Thắp sáng ngọn lửa yêu thương

Huế mùa bão lũ, tháng 10 năm 2020

Kính thưa quý vị thân hữu,

Trong giờ phút này đây chắc hẳn những ai đang thực tập hạnh từ bi của chư Bụt, chư Bồ Tát không thể làm ngơ trước những thông tin đang được phát liên tục trên các phương tiện truyền thông về sự hung hãn và những thiệt hại do thiên tai bão lũ mà đồng bào các tỉnh miền Trung đang phải oằn mình gánh chịu. Bao nhiêu làng xã ngập chìm trong nước lũ dài ngày. Người chết, nhà cửa, gia súc, gia cầm, hoa màu trôi theo dòng nước lũ, cầu đường gãy đổ, nhiều nơi bị chia cắt, nhiều khu vực dân cư bị cô lập… Nước lũ đợt trước chưa kịp rút hết thì người dân lại phải bước vào đợt ngập lụt mới. Bão chồng bão, đau thương chất chồng đau thương…

 

 

Trước tình cảnh đó, trong những ngày qua, dù công trình xây dựng nhà bếp của Ni xá Diệu Trạm còn ngổn ngang nhưng quý thầy, quý sư cô Từ Hiếu, Diệu Trạm cùng các tác viên chương trình Hiểu và Thương vẫn đang chuẩn bị hàng trăm phần cơm đem đi cứu trợ cho những nơi ngập lụt sâu. Những người còn lại ở nhà tiếp tục thắp sáng ngọn lửa yêu thương để nấu cơm, vắt cơm cả đêm để hôm sau nhóm khác đi cứu trợ. Những hộp cơm, những gói quà bánh tuy nhỏ bé nhưng cũng mong đem tới chút niềm hy vọng, xua đi chút đau thương trong những ngày khốn khó.

Chúng tôi xin thành tâm tri ân tất cả những vị ân nhân đã từ bi phát tâm cúng dường tịnh tài, tịnh vật để chúng tôi có thể thay mặt quý vị đem những món quà tình thương ấy đến với đồng bào vùng lũ. Chính trong lúc khó khăn, hoạn nạn cũng là lúc chúng ta nhận ra sự ấm áp của những tấm lòng cảm thông, san sẻ. Sự an ủi, niềm vui của những người khốn khổ mà chúng ta khơi dậy được chính là tịnh độ trong tâm mà cả người cho và người nhận cùng được thừa hưởng.

Trong những ngày tới, quý thầy, quý sư cô cùng các tác viên của chương trình Hiểu và Thương sẽ tiếp tục tổ chức những chuyến đi cứu trợ ở các vùng bị bão lũ. Để tiếp tục chung tay giúp vơi bớt những cảnh ngộ khốn cùng của đồng bào miền trung thân thương, xin quý vị gửi về địa chỉ sau:

Cứu trợ lũ lụt miền Trung 2020

Nguyễn Thanh Thọ (Thầy Pháp Thăng) – Đoàn Thị Uyên (Sư cô Phát Nghiêm)
 
Số Tài Khoản: 1017402737
 
Ngân hàng Vietcombank, Chi nhánh Hùng Vương, Huế, Việt Nam.
 
Bank for Foreign Trade of Vietnam (Vietcombank)
 
Swift Code: BFTVVNVX016
 
Số điện thoại: (+84)848532177
 

Nguyện cầu chư Bụt, chư Bồ tát từ bi gia hộ cho đồng bào miền Trung sớm vượt qua cơn bão lũ, và cũng nguyện cầu cho quý vị cùng gia đình thật nhiều an vui.

Trân quý và biết ơn, 

Sư cô Chân Không

 

 

 

 

 

Thiền sư và em bé 5 tuổi

Trong lòng chúng ta ai cũng có một em bé đang đau khổ. Ai cũng có một thời gian khó khăn khi còn thơ ấu và nhiều người đã trải qua những chấn động tâm lý, những tổn thương lớn mà vết thương còn lưu lại đến bây giờ. Để tự bảo vệ và phòng hộ trước những khổ đau trong tương lai, chúng ta thường cố quên đi thời gian đau lòng đó. Mỗi khi tiếp xúc với những kinh nghiệm khổ đau ấy, chúng ta nghĩ rằng chúng ta sẽ không chịu đựng nổi, sẽ không có khả năng xử lý nên chúng ta nén chặt những cảm xúc và ký ức của mình vào đáy sâu vô thức. Đó có thể là do đã từ lâu chúng ta không đủ can đảm để đối diện với em bé đó.

Em bé bị tổn thương cũng đang ở trong mỗi tế bào cơ thể ta. Không có tế bào nào trong cơ thể ta mà không có mặt em bé bị tổn thương đó. Chúng ta không cần phải nhìn xa xôi vào quá khứ để thấy được em bé đó. Chúng ta chỉ cần quán chiếu sâu sắc là có thể tiếp xúc được. Nỗi đau khổ của em bé tổn thương đó đang nằm sẵn trong chúng ta ngay trong giây phút hiện tại.

Cũng giống như nỗi khổ đau đang hiện diện trong mỗi tế bào cơ thể ta, thì những hạt giống tỉnh thức, cảm thông và hạnh phúc đã được trao truyền từ ông bà tổ tiên cũng đang có mặt trong ta. Chúng ta chỉ cần lấy chúng ra sử dụng. Chúng ta có một ngọn đèn trong mình, đó là ngọn đèn chánh niệm mà chúng ta có thể thắp lên bất cứ lúc nào. Nguyên liệu cho ngọn đèn đó là hơi thở ý thức, là bước chân chánh niệm, là nụ cười an lạc của chúng ta. Chúng ta phải thắp lên ngọn đèn chánh niệm để ánh sáng được soi chiếu và bóng tối tan đi.

 

 

Đọc “Thiền sư và em bé 5 tuổi” độc giả sẽ có thì giờ được ngồi yên, chơi thảnh thơi với chính mình trong từng phút giây của hiện tại nhiệm màu. Và để trở về có mặt, lắng nghe, tìm hiểu và thương yêu em bé 5 tuổi trong ta qua phương pháp trị liệu mà Sư Ông Làng Mai đã hướng dẫn ở từng trang sách.

Cùng ngồi thưởng thức những câu chuyện chữa lành để được học hỏi và cho mình thêm năng lượng thực tập chuyển hóa qua những bài tập trị liệu với sự thực tập hơi thở chánh niệm, thiền lạy, viết thư hay làm mới… để sự hòa giải thực sự có mặt trong chính tự thân ta cũng như với những liên hệ xung quanh.

 

Quý độc giả có thể đặt mua sách tại đây:

Saigon Books

Neta Books

 

Bếp lửa hồng sưởi ấm ngày mưa lũ

Huế mùa lũ lụt 2020

 

 

Tôi là người miền trung nhưng vốn sinh ra và lớn lên ở đất miền nam nên chưa bao giờ kinh qua nỗi khốn khó của những ngày bão lụt, có đi chăng nữa chỉ là những cảnh khổ tôi được biết qua báo đài. Nhân duyên có mặt ở Huế trong những ngày này đã cho tôi cơ hội hiểu một cách trực tiếp những nỗi khổ của người dân nơi đây trong những ngày mưa lũ.

Làm khách ghé thăm, tôi có dịp quan sát kĩ từng khung cảnh mưa gió rả rích ngày qua ngày ở đất kinh thành Huế. Công trình nhà bếp Ni xá Diệu Trạm đang xây dựng ngổn ngang cũng phải tạm dừng để chống lũ. Cái bếp dã chiến cũng đã phát huy hết công suất sáng tối với việc cắt gọt nấu nướng liên tục để chuẩn bị hàng trăm phần cơm đem đi cứu trợ cho những nơi ngập lụt sâu không có điện, không thể nấu được bữa cơm,… Tình thương trong bàn tay của những huynh đệ làm công tác hậu cần nấu cơm, hay những huynh đệ đem quà đi cứu trợ lũ lụt cũng thật cao quý, thân thương.

 

 

Tôi không đóng góp gì nhiều, chỉ góp được một phần rất nhỏ bé, yên bình của mình. Vào một buổi chiều mưa, tôi được tham dự chuyến đi cứu trợ cùng với quý thầy, quý sư cô chùa Từ Hiếu -Diệu Trạm. Khi đưa cơm vào con đường nhỏ trong thành nội Huế, vì không có ghe mà nước lũ đã rút bớt so với buổi sáng nên mấy anh chị em quyết định lội nước đi vào sâu bên trong. Nghĩ đến những người chưa có bữa cơm chiều, đang cần chút giúp đỡ kịp thời, nên trên con nước, huynh đệ chúng tôi hào hứng, hăng say, quên hết cái lạnh, cái dơ, chỉ còn lại niềm vui khi được hiến tặng, san sẻ khó khăn với mọi người. Trước cảnh khổ, tôi thấy nụ cười hạnh phúc nở, đó là dấu ấn của tình thương được biểu hiện. Đó là một chuyến đi rất đẹp trong cuộc đời tôi, là tuổi trẻ của tình yêu thương cuộc đời thật ý nghĩa.

Và thế là những chuyến xe, những chuyến đò nối tiếp nhau trong công tác cứu trợ lũ lụt. Tôi thấy quý thầy ở chùa Từ Hiếu, quý sư cô Ni xá Diệu Trạm làm việc với nhau tích cực, phân chia thành nhiều nhóm, đi đến nhiều nơi, có khi mỗi nhóm đi hai buổi mỗi ngày để giúp cho những người dân bị ngập lụt trong biển nước.

 

 

Cơn lũ năm nay lớn quá, khiến người dân miền trung, nhất là những nơi miền quê nghèo thật khốn đốn, thân đã khổ vì không có chỗ ngủ yên, không có được bữa cơm no, mà còn khổ tâm vì mất mát mùa màng; những con vật chăn nuôi cũng dường như không giữ được, nhiều cảnh thật đáng thương. Một chút quà nhỏ bé thôi đã khiến bao người dân vui mừng, cảm kích, trân trọng và biết ơn lắm. Tôi thấy lòng mình xót xa khi thấy những cảnh khổ trước mắt. Cảnh dân nghèo sống trên cụm ghe trôi nổi trên sông, các em nhỏ mừng vui hớn hở với những gói bánh, vài que kẹo mút, hình ảnh bà cụ già lội con nước đuổi theo ghe, đưa hai tay xin được giúp đỡ,… và rất nhiều những hình ảnh khác nữa đã chạm sâu đến lòng xót thương và khắc khoải khi biết rằng sự giúp đỡ của huynh đệ chúng tôi nhỏ bé lắm! Một ít gạo, mì gói hay một phần cơm nhỏ có kể là gì! Tôi chỉ biết thở cho bình an để nguyện cầu nhiều phước lành trở lại với dải đất miền Trung của đồng bào tôi, với quê hương Việt Nam tôi và cả thế giới.

 

 

Trong những khốn khó, nụ cười của huynh đệ chúng tôi vẫn nở bình an và yêu thương, mong đem tới chút niềm hy vọng, xua đi chút đau thương cho những cảnh đời khốn khổ.

“Ngày mai trông trời xa

Dù bao đói nghèo đang chờ ta

Dù bao tủi hờn ta còn đây

Dâng hiến đôi bàn tay”

Lời bài hát “Vui bếp lửa hồng” như tiếp tục thắp lên ngọn lửa tình thương, xin chuyền đi tất cả những tấm lòng nhân ái để tiếp tục hướng về, chung tay giúp vơi bớt những cảnh ngộ khốn cùng của đồng bào miền trung thân thương. Đã có rất nhiều trái tim Bồ tát xa gần hết lòng đóng góp đồng hành cho chương trình thiện nguyện này với nhiều tịnh tài, tịnh vật, và rất nhiều những thăm hỏi, khích lệ đáng quý. Nhờ vậy mà những tình thương của huynh đệ chúng tôi được hoá hiện thành những hành động, làm cho lý tưởng đạo Bụt đi vào cuộc đời thành sự sống. Xin tri ân vì tất cả, vì tình thương vốn là tương tức, mình là nhau thật đẹp.

 

 

Tối nay, tôi viết xuống đây vài cảm xúc rất mới nhưng có lẽ đã có đó từ rất lâu rồi.

Chân Tuyết Nghiêm

Mát lòng nhờ những giọt không

 

Huế buổi sáng trời se lạnh, thoang thoảng trong gió làn hương hoa dịu ngọt. Hôm trước nhận được gói cốm tươi bọc trong lá sen từ Hà Nội gửi vào, tôi bỗng thấy man mác trong lòng. Nhớ thời còn đi học, những buổi sáng mùa thu đạp xe đến trường, dù đường nhựa ngắn và dễ đi hơn nhưng đầy xe cộ ồn ào, tôi thường chọn đường vòng, đi xuyên qua những cánh đồng thơm ngát hương lúa, hai bên vệ cỏ lung linh những giọt sương vui đùa trong nắng sớm.

Ai cũng nói tuổi học trò là tuổi đẹp nhất trong cuộc đời. Nhiều người đến khi trưởng thành, đi làm, xây dựng gia đình, vẫn thường hoài niệm về một thời áo trắng đầy mộng mơ, hồn nhiên, trong trẻo mà không phải lo toan về chuyện gì. Tôi thấy mình thật may mắn vì đến tận bây giờ vẫn còn được hưởng hạnh phúc của một người học trò. Tốt nghiệp, có việc làm tôi vẫn tiếp tục đi học. Từ giã gia đình vào sống trong chùa, tôi được học biết bao điều, được tự do học những gì mình thích.

Còn gì sung sướng hơn đối với người học trò khi được học tập dưới sự chỉ dạy của một người thầy đầy trí tuệ, đầy tình thương yêu và tận tụy. Tình cảm thầy trò đã trở nên một thứ tình thật thiêng liêng, một huyền thoại riêng của mỗi người học trò.

Nhớ lại hồi Thầy mới ngã bệnh, bác sĩ dự báo có thể Thầy không qua khỏi. Một sư anh đi ngang qua chỗ chúng tôi đang ngồi và hỏi:

Mấy sư em đã chuẩn bị tinh thần chưa?

Chúng tôi không ai trả lời. Nhưng trong lòng tôi lúc đó bình yên lắm, không chút lo lắng. Tôi có niềm tin rất lớn nơi trí tuệ và tình thương của Thầy. Tôi chia sẻ với mấy anh em:

Các học trò vẫn còn nhỏ dại, Thầy chưa nỡ bỏ chúng mình mà đi đâu!

Sau đó Thầy dần dần hồi phục. Tôi được đại chúng cho phép làm thị giả Thầy. Thật là một niềm hạnh phúc vô bờ bến!

Con người của Thầy, cuộc sống của Thầy luôn là những bài học sâu sắc và sinh động. Những lúc dạo chơi, ở các xóm bên Pháp, trong tu viện bên Thái, hay xung quanh chùa Tổ, Thầy đều ngắm nhìn mọi cảnh, mọi vật với đôi mắt rất sáng đầy ý thức. Những bữa cơm luôn có nhiều học trò bao quanh, trong khi thưởng thức từng miếng ăn Thầy vẫn không quên nhìn ngắm từng học trò và trân quý giây phút thầy trò bên nhau. Những buổi sáng Thầy ngồi uống trà ngắm hoa nở trong nắng mai; thậm chí những lúc Thầy nằm nghỉ, riêng việc ngồi lặng yên bên Thầy cũng là những giây phút nuôi dưỡng tâm hồn tôi rất nhiều.

 

 

Có lần trong phiên hầu Thầy ban đêm, thường thì lâu lâu chúng tôi lại xoa bóp giúp Thầy đỡ nhức mỏi, nhưng hôm đó do ban ngày tôi mải chơi chuyện gì nên đến đêm vừa mệt vừa buồn ngủ. Giường Thầy nằm nghỉ khá rộng nên trong đêm tôi vẫn hay xin phép được nằm bên cạnh Thầy, vừa được ngả lưng, vừa dễ nhận biết những cử động của Thầy để kịp thời đáp ứng. Đêm ấy Thầy có chút nhức mỏi, nhưng khi nhìn thấy tôi nằm bên cạnh, vừa nhắm mắt vừa xoa bóp cho Thầy, có lẽ Thầy cảm nhận được tôi “vừa mơ ngủ vừa xoa bóp” nên đưa tay lên xoa đầu tôi một lúc, ra hiệu cho tôi ngừng lại rồi quay sang phía bên kia nằm yên cho đến sáng. Còn tôi “đánh” một giấc ngon lành! Sáng dậy vừa xúc động vừa cảm phục và biết ơn, chắc là đêm đó Thầy đành nằm yên để cho tôi được nghỉ ngơi. Từ đó về sau, tuy có lúc vẫn còn ham chơi nhưng tôi không bao giờ dám “tái phạm” tình huống “éo le” này thêm nữa. 

Trong phòng Thầy có treo bức thư pháp:

“Mát lòng, nhờ
Những giọt không
Bỗng đâu thuyền đã
Sang sông
Tới bờ !
Cát mềm, bãi vắng
Nguyền xưa…”

Những khi ngồi lặng yên bên Thầy, hoặc đẩy xe cùng Thầy đi dạo trong phòng, tôi thường ngắm bức thư pháp đó, lòng nhẹ nhàng và thanh thoát lạ kỳ. Tôi chỉ việc mở lòng ra đón nhận những giọt cam lộ mát lành từ những bài giảng không lời trong giây phút thiêng liêng thầy trò bên nhau ấy.

Thời gian gần đây sức khỏe Thầy có giảm sút. Nhiều người kính quý Thầy từ khắp mọi nơi trên thế giới lo lắng và hỏi thăm. Riêng tôi vẫn cảm nhận được sự bình an trọn vẹn từ Thầy. Thầy là một con người tự do, đến đi thong dong, Thầy không hề lo lắng hay sợ hãi về bất kỳ chuyện gì. Vậy nên là người học trò của Thầy, tôi cũng phải học để đạt được sự vững chãi và đức vô úy như Thầy chứ.

“Chừng nào Thầy còn đến đi thong dong thì Thầy vẫn còn là nơi nương tựa cho con, cho các con. Và chừng nào các con vẫn còn trở về với những bước chân thanh thản thì các con vẫn còn là chỗ nương tựa và tiếp nối của Thầy.”

Lời Thầy dạy luôn là nguồn khích lệ tôi trong sự học hỏi và tu tập hằng ngày. Đó cũng là món quà ý nghĩa nhất một người học trò có thể dâng lên Thầy. Chắc chắn Thầy đã được nuôi dưỡng rất nhiều từ năng lượng an lành nơi sự thực tập ấy của học trò. Nhân dịp ngày tiếp nối của Thầy, bạn và tôi, chúng ta cùng thực tập để dâng lên Thầy món quà Thầy yêu thích nhất này nhé.

(Chân Trời Đại Đồng)

Chùm thơ “Món quà dâng Thầy” 2020

 

 

Đi cùng Thầy

(Lương Đình Khoa)

Và mặt trời sáng nay bừng tỉnh sớm

Những bông hoa đã nở trước đêm dài

Cỏ lành ngọt sớm mai

Dưới vòng lăn mang nụ cười yên lắng!

 

Xòe tay đón ngửi mùi cỏ đất

Hạt thương yêu vô lượng kiếp xanh đầy

Thầy thở cùng tinh khôi

Quay về và nương tựa.

 

Gieo Hiểu – Thương qua năm Châu bốn bể

Ru bão giông khép mắt hóa mây ngàn

Rộng vòng Tăng thân

Thảnh thơi – vững chãi.

 

Hạnh phúc trong hiện tại

Sự sống lên nhiệm màu

Chuyển hóa mọi khổ đau

Tình thương yêu đích thực

 

Chắp tay sen đón ngọn nguồn tỉnh thức

Như chim xanh an lạc khúc ca trời

Bụt an trú trong Thầy

Bụt ẩn mình trong con – từ phút ban sơ lời con khóc…

 

Thầy đã đến nắm tay đời gieo hạt

Bụt trong con tỉnh giấc sáng từng ngày

Gọi con trở về đây

Gần bên Thầy – đón bình minh ý thức.

 

Thầy đã đến khi chúng sinh lạc bước

Thấu nhân gian ôm trọn mọi chúng loài

Đi cùng Thầy – chân nở rộ hoa mai

Và hơi thở ngời nụ cười của Bụt.

 

Hôm nay con hạnh phúc

Dưới bóng Thầy bao dung

Trái tim Thầy – Bồ Tát

Muôn kiếp nhịp Hiểu – Thương !

 

 Đã về, Đã tới

(Chân Lưu Phúc)

Đã lâu rồi Thầy xa ngôi chùa cổ

Nơi một thời làm điệu thuở hoa niên

Bên sử kinh năm tháng thật êm đềm

Được tu học với Ân Sư dạy dỗ

Là chất liệu để nuôi lớn hiểu thương

Đạo và đời duy nhất một con đường

Tâm vô lượng là tư lương cất bước

Nay Người về lưu lại mái chùa xưa

Là ước mơ mang theo từ thuở đó.

 

Từ Hiếu tự có con đường nho nhỏ

Bên lũy tre rợp bóng mát trưa hè

Cội khế già vẫn kết trái trổ hoa

Tia nắng sớm, sương tan trên cành lá

Cổng tam quan ngày tháng đã nhạt nhòa

Tháp đại hồng chuông ngân vọng vang xa

Yêu xứ Huế hữu tình thân thương quá

Đưa mắt nhìn thu gọn cả trời mây

Hồ bán nguyệt phút nhớ xưa trỗi dậy

Khối lam chiều che phủ áng mây bay

Mưa xứ Huế cơn mưa dài, mưa mãi!

 

Thầy đã về, Dương Xuân hồi sinh lạ

Năm cánh kỳ hương tỏa gió thoảng bay

Tinh khiết hương nguyện dâng lên cúng dường

Tròn hiếu đạo kính dâng lên Tam Bảo

Là Người con của đất Việt hồn thiêng

Nguyện cháu con mãi tiếp nối lưu truyền

Trong ánh sáng đạo vàng vang muôn thuở.

 

Thầy thong dong bốn bể khắp trời Âu

Đã dấn thân cho hòa bình tranh đấu

Bóng áo nâu và nón lá trên đầu

Là bình bóng của người Thầy yêu dấu

Thầy dạy rằng sự sống thật nhiệm mầu.

Hãy cùng hoà nhịp tim thở thật sâu

Nối vòng tay ta xây dựng địa cầu

Thế gian này sẽ mãi mãi bền lâu

Chuông ngân vang… ngày mới lại bắt đầu

Thầy đã về đã tới đất nhiệm mầu.

 

Tiếp Nối

(Nguyên Bối – Ngân Hà)

Em về hái cho tôi nắm rau

Tía tô hay húng hay ngò…

Hái cho tôi quả mít non

Ít lạc vừng và nắm lá lốt

Hôm nay tôi thích vào bếp

Nấu món canh mít thơm lừng

Làm đĩa gỏi mít trộn cùng rau em hái

Để hôm nay đây tôi dâng Thầy

Món ăn quê hương mà Người từng thương nhớ…

Em về nhớ thả cho tôi gầu múc

Dưới giếng nước thơm trong

Uống từng ngụm một

Ngọt trong quê mẹ hiền hòa

Nhìn đáy giếng long lanh trời thu trong vắt

Vầng nhật nguyệt tròn vo

Xin em để yên đấy!

Đừng chao động

Để lắng đọng ánh trăng

Trong đêm nay và bao đêm nữa em nhé

Bởi tôi mong sự bình yên cho Người

Cho tôi và cho tất cả những ai đang nguyện cầu

Em về nhớ qua lối nhỏ

Dù lá thu có rụng đầy

Tôi cũng biết em đi từng bước cẩn trọng

Để chạm lòng chân vào đất mẹ

Hôn dùm tôi nụ hôn

Tình thương bất diệt

Em về mùa thu năm ấy

Khi cậu bé chào đời

Là vầng nhật nguyệt sáng trong soi bước chúng ta đi

Ngồi yên

Trích trong sách “Hỏi đáp từ trái tim” của Sư Ông Làng Mai

Tôi bận việc từ sáng đến tối, không có cơ hội ngồi yên một mình?

Làm sao mà tôi có cơ hội thực tập ngồi trong im lặng? Im lặng phát xuất từ bên trong chứ không đến từ bên ngoài. Im lặng không có nghĩa là không nói chuyện hay không làm gì cả. Im lặng là khi ta không bị xao động, không tán loạn, hay không có những tiếng nói thì thầm trong nội tâm. Nếu ta thực sự im lặng được thì bất cứ hoàn cảnh nào ta cũng có thể vui trong im lặng. Có những lúc ta nghĩ là ta đang im lặng và xung quanh cũng im lặng nhưng thực sự ở trong đầu ta đang nói. Đó không phải là im lặng. Sự thực tập là làm sao để ta có được sự tĩnh lặng nội tâm trong tất cả mọi hoạt động mà ta đang làm. Hãy thay đổi cách ta suy nghĩ, cách ta nhìn. Ta cần nhận ra rằng, sự im lặng phải phát xuất từ trong tâm mà không phải vì không nói. Ngồi ăn sáng có thể là một cơ hội để ta thưởng thức sự im lặng. Mặc dù xung quanh ta mọi người đang nói chuyện nhưng bên trong ta vẫn có thể hoàn toàn im lặng.

Đức Bụt có cả ngàn đệ tử vây quanh. Mặc dù, Bụt cùng đi, cùng ăn uống, sinh hoạt với các đệ tử nhưng Ngài luôn luôn an trú trong im lặng. Bụt có dạy rất rõ rằng: “Người biết sống một mình, biết sống tĩnh lặng, không có nghĩa là người đó phải vào sống trong rừng sâu”. Ta có thể sống trong tăng thân hay giữa phố chợ mà vẫn tận hưởng được sự yên tĩnh. Người biết sông một mình, không có nghĩa là không sống chung với ai cả. Người biết sống một mình là người biết an trú vững chãi ngay trong giờ phút bây giờ và ở đây. Ý thức rõ những gì đang xảy ra. Dùng chánh niệm để nhận biết mỗi cảm thọ, mỗi ý tưởng đang phát khởi trong tâm. Ý thức những gì đang xảy ra nhưng an nhiên, tự tại, không đánh mất mình. Đó định nghĩa của sự thực tập sống một mình của Bụt. 

Không bận về quá khứ. Không rong ruổi tương lai. An trú bây giờ và ở đây. Thân tâm hợp nhất, ý thức được những gì đang xảy ra trong giờ phút hiện tại. Đó đích thực là biết sống một mình.

Đừng tìm về quá khứ
Đừng tưởng tới tương lai
Quá khứ đã không còn
Tương lai thì chưa tới
Hãy quán chiếu sự sống
Trong giờ phút hiện tại
Kẻ thức giả an trú
Vững chãi và thảnh thơi.
Phải tinh tiến hôm nay
Kẻo ngày mai không kịp
Cái chết đến bất ngờ
Không thể nào mặc cả.
Người nào biết an trú
Đêm ngày trong chánh niệm
Thì Mâu Ni gọi là
Người Biết Sống Một Mình.

 

Hãy là nụ cười

Trích trong sách “Phép lạ của sự tỉnh thức” của Sư Ông Làng Mai

 

 

Ngày nào cũng thực tập quán niệm, giờ nào cũng thực tập quán niệm… Nói thì dễ nhưng thực hành cho được thường xuyên là chuyện không dễ… Vậy cho nên tôi đề nghị những người trong lớp thiền tập nên để dành một ngày trong tuần để khởi sự thực tập. Đã đành trên nguyên tắc ngày nào cũng là ngày của mình, giờ nào cũng là giờ của mình, nhưng trên thực tế mình hoàn toàn chưa thể nào chủ động được và mình có cảm tưởng gia đình, sở làm và xã hội chiếm mất hết thì giờ của mình. Vì vậy tôi đề nghị họ lấy một ngày trong tuần làm “ngày của mình”. Ngày này sẽ là bàn đạp tạo nên thói quan tốt đẹp của sự thực tập quán niệm.

Tác viên xã hội ai cũng có quyền có 1 ngày như vậy mỗi tuần, nếu không ta sẽ tự đánh mất mình một cách dễ dàng trong cuộc đời náo động. Ta tạm gọi cái ngày thứ bảy kia là ngày quán niệm. Muốn tổ chức ngày quán niệm ta hãy chuẩn bị làm sao khi thức dậy trong buổi sáng, ta có thể nhớ ngày dó là ngày quán niệm. Treo một cái gì ở trên trần nhà hay ở trong mùng. Ví dụ như một chữ “quán” hay một cành thông chẳng hạn, để khi thức dậy là ta có thể trông thấy và biết đây là ngày quán niệm, ngày “của mình”.

Nhớ ra như vậy rồi, ta nên mỉm cười để chứng tỏ rằng ta đang có ý thức trọn vẹn và cũng là nuôi dưỡng ý thức trọn vẹn đó. Nằm trên giường ta bắt đầu theo dõi hơi thở, điều phục hơi thở, thở những hơi chậm, dài và ý thức. Rồi ta từ từ vén chăn ngồi dậy (đừng tung chăn chồm dậy như thường nhật). Nuôi dưỡng quán niệm trong từng cử chỉ. Ta xúc miệng đánh răng, chải đầu, cạo râu hay điểm trang một cách nhẹ nhàng, thong thả, cử động nào cũng được nhiếp phục trong quán niệm. Theo dõi hơi thở, nắm lấy hơi thở, đừng để tâm loạn động. Khi làm những cử động thể dục buổi sáng cũng vậy. Các cử động thể dục nên làm thong thả, đi đôi với nhịp thở dài và nhẹ. Trong khi tập thể dục, duy trì nụ cười hàm tiếu trên môi.

Nên để ra ít nhất là nửa giờ để tắm gội thong thả trong chánh niệm. Đôi khi tắm xong là ta đã thấy nhẹ nhàng khoan khoái rồi. Sau đó ta có thể đi làm việc nội trợ, giặt áo quần, chùi nhà, lau bàn, sửa bếp, xếp dọn sách vở. Những công việc ấy phải được làm thật khoan thai, nhẹ nhàng trong chánh niệm. Làm tức là tu, đừng mong cho chóng xong. Bí quyết là làm thong thả. Để tâm ý vào đó, ưa thích nó, đồng nhất với nó. Phải tìm được sự an lạc trong khi làm những việc đó. Nếu không thì ngày quán niệm đó xem như là thất bại. Những người mới tập thì nên giữ im lặng trong ngày quán niệm. Vận tốc của các cử động dưới ảnh hưởng của quán niệm được giảm xuống rất nhiều. Hãy nhìn những vị thiền sư. Họ đi đứng khoan thai, nhất cử nhất động đều nhẹ nhàng, không vụt chạc hay nóng nảy. Nói như thế không có nghĩa là trong ngày quán niệm ta không nên nói chuyện. Ta cũng có thể nói chuyện và cũng có thể hát nữa. Nhưng ta chỉ nên nói hay hát ít thôi, trong khi duy trì ý thức minh mẫn về những gì ta đang nói hoặc đang hát. Cố nhiên ta có thể vừa hát vừa quán niệm. Biết rõ là ta đang hát và ta đang hát gì. Tuy thế nên biết rằng trong khi ta hát, tình tiết và âm diệu có thể đưa ta lạc ra ngoài chánh niệm nếu năng lực tập trung của ta còn yếu kém. Buổi trưa ta có thể tự nấu cơm. Việc ăn cơm, rửa bát, nghỉ ngơi, tất cả cũng đều được thực hành trong chính niệm. Buổi sáng sau khi nhà cửa đã được dọn hay chăm bón, vun mấy khóm hoa. ta pha trà và ngồi uống trà trong chánh niệm. Để dành thật nhiều thì giờ cho công việc này. Đừng uống trà như người ta ăn hủ tiếu, cà phê ngoài tiệm trước khi đi làm, nghĩa là hấp tấp quá. Uống trà thật thảnh thơi, khoan thai, như nhịp đi của bốn mùa, như nhịp quay của trái đất, thong thả, đều đặn, không hấp tấp. Không đi tìm tương lai. Sống với giờ phút hiện tại. Chỉ có giờ phút hiện tại mới là sự sống. Đừng đồng nhất sự sống với tương lai. Đừng luôn nghĩ tới chuyện phải đi về tương lai. Đừng luôn luôn nghĩ tới chuyện khởi hành. Ngày xưa trong “Bướm bay vượn cải hoa vàng”, tôi viết :

Em hãy là đóa hoa đứng yên bên hàng dậu, 
Là nụ cười, 
Là một phần của hiện hữu nhiệm mầu. 
Tôi đứng đây, chúng ta không còn khởi hành. 
Quê hương chúng ta đẹp như quê hương của tuổi thơ. 
Xin đừng ai xâm phạm. Tôi vẫn còn hát ca….”.

Buổi chiều ta có thể đọc kinh, chép kinh, viết thơ cho bạn, làm bất cứ việc gì mà ta thích từ công việc trong tuần. Tôi nhắc em là làm gì cũng làm trong chánh niệm. Buổi tối ăn ít thôi, khoảng 10 – 11 giờ ta ngồi thiền đến nửa đêm sau khi bách bộ chừng một giờ để thở không khí trong lành, theo dõi hơi thở bằng quán niệm, đo chiều dài hơi thở bằng quán niệm, đo chiều dài hơi thở bằng bước chân ta về phòng và đi ngủ trong chánh niệm.

 

*** Bạn mến, thương mời bạn thực tập cười hàm tiếu trong khi nghe một bản nhạc. Nghe một bản nhạc 2-3 phút, chú ý tới lời nhạc, từng ý và tiết tấu. Mỉm cười và thở ra, thở vào thật nhẹ trong suốt thời gian đó.  Chúc các bạn thực tập vui.

Lắng nghe sâu

Tại Làng Mai, mỗi khi có tiếng điện thoại, hay tiếng chuông chúng tôi có cơ hội dừng lại, ngưng làm việc, ngưng nói năng, ngưng suy nghĩ. Đây là những tiếng chuông chánh niệm. Khi nghe chuông ta thư giãn thân tâm và trở về với hơi thở. Chúng ta ý thức rằng mình đang còn sống và có thể tiếp xúc với những mầu nhiệm sẵn có đó cho ta. Chúng ta dừng lại một cách tự nhiên, trong niềm vui, không quan trọng, không gò ép. Thở vào, thở ra ba lần trong niềm vui vì biết là ta đang còn sống. Khi dừng lại, ta phục hồi bình an trong ta và ta có tự do. Công việc ta đang làm trở nên vui thích hơn, bạn bè chung quanh ta trở nên  có thật hơn.

Phép thực tập dừng lại và theo dõi hơi thở theo tiếng chuông là một ví dụ về phương pháp thực tập giúp ta tiếp xúc với gì tươi đẹp, nuôi dưỡng trong cuộc sống hằng ngày. Ta có thể thực tập một mình nhưng nếu có tăng thân thì sự thực tập sẽ dễ hơn. Tăng thân luôn luôn có đó. Mỗi khi ta bị chìm đắm trong đau khổ thì tăng thân có thể cứu ta và giúp ta trở về tiếp xúc với những yếu tố tích cực của cuộc đời.

Chào mừng bạn đến với chuyên mục Lắng nghe sâu để trở về thực tập ngồi yên và có mặt cho chính mình trong từng phút giây của hiện tại nhiệm màu.

Tiếng chuông chánh niệm: Chân dung Thiền sư Thích Nhất Hạnh

 

Trevor Carolan

(Đăng trên tờ Lion’s Roar – trước đây là Shambhala Sun – ngày 01.01.1996)

Lời kêu gọi thực tập chánh niệm với cái thấy tương tức của Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã gây cảm hứng cho phong trào Đạo Bụt Dấn Thân trên khắp thế giới. “Nơi nào có khổ đau, nơi đó chánh niệm sẽ đáp ứng lại bằng năng lượng từ bi”, vị thiền sư Việt Nam nói.

Đôi khi trong những kinh nghiệm sống của chúng ta lại có một khoảnh khắc đột biến, lúc mà tất cả những gì xảy ra trước và sau thời điểm đó đều in sâu trong tâm trí. Vì lý do nào đó, khoảnh khắc quyết định này phát triển mạnh trong tâm thức và trở thành một cái mốc, để rồi hết lần này đến lần khác ta quay về tìm kiếm xem phép lạ nào đã xảy ra.

Tôi nhớ lại điều này khi dự cuộc họp mặt gần đây tại San Francisco, nơi mà các bộ óc siêu việt trên thế giới được Quỹ Mikhail Gorbachev Hoa Kỳ triệu tập trong Diễn đàn về Tình trạng Thế giới[1].

Có rất nhiều ngôi sao sáng và đa dạng tham dự diễn đàn: Rigoberta Menchu – người được trao giải Nobel Hòa bình, Thabo Mbeki – Phó Tổng thống Nam Phi, Jane Goodall, Ruud Lubbers – Thủ tướng Hà lan, Fritjof Capra, Ted Turner, Sam Keen, Shirley MacLaine, Joan Halifax, Zbigniew Brzezinski, Oscar Arias – Tổng thống của Costa Rica và cả ông Gorbachev nổi tiếng.

Dễ thấy đây là một diễn đàn do những thiên tài cấp tiến chủ động, là một cuộc gặp gỡ đột phá, kết hợp giữa Viện Esalen, Lầu Năm Góc, Fortune 500 – 500 công ty lớn nhất của Mỹ và nhiều nhà tư tưởng lớn. Mục đích của họ là tìm kiếm và đưa ra câu trả lời cho những thử thách căn bản khi loài người chuẩn bị bước vào giai đoạn phát triển lịch sử sắp tới trên hành tinh quý giá này.

Tuy nhiên, vào ngày thứ ba của diễn đàn nặng ký này, một người đàn ông nhỏ bé bỗng xuất hiện, như nhân vật Rumpelstiltskin thần kỳ trong truyện cổ tích Grimm. Ông đến muộn, vào giữa buổi sáng khi đang có một cuộc thảo luận mang chủ đề “Expanding the Boundaries of Humanness” (tạm dịch: “Mở rộng biên giới của nhân tính”). Những khách mời trong buổi thảo luận gồm Rupert Sheldrake, Deepak Chopra, Michael Murphy – người sáng lập Viện Esalen, và Giám mục Alan Jones. Người đến trễ là một thầy tu Phật giáo người Việt Nam tên là Thích Nhất Hạnh.

Đề tài thảo luận khá rộng và trừu tượng: Các khái niệm khoa học máy móc từ 300 năm của Descartes vẫn ảnh hưởng như thế nào đến cái nhìn của thế giới Tây phương về bản thân, về nơi chốn và đời sống tâm linh; những cuộc hành hương bị du lịch hóa như thế nào; tại sao sự kết nối với thế giới của các vì sao qua thần giao cách cảm đáng cho chúng ta thử nghiệm. Michael Murphy nói về đánh gôn và về Sri Aurobindo – nhà hiền triết của Ấn Độ; Deepak Chopra cho rằng lý trí không đủ để hiểu về trí thông minh không theo đường thẳng, phi tuyến tính. Úi chà chà!!!

Đâu đó giữa chủ nghĩa thần bí mang tính khoa học của Tiến sĩ Chopra (hay có thể gọi nó là khoa học thần bí?) và quan niệm về tâm thức ngoại giáo Celtic trước Công nguyên mà một vị nào đó trình bày, tôi bắt đầu thấy thùy trán của mình càng lúc càng ù đặc. Thế rồi Giám mục Alan Jones giới thiệu thuyết trình viên chót.

Trong chiếc áo tràng nâu truyền thống của người xuất gia, Thiền sư Thích Nhất Hạnh nói bằng giọng nhỏ nhẹ, dễ hiểu với một thứ tiếng Anh rất chuẩn, thỉnh thoảng có pha chút âm tiếng Pháp. Ngôn ngữ và cách nói năng của Thầy rất thư thái, như những giọt nước mát dịu rót vào tai và vào tâm thức của người nghe. Hầu như mọi điều về Thầy Nhất Hạnh đều được đánh dấu bằng sự định tĩnh, một sự mát mẻ nhẹ nhàng vượt khỏi sự tĩnh lặng thông thường. Khi nói, Thầy nói với năng lượng chánh niệm hùng hậu – điều mà Thầy đã dày công thực tập.

 

 

Thầy Nhất Hạnh bắt đầu bằng một câu chuyện. “Một ngày nọ tôi đang tập các động tác chánh niệm trong rừng với các bạn trong tăng thân, sau khi đi thiền hành chung với nhau”, Thầy nói bằng một giọng nhỏ nhẹ. “Ngày nào chúng tôi cũng thực tập đi chậm, đi trong chánh niệm, thưởng thức từng bước chân; rồi chúng tôi ngồi xuống với nhau.

“Ngày đó tôi bỗng nhận ra là sở dĩ tôi có thể làm những động tác chánh niệm này là nhờ có cái cây đang đứng trước mặt tôi. Tôi ý thức thật rõ ràng là tôi có thể thở vào bởi vì cái cây đang hiện diện trước mặt tôi. Nó đang đứng đó cho tôi, và tôi đang thở vào, thở ra cho nó. Tôi thấy sự liên hệ này vô cùng sâu sắc.

“Trong truyền thống đạo Bụt có nói đến tính chất tương tức. Ta không thể nào tồn tại một cách riêng rẽ, ta phải tồn tại cùng với mọi người, mọi loài”, Thầy nói tiếp. “Vì vậy, có thể nói mình tương tức với cái cây: Nếu cái cây không có đó thì ta cũng không có đây.

“Trong kinh Kim Cương, Bụt khuyên ta nên quán chiếu về bốn ý niệm: ngã, nhân, chúng sinh và thọ giả. Ngài cũng dạy là sự thực tập để gạt bỏ những ý niệm này không khó, ai cũng có thể làm được.”

Sau khi nghe những tranh luận trước đó, nghe Thầy Nhất Hạnh nói, và cách mà Thầy diễn tả – không chút màu mè, hoặc quan trọng hóa; không tô điểm hay nói tới những gì mầu nhiệm; không ngụy khoa học (pseudo-science) cũng không mang tính hệ thống – giống như uống một ly trà nóng làm dịu đi một ngày mệt mỏi.

“Nếu quán sát một cách chánh niệm và sâu sắc,” Thầy giải thích, “ta sẽ thấy là ta được tạo thành bằng những yếu tố không phải là ta. Nếu ta nhìn sâu vào trong một bông hoa, ta sẽ thấy gì? Ta sẽ thấy ánh nắng mặt trời, đám mây, đất, các chất khoáng, người làm vườn, toàn thể vũ trụ. Tại sao? Bởi vì bông hoa được tạo nên bởi những yếu tố không phải là hoa: Đó là cái mà ta có thể nhận ra. Và cũng giống như bông hoa, thân thể của ta cũng được tạo nên bởi tất cả những cái khác – trừ một cái: Đó là cái ngã, cái ta riêng rẽ. Đây là giáo lý vô ngã trong đạo Bụt.

“Để được là chính mình, ta phải biết chăm sóc những yếu tố không phải là ta. Ai cũng biết là mình không thể tồn tại nếu không có những người khác, những loài khác, nhưng ta thường hay quên rằng vạn vật tương tức, rằng chúng sanh được làm nên bởi những yếu tố không phải chúng sanh.

“Đó là lý do tại sao ta phải thực tập thiền để giữ cho cái thấy này sống động. Trong truyền thống của chúng tôi, sự thực tập dừng lại, hay còn gọi là thiền chỉ (samatha), là để nuôi dưỡng và giữ cho cái thấy sáng tỏ này sống động 24 giờ đồng hồ mỗi ngày.”

Nghe đến đây, một thông tín viên truyền thanh nghiêng người về phía tôi thì thầm “Chính xác là ông thầy này từ truyền thống nào vậy? Điều mà ông ấy nói là từ Thiền hay từ đạo Phật nói chung?”. Nữ phóng viên già dặn của Quốc hội Mỹ đã được báo trước là muốn biết cuộc vận động cho môi trường hiện nay được thúc đẩy bởi những tư tưởng nào, cô phải nghe để biết những gì mà ông thầy tu Phật giáo người Việt này chia sẻ. Tuy nhiên, tôi cũng có những thắc mắc của riêng mình, lấy ý trong câu của Andrei Codrescu – một nhà thơ, nhà văn nổi tiếng người Mỹ gốc Rumani: Trong vai trò của một vị thầy, Thích Nhất Hạnh làm mọi cách để ẩn danh, trong khi những người khác thì làm mọi cách để nổi tiếng.

Sinh năm 1926, xuất gia đã được 53 năm, Thiền sư Thích Nhất Hạnh dành trọn cuộc đời mình để thực tập và truyền trao Đạo Bụt Dấn Thân – đây là sự kết hợp giữa đạo Bụt truyền thống và thiền, pháp môn hiện pháp lạc trú và hành động trên căn bản từ bi để chăm sóc cho tự thân và cho xã hội. Năm 1967, Thầy được Mục sư Martin Luther King đề cử cho giải Nobel Hòa bình vì những cống hiến của Thầy trong công cuộc vận động hòa bình cho Việt Nam.

Arnie Kotler có vẻ là người có đủ thông tin để trả lời cho những câu hỏi của tôi về Thầy Nhất Hạnh. Ông Kotler đã tham gia ấn hành rất nhiều quyển sách trong số 75 đầu sách của Thầy Nhất Hạnh. Ông cũng là một thành viên ban điều hành Cộng đồng sống chánh niệm (Community of Mindful Living) – một tổ chức phi lợi nhuận, đỡ đầu cho khoảng hơn 100 nhóm sinh viên trên thế giới đem chánh niệm vào mỗi phút giây của cuộc sống hàng ngày, theo truyền thống của Thầy Nhất Hạnh.

“Thầy là một thiền sư”, Kotler nói. “Thầy sống ở Làng Mai, một cộng đồng sống tỉnh thức gần Bordeaux, nước Pháp. Thầy đến từ Việt Nam, một nước Đông Dương, có thể vì vậy mà mọi người cho rằng Thầy theo truyền thống Nam tông. Thầy hay nhắc mọi người rằng Đông Dương chịu ảnh hưởng của cả Ấn Độ lẫn Trung Hoa, và đặc biệt là đạo Bụt Ấn Độ có ý nghĩa rất quan trọng đối với Thầy.”

Kotler nói rằng nhìn Thầy Nhất Hạnh trong bối cảnh đó thì sẽ dễ hiểu hơn “bởi vì ở Tây phương hễ nói tới thiền thì nghĩ ngay tới thiền Nhật; thế nhưng đó chỉ là một hình thái của thiền mà thôi. Thầy thuộc thế hệ thứ 42 của tông Lâm Tế – tông phái này có nguồn gốc từ Trung Quốc, đời nhà Đường. Một thiền phái ở Việt Nam có nguồn gốc từ tông Lâm Tế là phái Liễu Quán.

“Thầy là thế hệ thứ 8 của phái Liễu Quán và Thầy đã thấm nhuần tinh hoa của những truyền thống thiền này. Trong những năm 60, khi hoạt động mạnh nhất cho hòa bình, Thầy đã thành lập dòng tu Tiếp Hiện.”

Điều này giải thích tại sao có một nhóm kiệt xuất gồm các giáo viên, những người cầm bút và các nhà hoạt động có năng lực trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã và đang đồng hành cùng với sự phát triển của phong trào Đạo Bụt Dấn Thân do Thầy Nhất Hạnh khởi xướng: Joan Halifax, Joanna Macy, Deena Metzger, Bell Hooks, Wendy Johnson, Maxine Hong Kingston và nhiều người khác nữa. Chuyến hoằng hóa tại San Francisco mới đây của Thầy Nhất Hạnh đã làm xuất hiện các vị thầy ưu tú như Jack Kornfield, Sylvia Boorstein và Ram Dass.

Tại Spirit Rock, một trung tâm thực tập ở quận Marin do Jack Kornfield và một số giáo thọ khác thành lập, Thầy Nhất Hạnh đã hướng dẫn một ngày quán niệm, thu hút hơn 2.000 người đến tham dự.

Thật may mắn cho tôi, nhờ quá giang chung một chuyến xe mà tôi đã gặp được những người bạn mới, do vậy tôi đỡ cảm thấy cô đơn trong một đám đông quá lớn như thế. Phong cảnh tuyệt đẹp – các dãy núi nối nhau, rừng cây và đồng hoang. Sự kiện này là một thí dụ vượt trội của đạo Bụt Bắc Mỹ. Thời khóa của một ngày sinh hoạt ngoài trời gồm thiền tọa, thiền hành, thiền ca, ăn cơm yên lặng, thiền ăn táo do Ed Brown hướng dẫn; và Thầy Nhất Hạnh cho một bài pháp thoại dài và lôi cuốn mà sau đó đã trở thành một Bài thuyết giáo ở thung lũng Vale (Sermon in the Vale là tên bài hát nổi tiếng của ban nhạc Rock tên Golden Apes xuất phát từ Berlin, Đức).

“Ngày nay, sự truyền thông đã lan rộng khắp nơi trên thế giới,” Thầy Nhất Hạnh nhấn mạnh. “E-mail, fax, máy nhắn tin – người ta có thể liên lạc một cách dễ dàng từ Tokyo đến New York trong vòng nửa phút. Vậy mà trong gia đình, hoặc giữa hàng xóm với nhau, giữa vợ chồng, bạn bè với nhau, sự truyền thông đích thực vẫn rất khó khăn. Người ta tiếp tục càng lúc càng có nhiều khổ đau.

“Thời đại của chúng ta có rất nhiều người trẻ không cảm thấy kết nối với bất cứ thứ gì, vì vậy họ tìm kiếm một cái gì đó để xoa dịu như rượu, thuốc phiện, tiền hoặc quay về hướng chiếc ti-vi để bị xâm chiếm bởi bạo động và bất an. Vậy thì giáo pháp có thể giúp những người bị tổn thương tinh thần hay rối loạn tâm lý như thế nào?”, Thầy hỏi.

“Bồ tát Quán Thế Âm là người giỏi lắng nghe, lắng nghe với tâm từ bi,” Thầy gợi ý. “Chúng ta cần phải khôi phục lại cách nói năng và cách lắng nghe nhau như trong một gia đình thân thương. Nhưng khoa học kỹ thuật có thể giúp gì trong chuyện này? Tôi thấy chúng ta cần thực tập, lắng nghe trong chánh niệm. Một trái tim mở rộng lắng nghe là một bông hoa nở trên cây thực tập.”

Nghe pháp thoại của Thầy Nhất Hạnh, người ta dần dần làm quen với tiếng chuông – một phần không thể tách rời trên con đường thực tập của Thầy. Tiếng chuông chánh niệm là tiếng gọi của tổ tiên tâm linh. Thầy dạy: “Tiếng chuông gọi ta trở về với ngôi nhà đích thực trong phút giây hiện tại – về với sự rỗng rang. Khi thực tập tương tức, ta sẽ có bình an, vững chãi, thảnh thơi – cội nguồn của hạnh phúc. Sự thực tập vô ngã giúp ta phát hiện ra bản chất của không.”

 

 

Thầy Nhất Hạnh khuyên ta nên học hỏi và tụng niệm Tâm kinh Bát Nhã như một phương tiện để đạt đến cái thấy là tất cả mọi vật đều trống rỗng, không có tự tánh riêng biệt, nhưng đồng thời lại đầy cả vũ trụ vạn hữu trong đó. Trong pháp giới này, Thầy nói “Sinh, tử, có, không đều không thực sự tồn tại.” Tất cả những cái đó chỉ đơn giản là những ý niệm, và sự thực tập Tâm kinh là sự thực tập lấy đi hết mọi ý niệm.

Càng lúc càng thấy rõ là điều Thầy Nhất Hạnh truyền dạy không phải chỉ là “Phật giáo” mà là chuyên trì thiền tập. “Lắng nghe sâu”, “tiếp xúc sâu sắc”, “nhìn sâu” – sự giảng giải của Thầy về thiền Minh sát (Vipashyana) rất dễ dàng cho người theo Cơ Đốc giáo, Do Thái giáo, Lão giáo hoặc các truyền thống tâm linh khác áp dụng, như cho chính người Phật tử. Nhìn vào những ghi chép của tôi trong chín ngày đi theo, lắng nghe và ngồi trong sự hiện diện của Thầy, tôi nhận ra rất hiếm khi Thầy chia sẻ nhiều về mặt giáo lý – một điểm làm cho những người Phật tử thuần thành phải nhướng đôi mày.

“Đúng vậy, Thầy không nói nhiều về giáo lý Phật giáo”, Arnie Kotler đồng ý. “Thầy nói về phương pháp thực tập. Như Trungpa Rinpoche trong quyển sách đầu tay của ngài, Meditation In Action (Thiền trong hành động), đã cho chúng ta biết rằng thiền tập là sự thực tập cốt lõi của đạo Bụt. Đây cũng chính là nội dung chủ yếu mà Thầy Nhất Hạnh cống hiến: Thiền tập trong đời sống”.

“Thầy có phải là một người có sức thu hút đặc biệt không?”, một người bạn cũ thông tuệ nhưng sức khỏe càng ngày càng kém, hỏi vào một buổi chiều chúng tôi ngồi tại công viên Kim Môn ở San Francisco.

“Không” tôi trả lời, hơi ngạc nhiên vì câu trả lời của chính mình. “Không phải theo cái nghĩa thông thường. Nhưng Thầy ấy là thứ thiệt. Và Thầy là một nhà thơ. Bạn bè người Việt của tôi gọi Thầy là một vị Phật sống.”

Là một người tập võ thuật trong nhiều năm, tôi yêu thích những bậc thầy như Diogenes – triết gia Hy Lạp cổ đại và Trang Tử. Những vị này khi gặp gỡ các quân vương đều trở nên nổi tiếng vì phong cách rất độc đáo của họ. Và điều này cũng đã xảy ra khi Thầy Nhất Hạnh phát biểu tại Diễn đàn Tình hình Thế giới, lần này là trước ngài Gorbachev và những đại biểu nổi tiếng.

“Một mình trí năng thì không đủ để hướng dẫn chúng ta,” thiền sư tuyên bố với các đại biểu một cách khiêm cung. “Để định hình tương lai cho thế kỷ XXI, chúng ta cần thêm một cái khác. Không có bình an và hạnh phúc, ta không thể chăm sóc cho chính mình, không thể chăm sóc cho những loài khác, và không thể chăm sóc cho thế giới.

“Vì vậy ta cần sống như thế nào để có mặt thật sâu sắc trong mỗi khoảnh khắc, luôn sống và nuôi dưỡng tuệ giác tương tức, đây là điều vô cùng quan trọng.”

Rải rác trong bài thuyết trình của Thầy Nhất Hạnh là những tư tưởng mà Thầy đã trình bày trong cuốn sách mới xuất bản Living Buddha, Living Christ (Bụt ngàn đời, Chúa ngàn đời). Trong tác phẩm này, Thầy đã trình bày thật xuất sắc quan niệm của mình về chất thánh – hay năng lượng thánh linh – mà người phương Đông hay phương Tây cũng đều có thể tiếp xúc được. Quyển sách mới này đã thiết lập nền tảng cho “Phật pháp trong một Thế giới mới” (New World Dharma), ý tưởng được đề cập tới trong các bài viết nổi tiếng trong những năm gần đây như Pacific Shift (tạm dịch: Sự chuyển dịch về Thái Bình Dương) của William Irwin Thompson, Practice of the Wild (tạm dịch: Những bài học từ thế giới hoang dã) của Gary Snyder, và Dharma Gaia – tinh yếu của Phật giáo về sinh môi – của Alan Hunt Badiner.

“Theo tôi, chánh niệm cũng tương đương như Chúa Thánh Thần (Holy Spirit) trong Cơ Đốc giáo”, thiền sư giải thích với thính chúng gồm những người có quyền lực. “Tất cả chúng ta ai cũng có hạt giống của Chúa Thánh Thần trong mình; đó là khả năng trị liệu, chuyển hóa và thương yêu. Nơi đâu có khổ đau, nơi đó chánh niệm sẽ đáp ứng bằng năng lượng của từ bi và hiểu biết. Từ bi chính là điểm gặp gỡ giữa hai dòng sông tâm linh – Phật giáo và Cơ Đốc giáo”.

“Trong truyền thống của Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo, ta được học cách sống trong sự hiện diện của Thượng đế,” Thầy xác nhận. “Tương đương trong đạo Bụt là sự thực tập nuôi lớn chánh niệm, sống sâu sắc mỗi giây phút trong năng lượng của thánh linh. Nếu ta thay đổi cách sống hàng ngày – trong cách suy nghĩ, nói năng và hành xử – là ta bắt đầu thay đổi thế giới.

“Đây là điều mà tôi đã thảo luận với Mục sư Martin Luther King nhiều năm về trước; sự thực tập chánh niệm không chỉ là những giờ thiền trong im lặng, mà là từng giây phút của cuộc sống hàng ngày. Những vị thầy khác, như Thánh Basil, từng nói rằng ta có thể cầu nguyện trong khi làm việc, và ở Việt Nam, chúng tôi đã tạo ra một “Đạo Bụt Dấn Thân” để có thể tiếp tục nếp sống thiền quán trong khi giúp đỡ các nạn nhân chiến tranh. Chúng tôi làm việc để giúp giảm thiểu khổ đau trong khi vẫn cố gắng duy trì chánh niệm của mình.

“Vì vậy, để kết thúc bài chia sẻ này, tôi muốn nói rằng sự thực tập nhìn sâu không có nghĩa là thụ động, không làm gì cả. Bởi vì cái hiểu, cái thấy do sự thực tập nhìn sâu mang lại sẽ khiến ta trở nên rất năng động. Bất bạo động không có nghĩa là không làm gì cả. Nó có nghĩa là ta hành động với tình thương và từ bi, ta sống như thế nào để con cháu chúng ta còn có một tương lai. Xin cảm ơn quý vị.”

Và điều đó đã xảy ra. Ngôn ngữ và quyền lực tạm thời lắng xuống để giây phút tĩnh lặng kéo dài thành một sự im lặng sấm sét. Không còn gì để nói. Vị thầy tu chỉnh đốn lại tư thế, đứng lên và rời khỏi khán phòng, cũng lặng lẽ như khi ông đến. Tôi sẽ nhớ mãi điều này.

Trước đó, trong một buổi viếng thăm, tôi đã hỏi Thầy về bí ẩn của cái chết: Điều gì sẽ xảy ra khi ta chết? Thầy Nhất Hạnh là người biết cách khôi hài. “Không có gì sinh ra. Không có gì mất đi. Đó là một tuyên bố của Lavoisier – một người không phải là Phật tử,” trong câu trả lời của Thầy có thấp thoáng một nụ cười. “Nhưng như ta biết, người Phật tử cũng được tạo thành bởi những yếu tố không phải của Phật giáo…”

Tại diễn đàn, có tiếng hát của các sư cô – đệ tử của Thầy – từ một nơi gần bên vẳng đến. “Thở vào… thở ra,” họ hát, “Thở vào… thở ra.” Rồi tiếng hát vọng lên trên các phòng họp của tòa khách sạn cũ mà sang trọng: “Không gian thênh thang, không gian thênh thang…”

Trong một thoáng, tôi nghĩ đến Thánh Francis của Assisi, rồi nhìn các đại biểu trong khán phòng đang không nói nên lời, tôi có thể thề rằng mình đã thấy cả vũ trụ mỉm cười.

Nguồn: https://www.lionsroar.com/mindfulness-bell-a-profile-of-thich-nhat-hanh/

 

 

[1] Đây là cuộc họp đầu tiên của Diễn đàn về Tình trạng Thế giới (State of the World Forum) diễn ra từ ngày 27.9 – 1.10.1995 tại San Francisco, Mỹ .

Không đến không đi

Nhạc và lời: Sư Ông Làng Mai

 

 

Thân này không phải là tôi
Tôi không kẹt vào nơi thân ấy
Tôi là sự sống thênh thang
Tôi chưa bao giờ từng sinh mà
cũng chưa bao giờ từng diệt
Nhìn kia biển rộng trời cao
Muôn vàn tinh tú lao xao
Tất cả đều biểu hiện tôi từ
nguồn linh tâm thức
Tự muôn đời tôi vẫn tự do
Tử sinh là cửa ngõ ra vào
Tử sinh là trò chơi cút bắt
Hãy cười cùng tôi
Hãy nắm tay tôi
Hãy vẫy tay chào để rồi tức thì gặp lại
Gặp lại hôm nay
Gặp lại ngày mai
Chúng ta đang gặp nhau nơi suối nguồn
Chúng ta sẽ gặp nhau từng phút giây trên muôn ngàn nẻo sống.