Mối tình tri kỷ

 

Năm mươi năm đã trôi qua kể từ khi Mục sư King bị ám sát1, nhưng những nỗ lực vận động cho hòa bình cũng như tình tri kỷ thâm sâu giữa Sư Ông Làng Mai và Mục sư King đáng để cho chúng ta ôn lại, học hỏi và tiếp nối hạnh nguyện của chư vị.

Kẻ thù chúng ta không phải con người

Sư Ông và Mục sư King gặp nhau vào lúc các Ngài đang ở vào một thời điểm then chốt trong cuộc đời của mỗi người. Hai Ngài đều là những nhà trí thức ưu tú, những nhà lãnh đạo tâm linh và cũng là những nhà hoạt động xã hội đi đầu trong các phong trào bất bạo động, tranh đấu cho một sự thay đổi toàn diện giữa bối cảnh bạo động đang leo thang tại đất nước của các Ngài. Các Ngài đều phải đối diện với những nguy cơ đe dọa, đàn áp và những hoàn cảnh hiểm nguy. Với lòng nhân bản, tâm từ bi, khả năng lãnh đạo và sự tương kính lẫn nhau, các Ngài đã dung nhiếp được cả hai phong trào hòa bình cho dân tộc Việt Nam và nhân quyền cho đất nước Mỹ thành một. Cuộc tao ngộ của hai tâm hồn siêu việt này đã góp phần chuyển hướng dòng chảy của lịch sử.

Tất cả bắt đầu vào ngày 1 tháng 6 năm 1965, khi Sư Ông đặt vấn đề trực tiếp với Mục sư King trong một lá thư ngỏ (open letter) với nhan đề “Đi tìm kẻ thù của con người2. Lá thư được gửi đi chỉ vài tuần trước khi Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson quyết định bước sâu hơn vào chiến trường Việt Nam và khẳng định sự tham gia toàn diện của Mỹ vào cuộc chiến bằng cách tuyên bố rằng “sức mạnh chiến đấu củ Mỹ” sẽ được tăng cường ngay lập tức từ 75,000 đến 125,000 nhân lực, và sẽ tiếp tục được gia tăng nhiều hơn nữa trong tương lai.3

Trong hoàn cảnh gay go đó, mặc dù đã có sự giằng co trong lương tri của Ngài, nhưng trong lời tự thuật sau này, Mục sư King – người được nhận giải Nobel Hòa bình năm 1964 – nói rằng Ngài đã “không xuống đường, không giăng biểu ngữ, không vận động những cuộc biểu tình”4. Vì Ngài tin rằng, cuộc chiến đẫm máu sẽ mau chóng chấm dứt nếu người Mỹ thay vì tham gia vào cuộc chiến và kéo dài các sự tranh cãi, chuyển sang tham dự các cuộc đàm phán về ngưng chiến và hòa bình. Chiến lược của nhà lãnh đạo nhân quyền lão thành trong giai đoạn đó là “đóng vai im lặng” và âm thầm thúc đẩy, vận động cho hòa bình qua các cuộc đàm phán.

Trong bức thư ngỏ gởi Mục sư King, Sư Ông muốn giải thích cho các bạn Ki-tô giáo Tây phương “hiểu được tường tận ý nghĩa” về sự tự thiêu của bốn thầy và một sư cô vào mùa hè năm 1963, bắt đầu bằng sự hy sinh của Hòa thượng Thích Quảng Đức. Sư Ông khẳng định những hành động đó không phải là tự tử, cũng không phải là một sự tuyệt vọng hay phản kháng, mà là những hành động dũng cảm cao tột, đầy chất liệu thương yêu của Đại Từ, Đại Bi mang niềm tin và hy vọng cho những gì tốt đẹp sẽ đạt được trong tương lai. Những vị ấy đã sẵn sàng hy sinh sự sống của mình vì lợi ích của cả dân tộc trong lúc toàn bộ Phật giáo bị kỳ thị và đàn áp dã man do chế độ Ngô Đình Diệm áp đặt tại miền Nam Việt Nam.5

“Thưa Mục sư”, Sư Ông viết cho Mục sư King, “tôi tin với tất cả tâm hồn tôi rằng trong lúc tự thiêu, các vị tăng sĩ Việt Nam không nhắm đến cái chết của những kẻ đàn áp tàn bạo mà chỉ nhắm đến sự thay đổi của chính sách họ. Kẻ thù của các vị tăng sĩ kia không phải là con người. Kẻ thù của họ là cuồng tín, là độc tài, là tham lam, là giận dữ, là kỳ thị – những thứ này nằm sâu trong lòng người.

“Tôi cũng tin chắc rằng cuộc đấu tranh vận động cho bình đẳng và tự do mà Mục sư lãnh đạo ở Birmingham, Alabama,… không nhắm đến sự chống báng người da trắng mà chỉ nhắm đến sự chống báng kỳ thị, giận dữ, độc ác. Những cái này vốn là những kẻ thù đích thực của con người, chứ không phải là con người.

“Nơi tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng tôi, mỗi ngày chúng tôi đều gào thét một cách tuyệt vọng: Xin đừng giết con người, dù là nhân danh con người. Hãy giết kẻ thù đích thực của con người – những kẻ thù này hiện hữu khắp nơi, trong trái tim và khối óc mỗi người”.6

 

 

Quý vị không thể giữ im lặng

Sư Ông chia sẻ tiếp cho Mục sư King biết rằng vô số những người nông dân và trẻ em Việt Nam đã bị tàn sát bi thảm trong cuộc chiến tàn khốc kéo dài trên 20 năm. “Tôi biết chắc rằng bởi vì Mục sư đã từng dấn thân vào một cuộc tranh đấu cam go nhất cho bình đẳng và nhân quyền, Ngài là một trong những người có thể hiểu thấu và chia sẻ được những đau khổ không bờ bến của dân tộc Việt”.

Sư Ông đặt vấn đề cho Mục sư King, đó là “các nhà nhân bản lớn trên thế giới” không thể nào còn giữ được thái độ im lặng trước cuộc chiến Việt Nam. Sư Ông tiếp tục: “Chính Ngài không thể nào còn giữ được thái độ im lặng như thế. Mỹ quốc thường được nhắc nhở tới như một quốc gia có căn bản vững chãi về tôn giáo, vậy thì các nhà lãnh đạo tinh thần của dân tộc Mỹ sẽ không thể nào để cho đường lối chính trị và kinh tế Hoa kỳ thiếu mất chất liệu tâm linh được. Ngài không thể im lặng được, bởi vì Ngài đã từng hành động và Ngài hành động vì Thượng đế đang hành động trong Ngài…”.

Tôi đã có mặt trong hào quang của một vị thánh

Để vận động cho hòa bình và kêu gọi sự chấm dứt những khổ đau tại Việt Nam, Sư Ông rời Việt Nam vào tháng 5 năm 1966 để thực hiện những cuộc du thuyết khắp nơi trên đất Mỹ hầu loan tải những thông tin xác thực nhất cho quần chúng của đất nước này về “tình trạng hiện thực của Việt Nam”7, những tin tức mà những người đó không thể nào tiếp cận được từ các nguồn thông tin bản địa. Sư Ông và Mục sư King gặp nhau lần đầu vào ngày 1 tháng 6 năm 1966. Trong những ký sự về sau, Sư Ông đã viết về cuộc gặp gỡ ấy như sau: “Ngay từ giây phút đầu tiên, tôi biết tôi đang có mặt trong hào quang của một vị thánh. Không chỉ những hoạt động cao cả Ngài đang thực hiện mà chính sự sống, sự hiện hữu của tự thân Ngài là một nguồn cảm hứng lớn cho tôi”.8

Sư Ông và Mục sư King đã mở một cuộc họp báo chung tại Chicago vào ngày 1 tháng 6 năm 1966.

Trong một cuộc họp báo chung, Sư Ông yêu cầu sử dụng những phương thức bất bạo động để xóa bỏ “kẻ thù đích thực của con người”: Đó là sự giận dữ, hận thù và kỳ thị. Sư Ông khẳng định những hoạt động về nhân quyền và cá cuộc đấu tranh cho bình đẳng chủng tộc của Mục sư King là hoàn toàn đi đôi với những cố gắng chấm dứt mâu thuẫn và xung đột tại Việt Nam.

Về phía Mục sư King, ngày hôm đó, Ngài đã lên tiếng mạnh mẽ chống lại cuộc chiến tại Việt Nam. “Đó là ngày chúng tôi cùng hợp sức để vận động cho hòa bình tại Việt Nam cũng như tranh đấu cho dân quyền, cho sự bình đẳng chủng tộc tại Hoa Kỳ”9, Sư Ông đã viết như vậy trong những năm tháng về sau. Cũng vào khoảng thời gian này, Sư Ông bị cấm trở về lại Việt Nam và từ đó trở thành một người lưu vong trong vòng bốn mươi năm tại hải ngoại.

Cuộc tao ngộ với Sư Ông đã để lại một ấn tượng sâu đậm trong lòng Mục sư King và giúp cho Ngài ý thức một cách sâu sắc hơn những thách thức về đạo đức và nhân bản mà cuộc chiến tại Việt Nam đặt ra cho toàn thể nhân loại. Vào ngày 25 tháng 1 năm 1967, Mục sư King đã gửi bức thư sau đây đến Viện Nobel Na Uy ở Oslo:

Kính thưa Quý Ngài,

Với tư cách là người được nhận Giải Nobel Hòa bình năm 1964, tôi nay rất vinh hạnh để đề cử Thầy Nhất Hạnh cho giải thưởng này trong năm 1967.

Cá nhân tôi không biết một ai có thể xứng đáng để tiếp nhận giải Nobel Hòa bình hơn là vị tu sĩ Phật giáo Việt Nam đức độ và hòa nhã này.

Năm nay sẽ là một năm đặc biệt đầy những triển vọng tốt lành nếu quý Ngài trao tặng giải thưởng đến Thầy Nhất Hạnh. Đây là một người tiên phong trong phong trào hòa bình và bất bạo động, một con người đã bị tách ra khỏi đồng bào ruột thịt của mình trong khi họ đang bị đàn áp bởi một cuộc chiến khốc liệt, tàn bạo, có nguy cơ đe dọa lương tri của cả nhân loại và sự thanh bình, yên ổn trên toàn thế giới.

Vì không có vinh dự nào đáng tôn kính hơn là giải Nobel Hòa bình, tôi tin rằng ban tặng giải thưởng đó cho Thầy Nhất Hạnh tự nó sẽ là một hành động cao cả nhất để tôn vinh hòa bình. Điều đó sẽ nhắc nhở các quốc gia rằng luôn có những con người đầy thiện chí và giàu lòng nhân ái sẵn sàng dẫn lối cho những phần tử hiếu chiến ra khỏi vực thẳm của hận thù, hủy diệt và tàn phá. Nó sẽ một lần nữa thức tỉnh con người, giúp họ học được bài học về cái đẹp và tình thương được nuôi dưỡng trong hòa bình. Nó sẽ làm sống dậy niềm hy vọng cho một thế giới mới đầy công bằng và hòa hợp.

Tôi biết Thầy Nhất Hạnh, và rất vinh dự được xem Thầy là bạn. Cho phép tôi chia sẻ với quý Ngài những gì tôi biết về Thầy. Quý Ngài sẽ thấy đây là một con người đặc biệt với nhiều chí nguyện và tài năng đáng kinh ngạc.

Thầy Nhất Hạnh là một người thánh thiện vì Ngài khiêm cung và chân thành. Ngài là một học giả có trí năng quảng bác. Là tác giả của 10 đầu sách, Ngài cũng là một nhà thơ đầy lòng nhân ái với trí tuệ minh triết siêu việt. Ngài là một học giả chuyên nghiên cứu về Triết học Tôn giáo và là Giáo sư của Viện Đại học Phật giáo Vạn Hạnh, Viện Đại học mà Ngài đã góp phần sáng lập. Ngài điều hành Viện Xã hội học tại đại học này. Con người siêu việt này cũng là chủ bút của Thiện Mỹ, một tuần báo Phật giáo có tầm ảnh hưởng lớn. Ngài là Hiệu trưởng trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, một tổ chức huấn luyện những người trẻ để tái thiết lập và xây dựng những làng quê bị tàn phá bởi chiến tranh.

Ngày hôm nay, Thầy Nhất Hạnh có thể được coi như là không còn có quê hương và đất nước để trở về. Nếu Ngài trở về Việt Nam, dĩ nhiên đó là ao ước thâm sâu của Ngài, tánh mạng của Ngài sẽ như chỉ mành treo chuông. Ngài là nạn nhân của một sự đày ải đặc biệt là tàn bạo vì Ngài đã dám lên tiếng đề nghị ủng hộ mang lại hòa bình cho tất cả đồng bào ruột thịt của mình. Đây quả thật là một bi kịch đau thương đang xảy ra hiện nay tại Việt Nam và thật là bi đát cho những ai vẫn muốn kéo dài tình trạng khổ đau này.

Lịch sử dân tộc Việt Nam có không biết bao nhiêu thời kỳ bị bóc lột và khai thác bởi ngoại xâm và hạng người bất lương giàu có, ngay cả cho đến bây giờ, người dân Việt Nam vẫn đang bị cai trị khắc nghiệt, đói khát, nghèo khó và phải gánh chịu những gay go gian khổ cũng như sự khốc liệt của cuộc chiến hiện đại.

Thầy Nhất Hạnh đem đến cho chúng ta một lối thoát khỏi cơn ác mộng này, một giải pháp có thể chấp nhận được bởi những nhà lãnh đạo sáng suốt. Ngài đã đi du thuyết khắp thế giới để cầu xin sự yểm trợ, nâng đỡ của những chính khách lỗi lạc, những nhà lãnh đạo tôn giáo, học giả và văn sĩ trí thức. Những tuệ giác của Ngài về hòa bình, nếu được thực hiện, sẽ là chứng tích cho một thế giới đại đồng, đầy tình huynh đệ và tình nhân loại.

Tôi xin trân trọng đề nghị với quý Ngài, hãy thúc đẩy và trao thêm sức mạnh cho nỗ lực xây dựng hòa bình của Thầy Nhất Hạnh thông qua việc trao tặng Giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1967. Thầy Nhất Hạnh chắc hẳn sẽ nhận vinh dự cao quý này với tất cả sự khiêm nhường và lòng biết ơn.

Trân trọng,
Mục sư Martin Luther King, Jr.10

 

 

Tiếp nối giấc mơ của Mục sư King

Vào tháng 5 năm 1967, ngay sau bài diễn văn kêu gọi hòa bình cho Việt Nam tại Riverside Church của Mục sư King, Sư Ông gặp lại Mục sư tại Hội nghị “Hòa bình trên Trái đất” do Hội đồng Thế giới của các Giáo hội (World Council of Churches) tổ chức tại Geneva, Thụy Sĩ. Chính tại hội nghị này, trong một buổi ăn sáng chung tại phòng riêng của Mục sư King ở khách sạn, Sư Ông và Mục sư đã tiếp tục đàm đạo về hòa bình, tự do, về xây dựng tăng thân hay cộng đồng yêu quý, cũng như những bước đi mà chính quyền Mỹ nên tiến hành để chấm dứt cuộc chiến tranh tại Việt Nam.

Sư Ông đã nói với Mục sư King: “Này Mục sư King! Ông có biết rằng ở Việt Nam người ta xem ông như là một vị Bồ tát hay không? Một người mang hết tất cả sức mình để làm vơi bớt những khổ đau của chúng sanh”.11

Sư Ông đã viết rằng Sư Ông rất hạnh phúc vì đã có cơ hội nói được điều đó với Mục sư King, bởi vì chỉ gần một năm sau đó,Mục sư bị ám sát (đúng vào ngày mà một năm trước đó Người đã nói bài diễn văn tại Riverside Church).

“Tôi đang ở New York khi nghe tin Mục sư King bị ám sát. Lúc đó tôi cảm thấy suy sụp, tôi không thể ăn, không thể ngủ được”, Sư Ông nhớ lại. “Tôi phát nguyện là sẽ tiếp tục sự nghiệp xây dựng tăng thân, hay Cộng đồng yêu quý như cách nói của Mục sư King, không chỉ cho tôi mà còn cho Mục sư. Đến bây giờ tôi đã làm được điều mà tôi đã hứa với Mục sư King, và tôi luôn cảm thấy Ngài đang yểm trợ cho tôi trong sự nghiệp này”.12

Giấc mơ của Mục sư King giờ đây đang trở thành hiện thực bởi sự biểu hiện của tăng thân khắp chốn. Lời nhắn nhủ của Sư Ông năm nào luôn khắc ghi trong trái tim các học trò của Người: “Thầy muốn tất cả các vị phải biến giấc mơ của Martin Luther King thành giấc mơ của mình. Mỗi chúng ta phải là một người dựng Tăng, như vậy mới xứng đáng với sự trông chờ của Bụt. Bụt cũng đã xây dựng một tăng thân rất đẹp, Ngài có những người phụ tá giữ vai trò là người dựng tăng rất xuất sắc như ngài Xá Lợi Phất, ngài Ca Diếp, ngài Mục Kiền Liên v.v. Dù là người xuất gia hay tại gia mình cũng phải mang hoài bão đó, phải là sự tiếp nối của Đức Thế Tôn, phải xây dựng tăng thân cho có sự thương yêu, hiểu biết, tha thứ, bao dung để làm đẹp cho xã hội. Và chính tăng thân đó thúc đẩy xã hội đi lên, giúp lấy đi những bất công và tệ nạn trong xã hội và trong cuộc sống hằng ngày. Thầy đã đem hết thì giờ, tâm huyết và năng lực ra để xây dựng tăng thân, và thầy muốn trao truyền lại cho quý vị ước mơ đó, ước mơ mà Mục sư Martin Luther King cũng đã muốn trao truyền”.13

 

Chú thích:

  1. Mục sư bị ám sát vào ngày 4.4.1968 tại Memphis, bang Tennessee, Mỹ
  2. Tác phẩm “Hoa sen trong biển lửa”- Thích Nhất Hạnh (Lá thư nằm ở phần Phụ lục)
  3. Bản đánh máy từ cuộc họp báo của Tổng thống Johnson vào ngày 28.7.1965, được lưu trữ tại The American Presidency Project: https://www.presidency.ucsb.edu/documents/the-presidents-news- conference-1038
  4. Tự truyện về Mục sư Martin Luther King, Jr. (The Autobiography of Martin Luther King, Jr.), do Clayborne Carson biên tập, NXB Grand Central Publishing, Park Avenue, New York, ấn bản e-book phát hành tháng 1.2001, Loc 5578
  5. Trong một thập kỷ sau đó, còn có thêm nhiều tu sĩ Phật giáo cũng như Phật tử đã tự thiêu để thu hút sự chú ý của dư luận về tình trạng đàn áp đang diễn ra lúc bấy giờ và về những khổ đau cùng cực do chiến tranh gây ra, trong đó có sự tham dự ngày càng sâu của quân đội Mỹ.
  6. Sư Ông cũng nói lên thông điệp này trong bài thơ “Dặn dò” – Tuyển tập thơ Nhất Hạnh. Xúc động sâu sắc trước thông điệp này, thầy Pháp Ấn đã phổ nhạc bài thơ và đã hát nhiều lần trước đại chúng khi được Sư Ông đề nghị.
  7. Tác phẩm “At home in the world: Stories and Essential Teachings from a Monk’s Life” – Thích Nhất Hạnh, trang 12
  8. Tác phẩm “At home in the world”, trang 72
  9. Tác phẩm “At home in the world”, ngoài ra có thể tham khảo thêm nội dung cuộc phỏng vấn của Oprah Winfrey với Sư Ông: https://plumvillage.org/thich-nhat-hanh-interviews/oprah-talks-to-thich-nhat-hanh/
  10. Có thể đọc bản fax lá thư của Mục sư King tại website “The King Center”, thành lập năm 1968 bởi bà Coretta Scott King: http://www.thekingcenter.org/archive/document/letter-mlk-nobel-institute
  11. Chương “Ai là người tri kỷ”, tác phẩm “Truyền thống sinh động của thiền tập” – Sư Ông Làng Mai: https://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/giang-kinh/truyen-thong-sinh-dong-cua-thien-tap/phuong- phap-tu-tap-lang-mai/ai-la-nguoi-tri-ky/
  12. Tác phẩm “At Home In The World”, trang 73
13. Pháp thoại ngày 02.12.2008, tại nội viện Phương Khê

Mối tình tri kỷ

Năm mươi năm đã trôi qua kể từ khi Mục sư King bị ám sát1, nhưng những nỗ lực vận động cho hòa bình cũng như tình tri kỷ thâm sâu giữa Sư Ông Làng Mai và Mục sư King đáng để cho chúng ta ôn lại, học hỏi và tiếp nối hạnh nguyện của chư vị.

Kẻ thù chúng ta không phải con người

Sư Ông và Mục sư King gặp nhau vào lúc các Ngài đang ở vào một thời điểm then chốt trong cuộc đời của mỗi người. Hai Ngài đều là những nhà trí thức ưu tú, những nhà lãnh đạo tâm linh và cũng là những nhà hoạt động xã hội đi đầu trong các phong trào bất bạo động, tranh đấu cho một sự thay đổi toàn diện giữa bối cảnh bạo động đang leo thang tại đất nước của các Ngài. Các Ngài đều phải đối diện với những nguy cơ đe dọa, đàn áp và những hoàn cảnh hiểm nguy. Với lòng nhân bản, tâm từ bi, khả năng lãnh đạo và sự tương kính lẫn nhau, các Ngài đã dung nhiếp được cả hai phong trào hòa bình cho dân tộc Việt Nam và nhân quyền cho đất nước Mỹ thành một. Cuộc tao ngộ của hai tâm hồn siêu việt này đã góp phần chuyển hướng dòng chảy của lịch sử.

Tất cả bắt đầu vào ngày 1 tháng 6 năm 1965, khi Sư Ông đặt vấn đề trực tiếp với Mục sư King trong một lá thư ngỏ (open letter) với nhan đề “Đi tìm kẻ thù của con người2. Lá thư được gửi đi chỉ vài tuần trước khi Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson quyết định bước sâu hơn vào chiến trường Việt Nam và khẳng định sự tham gia toàn diện của Mỹ vào cuộc chiến bằng cách tuyên bố rằng “sức mạnh chiến đấu củ Mỹ” sẽ được tăng cường ngay lập tức từ 75,000 đến 125,000 nhân lực, và sẽ tiếp tục được gia tăng nhiều hơn nữa trong tương lai.3

Trong hoàn cảnh gay go đó, mặc dù đã có sự giằng co trong lương tri của Ngài, nhưng trong lời tự thuật sau này, Mục sư King – người được nhận giải Nobel Hòa bình năm 1964 – nói rằng Ngài đã “không xuống đường, không giăng biểu ngữ, không vận động những cuộc biểu tình”4. Vì Ngài tin rằng, cuộc chiến đẫm máu sẽ mau chóng chấm dứt nếu người Mỹ thay vì tham gia vào cuộc chiến và kéo dài các sự tranh cãi, chuyển sang tham dự các cuộc đàm phán về ngưng chiến và hòa bình. Chiến lược của nhà lãnh đạo nhân quyền lão thành trong giai đoạn đó là “đóng vai im lặng” và âm thầm thúc đẩy, vận động cho hòa bình qua các cuộc đàm phán.

Trong bức thư ngỏ gởi Mục sư King, Sư Ông muốn giải thích cho các bạn Ki-tô giáo Tây phương “hiểu được tường tận ý nghĩa” về sự tự thiêu của bốn thầy và một sư cô vào mùa hè năm 1963, bắt đầu bằng sự hy sinh của Hòa thượng Thích Quảng Đức. Sư Ông khẳng định những hành động đó không phải là tự tử, cũng không phải là một sự tuyệt vọng hay phản kháng, mà là những hành động dũng cảm cao tột, đầy chất liệu thương yêu của Đại Từ, Đại Bi mang niềm tin và hy vọng cho những gì tốt đẹp sẽ đạt được trong tương lai. Những vị ấy đã sẵn sàng hy sinh sự sống của mình vì lợi ích của cả dân tộc trong lúc toàn bộ Phật giáo bị kỳ thị và đàn áp dã man do chế độ Ngô Đình Diệm áp đặt tại miền Nam Việt Nam.5

“Thưa Mục sư”, Sư Ông viết cho Mục sư King, “tôi tin với tất cả tâm hồn tôi rằng trong lúc tự thiêu, các vị tăng sĩ Việt Nam không nhắm đến cái chết của những kẻ đàn áp tàn bạo mà chỉ nhắm đến sự thay đổi của chính sách họ. Kẻ thù của các vị tăng sĩ kia không phải là con người. Kẻ thù của họ là cuồng tín, là độc tài, là tham lam, là giận dữ, là kỳ thị – những thứ này nằm sâu trong lòng người.

“Tôi cũng tin chắc rằng cuộc đấu tranh vận động cho bình đẳng và tự do mà Mục sư lãnh đạo ở Birmingham, Alabama,… không nhắm đến sự chống báng người da trắng mà chỉ nhắm đến sự chống báng kỳ thị, giận dữ, độc ác. Những cái này vốn là những kẻ thù đích thực của con người, chứ không phải là con người.

“Nơi tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng tôi, mỗi ngày chúng tôi đều gào thét một cách tuyệt vọng: Xin đừng giết con người, dù là nhân danh con người. Hãy giết kẻ thù đích thực của con người – những kẻ thù này hiện hữu khắp nơi, trong trái tim và khối óc mỗi người”.6

 

 

Quý vị không thể giữ im lặng

Sư Ông chia sẻ tiếp cho Mục sư King biết rằng vô số những người nông dân và trẻ em Việt Nam đã bị tàn sát bi thảm trong cuộc chiến tàn khốc kéo dài trên 20 năm. “Tôi biết chắc rằng bởi vì Mục sư đã từng dấn thân vào một cuộc tranh đấu cam go nhất cho bình đẳng và nhân quyền, Ngài là một trong những người có thể hiểu thấu và chia sẻ được những đau khổ không bờ bến của dân tộc Việt”.

Sư Ông đặt vấn đề cho Mục sư King, đó là “các nhà nhân bản lớn trên thế giới” không thể nào còn giữ được thái độ im lặng trước cuộc chiến Việt Nam. Sư Ông tiếp tục: “Chính Ngài không thể nào còn giữ được thái độ im lặng như thế. Mỹ quốc thường được nhắc nhở tới như một quốc gia có căn bản vững chãi về tôn giáo, vậy thì các nhà lãnh đạo tinh thần của dân tộc Mỹ sẽ không thể nào để cho đường lối chính trị và kinh tế Hoa kỳ thiếu mất chất liệu tâm linh được. Ngài không thể im lặng được, bởi vì Ngài đã từng hành động và Ngài hành động vì Thượng đế đang hành động trong Ngài…”.

Tôi đã có mặt trong hào quang của một vị thánh

Để vận động cho hòa bình và kêu gọi sự chấm dứt những khổ đau tại Việt Nam, Sư Ông rời Việt Nam vào tháng 5 năm 1966 để thực hiện những cuộc du thuyết khắp nơi trên đất Mỹ hầu loan tải những thông tin xác thực nhất cho quần chúng của đất nước này về “tình trạng hiện thực của Việt Nam”7, những tin tức mà những người đó không thể nào tiếp cận được từ các nguồn thông tin bản địa. Sư Ông và Mục sư King gặp nhau lần đầu vào ngày 1 tháng 6 năm 1966. Trong những ký sự về sau, Sư Ông đã viết về cuộc gặp gỡ ấy như sau: “Ngay từ giây phút đầu tiên, tôi biết tôi đang có mặt trong hào quang của một vị thánh. Không chỉ những hoạt động cao cả Ngài đang thực hiện mà chính sự sống, sự hiện hữu của tự thân Ngài là một nguồn cảm hứng lớn cho tôi”.8

Sư Ông và Mục sư King đã mở một cuộc họp báo chung tại Chicago vào ngày 1 tháng 6 năm 1966.

Trong một cuộc họp báo chung, Sư Ông yêu cầu sử dụng những phương thức bất bạo động để xóa bỏ “kẻ thù đích thực của con người”: Đó là sự giận dữ, hận thù và kỳ thị. Sư Ông khẳng định những hoạt động về nhân quyền và cá cuộc đấu tranh cho bình đẳng chủng tộc của Mục sư King là hoàn toàn đi đôi với những cố gắng chấm dứt mâu thuẫn và xung đột tại Việt Nam.

Về phía Mục sư King, ngày hôm đó, Ngài đã lên tiếng mạnh mẽ chống lại cuộc chiến tại Việt Nam. “Đó là ngày chúng tôi cùng hợp sức để vận động cho hòa bình tại Việt Nam cũng như tranh đấu cho dân quyền, cho sự bình đẳng chủng tộc tại Hoa Kỳ”9, Sư Ông đã viết như vậy trong những năm tháng về sau. Cũng vào khoảng thời gian này, Sư Ông bị cấm trở về lại Việt Nam và từ đó trở thành một người lưu vong trong vòng bốn mươi năm tại hải ngoại.

Cuộc tao ngộ với Sư Ông đã để lại một ấn tượng sâu đậm trong lòng Mục sư King và giúp cho Ngài ý thức một cách sâu sắc hơn những thách thức về đạo đức và nhân bản mà cuộc chiến tại Việt Nam đặt ra cho toàn thể nhân loại. Vào ngày 25 tháng 1 năm 1967, Mục sư King đã gửi bức thư sau đây đến Viện Nobel Na Uy ở Oslo:

Kính thưa Quý Ngài,

Với tư cách là người được nhận Giải Nobel Hòa bình năm 1964, tôi nay rất vinh hạnh để đề cử Thầy Nhất Hạnh cho giải thưởng này trong năm 1967.

Cá nhân tôi không biết một ai có thể xứng đáng để tiếp nhận giải Nobel Hòa bình hơn là vị tu sĩ Phật giáo Việt Nam đức độ và hòa nhã này.

Năm nay sẽ là một năm đặc biệt đầy những triển vọng tốt lành nếu quý Ngài trao tặng giải thưởng đến Thầy Nhất Hạnh. Đây là một người tiên phong trong phong trào hòa bình và bất bạo động, một con người đã bị tách ra khỏi đồng bào ruột thịt của mình trong khi họ đang bị đàn áp bởi một cuộc chiến khốc liệt, tàn bạo, có nguy cơ đe dọa lương tri của cả nhân loại và sự thanh bình, yên ổn trên toàn thế giới.

Vì không có vinh dự nào đáng tôn kính hơn là giải Nobel Hòa bình, tôi tin rằng ban tặng giải thưởng đó cho Thầy Nhất Hạnh tự nó sẽ là một hành động cao cả nhất để tôn vinh hòa bình. Điều đó sẽ nhắc nhở các quốc gia rằng luôn có những con người đầy thiện chí và giàu lòng nhân ái sẵn sàng dẫn lối cho những phần tử hiếu chiến ra khỏi vực thẳm của hận thù, hủy diệt và tàn phá. Nó sẽ một lần nữa thức tỉnh con người, giúp họ học được bài học về cái đẹp và tình thương được nuôi dưỡng trong hòa bình. Nó sẽ làm sống dậy niềm hy vọng cho một thế giới mới đầy công bằng và hòa hợp.

Tôi biết Thầy Nhất Hạnh, và rất vinh dự được xem Thầy là bạn. Cho phép tôi chia sẻ với quý Ngài những gì tôi biết về Thầy. Quý Ngài sẽ thấy đây là một con người đặc biệt với nhiều chí nguyện và tài năng đáng kinh ngạc.

Thầy Nhất Hạnh là một người thánh thiện vì Ngài khiêm cung và chân thành. Ngài là một học giả có trí năng quảng bác. Là tác giả của 10 đầu sách, Ngài cũng là một nhà thơ đầy lòng nhân ái với trí tuệ minh triết siêu việt. Ngài là một học giả chuyên nghiên cứu về Triết học Tôn giáo và là Giáo sư của Viện Đại học Phật giáo Vạn Hạnh, Viện Đại học mà Ngài đã góp phần sáng lập. Ngài điều hành Viện Xã hội học tại đại học này. Con người siêu việt này cũng là chủ bút của Thiện Mỹ, một tuần báo Phật giáo có tầm ảnh hưởng lớn. Ngài là Hiệu trưởng trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, một tổ chức huấn luyện những người trẻ để tái thiết lập và xây dựng những làng quê bị tàn phá bởi chiến tranh.

Ngày hôm nay, Thầy Nhất Hạnh có thể được coi như là không còn có quê hương và đất nước để trở về. Nếu Ngài trở về Việt Nam, dĩ nhiên đó là ao ước thâm sâu của Ngài, tánh mạng của Ngài sẽ như chỉ mành treo chuông. Ngài là nạn nhân của một sự đày ải đặc biệt là tàn bạo vì Ngài đã dám lên tiếng đề nghị ủng hộ mang lại hòa bình cho tất cả đồng bào ruột thịt của mình. Đây quả thật là một bi kịch đau thương đang xảy ra hiện nay tại Việt Nam và thật là bi đát cho những ai vẫn muốn kéo dài tình trạng khổ đau này.

Lịch sử dân tộc Việt Nam có không biết bao nhiêu thời kỳ bị bóc lột và khai thác bởi ngoại xâm và hạng người bất lương giàu có, ngay cả cho đến bây giờ, người dân Việt Nam vẫn đang bị cai trị khắc nghiệt, đói khát, nghèo khó và phải gánh chịu những gay go gian khổ cũng như sự khốc liệt của cuộc chiến hiện đại.

Thầy Nhất Hạnh đem đến cho chúng ta một lối thoát khỏi cơn ác mộng này, một giải pháp có thể chấp nhận được bởi những nhà lãnh đạo sáng suốt. Ngài đã đi du thuyết khắp thế giới để cầu xin sự yểm trợ, nâng đỡ của những chính khách lỗi lạc, những nhà lãnh đạo tôn giáo, học giả và văn sĩ trí thức. Những tuệ giác của Ngài về hòa bình, nếu được thực hiện, sẽ là chứng tích cho một thế giới đại đồng, đầy tình huynh đệ và tình nhân loại.

Tôi xin trân trọng đề nghị với quý Ngài, hãy thúc đẩy và trao thêm sức mạnh cho nỗ lực xây dựng hòa bình của Thầy Nhất Hạnh thông qua việc trao tặng Giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1967. Thầy Nhất Hạnh chắc hẳn sẽ nhận vinh dự cao quý này với tất cả sự khiêm nhường và lòng biết ơn.

Trân trọng,
Mục sư Martin Luther King, Jr.10

 

 

Tiếp nối giấc mơ của Mục sư King

Vào tháng 5 năm 1967, ngay sau bài diễn văn kêu gọi hòa bình cho Việt Nam tại Riverside Church của Mục sư King, Sư Ông gặp lại Mục sư tại Hội nghị “Hòa bình trên Trái đất” do Hội đồng Thế giới của các Giáo hội (World Council of Churches) tổ chức tại Geneva, Thụy Sĩ. Chính tại hội nghị này, trong một buổi ăn sáng chung tại phòng riêng của Mục sư King ở khách sạn, Sư Ông và Mục sư đã tiếp tục đàm đạo về hòa bình, tự do, về xây dựng tăng thân hay cộng đồng yêu quý, cũng như những bước đi mà chính quyền Mỹ nên tiến hành để chấm dứt cuộc chiến tranh tại Việt Nam.

Sư Ông đã nói với Mục sư King: “Này Mục sư King! Ông có biết rằng ở Việt Nam người ta xem ông như là một vị Bồ tát hay không? Một người mang hết tất cả sức mình để làm vơi bớt những khổ đau của chúng sanh”.11

Sư Ông đã viết rằng Sư Ông rất hạnh phúc vì đã có cơ hội nói được điều đó với Mục sư King, bởi vì chỉ gần một năm sau đó,Mục sư bị ám sát (đúng vào ngày mà một năm trước đó Người đã nói bài diễn văn tại Riverside Church).

“Tôi đang ở New York khi nghe tin Mục sư King bị ám sát. Lúc đó tôi cảm thấy suy sụp, tôi không thể ăn, không thể ngủ được”, Sư Ông nhớ lại. “Tôi phát nguyện là sẽ tiếp tục sự nghiệp xây dựng tăng thân, hay Cộng đồng yêu quý như cách nói của Mục sư King, không chỉ cho tôi mà còn cho Mục sư. Đến bây giờ tôi đã làm được điều mà tôi đã hứa với Mục sư King, và tôi luôn cảm thấy Ngài đang yểm trợ cho tôi trong sự nghiệp này”.12

Giấc mơ của Mục sư King giờ đây đang trở thành hiện thực bởi sự biểu hiện của tăng thân khắp chốn. Lời nhắn nhủ của Sư Ông năm nào luôn khắc ghi trong trái tim các học trò của Người: “Thầy muốn tất cả các vị phải biến giấc mơ của Martin Luther King thành giấc mơ của mình. Mỗi chúng ta phải là một người dựng Tăng, như vậy mới xứng đáng với sự trông chờ của Bụt. Bụt cũng đã xây dựng một tăng thân rất đẹp, Ngài có những người phụ tá giữ vai trò là người dựng tăng rất xuất sắc như ngài Xá Lợi Phất, ngài Ca Diếp, ngài Mục Kiền Liên v.v. Dù là người xuất gia hay tại gia mình cũng phải mang hoài bão đó, phải là sự tiếp nối của Đức Thế Tôn, phải xây dựng tăng thân cho có sự thương yêu, hiểu biết, tha thứ, bao dung để làm đẹp cho xã hội. Và chính tăng thân đó thúc đẩy xã hội đi lên, giúp lấy đi những bất công và tệ nạn trong xã hội và trong cuộc sống hằng ngày. Thầy đã đem hết thì giờ, tâm huyết và năng lực ra để xây dựng tăng thân, và thầy muốn trao truyền lại cho quý vị ước mơ đó, ước mơ mà Mục sư Martin Luther King cũng đã muốn trao truyền”.13

 

Chú thích:

  1. Mục sư bị ám sát vào ngày 4.4.1968 tại Memphis, bang Tennessee, Mỹ
  2. Tác phẩm “Hoa sen trong biển lửa”- Thích Nhất Hạnh (Lá thư nằm ở phần Phụ lục)
  3. Bản đánh máy từ cuộc họp báo của Tổng thống Johnson vào ngày 28.7.1965, được lưu trữ tại The American Presidency Project: https://www.presidency.ucsb.edu/documents/the-presidents-news- conference-1038
  4. Tự truyện về Mục sư Martin Luther King, Jr. (The Autobiography of Martin Luther King, Jr.), do Clayborne Carson biên tập, NXB Grand Central Publishing, Park Avenue, New York, ấn bản e-book phát hành tháng 1.2001, Loc 5578
  5. Trong một thập kỷ sau đó, còn có thêm nhiều tu sĩ Phật giáo cũng như Phật tử đã tự thiêu để thu hút sự chú ý của dư luận về tình trạng đàn áp đang diễn ra lúc bấy giờ và về những khổ đau cùng cực do chiến tranh gây ra, trong đó có sự tham dự ngày càng sâu của quân đội Mỹ.
  6. Sư Ông cũng nói lên thông điệp này trong bài thơ “Dặn dò” – Tuyển tập thơ Nhất Hạnh. Xúc động sâu sắc trước thông điệp này, thầy Pháp Ấn đã phổ nhạc bài thơ và đã hát nhiều lần trước đại chúng khi được Sư Ông đề nghị.
  7. Tác phẩm “At home in the world: Stories and Essential Teachings from a Monk’s Life” – Thích Nhất Hạnh, trang 12
  8. Tác phẩm “At home in the world”, trang 72
  9. Tác phẩm “At home in the world”, ngoài ra có thể tham khảo thêm nội dung cuộc phỏng vấn của Oprah Winfrey với Sư Ông: https://plumvillage.org/thich-nhat-hanh-interviews/oprah-talks-to-thich-nhat-hanh/
  10. Có thể đọc bản fax lá thư của Mục sư King tại website “The King Center”, thành lập năm 1968 bởi bà Coretta Scott King: http://www.thekingcenter.org/archive/document/letter-mlk-nobel-institute
  11. Chương “Ai là người tri kỷ”, tác phẩm “Truyền thống sinh động của thiền tập” – Sư Ông Làng Mai: https://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/giang-kinh/truyen-thong-sinh-dong-cua-thien-tap/phuong- phap-tu-tap-lang-mai/ai-la-nguoi-tri-ky/
  12. Tác phẩm “At Home In The World”, trang 73
13. Pháp thoại ngày 02.12.2008, tại nội viện Phương Khê

 

 

 

 

 

 

 

 

Cám ơn mẹ

 

Mẹ! Ngoài trời đang mưa rỉ rả, con ngồi trong phòng ngắm tấm hình mẹ vừa mới gửi cho chúng con. Tấm hình mẹ diện bộ đồ “model 1020..í..lộn..model 2020” quần đen, áo xanh trời, mũ bèo trắng, khuyến mãi thêm cái áo ghile cũ và đôi hia huyền thoại lấm bùn đất; à, không thể bỏ qua cái túi xách nâu sòng vô giá mẹ đeo một bên, bàn tay ôm chặt..chai nước lọc. Tấm này mẹ đang đứng ở Đồn Biên Phòng Mường Pồn – Nậm Ty. ( Có lẽ đây là nơi xa nhất trong nước mẹ từng đi từ trước đến giờ, phải không mẹ?)

Nhìn vào bàn tay mẹ,  con nhìn rất kỹ và bỗng dưng thấy nó thật là đẹp! Bàn tay với những móng tay dẹt dẹt quen thuộc mà bảy đứa chúng con đứa nào cũng được mẹ ban cho một bộ. Bàn tay màu da nâu khỏe mạnh, nơi con nhìn là trong tim thấy ấm áp. Bàn tay đó đã từng bồng, bế, đút, mớm, từng đắt đi học, lao động nhọc nhằn cho từng đứa con khôn lớn; bàn tay đó từng vỗ về mỗi khi chúng con đến gần. Bất kể chúng con vui hay buồn, lớn hay nhỏ bàn tay ấy luôn luôn sẵn sàng xoa lên vầng trán, để kéo mền đắp ấm giữa khuya, để nấu vài món ngon hay lau những giọt nước mắt lã chã của hết đứa này đến đứa khác trong quá trình chúng con học làm người. Dù bao nhiêu tuổi, dù xa hay gần, không ai trong chúng con có thể phủ nhận rằng bàn tay ấy luôn tràn đầy yêu thương và kiên nhẫn. Cũng chính bàn tay mong manh gầy guộc của mẹ đã tạo ra mười bốn bàn tay trắng trẻo, khỏe mạnh của chúng con.

Mẹ, con, Ỉn và En – mấy người phụ nữ trong nhà, gặp nhau là hay đặt những bàn tay ra so. Tay mẹ luôn đen hơn, luôn gầy hơn, luôn nhiều gân hơn nhưng không đứa con nào, không khoảnh khắc nào tụi con thấy tay mình đẹp hơn tay mẹ. Chúng con ai cũng ý thức rõ những bàn tay của các con là bàn tay mẹ, là sự tiếp nối của bàn tay mẹ. Không có đôi bàn tay đẹp rạng ngời dấu ấn thời gian đó thì làm gì có những bàn tay của chúng con bây giờ.

 

 

Nhờ mẹ, nhờ lối sống, nhờ nhân cách của mẹ mà chúng con luôn thấy mình có một tuổi thơ đầy đủ tình thương. Đó là nền tảng cho chúng con sau khi xuất gia thấm đẫm những bài học yêu thương từ Thầy một cách dễ dàng hơn. Rồi từ đó mà hình thành thói quen đối xử yêu thương, lịch sự, tôn trọng mọi người xung quanh chúng con.

Con biết mấy em trai của con : Cún, Bia, Lọt, Ủi cũng vô cùng thương kính mẹ. Sự có mặt của mẹ trong từng cuộc đời của chúng con tuy khác thời điểm, khác sự kiện, nhưng lúc nào cũng là đúng lúc chúng con cần mẹ nhất.

Mẹ không giàu tiền bạc, mẹ không có bất động sản để cho mỗi đứa một cái biệt thự hay một công ty riêng. Mà mẹ đã đặt để vào từng trái tim và tâm hồn mỗi đứa con của mẹ những hạt mầm đạo đức, tình thương yêu, cùng sự siêng năng lao động. Vì mẹ tin rằng sống trong cuộc đời, những đức tính đó sẽ là những báu vật có công năng bảo hộ chúng con suốt đời, dù khi mẹ không còn bên chúng con nữa. Tuy rằng mỗi chúng con vẫn phải té lên té xuống trong cuộc đời cho đến khi biết cách tự đứng vững trên đôi chân mình, nhưng nếu không có những căn bản mẹ cho thì có lẽ cuộc sống của chúng con còn khó khăn hơn trăm vạn lần.

Con – chị cả của các em con, xin hết lòng lạy xuống để được bày tỏ lòng biết ơn của con đối với mẹ một cách sâu sắc. Con cảm ơn mẹ cho con rất nhiều bài học trong suốt cuộc đời này; cảm ơn mẹ luôn luôn lắng nghe con kể chuyện; cảm ơn mẹ luôn là người bạn đồng hành thương con, hiểu con, khích lệ con đứng lên mỗi lần vấp ngã; cảm ơn mẹ luôn luôn ủng hộ, yểm trợ cho những sáng kiến của con; cảm ơn mẹ luôn luôn làm cầu nối yêu thương cho cả nhà mình; cảm ơn mẹ luôn sống yêu đời, tích cực để con được yên tâm tu học và trưởng thành; cảm ơn mẹ …, con cảm ơn mẹ … người mẹ thành công nhất “trong nghề” làm Mẹ con từng biết.

(Chân Diễm Nghiêm)

EIAB – Hành trình 10 năm

(Chân Pháp Ấn)

Vài nét về Viện Phật học Ứng dụng châu Âu EIAB

Đầu tháng 9 năm 2008, trên hai mươi vị xuất gia nam và xuất gia nữ đã được Sư Ông Làng Mai gửi đến thành phố Waldbröl thuộc miền Trung nước Đức để góp phần xây dựng Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (European Institute of Applied Buddhism-EIAB).

Từ khi còn là một vị xuất gia trẻ, Sư Ông đã mang trong lòng tâm nguyện thiết tha đem đạo Bụt đi vào cuộc đời; để đạo Bụt không phải chỉ là những triết lý cao siêu ngoài tầm tay mà còn có thể ứng dụng được vào trong mọi lĩnh vực của đời sống, giúp chuyển hóa những khổ đau của cá nhân, gia đình và xã hội. Đây cũng là ước mơ chung của cả tăng thân Làng Mai trên khắp thế giới, của những vị xuất sĩ cũng như cư sĩ. Chương trình tu học tại Viện Phật học EIAB bao gồm những khóa học dành cho các thanh niên và thiếu nữ có ý định thành lập gia đình, những khóa học giúp hàn gắn sự truyền thông giữa cha mẹ và con cái, những khóa học cho các nhân viên cảnh sát, chính trị gia, hay cho những nhà tâm lý trị liệu, những nhà giáo dục, những thương nhân v.v. (Xin quý vị vào thăm trang nhà www.eiab.eu của Viện Phật học EIAB để có thêm chi tiết về các khóa học và các chương trình tu học khác.)

 

Viện Phật học EIAB là một tặng phẩm của đạo Bụt Việt Nam không những chỉ cho châu Âu, mà còn cho cả thế giới. Sư Ông thường nhắc nhở chúng ta rằng do nhân duyên của đất nước, chúng ta có mặt tại Tây phương. Tuy nhiên, chúng ta không phải chỉ là những người tị nạn, mà chúng ta còn mang một sứ mạng của chư Tổ sư tâm linh Việt Nam giao phó, để trao truyền lại những hạt giống đẹp đẽ của đạo Bụt cho những ai có duyên tại các đất nước này trong thiên niên kỷ mới. Các chương trình tu học tại Viện Phật học EIAB có thể giúp cho tất cả mọi người tìm thấy niềm hứng khởi và thực hiện một nếp sống an vui và hòa ái trên toàn thế giới. Với những thực tập cụ thể, đơn giản nhưng sâu sắc của đạo Bụt, chúng ta vững tin rằng thế nào đóa hoa tuệ giác và từ bi chắc chắn cũng sẽ được nở tròn vẹn và viên mãn hơn nữa tại Tây phương. Giáo lý hiến tặng tại EIAB không mang tính chất bộ phái và sẽ đóng góp vào sự hòa hợp, hiểu biết và chấp nhận nhau giữa những truyền thống tôn giáo và tâm linh dị biệt.

Để có một cơ sở tương xứng với viễn kiến xây dựng một Viện Phật học cho cả châu Âu, Sư Ông và các vị phụ tá đã dành nhiều năm để tìm ra một cơ sở có tầm vóc quốc tế và hình thức của một Học viện. Vào ngày 10 tháng 9 năm 2008, quý thầy quý sư cô chính thức tiếp nhận cơ sở đầu tiên – mà Sư Ông đặt tên là Viện Vô Ưu – của Viện Phật học Ứng dụng châu Âu. Một năm sau, Viện Phật học may mắn có thêm cơ sở thứ hai, ngay bên cạnh Viện Vô Ưu. Để kỷ niệm ngôi chùa đầu tiên Sư Ông đã đến sinh hoạt và phát tâm xuất gia, cơ sở thứ hai được đặt tên là chùa Đại Bi. Với tên thành phố là Waldbröl, có nghĩa là rừng và suối, tên đầy đủ của chùa là Lâm Tuyền Địa – Đại Bi Tự.

Tòa nhà hiện nay là Viện Vô Ưu, khởi đầu là một bệnh viện được xây dựng từ năm 1895 đến năm 1897 để chăm sóc các bệnh nhân tâm thần và khuyết tật dưới sự quản lý của giáo hội Tin Lành. Bệnh viện này được khánh thành vào ngày 9 tháng 6 năm 1897. Đến năm 1933, do ý thức hệ thuần chủng và chính sách thanh lọc giống nòi, phần lớn những người bị bệnh tâm thần, khuyết tật về tâm lý hay cơ thể, những người ở ngoài vòng xã hội (psychisch Kranke, geistig Behinderte und gesellschaftliche Randgruppen), hay các thai nhi, trẻ em có khả năng bị khuyết tật đều bị đối xử bằng những phương pháp bạo động như bị triệt sản (Zwangssterilisation von Geisteskranken), bị phá thai hoặc giết chết bằng thuốc mê (gewaltsamer Geburtenverhütung bis zu “Euthanasie”-Aktionen). Từ giữa tháng 11 năm 1938 đến tháng 1 năm 1939, gần 700 bệnh nhân tâm thần, khuyết tật và trên 100 nhân viên của bệnh viện bị ép ra khỏi tòa nhà để đi đến làng Hausen ở Westerwald. Không ai biết rõ số phận của những bệnh nhân này. Nhưng chúng ta biết họ đã phải chịu đựng những khổ đau rất lớn từ thể xác đến tinh thần. Từ đó trở đi, tòa nhà hoàn toàn thuộc về sự kiểm soát của những người theo chủ nghĩa phát-xít Đức. Những khổ đau to lớn đó, chúng ta không hề biết cho đến khi chúng ta dọn vào tòa nhà, và với thời gian, qua sự chia sẻ của những người địa phương, chúng ta từ từ hiểu ra mọi chuyện.

Tuy vậy đã có những sự việc xảy ra, báo cho chúng ta biết sự có mặt của những năng lượng này vào những ngày cuối tháng 1 năm 2008, trước khi các nhà bán bất động sản giới thiệu tòa nhà này cho Sư Ông và tăng thân Làng Mai. Chúng ta cũng được báo ngay vào buổi chiều của ngày đầu tiên tiếp nhận tòa nhà, sau khi quý thầy quý sư cô làm lễ đại thí thực trước mặt tiền của Viện Vô Ưu; và hai ngày sau đó trong buổi ăn trưa, sau khi Sư Ông có cuộc họp báo để tuyên bố về sự thành lập Viện Phật học. Và những năng lượng này tiếp tục kêu gọi sự chú ý của chúng ta trong những năm tháng sau đó.

 

 

Khi được hỏi vì sao Sư Ông chọn thành phố Waldbröl để xây dựng Viện Phật học, Sư Ông thường trả lời rằng thành phố Waldbröl chọn Sư Ông và tăng thân Làng Mai. Quả thật, những năng lượng khổ đau do chiến tranh và hận thù tại nơi đây đã nương vào sức mạnh tâm linh của Sư Ông và đại chúng Làng Mai để được chuyển hóa và hòa giải. Đó cũng là hạnh nguyện Bồ tát cứu khổ của Sư Ông suốt một đời xây dựng hòa bình, chấm dứt chiến tranh và chuyển hóa khổ đau, không những cho đất nước Việt Nam mà còn cho cả thế giới.

Sau thế chiến thứ 2, tòa nhà lại trở thành bệnh viện đa khoa. Kể từ năm 1969, sau khi bệnh viện được dời đi nơi khác, tòa nhà này trở nên một trung tâm cho các sinh hoạt quân sự về biên phòng, và từ năm 1975 cho đến năm 2006 chính thức thuộc về quân đội liên bang Đức (Deutsch Bundeswehr). Tòa nhà có chiều dài 150m, chiều ngang từ 12 đến 16m, với sáu tầng (kể cả tầng hầm) và có tổng diện tích mặt bằng khoảng 12.000m2. Tòa nhà có thể cung cấp chỗ ở cho khoảng 500 người và các phòng ốc khác dùng để tu học. Đại chúng biết rằng mình sẽ phải đầu tư rất nhiều tài chánh và năng lực để thực hiện công trình xây dựng Viện Phật học. Tuy nhiên, những dự tính về thời gian cũng như ngân quỹ sửa chữa đã phải bị thay đổi rất nhiều vì trong quá trình sửa chữa và xây cất lại có phát sinh thêm những đòi hỏi quan trọng và thiết yếu khác của cơ quan xây cất chính quyền.

Trước đây, tòa nhà là một trung tâm sinh hoạt của quân đội liên bang Đức, do đó những yêu cầu về tiêu chuẩn phòng hỏa của tòa nhà được xác định dựa trên những quy chế đặc biệt dành riêng cho quân đội. Giờ đây, tòa nhà được sử dụng như một cơ sở dân sự, nên những đòi hỏi về xây cất trên khía cạnh phòng hỏa, các hệ thống điện và cầu thang thoát hiểm cần phải thay đổi rất nhiều và dĩ nhiên khắt khe hơn để đáp ứng những yêu cầu theo quy chế dân dụng. Ngoài ra, phần lớn hệ thống ống nước đã được lắp ráp vào những thập niên 30, nay đã bị rỉ nặng và hư hỏng rất nhiều. Thêm vào đó, toàn bộ thiết kế của nhà bếp đã quá lỗi thời, không còn đáp ứng được những tiêu chuẩn đặt ra hiện nay về phương diện vệ sinh và y tế công cộng. Hệ thống lò sưởi cần phải được sửa chữa lại rất nhiều vì đã bị rỉ chảy. Quan trọng hơn cả là hệ thống lò sưởi cần phải được thiết kế lại theo tiêu chuẩn mới để có thể tiết kiệm được năng lượng và giúp bảo vệ sinh môi. Các nhà vệ sinh và phòng tắm công cộng cũng cần phải được xây cất thêm để đáp ứng cho nhu cầu mới. Tình trạng của tòa nhà hiện nay không hội đủ tiêu chuẩn phòng hỏa cần thiết để được phép nhận khách thăm viếng, mở các khóa tu, cũng như tổ chức những hoạt động công cộng khác.

Trong mười năm qua, nhờ sự thương yêu, yểm trợ của quý vị đạo hữu và thân hữu khắp nơi trên thế giới, tăng thân chúng ta đã trùng tu được tầng trệt (2012) và 1/5 (một phần năm) tòa nhà của Viện Vô Ưu (2010). Những phần này quý thầy và quý sư cô hiện nay chỉ được giấy phép sử dụng tạm thời với sự gia hạn hai năm một lần cho đến khi toàn thể tòa nhà được sửa chữa xong. Để quân bình năng lượng cho toàn bộ khu đất của Viện Vô Ưu và chùa Đại Bi, chúng ta đã xây dựng (2013) một tháp chuông đại hồng với chiều cao 21m với những biểu tượng hàm chứa giáo lý và con đường thực tập của đạo Bụt. Năm vừa qua (2017), sau bốn năm xây dựng, nhà bếp và phòng ăn cũng đã được hoàn tất và theo yêu cầu của chính quyền địa phương, hệ thống phòng hỏa trung ương cho chùa Đại Bi cũng đã được thực hiện.

 

 

Trên phương diện tu học và hành trì, trong mười năm qua, các khóa tu học, các chương trình sinh hoạt cho các em học sinh, sinh viên cũng như giao lưu tôn giáo, những buổi pháp thoại công cộng, sinh hoạt cộng đồng, hòa tấu gây quỹ, v.v. được tổ chức ngay tại Viện Phật học, hay tại các địa điểm khác trong cũng như ngoài châu Âu do Sư Ông, quý thầy quý sư cô của Viện Phật học và tăng thân Làng Mai đảm trách đã giúp cho hàng vạn lượt người khắp nơi trên thế giới biết đến pháp môn, tu tập và chuyển hóa những khổ đau của tự thân và hòa giải được với những người thân trong gia đình. Số lượng thiền sinh đến tu học mỗi ngày một đông hơn. Có những khóa học đông, thiền sinh phải mướn phòng trọ ở bên ngoài. Có những cuối tuần, quý thầy quý sư cô gặp khó khăn trong việc sắp xếp phòng sinh hoạt và thuyết giảng cho tất cả các khóa.

Từ khi biết đến những khổ đau của những bệnh nhân đã từng sống tại đây, trong suốt bảy năm sau khi dọn vào tòa nhà của Viện Vô Ưu, quý thầy quý sư cô đã gửi năng lượng từ bi, cúng cháo mỗi ngày cho các hương linh. Mỗi tuần, toàn thể đại chúng cùng nhau tổ chức cúng thí thực cho các vị khuất mặt, cầu nguyện năng lượng từ bi và hồng ân của chư Bụt, chư vị Bồ tát và chư vị Tổ sư gia hộ cho quý vị đó được vãng sanh Tịnh độ. Hằng năm vào trước các khóa tu mùa Hè, Sư Ông và đại chúng cũng tổ chức trai đàn chẩn tế cho tất cả các nạn nhân đã chết oan ức trong mọi hoàn cảnh khổ đau của cuộc sống, đặc biệt là cho các nạn nhân tại Waldbröl và trong các cuộc chiến tranh. Trong những lần chẩn tế đầu, có lúc gió bão nổi lên cuồn cuộn rất mạnh. Chư vị tôn đức đến thăm viếng Viện Phật học cũng đã tổ chức những buổi lễ cầu siêu và chú nguyện rất nhiều cho các hương linh.

Nhờ công phu tu tập tinh chuyên và sự tùy hỷ hồi hướng công đức của toàn thể tứ chúng cho tất cả mọi người và mọi loài, năng lượng thương yêu, hiểu biết và bao dung càng ngày càng được bồi đắp tại vùng đất mới này. Nhờ vậy mà sự hòa giải, tha thứ và chấp nhận cũng từ từ được biểu hiện, giúp cho năng lượng khổ đau của những nạn nhân trong quá khứ tại nơi đây cũng nhẹ đi được một phần nào. Những vị khách đã từng đến Viện Phật học từ những ngày đầu, giờ đây chia sẻ là họ đã nhận thấy rõ rệt sự chuyển hóa lớn trong năng lượng tại nơi đây. Năng lượng của Viện Phật học giờ đây nhẹ nhàng, tươi vui và sáng đẹp hơn xưa rất nhiều.

Chúng tôi ý thức rất rõ những chuyển hóa nêu trên vẫn còn rất nhỏ bé so với tâm nguyện độ sanh bao la rộng lớn, Đại Từ, Đại Bi của Sư Ông, của chư vị Bồ tát và chư vị Tổ sư. Đón mừng xuân năm nay, chúng tôi ý thức rõ trong mười năm qua công trình xây dựng Viện Phật học và những thành quả tu học của tăng thân Viện Phật học vẫn còn rất khiêm tốn. Những ước nguyện độ sanh mà Sư Ông đã giao phó cho tứ chúng Viện Phật học, chúng ta chỉ mới thực hiện được một phần rất nhỏ. Do vậy năm nay Viện Phật học có thêm một cặp đối Học viện mười năm hoa kết nụ / Rừng thiền muôn thuở cội tùng xanh bên cạnh cặp hồng điều Một nhà sum họp / Khắp chốn an vui để mừng Tết của tứ chúng Làng Mai.

Chúng tôi hy vọng chỉ trong một vài năm tới, công trình xây dựng chánh điện, thiền đường và trùng tu Viện Phật học sẽ được thực hiện nhanh chóng cùng với sự thương yêu, yểm trợ của quý vị đạo hữu và thân hữu khắp nơi trên thế giới, để công trình xây dựng một trung tâm tu học theo tinh thần đạo Bụt Ứng dụng và Nhập thế của Sư Ông cho toàn thể châu Âu cũng như trên toàn thế giới được thành công viên mãn.

Trân quý,

Tỳ kheo Thích Chân Pháp Ấn và quý thầy, quý sư cô Viện Phật học Ứng dụng châu Âu.

 

Mạ còn đó bình yên như hơi thở

 

Mạ thuỷ chung âm thầm như nguồn cội

Bãi vắng trưa xô gió cát lao xao

Mặc gió mưa giông bão thét gào

Mạ còn đó bình yên như hơi thở.

Tôi chẳng nhớ những câu thơ tôi viết cho Mạ khi nào, có lẽ đã lâu lắm rồi, lúc tôi còn là một cô sa di nhỏ. Mỗi lần cùng Mạ lên Diệu Trạm thăm, thế nào cũng có sư em rỉ tai tôi, giọng nghịch ngợm: “Sư cô ơi, sao con nhìn Mệ trẻ trung vui vẻ hơn sư cô nữa à nha!”. Các sư em gọi Mạ tôi là Mệ, như cách người Huế thường gọi người lớn tuổi. Tôi muốn viết và kể chuyện của Mạ, nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu, bởi có quá nhiều điều vui buồn, khổ đau và hạnh phúc suốt cuộc đời của Mạ. Nhìn thấy tất cả nét vui tươi hồn nhiên trong mắt cùng giọng cười vui vẻ của Mạ, thật khó mà tin rằng Mạ đã đi qua bao nhiêu gian nan, lao nhọc và khó khăn, khổ đau chồng chất trong đời.

Lúc mới hơn mười tuổi, tôi đã tròn xoe mắt khi Mạ dặn dò: “Ra đường phải vui vẻ và mỉm cười với mọi người nghe con. Dù con có đói ba ngày, con vẫn phải tử tế với người khác. Có khi người đang đứng trước mặt con còn khó khăn hơn con nhiều lắm, con không có gì để cho, nhưng con còn có nụ cười!”. Lớn lên tôi là một người hay cười, có lẽ cũng nhờ những lời dạy và cách hành xử của Mạ.

Mạ không biết chữ, lúc mang thai tôi, là con thứ năm trong nhà, Mạ mới được vài ba đêm cầm cây đèn dầu đến nhà cô giáo làng ở xóm trên, theo lớp Bình dân học vụ. Ba mất, để lại cho Mạ bảy đứa con và lời trăn trối thiết tha: “Một là đừng cho đứa nào theo nghề của Ba đi đánh cá, hai là cố gắng cho con học hành tới nơi tới chốn”. Năm đó Mạ 38 tuổi. Ba mất, Mạ không còn cơ hội nào mơ đến những con chữ bí mật mà hấp dẫn đó nữa, dù niềm yêu thích đọc chữ vẫn không hề nguôi ngoai. Những người con của Mạ, hết người này đến người khác, học hành và ra trường, là những người đỗ đại học đầu tiên ở quê, sau này làm bác sĩ, làm kỹ sư, làm thầy giáo và là niềm tự hào của Mạ. Anh em tôi từ lâu đã có ý định bày cho Mạ học đọc, nhưng hình như chưa ai thật sự làm cả.

Có một lần, anh Phong, anh thứ ba của tôi, lúc đó đã là thầy giáo, về thăm Mạ. Buổi trưa hôm đó, nằm thiu thiu nơi võng, anh Phong nghe giọng Mạ chầm chậm đánh vần từng chữ một, anh tỉnh hẳn và lắng tai nghe. Mạ đánh vần thật. Mạ biết đánh vần và đọc từng chữ, từng chữ nơi cuốn “kinh Nhật Tụng của Mạ”. Sư em Nguyên Tịnh đã chọn in một số bài kinh, bài sám với cỡ chữ lớn và làm quà tặng Mạ, trong một dịp các anh chị em xuất sĩ đi thăm các ba mẹ. Anh Phong ngồi dậy, len lén nhìn sang Mạ, có lẽ để biết chắc đó là Mạ. Mạ vẫn hồn nhiên chăm chú đánh vần, không biết rằng thằng con trai đã lớn của mình đang khóc. Anh Phong khóc, và các anh em tôi đều khóc khi nghe anh kể chuyện đó.

 

 

Sau này mỗi lần về thăm, tôi đều nghe Mạ khoe: “Mạ đã thuộc lòng bài Ba Sự Quay Về rồi nghe cô”, hay là: “Lần vừa rồi ở Diệu Trạm, Mạ đã tụng theo được với quý thầy, quý sư cô hết bài Quy Nguyện luôn đó cô”. Tôi vui vẻ khen ngợi và động viên Mạ. Tôi vui với niềm vui của Mạ, lòng hân hoan như những tháng ngày mới vào chùa và  học thuộc lòng thần chú Lăng Nghiêm. Khoảng sáu tháng trước, Mạ băn khoăn: “Cô nè, bài Sám Nguyện dài quá, Mạ học có thuộc nổi không hè?”. Tôi mỉm cười, nói giọng tự tin và “tỉnh bơ”, dù lòng rưng rưng thương Mạ: “Đương nhiên là Mạ sẽ thuộc rồi, như là Mạ đã thuộc rất nhiều bài sám khác. Mạ học từ từ từng đoạn thôi. Bây chừ Mạ đọc ro ro rồi mà”. Mạ đã lớn tuổi, mỗi đêm, vẫn thắp hương lên bàn thờ Bụt, bàn thờ Tổ tiên và thầm khấn nguyện để kiếp sau được làm người xuất gia.

Tôi và em tôi xuất gia, dù “đã là con của Phật chớ mô còn là con của mình” như lời Mạ thường trả lời các bác hàng xóm mỗi lần họ tán dương rằng Mạ quả thật phước đức khi có hai người con đi tu, tôi vẫn biết rằng thực tập để nuôi dưỡng và làm cho tươi mát niềm vui sống mãnh liệt trong tim là điều tôi sẽ học hỏi và thừa hưởng suốt đời từ Mạ. Hễ lúc nào cánh cửa còn hé mở, thì ánh sáng nhất định biết cách tràn vào. Hễ lúc nào trái tim còn để ngỏ thì tình thương và niềm tin sẽ mãi thắp sáng đôi mắt và mọi nẻo đường mình bước qua. Tôi nguyện giữ gìn nụ cười của Mạ để tâm hồn tôi được tắm mát trong dòng suối thanh lương đó.

 

Mùa Đông, Huế, 04.01.2020

Chân Thuần Khánh

Bụt là vầng trăng mát

Thơ: Sư Ông Làng Mai

Giọng hát: Sư cô Diễm Nghiêm

 

 

Bụt là vầng trăng mát

Đi ngang trời thái không

Hồ tâm chúng sinh lặng

Trăng hiện bóng trong ngần.

Bông hồng cài áo

 

Một bông hồng cho em
Một bông hồng cho anh
Và một bông hồng cho những ai
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn
Rủi mai này Mẹ hiền có mất đi
Như đóa hoa không mặt trời
Như trẻ thơ không nụ cười
Ngỡ đời mình không lớn khôn thêm
Như bầu trời thiếu ánh sao đêm

Mẹ, Mẹ là dòng suối dịu hiền
Mẹ, Mẹ là bài hát thần tiên
Là bóng mát trên cao
Là mắt sáng trăng sao
Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối

Mẹ, Mẹ là lọn mía ngọt ngào
Mẹ, Mẹ là nải chuối buồng cau
Là tiếng dế đêm thâu
Là nắng ấm nương dâu
Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời

Rồi một chiều nào đó anh về nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu
Rồi nói, nói với Mẹ rằng “Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không ?”
-Biết gì ? “Biết là, biết là con thương Mẹ không ?”

Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh
Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em
Thì xin anh, thì xin em
Hãy cùng tôi vui sướng đi.

Xem thêm: Lễ Bông Hồng Cài Áo 2021 tại Làng Mai, Pháp

Đứa con cùng tử

( Trích trong pháp thoại ngày 27/7/2012 của Sư Ông Làng Mai )

Châu báu chất đầy thế giới
tôi đem tặng bạn sáng nay
một vốc kim cương sáng chói
long lanh suốt cả đêm ngày

Mỗi phút một viên ngọc quý
sáng soi đất nước trời mây
chỉ cần một hơi thở nhẹ
là bao phép lạ hiển bày

Chim hót, thông reo, hoa nở
trời xanh, mây trắng, là đây là đây
ánh mắt thương yêu sáng tỏ
nụ cười ý thức đong đầy.

Này người giàu sang bậc nhất
tha phương cầu thực xưa nay
hãy thôi làm thân cùng tử
về đi tiếp nhận gia tài

Hãy dâng cho nhau hạnh phúc
và an trú phút giây này
hãy buông thả dòng sầu khổ
về nâng sự sống trên tay

Hãy dâng cho nhau hạnh phúc
và an trú phút giây này
hãy buông thả dòng sầu khổ
về nâng sự sống trên tay.

 

 

Trong bài thơ này có danh từ “người cùng tử”. “ Người cùng tử” tức là đứa con phá sản, phá của, và ruốt cuộc thì nghèo đói đi lang thang tha phương cầu thực. Ở trong kinh Pháp Hoa cũng có chuyện người cùng tử. Có anh chàng đó có bố rất giàu nhưng mà không có trách nhiệm không biết dành dụm, không biết làm ăn, không biết học hành và chỉ biết tiêu pha thôi. Người bố biết tính của đứa con mình nên rất lo lắng. Biết sau này khi mình chết thằng con sẽ tiêu xài hết và sẽ nghèo đói. Cho nên ông lấy một cái áo bông khá ấm. Ông ta lén may vào chiếc áo một viên ngọc quý, và dặn đứa con: “Này con, con có thể tiêu xài hết tất cả, ruộng nương, trâu bò, nhà cửa. Nhưng có một cái con không nên bán. Nếu con thương bố con không nên bán mà nên giữ lại chiếc áo này. Nó rất ấm, bố chỉ xin con một điều kiện này thôi. Đừng vứt hay đừng bán chiếc áo này.”

Quả đúng như lời ông tiên đoán, sau khi ông ta mất, đứa con tiêu xài rất hoang phí và không còn đồng nào hết. Đứa con trở thành một người cùng tử. Một đứa con vào đường cùng phải đi tha phương cầu thực, rất nghèo đói, khổ sở. Một hôm anh nằm ở ngoài chợ, đang mặc chiếc áo ngày xưa của bố, lăn qua lăn lại thấy có cái gì đó cộm cộm. Ngạc nhiên và tò mò anh xe cái áo ra xem thì thấy có một viên ngọc rất lớn. Viên ngọc có thể đem bán và đổi ra rất nhiều tiền. Anh ta đã học được bài học cuộc đời rồi, nên kỳ này anh ta đem bán viên ngọc quyết định gây dựng lại vốn liếng và cơ nghiệp để sống một cuộc đời đàng hoàng, và hạnh phúc hơn.

Trong kinh Pháp Hoa, Đức Thế Tôn đã kể lại câu chuyện đó và nói rằng chúng ta là những đứa con phá của. Chúng ta đã được tiếp nhận rất nhiều châu báu. Nhưng chúng ta không biết sử dụng châu báu đó để mà sống một cuộc đời hạnh phúc. Châu báu là giáo pháp mà Đức Thế Tôn trao truyền cho chúng ta. Ta có nghe, có học nhưng mà ta không đem nó ra để thực tập. Chúng ta sống cuộc sống của một người nghèo khổ về tâm linh. Có thể là chúng ta không nghèo đói về vật chất, nhưng chúng ta nghèo đói về tâm linh. Và chúng ta để lại cho con cháu của chúng ta một gia tài rất nghèo nàn.

 

 

Trong văn hóa đông tây đều có câu chuyện đứa con cùng tử. Ông triệu phú nọ có một đứa con. Đứa con không biết gốc tích của mình, nó không biết bố mình là ai, nó đi lạc loài đã lâu năm. Một hôm nó về quê hương mà nó không có biết. Nó thấy một ông triệu phú với gia sản rất lớn. Có nhiều kẻ hầu người hạ, nó tới nó xin làm công nhân. Khi ông triệu phú thấy nó, thì ông biết đây là đứa con của mình. Nhưng ông không tới gần nó, vì ông biết nếu ông tới nhận thì nó sẽ bỏ chạy. Nó bỏ chạy vì mặc cảm nó là dân bần tiện cùng khổ. Khi một người quý phái tới thì nó phải chạy đi thôi. Vì sợ chứ không phải ghét. Vì nó không biết ông là cha của nó. Nó nghĩ mình và ông triệu phú là hai thế giới khác nhau, không thể tiếp cận với nhau được. Nhưng mà ông triệu phú này rất giỏi, ông biết mình phải khéo léo, phải dùng phương tiện để có thể đưa đứa con trở về từ từ.

Ông mới ra lệnh cho người hầu cận tới với người cùng tử và cho nó một công ăn việc làm khá hơn để có lương bổng cao hơn một chút. Nó rất mừng. Cứ như vậy mỗi hai ba tuần thì cho lên chức vụ cao. Cuối cùng thì nó được làm một chức vụ phụ tá rất gần với ông triệu phú. Bây giờ nó đã ăn mặc đàng hoàng, đi lại chững chạc rất khác so với lúc mới tới. Khi anh ta vượt qua giai đoạn đó rồi thì người triệu phú mới tới và nói ra sự thật anh ta là con của ông. Lúc đó anh ta mới chấp nhận.

Trong kinh kể câu chuyện ấy, và người triệu phú tượng trưng cho một người có gia sản rất lớn về tâm linh. Tức là một vị Bụt, một vị giác ngộ hoàn toàn. Đứa con kia có mặc cảm mình là chúng sinh, mình là một con người tầm thường chỉ có ngu si, khổ đau đày đọa mà thôi. Có sự mặc cảm và sợ hãi là mình không bao giờ có thể được như người kia. Người kia tức là một vị thánh nhân, một vị Bụt, một vị Bồ Tát. Và vì vậy cho nên nếu Đức Thế Tôn nói rằng: “Này anh, anh không chỉ là chúng sinh, anh có thể là một vị Bụt.” Thì người kia sẽ hoảng sợ, sẽ không bao giờ tin.

Mình có quan niệm là chúng sinh và Bụt thì hoàn toàn khác nhau. Chúng sinh ngược lại với Bụt, và Bụt là ngược lại chúng sinh. Và khi mở ra sự thật là mỗi người đều có Phật tánh, đều có thể giác ngộ thành Phật thì có thể làm cho người ta hoảng sợ. Vì vậy nên kinh pháp Hoa là một kinh ra đời muộn hơn so với những kinh khác. Kinh Pháp Hoa đưa ra một sự thật là tất cả chúng sanh đều có thể trở thành Phật. Đức Thế Tôn nghĩ rằng nếu gặp nhau lúc ban đầu mà nói ra sự thật ấy thì người kia không tin và sẽ bỏ chạy mất. Vậy nên phải từ từ hướng dẫn cho người kia tu tập, tiến bộ cho đến lúc nói ra được sự thật. Kinh Pháp Hoa đưa ra sự thật đó “Nhất thiết chúng sanh, giai hữu Phật tánh” tất cả chúng sanh đều có thể thành Phật được. Chỉ khi nào mình không có mặc cảm thì mình mới chấp nhận được sự thật đó. Đức thế Tôn là nhà triệu phú và chúng ta là những người cùng tử. Chúng ta cho rằng chúng ta nghèo đói, khổ đau suốt đời, hết kiếp này đến kiếp khác. Vì vậy nên Đức Thế Tôn muốn đưa chúng ta ra khỏi vòng mặc cảm đó để cho chúng ta thấy mình có khả năng hạnh phúc, có khả năng giác ngộ.

“Châu báu chất đầy thế giới
tôi đem tặng bạn sáng nay
một vốc kim cương sáng chói
long lanh suốt cả đêm ngày

Mỗi phút một viên ngọc quý
sáng soi đất nước trời mây
chỉ cần một hơi thở nhẹ
là bao phép lạ hiển bày.”

Xung quanh mình đều là châu báu hết. Tại mình không biết dùng thôi. Nếu mình nhận diện ra được thì mình sẽ có hạnh phúc liền lập tức. Trong giáo lý của Đức Thế Tôn có giáo lý gọi là “hiện pháp lạc trú”. Nghĩa là có thể sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Khi mình có chánh niệm, mình thở một hơi thở, đem tâm trở về với thân. Thì tự nhiên mình thấy được rằng mình có rất nhiều điều kiện hạnh phúc, có rất nhiều châu báu, và mình có thể hạnh phúc liền được. Sở dĩ mình không có hạnh phúc là tại mình không nhận diện được những điều kiện hanh phúc. Khi mình nhắc nhở người khác về những điều kiện hạnh phúc mà người ấy đang có tức là mình tặng cho họ một vốc kim cương sáng chói.

“Mỗi phút một viên ngọc quý
sáng soi đất nước trời mây
chỉ cần một hơi thở nhẹ
là bao phép lạ hiển bày

Chim hót, thông reo, hoa nở
trời xanh, mây trắng, là đây là đây
ánh mắt thương yêu sáng tỏ
nụ cười ý thức đong đầy.”

Mỗi giây phút mà đời sống cho mình để sống là một viên ngọc quý. Nếu mình có chánh niệm thì trong giây phút đó có trời xanh, mây trắng, có tất cả những mầu nhiệm của vũ trụ. Những châu báu, những hạnh phúc đó, mình đạp lên trên mà đi. Mình là đứa con phá của, mỗi ngày có hai mươi bốn giờ đồng hồ, mỗi giây, mỗi phút là cả vốc kim cương. Mình sống như thế nào mà những giờ, ngày, phút mình liệng đi những châu báu đó. Mình không biết sống và thừa hưởng hạnh phúc mà mình đang có, hạnh phúc mà tổ tiên đã để lại cho mình. Mình đi tìm ở đâu đâu.

Đây là một bài thơ, một bài nhạc để mình thực tập. Nếu mình có thì giờ để trở về với chính mình và nhìn kỹ thì sẽ thấy mình may mắn hơn rất nhiều người trong nước và trên thế giới. Ngay chuyện rửa mặt, khi muốn rửa mặt, chỉ cần mở vòi thì nước sẽ chảy xuống và mình rửa. Khi muốn uống nước mình chỉ cần đưa cốc hứng nước và uống. Nhưng có những vùng trên thế giới người ta phải đi năm, mười cây số mới lấy được một ít nước, mà nước cũng không được trong. Nếu mình sống có ý thức chánh niệm thì khi mở nước hay khi rửa mặt, hay tắm gội mình cũng cảm thấy hạnh phúc. Vì vậy mình phải có ý thức, có chánh niệm.

 

 

Hạnh phúc bây giờ và ở đây

Chánh niệm tức là mình có mặt ở đó. Năng lượng chánh niệm giúp mình nhận diện được những điều kiện hạnh phúc mình đang có. Ví dụ, hai mắt mình đang còn sáng và tốt là một điều kiện hạnh phúc. Chỉ cần mở mắt ra là mình tiếp xúc được với thiên đường của màu sắc và hình dáng. Thiên đường đó có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Những điều kiện hạnh phúc đó dư dả để mình có thể hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại.

Hai chân còn khỏe, còn đi, chạy nhảy và leo trèo được. Đó là một điều kiện hạnh phúc. Trái tim của mình còn đang vận hành bình thường. Đó là một điều kiện hạnh phúc. Có những người không có một trái tim bình thường, họ có thể bị đứng tim bất cứ lúc nào. Ước mơ sâu sắc nhất của những người ấy là có một trái tim bình thường như trái tim của mình. Chúng ta đang có một trái tim khỏe mạnh nhưng chúng ta không có hạnh phúc. Chúng ta có hai mắt sáng chúng ta cũng không hạnh phúc. Có đôi chân khỏe mạnh vẫn không hạnh phúc. Chúng ta có tuổi trẻ chúng ta cũng không có hạnh phúc. Nói tóm lại, chúng ta là những đứa con cùng tử, không biết là mình rất giàu có. Mình là con nhà giàu, nhưng mình vẫn tha phương cầu thực hết ngày này qua ngày khác. Đó là tình trạng của hầu hết chúng ta. Chuyện trong kinh là chuyện có thật bây giờ và ở đây.

Cho nên tu là phải biết phát khởi chánh niệm. Đưa tâm trở về với thân trong giây phút hiện tại. Khi thở vào một hơi thở và chú ý tới hơi thở thì mình đem tâm trở về với thân. Mình thấy được là mình đang có một hình hài tương đối mạnh khỏe, một đầu óc tương đối minh mẫn. Mình thấy mình có dư dả điều kiện hạnh phúc. Những người thương vẫn đang còn sống xung quanh mình,  rõ ràng mình thấy quá may mắn. Khi nhận diện được những hạnh phúc đó thì không cần phải chạy về tương lai để kiếm thêm những điều kiện hạnh phúc khác nữa. Mình có đủ rồi. Còn chờ đợi gì điều gì nữa?

Chủ đề “người cùng tử” là một chủ đề rất quan trọng. Chúng ta đừng đi tìm người cùng tử ở đâu khác. Chúng ta là những người cùng tử.

Tu là để nhận diện những điều kiện hạnh phúc mà mình đang có. Tới Làng Mai là để học điều đó. Thiền sinh từ nhiều nước trên thế giới đến để học cái đó. Và họ học thành công lắm. Chỉ cần năm hay sáu ngày là thấy sự thay đổi. Trong khi mình bước một bước chân, thở một hơi thở là mình có hạnh phúc. Trong khi uống trà cũng có hạnh phúc, chải răng mình cũng có hạnh phúc. Chải răng trong chánh niệm. Mình cần hai phút để chải răng, nhưng mà mình làm hấp tấp, mình nói chải răng cho mau để làm việc khác. Trong khi đó đối với người tu thì chải răng có thể hạnh phúc lắm. Chải răng có chánh niệm thì mình thấy có lúc mình quên bàn chải, quên kem đánh răng, hay mở nước thì nước bị cúp. Nhưng giờ đây có đủ hết mà không hạnh phúc, không vừa lòng. Khi chải răng thì nghĩ chuyện này chuyện kia. Mỗi khi chải răng thầy nghĩ: “Tám mấy tuổi rồi mà cẫn còn răng để chải, sướng quá.” Là tự nhiên có hạnh phúc liền. Thế nên hạnh phúc từ chánh niệm mà ra. Chứ không phải từ sự giàu sang hay quyền lực, danh tiếng hay sắc dục. Có những người chạy theo danh vọng, giàu sang và sắc dục mà họ không có hạnh phúc gì hết. Họ tàn phá thân và tâm của họ. Và có rất nhiều người tìm đến con đường tự tử. Cho nên giàu sang, tiền bạc, sắc dục có thể là những hiểm nguy. Nó tàn phá cuộc đời mình. Trong khi đó chánh niệm là suối nguồn của hạnh phúc. Mình học và phải thực tập điều đó.

 

(Còn tiếp)

 

Những câu linh chú Làng Mai

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai)

Ở đời ai lại không có những người thương? Chúng ta có cha, có mẹ, có anh, có chị, có em, có bạn, có thầy. Khi có chánh niệm thì ta nhận rõ được sự có mặt của những người đó là quí giá cho ta lắm. Họ là những bông hoa, họ đang nở cho ta. Còn ta đang co rút lại, ta phải nở ra cho họ! Vì vậy cho nên câu linh chú thứ nhất của Làng Mai là công nhận sự có mặt của người kia, nhìn người đó bằng chánh niệm, trân quí sự có mặt của người đó và nói ra một câu thần chú bằng tiếng Việt, không cần phải bằng tiếng Phạn:

“Bố ơi, con biết là bố đang còn sống bên con, nên con rất hạnh phúc”,

 Đó là một câu thần chú, và ta phải đọc câu thần chú đó trong trạng thái thân tâm nhất như. Thân và tâm ta phải có mặt 100% thì ta mới nên đọc câu thần chú đó.

Nghe vậy thì người kia sẽ có hạnh phúc, sẽ nở ra như một đóa hoa. Lúc ấy mình cũng là một đóa hoa, mình nở cho người kia, hạnh phúc có mặt liền lập tức. Đó là một thứ hạnh phúc có liền. Hạnh phúc trong khi thực tập câu linh chú thứ nhất còn nhanh hơn là pha cà phê uống liền, tại vì khỏi phải xé bọc cà phê ra, khỏi bỏ vào ly, khỏi chế nước sôi.

Hôm trước khi đi với sư anh Pháp Ứng ở Xóm Thượng, sư anh đưa cánh tay cho tôi vịn để đi xuống dốc cho an toàn. Tôi quay lại nói rằng: “Pháp Ứng ơi! Có con ở đây thầy hạnh phúc quá.” Đó là tôi đọc câu thần chú thứ nhất. Tôi nói câu đó không phải là một câu nói ngoại giao, mà câu đó nó được làm bằng bản chất của chánh niệm, thấy sự có mặt của sư chú là quí giá cho tôi. Biết sư chú đã cho tôi hạnh phúc, đang cho tôi hạnh phúc và sẽ cho tôi hạnh phúc, cho nên tôi chỉ cần nói sự thật đúng lúc thôi. Đó là nhờ “chỉ”, “quán”và “niệm”. Thân tâm tôi nhất như, tuy là đang đi, nhưng nhờ an trú trong hiện tại, tôi nhận diện được sự có mặt của sư chú, nên tôi đã nói được câu linh chú thứ nhất. Sư chú đáp lại liền: “Có Thầy ở bên con, con cũng rất hạnh phúc.” Thành ra hai thầy trò cùng thực tập linh chú.

Có cần lặp lại 100 lần mỗi buổi sáng không? Nếu đã nói được một lần, thì sau này mình không hối tiếc nữa. Huống hồ mình lấy đó làm sự thực tập hàng ngày của mình?

Cho nên hôm đó ở thủ đô Hán Thành tôi đã mỉm cười nhìn những bông hoa ngọc lan đang nở rộ và nói:”Hoa ngọc lan ơi, tôi biết hoa đang có đó và tôi rất hạnh phúc!” Đi một mình giữa những đóa ngọc lan như vậy, mình thấy được tất cả những mầu nhiệm của sự sống, mình sống sâu sắc những giờ phút của buổi sáng, không tiếc nuối gì cả. Không những hoa ngọc lan nở cho mình, mà lúc ấy mình cũng là một bông hoa nở ra cho ngọc lan nữa. Giữa hoa và mình có một mối tình tri kỷ, cũng như giữa hai thầy trò Huệ Năng và Hoằng Nhẫn.

Cho nên những giây phút mà quý vị sống ở Xóm Thượng, có thể là những giây phút quan trọng nhất trong cuộc đời của quý vị. Dù quý vị sống ở đó một tuần, hai tuần hay hai năm, thì mỗi giây phút mà quý vị sống ở đó phải là những giây phút như vậy. Nếu không thì uổng phí quá. Những giây phút của quý vị ở Xóm Hạ, Xóm Trung, Xóm Mới cũng phải như vậy. Những phương pháp ấy tôi đã trao truyền. Nay đến lượt quý vị. Như những người chơi bóng chuyền, khi trái bóng đến tay, thì phải hành động. Không thể giữ bóng mà không chuyền lại cho người khác.

Đối với cha, mẹ, anh,chị hay, đối với những người xung quanh, với hoa đào, với vì tinh tú, với con đường thiền hành, mình phải thực tập nhìn những thứ đó như là nhìn Huệ Năng của mình, nhìn tri kỷ của mình. Chúng ta thực tập để nâng đỡ cho những người chung quanh cùng thực tập. Nếu ta không thực tập thì những người chung quanh ta sẽ không được nâng đỡ, khuyến khích. Sự thực tập của mình có công hiệu tổng quát, nghĩa là mình làm điều nàykhông chỉ riêng cho mình, mà làm cho tất cả những người chung quanh mình. Công tác xây dựng tăng thân lớn lao nhất là công tác đó, nghĩa là phải biết nở ra trong từng giây từng phút của cuộc sống hàng ngày.

Như vậy, câu linh chú đầu tiên của Làng Mai là:

Bố ơi, con biết bố còn đang sống đó và đang ngồi bên con, nên con rất hạnh phúc.

Mẹ ơi, con biết mẹ còn đang sống đó và đang ngồi bên con, nên con rất hạnh phúc.

Và “công thức” của câu linh chú ấy là:

(…) ơi ,( …) biết là (…) còn đang sống đó và đang ngồi bên ( …),nên (…) rất hạnh phúc .

Nếu trong đời anh, đời chị, mà chưa từng nói được câu đó, thì đó là điều rất đáng tiếc. Nếu chưa nói thì lát nữa phải gọi điện thoại. Nói điện thoại trong tinh thần thực tập của chúng ta thì dù là điện thoại viễn thông cũng đáng để cho mình sử dụng.

Câu thần chú thứ hai, có khi mình đảo ngược lại, lấy câu thứ hai làm câu thần chú thứ nhất. Điều này không quan trọng mấy. Điều quan trọng là chúng ta phải thực tập những câu thần chú này.

Câu thần chú thứ hai là:

Bố ơi, con đang có mặt thật sự bên bố đây.

Mẹ ơi, con đang có mặt thật sự bên mẹ đây.

Thầy ơi, con đang có mặt thật sự bên thầy đây.

(…) ơi, ( … ) đang có mặt thật sự bên ( … ) đây.

Thương yêu trong giáo lý của đạo Bụt, trước hết là phải có mặt. Tại vì nếu không có mặt thì làm sao anh thương? Nhiều khi sống 24 giờ đồng hồ với người đó, nhưng anh không bao giờ thật sự có mặt bên người đó. Anh sống như đang sống trong một quán trọ, trong một chung cư mà mình không cần biết người ở phòng bên cạnh là người thuộc quốc tịch nào, có những hạnh phúc nào, những khổ đau nào.

Có thể mình sống với bố, với mẹ, với những người anh, người chị của mình, nhưng mình chưa bao giờ có mặt thật sự với họ. Mình đi, mình về như là những mũi tên, cho đến khi người ấy chết, hay đi xa. Sống như chưa bao giờ mình từng gặp người ấy. Người ấy là ai mà mình nói mình thương?

Món quà quý giá nhất

Có một ông nọ, ông nói với đứa con trai 12 tuổi của ông: “Này con, ngày mai là sinh nhật của con, con muốn gì, nói cho bố biết, bố sẽ mua cho con.” Nhưng cậu bé đó không có hạnh phúc. Cậu bé là con nhà giàu, và bố là giám đốc của một công ty rất lớn, muốn gì ông cũng mua được hết. Nhưng những món quà không làm cho cậu bé hạnh phúc thật sự, vì bố nó chưa bao giờ có mặt với nó hết. Bố bận rộn quá. Tại vì sao? Tại vì khi mình giàu thì mình không muốn mình không giàu nữa! Đó là bệnh của chúng sanh. Đã giàu rồi thì không thể chấp nhận được chuyện mình không giàu! Mà muốn tiếp tục giàu thì phải đổ hết thời gian và tâm lực vào việc làm giàu. Vì vậy mà không có thời gian để thở, để ăn, để nhìn con, nhìn vợ, và cứ đi đi về về như một mũi tên. Nhiều khi phải đi công tác xa nhà đến năm bảy ngày. Cũng không có thời gian gọi điện thoại về cho vợ, cho con. Thành ra vợ con của ông nhà giàu đó không có hạnh phúc.

Ông có đem tiền về thật, nhưng hạnh phúc đâu phải được làm bằng tiền? Tiền có thể giúp được một phần nào, nhưng hạnh phúc là sự thương yêu, và thương yêu là phải có mặt cho nhau. Ông ta không có thời gian để ăn cơm với con, ngồi chơi với con, hay nắm tay con đi dạo. Vì vậy mà lúc nghe bố hỏi, cậu bé đã trả lời: “Con chỉ muốn bố thôi!”  Ông ta liệu có thức tỉnh được hay không thì không thấy nói!

Trong chúng ta có biết bao nhiêu người bị kẹt vào cái thế đó. Cho nên ta phải thực tập. Phải biết nói tội nghiệp quá! Trong quá khứ mình chưa bao giờ có mặt với con mình, có mặt với vợ mình! Chắc là mình phải thay đổi! Ông ta phải thả đi một số bò, để trở lại với vợ, với con, với cuộc sống trong hiện tại.

 

Trong số những người thiền sinh đến Làng Mai để tu học, có những người đã chứng tỏ khả năng thả bò của họ. Họ thấy cuộc sống của họ không có hạnh phúc, họ đã chạy theo sự thành công về sự nghiệp, mà họ không thật sự sống sâu sắc những giây phút hằng ngày. Họ không có thì giờ để thương, để hạnh phúc, cho nên khi trở về sau khóa tu họ đã thức tỉnh và thả được những con bò rất to. Đừng nói rằng không có sự giác ngộ. Nếu không giác ngộ thì làm sao người ta chịu thả những con bò to như vậy? Nếu nghé mà ta cũng không có khả năng thả được thì bò làm sao mà thả cho được?

 

Nhiều khi với các thầy, các sư cô, mình nói đùa rằng ngôi chùa của mình cũng là một con bò, vướng vào con bò đó mình không có thì giờ để thở, để đi thiền hành, để ngồi uống trà; để sử dụng con mắt của Bụt, lỗ tai của Bụt, cái mũi của Bụt, hai bàn chân của Bụt.

Những thứ đó đã được thầy trao truyền rồi, nhưng vì “rét”, mình không thả được. Thành ra ở Làng Mai, chúng ta phải dùng lỗ tai của thầy trao truyền, phải dùng con mắt của thầy trao truyền, cái mũi của thầy trao truyền, bàn tay của thầy trao truyền, hơi thở của thầy trao truyền. Đó là có hiếu. Dòng giống thánh, và hạt giống thánh chủng, mà nối tiếp được là do những thứ ấy, chứ không phải là do chúng ta xây được ngôi chùa lớn, hay làm được những “Phật sự” lớn. Phật sự lớn nhất là có mặt và sống sâu sắc những giây phút của đời sống hàng ngày để có thể tỏa chiếu an lạc, và hạnh phúc. Pháp thân là bài thuyết pháp hay nhất.

Thành ra nếu người cha ấy giác ngộ và thả được những con bò. Có thể một hôm nào đó, ông ngồi xuống bên đứa con mỉm cười và nói: “Con ơi! con biết không? Bố đang có mặt đây cho con” và thật sự anh ta làm được. Tâm anh ta không nghĩ đến công việc. Tâm của anh hiện giờ đang có mặt với con. “Trời ơi, mấy ai có đứa con trai dễ thương như vậy?” Hai cha con nắm tay nhau, thì bỗng nhiên nơi đó trở thành thiên đường, và đứa bé sẽ có hạnh phúc tức thì.

Chăm sóc giây phút hiện tại là xây dựng tương lai

Mỗi khi lên Xóm Thượng, tôi đi trên Xóm thượng như đi trên một thiên đường. Tôi nắm tay và cùng đi với những người đệ tử của tôi rất hạnh phúc. Mỗi khi đi ở Xóm Mới, hay Xóm Hạ tôi đều thấy như vậy. Mình phải có mặt cho nhau. Mình phải có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Đó là cách thức hay nhất để đầu tư cho tương lai. Tại vì tương lai chỉ được làm bằng một chất liệu thôi, đó là hiện tại. Làm cho chất liệu của hiện tại có phẩm chất, thì tự nhiên mình có một tương lai tươi sáng. Còn lo lắng cách mấy cũng không có tương lai. Tại chất liệu lo lắng, bồn chồn không thể nào làm nên một tương lai đẹp. Chỉ có chất liệu hạnh phúc hiện tại thì mới làm được một tương lai đẹp mà thôi.

Đây là một quá trình rèn luyện và thực tập. Cho nên khi quý vị về Làng Mai, và nghĩ rằng mình chỉ nghe pháp thoại rồi đem về nhà mới thực tập, thì không được. Tại vì Làng Mai là môi trường thuận tiện để thực tập chuyện này. Tức là làm thế nào để nó trở thành một thói quen, rồi đến khi về trú xứ, mình mới thực tập được. Còn nếu trong thời gian ở tại Làng Mai mà mình không tạo được thói quen này, thì khi về thành phố của mình, mình sẽ không làm được. Ở thành phố mình khó thực tập lắm. Tại vì tất cả mọi người đều chạy, không ai có khả năng an trú. Ít người biết sống sâu sắc trong giây phút hiện tại.

Do đó nếu quý vị ở được hai tuần hay hai tháng, thì trong thời gian đó mình phải quyết tâm tập cho được nếp sống này để nó trở nên một thói quen tốt, một tập khí tốt. Trong khi tập luyện như vậy, mình có hạnh phúc liền lập tức.Vì đó là giáo pháp Hiện pháp Lạc trú. Quê hương đích thực của hình, tịnh độ của mình nằm ngay tại đó, trong giây phút ấy, chứ không phải trong không gian khác, hay trong thời gian khác. Bây giờ hay là sẽ không bao giờ. Đó là nguyên tắc của chúng ta.

Nhắc lại câu linh chú thứ nhất: “Bố ơi, mẹ ơi, con biết là bố đang có mặt đó, và con rất có hạnh phúc.” Quý vị cứ làm đi! Khi tam nghiệp hợp nhất thì chắc chắn thành công, nó tạo ra một sự biến chuyển lớn liền lập tức, hạnh phúc sẽ có liền lập tức. Hãy thực tập với ngôi sao Mai, với trăng Rằm; hãy thực tập với lá sồi, với sư anh, sư chị.

Cũng nhắc lại câu thần chú thứ hai là “Mẹ ơi, con đang thật sự có mặt bên mẹ đây!”. Tại vì món quà lớn nhất mà mình có thể hiến tặng cho người thương của mình là sự có mặt đích thực của mình. Nếu không có mặt thì làm sao anh thương? Mà có mặt không phải là chuyện dễ. Phải thực tập mới có mặt được. Phải biết nghệ thuật thở chánh niệm, phải có nghệ thuật thả bò, buông bỏ những lo lắng, suy tư, tham vọng, khổ đau, giận hờn thì mới thật sự có mặt cho người mình thương được.

Trong những buổi pháp đàm, chúng ta phải bàn với nhau, phải chia sẽ cho nhau, người này đã làm như thế này, đã thành công như thế kia, người kia chưa thành công được là tại vì kẹt cái này, kẹt cái khác. Chúng ta phải tới với nhau như một tăng thân để chia sẻ kết quả của những thực tập đó. Và chiều hôm đó sau buổi pháp đàm, chúng ta đem ra thực tập liền. Có như vậy thì chúng ta mới xứng đáng với kỳ vọng, và trông đợi của Bụt, của Tổ và của Thầy.

 

 

 

 

 

Thư gửi me

 

(Sư cô Bảo Nghiêm là một vị giáo thọ của Làng Mai, xuất gia năm 1991 trong gia đình Con Sư Tử. Sư cô hiện đang tu học tại xóm Mới, Làng Mai, Pháp. Dưới đây là lá thư Sư cô viết cho người mẹ quá cố của mình.)

Xóm Mới, ngày 20.12.2019

Me yêu quý,

Ở Làng Mai bây giờ cũng treo một cái đồng hồ “quả lắc”. Nghe tiếng chuông con nhớ tiếng chuông đồng hồ nhà ta ngày xưa. Hồi đó, còn nhỏ nên con rất thích nghe nó như nghe một bài hát. Có khi con bắt chước hát theo tiếng chuông trầm bổng và những tiếng điểm giờ. Con gõ theo boong boong bằng miệng rất vui. Tiếng gõ của đồng hồ Làng Mai giản đơn và ngắn gọn hơn nhiều. Không có tiếng dạo nhạc trước mỗi nhịp gõ điểm giờ.

Cứ mỗi giờ thì nó lại báo hiệu bằng điệu nhạc:

Tính tang tang tình

Tình tang tính tang

Táng tinh tinh tàng

Tàng tinh tính tang

Hết điệu nhạc dạo thì có tiếng chuông gõ điểm giờ. Cứ mỗi mười lăm phút thì lại có nhạc dạo. Tại Làng Mai mỗi khi nghe chuông mọi người đều ngừng lại để thở và nhiếp tâm vào chánh niệm. Tiếng chuông đồng hồ cũng là tiếng gọi của Bụt để ta quay về với hơi thở, đem tâm ý mình về một mối để an trú trong sự sống hiện tại. Hiện tại là tiếng chuông thì phải thở theo tiếng chuông. Thở vào “tính tang”. Thở ra “tang tình”. Cứ như thế đừng quên. Khi có nhịp gõ điểm giờ thì me thở vào theo một tiếng “boong”, thở ra theo một tiếng “boong” cho đến khi hết gõ. Me làm được như thế thì cái đồng hồ nhà ta sẽ trở nên một người bạn vui tính của me.

Me yêu quý, con mong rằng lá thơ này sẽ làm cho me vui và nở được nụ cười với con.

Và nhờ sự thực đó, dù hai me con mình thật quá xa xôi mà có thể lại hóa ra gần.

Con thương me nhiều lắm.

Con của me.

Chân Bảo Nghiêm