệu Xích Ộ Tại Kiến Nghiệp, thầy đã xây dựng trung tâm hoằng pháp Kiến Sơ, tổ chức giới đàn, và độ người xuất gia. Đây là lần đầu tiên tại Trung Quốc người bản xứ được phép xuất gia để thành sa môn. Thể thức truyền giới của thầy là thể thức tam sư thất chứng. Tam sư là ba vị thầy: hòa thượng, yết ma và giáo thọ. Thất chứng là bảy vị chứng minh. Để có được hội đồng truyền giới, thầy đã cho gửi mời các vị sa môn từ Giao Chỉ qua, tại vì hồi ấy ở Đông Ngô không có sa môn, kể cả sa môn người Ấn độ.

Trung Tâm Kiến Nghiệp

Chùa Kiến Sơ đã do vua Tôn Quyền nước Đông Ngô yểm trợ xây dựng lên làm cơ sở hoằng pháp cho thầy Tăng Hội. Chùa cũng được gọi là Phật Đà Lý (Trung Tâm Phật – Buddha Center). Đây là ngôi chùa đầu tiên được thành lập tại Giang Nam. Cạnh chùa Kiến Sơ còn được xây một ngôi tháp gọi là tháp A Dục. Tháp này chắc chắn là để thờ xá lợi Bụt. Truyền kỳ cho rằng xá lợi xuất hiện là do chú nguyện và định lực của thầy Tăng Hội và các vị đệ tử, nhưng ta có thể đoán định rằng xá lợi này thầy Tăng Hội đã có do bổn sư của mình ở Giao Châu trao truyền, và thầy đã mang theo trên đường hoằng pháp. Sách Cao Tăng Truyện của thiền sư Huệ Hạo nói: “Từ đây đạo Bụt được hưng thạnh ở miền Giang Tả”. Miền Giang Tả là lĩnh thổ Trung Quốc từ sông Dương Tử trở xuống.

Thầy Tăng Hội đã được phép vua Ngô Tôn Quyền tổ chức truyền giới xuất gia cho người Ngô, từ đấy mới có các vị xuất gia người Trung Quốc. Chùa Kiến Sơ là trung tâm đào tạo các vị tăng sĩ này, và sau đó, nhiều ngôi chùa khác đã được tạo dựng trong nước. Khi Tôn Hạo, con của Tôn Quyền, lên ngôi, đạo Bụt bị đàn áp, bởi vì Tôn Hạo nghe lời một số các vị cố vấn, cho đạo Bụt là tà đạo từ ngoại quốc đem tới. Hầu hết các chùa đều bị phá bỏ, tuy nhiên vua quan nhà Ngô đã không dám đụng tới chùa Kiến Sơ vì uy tín của đạo tràng Tổ sư Tăng Hội rất lớn. Tuy không phá chùa nhưng vua lại ép đổi tên chùa thành chùa Thiên Tử. Vua sai nhà trí thức Trương Dục đến chùa để vấn nạn thầy Tăng Hội, cố dồn thầy vào chỗ bí. Trương Dục là một nhà trí thức thông hiểu Lão và Nho, có biện tài rất lớn. Trong cuộc biện luận có nhiều vị tai mắt của giới trí thức ở kinh đô. Thầy Tăng Hội không nao núng. Kiến thức Lão và Nho của thầy cũng rất vững chãi. Thầy ứng đối một cách dễ dàng. Cuộc biện luận kéo dài từ ban sáng đến tối mịt, vậy mà Trương Dục không thể bắt bẻ được một lời nào của thầy Tăng Hội. Trương Dục về tâu lại với vua Tôn Hạo. Ông nói: “Người này rất sáng suốt, rất tài ba, thần không đủ sức đương đầu. Xin bệ hạ xem xét và định liệu”. Vua Tôn Hạo mới gửi xe song mã tới chùa mời thầy Tăng Hội vào cung. Sau khi được đối đáp với thầy và nghe thầy thuyết pháp, vua cũng phải tuân phục, không làm gì được thầy. Thời gian dằng co kéo dài. Cuối cùng, thấm được những lời thuyết pháp của thầy Tăng Hội, vua xin quy y và thọ năm giới với thầy. Vua lại cho trùng tu mở rộng chùa Kiến Sơ và cho phép tái thiết các chùa đã bị phá hoại. Chùa Kiến Sơ tiếp tục đóng vai trò trung tâm hoằng dương Phật pháp qua các triều đại Tây Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần và Tùy, và tên chùa đã từng được đổi là Trường Khánh Tự, Phụng Hiến Tự, Thiên Hỷ Tự, Đại Báo Ân Tự, v.v… Cho mãi đến đời Minh chùa cũng vẫn còn là trung tâm hoằng pháp quan trọng nhất của miền Giang Nam. Vào năm đầu của nhà Đông Tấn, thiền sư Tăng Hựu, lúc ấy còn nhỏ tuổi, đã xuất gia ở chùa này.

Thầy Tăng Hựu (445 – 518) là người đầu tiên viết về lịch sử và hành trạng của tổ sư Tăng Hội. Tài liệu này đã được giữ lại trong các tác phẩm Xuất Tam Tạng Ký Tập (T. 2145) và Cao Tăng Truyện của thiền sư Huệ Hạo (496 – 553). Sau khi được đào tạo thành tài, thầy Tăng Hựu tiếp tục ở lại Kiến Sơ để dạy đồ chúng, hoằng pháp và sáng tác. Thầy cũng là con cháu của thầy Tăng Hội. Thầy Minh Triệt đời Tề, năm 492 cũng đã đến đây học, tiếp nhận luật Thập Tụng từ thầy Tăng Hội, và tiếp tục sự nghiệp hoằng pháp tại đây. Các thiền sư đã thành lập Pháp Nhãn Tông như Khuông Dật, Huyền Tắc và Pháp An cũng đã tu học và hoằng pháp tại đây. Vua Thành Tổ đời Minh cũng đã xây một ngọn tháp bát giác chín tầng trong khung viên chùa, một ngọn tháp nguy nga và rực rỡ. Tiếc thay trong loạn Thái Bình Thiên Quốc, binh lửa đã hủy hoại tất cả, hiện nay chỉ còn di tích.

Một Vị Thiền Sư Lớn

Sự nghiệp thiền sư Tăng Hội rất lớn lao. Nhờ vào những trước tác của thầy, ta biết được hành tướng của sự thực tập thiền tại trung tâm Luy Lâu (Việt Nam) và tại trung tâm Kiến Nghiệp (Trung Quốc) ngày xưa. Tư tưởng Thiền của thầy Tăng Hội là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức. Tuy nhiên, thiền pháp của thiền sư Tăng Hội rất thực tiễn, không hề để thiền giả bay bổng trong vòm trời lý thuyết. Căn bản của thiền pháp này vẫn là sự thực tập hơi thở ý thức và pháp quán chiếu về bốn lĩnh vực hiện hữu gọi là tứ niệm xứ và các pháp quán tưởng căn bản đã được nêu ra trong các thiền kinh nguyên thỉ. Nhân cách của thiền sư Tăng Hội là một nhân cách vĩ đại. Ta chỉ cần đọc bài kệ mà Tôn Xước, một người trí thức trong hoàng gia Đông Ngô đề lên tranh tượng của thầy sau đây thì đủ thấy được nhân cách ấy:

Lặng lẽ, một mình,
đó là khí chất
tâm không bận bịu
tình không vướng mắc
đêm đen soi đường
lay người thức giấc
vượt cao, đi xa
thoát ngoài cõi tục.

Sách này hy vọng trình bày được những nét chính về hành trạng và tư tưởng của thiền sư Tăng Hội mà Phật tử Việt Nam thờ phụng như là vị sơ tổ của thiền học Việt Nam. Nội dung của sách này được làm bằng những bài giảng cho học chúng trong mùa Đông 1994 – 1995 nơi Mai Thôn Đạo Tràng tại Pháp.

Lễ xuất gia cây Bạch quả (Ginkgo tree)

 

 

Từ muôn phương đi chung một con đường.

Sáng ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng, Làng Mai Pháp đã diễn ra lễ xuất gia cho 11 sư em mới. Và tại Mỹ, Tu viện Lộc Uyển cũng tiếp nhận thêm 4 sư em vào đại gia đình áo nâu. Các em là những thành viên thuộc gia đình xuất gia cây Bạch Quả.

Khung cảnh mùa thu thêm rực rỡ bởi màu y vàng của quý thầy, quý sư cô. Buổi sáng thanh bình và những hạt mưa thu càng làm cho không gian buổi lễ thêm ấm cúng. Năng lượng niệm Bụt và tụng kinh hùng tráng của đại chúng đã tiếp thêm sức mạnh tâm linh, yểm trợ cho các giới tử trong giờ phút xuống tóc và tiếp nhận giới pháp.

Gương mặt của các em sáng ngời và trang nghiêm. Các em đến từ các quốc gia khác nhau: Pháp, Đức, Bồ Đào Nha, Phần Lan, Đài Loan, Mỹ, Hà Lan, Malaysia và Việt Nam, cùng quỳ trước Tam Bảo phát lời nguyền dũng mãnh:

          Cạo sạch mái tóc

          Nguyện cho mọi người

          Dứt hết phiền não

          Độ thoát cho đời.

Kể từ hôm nay các sư em đã chính thức trở thành thành viên của Tăng đoàn áo nâu, chung vui nếp sống phạm hạnh và cùng đi với nhau như một dòng sông. Để tiếp nối Sư Ông trong việc Việt hóa các tên gọi, các sư em đã được quý thầy, quý sư cô lớn thay mặt Sư Ông trao cho những cái tên rất giản dị, thuần Việt và ý nghĩa: Chân Trăng Khương Cư, Chân Trời Ruộng Đức, Chân Trời Ruộng Pháp, Chân Trăng Khương Định, Chân Trời Ruộng Hiếu, Chân Trời Ruộng Nghĩa, Chân Trăng Khương Âm, Chân Trăng Khương Ý, Chân Trăng Khương Giới, Chân Trời Ruộng Lành, Chân Trời Ruộng Hương và Chân Trăng Thanh Đoan, Chân Trời Chí Đạo, Chân Trời Minh Hội, Chân Trời Minh Đại. Ruộng (Điền) có nghĩa là mảnh đất tâm màu mỡ, nơi các sư em có thể gieo trồng và tưới tẩm những hạt giống tốt đẹp lành thiện mà các sư em đã được tiếp nhận từ bao thế hệ tổ tiên tâm linh và huyết thống để hạt lành được đơm hoa kết trái bằng công phu tu học cùng Tăng thân.

 

 

Đã có đường đi rồi, con không còn lo sợ

Buổi chiều cùng ngày, đại chúng xuất sĩ và cư sĩ đã có cơ hội được ngồi chung với nhau như một gia đình tâm linh. Đây cũng là dịp cho các sư em mới được chính thức ra mắt đại chúng. Qua những chia sẻ của các sư em, đại chúng cảm nhận được nguồn năng lượng dũng liệt của những người trẻ khao khát đi tìm và chọn cho mình một đường hướng tâm linh cho cuộc đời. Các em cũng gửi lời tri ân sâu sắc tới những nhân duyên, những cuộc gặp gỡ và đặc biệt là những người thân trong gia đình, những người bạn đã yểm trợ cho mình trên bước đường tu học.

Sư chú Trời Ruộng Nghĩa (người Đức) chia sẻ:

Năm vừa qua là một năm rất dài, trôi qua rất nhanh và có nhiều điều đã xảy ra. Nhưng cũng là một năm rất đẹp mà con và các bạn tập sự được cùng nhau thực tập, lớn lên và chuyển hoá. Con nhận được sự yểm trợ rất nhiều từ gia đình huyết thống. Con được trao truyền rất nhiều hạt giống tốt từ mẹ. Mẹ của con thực sự là một vị bồ tát với khả năng lắng nghe, lòng từ bi và sự thấu hiểu. Con hạnh phúc khi đến Làng. Đây thực sự là nơi con tìm kiếm, nên con đã quyết định dừng chân ở lại đây.

Sư cô Trăng Khương Giới (người Đài Loan) chia sẻ:

Trong con tràn đầy lòng biết ơn tới ba mẹ đã sinh ra và đồng ý với việc con xuất gia. Đó là một sự yểm trợ lớn với con. Chị con cũng sẽ ở đây ba tháng để thực tập cùng con. Con biết ơn tăng thân xuất sĩ Hồng Kông đã mở những khóa tu nhờ đó mà con biết tới Làng Mai để thực tập. Con cũng xin dành lời tri ân tới tăng thân cư sĩ Đài Loan – những người đã thành lập ra Tăng thân để con có nơi tu tập khi còn là một cư sĩ. Con biết ơn quý sư cô đã từ bi cho con không gian thực tập và cho con cơ hội xuất gia hôm nay vì con biết để ôm ấp những yếu kém của con không phải dễ. Con biết ơn sư cô y chỉ sư thời gian qua đã kiên nhẫn chăm sóc và nâng đỡ con. Biết được Tam Bảo là một hạnh phúc lớn trong cuộc đời của con.

 

 

Sư cô Trăng Khương Âm (người Pháp) chia sẻ:

Con muốn gửi lời cảm ơn chị họ con đã giúp con biết đến Làng. Trái tim con càng ngày càng mở rộng ra, tuy đôi lúc con gặp khó khăn từ gia đình huyết thống. Cảm ơn mẹ đang có mặt đây trong ngày con xuống tóc, dù không dễ dàng cho mẹ. Tuy hiện tại mẹ chưa quen Làng và lo lắng khi con tu học ở đây nhưng con tin rằng nếu mẹ thấy con thực tập bên các bạn đồng tu thì mẹ sẽ hạnh phúc. Con cảm nhận nhiều tình thương từ quý sư cô. Sáng nay, trong giờ phút xuống tóc, khi được sư cô Chân Đức để tay lên đầu mình con cảm nhận được dòng năng lượng tâm linh đi vào trong con.

Sư cô Trăng Khương Định (người Việt) chia sẻ:

Con cảm nhận được năng lượng sự sống đã làm nên con – năng lượng tổ tiên và ba mẹ trong con. Con biết ơn những người bạn con đã gặp trong cuộc đời. Con biết ơn Thầy đã hiến tặng con đường hiểu và thương, biết ơn sư cô Chân Không cho con cơ hội đến Xóm Mới thực tập. Cám ơn quý sư cô đã ôm ấp và nâng đỡ con. Con cũng muốn gửi lời cám ơn đến sư cô y chỉ sư – người vừa là cha và mẹ con trong thời gian con tập sự. Đó thực sự là một hành trình tâm linh tuyệt vời. Trước đây con có nhiều ước nguyện mà con không biết làm thế nào nhưng giờ đây con thật sự cảm thấy mình không còn đơn lẻ nữa mà trở thành một phần của tăng thân lớn. Năng lượng của buổi lễ sáng nay rất hùng mạnh, con thấy mình được sinh ra một lần nữa rất tươi mới trong vòng tay Tăng thân.

 

 

Niềm thương trong lòng tôi, thắm tươi không nhạt phai

Giây phút có mặt cho nhau càng trở nên gần gũi, thấu hiểu và thật xúc động khi đại chúng được lắng nghe những chia sẻ từ người thân của các sư chú, sư cô mới. Đó là tình cha, tình mẹ với những hy sinh âm thầm cho chí nguyện thiêng liêng của những đứa con xen lẫn niềm tự hào về quyết định của các con mình; là anh, là chị, là bạn với những sẻ chia và nâng đỡ tận tình. Và đó cũng là tiếng lòng biết ơn xin gửi tới Tăng thân – gia đình tâm linh sẽ đồng hành với các sư em trên con đường tu học.

Ba sư chú Trời Ruộng Hương (người Phần Lan):

Hơn hai mươi năm trước, khi sinh con ra tôi không nghĩ con của tôi sau này sẽ có thể đi xuất gia. Chúng tôi đã từng tính gửi sư chú vào trường học nội trú, nhưng thật không ngờ khi lớn lên và trưởng thành hơn, sư chú lại lựa chọn con đường này. Tôi vui khi sư chú đã tìm được con đường. Buổi lễ hôm nay rất tuyệt vời.

Mẹ sư chú Trời Ruộng Hương:

Hai năm trước, sư chú đã từng bày tỏ ý muốn xuất gia và tôi đã nghĩ đó là một ước muốn bồng bột thôi. Nhưng khi đến đây tôi mới cảm nhận được lí do vì sao qua hai năm mà ước nguyện đó vẫn còn mãnh liệt trong sư chú. Điều này làm cho tôi có một chút tự hỏi: biết đâu tôi cũng có thể trở thành một sư cô (cười).

Mẹ sư chú Trời Ruộng Nghĩa:

Mẹ rất tự hào và hạnh phúc khi con trai đã tìm thấy con đường tu học theo pháp môn Làng Mai – nơi mà sư chú đã tìm kiếm từ lâu rồi.

Em gái của sư chú Trời Ruộng Nghĩa:

Gia đình con biết ơn Tăng thân vì đã chấp nhận cho anh con xuất gia. Con hạnh phúc khi anh con tìm ra con đường thực tập chánh niệm và được là chính mình. Được sống chung với nhau như một Tăng thân, điều đó rất đẹp.

Chị họ sư cô Trăng Khương Âm chia sẻ:

Con cảm nhận hai năm qua sư cô đã cắm rễ sâu hơn vào sự thực tập. Tuy sư cô là em con trong gia đình huyết thống nhưng là chị lớn trong gia đình tâm linh của con. Trước đây, chúng con thường chia sẻ về những chủ đề triết học, mong rằng cái đó sẽ giúp chúng con đi qua khổ đau nhưng từ bây giờ chúng con đã có con đường tâm linh. Và mỗi khi con có khó khăn, con biết con sẽ đến với sư cô để được nương tựa.

Chị của sư cô Trăng Khương Âm:

Con hạnh phúc khi em con tìm ra được một tăng thân thích hợp để xuất gia tu học. Tăng thân ở đây ai cũng có tên rất đẹp. Chúc mừng sư cô vì đã rất can đảm quyết định lựa chọn và đi trên con đường này.

Bạn sư cô Trăng Khương Định:

Khi nghe sư cô nói muốn xuất gia con đã rất bất ngờ. Tuy sư cô chưa biết rõ lý do vì sao mình muốn đi tu nhưng trong lòng sư cô không ngừng thôi thúc. Vì sư cô mới biết và thực tập giáo lý đạo Bụt nên con nghĩ đó chỉ là quyết định bồng bột. Nhưng sau này con nghĩ sư cô có thể đã từng thực tập từ muôn ngàn kiếp rồi. Con tin rằng sư cô sẽ càng ngày càng nở ra như một đóa hoa và giúp cho được nhiều người.

Bạn của sư cô Trăng Khương Cư:

Con thấy ai cũng như tái sinh lại trong một tinh thần mới, về với một gia đình mới – gia đình cây Bạch Quả, mỗi người là một cây, trăm cây tựu thành rừng và tăng thân khắp chốn. Trong tinh thần đấy, con không hiểu sao mình lại rơi nước mắt. Những giọt nước mắt hạnh phúc hay sự chạnh lòng khi bạn đã thong dong bước trên con đường của Bụt, theo bước chân Thầy còn mình thì vẫn trôi lăn trong nhân gian hỗn độn. Con biết bạn con, tri kỷ của con vẫn đấy. Không chỉ thế, bạn còn giúp con có thêm một gia đình lớn nhờ con đường bạn chọn. Bạn cũng sẽ vững chãi hơn nếu con cần nương tựa vì bạn được nâng đỡ bởi tăng thân.

 

Quý thầy và quý sư cô tu viện Lộc Uyển chụp hình lưu niệm với các sư em vừa mới xuất gia