01 | 2008-05-31 | Kinh Quán niệm hơi thở | |
02 | 2008-06-01 | Tuỳ niệm Phật thân | |
03 | 2008-06-03 | Hạt giống tuệ giác | |
04 | 2008-06-04 | Niệm Pháp-Niệm Tăng | |
05 | 2008-06-05 | Niệm giới | |
06 | 2008-06-06 | Tam tụ tịnh Giới | |
07 | 2008-06-07 | Niệm Giới (tt) | |
08 | 2008-06-08 | Buông thư cảm xúc | |
09 | 2008-06-11 | Niệm Thân | |
10 | 2008-06-12 | Xuất Trần Thượng Sĩ | |
11 | 2008-06-14 | Kinh căn bản-Ly sinh hỷ lạc | |
12 | 2008-06-15 | Dục an tất an | |
13 | 2008-06-16 | Mười sáu bài quán niệm hơi thở | |
14 | 2008-06-17 | Bài tiếp theo | |
15 | 2008-06-18 | Dặn dò |
Thực tập cho có hạnh phúc
Pháp thoại Xóm Trung 2008-08-01 Thực tập cho có hạnh phúc – mp3
Đoàn thể của những người tỉnh thức
Pháp thoại 2008-06-26 Đoàn thể của những người tỉnh thức – mp3
Lễ Tự tứ An cư kiết thu 2019
Sáng ngày 13/12/2019, tại Thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng, Làng Mai đã diễn ra lễ Tự tứ kết thúc 90 ngày An cư kiết thu năm 2019. Ngày Tự tứ được xem là ngày Tết của những người con Bụt, xuất gia cũng như tại gia. Đây cũng là ngày Bụt hoan hỷ, chư Tăng hoan hỷ.
Sau ba tháng công phu miên mật với những phát nguyện, mỗi người trong đại chúng đã gặt hái được những hoa trái trên con đường chuyển hoá thân tâm, từ đó làm đẹp hơn cho chính mình và tăng thân. Các vị thiền sinh dài hạn cũng đã đóng góp rất nhiều năng lượng bình an vào đời sống tu học và phụng sự cùng đại chúng.
Giờ phút đón nhận lá thư soi sáng với những bông hoa tươi thắm cùng những lời khích lệ chứa đầy tình thương đã trở thành những phút giây huyền thoại. Chúng con xin nguyện làm mới mình trong từng hơi thở ý thức, từng bước chân chánh niệm để xứng đáng là sự tiếp nối đẹp của chư Bụt, chư Tổ, Thầy và Tăng thân.
Dưới đây là một vài hình ảnh của buổi lễ:
Mười năm tiếp nối con đường
Sau khi thọ giới lớn, Sư Ông thường khuyến khích con về lại quê hương hoằng pháp. Lần đầu tiên con về Thái Lan hướng dẫn khóa tu là vào khoảng năm 2002. Bắt đầu từ đó, năm nào quý thầy, quý sư cô từ Làng Mai Pháp cũng đều về đây để giảng dạy. Năm 2007, ban tổ chức Đại lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc tại MCU (Mahachulalongkornrajavidyalaya University) đã thỉnh mời Sư Ông cho một bài diễn thuyết chính tại hội trường Liên Hiệp Quốc Châu Á Thái Bình Dương ở Bangkok. Trong chuyến đi này, Sư Ông đã trực tiếp hướng dẫn một khóa tu, một ngày quán niệm và thuyết giảng bốn buổi pháp thoại công cộng tại nhiều địa điểm khác nhau ở Bangkok, Chiang Mai, Nakhon Pathom. Thiền sinh Thái Lan rất xúc động và hạnh phúc khi được tiếp xúc với giáo pháp của Sư Ông. Trước đây, họ đã từng mong muốn có một trung tâm thực tập chánh niệm theo pháp môn Làng Mai tại Thái Lan để có nhiều cơ hội tiếp xúc và tu học thường xuyên cùng quý thầy, quý sư cô. Niềm mong muốn này lại càng trở nên mãnh liệt hơn sau khi họ được gặp Sư Ông. Đó là động lực chính thức xúc tiến việc thành lập một tu viện tại Thái Lan vào năm 2009.
Để Bụt lo
Ngày 09 tháng 09 năm 2009, năm thầy và năm sư cô đầu tiên từ tu viện Bát Nhã đã đặt chân đến đất nước Thái Lan để xây dựng trung tâm thực tập (gồm quý thầy Pháp Toàn, thầy Pháp Toại, thầy Pháp Anh, thầy Pháp Tánh, thầy Pháp Xứ và quý sư cô Hạnh Nghĩa, sư cô Tịnh Chánh, sư cô Dung Nghiêm, sư cô Cẩm Nghiêm, sư cô Đài Nghiêm). Lúc đó, quý thầy được ở tạm trên miếng đất của mẹ con ở Parchong và quý sư cô cũng ở gần đó trong một khu nhà rộng lớn với rất nhiều cây ăn trái của bác Bun Lư. Bác là một cảnh sát trưởng đã nghỉ hưu, hiền lành, tốt bụng và là một người bạn thân quý lâu năm của gia đình con.
Ngay sau khi quý thầy, quý sư cô đến đây, con cùng với các tình nguyện viên cư sĩ đã tìm cách xin visa dài hạn cho quý thầy, quý sư cô. Nhưng Ban tôn giáo đã từ chối giúp đỡ vì mình không thuộc vào truyền thống Theravada (Nam tông – truyền thống Phật giáo tại Thái) và cũng vì có các tỳ kheo ni trong giáo đoàn. Bộ ngoại giao cũng không thể yểm trợ gì vì mọi vấn đề của người xuất gia phải đi qua Ban tôn giáo để được giải quyết. Cuối cùng, người đã giúp các chị em con là thầy Wo (Phra Medhi Vajirodom). Thầy là một thầy tu trẻ nổi tiếng ở Thái Lan, người đã từng đọc sách của Sư Ông và đã xem Sư Ông như một vị thầy của mình. Thầy Wo đã chỉ cho chị em con tìm đến trường đại học Phật giáo hoàng gia Thái Lan – MCU. Chúng con và các tình nguyện viên liền đi đảnh lễ thầy hiệu trưởng – Ngài Phra Brahmapundit. Khi nghe chúng con chia sẻ về khó khăn xin visa cho quý thầy, quý sư cô Việt Nam, thầy hiệu trưởng rất hiểu và hoan hỷ yểm trợ ngay. Thầy hướng dẫn chúng con đến gặp thầy phó hiệu trưởng – Ngài Phra Sophonvachira Phorn. Và nhờ vậy mà năm thầy, năm sư cô đầu tiên đến Thái đã xin được visa dài hạn. Làng Mai Thái Lan đã được trường đại học MCU đỡ đầu từ đó và thầy Wo là một trong những người có công mở đường trong bước đầu hình thành Làng Mai ở Thái Lan.
Đúng 18 ngày sau, ngày 27 tháng 9, tai nạn Bát Nhã xảy ra và 400 người xuất sĩ trẻ bị đuổi đi. Đa số các anh chị em mình chạy qua tị nạn nơi chùa Phước Huệ gần đó và bắt đầu vào giữa tháng mười một, rất nhiều quý thầy, quý sư cô sang Thái Lan tị nạn. Từ tháng 12 năm 2009 đến tháng 1 năm 2010, mỗi ngày đều có từ mười đến hai mươi sư em sang Thái. Điện thoại mở 24/24 để luôn sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi gọi thình lình từ phi trường. May mắn là đa số những công an hải quan đều thương và rất kính trọng người xuất sĩ bởi vì Thái Lan là một nước Phật giáo. Các tình nguyện viên của mình cũng luôn trong tinh thần “chạy” để đặt xe cho những chuyến đi đột xuất, đôi khi vào lúc hai, ba giờ sáng. Đến Thái, mỗi tháng quý thầy, quý sư cô lại phải thay phiên nhau đi ra các biên giới, các cửa khẩu xin đóng dấu để được phép ở thêm. Mỗi lần như vậy, các tình nguyện viên luôn đi theo để giúp đỡ đoàn. Tuy nhiên, đoàn cũng gặp phải không ít khó khăn: có nhiều nơi, công an đặt rất nhiều câu hỏi; có nơi họ cho, có nơi không; tại cùng một nơi, có khi lúc này họ cho rồi lúc khác thì không. Thế là chúng con phải cầu cứu sự yểm trợ từ khắp mọi nơi. Có những lúc không xoay sở được, chúng con đành phải “thả”, chỉ biết ngồi thở và “để Bụt lo”. Mọi việc như nằm ngoài khả năng của mình rồi! Nhưng thật may, những vị “bồ tát” đã lần lượt xuất hiện và sẵn sàng tìm cách giúp đỡ mình vượt qua hết khó khăn này đến trở ngại khác. Sự thực tập “để Bụt lo” quả thật là mầu nhiệm!
Trong giai đoạn đó, khó khăn đã đến gần như mỗi ngày và con chỉ tâm niệm là “làm sao cho hôm nay tốt nhất thôi”. Ngay những chuyện đơn giản nhất là chỗ ăn, chỗ ở cũng có thể trở thành một vấn đề khó khăn khi người cứ đến liên tục, có khi mấy chục quý thầy, quý sư cô cùng đến một lúc. Trên miếng đất của mẹ con chỉ có những chiếc lều và một thiền đường. Thiền đường chưa có nền xi-măng nên đại chúng phải ngồi thiền trên các giường tre đóng đinh. Ngồi thiền xong đứng dậy, quý thầy thường bị đinh làm rách quần. Đó là lý do vì sao sau này thiền đường được mang tên là thiền đường Hội Ngàn Đinh. Các tình nguyện viên khắp nơi đang kêu gọi sự giúp đỡ từ trong nước. Các tăng thân trên thế giới như Pháp, Đức, Mỹ, Canada… rồi đến cả Việt Nam cũng đều hướng về yểm trợ chúng con. Mỗi khi ngân sách sắp cạn và chúng con không biết ngày mai sẽ ra sao thì lại xuất hiện những vị bồ tát đến cúng dường đủ để trang trải tiếp. Mỗi ngày đều hiện ra những khó khăn mới, những thử thách mới cho nên lúc đó chúng con thực sự chỉ biết sống với ngày hôm nay, an trú hay nhất trong ngày hôm nay thôi và để quý thầy, quý sư cô vẫn có cơm ăn, chỗ ở và tăng thân mình vẫn còn được cùng nhau tu học. Sống được hôm nay thì sẽ có ngày mai.
Bụt Tổ đã sắp đặt
Một hôm, bác Bun Lư có kể lại rằng: một năm trước khi quý thầy, quý sư cô tới Thái Lan bác đã cho sửa chữa lại hết khu nhà của bác. Lúc đó chính bác cũng không biết lý do tại sao bác lại muốn sửa, bác chỉ biết là bác phải sửa thôi. Và khi pháp nạn Bát Nhã xảy ra, thấy quý thầy, quý sư cô phải sang Thái Lan, bác mới hiểu. Phước đức của bác Bun Lư cũng đã giúp cho quý thầy, quý sư cô sống bình an và an toàn trên mảnh đất mới. Đúng là Bụt Tổ đã sắp đặt.
Khi pháp nạn Bát Nhã xảy ra, quý thầy quý sư cô phải rời khỏi tu viện và chia nhau ra đi trú ẩn khắp nơi. Vì sự an toàn và để được tiếp tục tu tập với tăng thân, quý thầy, quý sư cô đã phải rời khỏi nước mình đột xuất. Có phải là khi sang Thái Lan, các anh chị em mình có cảm giác như phải đi tị nạn, cảm thấy bị tổn thương, phải cần thời gian và không gian để được ôm ấp và trị liệu không? May mắn thay, Thái Lan là một nước Phật giáo, người dân rất hiền lành và Bụt Tổ nơi đây luôn bảo hộ, yểm trợ người tu.
Vào tháng 09 năm 2010, con được tham dự khoá tu ở Mã Lai trong chuyến đi hoằng hóa tại khu vực Đông Nam Á của Sư Ông. Con đã hỏi Sư Ông với niềm trăn trở của mình: “Bạch Thầy con phải làm sao để các anh chị em của con xóa đi mặc cảm mình là người tị nạn”. Nghe câu hỏi này, Sư Ông liền trả lời: “Con tổ chức khóa tu cho Thầy qua Thái mỗi năm đi”. Trong chuyến hoằng pháp này, Sư Ông cũng có qua Thái để gặp các sư con, hướng dẫn khóa tu và cho một buổi pháp thoại công cộng tại trường đại học MCU. Năm sau, vào mùa xuân 2011, Sư Ông đã gặp và trò chuyện với thầy hiệu trưởng và phó hiệu trưởng của trường MCU.
Ngay sau buổi gặp gỡ, vào ngày 26 tháng 3 năm 2011, Làng Mai và trường đại học MCU đã ký kết văn bản Hiệp ước đối tác, một sự cộng tác giữa hai bên trong việc trao đổi sinh viên và phát triển ngành Phật Học Ứng Dụng. Từ đó, quý thầy, quý sư cô được ở lại đất Thái một cách dễ dàng hơn, được về thành phố Hồ Chí Minh làm visa một năm. Suốt một năm rưỡi khi chưa có sự bảo trợ của MCU, đại chúng mình đã phải chịu khó đi ra, đi vào biên giới Campuchia – Thái Lan để được phép ở lại từng tháng một. Số tiền thuê xe để chở mọi người đi làm giấy tờ, tính ra chắc cũng đủ để mua được một chiếc xe hơi. Vì vậy tăng thân quyết định khi nào có đủ tiền viện trợ từ khắp nơi gởi về là sẽ mua hẳn luôn một chiếc xe mới và thuê tài xế lái.
Trong thời gian đầu, con đã phải đứng ra lãnh nhiều công việc như tri xa, tri visa, tri văn phòng, thủ quỹ, ngoại giao… Đã nhiều lần, con cảm thấy khá căng thẳng. Với cảm giác như đang bị bỏ rơi, con luôn cảm thấy mình rất cần sự yểm trợ của tăng thân từ khắp nơi. Con đã từng thưa với Sư Ông lần đầu khi Sư Ông đến Thái Lan sau chuyện Bát Nhã: “Thưa Sư Ông, chính tại thiền đường này, chúng con đã ngồi thành vòng tròn và chia sẻ cùng nhau với biết bao nhiêu là nước mắt”. Ai cũng đang bị tổn thương! Người lớn về đây đầu tiên để yểm trợ trong giai đoạn khó khăn đó là sư cô Đoan Nghiêm. Sư cô là một sư cô lớn trong chúng và đã thường xuyên chỉ dạy con khi còn ở Pháp. Sư cô về đây là một niềm hạnh phúc và an ủi rất lớn cho con. Sau đó, quý sư cô lớn khác cũng bắt đầu lần lượt về giúp đỡ như sư cô Hoa Nghiêm, sư cô Kính Nghiêm, sư cô Đàn Nghiêm… Trong lòng con dâng lên một niềm biết ơn sâu sắc vì sự có mặt của quý sư cô trong giai đoạn ban sơ này. Tuy sống trong một hoàn cảnh rất khó khăn và vất vả nhưng đã để lại rất nhiều kỷ niệm vui, tình huynh đệ, chị em lại thêm đoàn kết và gắn bó keo sơn với nhau hơn.
Khi mọi việc đã ổn định, việc tìm mua đất đã được triển khai và xúc tiến để đại chúng có nơi ở cố định. Các thành viên cư sĩ của tổ chức Làng Mai Thái Lan cùng với quý thầy, quý sư cô đi xem đất mỗi tuần hai, ba lần. Trong vòng chín tháng, mình đều đến xem hầu hết vùng đất đai gần đó để hỏi mua. Nhưng việc mua đất đã không dễ dàng mà còn khá phức tạp nữa. Có một miếng đất mình ưng ý thì lại không có giấy tờ hợp pháp, hoặc môi trường xung quanh bị ô nhiễm, hoặc chủ đất đổi ý không bán hoặc lên giá… Có những mảnh đất dường như mình sắp mua được rồi nhưng lại có những chuyện xảy ra ngoài dự tính. Chỉ còn một tháng nữa là Sư Ông trở lại Thái Lan rồi mà mình vẫn chưa tìm được miếng đất nào phù hợp. Một ngày nọ, Pi Nuch – thủ quỹ của tổ chức Làng Mai Thái Lan lúc đó – tình cờ gặp một người bạn đồng tu và chia sẻ về việc mình đang tìm mua đất. May thay, bạn của Pi Nuch có biết một người đang sở hữu một miếng đất nằm trong vòng tay dãy núi Khao Yai. Ngay ngày hôm sau, mình đã tìm đến miếng đất này. Lúc mới tới xem, các thành viên của tổ chức Làng Mai Thái Lan chỉ thấy toàn là đất đá nên hơI e ngại để mời quý thầy, quý sư cô tới xem thử. Nhưng khi đến, tất cả quý thầy, quý sư cô đều rất thích cảnh thiên nhiên rộng lớn và hùng vĩ nơi đây. Chỉ có một câu hỏi mà ai cũng thắc mắc là đất đá như vậy thì có xây nhà được không. Thế là một nhà khảo cổ và các kiến trúc sư được mời đến xem xét. Những chuyên gia này cho biết mình không cần lo lắng về vật liệu làm móng cho việc xây nhà nữa vì đã có lớp đá quý, rất rắn chắc, tuổi đời khoảng 240 triệu năm, có mặt trên trái đất trước con người.
Những miếng đất gần núi Khao Yai giá rất đắt, vì vậy trước đó, tăng thân đã không bao giờ dám mơ tưởng đến. Nhưng không ngờ là bác chủ đất này đã từng đọc tác phẩm Giận của Sư Ông và bác rất thích quyển sách này. Ba mẹ của bác đã lớn tuổi và đang mắc bệnh nên bác muốn làm việc tốt, tạo thêm phước đức cho gia đình. Và bác đã quyết định bán miếng đất cho tăng thân mình. Trong suốt chín tháng, mình đi tìm mua đất mỗi tuần ở những nơi mà họ giăng bảng bán, nhưng cuối cùng, mình lại mua được một miếng đất mà chủ đất không có ý định bán. Thế mới thấy rằng có phải mọi chuyện cũng là do Bụt Tổ sắp đặt không chứ?
Cuối tháng 10 năm 2010, hai tuần trước khi Sư Ông về, việc mua đất đã hoàn tất nhưng mình chỉ có đủ tiền để trả đặt cọc. Mình đã phải xin họ thêm sáu tháng để quyên góp từ khắp nơi, từ các khóa tu và từ tăng thân Mã Lai. Ấy vậy mà đến tháng giêng năm sau, mình đã kiếm được một số tiền lớn như thế. Một trung tâm đã chính thức được thành lập.
Sau này, các thành viên của tổ chức Làng Mai Thái Lan đã nói với con:
“Có một điều mà chúng con học được từ sư cô là niềm tin (Faith). Khi mua mảnh đất này, trong ngân hàng, mình cũng không có đủ tiền đặt cọc nữa và mình đã phải năn nỉ chủ đất cho mình đặt cọc ít lại”. Lúc đó, con chỉ tự nói với mình: “Just Trust! Hãy có niềm tin nơi tăng thân và phước đức của Sư Ông”. Vì con đã đi qua những giai đoạn khó khăn với Bát Nhã, với chuyện visa Thái Lan nên con chỉ biết đặt niềm tin nơi con đường mình đang đi. Mọi chuyện đã có Bụt Tổ sắp đặt, nhân duyên sẽ tới vì phước đức của Sư Ông, của tăng thân, của đất nước Thái Lan. Tấm lòng người dân Thái Lan thấm nhuần giáo lý Phật giáo sẽ luôn yểm trợ cho tăng thân. Nếu mình tu hết lòng ngày hôm nay thì mình sẽ có ngày mai. Những gì tăng thân mình đang có hôm nay không phải do một cá nhân nào có thể tạo dựng được. Mình luôn biết ơn tất cả, biết ơn tăng thân khắp nơi, gia tài của tổ tiên đất nước ở đây và những người đầu tiên đã đến xây dựng tăng thân trong một hoàn cảnh thiếu thốn và khó khăn nhất.
Đây là đôi dòng tâm sự chia sẻ từ những trải nghiệm thực, một chặng đường mười năm Làng Mai Thái Lan đã đi qua. Ngày hôm nay được làm từ chất liệu của những tháng ngày vất vả đầu tiên để mình trân quý, biết ơn, sống và tu học cho có thật nhiều hạnh phúc trên thực địa xinh đẹp này.
Chân Linh Nghiêm
Hạnh phúc và sức khoẻ tinh thần trong trường học
(Trích từ cuốn “Thầy cô giáo hạnh phúc sẽ thay đổi thế giới” – Sư Ông Làng Mai và Katherine Weare)
Hạnh phúc và sự khoẻ mạnh về tinh thần (well-being) là đề tài càng ngày càng được công nhận chính thức để đưa vào lớp học cho các học sinh nghiên cứu. Một phần là vì ngày càng có nhiều căn cứ khoa học chứng minh tầm quan trọng của đề tài này; mặt khác, vấn đề hạnh phúc và sự khoẻ mạnh tinh thần có liên hệ tới việc học tập của học sinh. Trong phần này, chúng tôi đưa ra một vài ví dụ cụ thể và tạo nhiều cảm hứng về cách thức mà một số giáo viên đã áp dụng phương pháp của Làng Mai và tinh thần của phép thực tập chánh niệm thứ hai (trong Năm phép chánh niệm) vào lớp học của mình. Các giáo viên này đã mời học sinh đủ mọi lứa tuổi cùng quan sát và nhìn lại xem thói quen và sự lựa chọn có ảnh hưởng tới hạnh phúc của các em như thế nào.
Người lớn thường lo sợ rằng người trẻ đi tìm hạnh phúc bằng những con đường sai lầm, quá chạy theo vật chất, sử dụng phương tiện truyền thông, công nghệ và ma tuý để chạy trốn khỏi những cảm xúc không dễ chịu. Nhưng khi nói chuyện với người trẻ, chúng tôi nhận thấy họ thường giải thích rõ ràng, ít nhất về mặt lý thuyết, là những thứ đó không đem lại cho họ hạnh phúc. Khi thảo luận về đề tài hạnh phúc với các học sinh ở tuổi thiếu niên trong lớp của mình, Mike Bell khám phá ra rằng người trẻ không có khó khăn gì trong việc đưa ra một số quy tắc cụ thể để xây dựng một xã hội hạnh phúc.
Các học sinh đã đề ra một danh sách những điều lệ mà họ gọi là “Những quy tắc cho một xã hội hạnh phúc”. Trong đó gồm có:
- Tôn trọng người khác – không kỳ thị vì tuổi tác, giới tính, tôn giáo, hay khuyết tật.
- Không trộm cắp.
- Không làm hại, không xâm phạm, không giết chóc.
- Bảo vệ tôn giáo và văn hoá.
- Chấp nhận một mức độ rủi ro mà mình gặp phải – không tìm cách đổ lỗi cho ai khác.
- Tiếp nhận người tị nạn, nhưng trục xuất người di cư bất hợp pháp.
- Đảm bảo cơ sở và điều kiện sống thuận lợi cho mọi người ở mọi lứa tuổi.
- Giới hạn việc sử dụng các chất gây nghiện.
Tôi đã thử làm một bài tập tương tự với các em học sinh 12 tuổi. Tôi giới thiệu sự thực tập với tên gọi “Khoa học về hạnh phúc”. Tôi bảo các em đừng tin những gì tôi nói mà hãy xem xét, kiểm chứng từ thực tế. Và thật bất ngờ là dù không có sự chỉ dẫn nào, các em đã chia những quan tâm của mình thành năm phạm trù giống như Năm phép thực tập chánh niệm: Bạo động, trộm cắp, lời nói, tà dâm và sự tiêu thụ. Theo kinh nghiệm thì tôi nghĩ mình nên đặt thêm một câu hỏi nữa như là: “Các em thấy những sản phẩm nào mà khi mình ăn, mình mua hay mình tiêu thụ có thể làm cho người khác không có hạnh phúc?”. Đưa ra câu hỏi như vậy sẽ giúp cho các em dễ dàng nhận thấy những thói quen không đem lại hạnh phúc như sự ăn uống không có chừng mực, sự say sưa và nghiện ngập.
Trong một ví dụ khác, Mike sử dụng một viên đá và một cây xanh để giúp các em học sinh suy nghĩ sâu sắc hơn về nhu cầu phức tạp của các sinh vật, giúp cho các em nhận ra được những điều kiện hạnh phúc đang có mặt khắp nơi, trong đó mối liên hệ với con người và môi trường xung quanh cũng đóng một vai trò quan trọng.
Năm nay tôi dự định giảng cho các em học sinh 11 tuổi về đặc tính của các sinh vật. Tôi nhờ anh kỹ thuật viên đem cho tôi một cây xanh và một tảng đá to. Tôi chỉ cho các em học sinh hai vật đó và đặt câu hỏi điều gì sẽ xảy ra khi tôi cất tảng đá vào tủ, rồi một năm sau lấy nó ra. Các em trả lời không chút do dự là tảng đá vẫn gồ ghề như vậy, có lẽ nó có nhiều bụi hơn hay bị mốc một chút nhưng căn bản thì nó vẫn như cũ. Khi tôi hỏi các em điều gì sẽ xảy ra nếu tôi cất cây vào tủ một năm thì các em đều đồng ý với nhau là cây sẽ chết, mục ruỗng hay khô lại.
Rồi tôi hỏi nếu các em bị nhốt vô tủ một năm thì sao (tôi nhấn mạnh là mình không cố ý làm như vậy). Các em trả lời một cách dễ dàng là các em sẽ chết, thối rữa và bốc mùi. Tôi hỏi các em cần gì để sống thì đầu tiên các em nghĩ tới thức ăn, nước và không khí. Sau đó các em thêm vô bạn bè, gia đình và nhà ở. Các em nhận ra rằng mình không thể tồn tại một mình. Rồi tôi hỏi các em cần gì để có hạnh phúc, và một lần nữa tôi lại nhận thấy các em không cảm thấy khó khăn gì khi đưa ra một danh sách những thứ có thể làm cho mình hạnh phúc.
Cũng về chủ đề hạnh phúc, cô giáo Lyndsay Lunan – giảng viên đại học tại Vương quốc Anh – đã sử dụng một phương pháp đặc biệt lấy sinh viên làm trọng tâm. Cô đề nghị các sinh viên lập một bản đồ và nghiên cứu các phản ứng cảm xúc của họ ở những thời điểm khác nhau trong ngày. Phương pháp này giúp cho sinh viên có ý thức hơn, một cách tự nhiên và trực tiếp, về cái gì nuôi dưỡng hạnh phúc và cái gì làm cho hạnh phúc của các em bị tiêu hao.
Tôi đề nghị các em vẽ một biểu đồ về cảm xúc của các em trong một ngày bình thường và quan sát xem các cảm xúc tích cực, tiêu cực hay trung tính phát sinh chiếm khoảng bao nhiêu thời gian trong một ngày. Các em đã khám phá ra rằng rất nhiều các cảm xúc tiêu cực và chán nản bắt nguồn từ những hành động dựa trên thói quen của mình như là dùng Facebook hay xem tivi. Và điều này đưa đến những cuộc thảo luận hấp dẫn về đề tài: “Cái gì thực sự nuôi dưỡng chúng ta?” Những giây phút hạnh phúc của các em luôn là những giây phút được gần gũi với những người mình thương yêu hay khi đi chơi bên ngoài. Từ các khám phá đó, chúng tôi cùng thực tập chế tác những cảm xúc tích cực. Thay vì đề xuất những “điều kiện hạnh phúc” mà đôi khi không gần với nhu yếu của các em, tôi để các em tự lựa chọn một trải nghiệm về hạnh phúc mà các em đã từng nếm được và ngồi yên, mời những trải nghiệm đó đi lên trong tâm trí. Các em biết ý thức về hơi thở và chú tâm vào cảm xúc mà những trải nghiệm đó đem lại trong lòng mình. Đây là cách mà các em có thể dễ dàng áp dụng được để trở về với chính mình. Và có lẽ đây cũng là sự thực tập công hiệu nhất đối với các em.
Angelica Hoberg, một giáo viên tiểu học người Đức đã về hưu, từng cho các em học sinh lớp Ba làm một cuốn sổ chánh niệm để ghi lại những thành công của các em trong việc tưới tẩm hạt giống tốt nơi tự thân. Qua sự quan sát, suy ngẫm của các em cùng với kinh nghiệm hướng dẫn của cô Angelica Hoberg, các em đã dần phát triển khả năng sống hạnh phúc và có nhiều tình thương hơn. Các em biết trân quý những điều kiện hạnh phúc đang có mặt bây giờ và ở đây. Phương pháp thực tập rất thực tiễn này không những thúc đẩy các em học sinh (và cả cô giáo) phải suy nghĩ và hành động mà còn thu hút cả các bậc phụ huynh.
Tôi mời các em tự làm cho mình một cuốn sổ ghi chép, gọi là cuốn sổ chánh niệm. Tôi vẽ một biểu đồ thật lớn tượng trưng cho ý thức và tàng thức. Và chúng tôi cùng nhau suy nghĩ xem hạt giống nào mình muốn tưới tẩm trong tự thân mình. Tôi viết xuống tất cả những đề nghị của các em và treo lên cùng với tấm biểu đồ.
Các em vẽ lại biểu đồ vào cuốn sổ chánh niệm của mình và mỗi người ghi xuống những hạt giống mà mình đã chọn để tưới tẩm, từ danh sách các hạt giống mà cả lớp cùng đề nghị ra với nhau. Mục đích của bài tập này là khuyến khích các em tưới tẩm hạt giống mà mình đã lựa chọn trong vòng một tuần lễ. Sau đó các em viết bên cạnh sơ đồ của mình về những hoàn cảnh/ tình huống mà các em đã thực tập thành công.
Có lần, một em nhỏ trong lớp tự nhiên khen ngợi sự thành công của một bạn khác. Tôi hỏi em lúc đó em cảm thấy như thế nào thì em ngập ngừng. “Em có thấy vui không? Cảm thấy hạnh phúc khi giúp đỡ và khen ngợi người khác chẳng phải là điều rất tuyệt vời sao?”, tôi hỏi. Từ giây phút đó cho đến cuối tiết học, tôi thấy em chạy hết chỗ này đến chỗ khác để giúp các bạn của mình. Tôi phải nói rằng, trước nay điều này chưa bao giờ là ưu điểm của em. Cách hành xử này thực sự cũng là một sự khám phá vô cùng ngạc nhiên đối với em. Chính tôi cũng thấy mình còn nhiều thứ để khám phá. Tôi có cuốn sổ chánh niệm của mình. Tôi nhận thấy có một sự khác biệt rất lớn khi tôi bắt một em học sinh đang giận dữ, ồn ào phải yên lặng với khi tôi chỉ hỏi em một câu: “Em đang tưới tẩm hạt giống nào vậy?”. Các bạn khác giúp em suy nghĩ và em dừng lại để lắng nghe cảm xúc của mình. “Hạt giống giận dữ? Chúng ta đã chọn tưới tẩm hạt giống nào trong tuần này?”. “Hạt giống hạnh phúc”. Và em cười. Không có gì cần phải nói nữa.
Trong những trường hợp như vậy, các em học được rằng mình có thể chọn lựa cách nhìn sự vật/ sự việc và quyết định nên có thái độ như thế nào cho phù hợp. Các em không còn phản ứng như là nạn nhân của những điều kiện bên ngoài. Khi họp với các bậc phụ huynh học sinh vào buổi tối, tôi chia sẻ cuốn sổ chánh niệm của lớp. Tôi chỉ cho cha mẹ của các em xem cuốn sổ sau khi họ đã hứa là không chỉ trích những lỗi lầm của con họ khi trở về nhà. Lẽ dĩ nhiên là trước đó tôi đã xin phép các em rồi! Các phụ huynh xem cuốn sổ và tôi cảm thấy trong phòng có một bầu không khí lắng yên và đầy tôn trọng.
Chúng tôi đã nghiên cứu việc giảng dạy chánh niệm trong các lớp học, dưới hình thức một khoá học chánh niệm theo đúng nghĩa, hoặc dưới hình thức của một phần khoá học về đạo đức hoặc một phần trong chương trình giáo dục cảm xúc – xã hội. Chúng tôi nhận thấy có một tiềm năng rất lớn trong việc đưa chánh niệm vào trong chương trình giáo dục. Chánh niệm ngày càng được học sinh, sinh viên, giáo viên và phụ huynh xem như một phương pháp thực sự quan trọng, đáng tin cậy. Việc thực tập chánh niệm có thể giúp cho học sinh, sinh viên thay đổi cách nhìn và lối sống của mình một cách lâu dài, một khi nó được đưa vào trong chương trình giáo dục chính quy.
Cuộc tương phùng với Đức Thế Tôn
(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 16.11.1997 tại tu viện Rừng Phong, Phần 2)
Ngày xưa, có một Thầy tên là Vakkhali. Thầy Vakkhali thương Bụt vì Bụt đẹp quá về phương diện hình thức. Thấy vị đạo sư đẹp quá, tướng hảo quang minh quá, thành ra thương vậy thôi. Thầy kẹt vào bóng dáng của Bụt. Thầy ngồi đó, tuy nghe Pháp Thoại nhưng không nghe nhiều và chỉ để ngắm Bụt. “Yêu nhau tức là nhìn nhau” đó! Nhìn, nhưng thầy không nhìn sâu, chỉ nhìn bóng dáng bên ngoài thôi. Sau vài tháng, Đức Thế Tôn biết là Thầy bị kẹt và đi đâu Bụt cũng không cho Thầy đi theo. Ngày xưa cũng không khác ngày nay, có người không thật sự tu tập quán chiếu, chỉ muốn hưởng sự có mặt của một người khác và kẹt vào đó mà thôi.
Bữa đó, Thầy Vakkhali “thất tình”. Thất tình vì bị Bụt “hắt hủi” không cho đi theo. Bụt muốn giúp Thầy trị bịnh của Thầy. Thầy đã có lần muốn nhảy từ triền núi xuống để tự tử. Đức Thế Tôn biết trước cái gì sẽ xảy ra. Ngài tìm cách có mặt lúc đó để dạy cho Thầy Vakkhali. Sau này Thầy Vakkhali thoát khỏi tình trạng vướng mắc và đã thực tập đàng hoàng. Thầy Vakkhali cũng đã đi tìm một cái gì mà Thầy thấy thiếu, tìm cái đẹp. Nhưng sự đi tìm không sâu sắc lắm. Và Bụt đã giúp Thầy tìm đến một cái gì sâu sắc hơn. Thầy Vakkhali sau này bị một chứng bệnh nan y và cuối cùng Thầy đã phải tự tử bằng dao. Nhưng Bụt đã từ bi làm lơ để Thầy làm như vậy. Thầy chết trong nhà một người thợ gốm. Bụt có tới thăm Thầy hai hôm trước khi Thầy tịch. Quý vị muốn biết chuyện Thầy Vakkhali xin đọc trong “Đường Xưa Mây Trắng”.
Thời của Bụt cũng có một cô gái thuộc giai cấp hạ tiện, tên là Matanga. Cô này xinh lắm và cô yêu Thầy A Nan. Chuyện bắt đầu xảy ra hôm thầy A Nan đi khất thực, khát nước và ghé vào một cái giếng để tìm nước uống. Thầy thấy cô gái kia đang múc nước. Thầy nói: “Cô cho tôi uống một ngụm.” Cô trả lời: “Con là con gái giai cấp hạ tiện. Con đâu có quyền đưa nước cho Thầy uống.” Thầy A Nan thấy tội, nói: “Theo giáo lý của Đức Thế Tôn dạy, tôi không phân biệt và kỳ thị giai cấp. Cô cứ đưa gàu cho tôi uống.” Cô mừng quá, đưa gàu nước cho Thầy uống và từ đó cô tương tư Thầy.
Cô ngủ không được. Cô bị bệnh. Rồi cuối cùng cô bàn với bà mẹ mời Thầy tới để cô có dịp tỏ tình. Hai mẹ con đã dùng bùa chú, dùng một thứ lá cây nào đó làm nước trà mà khi uống vào Thầy A Nan mất cả sự tỉnh táo. Thấy Thầy A Nan quá giờ mà chưa về, Bụt sai các thầy khác đi tìm và may mắn kiếm được Thầy A Nan trước khi Thầy làm một cái gì sai với uy nghi và hại tới giới phẩm. Thầy A Nan uống xong thứ nước trà kia, biết là bị trúng độc, liền ngồi im vận dụng phép thở khí công. Thầy thở theo chánh niệm và đợi các thầy khác tới giải cứu đem về. Các thầy cũng đem luôn cả cô Matanga về. Tội nghiệp cho cô. Cô cũng cảm thấy thiếu một nửa và đi kiếm, vậy thôi. Lần này, cái nửa cô đi tìm là một ông thầy tu trẻ.
Bụt gọi cô vào hỏi: “Con thương Thầy A Nan lắm hả?” Cô trả lời: “Dạ, con thương Thầy A Nan lắm.” “Con thương cái gì nơi Thầy A Nan?” Bụt hỏi. Ngây thơ, cô trả lời: “Cái gì của Thầy con cũng thương. Con mắt Thầy con cũng thương, cái mũi Thầy con cũng thương. Cái gì của Thầy con cũng thương hết.” Bụt nói: “Nhưng mà thương như vậy con chỉ mới thương được một chút xíu của Thầy A Nan thôi. Con chưa biết gì nhiều về Thầy A Nan. Ví dụ như chí nguyện của Thầy A Nan, con đã thấy gì đâu. Một người trẻ như vậy mà đi xuất gia là vì chí nguyện rất lớn, chí nguyện độ đời, giúp cho bao nhiêu người thoát khổ. Con đâu đã thấy cái đó. Nếu thấy cái đó mà con cũng thương được thì con đã không cho Thầy A Nan uống thứ nước trà kia.
Thầy A Nan có một tình thương rất đẹp. Tình thương của Thầy A Nan là Bồ Đề Tâm, là chí hướng muốn làm hạnh phúc cho nhiều người khác. Nếu con thấy được tình thương đó thì con cũng sẽ thương. Và nếu con thương được thì không bao giờ con muốn chiếm Thầy A Nan cho riêng một mình con.” Bụt dạy từ từ như vậy để cho cô thấy được cái đẹp của thầy A Nan trong chiều sâu của nó. Bụt nói tiếp: “Con cũng vậy, con cũng có cái tình thương ấy trong con.Thương được Bồ Đề Tâm của Thầy A Nan thì con cũng có thể thương được Bồ Đề Tâm trong con.” Ngạc nhiên, cô Matanga hỏi: “Đức Thế Tôn muốn nói là con cũng xuất gia được? Con cũng sống được một đời có lý tưởng như Thầy A Nan sao?” Bụt cười: “Tại sao không?” Và rốt cuộc cô Matanga cũng được Bụt cho phép xuất gia, làm Tỳ kheo ni.
Cho nên cuộc tương phùng giữa ta với Đức Thế Tôn là một cơ hội để ta tìm ra được là ta cũng có tiềm tàng trong ta khả năng vững chãi và thảnh thơi. Khi ta tiếp xúc được với cái vững chãi, thảnh thơi và hạnh phúc đó trong ta, ta bắt đầu có đức tin nơi tự thân và hạnh phúc mới thật sự có được. Nếu không, thì ta vẫn đầy mặc cảm. Ta nghĩ ta không có giá trị gì và ta vẫn tiếp tục đi tìm cầu nơi một kẻ khác. Ban đầu ta tìm cầu một cái vung để đậy lên cái nồi của mình, nhưng sau thấy đậy vung rồi mà nồi vẫn còn lạnh, vẫn còn trống trải, ta mới đi tìm tới một vị đạo sư. Có người đã may mắn gặp được vị đạo sư đích thực, bởi vì đạo sư giả cũng rất nhiều. Vị đạo sư đích thực là vị đạo sư có khả năng chỉ cho mình thấy được cái mà mình đi tìm đang nằm trong bản thân của mình. Cho nên tôi luôn luôn nhắc quý vị: Một ông thầy giỏi là một ông thầy giúp cho mình thấy được ông thầy trong bản thân mình” (The best teacher is the teacher who can help you to find the teacher within yourself). Quí vị nên nhớ lời căn dặn này.
Mình không thể làm như Thầy Vakkhali, ngày nào cũng tới ngồi kè kè bên Bụt và không bao giờ có thể tự chủ được. Ngồi ngắm Thầy, ngồi bên vị đạo sư có sự vững chãi, thảnh thơi và tiếp tục tin rằng không bao giờ mình có được chất liệu của sự vững chãi, thảnh thơi trong mình hết, và kẹt vào cách hành xử này, đó là một thói quen của nhiều người. Người thương của ta có thể là Đức Thế Tôn, có thể là Thầy A Nan. Người thương của ta cũng có thể là bất cứ ai mà bản thân biểu hiện được cái Chân, cái Thiện và cái Mỹ chân thật. Khi thương một người và nhận diện được chất liệu vững chãi, bình yên, thảnh thơi và từ bi nơi người ấy là ta đã có một cơ hội rồi. Ta có quyền thừa hưởng những yếu tố ấy. Nhưng sau khi học nhận diện những yếu tố ấy, khen ngợi những yếu tố ấy và học nuôi dưỡng những yếu tố ấy nơi người đó, ta phải trở về bản thân mà tìm cách làm phát hiện những yếu tố ấy trong ta, vì ta cũng có những hạt giống tốt tiềm tàng trong tâm thức. Đây là tính Bụt, đây là kho tàng Như Lai, đây là kho tàng bảo sở tự tâm. Thương cũng là giúp người mình thương trở về tìm lại kho tàng ấy, phát hiện kho tàng ấy.
Thương yêu không phải là vấn đề cá nhân
Bây giờ ta hãy tìm tới một khía cạnh khác của tình thương. Mình thường nói tới thương yêu như một vấn đề cá nhân, nhưng không biết thương yêu cũng là một sản phẩm tập thể. Mình có thể thương chung (Love is a collective practice). Khi thương Đức Thế Tôn, mình có cơ hội tìm ra được Phật tánh trong chính mình. Mình nói: “Đức Thế Tôn, xin Ngài cho phép con thương chung với Ngài”. Mình muốn tham dự vào sự nghiệp thương yêu của Đức Thế Tôn. Mình muốn làm đệ tử của Đức Thế Tôn, làm con của Đức Thế Tôn và tiếp tục công trình của Ngài. Đó gọi là “cùng nhìn về một hướng”. Ban đầu thì mình nhìn nhau trước. Nhìn nhau để thấy có tôi ở trong anh và có anh ở trong tôi. Sau đó chúng ta cùng tập thương chung.
Khi mình đã có lý tưởng, mình phải giúp cho người thương của mình có lý tưởng đó. Đức Thế Tôn thương mình cho nên Ngài chỉ cho mình thấy cái đó, cái Bồ Đề Tâm trong mình. Thành ra mình không thương đơn độc. Cả hai đứa mình đều có cái đó hết và vì vậy mình có thể thương chung. Khi hai người cùng thương chung thì hai người có hạnh phúc như nhau. Tại sao anh đi một đường mà tôi lại đi một đường khác? Tại sao tôi có lý tưởng của tôi, còn anh có lý tưởng của anh? Mình với Đức Thế Tôn là như vậy đó, là “associés” của nhau (Associated lovers). Người anh, người chị, người mẹ, người cha của mình cũng có thể cùng đi trên con đường mình đi. Người hôn phối của mình cũng vậy. Nếu người kia chưa đi chung với mình thì mình phải làm cho người đó có thể thương được như mình. Và như vậy sẽ không có sự trách móc, rằng: “anh cứ đi con đường lý tưởng của anh nhiều quá, anh không dành cho tôi thì giờ. Anh không “nhìn tôi” anh cứ nhìn về hướng “của anh” thôi.” (You don’t look at me, you only look at the direction of your love. I am not included). Cái nhìn đó vẫn là cái nhìn lưỡng nguyên (dualistic view), phải không?
Khi mình thương và biết cách thương thì người kia cũng thương được như mình. Và “chúng ta” luôn luôn có nhau trên bước đường lý tưởng, trên bước đường thương. Tại sao cứ phải trách móc là anh cứ lo cái lý tưởng của anh nhiều quá và anh không để ý tới tôi? Chuyện nhìn nhau và chuyện cùng nhìn về một hướng phải là một. Chúng ta đã bắt đầu bằng câu nói của Antoine de St. Exupéry: “Yêu nhau không phải là nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng.” Đến đây ta có thể trả lời rằng: “Ông nhà văn ơi, ông nói lại đi: Thương nhau cũng là nhìn nhau để nhận diện rằng chúng ta có trong nhau, để chúng ta cũng có thể cùng nhìn chung về một hướng.” Phần chót là để quý vị quán chiếu và phát hiện.
Pháp thoại năm 2007
| 01 | 2007.02.22 | Bí quyết an lạc trong đời sống | mp3 |
| 02 | 2007.03.01 | Pháp thoại tại Tu viện Bát Nhã Chuyển hoá khổ đau | mp3 |
| 03 | 2007.03.06 | Vấn đáp tại Tu viện Bát Nhã | mp3 |
| 04 | 2007.03.15 | Tình thương và hạnh phúc trong Doanh Nghiệp | mp3 |
| 05 | 2007.03.16 | Pháp thoại tại Chùa Vĩnh Nghiêm | mp3 |
| 06 | 2007.03.18 | Chùa Vĩnh Nghiêm: Người thương tôi chết bây giờ ở đâu? | mp3 |
| 07 | 2007.03.19 | Tiếp chuyện với toà soạn báo Giác Ngộ | mp3 |
| 08 | 2007.03.22 | Pháp thoại tại chùa Phổ Quang Mục đích của người tu | mp3 |
| 09 | 2007.03.27 | Này thôi hết kiếp đoạn trường từ đây | mp3 |
| 10 | 2007.04.18 | Hãy là một hành giả | mp3 |
| 11 | 2007.04.20 | Người thương tôi chết bây giờ ở đâu 01 | mp3 |
| 12 | 2007.04.21 | Người thương tôi chết bây giờ ở đâu 02 | mp3 |
| 13 | 2007.04.22 | Người thương tôi chết bây giờ ở đâu 03 | mp3 |
| 14 | 2007.04.23 | Tuệ giác của đạo Bụt trong Truyện Kiều | mp3 |
| 15 | 2007.09.13 | Để có thể chăm sóc thân và tâm | mp3 |
| 16 | 2007.09.14 | Nghệ thuật hóa giải những khó khăn trong gia đình | mp3 |
| 17 | 2007.09.15 | Vấn đáp | mp3 |
| 18 | 2007.09.16 | Hàn gắn những vết thương trong gia đình | mp3 |
Cho Windows
Mindful Clock
Đây là một ứng dụng Chuông Chánh Niệm được lấy cảm hứng từ những lời dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Bạn có thể tải xuống toàn bộ chương trình hoặc chỉ có Tiếng Chuông. Bạn có thể đặt chuông trong một khoảng thời gian chính xác hoặc ngẫu nhiên.
Bạn hãy tải xuống chương trình trước, sau đó tải xuống tiếng chuông vào thư mục c:\Program Files\MindfulClock. Khi các tệp đã được tải xuống, mở điều khiển Mindfulclock và nhấp đúp vào tên tệp âm thanh để lựa chọn.
Click vào đây để tải về và cài đặt
Cho máy Mac
Mindfulness Bell Menu Bar
Mindfulness Bell Menu Bar là một ứng dụng thiết thực hỗ trợ bạn thực tập Chánh Niệm. Đơn giản chỉ cần cài đặt một khoảng thời gian và một tiếng chuông nhỏ hoặc lớn sẽ được thỉnh lên vào thời gian bạn quy định, mời bạn dừng lại, trở về với giây phút hiện tại và quan sát hơi thở.
Bạn có thể Download trên Mac App Store và sau đó Click vào biểu tượng xuất hiện trên thanh Menu Bar và bắt đầu cài đặt theo thời gian thích hợp cho sự thực tập của Bạn.













































