Định đề 21

 

Đã là người thì có thể là Bụt, là Bụt nhưng không ngưng làm người, do vậy có hằng hà sa số Bụt.

As a human being you have the capacity to become a Buddha. As a Buddha you continue to be a human being. That is why numerous Buddhas are possible.

Trong văn học Phật giáo Trung Quốc chúng ta thường hay gặp cụm từ “sinh Phật bất nhị”, tức chúng sinh và Phật không phải là hai cái riêng. Giáo lý này có trong “Lâm Tế Lục”. Chúng ta thường nghe nói đi nói lại: Tìm Phật thì tìm ngay trong chúng sinh vì chính từ chúng sinh mà có Phật. Chúng ta cũng nghe nói: Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Chữ chúng sinh bao gồm tất cả các loài chứ không phải chỉ loài người. Tại sao trong định đề 21 ta dùng chữ người mà không dùng chữ chúng sinh? Có lẽ ta dùng chữ người cho bớt ngợp. Khi thành Phật là ta thành Phật cho tất cả mọi loài chúng sinh, không phải chỉ cho loài người thôi.

Trong nhà Thiền có công án rất nổi tiếng “Con chó có Phật tánh hay không?”. Nếu có Phật tánh thì tại sao con chó không thành Phật? Chúng ta thấy có con người và con chó, có sự khác nhau, một con thành Phật được và một con không thành Phật được. Đó là cái thấy chưa siêu việt, cái thấy lưỡng nguyên.

Đứng về phương diện bản môn, các loài chúng sinh, trong đó có các loài vô tình và hữu tình, đều có Phật tánh. Một hạt sỏi, một lá cây, một dòng nước đều có Phật tánh, đều an trú trong Niết bàn cho nên chúng không cần phải thành Phật nữa.

Đứng trên phương diện tích môn, ta thấy rõ là làm người, ta có được những điều kiện rất thuận lợi để phát triển tuệ giác, nuôi dưỡng từ bi và đạt tới được cái thấy vô ngã. Vì vậy sinh ra được làm người là một sự may mắn. Đạt được quả vị Bụt là chuyện có thể làm được trong kiếp này.

Khuynh hướng tuyệt đối hóa Bụt

Chúng ta thường bị vướng vào thói quen tuyệt đối hóa, lý tưởng hóa. Khi đức Thế Tôn còn ở với chúng ta như một bậc thầy thì Ngài cũng sinh hoạt giống như chúng ta. Ngài cũng ăn cơm, uống nước, cũng đi tắm, cũng giặt áo, cũng đi tiểu, đi cầu. Ngài cũng bị cảm, bị ho, bị bệnh kiết,… Rõ ràng Ngài cũng là một con người. Nhưng chúng ta hay quên chuyện đó, bây giờ chúng ta không chấp nhận được chuyện đức Thế Tôn cũng bị ho, cũng bị cảm cúm.

Một lần trong ngày quán niệm dành cho xuất sĩ, tôi có nói với các vị hòa thượng, thượng tọa từ Việt Nam mới qua:

  • Quý vị biết lúc đức Thế Tôn thành đạo, Ngài mới có 35 tuổi, còn rất trẻ. Ngài là một con người. Tôi hỏi quý hòa thượng, quý thượng tọa: Vậy đức Thế Tôn có còn năng lượng tình dục không sau khi đã chứng ngộ dưới cội bồ đề?

Rất khó cho các ngài chấp nhận là đức Thế Tôn còn năng lượng tình dục. Đức Thế Tôn lúc đó đang là một thanh niên chỉ mới 35 tuổi. Ta có chấp nhận được sự thực đức Thế Tôn 35 tuổi thành đạo rồi mà còn năng lượng tình dục? Ta cho là sau khi thành Phật rồi thì Siddhartha không còn là con người nữa. Thành Phật rồi thì hoàn toàn không còn là con người, đó là một điều rất sai lầm. Vì vậy định đề 21 là: Hễ là người thì có thể là Bụt, là Bụt nhưng vẫn tiếp tục là người.

Bụt là một con người

Nhưng có điều khác nơi đức Thế Tôn là tuy Ngài có bệnh, có ho nhưng Ngài không đau khổ vì bệnh, vì ho. Tuy Ngài có năng lượng tình dục, nhưng năng lượng đó không làm cho Ngài lao đao, vì Ngài có đủ trí tuệ, có đủ giới hạnh và sức mạnh tâm linh để nó không động được tới Ngài. Vấn đề là ta cần khám phá trở lại đức Thế Tôn. Ta đã đánh mất đức Thế Tôn, bây giờ ta phải khám phá Ngài trở lại. Đức Thế Tôn là một con người, đó là một thông điệp rất lớn cho chúng ta. Với tư cách một con người, đức Thế Tôn đã giác ngộ được thì ta cũng có thể làm được. Nếu Ngài là một vị thần linh thì làm sao ta có thể giác ngộ được như Ngài? Vì đức Thế Tôn là một con người và Ngài đã làm được chuyện đó thì chúng ta cũng là một con người và chúng ta cũng làm được chuyện đó.

Chúng ta không cho đức Thế Tôn quyền được làm người, Ngài phải làm Phật thôi, trong khi đó thì đức Thế Tôn sống cuộc đời con người một cách rất đầy đủ. Sau khi đức Thế Tôn nhập diệt, người ta bắt đầu thần tượng hóa, thần linh hóa, tuyệt đối hóa Ngài cho đến nỗi nói rằng phân Ngài đi ra, mồ hôi Ngài tiết ra đều rất thơm. Người ta thần tượng hóa đến mức biến Ngài thành một đấng tạo hóa, nguyên ủy của vũ trụ. Trong Phật giáo Tây Tạng, có lúc chúng ta thấy đức Thế Tôn trở thành bản thể của vũ trụ. Đức Đại Nhật Như Lai là cơ bản của vũ trụ.

Khuynh hướng tuyệt đối hóa, thần tượng hóa thầy mình có cái hại là đưa thầy mình ra khỏi lĩnh vực của sự sống. Thầy mình không còn là người, thầy mình là thần linh trên trời hiện xuống một thời gian rồi lại trở về đó. Điều này rất tai hại, chúng ta phải làm thế nào để phục hồi quyền làm người cho đức Thế Tôn. Khi viết “Đường xưa mây trắng” tôi có chủ đích này. Tôi đã trình bày lại đức Thế Tôn như một con người, đó là công đức của tác phẩm “Đường xưa mây trắng”. Khi đọc “Đường xưa mây trắng” chúng ta thấy đức Thế Tôn rất gần gũi với mình. Đức Thế Tôn là một con người, là thầy, là anh của ta, là người hướng đạo của ta, là cha của ta chứ không phải là một vị thần linh từ phương xa tới. Đức Thế Tôn là một đứa con của hành tinh này, chúng ta cũng là những đứa con của hành tinh này.

Ngay trong Cơ Đốc giáo cũng nói: Kitô là con của Thượng đế, nhưng cũng là con của con người (the son of God and the son of man). Chúng ta đã làm ăn như thế nào mà đức Thế Tôn không còn được làm con của con người, không được làm con của trái đất mà đã trở thành một vị thần linh? Đó có phải là sự phá sản, sự lỗ lã hay không? Đạo Bụt là một đạo hết sức nhân bản (un humanisme très accentué), các bậc thầy lớn luôn luôn nhắc chúng ta điều đó, như thiền sư Lâm Tế. Ngài hỏi: “Quý vị có biết Bụt và Bồ tát là ai không? Bụt và Bồ tát chính là quý vị đang ngồi nghe pháp trước mặt tôi đây!”. Đạo Bụt là một nền nhân bản rất hùng hậu. Tại sao ta lại tước tính cách người ra khỏi đức Thế Tôn? Đó là một lỗi lầm rất lớn. Ta nói: Bụt không phải là người, nhưng Ngài giả đò làm con người, Ngài thị hiện làm người. Điều đó cũng rất có hại. Đức Thế Tôn không giả bộ, Ngài là một đứa con của trái đất. Là một con người Ngài đã từng đau khổ, đã từng bị bức xúc, đã từng bị khó khăn và nhờ sự tu tập, nhờ sự hành đạo mà Ngài đã vượt thoát tình trạng đó để thành một vị Bụt. Ngài đã nói rằng tất cả chúng ta, nếu biết tu tập như vậy thì cũng làm được như Ngài. Đó là một thông điệp rất hùng tráng, rất quan trọng! Làm cho thông điệp mất đi là lỗi của chúng ta. Chúng ta phải nhắc nhau: Đức Thế Tôn trước hết là một con người! Tất cả mọi người đều có khả năng thành Phật và khi thành Phật rồi thì vẫn tiếp tục là một con người.

Định đề 20

 

Vị A la hán chân thật cũng là một vị Bồ tát và vị Bồ tát đích thực cũng là một vị A la hán.

A real Arahat is also a Bodhisattva and a real Bodhisattva is also an Arahat.

Câu này có thể làm cho nhiều người bị “sốc”. Lâu nay chúng ta cứ nghĩ rằng A la hán là quả vị thấp nhất, sau đó thì đến quả vị Bồ tát, rồi đến quả vị Phật. Trong đầu chúng ta chia ra từng cấp bậc khác nhau, ta cho A la hán là tiểu thừa còn Bồ tát là đại thừa. Ta đã bị tiêm nhiễm những ý niệm đó từ hồi còn ấu thơ cho nên bây giờ ta phải tìm cách chỉnh lại.

A la hán là quả vị chung của hai truyền thống tiểu thừa và đại thừa.

Nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng quả vị A la hán là quả vị cao nhất trong Phật giáo tiểu thừa và những người tiểu thừa không thể nào đi lên khỏi quả vị đó. Sự thật thì A la hán là quả vị chung của hai truyền thống tiểu thừa và đại thừa. Chính đức Thế Tôn cũng được gọi là một vị A la hán. Chữ A la hán thường được dịch là ứng cúng, tức là xứng đáng để được cúng dường. Chữ A la hán có khi được dịch là bất sinh, tức không sinh trở lại nữa. Chữ bất sinh cũng có nghĩa là bất diệt, vì trong đạo Phật bất sinh tức là bất diệt. A la hán cũng được dịch là phá ác, tức là có khả năng diệt trừ được tất cả phiền não, khổ đau, si mê và vướng mắc. Có khi A la hán cũng được dịch là sát tặc, tức giết giặc, ở đây là giết giặc phiền não. Có những phiền não thuộc về mặt tình cảm (tư hoặc) và có những phiền não thuộc về mặt tri kiến (kiến hoặc). Vì diệt trừ được những phiền não nên vị A la hán chuyển hóa được khổ đau, trở thành giải thoát và xứng đáng được tôn kính và cúng dường. Đó là nghĩa của chữ Arahat.

Truyền thống đại thừa cũng sử dụng mười danh hiệu (thập hiệu chứng bồ đề), mà danh hiệu A la hán là một, để ca tụng đức Thế Tôn. Đó là danh hiệu Ứng cúng. Nam mô Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn. A la hán là một trong mười hiệu của đức Như Lai:

Khể thủ thanh lương tọa

Quy đầu đại giác tôn

Thập hiệu chứng bồ đề

Nhất luân mãn nguyệt tướng.

A la hán là quả vị chung cho cả hai truyền thống. A la hán là một đức, là một trong mười vẻ đẹp của đức Thế Tôn, vì vậy cho nên đức Thế Tôn cũng là một vị A la hán.

Chúng ta cũng thường bị tiêm nhiễm tư tưởng cho rằng tiểu thừa là ích kỷ còn đại thừa là vị tha, tiểu thừa chỉ lo tu cho riêng mình còn đại thừa thì tu cho tất cả mọi người. Tinh thần ích kỷ đó không phải tiểu thừa, cũng không phải đại thừa, tinh thần đó không phải là Phật giáo vì bản chất của giáo lý đạo Bụt là vô ngã. Thực tập giáo lý vô ngã ta thấy không có ta cũng không có người, thì sẽ không có chuyện tu riêng cho mình hay tu chung cho người khác. Vấn đề ở đây là ta có thật sự thực tập vô ngã hay không? Nếu có thực tập vô ngã thật sự thì đó là Phật giáo rồi, không nhất thiết là phải tiểu thừa hay đại thừa.

Nhìn cho sâu sắc ta thấy khi ta đi một bước chân vững chãi, thảnh thơi, khi ta mỉm một nụ cười tha thứ thì bước chân và nụ cười đó có phải là cho riêng ta hay không? Ta bước cho cha, cho mẹ, cho tổ tiên, cho thế giới một bước chân an lành và cả thế giới cùng được nhờ. Một nụ cười tha thứ làm cho lòng ta nhẹ, ta được chuyển hóa, được trị liệu và cũng làm cho thế giới nhẹ đi, thế giới được chuyển hóa, được trị liệu. Bước chân đó, hơi thở đó, nụ cười đó không tiểu thừa cũng không đại thừa. Bất cứ điều gì tốt ta làm được cho ta là ta làm được cho cả thế giới. Bất cứ điều gì tốt ta làm được cho thế giới là làm được cho chính ta. Như vậy không còn có sự phân biệt, kỳ thị giữa đại và tiểu.

“Người này chỉ tự lợi, chỉ lo tu cho mình thôi”, câu nói đó rất sai và khá nặng. Nếu người đó có tu thật thì có lợi cho chính bản thân người đó và có lợi cho cả thế giới. Nếu chỉ tu hình thức thôi thì không có lợi gì cho bản thân người đó và cũng không có lợi gì cho thế giới. Mẹ khỏe thì con khỏe, mà con khỏe thì mẹ khỏe. Vấn đề là có tu thật, có thảnh thơi, có an lạc hay không, chứ không phải là đại thừa hay tiểu thừa! Trong kinh “Tứ thập nhị chương” có một định nghĩa về A la hán. A la hán là một người:

  • Có khả năng phi hành, tức bay lên không gian.
  • Có thể biến hóa thành nhiều thân.
  • khoáng kiếp thọ mạng (thọ mạng vô cùng), tức có đời sống không thể kể bằng năm tháng.
  • Trú động thiên địa, tức hễ người đó ở đâu thì làm rung chuyển trời đất chỗ đó.

“Tứ thập nhị chương” là một kinh rất xưa. Theo định nghĩa trong kinh thì vị A la hán là một vị đại Bồ tát, một vị có khả năng biến hóa, có thể chuyển đổi được tình trạng, một người đang ở trong trạng thái bất sinh bất diệt, một người mà khi sự có mặt ở nơi nào thì làm rung động trời đất ở nơi đó. Đó là một con người lớn, một bậc thánh nhân lớn. Người đó ở đâu thì ở chỗ đó cây cối xanh hơn, nước sông trong hơn, con người có hạnh phúc hơn. Đức độ của người đó làm rung chuyển cả thế giới. A la hán giả năng phi hành, biến hóa, khoáng kiếp thọ mạng, trú động thiên địa.

Thiền tổ sáng lập thiền tông Việt Nam, thầy Tăng Hội, cũng có diễn tả một vị A la hán trong một đoạn văn như sau: Vị A la hán là một người có thể biến hóa rất mầu nhiệm, có thể có mặt ở nơi này và nơi khác cùng một lúc. Thọ mạng của một vị A la hán là vô cùng. Vị A la hán có mặt trong khoảng thời gian vô cùng và làm được không biết bao nhiêu việc để giúp mọi người và mọi loài.

Hình ảnh của một vị A la hán mà thầy Tăng Hội trình bày cũng là hình ảnh rất đẹp của một vị Bồ tát. Trong kinh “Lục độ tập” thầy Tăng Hội có viết một chương nói về sự thực tập thiền và chính trong đoạn này thầy đã diễn tả một vị A la hán bằng một hình ảnh rất đẹp, rất hùng vĩ, rất đại thừa, đó là hình ảnh của Bụt.

Chúng ta, ai cũng có ba khả năng gọi là tam đức và khi ba khả năng này phát triển tới mức cùng tột thì ta chứng nhập được Niết bàn tuyệt đối. Đức được dịch là khả năng (capacity). Tam đức là:

Đoạn đức

Đoạn là cắt đứt, vĩnh viễn xa lìa, vĩnh viễn buông bỏ. Điểm đặc sắc đầu tiên khi ta nghĩ tới một vị A la hán là khả năng buông bỏ, là khả năng sát tặc (giết giặc), phá ma. Khả năng thứ nhất là cắt đứt phiền não, gọi là đoạn đức.

Đức Thế Tôn là người có khả năng buông bỏ và cắt đứt phiền não, vì vậy nên Ngài có tự do lớn. Chúng ta là những người thực tập theo đức Thế Tôn, chúng ta hãy tự hỏi là ta đã cắt đứt được những gì? Ta đã cắt đứt được những vướng mắc nào, những dây mơ rễ má nào? Cắt đứt được càng nhiều thì hạnh phúc của ta càng lớn.

Có một lần, hồi đức Thế Tôn đang còn trẻ, Ngài đang đi hành đạo tại một xứ nọ. Một người phụ nữ rất giàu, rất có quyền thế thấy đức Thế Tôn đẹp quá đã đến cầu hôn Ngài. Bị từ chối, bà ta quá tự ái nên đã tìm mọi cách làm áp lực, tạo khó khăn để tăng đoàn không thể đi khất thực ở đó được nữa. Có lần về thăm nhà, Ngài thấy quê hương đang có nhiều vấn đề. Nhiều người nói: Đức Thế Tôn là một người tài ba xuất chúng, nếu Ngài chịu trở về làm vua thì thế nào đất nước cũng sẽ hưng thịnh và thoát khỏi được tình trạng khó khăn này. Uy tín của Ngài quá lớn, nếu làm vua thì Ngài sẽ giải quyết được những vấn đề lộn xộn đang xảy ra trong nước. Nhưng đức Thế Tôn đã từ chối, Ngài nói rằng với tư cách của một người tu, Ngài sẽ làm được nhiều việc hơn. Chúng ta thấy rõ ràng đức Thế Tôn một khi đã cắt đứt rồi thì không bao giờ còn dính lại nữa.

Nếu như người ta mời mình làm pháp chủ, làm tăng thống của giáo hội này hay giáo hội kia, làm bộ trưởng, làm tổng thống thì mình thấy mình có thể bị dính không? Người ta nói: “Ngài giỏi quá đi! Ngài có khả năng và uy tín rất lớn. Nếu Ngài đứng vào địa vị đó thì cũng chỉ vì chúng sinh thôi. Chúng tôi biết Ngài không vuớng mắc vào danh vọng và quyền hành.” Tới những lúc như thế thì ta mới biết là khả năng của ta đã cắt đứt được bao nhiêu. Đó gọi là đoạn đức.

Là một người tu, ta phải tự đặt câu hỏi: “Có phải đích thực là mình đã cắt đứt được những ràng buộc rồi không?”. Đôi khi ngôi chùa của mình cũng là một sợi dây ràng buộc. Tự do, hạnh phúc của mình lớn hay không là tùy thuộc vào khả năng cắt đứt của mình. Cắt đứt càng nhiều thì hạnh phúc càng lớn. Trong tự thân chúng ta ai cũng có một vị A la hán. Công việc hằng ngày của vị A la hán đó là cắt đứt những ràng buộc, những ái nhiễm, những trông cầu thuộc về phạm vi danh lợi, những tiện nghi vật chất, v.v… và vị đó có đang làm việc ấy hay không thì mỗi một chúng ta phải tự biết lấy.

Ân đức

Đức thứ hai là ân đức. Ân là thương, thương được, giúp được, độ được. Chúng ta nói: Đức Thế Tôn là người đã mở rộng trái tim và thương được không biết bao nhiêu là người, bên nam Ngài cũng thương mà bên nữ Ngài cũng thương, người giàu Ngài cũng thương mà người nghèo Ngài cũng thương, giai cấp quyền quí Ngài cũng thương mà giai cấp hạ tiện Ngài cũng thương. Mở rộng lòng ra và thương được nhiều người, đó là khả năng thứ hai.

Là những người tu, chúng ta nên đặt câu hỏi là mình đã thương thêm được ai, đã tha thứ được cho ai hay là trái tim của mình vẫn còn nhỏ như một hạt đậu phộng? Chúng ta thương những người ân của mình, đó là chuyện thường, không cần phải tu mới làm được. Nhưng những người đã từng tạo cho ta nhiều khó khăn, những người đã làm ta điêu đứng mà ta thương được mới là hay. Chúng ta thương được cha, thương được mẹ chưa? Chúng ta thương được anh chị, bạn bè, thương được những người đang khổ chưa, hay là vì đang bị vướng vào hoàn cảnh của mình, chúng ta không có thì giờ lưu tâm tới họ. Tu là gì? Tu là để thương, để giúp cho người thoát khỏi vòng hệ lụy, khổ đau. Câu hỏi đặt ra là: Chúng ta đã thương được ai rồi? Thương và giúp được bao nhiêu người rồi? Đó là công hạnh độ sanh. Thương ở đây là thương bằng hành động, chấp nhận và giúp đỡ người đó ra khỏi được trạng huống khó khăn, tuyệt vọng của họ. Chúng ta biết nhìn người đó bằng con mắt từ bi, không trách móc, không hận thù. Mỗi ngày chúng ta thực tập mở rộng trái tim của mình ra hơn. Đó là đức thứ hai gọi là ân đức.

Trí đức

Khả năng thứ ba là trí đức. Trí đức là tuệ giác, là thấu hiểu được bản chất của vũ trụ, của sự vật, nhưng trước hết là khả năng hiểu được những khổ đau của chính mình và của người khác. Hiểu được thì chấp nhận được và thương yêu được.

Chúng ta muốn mở trái tim ra, nhưng làm sao mở được nếu ta không có trí tuệ? Hiểu đi đôi với thương. Hiểu được những khó khăn, những bức xúc, những tuyệt vọng và hệ lụy của người kia, chấp nhận được, thương được và giúp được người kia, đó là công trình thực tập của ta. Chúng ta hãy đặt câu hỏi: Ngày hôm nay có khác ngày hôm qua không? Hôm nay ta có khả năng hiểu được hơn hôm qua không? Hay là chúng ta đứng dậm chân tại chỗ? Chúng ta thực tập, chúng ta tu tập như thế nào để càng ngày ba khả năng đó càng lớn lên. Ta nương vào tăng thân, vào giáo pháp, vào thầy để phát triển ba mặt đó của đời sống tâm linh. Ta phải luôn luôn đặt câu hỏi là ta đã buông bỏ được gì rồi, ta đã thương thêm được ai, ta đã hiểu thêm được ai? Đó là sự thành công của một đời người tu.

Có một vị Bồ tát đại biểu cho cái hiểu, đó là Bồ tát Văn Thù. Có một vị Bồ tát đại biểu cho cái thương, đó là Bồ tát Quan Âm. Có một vị A la hán mà cũng là một vị Bồ tát đại biểu cho khả năng cắt đứt và buông bỏ, đó là vị A la hán ở trong ta. Mười danh hiệu của đức Thế Tôn là mười khía cạnh, mười vẻ đẹp, mười khả năng mà chúng ta ca ngợi trong khi niệm Bụt. Ngày xưa trong thời đức Thế Tôn còn tại thế đã có pháp môn niệm Bụt, nhưng phải niệm Bụt như thế nào để có được một nội dung. Nội dung là mười danh hiệu trong đó có danh hiệu Ứng cúng, tức là xứng đáng để được tôn kính và cúng dường.

Định đề 19

 

Nên nhìn “tập đế” là con đường của Bát tà đạo. Nguyên do của sinh tử luân hồi không phải chỉ là cái muốn.

You should learn to see the second noble truth as the path of the eight wrong practices. The deep cause of ill- being is not just desire.

Nhiều người, nhất là người Tây phương thường diễn dịch Tứ đế như sau: Tất cả nguyên do của khổ đau là do ham muốn, do dục. Lối giải thích đó thường đưa tới sự hiểu lầm: Khổ đau từ ham muốn mà có. Nhưng ham muốn không phải là tất cả nguyên do của khổ đau.

Sự thật thứ nhất là khổ đế, sự thật thứ hai là tập đế, tức là dục (desire), sự thật thứ ba là diệt đế tức là hết khổ đau, sự thật thứ tư là đạo đế tức là diệt dục. Đó là cách hiểu Tứ diệu đế của rất nhiều người, trong đó có cả người Trung Quốc và người Việt Nam. Cách giải thích này đưa tới rất nhiều hiểu lầm nên chúng ta phải tránh giải thích Tứ diệu đế theo lối này.

Trong bài pháp thoại đầu tiên của đức Thế Tôn, Ngài nói rất rõ: Sự thật thứ tư là con đường đưa tới sự diệt khổ, là con đường Bát chánh đạo, chứ không phải là con đường diệt dục. Bát chánh đạo là con đường của tám sự hành trì chân chính. Chúng ta nên biết, trước khi đức Thế Tôn chuyển pháp luân, Ngài đã chuẩn bị rất đàng hoàng. Ngài đã ngồi 49 ngày dưới cây bồ đề để có thì giờ tìm cách diễn bày cái thấy của mình bằng ngôn ngữ của loài người. “Chuyển pháp luân kinh”, bài pháp thoại đầu tiên đã được Ngài chuẩn bị rất kỹ. Các vị giáo thọ của mình cũng nên học theo đức Thế Tôn, phải chuẩn bị thật đàng hoàng nhất là khi mình ra trận lần đầu tiên.

Tứ diệu đế và Bát chánh đạo là tinh túy của bài pháp thoại đầu. Bát chánh đạo giải thích Tứ diệu đế, Bát chánh đạo là con đường của tám sự hành trì chân chính đưa tới sự diệt khổ, đem lại hạnh phúc. Nếu hiểu Tứ diệu đế và Bát chánh đạo một cách chính thống thì phải giải thích đạo đế (Bát chánh đạo hay Bát thánh đạo) là con đường của tám sự hành trì chân chính. Bát thánh đạo là The Holy Eightfold Path, Bát chánh đạo là the Noble Eightfold Path.

Con đường đưa tới khổ đau

Nếu con đường của tám sự hành trì chân chánh đưa tới hạnh phúc thì con đường nào đưa tới đau khổ? Nhìn vào sự thật thứ tư chúng ta thấy sự thật thứ hai. Sự thật thứ hai không phải chỉ là dục mà là Bát tà đạo (the wrong path). Tà là ngược với chánh. Bát chánh đạo là con đường của chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp v.v… con đường đưa tới hạnh phúc, chấm dứt khổ đau. Diệt dục chỉ là một phần nhỏ của diệt đế. Khi nói tới sự thật thứ hai thì ta nói tới Bát tà đạo tức tà kiến, tà tư duy v.v… Chúng ta thấy rõ rằng khổ đau, luân hồi sinh tử là do tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà mạng v.v… chứ không phải chỉ do dục.

Khi nói tới dục là ta nói tới tà dục, tức những ham muốn đem tới đau khổ. Có những ham muốn không đem tới đau khổ. Khi Siddharta bỏ cung điện ra đi thì Ngài cũng có cái muốn, muốn tìm con đường để chuyển hóa khổ đau. Cái muốn đó cũng là một cái dục, nhưng không phải là tà dục. Dục đó là một nguồn năng lượng rất lớn làm cho cuộc đời của con người có ý nghĩa. Thấy cuộc đời khổ đau, mình phát tâm xuất gia để chuyển hóa con người của mình, để có được bình an, hạnh phúc hầu ra giúp đời, giúp người. Đó là một cái dục rất lớn, dục đó không phải là tà dục mà nếu diệt đi thì mình không còn năng lượng, không còn sức sống nữa.

Chữ dục phải được hiểu là tà dục. Tà dục là muốn có nhiều tiền tài, nhiều danh vọng, nhiều sắc dục, nhiều quyền hành. Tà dục làm cho mình khổ đau, nó được phát khởi lên dựa trên căn bản của tà kiến và tà tư duy. Tà kiến, tà tư duy là căn bản của tà dục, cho nên nền tảng của tà dục là vô minh. Vô minh là gốc rễ căn bản. Ta nên cho rằng sự thật thứ hai là vô minh thì đúng hơn cho là tà dục. Nhưng nói vô minh cũng chưa đủ mà phải nói là con đường của kiến giải sai lầm, tư duy sai lầm, nói năng sai lầm v.v…

Trong kinh “Bát đại nhân giác” có một câu, giải thích rằng nguyên do của sinh tử là ham muốn, là tà dục và nhiều người đã bị ảnh hưởng câu đó:

Đệ nhị giác ngộ

Tham dục vi khổ

Sinh tử bì lao

Tùng tham dục khởi

Thiểu dục vô vi

Thân tâm tự tại

“Điều giác ngộ thứ hai là thấy được rằng vướng mắc vào những tham dục sẽ đưa tới những khổ đau. Tất cả khổ đau của sinh tử đều từ tham dục mà có. Không có nhiều tham dục (thiểu dục) thì thân tâm tự tại, thanh thản”. Điều giác ngộ thứ hai nói đúng, không sai. Không có tà dục thì trong người ta khỏe nhẹ. Nhưng ta không nên dùng câu này để giải thích sự thật thứ hai, tức tập đế. Muốn giải thích sự thật thứ hai một cách đúng đắn thì ta phải nói: Con đường đưa tới khổ đau là bát tà đạo, con đường của sự hành trì tà đạo. Kiến giải sai lầm, tức tà kiến, không chỉ đưa tới sự thèm khát (dục) mà còn đưa tới nhiều thứ như giận hờn, tuyệt vọng, bạo động, căm thù v.v… Kết quả của tà kiến không phải chỉ là tà dục mà còn có sân, si, mạn, nghi. Giải thích sự thật thứ hai là dục là không đúng. Nguyên do của sinh tử luân hồi không phải chỉ là dục.

Sau này các thầy, các sư cô giảng giải Tứ diệu đế đừng nên theo vết chân của người xưa, cho rằng sự thật thứ hai chỉ là dục. Những phiền não căn bản (tham, sân, si, mạn, nghi) đều đưa tới đau khổ, không phải chỉ có tham (dục) mà thôi. Nói một cách khoa học hơn thì sự thật thứ hai là con đường tà đạo (tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp v.v…).

Đạo Phật đi vào cuộc đời

Chúng ta thường nói rằng sở dĩ có đau khổ là do chúng ta ham muốn quá nhiều. Điều đó đúng! Chúng ta nói: Nếu muốn hết khổ thì đừng ham muốn gì nữa cả. Điều đó cũng đúng! Nhưng nói như vậy người ta không áp dụng được. Ta phải nói: Sở dĩ anh đau khổ là vì anh có tà kiến, anh có những nhận thức sai lầm về sự thật, sự thật về anh và về thế giới. Anh có những tư duy sai lầm do tà kiến của anh. Tà kiến và tà tư duy đưa anh đi vòng vòng trong cõi khổ đau cho nên anh phải thực tập để thoát ra khỏi vòng tà kiến và tà tư duy. Ta phải đưa ra những biện pháp rất cụ thể để người kia chỉnh đốn lại tà tư duy và lấy ra bớt tà kiến. Nếu chỉ nói: “Tại anh muốn nhiều quá cho nên anh mới khổ”, thì ta không giúp gì được cho người kia. Vì vậy giải thích sự thật thứ hai là dục thì không hay, không cụ thể.

Trong tạp chí “National geographic”, số tháng 12 năm 2005 có một bài nói về đạo Phật trong một hình thức mới của một ký giả, trong đó có đoạn: “Hiện nay trên thế giới có một đạo Phật đang xuất hiện dưới một hình thức mới. Những nhà thể thao cũng đang thực tập đạo Phật để được thành công nhiều hơn trong cuộc thi đấu. Những nhân viên công an, cảnh sát cũng đang thực tập đạo Phật để có được bình tĩnh mà giải quyết một cách sáng suốt và dễ dàng hơn những vấn đề trong đời sống hàng ngày. Những nhà doanh thương đang thực tập đạo Phật để lấy bớt sự căng thẳng trong người họ. Những nhà chính trị cũng thực tập đạo Phật để cho tâm lắng yên, hầu tìm ra con đường chính trị ít gây ra mâu thuẫn. Đạo Phật mới này giúp người ta cải tiến được ý niệm về một con đường chính trị, giúp người ta tìm ra những phương pháp hay hơn để bảo vệ sinh môi. Tất cả mọi người trong xã hội đều đang tìm về đạo Phật để học hỏi những phương pháp hầu được thành công trong cuộc đời của mình”. Người ký giả tả một cảnh đang xảy ra trong một bệnh viện ở miền Bắc California, Mỹ. Trong bệnh viện có rất nhiều các thầy, các sư cô và các thiền sinh đến giúp cho những người bệnh sắp chết, giúp cho họ bớt đau nhức, giúp cho họ chết một cách nhẹ nhàng và không sợ hãi. Sau khi tả cảnh tượng các thầy, các sư cô và các Phật tử đang thực tập giúp cho những người sắp chết thì ký giả nói: “Đây là một trong những hình thái thực tập đạo Phật trong chiều hướng gọi là “đạo Phật dấn thân” (Engaged Buddhism) và danh từ này do thầy Nhất Hạnh, một vị thiền sư người Việt đưa ra cách đây 40 năm”. Tiếp theo, ông ta nói tới Phật giáo ở các nước Âu châu và Á châu. Nói về Ấn Độ, ông ta có nhắc tới thiền sư Goenka, người gốc Miến Điện, đã từng mở những khóa tu 10 ngày cho những người Ấn Độ, nhất là những người trong tù. Những tù nhân tu được một khóa 10 ngày thì tự nhiên trong lòng họ thảnh thơi, nhẹ nhàng, ít đau khổ và họ không làm khổ những người cai tù như trước nữa.

Ông cũng có nói tới Trung Quốc. Ở Trung Quốc, Phật giáo đã từng bị đàn áp trong cuộc cách mạng văn hóa. Ông nói tới một bà đang làm giám đốc một xí nghiệp lớn, một hãng quảng cáo. Bà rất thành công, càng ngày bà càng giàu. Nhưng dù càng thành công và càng ngày càng giàu có, bà cũng cảm thấy một sự trống vắng trong tâm hồn, bà không có hạnh phúc, an lạc. Vì vậy bà quyết định thực tập đạo Phật mỗi ngày. Đến giờ thực tập bà nhất định không tiếp nhận điện thoại và bà sống sót được là nhờ sự thực tập trong ngày.

Ông ký giả cũng có nói tới Làng Mai. Hàng ngàn thiền sinh tới thực tập tại Làng Mai, trong đó có những nhóm người Do thái và Palestinian. Lúc mới tới họ nhìn nhau bằng con mắt sợ hãi, nghi ngờ. Nhưng sau khi thực tập thì họ có thể nhìn nhau bằng con mắt thiện cảm, họ có thể ngồi ăn cơm với nhau, họ có thể đi thiền hành với nhau, họ có thể ôm nhau để tha thứ được cho nhau.

Đó là một trong những hình thái của đạo Phật mới, được gọi là “đạo Phật đi vào cuộc đời”.

Tại Làng Mai chúng ta đã tổ chức những khóa tu cho các nhà doanh thương. Họ tới tham dự rất đông, trong số đó có nhiều vị là tổng giám đốc các công ty. Nếu ta nói: “Ông đau khổ tại vì ông ham muốn nhiều quá nên bây giờ ông đừng ham muốn gì nữa hết”, thì họ sẽ không bao giờ tới nữa. Nhưng nếu ta nói: “Các ông nhìn cho kỹ, những đau khổ của các nhà doanh thương đã tới từ tà tư duy, tà kiến. Vì có tà kiến và tà tư duy cho nên những tâm hành như tham lam, giận dữ, tuyệt vọng v.v… nảy sinh ra. Nếu ông thực tập theo sự chỉ dạy của đức Thế Tôn thì ông có thể vượt thắng được đau khổ và có thể thành công dễ dàng hơn trong sự nghiệp doanh thương của ông. Ông thiết lập được liên hệ tốt với những người cộng sự trong hãng của ông. Ông làm cho những công nhân của ông có hạnh phúc, và do đó doanh nghiệp của ông sẽ thành công hơn”. Những nhà doanh thương đã thực tập, đã đem sự thực tập vào trong đời sống hàng ngày, đã bớt khổ và tìm thấy an lạc. Nếu ta nói với họ: “Tại vì ông ham tiền nhiều quá, thôi ông đừng ham tiền nữa. Ông đừng làm gì nữa hết”, thì đạo Phật đó chẳng giúp gì được cho họ. Có những nhà doanh thương sau khi tham dự khóa tu được ba tháng, đã viết thư cho chúng ta nói ảnh hưởng của khóa tu vẫn còn tiếp tục. “Sau ba tháng rồi mà chúng tôi thấy những tuệ giác, những cái thấy vẫn liên tục tới với chúng tôi. Chúng tôi đã áp dụng được những điều đã học trong khóa tu vào trong đời sống hàng ngày, vào trong đời sống gia đình và trong doanh nghiệp”. Đó là hình thái của Đạo Phật đi vào cuộc đời (le Buddhisme engagé).

Chúng ta cũng đã từng tổ chức những khóa tu cho những nhân viên công an cảnh sát, những luật sư, những người cai tù. Họ có rất nhiều căng thẳng trong đời sống hàng ngày. Họ có những khổ đau trong phạm vi gia đình, con cái và sở làm của họ. Có rất nhiều người mất ngủ và có rất nhiều người tự tử. Bên Mỹ, số lượng cảnh sát tự tử bằng súng của mình rất nhiều. Họ dùng súng để tự bắn mình thay vì để bảo vệ an ninh vì họ chịu không nổi những căng thẳng và phiền não. Ta tổ chức những khóa tu cho cảnh sát, cai tù, giúp họ nắm được một vài sự thực tập để làm vơi đi những căng thẳng, những khổ đau, những hiểu lầm trong họ. Đạo Phật đó giúp đỡ họ rất nhiều. Tuy mình nói: “Các ông khổ tại vì các ông ham muốn nhiều quá đi! Thôi đừng ham muốn gì nữa!” thì cũng đúng, nhưng người ta sẽ không áp dụng được. Ta phải cho họ thêm một ham muốn, đó là ham muốn thực tập để chuyển hóa khổ đau. Ta cho họ một ham muốn tốt đẹp để họ bỏ từ từ những ham muốn không tốt đẹp.

Chúng ta cũng đã tổ chức những khóa tu cho giới bác sĩ và y tá. Nhờ có thực tập nên đời sống của các vị ấy bớt căng thẳng và họ phục vụ được cho bệnh nhân nhiều hơn. Chúng ta cũng đã tổ chức những khóa tu cho giới bảo hộ sinh môi, cho giới tâm lý trị liệu, cho các vị giáo chức. Những người này cũng đau khổ vì chính học trò của họ. Chúng ta cũng đã đi vào những nhà tù để giảng dạy, giúp cho những tù nhân thực tập. Và chúng ta cũng đã tổ chức những khóa tu cho giới sinh viên, học sinh và giới thiếu nhi.

Bát chánh đạo: Con đường giải thoát

Căn cứ trên giáo lý Tứ diệu đế, chúng ta đã cung cấp được những giáo lý và những phương pháp hành trì để giúp cho mọi giới trong xã hội thấy được con đường đưa tới sự diệt khổ tức sự thật thứ tư. Con đường đó rất rõ ràng, con đường của tám sự hành trì chân chính (the Noble Path of Right Practice). Khi có tà kiến, có nhận thức sai lầm thì ta đau khổ và ta làm cho người khác đau khổ. Khi ta có một tư duy sai lầm thì tư duy đó làm ta đau khổ, bệnh hoạn và làm cho người khác đau khổ, bệnh hoạn. Bát chánh đạo là một con đường rất cụ thể. Chúng ta phải làm thế nào để áp dụng được con đường Bát chánh đạo vào trong đời sống hàng ngày của chính mỗi chúng ta, giúp cho những người thân và những người trong xã hội cũng áp dụng được con đường đó.

Chúng ta có một cái thấy, chúng ta tin rằng cái thấy đó là đúng, và chúng ta có những tư duy (thinking) phát sinh từ cái thấy đó. Tuy ta chưa nói gì, chưa làm gì nhưng một cái thấy sai lầm và một lối suy nghĩ sai lầm đã có thể gây đau khổ rất nhiều. Chúng ta hay nói tới một chứng bệnh là bệnh trầm cảm. Khi bị trầm cảm ta không còn năng lượng nữa, ta chán đời, ta muốn chết. Ta rất sợ hãi, ta nghĩ rằng rơi vào vòng trầm cảm rồi thì có thể ta sẽ đi luôn, ta không thể nào gượng lại để đi lên. Thật ra có những người trầm cảm đã hết bệnh. Họ rơi xuống hố trầm cảm một thời gian, rồi không biết tại sao họ lại lên trở lại. Nhưng trong thời gian không bị bệnh họ vẫn lo sợ, và vì lo sợ nên họ lại rơi xuống hố trầm cảm. Trong xã hội ngày nay có rất nhiều người bị trầm cảm. Nếu có một người trầm cảm đến hỏi:

  • Trong đạo Phật có phương pháp thực tập nào để chúng tôi làm vơi bớt đau khổ không? Mỗi khi rơi vào hố trầm cảm thì tôi chán đời, tôi lo lắng, tuyệt vọng, tôi nghĩ rằng tôi sắp chết. Vậy các thầy có phương pháp nào giúp tôi không?

Và nếu ta nói:

  • Tại vì ông ham muốn nhiều quá! Ông đừng ham muốn nữa thì tự nhiên hết khổ.

Ta không thể giúp họ bằng cách đó. Ta phải ngồi lắng nghe người ấy để thấy cách họ nhìn cuộc đời như thế nào, để ta biết được cái thấy của họ như thế nào, thấy được họ sai lầm ở chỗ nào. Trước đó, trong khi nằm dưới đáy trầm cảm, họ có thể thấy như thế này: “Mình sẽ không bao giờ leo lên trở lại được, chắc không bao giờ mình có thể thoát ra khỏi trạng thái này”. Khi ở đáy trầm cảm họ tin rằng họ sẽ ở đó hoài, họ không có khả năng lên được. Đó là một cái thấy sai lầm. Ngày xưa họ đã từng ở dưới đáy và một ngày nào đó tự nhiên họ đã thoát lên được. Ta phải nói với họ:

  • Ông ơi, ông đừng nên nghĩ như vậy. Ông nhớ lại coi, ngày xưa ông đã từng rơi xuống và ông đã lên được trở lại mà! Cái thấy, cái tư duy rằng mình sẽ không bao giờ lên lại được không phù hợp với sự thật. Cái thấy đó là tà kiến, tư duy đó là tà tư duy.

Hầu hết chúng ta đều tin rằng cái thấy của mình là cái thấy đúng và tư duy của mình là tư duy đúng. Chúng ta đang kẹt vào cái thấy, kẹt vào tư duy của chúng ta và chúng ta quanh quẩn trong vòng buồn giận, tuyệt vọng, khổ đau bởi những tà kiến và tà tư duy. Muốn giúp họ thoát khỏi thì ta phải đi vào bằng cửa ngõ của chánh kiến và chánh tư duy. Ví dụ một người nọ thấy có một kẻ kia đang đe dọa mình và mình phải tìm cách đi trốn: “Chết rồi, chính người này sẽ hại mình, sẽ giết mình”. Đó là một cái thấy sai lạc, là tà kiến và từ tà kiến sinh ra sự sợ hãi: “Mình phải làm sao để trốn người này, hoặc là giết người này trước khi họ giết mình”. Đó là tà tư duy. Người đó có những phản ứng sợ hãi, trốn chạy và không dễ thương với người kia. Đó là trạng thái của bệnh tâm thần. Bệnh tâm thần là do tà kiến và tà tư duy gây ra.

Chánh niệm là phương pháp thực tập căn bản

Là một người thực tập giỏi, là một nhà tâm lý trị liệu, ta phải làm thế nào để giúp đưa người đó ra khỏi tà kiến và tà tư duy của họ. Ta không chịu thua. Trong đạo Bụt chúng ta có phương pháp chánh niệm. Chánh niệm là nhận diện. Khi đi ta biết ta đang đi, ta không đi như người mộng du. Khi ăn cơm ta biết ta đang ăn cơm, không phải cái máy đang ăn cơm. Khi thở ta biết ta đang thở. Chánh niệm là ý thức được những gì xảy ra cho thân và tâm của mình.

Tôi xin hiến tặng cho quý vị một phương pháp thực tập rất căn bản mà người nào cũng có thể làm. Dù đã thực tập 10 năm hay 20 mươi năm rồi ta vẫn có thể thực tập được. Ta tới xóm Thượng Làng Mai và có một máy quay phim. Ta muốn ghi lại hình ảnh của xóm Thượng về cho gia đình hay bạn bè xem. Ta cầm máy đi quay. Tới cây bồ đề ta nói: “Đây là cây bồ đề xóm Thượng”. Nhìn kỹ ta thấy cây bồ đề không xanh lắm, tại vì đang là mùa Đông, lá rụng hết. Nhưng khi tới mùa Xuân thì cây bồ đề rất xanh. Nhìn sang bên kia, ta thấy thiền đường Chuyển Hóa. Thiền đường Chuyển Hóa tuy nhỏ nhưng rất đẹp. Ngày xưa, khi chưa có thiền đường Nước Tĩnh thì các thầy đều ngồi trong thiền đường Chuyển Hóa. Quay phim tới đâu ta chú giải tới đó. Khi đem cuốn băng về chiếu ra, người nhà xem tới đâu thì biết đó là cái gì ngay.

Trong đời sống hàng ngày của ta cũng vậy. Khi đi ta biết: “A, mình đang đi”. Ta chú giải những gì đang xảy ra bằng tâm của mình: “Tôi đang đi từ cư xá Hồ Đào tới thiền đường Chuyển Hóa và bước chân của tôi cũng khá thảnh thơi, an lạc, hoặc là tôi đang đi đâu mà sao bước chân của tôi lại hấp tấp, vội vã như vậy?”. Ta biết những gì đang xảy ra. Ta đang cầm máy quay phim để thâu và ý thức được những gì ta đang thâu. Khi chải răng ta nói: “À, mình đang chải răng”. Ta đang hỏi ta: “Mình chải răng có hạnh phúc hay không, hay là mình đang hấp tấp, vội vã”. Ta hiểu được chuyện đó.

Máy thu hình như là những gì đang xảy ra trong cuộc đời của mình. Miệng mình và âm thanh đi theo máy thu hình như tâm và chánh niệm đi theo những gì đang xảy ra trong cuộc đời mình. Khi nâng ly trà lên uống ta nói: “À, mình đang nâng ly trà lên uống”. Nếu đang uống một cách vội vã hấp tấp ta biết ta đang uống một cách vội vã hấp tấp. Uống một cách thảnh thơi ta biết ta đang uống một cách thảnh thơi. Đó là nhận diện đơn thuần (simple recognition) và cũng là phép thực tập căn bản của Làng Mai. Phương pháp thực tập căn bản là biết những gì đang xảy ra, đang quay hình nào ta nói về hình đó liền, đừng để nó qua đi. Leo lên cầu thang để đi ngủ ta biết ta đang leo lên cầu thang. Nắm được tình trạng là phép thực tập căn bản. Khi có một nỗi buồn hay một cơn giận hiện ra, ta biết có một nỗi buồn hay một cơn giận đang dâng lên. Đó là nhận diện mà không cần phải lên án, trách móc.

Khi đang bệnh, ta nằm dưới đáy của trầm cảm. Lúc đó phải có người giúp ta. Người đó đứng bên ta hỏi:

  • Có phải anh đang bị trầm cảm không? Anh biết là anh đang đi không?
  • Có, tôi biết là tôi đang đi.
  • Anh biết là anh sắp ngồi xuống không?
  • Có, tôi biết là tôi sắp ngồi xuống.
  • Có phải anh đang có sự lo sợ không?
  • Có, tôi đang có sự lo sợ.
  • Có phải anh nghĩ là anh đang ở dưới hố trầm cảm và sẽ không bao giờ vượt thoát được không?
  • Tôi đang nghĩ như vậy.

Trước hết ta phải biết là ta đang thấy, đang nghĩ, đang cảm như vậy rồi sau đó ta mới biết thấy như vậy là sai, nghĩ như vậy là sai, cảm như vậy là sai. Cảm thọ (emotion, feeling) này là cảm thọ của sự sợ hãi, tuyệt vọng. Cùng với tư duy tiêu cực, cảm thọ này làm cho chứng bệnh của ta ngày càng nặng. Dù ta đã leo lên được khỏi hố trầm cảm rồi nhưng ta vẫn nơm nớp sợ hãi một ngày kia ta sẽ rơi xuống trở lại. Vì vậy dù đang ở trên bình diện không trầm cảm ta cũng phải thực tập nhận diện những cái thấy, những tư duy và những cảm thọ của mình để đừng bị chúng kéo đi. Nếu không thực tập thì tới một lúc nào đó ta sẽ đi xuống trở lại (relapse, rechute). Đối với những người đã từng bị trầm cảm nhiều lần thì dù cho đang không bị trầm cảm họ vẫn nơm nớp lo sợ. Phương pháp bảo đảm cho những người này không bao giờ rơi xuống lại hố trầm cảm nữa là phương pháp nhận diện đơn thuần. Ta nhận diện cái thấy, tư tưởng và cảm thọ của ta và đặt câu hỏi: Cái thấy đó phát sinh từ đâu? Đó có phải là một cái thấy đúng hay không? Những tư tưởng đen tối, tiêu cực này không phải từ không mà nảy sinh, nó nảy sinh ra từ những cái thấy rất tiêu cực, rất sai lạc. Những cảm giác sợ hãi, tuyệt vọng kia không phải từ không đâu mà phát sinh, nó phát sinh từ những cái thấy và tư duy sai lạc. Chúng ta có hai bước:

  • Bước thứ nhất là nhận diện, nhận diện những tư tưởng và cảm thọ của mình.
  • Bước thứ hai là thấy được gốc rễ của những tư tưởng và cảm thọ của mình biết được chúng phát sinh từ một cái thấy sai lạc.

Ví dụ một người bị bệnh thấy một người khác. Người khác đó là một người quen của mình. Nhưng tự nhiên mình phát sinh ra sự sợ hãi: “Mình sẽ chết vì người này đây!”. Trước hết ta phải nhận diện được cảm thọ đó: “À, mình vừa có một cảm tưởng như vậy!”. Và nhìn kỹ ta thấy cảm tưởng này phát sinh ra từ một cái thấy sai lạc. Người đó không phải như vậy mà ta nghĩ như vậy. Vì vậy khi có một cảm tưởng, ta phải biết đó chỉ là một cảm tưởng và cảm tưởng này không hẳn là sự thật, nó chỉ là một cảm tưởng thôi. Cái tư duy “mình sẽ chết vì người đó” chỉ là một tư duy thôi, không phải là sự thật. Nếu nhận diện và thấy được điều này thì người đó có một cơ hội để thấy được sự thật. Thấy được sự thật là có chánh kiến, và có chánh kiến thì có chánh tư duy. Có chánh kiến và chánh tư duy thì những cảm thọ dìm mình trong hố sâu không phát sinh ra được. Nếu người kia thực tập theo con đường đó thì sau này sẽ không bao giờ rơi xuống hố trầm cảm nữa. Đó là con đường Bát chánh đạo được áp dụng vào trong trường hợp của người bệnh tâm thần.

Trong kinh “Mũi tên thứ hai” (The second arrow), đức Thế Tôn có đưa ra ví dụ: Một người bị thương vì một mũi tên, đang bị đau nhức. Nếu một mũi tên thứ hai bay đến và bắn vào đúng chỗ bị thương ấy thì sự đau đớn sẽ tăng lên không phải gấp hai mà là gấp mười lần.

Ta đang có một sự đau nhức trong thân thể, bước thực tập đầu tiên là ta biết được có sự đau nhức và cái biết đó phải phù hợp với sự thật: Đây chỉ là một sự đau nhức tầm thường. Nhưng nếu ta lo lắng, tuyệt vọng hoặc giận hờn thì sự đau nhức sẽ tăng lên gấp mười lần. Đó là mũi tên thứ hai. Ta thường chết vì mũi tên thứ hai chứ không phải vì mũi tên thứ nhất. Bị trúng mũi tên thứ nhất sẽ không sao, nếu ta biết rõ về bản chất của mũi tên ấy và ta không để trúng thêm mũi tên thứ hai. Đây có thể chỉ là một cái đau nhức bình thường, nhưng nếu ta ngồi tưởng tượng: “Tôi sắp chết rồi, chắc là tôi phải bỏ vợ con, bỏ gia đình, bỏ mọi người, tôi sẽ chết ngày mai”, thì tư tưởng đó sẽ làm cho ta chết thật.

Một ông nọ nghe bác sĩ bảo ông có ung thư yết hầu. Chuyện đã xảy ra cách đây độ chừng 70 năm. Vào thời đó tất cả bác sĩ đều tin rằng bị ung thư yết hầu là chỉ có chết thôi. Sau khi nghe bác sĩ nói mình bị ung thư yết hầu và có thể chết trong vòng hai tháng thì hai ngày sau ông đó chết. Niềm tuyệt vọng quá lớn, đó là mũi tên thứ hai. Sau khi ông chết người ta đem giải phẩu thì thấy ông không có ung thư yết hầu. Bác sĩ đã nói sai. Mũi tên thứ hai rất ghê gớm. Tình trạnh sức khỏe ông ta không có gì nhưng tại vì lo lắng, sầu khổ, sợ hãi và tuyệt vọng nên ông chết rất mau.

Là người tu hay là người tâm lý trị liệu, ta phải biết ngăn ngừa đừng để mũi tên thứ hai bay tới. Sở dĩ ta cứ bệnh lui bệnh tới, ta cứ sa vào hố trầm cảm, ta chán đời muốn chết là tại vì ta có tà tư duy. Mũi tên thứ hai có tên là tà tư duy, tà tư duy bắt nguồn từ tà kiến. Hầu hết chúng ta đau khổ là do tà kiến của ta chứ không phải do điều kiện ngoại tại. Trong tâm ta có những vùng quang đãng, có Tịnh độ, có Thiên đường, có Phật quốc, có rất nhiều nắng, nhiều hoa, nhiều không gian, nhiều trời xanh mây trắng nhưng chúng ta không bay lên tới được những vùng đó. Chúng ta bị giam hãm trong vòng buồn giận, trong vòng tà kiến, trong vòng tà tư duy và ta sống trong địa ngục trong khi thiên đường có sẵn bên tay trái và tay mặt của ta. Vì vậy con đường cứu khổ là con đường giúp người thoát khỏi tà kiến và tà tư duy.

Chiến tranh Iraq làm bao nhiêu người chết và bao nhiêu người khổ là do tà kiến và tà tư duy. Những bạo động, căm thù đang xảy ra khắp nơi đều do tà kiến và tà tư duy mà ra. Những xích mích rối loạn trong đời sống lứa đôi, giữa cha và con, giữa vợ và chồng đều bắt nguồn từ tà kiến và tà tư duy.

Chúng ta có thể nói rõ ràng và đơn giản là khổ đau phát sinh từ con đường tà đạo, bắt đầu bằng tà kiến và tà tư duy. Chỉ có con đường Bát chánh mới có thể cứu chúng ta ra khỏi khổ đau. Phương thuốc rất rõ ràng: Phải nhận diện tà tư duy là tà tư duy, đừng tưởng đó là chánh tư duy; phải nhận diện tà kiến là tà kiến, đừng tưởng nó là chánh kiến. Vì vậy chúng ta cần đến đức Thế Tôn, cần đến những người bạn tu, những vị huynh trưởng có khả năng giúp chúng ta thấy rằng chúng ta đang quanh quẩn trong vòng tà kiến, tà tư duy. Giúp được một người thoát ra khỏi vòng tà kiến và tà tư duy là chúng ta đã tặng cho họ cả một thiên đường, tặng cho họ sự sống. Đây là tất cả bí quyết của sự thành công trong sự thực tập. Đạo Phật mới của chúng ta là đạo Phật có khả năng giúp con người thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn của tà kiến và tà tư duy. Con đường này rất khoa học. Chúng ta là những người nối tiếp đức Thế Tôn, chúng ta phải khơi mở con đường này để đưa thế giới thoát ra khỏi tình trạng hiểm nguy và khổ đau hiện tại. Chúng ta phải áp dụng cho được phương pháp này để tự mình thoát ra và giúp cho người khác cũng thoát ra được như mình. Đó gọi là con đường giải thoát, đây không phải là con đường trốn tránh khổ đau mà là con đường đối diện với khổ đau để chuyển hóa khổ đau, con đường Bát chánh đạo.

Định đề 18

 

Ý chí tự do có được là do Tam học.

Free will is possible thanks to the Three Trainings.

Ý chí tự do, tiếng Pháp là libre arbitre. Đây là một vấn đề cam go của triết học: Thật sự có tự do ý chí hay không? Hay tất cả đều được an bài, được sắp đặt, hoặc bởi một đấng Thượng đế hoặc bởi nghiệp của ta như một định mệnh mà mình không thoát ra được?

Quanh quẩn trong vòng buồn giận

Nếu màn lưới nhân quả mà tuyệt đối thì làm sao ta thoát ra khỏi thân phận được? Vì vậy phải có một nẻo thoát, một kẽ hở nào đó. Khoa học có nói đến xác suất (probabilité), xác suất gợi ý rằng: Vũ trụ thế gian có một đường thoát. Chúng ta thấy chung quanh ta có những người không thoát ra được thân phận của họ. Họ cứ đi vòng vòng, quanh quẩn trong vòng buồn giận mà không thoát ra được. Đó gọi là luân hồi (đi vòng). Có những người bị trầm cảm (dépression), một thời gian thì họ bớt nhưng một thời gian sau lại rơi vào trầm cảm, rồi bớt, rồi sa xuống trở lại mà không ra khỏi được. Tuy họ có sử dụng thuốc trị trầm cảm nhưng cũng không đỡ được nhiều. Họ phải uống nhiều tuần, nhiều tháng, nhưng thuốc không giúp được cho bệnh nhân thoát ra, mà có thể bệnh càng ngày càng nặng hơn. Cái buồn, cái giận, sự tuyệt vọng của ta cũng vậy, có khi ta trở thành nạn nhân của sự tuyệt vọng, của cái giận, cái buồn của ta. Tuy sau một thời gian thì cái giận, cái buồn, sự tuyệt vọng có thể bớt đi, nhưng nguyên do của cái buồn, cái giận, của sự tuyệt vọng đó vẫn còn và ta biết trong tương lai ta lại sa vào hầm hố của sự tuyệt vọng, của cái buồn, cái giận nữa. Ta cứ đi vòng, đi vòng hoài.

Có những người khổ đau trong liên hệ vợ chồng và họ không thoát ra được. Đến một lúc nào đó họ nghĩ là phải ly dị thì mới có cơ hội chấm dứt khổ đau. Có người đã ly dị và cưới một người khác, nhưng những vấn đề và những khổ đau cũ vẫn cứ tiếp tục vì họ có những tập quán, những thói quen, những cách hành xử, những lề lối suy tư đã giam hãm họ trong vòng khổ đau đó. Họ vẫn tiếp tục đối xử với người mới bằng cách thức đã đối xử với người cũ, vì vậy tuy có người mới nhưng họ vẫn rơi vào vòng khó khăn, khổ đau. Có người đã ly dị ba hay bốn lần để cưới người mới, nhưng cuối cùng họ cũng ở trong vòng quanh quẩn không thoát ra được. Làm thế nào để có thể thoát ra?

Ngựa theo lối cũ, trâu quen đường về

Có những nguyên nhân nội tại ở bên trong mình, hoặc trong thân thể hoặc trong tâm thức, và có những nguyên nhân ngoại tại ở hoàn cảnh bên ngoài. Khi đối diện với những sự kiện xảy ra thì cách ta hành xử, cách ta phản ứng trong lần sau cũng giống hệt như cách ta phản ứng trong lần trước. Tiếng Việt ta có câu: Ngựa theo lối cũ. Nếu ngày xưa ai có giữ trâu hay giữ bò thì biết: Ta không cần phải chỉ đường đi cho những con trâu, con bò. Chúng quen đường về, ta chỉ cần ngồi chơi trên lưng trâu và trâu đưa ta về nhà. Chúng ta cũng vậy, cách hành xử của ta, cách phản ứng của ta đã trở thành thói quen. Nhiều khi ta có cảm tưởng là ta quyết định, nhưng thật ra không phải là ta quyết định mà chính là thói quen, cách hành xử lâu đời của ta quyết định.

Khi bước vào một cửa tiệm để mua áo, đứng trước một dãy áo dài năm sáu chục cái. Ta chọn xem áo nào, màu sắc nào, kiểu nào ta thích. Ta có cảm tưởng là ta có tự do chọn lựa, nhưng nhìn kỹ thì tự do đó rất ít, hoặc có thể nói là không có, vì những cái ta thích đã được quyết định trước rồi. Ta đã có sẵn sở thích về màu sắc, hình dáng, kiểu may và khi đi ngang qua thì ta bị nó bắt. Ta bị chọn chứ không phải ta chọn. Ta bị cái đó chọn, đi ngang qua nó là ta phải mua, mà thật ra ta mua nó hay nó mua ta thì chưa biết được. Sở thích của ta đã có sẵn, ta đã quen với màu đó, với hình thái đó rồi.

Cách đây chừng 30 năm, tôi đi vào một cửa tiệm ở Tokyo để mua một vuông khăn về cột mấy cuốn kinh.

Tôi đứng trước những vuông khăn (bên Nhật Bản người ta bán rất nhiều vuông khăn bằng lụa để cột hành lý), cô bán hàng hỏi:

  • Thầy chọn cái nào?

Tôi mỉm cười nói:

  • Tôi đâu có chọn. Tôi để cho nó chọn tôi.

Cô bán hàng rất ngạc nhiên, nhưng sự thật là như vậy. Ta bị chọn tại vì những sở thích của ta đã được viết sẵn trong tâm của ta do cách ta được huấn luyện, cách ta tiếp nhận kinh nghiệm của cuộc đời. Vì vậy ý chí tự do của ta hầu như là không có.

Thói quen của một con người cũng như vậy. Mỗi khi có sự việc gì xảy ra thì người đó có khuynh hướng nhìn nhận và phản ứng giống như nhau. Lần thứ nhất, người đó phản ứng như vậy; lần thứ hai, nếu sự tình xảy ra như vậy thì người đó cũng phản ứng giống y như lần trước và lần thứ ba cũng thế. Khi nào có sự việc xảy ra tương tợ thì người đó lại phản ứng theo thói quen mà người đó đã được huân tập.

Những con người máy

Trong một buổi họp khi nghe một câu nói không hợp thì ta thường phản ứng lại một cách rất tự nhiên (réflexe). Học về thần kinh não bộ, ta biết trong não bộ của ta có những tế bào thần kinh đóng vai trò truyền tin tức về trung ương và có những tế bào thần kinh có nhiệm vụ đáp ứng lại và ra lệnh cho những cơ bắp của thân mình hành động.

Người ta nói đến “cung phản xạ” (arc de réflexe). Ví dụ như khi ta đạp nhầm cây đinh thì cái đau được tế bào thần kinh hướng tâm chuyển vào trung ương, những tế bào thần kinh ở trung ương nhận được và ra lệnh cho bắp thịt hành động liền lập tức. Vì vậy khi đạp đinh thì ta nhảy nhỏm lên và rút chân lại. Đó gọi là một cung phản xạ.

Đứng về phương diện tâm lý, khi đứng trước một hoàn cảnh bất như ý thì tự nhiên ta hành xử theo một phản xạ rất máy móc. Trong cuộc sống hàng ngày ta hành xử một cách máy móc rất nhiều. Ta phản ứng lại, căn cứ trên những kinh nghiệm và sự học hỏi trước đây chứ ta không đưa tâm của ta vào để thật sự quyết định. Trong khi ăn cơm nếu có chánh niệm, có để ý quán sát thì ta sẽ thấy cách ta nhai như thế nào, lưỡi của ta chuyển thức ăn từ vùng này sang vùng kia trong miệng như thế nào và ta thấy rõ là kỳ thực ta không đang ăn mà là ta đang bị ăn. Ta không ngờ lưỡi của ta, răng của ta, hàm của ta làm việc giỏi như vậy. Răng, hàm và lưỡi làm việc rất hay. Đôi khi ta không cần phải để tâm vào hành động nhai mà do phản xạ nhai tự nhiên, giống như cái máy, nó tự làm. Ta có một hệ thống thần kinh tự động (automatic nervous system) lo hết cho ta.

Quan sát những người xung quanh ta, họ cũng sống như những người máy. Có những chiếc máy bay không cần người lái vẫn bay được, vẫn làm việc được, vẫn đáp xuống được an toàn. Nhiều người trong chúng ta cũng sống như vậy. Chúng ta đang lái xe, nhưng kỳ thực chúng ta không có mặt ở đó, tâm của ta đang hoàn toàn ở một chỗ khác. Ta đang lái xe bằng tập quán mà ta đã học hỏi được trong quá khứ. Ta lái như một cái máy và khi có sự việc gì xảy ra đột ngột thì ta cũng phản ứng như một cái máy, mà không có sự can thiệp của chánh niệm.

Chúng ta ăn cơm một cách máy móc, chúng ta lái xe một cách máy móc, chúng ta bước đi trên đường một cách máy móc, chúng ta rửa chén, đánh răng một cách máy móc. Chúng ta là những con người máy. Chúng ta phản ứng lại những gì xảy ra trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta như một cái máy.

Khi hoàn cảnh bất như ý xảy ra, ta phản ứng một cách thô bạo, giận dữ, ta gây ra đổ vỡ giữa ta và người khác. Khi đổ vỡ xảy ra rồi thì ta hối hận: Trời ơi! Tại sao ta nói như vậy, tại sao ta làm như vậy? Ta đã biết nói như vậy và làm như vậy sẽ gây ra đổ vỡ mà tại sao ta cứ nói và cứ làm? Ta giựt tóc, đấm ngực, ta tự trách mình và tự hứa với mình lần sau nếu có sự tình như thế xảy ra thì ta sẽ hành xử theo cách khác. Ta rất thành thật với ta. Nhưng lần sau, khi sự tình xảy ra tương tự thì ta cũng vẫn hành xử như thế. Những thói quen, những cái ta học hỏi trong quá khứ, cách ta phản ứng đã trở thành nếp và ta cứ tiếp tục gây khổ đau cho ta và cho người khác. Nó giống như một định mệnh mà ta không thoát ra được, không thay đổi được.

Tác phẩm “L’étranger” (Người xa lạ) của Albert Camus có kể về người tử tù tên Meursault sắp bị đem ra hành quyết. Anh ta chỉ còn hai mươi bốn giờ đồng hồ để sống. Nằm ngửa trong phòng giam, tự nhiên anh ta thấy được một khung trời trên trần nhà. Khung trời đó chỉ nhỏ chừng một thước vuông thôi, nhưng không biết điều gì đã xảy ra mà lần này nhìn trời anh ta thấy màu trời xanh rất huyền diệu, rất mầu nhiệm. Anh ta đã thấy được màu trời một cách sâu sắc có thể là nhờ ý tưởng mình sẽ bị hành hình trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Đã hơn ba mươi năm để thấy trời xanh, nhưng chưa bao giờ anh tiếp xúc được với trời xanh một cách hiện thực như vậy. Có thể là vì gần chết nên anh có được cơ hội đó. Lúc đó anh có một cái thấy rất mới. Anh quyết định là từ bây giờ cho đến lúc bị đem ra hành quyết anh phải sống trong tỉnh thức. Khi ông cha muốn vào để rửa tội cho anh thì anh ta đã từ chối, anh không muốn mất thì giờ tại vì anh chỉ có hai mươi bốn giờ để sống. Anh muốn trong hai mươi bốn giờ còn lại đó giây phút nào cũng là giây phút tỉnh thức. Anh ta tự hỏi liệu ông cha đó có thể giúp gì được cho anh, trong khi chính ông cha đó có thể cũng đang sống trong sự quên lãng. Sống như vậy thì cũng như một người chết (Il vit comme un mort). Triết lý của cuốn “L’Étranger” là giây phút tỉnh thức (le moment de conscience).

Hầu hết chúng ta sống một cách rất máy móc, không phá tung được xích xiềng của thói quen tư duy và hành xử để thoát ra. Chúng ta đi không có ý thức, ăn không có ý thức, lái xe không có ý thức. Chúng ta để cho cái máy điều khiển cho nên ta chỉ quanh quẩn trong vòng buồn giận, thất vọng, tuyệt vọng và bị giam hãm trong vòng buồn giận đó mà không thoát ra được. Chúng ta chưa bao giờ thật sự có tự do. Chúng ta có thể làm được nhiều việc, nhưng những việc đó cũng chỉ được làm một cách máy móc mà thôi.

Trong đoạn cuối của cuốn “Thả một bè lau” tôi có bàn tới vấn đề ý chí tự do. Tôi đưa ra một ví dụ: Một anh chàng kia vào trong một buổi họp, mỗi khi bị người ta nói một câu làm phật ý thì anh phản ứng rất giận dữ, vì vậy không một buổi họp nào mà anh được thành công. Vì ý thức được điều đó nên anh nói:

  • Tôi sẽ không đi họp nữa tại vì mỗi khi đi họp mà nghe người ta nói những câu xóc óc thì tôi lại phản ứng như vậy. Tôi đi họp chỉ vô ích thôi!

Một người bạn nói:

  • Thôi kỳ này đi họp tôi sẽ ngồi bên anh, tôi sẽ cầm tay anh trong suốt buổi họp và mỗi khi có ai nói điều gì khó nghe thì tôi sẽ bấm vào tay anh một cái để nhắc nhở anh. Khi thấy tôi bấm vào tay anh thì anh biết rằng anh sẽ giữ im lặng, biết rằng nếu anh phản ứng thì sẽ làm hư buổi họp và gây ra những xáo trộn như những lần trước. Anh chỉ cần im lặng mỗi khi tôi bấm vào tay anh thì có thể có một sự thay đổi.

Nhờ người bạn cầm tay trong suốt buổi họp mà lần đầu tiên anh ngồi yên được mà không phản ứng. Có một cái gì rất mới đã can thiệp vào đời anh, tại vì chuyện đó chưa bao giờ xảy ra cho anh. Lâu nay anh chỉ phản ứng như một cái máy. Cái can thiệp vào là bàn tay của một người bạn.

Trong Truyện Kiều có nhân vật sư cô Giác Duyên. Giác Duyên có nghĩa là một điều kiện để thức tỉnh. Chúng ta sống trong mê, sống như một cái máy, nên chúng ta cứ quanh quẩn trong vòng buồn giận mà không thoát ra được. Nhưng nếu có một Giác Duyên đi vào cuộc đời ta thì việc đó có thể sẽ tạo ra được một hoàn cảnh mới.

Tam học là con đường thoát

Nếu ta đã từng là nạn nhân của những phản ứng do thói quen, nếu ta đã từng bị giam hãm trong vòng buồn giận không thoát ra được, nếu ta cứ đi từ giai đoạn trầm cảm này đến giai đoạn trầm cảm khác thì ta phải biết con đường đưa ta thoát ra là con đường Tam học. Tam học là niệm, định và tuệ. Niệm là nhắc nhở, là ý thức được những gì đang xảy ra.

Người bạn cầm tay ta trong suốt buổi họp và bấm một cái khi thấy ta sắp phản ứng trước tình trạng xảy ra, đó là niệm. Người bạn nhắc nếu anh phản ứng thì anh sẽ gây đổ vỡ. Tôi bấm tay anh để anh đừng phản ứng, anh ngồi yên thôi. Đó là niệm.

Ý chí tự do bắt đầu từ niệm, không có chánh niệm thì không có ý chí tự do. Theo Duy biểu học, tâm của ta biểu hiện thành những tâm sở hay tâm hành. Có tất cả 51 tâm hành, trong đó có tâm hành xúc (contact). Một sự tình xảy ra ở hoàn cảnh bên ngoài đánh động lên tâm hành bên trong, đó là tác ý (attention, advertance), tiếng Phạn là manaskāra. Tâm hành xúctác ý phát khởi và giao lưu với những tâm hành khác như tâm hành thọ (sensation, feeling), tâm hành niệm tức nhớ tưởng. Niệm ở đây chưa phải là niệm trong Tam học, mà mới là sự hồi tưởng. Trong ta có những khổ đau, những kinh nghiệm, và khi tiếp cận với một sự kiện nào đó (xúc) thì cái thấy đó có thể đánh động ký ức của ta (tác ý). Ta nhớ lại những chuyện đã xảy ra ngày xưa. Ví dụ ta thấy một người mà nét mặt hao hao giống như nét mặt của người ta thương ngày xưa thì ta nhớ người thương của ta. Xúc tạo ra tác ý, hình ảnh của người thương ngày xưa trở lại và đưa tới cảm thọ (thọ). Cảm thọ đó có thể là khó chịu, có thể là dễ chịu, nhớ nhung hay buồn khổ. Một âm thanh nào đó gợi ta nhớ lại người đã làm cho ta đau khổ và khi nhớ lại những kỷ niệm đau khổ thì cảm giác đó có thể là cảm giác đau khổ. Trong khi đó, một người khác cũng nghe cùng một âm thanh ấy, nhưng họ không có kỷ niệm, không có quá khứ như vậy nên cảm giác của người đó không giống cảm giác của ta.

Xúc đánh động tới tác ý, tác ý đánh động tới niệm, niệm đánh động tới thọ, thọ đánh động tới tưởng (tri giác). Tri giác của ta tùy thuộc rất nhiều ở các tâm hành khác như thọ, tác ý v.v… Đó là chúng ta đơn giản hóa chứ sự thật thì có thể có đến ba hay bốn chục tâm hành cùng hiện hành một lúc để đưa tới thọ hay tưởng, rồi tưởng đưa tới tư. Tư (volition) là ý muốn làm cái gì đó, có thể là để phản ứng lại, phản ứng một cách giận dữ, một cách trìu mến hay một cách buồn rầu. Mỗi khi có một cảm thọ hay một cái tưởng thì tự nhiên có tư, tức là có một ý muốn làm một cái gì đó, hay nói một cái gì đó để phản ứng lại (như một phản xạ). Nghe một câu nói hay thấy một cái gì chướng tai gai mắt, tự nhiên ta muốn đáp lại liền. Tất cả cái đó phát sinh từ nhiều nguyên nhân, những tâm hành trong ta đồng thời tạo tác với nhau.

Trong 51 tâm hành có những tâm hành tích cực và những tâm hành tiêu cực. Trong ta có tâm hành tham (thèm khát), tâm hành sân (giận dữ), tâm hành si (u mê), tâm hành mạn (mặc cảm cho mình là hơn, là thua hay là bằng người). Những tâm hành tiêu cực còn nhiều (như nghi, tà kiến, phẫn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, siễm, hại, kiêu v.v…) Nhưng có điều lạ là trong ta cũng có những tâm hành ngược lại, những tâm hành tích cực như vô tham, vô sân, vô si, xả v.v… Chúng ta sở dĩ có tâm hành thất niệm tại vì chúng ta cũng có tâm hành niệm.

Học về nội dung của 51 tâm hành ta thấy: Trong chúng ta có tâm hành hại (violence) tức là ý muốn trừng phạt, muốn đánh, muốn làm cho người kia khổ. Nhưng trong tâm ta cũng có tâm hành gọi là bất hại (non violence). Bất hại là avihiṃsā, là bất bạo động. Trong tâm ta có những tâm hành đối kháng nhau và chúng đang cùng có mặt. Ta có tâm hành si, tức sự u mê, hay tri giác sai lầm. Nhưng tâm hành vô si, tức tuệ giác (Bát nhã) cũng có trong tâm ta. Hễ có một tâm hành tiêu cực thì cũng có một tâm hành tích cực.

Trong khoa học vật lý nguyên tử người ta khám phá ra những lạp tử, tức những đơn vị bé nhỏ của vật chất như điện tử. Điện tử (électron) có tính chất âm. Người ta khám phá ra rằng nếu có điện tử thì có phản điện tử (anti électron, có khi gọi là positron), có giới tử (méson) thì có phản giới tử (antiméson), có vật chất (matière) thì có phản vật chất (antimatière), có chất điểm (particule) thì có phản chất điểm (antiparticule).

Trong đạo Phật có ý niệm về sắc và không. Sắc là matière và không là antimatière. Học về Tâm lý học Phật giáo chúng ta thấy những điều rất kỳ diệu. Trong tâm ta có yếu tố của sự u mê, nhưng đồng thời cũng có yếu tố của sự giác ngộ. Tuy nhiên, trong đời sống hàng ngày, ta không được học hỏi, không được tiếp xúc với Giác Duyên, nghĩa là với những yếu tố có khả năng đưa ta ra khỏi vòng buồn giận, nên ta chỉ đi quanh quẩn trong đó mà thôi. Mỗi khi nghe hay thấy cái gì đó thì ta phản ứng liền để gây ra đau khổ. Ta không chỉ nghe và thấy những gì ở bên ngoài mà ta cũng tiếp xúc được những gì ở bên trong như những kỷ niệm, tư duy và mỗi khi nghĩ nhớ lại thì ta cũng phản ứng. Ta phản ứng để gây đau khổ cho chính mình và cho người khác. Ta bị trầm cảm (dépression) cũng vì vậy. Ta có những tư tưởng, những cái nhìn tiêu cực rồi ta cứ đi quanh đi quẩn, nếu ta cứ nhai đi nhai lại những tư tưởng và nhận thức tiêu cực đó thì lẽ đương nhiên ta sẽ bị rơi vào trong hố trầm cảm. Ta không thoát ra được. Trong nội thân cũng như trong hoàn cảnh của ta có những yếu tố đó và tùy theo cách ta nhận thức chúng mà chúng quyết định đời ta, chúng làm cho ta đi vòng vòng không thoát ra khỏi được. Làm sao để có thể can thiệp vào, để có thể chấm dứt được lề lối phản ứng mà ta đã theo trong bao nhiêu năm trong quá khứ? Câu trả lời của đạo Phật là phải có niệm, định và tuệ, tức là Tam học.

Chuyện đâu còn có đó

Cách thức ta phản ứng đã thành một tập khí, một thói quen. Bây giờ ta tập như thế nào để có được những thói quen mới, những phương pháp đối phó khác, thì mới có thể thoát khỏi tình trạng cũ. Ta tự dặn mình, trong quá khứ ta đã từng có phản ứng gây ra đổ vỡ. Từ bây giờ ta quyết tâm không làm như vậy nữa. Mỗi khi có hoàn cảnh bất như ý xảy ra thì ta không phản ứng liền, ta không để cơn giận làm chủ lấy ta để ta có thể nhìn cho kỹ và nhờ đó ta có thể có một lề lối phản ứng khác. Trong tiếng Việt có câu “Chuyện đâu còn có đó”, tại sao ta phải phản ứng liền? “Chuyện đâu còn có đó, tại sao ta phải hấp tấp?” là tuệ giác của cả một dân tộc.

Tại sao ta phải quyết định liền? Cho phép ta có được ba phút để nhìn lại và ta sẽ biến lối hành xử này thành một thói quen tốt. Tại sao ta phải nói lại một câu, hay phải làm gì đó để phản ứng? Ta có thì giờ, ta phải cho mình một không gian, quý vị hãy thử làm đi!

Nhưng muốn làm được thì ta phải luyện tập. Trước đây ta đã từng sống và phản ứng lại hoàn cảnh một cách máy móc. Từ hôm nay ta không muốn tiếp tục cách sống đó nữa. Ta đặt cho ta những kế hoạch để ta có thể làm hay hơn trong tương lai. Đây là phương pháp thực tập chánh niệm. Chánh niệm là ý thức được những gì đang xảy ra mà không cần phải đi tới một quyết định, không cần phải chối bỏ hay chấp nhận ngay lập tức.

là quyết định muốn làm cái gì đó, muốn phản ứng lại. Thường thường là khi có thọ và tưởng rồi là ta muốn hành động, muốn phản ứng ngay. Nhưng bây giờ ta không muốn đi tới liền, ta muốn cho ta một không gian, ví dụ như ta để ra vài ba phút để thở hay để đi thiền hành. Chuyện đâu còn có đó, ta không cần phải gấp gáp. Tuệ giác có thể tới trong những phút đó vì niệm thường đưa tới định và tuệ.

Nếu quý vị đã từng bị sa vào trạng thái trầm cảm và rất sợ phải sa vào lần nữa thì quý vị có thể thực tập phương pháp này. Ta phải biết, phải nhận diện được những gì xảy ra trong tâm của mình. Nếu đó là một tư tưởng có tính cách tiêu cực, bi quan, mặc cảm thì ta biết đó là một tư tưởng tiêu cực, bi quan, mặc cảm. Trước hết ta phải nhận diện và cho nó một không gian, không hẳn là ta phải hành động liền. Khi nhận ra đó là một tư tưởng bi quan, chán nản thì ta nói: “À, đây là một tư tưởng bi quan, chán nản”. Nếu ta cứ quanh quẩn đi theo nó thì ta có thể sa vào trầm cảm. Nếu ta cứ nhai đi nhai lại cái tư tưởng bi quan, buồn giận hay tuyệt vọng đó thì thế nào ta cũng rơi xuống hố trầm cảm. Nhưng nếu trong khi đang nhai đi nhai lại tư tưởng bi quan, buồn nản đó mà ta biết là ta đang nhai thì đã có một cái gì mới xảy ra rồi. Thường thì ta không biết là ta đang nhai đi nhai lại cái tư tưởng bi quan, buồn thảm, sầu khổ đó. Ta bị nó đưa đi. Ma đưa lối quỷ dẫn đường là vậy.

Nhưng khi có niệm là ta biết ta đang nhai lại, mà biết ta đang nhai thì tự nhiên ta hết nhai liền. Ta cho ta một không gian, có thể là ba phút, để ngồi thở hoặc đi thiền hành. Ta cho ta một cơ hội để điều kiện giác ngộ có thể xảy ra. Chìa khóa giúp ta thoát ra khỏi thân phận nô lệ của ta để đạt tới tự do nằm ở chỗ là ta ý thức được cái gì đang xảy ra. Đó là niệm. Đây là một sự luyện tập chứ không phải là một lý thuyết.

Phương pháp thực tập: Có niệm là bắt đầu có tự do

Ta phải luyện tập từ từ. Trước hết ta phải tập thở. Thở vào ta biết ta đang thở vào; thở ra ta biết ta đang thở ra. Trong đời sống hàng ngày, nếu không tu tập, ta cứ thở vào thở ra như một cái máy. Thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra, ta vẫn thở nhưng hơi thở này rất khác, hơi thở này chứng tỏ là ta đã đưa được niệm vào trong hơi thở. Trước khi lái xe, tại sao ta không cho mình một hay hai phút để ngồi thở? Đó gọi là ý thức về hơi thở, tức là một cách luyện tập để biết được những gì đang xảy ra, để làm chủ được chúng mà không bị nô lệ vào chúng. Khi bước đi, nếu không ý thức thì ta sẽ không làm chủ được bước chân, ta sẽ bước đi như bị ma đuổi. Nó bước chứ không phải ta bước. Nó là cái gì? Nó là cái máy. Nó bước đi, nó thở chứ không phải ta đi, ta thở.

Lúc mới bắt đầu, mỗi ngày ta nên thực tập ba phút, đi từng bước và ý thức được từng bước chân của mình. Ta không còn là cái máy nữa, ta là con người tự do. Đó là sự bắt đầu của ý chí tự do, nắm được hơi thở, nắm được bước chân.

Mỗi ngày ta có thể uống trà nhiều lần. Nhưng nếu muốn thực tập thì ta tự qui ước là mỗi ngày ta sẽ uống chén trà đầu tiên trong chánh niệm. Trong khi uống trà ta biết là ta đang uống trà, ta đang đưa chén trà lên cao, ta đang uống trà và đang để chén xuống. Ý chí tự do bắt đầu.

Trước hết ta phải nắm được hơi thở, rồi bước chân, rồi một vài hành động của mình. Cố nhiên ta không thể nào làm được tất cả trong chánh niệm, nhưng ta có thể chọn vài phương pháp thực tập và mỗi ngày ta phải làm cho được. Ví dụ như chải răng, sáng nào chúng ta cũng chải răng, nhưng thường thường thì ta chải răng như một cái máy. Bây giờ ta quyết định: Mỗi khi chải răng ta thực tập chánh niệm. Để kem đánh răng lên bàn chải, ta biết ta đang để kem đánh răng lên bàn chải, đưa tay lên chải răng ta ý thức được từng cử động của bàn tay mình. Chúng ta có thể để hai phút để chải răng mà hai phút đó là hai phút chải răng trong chánh niệm. Ta không để cho cái máy làm, ta làm với ý thức và tự do của mình. Chúng ta nên tìm thêm vài phương pháp thực tập và quyết định làm mới mình mỗi ngày. Buổi sáng chúng ta mở cửa nhìn ra ngoài và ngồi yên ba phút, để ý tới những tiếng động đang xảy ra.

Sáng hôm nay vào thiền đường, tôi đã ngồi xuống rồi trong khi một số còn đang đi vào. Tôi đã áp dụng phương pháp này, ngồi rất yên và để ý tới những âm thanh trong thiền đường. Tôi nhắm mắt lại và nhận diện những âm thanh đang xảy ra. Đó cũng là ngồi thiền, chứ không phải đợi có ba tiếng chuông rồi ta mới bắt đầu tập thở. Ta ngồi yên và những âm thanh đó không quấy động được ta, không hẳn là khung cảnh phải thật yên ta mới ngồi thiền được. Có tiếng kéo ghế, có tiếng xì xào, có tiếng đẩy gối, nhưng tất cả những âm thanh đó không làm rộn được ta vì lúc đó chủ đích của ta là ngồi để nhận diện những tiếng động mà ta có thể nghe được.

Quý vị cũng có thể làm như vậy. Trước khi đi ngủ hoặc buổi sáng thức dậy, ta có thể ngồi ba phút để lắng nghe và nhận diện những âm thanh trong nhà mình. Ta có thể ngồi trước cửa sổ nhìn ra, nhận diện cội cây này, bông hoa kia, mái nhà đó. Nói tóm lại là ta phải tìm cách để thoát ra khỏi thân phận nô lệ của mình. Tự do là nhờ ta có niệm. Khi có niệm thì ta bắt đầu sống đời sống mới của ta. Khi ta có khả năng thực tập như vậy trong một thời gian, hoặc ba hoặc năm hoặc bảy tuần, khi ta có thể nhận diện được bước chân của ta, hơi thở của ta, cử chỉ của ta, khi ta uống trà hay rửa bát thì lúc đó ta có thể bắt đầu nhận diện được tư duy cảm thọ của mình. Tuy rằng những tư duy kia đang còn tiêu cực và những cảm thọ kia có thể là còn những khổ thọ, nhưng nhận diện được chúng là đã có sự khác biệt lớn rồi. Nhận diện được chúng là mình không còn bị nô lệ cho chúng nữa.

Chúng ta khổ đau là vì chúng ta không có tự do, chúng ta chưa thoát ra được thân phận của một cái máy. Niệm giúp cho chúng ta sống không còn như một cái máy nữa. Chúng ta bắt đầu có chủ quyền. Niệm, định và tuệ có thể đưa tới cho ta những vùng năng lượng rất lớn. Có những người sống ở nước Pháp hai ba chục năm hay suốt đời mà không biết nước Pháp có những vùng rất đẹp. Họ chỉ quanh quẩn trong làng, trong tỉnh của họ. Rất tội nghiệp cho họ, họ không có cơ hội khám phá ra những cái đẹp tuyệt vời ở những miền đất khác của nước Pháp.

Chìa khóa mở tung cánh cửa những vùng mầu nhiệm

Cũng vậy, trong thân tâm của ta có những vùng rất mầu nhiệm mà ta chưa bao giờ biết tới, chưa bao giờ thăm viếng. Có thể đó là những vùng của niệm, của định và của tuệ. Ví dụ như quý vị có một máy tính xách tay, một cái PC hay một Macintosh, nhưng quý vị chưa sử dụng được hết tất cả những khả năng của máy, quý vị chỉ sử dụng được mười hoặc hai mươi phần trăm khả năng của nó thôi. Tâm ta cũng vậy, rất mầu nhiệm. Trong đó có tuệ giác, có từ bi, có hạnh phúc lớn nhưng ta chưa với tới được. Ta chỉ biết quanh quẩn trong vòng buồn giận với những tâm hành tiêu cực (tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến) mà thôi. Những tâm hành như đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả mầu nhiệm như vậy mà ta lại không với tới. Hãy sử dụng những vùng mầu nhiệm của tuệ giác để thoát ra khỏi thân phận nhỏ bé của mình. Vì cứ giam mình trong vòng tham, sân, si nên ta mới gánh chịu khổ đau từ năm này sang năm khác và làm cho những người xung quanh ta cũng khổ đau theo.

Đức Thế Tôn đã trao cho chúng ta một chiếc chìa khóa, chìa khóa của Tam học (niệm-định-tuệ). Nếu muốn, chúng ta có thể dùng chìa khóa đó để mở tung ra biết bao nhiêu cánh cửa. Ví dụ chúng ta mới mua một ngôi nhà mới, hay một lâu đài mới. Tuy sở hữu cả một tòa lâu đài nhưng nếu chúng ta chỉ ở trong bếp, ta không có chìa khóa để đi vào các phòng lớn thì uổng biết bao nhiêu. Cũng như ở nước Pháp đẹp như vậy mà chúng ta chỉ quanh quẩn trong làng của mình, không đi tới được những nơi khác. Một lần kia đi chơi tuyết ở Vermont, tôi có nói với một người bạn:

  • Theo tôi thì trong bản tuyên ngôn nhân quyền phải thêm câu này: Sinh ra trên trái đất thì mỗi người phải có quyền được thấy biển và thấy núi tuyết, vì có những người từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, chưa bao giờ được thấy biển, chưa bao giờ được thấy núi tuyết. Rất uổng cho họ!

Chúng ta cũng vậy, chúng ta chỉ quanh quẩn trong vòng đau khổ của tham, sân, si; chúng ta chưa bao giờ hưởng được cái đẹp của đại từ, đại bi, đại trí tại vì chúng ta không có tự do, chúng ta không thoát ra được. Chúng ta sống đời sống hàng ngày của ta như những cái máy.

Với chìa khóa của Tam học mà đức Thế Tôn đã trao, chúng ta hãy mở tung cánh cửa của những vùng mầu nhiệm trong cuộc đời và trong tâm thức của ta. Ngài đã chỉ dẫn rất rõ: niệm là thế nào, định là thế nào, tuệ là thế nào. Nếu quý vị muốn nếm được những mầu nhiệm của sự sống, muốn thoát ra khỏi thân phận đau buồn, hạn hẹp thì quý vị phải dùng chìa khóa của đức Thế Tôn. Chìa khóa này rất rõ ràng: Đừng vội phản ứng, đừng bằng lòng đi quanh trong cái vòng nhỏ hẹp, hãy thoát ra bằng con đường thoát là niệm. Niệm là nhận diện những gì đang xảy ra.

Tự do phải tranh đấu mới có

Tôi đề nghị quý vị, nhất là những người còn mới trong sự thực tập, nên chọn cho mình vài bài thực tập, ví dụ như bài chải răng: “Tôi quyết định là từ nay mỗi khi chải răng, tôi không suy nghĩ tới chuyện quá khứ, chuyện tương lai. Tôi quyết chải răng như thế nào để ý thức được từng cử động, chải răng như thế nào để có hạnh phúc, có an lạc, có tự do trong khi tôi chải răng”. Tự do bắt đầu từ đó. Hay quý vị có thể quyết định như thế này: “Mỗi khi mở cửa xe hơi bước lên thì tôi không rồ máy liền, tôi cho tôi ba phút để ngồi thở và mỉm cười, tôi biết rằng tôi là ai và đang sắp sửa đi đâu”. Đó là những giây phút đưa lại cho ta tự do. Tự do không tự nhiên tới mà do ta tranh đấu mới có.

Sở dĩ trong lòng chúng ta đầy những u buồn, sầu khổ là vì chúng ta không có tự do, tự do đó ta phải tranh đấu mới có. Không phải là vì ta đi tới một khung trời nào đó thì tự nhiên có tự do, hay chờ đợi một thời gian nào đó trong tương lai thì ta mới có tự do. Tự do phải tranh đấu mới có, tranh đấu bằng sự thực tập chánh niệm. Khi ý thức được những gì đang xảy ra là chúng ta bắt đầu có tự do. Đó là cái bấm tay của người bạn nhắc cho ta đừng để bị kéo theo, ta phải làm chủ được mình.

Trong Tâm lý học Phật giáo, chúng ta học về những tâm hành và mỗi khi một tâm hành biểu hiện thì ta ý thức được nó, ta mỉm cười với nó và ta bắt đầu có tự do. Tại nội viện Phương Khê có một cầu thang mười tám bậc. Ba mươi năm nay, mỗi khi lên cầu thang tôi đều đi có chánh niệm, mỗi khi đi xuống cầu thang tôi đều đi xuống có chánh niệm. Tôi không để cho bước chân nào lọt ra khỏi chánh niệm. Đi trên Vạn Lý Trường Thành, hoặc leo lên Ngũ Đài Sơn thì tôi cũng đi như vậy. Leo lên máy bay, hay leo lên một cầu thang nào đó, tôi cũng đều bước những bước chân chánh niệm. Ta bắt đầu ở chỗ quyết định chọn cho mình một sự thực tập hàng ngày và ta quyết tâm làm cho được. Ví dụ nếu quý vị chọn phương pháp chải răng trong chánh niệm thì sáng nào quý vị cũng phải chải răng trong chánh niệm. Sau khi ăn cơm trưa, trước khi đi ngủ quý vị phải chải răng trong chánh niệm. Làm được như vậy mỗi ngày sẽ đưa tới chủ quyền cho ta trong đời sống hàng ngày. Có chủ quyền rồi thì ta mới nhận diện được những tư tưởng, những tư duy, những cảm thọ và những lề lối phản ứng của mình. Khi nhận diện được chúng thì ta không còn là nạn nhân của chúng nữa, ta bắt đầu có tự do. Nếu quý vị không ý thức được những gì đang xảy ra cho thân mình như là bước chân, hơi thở hay hành động thì quý vị sẽ không nhận diện được những gì xảy ra trong phạm vi cảm thọ, tri giác hay tư duy. Ta để cho tư duy tiêu cực, sầu khổ kéo đi, ta cứ gặm nhấm chúng và cứ tiếp tục khổ đau.

Chánh niệm trước hết là nhận diện, nhận diện đơn thuần mà không xua đuổi, không lên án, không vướng mắc. Có thể mỗi ngày quý vị cho mình thêm nhiều không gian, đừng vội vã phản ứng. Mỗi khi lâm vào tình trạng nào đó, hoặc quá thích thú, hoặc quá bực bội, quý vị hãy để cho mình không gian vài ba phút để thở, để đi thiền hành. Ta không cần phải phản ứng liền, chính tự do đó đưa lại cho ta ánh sáng, cho ta cơ hội có được tuệ giác. Hành động trên tuệ giác sẽ không bao giờ đem lại đau khổ. Với tôi, “án binh bất động” (có nghĩa là không làm, không nói gì hết) rất quen thuộc. Không hẳn là ta phải nói, phải làm gì mới chứng tỏ được là ta có tuệ giác, ta có cái thấy. Nhiều khi có cái thấy rồi thì ta biết là ta không cần nói, không cần làm gì cả. Ta khỏe ru và người kia cũng khỏe ru. Không phải tuệ giác chỉ đưa tới hành động, có khi tuệ giác đưa tới quyết định không hành động và cái quyết định không hành động ấy sẽ đưa tới hòa bình, an lạc và tình huynh đệ.

Xin đại chúng trong ngày hôm nay, ngày mai và ngày mốt bớt nói chuyện lại. Ta phải chiêm nghiệm, phải đặt kế hoạch cho năm mới, không phải kế hoạch làm ăn mà là kế hoạch tu học. Ta phải chọn cho ta phương pháp thực tập mà ta sẽ áp dụng trong năm tới, tôi đề nghị là những phương pháp đó phải rất cụ thể. Tôi ước muốn quý vị phải làm thế nào để khi gặp một trường hợp, một hoàn cảnh bất như ý thì quý vị phải cho mình một không gian. Không gian là một tặng phẩm rất lớn. Đừng vội quyết định! Đừng vội phản ứng! Ta cho ta ba phút để đi thiền hành, để suy nghĩ rồi ta sẽ thấy rằng không phản ứng cũng là một hành động, không phản ứng là một tuệ giác rất lớn. Tôi rất thích câu: Chuyện đâu còn có đó. Ta không cần phải phản ứng liền, để đó đã. Lúc tâm ta an lại, bình tĩnh lại thì ta sẽ thấy phản ứng lại là dại dột, là đưa tới đổ vỡ. Mỗi người trong chúng ta phải chọn sự thực tập mỗi ngày và một khi đã quyết tâm thì phải làm cho được. Những lúc chúng ta sinh hoạt hàng ngày như khi lái xe, nấu cơm, chải răng, tắm rửa hay tưới vườn là những giây phút của tự do. Chúng ta phải làm những việc đó như thế nào để có tự do. Khi ăn cơm chúng ta phải tập ăn như những con người tự do. Chúng ta ngồi ăn và để ý tới cách làm việc của răng, của lưỡi. Cái cằm của mình làm việc như thế nào? Cái hàm của mình làm việc như thế nào? Chúng ta sẽ thấy rằng lâu nay chính cái máy nó ăn chứ không phải ta ăn, cái máy đi chứ không phải ta đi, cái máy phản ứng chứ không phải ta phản ứng. Đây đúng là lúc ta phải bắt đầu nắm lấy chủ quyền của đời ta.

Định đề 17

 

Diệu đế thứ ba có thể được gọi là lạc đế.

The third noble truth can be called the truth of happiness.

Thay vì gọi là diệt đế chúng ta gọi là lạc đế. Chúng ta có sự thật thứ nhất là khổ đế và sự thật thứ ba là lạc đế, tức là hạnh phúc. Chúng ta có sự thật thứ hai là tập đế, tức nguyên do đưa tới cái khổ và sự thật thứ tư là đạo đế, tức con đường đưa tới hạnh phúc. Ta có thẩm quyền gọi sự thật thứ ba là lạc đế vì trong kinh điển có những câu chứng minh điều đó, đầu tiên là bài kệ mà ai cũng thuộc:

Chư hành vô thường

Thị sinh diệt pháp.

Tất cả các hiện tượng đều là vô thường, chúng đều là những pháp có sinh và có diệt. (All formations are impermanent, they are phenomena subject to birth and death.)

Sinh diệt diệt dĩ

Tịch diệt vi lạc

Nhưng khi cái sinh diệt đó diệt đi rồi, khi ta đã thoát khỏi cái sinh diệt rồi thì bình yên ấy (tịch diệt) gọi là hạnh phúc.

Chữ tịch diệt này vốn là diệt đế, là hạnh phúc cho nên diệt đế có thể được gọi là lạc đế. Câu kinh này là câu kinh mà tất cả các tông phái Phật giáo đều phải công nhận là do Bụt nói. Chữ lạc có nghĩa là hạnh phúc. Đó là theo tài liệu của Phật giáo Nguyên thỉ.

Hạnh phúc là sự vắng mặt của khổ đau

Theo Phật giáo Đại thừa, trong kinh Đại Niết Bàn, Niết bàn được diễn tả bằng bốn danh từ: thường, lạc, ngã và tịnh. Niết bàn là một cái gì không sinh diệt, không biến thiên, nên Niết bàn là thường. Niết bàn là niềm hạnh phúc lớn nên gọi là lạc. Trong Phật giáo Nguyên thỉ, Niết bàn được gọi là lạc, trong Phật giáo Đại thừa Niết bàn cũng được gọi là lạc, vậy thì tại sao chúng ta không có quyền gọi đế thứ ba là lạc đế? Chữ diệt (sự vắng mặt của khổ đau) có thể gây hiểu lầm, có thể cho người ta có cảm tưởng rằng diệt có nghĩa là không còn gì hết. Diệt ở đây là diệt khổ mà khi khổ diệt thì hạnh phúc sinh, cũng như khi vô minh diệt thì minh sinh. Khi vô minh không còn nữa thì minh có mặt, khi bóng tối không còn thì có ánh sáng. Thế hệ của quý vị có thể chữa lại mà không sợ sai, vì đây cũng là ý của Bụt: Sự thật thứ nhất là khổ đế, sự thật thứ ba là lạc đế. Sự thực này công nhận hạnh phúc là chuyện có thể có được. Đứng về phương diện tích môn thì có lạc đế đã đành, nhưng đứng về phương diện bản môn cũng có lạc đế.

Theo Phật giáo Đại thừa, bốn đặc tính của Niết bàn là thường, lạc, ngã, tịnh. Ngã là có chủ quyền, là có tự do. Ngã không phải là ātman mà là cái tự do lớn. Tịnh là sự trong sáng, không bị vô minh quấy động.

Trong hai truyền thống, Nguyên thỉ và Đại thừa, đều có những tư liệu và những chứng cớ để ta có thể gọi sự thật thứ ba là lạc đế. Nhưng chúng ta phải nên hiểu chữ lạc theo nghĩa đúng của nó. Lạc có nhiều tầng cấp, niềm vui và hạnh phúc có thể đi từ cạn tới sâu. Khi mới tu, hạnh phúc của chúng ta chỉ mới có trên bề mặt, tu càng giỏi thì hạnh phúc của ta càng ngày càng sâu sắc hơn. Nhưng dù cạn hay sâu thì đó cũng là hạnh phúc và hạnh phúc lớn nhất là Niết bàn, tức là sự vắng mặt của tất cả các phiền não (tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến). Điều này cũng đồng nghĩa là hạnh phúc đang có mặt.

Chúng ta phải làm quen với ngôn từ của Phật giáo ngày xưa, thay vì nói hạnh phúc thì người ta nói là sự vắng mặt của khổ đau. Sự vắng mặt của khổ đau tức là hạnh phúc. Ví dụ như có một chàng thanh niên chưa biết làm toán, ta có thể nói: “Này em, em tới đây anh dạy toán cho em, anh trao truyền cho em kiến thức về toán!”. Đó là cách nói thông thường. Nhưng Phật giáo nói cách khác: “Này em, tới đây anh lấy sự ngu dốt về toán của em ra khỏi em!”. Sau khi lấy sự ngu dốt về toán ra thì người đó sẽ rất giỏi toán. Ngôn từ của Phật giáo ngày xưa là như vậy, thay vì nói hạnh phúc thì nói không có khổ đau.

Chết khát bên cạnh dòng sông

Những thương gia có tài và có may mắn thì dễ thành công trong sự nghiệp của họ. Ban đầu họ nghèo, nhưng nhờ những điều kiện nào đó mà họ liên tiếp thành công trong việc làm ăn. Họ càng ngày càng giàu, làm gì cũng thành công. Rất nhiều thương gia không được như vậy nhưng thỉnh thoảng có người được như vậy. Khi nói chuyện với những thương gia giàu có và thành công, ta khám phá ra một điều: Họ cảm thấy có một cái gì trống vắng ở trong họ. Tuy họ thành công và có rất nhiều tiền nhưng họ không thực sự cảm thấy hạnh phúc. Ta muốn sự thành công này, và khi may mắn có được nó rồi thì ta lại muốn có một sự thành công khác. Thương gia là như vậy, và ta cũng như vậy, không bao giờ thấy đủ. Ban đầu ta nghĩ một bằng cấp là cần thiết, nhưng khi có được bằng cấp rồi ta lại thấy chưa đủ, ta cần có công ăn việc làm. Có công ăn việc làm rồi, ta cần có nhà. Có nhà rồi, ta cần có xe hơi. Có xe hơi rồi, ta nghĩ phải có hai chiếc mới đủ. Thông thường là như vậy! Có những người muốn gì được đó, rất là lạ. Thành công việc này rồi thành công việc kia, rồi lại thành công nữa, nhưng họ cũng không bao giờ dừng lại được. Nếu so sánh với những người khác thì người ấy đã quá giàu có, nhưng trong họ vẫn còn một cái gì đó không bao giờ được thỏa mãn, giống như khi khát nước mà ta cứ ăn muối vậy. Càng ăn thì lại càng khát thêm. Điều đó chứng tỏ là trong mỗi chúng ta có một con ma luôn luôn đói, dù có nhiều thực phẩm đến mấy thì con ma đó cũng không no được. Đó là con ma đói (hungry ghost, esprit affamé) mà trong mỗi người chúng ta đều có. Không phải ta chỉ đói sự thành công thôi, ta còn đói hiểu, đói thương. Phần lớn chúng ta người nào cũng đói hiểu, đói thương. Được một người hiểu rồi cũng cảm thấy chưa đủ, được một người thương rồi cũng cảm thấy chưa đủ. Nhiều khi có người tặng cho ta hiểu và thương nhưng ta cũng không có khả năng tiếp nhận và ta cứ tiếp tục đói.

Trong kinh Bách Dụ có câu chuyện của một anh chàng khát nước gần chết. Anh đi tới một dòng sông, nhưng không chịu uống nước. Anh nói: “Nước nhiều như vậy làm sao tôi uống được!”. Và cuối cùng anh ta chết khát bên cạnh dòng sông.

Quý vị đang cười anh ấy phải không? Người gì mà dại quá đi, có bao nhiêu là nước như vậy mà lại để mình chết khát bên dòng sông. Sự thật là hầu hết chúng ta đều hành xử như vậy! Tại vì trong mỗi chúng ta đều có một con ma đói (ngạ quỷ) và con ma đói đó không bao giờ no được. Con ma đói trong ta cũng là nguyên nhân của sự khổ đau.

Nhiều người nghĩ rằng họ đau khổ vì họ thiếu cơm ăn, áo mặc, thuốc men, nhà cửa và tình yêu. Nhưng khi có được tất cả những thứ đó rồi họ vẫn đói như thường.

Quý vị nhìn lại xem mình có giống người ấy không? Ta là một con ma đói, không bao giờ ta cảm thấy no lòng và thỏa mãn được. Đó là một trong những nguyên do của khổ đau.

Hạnh phúc không đâu xa: Hiện pháp lạc trú

Chỉ còn bảy ngày nữa là đến Tết năm 2006. Năm mới là một cơ hội để chúng ta nhìn lại mình. Chúng ta đang đi trên con đường chạy tìm hạnh phúc, tìm cái gọi là “no đủ”. Chúng ta chạy như một con ma đói, chúng ta đi tìm hạnh phúc, đi tìm sự thật thứ ba nhưng chúng ta chỉ quanh quẩn trong sự thật thứ nhất. Chúng ta không bao giờ vượt ra được khỏi sự thật thứ nhất, vì chúng ta không thấy được nguyên do sâu sắc của khổ đau tức là thấy được sự thật thứ hai, thấy được con ma đói trong con người của mình. Cho dù hoàn cảnh có cung cấp cho ta bao nhiêu thực phẩm thì ta cũng vẫn thấy đói. Chỉ khi nào trái tim của chúng ta nhận được một giọt nước cam lồ của đức Thế Tôn thì lúc đó chúng ta mới hết đói. Dừng lại thì một giọt nước thôi cũng đủ làm mình no. Phần lớn chúng ta đều là người đang chết khát bên một dòng sông. Rất đáng tiếc!

Nếu giác ngộ được thì chúng ta lập tức hết đói. Chúng ta không cần phải đi tìm xa. Ta phải bắt đầu nói chuyện với con ma đói trong mình. Con ma ấy không bao giờ cảm thấy đầy đủ, dù ta có cho nó bao nhiêu thức ăn nó cũng không thấy thỏa mãn. Ví dụ chúng ta đi xa nhà hai, ba, sáu tháng, hay một năm. Chúng ta mong ước được trở về nhà. Ta ngồi trên tàu thủy, trên máy bay hay trên xe hơi giờ này sang giờ khác và chỉ ước mong được về đến nhà. Về đến nhà, ta nói: “Home, sweet home!” (Căn nhà thật ấm cúng làm sao!) và chúng ta mở cửa đi vào. Nhưng ngay khi đang ở trong nhà chúng ta vẫn không cảm thấy thỏa mãn, và thế là vài ngày sau ta lại muốn bỏ đi. Máu giang hồ réo gọi và ta lại muốn lên đường. Đó cũng là một con ma đói, ta không ngồi yên được, ta bị kéo theo. Khi đi rồi lại thấy nhớ nhà và muốn quay trở về, nhưng về rồi thì lại không thể ở yên, lại muốn ra đi. Chúng ta chưa tìm ra được quê hương đích thực (true home) của mình nên chúng ta cứ đói mãi. Chỉ khi nào con tim nóng hổi của chúng ta tiếp nhận được một giọt nước cam lồ thanh lương của đức Thế Tôn thì chúng ta mới bắt đầu thấy:

Mát lòng nhờ những giọt không

Bỗng đâu thuyền đã sang sông tới bờ

(Những giọt không – thơ Nhất Hạnh)

Hạnh phúc nằm ngay đó. Cái mà chúng ta gọi là Niết bàn, nằm ngay trong giây phút hiện tại, nếu có được một giọt nước thanh lương từ bi của đức Thế Tôn nhỏ vào trái tim ta thì chúng ta sẽ cảm thấy hạnh phúc được liền lập tức.

Theo lời dạy của đức Thế Tôn thì tất cả đều mầu nhiệm. Thân ta mầu nhiệm, tâm ta mầu nhiệm, thế giới cũng mầu nhiệm. Ngay trong giây phút hiện tại, ngay bây giờ và ở đây chúng ta có thể tiếp xúc với những mầu nhiệm đó. Chúng ta không cần đi tìm cái gì nữa hết. Ngưng lại sự đi tìm thì chúng ta mới thấy được nó, và nếu còn đi tìm là chưa thấy được nó. Nếu an trú được thì ta sẽ thấy được rằng tất cả những gì ta đang đi tìm có ngay trong giây phút hiện tại. Cho tới những cái gọi là vô sinh bất diệt, vô khứ vô lai hoặc Niết bàn cũng nằm ngay tại đó.

Một đợt sóng nhô lên rồi sụp xuống. Đợt sóng đi tìm nước, mà đi tìm bao giờ cho gặp? Nếu nó biết nó là nước rồi thì nó còn đi tìm làm gì nữa? Khi biết được bản chất của mình là vô sinh bất diệt, là Niết bàn, thì ta không còn đi tìm nữa. Ta chính là Niết bàn. Tất cả các pháp đứng về phương diện tích môn đều là hữu vi, nhưng đứng về phương diện bản môn đều là vô vi. Pháp môn thực tập của Làng Mai rất đơn sơ. Khi thở vào, ta thở vào như thế nào mà ta có thể dừng lại được, ta có thể cảm thấy ta đã về đã tới nhà của mình rồi. Hạnh phúc có thể đạt tới ngay trong giây phút đó, ngay trong hơi thở vào. Hơi thở vào là một nguồn hạnh phúc, là một cái gì rất vi diệu. Khi bước một bước chân mà ta thấy ta đã về đã tới thì bước chân đó đã làm cho ta thấy mãn ý rồi. Chỉ cần một bước thôi là ta đã đạt được hạnh phúc.

Có một thiếu phụ tên Laura bị bệnh, và người chồng tìm cách săn sóc. Hôm đó có một cú điện thoại của nhà thương cho biết rằng thứ hai tới cô khỏi phải vào nhà thương để khám lại tại vì bác sĩ biết không còn cách gì để trị cho cô nữa. Bác sĩ buông tay chịu thua. Hãy tưởng tượng mình là cô Laura. Nhận được thông điệp đó của nhà thương mình sẽ phản ứng thế nào? Cô Laura đã phản ứng thế này: “Đó, anh thấy không? Tôi sắp chết rồi.” (You know, I am dying!). Cô lâm vào tình trạng tâm lý hết sức tuyệt vọng. Chỉ mấy tiếng đồng hồ sau thì cô bất tỉnh và cô ở trong trạng thái bất tỉnh cho đến khi cô chết.

Có những người khác, cũng bệnh như cô, cũng nghe bác sĩ bảo chịu thua, họ lại hành xử rất khác. Như anh Chân Sinh ở Canada. Lần đầu tiên tôi ngồi uống trà với tăng thân Canada thì anh Chân Sinh ngồi bên tay phải của tôi. Các bạn cho biết bác sĩ nói trong mấy tuần lễ nữa Chân Sinh sẽ chết. Vì lý do đó nên các bạn mời anh Chân Sinh tới để anh có dịp ngồi uống trà với Thầy. Tôi xoay lại với anh và nói:

  • Chết thì chết chứ có sao đâu! Bây giờ mình hãy uống trà đi cho đàng hoàng. Ai mà không chết, chỉ có là người chết trước, kẻ chết sau thôi. Bây giờ mình đang có dịp uống trà thì mình hãy uống trà cho đàng hoàng, còn chuyện chết để lại giải quyết sau. Uống trà như thế nào để có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Có mặt bạn bè, có mặt thầy, có trà để uống trong tình huynh đệ, trời còn xanh, mây còn trắng, cây liễu còn rũ, chim hoàng oanh còn hót thì mình cứ uống trà, chuyện chết để đó giải quyết sau. Anh có thể uống một chén trà với chúng tôi không? Anh có khả năng thưởng thức được hương vị của chén trà này không?

Chân Sinh đã uống trà và đã thấy trà ngon thật, đã thấy rằng có cơ hội cùng ngồi uống trà với Thầy, với các bạn trong tăng thân thật là một điều mầu nhiệm. Hôm đó Chân Sinh đã học được sự thực tập: Phải sống những giây phút còn lại của đời mình cho thật sâu sắc. Dù ta chỉ còn vài ba tuần lễ để sống thì ta vẫn có thể sống được những giây phút còn lại một cách sâu sắc, còn hơn là sống những tuần lễ còn lại trong tuyệt vọng, trong tâm trạng nổi loạn với cuộc đời. Chân Sinh biết mình không có thời gian nhiều để sống nên đã tiếp thu pháp môn đó một cách hết lòng, ngày đêm trân quý những giây phút còn lại của đời mình, tập sống theo phương pháp “hiện pháp lạc trú”, trân quý từng hơi thở, từng bước chân, từng tách trà, từng người bạn. Kết quả là Chân Sinh đã sống thêm được mười mấy năm nữa. Điều bác sĩ nói có thể đúng, nhưng tùy theo cách ta phản ứng mà sự việc xảy ra cho ta sẽ như thế này hay như thế kia. Sau buổi uống trà ấy Chân Sinh đã thọ Năm giới, rồi thọ Mười bốn giới và cái tên Chân Sinh được Thầy đặt cho anh khi anh thọ Mười bốn giới. Chân Sinh là sự sống đích thực. Sống không phải chỉ để cho có mặt mà sống thật sâu sắc.

Chúng ta không nằm trong trường hợp của cô Laura hay của anh Chân Sinh tại vì bác sĩ chưa có thông điệp nào cho chúng ta. Nhưng chúng ta cũng cùng một thân phận như Laura hay Chân Sinh. Một ngày nào đó có thể bác sĩ sẽ gọi điện thoại đến nói với ta như vậy. Chúng ta có nên ngồi đó chờ giờ phút bác sĩ gọi không hay là chúng ta nghe lời đức Thế Tôn sống cho đàng hoàng trong từng giây từng phút và đi tìm sự bình an và hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại? Đó là một điều ta có thể làm được.

Có những lần ta phải ngồi trên máy bay rất lâu, tới mười mấy tiếng. Máy bay đầy người. Mỏi quá ta ước ao có chỗ để ta có thể ngả lưng xuống cho khỏe mà không được. Về tới nhà có giường, ta nằm thẳng lưng và thấy hạnh phúc quá chừng. Trong chuyến về Việt Nam vừa qua, các vị cư sĩ ở khách sạn còn các thầy và các sư cô thì ở chùa Bồ Đề. Mỗi phòng trong chùa có 12 hay 22 thầy và mỗi người chỉ được một không gian khoảng 1m x 2m. Ở Tây phương về nên các thầy các sư cô không quen, nhưng chỉ trong vài hôm thì họ thích ứng được. Đi ra ngoài suốt cả một ngày, khi trở về cái không gian 1m x 2m ấy thì họ cũng rất thoải mái, rất sung sướng, họ không đòi hỏi gì cả. Hạnh phúc thật đơn sơ. Có những đêm không ngủ được, tôi quán tưởng mình đang ở trên máy bay, đang ngồi bó gối rất mỏi và tự nhiên thấy được đang nằm thẳng trên giường thì hạnh phúc biết bao nhiêu. Ta được buông xuôi hai tay hai chân và tập thở theo bài “Thở vào thở ra, là hoa tươi mát”. Ta thấy “hiện pháp lạc trú” là chuyện có thể thực tập được. Xin quý vị cứ nhớ, cái khoảng không gian 1m x 2m có nghĩa gì đâu? Nhưng khi đi một ngày dài về, được nằm xuống đó, thì hạnh phúc có thể rất lớn, và ta không đòi hỏi gì hơn. Cái đó đã đủ cho ta hạnh phúc nhiều rồi.

Ta không phải đi tìm hạnh phúc ở đâu xa. Ta phải biết nhận diện được con ma đói trong con người mình, con ma đói ấy cứ đòi hỏi mãi mà không bao giờ thấy đủ. Trong đạo Phật có chữ “tri túc”, tri túc tiện túc là khi ta thấy đủ thì tự nhiên đủ. Các nhà doanh thương không biết thế nào là tri túc, thành công bao nhiêu cũng không thấy đủ. Không những các nhà doanh thương mà những nhà chính trị hay bất cứ ai cũng vậy. Ai mà không mong được thành công? Nhưng dù cho chúng ta có liên tiếp thành công đi nữa thì đứng về phương diện lợi và danh chúng ta vẫn còn là những con ma đói. Như vậy chúng ta không bao giờ có được hạnh phúc.

Nếu ta thực tập được pháp môn “hiện pháp lạc trú” của đức Thế Tôn, thấy rằng cuộc sống đầy những mầu nhiệm, nếu ta an trú được trong giây phút hiện tại, tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống thì đời của chúng ta sẽ là một chuỗi những ngày vui. Đạo đế chính là phép thực tập “hiện pháp lạc trú” và trong khi thực tập đạo đế chúng ta đưa mình vào lạc đế, tức hạnh phúc, bây giờ và ở đây.

Làng Mai có truyền thống là mỗi năm chúng tôi viết nguyện ước của mình lên một tờ giấy. Trong buổi thiền hành cuối năm chúng tôi đốt lên một đống lửa và khi đi thiền hành tới đó mọi người quây quần quanh đống lửa, lấy tờ giấy có lời ước nguyện của mình bỏ vào đống lửa để cáo với tổ tiên, với đất trời, với vũ trụ những quyết định của mình cho năm mới. Hy vọng rằng nhân dịp cuối năm, quý vị có cơ hội quán chiếu về cuộc đời của mình, về quá khứ của mình. Trong quá khứ mình đã chạy tìm hạnh phúc như thế nào? Trong quá khứ mình đã đói như thế nào, mình chưa từng có cảm tưởng mình được no đủ. Trong năm mới 2006 mình sẽ có tiếp tục làm như vậy nữa không? Nếu tiếp tục làm như trong năm vừa rồi hay như trong năm nay thì mình cũng sẽ tiếp tục đói. Ta phải thấy được đạo đế và khi đã có con đường rồi thì ta đi thẳng được vào trong diệt đế, tức vào trong hạnh phúc. Chuyện đó không khó, chuyện đó ta có thể làm được.

Tôi làm được và nhiều vị trong chúng ta cũng làm được. Sống được một phút trong sự no đủ đó là ta biết mình có thể sống hoài như vậy. Ta thấy có sự mãn ý (fulfilment, plénitude) và sự có mặt của ta sẽ là một nguồn suối tươi mát, một nguồn cảm hứng cho những người khác.

Chúng ta hãy sử dụng những ngày cuối của năm 2005 để tìm cho mình một con đường, con đường đưa tới sự no đủ, con đường đem tới sự mãn ý. Con đường đó không phải là con đường chạy đi tìm cầu những thứ như danh vọng, lợi lộc, sắc dục, tiếng khen vì những thứ đó giống như muối, ta càng ăn thì càng khát. Chỉ có giọt nước thanh lương của đức Thế Tôn, trí tuệ, Niết bàn và sự dừng lại mới đem lại cho chúng ta sự no đủ để chúng ta đừng tiếp tục làm thân phận của một con ma đói như chúng ta đã từng làm bấy lâu nay.

Định đề 16

 

Bốn diệu đế đều là hữu vi, Bốn diệu đế đều là vô vi.

The Four Noble Truths are all conditioned dharmas. The Four Noble Truths are all unconditioned dharmas.

Les Quatres Vérités Saintes sont toutes conditionnées. Les Quatres Vérités Saintes sont toutes non conditionnées.

Có những tông phái chủ trương rằng sự thật thứ nhất, thứ hai và thứ tư là hữu vi, còn sự thật thứ ba là vô vi.

  • Sự thật thứ nhất: Khổ là hữu vi.
  • Sự thật thứ hai: Tập tức cội nguồn của khổ đau, cũng là hữu vi.
  • Sự thật thứ ba: Diệt tức sự vắng mặt của khổ đau là vô vi tại vì diệt là Niết bàn mà Niết bàn là vô vi.
  • Sự thật thứ tư: Đạo tức con đường đi tới diệt khổ cũng còn là hữu vi.

Có những tông phái lại cho sự thật thứ tư là vô vi, vì vậy sự thật thứ ba và thứ tư là vô vi. Đạo đế tức con đường Bát chánh đạo cũng là vô vi tại vì nó đưa tới vô vi.

Làng Mai chúng ta chủ trương: Bốn diệu đế đều là hữu vi, Bốn diệu đế đều là vô vi. Chủ trương này đi song song với chủ trương thứ hai: Đứng về tích môn tất cả các pháp đều là hữu vi. Đứng về bản môn tất cả các pháp đều là vô vi. Bốn diệu đế, đứng về phương diện tích môn là hữu vi, nhưng đứng về phương diện bản môn đều là vô vi, chúng vừa là hữu vi vừa là vô vi. Chủ trương thứ 16 này trung thành với chủ trương thứ hai. Nếu nói hữu vi thì tất cả bốn đế đều là hữu vi, nếu nói vô vi thì tất cả bốn đế đều là vô vi.

Bốn sự thật cao quý có thể được chia ra thành hai cặp nhân quả: nhân tập đưa tới quả khổ và nhân đạo đưa tới quả diệt. Đạo (mārga) là con đường Bát chánh. Thực tập theo con đường Bát chánh thì sẽ đi tới quả diệt tức là Niết bàn, là sự vắng mặt hoàn toàn của khổ đau. Trong khi đó thì tập là nguyên do của khổ đau, ta cũng có thể gọi đó là con đường đưa tới khổ đau. Chúng ta có thể nhìn tập như là một con đường đưa tới khổ, đưa tới sinh tử. Khổ ngược với diệttập ngược với đạo. Đạo là Bát chánh đạo và ta có thể tạm gọi tập là Bát tà đạo. Bát tà đạo là tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà định. Bát chánh đạo, tiếng Pháp là Le Sentier Noble, còn Bát tà đạo là Le Sentier Ignoble. Bát tà đạo đưa tới sinh tử (saṃsāra) tức là đưa tới khổ.

Con đường Bát chánh đạo đã được đức Thế Tôn trình bày trong bài pháp thoại đầu tiên tại vườn Lộc Uyển. Trong khi chuyển pháp luân Ngài nói về Bốn sự thật và con đường của tám sự hành trì chân chính. “Chuyển Pháp Luân Kinh” là bài pháp thoại đầu tiên. Nếu suy nghĩ kỹ chúng ta thấy rằng trước khi đi thuyết pháp đức Thế Tôn đã chiêm nghiệm rất lâu. Ngài đã ngồi dưới cây bồ đề nhiều tuần lễ để chiêm nghiệm cách diễn bày những gì Ngài vừa chứng đắc. Cái mà đức Thế Tôn chứng đắc là sự giác ngộ, nó chưa có hình thái để diễn tả. Có nội dung của sự giác ngộ nhưng đức Thế Tôn cần một hình thái để diễn tả sự giác ngộ đó. Chúng ta có thể nghĩ: Trong thời gian ngồi dưới cội bồ đề sau khi thành đạo, một phần Ngài thưởng thức thành quả tu học của mình, một phần Ngài tìm cách diễn bày sự giác ngộ đó để có thể giúp cho những người khác. Đức Thế Tôn đã quán chiếu khá kỹ lưỡng nên bài thuyết pháp đầu tiên được nói ra rất đầy đủ, rất vững chãi. Suốt trong cuộc đời giáo hóa của Ngài, Tứ diệu đế và Bát chánh đạo chính là cột sống, là cốt lõi của giáo lý và sự hành trì.

Nhưng nếu học hỏi không thông minh, chúng ta có thể nghĩ rằng đây là những giáo điều (dogma), vì vậy tuy là giáo lý ấy không khó gì mấy nhưng chúng ta vẫn chưa hiểu được. Đức Thế Tôn nói: “Khổ là một sự thật”, thì ta nói: “Đời là khổ! Cái gì cũng khổ hết!”. Có người cứ nhắc đi nhắc lại câu “đời là khổ”, biển khổ mênh mông, và cho rằng nói và nghĩ như vậy là ta đang trung thành với giáo lý của đức Thế Tôn. Nhưng mục đích của đức Thế Tôn không phải là để miêu tả cuộc đời, mục đích của Ngài là giúp ta đi tới vượt thắng khổ đau để có hạnh phúc. Ngài không phải là một nhà văn ngồi đó để tả cuộc đời là khổ. Khổ không phải là một giáo điều. Khổ là một sự khai thị. Có những người tự cho mình là trung thành với đức Thế Tôn tìm mọi cách để chứng minh rằng đời chỉ là khổ. Nhưng đức Thế Tôn không muốn chứng minh gì cả. Ngài chỉ muốn giúp ta thực tập cho hết khổ. Ngài không phải là nhà khoa học chỉ muốn chứng minh sự thật mà mình đã tìm ra là đúng. Ngài chỉ muốn trao truyền phương pháp thực tập cho ta. Đây là phương pháp thực tập chứ không phải là sự diễn tả sự thật, không phải là lý luận để chứng minh.

Đức Thế Tôn không muốn chứng minh “khổ đau là một sự thật”. Ngài chỉ muốn chúng ta nhận diện khổ đau để tu học hầu thoát khổ.

Nguyên tắc của đức Thế Tôn là nguyên tắc y khoa. Khi có bệnh, ta biết bệnh là một sự thật và nhìn sâu vào bệnh ta thấy có nguyên do của bệnh. Nếu bệnh có nguyên do thì khi lấy nguyên do đó ra là ta lành bệnh.

Định đề 15

 

Chánh niệm về khổ đau giúp ta nhận diện những điều kiện hạnh phúc đang có mặt và ngăn ngừa tạo tác của lầm lỗi và gieo nghiệp nhân xấu.

The awareness of suffering helps us recognize the existing conditions of happiness and also helps prevent the creation of wrong actions and the planting of negative seeds that will bring about suffering.

Câu này cho chúng ta thấy rằng khổ đế trong Tứ diệu đế trước hết có nghĩa là ý thức được sự có mặt của khổ đau. Khổ đế không phải là một giáo điều mà là một ý thức. Ý thức về sự có mặt của khổ đau giúp ta rất nhiều trong sự tu tập, tại vì khổ đau và hạnh phúc tương tức. Cũng như ngày và đêm, nếu không biết đêm thì ta cũng không ý thức được ngày là gì. Nếu đã từng đau khổ thì ta mới biết nhận diện được hạnh phúc. Có những người sống trong những điều kiện hạnh phúc mà không thấy hạnh phúc. Họ giẫm lên trên những điều kiện hạnh phúc mà đi. Ý thức được khổ đau và lấy nó làm bối cảnh thì tự nhiên ta nhận diện được hạnh phúc ta đang có.

Quên khổ đau thì mất hạnh phúc là như vậy! Khi nhớ lại những thời gian khổ đau, những lúc ta bị mắc kẹt và tuyệt vọng, và những lúc ta bị rơi vào trạng thái bế tắc thì tự nhiên ta nhận diện ra sự thật là hiện bây giờ ta đang có điều kiện của thảnh thơi, của hạnh phúc. Ta có thể nói rằng khổ đau là bối cảnh giúp cho điều kiện hạnh phúc hiện rõ ra, cũng như màu trắng của cuốn sách giúp cho ta thấy chữ viết rõ hơn. Trên bối cảnh của khổ đau hạnh phúc hiện ra rõ hơn. Chánh niệm về đệ nhất đế không phải là sự nhồi sọ “đời là khổ”. Chánh niệm về khổ có công năng đem lại hạnh phúc cho ta, căn cứ trên những điều kiện hạnh phúc ta đang có.

Trước khi xuất gia có thể ta đã có những khổ đau, bức xúc và tuyệt vọng. Khi được xuất gia, trong những năm đầu ta có hạnh phúc vì ta thoát ra được khỏi khổ đau và niềm tuyệt vọng đó. Ta sống trong những điều kiện thuận lợi, ta có thầy, có anh, có chị, có em, có thời khóa, có pháp môn. Nhưng sau vài ba năm thì ta lờn. Hạnh phúc nào cũng bị lờn, đó là sự thật. Khi chưa đậu bằng đó thì ta nghĩ nếu đậu được bằng đó ta mới thật sự có hạnh phúc. Khi có được mảnh bằng rồi thì ta chỉ được hạnh phúc trong sáu tháng hay một năm rồi ta thấy cái bằng ấy cũng không đem lại hạnh phúc gì mấy. Đó là thân phận của con người. Đó là lối hành xử của con người: Không biết trân quí những điều kiện của hạnh phúc đang có. Ta bị lờn với hạnh phúc, ta thấy chán. Trong năm thứ nhất và năm thứ hai của đời tu, ta thấy hạnh phúc quá. Nhưng qua năm thứ ba, thứ tư thì ta lờn, ta không thấy hạnh phúc nữa tại vì ta quên đi cái bối cảnh khổ đau đã giúp ta nhận diện được hạnh phúc. Vì vậy cho nên ta phải mang bối cảnh khổ đau đi theo để so sánh và khi nhận diện được điều kiện của hạnh phúc thì ta có hạnh phúc trở lại. “Làm thế nào để nuôi dưỡng hạnh phúc?” là một chủ đề rất lớn cho người xuất gia, ta phải quán chiếu và pháp đàm với nhau. Đạt tới hạnh phúc thì dễ, nuôi dưỡng và duy trì hạnh phúc mới là khó. Lúc đầu khi mới thương nhau thì dễ, làm sao giữ cho tình thương tiếp tục được ngọt ngào, nuôi dưỡng mới là chuyện khó.

Chánh niệm về khổ đau giúp ta nhận diện điều kiện hạnh phúc đang có mặt. Thấy được khổ cũng giúp cho ta hành xử cẩn thận, để ta không nói và không làm những điều gây ra khổ đau. Nếu ta nhận diện được khổ đau có ở trong ta và xung quanh ta thì ta cũng nhận diện được nguyên nhân gây ra khổ đau. Ở đâu có khổ đế thì ở đó có tập đế. Sở dĩ ta khổ là vì ta đã làm, đã nói, đã nghĩ như vậy. Sở dĩ người đó khổ là do người đó đã nói, đã làm, đã nghĩ như vậy. Thấy khổ thì ta biết là ta không nên nghĩ, không nên nói, không nên làm như vậy. Đó là chánh niệm. Gieo gió thì gặt bão, vì thấy bão tàn phá quá nên ta cương quyết không gieo gió. Vì vậy ý thức về khổ đau rất có lợi. Trong Mười bốn giới Tiếp Hiện có một giới nhắc ta đừng đánh mất ý thức về khổ đau. Không đánh mất ý thức về khổ đau thì tự nhiên ta duy trì được hạnh phúc, ta biết những gì ta nên làm và những gì ta không nên làm để cho hạnh phúc được tiếp tục và khổ đau không xảy ra.

Định đề 15 có liên hệ tới cách ta nhìn, cách ta học và cách ta hiểu về Bốn diệu đế. Đạo Phật không mắc kẹt vào giáo điều nên Tứ diệu đế được coi như một cách nhìn mà không phải là một giáo điều ta phải nhồi sọ. Nhiều người bị nhồi sọ quá nên nghĩ: trong kinh đã nói “đời là khổ” rồi thì ta phải tin thôi. Những cái mà người ta gọi là vui thì ta đều phải cho là khổ hết. Như vậy tức là ta bôi đen cuộc đời. Học Phật như thế là để bôi đen cuộc đời, ta thấy không có gì là hạnh phúc cả, trong khi sự thật thứ ba (diệt đế) là: Hạnh phúc có thể có được.

Sự thật thứ nhất là khổ đế và sự thật thứ ba là diệt đế tức là sự chấm dứt khổ đau. Chấm dứt khổ đau tức là có mặt hạnh phúc. Tứ diệu đế nói tới đau khổ nhưng cũng nói tới hạnh phúc. Cặp nhân quả đầu, khổ đế – tập đế, nói về đau khổ và cặp nhân quả thứ hai, diệt đế – đạo đế nói về hạnh phúc. Nhưng vì quá giáo điều nên khi học đế thứ nhất là khổ đế người ta nói “thôi đủ rồi” và không học tiếp nữa. Cách nhìn đó rất trái ngược với tinh thần của đạo Bụt. Chúng ta phải nhìn giáo lý Tứ diệu đế dưới ánh sáng của sự thực tập chánh niệm.

Định đề 14

 

Niệm, định và tuệ tương dung, cả ba đều có công năng đưa tới hỷ, lạc và giải thoát.

Mindfulness, concentration and insight inter-are, interpenetrate. All three have the capacity to bring joy, happiness and liberation.

Nếu có người hỏi ta thực tập chánh niệm, chánh định để làm gì thì ta có thể nói ta thực tập để có hạnh phúc (hỷ lạc). Ngay trong khi thực tập thì ta đã có hỷ lạc chứ không phải là thực tập lâu năm rồi mới có hỷ lạc. Ví dụ khi đang đi ta ý thức được là ta đang còn sống, đang đi trên trái đất, đang tiếp xúc với trời xanh, mây trắng, chim hót, thông reo, hoa nở. Đó là niệm. Và khi có niệm thì ta có hạnh phúc, ta không còn đi như một người mộng du. Niệm có thể đưa tới hạnh phúc liền. Khi ta có ý thức về những tiêu cực đang xảy ra như ta đang bệnh hay thế giới đang bị chiến tranh, thì tuy niệm ấy không đưa tới hạnh phúc nhưng nó giúp ta ý thức được sự thật đang xảy ra để ta có thể sử dụng thì giờ và tâm lực mà chuyển hóa và tự giải thoát, giúp cho mình và cho người khác thoát ra khỏi tình trạng đó.

Chúng ta đã học: ly sinh hỷ, ly sinh lạc. Ly sinh hỷ lạc là niềm vui và hạnh phúc phát sinh ra nhờ khả năng buông bỏ. Chúng ta buông bỏ những sầu đau, vướng mắc, ganh tị. Chúng ta buông bỏ sự quên lãng, sự ôm đồm, sự chạy theo những gì không ích lợi. Sự buông bỏ đó đem lại hỷ lạc. Đó gọi là ly sinh hỷ, ly sinh lạc.

Chúng ta cũng đã học: niệm sinh hỷ và niệm sinh lạc, định sinh hỷ và định sinh lạc. Khi ngồi có niệm và có định thì ta ngồi có hạnh phúc. Khi đi có niệm, có định thì ta cũng có hạnh phúc. Khi ăn cơm hay rửa bát mà có niệm, có định thì ta có hạnh phúc. Bơi lội trong dòng sông mà có niệm, có định thì hạnh phúc được bơi trong dòng sông của ta rất lớn. Không có niệm, không có định thì ta không thật sự có mặt. Không thật sự có mặt thì ta không hưởng được những cái đẹp, cái tươi mát, những cái mầu nhiệm trong sự sống và ta không có hạnh phúc.

Có tuệ là có cái thấy, có sự hiểu biết. Có sự hiểu biết thì không còn bị kẹt vào những sự hiểu lầm, giận hờn, lo âu. Vì vậy tuệ cũng đưa tới hỷ, lạc và sự giải thoát.

Nếu được hỏi tại sao ta phải thực tập niệm-định-tuệ thì câu trả lời đơn giản nhất là thực tập niệm-định-tuệ sẽ đưa tới hạnh phúc liền cho ta. Lúc đầu hạnh phúc có thể còn nhỏ nhưng từ từ sẽ lớn lên và khi hạnh phúc lớn thì giải thoát cũng lớn. Trong niệm đã bắt đầu có định. Niệm càng được duy trì thì định càng lớn. Và khi niệm và định hùng hậu thì tuệ sẽ đến mau chóng. Tuệ cũng giúp cho duy trì niệm và định. Do đó ba loại năng lượng này nương nhau mà phát sinh và lớn lên. Đó là những loại năng lượng có thể chế tác niềm vui và xử lý khổ đau. Tu tập là để chế tác ba loại năng lượng này.

Định đề 13

 

Cần hay tinh tấn cũng là giới, và vì vậy cũng là niệm.

Right diligence is also a precept and therefore is also mindfulness.

Cần, chúng ta dịch là sự siêng năng (diligence), cũng là một hình thức thực tập giới. Chúng ta có danh từ “Tứ chánh cần” hay danh từ “tinh tấn”. Cần là siêng năng, nhưng nếu ta không giải thích siêng năng như thế nào thì người ta không thực tập được. Dịch là effort (cố gắng) thì không nói lên được bản chất của tinh tấn, hay của cần.

Tứ chánh cần

Tứ chánh cần giải bày về sự thực tập siêng năng rất rõ ràng:

  1. Những xấu ác, những tiêu cực, những hạt giống không lành chưa phát hiện thì ta tìm cách ngăn ngừa không cho chúng phát hiện. Chúng ta ai cũng có hạt giống của thèm khát, ganh tị, giận hờn, tuyệt vọng. Biết mình có hạt giống đó, ta phải sống như thế nào để những hạt giống đó không bị tưới tẩm. Đó là chánh cần, không cho những hạt giống xấu có cơ hội để phát hiện. Đó cũng là giới. Khi đọc sách báo, nghe âm nhạc, lên mạng, xem TV hay ngâm thơ thì những bài nhạc, những bài thơ, những phim ảnh đó có thể tưới tẩm những hạt giống tiêu cực trong ta như thèm khát, bạo động, hận thù, ganh tị. Ta phải cẩn thận, ta không nên đọc những sách báo, nghe những bài nhạc hay coi những phim ảnh tưới tẩm những hạt giống tiêu cực ấy. Đó là điểm thứ nhất của Tứ chánh cần.
  2. Nếu những hạt giống tiêu cực đã bị tưới tẩm và biểu hiện rồi thì ta phải làm cho chúng ngừng lại. Những hạt giống (chủng tử) đã hiện hành thì ta phải làm cho chúng ngưng hiện hành, và trở về với trạng thái chủng tử. Có phương pháp gọi là “thay chốt”: Ta tắt phim đó và mở phim khác, ta ngâm bài thơ khác hay không ngâm nữa. Khi giúp cho những hạt giống tốt phát khởi thì những hạt giống xấu ngưng phát khởi. Đó là phương pháp thứ hai của Tứ chánh cần.
  3. Những hạt giống tốt chưa biểu hiện ta phải cho chúng cơ hội biểu hiện. Ta chọn sống trong một môi trường mà các hạt giống tốt có cơ hội được tưới tẩm và biểu hiện. Tìm môi trường để sống là một vấn đề rất quan trọng. Môi trường nào mà trong đó hạt giống của hiểu biết, thương yêu, hạt giống của niềm vui, của từ bi được tưới tẩm là một môi trường tốt. Nếu ta chơi với những người bạn xấu, nghe họ nói và thấy họ làm những điều đang tưới tẩm hạt giống xấu nơi ta thì sẽ có hại cho ta. Ta phải chọn bạn mà chơi, đó là sự thực tập. Ta chơi với những người bạn mà lời nói hay việc làm của họ giúp tưới tẩm hạt giống tốt trong ta. Đó là ta tạo điều kiện cho những hạt giống tốt trong ta được biểu hiện. Môi trường tốt và bạn lành là mặt thứ ba của Tứ chánh cần.
  4. Nếu những hạt giống tốt đã được hiện hành rồi thì ta phải tìm cách để duy trì chúng trong trạng thái hiện hành ấy càng lâu càng tốt. Những hạt giống ấy đã từ chiều sâu tàng thức phát hiện trên vùng ý thức. Thực tập tùy niệm ta có thể duy trì chúng ở trong vùng ý thức. Trong thời gian chúng biểu hiện trên ý thức, những hạt giống ấy tiếp tục lớn lên dưới vùng tàng thức. Phương pháp này gọi là chuyển y, nghĩa là chuyển hóa tận nơi căn bản. Nhìn vào Tứ chánh cần, chúng ta thấy cần cũng là giới và cũng là niệm.

Tam tụ tịnh giới

Trong Luật tạng có ý niệm “Tam tụ tịnh giới”, nghĩa là ba nhóm giới:

  1. Nhiếp luật nghi giới (giữ gìn giới, luật và uy nghi)

Nhiếp luật nghi là nắm cho vững giới luật và uy nghi, đừng để mất đi. Sự thực tập giới luật và uy nghi gọi là nhiếp luật nghi.

  1. Nhiếp thiện pháp giới (làm những điều lành)

Nhiếp thiện pháp là nắm lấy và làm phát triển những cái tích cực. (Try to develop, try to do everything that is positive, good, nourishing and healing.)

Phát khởi lòng từ bi, mỉm một nụ cười thân thiện, giúp người khác bớt sầu khổ, đó cũng là trì giới, đó là nhiếp thiện pháp giới.

  1. Nhiêu ích hữu tình giới (làm lợi ích cho các loài hữu tình)

Hữu tình (sattva) là các loài chúng sinh, nhiêu ích là làm lợi ích. Bất cứ hành động hay lời nói nào có thể giúp ích cho mọi người và mọi loài (giúp cho họ được cơm ăn, áo mặc, thuốc men, được bảo hộ, không bị tai nạn, không bị chiến tranh) đều thuộc về hành động nhiêu ích hữu tình giới.

Ba nhóm này gọi là Tam tụ tịnh giới. Chúng ta thấy chúng cũng là niệm, cũng là cần, là sự siêng năng. Trong đạo Bụt, khi nói đến siêng năng, tinh tấn, cần mẫn thì chúng ta cần đưa ra những hành động cụ thể. Làm được những việc đó thì gọi là tinh tấn, gọi là siêng năng.

Tất cả sự hành trì đều là giới, là niệm

Chúng ta đã thấy được rằng tất cả những gì ta hành trì của ta đều là giới, là niệm. Ví dụ trước khi ăn, ta đọc Năm quán:

  1. Thức ăn này là tặng phẩm của đất, trời và công phu lao tác: Đây là niệm. Ta ý thức rằng thức ăn trong bát của ta là tặng phẩm của đất, trời, muôn loài và công phu lao tác. Ta biết bát cơm này từ đâu tới (lượng bỉ lai xứ). Đó là niệm. Mà hễ đã là niệm thì đó là giới. Không phát khởi chánh niệm như vậy khi ăn cơm là không trì giới. Nếu trong khi đọc câu ấy mà không thấy được cơm này là tặng phẩm của đất trời, của muôn loài và công phu lao tác là ta không có niệm. Không có niệm là không có giới thật sự.
  2. Xin nguyện ăn trong chánh niệm và với lòng biết ơn để xứng đáng thọ nhận thức ăn này: Đó cũng là niệm và cũng là giới. Khi ăn cơm nếu ta phóng tâm nghĩ đến những chuyện khác là ta không giữ giới vì ta không có niệm.
  3. Chỉ xin ăn những thức có tác dụng nuôi dưỡng và ngăn ngừa tật bệnh: Có niệm như vậy ta sẽ không lấy những thức ăn không phù hợp với tạng phủ của mình.

Tất cả năm điều trong Ngũ quán đều là niệm và đồng thời cũng là giới. Vì vậy tất cả sự hành trì của chúng ta trong đời sống hàng ngày đều là sự biểu hiện của niệm và của giới.

Trong Bát chánh đạo cũng có chánh tinh tấn. Trong Ngũ căn, Ngũ lực cũng có tinh tấn (tín, tấn, niệm, định, huệ). Tấn là cần. Trong Ngũ lực không có chữ “giới”, nhưng cần thật ra đã là giới. Cần đã là giới, thì cần cũng là niệm. (Diligence is also a percept and therefore it is also mindfulness.)

Định đề 12

 

Giới cũng là niệm. Giới luật và uy nghi là biểu hiện cụ thể của chánh niệm.

Precepts are mindfulness. Śīla is smŗti. Precepts and mindful manners are concrete expressions of mindfulness.

Đây là một giáo lý rất quan trọng của Làng Mai. Định đề 12 có liên hệ với định đề 11. Tam vô lậu học “niệm-định-tuệ” có khi được gọi là “giới-định- tuệ”. Có khi trong kinh nói: Từ giới mà sinh định, từ định mà có tuệ. Nhưng có khi trong kinh lại nói: từ niệm mà sinh định, từ định mà phát tuệ. Vì vậy chúng ta đi tới kết luận: Giới tức là niệm. Làng Mai chúng ta gọi Năm Giới là “Năm phép thực tập chánh niệm” (the Five Mindfulness Trainings). Nếu giới không phải là niệm thì giới chỉ là những ràng buộc hình thức.

Chúng ta vừa được học là giới luật và uy nghi giúp cho chúng ta phát khởi chánh niệm để ta đừng bị những phi như lý tác ý lôi kéo đi. Có phi như lý tác ý thì không còn niệm. Giới luật và uy nghi giúp ta phát khởi chánh niệm, cho nên giới là niệm. Giới mà không phát xuất từ niệm thì nó chỉ là hình thức. Đồng thời ta biết được tuy giới là niệm, nhưng phạm vi của niệm rộng hơn của giới. Các giáo lý cơ bản như bát chánh đạo và ngũ căn ngũ lực đều sử dụng cặp ba niệm định tuệ thay vì cặp ba giới- định-tuệ. Ta cũng thấy đối với hành giả, giới cụ thể hơn niệm, cũng vì giới nằm trong phạm vi của niệm.

Là người lái xe, chúng ta phải tuân theo luật đi đường. Tại sao ta phải tuân theo luật? Tại sao ta không lái tự do? Tại sao ta phải ngừng khi có đèn đỏ? Tại vì tất cả những luật lệ, những nguyên tắc, những thực tập đó đều nhằm ngăn ngừa không cho tai nạn xảy ra. Tới đèn đỏ ta phải dừng lại, ta không được qua mặt khi đường có gạch thẳng, làm theo như vậy thì ta sẽ tránh được tai nạn xe cộ. Nếu không thấy được mục đích của luật lệ thì ta sẽ bực bội: Tại sao phải ngừng khi đèn đỏ, tại sao không được qua mặt, tại sao không được bật đèn pha trong khi xe đối diện đang đi tới? Luật lệ là để giúp cho mọi người tránh được tai nạn.

Nếu không có chánh niệm, không thấy được rằng giới và uy nghi là để bảo hộ cho ta, giúp ta phát khởi chánh niệm thì ta sẽ bực bội: Tại sao phải giữ giới, tại sao phải giữ uy nghi? Giới là niệm, đó là cái thấy của Làng Mai. Giới phải lấy chánh niệm làm căn bản, giới phải phát xuất từ chánh niệm.

Những giới chúng ta đọc tụng ở Làng Mai như Năm giới hay Mười bốn giới đều chứng tỏ là giới phát xuất từ chánh niệm:

Ý thức được rằng chiến tranh và bạo động đã và đang gây ra quá nhiều đau khổ, con nguyện không sát hại, con nguyện bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài.

Lối diễn bày giới tướng như vậy chứng tỏ rằng giới phát sinh từ niệm. Ý thức được rằng làm cái này thì sẽ có khổ đau này, nói cái kia thì sẽ có khổ đau kia, đó là chánh niệm. Vì có chánh niệm nên con mới quyết định không nói như vậy, không làm như vậy. Giới là niệm, nếu giới không là niệm thì giới không thật sự là giới. Ta giữ giới với niềm vui và hạnh phúc chứ không có cảm tưởng là ta đang bị gò bó, ép buộc và ta rất hãnh diện khi giữ được giới luật và hành trì được uy nghi.

“Giới là niệm” là một khám phá của Làng Mai. Chúng ta tìm được rằng giới-định-tuệ cũng là niệm-định-tuệ vì bản chất của giới là niệm. Ý thức được sự khổ đau do sự sát hại gây ra nên chúng ta giữ giới không sát sinh. Nếu không có ý thức, không có chánh niệm như vậy thì giới không sát sinh bị xem như là một sự ràng buộc và làm bớt đi sự tự do của ta. Sau này tất cả các giới của Làng Mai đều sẽ được trình bày theo tinh thần đó để mọi người nhớ rằng: Bản chất của giới là niệm. Giới luật và uy nghi (Luật nghi) mà chúng ta hành trì với tư cách của người xuất gia hay người tại gia đều phát sinh từ niệm. Tất cả những uy nghi chúng ta thực tập đều có mục đích nuôi dưỡng chánh niệm và cũng phát sinh từ chánh niệm.

Hình thức của giới cũng như của uy nghi có thể được thay đổi để phù hợp với thời đại và nơi chốn chúng ta đang thực tập. Tuy giới luật và uy nghi có thể khác, nhưng bản chất của chúng vẫn là chánh niệm. Giới luật và uy nghi có thể thay đổi tùy theo văn hóa và tập tục địa phương, nhưng dù cho có thay đổi thì chúng vẫn là biểu hiện của niệm và có mục đích duy trì chánh niệm.

Trong những “Đại hội tu chỉnh giới luật và uy nghi” trong tương lai, ta sẽ sắp đặt và điều chỉnh lại ý của các giới tướng và uy nghi cho phù hợp. Uy nghi trong sách “Bước tới thảnh thơi” có khác hơn uy nghi trong cuốn “Sa di luật nghi yếu lược”. Trong sách “Sa di luật nghi yếu lược” không có uy nghi liên hệ tới chuyện đi xe máy, chuyện lái xe hơi hay chuyện sử dụng điện thoại. Trong cuốn “Bước tới thảnh thơi” có những uy nghi mới cho việc sử dụng điện thoại, sử dụng máy vi tính hay sử dụng xe máy. Làm thế nào để giữ được chánh niệm và uy nghi trong khi sử dụng điện thoại, máy vi tính hay sử dụng xe máy? Giới tướng và cách diễn bày các uy nghi sẽ thay đổi, nhưng thay đổi không có nghĩa là không căn cứ trên niệm và không có công dụng duy trì niệm. Nếu chúng ta nhớ điều đó thì những thay đổi và tu chỉnh về giới luật và uy nghi sẽ tiếp tục đi về mục tiêu mà ta đang muốn hướng tới.