Lời nguyện cầu hướng về Đất Mẹ

 

Trước khi thực tập theo tác phẩm này, xin hành giả dành thì giờ để tham khảo bài dưới đây. Đọc xong, hành giả sẽ cảm thấy gần gũi hơn với đất Mẹ và sự thực tập Địa xúc sẽ mang lại thêm nhiều hoa trái của sự trị liệu.

 

Kính lạy Mẹ, Mẹ là một hành tinh, là Mẹ của tất cả mọi loài, trong đó có loài người chúng con. Các con của Mẹ có đến hàng triệu chủng loại, loài nào cũng có ngôn ngữ của loài ấy. Vì Mẹ là Mẹ của tất cả chúng con nên Mẹ biết hết mọi thứ ngôn ngữ, kể cả ngôn ngữ của loài người, cho nên chúng con rất thoải mái mỗi khi được trò chuyện với Mẹ và dâng lời cầu nguyện lên Mẹ.

Mẹ là hành tinh xanh, là Bồ tát Thanh Lương Địa

Con cúi lạy Mẹ trong ý thức sáng tỏ là Mẹ đang có mặt trong con và con là một phần của Mẹ. Mẹ đã đưa con ra đời, Mẹ đã cung cấp mọi thứ để nuôi dưỡng con, trong đó có không khí cho con thở, nước trong cho con uống, thực phẩm cho con ăn và cây lá cho con trị bệnh. Con biết con sẽ không bao giờ chết bởi vì nếu Mẹ đã đưa con ra đời một lần thì Mẹ sẽ đưa con ra đời muôn vạn lần khác nữa. Mỗi lần con biểu hiện là một lần con trở thành mới tinh và mỗi lần con trở về là Mẹ lại từ bi đưa hai tay ra ôm lấy.

Mẹ là đại địa, Mẹ là Terra, Mẹ là Gaia, Mẹ là hành tinh xanh, Mẹ là Bồ tát Thanh Lương Địa. Mẹ rất thơm tho, rất mát lành. Mẹ rất xinh đẹp. Mẹ có khả năng tiếp nhận, giữ gìn và chuyển hóa tất cả. Kể cả đờm dãi tanh hôi, kể cả khí độc, kể cả phóng xạ nguyên tử Mẹ cũng có khả năng ôm ấp và chuyển hóa. Mẹ có dư dả thì giờ để làm việc ấy và nếu cần Mẹ có thể để ra một triệu năm.

Mẹ có bao nhiêu là con, các con của Mẹ có tới hàng triệu chủng loại, trong đó có con người. Chúng con có nhiều đứa vì tham lam, vì kiêu căng, vì ngu si không nhận ra được Mẹ, đã gây ra bao cảnh tàn khốc cho nhau và làm hại tới sức khỏe cũng như nhan sắc của Mẹ. Chúng con biết Mẹ có đủ sức ôm ấp và chuyển hóa, nhưng chúng con vì đã và đang dại dột nên vẫn còn tiếp tục khai thác và đấu tranh khiến đôi khi Mẹ phải nhọc lòng.

Đức kiên nhẫn và sức chịu đựng vô cùng lớn của Mẹ đã làm cho Mẹ trở nên một vị Bồ tát lớn, một nơi nương tựa vô cùng vững chãi cho tất cả chúng con. Mỗi khi chúng con lao đao, mỗi khi chúng con đánh mất tự thân trong quên lãng, trong buồn tủi, trong hận thù và tuyệt vọng, chúng con phải trở về thực tập địa xúc, tìm về nương tựa nơi Mẹ để lấy lại sự bình an, để phục hồi niềm vui sống và đức tự tin. Chúng con biết chúng con đều là con của Mẹ và dù chúng con có gây ra bao nhiêu lầm lỗi, chúng con cũng được Mẹ tha thứ. Và mỗi lần trở về với Mẹ là Mẹ sẵn sàng đưa vòng tay từ mẫu ôm lấy chúng con vào lòng. Chúng con có được tính bất sinh bất diệt là nhờ Mẹ. Mẹ cất chứa trong lòng Mẹ bao nhiêu kho tàng của năng lượng, chúng con nguyện sẽ sử dụng những kho tàng năng lượng đó một cách khéo léo để chúng đừng khô cạn, và để Mẹ khỏi phải tinh chuyên trải qua hàng triệu năm để phục hồi.

Mẹ không phải chỉ là Mẹ của chúng con mà còn là Mẹ của nhiều vị Bụt và nhiều vị Bồ tát khác.

Đức Thích Ca, Thầy gốc của chúng con, cũng là con của Mẹ. Bồ tát Quan Âm Nam Hải và Quan Âm Thị Kính cũng là con của Mẹ. Mẹ đồng trinh Maria cũng là con của Mẹ. Thánh mẫu Liễu Hạnh cũng là con của Mẹ. Bồ tát Thường Bất Khinh và Bồ tát Địa Tạng cũng là con của Mẹ. Cha mẹ của chúng con cũng là con của Mẹ. Nhiều đứa con của Mẹ được Mẹ giáo dưỡng nhiều kiếp cũng đã trở thành những vị Bồ tátcó khả năng giáo hóa và biết cách bảo hộ cho Mẹ. Có những vị Bồ tát có khả năng tiếp xúc, tìm hiểu và giúp Mẹ thiết lập được liên hệ với những tinh cầu khác trong Thái Dương hệ, trong dải Ngân Hà và với những dải tinh hà khác trong vũ trụ. Mẹ đã thiết lập được liên hệ hòa điệu với những tinh cầu khác của Thái Dương hệ, nhất là với Mặt trời và Mặt trăng, đã vận hành đều đặn trong tương tức với các hành tinh ấy để tạo nên ngày đêm và bốn mùa. Chúng con biết Mẹ là một vị Bồ tát trong số những vị Bồ tát xinh đẹp nhất, rất hiếm có trong vũ trụ. Chúng con biết Mẹ có đức kiên nhẫn và chịu đựng rất lớn cho nên chúng con hết lòng tin tưởng, nương tựa vào Mẹ.

Mẹ đã được biểu hiện từ khoảng 4,5 tỷ năm trước, và Mẹ đã chờ đợi tới hơn 3,5 tỷ năm mới đưa được chúng con ra đời và trở nên một hành tinh xinh đẹp, đầy sức sống như hiện nay. Từ trong lòng đại dương, sự sống bắt đầu sinh sôi nẩy nở trên thân hình Mẹ và làm thay đổi bầu khí quyển để cho biết bao nhiêu chủng loại mới được biểu hiện. Sau một tỷ năm, lượng oxy tích tụ trong bầu khí quyển đã tạo nên tầng ozone có tác dụng ngăn chặn những tia phóng xạ độc hại giúp cho sự sống được lan tỏa trên mặt đất.

Trong những tỷ năm đầu, Mẹ đã đi qua những giai đoạn khó khăn để tạo ra bầu khí quyển. Mẹ đã phải thở ra những chất hơi nồng rực và phun lửa từ các Hỏa Diệm Sơn. Trong quá trình đó, khí gas thoát ra từ bề mặt của Mẹ tạo thành hơi nước trong khí quyển, cùng với nước và băng do các tiểu hành tinh và các sao chổi trên không, hơi nước ấy đã giúp Mẹ tạo ra được đại dương. Nhờ có các chất khí nhà kính đã giữ lại sức nóng từ Mặt trời nên các đại dương kia không bị đóng thành băng. Thêm vào đó, lực hấp dẫn và từ trường của Mẹ đã giúp cho bầu khí quyển không bị thổi bay đi vì những cơn gió lớn phát xuất từ Mặt trời cũng như những tia vũ trụ, nhờ vậy mà sự sống được duy trì.

Chúng con biết trước khi hình thành bầu khí quyển, Mẹ đã phải chịu đựng sự va chạm của một thiên thể lớn bằng sao Hỏa và một phần khối lượng ấy đã đi vào Mẹ. Một phần khác của thiên thể và một ít da thịt Mẹ đã bị đánh bật, tách rời ra thành một hành tinh khác gọi là Nguyệt cầu. Mẹ ơi, Nguyệt cầu là một phần của Mẹ, cũng đẹp như một nàng tiên, và đó là dì Trăng của chúng con. Dì luôn luôn đi theo Mẹ, níu áo Mẹ, giúp cho Mẹ đi chậm lại và giữ được sự cân bằng, đồng thời tạo ra thủy triều sớm tối trên hình hài Mẹ.

Cha của chúng con là Mặt trời, là một vị Bụt lớn, là Đại Nhật Như Lai.

Và Cha đang có mặt trong Mẹ và trong con.

Lạy Mẹ, con biết Mẹ luôn luôn cần đến Cha để có thể tiếp tục sinh ra chúng con và nuôi dưỡng chúng con. Cha con là Mặt trời. Mẹ đi theo Cha, và vận hành theo một quỹ đạo quanh Cha 365 ngày trong một chu kỳ có xuân hạ thu đông, làm nên một năm 12 tháng. Ánh sáng của Cha chiếu rọi làm cho Mẹ ấm áp tạo thành hiệu năng quang hợp và giúp Mẹ làm ra sự sống cho chúng con. Mẹ cũng đã từ cùng một tinh vân với Cha mà tới. Đường kính của Cha lớn tới 100 lần đường kính của Mẹ. Ánh sáng của Cha cần tới 8 phút đồng hồ mới đi tới được Mẹ, dù khoảng cách giữa Cha và Mẹ chỉ vào khoảng 150 triệu cây số.

Kính lạy Mẹ, mỗi khi con chiêm ngưỡng Mẹ, con thấy Cha trong Mẹ và trong con. Cha con không phải chỉ ở trên trời mà cũng ở dưới đất và đang có mặt trong Mẹ và trong con. Mỗi buổi sáng Cha con xuất hiện từ phương Đông như một chiếc đĩa hồng chói lọi, hào quang phóng ra muôn phương rạng rỡ uy hùng không thể nào tả nổi. Cha con là Mặt trời, là Sol, là Surya, là Sunna. Cha con là một vị Bụt lớn, một vị Bồ tát lớn, là Đại Nhật Như Lai, là Vô Lượng Quang, là Vô Lượng Thọ, là Bụt Amitabha (tức Bụt A Di Đà), là thần Thái Dương. Cha con có cơ thể lớn hơn cơ thể Mẹ rất nhiều. Tuy là một bậc Cha hiền, có lượng cả bao la, nhưng Cha con uy dũng vô cùng và cũng vô cùng dữ dội. Cái vương miện mà Cha con đội đầu nóng hơn 5500°C, cho nên Cha con đang mang hình thức loãng, không có được cái vỏ ngoài đặc cứng và cố định như chiếc áo sinh quyển xanh tươi duyên dáng mà Mẹ đang khoác.

Cha con là một vì sao trong số ít những vì sao lớn nhất của dải Ngân Hà. Tám mươi lăm phần trăm những ngôi sao của tinh hà này đều nhỏ bé hơn Cha. Khối lượng của Cha tuy vĩ đại như thế, lớn hơn khối lượng của Mẹ 330.000 lần, nhưng khối lượng ấy đang tiêu mòn từ từ, vì mỗi giây Cha con đều hiến tặng một ít khối lượng ấy cho thế gian dưới hình thái năng lượng: đó là năng lượng ánh sáng. Sự sống có được trên hình hài Mẹ là nhờ Mẹ con ta tiếp thu được ánh sáng ấy, nhờ quá trình quang hợp. Tuy là một đấng Vô Lượng Thọ, nhưng Cha con cũng vô thường, và đến một ngày nào đó, gần như tất cả khối lượng vĩ đại của Cha sẽ trở thành năng lượng. Sắc tướng hiện thời của Cha sẽ không còn nữa, nhưng với năng lượng phát ra, Cha sẽ tiếp tục biểu hiện dưới những sắc tướng khác. Tuy nhiên, ngày ấy còn xa lắm, nghĩa là ít nhất cũng mười tỷ năm nữa. Hào quang của Cha phóng ra là sự tiếp nối của Cha, và năng lượng ấy không bao giờ mất đi dù là một quang tử, cho nên Cha con vẫn mãi là đấng Vô Lượng Thọ.

Kính lạy Mẹ, chúng con đã biết được rằng Cha chúng con, Mặt trời, là một trong những vì sao lớn nhất và sáng nhất trong dải Ngân Hà, một tinh vân gồm khoảng 200 tỷ ngôi sao. Hệ Thái Dương của Cha con đang vận chuyển trong dải Ngân Hà ấy, và Mặt trời của chúng con là một vị Bụt đang được vây bọc bởi một chúng hội các hành tinh khác. Mẹ là hành tinh xinh đẹp nhất trong bốn hành tinh đang vận chuyển ở phần bên trong của hệ Thái Dương. Sao Thủy (Mercury) là hành tinh có quỹ đạo gần Cha con nhất, rồi đến sao Kim (Venus), rồi mới tới Mẹ. Sau Mẹ thì tới quỹ đạo của sao Hỏa (Mars). Giữa sao Hỏa và sao Mộc (Jupiter) là cả một vòng đai có cả hàng chục ngàn những tiểu hành tinh (asteroids), trong đó có tiểu hành tinh Ceres có đường kính gần 1.000 cây số và cũng có rất nhiều tiểu hành tinh khác mà đường kính dài hàng trăm cây số. Ngoài ra còn có hàng trăm ngàn tiểu hành tinh nhỏ hơn, có những hành tinh còn nhỏ hơn những hạt bụi.

Sao Mộc cách Mặt trời Cha con khoảng 900 triệu cây số. Sao Mộc có đến 64 vệ tinh, trong đó có vệ tinh Europa với một lớp băng dày đến vài cây số, bên dưới lớp băng này có thể có nước loãng và cũng có thể có sự sống. Một vệ tinh khác của sao Mộc là hành tinh Ganymede, lớn hơn cả sao Thủy, đó là vệ tinh lớn nhất trong hệ Mặt trời. Sao Mộc lớn hơn Mẹ tới 318 lần, và phần lớn của sao Mộc cũng như của Mặt trời được làm bằng khinh khí và hélium. Sau sao Mộc thì đến sao Thổ (Saturn), tuy nhỏ hơn sao Mộc nhưng cũng lớn hơn Bồ tát Địa Cầu Mẹ của chúng con đến gần 100 lần. Sao Thổ cũng có tới 62 vệ tinh đi quanh yểm trợ, trong đó có vệ tinh Titan – vệ tinh này lớn hơn cả sao Thủy. Vệ tinh Titan là Mặt trăng lớn thứ hai của hệ Thái Dương, sau Ganymede và lớn gấp ba lần so với Mặt trăng của Địa Cầu chúng con. Ngoài ra còn có sao Thiên Vương (Uranus) và Hải Vương (Neptune) là hai hành tinh cuối cùng trong hệ Mặt trời. Chúng hội của Bụt Mặt trời như thế là rất đông đảo và chúng con cảm thấy đây là một gia đình thực thụ, một tăng thân ấm cúng đang đi thiền hành chung một cách mầu nhiệm trong dải Ngân Hà.

Chúng con thường quán sát rằng mỗi chúng con đều có một trái tim trong cơ thể và nếu trái tim trong chúng con ngừng đập thì chúng con phải chết liền lập tức. Nhưng nhìn lên, chúng con biết Mặt trời cũng là một trái tim khác của chúng con, không phải nằm trong cơ thể nhỏ bé này mà nằm trong cơ thể Thái Dương hệ. Nếu Mặt trời Cha chúng con biến mất thì sự sốngcủa chúng con cũng như sự sống của Mẹ đều phải chấm dứt. Cho nên chúng con thường quán chiếu về trái tim Mặt trời để thấy được sự có mặt thường xuyên của Cha trong chúng con và ngoài chúng con, để thấy được ngoài và trong cũng chỉ là những ý niệm.

Vòng tay của Cha rất rộng, chúng con biết nếu Cha ôm Mẹ và chúng con vào lòng thì cả Mẹ và chúng con đều trở thành tro bụi, chất hơi và chất loãng. Tuy nhiên, Mẹ đã biết sử dụng dưỡng khí từ quá trình quang hợp để tạo nên một lớp ozone trên thượng tầng khí quyển, giúp ngăn chận lại những tia phóng xạ cực tím, nhờ đó che chở được cho các loài sinh vật đang được Mẹ nuôi dưỡng. Sở dĩ chim chóc vẫn được cái hạnh phúc trở về với mây trời thênh thang, sở dĩ hươu nai vẫn có cái thích thú chạy nhảy ở đồng quê, đó là nhờ khả năng đùm bọc và che chở của Mẹ. Mẹ đã tiếp thu, đã gặt hái ánh sáng của Cha một cách khéo léo để nuôi dưỡng đàn con của Mẹ và làm cho Mẹ xinh đẹp hơn từ gần hơn một tỷ năm nay. Chúng con biết tương lai của Mẹ con ta tùy thuộc vào tương lai của Cha Mặt trời. Nhật quang của Cha sẽ tăng lên gấp 40 phần trăm nhật quang bây giờ trong ba tỷ rưỡi năm nữa và nếu Mẹ không đổi thay quỹ đạo, thì tất cả đại dương trên thân hình Mẹ sẽ khô cạn mau chóng, và sự sống trên thân hình Mẹ sẽ không còn.

Có những đứa con của Mẹ thấy Cha ngày nào cũng đi từ phương Đông sang phương Tây và nghĩ rằng quê hương của Cha, Tịnh độ của Cha là ở phương Tây. Nhưng chúng con đã thấy được như Mẹ rằng đó chỉ là một biểu tượng. Cha đang có mặt khắp nơi: đứng bên này bán cầu mà nhìn thì Cha ở phương Tây nhưng đứng ở bên kia bán cầu mà nhìn thì Cha đang ở phương Đông. Bụt không phân biệt Nam và Bắc, trong và ngoài. Cha con đang ở trên đầu nhưng Cha con cũng đang ở trong con và trong Mẹ. Thấy được Cha được Mẹ trong con rồi thì con đâu còn phải đi tìm cầu nữa.

Mẹ đã gặt ánh sáng của Cha để làm nên sự sống, làm nên chiếc áo màu xanh tuyệt diệu của ngày hôm nay.

Chắc Mẹ còn nhớ là hồi mới được tượng hình từ khối tinh vân đầy bụi và các chất hơi của Cha để lại, thì Mẹ, cũng như Cha, bấy giờ chưa có chiếc áo lụa mát mẻ của ngày hôm nay. Ngày ấy chiếc áo của Mẹ làm bằng chất loãng và rất nóng. Từ từ nhờ hơi nước tụ lại trong bầu khí quyển mà da thịt Mẹ mát lạnh lại, và tạo thành một lớp vỏ cứng. Đó là vào khoảng năm tỷ năm về trước. Hào quang của Cha hồi ấy chỉ rạng rỡ vào khoảng 70% hào quang bây giờ. Nhưng các chất khí nhà kính và ánh sáng của Cha đã nâng cao sức ấm trên mặt đất, và giúp sưởi ấm cho Mẹ, khiến cho các đại dương của Mẹ không trở thành đông đặc.

Mẹ ơi, từ bốn tỷ năm về trước các nguyên tử – có thể đã đến từ ngoài không gian – đã biết giao lưu với nhau và có khả năng tự tái tạo để sản sinh ra những phân tử đầu tiên. Những phân tử đó trở thành gần như các tế bào sống, làm nền tảng để cho Mẹ bắt đầu tạo nên sự sống. Những hạt bụi từ các ngôi sao xa hàng triệu năm ánh sáng đã đến viếng thăm Mẹ và ở lại với Mẹ. Phép quang hợp đã cho Mẹ khả năng gặt hái ánh sáng của Cha để làm nên sự sống. Những tế bào nhỏ từ từ đi vào nhau tạo thành những tế bào lớn, những sinh vật đơn tế bào từ từ đi tới những sinh vật đa tế bào. Sự sống từ dưới nước bắt đầu đi lên đất và bây giờ đây Mẹ đã có một chiếc áo màu xanh tuyệt diệu. Nhưng vô thường là bản tính của vạn pháp cho nên sự sống trên hình hài Mẹ đã hơn năm lần bị biến cố tiêu diệt trên một bình diện khá lớn. Biến cố gần nhất là khi một thiên thể chạm vào hình hài Mẹ, làm diệt chủng loài khủng long và nhiều loài bò sát vĩ đại khác. Tuy nhiên nhiều loài động vật nhỏ bé hơn như loài bộ nhũ vẫn còn sống sót được. Trong khoảng 65 triệu năm vừa qua, các loài này đã sinh sôi nẩy nở phân thành nhiều chủng loại.

Và chỉ mới mấy triệu năm vừa qua thôi, loài người chúng con mới bắt đầu xuất hiện dưới hình thức những loài vượn giả nhân như vượn orrorin tugenensis có khả năng đứng dậy và buông thõng hai tay. Từ đó con vượn có khả năng sử dụng khí cụ, và các biện pháp liên lạc giúp cho bộ não được nuôi dưỡng, nẩy nở và tiến hóa thành con người. Hoạt động nông nghiệp và các nền văn minh bắt đầu giúp cho con người trở thành một sinh vật có được thứ quyền năng mà chưa bao giờ các loại sinh vật khác có được trên mặt đất. Con người khi xấu ác có thể trở thành hiểm độc và bạo động vô cùng, nhưng con người khi tu tập có thể trở nên những bậc hiền thánh, các vị Bụt, các vị Bồ tát có thể thương yêu và cứu giúp không những cho đồng loại mà còn cho những chủng loài khác và cũng có khả năng bảo hộ cho Mẹ, giữ gìn sắc đẹp cho Mẹ.

Mẹ là Tịnh độ, là quê hương mà chúng con có thể trở về trong mỗi bước chân.

Chúng con không cần đi tìm một Tịnh độ hay một Thiên quốc ở một nơi nào khác hoặc ở trong tương lai.

Kính lạy Mẹ, ở đâu có đất là ở đấy có Mẹ. Đất Mẹ sinh trưởng ra chúng con, chuyên chở chúng con và nuôi dưỡng chúng con. Nếu chúng con nuôi dưỡng được ý thức là trong Mẹ luôn luôn có con và trong con luôn luôn có Mẹ thì cả Mẹ cả con đều an vui và khỏe mạnh. Nhưng có những đứa con của Mẹ không thấy được điều ấy cho nên thường hay tự đánh mất mình, không có khả năng nhận diện được hình hài mình cũng là hình hài Mẹ, tâm tư chìm trong tạp niệm hoặc trong thế giới ảo mộng, quên rằng mình đang có một hình hài tuyệt diệu do Mẹ ban cho.

Chúng con mỗi ngày nguyện đi từng bước chân chánh niệm, ý thức rõ rệt là mình đang giẫm chân trên thật địa, để trong mỗi bước chúng con có thể tiếp xúc với Mẹ, với những mầu nhiệm của sự sống biểu hiện trên hình hài Mẹ. Chúng con biết là mỗi bước chân như thế đều có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu, mỗi bước chân như thế có thể đem chúng con về với giây phút hiện tại để tiếp xúc với Mẹ. Mẹ là Tịnh độ, nơi vô số các vị Bụt và Bồ tát đã được sinh ra và đã thành đạo, đã giáo hóa. Chúng con không cần đi tìm một Tịnh độ hay một Thiên quốc ở một nơi nào khác hoặc ở trong tương lai. Mẹ là một Tịnh độ xinh đẹp tuyệt vời, Mẹ là quê hương mà chúng con có thể trở về trong mỗi bước chân. Chúng con không muốn mơ tưởng về một Thiên quốc hay một cõi cực lạc nào khác nữa.

Thầy của chúng con là con của Mẹ, đã thành đạo dưới gốc một cây Bồ đề, đã nhận nơi này làm quê hương. Chúng con cũng muốn nối tiếp sự nghiệp của Thầy, nguyện đời đời kiếp kiếp ở lại với Mẹ, giúp cho Mẹ thêm tài năng và sức khỏe để cho ra đời rất nhiều vị Bồ tát Tùng Địa Dũng Xuất.

Có những người thiếu chánh tư duy, nghĩ rằng Ta bà và Tịnh độ là hai cõi khác nhau, và khuyên chúng con nên phát tâm nhàm chán cõi Ta bà để cầu sinh về cõi Tịnh độ. Họ không biết rằng nếu tâm họ thanh tịnh, đầy thương yêu, nếu họ có khả năng biến rác thành hoa, lấy bùn nuôi sen thì họ sẽ thấy phiền não tức bồ đề và Ta bà là Tịnh độ. Họ không biết rằng tùy theo cách nhìn của họ mà cõi này là Tịnh độ hay Ta bà. Mỗi biểu hiện trên thân hình Mẹ, như một đám mây bay hay một chiếc lá rơi cũng đủ cho chúng con thấy được tự tính không sinh không diệt, không có không không của thực tại mầu nhiệm, và chúng con có thể rong chơi thỏa thích mà không cần sợ hãi lo âu về có không, còn mất, thêm bớt và dị đồng.

Kính lạy Mẹ, có những đứa con của Mẹ còn đặt câu hỏi sau khi hình hài mà Mẹ cho tan rã thì họ sẽ đi về đâu, nhưng chúng con biết rất rõ là chúng con sẽ trở về với Mẹ. Đó là một điều hiển nhiên. Nếu biết quán chiếu, chúng con sẽ thấy được tự tính không đi không về của vạn pháp, và chúng con sẽ không còn thắc mắc về chuyện đi và về. Biết rằng Mẹ đã từng cho chúng con biểu hiện thì Mẹ sẽ tiếp tục cho chúng con biểu hiện. Mỗi lần biểu hiện là một lần mới tinh, do đó chúng con không cần phải lo âu, sợ hãi nữa.

Mỗi khi ngồi yên trên đất Mẹ, ý thức là Mẹ đang có trong con, con luôn luôn ao ước có những đức lớn của Mẹ, đó là đức kiên trì chịu đựng, đó là đức trung hậu bền vững, đó là đức vô úy đại hùng, đó là đức sáng tạo không hề biết mỏi. Chúng con nguyện hành trì để có được đầy đủ những đức ấy của Mẹ, và chúng con biết rằng Mẹ đã gieo tất cả những hạt giống tiềm năng ấy trong tâm điền của mỗi chúng con.

Các con của Mẹ sinh ra đều xinh đẹp và đã cùng góp sức làm cho Mẹ thêm xinh đẹp. Một hồ nước trong, một cây tùng xanh, một áng mây hồng, một đỉnh núi tuyết, một khu rừng thơm, một con hạc trắng, một chú nai vàng, v.v… Tất cả những biểu hiện mầu nhiệm ấy đều là con của Mẹ và đứa nào cũng có thể làm cho Mẹ càng ngày càng xinh đẹp. Chúng con là con của Mẹ, mà cũng là tự thân của Mẹ, bởi vì Mẹ đang có mặt trong mỗi chúng con. Vì Mẹ có Phật tính cho nên đứa con nào của Mẹ cũng có Phật tính, có khả năng tỉnh thức để biết sống hạnh phúc trong tinh thần trách nhiệm.

Chúng con đang tập thương đất Mẹ, thương trời Cha và thương nhau trong ánh sáng của tuệ giác bất nhị và tương tức. Chúng con biết cái thấy bất nhị và tương tức giúp chúng con vượt thoát mọi kỳ thị, sợ hãi, ganh tị, oán thù và tuyệt vọng.

Mẹ ơi, loài người chúng con nhờ có ý thức nên đã học hỏi và nhận diện được sự có mặt của mình, đã tìm ra vị trí thật của chúng con giữa lòng Mẹ và trong lòng vũ trụ. Chúng con biết là chúng con nhỏ bé vô cùng, nhưng tâm lượng của chúng con có thể bao trùm được cả ba ngàn thế giới. Chúng con đã biết rằng hành tinh xinh đẹp của chúng con không phải là trung tâm của vũ trụ mà chỉ là một trong những biểu hiện nhiệm mầu nhất của vũ trụ. Chúng con đã phát triển được khoa học và kỹ thuật, chúng con đã khám phá ra được tự tính bất sinh bất diệt, không có cũng không không, không thêm cũng không bớt, không một cũng không khác của thực tại. Chúng con biết cái một chứa đựng cái tất cả, cái lớn nằm trong cái nhỏ, và mỗi hạt bụi có thể chứa đựng được cả pháp giới.

Chúng con đã chế tạo được những chiếc kính viễn vọng có thể tiếp thu được những ánh sáng mà mắt người không thể nào thu nhận được, như những tia hồng ngoại (infrarouges), tia tử ngoại (ultraviolet), tia X, hoặc tia gamma. Chúng con đã đặt những chiếc kính viễn vọng ấy trên những đài quán sát không gian, vượt lên cả bầu khí quyển mờ đục bao quanh đất Mẹ, cao hơn mặt đất có khi cả hàng ngàn cây số, và chúng con đã thấy được như Mẹ: một vũ trụ sáng rỡ nhiệm mầu không thể nào tả nổi. Chúng con đã thấy được những tinh hà xa xăm, những vì sao cách xa chúng con cả hàng trăm triệu năm ánh sáng. Và nhờ thế chúng con cũng thấy được thêm những nhiệm mầu của Mẹ và của cả chúng con. Tâm thức của chúng con cũng là tâm thức của Mẹ và của cả vũ trụ. Vũ trụ rạng ngời xinh đẹp kia mà chúng con thấy được cũng chính là tâm thức ấy mà không phải là một cái gì khách quan ở ngoài tâm thức ấy. Những đứa con nào của Mẹ biết tu tập, nhìn sâu với chánh niệm và chánh định cũng đạt được khả năng của Diệu Quan Sát Trí ấy.

Chúng con đang tập thương Mẹ, thương Cha và thương nhau trong ánh sáng của tuệ giác ấy. Chúng con biết cái thấy bất nhị và tương tức giúp chúng con vượt thoát mọi kỳ thị, sợ hãi, ganh tị, oán thù và tuyệt vọng. Chúng con nguyện trao truyền tuệ giác ấy cho những thế hệ tương lai. Chúng con không còn dại dột cho rằng con người là chúa tể của vũ trụ, và đã thoát được ý niệm về một đấng tạo hóa tồn tại dưới hình thức một con người. Có những đứa con của Mẹ đã đạt được cái thấy siêu việt lưỡng nguyên về thiện và về ác, không còn thắc mắc với cái ý chí của Đất và Trời. Nhiều đứa trong các con của Mẹ đã không còn tin vào sự có mặt của một ông già ngồi trên trời để điều khiển mọi việc trên mặt đất, hay sự có mặt của một bà tiên trên mây có thể tìm tới cứu độ cho ta khi ta có tai nạn.

Lạy Mẹ, con biết thế giới bản môn là tự tính đích thực của chúng con, không sinh không diệt, không tới không đi. Nếu chúng con biết tiếp xúc với tự tính ấy thì chúng con sẽ có an bình, hạnh phúc, không còn lo lắng và sợ hãi. Chúng con biết bản môn không phải là một cái gì tách ra khỏi tích môn. Nếu chúng con tiếp xúc được sâu sắc với bất cứ một cái gì của thế giới tích môn, dù cho là một chiếc lá, một bông hoa, một đám mây, một con hạc, một dòng sông, một đỉnh núi hay chính hình hài của chúng con là chúng con đồng thời tiếp xúc được với bản môn ấy. Bản môn ấy là chân như, là pháp thân, vượt ra ngoài những ý niệm có không, tâm vật, chủ thể đối tượng, nhân hay phi nhân. Nó luôn luôn chiếu sáng. Tiếp xúc với bản môn, chúng con sẽ có an lành và thoải mái như những con chim về được với trời mây hay những con nai thảnh thơi chạy nhảy ở đồng quê. Chúng con biết chúng con không cần phải đi tìm bản môn ấy ở một nơi nào xa xôi, bởi vì bản môn ấy là tự tính của chúng con, có mặt trong chúng con ngay trong giây phút hiện tại. Thực tập chánh niệm, quán chiếu duyên khởi, thực chứng không và tương tức là chúng con có thể trở về bản môn bất cứ lúc nào.

Nhiều đứa con của Mẹ khi đi ngang qua khổ đau đã quyết chắc rằng những gì gây khổ đau là ác và những gì đem lại an vui là thiện, mà không biết rằng khổ đau và hạnh phúc tùy thuộc vào cái nhìn của mình rất nhiều. Chúng con thấy sự vật như thế là vì các giác quan của chúng con như thế, nếu các giác quan của chúng con được cấu thành một cách khác hơn thì chắc chắn chúng con sẽ thấy sự vật khác hơn. Vì vậy các con biết rằng hạnh phúc và khổ đau cũng như Tịnh độ hay Ta bà tùy thuộc rất nhiều nơi cách thức chúng con quán chiếu về sự vật.

Chúng con biết thực tại tuyệt đối nằm ngoài mọi ý niệm sinh diệt và có không. Bụt có thể là một con người nhưng cũng có thể là một vì sao, các vị Bụt và Bồ tát lớn đã có mặt từ vô thỉ mà không nhất thiết phải mang hình thức con người, vì con người là một sinh vật xuất hiện rất muộn trên một hành tinh tương đối bé nhỏ: đó là Mẹ yêu quý của chúng con.

Cũng như Cha, tự tính của Mẹ là vô sinh bất diệt. Chúng con biết nếu tự tính của Mẹ là như thế thì tự tính của chúng con cũng như thế, nghĩa là vô sinh bất diệt. Chúng con cám ơn Mẹ đã thị hiện như một vị Bồ tát, không phải dưới hình thức một con người mà dưới hình thức một hành tinh. Dù chúng con có nhân cách hóa Mẹ, gọi Mẹ như gọi một bà mẹ người, thì chúng con vẫn biết Mẹ là Mẹ của tất cả mọi loài, trong đó có loài người chúng con.

Cũng như Cha và Mẹ, tự tính của chúng con là vô sinh, bất diệt.

Tự tính của chúng con cũng là Di Đà, là vô lượng hào quang, vô lượng thọ mạng.

Lạy Mẹ, có những người gọi tên Cha suốt ngày mà không biết là Cha đang có mặt trong bản thân mình và ngay trên đỉnh đầu mình. Họ không biết tự tính của họ là Di Đà, là vô lượng hào quang, vô lượng thọ mạng. Họ không biết họ là con của Cha, con của Mặt trời. Chính đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni, Thầy của chúng con, cũng đã tự nhận là con cháu của dòng dõi Mặt trời. Chúng con ngày đêm được tiếp xúc với Cha như một thực tại nhiệm mầu mà không phải chỉ là một danh hiệu. Nếu Cha chúng con là vô lượng quang, vô lượng thọ, thì chúng con cũng là vô lượng hào quang, vô lượng thọ mạng. Mỗi tế bào của chúng con đều có thể chiếu rọi hào quang và đi về tương lai.

Lạy Mẹ, có những người đang bước trên đất Mẹ mà vẫn mong cầu tìm về một cõi Tịnh độ, không biết Mẹ chính là một cõi Tịnh độ tuyệt vời đang có mặt trong giây phút hiện tại. Họ không thấy được Tịnh Độ Duy Tâm, không thấy rằng nếu tâm mình thanh tịnh thì cõi đất mình đang giẫm lên trở thành Tịnh độ. Chúng con được ngày đêm rong chơi miền Tịnh độ nhờ tuệ giác ấy, nhờ pháp môn an trú với chánh niệm trong giây phút hiện tại. Chúng con đã có Tịnh độ, chúng con không còn đi tìm. Mẹ có khả năng chuyên chở chúng con ít nhất là 500 triệu năm nữa. Sau đó mẹ có thể hiện thân thành một hành tinh khác và chúng con cũng sẽ hiện thân thành những thực tại nhiệm mầu khác trên hình hài Mẹ. Kính lạy Mẹ, Mẹ có những đứa con tự hào là giỏi toán học, là công nhân khéo, là kiến trúc sư tài ba, nhưng ít ai thấy được Mẹ là nhà toán học vĩ đại nhất, người công nhân khéo tay nhất và là vị kiến trúc sư tài ba nhất. Chỉ cần nhìn vào một cánh hoa anh đào, một chiếc vỏ ốc hay một con dơi là thấy được điều đó. Chúng con có những họa sĩ tài ba, nhưng những bức tranh của chúng con làm sao so sánh được với những bức tranh của Mẹ vẽ ra trong bốn mùa? Làm sao chúng con vẽ được một buổi bình minh hào hùng như thế, làm sao chúng con vẽ được một hoàng hôn rạng rỡ như kia? Chúng con có những nhạc sĩ tài ba nhưng những bản hợp ca của chúng con làm sao bì kịp với những buổi hòa tấu mầu nhiệm của đất trời, những tiếng hải triều hùng vĩ? Chúng con có những chiến sĩ anh hùng gội nắng dầm mưa, trèo non vượt suối, nhưng có ai có được sức kiên nhẫn chịu đựng và khả năng ôm ấp lâu dài như Mẹ? Chúng con cũng có những tình yêu lớn nhưng có ai có được cái tình yêu ôm trọn muôn loài, không kỳ thị không phân biệt, như tình thương vĩ đại của Mẹ?

Kính lạy Mẹ, bây giờ đây mỗi khi giẫm chân trên đất Mẹ là con vượt thoát được các ý niệm vật chất và tinh thần. Thực tại nhiệm mầu của Mẹ vượt thoát ý niệm vật chất và tinh thần. Tâm và vật chẳng qua là hai ý niệm, chỉ là hai mặt của cùng một thực tại. Cây tùng kia không phải là vật chất bởi vì có cái biết trong nó. Hạt bụi kia không phải là vật chất bởi vì mỗi nguyên tử trong nó đều có sự thông minh, đều là những thực tại linh động. Tự tính của chúng con cũng là tự tính của Mẹ. Tự tính của Mẹ cũng là tự tính của vũ trụ; đó là tự tính tương tức, không có không không, không sinh không diệt, không thêm không bớt, không vật không tâm, không trong không ngoài, không tới không đi. Đất là một trong bốn đại nhưng đất ôm cả các đại khác trong lòng bởi vì đất được làm bằng những yếu tố không phải là đất. Bốn đại cũng mang trong lòng thời gian, không gian và tâm thức. Mỗi bước đi cho chúng con thấy sự thực sáu đại dung thông. Phật tính không phải chỉ có mặt trong con người mà có mặt trong muôn vật.

Chúng con phải học nhìn thế giới hiện tượng bằng cái thấy bản môn.

Nếu biết quán chiếu một cách sâu sắc, chúng con có thể vượt thoát mọi sầu khổ và hờn oán.

Kính lạy Mẹ, Mẹ là một vị Bồ tát lớn đã cho ra đời nhiều vị Bụt và Bồ tát, trái tim của Mẹ ôm lấy thái hư và trí tuệ của Mẹ chiếu sáng mười phương. Chúng con làm sao đem cái hiểu và cái thương của chúng con mà đánh giá được cái hiểu và cái thương của Mẹ. Có những đứa con chưa hiểu được Mẹ, oán hờn Mẹ đã sinh ra chúng để chúng phải khổ đau: “Thiều chi hoa, kỳ diệp thanh thanh, tri ngã như thử, bất như vô sinh” (Hoa thiều lá nó xanh xanh, thân ta biết thế đừng sinh ra đời), “Thiên địa bất nhân, thị vạn vật như sô cẩu” (Trời đất không có tình thương, xem vạn vật như chó rơm).

Quán chiếu cho sâu, chúng con thấy chúng con có thể vượt thoát mọi sầu khổ và hờn oán. Tiếp xúc sâu sắc được với tích môn, chúng con thấy được bản môn và hiểu được những gì đang xảy ra trong tích môn. Trong bản môn không có sinh, không có diệt, không có khổ, không có vui, không có đi, không có tới, không có thiện, không có ác. Chúng con phải học nhìn thế giới hiện tượng bằng cái thấy bản môn. Nếu không có tử thì không có sinh, nếu không có khổ thì không có vui, nếu không có ác thì không có thiện, nếu không có bùn thì không có sen. Bùn và sen không phải là kẻ thù của nhau. Sen và bùn nương nhau mà biểu hiện, khổ vui và thiện ác cũng thế.

Vì cái thấy về thiện ác của chúng con còn có tính cách nhị nguyên cho nên mới có những đứa con đem lòng oán trời trách đất. Chúng con thường đem cái tâm nhỏ bé của chúng con để phán xét cái tâm lớn lao của Đất và của Trời. Những cơn lũ lụt, những trận cuồng phong, những trận hải chấn không phải là sự biểu hiện giận dữ của Mẹ hay của Cha hay những hành động trừng phạt mà chỉ là những gì phải thỉnh thoảng xảy ra trong tích môn để thiết lập lại thế thăng bằng. Một ngôi sao băng cũng thế. Để thiết lập thế cân bằng trong thiên nhiên, các chủng loại có khi phải chịu thiệt thòi, nhưng sự tàn bạo nào cũng kéo theo cái thảm khốc của nó, khi mức nhu yếu sinh tồn được thay thế bằng tham vọng và kiêu căng.

Chúng con đã thấy được rằng khi một chủng loại phát triển quá mau chóng và quá mức, gây tổn hại nặng nề, đe dọa sự sống còn cho những chủng loại khác thì tự nhiên có những nguyên nhân và điều kiện được phát sinh đưa tới sự tổn thất nặng nề hoặc hoại diệt của chủng loại ấy, để thế cân bằng được thiết lập lại giữa các chủng loại với nhau. Những nguyên nhân hoặc điều kiện nầy thường phát sinh từ bên trong của chủng loại ấy. Chúng con đã học được bài học là khi mình tàn ác với đồng loại và các loài khác là mình tàn ác với chính mình. Và khi mình biết bảo hộ cho muôn loài là mình đã bảo hộ cho chính bản thân.

Chúng con nguyện noi gương các vị Bụt và Bồ tát để tiếp nối được Mẹ, để xứng đáng là con của Mẹ. Và chúng con cũng muốn bảo hộ cho Mẹ để Mẹ có mặt lâu dài với chúng con.

Kính lạy Mẹ, nơi mỗi chúng con đều có Phật tính, bởi vì chúng con đều là con của Mẹ, dù chúng con là con người hay một loại sinh vật khác, một loại thảo mộc hay một loại khoáng chất. Loài người chúng con hay tự hào có ý thức, nhưng ý thức của chúng con chỉ là một công dụng trong nhiều công dụng khác của tâm thức, trong đó có Tàng thức và Yếm Ma La thức. Ý thức của chúng con cho chúng con khả năng nhận diện sự có mặt của chính mình và của vũ trụ trong giây phút hiện tại, nhưng ý thức ấy còn bị hạn chế bởi khuynh hướng phân biệt giữa có và không, sinh và diệt, trong và ngoài, một và tất cả.

Có những đứa con của Mẹ đã tu tập, đã quán chiếu, đã tịnh hóa và đã đạt tới Trí Vô Phân Biệt, tiếp xúc được với Niết bàn, với tự tính vô sinh bất diệt của mình. Chắc chắn Mẹ đã tự hào với những đứa con như thế, những đứa con đang tiếp nối được Mẹ trên quá trình tiến hóa, những đứa con có khả năng giáo hóa để giúp cho kẻ khác cũng đạt được cái thấy bất nhị, chuyển hóa mọi phân biệt, kỳ thị, sợ hãi, hận thù và tuyệt vọng.

Mẹ đã sinh ra được nhiều vị Bụt và Bồ tát lớn. Chúng con xin hứa với Mẹ là sẽ noi gương các bậc đàn anh và đàn chị ấy để đi lên, để xứng đáng là con của Mẹ, để xứng đáng đại diện cho tâm thức mầu nhiệm của Mẹ. Chúng con biết vạn pháp đều vô thường, vô ngã. Mẹ, Cha, các vị Bụt và Bồ tát cũng thế. Chúng con biết đứng về phương diện bản môn mà nói thì thọ mạng của Cha, của Mẹ, của muôn loài trong đó có những chiếc lá và nụ hoa là vô lượng, đứng ngoài sinh diệt có không. Nhưng đứng về phương diện tích môn, chúng con cũng muốn bảo hộ cho Mẹ để Mẹ có thể tiếp tục có mặt lâu dài trong hình thức xinh đẹp hiện tại của Mẹ, không những trong 500 triệu năm mà còn lâu dài hơn thế nữa. Chúng con muốn bảo hộ cho Mẹ để Mẹ có mặt lâu dài với chúng con trong hệ Thái Dương ấm áp này.

Thấy được đức vững chãi và kiên trì nơi Mẹ, chúng con biết là chúng con phải trở về nương tựa nơi Mẹ. Và Mẹ cũng có thể tin tưởng và trông cậy chúng con.

Lạy Mẹ, có những lúc chúng con đau khổ thật nhiều vì thiên tai xảy ra. Chúng con ý thức rằng trong khi chúng con khổ thì Mẹ cũng đau khổ. Có khi chúng con hướng về Mẹ và hỏi: Chúng con có thể trông cậy và nương tựa vào Mẹ không? Những lúc ấy Mẹ không trả lời ngay cho chúng con. Sau đó Mẹ đã nhìn chúng con bằng con mắt đại bi và nói: “Cố nhiên là các con có thể nương tựa vào Mẹ, vì Mẹ sẽ luôn luôn có mặt đó cho các con. Nhưng các con cũng phải tự hỏi câu hỏi này: Liệu Mẹ có thể tin tưởng và trông cậy vào các con hay không?” Lạy Mẹ, chúng con đã thức nhiều đêm không ngủ với công án ấy. Bây giờ đây, với những khuôn mặt đầm đìa nước mắt, chúng con đến quỳ dưới chân Mẹ và dâng câu trả lời chân thành này lên Mẹ: “Mẹ từ bi và thánh thiện của chúng con ơi, Mẹ có thể trông cậy và tin tưởng ở chúng con”.

Lạy Mẹ, con thấy cả Pháp giới trong Mẹ và Mẹ trong con. Dù Mẹ là Mẹ của mọi loài, không phải chỉ là Mẹ của con người, chúng con vẫn có thể tâm sự được với Mẹ bằng ngôn ngữ của loài người, có thể hiểu được Mẹ và biết rằng Mẹ đang muốn chúng con sống như thế nào để mỗi giây phút trong đời sống hàng ngày chúng con có thể chế tác được năng lượng chánh niệm, bình an, vững chãi và thương yêu. Chúng con nguyện sẽ làm theo ý Mẹ. Chúng con có niềm tin vững chãi rằng nếu loài người chúng con cứ tiếp tục chế tác hàng ngày những năng lượng an lành ấy thì chúng con có thể giúp được mọi loài làm giảm bớt những khổ đau do chiến tranh, nghèo đói, bệnh tật gây ra, có thêm được niềm vui sống, thừa hưởng được sự có mặt của Mẹ, của Pháp giới, và cũng có thể giúp làm giảm thiểu lại các thiên tai như hồng thủy, bão tố, địa chấn và hải chấn. Xin Mẹ an lòng tin tưởng ở chúng con.

Nhất tâm kính lễ đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai, đức Bụt Vô Lượng Thọ Vô Lượng Quang A Di Đà hiến tặng sự sống trên hành tinh Đại Địa.

Nhất tâm kính lễ đức Bồ tát Thanh Lương Đại Địa, Mẹ của muôn loài luôn luôn chở che, nuôi dưỡng và trị liệu.

Tìm nhau

Thơ: Nhất Hạnh

Trình bày: Tăng thân Làng Mai

 

 

Con đã đi tìm Thế Tôn
Từ hồi còn ấu thơ
Con đã nghe tiếng gọi của Thế Tôn
Từ khi mới bắt đầu biết thở.
 
Con đã ruổi rong
Vạn nẻo đời hiểm trở
Đã từng đau khắc khoải
Với trăm thương ngàn nhớ
Trên bước đường hành hương.
 
Con đã đi tìm Thế Tôn
Trong tận cùng hoang dã
Ngoài mênh mông biển lạ
Trên tuyệt mù cao sơn
Con đã từng nằm chết quạnh hiu
Trên cánh sa mạc già
Con đã từng cố giấu lại vào tim
Những giòng lệ đá
Con đã từng mơ uống những giọt sương
Lấp lánh hành tinh xa.
 
Con đã từng ghi dấu chân
Trên non Bồng diễm ảo
Con đã từng cất tiếng kêu gào
Dưới ngục A tỳ mòn mỏi hư hao
Bởi vì con đói lạnh
Bởi vì con khát khao
Bởi vì con muốn tìm được cho ra
Bóng hình ai muôn đời tuyệt hảo.
 
Con biết nằm trong trái tim con
Là niềm tin diệu kỳ
Thâm sâu và uyên áo
Là Thế Tôn có mặt đó
Dù con chưa biết đích xác Thế Tôn đâu
Con linh cảm rằng từ muôn kiếp xa xưa
Thế Tôn với con đã từng là một
Rằng khoảng cách giữa hai ta
Không thể dài hơn quá một nhịp tâm đầu.
 
Chiều hôm qua bước đi một mình
Con thấy lá thu rơi đầy lối cũ
Và vầng trăng treo trước ngõ
Đã xuất hiện bất thần
Như bóng hình người cũ
Rồi tinh đẩu xôn xao báo tin
Là Thế Tôn đã có mặt nơi này.
 
Suốt đêm qua trời giáng mưa cam lộ
Chớp lòe qua cửa sổ
Trời lên cơn bão tố
Đất trời như giận dữ
Nhưng cuối cùng trong con
Mưa cũng tạnh mây cũng tan
Nhìn ra cửa sổ
Con thấy vầng trăng khuya đã hiện
Và đất trời đã thực sự bình an
Tự soi mình trong gương nguyệt
Con thấy con
Và con bỗng thấy Thế Tôn.
 
Thế Tôn đang mỉm cười
Ô hay
Vầng trăng thảnh thơi vừa trả lại cho con
Tất cả những gì con ngỡ rằng đã mất
Từ khoảnh khắc ấy
Từng phút giây miên mật
Con thấy không có gì đã qua
Không có gì cần hồi phục
Bông hoa nào
Hạt sỏi nào
Ngọn lá nào
Cũng nhìn con, nhận mặt
Nhìn đâu con cũng thấy nụ cười Thế Tôn
Nụ cười của không sinh không diệt
Đã nhận được tự gương nga.
 
Con đã nhìn thấy Thế Tôn
Thế Tôn ngồi đó
Vững như núi Tu Di
Bình an như hơi thở
Thế Tôn ngồi đó
Như chưa bao giờ từng vắng mặt
Như chưa bao giờ trên thế gian
Đã từng có cơn bão lửa
Thế Tôn ngồi đó
Yên lặng và thảnh thơi.
 
Con đã tìm ra Thế Tôn
Con đã tìm ra con
Nước mắt con không cầm nổi
Con ngồi đó
Im lặng trời xanh xao
Núi tuyết in nền trời
Và nắng reo phơi phới.
 
Thế Tôn là tình yêu đầu
Thế Tôn là tình yêu tinh khôi
Nghĩa là không bao giờ
Sẽ cần tình yêu cuối
Người là dòng sông tâm linh
Tuy đã từng chảy qua
Hàng triệu kiếp luân hồi
Nhưng luôn luôn còn mới.
 
Con đã đi tìm Thế Tôn
Từ hồi còn ấu thơ
Con đã nghe tiếng gọi của Thế Tôn
Từ khi mới bắt đầu biết thở
Thế Tôn là Bình An
Thế Tôn là Vững Chãi
Thế Tôn là Thảnh Thơi
Người là Bụt Như Lai.
 
Con nguyện một lòng nuôi dưỡng
Chất liệu thảnh thơi
Chất liệu vững chãi
Và truyền đạt tới mọi loài
Hôm nay và ngày mai.

Nụ Ban Mai 2020

“Buổi sáng thức dậy, có một đọt lá mới trên cây. Đọt lá mới đến chào đời đâu vào khoảng nửa đêm, sau những vận chuyển không ngừng của nhựa sống trong thân cây, sau khi da cây hé nứt đau đớn cho sự sống mới. Nhưng những chuyển vận ấy những đau đớn ấy cây không nghe cây không cảm thấy, bởi vì cây suốt đêm bận lắng nghe tiếng thì thào của hoa cỏ quanh mình. Hương đêm tinh khiết và huyền diệu. Cây không có ý niệm về thời gian và sinh diệt. Cây có mặt như sự có mặt của đất trời…

Đọt lá mới trên cây không phải là một tuổi. Đó là mầm ý thức tuệ giác nẩy nở mỗi giây phút trong sự sống chuyển vận không ngừng . Thấy được đọt lá mới, em vượt được giới hạn năm tháng, bởi vì sự sống đích thực không bị giới hạn trong tháng năm.

Mắt em là trời rộng, là núi cao, là biển sâu. Sự sống em cũng không có biên giới. Hãy nhận là của em tất cả mọi trái ngọt hoa hiền…”

  (Sư Ông Làng Mai)

 

 

Tôi cần em hát ca

 

Chào Sư em!

Lâu ngày quá! Tôi đã hứa nhiều lần là sẽ viết thư cho em, vậy mà đến hôm nay tôi mới làm được. Tính tôi cứ quen dây dưa như vậy đó. Nhưng hôm nay tôi sẽ viết, sẽ kể cho em nghe những điều đơn giản, vì biết em chỉ cần điều đó. Em nói, hãy viết về bầu trời, về mùa xuân nơi tôi đang ở. Tôi mỉm cười vì chỉ có trẻ con mới còn những ước mong như thế. Bầu trời, có lẽ đây là điều mà tôi cảm thấy khó viết nhất. Sao em lại biểu tôi nói về một cái to lớn như thế chứ? Những gì tôi sắp viết xuống đây không thể nào diễn tả hết cái lồng lộng của nó. Tôi viết có bao nhiêu xin em nhận bấy nhiêu, vậy nhé!

Hoa của trời

Làng Mai những ngày này, trời trong thăm thẳm không một gợn mây, nắng như có hương thơm, và mùa xuân đang vào thời tươi sắc nhất. Mùa này rừng đẹp lắm, bách bộ giữa rừng em sẽ được tắm mình trong thế giới của màu xanh non. Rừng cây luôn huyền nhiệm không khác gì một gia tài tâm linh em ạ. Lòng em có rộng rãi đến mấy vẫn cảm thấy không đủ chỗ cho nó đi vào. Hoa thì nở đó đây, đủ màu. Đa số hoa ở đây đều là hoa dại. Người xưa nói, hoa dại là hoa của Trời. Tôi tin vào điều đó. Bông hoa nào cũng là sứ giả, cũng có một nụ cười riêng. Tôi biết em yêu thích thiên nhiên, nên khi đọc những dòng này chắc em vui sướng lắm! Vậy thật tốt, em đi đến đâu thì nơi ấy cũng dễ trở thành quê hương. Cây anh đào (cherry) bên mái hiên đã cho hoa trắng toát, mỗi ngày tôi đều dành chút thời giờ để nhìn ngắm chúng khi nắng chiếu qua. Hai cây anh đào cạnh thiền đường Nước Tĩnh cũng đã mãn khai, và tỏa hương thơm ngát. Mỗi trưa đều có các thầy đến ngồi quanh hai gốc anh đào, có mặt, thưởng hoa. Tôi cũng thế, cũng tập cho mình một thói quen, không lỗi hẹn với những nhiệm màu. Làng Mai Xóm Thượng là một thiên đường. Điều này rất rõ. Trưa hôm nay, lúc đi từ thiền đường về, những bước chân tôi bỗng trở nên cẩn trọng hơn, vì cảm thấy mỗi bước chân là một phép lạ. Không phép lạ làm sao khi quanh mình là những nụ mới, là trong trẻo tiếng chim, là rừng sồi với những chồi lá xanh non tưng bừng nhựa sống. Mắt và nắng đang vẽ ra một bức tranh bình yên nơi tâm thức. Nền trời xanh là bức bình phong cho bức tranh kia.

 

 

Nơi hẹn về

Em từng nói với tôi rằng mình chưa may mắn được đọc một đoản văn hay bài thơ nào diễn tả hết được cái lồng lộng của bầu trời. Người ta chỉ viết vài dòng về trời xanh, hoặc chỉ tạt nhẹ vài câu để chuyển tải cảm xúc hay một thông điệp khác. Có lẽ họ cảm thấy không cần thiết, hoặc chưa đủ nhân duyên và nguồn cảm hứng để viết xuống cái khôn cùng của bầu trời. Tôi nghĩ người ta đúng, làm sao mà cái hữu hạn có thể diễn tả hết cái vô hạn, phải không em? Em thử nhìn đi, ngước mắt lên nền trời mênh mông, em sẽ hiểu được thế nào là vô tận. Nhưng ở nơi cái khoảng không ấy, chính là nơi mà mắt ta thấy thỏa mãn nhất. Ta không thể tìm ra điểm tận cùng. Người ta nói, giấc mơ của tuổi trẻ cũng phải bất tận như thế! Người ta làm khó mình quá, phải không em?

Nhìn bầu trời xanh, đôi mắt thường sáng lên đầy hy vọng. Cái màu xanh ấy luôn tạo cho mình rất nhiều sự lạc quan. Nhưng khi nhìn kỹ hơn, có khi nào em cảm thấy có chút gì như vô vọng không? Tôi hỏi thật đấy. Vì bản năng sống luôn thúc đẩy mình tìm một điểm tận cùng ở đâu đó, đơn giản chỉ để chinh phục, hoặc là để cảm thấy có bờ bến, nhờ đó mà thấy an tâm. Nhưng bầu trời xanh thì vời vợi, nằm ngoài khả năng thấy biết của con người. Nó phá sập hết những ý niệm mà chúng ta có về phương diện không gian. Vì nó nên những câu hỏi như: vũ trụ rộng đến đâu, bắt đầu từ khi nào, đâu là điểm tận cùng của miền hư không ấy…? đã thôi thúc người ta tìm kiếm từ rất lâu rồi. Trong vòng xoay của ý niệm không gian, họ cứ tìm kiếm mãi. Họ vẫn xem họ là chủ thể, và đang đi tìm cái đối tượng bên ngoài, cái gọi là biên giới của hư không. Họ chưa chịu thừa nhận rằng tâm thức và không gian biểu hiện cùng một lúc, không gian cũng chỉ là sản phẩm của tâm thức họ. Hôm nay, mình đừng nói gì thêm về những điều đó nữa, vì nó dông dài và chắc cũng không cần thiết là bao! Mình chỉ tập cảm nhận cái vi diệu của bầu trời mà không cần dựa vào ý niệm không gian. Tuổi trẻ của mình cần điều đó hơn, em nhỉ? Bầu trời cho em biết về sự rộng rãi, một cái gì không biên giới mà năm giác quan đơn sơ của em không thể nào thấy hết được. Em sẽ biết khiêm cung với những gì mình từng học và biết. Chúng không hẳn là tất cả, vì em còn chưa biết hết về bầu trời cơ mà. Nhưng, em sẽ thấy quý đôi mắt, chúng còn tươi sáng đủ để nhìn trời xanh. Đời sống con người dễ làm tâm ta chật hẹp lắm, và khi đó bầu trời xanh cao sẽ là nơi cho chúng ta hẹn về. Mỗi lần ngước nhìn lên, thở vài hơi thôi sẽ thấy lòng thênh thang trở lại. Đôi mắt như chiếc cầu, nó mang bầu trời vào trong tâm thức. Em trở thành một với bầu trời, trở thành linh thiêng và vô biên như nó. Nó và em cùng biểu hiện một lúc với nhau. Em muốn bỏ qua những điều nhỏ nhặt, vì muốn lòng cũng được rộng rãi như bầu trời. Em sẽ nhìn bầu trời với rất nhiều sự biết ơn.

 Em bé và bầu trời

Chắc là em cũng đã quên rồi, như tôi, cái ngày đầu tiên chúng ta nhìn thấy cái khoảng không trong xanh ấy. Ngày đó, chắc chúng mình còn bé lắm! Em và tôi, chắc còn chưa biết nói, còn chưa biết đi cơ. Nhưng lúc đó ta đã có một đôi mắt sáng, và đã nhìn thấy bầu trời. Ta nhìn thấy nhưng không hề nhận biết được đó là bầu trời, thú vị quá đúng không? Giây phút đó, mặc dù có thể hai ta đều đã quên, nhưng tôi nghĩ là chúng ta đã sung sướng lắm! Sung sướng vì lần đầu tiên gặp gỡ một khoảng không mênh mông, mà không hề biết rằng: cái đó – người lớn gọi là bầu trời. Nhìn thấy, cảm được mà không hề có ý niệm, nên chúng ta có thể đã thấy được thực tại của bầu trời. Cái gọi là bầu trời, thực ra chỉ là cái ý niệm của người lớn, tôi nghĩ thế! Cái ý niệm đó chưa hẳn là thực tại, nhưng khi em bé lần đầu nhìn lên khoảng không mà không hề biết nó là gì, đôi khi lại là thực tại của bầu trời. Em và tôi đều đã trải nghiệm những phút giây thú vị như thế đấy! Trẻ thơ luôn sẵn có những điều thật phi thường.

Đôi khi, tôi cũng nhìn trời xanh ở Làng Mai với nhãn quan của một em bé. Với tôi đó cũng là sự thực tập. Thế giới mình đang sống được hình thành dựa trên những ý niệm, tôi nghĩ cũng cần thiết, nhưng nhiều quá thường làm chúng ta mệt và dễ mắc kẹt. Những tư duy phân biệt thường quấy rầy chúng ta, em nhỉ. Tôi hy vọng mỗi khi buồn giận, trách cứ ai, tôi sẽ không quên sự thực tập này. Làm mới tự thân bằng cách tiếp xúc với trời xanh bằng đôi mắt bé thơ. Chỉ nhìn và trực cảm, chẳng cần đặt nó một cái tên. Như vậy chúng ta sẽ có được những giây phút lặng yên và chuyển hóa, và hình hài năm uẩn của ta với hư không cũng sẽ hòa làm một…

 

 

Trong tôi có một em bé, trong em cũng có một em bé. Trong tôi có một bầu trời, và trong em cũng có một bầu trời. Vì vậy, trong em cũng có tôi. Ta trở thành nhau tự hồi nào, tôi cũng không biết nữa. Cứ truyền thông với em bé và bầu trời trong mình mỗi khi cần, em nhé!

Làng

Mấy ngày này, Làng vắng lắm! Rất dễ cảm nhận cái mát lạnh của cơn gió, rất dễ nghe cái âm nhạc của rừng cây. Trời trong nên ban đêm sao cũng nhiều vô kể. Người ta nói một tư duy an lành sẽ phát sáng ra vũ trụ và lấp lánh như một vì sao. Làng vắng nhưng sinh động. Chưa bao giờ tôi thấy Làng hiu quạnh cả, ngay cả những khi vắng người như bây giờ. Ở Làng, ngóc ngách nào cũng linh thiêng. Giờ này đang là mùa xuân, những phiến lá non trên hàng cây là biểu hiện rõ ràng cho điều ấy. Tôi có tạo một góc trà nhỏ dưới mái hiên, để thi thoảng ngồi yên uống trà. Chính vườn cây trước mặt là niềm cảm hứng cho tôi làm điều đó. Có nhiều người bạn đã đến đây ngồi chơi với tôi. Những lúc một mình, tôi cũng thích ngồi nhìn ra khu vườn, nơi có những chiếc lá xanh non. Mình phải biết tranh thủ chứ em, vì những chiếc lá kia đâu có tươi xanh cho mình hoài mãi. Hơi thở một hồi cũng hòa vào hơi thở của lá, nụ hoa hay hòn sỏi. Chúng từ từ đưa tôi vào với sự sống thênh thang. Tôi có một niềm tin lớn vào sự sống, dù điều gì xảy ra cũng không thể làm cho nó dừng lại. Muốn cho nó dừng lại, hình như là điều không thể. Sự sống luôn tiếp diễn, sinh động như những chiếc lá mới kia, muôn hình vạn trạng. Ngồi yên, tôi thấy Làng bình yên và màu nhiệm. Những hiện hữu, lớn như cánh rừng phía trước, hay bé như cánh hoa bồ công anh bay lơ lửng trước mắt tôi, và ngay cả chính tôi đây; đều rất lạ kỳ.

Tôi cần em hát ca

Cuộc sống vô thường thật em nhỉ. Nó vô thường trên cả khả năng lường đoán của chúng ta. Thế sự như đại mộng, chúng ta đâu ngờ rằng đại dịch lại xảy ra vào thế hệ của anh em mình cơ chứ! Sự ra đi của đời người xảy ra chỗ này chỗ kia do dịch bệnh khiến những ai dù hờ hững đến đâu cũng sẽ nảy sinh lòng trắc ẩn. Em có thấy mình có liên hệ gì với những con người kia không? Tôi thì thấy tất cả chúng ta đang trải qua chung một niềm đau lớn. Thử đặt mình vào trong hoàn cảnh ấy, nhiễm dịch với thân thể già yếu, hay một cơ thể bệnh tật, em sẽ thấy việc ngồi yên ngắm những chiếc lá xanh non trở nên mầu nhiệm biết chừng nào! Món quà ấy từ sự sống, tôi nghĩ em sẽ nhận nó với tất cả sự nâng niu. Dịch bệnh như một tiếng chuông lớn, cảnh tỉnh và nói với chúng ta thật nhiều điều. Một trong số đó là nhờ đại dịch mà sự tiêu thụ năng lượng và nguồn tài nguyên được giảm, nhờ đó Đất Mẹ được nghỉ ngơi và chữa trị phần nào. Đã lâu lắm rồi, Đất Mẹ chưa được nghỉ ngơi. Ai cũng thấy thương và mừng cho Đất Mẹ quá! Vậy sự ra đi của những con người ấy đã đóng góp âm thầm vào việc kéo dài sự sống, vào sự tiếp diễn nhiệm màu của hành tinh, em thấy như thế không? “Sự sống làm bằng sự chết, cái có làm bằng cái không” là điều gì đó rất dễ nhận ra vào lúc này. Nhưng tôi nghĩ ý của câu đó muốn nói đến cái chết trên bề mặt hiện tượng, cũng như cái gọi là sự sống trên hành tinh này cũng là trên bề mặt hiện tượng. Với mình, cái gì đóng góp vào sự lưu chuyển nhiệm màu của cuộc đời thì không bao giờ chết cả. Không thể nào một cái “chết” vĩnh cửu mà có thể đóng góp được vào cái gì “sống” được. Cho nên, những nạn nhân của đại dịch chưa bao giờ mất đi, họ vẫn còn đó trong đại thể, trong dòng chảy rộng lớn. Những gì tôi đang viết cho em đây chỉ là suy đoán trí năng, hoặc chỉ lặp lại lời của ai trước đó. Muốn thấy biết được chúng, mình phải để tâm quán chiếu. Nhưng dù sao, hãy nhìn những nạn nhân của dịch bệnh với thật nhiều tình thương và sự biết ơn, em nhé!

Bây giờ, chúng mình cần ngồi lại và hát ca. Mùa xuân đẹp thế mà không hát thì uổng lắm! Tôi cần em hát ca, lâu rồi tôi chưa được nghe em hát. Viết xong thư cho em, tôi thấy mình nhẹ hẳn. Lòng tôi đã khoáng đạt cho mùa xuân đi vào. Biết đâu trên cuộc đời này, tiếng hát là thứ gì quý nhất mình có thể cho đi. Ai đó đã lấy mất đi rất nhiều sự bình an của mọi người ngoài kia rồi, trong này mình mà còn bị đánh cắp bình an nữa thì thật vô lý quá. Khi mùa dịch qua, tôi sẽ viết thư cho em trở lại. Còn bây giờ, tôi hẹn em nơi góc trà dưới mái hiên, em hãy hát cho tôi nghe nhé!

 

 

Chân Pháp Khả

Định đề 40

 

Các giáo lý vô thường, vô ngã, duyên khởi, không, vô tướng, vô tác, niệm, định, tuệ, v.v… là trái tim của tuệ giác đạo Bụt có thể đi đôi với tinh thần khoa học, đối thoại, hướng dẫn, gợi ý và nâng đỡ cho khoa học. Khoa học hiện đại cần vượt cho được nhị thủ. Nhà khoa học cần luyện tập và phát triển hơn nữa khả năng trực giác của mình.

The teachings on impermanence, non-self, interdependence, emptiness, signlessness, aimlessness, mindfulness, concentration, and insight, etc… constitute the heart of the Buddhist wisdom. They can go together with the spirit of science, they can be used in dialogue with science and offer suggestions and support for science. Modern science should try to overcome the tendency of double grasping and scientists should train themselves to develop their capacity for intuition.

 

Có những giáo lý, những sự thực tập mà chúng ta có thể xem như là trái tim của tuệ giác đạo Bụt. Những giáo lý hay sự thực tập khác không phải là trái tim, nó có cũng được mà không có cũng không sao, ví dụ như có hay không có cõi Tịnh độ, có hay không có hằng sa số chư Bụt hoặc Siddharta sinh ra hay không sinh ra từ bên hông, Maya phu nhân hiện đang ở tầng trời nào, thái tử sinh ra có đi bảy bước, có nói “trên trời dưới đất tôi là số một” không… Đó không phải là trái tim của tuệ giác đạo Bụt mà chỉ là đối tượng của sự tín mộ. Dù đang ở trong truyền thống Thiền hay Tịnh độ hay Thiên Thai hay Mật thì ta cũng phải công nhận trái tim của tuệ giác đạo Bụt là vô thường, vô ngã, tương tức, niệm, định, tuệ, không, vô tướng và vô tác. Những giáo lý này có mặt trong tất cả những truyền thống Phật giáo. Không có thì không phải là Phật giáo. Đó là những dấu ấn chứng tỏ đây là đạo Phật thật. Chú Lăng Nghiêm, chú Đại Bi hay đàn tràng chẩn tế có hay không có hiệu nghiệm, điều đó không quan trọng mấy. Điều quan trọng là phải thấy được đâu là trái tim của tuệ giác đạo Bụt. Truyền thống nào cũng phải công nhận giáo lý và sự thực tập niệm, định, tuệ, vô thường, vô ngã, Niết bàn, tương tức. Chúng ta sử dụng những giáo lý và sự thực tập đó khi đối thoại với khoa học.

Chánh kiến chân thật là sự vắng mặt của tất cả các kiến

Chúng ta phải phân biệt tinh thần khoa học và những khám phá khoa học. Tinh thần khoa học là tinh thần không bám víu vào bất kỳ một khám phá nào và cho đó là khám phá cao nhất vì ngày mai có thể có khám phá cao hơn và ta phải biết buông bỏ khám phá của ngày hôm nay. Tinh thần khoa học này rất Phật học vì trong Phật học có giáo lý phá chấp (non-attachment to views). Ta có những cái thấy rất hay nhưng ta không bị kẹt vào đó, ta không cho đó là cao nhất, không có gì có thể vượt thắng được chúng. Chúng ta hãy nghĩ đến hình ảnh của một cái thang, leo lên đến nấc thứ bảy ta thấy cao quá nhưng thế nào ta cũng phải bỏ nấc thang thứ bảy để có thể leo lên nấc thang thứ tám.

Cái thấy, trong đạo Phật gọi là kiến, tiếng Anh là view. Cái thấy đúng là chánh kiến (right view). Vô thường là một chánh kiến, thường là tà kiến, ta chọn chánh kiến vô thường và bỏ tà kiến thường. Nhưng xét trên phương diện ý niệm, thì đó chưa phải là chánh kiến mà chỉ mới là ý niệm. Ta có ý niệm về vô thường mà ta chưa có tuệ giác về vô thường và ý niệm về vô thường chưa giúp nhiều được cho ta. Học về vô thường ta chưa thấy có ích lợi gì nhiều vì đó chỉ là kiến, dù cho là chánh kiến. Đạo Bụt nói rất rõ là dù đó là chánh kiến ta cũng phải bỏ luôn vì chánh kiến được đưa ra không phải để làm mẫu mực cho chân lý tuyệt đối.

Những giáo lý về vô thường, vô ngã, duyên khởi không phải được đưa ra như những chân lý tuyệt đối mà như những phương tiện để đạt tới chánh kiến chân thật. Que diêm không phải là cứu cánh, nhưng ta rất cần que diêm nếu ta muốn có lửa. Muốn có tuệ giác giải thoát đích thật ta phải cần tới chánh kiến như vô thường, vô ngã, v.v… Nếu ta cứ mân mê, trân quý các que diêm thì không khi nào có được lửa, ta phải biết cách sử dụng que diêm thì mới làm ra được ngọn lửa. Cái thấy về vô thường, vô ngã, niệm, định, tuệ không có ích lợi nếu ta không biết cách sử dụng chúng và khi sử dụng được thì chính tuệ giác sẽ đốt cháy các kiến ấy. Nếu ta biết cách sử dụng thì chánh kiến vô thường làm ra tuệ giác vô thường và khi tuệ giác vô thường phát sinh ra thì nó đốt cháy chánh kiến vô thường. Sự thật không thường mà cũng không vô thường. Vì vậy trong đạo Phật nói rất rõ: Chánh kiến chân thật là sự vắng mặt của tất cả các kiến. (The absolute right view is the absence of all views.) Những giáo lý Bụt đưa ra không phải là những chân lý tuyệt đối mà là những dụng cụ để mình đốt đi những quan điểm của mình. Trong kinh Kim Cương nói: Không những ta phải buông bỏ cái phi pháp mà pháp ta cũng phải buông bỏ luôn. Pháp thượng ưng xả hà huống phi pháp? Trong kinh Người Bắt Rắn có hình ảnh của chiếc bè được ta kết để qua sông, qua sông rồi thì phải liệng chiếc bè chứ không vác bè lên lưng mà đi. Tất cả giáo lý về vô thường, vô ngã, duyên sinh, niệm, định, tuệ là những chiếc bè. Tuệ giác phát sinh thành ngọn lửa đốt cháy tất cả các kiến dù đó là kiến vô thường, vô ngã. Giới đầu tiên trong 14 giới Tiếp Hiện có nói về tinh thần cởi mở và bao dung: Ý thức được những khổ đau do thái độ cuồng tín và thiếu bao dung gây ra, con xin nguyện thực tập để đừng bị vướng mắc vào bất cứ một chủ nghĩa nào, một lý thuyết nào, một ý thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết Phật giáo. Những giáo nghĩa Bụt dạy phải được nhận thức như những pháp môn hướng dẫn thực tập để phát khởi tuệ giác và từ bi mà không phải là những chân lý để thờ phụng và bảo vệ, nhất là bảo vệ bằng những phương tiện bạo động. Đó là tiếng gầm sư tử lớn trong đạo Phật. Trên thế gian ít có truyền thống nào dám nói: Giáo lý của tôi chỉ là phương tiện, đừng thờ giáo lý đó như chân lý tuyệt đối, đừng nhân danh giáo lý đó mà đi giết người khác. Nếu chúng ta thực tập đúng theo đó thì thế giới sẽ có hòa bình, chỉ cần thực tập giới đầu tiên của 14 giới Tiếp Hiện là đủ để có hòa bình trên thế giới.

Vượt thoát nhị thủ và sử dụng trực giác

Khi đối thoại với những nhà khoa học ta đừng đem những giáo lý đó ra để đàm thuyết. Hiện nay đã có những cuốn sách đối thoại với những nhà khoa học, nhưng tác giả chỉ đối thoại trên mặt lý thuyết. Tổ Lâm Tế sẽ không đem tới một cuốn kinh để đối thoại với khoa học mà tổ sẽ đem tới cây gậy và tiếng hét. Sau này quý vị muốn đối thoại với các nhà khoa học thì đừng đem theo sách vở mà nên đem theo sự thực tập của mình. Ta đi, ngồi, mỉm cười cho đàng hoàng để những người kia có thể thấy là họ đang thiếu cái đó. Trái tim của đạo Bụt không phải là một mớ lý thuyết về vô thường, vô ngã mà là tuệ giác về vô thường, vô ngã ta đạt tới được nhờ sự thực tập của mình. Đó là pháp linh động (the living Dharma) có đủ sức thuyết phục và có tinh thần khoa học. Tinh thần khoa học là tinh thần cởi mở và bao dung, không vướng vào bất cứ một kiến chấp nào.

Các nhà khoa học không thực tập sẽ bị dính vào những ý niệm khoa học. Chính nhà khoa học cũng cần phải thực tập buông bỏ và phá chấp, huống hồ là nhà Phật học. Nhờ trong đạo Phật có tinh thần phá chấp, buông bỏ nên đạo Phật mới đối thoại được với khoa học một cách dễ dàng. Đạo Phật không giáo điều. Vô thường, vô ngã không phải là giáo điều mà chỉ là những phương tiện, là que diêm mà chưa phải là ngọn lửa. Đạo Phật hướng dẫn được khoa học, không phải hướng dẫn bằng lý thuyết mà bằng tuệ giác. Đạo Phật có thể gợi ý và nâng đỡ cho khoa học. Trong thế kỷ thứ 21, nếu tu đàng hoàng thì ta có thể chơi với các nhà khoa học và giúp được họ.

Khoa học hiện đại cần vượt cho được nhị thủ (double grasping) thấy đối tượng và chủ thể là hai cái khác nhau, vật chất và tinh thần là hai cái khác nhau, thân và tâm là hai cái khác nhau, thời gian và không gian là hai cái khác nhau. Người quán sát và vật bị quán sát không phải là hai cái riêng biệt tách biệt nhau mà có.

Khoa học đã bắt đầu cảm thấy cái không có ranh giới giữa chủ thể và đối tượng, giữa tâm và vật, giữa não bộ và tâm thức, giữa người quán sát và sự vật được quán sát. Nhưng phần lớn các nhà khoa học vẫn còn sử dụng phương pháp phân tích, diễn dịch, quy nạp. Thỉnh thoảng mới có một nhà khoa học có trực giác khá mạnh. Nếu để trực giác dẫn đường thì họ sẽ đi tới những khám phá rất mầu nhiệm. Nếu họ chỉ dùng lý trí phân tích (discriminative mind) thì họ sẽ còn đi quanh rất lâu. Những nhà tu tập, như đức Thế Tôn ngày xưa, không dùng phân biệt trí mà sử dụng niệm, định để phát triển vô phân biệt trí (tuệ). Những khám phá của Ngài là do con đường trực giác mà không phải do con đường phân tích và diễn dịch. Vì vậy vấn đề của khoa học hiện đại là vượt được nhị thủ. Trong lĩnh vực vi mô (microscopic) các nhà khoa học đã thấy được: Tâm và vật quan sát dính với nhau, không thể tách rời. Nhìn một vật, trước tiên ta thấy được tâm của ta, cũng như chú gấu Pooh khi nhìn thấy những dấu chân trên tuyết, tưởng đó là dấu chân của con vật nào khác, nhưng không ngờ đó lại là dấu chân của chính nó.

Vượt thoát nhị thủ là vấn đề lớn nhất của các nhà tu và của các nhà khoa học. Vấn đề thứ hai là nhà khoa học phải căn cứ nhiều hơn trên trực giác (trí vô phân biệt) và họ đừng nên nghĩ rằng mình sẽ thành công được chỉ nhờ dựa trên trí phân tích, diễn dịch và quy nạp mà thôi.

Định đề 39

 

Duyên, thọ, uẩn, xứ, giới, thức, v.v… có thể được trình bày dưới nhiều mô thức khác nhau. Các mô thức này không nhất thiết phải chống đối nhau.

Conditions, feelings, skandhas, āyatanas, dhātus, vijñānas, etc…can be represented in different models. These models do not necessarily oppose each others.

Những mô thức không có tính cách tuyệt đối

Duyên

Duyên là những điều kiện (conditions), chúng ta nghe nói có bốn duyên, sáu duyên, chín duyên, mười duyên, mười hai duyên hay hai mươi bốn duyên. Có nhiều cách thức trình bày các duyên và có những pháp số khác nhau. Học mười hai nhân duyên, chúng ta nghĩ phải là con số 12 mới đúng. Mười hai nhân duyên bắt đầu từ vô minh đến hành, danh sắc, v.v… và chúng ta không đồng ý khi nghe người khác nói có thể có 13 nhân duyên hoặc chỉ có 8 nhân duyên vì chúng ta đã quen với một mô thức.

Mười hai nhân duyên thật ra chỉ là một trong những mô thức trình bày. Nghiên cứu lại những kinh Nguyên thỉ, trong kinh có lúc Bụt nói sáu duyên, chín duyên và có khi Bụt nói mười duyên hay mười hai duyên. Trong sự trình bày nhân duyên có sự tinh luyện và phát triển, những con số và mô thức đưa ra không có tính cách tuyệt đối. Mô thức nào cũng đều đúng, nếu có khuynh hướng phân tích ta có thể làm thành 24 duyên. Có truyền thống Phật giáo đã phân tích thành 24 duyên. Vì vậy chúng ta đừng nên kẹt vào những con số. Chúng ta phải linh động, mềm dẻo để đừng bị kẹt vào giáo điều (dogma).

Thọ

Thọ là cảm thọ, gồm có cảm thọ khó chịu, cảm thọ dễ chịu và cảm thọ trung tính. Nhưng thỉnh thoảng Làng Mai có nói đến bốn thọ. Làng Mai thêm vào một cảm thọ vừa khó chịu vừa dễ chịu, ví dụ như khi ta đang bị nhức mỏi mà có người ấn vào (massage) thì ta có cảm thọ vừa đau vừa sướng. Trong kinh Nikaya có câu chuyện: Một thầy và một vị cư sĩ, cả hai đều học Phật giỏi, họ tranh chấp với nhau về vấn đề “có bao nhiêu thọ”. Một người cho là Bụt nói có ba thọ, người kia cho là Bụt nói có năm thọ. Hai người cãi nhau và không ai chịu nhường ai cả. Cuối cùng nội bộ đem lên cho Bụt xét xử, Bụt nói: Ba thọ hay năm thọ cũng được, tại sao lại phải cãi nhau như vậy? Kinh này được ghi chép lại trong Tam Tạng, chứng tỏ Bụt không bị kẹt vào con số 3 hay con số 5. Lại còn có con số năm thọ: đó là khổ, lạc, ưu, hỷ và xả.

Chúng ta phải học bài học này, ta đừng chia rẽ nhau, đừng lập ra những phân phái khác nhau để chống đối nhau chỉ vì lý do ta không đồng ý với nhau về mô thức trình bày.

Uẩn

Thường thì chúng ta nói có năm uẩn, nhưng ta có thể nói hai, ba hay bốn uẩn cũng được, tùy theo cách chúng ta phân tích. Khi nói danh sắc (nāma-rūpa), Bụt nói tới hai uẩn. Con người của ta có hai uẩn là danh (nāma) và sắc (rūpa) giống như psychosoma (psycho là tâm, soma là thân). Nhưng trong kinh Niệm Xứ Bụt chia ra làm bốn uẩn, tức bốn lĩnh vực quán niệm: niệm thân trong thân, niệm thọ trong thọ, niệm tâm trong tâm và niệm pháp trong pháp (pháp là đối tượng của tâm). So sánh với ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) thì sắc thuộc về thân, thọ thuộc về cảm thọ, tưởng và hành thuộc về tâm. Vậy thì thức nằm ở đâu? Thức nằm dưới hành, thức là tâm vương còn hành là tâm sở, cũng như dòng sông là tâm vương và những giọt nước là tâm sở. Không có nước thì không có sông nên nói những giọt nước là đủ mà không cần nói tới dòng sông. Thức là nền tảng của sắc, thọ, tưởng, hành vì vậy chúng ta chỉ cần nói bốn uẩn là đủ mà không cần nói tới uẩn thứ năm.

Xứ và giới

Xứ và giới (āyatana) là những lĩnh vực của hiện hữu đứng về phương diện điều kiện mà nói. Chúng ta có 12 xứ: sáu căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) và sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Do sự xúc chạm giữa sáu căn và sáu trần mà sinh ra sáu thức. Sáu căn, sáu trần và sáu thức làm thành 18 giới, tức là 18 lĩnh vực của hiện hữu. Tâm Kinh Bát Nhã nói: Không có 18 giới từ nhãn giới cho tới ý thức giới. Đó là mô thức 18 giới. Sau này, Phật giáo phát triển có nói tới thức thứ bảy, thức thứ tám và có khi nói tới thức thứ chín. Nếu nói tới thức thứ bảy thì phải nói tới 14 xứ hay 21 giới, nói tới thức thứ tám thì phải nói tới 16 xứ hay 24 giới. Vì vậy mô thức 18 giới chưa chắc là đúng, sau này chúng ta có mô thức 21 giới hoặc mô thức 24 giới. Trong truyền thống của chúng ta, có thức thứ bảy tức Mạt na và thứ thứ tám tức A lại da. Nhưng có truyền thống còn nói tới thức thứ chín Bạch tịnh thức (vimala) tức là có 27 giới. Đó là những mô thức sử dụng để giảng bày, là những phương tiện chứ không phải là sự thật khách quan của thực tại.

Các nhà khoa học bây giờ cũng làm theo phương cách đó. Họ đặt ra biết bao nhiêu là tên như phân tử, nguyên tử, điện tử, trung hòa tử, giới tử v.v… và đưa ra nhiều mô thức khác nhau về cái cực nhỏ cũng như cái cực lớn. Những tên gọi và những mô thức ấy do từ trong đầu của chúng ta mà ra nhiều hơn là do thực tại mà có.

Khoa học, giống như Phật học, đưa ra những mô thức để diễn tả về thực tại và những mô thức không hẳn là phải giống nhau. Biết được điều đó ta phải buông bỏ thái độ cuồng tín và cố chấp vào giáo điều mà các nhà khoa học đang kẹt vào. Mỗi năm họ đều khám phá và đặt tên cho những hạt mới, nhưng không có một mô thức nào được gọi là tuyệt đối cả.

Khoa học có nói tới một thức gọi là bình hành (sự thăng bằng), tiếng Pháp là équilibration, tiếng Anh là equilibrium. Chúng ta ít nói tới thức bình hành nhưng nó rất quan trọng, đó là cảm giác thăng bằng mà chúng ta có được. Ví dụ khi bị xoay như chong chóng, chúng ta không biết phương hướng, không biết ta đang ở đâu, đâu là phía trên và đâu là phía dưới. Khi ngồi yên lại thì ta thiết lập lại sự thăng bằng, ta ý thức được đây là phía trên, đây là phía dưới, đây là phía trước, đây là phía sau. Khoa học đã tìm ra một thức tương đương với cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái xúc chạm, đó là thức bình hành mà căn của nó nằm trong tiểu não ở phần trong của lỗ tai (oreille interne). Nếu không có thức bình hành thì ta sẽ không có cảm giác thăng bằng. Ngồi thiền ta có cảm giác rất thăng bằng, ta biết được đâu là trên và đâu là dưới, trước là gì và sau là gì. Không có cảm giác thăng bằng thì ta sẽ không có cảm giác yên tịnh, an lạc. Đó là một loại thức, mà có thức thì có xứ và giới, tức có đối tượng và chủ thể.

Sau này chúng ta có thể nói tới nhiều thức hơn là năm thức cảm giác (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) và bình hành thức là thức thứ sáu trước khi đi tới ý thức. Ý thức nằm ở dưới tất cả các thức cảm giác. Chúng ta không kẹt vào những con số và những giáo điều nên sau này trong khi hành đạo, chúng ta có thể đưa ra những mô thức mới hơn. Điều đó không có nghĩa là ta không trung kiên với truyền thống. Tinh thần của truyền thống là sự không cố chấp, là sự mềm dẻo, cởi mở, nhu nhuyến để có thể tìm ra những mô thức mới có thể diễn tả cái thấy mới một cách thích hợp hơn.

Đạo Phật có mục đích khác với khoa học, đạo Phật diễn tả để giúp cho sự tu học chứ không phải chỉ để thỏa mãn nhu yếu hiểu biết mà thôi. Đạo Phật chia các uẩn thành hai (danh, sắc) hay thành bốn (thân, thọ, tâm, pháp) hay thành năm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) không phải để chia chẻ mà chỉ để giúp cho người ta tu tập. Khi cần chia chẻ theo cách khác thì ta cứ tự do chia chẻ và phân tích mà đừng bị kẹt vào một cách thức cố định nào đó.

Tiếp nối sự nghiệp của Bụt

Kinh Quán Niệm Hơi Thở trong Nhật Tụng Thiền Môn có nói đến 16 hơi thở. Trong khi giảng dạy Làng Mai đã đề nghị đưa số hơi thở lên trên 20 mà không sợ không theo đúng truyền thống. Nếu ôn lại các hơi thở, quý vị sẽ thấy những hơi thở chúng ta đưa ra rất hay và chúng ta đã tiếp nối được công trình của Bụt. Bụt không bao giờ nói: “Ta đưa ra 16 hơi thở thì các người chỉ được thực tập 16 hơi thở thôi. Ai nói 17 hơi thở tức là phản lại ta!”. Chính Bụt cũng đã có sự phát triển trong quá trình giảng dạy của Ngài. Trước khi giảng 12 nhân duyên, Ngài đã giảng 8 hay 9 nhân duyên, nếu sống thêm vài năm nữa có thể Ngài sẽ giảng lên 14 nhân duyên. Kinh Quán Niệm Hơi Thở là kinh làm cho tôi có nhiều hạnh phúc nhất vì nó rất thực tế, rất khoa học. Chúng ta có thể khai thác kinh đó để áp dụng trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực y khoa trị liệu. Ta đã bắt đầu công việc khai thác đó bằng những khóa tu về kinh Quán Niệm Hơi Thở. Ta có khuynh hướng ấy và đã bắt đầu khai triển, mà không còn nằm trong khuôn khổ của 16 hơi thở. Con số 16 là để cho dễ nhớ (4 hơi thở về thân, 4 hơi thở về thọ, 4 hơi thở về tâm và 4 hơi thở về pháp). Ngày xưa người ta không có máy ghi âm, không có ipod, nếu Bụt nói nhiều con số quá sợ người ta không nhớ hết. Nhưng bây giờ ta không còn gặp phải vấn đề đó nữa, nên ta phải có can đảm, phải có cái nhìn phóng khoáng và tiếp nối sự nghiệp của đức Thế Tôn một cách thông minh.

Quán chiếu vô thường, vô dục, tịch diệt và buông bỏ

Học 16 phép quán niệm hơi thở ta thấy rõ Bụt chỉ dạy cho ta một cách rất khoa học từ thân tới thọ, tâm và pháp. Nhưng vì khả năng ghi chép chỉ được như vậy nên Bụt đã đưa ra mô thức 16. Hơi thở thứ 13 của kinh Quán Niệm Hơi Thở là quán chiếu về vô thường:

Thở vào tôi quán chiếu về vô thường

Câu này rất hay vì quán chiếu về vô thường là một chìa khóa để thấy được vô ngã. Vô thường và vô ngã không phải là hai, đứng về phương diện thời gian là vô thường còn đứng về phương diện không gian là vô ngã, mà thời gian thì không thể tách rời không gian. Nếu sự vật đã vô thường thì nó không duy trì được tính đồng nhất của nó, nó là vô ngã. Tôi bây giờ không còn là tôi của mấy phút trước đây vì vậy tôi không là tôi và người không phải là người. Vô thường đưa tới vô ngã. Theo lý luận đó thì hơi thở kế tiếp phải là hơi thở quán chiếu về vô ngã:

Thở vào tôi thấy tính vô ngã của vạn pháp

Khám phá tính chất vô ngã, ta thấy ta và cha ta không phải là hai thực thể khác biệt, ta chẳng qua chỉ là sự tiếp nối của cha ta, ta giận cha tức là ta giận chính ta. Như vậy ta đả phá được rất nhiều vô minh.

Nhưng trong kinh Quán Niệm Hơi Thở không có hơi thở quán chiếu về vô ngã mà có hơi thở quán chiếu về vô dục. Vô dục cũng là sự tiếp nối của vô thường. Nếu sự vật là vô thường mà ta cứ chạy theo nắm bắt nó thì ta khổ.

Trăm năm còn có gì đâu

Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì

Là vô thường thì sự vật sớm còn tối mất, không đáng để ta đem hết cả cuộc đời mà theo đuổi. Ta đang theo đuổi một bằng cấp, ta nghĩ ta phải mất 10 hay 15 năm mới đạt được nó, không có nó thì ta không thể có hạnh phúc và trong khi đeo đuổi nó thì ta khổ. Nhưng ta lại thấy những người không có bằng cấp mà tại sao họ lại rất hạnh phúc? Vì vậy quán chiếu vô thường có thể đi tới vô dục, không ham muốn những cái vô thường như pháo bông, như bọt nước, như cầu vồng. Ta thấy chúng đẹp nhưng ta không có ước muốn nắm bắt chúng vì ta biết chúng là vô thường. Ai mà đi nắm bắt một làn hương? Tuệ giác về vô thường đưa tới thái độ vô dục và cũng như đưa tới tuệ giác về vô ngã. Hơi thở thứ 14, thay vì là hơi thở quán chiếu về vô ngã, thì ở đây là hơi thở quán chiếu về vô dục. Đức Thế Tôn đã chọn vô dục, vô dục là tính cách không đáng chạy theo, không đáng tìm cầu của những đối tượng ái dục.

Ngày xưa mấy ông nho sĩ, tuy không tu Phật giáo, nhưng thỉnh thoảng cũng đạt tới cái thấy vô thường và vô dục. Một ông nho sĩ đã từng chạy theo một cô nàng và đã lên xuống quá nhiều vì cô đó. Ông làm ra hai câu hát và tới nhà hát nhờ một cô đào nương hát theo kiểu hát nói. Hai câu này chứng tỏ ông đã đạt tới cái thấy về vô thường và vô dục:

Vị gì một cánh bèo mây

Làm cho biển ái khi đầy khi vơi

Cánh bèo rất mong manh, nổi bập bềnh trên mặt nước và trôi chỗ này đến chỗ khác. Cô kia rất bất thường, cô lên xuống và làm cho ông cũng lên xuống, cô là một cánh bèo mây, cô là vô thường.

Hơi thở thứ 15 là:

Thở vào tôi quán chiếu về tịch diệt

Tịch diệt là chân tính không sinh, không diệt, không tới, không đi, không có, không không, không còn, không mất. Đó là bản thể của ta. Sóng có thì giờ, có cơ hội để quán chiếu và thấy được mình cũng là nước. Trong thế giới của sinh diệt, lên xuống, có không, còn mất, ta đau khổ như một đợt sóng; ta bị cuốn theo thế giới hiện tượng. Nhưng nhờ có duyên, ta tiếp xúc được với Phật pháp, với thầy, với tăng thân. Ta có cơ hội ngồi lại để thấy ta không phải chỉ là thế giới của hiện tượng, ta không chỉ sống trong thế giới của tích môn mà ta cũng đang ở trong bản môn. Nền tảng của ta là bản môn, khi tiếp xúc được với bản môn thì ta không còn đau khổ, lúc lên lúc xuống, khi vào khi ra, khi còn khi mất. Mục đích tối hậu của một kiếp người là đạt tới tịch diệt. Ngày xưa các tổ ở Việt Nam gọi đó là cái lặng lẽ, tức là không còn ngôn từ, không còn những ý niệm như có, không, sinh, diệt, còn, mất.

Trường Viễn Đông Bác Cổ Paris còn giữ được một kinh gọi là kinh “Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng”, có bản dịch sang chữ nôm thực hiện vào khoảng thế kỷ 15-16. Tất cả những chữ “Phật” đều được dịch là chữ Bụt. Bản của trường Viễn Đông Bác Cổ được in lại vào đời chúa Trịnh và chữ lặng lẽ nói trên có nằm trong kinh này. Nhà học giả Tạ Trọng Hiệp làm việc nghiên cứu ở Paris đã xin vào sao chép một bản gửi về Việt Nam. Hiện nay có một học giả khác đã phiên âm ra chữ quốc ngữ và in lại tất cả. Chúng ta hiện đang có một bản ở đây. Theo bản này chúng ta biết:

  1. Lặng lẽ là chữ ngày xưa các tổ đã dùng để dịch chữ tịch diệt.
  2. Các chữ Phật đều được dịch là Bụt.

Điều này chứng tỏ rằng, dân tộc Việt Nam từ ngày xưa cho đến thế kỷ 17 vẫn dùng chữ Bụt. Ta mới bắt đầu dùng chữ Phật chỉ mấy trăm năm nay thôi. Ngày xưa cha mẹ được gọi là áng nạ, áng là cha, nạ là mẹ. Điều đặc biệt là trong nghi thức mở đầu buổi tụng kinh có xưng tụng danh hiệu của thánh mẫu Maya và di mẫu Gotama. Vì vậy việc Làng Mai lạy tôn giả ni trưởng Kiều Đàm Di cũng không phải là cách mạng lắm. Các tổ của ta đã từng lạy trước những người phụ nữ như Quan Âm Diệu Thiện, tức bà Chúa Ba đã dâng cánh tay làm thuốc cứu cha; như thánh mẫu Maya, người đã hạ sinh đức Thế Tôn; như di mẫu Kiều Đàm Di. Có thể nói Làng Mai rất là truyền thống.

Hơi thở thứ 16 là hơi thở quán chiếu về phóng khí, về buông bỏ. Buông bỏ những ý niệm làm cho ta kẹt như ý niệm về thọ mạng, những ý niệm mà trong kinh Kim Cương đã nói tới như ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả.

Trong khuôn khổ của 16 hơi thở chúng ta chỉ có bốn hơi thở về phương diện tưởng (tri giác), pháp (đối tượng của tri giác). Nhưng thật ra những hơi thở giúp ta đạt tới sự giải thoát giác ngộ có thể nhiều hơn con số 16, như hơi thở về vô ngã, về tương tức, về duyên sinh. Chính nhờ quán chiếu về duyên sinh mà người ta có thể thành Phật như các vị Độc giác Phật, các vị Bích chi Phật hay ngay cả chính đức Thế Tôn. Không có hơi thở về duyên sinh trong 16 hơi thở thì hơi thiếu, nhưng Bụt đã muốn dùng bốn hơi thở cho mỗi lĩnh vực của bốn lĩnh vực (4×4) cho người ta dễ nhớ. Là học trò thông minh của đức Thế Tôn ta phải giúp Ngài khai phá thêm những hơi thở quan trọng đưa tới sự giải phóng tâm thức của ta, trong đó có hơi thở về duyên sinh, vô ngã và tương tức.

Phật giáo có thể đi đôi với khoa học

Nhà Bác học Einstein nói rằng: Nếu sau này có một tôn giáo có thể đi đôi với khoa học thì tôi nghĩ rằng đó là Phật giáo. Chúng ta thấy trong Phật giáo có tinh thần khoa học. Tinh thần khoa học là tinh thần cởi mở, có khả năng buông bỏ những ý niệm và những kiến thức cũ để đạt tới chân trời mới của sự thật. Nhưng cũng có những nhà khoa học cố chấp. Những nhà khoa học nào có khả năng xả, buông bỏ nhiều nhất là những người có cơ hội khám phá nhiều nhất. Đó là phía của những nhà khoa học, còn những nhà Phật học thì sao? Có những nhà Phật học rất cố chấp, vì vậy cho nên không đi xa được. Những nhà Phật học không cố chấp khám phá được rất nhiều chiều sâu trong đạo Bụt bằng những kinh nghiệm tâm linh của mình. Giáo lý về phá chấp, không kẹt vào ngôn từ và ý niệm cho chúng ta thấy đạo Bụt có tinh thần khoa học và có thể đi đôi với khoa học.

Khoa học cũng đưa ra những mô thức để giải thích vũ trụ. Đạo Bụt cũng đưa ra những mô thức, nhưng không phải để giải thích vũ trụ mà để chúng ta nương vào đó mà tu tập. Đạo Bụt có thái độ mềm dẻo, không cố chấp nên không kẹt vào những mô thức của mình và luôn luôn sẵn sàng đưa ra những mô thức mới. Như vậy không có nghĩa là những mô thức cũ sai, đưa ra 12 nhân duyên không có nghĩa là 9 nhân duyên sai, nói năm uẩn không có nghĩa là bốn uẩn sai. Mỗi mô thức có sứ mạng của nó. Nhà khoa học cũng đưa ra những mô thức và những đề nghị. Sau này nếu trực giác đưa tới cái thấy sâu hơn thì ta sẵn sàng buông bỏ mô thức cũ để đưa ra một mô thức mới. Vì vậy chúng ta thấy có viễn tượng sau này các nhà Phật học sẽ làm việc chung với các nhà khoa học. Các nhà khoa học chỉ dùng trí phân tích của họ, nhưng người nào có khả năng sử dụng trực giác (intuition) thì người đó sẽ có cơ hội khám phá nhiều hơn. Trong đạo Bụt ta được khuyến khích nương vào trực giác nhiều hơn. Ta dùng giới, niệm, định để nuôi dưỡng trực giác, gọi là vô phân biệt trí (non- discrimination wisdom).

Ở Á châu người ta có cảm tưởng cái thấy, cái biết, cái thương nằm trong bụng chứ không nằm trong đầu. Ở Á châu người ta hay nói: Lòng của mình. Chữ lòng không có nghĩa là não, người ta rất ít dùng chữ não. Á châu dùng chữ tâm phúc, tâm là trái tim, phúc là cái bụng. Suy bụng ta ra bụng người có nghĩa là bụng của mình nghĩ như vậy nên mình tưởng người ta cũng nghĩ như vậy. Có khi tức quá ta nói: Để tôi mổ bụng ra cho quý vị biết tâm can của tôi là như thế đó. Đó là trực giác của người Á châu. Cái gì thân thiết nhất thì ta gọi là ruột rà, Tâm Kinh được gọi là Kinh Ruột. Khoa học hiện đại vừa khám phá ra ruột là bộ óc thứ hai của con người, có hàng chục triệu tế bào óc trong ruột. Ruột có khả năng chế tác ít nhất là 70-85% tế bào miễn nhiễm và ruột cũng chế tạo ra tới 30 chất gọi là dẫn truyền thần kinh (neuro transmitter). Những cảm nghĩ, những suy tư, những thương yêu, những quyết định của ta nằm trong bụng rất nhiều. Giữa hai bộ óc có sự liên hệ rất mật thiết. Các họa sĩ ngày xưa khi nói có Bụt trong tâm thì nghĩ ngay đến tâm ở trong bụng, vì vậy một họa sĩ đã vạch bụng lên và chỉ cho thấy có một đức Bụt ở bên trong. Chúng ta có một trực giác mà ta chưa chứng minh được, nhưng có thể sau này khoa học với những khám phá, những tìm hiểu sẽ chứng minh được trực giác ấy của mình. Những tuệ giác như “Tất cả là một, một là tất cả”, “Cái một được làm bằng cái tất cả, cái tất cả nằm trong cái một”, những cái thấy như “phương ngoại”, “kiếp ngoại”, “vượt thoát thời gian, vượt thoát không gian”, “Niết bàn”, v.v… đều là trực giác do trí vô phân biệt truyền tới, trong khi đó khoa học chỉ sử dụng trí phân biệt. Đạo Phật là một kho tàng trí tuệ đạt được nhờ trực giác (vô phân biệt trí). Sau này vô phân biệt trí sẽ làm việc với phân biệt trí để chứng minh rằng: Từ ngày xưa đạo Phật đã nắm được những cái mà khoa học bây giờ mới bắt đầu thấy. Có những cái rất khó hiểu, khó tin đã trở thành đối tượng của niềm tin của ta như:

Trong hạt bụi có vô số Bụt

Mỗi vị an trú chúng hội mình

Đức tin của con vẫn tràn đầy

Trong mỗi hạt bụi của pháp giới

Cái vô cùng lớn nằm trong cái vô cùng nhỏ. Vì vậy cái ta muốn tìm, ta không cần tìm trong thời gian và không gian xa xôi, ta có thể tìm ngay trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Đó là những tuệ giác rất lớn trong đạo Bụt mà khoa học bây giờ bắt đầu cảm thấy. Khoa học lượng tử bây giờ giống như một nền triết học, bắt đầu gõ cửa bản thể để thấy được cái gọi là lặng lẽ, tức cái thế giới Niết bàn không sinh, không diệt, không này, không kia, vượt thoát thời gian và vượt thoát không gian.

Phải thay đổi mình trước

Khi có những đau khổ hay khó khăn ta đừng đổ lỗi cho hoàn cảnh hay cho người khác. Ta đau khổ là vì ta không tu, ta không thực tập hiểu và thương. Không phải tại người ta như vậy nên ta đau khổ, những người đổ lỗi cho người khác làm mình đau khổ là những người không tu. Ngồi đó đợi người ta thay đổi là chuyện không bao giờ có. Ta phải thay đổi mình trước, thay đổi bằng cách thực tập hiểu và thương. Người thế gian nghĩ hạnh phúc là có nhiều tiền bạc hay có nhiều quyền hành; nhưng là một người tu ta không nghĩ như vậy. Có nhiều tiền bạc, quyền hành có thể có rất nhiều đau khổ. Có hiểu và thương nhiều thì có hạnh phúc nhiều và không có đau khổ. Nếu ở đây mà ta không học được phương pháp làm lớn lên cái hiểu biết và cái thương yêu của ta thì ta ở đây chỉ vô ích. Ta chê người này, người khác; ta cho rằng sở dĩ ta không có được hạnh phúc là tại người này hay người kia. Ta ngồi ở đây đợi những người khác thay đổi cho ta có hạnh phúc trong khi ta không chịu làm công việc thay đổi chính mình.

Những đau khổ, những lề thói hành xử trong gia đình của ta ngày xưa, ta mang về đây và ta không chịu học hỏi để chuyển hóa. Sử dụng những tập khí đó để phán xét, chê bai, trách móc thì ta không thừa hưởng được sự có mặt của Làng Mai. Ta tới Làng Mai là để tu tập chứ không phải để chờ đợi người ta thay đổi cho ta có hạnh phúc. Ta tới đây để tu chứ không phải để đòi hỏi người này phải như thế này, người kia phải như thế kia. Tôi rất hạnh phúc khi thấy trong chúng có những người có tu, có hạnh phúc, có nụ cười, có chuyển hóa. Cũng có người chưa có hạnh phúc lắm vì họ tu còn dở. Ta cho họ cơ hội, thời gian và điều kiện, nhưng họ chưa biết sử dụng. Có những người về Làng Mai chỉ được năm, bảy ngày thôi mà họ rất hạnh phúc, đã chuyển hóa rất nhiều và đem sự chuyển hóa đó về cho gia đình. Nếu đã ở Làng Mai ba năm mà không chuyển hóa được là uổng cho ta và uổng cho Làng Mai.

Ta nhận được nhiều lá thư chia sẻ về sự chuyển hóa sau một thời gian thực tập tại Làng Mai. Một cô thiền sinh 25 tuổi ở xóm Mới viết một lá thư rất dài, nói về những khổ đau ngày xưa cô đã gánh chịu trong gia đình. Mẹ cô đã làm khổ cô, làm khổ ba cô và tự làm khổ mình như thế nào. Lúc còn nhỏ cô cứ nghĩ hạnh phúc là chuyện của ngày mai, sau khi mình thoát khỏi hoàn cảnh bây giờ. Lớn lên, đi học rồi đi làm, cô cũng có bạn trai, có chơi bời nhưng những đau khổ của cô vẫn không chuyển hóa được. Cô vẫn cảm thấy có sự trống rỗng trong lòng và không có khả năng xử lý được những đau khổ đó. Ngày xưa cô nghĩ sau này lớn lên mình sẽ thật sự có tự do. Bây giờ cô có thể đi chơi, có bạn trai nhưng cô vẫn không có khả năng hạnh phúc. Những giây phút chơi bời, đùa giỡn chỉ là để phủ lấp những niềm đau nỗi khổ trong lòng. Khi tới được Làng Mai cô bắt đầu thấy rằng hạnh phúc là có thể có được. Sự thực tập ở Làng Mai cho cô thấy sự sống đích thực có thể có được ngay bây giờ chứ không phải ở trong tương lai. Lần đầu tiên tiếp xúc với tăng thân cô thấy được tình thương, tình huynh đệ, tính tương tức, sự nâng đỡ lẫn nhau của những thành phần trong tăng thân, cái mà ngày xưa cô không bao giờ cảm thấy được trong gia đình. Cô đã tới Làng Mai nhiều lần. Cô đã bắt đầu giúp cho cha, cho mẹ, cho bạn bè. Sau một thời gian ở Làng Mai cô trở về với bạn bè ở vùng Bordeaux và thấy rất tội cho các bạn cô. Cô hy vọng với sự chuyển hóa của mình cô có thể giúp những người bạn thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của đau khổ.

Khi đọc được những lá thư như thế mình rất vui. Có những người thừa hưởng được sự thực tập ở Làng Mai, thừa hưởng được sự có mặt của tăng thân, của các thầy, các sư cô. Họ thấy rất rõ đây là con đường cho họ, đây là sự thật mỗi ngày: Đi ra đi vào, ngồi xuống, ăn cơm, lúc nào cũng có hạnh phúc, có năng lượng tập thể, có tình huynh đệ. Đây không phải là một hy vọng hay một niềm tin vào tương lai.

Lần đầu tiên cô thiền sinh cảm thấy được người ta lắng nghe và được người ta hiểu mình. Cô nói với ba cô là mùa hè cô sẽ về Làng Mai với ba. Ba cô rất mừng, ông không bao giờ tưởng tượng được chuyện đó có thể xảy ra, vì ngày xưa cô tuyệt đối chống đối với ba, cô không thể tìm sự an ủi, hạnh phúc và sự bình an nào mỗi khi nói chuyện hay nghĩ tới ba. Bây giờ cô đã nói chuyện được với ba cô. Đó là một thay đổi rất lớn.

Truyền thống dân chủ của Làng Mai

Trong các tu viện Cơ đốc giáo, các vị xuất gia sống theo ba nguyên tắc:

  • Sống nghèo (pauvreté), đạo Bụt gọi là an bần, tự nguyện sống đơn giản.
  • Phạm hạnh (chasteté hoặc chastity).
  • Vâng lời (obedience), không được cãi lại, người lớn nói sao thì phải nghe vậy, mẹ bề trên nói thì phải nghe theo mà không được đặt điều kiện.

Mùa đông năm 2004, chúng ta đã có ba tháng an cư tại tu viện Lộc Uyển. Chúng ta đã nghiên cứu giới luật của Phật giáo, Vinaya của Pháp Tạng Bộ, đồng thời chúng ta cũng nghiên cứu về giáo chế (code monastique) của dòng Benedictin và so sánh hai bên. Nếu quý vị muốn nghe thì có thể tìm những bài giảng đã được ghi lại trong băng đĩa.

Làng Mai được thừa hưởng truyền thống Tự tứ của đạo Bụt, thực tập lắng nghe và ái ngữ cho nên ta thực tập làm quyết định chung gọi là tác pháp yết ma. Tác pháp yết ma là lấy ý kiến và quyết định chung chứ không chỉ do vị viện trưởng hay vị trụ trì quyết định. Theo truyền thống đạo Bụt, những người thọ giới lớn được quyền tham dự tác pháp yết ma, những người chưa thọ giới lớn thì không được quyền có mặt. Những người thọ giới lớn là nòng cốt của tăng đoàn. Những người chưa thọ giới lớn, mới là sa di, sa di ni thì chưa có tư cách tham dự vào tác pháp yết ma. Nếu đã thọ giới lớn, dù chỉ mới thọ một ngày, cũng được tham dự vào tác pháp yết ma. Trước khi làm tác pháp yết ma chúng ta hỏi: “Quý vị đã tập họp đầy đủ chưa? Có sự hòa hợp trong đại chúng không? Những người chưa thọ giới lớn đã ra khỏi nơi này chưa?” rồi mới bắt đầu đưa ra lời tác bạch và hỏi ba lần. Nếu sau ba lần hỏi mà mọi người đều im lặng thì quyết định được chấp nhận. Từ 2.600 năm trước, trong đạo Bụt đã có dân chủ và các tu viện Phật giáo được điều hành trên thể chế dân chủ tác pháp yết ma.

Làng Mai duy trì tác pháp yết ma, trong buổi họp các vị tỳ kheo hoặc tỳ kheo ni quyết định tất cả. Làng Mai có Hội đồng giáo thọ gồm những vị đã được truyền đăng làm giáo thọ, những vị giáo thọ tập sự được tham dự các buổi họp của giáo thọ. Nhưng chúng ta nói rất rõ: Hội đồng giáo thọ không quyết định giùm cho Hội đồng tỳ kheo và tỳ kheo ni. Giáo thọ chỉ chuyên môn về chương trình tu học, những quyết định của Hội đồng giáo thọ phải được Hội đồng tỳ kheo, tỳ kheo ni chấp nhận thì mới có hiệu lực. Thầy và đại chúng luôn luôn nhắc rằng Hội đồng giáo thọ không đứng cao hơn Hội đồng tỳ kheo, tỳ kheo ni mà nằm trong Hội đồng tỳ kheo, tỳ kheo ni. Trong nếp sống xuất gia đó là pháp chế ngàn xưa từ thời Bụt. Làng Mai đã đi xa hơn, tuy các vị tỳ kheo, tỳ kheo ni quyết định nhưng mình cũng cho các em sa di, sa di ni và các vị cư sĩ được quyền phát biểu trước đó. Các vị tỳ kheo, tỳ kheo ni phải ngồi lắng nghe các em mình trước khi đi tới sự thực tập tác pháp yết ma. Đó là một tiến bộ rất lớn của Làng Mai. Trước đó sa di, sa di ni chỉ vâng theo (y giáo phụng hành). Tại Làng Mai các sa di, sa di ni được họp chung với nhau, nhiều khi được họp chung với các vị đã thọ giới lớn và được phát biểu cảm tưởng và ý kiến của mình.

Trong thể chế dân chủ của một nước, người được bầu làm dân biểu quốc hội được quyền bỏ phiếu trong quốc hội. Dân chúng có quyền phát biểu, tập họp, biểu tình, đưa ra đề nghị, nhưng người bỏ phiếu phải là dân biểu quốc hội. Thể chế đó tương đương như trong tu viện: những người thọ giới lớn được tác pháp yết ma nhưng các anh các chị thọ giới lớn cần ý kiến của các sadi, sadini, thức xoa. Là đàn em mình được khuyến khích giúp ý kiến cho các anh chị để họ có quyết định sát với nhu yếu của đại chúng. Vì vậy chúng ta có những buổi họp của sa di, sa di ni, những buổi họp của cư sĩ để nói lên cái thấy của mình. Căn cứ trên cái thấy đó các vị tỳ kheo, tỳ kheo ni sẽ đi tới quyết định cho toàn chúng.

Sau khi làm xong bổn phận của mình tức nói lên ý của mình rồi thì mình phó thác cho Hội đồng tỳ kheo, tỳ kheo ni quyết định. Khi đã có quyết định thì mình phải tuân theo, mình không thể phản đối vì đó là thể chế dân chủ. Khi Hội đồng đã quyết định thì mình phải chấp nhận. Chính các thầy, các sư cô trong Hội đồng tỳ kheo, tỳ kheo ni, dù không đồng ý hoàn toàn, cũng phải chấp nhận huống hồ là sa di, sa di ni hay cư sĩ. Nhưng mình luôn luôn học hỏi được thêm trong quá trình thực tập. Mình có thể thấy được: quyết định kia nếu chưa đáp ứng được lại trái tim của mình một cách hoàn toàn, có lẽ mình phát biểu còn hơi vụng về, mình chưa thuyết phục được các anh, các chị. Đôi khi các anh, các chị chưa thấy rõ được vấn đề, một phần tại vì mình không truyền đạt được đầy đủ cái thấy của mình. Mình tự trách mình mà không trách các anh, các chị trong Hội đồng tỳ kheo, tỳ kheo ni. Mình nghĩ lần sau mình sẽ làm hay hơn và mình sẽ giúp các anh, các chị làm hay hơn.

Quốc hội có thể đưa ra vài đạo luật không vừa ý dân, nhưng vì họ là dân biểu, họ đã đưa ra quyết định thì ta phải chấp nhận. Ta phải vận động dư luận, ta phải viết thư cho vị dân biểu mà ta đã bầu lên, ta phải viết bài trên báo, ta phải đưa kiến nghị, ta phải đi biểu tình bất bạo động để đề đạt ý của mình lên Quốc hội xin xem xét lại. Có thể trong kỳ họp tới, Quốc hội sẽ có những quyết định hay hơn.

Tôi rất hài lòng về cách làm việc của Làng Mai. Nhìn quanh các tu viện, các trung tâm tu học Phật giáo trên thế giới, ngay cả Việt Nam, tôi thấy chưa có nơi nào làm được như vậy, chưa có nơi nào mà các sa di, sa di ni, các cư sĩ được lắng nghe như vậy. Các em được quyền nói nhưng với điều kiện là phải nói lễ phép, phải dùng ái ngữ, không được trách móc, lên án. Ta có tập quán bị cha mẹ đàn áp ngày xưa, ta không bao giờ được phát biểu, giờ đây có cơ hội nên ta có thể làm thái quá. Ngày xưa cha mẹ ta không lắng nghe ta như các anh tỳ kheo và các chị tỳ kheo ni. Họ đã được thực tập lắng nghe và họ lắng nghe như vậy là hay lắm rồi. Ta còn đòi hỏi, trách móc gì nữa? Ta đã nói ra được những gì ta muốn nói, nói một cách thật mềm mỏng, dễ thương, rõ ràng. Vấn đề là ta được nói, được phát biểu, nếu quyết định không hoàn toàn như ta muốn thì ta phải kiên nhẫn đợi đến kỳ sau. Đứng về phương diện nguyên tắc cũng như phương diện thực tế ta cũng làm như vậy. Ta có những buổi họp sa di, sa di ni, thức xoa ma na để ta có thể đề đạt ý kiến, ta có thể viết thư cho các anh, các chị, ta có thể viết thư cho thầy, thầy cũng đọc thư và lắng nghe ta. Nếu trong đại chúng có một vài anh chị hơi thủ cựu, hơi muốn sử dụng quyền hành của người lớn thì đó cũng là chuyện rất thường.

Nếu ngoài xã hội có đảng bảo thủ và đảng tiến bộ thì trong chùa cũng có đảng bảo thủ dù trong đảng đó chỉ có một hay hai người. Nhưng để đối phó với đảng bảo thủ ta có Hội đồng tỳ kheo, tỳ kheo ni quyết định theo đa số. Không phải vì một hay hai người đó mà ta chịu chết. Trong gia đình thì ba má muốn làm gì thì làm và mình phải chịu. Nhưng một hay hai người bảo thủ sẽ không làm gì được vì các vị tân tỳ kheo, tân tỳ kheo ni cũng có quyền tương đương với họ. Ta có bổn phận, có phương tiện để thực hiện tuệ giác, ước mong của ta. Tôi rất vui và rất hãnh diện vì chúng ta đã làm được như vậy. Tôi đã từng đi thăm những trung tâm tu học và nhiều tu viện khác, tôi tin rằng với cơ cấu, kinh nghiệm và tinh thần truyền thống của mình, nếu chấp hành nghiêm chỉnh thì hạnh phúc của mình sẽ rất lớn. Càng ngày chúng ta càng học hỏi được thêm, cái hiểu và thương của ta sẽ tiến bộ và hạnh phúc của ta sẽ rất lớn. Ta đừng theo tập khí của ngày xưa. Ta tới đây để tập nhận diện tập khí của ngày xưa. Tập khí đó đã có thể làm tan nát gia đình của ta, tại sao ta lại còn muốn đem nó vào trong chùa. Trách móc, lên án, nói lời không dễ thương, không có tình, không có nghĩa, đó có thể là tập khí của ta khi ta chưa đi xuất gia, bây giờ đi tu thì ta phải thay đổi.

Nhiều nhóm người Tây phương có ý định thành lập những trung tâm tu tập do người cư sĩ lãnh đạo. Đó là điều tôi rất mơ ước. Nếu tại các tu viện các vị xuất gia làm được thì tại các trung tâm tu học cho người cư sĩ, người cư sĩ cũng làm được. Nhiều nhóm người bên Mỹ, bên Âu châu đã đứng ra tổ chức được những trung tâm tu học. Họ cũng đã gặp rất nhiều khó khăn. So với những khó khăn của họ thì những khó khăn của các thầy, các sư cô Làng Mai rất nhỏ. Hiện nay chúng ta có một số trung tâm do các vị cư sĩ điều động. Nếu quý vị không bằng lòng với cách thức của Làng Mai thì có thể đến các trung tâm đó để nếm thử xem người cư sĩ thực tập điều động trung tâm như thế nào. Nếu mà ta không biết thừa hưởng chế độ tự do thì ở đây cũng chỉ vô ích. Hạnh phúc của ta là do sự thực tập mà có. Ngồi đợi người khác phải thế này thế kia thì không bao giờ ta có được hạnh phúc. Tập khí lâu đời ngày xưa mà ta chưa chuyển hóa được thì đi đâu ta cũng không có hạnh phúc.

Tăng thân của ta vẫn còn khuyết điểm và chưa được toàn hảo. Nhưng vấn đề không phải là có một tăng thân toàn hảo, vấn đề là ta có thực tập hay không? Dù cho ta đang có nhiều khuyết điểm, nhưng nếu ta đang thực tập thì cái đó đã đủ cho ta có được hạnh phúc, đủ cho ta hãnh diện về tăng thân của mình. Câu hỏi ta phải đặt ra cho mình là ta có đang thực tập hay không, ta đang thực tập để hiểu và thương hay không hay ta chỉ ngồi đó mà trách người này, người kia?

Xin đại chúng hãy sử dụng cơ cấu tổ chức của mình để giải quyết mọi vấn đề. Các sa di, sa di ni, thức xoa ma na hãy ngồi họp với nhau về hạnh phúc và về sự tu tập của mình. Các vị cư sĩ cũng ngồi lại soi sáng cho nhau để nhìn lại sự tu tập và hạnh phúc của mình. Quý vị có thể nói ra với các thầy, các sư cô trong Hội đồng giáo thọ. Các thầy, các sư cô cũng có những buổi họp hạnh phúc với các sa di, sa di ni. Ta có đủ các pháp môn để làm hạnh phúc cho tăng thân, vấn đề là ta có chịu làm hay không. Nếu có tu tập thì sự nhẹ nhàng và cái an vui của mình có thể giúp được cho tăng thân trưởng thành một cách mau chóng. Nếu ta đau khổ, khó chịu thì không bao giờ ta đóng góp được vào công trình giúp tăng thân chuyển hóa.

Những sản phẩm Làng Mai hiến tặng cho Việt Nam

Các đức Thế Tôn, các bậc đạo sư đều có ước mong, có lý tưởng thành lập một tăng thân trong đó có hòa điệu, có tình huynh đệ để làm chỗ nương tựa cho không biết bao nhiêu người và ngay cả cho vị đạo sư. Các vị Bụt, các vị Bồ tát, các vị tổ sư đều làm như vậy. Là người xuất gia hay người tại gia ta cũng rất muốn thành lập những tăng thân để làm chỗ nương tựa cho nhiều người. Nhưng thành lập như thế nào nếu ta không tu, không biết ái ngữ, không nhận diện được những tập khí của ta, ta để nó vung vãi ra làm khổ mình và những người chung quanh, và như thế ta không giúp gì được cho tăng thân.

Làng Mai cũng có chia sẻ với các chùa, các đạo tràng trong nước về 30 năm kinh nghiệm của Làng Mai trong việc xây dựng tăng thân. Tăng thân Làng Mai không phải là một tăng thân đơn văn hóa. Chúng ta đã tới từ những nền văn hóa rất khác nhau. Trong tăng thân Làng Mai có nhiều văn hóa khác nhau, từ cách ăn uống cho tới cách hành xử. Nhưng nói một cách tương đối, trong tăng thân Làng Mai có đủ tình huynh đệ, có đủ hạnh phúc để nuôi dưỡng thầy và tăng thân. Đó là một sự thành công. Ở Việt Nam chúng ta đã chia sẻ những kinh nghiệm rất cụ thể mà chúng ta đã có về việc xây dựng tăng thân. Những kinh nghiêm đó không phải là những lý thuyết ta có về công trình xây dựng tăng thân. So với mấy chục thiên uy nghi cũ thì 41 thiên uy nghi mới trong cuốn “Bước tới thảnh thơi” có thể nói là giàu có và đầy đủ hơn nhiều. Những thiên uy nghi mới có được không phải do sự nghiên cứu mà do sự cọ xát trong sống đời sống hàng ngày và những kinh nghiệm học hỏi trong tăng thân. Đó là những kinh nghiệm thật của mình để chia sẻ với tăng thân ở quê nhà.

Sám pháp địa xúc là một phép thực tập rất hay, nó rất phù hợp với tuổi trẻ, với thời đại mới. Sám pháp địa xúc cũng là một sản phẩm chúng ta hiến tặng cho các đạo tràng ở Việt Nam trong chuyến đi sắp tới.

Quyền uy tinh thần do sự hành trì mà có

Vấn đề không phải là ta có yếu kém hay không mà ở chỗ ta có đang thực tập để chuyển hóa những yếu kém đó hay không? Sự thực tập của ta phải được biểu lộ qua sự hành trì giới luật và uy nghi.

Là một sa di ta hành trì 10 giới sa di và có các pháp uy nghi sa di thì ta trở thành một sa di đích thực. Vị trí và quyền hạn của ta không nằm ở danh từ sa di mà nằm ở bản chất sa di. Giới và uy nghi rất quan trọng. Người xuất gia và người cư sĩ khác nhau ở chỗ đó. Người cư sĩ có thể giỏi hơn người xuất gia về phương diện học hỏi, nhưng nếu không thọ năm giới thì người cư sĩ vẫn không có chỗ đứng trong tăng thân. Những người thọ 14 giới có chỗ đứng khác, những người thọ giới sa di có chỗ đứng khác và những người thọ giới tỳ kheo có chỗ đứng khác. Không phải vì sự thọ giới mà vì sự hành trì giới nên ta có chỗ đứng khác nhau. Nếu thọ giới tỳ kheo mà ta không thực tập đúng, ta phạm giới thì ta cũng không có địa vị đó, ta bị biệt trú, không được dự tác pháp yết ma. Không phải danh từ tỳ kheo hay tỳ kheo ni cho ta một chỗ đứng mà chính sự hành trì giới luật cho ta chỗ đứng. Không phải người xuất gia có quyền hơn người tại gia, không phải người thọ 14 giới có quyền nhiều hơn người thọ năm giới. Đây là quyền uy tinh thần do sự hành trì mà có chứ không do các danh từ như Tiếp Hiện, sa di hay tỳ kheo mà có được. Chính sự hành trì giới và uy nghi cho ta một uy đức.

Có những người không xuất gia nhưng rất hạnh phúc, có khi họ còn hạnh phúc hơn cả những người xuất gia. Hạnh phúc của họ không phải nương vào hình thức xuất gia mà nương vào tăng thân tu tập mà có. Người xuất gia không thực tập, không an trú, không hạnh phúc với giới luật và uy nghi thì người đó không hạnh phúc bằng người tại gia. Có người tại gia hạnh phúc và người tại gia không hạnh phúc. Cũng vậy, có người xuất gia hạnh phúc và người xuất gia không hạnh phúc. Người xuất gia được khép vào trong kỷ luật, bị bắt buộc phải thực tập đàng hoàng vì vậy người xuất gia có lợi thế hơn là một khi đã đi thì đi luôn không thể quay lui trở lại. Chính nhờ bị khép vào quy củ mà ta có thể chuyển hóa các tập khí của ta được, người nào chịu được quy củ thì có tiến bộ, người nào chịu không được thì phải văng ra.

Định đề 38

 

Thực chất của Tịnh độ và Niết bàn vượt thoát không gian và thời gian. Thực chất của vạn pháp cũng đều như thế.

The reality of the Pure Land or Nirvāṇa transcend both space and time. The reality of everything else is exactly the same.

Chúng ta cảm thấy định đề này quen thuộc vì chúng ta đã học hai định đề tương tự như vậy, đó là định đề thứ nhất và thứ hai: 1 – Không gian không phải là một pháp vô vi. 2 – Đứng về phương diện tích môn các pháp đều là hữu vi, đứng về phương diện bản môn tất cả các pháp đều là vô vi.

Tịnh độ và Niết bàn không phải là những thực tại khách quan

Chúng ta phải cẩn thận khi đọc định đề 38. Có người khi nghe nói đến Tịnh độ hay Niết bàn thì nghĩ ngay rằng đây là những tạo tác của tâm ý của những người theo tôn giáo. Những người theo tôn giáo tạo tác ra Thượng đế hay Thiên quốc, Niết bàn hay Tịnh độ. Đó là những cái không có trong thực tại khách quan bên ngoài. Những người không có đức tin, không có đời sống tâm linh thường có khuynh hướng cảm thấy tội nghiệp những người chạy theo những cái không có thật, những cái do tâm ý tạo tác ra như thiên đường, Tịnh độ, Niết bàn. Họ nghĩ: “Họ tin vào những cái bâng quơ như Tịnh độ, Niết bàn, Thiên quốc, Thượng đế. Đúng thật là duy tâm!”.

Duy tâm theo họ nghĩ có nghĩa là do tâm ý tạo tác ra. Họ tội nghiệp những người có một đức tin về tôn giáo. Nhưng họ không biết rằng trong truyền thống mà chúng ta đang thực tập, chúng ta cũng nghĩ như họ: Tịnh độ hay Niết bàn là do tâm. Nhưng Tịnh độ và Niết bàn không chỉ là những tạo tác của tâm ý. Nếu cho Tịnh độ và Niết bàn là những thực tại khách quan có mặt ở bên ngoài tâm ý thì chúng ta mới bị vướng vào những tạo tác của tâm ý. Nhưng chúng ta không nghĩ như vậy, chúng ta không cho Tịnh độ và Niết bàn là những cái khách quan có thật ở bên ngoài và cái ý thức chủ quan của ta ở bên trong. Trong chúng ta có những người có thể tiếp xúc được với Tịnh độ và Niết bàn, và Tịnh độ hay Niết bàn đó không còn là một ý niệm về một thực tại ở bên ngoài ta mà là cái ta có thể sờ mó, kinh nghiệm được ngay bây giờ trong đời sống. Đối với những người này thì câu nói mỉa mai: “Ôi, các ông chỉ mơ mộng tới những chuyện đâu đâu không có thật” thì không có ảnh hưởng gì đến họ vì Tịnh độ, Niết bàn ấy đã là đối tượng của kinh nghiệm.

Cũng có người nghĩ rằng Tịnh độ, Niết bàn, Thiên quốc là một cái gì có thật ở bên ngoài và sau khi ta chết đi, thân xác ta tan hoại rồi thì ta mới đi đến đó. Như vậy, Tịnh độ, Niết bàn hoặc Thiên quốc đó đang nằm trong một không gian khác và cũng đang nằm trong thời gian ở tương lai.

Tịnh độ và Niết bàn là phi thời và phi xứ

Nhưng những người đã từng có kinh nghiệm về Tịnh độ và Niết bàn biết rằng Tịnh độ và Niết bàn không nằm trong khuôn khổ của thời gian và không gian. Họ thấy được thực chất của Tịnh độ và Niết bàn là phi thời và phi xứ. Phi thời là non-temporal, not the matter of time (akalika). Phi thời có thể được dịch là thời ngoại hoặc kiếp ngoại. Phi xứ được dịch là xứ ngoại hay phương ngoại. Trong bài “Phóng cuồng ca” của Tuệ Trung Thượng Sĩ có câu: Chống gậy rong chơi chừ phương ngoại phương. Ngài chống gậy đi chơi ở cõi gọi là phương ngoại phương (trời phương ngoại) tức ở không gian nằm ngoài không gian. Sen nở trời phương ngoại là sen không nở trong thời gian và không gian. Thời gian và không gian là do tâm mình tạo tác.

Khi đi thiền hành quý vị có thể rong chơi trong thời gian: ta có một giờ đồng hồ tức 60 phút để đi thiền hành. Quý vị đi thong thả, nếm từng bước chân an lạc. Ta được đi với thầy, được bước những bước thảnh thơi với thầy, ta rất hạnh phúc. Ta đang rong chơi trong thời gian và không gian vì ngày mai có thể thầy tịch rồi và ta không được đi chơi với thầy nữa. Dù ta đang có hạnh phúc, ta đang được đi với thầy nhưng ta vẫn còn ở trong thời gian và không gian. Ta chưa đi được ở phương ngoại và trong kiếp ngoại. Ngày xưa thầy Trúc Diệp có làm một bài thơ ca ngợi Đản sanh: Hoa lòng nở nở, hoài trong kiếp ngoại. Nở trong kiếp ngoại là nở ngoài thời gian, nở ngoài thời gian thì hoa không thể nào tàn.

Nếu là bậc cao nhân, bậc có căn cơ lớn thì trong khi đi thiền ta có thể lọt ra khỏi thời gian và đi trong kiếp ngoại, ta có thể lọt ra khỏi không gian và đi trong phương ngoại. Chống gậy rong chơi chừ phương ngoại phương, Tuệ Trung Thượng Sĩ chống gậy đi chơi và ông đã đi chơi ra khỏi thời gian và không gian. Ông đã nếm được cái bất tử, nếm được Niết bàn. Ta thấy ông đang đi trong không gian và thời gian và ta có thể đi chơi với ông, nhưng thật ra ta đang đi trong cõi khác và ông đang đi trong cõi khác, đó là cõi kiếp ngoại.

Khoa học lượng tử hiện nay dùng danh từ non-local nói rằng thực tại của những lượng tử là non-local. Ta không thể đem một lượng tử nhốt vào khung không gian và thời gian. Một lượng tử có thể có mặt một lần ở đây và ở chỗ khác, đó là thực tại của một lượng tử. Tất cả những nhà khoa học nổi tiếng trong khoa học lượng tử như W. Newman đều nói: The reality of a quantum should be non-local. (Cái thực chất của một lượng tử không mang tính cục bộ địa phương). Một lượng tử mà còn như vậy huống hồ là Tịnh độ hay Niết bàn.

Những người mới tu học thường nghĩ rằng Tịnh độ nằm ở phía Tây, nằm trong không gian và khi chết rồi thì ta mới sang được bên đó. Trong khi đó các vị tổ sư, các vị thầy dạy chúng ta:

Tịnh độ vốn sẵn nơi chân tâm

Di Đà hiện ra từ tự tánh

Đức Di Đà không phải là một thực tại nằm trong không gian và thời gian. Đức Di Đà là một thực tại siêu việt không gian và thời gian. Đó là giáo lý duy tâm Tịnh độ tức Tịnh độ trong tâm. Tịnh độ trong tâm thì không thể nào tìm được trong không gian và thời gian. Trong “Nghi thức cầu siêu” thỉnh thoảng chúng ta thấy những câu rất hay:

Tây phương không xa cách

Tây phương trước mặt người

Ngàn sông về biển lớn

Trăng lặn không lìa trời

Những câu ấy có nghĩa là Tịnh độ không phải ở đâu xa, Tịnh độ ở trước mặt chúng ta. Trăng đêm có lặn nhưng vẫn ở trong trời. Quý vị có thể tìm những câu đó ngay trong “Nhật tụng thiền môn 2000”. Biết được tính chất của Tịnh độ là phi thời (kiếp ngoại) và phi xứ (phương ngoại) thì ta có thể tiếp xúc với Tịnh độ ngay trong giây phút hiện tại. Có điều rất lạ là trong khi nghiên cứu về lượng tử thì các nhà khoa học cũng tìm ra được sự thật: Bản chất của các lượng tử là phi thời gian và phi không gian (siêu việt thời gian và không gian). Thực chất của Tịnh độ và Niết bàn cũng vậy, là non-local và non- temporal.

Nắm tay Bụt rong chơi trời phương ngoại

Trong kinh Pháp Hoa có một phẩm nói về thọ mạng của các vị Bụt. Ta nghĩ Bụt sinh ra, ở lại đời chừng 80 năm để giáo hóa rồi Ngài ra đi, không còn nữa. Kinh Pháp Hoa mở cho chúng ta thấy thọ mạng của chư Bụt là vô lượng. Không những thọ mạng của đức Di Đà là vô lượng mà thọ mạng của đức Thích Ca cũng vô lượng. Cái thấy của chúng ta về Bụt không đúng, ta nghĩ Bụt được sinh ra, lớn lên, lập gia đình, đi xuất gia, thành đạo, đi giáo hóa rồi nhập Niết bàn, tất cả chỉ trong vòng 80 năm. Đó chưa phải là thọ mạng của Bụt, thấy như vậy thì ta chưa thấy được Bụt thật. Đọc phẩm Thọ mạng của Bụt trong kinh Pháp Hoa chúng ta khám phá ra rằng: Đức Thích Ca chưa bao giờ lìa chúng ta. Nếu chân chúng ta biết bước vào trời phương ngoại, thì chúng ta có thể gặp được Ngài và cùng nắm tay Ngài đi chơi. Đó không phải chuyện nói chơi vì trong chúng ta có những người đã làm được như vậy, đã bước vào được trời phương ngoại và cầm tay ba mẹ, ông bà, các tổ sư và Bụt đi chơi. Đó là nhờ công phu tu tập. Những người đó chỉ mỉm cười khi nghe nói Tịnh độ và Niết bàn là những tạo tác của tâm ý vì Tịnh độ và Niết bàn là những cái họ đang sống và đang tiếp xúc được.

Ta có thể đi qua núi Thứu và leo lên núi với đức Thế Tôn. Ta nghĩ ta đang sống trong không gian và thời gian của Bụt, Bụt với ta đang ở chung. Bụt đang leo núi Thứu với ta, nhưng có thể Bụt đang ở trong phương ngoại còn ta đang ở trong phương nội. Ta đi thiền hành với thầy, ta tưởng ta đang đi với thầy nhưng đôi khi thầy đang đi ở phương ngoại còn ta lại đang đi trong phương nội. Nếu đi được trong phương ngoại với thầy thì sau này khi thầy tịch ta sẽ không khóc vì ta không thấy thầy đã mất. Vì vậy khi đi với thầy ta cũng tập bước được vào khung trời phương ngoại.

Bốn ý niệm cần phải lấy đi

Trong kinh Kim Cương chúng ta thấy có bốn ý niệm ta cần phải ấy ra khỏi đầu mình:

  1. Khái niệm về ngã, về ta
  2. Khái niệm về nhân, về con người
  3. Khái niệm về chúng sinh
  4. Khái niệm về thọ mạng

Khái niệm về ngã

Những người đọc kinh Kim Cương không hiểu, tưởng ngã là ta, còn nhân là người khác. Chữ nhân ở đây có nghĩa là con người, con người đối lại với những loài khác như loài cầm thú, cỏ cây, đất đá. Cái ngã ở đây đối lập với cái phi ngã. Nhìn cha, ta thấy cha là một người khác và ta là một người khác, ta có ý niệm con là một thực tại đối lập với cha, hai thực tại không dính gì với nhau. Đó là ý niệm cố chấp về ngã cần phải lấy đi. Ta phải thấy được con là sự nối tiếp của cha đứng về phương diện tương lai và cha là sự nối tiếp của con đứng về phương diện quá khứ. Ngã đối với phi ngã, khi thấy ngã và phi ngã không thể tách rời nhau thì ta lấy ra được ý niệm về ngã.

Khái niệm về nhân

Con người (nhân) đối với những gì không phải con người (phi nhân) tức các loài động vật, thực vật, khoáng vật. Con người không khác với những gì không phải con người vì nếu không có những loài khác thì sẽ không có con người. Con người do các loài khác sanh ra trên con đường tiến hóa, vì vậy nhìn vào con người ta thấy các loài khác. Chữ nhân không có nghĩa là người khác, mà có nghĩa là con người và ngược lại với con người là những loài khác như cầm thú, cỏ cây, đất đá. Chúng ta phải lấy đi các ý niệm con người và không phải con người vì con người không thể tồn tại nếu không có những loài khác, con người không phải là một thực tại biệt lập.

Người Á Đông ngày xưa có quan niệm tam tài, tức thiên (trời), địa (đất), nhân (người), con người đứng giữa trời và đất. Quan niệm “thiên, địa, nhân” được biểu hiện trong triết học cũng như trong nghệ thuật. Nghệ thuật cắm hoa Ikebana quan niệm bình hoa phải có ít nhất là ba cành tượng trưng cho thiên, địa và nhân. Cắm hoa trong truyền thống Á Đông phải có ba yếu tố thiên, địa, nhân. Nếu không có trời đất thì làm gì có người, cho nên ta phải lấy đi quan niệm có con người độc lập với những loài khác.

Khái niệm về chúng sinh

Chúng sinh (living beings) tức là các loài hữu tình, tiếng Anh là sentient beings, loài hữu tình đối lập với loài vô tình.

Quan niệm loài hữu tình có thể tồn tại độc lập ngoài loài vô tình là một quan niệm sai lầm. Các loài hữu tình cũng từ các loài vô tình mà ra, ta không thể lấy cái vô tình ra khỏi cái hữu tình. Hữu tình và vô tình tương tức, cái hữu tình chứa cái vô tình và cái vô tình chứa cái hữu tình, vì vậy chúng ta cần lấy đi cái quan niệm về chúng sinh.

Khái niệm về thọ mạng

Quan niệm về thọ mạng cho rằng Bụt chỉ sống 80 năm và ta cũng sống khoảng 70, 80 hay 90 năm. Nhưng thọ mạng của Bụt là vô lượng. Ban đầu chúng ta nói thọ mạng của Bụt là vô lượng nhưng sau ta nói thọ mạng của ta cũng là vô lượng. Ý niệm về thọ mạng (life span) căn cứ trên ý niệm về thời gian. Trong vòng thời gian có một điểm ta sinh ra (điểm sinh), có một điểm ta chết đi (điểm tử) và thọ mạng của ta được đo từ điểm sinh tới điểm tử, trước đó không có ta và sau đó ta không có, từ vô ta đi tới hữu, rồi sau đó lại đi tới vô.

Thọ mạng của Bụt không như vậy, thọ mạng của Bụt là vô lượng. Và sau đó ta thấy: Không những thọ mạng của Bụt là vô lượng mà thọ mạng của ta đây cũng là vô lượng và thọ mạng của đám mây cũng là vô lượng. Đám mây vô sinh vô diệt, vì vậy tự tính của đám mây kia cũng là tự tính Niết bàn. Đám mây không cần bay về Niết bàn vì nó đang an trú trong Niết bàn. Ta không cần phải đi tìm Niết bàn, ta đang an trú trong Niết bàn, cũng như đợt sóng không cần đi tìm nước, nó đang là nước. Đợt sóng không cần đi tìm nước, ta không cần đi tìm Tịnh độ hay Niết bàn. Ta đang ở trong Tịnh độ, trong Niết bàn mà ta không biết. Ta đi tìm. Mà hễ có đi tìm thì có sự phân biệt giữa người đi tìm (chủ thể) và vật đi tìm (đối tượng).

Thực chất của Tịnh độ và Niết bàn vượt thoát không gian và thời gian, thực chất của tất cả sự vật đều như vậy. Bụt có thọ mạng vô lượng, con người hay đám mây hay một lượng tử cũng có thọ mạng vô lượng. Giả dụ chúng ta có vé máy bay, ta bay sang Tịnh độ của đức Di Đà. Đức Di Đà với các vị Bồ tát ra đón và ta lập tức tham dự vào buổi thiền hành. Đức Di Đà đang nắm tay đức Quan Âm và đức Thế Chí đi thiền hành, ta sung sướng đi theo. Ta nghĩ ta đang đi trong khung trời của Bụt, nhưng có ngờ đâu lúc đó Bụt đang đi trong trời phương ngoại còn ta lại đang đi trong trời phương nội.

Tiếp xúc với bản môn

Thầy trò, huynh đệ được sống với nhau rất hạnh phúc, nhưng nếu ta không tiếp xúc sâu thì hạnh phúc đó cũng vô thường, ngày mai nó sẽ không còn nữa. Nếu ta biết sống cho sâu thì trong tích môn ta tìm được bản môn, trong đợt sóng ta tìm được nước. Tìm được nước rồi thì vấn đề “có hay không có sóng” không còn quan trọng. Vì vậy trong khi thầy trò ngồi thiền hay đi thiền với nhau ta phải tiếp xúc được bản môn để cái giây phút đó trở thành thiên thu. Và tích môn không phải là cái gì tồn tại độc lập với bản môn. Tiếp xúc cho sâu sắc thì tích môn trở thành bản môn, tiếp xúc với sóng cho sâu sắc là tiếp xúc được với nước. Tiếp xúc được với nước rồi thì sóng lớn hay sóng nhỏ, sóng này hay sóng kia không còn quan trọng nữa.

Các nhà khoa học sử dụng những dụng cụ đo lường và diễn tả bằng ngôn từ toán học của họ. Chúng ta là những người tu, chúng ta thực chứng bằng pháp môn, bằng tâm của mình. Ngồi xuống là ta vận dụng hơi thở để tiếp xúc với thân và tâm, đi sâu vào thực chất của bản thân và hoàn cảnh để thấy rõ được rằng: Ban đầu ta có mặt ở trong thời gian và không gian, nhưng sau đó ta phá vỡ được cái khung không gian và thời gian, đi được vào trong phương ngoại và kiếp ngoại. Đó là phần thưởng quý giá nhất của sự tu tập để không uổng một đời tu. Có được một người tu tập thành công như vậy thì thế giới sẽ giàu có và sẽ đẹp hơn rất nhiều.

Định đề 37

 

Phép tu căn bản của đạo Bụt Nguyên thỉ là phép tu Niệm Xứ có công năng nhận diện, chuyển hóa tập khí và làm thành tựu viên mãn bảy giác chi và tám chánh đạo. Các pháp thiền quán Đại thừa kể cả thiền tổ sư cần được thỉnh thoảng trở về tắm trong dòng suối Nguyên thỉ ấy để đừng đánh mất cốt tủy của Phật pháp.

The basic practice of original Buddhism is the Four Domains of Mindfulness which has the function to recognize and transform the habit energies and fully realize the Seven Factors of Enlightenment and the Noble Eightfold Path. The Mahāyāna practice of meditation including the Zen of the patriarchs needs from time to time to go back to take a bath in Source Buddhism in order not to lose the essential Teaching of Buddhadharma.

Trong thời của đức Thế Tôn kinh Niệm Xứ cũng như kinh Quán Niệm Hơi Thở được các thầy và các sư cô học thuộc lòng như chúng ta học thuộc lòng chú Lăng Nghiêm hay kinh Di Đà bây giờ. Trong thế kỷ thứ 19, 20 người tu chúng ta thường học thuộc lòng hai kinh này. Có người học thuộc chú Lăng Nghiêm trong một tuần, có người phải học trong sáu tháng, nhưng tất cả đều phải học thuộc lòng. Trong thời của đức Thế Tôn, các thầy và các sư cô, thông minh nhiều hay thông minh ít, đều phải học thuộc lòng kinh Anapanasatisutta vì đó là sách gối đầu giường của người xuất gia.

Niệm Xứ là phép tu căn bản của đạo Bụt Nguyên thỉ

Trong khi nghiên cứu chúng ta thấy trong thời đức Thế Tôn các thầy, các sư cô không thuộc lòng kinh Di Đà hay chú Lăng Nghiêm mà thuộc lòng kinh Niệm Xứ. Khi có người sắp chết, dù người đó là người tại gia hay người xuất gia thì các thầy, các sư cô cũng đọc kinh Niệm Xứ cho người sắp qua đời. Có thể người sắp qua đời đó cũng đã học thuộc lòng và có hành trì rồi nhưng làm chưa trọn vẹn. Nếu có thể nghe kinh lần cuối thì người đó có cơ hội để thực tập và chết một cách thanh thản, giải thoát. Có người đã nắm được cơ hội cuối cùng đó, nghe kinh thì nắm lấy thực tập liền và chỉ nội trong nửa ngày là chứng đạt được. Chúng ta không nên chờ đến giờ ấy mới làm như vậy. Trong khi còn có tháng rộng năm dài thì ta phải lo làm cho xong.

Kinh Niệm Xứ dạy chúng ta quán niệm những gì xảy ra trong bốn lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực của thân tức quán chiếu hình hài của ta. Hơi thở của ta cũng thuộc về hình hài cho nên quán niệm hơi thở cũng thuộc về niệm xứ. Ta bắt đầu bằng hơi thở và đi vào trong lĩnh vực của hình hài vì hình hài có liên hệ đến tâm. Tâm sẽ không biểu hiện được nếu không có hình hài, cũng như hình hài không biểu hiện được nếu không có tâm. Hình hài và tâm là hai cái không thể tách rời ra được, giống như mặt trái và mặt phải của đồng Euro, mặt trái không thể có nếu không có mặt phải.

Trong đạo Bụt không có quan niệm lưỡng nguyên về thân và tâm, thân không phải là cái gì biệt lập với tâm và tâm không phải là cái gì biệt lập với thân. Tâm dựa vào thân mà biểu hiện, thân cũng dựa vào tâm mà biểu hiện. Đó là cái thấy bất nhị, non-dualism. Khi quán niệm về hình hài là ta đã bắt đầu tiếp xúc được với tâm rồi. Ta không đợi quán niệm hình hài xong rồi mới đi ngang qua lĩnh vực của tâm. Ta chia ra lĩnh vực đầu là lĩnh vực của thân (hình hài), lĩnh vực thứ hai là lĩnh vực của cảm thọ mà cảm thọ là thân mà cũng là tâm. Lĩnh vực thứ ba là tâm, tức những tâm hành. Có 51 tâm hành mà tâm hành nào cũng dính tới thân, từ tâm hành giận cho đến tâm hành đam mê, thương yêu. Ta tưởng thương hay ghét là do tâm, gọi là tâm thương ghét, nhưng nếu không có thân thì cũng không thể thương ghét được. Chất adrénaline rất liên hệ tới cái giận và cái lo của ta. Không có thân thì không thể buồn, giận, lo lắng. Vì vậy tâm liên hệ tới thân, hai cái nương nhau mà thành lập. Chúng ta phải học để thấy có thân trong 51 tâm hành. Tâm nhẹ nhàng giúp cho thân nhẹ nhàng và thân nhẹ nhàng giúp cho tâm nhẹ nhàng. Hơi thở thuộc về thân, buồng phổi thuộc về thân, hai chân thuộc về thân. Nhưng nếu chúng ta biết sử dụng hơi thở, buồng phổi và hai chân mà thực tập thì sự nhẹ nhàng an ổn của thân tạo ra sự nhẹ nhàng an ổn của tâm và sự nhẹ nhàng an ổn của tâm giúp cho thân được trị liệu và nuôi dưỡng. Phép tu Niệm Xứ ôm cả thân và tâm gọi là thân tâm nhất như (the non-dualistic nature of body and mind).

Ở Trung Quốc, Đại Hàn, Việt Nam, Nhật Bản, chúng ta đã thực tập thiền tổ sư, thực tập những công án, những thoại đầu và có nhiều thế kỷ chúng ta không chịu trở về tắm lại trong dòng suối Nguyên thỉ. Vì vậy chúng ta có thể đánh mất cái tinh túy của một thứ thiền mà chính đức Thế Tôn và các đệ tử của Ngài, nam cũng như nữ, đã thực tập trong thời đó. Lịch sử cho chúng ta biết trong thời đức Thế Tôn, ai cũng thực tập Niệm Xứ, kể cả đức Thế Tôn. Nếu trong thời đại này chúng ta không thực tập Niệm Xứ thì chúng ta không làm giống như tăng đoàn Nguyên thỉ. Thực tập Niệm Xứ là đem hết cả thân và tâm vào sự thực tập, thực tập bằng hai chân, bằng lỗ tai, bằng hai mắt, bằng trái tim, bằng buồng phổi, bằng hơi thở chứ không chỉ thực tập bằng tâm. Cái gọi là thói quen, tập khí cũng không hẳn chỉ là tâm mà cũng là thân vì tập khí cũng nằm trong thân.

Nhờ có chánh niệm mà chúng ta nhận diện ra tập khí xấu và tập khí tốt. Nhận ra tập khí tốt thì ta vui mừng và thực tập để nó càng ngày càng mạnh. Thói quen mỗi khi nghe chuông dừng lại để thở, thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười, là một tập khí tốt. Thói quen mỗi khi bực mình không nói gì hết và trở về với hơi thở là một tập khí tốt. Tu tập là để tạo ra những tập khí tốt và chuyển hóa những tập khí xấu. Những tập khí này không chỉ là của tâm mà còn là của thân. Khoa học có thể chứng minh những tập khí đó được khắc vào trong vỏ não của chúng ta. Tài nghệ chơi dương cầm không phải từ mười ngón tay mà từ nơi vỏ não mà ra. Chơi tennis hay, chơi nhạc hay, múa hay vừa là tập khí của tâm vừa là tập khí của thân. Kinh Tứ Niệm Xứ nói rõ: Tu tập Tứ Niệm Xứ sẽ đi tới trong sự thành tựu được Bảy yếu tố của sự giác ngộ (Thất bồ đề phần) và Bát chánh đạo.

Trong Bát chánh đạo có chánh kiến, tức cái thấy đúng, chính xác, cái thấy cho ta tiếp xúc được tự tính vô thường, vô ngã, tương tức. Chánh kiến làm căn bản cho chánh tư duy, không có chánh kiến thì không có chánh tư duy. Thực tập chánh tư duy là khởi lên những tư tưởng có năng lượng của sự hiểu biết, tha thứ, hòa giải, thương yêu. Khi phát khởi được một tư tưởng đi đôi với chánh kiến, đi đôi với hiểu và thương thì tự nhiên ta thấy khỏe. Tư tưởng đó có công năng trị liệu thân và tâm của ta. Nếu tư tưởng của ta thảnh thơi, nhẹ nhàng, không có lo lắng thì thân ta sẽ nhẹ nhàng và được trị liệu. Nếu ta cứ lo lắng, buồn khổ, giận hờn, bức xúc thì những tư tưởng đó làm hình hài ta càng ngày càng nặng nề thêm.

Nói xong một câu nói có chất liệu chánh ngữ, ta thấy khỏe, ta thấy nói ra được câu đó rất hay, vì nó có khả năng tha thứ, hiểu, chấp nhận và thương được người kia. Đó là chánh ngữ có khả năng trị liệu thân và tâm. Người kia cảm thấy hạnh phúc và ta cũng cảm thấy hạnh phúc.

Nhiều khi ta không cần đi bác sĩ uống thuốc, ta chỉ cần ngồi đó, nói ra những điều lành thì thân tâm ta cũng được nuôi dưỡng bởi những điều lành đó. Những hành động săn sóc, thương yêu, bảo hộ cũng có tính cách nuôi dưỡng và trị liệu. Đó là bốn phần đầu của Bát chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ và chánh nghiệp. Tu tập chánh niệm làm thành tựu Bát chánh đạo, vì vậy đạo Bụt Nguyên thỉ nằm ở Tứ niệm xứ, Thất bồ đề phần và Bát chánh đạo. Đó là dòng suối Nguyên thỉ mà các thầy, các sư cô trong thời đức Thế Tôn đã thực tập theo.

Trở về dòng suối nguyên thỉ

Làng Mai cũng muốn thực tập theo đó vì vậy ta đã mang đạo Bụt Đại thừa, Tịnh độ tông, Thiền tông, Chân ngôn tông (Mật tông) về tắm lại trong dòng suối Nguyên thỉ, tức Niệm Xứ. Ta có trì chú, làm đám chay và cúng thí thực. Nghi thức thí thực cô hồn thuộc về trì chú, Tâm Kinh Bát Nhã, chú Đại bi cũng là một thần chú. Đạo Phật Việt Nam có Mật tông (Chân ngôn tông), Tịnh độ tông, Thiền tông và Làng Mai đem tất cả về tắm lại trong dòng suối Nguyên thỉ. Sự thực tập ở Làng Mai không bao giờ đánh mất cái tinh túy của Phật pháp vì chúng ta đã biết trở về dòng suối Nguyên thỉ ấy.

Thiền tổ sư chú trọng về công án, thoại đầu. Chúng ta tham cứu những công án như “Tổ Bồ Đề Đạt Ma đi qua Đông độ có mục đích gì?” hay “Tất cả quay về cái một, vậy cái một quay về cái gì?”(Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ?) hoặc “Thế nào là tiếng vỗ của một bàn tay?” hay “Con chó có Phật tánh hay không?”. Thực tập công án chúng ta có thể đi lạc nếu không biết trở về tắm lại trong dòng thiền Nguyên thỉ.

Làng Mai dù theo Thiền nhưng vẫn thực tập Tịnh độ. Nhờ thực tập Niệm Xứ chúng ta có thể biết Tịnh độ có thể có mặt trong giây phút hiện tại. Tịnh độ cũng như Thiên quốc là một cái gì không cục bộ, nó mang tính phương ngoại, tức là nằm ngoài không gian. Tịnh độ không có vị trí trong không gian, Tịnh độ ở ngay trong tâm của mình (duy tâm Tịnh độ). Tại Làng Mai, khi đi thì mỗi bước chân phải đi vào Tịnh độ. Chúng ta không đợi đến khi hình hài tan rã rồi mới đi về Tịnh độ. Trái lại, trong đời sống hàng ngày chúng ta phải bước được vào trong Tịnh độ, chúng ta duy trì bước chân trong Tịnh độ. Như vậy Đại thừa trong Tịnh độ tông được trở về tắm trong dòng thiền Nguyên thỉ, tức Niệm Xứ. Tại Làng Mai, Thiền và Tịnh độ không chống đối nhau, chúng có thể đi đôi với nhau một cách tuyệt hảo với sự thực tập hiện pháp lạc trú, hiện pháp Niết bàn (DrstadharmaNirvāṇa). Niết bàn cũng như Tịnh độ có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Tịnh độ tông của chúng ta đã được trở về tắm trong dòng thiền Nguyên thỉ.

Làng Mai không ngồi mơ tưởng một Niết bàn, một Tịnh độ, một nước Chúa trong tương lai, chúng ta phải nếm, phải tiếp xúc với cái đó ngay trong giây phút hiện tại. “Thiên quốc là ở đây, nếu không có bây giờ thì sẽ không bao giờ có” (The Kingdom of God is now or never), đó là một sự thách đố rất lớn. Ta có cơ hội để tiếp xúc với Bụt, với Tịnh độ, với Niết bàn ngay trong giây phút hiện tại nếu ta có niệm, có định. Làm được thì ta có hạnh phúc liền, ta không cần trốn chạy cái bây giờ và ở đây. Ta chấp nhận cái bây giờ và ở đây và tìm cái ta muốn tìm ngay bây giờ và ở đây.

Thiền mà chúng ta tiếp nhận từ các vị tổ sư như Vân Môn, Tào Động hay Lâm Tế, ta cũng đưa về tắm ở dòng thiền Nguyên thỉ. Ngay trong Lâm Tế Lục ta cũng đã khám phá ra câu: Bước chân trên mặt đất là thể hiện thần thông (Địa hành thần thông), tức mỗi bước chân đều là phép thần thông, bước trong giây phút hiện tại, tiếp xúc được với Tịnh độ, mỗi bước chân có tự do, thảnh thơi, giải thoát. Đem Thiền trở về với dòng suối Nguyên thỉ thì chắc ăn, chúng ta không bay bổng trên vòm trời lý thuyết siêu hình, hai chân của chúng ta luôn chấm đất. Sự thực tập của chúng ta ở đây không có tính cách siêu hình lý thuyết mà rất thực tế. Sự giải thoát an lạc nằm ngay trong thân và tâm của mình, ngay ở đây trong giây phút hiện tại. Những gì ta muốn tìm đang có ngay trong giây phút hiện tại, trong đó có giải thoát, giác ngộ, niềm vui, hạnh phúc, Tịnh độ hay Niết bàn.

Mật tông là Chân ngôn tông, chân ngôn là những câu linh chú. Tại Làng Mai chúng ta có bốn câu linh chú, bây giờ ta có thêm câu linh chú thứ năm. Nếu ai đến Làng Mai mà chưa biết bốn câu linh chú thì nên tìm học ngay vì chúng có hiệu quả liền lập tức. Một câu chân ngôn là một câu phát xuất từ định. Khi thân, miệng, ý hòa hợp thì chữ nào, câu nào phát ra cũng đều là chân ngôn. Ta phát ra một câu bằng tất cả trái tim, tất cả hình hài của ta và tam nghiệp kết đọng lại thành một khối. Trong trạng thái hùng mạnh đó, bất cứ câu nào nói ra đều trở thành chân ngôn.

Vừa rồi báo Giác Ngộ có viết qua một câu hỏi nhờ tôi trả lời:

  • Tại sao Thiền sư lại tổ chức Trai đàn chẩn tế vốn là một sinh hoạt của Mật tông, hay là Thiền sư đã thay đổi phương pháp tu?

Tôi đã trả lời báo Giác Ngộ như sau:

  • Thiền có công năng trị liệu và chuyển hóa. Thiền phải có niệm, định và tuệ. Nếu không có niệm, định, tuệ thì làm sao có Thiền? Khi có niệm ta biết được những gì đang xảy ra trong lòng ta và chung quanh ta. Cái ta thấy đang xảy ra là nỗi oan khổ của đồng bào đã trải qua một cuộc chiến tranh rất lâu dài. Có hàng trăm ngàn chiến sĩ đã bỏ mình trên nhiều nẻo đường đất nước và có nhiều vị hài cốt chôn vùi không biết ở đâu. Khí oan đó còn ở người chết và ở người sống. Có những gia đình người Hoa Kỳ đã trông ngóng và hy vọng tìm ra được hài cốt của những thân nhân họ đã bị chôn vùi ở Việt Nam. Chính quyền Hoa Kỳ đã bỏ ra rất nhiều tiền để thuê người tìm những hài cốt đó. Ở Việt Nam cũng có hàng trăm ngàn chiến sĩ chết trên rừng núi, trên chiến trường mà hài cốt không tìm ra được. Hàng triệu người đã chết vì bom đạn, 13 triệu tấn bom đã dội xuống đất nước cùng bao nhiêu chất độc hóa học, ba bốn triệu người đã chết vì bom đạn. Khi bỏ đất nước ra đi để tìm một tương lai cho con cháu thì hàng trăm ngàn thuyền nhân đã thiệt mạng trên biển cả và làm mồi cho cá. Những vết thương đó vẫn còn đó trong đất nước, trong dân tộc và những oan khổ đó vẫn còn rất lớn. Nếu chúng ta làm lơ thì những vết thương kia sẽ không bao giờ được chữa trị, chúng sẽ truyền lại cho những thế hệ tương lai và hận thù vẫn tiếp tục. Tổ chức một trai đàn chẩn tế giải oan là để công nhận niềm đau nỗi khổ đó, đưa nỗi oan khổ đó từ chỗ chôn vùi nơi tiềm thức lên trên vùng ánh sáng của ý thức. Đó là Thiền. Những lời cầu nguyện từ trái tim đã được nói lên, hay những câu chân ngôn đã được tụng lên. Một khi những nỗi khổ niềm đau của ta đã được công nhận, thì tự nhiên chúng sẽ được nhẹ đi và được chuyển hóa. Những lời kinh được đọc trong Đại trai đàn chẩn tế là để công nhận và cầu nguyện giải trừ chính những nỗi oan khổ đó. Đó là những chân ngôn có khả năng trị liệu, làm lành những vết thương trong lòng đất nước và dân tộc.

Điều này rất quan trọng! Tất cả các gia đình của những đồng bào tử nạn trong và ngoài nước đã cùng thực tập chung. Những người không hiểu tưởng rằng sự cầu nguyện này là mê tín. Người hiểu được thì thấy rằng đây là một phép tâm lý trị liệu rất sâu sắc: Công nhận những nỗi khổ đó và đưa chúng lên trên vùng ánh sáng chánh niệm, cùng phát ra những lời nguyện cầu đồng tâm đồng ý với nhau gọi là những chân ngôn. Những chân ngôn đó có khả năng chuyển hóa và trị liệu những vết thương trong lòng người, người đã qua đời cũng như người đang còn sống và đang còn gánh chịu.

Trong lá thư viết cho ông Chủ tịch nước tôi nói: Nếu Ngài chủ tịch nước đến tham dự được buổi lễ dâng hương bạch Phật cho Đại trai đàn chẩn tế giải oan thì đó là một sự đóng góp rất lớn cho sự trị liệu và chuyển hóa những vết thương của đất nước và dân tộc. Trong thời đại Lý Trần các vua đã làm như vậy: Sau khi thống nhất lãnh thổ các vua tìm cách để thống nhất lòng người. Lòng người có thống nhất thì mới có đủ sức mạnh để bảo vệ quê hương đất nước. Sự phát triển về kỹ thuật, kinh tế trên đà toàn cầu hóa sẽ tạo ra rất nhiều tệ nạn xã hội. Nếu không có sự đồng tâm đồng ý, nếu còn nhiều vết thương, hận thù, chia rẽ thì ta không có khả năng bảo vệ quê hương đất nước trong giai đoạn rất quan trọng này của lịch sử.

Dưới cái nhìn đó, Trai đàn chẩn tế tuy có thể có hình dáng là Mật tông, nhưng cũng có chất liệu Thiền vì Thiền có khả năng nhận diện, chuyển hóa và trị liệu.

Trong Trai đàn chẩn tế chúng ta đã kêu gọi mọi gia đình ở Việt Nam và ở hải ngoại, trong ba ngày Trai đàn chẩn tế, thiết lập một bàn thờ vong linh trước hiên nhà. Trên trang nhà Làng Mai có sẵn những bài vị bằng chữ Hán, ta có thể tải xuống in lên giấy đỏ để thiết lập bàn thờ. Trên bàn thờ ta cúng dường một văn bản về Tam quy ngũ giới cùng hương hoa, cháo trắng, nước trong và mỗi ngày ta nhớ thay cháo, thay nước. Ta có thể tải xuống văn bản cầu nguyện trên trang Làng Mai. Nếu ở xa ta không thể đến tham dự trực tiếp Trai đàn nhưng ta có thể tải xuống những nghi thức đó để nghe và tụng theo.

Trong suốt ba ngày đó, lòng dân đã hướng về một hướng, cùng cầu nguyện cho tất cả những người không may đã qua đời một cách oan ức trong thời gian của cuộc chiến. Đây là một sự thực tập rất khoa học đứng về phương diện sử học cũng như tâm lý học. Trai đàn chẩn tế giải oan không phải là sự mê tín. Đó là một sự thực tập rất khoa học để chuyển hóa và trị liệu những vết thương âm thầm, lâu ngày của đất nước và của dân tộc mà mỗi người chúng ta đều có mang trong lòng.

Như vậy ngay chính Mật tông cũng đã được đưa về tắm trong dòng thiền Nguyên thỉ. Vào thế kỷ thứ ba, ở Việt Nam thiền sư Tăng Hội đã chú giải kinh An Ban Thủ Ý, và cũng đã phiên dịch và chú giải những kinh thiền Nguyên thỉ trong khi Phật giáo mà Ngài giảng dạy và thực tập là Phật giáo Đại thừa. Như vậy việc đưa Phật giáo Đại thừa về tắm trong dòng suối Nguyên thỉ đã được thiền sư Tăng Hội thực hiện vào đầu thế kỷ thứ ba, cách đây khoảng 1.800 năm. Vì vậy Làng Mai đem Thiền tông, Tịnh độ tông, Mật tông về tắm trong dòng suối thiền Niệm Xứ thì cũng là chuyện bình thường và đó cũng chỉ là công việc tiếp nối công trình mà tổ sư Tăng Hội đã thực hiện cách đây 18 thế kỷ.

Định đề 36

 

Ý thức nhờ sự thực tập giới, định, tuệ mà có thể học hỏi và chuyển tải xuống những kinh nghiệm tuệ giác của mình cho tàng thức, và giao cho tàng thức trách nhiệm làm chín muồi và biểu hiện những hạt giống tuệ giác đã có sẵn trong nó.

With the practice of mindfulness, concentration and insight, Mind consciousness can learn and download its insights to Store consciousness and leave Store consciousness to do the work of maturation and then manifest the seeds of wisdom that are already innate in Store consciousness.

Chữ chín muồi ngày xưa gọi là thục. Những hạt giống của tuệ giác đã có sẵn, phải có những điều kiện để những hạt giống đó lớn lên, già dặn ra, chín muồi và trở thành hoa trái của hạnh phúc. Chữ chuyển xuống trong định đề 36 chứng tỏ giữa ý và tàng có sự liên hệ rất mật thiết. Năm thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân chuyển trực tiếp vào tàng thức những kinh nghiệm theo lề lối vô thức. Nhưng khi đi ngang qua ý thức, thì nhờ sự thực tập giới, định, tuệ mà những kinh nghiệm đó được chuyển xuống một cách có ý thức, nghĩa là ý thức giao cho tàng thức những công tác thật sự. Ví dụ như khi thầy giao cho ta một công án để quán chiếu thì phải có sự truyền thông giữa thầy và ta. Cũng giống như thế, ví dụ khi ý thức giao cho tàng thức một trách nhiệm như “Sáng mai mình phải dậy sớm để ra phi trường!” thì sáng mai ta có cơ duyên thức dậy sớm. Thường thì tàng thức nghe theo lời của ý thức như người làm vườn đào một cái lỗ trong vườn và gieo vào đó một hạt giống, mấy ngày sau nhờ sự tưới tẩm và sức ấm mà hạt đó nảy mầm. Công án thầy giao cho ta quán chiếu giống như một hạt giống. Mỗi ngày ta đi thiền, ngồi thiền, quán chiếu giống như ta đang tưới tẩm một hạt giống. Nhờ công phu đó hạt giống kia nẩy mầm. Lúc đi, lúc đứng, lúc nằm, lúc ngồi, ta ý thức được hạt giống đang có đó. Có thể ta không dùng tư duy, nhưng tàng thức làm việc giống như đất, nó ấp ủ, nuôi nấng, làm chín hạt giống đó và một ngày nào đó tự nhiên ta thấy được mà không cần phải có tư duy, có tầm từ.

Ý thức phát hiện từ tàng thức

Những cái thấy về vô thường, vô ngã, tương tức, về sự ích lợi của khổ đau được tải xuống tàng thức và giao cho tàng thức trách nhiệm làm chín muồi rồi phát hiện toàn diện những tuệ giác đã có sẵn trong đó. Trong định đề này có một chi tiết ta phải để ý: Ta thấy giống như là ý thức chuyển tuệ giác xuống cho tàng thức, nhưng thật ra ý thức cũng từ tàng thức mà biểu hiện. Tàng thức là căn bản của ý thức, ý thức được sinh ra từ tàng thức. Nhờ sự quán chiếu mà ta đạt được tuệ giác, nhưng những tuệ giác vô thường, vô ngã, tương tức đã là những hạt giống có sẵn trong tàng thức. Nhờ chúng vốn có sẵn nên giới – định – tuệ mới khám phá ra được chúng. Phật tính, giác ngộ, vô sinh bất diệt có sẵn dưới dạng những hạt giống. Ý thức và tàng thức liên minh với nhau để nhận diện ra những hạt giống và làm cho chúng lớn lên, già dặn, chín muồi và phát hiện một cách toàn diện. Khi những hạt giống đó biểu hiện ra thì chúng sanh trở thành Phật. Hạt giống của Phật đã nằm trong chúng sanh. Không những Mạt na mà ý thức cũng biểu hiện từ tàng thức.

Giáo lý đạo Bụt là sự hướng dẫn tu tập để chuyển hóa

Những kiến thức về Duy Biểu học, những cái thấy về Mạt na, ý thức và tàng thức không phải là một môn tâm lý học mà là những chỉ dẫn cần thiết cho sự tu tập của mình. Đạo Phật không có mục đích trình bày một nền tâm lý học, mục đích của đạo Phật là hướng dẫn cho ta tu tập để chuyển hóa khổ đau và trong khi hướng dẫn tu tập thì cái thấy về tâm được biểu hiện ra. Thiền sư Thường Chiếu đời Lý Trần nói: Nếu chúng ta biết được một ít về sự vận hành của tâm thức thì sự tu tập của ta sẽ dễ dàng hơn. Vì vậy học Duy Biểu rất có ích lợi cho sự tu tập của ta. Không nên học Duy Biểu như học một nền tâm lý học để làm thỏa mãn sự tò mò của ta mà học để giúp cho ta tu tập có được kết quả tốt.

Trong khi hướng dẫn tu tập chuyển hóa, giáo lý của đức Thế Tôn cũng có nói đến thiên nhiên, vũ trụ, nói về sắc, thọ, tưởng và hành. Trong sự tiếp nhận phương pháp tu tập để chuyển hóa thì đồng thời chúng ta cũng tiếp nhận cái thấy của Bụt về thiên nhiên, về thế giới, về vật thể. Nhưng như vậy không có nghĩa đạo Phật là một khoa học về thiên nhiên, đạo Phật trước hết là một sự hướng dẫn tu tập để chuyển hóa và trong khi hướng dẫn thì phải đề cập tới những vấn đề đó. Đạo Phật không phải là khoa tự nhiên học hay khoa tâm lý học, nhưng qua giáo lý chúng ta biết được cái thấy của đạo Bụt về tự nhiên học, về cơ thể học và về tâm lý học.