Nhân duyên nào đã đưa bạn đến đây?

Chỉ vài ngày nữa thôi, Làng Mai sẽ tổ chức lễ xuất gia cho 9 em tập sự đến từ nhiều quốc gia trên thế giới. Dưới đây là một vài chia sẻ của các em về những nhân duyên đã đưa các em tới với Làng, và chọn con đường xuất gia này. Bên cạnh đó các em cũng trải lòng chia sẻ  điều mà các em cảm thấy khó buông bỏ nhất khi đi xuất gia.

Chia sẻ của tập sự Jie Wu, 30 tuổi, người gốc Trung Quốc đến từ Bồ Đào Nha:

Hồi trước, khi còn là sinh viên con thích khám phá, trải nghiệm và con đã thử học nhiều ngành khác nhau. Con thích đi đây đó, và đã đặt chân đến nhiều nơi trên thế giới, nhưng những điều ấy không mang con tới cái đích mà con muốn đến. Ví dụ có lần con muốn trở thành họa sĩ, con đã học hội họa vài năm. Và rồi con lại muốn trở thành nhà sản xuất phim, con đi học làm phim một thời gian. Sau đó, con qua Ấn Độ, sống ở đó gần một năm rưỡi. Con tham gia các hoạt động xã hội, dạy trẻ em học tiếng Anh và học nhảy. Ông hiệu trưởng ở trường ấy rất thương con và hay rủ con đọc sách về Phật giáo. Có một lần ông ấy giới thiệu cho con cuốn “Đường Xưa Mây Trắng” của Sư Ông Làng Mai. Con nghĩ là hạt giống bồ đề đã được gieo trong con và nó vẫn âm thầm lớn lên trong con suốt thời gian đó. Thật ra con vẫn chưa đọc quyển sách ấy cho đến khi đặt chân đến Làng Mai, nhưng con cũng đã có cơ hội đọc vài cuốn sách khác của Sư Ông, trong đó có cuốn “Thương yêu theo phương pháp Bụt dạy”, hay cuốn “Bụt và Chúa là anh em”. Năm 2015, con tham gia những hoạt động xã hội và con nhận ra trong con hạt giống giận rất lớn. Trong khi làm nhà hoạt động xã hội con đã bị quá tải và kiệt sức, vì vậy con quyết định đến Làng Mai để chữa trị và phục hồi năng lượng cho chính mình. Con tưởng là Sư Ông vẫn còn ở đây, nhưng lúc đó Sư Ông đã về Thái Lan. Nhưng thật may là con vẫn có cơ hội được gặp quý thầy khác của Làng. Nhờ vậy mà con cũng giải tỏa được những khúc mắc trong lòng mình. Con nhớ, một lần khi nghe bài pháp thoại với nội dung “Hàn gắn và chữa lành mối liên hệ với ba”, bài pháp thoại đã thật sự đánh động vào tâm can con. Trở về nhà, con cố gắng áp dụng những pháp môn được học tại Làng vào sự thực tập trong đời sống của mình. Nhưng cứ mỗi lần có khó khăn với gia đình, con vẫn không thể nào chịu đựng được và con lại bỏ nhà ra đi. Con đã qua Canada sống trong vòng hai năm. Con tìm đến và tham gia tăng thân tu học theo pháp môn Làng Mai ở đó. Con cũng sinh hoạt theo tăng thân Wake Up – cho những người trẻ ở Toronto. Nhờ đó mà con vượt qua và sống sót được sau những giông tố của cuộc đời. Rồi con lại quay về nhà lần nữa. Năm ngoái con đã quyết định qua Làng Mai thực tập hai tuần, lúc đó con xin được làm cư sĩ ngắn hạn. Sau thời gian thực tập đó, con muốn ở lại Làng thêm để thực tập sâu sắc hơn. Nhờ sự giúp đỡ của quý thầy, con đã được phép ở lại tham dự khóa tu An Cư năm đó. Từ sau khóa tu An Cư ấy hạt giống xuất gia đã bắt đầu lớn mạnh hơn trong con. Bây giờ đây, con cảm thấy rất hạnh phúc khi có đủ cơ duyên để được biểu hiện trong một gia đình tập sự rất dễ thương như thế này.

Tuy nhiên, vì còn mới trong sự thực tập cũng như trong vị trí của một người tập sự nên con vẫn còn thấy chưa dễ dàng để buông xuống trách nhiệm của mình với gia đình. Con là anh cả trong nhà nên từ nhỏ tới lớn con đã luôn ý thức về trách nhiệm chăm sóc cho gia đình, nhất là khi cha mẹ về già. Và hiện tại, con cũng đang cố gắng thực tập để “từ bỏ” cái điện thoại và máy tính xách tay của mình.

Ba mẹ con là người Trung Quốc, nhà con ở cách Thượng Hải bốn tiếng đồng hồ đi xe. Nhưng sau đó gia đình con đã chuyển qua Mỹ sinh sống. Khi đến Mỹ, ba mẹ con làm việc ở nhà hàng, có khi làm trong xưởng may mặc. Sau đó gia đình con tiếp tục chuyển qua Bồ Đào Nha, lúc này ba mẹ con đã tự đứng ra mở một nhà hàng. Vậy nên, con đã từng sống ở Mỹ, ở Bồ Đào Nha, và cũng từng sống ở Trung Quốc với ông bà của con. Thành ra, ba mẹ của con đã phải di chuyển rất nhiều.

 

Tập sự Jie Wu

 

 

Chia sẻ của tập sự Aurelien Jacques Thierry Gerard Delaux 32 tuổi đến từ Pháp:

Con bắt đầu thực tập theo pháp môn Làng Mai từ ba năm về trước. Công việc cuối cùng con làm trước khi đến đây là huấn luyện viên dạy về quản lý cảm xúc. Nhưng con nghĩ là con chỉ có thể giúp người ta cách làm dịu đi những cảm xúc của họ chứ không thật sự giúp họ chuyển hóa được những cảm xúc ấy. Con đã từng có một cuộc sống rất thoải mái. Con có nhiều tiền nên dễ dàng có trong tay mọi thứ con muốn, chỉ hưởng thụ cuộc sống. Điều kiện về tiện nghi vật chất luôn đầy đủ là vậy nhưng con luôn cảm thấy có một thứ gì đó cứ thao thức trong lòng mình. Khi bắt đầu thực tập pháp môn Làng Mai, con cảm nhận đời sống của mình đã khác hẳn trước kia. Duy trì sự thực tập như một người cư sĩ thực tập bình thường, cho đến một ngày, con có cảm giác như mình đang đặt một chân trên mặt đất còn chân kia thì lại đặt trên một con thuyền. Mà con thuyền ấy thì đang rời bến ra khơi. Đến khi con không thể chịu đựng nổi cảm giác đó nữa là lúc con biết mình phải quyết định dứt khoát cho cuộc đời của mình. Con muốn trở thành một người xuất gia. Con có thể cảm nhận được tầm quan trọng của Bụt và Pháp nhưng chưa thật sự cảm nhận được ý nghĩa của tăng thân. Vì vậy con đã tham gia sinh hoạt trong một tăng thân cư sĩ tại địa phương để có thể hiểu thêm về tăng thân. Trong tăng thân của con có một người rất ngưỡng mộ Sư Ông Làng Mai, người ấy kể cho con về Sư Ông. Con tự hỏi mình: “Sư Ông là ai? Có phải Sư Ông là một thầy tu người Việt Nam? Trong buổi sinh hoạt đầu tiên ấy, con đã rất ngạc nhiên khi thấy mọi người cùng hát chung với nhau một vài bài hát trước khi bắt đầu chia sẻ. Con hỏi để xin gợi ý cuốn sách nào nên đọc khi mới bước đầu thực tập thì có một bạn đã tặng con cuốn “Im lặng sấm sét”. Mọi người trong tăng thân chia sẻ rất nhiều về Sư Ông. Con sống ở khu vực Marseilles (Pháp), cách nơi sinh hoạt của tăng thân ở Bordeaux vài giờ đi xe. Con đã tham gia sinh hoạt với tăng thân ở đó vài lần từ tháng tư năm ngoái, con đã thực sự hiểu sâu hơn tầm quan trọng của tăng thân. Con nhận ra rằng dù mới chỉ có một tuần thực tập cùng tăng thân thôi mà con đã có rất nhiều chuyển hóa, có khả năng lắng nghe người khác, có niềm tin vào sự thực tập. Ngay lúc ấy con quyết định mình phải trở thành người xuất gia. Con sắp xếp công việc và mọi thứ để có thể đến tham dự khóa tu an cư ba tháng và có mặt ở đây với mọi người.

Hiện tại, con vẫn đang nỗ lực thực tập để chuyển hóa những nỗi sợ hãi, lo lắng, và sự đòi hỏi bản thân. Đôi khi trong lòng con hay xuất hiện suy nghĩ trách móc và phát xét chính mình như “mình không đủ hay, không đủ tốt”, “tại sao mình lại chia sẻ chuyện này, lại chia sẻ chuyện kia”. Con dần quen với những tâm hành đó nhưng vẫn luôn ý thức về chúng để tiếp tục thực tập của mình.

 

Tập sự Aurelien Jacques Thierry Gerard Delaux

 

 

Chia sẻ của Tập sự Ian Campbell Wiseman 26 tuổi, đến từ Mỹ:

Một ngày nọ, mẹ con đưa cho con cuốn “An lạc từng bước chân” của Sư Ông. Con cảm thấy những điều trong cuốn sách có liên hệ rất sâu sắc tới con. Con cảm nhận được trái tim của Sư Ông đặt trọn vào những việc rất nhỏ nhặt hằng ngày cho tới những điều vĩ đại lớn lao. Quyển sách đã thật sự đánh động con. Từ nhỏ đến lớn con chưa từng nghe ai dạy cho mình biết những điều giản dị mà màu nhiệm như thế. Sau đó con đã đăng ký tham gia sinh hoạt trong một tăng thân cư sĩ nhỏ ở thành phố Kansas (Mỹ), cũng khá gần nơi con sống. Một năm sau, con quyết định sẽ đến Làng Mai. Và mùa hè năm ngoái con đã tham dự hai tuần cuối của khóa tu mùa hè. Thật ra người giúp con tìm đến nơi này là Sư Ông, nhưng thực sự chính tăng thân Làng Mai đã khiến cho con quyết định ở lại đây.

Điều gì mà con cảm thấy khó buông bỏ nhất để xuất gia? Thật sự, con đã từng cảm thấy rất khổ sở trong mấy tháng đầu tiên khi mới trở thành người tập sự xuất gia. Tham dự vào đời sống giản dị cùng tăng thân, con nhận ra mình cần phải từ bỏ rất nhiều thứ để có thể sống thảnh thơi trong đời sống này. Nhưng cứ mỗi lần nhìn lại những thứ mà mình nghĩ sẽ từ bỏ thì hàng triệu lý do lại đi lên để biện minh khiến con rất khó khăn trong việc từ bỏ chúng. Chẳng hạn như cái điện thoại di động của con. Mặc dù có một động lực mạnh mẽ trong con cho biết rằng nếu con bỏ được nó thì sẽ rất hay nhưng con vẫn loay hoay mãi với nó. Con có nhiều lí do để muốn giữ nó lại như: nó cũng là phương tiện để con giữ liên lạc với những người thương, hay để xem giờ,… Con thấy mình đã sống khá xa gia đình rồi, nên những tâm tư như vậy hay xuất hiện trong con. Cuối cùng con nhận ra rằng nếu con thực sự quan tâm và thương yêu người thân của mình, thì sẽ có rất nhiều phương tiện và thời gian để con có mặt với họ. Dù chỉ một món đồ điện tử nhỏ xíu như cái điện thoại mà con đã quen dùng từ năm con mười ba tuổi cũng khiến cho con khó buông bỏ. Nên khi buông bỏ được thì cũng là một sự buông bỏ thật sự.

 

Tập sự Ian Campbell Wiseman.

 

 

Chia sẻ của tập sự Rosa Maria Martinez Santaella, 48 tuổi, đến từ Tây Ban Nha:

Con được sinh ra trong một gia đình theo đạo Công Giáo. Năm nay con đã 48 tuổi. Từ lúc 2 tuổi đến năm 17 tuổi con theo học ở một trường Công Giáo do các xơ dạy. Từ năm 18 tuổi, con đã tâm sự cho gia đình con về ước nguyện được sống và lớn lên trong tu viện với các xơ và đi theo họ đến Nam Mỹ để truyền giáo. Các xơ ở đó thường đi Nam Mỹ để truyền giáo và giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn. Đó cũng là ước mơ của con. Trong gia đình, con là con cả, sau con còn có ba người em. Hồi đó, nhà con rất nghèo, nên ba con phải làm việc rất vất vả để mang lại một cuộc sống thoải mái cho chị em con. Lớn lên con chỉ biết đi theo đường của ba đã định sẵn cho con. Con cũng đi học đại học, rồi lập gia đình. Việc làm ăn của con rất tốt, con đã tự mình mở một cơ sở kinh doanh mà tính đến nay cũng đã được 25 năm. Con có một đứa con gái. Con từng đảm trách những chức vụ cao cấp và có liên hệ với những chính trị gia. Trong lòng họ thường có những cam kết rất sâu sắc về việc muốn giúp đỡ người khác. Con cũng cảm nhận tâm bồ đề dũng mãnh trong con. Hai năm trước, có lần con đã nói với em trai mình – người bạn thân thiết nhất của con, rằng có lẽ sau này con muốn trở thành một nữ tu. Em con nói với con: “Chị ơi, chị sẵn đã là một nữ tu rồi”. Và lúc đó con nhận ra, thực sự vừa là một doanh nhân, vừa là một nữ tu là một điều hết sức khó khăn. Con đã phải một mình đối mặt với rất nhiều khổ đau, có lẽ cũng do cách nhìn sai lạc về con đường phụng sự và ý niệm sai lầm về từ bi của con. Có lúc con đã hùng hồn chia sẻ về những thực tập mà con tự nghĩ ra dựa trên đức tin có sẵn. Con xuất thân từ đạo Công Giáo và con cũng học được một chút ít về đạo Bụt. Sự thực tập đã giúp con ổn định hơn với đời sống của mình. Nhưng hai năm gần đây, có nhiều chuyện xảy ra khiến con cảm tưởng đó là giai đoạn đen tối nhất trong đời mình. Con không thể tìm thấy một tia sáng nào để mà tiếp tục sống, con hoàn toàn đánh mất mục đích sống của mình. Trong đời mình con đã làm những điều mà con cho là theo đúng với nguyên tắc sống, giá trị sống của mình, nhưng mọi thứ vẫn đầy rối rắm. Con gái con đã nói với con rằng bây giờ là thời điểm mà con có thể thực hiện những điều mà con từng mơ ước. Vì thế, con đã đăng ký tham dự khóa tu một tuần ở Làng Mai. Con biết đến chánh niệm như là một công cụ để quản lý, kiểm soát sự căng thẳng trong đời sống kinh doanh. Trong tuần đầu tiên ở Làng, qua cách nói chuyện của con, những bạn thiền sinh tu tập cùng đã khuyên con nên trở thành một người xuất gia. Lúc đó con nghĩ đây là điều không thể. Con đang sống ở Úc với một người chồng rất tốt, con còn hai đứa con nhỏ, rồi cả công việc kinh doanh của con ở Tây Ban Nha. Con muốn lắm, nhưng con nghĩ chắc trong kiếp này mình không thể. Con đã khóc rất nhiều. Con tự hỏi tại sao mình đã đến được đây mà mình lại không thể làm được điều đó. Nhưng thật mầu nhiệm, trong khóa tu con đã “tỉnh thức”. Con thấy con đường và mọi thứ rõ ràng hơn. Con nhận ra rằng trước đây con chỉ biết nhìn ra bên ngoài mà chưa từng nhìn sâu vào bên trong tự thân mình. Con luôn chăm sóc cho người khác, luôn nhìn vào đời sống của họ mà chưa từng chăm sóc và nhìn sâu vào chính bản thân. Chỉ trong một tuần thực tập con đã có thể thấy mình rõ hơn, thật sự tỉnh thức khỏi cơn mê. Và từ lúc đó, con phát nguyện sẽ thực tập hai mươi bốn giờ mỗi ngày. Dù con không làm gì nhiều nhưng người bạn đời của con có thể nhận ra được những thay đổi trong con. Con nói với chồng con rằng con muốn đặt sự thực tập làm trọng tâm của đời sống con. Anh ấy khuyên con nên thật lòng với chính mình và thành thật với anh ấy. Và hãy làm điều đó theo cách mà con vẫn luôn làm với mọi thứ trong đời con, cứ làm hết khả năng của con thì con sẽ trở thành một tu sĩ. Sau đó con tiếp tục quay lại Làng nhiều lần và rồi con quyết định ở lại. Một sư cô nói với con là con không cần phải nghĩ ngợi gì cả. Nếu thực sự đủ duyên thì mọi thứ sẽ tự nhiên biểu hiện. Và điều đó đã trở thành sự thật.

Tuy là vậy nhưng con vẫn còn cảm thấy rất thử thách khi thực tập buông xuống những mong muốn được có mặt bên những người mà con yêu thương. Con luôn nghĩ rằng họ cần đến con. Có lẽ nó có liên hệ tới ý niệm con tự cho mình là một vị Bồ tát giải quyết những chuyện khó khăn trong cuộc sống của họ. Con nghĩ là nếu không có con thì sẽ có nhiều rắc rối xảy ra. Đây là khó khăn làm con phải chật vật trong tháng đầu tiên khi con quyết định viết thư xin tập sự. Nhưng cũng trong thời gian này, khi liên lạc với người thân, con đã xây dựng được một mối liên hệ sâu sắc vô hình. Khi gọi điện thoại hay nói chuyện, con có thể có mặt một trăm phần trăm cho họ, và con biết mình cần làm gì để có thể giúp đỡ họ.

 

Tập sự Rosa Maria Martinez Santaella.

 

Không đến, không đi

(Trích trong cuốn “Planting seeds” của Sư Ông và tăng thân Làng Mai)

Khi nhìn vào tờ giấy này, có thể người ta sẽ nghĩ rằng tờ giấy này không có mặt trước khi nó được làm ra từ bột giấy. Nhưng thực tế thì tờ giấy đã có mặt từ lâu rồi, trong nhiều hình thái khác nhau. Nhìn vào tờ giấy mình có thể thấy một đám mây đang bay trên bầu trời. Nếu như không có mây thì sẽ không có mưa và cũng không thể nào có cây cối để làm nên tờ giấy này. Nếu chúng ta lấy đám mây ra khỏi tờ giấy thì tờ giấy cũng không thể nào còn có mặt. Nhìn sâu vào tờ giấy, ta có thể tiếp xúc được với đám mây.

Tờ giấy này có mặt trước khi nó được sinh ra? Có phải là từ không tờ giấy trở thành có? Trên thực tế thì không có cái gì có thể từ “không” trở thành “có”. Tờ giấy “tương tức” với mặt trời, cơn mưa, đất đai, nhà máy, người công nhân, thực phẩm mà người công nhân ăn mỗi ngày.  Bản chất của tờ giấy là tương tức. Nếu mình có khả năng tiếp xúc với tờ giấy thì mình cũng tiếp xúc được với cả vũ trụ bao la. Trước khi được sản xuất từ nhà máy, thì tờ giấy đã là ánh nắng mặt trời, là cây xanh trong rừng. Do đó, ngày mà tờ giấy ra đời chỉ là một ngày tiếp nối mà thôi, chúng ta không nên để cái tướng lừa gạt mình.

Chúng ta biết rằng tờ giấy không thực sự được sinh ra. Nó đã có mặt trước đó rồi, bởi vì tờ giấy không thể nào đến từ không. Làm sao chúng ta có thể đột nhiên từ không mà trở thành có. Rất là vô lý.

Có thể chúng ta thường nghĩ rằng khi mình được mẹ sinh ra nghĩa là bỗng nhiên từ không mà mình trở thành có. Nhưng thực ra cái giây phút mẹ sinh mình ra trong bệnh viện chỉ là một sự tiếp nối mà thôi. Bởi vì chúng ta đã có mặt trong bụng mẹ chín tháng rồi. Nên cái ngày sinh trong giấy khai sinh không đúng đâu, chúng ta phải lùi về chín tháng mới đúng chứ. Chúng ta nghĩ là khi chúng ta bắt đầu biết nhận thức là lúc chúng ta tồn tại, nhưng nếu nhìn thật sâu thì chúng ta là một nửa của ba, là một nửa của mẹ. Vì vậy, giây phút chúng ta biết nhận thức chỉ là một sự tiếp nối mà thôi. Thiền tập giúp ta nhìn sâu vào tự thân để thấy được tự tính không sinh không diệt của chính mình.

Hãy thử tưởng tượng đại dương với rất nhiều con sóng. Con sóng này khác con sóng kia, có con sóng rất hào hùng, nhưng cũng có con sóng nhỏ lăn tăn. Con sóng nào cũng đẹp. Mình có thể diễn tả sóng bằng cách này hay cách kia nhưng khi tiếp xúc sâu sắc với sóng mình tiếp xúc được với một thứ khác nữa: đó là nước.

Tưởng tượng mình là một con sóng trên mặt đại dương. Con sóng dâng lên cao, nó dừng lại nghỉ một chút ở độ cao đó rồi hạ xuống. Đó là điểm kết thúc của một con sóng. Nhưng khi ta tiếp xúc được với nước- bản chất của con sóng- thì ta không còn sợ hãi nữa. Theo tuệ giác tương tức thì ta là một con sóng, ta sống chung với những con sóng khác, nếu nghĩ rằng mình chỉ là một con sóng, không dính líu gì với những con sóng khác thì chúng ta sẽ khổ đau rất nhiều. Kỳ thực thì mỗi giây phút trong đời sống hàng ngày đều là sự tiếp nối, chúng ta vẫn tiếp tục biểu hiện trong một hình thức khác.

Khi đám mây sắp rơi xuống thành cơn mưa, đám mây không cảm thấy sợ hãi. Dù mây rất thích được làm áng mây lững lờ bay trên nền trời, nhưng đám mây cũng biết là được làm những hạt mưa, rơi xuống đại dương và tưới mát đồng ruộng thì cũng hạnh phúc không kém. Giây phút mà mây trở thành mưa không phải là mây chết đi, giây phút đó chỉ là sự tiếp nối của mây mà thôi.

Có những người nghĩ rằng họ có thể xóa bỏ hết mọi thứ. Họ nghĩ là họ có thể làm cho John F. Kennedy, Martin Luther King or Mahatma Gandhi… tan biến mãi mãi. Nhưng thật ra khi họ giết một người nào đó, thì người ấy càng trở nên mạnh mẽ hơn nữa. Người ta không bao giờ có thể xóa sổ dù chỉ là một tờ giấy. Khi đốt tờ giấy này, tờ giấy đâu trở thành không, tờ giấy đã trở thành sức nóng, thành tro và thành khói bay lên. Khói đã hòa quyện vào đám mây. Có thể ngày mai đây mình sẽ gặp lại làn khói đó trong một giọt sương. Đây chính là tự tánh của tờ giấy, chúng ta không thể nào nắm bắt sự đến và đi của tờ giấy. Tờ giấy vẫn còn có mặt đó, trong một đám mây bay hay trong một hình thức khác. Mình mỉm cười và thì thầm với tờ giấy: “hẹn gặp lại bạn ngày mai nhé!”

Tuổi tác và cái chết

Trẻ em hỏi: Thưa Thầy, Thầy bao nhiêu tuổi ạ?

Sư Ông: Ồ, con nói trước cho thầy biết là con bao nhiêu tuổi?

Trẻ em: Con sáu tuổi, gần bảy tuổi rồi ạ.

Sư Ông: Con nghe này, thầy sẽ tặng con một câu trả lời thiệt hay. Thầy là sự tiếp nối của Bụt cho nên thầy đã có 2600 năm tuổi rồi.

Trẻ em: Ồ!.

Sư Ông: Thầy cũng là sự tiếp nối của ba của Thầy nên Thầy đã được 110 tuổi rồi. Con cũng là sự tiếp nối của Thầy và con có Thầy trong con, cho nên Thầy chỉ mới sáu tuổi thôi!

 

 

Vượt thoát tử sinh

Trẻ em hỏi: Thưa thầy, tại sao một ngày nào đó mình cũng phải chết đi?

Sư Ông: Con thử tưởng tượng trên đời này, người ta chỉ có sinh ra mà không có chết đi, cho đến một ngày trái đất không còn có đủ chỗ cho mọi người đứng nữa. Người ta chết đi thì mới có chỗ cho con cháu của mình sinh ra chứ. Mà con cháu của mình là ai? Chính là mình chứ ai.

Con cháu của mình là một biểu hiện mới của mình. Con trai là sự tiếp nối của người cha. Nếu người cha thấy được rằng con trai là sự tiếp nối của mình thì người cha sẽ không thấy mình đang chết đi. Và người con trai cũng không chết vì cháu ngoại, cháu nội cũng đang tiếp nối mình. Thiền tập của đạo Bụt giúp ta nhìn sâu để thấy không có gì mất đi, mọi vật chỉ thay đổi từ hình tướng này sang hình tướng khác mà thôi.

Con hãy nhìn đám mây trên trời kìa, đám mây không sợ chết đâu, mây sẽ trở thành mưa, mây không chết. Nếu nhìn thật sâu thì con sẽ thấy trong cơn mưa đám mây cũng đang có mặt. Cơn mưa chính là sự tiếp nối của đám mây. Mây chỉ thay đổi hình tướng mà thôi. Mây cũng trở thành tuyết, thành dòng sông, thành nước đá và một ngày nào đó mây sẽ trở thành ly kem mà con ăn. Nếu mây không chịu chuyển hóa thì làm sao có kem cho con ăn?

Thầy không sợ chết vì các đệ tử và con chính là sự tiếp nối của Thầy. Con đã đến đây để học hỏi từ Thầy thì con đã có Thầy trong con rồi đó. Thầy đã trao truyền bản thân Thầy cho con rồi. Nếu con tiếp nhận được một chút hiểu, một chút thương, một chút tỉnh thức từ Thầy thì con chính là sự tiếp nối đẹp của Thầy. Sau này, khi có người muốn đi tìm Thầy thì họ chỉ cần đến gặp con, họ sẽ thấy Thầy ngay. Thầy không chỉ ở đây (Thầy chỉ vào Thầy) mà còn ở đây nữa nè (Thầy chỉ vào em bé).

Trong tất cả giáo lý của đạo Bụt, Thầy thích điều này nhất: Thiền giúp ta vượt thoát ý niệm sinh tử.

Con biết rồi đấy, cái chết rất cần cho sự sống, cho sự tiếp nối. Hàng ngàn tế bào trong cơ thể mình đang chết đi trong từng phút từng giây. Nếu các tế bào không chết đi thì làm sao cơ thể mình có thể tiếp tục sống. Cho nên cái chết và sự sống nương nhau mà có mặt. Nhờ có sự chết mà có sự sống, nhờ có sự sống mà có sự chết. Nếu mình khóc than và đau khổ mỗi khi có tế bào trong cơ thể mình chết đi thì mình sẽ không còn nước mắt để khóc nữa. Nếu mình tổ chức đám tang cho từng tế bào chết trong cơ thể mình thì mình phải tổ chức đám tang cả ngày luôn. Do đó ta phải thấy sự sống và cái chết đang diễn ra từng phút từng giây trong mình. Câu trả lời trước tiên của Thầy là: cái chết đóng một vai trò rất quan trọng. Câu trả lời thứ hai quan trọng hơn là: nhìn sâu để thấy được là chúng ta không sinh ra cũng không mất đi, tất cả chỉ là sự tiếp nối mà thôi. Càng học hỏi con sẽ càng có cái nhìn sâu sắc hơn.

 

Chúng con thương Thầy lắm, Thầy ơi!

08.09.20

Bạch Thầy thương kính của chúng con!

Tối qua con mơ một giấc mơ thật đẹp mà sáng nay ngủ dậy, miệng con vẫn cười ngây ngô một mình… Đó là Thầy ngồi dạy hát thơ Thầy cho chị em con, mặc dù chúng con hát dở ẹc và sai nhạc nhưng Thầy vẫn kiên nhẫn ngồi nghe và mỉm cười.

Thầy ơi! Thầy là người Thầy chỉ lối tâm linh, vừa là người cha bao dung vĩ đại, vừa làm người bạn thấu hiểu tâm tư mọi lứa tuổi… Nếu không gặp Thầy, gặp tăng thân thì con đã không đi tu và không tái sanh trong một kiếp sống mới, lành, ý nghĩa và giá trị như này!

Viết đến đây tự dưng lòng con nghẹn thành từng giọt…

Con xin lạy xuống biết ơn tổ tiên tâm linh đã đưa đường dẫn lối cho con được gặp Thầy, gặp tăng thân. Con biết ơn Thầy nhiều nhiều lắm Thầy ơi. Nếu không làm đệ tử Thầy giờ này chắc con cũng đang trôi lăn trong xã hội, bộn bề, bận rộn, bon chen, rồi chồng con, cơm nước, gạo tiền… như một con rối mà quên đi tính chất tốt đẹp, lành thiện của đời sống con người.

Con biết Thầy luôn dạy chúng con về sự tiếp nối và what happen when we die? (chuyện gì xảy ra khi ta chết?), nhưng cho con được xin một điều dù có trải qua vô lượng kiếp con cũng nguyện được gặp Thầy, được tu tập theo pháp Bụt.

Con nhớ Sư mẹ Thoại Nghiêm có viết trong cuốn “Tay Con Trong Tay Thầy” rằng Thầy đã viết bao lá thư cho chúng con mà chúng con chưa viết nổi một tập thư cho Thầy, trong khi Thầy còn có mặt đây cho chúng con. Con đã bao lần viết thư cho Thầy trong sổ công phu của mình, mỗi lần con lên bờ xuống ruộng, xấc bấc xang bang… hay cả những khi vui đến rạo rực trong lòng. Thầy luôn là người đầu tiên con chọn để thổ lộ, và cảm thấy được cảm thông, an ủi. Thầy trong con luôn sáng đẹp, lung linh, từ bi, thấu hiểu và trí tuệ tuyệt vời. Thưa Thầy, con muốn nói là con rất hãnh diện về Thầy.

Nhắm mắt, lặng yên, nghĩ tới Thầy… tự dưng hình ảnh người trong ngày biểu hiện dâng lên trong con. Đó là một buổi sáng tinh sương, con và sư chị Bạch Nghiêm con đi mua bánh mì mang qua cho Thầy. Chúng con định mang qua rồi về thì được Thầy mời vô ăn sáng. Và Thầy đã tự tay làm “scramble eggs” từ đậu hũ và sữa đậu nành với bánh mì baguette nướng giòn thơm cho chị em con ăn. Con không biết Thầy đã bỏ bí quyết gì mà mấy chị em con thử hoài mà không ai làm ngon như Thầy, thật ạ! Con chỉ biết thưởng thức giây phút đó như là bữa sáng ngon nhất đời mình. Thầy nói khi Thầy đánh răng Thầy nghĩ bài kệ:

 “Tuổi đã ngoài tám mươi.

 Nhai bánh mì rôm rốp.

 Bàn chải cầm trên tay.

 Giây phút này vui thật.”

Thầy con thiệt dễ thương, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng sáng tạo, làm mới sự thực tập. Con canh me Thầy dùng xong để đứng dậy rót trà mời Thầy thì Thầy bảo: “Ngồi đó! Thầy sẽ đãi trà ngon tụi con!” Lòng con bồi hồi… Không có một vị Thầy nào mà vào ngày tiếp nối của mình lại làm tất cả cho đệ tử. Cảm nhận được tình thương từ Thầy, đó quả là ly trà ngon nhất quả đất. Thầy bảo: ‘Thầy muốn skip (không tham dự) buổi Be-in (ngồi chơi) chiều nay.” Con rất ngạc nhiên và thầm nghĩ là một vị Thiền sư mà Thầy có chút mắc cỡ khi các đệ tử chuẩn bị buổi tri ân mừng ngày biểu hiện cho mình. Sư cô Chân Không ngồi cười tủm tỉm vì sư cô là tài xế của Thầy nên Thầy không thể đi đâu mà không có phương tiện. Và chiều đó, Thầy đã dạy cho chúng con thông điệp ngày tiếp nối. Câu thần chú của ngày hôm đó đã khắc sâu trong con: “Nothing inside. Nothing outside (không có gì bên trong cũng không có gì bên ngoài). Vấn đề là Thầy nằm trong sự thực tập hơi thở và bước chân an lạc của quý vị.”

Con được nghe sư cô Chân Đức kể về một giấc mơ của Thầy trong sách “At home in the world”. Vào một mùa thu khi đang giảng dạy tại Anh quốc, Thầy mơ rằng Thầy đã đi cùng một người em vô một nơi giống tiệm bán thuốc. Ở đó có rất nhiều kệ chứa đựng những điều mà Thầy mà các huynh đệ đã trải qua. Và hầu hết là những khổ đau trong quá khứ: nghèo đói, lũ lụt, chiến tranh, phân biệt chủng tộc, sợ hãi, tuyệt vọng… Khi Thầy chạm tay vào những kí ức đó, có một cảm giác buồn thương khởi lên trong lòng và đồng thời là cả sự từ bi. Trong tiệm còn có cả quyển sổ tay của Thầy chứa đựng những niềm hạnh phúc từ thời thơ ấu và cả những trải nghiệm khổ đau khác…  Ông chủ quán xuất hiện đứng bên cạnh Thầy và nói một điều rất kinh khủng: “Thầy phải đi qua tất cả những khổ đau này… thêm một lần nữa.” Ổng tuyên bố một cách hùng hồn như là một nhà thẩm phán quyết định số phận. Thầy lúc đó hết hồn… Tất cả những mất mát trong chiến tranh, đói kém, vô minh, hận thù, chết chóc… Thầy cảm giác mình đã phải khổ đau, đã trải qua tất cả cùng các huynh đệ. Và bây giờ đã có tự do. Vậy mà bây giờ ông đó phán phải thật sự nếm lại những trải nghiệm đó sao. Ban đầu, Thầy nghĩ là “Oh no” (Ồ không). Nhưng chỉ sau một khắc, Thầy đã nhìn thẳng vào ông chủ tiệm và nói: “Bằng tất cả sự quyết tâm của mình, ông không hù được tôi đâu. Tôi sẽ vượt qua tất cả không chỉ một mà cả ngàn lần nếu cần thiết. Và tất cả chúng tôi sẽ làm cùng nhau!”

Nghe tới đó con đã rúng động với niềm tin bất diệt của Thầy. Chính điều đó đã nuôi tiếp sự sống cho những tâm bồ đề, những ước mơ, hi vọng về một cuộc sống tốt hơn. Con rất tự hào về tăng thân mình, về gia tài mà Thầy đã trao truyền cho tất cả chúng con. Dù trải qua bao sóng gió, con cũng nguyện chung thuỷ với con đường, với chí nguyện của mình, với giấc mơ xưa của Thầy.

Thời gian qua con có cơ hội về thăm nhà và đợi làm giấy tờ đi Thái Lan nhưng lâu hơn thường lệ do ảnh hưởng của dịch Covid. Đem đạo Bụt vào đời thật sự không dễ chút nào, mà nhất là cuộc đời của những người thân của mình. Ở càng lâu thì lại càng hiểu nhau, cho nhau thấy được những gì thật nhất. Và nhờ pháp môn thực tập, những lời Thầy chỉ dạy “chung đụng trong nhân gian, tâm không hề lay chuyển”, mà con còn giữ được mình, càng thấy rằng quyết định xuất gia là sáng suốt nhất đời con! Con kể Thầy nghe điều này, con còn bị dụ ở nhà bằng một lí do là: “Thay vì đi cứu giúp độ người khác, thì ở nhà vẫn tu và dạy dỗ cho các cháu nên người!” Nghe có vẻ hợp lý Thầy nhỉ!!! Thầy biết con trả lời sao không: “Con phải tự cứu mình trước đã. Và các cháu đã có bố mẹ chịu trách nhiệm, trường lớp, cuộc đời dạy dỗ. Con cũng sẽ giúp một phần. Gia đình con bây giờ không chỉ giới hạn là gia đình huyết thống này mà rộng lớn hơn rất nhiều. Chase after your dream, not people (hãy đi theo lý tưởng của mình)” Trong lòng con lúc đó nghĩ được như rứa thôi!

Lòng con dâng lên niềm biết ơn sâu sắc, nhờ cơ hội này mà con có mặt cho má con, cho anh chị em và các cháu trong gia đình còn nhiều bộn bề. Pháp môn tu học thực sự giúp cho con kiên nhẫn, có mặt, lắng nghe sâu và cảm thông. Gia đình con cũng được an ổn, anh chị em hoà thuận, hiểu và chấp nhận nhau nhiều hơn!

Con thấy mình rất hạnh phúc và phước đức được làm đệ tử Thầy, được là một phần của tăng thân Làng Mai. Bên cạnh niềm tự hào đó, con thấy mình còn quá nhiều thiếu sót, còn nhiều giáo pháp của Thầy mà con chưa thực sự để tâm nghiên cứu, học hỏi và thực nghiệm. Con biết Thầy đã dùng hết cuộc đời mình, bằng tất cả trải nghiệm, tấm lòng, trí tuệ, hiểu biết… để kết tinh thành những gì ý nghĩa, đơn giản mà hiệu quả nhất cho tất cả chúng con, đệ tử xuất sĩ và cư sĩ. Con đã đọc lại “Cẩm nang của một vị giáo thọ” để coi thử mình đã học hỏi điều gì, thiếu điều gì mà tự bổ sung. Con đang nghe những bài Thầy giảng về Dị Bộ Tông Luân Luận và con rất hạnh phúc khi hiểu rõ hơn gốc rễ con đường của mình. Con thấy mình giàu có quá Thầy ơi, bao nhiêu gia tài của Bụt tổ, của Thầy truyền trao. Chúng con cứ như những “đại gia tâm linh” có sẵn hết con đường, và chỉ cần mình trải nghiệm, thực tập bằng trọn thân tâm!

Con xin lạy xuống sám hối Thầy và tăng thân những lỗi lầm con đã tạo ra trong quá khứ. Thưa Thầy, con đã ước nguyện tu tới chết trong hình tướng này. Dù cho có thế nào thì xin Thầy trong con sẽ luôn bên cạnh, nhắc nhở khích lệ con mỗi ngày. Và sự nghiệp xây dựng tình huynh đệ, xây dựng tăng thân là lý tưởng gối đầu giường của con. Khi nào anh chị em con còn đi chung, còn thực tập con đường hiểu thương này thì Thầy sẽ còn hoài và pháp môn tu học được sống mãi trong cuộc đời.

Con nguyện cầu cho thân thể Thầy được nhẹ nhàng, không bị đau nhức. Chúng con đang thở cùng Thầy. Chúng con thương Thầy lắm, Thầy ơi!

Đệ tử thứ 588 của Thầy

Con, Chân Đôn Nghiêm

 

Thông tin cập nhật về sức khoẻ của Sư Ông Làng Mai – mùa thu 2020

 

Làng Mai, ngày 18 tháng 9 năm 2020

Kính thưa tăng thân khắp chốn,

Chỉ vài tuần nữa thôi, chúng ta sẽ mừng ngày Tiếp nối lần thứ 94 của Sư Ông – ngày 11 tháng 10 năm 2020. Đã gần sáu năm trôi qua kể từ khi Sư Ông bị đột quỵ, và giờ đây thật là hạnh phúc khi thấy Sư Ông vẫn đang còn đó với chúng ta, đầy bình an và vững chãi. Sư Ông vẫn đang có mặt và chứng kiến các đệ tử của mình  – cả xuất sĩ lẫn cư sĩ – đang tiếp nối công trình tu học và xây dựng tăng thân mà Người đã trao truyền.

Kể từ tháng 10 năm 2018, khi về lại Tổ đình Từ Hiếu – nơi Người bắt đầu con đường xuất gia tu học gần 80 năm về trước, Sư Ông thường đi dạo trên xe lăn quanh khuôn viên Tổ đình, thăm chánh điện, tháp Tổ hay cùng đại chúng đi thiền hành quanh hồ bán nguyệt. Khi sức khỏe cho phép, Sư Ông còn tham dự các lễ giỗ Tổ cũng như có mặt cho các đệ tử và thiền sinh từ khắp nơi trên thế giới về thăm Người. Tuy nhiên, khi đại dịch Covid bùng phát, chùa Từ Hiếu phải tạm đóng cửa và tăng thân ở đây đã hết sức giữ gìn để bảo vệ sức khỏe cho Sư Ông.

Trong khoảng một tháng gần đây, với tuổi tác và bệnh duyên nên sức khoẻ của Sư Ông có yếu đi nhiều. Mặc dù vậy, Người vẫn giữ được tinh thần sáng suốt và mạnh mẽ. Do tình hình Covid hiện nay, sự thăm viếng trở nên khó khăn, vì vậy chúng con rất vui khi một vài đệ tử từ phương xa có ý muốn về thăm Sư Ông nhân dịp Ngày Tiếp nối của Người (11.10) đã được sự hỗ trợ để xin visa. Sau mười bốn ngày cách ly theo quy định của Chính phủ, những vị này sẽ đủ duyên để dự ngày Tiếp nối của Sư Ông ở chốn Tổ.

Chúng con biết điều nuôi dưỡng tinh thần của Sư Ông nhất chính là được nghe báo cáo lại rằng các đệ tử xuất gia và tại gia ở khắp nơi trên thế giới đang tiếp tục thực tập những lời dạy của Người trong gia đình và ngoài xã hội. Vì vậy, để kỷ niệm Ngày Tiếp nối của Sư Ông một cách thật ý nghĩa, chúng ta hãy cùng nhau thực tập chế tác bình an và vững chãi trong từng hơi thở và bước chân của mình, tập tha thứ bao dung với những người mà mình đang có khó khăn.

Năm 2020 là một năm đầy khó khăn, thách thức. Rất nhiều người trong chúng ta phải đối diện với sự mất mát, hoang mang, sợ hãi và kỳ thị. Chúng ta đều phải buông bỏ những dự định của mình và xem lại cái gì thật sự là thiết yếu nhất đối với sức khỏe và hạnh phúc của chúng ta. Chúng ta không thể nào xem thường bất cứ cái gì. Điều may mắn là chúng ta vẫn đang còn sống, vẫn còn có người thương bên mình và một con đường tâm linh để nương tựa.

Tại Làng Mai Pháp, do ảnh hưởng của Covid, các khóa tu được dự định tổ chức để thiền sinh đến Làng tu học đã bị hủy và được thay thế bằng hình thức khóa tu trực tuyến. Chúng con rất biết ơn khi thấy hàng ngàn thiền sinh đã tham gia các khóa tu trực tuyến này. Ngày 17.9 vừa qua, tứ chúng Làng Mai tại Pháp cũng vừa mới khai mạc khóa an cư kiết thu với sự có mặt của 166 xuất sĩ và 50 cận sự. Nhờ lòng hảo tâm của rất nhiều thân hữu xa gần, tăng thân chúng con mới có đủ điều kiện để được an cư và làm cho sự thực tập của mình sâu sắc và vững chãi hơn.

Là một đoàn thể tu học, tăng thân xin nguyện sẽ thực tập thật hết lòng trong ba tháng an cư sắp tới. Mỗi Chủ nhật hàng tuần, các bài pháp thoại sẽ được truyền trực tiếp trên mạng. Các bài pháp thoại vào thứ Năm không được truyền trực tuyến nhưng sẽ được đưa lên mạng ngay sau đó. Chúng con vẫn đang tiếp tục tìm kiếm những cách thức mới để có thể kết nối với cộng đồng tu học trên thế giới và khi nhân duyên đầy đủ, chúng con rất mong sẽ được đón tiếp quý vị trở lại các trung tâm tu học của Làng Mai để cùng tu học với tăng thân.

Nguyện cầu năng lượng từ bi của chư Bụt, chư Bồ tát gia hộ cho Sư Ông, cho tăng thân cũng như cho tất cả những ai đang đi qua khó khăn trong giai đoạn này.

Thương kính và biết ơn,

Tăng thân Làng Mai.

 

Lễ đối thú an cư kiết thu 2020

Sáng ngày 17 tháng 9 năm 2020, tứ chúng Làng Mai đã vân tập về thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân, xóm Thượng để làm lễ đối thú An cư kiết thu. Đây là cơ hội để đào sâu vào sự thực tập, trở về với hải đảo tự thân, nương tựa Tăng thân, cùng đi chung với nhau như một dòng sông, để tiếp nối và làm lớn mạnh sự nghiệp mà Bụt, Tổ, và Thầy đã trao truyền.
 
Dưới đây là một vài hình ảnh của buổi lễ, kính mời đại chúng cùng thưởng thức:
 

Lễ xuất gia cây Xô Thơm Trắng ( White Sage) ngày 06.09.2020

 

Vừa qua, tại thiền đường Thái Bình Dương (tu viện Lộc Uyển- Hoa Kỳ) đã diễn ra buổi lễ xuất gia cho gia đình cây Xô Thơm Trắng (White Sage). Tuy có những khó khăn và thử thách trong thời điểm dịch bệnh nhưng với tâm Bồ Đề dũng mãnh và chí nguyện “hiểu thương”, các sư em đã được biểu hiện rất màu nhiệm trong gia đình áo nâu. Tăng thân đã gửi gắm niềm tin và tình thương nơi các sư em qua những cái tên: Chân Trời Minh Niệm, Chân Trời Minh Định, và Chân Trời Minh Lực. 

Kính mời đại chúng cùng thưởng thức một vài hình ảnh của buổi lễ, cùng chia sẻ những niềm hạnh phúc với các sư chú và tăng thân.

 

Cuộc cách mạng của tình thương

Satish Kumar

 (Trích từ buổi chia sẻ của Satish Kumar ngày 6-11-2019 tại xóm Hạ, Làng Mai trong tuần lễ tu học dành riêng cho các nhà hoạt động về môi trường)

 

 

Satish Kumar sinh năm 1936 tại Ấn Độ và hiện đang sống ở Anh. Ông từng là một tu sĩ theo Kỳ Na giáo (Jainism) và là một nhà hoạt động cho hòa bình. Ông đã từng thực hiện hành trình đi bộ cho hòa bình dài hơn 8,000 dặm trong hai năm 1973 – 1974, từ New Delhi đến Moscow, Paris, London và Washington DC để kêu gọi các cường quốc giải trừ vũ khí hạt nhân. Ông hiện đang là Tổng biên tập của tạp chí Resurgence & Ecologist – một trong những tạp chí có uy tín về môi trường ở Anh. Đây là công việc mà ông đã đảm đương trong 40 năm qua. Satish Kumar còn là người sáng lập Schumacher College với mong muốn tạo môi trường cho những người trẻ đến với nhau để nghiên cứu sâu về môi trường sinh thái, trong mối liên hệ với kinh tế học và tâm linh.

Trong buổi chia sẻ tại xóm Hạ, Làng Mai, thầy Pháp Lai – trong vai trò người dẫn chương trình – đã hỏi Satish Kumar: “Hiện nay, ở nhiều nơi trên thế giới, thế hệ trẻ đang phải đối diện với nhiều thử thách lớn. Các em tức giận khi thấy tương lai của mình đang bị đánh cắp vì cách vận hành của xã hội hiện nay. Có thể nói đó là một sự tức giận chính đáng. Các em nói: ‘Có thể quý vị sẽ chết vì tuổi già, nhưng chúng tôi thì sẽ chết vì biến đổi của khí hậu’. Dĩ nhiên là chúng ta có thể thấy được trong câu nói ấy hàm chứa một nỗi sợ hãi. Là một nhà hoạt động vì hòa bình và môi sinh, ông có lời khuyên hay lời động viên, khuyến khích nào dành cho những người trẻ đang phải đối diện với một tương lai đầy bất trắc như vậy?”.

Dưới đây là phần chia sẻ của Satish Kumar đã được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh.

Giận là một loại năng lượng. Mãnh lực của cơn giận làm cho ta kiệt sức và nó chỉ có thể tồn tại trong một thời gian ngắn. Sức mạnh của tình thương, trái lại, có tính bền bỉ. Giận và sợ liên quan mật thiết với nhau. Mãnh lực của sợ hãi sẽ làm người khác hoảng sợ, trong khi đó sức mạnh của thương yêu sẽ gây cảm hứng và mang tới sự chuyển hóa. Những người trẻ như Greta Thunberg¹ rất tuyệt vời, và tôi hoàn toàn yểm trợ cô ấy. Cô ấy chính là một nữ anh hùng vĩ đại của thời đại chúng ta.

Phong trào Extinction Rebellion – tạm dịch là “Nổi loạn chống tuyệt chủng”, một phong trào tranh đấu vì môi sinh, cũng diễn ra trên căn bản của tình thương. Tôi muốn nói với những người trẻ, những học sinh đang biểu tình, các chiến binh đang hoạt động cho môi sinh và những nhà bảo vệ trái đất: chúc mừng các bạn, các bạn làm hay lắm. Nhưng, xin các bạn hãy hành động với sức mạnh của thương yêu.

Nếu các bạn nhìn lại lịch sử của chúng ta, các bạn sẽ thấy rằng tất cả những thay đổi có tầm vóc lịch sử đều do các nhà lãnh tụ đã lãnh đạo phong trào tranh đấu bằng tình thương. Đó là cựu Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela với 27 năm bị giam cầm, Thánh Gandhi, Mục sư Martin Luther King, Thầy,… Bạn có thể đi ngược dòng lịch sử để thấy điều này. Tất cả những thay đổi lớn lao đã xảy ra trên thế giới: chế độ nô lệ, chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc, kỳ thị phụ nữ,… đã chấm dứt. Tất cả những thành tựu đó đều là nhờ sức mạnh của tình thương và một cam kết lâu bền. Bạn không thể nào trông đợi kết quả đến ngay lập tức vào ngày mai khi hôm nay bạn mới bắt đầu xây dựng phong trào.

Người trẻ có thể tức giận và nói: “Quý vị sẽ chết vì tuổi già, nhưng chúng tôi sẽ chết vì biến đổi khí hậu”. Đó là một câu nói đầy sức mạnh. Nhưng, các lãnh tụ trẻ tuổi, các nhà hoạt động cho môi sinh, các nhà bảo vệ trái đất và các học sinh biểu tình thân mến của tôi, xin hãy nhớ rằng thậm chí tổ tiên của chúng ta, những người đã chết trong chiến tranh Việt Nam, họ chết đâu phải vì tuổi già, mà vì chiến tranh do con người gây ra. Hoặc chết trong chiến tranh thế giới thứ hai, trong các trại tập trung, hoặc do nghèo đói. Lịch sử loài người vừa bi thảm, vừa tuyệt vời và vinh quang. Và đó là thực trạng của con người.

Vâng, chúng ta hãy đến cùng nhau, nắm tay nhau và tôi sẽ vào tù với tinh thần của Thánh Gandhi: “Vào tù như cô dâu, chú rể đi vào phòng cưới”. Vâng, tôi sẽ vào tù với bạn. Nhưng không có lý do gì để chúng ta phải nổi giận. Tình cảnh đã như vậy rồi. Nhưng sự thay đổi vẫn có thể diễn ra. Xã hội công nghiệp hóa này, nền công nghiệp gây ô nhiễm, phung phí, bóc lột này đã do con người tạo ra trong thời gian ba, bốn trăm năm trở lại đây. Cái gì đã được con người tạo ra cũng có thể được con người thay đổi.

Từ xã hội săn bắt hái lượm, chúng ta đã trở thành một xã hội nông nghiệp. Từ nông nghiệp, chúng ta tiến lên xã hội công nghiệp. Giờ đây, nếu tất cả chúng ta, với sức mạnh của tình thương, nắm tay nhau, đi chung với nhau, cùng hành động, cùng vào tù với nhau, cùng làm bất cứ cái gì cần thiết, chúng ta sẽ tạo ra một nền văn minh thân thiện với môi sinh (ecological civilisation) dựa trên nền tảng thương yêu, từ bi, chánh niệm, thiền định, sẻ chia và quan tâm chăm sóc cho nhau. Có thể chúng ta sẽ không hoàn hảo, và có thể chúng ta sẽ không bao giờ có được một thế giới hoàn hảo, bởi vì chúng ta là con người với những đặc tính rất con người. Trong chúng ta ai cũng có một chút giận, một chút sợ. Chúng ta là con người. Chúng ta phải ôm ấp, chấp nhận sự không hoàn hảo của mình. Thế nhưng, một tương lai có sự hòa điệu, bền vững và có sức hồi sinh rất đáng để chúng ta đầu tư tâm lực của mình.

Nhưng nếu các bạn hành động dựa trên sự tức giận, sợ hãi và tuyệt vọng thì sẽ chẳng giải quyết được vấn đề gì. Bạn có thể tuyệt vọng, nhưng nó sẽ không gây cảm hứng hoặc cho bạn thêm năng lượng.

Vì vậy, tôi khẩn thiết kêu gọi các nhà hoạt động môi trường đang hành động với sự tức giận và sợ hãi hãy nên nhìn sâu, như Thầy đã nói, và nhìn vào bức tranh tổng thể. Khi bạn nhìn vào tổng thể, bạn sẽ thấy được sức mạnh của thương yêu, bạn sẽ thấy Chúa Jesus, Bụt, Thánh Francis, Mahatma Gandhi,… Tất cả những tấm gương mà ta thấy đó, ta phải đem vào lòng để có thể nói rằng, vâng, chúng ta đang cùng đi trên một hành trình, và chúng ta sẽ tiếp tục đi tới, tiếp tục làm hay hơn, hay hơn nữa. Đây là một cam kết lâu dài, một cam kết suốt đời. Không phải vì tôi muốn mọi sự thay đổi vào ngày mai mà tôi đòi hỏi nó sẽ diễn ra ngay ngày mai. Chẳng hạn tôi mong muốn mọi người ăn chay trường, không ăn trứng hoặc sữa và đến sống ở Làng Mai. Những cái đó sẽ không xảy ra vào ngày mai. Tôi ước gì nó xảy ra, nhưng nó sẽ không xảy ra. Tôi phải thực tế, nhưng đồng thời tôi cũng phải có ước mơ, có lý tưởng. Vì vậy tôi là một người theo chủ nghĩa duy tâm thực dụng. Tôi khẩn thiết kêu gọi tất cả những người cấp tiến trên thế giới. Vâng, tôi ủng hộ các bạn, tôi cũng cấp tiến như các bạn, nhưng động lực thúc đẩy tôi không phải là sự sợ hãi, cũng không phải là sự tức giận, mà là tình thương. Và tôi muốn có một cuộc cách mạng của tình thương!

 

 

 

Chú thích:

¹ Greta Thunberg : (sinh năm 2003) là một nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển. Quyết định bỏ học vào mỗi thứ Sáu của Greta Thunberg để đơn độc ngồi trước tòa nhà Quốc hội Thụy Điển cùng tấm biển có thông điệp “Bãi khóa vì khí hậu”  (tiếng Thụy Điển: “Skolstrejk för Klimatet”) đã khởi đầu cho phong trào “Fridays for Future” (“Những thứ Sáu vì tương lai”) hiện đang thu hút sự tham gia của đông đảo học sinh, sinh viên trên thế giới.

Mối tình tri kỷ

 

Năm mươi năm đã trôi qua kể từ khi Mục sư King bị ám sát1, nhưng những nỗ lực vận động cho hòa bình cũng như tình tri kỷ thâm sâu giữa Sư Ông Làng Mai và Mục sư King đáng để cho chúng ta ôn lại, học hỏi và tiếp nối hạnh nguyện của chư vị.

Kẻ thù chúng ta không phải con người

Sư Ông và Mục sư King gặp nhau vào lúc các Ngài đang ở vào một thời điểm then chốt trong cuộc đời của mỗi người. Hai Ngài đều là những nhà trí thức ưu tú, những nhà lãnh đạo tâm linh và cũng là những nhà hoạt động xã hội đi đầu trong các phong trào bất bạo động, tranh đấu cho một sự thay đổi toàn diện giữa bối cảnh bạo động đang leo thang tại đất nước của các Ngài. Các Ngài đều phải đối diện với những nguy cơ đe dọa, đàn áp và những hoàn cảnh hiểm nguy. Với lòng nhân bản, tâm từ bi, khả năng lãnh đạo và sự tương kính lẫn nhau, các Ngài đã dung nhiếp được cả hai phong trào hòa bình cho dân tộc Việt Nam và nhân quyền cho đất nước Mỹ thành một. Cuộc tao ngộ của hai tâm hồn siêu việt này đã góp phần chuyển hướng dòng chảy của lịch sử.

Tất cả bắt đầu vào ngày 1 tháng 6 năm 1965, khi Sư Ông đặt vấn đề trực tiếp với Mục sư King trong một lá thư ngỏ (open letter) với nhan đề “Đi tìm kẻ thù của con người2. Lá thư được gửi đi chỉ vài tuần trước khi Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson quyết định bước sâu hơn vào chiến trường Việt Nam và khẳng định sự tham gia toàn diện của Mỹ vào cuộc chiến bằng cách tuyên bố rằng “sức mạnh chiến đấu củ Mỹ” sẽ được tăng cường ngay lập tức từ 75,000 đến 125,000 nhân lực, và sẽ tiếp tục được gia tăng nhiều hơn nữa trong tương lai.3

Trong hoàn cảnh gay go đó, mặc dù đã có sự giằng co trong lương tri của Ngài, nhưng trong lời tự thuật sau này, Mục sư King – người được nhận giải Nobel Hòa bình năm 1964 – nói rằng Ngài đã “không xuống đường, không giăng biểu ngữ, không vận động những cuộc biểu tình”4. Vì Ngài tin rằng, cuộc chiến đẫm máu sẽ mau chóng chấm dứt nếu người Mỹ thay vì tham gia vào cuộc chiến và kéo dài các sự tranh cãi, chuyển sang tham dự các cuộc đàm phán về ngưng chiến và hòa bình. Chiến lược của nhà lãnh đạo nhân quyền lão thành trong giai đoạn đó là “đóng vai im lặng” và âm thầm thúc đẩy, vận động cho hòa bình qua các cuộc đàm phán.

Trong bức thư ngỏ gởi Mục sư King, Sư Ông muốn giải thích cho các bạn Ki-tô giáo Tây phương “hiểu được tường tận ý nghĩa” về sự tự thiêu của bốn thầy và một sư cô vào mùa hè năm 1963, bắt đầu bằng sự hy sinh của Hòa thượng Thích Quảng Đức. Sư Ông khẳng định những hành động đó không phải là tự tử, cũng không phải là một sự tuyệt vọng hay phản kháng, mà là những hành động dũng cảm cao tột, đầy chất liệu thương yêu của Đại Từ, Đại Bi mang niềm tin và hy vọng cho những gì tốt đẹp sẽ đạt được trong tương lai. Những vị ấy đã sẵn sàng hy sinh sự sống của mình vì lợi ích của cả dân tộc trong lúc toàn bộ Phật giáo bị kỳ thị và đàn áp dã man do chế độ Ngô Đình Diệm áp đặt tại miền Nam Việt Nam.5

“Thưa Mục sư”, Sư Ông viết cho Mục sư King, “tôi tin với tất cả tâm hồn tôi rằng trong lúc tự thiêu, các vị tăng sĩ Việt Nam không nhắm đến cái chết của những kẻ đàn áp tàn bạo mà chỉ nhắm đến sự thay đổi của chính sách họ. Kẻ thù của các vị tăng sĩ kia không phải là con người. Kẻ thù của họ là cuồng tín, là độc tài, là tham lam, là giận dữ, là kỳ thị – những thứ này nằm sâu trong lòng người.

“Tôi cũng tin chắc rằng cuộc đấu tranh vận động cho bình đẳng và tự do mà Mục sư lãnh đạo ở Birmingham, Alabama,… không nhắm đến sự chống báng người da trắng mà chỉ nhắm đến sự chống báng kỳ thị, giận dữ, độc ác. Những cái này vốn là những kẻ thù đích thực của con người, chứ không phải là con người.

“Nơi tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng tôi, mỗi ngày chúng tôi đều gào thét một cách tuyệt vọng: Xin đừng giết con người, dù là nhân danh con người. Hãy giết kẻ thù đích thực của con người – những kẻ thù này hiện hữu khắp nơi, trong trái tim và khối óc mỗi người”.6

 

 

Quý vị không thể giữ im lặng

Sư Ông chia sẻ tiếp cho Mục sư King biết rằng vô số những người nông dân và trẻ em Việt Nam đã bị tàn sát bi thảm trong cuộc chiến tàn khốc kéo dài trên 20 năm. “Tôi biết chắc rằng bởi vì Mục sư đã từng dấn thân vào một cuộc tranh đấu cam go nhất cho bình đẳng và nhân quyền, Ngài là một trong những người có thể hiểu thấu và chia sẻ được những đau khổ không bờ bến của dân tộc Việt”.

Sư Ông đặt vấn đề cho Mục sư King, đó là “các nhà nhân bản lớn trên thế giới” không thể nào còn giữ được thái độ im lặng trước cuộc chiến Việt Nam. Sư Ông tiếp tục: “Chính Ngài không thể nào còn giữ được thái độ im lặng như thế. Mỹ quốc thường được nhắc nhở tới như một quốc gia có căn bản vững chãi về tôn giáo, vậy thì các nhà lãnh đạo tinh thần của dân tộc Mỹ sẽ không thể nào để cho đường lối chính trị và kinh tế Hoa kỳ thiếu mất chất liệu tâm linh được. Ngài không thể im lặng được, bởi vì Ngài đã từng hành động và Ngài hành động vì Thượng đế đang hành động trong Ngài…”.

Tôi đã có mặt trong hào quang của một vị thánh

Để vận động cho hòa bình và kêu gọi sự chấm dứt những khổ đau tại Việt Nam, Sư Ông rời Việt Nam vào tháng 5 năm 1966 để thực hiện những cuộc du thuyết khắp nơi trên đất Mỹ hầu loan tải những thông tin xác thực nhất cho quần chúng của đất nước này về “tình trạng hiện thực của Việt Nam”7, những tin tức mà những người đó không thể nào tiếp cận được từ các nguồn thông tin bản địa. Sư Ông và Mục sư King gặp nhau lần đầu vào ngày 1 tháng 6 năm 1966. Trong những ký sự về sau, Sư Ông đã viết về cuộc gặp gỡ ấy như sau: “Ngay từ giây phút đầu tiên, tôi biết tôi đang có mặt trong hào quang của một vị thánh. Không chỉ những hoạt động cao cả Ngài đang thực hiện mà chính sự sống, sự hiện hữu của tự thân Ngài là một nguồn cảm hứng lớn cho tôi”.8

Sư Ông và Mục sư King đã mở một cuộc họp báo chung tại Chicago vào ngày 1 tháng 6 năm 1966.

Trong một cuộc họp báo chung, Sư Ông yêu cầu sử dụng những phương thức bất bạo động để xóa bỏ “kẻ thù đích thực của con người”: Đó là sự giận dữ, hận thù và kỳ thị. Sư Ông khẳng định những hoạt động về nhân quyền và cá cuộc đấu tranh cho bình đẳng chủng tộc của Mục sư King là hoàn toàn đi đôi với những cố gắng chấm dứt mâu thuẫn và xung đột tại Việt Nam.

Về phía Mục sư King, ngày hôm đó, Ngài đã lên tiếng mạnh mẽ chống lại cuộc chiến tại Việt Nam. “Đó là ngày chúng tôi cùng hợp sức để vận động cho hòa bình tại Việt Nam cũng như tranh đấu cho dân quyền, cho sự bình đẳng chủng tộc tại Hoa Kỳ”9, Sư Ông đã viết như vậy trong những năm tháng về sau. Cũng vào khoảng thời gian này, Sư Ông bị cấm trở về lại Việt Nam và từ đó trở thành một người lưu vong trong vòng bốn mươi năm tại hải ngoại.

Cuộc tao ngộ với Sư Ông đã để lại một ấn tượng sâu đậm trong lòng Mục sư King và giúp cho Ngài ý thức một cách sâu sắc hơn những thách thức về đạo đức và nhân bản mà cuộc chiến tại Việt Nam đặt ra cho toàn thể nhân loại. Vào ngày 25 tháng 1 năm 1967, Mục sư King đã gửi bức thư sau đây đến Viện Nobel Na Uy ở Oslo:

Kính thưa Quý Ngài,

Với tư cách là người được nhận Giải Nobel Hòa bình năm 1964, tôi nay rất vinh hạnh để đề cử Thầy Nhất Hạnh cho giải thưởng này trong năm 1967.

Cá nhân tôi không biết một ai có thể xứng đáng để tiếp nhận giải Nobel Hòa bình hơn là vị tu sĩ Phật giáo Việt Nam đức độ và hòa nhã này.

Năm nay sẽ là một năm đặc biệt đầy những triển vọng tốt lành nếu quý Ngài trao tặng giải thưởng đến Thầy Nhất Hạnh. Đây là một người tiên phong trong phong trào hòa bình và bất bạo động, một con người đã bị tách ra khỏi đồng bào ruột thịt của mình trong khi họ đang bị đàn áp bởi một cuộc chiến khốc liệt, tàn bạo, có nguy cơ đe dọa lương tri của cả nhân loại và sự thanh bình, yên ổn trên toàn thế giới.

Vì không có vinh dự nào đáng tôn kính hơn là giải Nobel Hòa bình, tôi tin rằng ban tặng giải thưởng đó cho Thầy Nhất Hạnh tự nó sẽ là một hành động cao cả nhất để tôn vinh hòa bình. Điều đó sẽ nhắc nhở các quốc gia rằng luôn có những con người đầy thiện chí và giàu lòng nhân ái sẵn sàng dẫn lối cho những phần tử hiếu chiến ra khỏi vực thẳm của hận thù, hủy diệt và tàn phá. Nó sẽ một lần nữa thức tỉnh con người, giúp họ học được bài học về cái đẹp và tình thương được nuôi dưỡng trong hòa bình. Nó sẽ làm sống dậy niềm hy vọng cho một thế giới mới đầy công bằng và hòa hợp.

Tôi biết Thầy Nhất Hạnh, và rất vinh dự được xem Thầy là bạn. Cho phép tôi chia sẻ với quý Ngài những gì tôi biết về Thầy. Quý Ngài sẽ thấy đây là một con người đặc biệt với nhiều chí nguyện và tài năng đáng kinh ngạc.

Thầy Nhất Hạnh là một người thánh thiện vì Ngài khiêm cung và chân thành. Ngài là một học giả có trí năng quảng bác. Là tác giả của 10 đầu sách, Ngài cũng là một nhà thơ đầy lòng nhân ái với trí tuệ minh triết siêu việt. Ngài là một học giả chuyên nghiên cứu về Triết học Tôn giáo và là Giáo sư của Viện Đại học Phật giáo Vạn Hạnh, Viện Đại học mà Ngài đã góp phần sáng lập. Ngài điều hành Viện Xã hội học tại đại học này. Con người siêu việt này cũng là chủ bút của Thiện Mỹ, một tuần báo Phật giáo có tầm ảnh hưởng lớn. Ngài là Hiệu trưởng trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, một tổ chức huấn luyện những người trẻ để tái thiết lập và xây dựng những làng quê bị tàn phá bởi chiến tranh.

Ngày hôm nay, Thầy Nhất Hạnh có thể được coi như là không còn có quê hương và đất nước để trở về. Nếu Ngài trở về Việt Nam, dĩ nhiên đó là ao ước thâm sâu của Ngài, tánh mạng của Ngài sẽ như chỉ mành treo chuông. Ngài là nạn nhân của một sự đày ải đặc biệt là tàn bạo vì Ngài đã dám lên tiếng đề nghị ủng hộ mang lại hòa bình cho tất cả đồng bào ruột thịt của mình. Đây quả thật là một bi kịch đau thương đang xảy ra hiện nay tại Việt Nam và thật là bi đát cho những ai vẫn muốn kéo dài tình trạng khổ đau này.

Lịch sử dân tộc Việt Nam có không biết bao nhiêu thời kỳ bị bóc lột và khai thác bởi ngoại xâm và hạng người bất lương giàu có, ngay cả cho đến bây giờ, người dân Việt Nam vẫn đang bị cai trị khắc nghiệt, đói khát, nghèo khó và phải gánh chịu những gay go gian khổ cũng như sự khốc liệt của cuộc chiến hiện đại.

Thầy Nhất Hạnh đem đến cho chúng ta một lối thoát khỏi cơn ác mộng này, một giải pháp có thể chấp nhận được bởi những nhà lãnh đạo sáng suốt. Ngài đã đi du thuyết khắp thế giới để cầu xin sự yểm trợ, nâng đỡ của những chính khách lỗi lạc, những nhà lãnh đạo tôn giáo, học giả và văn sĩ trí thức. Những tuệ giác của Ngài về hòa bình, nếu được thực hiện, sẽ là chứng tích cho một thế giới đại đồng, đầy tình huynh đệ và tình nhân loại.

Tôi xin trân trọng đề nghị với quý Ngài, hãy thúc đẩy và trao thêm sức mạnh cho nỗ lực xây dựng hòa bình của Thầy Nhất Hạnh thông qua việc trao tặng Giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1967. Thầy Nhất Hạnh chắc hẳn sẽ nhận vinh dự cao quý này với tất cả sự khiêm nhường và lòng biết ơn.

Trân trọng,
Mục sư Martin Luther King, Jr.10

 

 

Tiếp nối giấc mơ của Mục sư King

Vào tháng 5 năm 1967, ngay sau bài diễn văn kêu gọi hòa bình cho Việt Nam tại Riverside Church của Mục sư King, Sư Ông gặp lại Mục sư tại Hội nghị “Hòa bình trên Trái đất” do Hội đồng Thế giới của các Giáo hội (World Council of Churches) tổ chức tại Geneva, Thụy Sĩ. Chính tại hội nghị này, trong một buổi ăn sáng chung tại phòng riêng của Mục sư King ở khách sạn, Sư Ông và Mục sư đã tiếp tục đàm đạo về hòa bình, tự do, về xây dựng tăng thân hay cộng đồng yêu quý, cũng như những bước đi mà chính quyền Mỹ nên tiến hành để chấm dứt cuộc chiến tranh tại Việt Nam.

Sư Ông đã nói với Mục sư King: “Này Mục sư King! Ông có biết rằng ở Việt Nam người ta xem ông như là một vị Bồ tát hay không? Một người mang hết tất cả sức mình để làm vơi bớt những khổ đau của chúng sanh”.11

Sư Ông đã viết rằng Sư Ông rất hạnh phúc vì đã có cơ hội nói được điều đó với Mục sư King, bởi vì chỉ gần một năm sau đó,Mục sư bị ám sát (đúng vào ngày mà một năm trước đó Người đã nói bài diễn văn tại Riverside Church).

“Tôi đang ở New York khi nghe tin Mục sư King bị ám sát. Lúc đó tôi cảm thấy suy sụp, tôi không thể ăn, không thể ngủ được”, Sư Ông nhớ lại. “Tôi phát nguyện là sẽ tiếp tục sự nghiệp xây dựng tăng thân, hay Cộng đồng yêu quý như cách nói của Mục sư King, không chỉ cho tôi mà còn cho Mục sư. Đến bây giờ tôi đã làm được điều mà tôi đã hứa với Mục sư King, và tôi luôn cảm thấy Ngài đang yểm trợ cho tôi trong sự nghiệp này”.12

Giấc mơ của Mục sư King giờ đây đang trở thành hiện thực bởi sự biểu hiện của tăng thân khắp chốn. Lời nhắn nhủ của Sư Ông năm nào luôn khắc ghi trong trái tim các học trò của Người: “Thầy muốn tất cả các vị phải biến giấc mơ của Martin Luther King thành giấc mơ của mình. Mỗi chúng ta phải là một người dựng Tăng, như vậy mới xứng đáng với sự trông chờ của Bụt. Bụt cũng đã xây dựng một tăng thân rất đẹp, Ngài có những người phụ tá giữ vai trò là người dựng tăng rất xuất sắc như ngài Xá Lợi Phất, ngài Ca Diếp, ngài Mục Kiền Liên v.v. Dù là người xuất gia hay tại gia mình cũng phải mang hoài bão đó, phải là sự tiếp nối của Đức Thế Tôn, phải xây dựng tăng thân cho có sự thương yêu, hiểu biết, tha thứ, bao dung để làm đẹp cho xã hội. Và chính tăng thân đó thúc đẩy xã hội đi lên, giúp lấy đi những bất công và tệ nạn trong xã hội và trong cuộc sống hằng ngày. Thầy đã đem hết thì giờ, tâm huyết và năng lực ra để xây dựng tăng thân, và thầy muốn trao truyền lại cho quý vị ước mơ đó, ước mơ mà Mục sư Martin Luther King cũng đã muốn trao truyền”.13

 

Chú thích:

  1. Mục sư bị ám sát vào ngày 4.4.1968 tại Memphis, bang Tennessee, Mỹ
  2. Tác phẩm “Hoa sen trong biển lửa”- Thích Nhất Hạnh (Lá thư nằm ở phần Phụ lục)
  3. Bản đánh máy từ cuộc họp báo của Tổng thống Johnson vào ngày 28.7.1965, được lưu trữ tại The American Presidency Project: https://www.presidency.ucsb.edu/documents/the-presidents-news- conference-1038
  4. Tự truyện về Mục sư Martin Luther King, Jr. (The Autobiography of Martin Luther King, Jr.), do Clayborne Carson biên tập, NXB Grand Central Publishing, Park Avenue, New York, ấn bản e-book phát hành tháng 1.2001, Loc 5578
  5. Trong một thập kỷ sau đó, còn có thêm nhiều tu sĩ Phật giáo cũng như Phật tử đã tự thiêu để thu hút sự chú ý của dư luận về tình trạng đàn áp đang diễn ra lúc bấy giờ và về những khổ đau cùng cực do chiến tranh gây ra, trong đó có sự tham dự ngày càng sâu của quân đội Mỹ.
  6. Sư Ông cũng nói lên thông điệp này trong bài thơ “Dặn dò” – Tuyển tập thơ Nhất Hạnh. Xúc động sâu sắc trước thông điệp này, thầy Pháp Ấn đã phổ nhạc bài thơ và đã hát nhiều lần trước đại chúng khi được Sư Ông đề nghị.
  7. Tác phẩm “At home in the world: Stories and Essential Teachings from a Monk’s Life” – Thích Nhất Hạnh, trang 12
  8. Tác phẩm “At home in the world”, trang 72
  9. Tác phẩm “At home in the world”, ngoài ra có thể tham khảo thêm nội dung cuộc phỏng vấn của Oprah Winfrey với Sư Ông: https://plumvillage.org/thich-nhat-hanh-interviews/oprah-talks-to-thich-nhat-hanh/
  10. Có thể đọc bản fax lá thư của Mục sư King tại website “The King Center”, thành lập năm 1968 bởi bà Coretta Scott King: http://www.thekingcenter.org/archive/document/letter-mlk-nobel-institute
  11. Chương “Ai là người tri kỷ”, tác phẩm “Truyền thống sinh động của thiền tập” – Sư Ông Làng Mai: https://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/giang-kinh/truyen-thong-sinh-dong-cua-thien-tap/phuong- phap-tu-tap-lang-mai/ai-la-nguoi-tri-ky/
  12. Tác phẩm “At Home In The World”, trang 73
13. Pháp thoại ngày 02.12.2008, tại nội viện Phương Khê

Mối tình tri kỷ

Năm mươi năm đã trôi qua kể từ khi Mục sư King bị ám sát1, nhưng những nỗ lực vận động cho hòa bình cũng như tình tri kỷ thâm sâu giữa Sư Ông Làng Mai và Mục sư King đáng để cho chúng ta ôn lại, học hỏi và tiếp nối hạnh nguyện của chư vị.

Kẻ thù chúng ta không phải con người

Sư Ông và Mục sư King gặp nhau vào lúc các Ngài đang ở vào một thời điểm then chốt trong cuộc đời của mỗi người. Hai Ngài đều là những nhà trí thức ưu tú, những nhà lãnh đạo tâm linh và cũng là những nhà hoạt động xã hội đi đầu trong các phong trào bất bạo động, tranh đấu cho một sự thay đổi toàn diện giữa bối cảnh bạo động đang leo thang tại đất nước của các Ngài. Các Ngài đều phải đối diện với những nguy cơ đe dọa, đàn áp và những hoàn cảnh hiểm nguy. Với lòng nhân bản, tâm từ bi, khả năng lãnh đạo và sự tương kính lẫn nhau, các Ngài đã dung nhiếp được cả hai phong trào hòa bình cho dân tộc Việt Nam và nhân quyền cho đất nước Mỹ thành một. Cuộc tao ngộ của hai tâm hồn siêu việt này đã góp phần chuyển hướng dòng chảy của lịch sử.

Tất cả bắt đầu vào ngày 1 tháng 6 năm 1965, khi Sư Ông đặt vấn đề trực tiếp với Mục sư King trong một lá thư ngỏ (open letter) với nhan đề “Đi tìm kẻ thù của con người2. Lá thư được gửi đi chỉ vài tuần trước khi Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson quyết định bước sâu hơn vào chiến trường Việt Nam và khẳng định sự tham gia toàn diện của Mỹ vào cuộc chiến bằng cách tuyên bố rằng “sức mạnh chiến đấu củ Mỹ” sẽ được tăng cường ngay lập tức từ 75,000 đến 125,000 nhân lực, và sẽ tiếp tục được gia tăng nhiều hơn nữa trong tương lai.3

Trong hoàn cảnh gay go đó, mặc dù đã có sự giằng co trong lương tri của Ngài, nhưng trong lời tự thuật sau này, Mục sư King – người được nhận giải Nobel Hòa bình năm 1964 – nói rằng Ngài đã “không xuống đường, không giăng biểu ngữ, không vận động những cuộc biểu tình”4. Vì Ngài tin rằng, cuộc chiến đẫm máu sẽ mau chóng chấm dứt nếu người Mỹ thay vì tham gia vào cuộc chiến và kéo dài các sự tranh cãi, chuyển sang tham dự các cuộc đàm phán về ngưng chiến và hòa bình. Chiến lược của nhà lãnh đạo nhân quyền lão thành trong giai đoạn đó là “đóng vai im lặng” và âm thầm thúc đẩy, vận động cho hòa bình qua các cuộc đàm phán.

Trong bức thư ngỏ gởi Mục sư King, Sư Ông muốn giải thích cho các bạn Ki-tô giáo Tây phương “hiểu được tường tận ý nghĩa” về sự tự thiêu của bốn thầy và một sư cô vào mùa hè năm 1963, bắt đầu bằng sự hy sinh của Hòa thượng Thích Quảng Đức. Sư Ông khẳng định những hành động đó không phải là tự tử, cũng không phải là một sự tuyệt vọng hay phản kháng, mà là những hành động dũng cảm cao tột, đầy chất liệu thương yêu của Đại Từ, Đại Bi mang niềm tin và hy vọng cho những gì tốt đẹp sẽ đạt được trong tương lai. Những vị ấy đã sẵn sàng hy sinh sự sống của mình vì lợi ích của cả dân tộc trong lúc toàn bộ Phật giáo bị kỳ thị và đàn áp dã man do chế độ Ngô Đình Diệm áp đặt tại miền Nam Việt Nam.5

“Thưa Mục sư”, Sư Ông viết cho Mục sư King, “tôi tin với tất cả tâm hồn tôi rằng trong lúc tự thiêu, các vị tăng sĩ Việt Nam không nhắm đến cái chết của những kẻ đàn áp tàn bạo mà chỉ nhắm đến sự thay đổi của chính sách họ. Kẻ thù của các vị tăng sĩ kia không phải là con người. Kẻ thù của họ là cuồng tín, là độc tài, là tham lam, là giận dữ, là kỳ thị – những thứ này nằm sâu trong lòng người.

“Tôi cũng tin chắc rằng cuộc đấu tranh vận động cho bình đẳng và tự do mà Mục sư lãnh đạo ở Birmingham, Alabama,… không nhắm đến sự chống báng người da trắng mà chỉ nhắm đến sự chống báng kỳ thị, giận dữ, độc ác. Những cái này vốn là những kẻ thù đích thực của con người, chứ không phải là con người.

“Nơi tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng tôi, mỗi ngày chúng tôi đều gào thét một cách tuyệt vọng: Xin đừng giết con người, dù là nhân danh con người. Hãy giết kẻ thù đích thực của con người – những kẻ thù này hiện hữu khắp nơi, trong trái tim và khối óc mỗi người”.6

 

 

Quý vị không thể giữ im lặng

Sư Ông chia sẻ tiếp cho Mục sư King biết rằng vô số những người nông dân và trẻ em Việt Nam đã bị tàn sát bi thảm trong cuộc chiến tàn khốc kéo dài trên 20 năm. “Tôi biết chắc rằng bởi vì Mục sư đã từng dấn thân vào một cuộc tranh đấu cam go nhất cho bình đẳng và nhân quyền, Ngài là một trong những người có thể hiểu thấu và chia sẻ được những đau khổ không bờ bến của dân tộc Việt”.

Sư Ông đặt vấn đề cho Mục sư King, đó là “các nhà nhân bản lớn trên thế giới” không thể nào còn giữ được thái độ im lặng trước cuộc chiến Việt Nam. Sư Ông tiếp tục: “Chính Ngài không thể nào còn giữ được thái độ im lặng như thế. Mỹ quốc thường được nhắc nhở tới như một quốc gia có căn bản vững chãi về tôn giáo, vậy thì các nhà lãnh đạo tinh thần của dân tộc Mỹ sẽ không thể nào để cho đường lối chính trị và kinh tế Hoa kỳ thiếu mất chất liệu tâm linh được. Ngài không thể im lặng được, bởi vì Ngài đã từng hành động và Ngài hành động vì Thượng đế đang hành động trong Ngài…”.

Tôi đã có mặt trong hào quang của một vị thánh

Để vận động cho hòa bình và kêu gọi sự chấm dứt những khổ đau tại Việt Nam, Sư Ông rời Việt Nam vào tháng 5 năm 1966 để thực hiện những cuộc du thuyết khắp nơi trên đất Mỹ hầu loan tải những thông tin xác thực nhất cho quần chúng của đất nước này về “tình trạng hiện thực của Việt Nam”7, những tin tức mà những người đó không thể nào tiếp cận được từ các nguồn thông tin bản địa. Sư Ông và Mục sư King gặp nhau lần đầu vào ngày 1 tháng 6 năm 1966. Trong những ký sự về sau, Sư Ông đã viết về cuộc gặp gỡ ấy như sau: “Ngay từ giây phút đầu tiên, tôi biết tôi đang có mặt trong hào quang của một vị thánh. Không chỉ những hoạt động cao cả Ngài đang thực hiện mà chính sự sống, sự hiện hữu của tự thân Ngài là một nguồn cảm hứng lớn cho tôi”.8

Sư Ông và Mục sư King đã mở một cuộc họp báo chung tại Chicago vào ngày 1 tháng 6 năm 1966.

Trong một cuộc họp báo chung, Sư Ông yêu cầu sử dụng những phương thức bất bạo động để xóa bỏ “kẻ thù đích thực của con người”: Đó là sự giận dữ, hận thù và kỳ thị. Sư Ông khẳng định những hoạt động về nhân quyền và cá cuộc đấu tranh cho bình đẳng chủng tộc của Mục sư King là hoàn toàn đi đôi với những cố gắng chấm dứt mâu thuẫn và xung đột tại Việt Nam.

Về phía Mục sư King, ngày hôm đó, Ngài đã lên tiếng mạnh mẽ chống lại cuộc chiến tại Việt Nam. “Đó là ngày chúng tôi cùng hợp sức để vận động cho hòa bình tại Việt Nam cũng như tranh đấu cho dân quyền, cho sự bình đẳng chủng tộc tại Hoa Kỳ”9, Sư Ông đã viết như vậy trong những năm tháng về sau. Cũng vào khoảng thời gian này, Sư Ông bị cấm trở về lại Việt Nam và từ đó trở thành một người lưu vong trong vòng bốn mươi năm tại hải ngoại.

Cuộc tao ngộ với Sư Ông đã để lại một ấn tượng sâu đậm trong lòng Mục sư King và giúp cho Ngài ý thức một cách sâu sắc hơn những thách thức về đạo đức và nhân bản mà cuộc chiến tại Việt Nam đặt ra cho toàn thể nhân loại. Vào ngày 25 tháng 1 năm 1967, Mục sư King đã gửi bức thư sau đây đến Viện Nobel Na Uy ở Oslo:

Kính thưa Quý Ngài,

Với tư cách là người được nhận Giải Nobel Hòa bình năm 1964, tôi nay rất vinh hạnh để đề cử Thầy Nhất Hạnh cho giải thưởng này trong năm 1967.

Cá nhân tôi không biết một ai có thể xứng đáng để tiếp nhận giải Nobel Hòa bình hơn là vị tu sĩ Phật giáo Việt Nam đức độ và hòa nhã này.

Năm nay sẽ là một năm đặc biệt đầy những triển vọng tốt lành nếu quý Ngài trao tặng giải thưởng đến Thầy Nhất Hạnh. Đây là một người tiên phong trong phong trào hòa bình và bất bạo động, một con người đã bị tách ra khỏi đồng bào ruột thịt của mình trong khi họ đang bị đàn áp bởi một cuộc chiến khốc liệt, tàn bạo, có nguy cơ đe dọa lương tri của cả nhân loại và sự thanh bình, yên ổn trên toàn thế giới.

Vì không có vinh dự nào đáng tôn kính hơn là giải Nobel Hòa bình, tôi tin rằng ban tặng giải thưởng đó cho Thầy Nhất Hạnh tự nó sẽ là một hành động cao cả nhất để tôn vinh hòa bình. Điều đó sẽ nhắc nhở các quốc gia rằng luôn có những con người đầy thiện chí và giàu lòng nhân ái sẵn sàng dẫn lối cho những phần tử hiếu chiến ra khỏi vực thẳm của hận thù, hủy diệt và tàn phá. Nó sẽ một lần nữa thức tỉnh con người, giúp họ học được bài học về cái đẹp và tình thương được nuôi dưỡng trong hòa bình. Nó sẽ làm sống dậy niềm hy vọng cho một thế giới mới đầy công bằng và hòa hợp.

Tôi biết Thầy Nhất Hạnh, và rất vinh dự được xem Thầy là bạn. Cho phép tôi chia sẻ với quý Ngài những gì tôi biết về Thầy. Quý Ngài sẽ thấy đây là một con người đặc biệt với nhiều chí nguyện và tài năng đáng kinh ngạc.

Thầy Nhất Hạnh là một người thánh thiện vì Ngài khiêm cung và chân thành. Ngài là một học giả có trí năng quảng bác. Là tác giả của 10 đầu sách, Ngài cũng là một nhà thơ đầy lòng nhân ái với trí tuệ minh triết siêu việt. Ngài là một học giả chuyên nghiên cứu về Triết học Tôn giáo và là Giáo sư của Viện Đại học Phật giáo Vạn Hạnh, Viện Đại học mà Ngài đã góp phần sáng lập. Ngài điều hành Viện Xã hội học tại đại học này. Con người siêu việt này cũng là chủ bút của Thiện Mỹ, một tuần báo Phật giáo có tầm ảnh hưởng lớn. Ngài là Hiệu trưởng trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, một tổ chức huấn luyện những người trẻ để tái thiết lập và xây dựng những làng quê bị tàn phá bởi chiến tranh.

Ngày hôm nay, Thầy Nhất Hạnh có thể được coi như là không còn có quê hương và đất nước để trở về. Nếu Ngài trở về Việt Nam, dĩ nhiên đó là ao ước thâm sâu của Ngài, tánh mạng của Ngài sẽ như chỉ mành treo chuông. Ngài là nạn nhân của một sự đày ải đặc biệt là tàn bạo vì Ngài đã dám lên tiếng đề nghị ủng hộ mang lại hòa bình cho tất cả đồng bào ruột thịt của mình. Đây quả thật là một bi kịch đau thương đang xảy ra hiện nay tại Việt Nam và thật là bi đát cho những ai vẫn muốn kéo dài tình trạng khổ đau này.

Lịch sử dân tộc Việt Nam có không biết bao nhiêu thời kỳ bị bóc lột và khai thác bởi ngoại xâm và hạng người bất lương giàu có, ngay cả cho đến bây giờ, người dân Việt Nam vẫn đang bị cai trị khắc nghiệt, đói khát, nghèo khó và phải gánh chịu những gay go gian khổ cũng như sự khốc liệt của cuộc chiến hiện đại.

Thầy Nhất Hạnh đem đến cho chúng ta một lối thoát khỏi cơn ác mộng này, một giải pháp có thể chấp nhận được bởi những nhà lãnh đạo sáng suốt. Ngài đã đi du thuyết khắp thế giới để cầu xin sự yểm trợ, nâng đỡ của những chính khách lỗi lạc, những nhà lãnh đạo tôn giáo, học giả và văn sĩ trí thức. Những tuệ giác của Ngài về hòa bình, nếu được thực hiện, sẽ là chứng tích cho một thế giới đại đồng, đầy tình huynh đệ và tình nhân loại.

Tôi xin trân trọng đề nghị với quý Ngài, hãy thúc đẩy và trao thêm sức mạnh cho nỗ lực xây dựng hòa bình của Thầy Nhất Hạnh thông qua việc trao tặng Giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1967. Thầy Nhất Hạnh chắc hẳn sẽ nhận vinh dự cao quý này với tất cả sự khiêm nhường và lòng biết ơn.

Trân trọng,
Mục sư Martin Luther King, Jr.10

 

 

Tiếp nối giấc mơ của Mục sư King

Vào tháng 5 năm 1967, ngay sau bài diễn văn kêu gọi hòa bình cho Việt Nam tại Riverside Church của Mục sư King, Sư Ông gặp lại Mục sư tại Hội nghị “Hòa bình trên Trái đất” do Hội đồng Thế giới của các Giáo hội (World Council of Churches) tổ chức tại Geneva, Thụy Sĩ. Chính tại hội nghị này, trong một buổi ăn sáng chung tại phòng riêng của Mục sư King ở khách sạn, Sư Ông và Mục sư đã tiếp tục đàm đạo về hòa bình, tự do, về xây dựng tăng thân hay cộng đồng yêu quý, cũng như những bước đi mà chính quyền Mỹ nên tiến hành để chấm dứt cuộc chiến tranh tại Việt Nam.

Sư Ông đã nói với Mục sư King: “Này Mục sư King! Ông có biết rằng ở Việt Nam người ta xem ông như là một vị Bồ tát hay không? Một người mang hết tất cả sức mình để làm vơi bớt những khổ đau của chúng sanh”.11

Sư Ông đã viết rằng Sư Ông rất hạnh phúc vì đã có cơ hội nói được điều đó với Mục sư King, bởi vì chỉ gần một năm sau đó,Mục sư bị ám sát (đúng vào ngày mà một năm trước đó Người đã nói bài diễn văn tại Riverside Church).

“Tôi đang ở New York khi nghe tin Mục sư King bị ám sát. Lúc đó tôi cảm thấy suy sụp, tôi không thể ăn, không thể ngủ được”, Sư Ông nhớ lại. “Tôi phát nguyện là sẽ tiếp tục sự nghiệp xây dựng tăng thân, hay Cộng đồng yêu quý như cách nói của Mục sư King, không chỉ cho tôi mà còn cho Mục sư. Đến bây giờ tôi đã làm được điều mà tôi đã hứa với Mục sư King, và tôi luôn cảm thấy Ngài đang yểm trợ cho tôi trong sự nghiệp này”.12

Giấc mơ của Mục sư King giờ đây đang trở thành hiện thực bởi sự biểu hiện của tăng thân khắp chốn. Lời nhắn nhủ của Sư Ông năm nào luôn khắc ghi trong trái tim các học trò của Người: “Thầy muốn tất cả các vị phải biến giấc mơ của Martin Luther King thành giấc mơ của mình. Mỗi chúng ta phải là một người dựng Tăng, như vậy mới xứng đáng với sự trông chờ của Bụt. Bụt cũng đã xây dựng một tăng thân rất đẹp, Ngài có những người phụ tá giữ vai trò là người dựng tăng rất xuất sắc như ngài Xá Lợi Phất, ngài Ca Diếp, ngài Mục Kiền Liên v.v. Dù là người xuất gia hay tại gia mình cũng phải mang hoài bão đó, phải là sự tiếp nối của Đức Thế Tôn, phải xây dựng tăng thân cho có sự thương yêu, hiểu biết, tha thứ, bao dung để làm đẹp cho xã hội. Và chính tăng thân đó thúc đẩy xã hội đi lên, giúp lấy đi những bất công và tệ nạn trong xã hội và trong cuộc sống hằng ngày. Thầy đã đem hết thì giờ, tâm huyết và năng lực ra để xây dựng tăng thân, và thầy muốn trao truyền lại cho quý vị ước mơ đó, ước mơ mà Mục sư Martin Luther King cũng đã muốn trao truyền”.13

 

Chú thích:

  1. Mục sư bị ám sát vào ngày 4.4.1968 tại Memphis, bang Tennessee, Mỹ
  2. Tác phẩm “Hoa sen trong biển lửa”- Thích Nhất Hạnh (Lá thư nằm ở phần Phụ lục)
  3. Bản đánh máy từ cuộc họp báo của Tổng thống Johnson vào ngày 28.7.1965, được lưu trữ tại The American Presidency Project: https://www.presidency.ucsb.edu/documents/the-presidents-news- conference-1038
  4. Tự truyện về Mục sư Martin Luther King, Jr. (The Autobiography of Martin Luther King, Jr.), do Clayborne Carson biên tập, NXB Grand Central Publishing, Park Avenue, New York, ấn bản e-book phát hành tháng 1.2001, Loc 5578
  5. Trong một thập kỷ sau đó, còn có thêm nhiều tu sĩ Phật giáo cũng như Phật tử đã tự thiêu để thu hút sự chú ý của dư luận về tình trạng đàn áp đang diễn ra lúc bấy giờ và về những khổ đau cùng cực do chiến tranh gây ra, trong đó có sự tham dự ngày càng sâu của quân đội Mỹ.
  6. Sư Ông cũng nói lên thông điệp này trong bài thơ “Dặn dò” – Tuyển tập thơ Nhất Hạnh. Xúc động sâu sắc trước thông điệp này, thầy Pháp Ấn đã phổ nhạc bài thơ và đã hát nhiều lần trước đại chúng khi được Sư Ông đề nghị.
  7. Tác phẩm “At home in the world: Stories and Essential Teachings from a Monk’s Life” – Thích Nhất Hạnh, trang 12
  8. Tác phẩm “At home in the world”, trang 72
  9. Tác phẩm “At home in the world”, ngoài ra có thể tham khảo thêm nội dung cuộc phỏng vấn của Oprah Winfrey với Sư Ông: https://plumvillage.org/thich-nhat-hanh-interviews/oprah-talks-to-thich-nhat-hanh/
  10. Có thể đọc bản fax lá thư của Mục sư King tại website “The King Center”, thành lập năm 1968 bởi bà Coretta Scott King: http://www.thekingcenter.org/archive/document/letter-mlk-nobel-institute
  11. Chương “Ai là người tri kỷ”, tác phẩm “Truyền thống sinh động của thiền tập” – Sư Ông Làng Mai: https://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/giang-kinh/truyen-thong-sinh-dong-cua-thien-tap/phuong- phap-tu-tap-lang-mai/ai-la-nguoi-tri-ky/
  12. Tác phẩm “At Home In The World”, trang 73
13. Pháp thoại ngày 02.12.2008, tại nội viện Phương Khê

 

 

 

 

 

 

 

 

Cám ơn mẹ

 

Mẹ! Ngoài trời đang mưa rỉ rả, con ngồi trong phòng ngắm tấm hình mẹ vừa mới gửi cho chúng con. Tấm hình mẹ diện bộ đồ “model 1020..í..lộn..model 2020” quần đen, áo xanh trời, mũ bèo trắng, khuyến mãi thêm cái áo ghile cũ và đôi hia huyền thoại lấm bùn đất; à, không thể bỏ qua cái túi xách nâu sòng vô giá mẹ đeo một bên, bàn tay ôm chặt..chai nước lọc. Tấm này mẹ đang đứng ở Đồn Biên Phòng Mường Pồn – Nậm Ty. ( Có lẽ đây là nơi xa nhất trong nước mẹ từng đi từ trước đến giờ, phải không mẹ?)

Nhìn vào bàn tay mẹ,  con nhìn rất kỹ và bỗng dưng thấy nó thật là đẹp! Bàn tay với những móng tay dẹt dẹt quen thuộc mà bảy đứa chúng con đứa nào cũng được mẹ ban cho một bộ. Bàn tay màu da nâu khỏe mạnh, nơi con nhìn là trong tim thấy ấm áp. Bàn tay đó đã từng bồng, bế, đút, mớm, từng đắt đi học, lao động nhọc nhằn cho từng đứa con khôn lớn; bàn tay đó từng vỗ về mỗi khi chúng con đến gần. Bất kể chúng con vui hay buồn, lớn hay nhỏ bàn tay ấy luôn luôn sẵn sàng xoa lên vầng trán, để kéo mền đắp ấm giữa khuya, để nấu vài món ngon hay lau những giọt nước mắt lã chã của hết đứa này đến đứa khác trong quá trình chúng con học làm người. Dù bao nhiêu tuổi, dù xa hay gần, không ai trong chúng con có thể phủ nhận rằng bàn tay ấy luôn tràn đầy yêu thương và kiên nhẫn. Cũng chính bàn tay mong manh gầy guộc của mẹ đã tạo ra mười bốn bàn tay trắng trẻo, khỏe mạnh của chúng con.

Mẹ, con, Ỉn và En – mấy người phụ nữ trong nhà, gặp nhau là hay đặt những bàn tay ra so. Tay mẹ luôn đen hơn, luôn gầy hơn, luôn nhiều gân hơn nhưng không đứa con nào, không khoảnh khắc nào tụi con thấy tay mình đẹp hơn tay mẹ. Chúng con ai cũng ý thức rõ những bàn tay của các con là bàn tay mẹ, là sự tiếp nối của bàn tay mẹ. Không có đôi bàn tay đẹp rạng ngời dấu ấn thời gian đó thì làm gì có những bàn tay của chúng con bây giờ.

 

 

Nhờ mẹ, nhờ lối sống, nhờ nhân cách của mẹ mà chúng con luôn thấy mình có một tuổi thơ đầy đủ tình thương. Đó là nền tảng cho chúng con sau khi xuất gia thấm đẫm những bài học yêu thương từ Thầy một cách dễ dàng hơn. Rồi từ đó mà hình thành thói quen đối xử yêu thương, lịch sự, tôn trọng mọi người xung quanh chúng con.

Con biết mấy em trai của con : Cún, Bia, Lọt, Ủi cũng vô cùng thương kính mẹ. Sự có mặt của mẹ trong từng cuộc đời của chúng con tuy khác thời điểm, khác sự kiện, nhưng lúc nào cũng là đúng lúc chúng con cần mẹ nhất.

Mẹ không giàu tiền bạc, mẹ không có bất động sản để cho mỗi đứa một cái biệt thự hay một công ty riêng. Mà mẹ đã đặt để vào từng trái tim và tâm hồn mỗi đứa con của mẹ những hạt mầm đạo đức, tình thương yêu, cùng sự siêng năng lao động. Vì mẹ tin rằng sống trong cuộc đời, những đức tính đó sẽ là những báu vật có công năng bảo hộ chúng con suốt đời, dù khi mẹ không còn bên chúng con nữa. Tuy rằng mỗi chúng con vẫn phải té lên té xuống trong cuộc đời cho đến khi biết cách tự đứng vững trên đôi chân mình, nhưng nếu không có những căn bản mẹ cho thì có lẽ cuộc sống của chúng con còn khó khăn hơn trăm vạn lần.

Con – chị cả của các em con, xin hết lòng lạy xuống để được bày tỏ lòng biết ơn của con đối với mẹ một cách sâu sắc. Con cảm ơn mẹ cho con rất nhiều bài học trong suốt cuộc đời này; cảm ơn mẹ luôn luôn lắng nghe con kể chuyện; cảm ơn mẹ luôn là người bạn đồng hành thương con, hiểu con, khích lệ con đứng lên mỗi lần vấp ngã; cảm ơn mẹ luôn luôn ủng hộ, yểm trợ cho những sáng kiến của con; cảm ơn mẹ luôn luôn làm cầu nối yêu thương cho cả nhà mình; cảm ơn mẹ luôn sống yêu đời, tích cực để con được yên tâm tu học và trưởng thành; cảm ơn mẹ …, con cảm ơn mẹ … người mẹ thành công nhất “trong nghề” làm Mẹ con từng biết.

(Chân Diễm Nghiêm)