Lễ xuất gia cây Xô Thơm Trắng ( White Sage) ngày 06.09.2020
Vừa qua, tại thiền đường Thái Bình Dương (tu viện Lộc Uyển- Hoa Kỳ) đã diễn ra buổi lễ xuất gia cho gia đình cây Xô Thơm Trắng (White Sage). Tuy có những khó khăn và thử thách trong thời điểm dịch bệnh nhưng với tâm Bồ Đề dũng mãnh và chí nguyện “hiểu thương”, các sư em đã được biểu hiện rất màu nhiệm trong gia đình áo nâu. Tăng thân đã gửi gắm niềm tin và tình thương nơi các sư em qua những cái tên: Chân Trời Minh Niệm, Chân Trời Minh Định, và Chân Trời Minh Lực.
Kính mời đại chúng cùng thưởng thức một vài hình ảnh của buổi lễ, cùng chia sẻ những niềm hạnh phúc với các sư chú và tăng thân.
Cuộc cách mạng của tình thương
Satish Kumar
(Trích từ buổi chia sẻ của Satish Kumar ngày 6-11-2019 tại xóm Hạ, Làng Mai trong tuần lễ tu học dành riêng cho các nhà hoạt động về môi trường)
Satish Kumar sinh năm 1936 tại Ấn Độ và hiện đang sống ở Anh. Ông từng là một tu sĩ theo Kỳ Na giáo (Jainism) và là một nhà hoạt động cho hòa bình. Ông đã từng thực hiện hành trình đi bộ cho hòa bình dài hơn 8,000 dặm trong hai năm 1973 – 1974, từ New Delhi đến Moscow, Paris, London và Washington DC để kêu gọi các cường quốc giải trừ vũ khí hạt nhân. Ông hiện đang là Tổng biên tập của tạp chí Resurgence & Ecologist – một trong những tạp chí có uy tín về môi trường ở Anh. Đây là công việc mà ông đã đảm đương trong 40 năm qua. Satish Kumar còn là người sáng lập Schumacher College với mong muốn tạo môi trường cho những người trẻ đến với nhau để nghiên cứu sâu về môi trường sinh thái, trong mối liên hệ với kinh tế học và tâm linh.
Trong buổi chia sẻ tại xóm Hạ, Làng Mai, thầy Pháp Lai – trong vai trò người dẫn chương trình – đã hỏi Satish Kumar: “Hiện nay, ở nhiều nơi trên thế giới, thế hệ trẻ đang phải đối diện với nhiều thử thách lớn. Các em tức giận khi thấy tương lai của mình đang bị đánh cắp vì cách vận hành của xã hội hiện nay. Có thể nói đó là một sự tức giận chính đáng. Các em nói: ‘Có thể quý vị sẽ chết vì tuổi già, nhưng chúng tôi thì sẽ chết vì biến đổi của khí hậu’. Dĩ nhiên là chúng ta có thể thấy được trong câu nói ấy hàm chứa một nỗi sợ hãi. Là một nhà hoạt động vì hòa bình và môi sinh, ông có lời khuyên hay lời động viên, khuyến khích nào dành cho những người trẻ đang phải đối diện với một tương lai đầy bất trắc như vậy?”.
Dưới đây là phần chia sẻ của Satish Kumar đã được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh.
Giận là một loại năng lượng. Mãnh lực của cơn giận làm cho ta kiệt sức và nó chỉ có thể tồn tại trong một thời gian ngắn. Sức mạnh của tình thương, trái lại, có tính bền bỉ. Giận và sợ liên quan mật thiết với nhau. Mãnh lực của sợ hãi sẽ làm người khác hoảng sợ, trong khi đó sức mạnh của thương yêu sẽ gây cảm hứng và mang tới sự chuyển hóa. Những người trẻ như Greta Thunberg¹ rất tuyệt vời, và tôi hoàn toàn yểm trợ cô ấy. Cô ấy chính là một nữ anh hùng vĩ đại của thời đại chúng ta.
Phong trào Extinction Rebellion – tạm dịch là “Nổi loạn chống tuyệt chủng”, một phong trào tranh đấu vì môi sinh, cũng diễn ra trên căn bản của tình thương. Tôi muốn nói với những người trẻ, những học sinh đang biểu tình, các chiến binh đang hoạt động cho môi sinh và những nhà bảo vệ trái đất: chúc mừng các bạn, các bạn làm hay lắm. Nhưng, xin các bạn hãy hành động với sức mạnh của thương yêu.
Nếu các bạn nhìn lại lịch sử của chúng ta, các bạn sẽ thấy rằng tất cả những thay đổi có tầm vóc lịch sử đều do các nhà lãnh tụ đã lãnh đạo phong trào tranh đấu bằng tình thương. Đó là cựu Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela với 27 năm bị giam cầm, Thánh Gandhi, Mục sư Martin Luther King, Thầy,… Bạn có thể đi ngược dòng lịch sử để thấy điều này. Tất cả những thay đổi lớn lao đã xảy ra trên thế giới: chế độ nô lệ, chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc, kỳ thị phụ nữ,… đã chấm dứt. Tất cả những thành tựu đó đều là nhờ sức mạnh của tình thương và một cam kết lâu bền. Bạn không thể nào trông đợi kết quả đến ngay lập tức vào ngày mai khi hôm nay bạn mới bắt đầu xây dựng phong trào.
Người trẻ có thể tức giận và nói: “Quý vị sẽ chết vì tuổi già, nhưng chúng tôi sẽ chết vì biến đổi khí hậu”. Đó là một câu nói đầy sức mạnh. Nhưng, các lãnh tụ trẻ tuổi, các nhà hoạt động cho môi sinh, các nhà bảo vệ trái đất và các học sinh biểu tình thân mến của tôi, xin hãy nhớ rằng thậm chí tổ tiên của chúng ta, những người đã chết trong chiến tranh Việt Nam, họ chết đâu phải vì tuổi già, mà vì chiến tranh do con người gây ra. Hoặc chết trong chiến tranh thế giới thứ hai, trong các trại tập trung, hoặc do nghèo đói. Lịch sử loài người vừa bi thảm, vừa tuyệt vời và vinh quang. Và đó là thực trạng của con người.
Vâng, chúng ta hãy đến cùng nhau, nắm tay nhau và tôi sẽ vào tù với tinh thần của Thánh Gandhi: “Vào tù như cô dâu, chú rể đi vào phòng cưới”. Vâng, tôi sẽ vào tù với bạn. Nhưng không có lý do gì để chúng ta phải nổi giận. Tình cảnh đã như vậy rồi. Nhưng sự thay đổi vẫn có thể diễn ra. Xã hội công nghiệp hóa này, nền công nghiệp gây ô nhiễm, phung phí, bóc lột này đã do con người tạo ra trong thời gian ba, bốn trăm năm trở lại đây. Cái gì đã được con người tạo ra cũng có thể được con người thay đổi.
Từ xã hội săn bắt hái lượm, chúng ta đã trở thành một xã hội nông nghiệp. Từ nông nghiệp, chúng ta tiến lên xã hội công nghiệp. Giờ đây, nếu tất cả chúng ta, với sức mạnh của tình thương, nắm tay nhau, đi chung với nhau, cùng hành động, cùng vào tù với nhau, cùng làm bất cứ cái gì cần thiết, chúng ta sẽ tạo ra một nền văn minh thân thiện với môi sinh (ecological civilisation) dựa trên nền tảng thương yêu, từ bi, chánh niệm, thiền định, sẻ chia và quan tâm chăm sóc cho nhau. Có thể chúng ta sẽ không hoàn hảo, và có thể chúng ta sẽ không bao giờ có được một thế giới hoàn hảo, bởi vì chúng ta là con người với những đặc tính rất con người. Trong chúng ta ai cũng có một chút giận, một chút sợ. Chúng ta là con người. Chúng ta phải ôm ấp, chấp nhận sự không hoàn hảo của mình. Thế nhưng, một tương lai có sự hòa điệu, bền vững và có sức hồi sinh rất đáng để chúng ta đầu tư tâm lực của mình.
Nhưng nếu các bạn hành động dựa trên sự tức giận, sợ hãi và tuyệt vọng thì sẽ chẳng giải quyết được vấn đề gì. Bạn có thể tuyệt vọng, nhưng nó sẽ không gây cảm hứng hoặc cho bạn thêm năng lượng.
Vì vậy, tôi khẩn thiết kêu gọi các nhà hoạt động môi trường đang hành động với sự tức giận và sợ hãi hãy nên nhìn sâu, như Thầy đã nói, và nhìn vào bức tranh tổng thể. Khi bạn nhìn vào tổng thể, bạn sẽ thấy được sức mạnh của thương yêu, bạn sẽ thấy Chúa Jesus, Bụt, Thánh Francis, Mahatma Gandhi,… Tất cả những tấm gương mà ta thấy đó, ta phải đem vào lòng để có thể nói rằng, vâng, chúng ta đang cùng đi trên một hành trình, và chúng ta sẽ tiếp tục đi tới, tiếp tục làm hay hơn, hay hơn nữa. Đây là một cam kết lâu dài, một cam kết suốt đời. Không phải vì tôi muốn mọi sự thay đổi vào ngày mai mà tôi đòi hỏi nó sẽ diễn ra ngay ngày mai. Chẳng hạn tôi mong muốn mọi người ăn chay trường, không ăn trứng hoặc sữa và đến sống ở Làng Mai. Những cái đó sẽ không xảy ra vào ngày mai. Tôi ước gì nó xảy ra, nhưng nó sẽ không xảy ra. Tôi phải thực tế, nhưng đồng thời tôi cũng phải có ước mơ, có lý tưởng. Vì vậy tôi là một người theo chủ nghĩa duy tâm thực dụng. Tôi khẩn thiết kêu gọi tất cả những người cấp tiến trên thế giới. Vâng, tôi ủng hộ các bạn, tôi cũng cấp tiến như các bạn, nhưng động lực thúc đẩy tôi không phải là sự sợ hãi, cũng không phải là sự tức giận, mà là tình thương. Và tôi muốn có một cuộc cách mạng của tình thương!
Chú thích:
¹ Greta Thunberg : (sinh năm 2003) là một nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển. Quyết định bỏ học vào mỗi thứ Sáu của Greta Thunberg để đơn độc ngồi trước tòa nhà Quốc hội Thụy Điển cùng tấm biển có thông điệp “Bãi khóa vì khí hậu” (tiếng Thụy Điển: “Skolstrejk för Klimatet”) đã khởi đầu cho phong trào “Fridays for Future” (“Những thứ Sáu vì tương lai”) hiện đang thu hút sự tham gia của đông đảo học sinh, sinh viên trên thế giới.
Mối tình tri kỷ
Năm mươi năm đã trôi qua kể từ khi Mục sư King bị ám sát1, nhưng những nỗ lực vận động cho hòa bình cũng như tình tri kỷ thâm sâu giữa Sư Ông Làng Mai và Mục sư King đáng để cho chúng ta ôn lại, học hỏi và tiếp nối hạnh nguyện của chư vị.
Kẻ thù chúng ta không phải con người
Sư Ông và Mục sư King gặp nhau vào lúc các Ngài đang ở vào một thời điểm then chốt trong cuộc đời của mỗi người. Hai Ngài đều là những nhà trí thức ưu tú, những nhà lãnh đạo tâm linh và cũng là những nhà hoạt động xã hội đi đầu trong các phong trào bất bạo động, tranh đấu cho một sự thay đổi toàn diện giữa bối cảnh bạo động đang leo thang tại đất nước của các Ngài. Các Ngài đều phải đối diện với những nguy cơ đe dọa, đàn áp và những hoàn cảnh hiểm nguy. Với lòng nhân bản, tâm từ bi, khả năng lãnh đạo và sự tương kính lẫn nhau, các Ngài đã dung nhiếp được cả hai phong trào hòa bình cho dân tộc Việt Nam và nhân quyền cho đất nước Mỹ thành một. Cuộc tao ngộ của hai tâm hồn siêu việt này đã góp phần chuyển hướng dòng chảy của lịch sử.
Tất cả bắt đầu vào ngày 1 tháng 6 năm 1965, khi Sư Ông đặt vấn đề trực tiếp với Mục sư King trong một lá thư ngỏ (open letter) với nhan đề “Đi tìm kẻ thù của con người”2. Lá thư được gửi đi chỉ vài tuần trước khi Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson quyết định bước sâu hơn vào chiến trường Việt Nam và khẳng định sự tham gia toàn diện của Mỹ vào cuộc chiến bằng cách tuyên bố rằng “sức mạnh chiến đấu củ Mỹ” sẽ được tăng cường ngay lập tức từ 75,000 đến 125,000 nhân lực, và sẽ tiếp tục được gia tăng nhiều hơn nữa trong tương lai.3
Trong hoàn cảnh gay go đó, mặc dù đã có sự giằng co trong lương tri của Ngài, nhưng trong lời tự thuật sau này, Mục sư King – người được nhận giải Nobel Hòa bình năm 1964 – nói rằng Ngài đã “không xuống đường, không giăng biểu ngữ, không vận động những cuộc biểu tình”4. Vì Ngài tin rằng, cuộc chiến đẫm máu sẽ mau chóng chấm dứt nếu người Mỹ thay vì tham gia vào cuộc chiến và kéo dài các sự tranh cãi, chuyển sang tham dự các cuộc đàm phán về ngưng chiến và hòa bình. Chiến lược của nhà lãnh đạo nhân quyền lão thành trong giai đoạn đó là “đóng vai im lặng” và âm thầm thúc đẩy, vận động cho hòa bình qua các cuộc đàm phán.
Trong bức thư ngỏ gởi Mục sư King, Sư Ông muốn giải thích cho các bạn Ki-tô giáo Tây phương “hiểu được tường tận ý nghĩa” về sự tự thiêu của bốn thầy và một sư cô vào mùa hè năm 1963, bắt đầu bằng sự hy sinh của Hòa thượng Thích Quảng Đức. Sư Ông khẳng định những hành động đó không phải là tự tử, cũng không phải là một sự tuyệt vọng hay phản kháng, mà là những hành động dũng cảm cao tột, đầy chất liệu thương yêu của Đại Từ, Đại Bi mang niềm tin và hy vọng cho những gì tốt đẹp sẽ đạt được trong tương lai. Những vị ấy đã sẵn sàng hy sinh sự sống của mình vì lợi ích của cả dân tộc trong lúc toàn bộ Phật giáo bị kỳ thị và đàn áp dã man do chế độ Ngô Đình Diệm áp đặt tại miền Nam Việt Nam.5
“Thưa Mục sư”, Sư Ông viết cho Mục sư King, “tôi tin với tất cả tâm hồn tôi rằng trong lúc tự thiêu, các vị tăng sĩ Việt Nam không nhắm đến cái chết của những kẻ đàn áp tàn bạo mà chỉ nhắm đến sự thay đổi của chính sách họ. Kẻ thù của các vị tăng sĩ kia không phải là con người. Kẻ thù của họ là cuồng tín, là độc tài, là tham lam, là giận dữ, là kỳ thị – những thứ này nằm sâu trong lòng người.
“Tôi cũng tin chắc rằng cuộc đấu tranh vận động cho bình đẳng và tự do mà Mục sư lãnh đạo ở Birmingham, Alabama,… không nhắm đến sự chống báng người da trắng mà chỉ nhắm đến sự chống báng kỳ thị, giận dữ, độc ác. Những cái này vốn là những kẻ thù đích thực của con người, chứ không phải là con người.
“Nơi tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng tôi, mỗi ngày chúng tôi đều gào thét một cách tuyệt vọng: Xin đừng giết con người, dù là nhân danh con người. Hãy giết kẻ thù đích thực của con người – những kẻ thù này hiện hữu khắp nơi, trong trái tim và khối óc mỗi người”.6
Quý vị không thể giữ im lặng
Sư Ông chia sẻ tiếp cho Mục sư King biết rằng vô số những người nông dân và trẻ em Việt Nam đã bị tàn sát bi thảm trong cuộc chiến tàn khốc kéo dài trên 20 năm. “Tôi biết chắc rằng bởi vì Mục sư đã từng dấn thân vào một cuộc tranh đấu cam go nhất cho bình đẳng và nhân quyền, Ngài là một trong những người có thể hiểu thấu và chia sẻ được những đau khổ không bờ bến của dân tộc Việt”.
Sư Ông đặt vấn đề cho Mục sư King, đó là “các nhà nhân bản lớn trên thế giới” không thể nào còn giữ được thái độ im lặng trước cuộc chiến Việt Nam. Sư Ông tiếp tục: “Chính Ngài không thể nào còn giữ được thái độ im lặng như thế. Mỹ quốc thường được nhắc nhở tới như một quốc gia có căn bản vững chãi về tôn giáo, vậy thì các nhà lãnh đạo tinh thần của dân tộc Mỹ sẽ không thể nào để cho đường lối chính trị và kinh tế Hoa kỳ thiếu mất chất liệu tâm linh được. Ngài không thể im lặng được, bởi vì Ngài đã từng hành động và Ngài hành động vì Thượng đế đang hành động trong Ngài…”.
Tôi đã có mặt trong hào quang của một vị thánh
Để vận động cho hòa bình và kêu gọi sự chấm dứt những khổ đau tại Việt Nam, Sư Ông rời Việt Nam vào tháng 5 năm 1966 để thực hiện những cuộc du thuyết khắp nơi trên đất Mỹ hầu loan tải những thông tin xác thực nhất cho quần chúng của đất nước này về “tình trạng hiện thực của Việt Nam”7, những tin tức mà những người đó không thể nào tiếp cận được từ các nguồn thông tin bản địa. Sư Ông và Mục sư King gặp nhau lần đầu vào ngày 1 tháng 6 năm 1966. Trong những ký sự về sau, Sư Ông đã viết về cuộc gặp gỡ ấy như sau: “Ngay từ giây phút đầu tiên, tôi biết tôi đang có mặt trong hào quang của một vị thánh. Không chỉ những hoạt động cao cả Ngài đang thực hiện mà chính sự sống, sự hiện hữu của tự thân Ngài là một nguồn cảm hứng lớn cho tôi”.8
Sư Ông và Mục sư King đã mở một cuộc họp báo chung tại Chicago vào ngày 1 tháng 6 năm 1966.
Trong một cuộc họp báo chung, Sư Ông yêu cầu sử dụng những phương thức bất bạo động để xóa bỏ “kẻ thù đích thực của con người”: Đó là sự giận dữ, hận thù và kỳ thị. Sư Ông khẳng định những hoạt động về nhân quyền và cá cuộc đấu tranh cho bình đẳng chủng tộc của Mục sư King là hoàn toàn đi đôi với những cố gắng chấm dứt mâu thuẫn và xung đột tại Việt Nam.
Về phía Mục sư King, ngày hôm đó, Ngài đã lên tiếng mạnh mẽ chống lại cuộc chiến tại Việt Nam. “Đó là ngày chúng tôi cùng hợp sức để vận động cho hòa bình tại Việt Nam cũng như tranh đấu cho dân quyền, cho sự bình đẳng chủng tộc tại Hoa Kỳ”9, Sư Ông đã viết như vậy trong những năm tháng về sau. Cũng vào khoảng thời gian này, Sư Ông bị cấm trở về lại Việt Nam và từ đó trở thành một người lưu vong trong vòng bốn mươi năm tại hải ngoại.
Cuộc tao ngộ với Sư Ông đã để lại một ấn tượng sâu đậm trong lòng Mục sư King và giúp cho Ngài ý thức một cách sâu sắc hơn những thách thức về đạo đức và nhân bản mà cuộc chiến tại Việt Nam đặt ra cho toàn thể nhân loại. Vào ngày 25 tháng 1 năm 1967, Mục sư King đã gửi bức thư sau đây đến Viện Nobel Na Uy ở Oslo:
“Kính thưa Quý Ngài,
Với tư cách là người được nhận Giải Nobel Hòa bình năm 1964, tôi nay rất vinh hạnh để đề cử Thầy Nhất Hạnh cho giải thưởng này trong năm 1967.
Cá nhân tôi không biết một ai có thể xứng đáng để tiếp nhận giải Nobel Hòa bình hơn là vị tu sĩ Phật giáo Việt Nam đức độ và hòa nhã này.
Năm nay sẽ là một năm đặc biệt đầy những triển vọng tốt lành nếu quý Ngài trao tặng giải thưởng đến Thầy Nhất Hạnh. Đây là một người tiên phong trong phong trào hòa bình và bất bạo động, một con người đã bị tách ra khỏi đồng bào ruột thịt của mình trong khi họ đang bị đàn áp bởi một cuộc chiến khốc liệt, tàn bạo, có nguy cơ đe dọa lương tri của cả nhân loại và sự thanh bình, yên ổn trên toàn thế giới.
Vì không có vinh dự nào đáng tôn kính hơn là giải Nobel Hòa bình, tôi tin rằng ban tặng giải thưởng đó cho Thầy Nhất Hạnh tự nó sẽ là một hành động cao cả nhất để tôn vinh hòa bình. Điều đó sẽ nhắc nhở các quốc gia rằng luôn có những con người đầy thiện chí và giàu lòng nhân ái sẵn sàng dẫn lối cho những phần tử hiếu chiến ra khỏi vực thẳm của hận thù, hủy diệt và tàn phá. Nó sẽ một lần nữa thức tỉnh con người, giúp họ học được bài học về cái đẹp và tình thương được nuôi dưỡng trong hòa bình. Nó sẽ làm sống dậy niềm hy vọng cho một thế giới mới đầy công bằng và hòa hợp.
Tôi biết Thầy Nhất Hạnh, và rất vinh dự được xem Thầy là bạn. Cho phép tôi chia sẻ với quý Ngài những gì tôi biết về Thầy. Quý Ngài sẽ thấy đây là một con người đặc biệt với nhiều chí nguyện và tài năng đáng kinh ngạc.
Thầy Nhất Hạnh là một người thánh thiện vì Ngài khiêm cung và chân thành. Ngài là một học giả có trí năng quảng bác. Là tác giả của 10 đầu sách, Ngài cũng là một nhà thơ đầy lòng nhân ái với trí tuệ minh triết siêu việt. Ngài là một học giả chuyên nghiên cứu về Triết học Tôn giáo và là Giáo sư của Viện Đại học Phật giáo Vạn Hạnh, Viện Đại học mà Ngài đã góp phần sáng lập. Ngài điều hành Viện Xã hội học tại đại học này. Con người siêu việt này cũng là chủ bút của Thiện Mỹ, một tuần báo Phật giáo có tầm ảnh hưởng lớn. Ngài là Hiệu trưởng trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, một tổ chức huấn luyện những người trẻ để tái thiết lập và xây dựng những làng quê bị tàn phá bởi chiến tranh.
Ngày hôm nay, Thầy Nhất Hạnh có thể được coi như là không còn có quê hương và đất nước để trở về. Nếu Ngài trở về Việt Nam, dĩ nhiên đó là ao ước thâm sâu của Ngài, tánh mạng của Ngài sẽ như chỉ mành treo chuông. Ngài là nạn nhân của một sự đày ải đặc biệt là tàn bạo vì Ngài đã dám lên tiếng đề nghị ủng hộ mang lại hòa bình cho tất cả đồng bào ruột thịt của mình. Đây quả thật là một bi kịch đau thương đang xảy ra hiện nay tại Việt Nam và thật là bi đát cho những ai vẫn muốn kéo dài tình trạng khổ đau này.
Lịch sử dân tộc Việt Nam có không biết bao nhiêu thời kỳ bị bóc lột và khai thác bởi ngoại xâm và hạng người bất lương giàu có, ngay cả cho đến bây giờ, người dân Việt Nam vẫn đang bị cai trị khắc nghiệt, đói khát, nghèo khó và phải gánh chịu những gay go gian khổ cũng như sự khốc liệt của cuộc chiến hiện đại.
Thầy Nhất Hạnh đem đến cho chúng ta một lối thoát khỏi cơn ác mộng này, một giải pháp có thể chấp nhận được bởi những nhà lãnh đạo sáng suốt. Ngài đã đi du thuyết khắp thế giới để cầu xin sự yểm trợ, nâng đỡ của những chính khách lỗi lạc, những nhà lãnh đạo tôn giáo, học giả và văn sĩ trí thức. Những tuệ giác của Ngài về hòa bình, nếu được thực hiện, sẽ là chứng tích cho một thế giới đại đồng, đầy tình huynh đệ và tình nhân loại.
Tôi xin trân trọng đề nghị với quý Ngài, hãy thúc đẩy và trao thêm sức mạnh cho nỗ lực xây dựng hòa bình của Thầy Nhất Hạnh thông qua việc trao tặng Giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1967. Thầy Nhất Hạnh chắc hẳn sẽ nhận vinh dự cao quý này với tất cả sự khiêm nhường và lòng biết ơn.
Trân trọng, Mục sư Martin Luther King, Jr.”10
Tiếp nối giấc mơ của Mục sư King
Vào tháng 5 năm 1967, ngay sau bài diễn văn kêu gọi hòa bình cho Việt Nam tại Riverside Church của Mục sư King, Sư Ông gặp lại Mục sư tại Hội nghị “Hòa bình trên Trái đất” do Hội đồng Thế giới của các Giáo hội (World Council of Churches) tổ chức tại Geneva, Thụy Sĩ. Chính tại hội nghị này, trong một buổi ăn sáng chung tại phòng riêng của Mục sư King ở khách sạn, Sư Ông và Mục sư đã tiếp tục đàm đạo về hòa bình, tự do, về xây dựng tăng thân hay cộng đồng yêu quý, cũng như những bước đi mà chính quyền Mỹ nên tiến hành để chấm dứt cuộc chiến tranh tại Việt Nam.
Sư Ông đã nói với Mục sư King: “Này Mục sư King! Ông có biết rằng ở Việt Nam người ta xem ông như là một vị Bồ tát hay không? Một người mang hết tất cả sức mình để làm vơi bớt những khổ đau của chúng sanh”.11
Sư Ông đã viết rằng Sư Ông rất hạnh phúc vì đã có cơ hội nói được điều đó với Mục sư King, bởi vì chỉ gần một năm sau đó,Mục sư bị ám sát (đúng vào ngày mà một năm trước đó Người đã nói bài diễn văn tại Riverside Church).
“Tôi đang ở New York khi nghe tin Mục sư King bị ám sát. Lúc đó tôi cảm thấy suy sụp, tôi không thể ăn, không thể ngủ được”, Sư Ông nhớ lại. “Tôi phát nguyện là sẽ tiếp tục sự nghiệp xây dựng tăng thân, hay Cộng đồng yêu quý như cách nói của Mục sư King, không chỉ cho tôi mà còn cho Mục sư. Đến bây giờ tôi đã làm được điều mà tôi đã hứa với Mục sư King, và tôi luôn cảm thấy Ngài đang yểm trợ cho tôi trong sự nghiệp này”.12
Giấc mơ của Mục sư King giờ đây đang trở thành hiện thực bởi sự biểu hiện của tăng thân khắp chốn. Lời nhắn nhủ của Sư Ông năm nào luôn khắc ghi trong trái tim các học trò của Người: “Thầy muốn tất cả các vị phải biến giấc mơ của Martin Luther King thành giấc mơ của mình. Mỗi chúng ta phải là một người dựng Tăng, như vậy mới xứng đáng với sự trông chờ của Bụt. Bụt cũng đã xây dựng một tăng thân rất đẹp, Ngài có những người phụ tá giữ vai trò là người dựng tăng rất xuất sắc như ngài Xá Lợi Phất, ngài Ca Diếp, ngài Mục Kiền Liên v.v. Dù là người xuất gia hay tại gia mình cũng phải mang hoài bão đó, phải là sự tiếp nối của Đức Thế Tôn, phải xây dựng tăng thân cho có sự thương yêu, hiểu biết, tha thứ, bao dung để làm đẹp cho xã hội. Và chính tăng thân đó thúc đẩy xã hội đi lên, giúp lấy đi những bất công và tệ nạn trong xã hội và trong cuộc sống hằng ngày. Thầy đã đem hết thì giờ, tâm huyết và năng lực ra để xây dựng tăng thân, và thầy muốn trao truyền lại cho quý vị ước mơ đó, ước mơ mà Mục sư Martin Luther King cũng đã muốn trao truyền”.13
Chú thích:
- Mục sư bị ám sát vào ngày 4.4.1968 tại Memphis, bang Tennessee, Mỹ
- Tác phẩm “Hoa sen trong biển lửa”- Thích Nhất Hạnh (Lá thư nằm ở phần Phụ lục)
- Bản đánh máy từ cuộc họp báo của Tổng thống Johnson vào ngày 28.7.1965, được lưu trữ tại The American Presidency Project: https://www.presidency.ucsb.edu/documents/the-presidents-news- conference-1038
- Tự truyện về Mục sư Martin Luther King, Jr. (The Autobiography of Martin Luther King, Jr.), do Clayborne Carson biên tập, NXB Grand Central Publishing, Park Avenue, New York, ấn bản e-book phát hành tháng 1.2001, Loc 5578
- Trong một thập kỷ sau đó, còn có thêm nhiều tu sĩ Phật giáo cũng như Phật tử đã tự thiêu để thu hút sự chú ý của dư luận về tình trạng đàn áp đang diễn ra lúc bấy giờ và về những khổ đau cùng cực do chiến tranh gây ra, trong đó có sự tham dự ngày càng sâu của quân đội Mỹ.
- Sư Ông cũng nói lên thông điệp này trong bài thơ “Dặn dò” – Tuyển tập thơ Nhất Hạnh. Xúc động sâu sắc trước thông điệp này, thầy Pháp Ấn đã phổ nhạc bài thơ và đã hát nhiều lần trước đại chúng khi được Sư Ông đề nghị.
- Tác phẩm “At home in the world: Stories and Essential Teachings from a Monk’s Life” – Thích Nhất Hạnh, trang 12
- Tác phẩm “At home in the world”, trang 72
- Tác phẩm “At home in the world”, ngoài ra có thể tham khảo thêm nội dung cuộc phỏng vấn của Oprah Winfrey với Sư Ông: https://plumvillage.org/thich-nhat-hanh-interviews/oprah-talks-to-thich-nhat-hanh/
- Có thể đọc bản fax lá thư của Mục sư King tại website “The King Center”, thành lập năm 1968 bởi bà Coretta Scott King: http://www.thekingcenter.org/archive/document/letter-mlk-nobel-institute
- Chương “Ai là người tri kỷ”, tác phẩm “Truyền thống sinh động của thiền tập” – Sư Ông Làng Mai: https://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/giang-kinh/truyen-thong-sinh-dong-cua-thien-tap/phuong- phap-tu-tap-lang-mai/ai-la-nguoi-tri-ky/
- Tác phẩm “At Home In The World”, trang 73 13. Pháp thoại ngày 02.12.2008, tại nội viện Phương Khê
Mối tình tri kỷ
Năm mươi năm đã trôi qua kể từ khi Mục sư King bị ám sát1, nhưng những nỗ lực vận động cho hòa bình cũng như tình tri kỷ thâm sâu giữa Sư Ông Làng Mai và Mục sư King đáng để cho chúng ta ôn lại, học hỏi và tiếp nối hạnh nguyện của chư vị.
Kẻ thù chúng ta không phải con người
Sư Ông và Mục sư King gặp nhau vào lúc các Ngài đang ở vào một thời điểm then chốt trong cuộc đời của mỗi người. Hai Ngài đều là những nhà trí thức ưu tú, những nhà lãnh đạo tâm linh và cũng là những nhà hoạt động xã hội đi đầu trong các phong trào bất bạo động, tranh đấu cho một sự thay đổi toàn diện giữa bối cảnh bạo động đang leo thang tại đất nước của các Ngài. Các Ngài đều phải đối diện với những nguy cơ đe dọa, đàn áp và những hoàn cảnh hiểm nguy. Với lòng nhân bản, tâm từ bi, khả năng lãnh đạo và sự tương kính lẫn nhau, các Ngài đã dung nhiếp được cả hai phong trào hòa bình cho dân tộc Việt Nam và nhân quyền cho đất nước Mỹ thành một. Cuộc tao ngộ của hai tâm hồn siêu việt này đã góp phần chuyển hướng dòng chảy của lịch sử.
Tất cả bắt đầu vào ngày 1 tháng 6 năm 1965, khi Sư Ông đặt vấn đề trực tiếp với Mục sư King trong một lá thư ngỏ (open letter) với nhan đề “Đi tìm kẻ thù của con người”2. Lá thư được gửi đi chỉ vài tuần trước khi Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson quyết định bước sâu hơn vào chiến trường Việt Nam và khẳng định sự tham gia toàn diện của Mỹ vào cuộc chiến bằng cách tuyên bố rằng “sức mạnh chiến đấu củ Mỹ” sẽ được tăng cường ngay lập tức từ 75,000 đến 125,000 nhân lực, và sẽ tiếp tục được gia tăng nhiều hơn nữa trong tương lai.3
Trong hoàn cảnh gay go đó, mặc dù đã có sự giằng co trong lương tri của Ngài, nhưng trong lời tự thuật sau này, Mục sư King – người được nhận giải Nobel Hòa bình năm 1964 – nói rằng Ngài đã “không xuống đường, không giăng biểu ngữ, không vận động những cuộc biểu tình”4. Vì Ngài tin rằng, cuộc chiến đẫm máu sẽ mau chóng chấm dứt nếu người Mỹ thay vì tham gia vào cuộc chiến và kéo dài các sự tranh cãi, chuyển sang tham dự các cuộc đàm phán về ngưng chiến và hòa bình. Chiến lược của nhà lãnh đạo nhân quyền lão thành trong giai đoạn đó là “đóng vai im lặng” và âm thầm thúc đẩy, vận động cho hòa bình qua các cuộc đàm phán.
Trong bức thư ngỏ gởi Mục sư King, Sư Ông muốn giải thích cho các bạn Ki-tô giáo Tây phương “hiểu được tường tận ý nghĩa” về sự tự thiêu của bốn thầy và một sư cô vào mùa hè năm 1963, bắt đầu bằng sự hy sinh của Hòa thượng Thích Quảng Đức. Sư Ông khẳng định những hành động đó không phải là tự tử, cũng không phải là một sự tuyệt vọng hay phản kháng, mà là những hành động dũng cảm cao tột, đầy chất liệu thương yêu của Đại Từ, Đại Bi mang niềm tin và hy vọng cho những gì tốt đẹp sẽ đạt được trong tương lai. Những vị ấy đã sẵn sàng hy sinh sự sống của mình vì lợi ích của cả dân tộc trong lúc toàn bộ Phật giáo bị kỳ thị và đàn áp dã man do chế độ Ngô Đình Diệm áp đặt tại miền Nam Việt Nam.5
“Thưa Mục sư”, Sư Ông viết cho Mục sư King, “tôi tin với tất cả tâm hồn tôi rằng trong lúc tự thiêu, các vị tăng sĩ Việt Nam không nhắm đến cái chết của những kẻ đàn áp tàn bạo mà chỉ nhắm đến sự thay đổi của chính sách họ. Kẻ thù của các vị tăng sĩ kia không phải là con người. Kẻ thù của họ là cuồng tín, là độc tài, là tham lam, là giận dữ, là kỳ thị – những thứ này nằm sâu trong lòng người.
“Tôi cũng tin chắc rằng cuộc đấu tranh vận động cho bình đẳng và tự do mà Mục sư lãnh đạo ở Birmingham, Alabama,… không nhắm đến sự chống báng người da trắng mà chỉ nhắm đến sự chống báng kỳ thị, giận dữ, độc ác. Những cái này vốn là những kẻ thù đích thực của con người, chứ không phải là con người.
“Nơi tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng tôi, mỗi ngày chúng tôi đều gào thét một cách tuyệt vọng: Xin đừng giết con người, dù là nhân danh con người. Hãy giết kẻ thù đích thực của con người – những kẻ thù này hiện hữu khắp nơi, trong trái tim và khối óc mỗi người”.6
Quý vị không thể giữ im lặng
Sư Ông chia sẻ tiếp cho Mục sư King biết rằng vô số những người nông dân và trẻ em Việt Nam đã bị tàn sát bi thảm trong cuộc chiến tàn khốc kéo dài trên 20 năm. “Tôi biết chắc rằng bởi vì Mục sư đã từng dấn thân vào một cuộc tranh đấu cam go nhất cho bình đẳng và nhân quyền, Ngài là một trong những người có thể hiểu thấu và chia sẻ được những đau khổ không bờ bến của dân tộc Việt”.
Sư Ông đặt vấn đề cho Mục sư King, đó là “các nhà nhân bản lớn trên thế giới” không thể nào còn giữ được thái độ im lặng trước cuộc chiến Việt Nam. Sư Ông tiếp tục: “Chính Ngài không thể nào còn giữ được thái độ im lặng như thế. Mỹ quốc thường được nhắc nhở tới như một quốc gia có căn bản vững chãi về tôn giáo, vậy thì các nhà lãnh đạo tinh thần của dân tộc Mỹ sẽ không thể nào để cho đường lối chính trị và kinh tế Hoa kỳ thiếu mất chất liệu tâm linh được. Ngài không thể im lặng được, bởi vì Ngài đã từng hành động và Ngài hành động vì Thượng đế đang hành động trong Ngài…”.
Tôi đã có mặt trong hào quang của một vị thánh
Để vận động cho hòa bình và kêu gọi sự chấm dứt những khổ đau tại Việt Nam, Sư Ông rời Việt Nam vào tháng 5 năm 1966 để thực hiện những cuộc du thuyết khắp nơi trên đất Mỹ hầu loan tải những thông tin xác thực nhất cho quần chúng của đất nước này về “tình trạng hiện thực của Việt Nam”7, những tin tức mà những người đó không thể nào tiếp cận được từ các nguồn thông tin bản địa. Sư Ông và Mục sư King gặp nhau lần đầu vào ngày 1 tháng 6 năm 1966. Trong những ký sự về sau, Sư Ông đã viết về cuộc gặp gỡ ấy như sau: “Ngay từ giây phút đầu tiên, tôi biết tôi đang có mặt trong hào quang của một vị thánh. Không chỉ những hoạt động cao cả Ngài đang thực hiện mà chính sự sống, sự hiện hữu của tự thân Ngài là một nguồn cảm hứng lớn cho tôi”.8
Sư Ông và Mục sư King đã mở một cuộc họp báo chung tại Chicago vào ngày 1 tháng 6 năm 1966.
Trong một cuộc họp báo chung, Sư Ông yêu cầu sử dụng những phương thức bất bạo động để xóa bỏ “kẻ thù đích thực của con người”: Đó là sự giận dữ, hận thù và kỳ thị. Sư Ông khẳng định những hoạt động về nhân quyền và cá cuộc đấu tranh cho bình đẳng chủng tộc của Mục sư King là hoàn toàn đi đôi với những cố gắng chấm dứt mâu thuẫn và xung đột tại Việt Nam.
Về phía Mục sư King, ngày hôm đó, Ngài đã lên tiếng mạnh mẽ chống lại cuộc chiến tại Việt Nam. “Đó là ngày chúng tôi cùng hợp sức để vận động cho hòa bình tại Việt Nam cũng như tranh đấu cho dân quyền, cho sự bình đẳng chủng tộc tại Hoa Kỳ”9, Sư Ông đã viết như vậy trong những năm tháng về sau. Cũng vào khoảng thời gian này, Sư Ông bị cấm trở về lại Việt Nam và từ đó trở thành một người lưu vong trong vòng bốn mươi năm tại hải ngoại.
Cuộc tao ngộ với Sư Ông đã để lại một ấn tượng sâu đậm trong lòng Mục sư King và giúp cho Ngài ý thức một cách sâu sắc hơn những thách thức về đạo đức và nhân bản mà cuộc chiến tại Việt Nam đặt ra cho toàn thể nhân loại. Vào ngày 25 tháng 1 năm 1967, Mục sư King đã gửi bức thư sau đây đến Viện Nobel Na Uy ở Oslo:
“Kính thưa Quý Ngài,
Với tư cách là người được nhận Giải Nobel Hòa bình năm 1964, tôi nay rất vinh hạnh để đề cử Thầy Nhất Hạnh cho giải thưởng này trong năm 1967.
Cá nhân tôi không biết một ai có thể xứng đáng để tiếp nhận giải Nobel Hòa bình hơn là vị tu sĩ Phật giáo Việt Nam đức độ và hòa nhã này.
Năm nay sẽ là một năm đặc biệt đầy những triển vọng tốt lành nếu quý Ngài trao tặng giải thưởng đến Thầy Nhất Hạnh. Đây là một người tiên phong trong phong trào hòa bình và bất bạo động, một con người đã bị tách ra khỏi đồng bào ruột thịt của mình trong khi họ đang bị đàn áp bởi một cuộc chiến khốc liệt, tàn bạo, có nguy cơ đe dọa lương tri của cả nhân loại và sự thanh bình, yên ổn trên toàn thế giới.
Vì không có vinh dự nào đáng tôn kính hơn là giải Nobel Hòa bình, tôi tin rằng ban tặng giải thưởng đó cho Thầy Nhất Hạnh tự nó sẽ là một hành động cao cả nhất để tôn vinh hòa bình. Điều đó sẽ nhắc nhở các quốc gia rằng luôn có những con người đầy thiện chí và giàu lòng nhân ái sẵn sàng dẫn lối cho những phần tử hiếu chiến ra khỏi vực thẳm của hận thù, hủy diệt và tàn phá. Nó sẽ một lần nữa thức tỉnh con người, giúp họ học được bài học về cái đẹp và tình thương được nuôi dưỡng trong hòa bình. Nó sẽ làm sống dậy niềm hy vọng cho một thế giới mới đầy công bằng và hòa hợp.
Tôi biết Thầy Nhất Hạnh, và rất vinh dự được xem Thầy là bạn. Cho phép tôi chia sẻ với quý Ngài những gì tôi biết về Thầy. Quý Ngài sẽ thấy đây là một con người đặc biệt với nhiều chí nguyện và tài năng đáng kinh ngạc.
Thầy Nhất Hạnh là một người thánh thiện vì Ngài khiêm cung và chân thành. Ngài là một học giả có trí năng quảng bác. Là tác giả của 10 đầu sách, Ngài cũng là một nhà thơ đầy lòng nhân ái với trí tuệ minh triết siêu việt. Ngài là một học giả chuyên nghiên cứu về Triết học Tôn giáo và là Giáo sư của Viện Đại học Phật giáo Vạn Hạnh, Viện Đại học mà Ngài đã góp phần sáng lập. Ngài điều hành Viện Xã hội học tại đại học này. Con người siêu việt này cũng là chủ bút của Thiện Mỹ, một tuần báo Phật giáo có tầm ảnh hưởng lớn. Ngài là Hiệu trưởng trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, một tổ chức huấn luyện những người trẻ để tái thiết lập và xây dựng những làng quê bị tàn phá bởi chiến tranh.
Ngày hôm nay, Thầy Nhất Hạnh có thể được coi như là không còn có quê hương và đất nước để trở về. Nếu Ngài trở về Việt Nam, dĩ nhiên đó là ao ước thâm sâu của Ngài, tánh mạng của Ngài sẽ như chỉ mành treo chuông. Ngài là nạn nhân của một sự đày ải đặc biệt là tàn bạo vì Ngài đã dám lên tiếng đề nghị ủng hộ mang lại hòa bình cho tất cả đồng bào ruột thịt của mình. Đây quả thật là một bi kịch đau thương đang xảy ra hiện nay tại Việt Nam và thật là bi đát cho những ai vẫn muốn kéo dài tình trạng khổ đau này.
Lịch sử dân tộc Việt Nam có không biết bao nhiêu thời kỳ bị bóc lột và khai thác bởi ngoại xâm và hạng người bất lương giàu có, ngay cả cho đến bây giờ, người dân Việt Nam vẫn đang bị cai trị khắc nghiệt, đói khát, nghèo khó và phải gánh chịu những gay go gian khổ cũng như sự khốc liệt của cuộc chiến hiện đại.
Thầy Nhất Hạnh đem đến cho chúng ta một lối thoát khỏi cơn ác mộng này, một giải pháp có thể chấp nhận được bởi những nhà lãnh đạo sáng suốt. Ngài đã đi du thuyết khắp thế giới để cầu xin sự yểm trợ, nâng đỡ của những chính khách lỗi lạc, những nhà lãnh đạo tôn giáo, học giả và văn sĩ trí thức. Những tuệ giác của Ngài về hòa bình, nếu được thực hiện, sẽ là chứng tích cho một thế giới đại đồng, đầy tình huynh đệ và tình nhân loại.
Tôi xin trân trọng đề nghị với quý Ngài, hãy thúc đẩy và trao thêm sức mạnh cho nỗ lực xây dựng hòa bình của Thầy Nhất Hạnh thông qua việc trao tặng Giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1967. Thầy Nhất Hạnh chắc hẳn sẽ nhận vinh dự cao quý này với tất cả sự khiêm nhường và lòng biết ơn.
Trân trọng, Mục sư Martin Luther King, Jr.”10
Tiếp nối giấc mơ của Mục sư King
Vào tháng 5 năm 1967, ngay sau bài diễn văn kêu gọi hòa bình cho Việt Nam tại Riverside Church của Mục sư King, Sư Ông gặp lại Mục sư tại Hội nghị “Hòa bình trên Trái đất” do Hội đồng Thế giới của các Giáo hội (World Council of Churches) tổ chức tại Geneva, Thụy Sĩ. Chính tại hội nghị này, trong một buổi ăn sáng chung tại phòng riêng của Mục sư King ở khách sạn, Sư Ông và Mục sư đã tiếp tục đàm đạo về hòa bình, tự do, về xây dựng tăng thân hay cộng đồng yêu quý, cũng như những bước đi mà chính quyền Mỹ nên tiến hành để chấm dứt cuộc chiến tranh tại Việt Nam.
Sư Ông đã nói với Mục sư King: “Này Mục sư King! Ông có biết rằng ở Việt Nam người ta xem ông như là một vị Bồ tát hay không? Một người mang hết tất cả sức mình để làm vơi bớt những khổ đau của chúng sanh”.11
Sư Ông đã viết rằng Sư Ông rất hạnh phúc vì đã có cơ hội nói được điều đó với Mục sư King, bởi vì chỉ gần một năm sau đó,Mục sư bị ám sát (đúng vào ngày mà một năm trước đó Người đã nói bài diễn văn tại Riverside Church).
“Tôi đang ở New York khi nghe tin Mục sư King bị ám sát. Lúc đó tôi cảm thấy suy sụp, tôi không thể ăn, không thể ngủ được”, Sư Ông nhớ lại. “Tôi phát nguyện là sẽ tiếp tục sự nghiệp xây dựng tăng thân, hay Cộng đồng yêu quý như cách nói của Mục sư King, không chỉ cho tôi mà còn cho Mục sư. Đến bây giờ tôi đã làm được điều mà tôi đã hứa với Mục sư King, và tôi luôn cảm thấy Ngài đang yểm trợ cho tôi trong sự nghiệp này”.12
Giấc mơ của Mục sư King giờ đây đang trở thành hiện thực bởi sự biểu hiện của tăng thân khắp chốn. Lời nhắn nhủ của Sư Ông năm nào luôn khắc ghi trong trái tim các học trò của Người: “Thầy muốn tất cả các vị phải biến giấc mơ của Martin Luther King thành giấc mơ của mình. Mỗi chúng ta phải là một người dựng Tăng, như vậy mới xứng đáng với sự trông chờ của Bụt. Bụt cũng đã xây dựng một tăng thân rất đẹp, Ngài có những người phụ tá giữ vai trò là người dựng tăng rất xuất sắc như ngài Xá Lợi Phất, ngài Ca Diếp, ngài Mục Kiền Liên v.v. Dù là người xuất gia hay tại gia mình cũng phải mang hoài bão đó, phải là sự tiếp nối của Đức Thế Tôn, phải xây dựng tăng thân cho có sự thương yêu, hiểu biết, tha thứ, bao dung để làm đẹp cho xã hội. Và chính tăng thân đó thúc đẩy xã hội đi lên, giúp lấy đi những bất công và tệ nạn trong xã hội và trong cuộc sống hằng ngày. Thầy đã đem hết thì giờ, tâm huyết và năng lực ra để xây dựng tăng thân, và thầy muốn trao truyền lại cho quý vị ước mơ đó, ước mơ mà Mục sư Martin Luther King cũng đã muốn trao truyền”.13
Chú thích:
- Mục sư bị ám sát vào ngày 4.4.1968 tại Memphis, bang Tennessee, Mỹ
- Tác phẩm “Hoa sen trong biển lửa”- Thích Nhất Hạnh (Lá thư nằm ở phần Phụ lục)
- Bản đánh máy từ cuộc họp báo của Tổng thống Johnson vào ngày 28.7.1965, được lưu trữ tại The American Presidency Project: https://www.presidency.ucsb.edu/documents/the-presidents-news- conference-1038
- Tự truyện về Mục sư Martin Luther King, Jr. (The Autobiography of Martin Luther King, Jr.), do Clayborne Carson biên tập, NXB Grand Central Publishing, Park Avenue, New York, ấn bản e-book phát hành tháng 1.2001, Loc 5578
- Trong một thập kỷ sau đó, còn có thêm nhiều tu sĩ Phật giáo cũng như Phật tử đã tự thiêu để thu hút sự chú ý của dư luận về tình trạng đàn áp đang diễn ra lúc bấy giờ và về những khổ đau cùng cực do chiến tranh gây ra, trong đó có sự tham dự ngày càng sâu của quân đội Mỹ.
- Sư Ông cũng nói lên thông điệp này trong bài thơ “Dặn dò” – Tuyển tập thơ Nhất Hạnh. Xúc động sâu sắc trước thông điệp này, thầy Pháp Ấn đã phổ nhạc bài thơ và đã hát nhiều lần trước đại chúng khi được Sư Ông đề nghị.
- Tác phẩm “At home in the world: Stories and Essential Teachings from a Monk’s Life” – Thích Nhất Hạnh, trang 12
- Tác phẩm “At home in the world”, trang 72
- Tác phẩm “At home in the world”, ngoài ra có thể tham khảo thêm nội dung cuộc phỏng vấn của Oprah Winfrey với Sư Ông: https://plumvillage.org/thich-nhat-hanh-interviews/oprah-talks-to-thich-nhat-hanh/
- Có thể đọc bản fax lá thư của Mục sư King tại website “The King Center”, thành lập năm 1968 bởi bà Coretta Scott King: http://www.thekingcenter.org/archive/document/letter-mlk-nobel-institute
- Chương “Ai là người tri kỷ”, tác phẩm “Truyền thống sinh động của thiền tập” – Sư Ông Làng Mai: https://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/giang-kinh/truyen-thong-sinh-dong-cua-thien-tap/phuong- phap-tu-tap-lang-mai/ai-la-nguoi-tri-ky/
- Tác phẩm “At Home In The World”, trang 73 13. Pháp thoại ngày 02.12.2008, tại nội viện Phương Khê
Cám ơn mẹ
Mẹ! Ngoài trời đang mưa rỉ rả, con ngồi trong phòng ngắm tấm hình mẹ vừa mới gửi cho chúng con. Tấm hình mẹ diện bộ đồ “model 1020..í..lộn..model 2020” quần đen, áo xanh trời, mũ bèo trắng, khuyến mãi thêm cái áo ghile cũ và đôi hia huyền thoại lấm bùn đất; à, không thể bỏ qua cái túi xách nâu sòng vô giá mẹ đeo một bên, bàn tay ôm chặt..chai nước lọc. Tấm này mẹ đang đứng ở Đồn Biên Phòng Mường Pồn – Nậm Ty. ( Có lẽ đây là nơi xa nhất trong nước mẹ từng đi từ trước đến giờ, phải không mẹ?)
Nhìn vào bàn tay mẹ, con nhìn rất kỹ và bỗng dưng thấy nó thật là đẹp! Bàn tay với những móng tay dẹt dẹt quen thuộc mà bảy đứa chúng con đứa nào cũng được mẹ ban cho một bộ. Bàn tay màu da nâu khỏe mạnh, nơi con nhìn là trong tim thấy ấm áp. Bàn tay đó đã từng bồng, bế, đút, mớm, từng đắt đi học, lao động nhọc nhằn cho từng đứa con khôn lớn; bàn tay đó từng vỗ về mỗi khi chúng con đến gần. Bất kể chúng con vui hay buồn, lớn hay nhỏ bàn tay ấy luôn luôn sẵn sàng xoa lên vầng trán, để kéo mền đắp ấm giữa khuya, để nấu vài món ngon hay lau những giọt nước mắt lã chã của hết đứa này đến đứa khác trong quá trình chúng con học làm người. Dù bao nhiêu tuổi, dù xa hay gần, không ai trong chúng con có thể phủ nhận rằng bàn tay ấy luôn tràn đầy yêu thương và kiên nhẫn. Cũng chính bàn tay mong manh gầy guộc của mẹ đã tạo ra mười bốn bàn tay trắng trẻo, khỏe mạnh của chúng con.
Mẹ, con, Ỉn và En – mấy người phụ nữ trong nhà, gặp nhau là hay đặt những bàn tay ra so. Tay mẹ luôn đen hơn, luôn gầy hơn, luôn nhiều gân hơn nhưng không đứa con nào, không khoảnh khắc nào tụi con thấy tay mình đẹp hơn tay mẹ. Chúng con ai cũng ý thức rõ những bàn tay của các con là bàn tay mẹ, là sự tiếp nối của bàn tay mẹ. Không có đôi bàn tay đẹp rạng ngời dấu ấn thời gian đó thì làm gì có những bàn tay của chúng con bây giờ.
Nhờ mẹ, nhờ lối sống, nhờ nhân cách của mẹ mà chúng con luôn thấy mình có một tuổi thơ đầy đủ tình thương. Đó là nền tảng cho chúng con sau khi xuất gia thấm đẫm những bài học yêu thương từ Thầy một cách dễ dàng hơn. Rồi từ đó mà hình thành thói quen đối xử yêu thương, lịch sự, tôn trọng mọi người xung quanh chúng con.
Con biết mấy em trai của con : Cún, Bia, Lọt, Ủi cũng vô cùng thương kính mẹ. Sự có mặt của mẹ trong từng cuộc đời của chúng con tuy khác thời điểm, khác sự kiện, nhưng lúc nào cũng là đúng lúc chúng con cần mẹ nhất.
Mẹ không giàu tiền bạc, mẹ không có bất động sản để cho mỗi đứa một cái biệt thự hay một công ty riêng. Mà mẹ đã đặt để vào từng trái tim và tâm hồn mỗi đứa con của mẹ những hạt mầm đạo đức, tình thương yêu, cùng sự siêng năng lao động. Vì mẹ tin rằng sống trong cuộc đời, những đức tính đó sẽ là những báu vật có công năng bảo hộ chúng con suốt đời, dù khi mẹ không còn bên chúng con nữa. Tuy rằng mỗi chúng con vẫn phải té lên té xuống trong cuộc đời cho đến khi biết cách tự đứng vững trên đôi chân mình, nhưng nếu không có những căn bản mẹ cho thì có lẽ cuộc sống của chúng con còn khó khăn hơn trăm vạn lần.
Con – chị cả của các em con, xin hết lòng lạy xuống để được bày tỏ lòng biết ơn của con đối với mẹ một cách sâu sắc. Con cảm ơn mẹ cho con rất nhiều bài học trong suốt cuộc đời này; cảm ơn mẹ luôn luôn lắng nghe con kể chuyện; cảm ơn mẹ luôn là người bạn đồng hành thương con, hiểu con, khích lệ con đứng lên mỗi lần vấp ngã; cảm ơn mẹ luôn luôn ủng hộ, yểm trợ cho những sáng kiến của con; cảm ơn mẹ luôn luôn làm cầu nối yêu thương cho cả nhà mình; cảm ơn mẹ luôn sống yêu đời, tích cực để con được yên tâm tu học và trưởng thành; cảm ơn mẹ …, con cảm ơn mẹ … người mẹ thành công nhất “trong nghề” làm Mẹ con từng biết.
(Chân Diễm Nghiêm)
EIAB – Hành trình 10 năm
(Chân Pháp Ấn)
Vài nét về Viện Phật học Ứng dụng châu Âu EIAB
Đầu tháng 9 năm 2008, trên hai mươi vị xuất gia nam và xuất gia nữ đã được Sư Ông Làng Mai gửi đến thành phố Waldbröl thuộc miền Trung nước Đức để góp phần xây dựng Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (European Institute of Applied Buddhism-EIAB).
Từ khi còn là một vị xuất gia trẻ, Sư Ông đã mang trong lòng tâm nguyện thiết tha đem đạo Bụt đi vào cuộc đời; để đạo Bụt không phải chỉ là những triết lý cao siêu ngoài tầm tay mà còn có thể ứng dụng được vào trong mọi lĩnh vực của đời sống, giúp chuyển hóa những khổ đau của cá nhân, gia đình và xã hội. Đây cũng là ước mơ chung của cả tăng thân Làng Mai trên khắp thế giới, của những vị xuất sĩ cũng như cư sĩ. Chương trình tu học tại Viện Phật học EIAB bao gồm những khóa học dành cho các thanh niên và thiếu nữ có ý định thành lập gia đình, những khóa học giúp hàn gắn sự truyền thông giữa cha mẹ và con cái, những khóa học cho các nhân viên cảnh sát, chính trị gia, hay cho những nhà tâm lý trị liệu, những nhà giáo dục, những thương nhân v.v. (Xin quý vị vào thăm trang nhà www.eiab.eu của Viện Phật học EIAB để có thêm chi tiết về các khóa học và các chương trình tu học khác.)
Viện Phật học EIAB là một tặng phẩm của đạo Bụt Việt Nam không những chỉ cho châu Âu, mà còn cho cả thế giới. Sư Ông thường nhắc nhở chúng ta rằng do nhân duyên của đất nước, chúng ta có mặt tại Tây phương. Tuy nhiên, chúng ta không phải chỉ là những người tị nạn, mà chúng ta còn mang một sứ mạng của chư Tổ sư tâm linh Việt Nam giao phó, để trao truyền lại những hạt giống đẹp đẽ của đạo Bụt cho những ai có duyên tại các đất nước này trong thiên niên kỷ mới. Các chương trình tu học tại Viện Phật học EIAB có thể giúp cho tất cả mọi người tìm thấy niềm hứng khởi và thực hiện một nếp sống an vui và hòa ái trên toàn thế giới. Với những thực tập cụ thể, đơn giản nhưng sâu sắc của đạo Bụt, chúng ta vững tin rằng thế nào đóa hoa tuệ giác và từ bi chắc chắn cũng sẽ được nở tròn vẹn và viên mãn hơn nữa tại Tây phương. Giáo lý hiến tặng tại EIAB không mang tính chất bộ phái và sẽ đóng góp vào sự hòa hợp, hiểu biết và chấp nhận nhau giữa những truyền thống tôn giáo và tâm linh dị biệt.
Để có một cơ sở tương xứng với viễn kiến xây dựng một Viện Phật học cho cả châu Âu, Sư Ông và các vị phụ tá đã dành nhiều năm để tìm ra một cơ sở có tầm vóc quốc tế và hình thức của một Học viện. Vào ngày 10 tháng 9 năm 2008, quý thầy quý sư cô chính thức tiếp nhận cơ sở đầu tiên – mà Sư Ông đặt tên là Viện Vô Ưu – của Viện Phật học Ứng dụng châu Âu. Một năm sau, Viện Phật học may mắn có thêm cơ sở thứ hai, ngay bên cạnh Viện Vô Ưu. Để kỷ niệm ngôi chùa đầu tiên Sư Ông đã đến sinh hoạt và phát tâm xuất gia, cơ sở thứ hai được đặt tên là chùa Đại Bi. Với tên thành phố là Waldbröl, có nghĩa là rừng và suối, tên đầy đủ của chùa là Lâm Tuyền Địa – Đại Bi Tự.
Tòa nhà hiện nay là Viện Vô Ưu, khởi đầu là một bệnh viện được xây dựng từ năm 1895 đến năm 1897 để chăm sóc các bệnh nhân tâm thần và khuyết tật dưới sự quản lý của giáo hội Tin Lành. Bệnh viện này được khánh thành vào ngày 9 tháng 6 năm 1897. Đến năm 1933, do ý thức hệ thuần chủng và chính sách thanh lọc giống nòi, phần lớn những người bị bệnh tâm thần, khuyết tật về tâm lý hay cơ thể, những người ở ngoài vòng xã hội (psychisch Kranke, geistig Behinderte und gesellschaftliche Randgruppen), hay các thai nhi, trẻ em có khả năng bị khuyết tật đều bị đối xử bằng những phương pháp bạo động như bị triệt sản (Zwangssterilisation von Geisteskranken), bị phá thai hoặc giết chết bằng thuốc mê (gewaltsamer Geburtenverhütung bis zu “Euthanasie”-Aktionen). Từ giữa tháng 11 năm 1938 đến tháng 1 năm 1939, gần 700 bệnh nhân tâm thần, khuyết tật và trên 100 nhân viên của bệnh viện bị ép ra khỏi tòa nhà để đi đến làng Hausen ở Westerwald. Không ai biết rõ số phận của những bệnh nhân này. Nhưng chúng ta biết họ đã phải chịu đựng những khổ đau rất lớn từ thể xác đến tinh thần. Từ đó trở đi, tòa nhà hoàn toàn thuộc về sự kiểm soát của những người theo chủ nghĩa phát-xít Đức. Những khổ đau to lớn đó, chúng ta không hề biết cho đến khi chúng ta dọn vào tòa nhà, và với thời gian, qua sự chia sẻ của những người địa phương, chúng ta từ từ hiểu ra mọi chuyện.
Tuy vậy đã có những sự việc xảy ra, báo cho chúng ta biết sự có mặt của những năng lượng này vào những ngày cuối tháng 1 năm 2008, trước khi các nhà bán bất động sản giới thiệu tòa nhà này cho Sư Ông và tăng thân Làng Mai. Chúng ta cũng được báo ngay vào buổi chiều của ngày đầu tiên tiếp nhận tòa nhà, sau khi quý thầy quý sư cô làm lễ đại thí thực trước mặt tiền của Viện Vô Ưu; và hai ngày sau đó trong buổi ăn trưa, sau khi Sư Ông có cuộc họp báo để tuyên bố về sự thành lập Viện Phật học. Và những năng lượng này tiếp tục kêu gọi sự chú ý của chúng ta trong những năm tháng sau đó.
Khi được hỏi vì sao Sư Ông chọn thành phố Waldbröl để xây dựng Viện Phật học, Sư Ông thường trả lời rằng thành phố Waldbröl chọn Sư Ông và tăng thân Làng Mai. Quả thật, những năng lượng khổ đau do chiến tranh và hận thù tại nơi đây đã nương vào sức mạnh tâm linh của Sư Ông và đại chúng Làng Mai để được chuyển hóa và hòa giải. Đó cũng là hạnh nguyện Bồ tát cứu khổ của Sư Ông suốt một đời xây dựng hòa bình, chấm dứt chiến tranh và chuyển hóa khổ đau, không những cho đất nước Việt Nam mà còn cho cả thế giới.
Sau thế chiến thứ 2, tòa nhà lại trở thành bệnh viện đa khoa. Kể từ năm 1969, sau khi bệnh viện được dời đi nơi khác, tòa nhà này trở nên một trung tâm cho các sinh hoạt quân sự về biên phòng, và từ năm 1975 cho đến năm 2006 chính thức thuộc về quân đội liên bang Đức (Deutsch Bundeswehr). Tòa nhà có chiều dài 150m, chiều ngang từ 12 đến 16m, với sáu tầng (kể cả tầng hầm) và có tổng diện tích mặt bằng khoảng 12.000m2. Tòa nhà có thể cung cấp chỗ ở cho khoảng 500 người và các phòng ốc khác dùng để tu học. Đại chúng biết rằng mình sẽ phải đầu tư rất nhiều tài chánh và năng lực để thực hiện công trình xây dựng Viện Phật học. Tuy nhiên, những dự tính về thời gian cũng như ngân quỹ sửa chữa đã phải bị thay đổi rất nhiều vì trong quá trình sửa chữa và xây cất lại có phát sinh thêm những đòi hỏi quan trọng và thiết yếu khác của cơ quan xây cất chính quyền.
Trước đây, tòa nhà là một trung tâm sinh hoạt của quân đội liên bang Đức, do đó những yêu cầu về tiêu chuẩn phòng hỏa của tòa nhà được xác định dựa trên những quy chế đặc biệt dành riêng cho quân đội. Giờ đây, tòa nhà được sử dụng như một cơ sở dân sự, nên những đòi hỏi về xây cất trên khía cạnh phòng hỏa, các hệ thống điện và cầu thang thoát hiểm cần phải thay đổi rất nhiều và dĩ nhiên khắt khe hơn để đáp ứng những yêu cầu theo quy chế dân dụng. Ngoài ra, phần lớn hệ thống ống nước đã được lắp ráp vào những thập niên 30, nay đã bị rỉ nặng và hư hỏng rất nhiều. Thêm vào đó, toàn bộ thiết kế của nhà bếp đã quá lỗi thời, không còn đáp ứng được những tiêu chuẩn đặt ra hiện nay về phương diện vệ sinh và y tế công cộng. Hệ thống lò sưởi cần phải được sửa chữa lại rất nhiều vì đã bị rỉ chảy. Quan trọng hơn cả là hệ thống lò sưởi cần phải được thiết kế lại theo tiêu chuẩn mới để có thể tiết kiệm được năng lượng và giúp bảo vệ sinh môi. Các nhà vệ sinh và phòng tắm công cộng cũng cần phải được xây cất thêm để đáp ứng cho nhu cầu mới. Tình trạng của tòa nhà hiện nay không hội đủ tiêu chuẩn phòng hỏa cần thiết để được phép nhận khách thăm viếng, mở các khóa tu, cũng như tổ chức những hoạt động công cộng khác.
Trong mười năm qua, nhờ sự thương yêu, yểm trợ của quý vị đạo hữu và thân hữu khắp nơi trên thế giới, tăng thân chúng ta đã trùng tu được tầng trệt (2012) và 1/5 (một phần năm) tòa nhà của Viện Vô Ưu (2010). Những phần này quý thầy và quý sư cô hiện nay chỉ được giấy phép sử dụng tạm thời với sự gia hạn hai năm một lần cho đến khi toàn thể tòa nhà được sửa chữa xong. Để quân bình năng lượng cho toàn bộ khu đất của Viện Vô Ưu và chùa Đại Bi, chúng ta đã xây dựng (2013) một tháp chuông đại hồng với chiều cao 21m với những biểu tượng hàm chứa giáo lý và con đường thực tập của đạo Bụt. Năm vừa qua (2017), sau bốn năm xây dựng, nhà bếp và phòng ăn cũng đã được hoàn tất và theo yêu cầu của chính quyền địa phương, hệ thống phòng hỏa trung ương cho chùa Đại Bi cũng đã được thực hiện.
Trên phương diện tu học và hành trì, trong mười năm qua, các khóa tu học, các chương trình sinh hoạt cho các em học sinh, sinh viên cũng như giao lưu tôn giáo, những buổi pháp thoại công cộng, sinh hoạt cộng đồng, hòa tấu gây quỹ, v.v. được tổ chức ngay tại Viện Phật học, hay tại các địa điểm khác trong cũng như ngoài châu Âu do Sư Ông, quý thầy quý sư cô của Viện Phật học và tăng thân Làng Mai đảm trách đã giúp cho hàng vạn lượt người khắp nơi trên thế giới biết đến pháp môn, tu tập và chuyển hóa những khổ đau của tự thân và hòa giải được với những người thân trong gia đình. Số lượng thiền sinh đến tu học mỗi ngày một đông hơn. Có những khóa học đông, thiền sinh phải mướn phòng trọ ở bên ngoài. Có những cuối tuần, quý thầy quý sư cô gặp khó khăn trong việc sắp xếp phòng sinh hoạt và thuyết giảng cho tất cả các khóa.
Từ khi biết đến những khổ đau của những bệnh nhân đã từng sống tại đây, trong suốt bảy năm sau khi dọn vào tòa nhà của Viện Vô Ưu, quý thầy quý sư cô đã gửi năng lượng từ bi, cúng cháo mỗi ngày cho các hương linh. Mỗi tuần, toàn thể đại chúng cùng nhau tổ chức cúng thí thực cho các vị khuất mặt, cầu nguyện năng lượng từ bi và hồng ân của chư Bụt, chư vị Bồ tát và chư vị Tổ sư gia hộ cho quý vị đó được vãng sanh Tịnh độ. Hằng năm vào trước các khóa tu mùa Hè, Sư Ông và đại chúng cũng tổ chức trai đàn chẩn tế cho tất cả các nạn nhân đã chết oan ức trong mọi hoàn cảnh khổ đau của cuộc sống, đặc biệt là cho các nạn nhân tại Waldbröl và trong các cuộc chiến tranh. Trong những lần chẩn tế đầu, có lúc gió bão nổi lên cuồn cuộn rất mạnh. Chư vị tôn đức đến thăm viếng Viện Phật học cũng đã tổ chức những buổi lễ cầu siêu và chú nguyện rất nhiều cho các hương linh.
Nhờ công phu tu tập tinh chuyên và sự tùy hỷ hồi hướng công đức của toàn thể tứ chúng cho tất cả mọi người và mọi loài, năng lượng thương yêu, hiểu biết và bao dung càng ngày càng được bồi đắp tại vùng đất mới này. Nhờ vậy mà sự hòa giải, tha thứ và chấp nhận cũng từ từ được biểu hiện, giúp cho năng lượng khổ đau của những nạn nhân trong quá khứ tại nơi đây cũng nhẹ đi được một phần nào. Những vị khách đã từng đến Viện Phật học từ những ngày đầu, giờ đây chia sẻ là họ đã nhận thấy rõ rệt sự chuyển hóa lớn trong năng lượng tại nơi đây. Năng lượng của Viện Phật học giờ đây nhẹ nhàng, tươi vui và sáng đẹp hơn xưa rất nhiều.
Chúng tôi ý thức rất rõ những chuyển hóa nêu trên vẫn còn rất nhỏ bé so với tâm nguyện độ sanh bao la rộng lớn, Đại Từ, Đại Bi của Sư Ông, của chư vị Bồ tát và chư vị Tổ sư. Đón mừng xuân năm nay, chúng tôi ý thức rõ trong mười năm qua công trình xây dựng Viện Phật học và những thành quả tu học của tăng thân Viện Phật học vẫn còn rất khiêm tốn. Những ước nguyện độ sanh mà Sư Ông đã giao phó cho tứ chúng Viện Phật học, chúng ta chỉ mới thực hiện được một phần rất nhỏ. Do vậy năm nay Viện Phật học có thêm một cặp đối Học viện mười năm hoa kết nụ / Rừng thiền muôn thuở cội tùng xanh bên cạnh cặp hồng điều Một nhà sum họp / Khắp chốn an vui để mừng Tết của tứ chúng Làng Mai.
Chúng tôi hy vọng chỉ trong một vài năm tới, công trình xây dựng chánh điện, thiền đường và trùng tu Viện Phật học sẽ được thực hiện nhanh chóng cùng với sự thương yêu, yểm trợ của quý vị đạo hữu và thân hữu khắp nơi trên thế giới, để công trình xây dựng một trung tâm tu học theo tinh thần đạo Bụt Ứng dụng và Nhập thế của Sư Ông cho toàn thể châu Âu cũng như trên toàn thế giới được thành công viên mãn.
Trân quý,
Tỳ kheo Thích Chân Pháp Ấn và quý thầy, quý sư cô Viện Phật học Ứng dụng châu Âu.
Mạ còn đó bình yên như hơi thở
Mạ thuỷ chung âm thầm như nguồn cội
Bãi vắng trưa xô gió cát lao xao
Mặc gió mưa giông bão thét gào
Mạ còn đó bình yên như hơi thở.
Tôi chẳng nhớ những câu thơ tôi viết cho Mạ khi nào, có lẽ đã lâu lắm rồi, lúc tôi còn là một cô sa di nhỏ. Mỗi lần cùng Mạ lên Diệu Trạm thăm, thế nào cũng có sư em rỉ tai tôi, giọng nghịch ngợm: “Sư cô ơi, sao con nhìn Mệ trẻ trung vui vẻ hơn sư cô nữa à nha!”. Các sư em gọi Mạ tôi là Mệ, như cách người Huế thường gọi người lớn tuổi. Tôi muốn viết và kể chuyện của Mạ, nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu, bởi có quá nhiều điều vui buồn, khổ đau và hạnh phúc suốt cuộc đời của Mạ. Nhìn thấy tất cả nét vui tươi hồn nhiên trong mắt cùng giọng cười vui vẻ của Mạ, thật khó mà tin rằng Mạ đã đi qua bao nhiêu gian nan, lao nhọc và khó khăn, khổ đau chồng chất trong đời.
Lúc mới hơn mười tuổi, tôi đã tròn xoe mắt khi Mạ dặn dò: “Ra đường phải vui vẻ và mỉm cười với mọi người nghe con. Dù con có đói ba ngày, con vẫn phải tử tế với người khác. Có khi người đang đứng trước mặt con còn khó khăn hơn con nhiều lắm, con không có gì để cho, nhưng con còn có nụ cười!”. Lớn lên tôi là một người hay cười, có lẽ cũng nhờ những lời dạy và cách hành xử của Mạ.
Mạ không biết chữ, lúc mang thai tôi, là con thứ năm trong nhà, Mạ mới được vài ba đêm cầm cây đèn dầu đến nhà cô giáo làng ở xóm trên, theo lớp Bình dân học vụ. Ba mất, để lại cho Mạ bảy đứa con và lời trăn trối thiết tha: “Một là đừng cho đứa nào theo nghề của Ba đi đánh cá, hai là cố gắng cho con học hành tới nơi tới chốn”. Năm đó Mạ 38 tuổi. Ba mất, Mạ không còn cơ hội nào mơ đến những con chữ bí mật mà hấp dẫn đó nữa, dù niềm yêu thích đọc chữ vẫn không hề nguôi ngoai. Những người con của Mạ, hết người này đến người khác, học hành và ra trường, là những người đỗ đại học đầu tiên ở quê, sau này làm bác sĩ, làm kỹ sư, làm thầy giáo và là niềm tự hào của Mạ. Anh em tôi từ lâu đã có ý định bày cho Mạ học đọc, nhưng hình như chưa ai thật sự làm cả.
Có một lần, anh Phong, anh thứ ba của tôi, lúc đó đã là thầy giáo, về thăm Mạ. Buổi trưa hôm đó, nằm thiu thiu nơi võng, anh Phong nghe giọng Mạ chầm chậm đánh vần từng chữ một, anh tỉnh hẳn và lắng tai nghe. Mạ đánh vần thật. Mạ biết đánh vần và đọc từng chữ, từng chữ nơi cuốn “kinh Nhật Tụng của Mạ”. Sư em Nguyên Tịnh đã chọn in một số bài kinh, bài sám với cỡ chữ lớn và làm quà tặng Mạ, trong một dịp các anh chị em xuất sĩ đi thăm các ba mẹ. Anh Phong ngồi dậy, len lén nhìn sang Mạ, có lẽ để biết chắc đó là Mạ. Mạ vẫn hồn nhiên chăm chú đánh vần, không biết rằng thằng con trai đã lớn của mình đang khóc. Anh Phong khóc, và các anh em tôi đều khóc khi nghe anh kể chuyện đó.
Sau này mỗi lần về thăm, tôi đều nghe Mạ khoe: “Mạ đã thuộc lòng bài Ba Sự Quay Về rồi nghe cô”, hay là: “Lần vừa rồi ở Diệu Trạm, Mạ đã tụng theo được với quý thầy, quý sư cô hết bài Quy Nguyện luôn đó cô”. Tôi vui vẻ khen ngợi và động viên Mạ. Tôi vui với niềm vui của Mạ, lòng hân hoan như những tháng ngày mới vào chùa và học thuộc lòng thần chú Lăng Nghiêm. Khoảng sáu tháng trước, Mạ băn khoăn: “Cô nè, bài Sám Nguyện dài quá, Mạ học có thuộc nổi không hè?”. Tôi mỉm cười, nói giọng tự tin và “tỉnh bơ”, dù lòng rưng rưng thương Mạ: “Đương nhiên là Mạ sẽ thuộc rồi, như là Mạ đã thuộc rất nhiều bài sám khác. Mạ học từ từ từng đoạn thôi. Bây chừ Mạ đọc ro ro rồi mà”. Mạ đã lớn tuổi, mỗi đêm, vẫn thắp hương lên bàn thờ Bụt, bàn thờ Tổ tiên và thầm khấn nguyện để kiếp sau được làm người xuất gia.
Tôi và em tôi xuất gia, dù “đã là con của Phật chớ mô còn là con của mình” như lời Mạ thường trả lời các bác hàng xóm mỗi lần họ tán dương rằng Mạ quả thật phước đức khi có hai người con đi tu, tôi vẫn biết rằng thực tập để nuôi dưỡng và làm cho tươi mát niềm vui sống mãnh liệt trong tim là điều tôi sẽ học hỏi và thừa hưởng suốt đời từ Mạ. Hễ lúc nào cánh cửa còn hé mở, thì ánh sáng nhất định biết cách tràn vào. Hễ lúc nào trái tim còn để ngỏ thì tình thương và niềm tin sẽ mãi thắp sáng đôi mắt và mọi nẻo đường mình bước qua. Tôi nguyện giữ gìn nụ cười của Mạ để tâm hồn tôi được tắm mát trong dòng suối thanh lương đó.
Mùa Đông, Huế, 04.01.2020
Chân Thuần Khánh
Bụt là vầng trăng mát
Thơ: Sư Ông Làng Mai
Giọng hát: Sư cô Diễm Nghiêm
Bụt là vầng trăng mát
Đi ngang trời thái không
Hồ tâm chúng sinh lặng
Trăng hiện bóng trong ngần.
Bông hồng cài áo
Một bông hồng cho em
Một bông hồng cho anh
Và một bông hồng cho những ai
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn
Rủi mai này Mẹ hiền có mất đi
Như đóa hoa không mặt trời
Như trẻ thơ không nụ cười
Ngỡ đời mình không lớn khôn thêm
Như bầu trời thiếu ánh sao đêm
Mẹ, Mẹ là dòng suối dịu hiền
Mẹ, Mẹ là bài hát thần tiên
Là bóng mát trên cao
Là mắt sáng trăng sao
Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối
Mẹ, Mẹ là lọn mía ngọt ngào
Mẹ, Mẹ là nải chuối buồng cau
Là tiếng dế đêm thâu
Là nắng ấm nương dâu
Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời
Rồi một chiều nào đó anh về nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu
Rồi nói, nói với Mẹ rằng “Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không ?”
-Biết gì ? “Biết là, biết là con thương Mẹ không ?”
Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh
Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em
Thì xin anh, thì xin em
Hãy cùng tôi vui sướng đi.
Xem thêm: Lễ Bông Hồng Cài Áo 2021 tại Làng Mai, Pháp




























































