Pháp thoại năm 2007

012007.02.22Bí quyết an lạc trong đời sốngmp3
022007.03.01Pháp thoại tại Tu viện Bát Nhã  Chuyển hoá khổ đaump3
032007.03.06Vấn đáp tại Tu viện Bát Nhãmp3
042007.03.15Tình thương và hạnh phúc trong Doanh Nghiệpmp3
052007.03.16Pháp thoại tại Chùa Vĩnh Nghiêmmp3
062007.03.18Chùa Vĩnh Nghiêm:  Người thương tôi chết bây giờ ở đâu?mp3
072007.03.19Tiếp chuyện với toà soạn báo Giác Ngộmp3
082007.03.22Pháp thoại tại chùa Phổ Quang Mục đích của người tump3
092007.03.27Này thôi hết kiếp đoạn trường từ đâymp3
102007.04.18Hãy là một hành giảmp3
112007.04.20Người thương tôi chết bây giờ ở đâu 01mp3
122007.04.21Người thương tôi chết bây giờ ở đâu 02mp3
132007.04.22Người thương tôi chết bây giờ ở đâu 03mp3
142007.04.23Tuệ giác của đạo Bụt trong Truyện Kiềump3
152007.09.13Để có thể chăm sóc thân và tâmmp3
162007.09.14Nghệ thuật hóa giải những khó khăn trong gia đìnhmp3
172007.09.15Vấn đápmp3
182007.09.16Hàn gắn những vết thương trong gia đìnhmp3

Cho Windows

Mindful Clock

Đây là một ứng dụng Chuông Chánh Niệm được lấy cảm hứng từ những lời dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Bạn có thể tải xuống toàn bộ chương trình hoặc chỉ có Tiếng Chuông. Bạn có thể đặt chuông trong một khoảng thời gian chính xác hoặc ngẫu nhiên.

Bạn hãy tải xuống chương trình trước, sau đó tải xuống tiếng chuông vào thư mục c:\Program Files\MindfulClock. Khi các tệp đã được tải xuống, mở điều khiển Mindfulclock và nhấp đúp vào tên tệp âm thanh để lựa chọn.

Click vào đây để tải về và cài đặt

Cho máy Mac

Download App  

Cho trình duyệt Chrome

Bước 1: Click vào đây để mở trang cài đặt 

Bước 2: Click vào biểu tượng:

Bước 3: Trình duyệt sẽ hiện ra cửa sổ giống dưới đây: 

Tiếp tục Click vào nút “thêm tiện ích và chờ trong chốc lát để Trình duyệt tải về và cài đặt.

Bước 4: Sau khi cài đặt xong Màn hình sẽ tự động xuất hiện biểu tượng Logo bên cạnh thanh trình duyệt. Bạn có thể Click vào Biểu tượng Logo và bắt đầu cài đặt sử dụng theo thời gian thích hợp cho sự thực tập của bạn.

 

Trở về thương lấy chính mình

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 16.11.1997 tại tu viện Rừng Phong)

 

Chúng ta ai cũng đã có thương nhưng có lẽ ít người có cơ hội nhìn lại tình thương của mình, xem thử ta đã khổ đau như thế nào trong khi thương? Chúng ta đã hạnh phúc như thế nào trong khi thương và đã học được gì trong quá trình thương yêu? Thật ra phần lớn ai trong chúng ta cũng bận rộn rất nhiều và chưa có cơ hội để ngồi lại và làm việc ấy để có thể học được từ những kinh nghiệm thương yêu, khổ đau và hạnh phúc.

Chúng ta thương cha, thương mẹ, thương con, thương cháu, thương trời, thương đất… Chúng ta thương nhiều thứ lắm. Mỗi người trong chúng ta nên để ra độ chừng bảy ngày để suy nghĩ và ta phải nhìn cho sâu, phải thành thật, để có thể bắt đầu thấy được bản chất của tình thương cũng như của những khổ đau, khó khăn và hạnh phúc mà tình thương ấy đã đem tới. Từ đó, chúng ta sẽ rút ra những kinh nghiệm và sẽ chuyển hóa được tình thương, để tình thương ấy bớt gây đau khổ cho mình và cho người, và cũng để bắt đầu tạo thêm hạnh phúc cho mình và cho người mình thương.

 

 

Chúng ta thương nhưng thực sự ít ai biết được bản chất của tình thương.

Nếu biết thực tập chánh niệm và quán chiếu, thì chúng ta sẽ có cơ hội nhiều hơn để hiểu biết và chuyển hóa bản chất của tình thương trong ta. Nhà văn Pháp Antoine de St. Exupéry, tác giả quyển “Hoàng tử bé” (Le Petit Prince), có nói: “Thương nhau không phải là nhìn nhau, mà là cùng nhìn về một hướng.” (Aimer, ce n’est pas se regarder l’un l’autre, c’est regarder ensemble dans la même direction). Chúng ta thử xét xem lời tuyên bố của ông có đúng không?

Tôi nghĩ là thương nhau mình có thể ngồi nhìn nhau được chứ, miễn là đừng ngồi suốt ngày mà thôi! Lâu lâu phải nhìn nhau, phải nhận diện rằng người thương của mình có mặt. Nhìn nhau ở đây có nghĩa là công nhận sự có mặt của người kia. Nếu thương mà không công nhận sự có mặt của người kia thì người kia sẽ tủi chết và sẽ nghĩ là mình không thật sự được thương. Người kia sẽ nói: “Anh không bao giờ để ý tới tôi, anh không bao giờ nhìn mặt tôi, anh không bao giờ ý thức là tôi đang có mặt!”. Như vậy không được. Chúng ta phải biết nhìn nhau và phải tập nhìn có chánh niệm. Nhìn như thế nào và nói như thế nào để người kia biết mình thật sự có mặt cho người đó, và người đó thấy sự có mặt của họ đang được công nhận và trân quý. Nếu người mình thương làm như mình không có mặt trên cõi đời này thì mình sẽ có cảm tưởng là mình không thực sự được thương, là mình đang bị bỏ quên bởi người ấy. Nhìn nhau vì vậy rất quan trọng.

Nhưng mà vấn đề là khi nhìn nhau mình sẽ thấy gì? Khi thấy có cái gì dễ thương thì mình mới thương. Bắt đầu là như vậy. Mình phải thấy người kia đẹp, mình phải thấy người kia thật, mình phải thấy người kia hiền. Ai cũng muốn thương, ai cũng cần đến cái Chân, cái Thiện và cái Mỹ. Thiện là sự hiền từ. Ai lại đi thương một bà chằng bao giờ! Mỹ là đẹp. Quỷ Dạ Xoa xấu quá, khó thương lắm! Ngoài ra, đối tượng của sự thương yêu còn phải thật -Chân. Nếu đối tượng đó chỉ là một cái bóng dáng, một cái mặt nạ hoặc một sự giả trang thì làm sao mình thương được, phải không? Nếu đối tượng đó chẳng qua chỉ là phấn sáp, chẳng qua chỉ là cái hào nhoáng bên ngoài thì nó không thật. Không ai mà lại đi thương cái giả dối. Vì thế, đối tượng của sự thương yêu phải là sự thật. Trừ khi mình dại dột, bị đánh lừa thì mình mới kẹt vào cái giả ngụy mà thôi.

Cho nên trong khi thương, ta phải sáng suốt lắm. Nếu không thì ta sẽ mua lầm hàng giả. Mà bây giờ thiên hạ bán hàng giả rất nhiều. Thiên hạ chuyên đi mua những sản phẩm hóa trang về để sơn phết. Họ dùng những phương tiện kỹ thuật làm ra đủ thứ giả: lỗ mũi cũng giả, ngực cũng giả, rồi đạo đức cũng giả. Giả dối nhiều lắm. Nước hoa có nhiều thứ. Nước hoa có công dụng lấp đi những cái không đẹp, không thơm. Cái giả dối rất nhiều, nếu không tỉnh táo, mình sẽ bị kẹt. Đối tượng của sự thương yêu như vậy không “chân”. Đó là đứng về phương diện hình hài. Còn đứng về phương diện đạo đức cũng vậy, có đạo đức giả. Nghĩa là mình không thánh thiện, không hiền lành, không có lòng tốt nhưng mình làm ra cái kiểu là mình có thánh thiện, có sự hiền lành, có sự tốt bụng. Nhiều người bị lừa về chuyện giả trang đạo đức lắm.

Do đó, khi thương ta phải tỉnh táo. Nhưng thường thường, thương thì không có tỉnh táo. Thương còn được gọi là “cơn mê”. Trong tâm trạng thương, vì mình không được tỉnh táo nên mình mới bị kẹt vào những cái không có thật. Đứng về phương diện bóng sắc cũng như đứng về phương diện đạo đức sự tình đều như vậy. Người đó không hiền mà mình tưởng là hiền. Thấy bề ngoài hiền khô vậy, nhưng mà hãy coi chừng! Nếu biết nhìn bằng con mắt của chánh niệm ta sẽ thấy ba cái Chân, Thiện và Mỹ dính liền với nhau. Đó là tính tương tức của cả ba. Trong Chân phải có Thiện và Mỹ, trong Thiện phải có Chân và Mỹ, trong Mỹ phải có Chân và Thiện. Một cái phải có hai cái kia thì mới thực sự là nó được. Nếu không có Thiện và Mỹ thì đó chưa phải là Chân. Mình phải thấy ba cái đó tương tức.

Thương là một quá trình quán sát, nhưng người thương ít khi chịu quán sát. Mình để cho mình bị vướng vào đó thôi. Bước đi, mình bị té, mình bị sập bẫy. “Fall in love” (tomber amoureux) tức là té. Đi làm sao mà bị té? Không có chánh niệm, không biết cái gì xảy ra, thế là mình bị té, bị kẹt. Có khi mình mơ hồ biết là có hầm hố, có hiểm nguy nhưng mình vẫn đi, mình vẫn muốn bị “té”. Ở đời, biết bao nhiêu người trẻ bị kẹt trong tình huống như vậy làm tan tành cuộc đời của mình. Đó là tại vì họ không cẩn thận, cứ để cho những cái bề ngoài đánh lừa. Mình có quyền thương cái chân, cái thiện và cái mỹ, với điều kiện đó là chân thật, thiện thật và mỹ thật, phải vậy không? Và đối tượng của sự thương yêu không thể là vọng tưởng, không thể là một tri giác sai lầm. Không chân mà tưởng là chân, không thiện mà tưởng là thiện, không mỹ mà tưởng là mỹ, đó gọi là tri giác sai lầm. Vì thế tình thương thường thường là một cơn mê, một passion, một cái dream. Và khi tỉnh dậy được rồi thì trong thân và trong tâm đã có biết bao nhiêu thương tích.

Đức Thế Tôn dạy là mình phải thương; nhưng cái thương của mình phải dựa trên cái thấy chân thực chứ không nên dựa trên vọng tưởng. Khi đối tượng tình thương của mình là một vọng tưởng mà không phải là sự thật thì mình sẽ đau khổ rất nhiều. Có những cái đẹp thầm kín, có những cái đẹp mình phải nhìn kỹ lắm mới thấy được. Và thường thường những cái đẹp chân thật đều như vậy, mình phải nhìn kỹ mới thấy. Khi cái đẹp là cái đẹp chân thật thì cái đẹp đó có khả năng nuôi dưỡng mình, có khả năng làm đẹp cuộc đời mình. Vì thế thương cái đẹp rất quan trọng, với điều kiện cái đẹp đó phải là cái đẹp đích thực. Cái thiện cũng là cái đẹp. Ví dụ như lòng từ bi. Lòng từ bi cũng là một cái gì rất đẹp. Khi thương Đức Thế Tôn, mình thấy một phần quan trọng của tình thương mình là do ở chỗ Đức Thế Tôn có lòng từ bi. Mình thương tình thương của Đức Thế Tôn. Đó là một thứ tình thương rất cần thiết cho cuộc đời. Đức Thế Tôn có khả năng thấy được những đau khổ ở xung quanh Ngài và Đức Thế Tôn không quên những đau khổ đó. Ngài tìm những biện pháp để làm vơi đi những khổ đau đó. Và cả cuộc đời của Đức Thế Tôn là để làm chuyện ấy, chuyện nhắm tới làm vơi đi những khổ đau của mọi người.

Khi mình thương ai thì mình thương từ trong ra ngoài và cả ngoài lẫn trong. Bên trong Đức Thế Tôn có một tình thương rất lớn, cho nên mình thương cái tình thương ấy của Đức Thế Tôn. Từ tình thương đó, mình muốn hòa nhập làm một với Đức Thế Tôn và mình muốn tham dự vào tình thương đẹp đẽ này, mình muốn học thương được như Đức Thế Tôn. Và từ từ mình khám phá ra rằng ở trong mình cũng có cái đó. Nơi Đức Thế Tôn, tình thương này phát hiện rất rõ. Nhưng như vậy không có nghĩa là mình không có tình thương ấy trong bản thân mình. Chính Đức Thế Tôn đã nói với mình là: “Con cũng có cái đó, con cũng có hạt giống từ bi và tuệ giác đó.” Ban đầu, mình thấy nó ở nơi người khác nhưng từ từ mình thấy nó ở ngay chính mình. Mình trở thành đối tượng thương yêu của chính mình. Mình thương tình thương đó nơi chính mình.

 

 

Trở về thương lấy chính mình

Thường thường, mình cứ nghĩ rằng thương là thương những thứ ở ngoài mình, nhưng thực sự ở trong bản thân mình cũng có những thứ rất dễ thương. Ở trong mình có Chân, có Thiện và có Mỹ mà mình chưa nhận diện được. Đôi khi mình chỉ tiếp xúc được với những thứ không phải là Chân, không phải là Thiện, không phải là Mỹ ở nơi mình. Vì thế mình cứ tự đánh giá rất thấp về mình. Mình có mặc cảm là mình giả dối, không có lòng từ bi, không đẹp. Vì vậy mình có khuynh hướng giả trang. Mình giả dối với mình, mình giả dối với người khác. Mình khoác vào cho mình những bóng dáng của Chân, của Thiện và của Mỹ để mình có thể “impress” (“gây ấn tượng”) được người khác. Sở dĩ mình giả dối như vậy là vì mình chưa có khả năng thấy được cái đẹp, cái thật và cái lành ở nơi mình. Nếu mình có khả năng tiếp xúc được với cái Chân, Thiện và Mỹ ở tự thân thì mình không cần giả dối nữa. Mình có đức tin là: “I am something”. Lúc đó mình bắt đầu sống thật với mình. Mà nếu mình không sống thật với chính mình được thì mình không thể nào sống thật được với người khác.

Chúng ta có cái mặc cảm là chúng ta không có cái đẹp, cái thật và cái hiền. Chúng ta phải nhổ gốc cho được cái mặc cảm đó. Đức Thế Tôn đã xác nhận điều này: “Con có Chân- Thiện và Mỹ nơi con.” Chúng ta đôi khi gọi Chân-Thiện- Mỹ này là Phật tánh. Và: “Con phải tiếp xúc được với những cái đó để con đừng có mặc cảm và từ lúc đó con sẽ không còn giả dối nữa và con sẽ không còn đi tìm kiếm ở bên ngoài, bởi vì trong con đã có đầy đủ những cái này.”

Nhìn Đức Thế Tôn, mình thấy Chân, Thiện, Mỹ rõ ràng. Và khi mình soi gương vào Đức Thế Tôn để thực tập, mình cũng thấy trong mình có Chân, Thiện và Mỹ. Vì vậy, thương Đức Thế Tôn tức là mình tạo một cơ hội để trở về thương lấy chính mình. Trong giáo lý đạo Phật, trước khi mình có thể thương ai mình phải thương được mình trước. Điều này rất quan trọng. Self-love is the foundation for the love of others. Điều này quan trọng nhưng ít người nói tới là vì ai cũng nghĩ “cái đó” không có trong mình, cho nên mình mới đi tìm ở ngoài. Và khi mình đi tìm như vậy, ít khi mình tìm ra được đối tượng chân thật mà lại bị vướng mắc vào những hình tướng ngụy trang bên ngoài. Vì thế đã khổ rồi, mình lại khổ thêm nhiều tầng nữa.

Mình thương Đức Thế Tôn là vì Đức Thế Tôn có sự vững chãi, thảnh thơi và hạnh phúc, không có gì lay chuyển nổi. Còn mình thì thiếu cái vững chãi đó. Mình có cảm tưởng là mình rất dễ bị tan vỡ, rất dễ bị lung lay, cho nên mình mới đi kiếm sự vững chãi ở một chỗ khác, đi kiếm ở Đức Thế Tôn. Thương là vì thiếu cho nên đi tìm. Cái “vững chãi” ấy trong Kinh gọi là bất động. “Diệu trạm tổng trì bất động tôn”. Lúc đầu mình nghĩ là mình không có, nhưng sau khi mình tin vào Đức Thế Tôn và nhận Đức Thế Tôn làm Thầy, thì mình được nghe Ngài nói: “’Con cũng có cái đó. Con phải về tìm cho được cái đó.” Đức Thế Tôn có sự giải thoát, có sự tự do, có sự thảnh thơi và mình cần những cái đó quá. Mình thấy là mình hệ lụy, mình vướng mắc, mình không có tự do gì cả. Đối với các phiền não, mình dễ trở thành con mồi. Mình không có tự do đối với các phiền não tham, sân, si, mạn, nghi và kiến, thành thử mình đi tìm tự do ở chỗ khác. Cố nhiên là mình đi tìm ở các bậc đạo sư. May mắn là mình gặp một con người như Đức Thế Tôn. Con người đó có chất liệu đích thực của sự vững chãi và sự thảnh thơi. Như thế, mình có cơ hội trở về với chính mình và tìm ra các chất liệu đó trong mình.

Mình không có hạnh phúc. Những cái mình thường gọi là hạnh phúc đó chưa phải là hạnh phúc chân thật. Đó chỉ là những vui nhộn nhất thời, những ồn ào, những bóng dáng giả tạo bên ngoài để che lấp những niềm đau nỗi khổ bên trong. Mình vui nhộn như vậy nhưng đến giây phút ngồi yên lại, mình thấy những cái vui đó rất giả tạo và niềm đau nỗi khổ của mình ở dưới tiềm thức quá lớn, bắt đầu trồi lên, rồi mình lại phải đi ra, đi nhảy disco, đi nghe nhạc, đi mở tivi… để che lấp nó. Những cái mà mình gọi là hạnh phúc đó không thật sự là hạnh phúc. Khi mình thấy một người có hạnh phúc chân thật, mình rất ham. Mình thấy Đức Thế Tôn ngồi rất vững chãi, rất thảnh thơi, rất an lạc. Tại sao ở đời hạnh phúc lại có thể có được như thế hả? Mình không tin là hạnh phúc có thật. Khi gặp được một người có hạnh phúc thật sự mình mừng quá. Lúc đó mình bắt đầu nghĩ là hạnh phúc có thể có được. Đức Thế Tôn dạy: “Hạnh phúc đó có ở trong con, con phải trở về tìm cho ra nó”. Cuộc gặp gỡ giữa mình với Đức Thế Tôn bắt đầu từ sự đi tìm những cái mình tưởng là mình không có. Đến khi thật sự được gặp Đức Thế Tôn, mình có cơ hội để trở về với mình và nhận diện ra cái mà ngày xưa mình tưởng là không có.

Thường thường chúng ta có cái cảm giác thiếu vắng. Mình nghĩ mình là một cái nồi chưa có vung và mình đi khắp tam thiên đại thiên thế giới để tìm một cái vung đậy lên cái nồi của mình. Cái vung đó có thể là một người con trai hay một người con gái nào đó mà mình hy vọng sẽ gặp được. Gặp được người yêu lý tưởng là tìm được cái vung đậy lên cái nồi. Và người nào cũng có cảm tưởng mình là một cái nồi không có vung. Cái nồi không có vung đó là cái gì vậy? Nhìn cho kỹ thì đó là sự trống vắng. Những cái mình cho là mình không có, tức là Chân, Thiện và Mỹ, mình tin là mình không có, cho nên mình mới đi lý tưởng hóa người yêu chỉ vì mình nghĩ người yêu đó là Chân, là Thiện, là Mỹ.

Nhưng ác hại thay, sau vài tháng hay là một năm, mình khám phá ra rằng người yêu của mình cũng không phải là Chân, không phải là Thiện, không phải là Mỹ. Người yêu của mình cũng như mình thôi. Người yêu của mình cũng chỉ là “một cái nồi không có vung!” Hầu hết chúng ta đều đi tìm trong thế giới cái nửa mà chúng ta thiếu (the other half of yourself), và biết bao nhiêu người trong chúng ta đã thất vọng. Bởi vì “cái nửa kia”, mới tìm ra đó, mình tưởng là cái đích thực mà mình cần, chỉ sau một thời gian mình lại khám phá ra rằng nó không phải là cái đích thực mà mình cần. “Cái nửa kia” cũng là một cái nửa đang đi tìm như mình vậy!

Khi Đức Thế Tôn thành đạo dưới cây Bồ Đề, Ngài đã thốt lên một câu để tỏ lộ sự ngạc nhiên: “Lạ thay, tất cả mọi chúng sanh đều có cái đó mà không hề biết là mình có cái đó”. “Cái đó” tức là khả năng vững chãi, thảnh thơi và bản chất giác ngộ. Chúng ta cứ trôi lăn từ đời này sang đời khác trong đại dương của khổ não. Trôi lăn như thế là để đi tìm cái nửa kia. Mà đi tìm cái nửa kia là vì mình không biết cái nửa kia đã nằm ngay trong cái nửa này rồi. Bây giờ nói thì người ta báng bổ, nhưng mà kỳ thực tình thương có nghĩa là thương chính mình và nhận ra những gì mình thiếu, mình tìm kiếm đã có sẵn trong chính mình (to love means to love yourself, to recognize that what you lack is within yourself). Khi mình bắt đầu khám phá và tiếp xúc được với hạt giống của Chân, của Thiện và của Mỹ trong mình, thì mình bắt đầu có tự tin. Và hạnh phúc chân thật chỉ có được khi lòng tự tin đó nứt mầm.

 

 

(Phần 2: Cuộc tương phùng giữa ta với Đức Thế Tôn)

Sơ Tổ Thiền tông Việt Nam – Thiền sư Khương Tăng Hội

(Trích từ cuốn “Thiền sư Khương Tăng Hội” – Sư Ông Làng Mai)

 

 

Thiền sư Tăng Hội là tổ sư của Thiền tông Việt Nam. Thân phụ của thầy là người Khương Cư (Sogdiane, Bắc Ấn), mẹ thầy là người Việt. Mới hơn mười tuổi thì cả cha và mẹ đều qua đời, và thầy được nhận vào chùa làm chú tiểu.

Sa di Tăng Hội đã được học kinh Phật bằng tiếng Phạn và cũng đã được học chữ Hán. Lớn lên, thọ giới lớn, không những thầy tinh thông Phật học mà cũng tinh thông cả Nho học lẫn Lão học nữa. Vì tài liệu thiếu thốn, ta không biết thầy đã học đạo và hành đạo tại đạo tràng nào ở kinh đô Luy Lâu của Giao Chỉ, trước đó nội thuộc nhà Hán mà kinh đô là Lạc Dương, và sau năm 229, khi nhà Hán sụp đổ, thì nội thuộc vào nước Đông Ngô, một trong ba nước của đời Tam Quốc. Kinh đô Đông Ngô là Kiến Nghiệp, tức là Nam Kinh bây giờ.


Trung Tâm Luy Lâu

Thầy đã thiết lập đạo tràng, huấn luyện đồ chúng và phiên dịch kinh điển tại Giao Chỉ. Trung tâm hành đạo của thầy có thể đã được thiết lập ở chùa Diên Ứng, còn gọi là chùa Dâu hay chùa Pháp Vân, ở thủ phủ Luy Lâu, tức phủ Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Chùa Pháp Vân dựng gần nha môn của quan thái thú Sĩ Nhiếp, đã là một trung tâm hành đạo phồn thịnh cho đến triều nhà Lý, dù rằng sau đó Luy Lâu không còn là thủ phủ của Giao Châu nữa. Tăng sĩ người Giao Châu cư trú đông đảo ở đây và tu tập hành đạo dưới sự hướng dẫn của thiền sư Tăng Hội. Tại trung tâm này cũng có hai vị cư sĩ từ kinh đô Lạc Dương tỵ nạn chạy về, đó là Trần Tuệ và Bì Nghiệp. Cả hai đều là đệ tử tại gia của thiền sư An Thế Cao ở Lạc Dương. Thầy An Thế Cao là người An Tức (Parthia) cũng Bắc Ấn. Hồi đó bên nhà Hán, người Hán chưa được phép xuất gia làm tăng sĩ. Chỉ ở Giao Châu mới có tăng đoàn địa phương, ngoài một số ít tăng sĩ người Ấn độ. Hai vị cư sĩ này đã mang theo về Luy Lâu một số kinh thiền do thiền sư An Thế Cao dịch. Thầy Tăng Hội đã mời các vị này gia nhập vào ban nghiên cứu phiên dịch và chú giải kinh điển của trung tâm Luy Lâu. Cư sĩ Trần Tuệ đã chú giải kinh An Ban Thủ Ý. Thầy Tăng Hội đã đọc lại bản chú giải, thêm bớt, và viết bài tựa. Bài tựa của kinh An Ban Thủ Ý, theo tài liệu chắc chắn, đã được viết tại Giao Châu, và nhiều kinh khác mang tên thầy là dịch giả chắc hẳn cũng đã được dịch tại Giao Châu.

Truyền thống của thầy Tăng Hội thành lập đã trở nên một thiền phái vững mạnh, tồn tại mãi tới đời Lý và sau đó đến đời Trần mới hòa nhập cùng các thiền phái như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường, v.v… vào thiền phái Trúc Lâm. Sách Thiền Uyển Tập Anh có cho biết là người đại diện cho thiền phái Tăng Hội ở thế kỷ thứ 12 là thiền sư Lôi Hà Trạch. Rất tiếc là ta không có tài liệu gì thêm về thiền phái này. Tại Luy Lâu hồi ấy, giới trí thức nhà Hán về tỵ nạn đông lắm và vì vậy giáo pháp của đạo Bụt đã phải được trình bày theo một phương cách để người có Lão học và Khổng học có thể dễ hiểu và dễ tiếp nhận. Tác phẩm đầu tiên viết bằng chữ Hán về đạo Bụt đã được viết tại Luy Lâu. Mâu Tử tác giả sách này đã mở đường cho công trình hoằng pháp theo phương hướng ấy. Mâu Tử có thể đã là một trong những vị thân giáo sư của thiền sư Tăng Hội. Tại trung tâm Luy Lâu, tăng sĩ người Giao Châu đã được học hỏi cả kinh điển chữ Phạn và chữ Hán, đã phải học hỏi cả Lão giáo và Khổng giáo để có thể hoằng pháp với giới trí thức. Thầy Tăng Hội là một mẫu người lý tưởng cho giới xuất gia thời đó, bởi vì ngoài Phật học, thầy còn lão thông Nho học, Lão học và những khoa học khác như đồ vỹ, thiên văn, địa lý, v.v… Sử dụng Tứ thư và Ngũ kinh để diễn bày Phật học, đó là việc rất thông dụng trong thời ấy. Có những danh từ Phật học mà sau đó mấy trăm năm không còn được dùng, như danh từ Đức Chúng Hựu chỉ cho Đức Thế Tôn, danh từ Tông Miếu chỉ cho tự viện, danh từ Đạo chỉ cho Pháp và Bồ Đề, danh từ Tang Môn chỉ cho Sa Môn, danh từ vô ngô chỉ cho vô ngã, danh từ vô vi chỉ cho Niết Bàn. Ngoài các thiền kinh căn bản như kinh An Ban Thủ Ý, kinh Ấm Trì Nhập, kinh Pháp Cảnh, kinh Đạo Thọ, kinh Niệm Xứ, kinh Tứ Thập Nhị Chương, còn có các kinh đại thừa như kinh Đạo Hành Bát Nhã, kinh Lục Độ Tập. Tăng sĩ Giao Châu thọ trì 250 giới theo giới bản Thập Tụng của Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvastivada), tuy nhiên tất cả đều thực tập theo truyền thống đại thừa và tất cả đều ăn chay. Lúc ấy chưa có giáo đoàn tỳ khưu ni. Các thầy còn quấn y tăng già lê, chưa mặc áo tràng, vì áo tràng chỉ xuất hiện vào đầu đời Đường. Thầy Tăng Hội sang Ngô cũng đắp y tăng già lê màu vàng. Chắc chắn là hồi ấy dân ta đã gọi Buddha là Bụt, đã biết đọc tam quy ngũ giới và xưng tán tam bảo bằng tiếng Sanskrit, cũng có thể đã biết tụng đọc bằng tiếng Việt. Các thầy đã học hỏi và sử dụng các thiền kinh nguyên thỉ theo tinh thần đại thừa. Giáo lý của thầy Tăng Hội chứng tỏ một cách rõ ràng khuynh hướng ấy. Giáo lý Lục Độ là giáo lý đại thừa căn bản. Ngoài việc biên tập kinh Lục Độ Tập, thầy Tăng Hội còn sáng tác Lục Độ Yếu Mục để làm sách giáo khoa cho đạo tràng Luy Lâu.

Chùa Pháp Vân tại Luy Lâu là một đạo tràng hưng thịnh thực tập thiền học. Đến thế kỷ thứ 6, khi thiền sư Vinitaruci vân du tới Giao Châu (562), ông đã tới cư trú tại chùa này và đã gặp thiền sư Quán Duyên người đang chủ trì sự giảng dạy và hướng dẫn thiền tập tại đây. Thiền sư Pháp Hiền là một trong những đệ tử xuất sắc của thiền sư Quán Duyên, sau này lại được đắc pháp với thiền sư Vinitaruci nữa. Ta có nhiều lý do để tin tưởng rằng các thiền sư Huệ Thắng (chùa Tiên Châu Sơn) của Giao Châu, người đã qua dạy thiền ở chùa U Thê ở Bành Thành, cũng như thiền sư Quán Duyên (chùa Pháp Vân) đều là những người thuộc hệ phái thiền Tăng Hội.

Sau một thời gian hành đạo tại Luy Lâu, thầy sang nước Ngô. Thầy tới Kiến Nghiệp kinh đô nước Ngô năm 247, nghĩa là vào năm thứ 10 của niên hiệu Xích Ộ Tại Kiến Nghiệp, thầy đã xây dựng trung tâm hoằng pháp Kiến Sơ, tổ chức giới đàn, và độ người xuất gia. Đây là lần đầu tiên tại Trung Quốc người bản xứ được phép xuất gia để thành sa môn. Thể thức truyền giới của thầy là thể thức tam sư thất chứng. Tam sư là ba vị thầy: hòa thượng, yết ma và giáo thọ. Thất chứng là bảy vị chứng minh. Để có được hội đồng truyền giới, thầy đã cho gửi mời các vị sa môn từ Giao Chỉ qua, tại vì hồi ấy ở Đông Ngô không có sa môn, kể cả sa môn người Ấn độ.

Trung Tâm Kiến Nghiệp

Chùa Kiến Sơ đã do vua Tôn Quyền nước Đông Ngô yểm trợ xây dựng lên làm cơ sở hoằng pháp cho thầy Tăng Hội. Chùa cũng được gọi là Phật Đà Lý (Trung Tâm Phật – Buddha Center). Đây là ngôi chùa đầu tiên được thành lập tại Giang Nam. Cạnh chùa Kiến Sơ còn được xây một ngôi tháp gọi là tháp A Dục. Tháp này chắc chắn là để thờ xá lợi Bụt. Truyền kỳ cho rằng xá lợi xuất hiện là do chú nguyện và định lực của thầy Tăng Hội và các vị đệ tử, nhưng ta có thể đoán định rằng xá lợi này thầy Tăng Hội đã có do bổn sư của mình ở Giao Châu trao truyền, và thầy đã mang theo trên đường hoằng pháp. Sách Cao Tăng Truyện của thiền sư Huệ Hạo nói: “Từ đây đạo Bụt được hưng thạnh ở miền Giang Tả”. Miền Giang Tả là lĩnh thổ Trung Quốc từ sông Dương Tử trở xuống.

Thầy Tăng Hội đã được phép vua Ngô Tôn Quyền tổ chức truyền giới xuất gia cho người Ngô, từ đấy mới có các vị xuất gia người Trung Quốc. Chùa Kiến Sơ là trung tâm đào tạo các vị tăng sĩ này, và sau đó, nhiều ngôi chùa khác đã được tạo dựng trong nước. Khi Tôn Hạo, con của Tôn Quyền, lên ngôi, đạo Bụt bị đàn áp, bởi vì Tôn Hạo nghe lời một số các vị cố vấn, cho đạo Bụt là tà đạo từ ngoại quốc đem tới. Hầu hết các chùa đều bị phá bỏ, tuy nhiên vua quan nhà Ngô đã không dám đụng tới chùa Kiến Sơ vì uy tín của đạo tràng Tổ sư Tăng Hội rất lớn. Tuy không phá chùa nhưng vua lại ép đổi tên chùa thành chùa Thiên Tử. Vua sai nhà trí thức Trương Dục đến chùa để vấn nạn thầy Tăng Hội, cố dồn thầy vào chỗ bí. Trương Dục là một nhà trí thức thông hiểu Lão và Nho, có biện tài rất lớn. Trong cuộc biện luận có nhiều vị tai mắt của giới trí thức ở kinh đô. Thầy Tăng Hội không nao núng. Kiến thức Lão và Nho của thầy cũng rất vững chãi. Thầy ứng đối một cách dễ dàng. Cuộc biện luận kéo dài từ ban sáng đến tối mịt, vậy mà Trương Dục không thể bắt bẻ được một lời nào của thầy Tăng Hội. Trương Dục về tâu lại với vua Tôn Hạo. Ông nói: “Người này rất sáng suốt, rất tài ba, thần không đủ sức đương đầu. Xin bệ hạ xem xét và định liệu”. Vua Tôn Hạo mới gửi xe song mã tới chùa mời thầy Tăng Hội vào cung. Sau khi được đối đáp với thầy và nghe thầy thuyết pháp, vua cũng phải tuân phục, không làm gì được thầy. Thời gian dằng co kéo dài. Cuối cùng, thấm được những lời thuyết pháp của thầy Tăng Hội, vua xin quy y và thọ năm giới với thầy. Vua lại cho trùng tu mở rộng chùa Kiến Sơ và cho phép tái thiết các chùa đã bị phá hoại. Chùa Kiến Sơ tiếp tục đóng vai trò trung tâm hoằng dương Phật pháp qua các triều đại Tây Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần và Tùy, và tên chùa đã từng được đổi là Trường Khánh Tự, Phụng Hiến Tự, Thiên Hỷ Tự, Đại Báo Ân Tự, v.v… Cho mãi đến đời Minh chùa cũng vẫn còn là trung tâm hoằng pháp quan trọng nhất của miền Giang Nam. Vào năm đầu của nhà Đông Tấn, thiền sư Tăng Hựu, lúc ấy còn nhỏ tuổi, đã xuất gia ở chùa này.

Thầy Tăng Hựu (445 – 518) là người đầu tiên viết về lịch sử và hành trạng của tổ sư Tăng Hội. Tài liệu này đã được giữ lại trong các tác phẩm Xuất Tam Tạng Ký Tập (T. 2145) và Cao Tăng Truyện của thiền sư Huệ Hạo (496 – 553). Sau khi được đào tạo thành tài, thầy Tăng Hựu tiếp tục ở lại Kiến Sơ để dạy đồ chúng, hoằng pháp và sáng tác. Thầy cũng là con cháu của thầy Tăng Hội. Thầy Minh Triệt đời Tề, năm 492 cũng đã đến đây học, tiếp nhận luật Thập Tụng từ thầy Tăng Hội, và tiếp tục sự nghiệp hoằng pháp tại đây. Các thiền sư đã thành lập Pháp Nhãn Tông như Khuông Dật, Huyền Tắc và Pháp An cũng đã tu học và hoằng pháp tại đây. Vua Thành Tổ đời Minh cũng đã xây một ngọn tháp bát giác chín tầng trong khung viên chùa, một ngọn tháp nguy nga và rực rỡ. Tiếc thay trong loạn Thái Bình Thiên Quốc, binh lửa đã hủy hoại tất cả, hiện nay chỉ còn di tích.

Một Vị Thiền Sư Lớn

Sự nghiệp thiền sư Tăng Hội rất lớn lao. Nhờ vào những trước tác của thầy, ta biết được hành tướng của sự thực tập thiền tại trung tâm Luy Lâu (Việt Nam) và tại trung tâm Kiến Nghiệp (Trung Quốc) ngày xưa. Tư tưởng Thiền của thầy Tăng Hội là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức. Tuy nhiên, thiền pháp của thiền sư Tăng Hội rất thực tiễn, không hề để thiền giả bay bổng trong vòm trời lý thuyết. Căn bản của thiền pháp này vẫn là sự thực tập hơi thở ý thức và pháp quán chiếu về bốn lĩnh vực hiện hữu gọi là tứ niệm xứ và các pháp quán tưởng căn bản đã được nêu ra trong các thiền kinh nguyên thỉ. Nhân cách của thiền sư Tăng Hội là một nhân cách vĩ đại. Ta chỉ cần đọc bài kệ mà Tôn Xước, một người trí thức trong hoàng gia Đông Ngô đề lên tranh tượng của thầy sau đây thì đủ thấy được nhân cách ấy:

Lặng lẽ, một mình,
đó là khí chất
tâm không bận bịu
tình không vướng mắc
đêm đen soi đường
lay người thức giấc
vượt cao, đi xa
thoát ngoài cõi tục.

Sách này hy vọng trình bày được những nét chính về hành trạng và tư tưởng của thiền sư Tăng Hội mà Phật tử Việt Nam thờ phụng như là vị sơ tổ của thiền học Việt Nam. Nội dung của sách này được làm bằng những bài giảng cho học chúng trong mùa Đông 1994 – 1995 nơi Mai Thôn Đạo Tràng tại Pháp.

Lễ xuất gia cây Bạch quả (Ginkgo tree)

 

 

Từ muôn phương đi chung một con đường.

Sáng ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng, Làng Mai Pháp đã diễn ra lễ xuất gia cho 11 sư em mới. Và tại Mỹ, Tu viện Lộc Uyển cũng tiếp nhận thêm 4 sư em vào đại gia đình áo nâu. Các em là những thành viên thuộc gia đình xuất gia cây Bạch Quả.

Khung cảnh mùa thu thêm rực rỡ bởi màu y vàng của quý thầy, quý sư cô. Buổi sáng thanh bình và những hạt mưa thu càng làm cho không gian buổi lễ thêm ấm cúng. Năng lượng niệm Bụt và tụng kinh hùng tráng của đại chúng đã tiếp thêm sức mạnh tâm linh, yểm trợ cho các giới tử trong giờ phút xuống tóc và tiếp nhận giới pháp.

Gương mặt của các em sáng ngời và trang nghiêm. Các em đến từ các quốc gia khác nhau: Pháp, Đức, Bồ Đào Nha, Phần Lan, Đài Loan, Mỹ, Hà Lan, Malaysia và Việt Nam, cùng quỳ trước Tam Bảo phát lời nguyền dũng mãnh:

          Cạo sạch mái tóc

          Nguyện cho mọi người

          Dứt hết phiền não

          Độ thoát cho đời.

Kể từ hôm nay các sư em đã chính thức trở thành thành viên của Tăng đoàn áo nâu, chung vui nếp sống phạm hạnh và cùng đi với nhau như một dòng sông. Để tiếp nối Sư Ông trong việc Việt hóa các tên gọi, các sư em đã được quý thầy, quý sư cô lớn thay mặt Sư Ông trao cho những cái tên rất giản dị, thuần Việt và ý nghĩa: Chân Trăng Khương Cư, Chân Trời Ruộng Đức, Chân Trời Ruộng Pháp, Chân Trăng Khương Định, Chân Trời Ruộng Hiếu, Chân Trời Ruộng Nghĩa, Chân Trăng Khương Âm, Chân Trăng Khương Ý, Chân Trăng Khương Giới, Chân Trời Ruộng Lành, Chân Trời Ruộng Hương và Chân Trăng Thanh Đoan, Chân Trời Chí Đạo, Chân Trời Minh Hội, Chân Trời Minh Đại. Ruộng (Điền) có nghĩa là mảnh đất tâm màu mỡ, nơi các sư em có thể gieo trồng và tưới tẩm những hạt giống tốt đẹp lành thiện mà các sư em đã được tiếp nhận từ bao thế hệ tổ tiên tâm linh và huyết thống để hạt lành được đơm hoa kết trái bằng công phu tu học cùng Tăng thân.

 

 

Đã có đường đi rồi, con không còn lo sợ

Buổi chiều cùng ngày, đại chúng xuất sĩ và cư sĩ đã có cơ hội được ngồi chung với nhau như một gia đình tâm linh. Đây cũng là dịp cho các sư em mới được chính thức ra mắt đại chúng. Qua những chia sẻ của các sư em, đại chúng cảm nhận được nguồn năng lượng dũng liệt của những người trẻ khao khát đi tìm và chọn cho mình một đường hướng tâm linh cho cuộc đời. Các em cũng gửi lời tri ân sâu sắc tới những nhân duyên, những cuộc gặp gỡ và đặc biệt là những người thân trong gia đình, những người bạn đã yểm trợ cho mình trên bước đường tu học.

Sư chú Trời Ruộng Nghĩa (người Đức) chia sẻ:

Năm vừa qua là một năm rất dài, trôi qua rất nhanh và có nhiều điều đã xảy ra. Nhưng cũng là một năm rất đẹp mà con và các bạn tập sự được cùng nhau thực tập, lớn lên và chuyển hoá. Con nhận được sự yểm trợ rất nhiều từ gia đình huyết thống. Con được trao truyền rất nhiều hạt giống tốt từ mẹ. Mẹ của con thực sự là một vị bồ tát với khả năng lắng nghe, lòng từ bi và sự thấu hiểu. Con hạnh phúc khi đến Làng. Đây thực sự là nơi con tìm kiếm, nên con đã quyết định dừng chân ở lại đây.

Sư cô Trăng Khương Giới (người Đài Loan) chia sẻ:

Trong con tràn đầy lòng biết ơn tới ba mẹ đã sinh ra và đồng ý với việc con xuất gia. Đó là một sự yểm trợ lớn với con. Chị con cũng sẽ ở đây ba tháng để thực tập cùng con. Con biết ơn tăng thân xuất sĩ Hồng Kông đã mở những khóa tu nhờ đó mà con biết tới Làng Mai để thực tập. Con cũng xin dành lời tri ân tới tăng thân cư sĩ Đài Loan – những người đã thành lập ra Tăng thân để con có nơi tu tập khi còn là một cư sĩ. Con biết ơn quý sư cô đã từ bi cho con không gian thực tập và cho con cơ hội xuất gia hôm nay vì con biết để ôm ấp những yếu kém của con không phải dễ. Con biết ơn sư cô y chỉ sư thời gian qua đã kiên nhẫn chăm sóc và nâng đỡ con. Biết được Tam Bảo là một hạnh phúc lớn trong cuộc đời của con.

 

 

Sư cô Trăng Khương Âm (người Pháp) chia sẻ:

Con muốn gửi lời cảm ơn chị họ con đã giúp con biết đến Làng. Trái tim con càng ngày càng mở rộng ra, tuy đôi lúc con gặp khó khăn từ gia đình huyết thống. Cảm ơn mẹ đang có mặt đây trong ngày con xuống tóc, dù không dễ dàng cho mẹ. Tuy hiện tại mẹ chưa quen Làng và lo lắng khi con tu học ở đây nhưng con tin rằng nếu mẹ thấy con thực tập bên các bạn đồng tu thì mẹ sẽ hạnh phúc. Con cảm nhận nhiều tình thương từ quý sư cô. Sáng nay, trong giờ phút xuống tóc, khi được sư cô Chân Đức để tay lên đầu mình con cảm nhận được dòng năng lượng tâm linh đi vào trong con.

Sư cô Trăng Khương Định (người Việt) chia sẻ:

Con cảm nhận được năng lượng sự sống đã làm nên con – năng lượng tổ tiên và ba mẹ trong con. Con biết ơn những người bạn con đã gặp trong cuộc đời. Con biết ơn Thầy đã hiến tặng con đường hiểu và thương, biết ơn sư cô Chân Không cho con cơ hội đến Xóm Mới thực tập. Cám ơn quý sư cô đã ôm ấp và nâng đỡ con. Con cũng muốn gửi lời cám ơn đến sư cô y chỉ sư – người vừa là cha và mẹ con trong thời gian con tập sự. Đó thực sự là một hành trình tâm linh tuyệt vời. Trước đây con có nhiều ước nguyện mà con không biết làm thế nào nhưng giờ đây con thật sự cảm thấy mình không còn đơn lẻ nữa mà trở thành một phần của tăng thân lớn. Năng lượng của buổi lễ sáng nay rất hùng mạnh, con thấy mình được sinh ra một lần nữa rất tươi mới trong vòng tay Tăng thân.

 

 

Niềm thương trong lòng tôi, thắm tươi không nhạt phai

Giây phút có mặt cho nhau càng trở nên gần gũi, thấu hiểu và thật xúc động khi đại chúng được lắng nghe những chia sẻ từ người thân của các sư chú, sư cô mới. Đó là tình cha, tình mẹ với những hy sinh âm thầm cho chí nguyện thiêng liêng của những đứa con xen lẫn niềm tự hào về quyết định của các con mình; là anh, là chị, là bạn với những sẻ chia và nâng đỡ tận tình. Và đó cũng là tiếng lòng biết ơn xin gửi tới Tăng thân – gia đình tâm linh sẽ đồng hành với các sư em trên con đường tu học.

Ba sư chú Trời Ruộng Hương (người Phần Lan):

Hơn hai mươi năm trước, khi sinh con ra tôi không nghĩ con của tôi sau này sẽ có thể đi xuất gia. Chúng tôi đã từng tính gửi sư chú vào trường học nội trú, nhưng thật không ngờ khi lớn lên và trưởng thành hơn, sư chú lại lựa chọn con đường này. Tôi vui khi sư chú đã tìm được con đường. Buổi lễ hôm nay rất tuyệt vời.

Mẹ sư chú Trời Ruộng Hương:

Hai năm trước, sư chú đã từng bày tỏ ý muốn xuất gia và tôi đã nghĩ đó là một ước muốn bồng bột thôi. Nhưng khi đến đây tôi mới cảm nhận được lí do vì sao qua hai năm mà ước nguyện đó vẫn còn mãnh liệt trong sư chú. Điều này làm cho tôi có một chút tự hỏi: biết đâu tôi cũng có thể trở thành một sư cô (cười).

Mẹ sư chú Trời Ruộng Nghĩa:

Mẹ rất tự hào và hạnh phúc khi con trai đã tìm thấy con đường tu học theo pháp môn Làng Mai – nơi mà sư chú đã tìm kiếm từ lâu rồi.

Em gái của sư chú Trời Ruộng Nghĩa:

Gia đình con biết ơn Tăng thân vì đã chấp nhận cho anh con xuất gia. Con hạnh phúc khi anh con tìm ra con đường thực tập chánh niệm và được là chính mình. Được sống chung với nhau như một Tăng thân, điều đó rất đẹp.

Chị họ sư cô Trăng Khương Âm chia sẻ:

Con cảm nhận hai năm qua sư cô đã cắm rễ sâu hơn vào sự thực tập. Tuy sư cô là em con trong gia đình huyết thống nhưng là chị lớn trong gia đình tâm linh của con. Trước đây, chúng con thường chia sẻ về những chủ đề triết học, mong rằng cái đó sẽ giúp chúng con đi qua khổ đau nhưng từ bây giờ chúng con đã có con đường tâm linh. Và mỗi khi con có khó khăn, con biết con sẽ đến với sư cô để được nương tựa.

Chị của sư cô Trăng Khương Âm:

Con hạnh phúc khi em con tìm ra được một tăng thân thích hợp để xuất gia tu học. Tăng thân ở đây ai cũng có tên rất đẹp. Chúc mừng sư cô vì đã rất can đảm quyết định lựa chọn và đi trên con đường này.

Bạn sư cô Trăng Khương Định:

Khi nghe sư cô nói muốn xuất gia con đã rất bất ngờ. Tuy sư cô chưa biết rõ lý do vì sao mình muốn đi tu nhưng trong lòng sư cô không ngừng thôi thúc. Vì sư cô mới biết và thực tập giáo lý đạo Bụt nên con nghĩ đó chỉ là quyết định bồng bột. Nhưng sau này con nghĩ sư cô có thể đã từng thực tập từ muôn ngàn kiếp rồi. Con tin rằng sư cô sẽ càng ngày càng nở ra như một đóa hoa và giúp cho được nhiều người.

Bạn của sư cô Trăng Khương Cư:

Con thấy ai cũng như tái sinh lại trong một tinh thần mới, về với một gia đình mới – gia đình cây Bạch Quả, mỗi người là một cây, trăm cây tựu thành rừng và tăng thân khắp chốn. Trong tinh thần đấy, con không hiểu sao mình lại rơi nước mắt. Những giọt nước mắt hạnh phúc hay sự chạnh lòng khi bạn đã thong dong bước trên con đường của Bụt, theo bước chân Thầy còn mình thì vẫn trôi lăn trong nhân gian hỗn độn. Con biết bạn con, tri kỷ của con vẫn đấy. Không chỉ thế, bạn còn giúp con có thêm một gia đình lớn nhờ con đường bạn chọn. Bạn cũng sẽ vững chãi hơn nếu con cần nương tựa vì bạn được nâng đỡ bởi tăng thân.

 

Quý thầy và quý sư cô tu viện Lộc Uyển chụp hình lưu niệm với các sư em vừa mới xuất gia

Lễ xuất gia cây Bạch Quả (Ginkgo) ngày 17.10.2019

Ngày 17.10.2019, tứ chúng Làng Mai đã vân tập về thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân, xóm Thượng để yểm trợ cho 11 người trẻ có tâm nguyện muốn “phát túc siêu phương”. Và tại Mỹ, Tu viện Lộc Uyển cũng tiếp nhận thêm 4 sư em vào đại gia đình áo nâu. Các em là những thành viên thuộc gia đình xuất gia cây Bạch Quả.

Các sư em biểu hiện trong tăng thân với những tên thật dễ thương : Chân Trăng Khương Cư, Chân Trời Ruộng Đức, Chân Trời Ruộng Pháp, Chân Trăng Khương Định, Chân Trời Ruộng Hiếu, Chân Trời Ruộng Nghĩa, Chân Trăng Khương Âm, Chân Trăng Khương Ý, Chân Trăng Khương Giới, Chân Trời Ruộng Lành, Chân Trời Ruộng Hương và Chân Trăng Thanh Đoan, Chân Trời Chí Đạo, Chân Trời Minh Hội, Chân Trời Minh Đại.

Dưới đây là một vài hình ảnh của buổi lễ diễn ra tại hai trung tâm.

Thông cáo nhân ngày tiếp nối Thầy năm 2019

 

Trung tâm Thiền tập Làng Mai Quốc tế
Le Pey, Thénac 24240, Pháp

 

Ngày 11 tháng 10 năm 2019

Kính thưa tăng thân khắp chốn,

Chúng ta rất hạnh phúc khi ngày tiếp nối lần thứ 93 của Thầy được tổ chức tại chùa Từ Hiếu, thành phố Huế – Việt Nam, ngôi chùa Tổ nơi Thầy bắt đầu cuộc đời xuất sĩ ở tuổi mười sáu.

Trong những ngày qua, các đệ tử xuất sĩ của Thầy ở Việt Nam đã có mặt tại chùa Từ Hiếu để mừng Ngày tiếp nối của Thầy. Có quý thầy đến từ chùa Từ Đức, có quý sư cô đến từ miền Nam. Trong ngày đặc biệt này, quý thầy và quý sư cô đã tổ chức buổi triển lãm sách của Thầy ở thiền đường Trăng Rằm. Trên chiếc xe lăn, Thầy đi ra mỗi ngày để khích lệ và thưởng thức không khí vui tươi trong công việc chuẩn bị. Hôm nay, hàng trăm Phật tử đã có mặt để chúc tụng và mừng thọ Thầy. Mọi người có thể cảm nhận được sự vững chãi, bình an, sự tỉnh táo và sức sống từ sự hiện diện của Thầy, cũng như sự ấm áp và hài hòa mà Thầy đang mang lại cho chùa Tổ.

Mấy hôm nay là những ngày nắng cuối cùng trước khi những cơn mưa đến. Cho dù sức nóng và độ ẩm cao trong những tháng vừa qua, sức khỏe của Thầy vẫn thích nghi tốt, có lẽ vì đây là khí hậu mà Thầy đã quen thuộc từ hồi còn là chú sa di trẻ ở chùa (trong khi đó có vài vị trong nhóm thị giả của Thầy lại khó thích ứng được thời tiết nắng nóng này). Thỉnh thoảng Thầy có dịp đi ra thăm biển trong vài ngày. Biển chỉ cách chùa Tổ chừng ba mươi phút. Sức khỏe của Thầy vẫn khá ổn định, mặc dù lâu lâu Thầy lại phải đối diện với những khó khăn trong vấn đề ăn uống, giấc ngủ, và sự khó chịu về thể chất. Thầy đang tiếp tục điều trị thường xuyên với các chuyên gia châm cứu và vật lý trị liệu, và việc điều trị này rất hữu hiệu.

Đầu tháng 7 năm nay, Thầy đã có những cải thiện đáng kể với nhà trị liệu cho vấn đề phát âm (tiếng Việt – tiếng Anh) mà Thầy đã  bắt đầu chữa trị từ khi ở San Francisco vào năm 2015, ông cũng là người mà Thầy có kết nối rất tốt. Có vẻ như cơ chế phát âm vẫn có đó, nhưng Thầy phải tập luyện rất nhiều để phục hồi lại khả năng nói. Thầy nỗ lực luyện tập và tiến bộ nhanh chóng trong suốt hai tuần trị liệu, nhưng sau những nỗ lực vượt bậc, cơ thể Thầy xuống sức. Thầy quyết định dừng lại và nghỉ ngơi, bằng cách đó Thầy để cơ thể biết rằng Thầy sẽ bảo tồn năng lượng và hiến tặng sự có mặt của Thầy cho chùa Tổ cũng như những nơi khác.

Kể từ khi Thầy về Từ Hiếu vào tháng 10 năm ngoái, đúng vào dịp Tảo Tháp chùa Tổ, có nhiều sự kiện đã đánh dấu cho một năm qua. Những sự kiện nổi bật là vào tháng Hai Thầy đón cái Tết đầu tiên tại chùa Tổ kể từ những năm 1960; sự khởi công xây dựng và sửa chữa chánh điện vào tháng Ba; và chuyến viếng thăm chính thức của phái đoàn 9 vị Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ vào tháng Tư. Các học trò và đệ tử của Thầy từ khắp nơi trên thế giới đã đến thăm Thầy và bày tỏ lòng tôn kính của mình. Tháng trước, Thầy đã được trao giải thưởng sách tại Việt Nam cho những cuốn sách mới dành cho trẻ em, sách Con Gà Đẻ Trứng Vàng, và Mỗi Hơi Thở, Một Nụ Cười. Trên bình diện quốc tế, Thầy được vinh danh với giải thưởng Hòa bình Luxembourg, và giải Hòa bình Gandhi Mandela vào tháng Bảy vừa qua.

 

 

Mừng ngày tiếp nối Thầy, tuần này chúng ta có phát hành một trang web Làng Mai (tiếng Anh) mới, với những thông tin đầy cảm hứng về cuộc đời của Thầy, và những nguồn tư liệu giàu có về lời dạy của Thầy cho những nhà hoạt động môi trường, nhà hoạt động hòa bình, giáo viên và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Chúng ta cũng phát hành một loạt hình ảnh mới về cuộc đời của Thầy và những câu chuyện sinh động về Thầy trong mục Cuộc đời Thầy qua 12 cuốn sách. Những độc giả nào muốn tìm hiểu sâu hơn có thể tìm kiếm trong các mục Thư Thầy, Phỏng vấn, Thư pháp, và xem những hướng dẫn cho độc giả. 

Ý thức rằng mình đang tiếp nối Thầy, chúng ta đang cùng nhau đi như một tăng thân để yểm trợ cho những nỗ lực kêu gọi thay đổi và bảo vệ Đất Mẹ trên toàn thế giới. Mạng lưới tăng thân Trì Địa đã đưa ra lời kêu gọi hỗ trợ các buổi đi bộ vì môi trường của sinh viên. Gần đây, một nhóm lớn gồm quý thầy, quý sư cô và các bạn cư sĩ đã tham dự vào cuộc đi bộ vì Đất Mẹ của học sinh sinh viên tại Bordeaux. Hoạt động đầy tình thương và niềm vui này đã có tiếng vang tới nhiều trung tâm Làng Mai trên thế giới. Vào tháng 8, chúng ta đã có một khóa tu Wake Up lớn nhất từ trước đến nay tại Làng Mai, với sự có mặt của hơn 500 người trẻ đến từ khắp nơi trên thế giới, trong đó có một nhóm từ Palestine và 10 thành viên trẻ của phong trào vì môi trường Extinction Rebellion (tạm dịch: “Phong trào chống huỷ diệt”) được tài trợ để tham gia khóa tu.

 

 

Chúng ta đều biết rằng vào những năm cuối trong sự nghiệp giảng dạy của mình, Thầy rất chú trọng chia sẻ cái thấy của Thầy: làm thế nào cộng đồng của chúng ta có thể đóng góp trong việc thay đổi thế giới bằng cách mang lại chiều hướng tâm linh và làm thế nào chúng ta có thể cùng nhau thương yêu Đất Mẹ trở lại. Trong ba tháng An cư năm nay, chúng ta đang thực tập theo những chủ đề: nuôi dưỡng tâm Bồ đề (tâm thương yêu), giữ gìn Đất Mẹ, và xây dựng những cộng đồng bền vững; tất cả đều là những yếu tố quan trọng mang lại sự tỉnh thức tập thể mà chúng ta đang cần. Như một cộng đồng, chúng ta cam kết tiếp tục tìm những phương cách tốt nhất có thể để hỗ trợ và tham gia, giữ cho truyền thống Làng Mai luôn có sự kết nối và đáp ứng với thực tại.

Trong khóa tu 21 ngày vào tháng Sáu năm tới, chúng ta sẽ khám phá tại sao Mười bốn giới Tiếp Hiện có thể là ánh sáng cho thời đại của chúng ta. Mười bốn giới này đã cống hiến một con đường đạo đức và tâm linh, con đường tiến bộ và dấn thân phụng sự phù hợp cho cả cá nhân và tập thể. Theo tinh thần của các giới này, chúng ta sẽ thảo luận để làm sao những thực tập xây dựng tăng thân có thể là nền tảng vững chắc cho sự sống bền lâu của con người và hành tinh, đi qua những thách thức đang ở phía trước.

Chúng con xin nương tựa vào lòng can đảm, sự khoan dung, tinh thần không bao giờ bỏ cuộc của Thầy; và vào tuệ giác của chư liệt vị tổ sư.

 

Thương yêu và tin cậy,

Quý thầy và quý sư cô Làng Mai

 

(Được BBT chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Anh: https://plumvillage.org/about/thich-nhat-hanh/thich-nhat-hanhs-health/thich-nhat-hanh-turns-93/)