Dựng nêu, chợ hoa, gói bánh

Ở Làng những ngày này tuy trời vẫn còn cái giá lạnh cuối đông, nhưng không khí ấp cúng, sum vầy của Tết cổ truyền đang lan tỏa khắp nơi. Không chỉ cảm nhận được hương vị của Tết qua câu đối đỏ, hay nồi bánh chưng xanh, mà Tết còn có mặt trong tâm hồn mỗi người con của quê hương xứ sở.  

Mời bạn về thăm Làng để cùng sống với những nét đẹp văn hóa cổ truyền của đất nước và cũng để thắp sáng truyền thống vui xuân cùng đại gia đình Tăng thân qua những khoảnh khắc dưới đây:

 

Những mầu nhiệm của sự sống

Trích trong sách: “Hạnh Phúc Cầm Tay” của Sư Ông Làng Mai

 

 

Những Mầu Nhiệm Của Sự Sống

Khi ngồi cạnh một dòng suối, ta thấy sung sướng được nghe tiếng suối reo, được thấy dòng nước lấp lánh đang chảy, được ngắm nhìn những hòn sỏi bóng loáng và những cây xanh bên bờ suối. Ta với suối là một, ta hưởng được sự tươi mát, trong sáng và thanh tịnh của dòng suối. Nhưng rồi chỉ trong chốc lát, ta lại chán dòng suối vì tâm ta không an, trái tim ta nặng nề, lo lắng, bận rộn, suy nghĩ miên man về những thứ khác. Và ta không còn là một với dòng suối nữa.

Nếu ngồi trong một khu rừng yên tĩnh mà tâm ta bận rộn, ruổi rong về phố thị thì rừng có cũng như không. Khi ta sống bên cạnh một em bé hay một người bạn hiền thì sự tươi mát và thân thiện của người đó làm cho ta thấy khỏe khoắn, thư giãn. Ta được hưởng sự tươi mát và thân thiện đó. Ta là đứa trẻ, ta là người bạn. Nhưng nếu ta không an, tâm ta bận rộn không có mặt ở đó thì đứa bé và người bạn đó có cũng như không. Ta phải ý thức về sự quý giá của đứa bé hay của người bạn để thưởng thức sự có mặt của họ, để bồi đắp và nuôi dưỡng họ, để họ mãi là niềm hạnh phúc của ta. Nếu dại dột và thất niệm ta sẽ trở nên bất mãn, đòi hỏi quá đáng hoặc la mắng cãi cọ với họ thì ta sẽ mất họ. Đợi khi họ đi rồi ta mới nhận ra sự quý giá của họ và thấy tiếc nuối, thì khi đó đã quá trễ, có thương tiếc cũng vô ích.

Sự sống chung quanh ta tràn đầy những mầu nhiệm như ly nước trong, tia nắng ấm, con bươm bướm, chiếc lá, nụ hoa, tiếng cười hay giọt mưa… Nếu sống trong tỉnh thức, ta sẽ dễ dàng nhận ra được những mầu nhiệm ấy đang có mặt khắp nơi. Trong ta cũng có vô số những mầu nhiệm. Đôi mắt ta có thể thấy được cả hàng ngàn sắc màu và hình ảnh, tai ta có thể nghe được tiếng ong hoặc tiếng sấm, óc ta có thể  suy tưởng được từ một hạt bụi cho đến một thiên hà, trái tim ta thổn thức theo được nhịp tim của biết bao nhiêu loài sinh vật khác. Những lúc mệt mỏi hoặc chán nản vì những căng thẳng và áp lực của cuộc sống, có thể ta không thấy được những mầu nhiệm ấy, tuy nhiên chúng luôn luôn có đó cho ta.

Ta hãy nhìn cây táo trước sân nhà, nó là một thực tại mầu nhiệm. Hãy để ý, lân mẫn và chăm sóc nó, ta sẽ hưởng được sự mầu nhiệm ấy. Mới có một tuần mà nó tươi tốt hẳn lên, những chiếc lá xanh hơn và bóng hơn. Những người chung quanh ta cũng vậy. Nhờ có tỉnh thức mà ta để tâm nhiều hơn, thương yêu hơn và thông cảm hơn. Phong thái của ta không những nuôi dưỡng và làm đẹp cho ta mà còn nuôi dưỡng và làm đẹp cho những người chung quanh. Một người sống trong chánh niệm, bình an thì không những cả nhà được nhờ mà có thể làm thay đổi cả xã hội.

Tâm ta tạo ra mọi thứ. Đỉnh núi tuyết lấp lánh hùng vĩ kia, khi ta ngắm nó thì ta với nó là một. Nó tồn tại hay không tùy thuộc vào ý thức của ta. Khi tâm ta có mặt thì dù ta nhắm mắt lại đỉnh núi tuyết ấy cũng còn đó. Khi ngồi thiền, tuy có đóng bớt những cánh cửa giác quan lại, ta vẫn cảm nghe được sự có mặt của toàn thể vũ trụ. Tại sao? Tại vì tâm ta đang có mặt. Ta nhắm mắt lại cũng chỉ để thấy rõ hơn. Hình ảnh và âm thanh của thế giới không phải là kẻ thù của ta. Kẻ thù của ta là thất niệm, là sự vắng mặt của tâm, vắng mặt của chánh niệm.

Ngôi nhà đích thực:

Ngôi nhà đích thực của ta là ở đây, ngay bây giờ, không giới hạn bởi thời gian, không gian, quốc gia hay chủng tộc. Ngôi nhà đích thực không phải là một ý niệm trừu tượng, mà là cái ta có thể tiếp xúc được, chạm được và sống được trong mỗi phút giây. Với năng lượng chánh niệm, chánh định, năng lượng tỉnh thức của Bụt, ta có thể tìm thấy ngôi nhà đích thực của ta ngay trong giây phút hiện tại khi thân và tâm ta thư giãn hoàn toàn. Không ai có thể lấy ngôi nhà đó đi được.

Ngừng nói chuyện và suy tư, trở về theo dõi hơi thở vào ra thật sâu, ta sẽ thấy thoải mái dễ chịu trong ngôi nhà đích thực của mình và ta có khả năng tiếp xúc sâu sắc với những mầu nhiệm của sự sống. Đây là con đường mà đức Bụt đã chỉ dạy cho chúng ta. Khi thở vào, ta đưa thân và tâm về lại với nhau và trở thành một với thân tâm. Thiết lập thân tâm trong niệm và định, ta bước một bước. Nếu ta bước được một bước trong chánh niệm thì ta cũng sẽ bước được những bước khác và những bước khác nữa trong chánh niệm. Ta có một tuệ giác, một cái thấy đây là ngôi nhà đích thực của ta, ta đang còn sống, ta đang có mặt hoàn toàn và ta đang tiếp xúc với sự sống rất rõ ràng. Ngôi nhà đích thực của ta là thực tại vững chắc mà ta có thể tiếp xúc được bằng đôi chân, đôi tay và bằng tâm thức của ta.

Đó là nền tảng cho ta tiếp xúc với ngôi nhà đích thực của mình và nhận ra ngôi nhà đích thực trong giây phút hiện tại. Tất cả chúng ta đều có hạt giống của niệm và định. Thở một hơi thở chánh niệm hay bước một bước chân ý thức là ta có thể đưa tâm trở về với thân. Trong đời sống hằng ngày, thân và tâm ta thường đi hai hướng khác nhau. Chúng ta thường ở trong trạng thái xao lãng, tán loạn. Thân thì ở một nơi mà tâm thì lại ở một nẻo. Thân ta thì đang mặc áo mà tâm ta lại bận rộn lo nghĩ về quá khứ hoặc tương lai. Tuy nhiên giữa thân và tâm có một cái gắn liền với nhau, đó là hơi thở. Ngay khi trở về với hơi thở ý thức, thở cho nhẹ nhàng thư thái thì thân và tâm hợp nhất với nhau rất nhanh. Trong khi thở vào, đừng nghĩ ngợi gì cả, chỉ tập trung tâm ý vào hơi thở vào. Đầu tư hoàn toàn con người mình vào hơi thở vào. Ta trở thành một với hơi thở vào. Và như vậy là ta có định. Định trên hơi thở vào sẽ đưa thân tâm về lại với nhau. Chỉ trong vòng một giây thôi là ta có thể làm được điều ấy. Tự nhiên ta thấy ta có mặt hoàn toàn và thật sự đang sống.

 

*** Bạn mến, tuần này, thương mời bạn cùng thực tập “Quán niệm khi pha trà”

Nấu trà và pha một bình mời khách hay để mình tự uống, cử động chậm rãi và ý thức không bỏ qua một chi tiết nào hay động tác nào của mình. Biết là tay trái cầm quai ấm, biết là tay phải đang múc nước đổ vào ấm. Thở nhẹ, sâu hơn bình thường và nắm lấy hơi thở mỗi khi có loạn tưởng.

 

Khơi nối truyền thống văn hóa dân tộc

Trích trong sách “Tương lai văn hóa Việt Nam – viết cho thằng Cu và con Hĩm” của Sư Ông Làng Mai.

 

Hồi ta trạc tuổi hai con, ta đã từng thấy rất bơ vơ. Ta không biết ta sẽ đi về đâu. Có một đêm nọ ta nằm mơ thấy mình đang nằm trong ngôi nhà thờ họ của chúng mình, và ta thấy trong lòng êm ả, lắng dịu. Ngôi nhà thờ họ đối với ta lúc đó như là một nơi che chở cho ta an toàn nhất. Lúc thức dậy, ta chợt thấy bơ vơ thêm lên. Thì ra trong giấc mơ, tiềm thức ta đã đưa ta trở về trốn tránh nơi truyền thống văn hóa dân tộc. Nhà thờ họ, cũng như bàn thờ tổ tiên là tượng trưng cho truyền thống đó. Trong ngôi nhà tổ phụ, và trong bất cứ ngôi nhà nào khác, bàn thờ tổ tiên được đặt ở vị trí trung ương và tôn quý nhất. Năm 1966, hồi các con còn mới được được chừng bốn năm tuổi, tại các thành phố Huế và Đà Nẵng, gia đình nào cũng mang bàn thờ tổ tiên ra đường để chặn cuộc tiến công của xe tăng và thiết giáp. Người ngoại quốc cứ ngỡ là các vị lãnh đạo tôn giáo xứ ta muốn sử dụng tôn giáo làm vũ khí chính trị, nhưng ta nghĩ khác. Ta nghĩ rằng đó là dân tộc ta đã muốn chống lại bạo lực bằng sức mạnh truyền thống của nền văn hóa dân tộc. Các con có thấy một cuộc bộc lộ tâm tư nào mà bi tráng như thế hay chưa?

Bàn thờ tổ tiên còn là biểu tượng rất quan trọng cho truyền thống dân tộc. Nhờ bàn thờ ấy mà chúng ta cảm thấy sự hiện diện của ông bà cha mẹ bên ta, nhất là vào những dịp Tết nhất và kỵ giỗ. Trong ngày kỵ giỗ, người gia trưởng trong khi khấn vái thực sự xúc tiếp với tổ tiên mình. Lấy cớ rằng sự thờ cúng tổ tiên là mê tín mà dẹp bỏ bàn thờ tổ tiên, ta thấy đó là một hành động phá hoại văn hóa rất nguy hại. Nếu bàn thờ tổ tiên mà bị dẹp bỏ thì ai trấn ngự trên bàn thờ tổ quốc? Và bàn thờ tổ quốc còn có nghĩa lý gì? Người mà không có linh hồn thì nước làm gì có?

 

 

Khơi Nối Được Chất Liệu Văn Hóa

Dân tộc ta ngày xưa có tục đốt vàng mã mà bây giờ ta gọi là một hủ tục. Ta chê đó là mê tín. Ta không tin rằng đốt áo quần tiền bạc bằng giấy thì thân nhân ta ở cõi âm có áo quần để mặc và tiền bạc để tiêu xài. Ta không thấy được rằng hành động đốt vàng mã biểu hiện lòng thương nhớ lo lắng của người còn sống đối với người đã khuất. Cái chất liệu văn hóa của sự đốt vàng mã là lòng nhớ thương và niềm chung thủy. Ta có thể bãi bỏ tục đốt vàng mã, lấy cớ rằng điều đó có hại cho nền kinh tế quốc gia, nhưng ta chỉ có thể và chỉ nên làm như thế sau khi đã tìm ra những hình thức sinh hoạt văn hoá khác thay thế cho việc đốt vàng mã. Nếu không thì ta đã vô tình dẹp bỏ một nếp sống tình cảm rất trung hậu và đẹp đẽ trong truyền thống văn hóa ta. Nói tới cái lợi và cái hại kinh tế thì không cùng. Chế tạo vũ khí và theo đuổi chiến tranh thì hại cho kinh tế vô cùng mà ta không hề nói tới. Ta có thể xuất tiền hàng triệu ra mua thức này thức khác, nhưng ta đâu có thể mua được lòng thương nhớ và nghĩa vẹn toàn bằng tiền bạc. Vậy thì tại sao ta nói đến cái hại kinh tế của sự đốt vàng mã. Pháo ta đốt ngày Tết cũng có hại kinh tế lắm chứ. Nhưng ta cứ đốt, bởi vì nó cho ta niềm vui và lòng hy vọng ở năm mới hạnh phúc và thịnh vượng hơn.

Cách đây hai chục năm, hồi các con còn trứng nước ta có viết một đoản văn tên là Bông Hồng Cài Áo về tình mẹ con. Từ ấy đến nay, năm nào giới trẻ xứ ta cũng tổ chức hội Bông Hồng Cài Áo. Đoản văn ấy đã cảm động được trái tim của tuổi trẻ, đã làm cho họ ý thức được sự quý giá của bà mẹ bên mình, đã làm cho bao nhiêu người được sung sướng, con cũng như mẹ. Tuy nó không phải là một cuốn kinh như kinh Vu Lan nhưng nó cũng có thể có một tác dụng tương tợ như tác dụng kinh Vu Lan. Tuy nó rất khác với sự đốt vàng mã, nó cũng nuôi dưỡng được lòng thương yêu như việc đốt vàng mã. Các con hãy nhìn bàn thờ tổ tiên, cây cau, cây nêu, đống rơm, miếng trầu v.v.., hãy lắng nghe những câu ca dao, những lời ru tiếng hát và những tiếng nói tiếng cười của người dân trong xóm v.v.., các con sẽ thấy được những gửi gắm âm thầm của truyền thống văn hóa dân tộc. Nhiệm vụ của các con là khơi nối cho được những giá trị của truyền thống văn hóa dân tộc để có thể làm giàu có thêm cho truyền thống ấy.

 

 

Tôi và Ông

Truyền thuyết một mẹ trăm con cho ta thấy tổ tiên của chúng ta từ ngày xưa đã quan niệm trăm họ như một nhà, và dân tộc ta là một đại gia đình. Ngôn ngữ của ta cũng bộc lộ ý hướng ấy. Tiếng “tôi” trong ngôn ngữ Việt Nam không phải là một tiếng tôi cộc lốc như trong các ngôn ngữ khác. Nói đúng hơn, trong ngôn ngữ ta không có những đại danh từ chỉ nhân vật như je và vous, như I và you, như ngộ và nị. Các con để ý nhận xét mà coi. Nếu đi ngoài đường mà gặp một người thì ta phải thiết lập một thứ liên hệ thân thuộc nào đó giữa ta và người đó trước khi ta có thể mở miệng nói chuyện. Nếu người ấy hơi lớn hơn ta hoặc bằng ta, ta sẽ gọi bằng Anh hoặc Chị và ta tự xưng em. Anh Hai, Chị Ba v.v.., đó là những tiếng ta quen dùng để gọi người trạc tuổi của anh chị ta. Nếu người ấy lớn tuổi hơn ta nhiều, ta gọi bằng Chú, bằng Bác, bằng Dì, bằng Cô hoặc bằng Ông, bằng Bà và ta tự xưng là Cháu. Dùng tiếng tôi thì có vẻ cộc lốc, lạt lẽo. Với lại tiếng “tôi” xưa kia vốn là tiếng khiêm nhường của người thần dân tự xưng với vua, của người đầy tớ tự xưng với chủ. Tôi có nghĩa là bầy tôi (votre sujet) của vua, hoặc tôi tớ (votre serviteur) của chủ. Tiếng “ông và tiếng “ mà ta thường tưởng là tương đương với đại danh từ vous hay you thật ra chỉ là tiếng tôn xưng người đối diện, cho họ đáng bực ông và bà của ta. Tất cả mọi xưng hô trong ngôn ngữ ta đều phải được đặt trong liên hệ gia tộc.

Câu “Cháu xin lỗi bà” ta thiết nghĩ không thể dịch ra Pháp văn là “je vous demande pardon” được. Cái tinh thần của ngữ pháp khiến ta có khuynh hướng muốn dịch: “la petite fille voudrait demander pardon à sa grande mère”. Nếu ta nghe câu tiếng Pháp này không êm tai, đó là tại vì hai văn hóa khác nhau, hai ngôn ngữ khác nhau. Một ngôn ngữ mà không có những đại danh từ nhân vật ngôi nhất và ngôi hai như thế kể cũng hiếm có trên thế giới con nhỉ. Trong những chi tiết như thế, giống nòi đã ký thác cho ta biết bao nhiều niềm ước vọng, biết bao điều mong mỏi. Ta hãy trở lại khai thác tiềm lực của chính ta ngay trong văn hóa ta trước đã.

 

Thầy kéo tôi trở về

Chân Định Nghiêm 

Không ai có thể ngờ rằng tôi đã sống ở Huế hơn một năm rồi. Chính tôi cũng không ngờ nổi. 

Từ khi Làng có thêm xóm Mới, tôi đã rời xóm Hạ để về xóm Mới cư trú hơn hai mươi năm rồi. Làng Mai có đến mười hai xóm cho các sư cô, nhưng tôi chưa từng đổi qua ở xóm khác quá ba tháng. Thầy tôi đã từng nói rằng tôi không đổi trung tâm vì hai lý do. Đó là vì tôi làm trụ trì và biết nói tiếng Pháp. 

Chúng tôi đến từ 42 nước, có 42 quốc tịch khác nhau. Các cư sĩ hay tìm đến các thầy, các sư cô nói cùng một ngôn ngữ với họ, những người mà họ cảm thấy gần gũi vì có thể hiểu rõ được văn hóa và những tâm tư của họ. Số lượng người Pháp về Làng tu học càng ngày lại càng đông, vì vậy các anh chị em tôi mà biết nói tiếng Pháp thì phải ở Làng Mai tại Pháp là lẽ đương nhiên. Và tôi rất hài lòng với những nhân duyên tôi có. 

Không những riêng cho bản thân tôi, tôi rất hài lòng được “an cư lập nghiệp” tại Làng Mai ở Pháp mà tôi cũng đinh ninh rằng đây là nơi mà thầy tôi sẽ sống đến trăm tuổi. Ngày mà Thầy quyết định về lại Huế để sống quãng đời còn lại, tôi hoảng hốt và lo lắng. 

Nhóm thị giả chúng tôi theo Thầy về lại chùa Tổ. Tôi vẫn chưa mở hết hành lý Thầy ra mà chỉ lấy một ít đồ đủ dùng cho một thời gian ngắn. Tôi vẫn hy vọng rằng Thầy sẽ ở đây vài ngày “cho đỡ nhớ” rồi trở về lại Thái Lan. Tôi vừa thưa sư anh Pháp Ấn tôi điều này thì sư anh nói ngay: “Sư em đừng suy nghĩ như vậy. Thầy muốn về đây sống luôn mà. Thầy thích gì là mình đều phải yểm trợ Thầy hết lòng”. 

Một câu nói thật ngắn gọn và đơn sơ thôi mà nó đã làm cho tôi bừng tỉnh. Xưa nay các anh em chúng tôi luôn nghe lời Thầy và yểm trợ thầy mình 200%, nhưng trong tâm trí tôi, tôi vẫn chưa chấp nhận rằng Thầy muốn về sống luôn tại Việt Nam. Chỉ khi nào chấp nhận được thì mới an trú được. Và chỉ khi nào tôi an trú thì tôi mới yểm trợ được Thầy tôi hết lòng được. 

 

 

Trước kia, tôi đã rất mừng vui khi Thầy tôi về lại Việt Nam lần đầu tiên sau 39 năm bị lưu vong. Tôi hạnh phúc cho Thầy nhiều lắm lắm lận. Tôi đã từng nghe Thầy kể nhiều lần rằng Thầy đã dự tính rời quê hương trong vòng ba tháng thôi. Nhưng trong chuyến đi qua Mỹ, ngay sau khi Thầy gửi đến thế giới Lời kêu gọi hòa bình, chính quyền Sài Gòn đã vô hiệu hóa hộ chiếu của Thầy và Thầy đã không được về nước nữa. Những năm đầu, có nhiều đêm trong mơ, Thầy đã thấy mình đang leo lên một ngọn đồi cỏ thật xanh, đang leo nửa chừng thì bị chướng ngại vật và không leo lên được nữa. Bừng tỉnh giấc, Thầy sực nhớ ra rằng mình đang bị lưu vong, đang xa những người mà mình thương quý nhất, đang bỏ lại sau lưng những công trình dang dở. Giấc mơ này cứ lặp đi lặp lại hoài. Cùng lúc đó, Sư cố ở chùa Tổ thỉnh thoảng cũng hay chống gậy đứng nhìn về hướng cổng tam quan mà hỏi thị giả (lúc bấy giờ là Sư thúc Chí Viên tôi): “Thầy về chưa?”. Lần cuối cùng Thầy đảnh lễ Sư cố trước khi lên đường đi Mỹ, Sư cố đã làm lễ đắc pháp cho Thầy, ban cho Thầy một bài kệ và muốn Thầy kế thế Sư cố để làm trụ trì của Tổ đình. Nhưng ngày Sư cố tịch, Thầy có về nước được đâu? Mãi cho đến gần ba mươi năm sau, khi tôi được xuất gia, Việt Nam vẫn chưa giao lưu nhiều với phương Tây. Thỉnh thoảng qua Sơn Cốc, chúng tôi được Thầy trân trọng gắp cho mỗi đứa một trái bùi kho, hay trao cho một cái bánh măng – món quà Thầy mới nhận được từ Việt Nam. Bất cứ một đồ vật gì hay một người nào mới đến từ Việt Nam, còn phảng phất hương thơm từ quê hương, Thầy đều thương quý đặc biệt. Lần đầu tiên được gặp lại một người học trò cũ từ trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, Thầy đã đứng phắt dậy, xoay mặt đi chỗ khác để giấu đi sự xúc động. Khi Thầy rời Việt Nam, người học trò cũ này còn là một sư cô trẻ, bấy giờ đã trở thành Sư bà. Thầy mời Sư bà ngồi xuống dùng cơm với Thầy, Thầy gắp thức ăn bỏ vào chén cho Sư bà, nhưng Sư bà cứ ngồi khóc thút thít. Nhóm các Thượng tọa, các Ni sư và các sư cô đến Làng đầu tiên từ Việt Nam đã được Thầy dẫn đi chơi núi tuyết Pyrénées vào mùa đông, rồi đi chơi biển Bordeaux vào mùa hè và tất cả chúng tôi cùng được đi chơi ké. Đi giảng dạy ở Ấn Độ hay ở Trung Quốc, Thầy hay dành thì giờ để ngồi chơi với các thầy, các sư cô trẻ du học bên đó, hay các Thượng tọa, Ni sư cùng các cư sĩ từ Việt Nam đã tìm cách qua đảnh lễ Thầy. Trong một chuyến hoằng pháp tại Trung Quốc vào năm 1999, Thầy chỉ dãy núi xa xa trước mặt và nói với các thị giả: “Này các con, phía bên kia núi là Việt Nam đó”. 

Nhớ vậy, chúng tôi hạnh phúc vô cùng khi Thầy được về lại thăm quê hương vào năm 2005. Về đến chùa Tổ, Thầy đã giữ lời hứa, đã làm “hướng dẫn viên du lịch”, đưa các đệ tử của Thầy đến từng ngõ ngách để giới thiệu và kể lại cho chúng tôi nghe những kỷ niệm thời Thầy còn làm điệu cách đây hơn sáu mươi năm. Chúng tôi đã chen lấn nhau để được đứng thật gần Thầy mà nghe, để không bỏ sót một chi tiết nào. Một số chúng tôi còn được “xé rào” theo Thầy, được đi thăm những nơi kỷ niệm đặc biệt nằm ngoài chương trình như núi Na, một vài ngôi chùa Huế, tiệm cơm chay Tín Nghĩa ở Sài Gòn,… Nhưng điều làm chúng tôi hạnh phúc nhất vẫn là thấy Thầy trao truyền từ trái tim cho đồng bào ba miền những hoa trái của sự hành trì sau sáu mươi ba năm tu tập, những pháp môn giúp chuyển hóa khổ đau và mang lại hạnh phúc cho cá nhân, cho gia đình và cho xã hội. Đó là ước nguyện của Thầy từ khi mới vào chùa. 

Chuyến về nước năm 2005 đã mang lại cho Thầy rất nhiều hạnh phúc, nhưng Thầy đã mất nhiều tháng ngày sau đó để hồi phục lại sức khỏe. Thầy đã từng quen với những chuyến đi dài để giảng dạy ở nhiều nước trong mấy chục năm qua, nhưng chưa bao giờ có một chuyến hoằng pháp nào làm Thầy mất sức như chuyến đó. Không những Thầy mất sức trong chuyến đi mà Thầy còn phải mất sức trong nhiều tháng trước chuyến đi nữa, vì những cuộc thương thuyết giằng co… Vì vậy mà sau đó, tôi không mong cho thầy tôi về nước nữa. 

Những năm đầu mới xuất gia, hình ảnh tôi có về gốc rễ tâm linh của mình là từ những mẩu chuyện Thầy kể về chùa Tổ, về Sư cố. Những hình ảnh đẹp như những bài thơ, hay những bức tranh vẽ. Đến năm 2000, Thầy lại cho một nhóm anh chị em chúng tôi về Việt Nam lần đầu tiên để được tiếp xúc với truyền thống và học hỏi. Trước khi lên đường, Thầy viết cho chúng tôi bốn câu thơ mà tôi vẫn còn dán trong cuốn nhật ký: 

Con xa đất nước thời thơ ấu
Giọng nói quê hương vẫn ngọt ngào Nề nếp tổ tông cha nắm giữ
Hương sắc quê nhà mẹ truyền trao. 

Chuyến đi này đẹp như một giấc mơ. Về lại Pháp rồi mà ba chị em chúng tôi cứ nhớ nghĩ hoài về quê hương. Nhưng đến khi về lại Việt Nam theo Thầy năm 2005, tôi bắt đầu tiếp xúc thêm với bề mặt khác của thực tế. Bấy giờ, những bài thơ, những bức tranh vẽ trước kia bắt đầu bị nhấm nhem mực đen, làm cho tôi vỡ mộng và thất vọng vô cùng. Tôi trở lại Việt Nam với Thầy năm 2007 và 2008 trong tâm trạng: “Thầy đi thì mình phải đi theo thôi, làm được gì thì làm”. Cho đến khi sự kiện Bát Nhã xảy ra, ngoài sức tưởng tượng, tôi đã tin rằng vậy là xong, duyên thầy trò chúng tôi với Việt Nam đến đây là chấm dứt, và tôi không phải lo lắng về việc thầy tôi bị mất sức cho những chuyến về nước nữa. 

Đó là vì sao cách đây hơn một năm, khi Thầy quyết định trở về sống luôn ở Việt Nam, tôi hoảng hốt và lo lắng cho Thầy. Về đến ni xá Diệu Trạm, một buổi sáng vừa thức dậy, tôi lại nghe tiếng mưa rơi tầm tã liên tục từ mấy ngày qua, lòng tôi nặng trĩu và một tư tưởng hiện lên trong đầu: “Ôi, làm sao mình có thể sống ở đây với cái khí hậu này được?”. Nhìn lên đầu giường, một số đồ đạc của tôi mới đó mà đã mốc xanh lên rồi! 

Ấy vậy mà sau đó, câu nói ngắn gọn của sư anh tôi: “Sư em đừng suy nghĩ như vậy. Thầy muốn về đây sống luôn mà. Thầy thích gì là mình đều phải yểm trợ Thầy hết lòng” đã làm cho tôi hoàn toàn buông thả mọi sự chống cự còn lại để chấp nhận sự thật rõ ràng là Thầy mình muốn trở về sống tại Việt Nam. Tôi cảm thấy như cái nút thắt trong trái tim tôi được tháo tung. Đầu óc tôi rỗng rang, không còn tính toán và lo lắng. Tại sao tôi phải lo? Đã có Sư cố và chư Tổ lo cho thầy tôi rồi. Vài hôm sau trên con đường từ ni xá Diệu Trạm qua chùa Từ Hiếu, tôi mỉm cười ngạc nhiên khi nhận ra rằng mình đang tung tăng đi qua chùa Tổ dưới mưa, vừa đi vừa thưởng thức những giọt nước rơi trên áo mưa và đang nhúng cả bàn chân một cách thú vị vào vũng nước dọc đường. Tôi đang ở trong một tâm trạng hoàn toàn khác hẳn với tâm trạng cách đây vài ngày. Trời mưa càng dầm dề và khí hậu càng ẩm ướt thì mùa xuân lại càng tươi sáng. Tôi đã hiểu được với tất cả sự thích thú vì sao trong các bài ca và câu thơ, thi sĩ hay viết “đón xuân” thay vì “đón Tết”, điều mà tôi đã không thấy khi sống ở Sài Gòn khi nhỏ và ở hải ngoại khi lớn lên. Những cơn mưa dầm bất chợt ngưng rơi. Những đám mây được vén đi để cho những tia nắng ấm soi thẳng vào thành phố Huế và không khí xuân tuôn dậy: chợ hoa tràn ra dọc hai bên đường với bao nhiêu là những chậu mai, đào, cúc, lan,… đủ màu đủ sắc. Năm ngoái và năm nay, thầy trò chúng tôi đều háo hức đi xem chợ hoa. Khắp nơi rộn ràng quét dọn, trồng hoa, chưng hoa quả, gói bánh, nấu bánh, trang trí, tập văn nghệ,… Tôi tận hưởng không khí chuẩn bị đón Tết hết lòng. 

Nơi tôi tạm trú là ni xá Diệu Trạm, nằm trên một mảnh đất rộng bằng khu nhà ăn của xóm Thượng từ hành lang trước nhà Thạch Lang đến nhà trà. Tầng trệt ở tòa nhà chính là phòng ốc các sư cô, trên lầu là thiền đường. Ở tầng trệt của tòa nhà nhỏ hơn bên cạnh đó là nhà vệ sinh, nhà bếp và khu khất thực. Trên lầu có trai đường, nay đã trở thành phòng ốc cho các sư cô. Trước hai tòa nhà có một khoảng sân hẹp và dài, một phần sân được dùng làm nhà ăn ngoài trời với mái che mà các sư em tôi gọi là nhà rạp. Khu vực này cũng được dùng cho nhiều sinh hoạt khác như văn nghệ ngoài trời, pháp đàm, gói bánh, nấu bánh,… Ni xá rất xanh vì mỗi tấc đất đều được tận dụng tối đa. Ngoài những cây mít sai trái đã có sẵn, các sư em đã trồng đủ các loại cây, từ cây cau, cây ngô đồng, cây thông, cây tùng cho tới cây khế, bưởi, xoài, vả, chè, trúc, bồ kết, trầu bà,… 

Ni xá được trang điểm bốn mùa bởi đủ loài hoa trồng dưới đất, treo dọc mái hiên hay cắm trên cửa sổ. Nào là hoa sói, hoa mộc, hoa hồng, hoa cẩm chướng, hoa hoàng hậu, hoa sứ, hoa mân, hoa đồng tiền, hoa xương rồng, hoa lan, ngọc lan, mộc lan, lan đất, mai vàng, mai chiếu thủy, phượng vĩ, nguyệt quế, hải đường, bằng lăng, bạch môn, thạch thảo, dạ yến thảo, cho đến dạ ngọc minh châu, kể không hết. Đa số các sư em tôi nằm giường đôi và bàn học được kéo ra, xếp vào gọn gàng ngay trên giường. Giữa hai cái giường đôi có bắt hai thanh gỗ để treo áo dài. Một chiếc bàn trà thấp được đặt giữa căn phòng để các em có thể ngồi uống trà chung trên bồ đoàn. Không gian riêng của mỗi em nằm gọn lỏn trên chiếc giường của mình. Bước ra khỏi giường là lối đi trong phòng và không gian chung của các chị em cùng phòng. Và mỗi em đều rất sáng tạo với cách trang hoàng riêng cho không gian của mình. Thỉnh thoảng Thầy qua Diệu Trạm chơi và thăm phòng các sư con. 

Mỗi lần như vậy là cả ni xá lại tưng bừng và hạnh phúc cả ngày. 

Trong không gian chật hẹp này, tại đây không hề có khóa tu. Sự kiện lớn nhất trong năm là lễ Vu lan với một chương trình tu học kéo dài ba ngày. Các bậc phụ huynh của các sư em đến tham dự khá đông, từ khắp các miền trong nước. Các sư em rất hồ hởi phấn khởi, xúm xít chấp tác suốt cả tuần để chuẩn bị. Ba ngày thực tập đã rất nuôi dưỡng tình cha con, tình mẹ con và đã mang đến rất nhiều hạnh phúc. Nhưng than ôi, lễ Vu lan vừa chấm dứt thì một khu nhà vệ sinh cũng đóng cửa để được sửa chữa trong suốt một tuần sau đó. Sửa chữa xong, các sư em lại càng hạnh phúc hơn. 

Khi tôi mới về đây, ni xá còn có một vườn rau nho nhỏ, xinh xắn và rất ngăn nắp. Vườn rau xanh nằm về phía bên tay trái ngay đầu ngỏ làm cho bất cứ ai vừa bước vào khuôn viên ni xá cũng cảm thấy tươi mát và dễ chịu. Đó là một góc xanh tươi dành cho những ai thích làm việc với chân tay và thích tiếp xúc với đất Mẹ. Nhưng vài tháng sau đó, để chuẩn bị hậu sự cho Thầy, chính quyền đã đến đổ đất để biến mảnh vườn xanh này thành bãi đậu xe. Đại chúng Diệu Trạm ai cũng buồn, nhưng khi đổ đất xong rồi, không có xe để đậu, và chiều nào các sư em tôi cũng tung tăng ra chơi đá banh ngoài đó. 

Vào mùa hè nóng bức, đại chúng họp quyết định là tối nào nóng trên 30°C thì thiền đường sẽ được bật máy điều hòa cho các sư em nào muốn vào đó ngủ. Những đêm đầu, máy điều hòa vừa bật lên là các chị em tung tăng ôm mền chiếu lên thiền đường. Có khi còn đem sách để lên ngồi học trên đó nữa. Nhưng những đêm sau, thiền đường vắng dần, vì một số em không quen máy điều hòa và đã bị viêm họng. Chị em chúng tôi liền tìm ra một giải pháp mới: chỉ cần một cái mùng xếp kiểu Thái Lan là mình có thể ngủ ngoài trời một cách an toàn dọc hành lang ngoài thiền đường hay ở nhà trà. Thế là tối nào chúng tôi cũng tung tăng với cái mùng xếp, đi kiếm một chỗ mát nhất cho mình. Có một đêm mát quá, chị em chúng tôi ngủ thật say, ăn trộm đột nhập vào ni xá mà cũng chẳng ai hay biết. Và hình như ăn trộm cũng không làm ăn gì được vì không có lối đi! 

 

 

Từ khi Thầy về, cánh cổng giữa Diệu Trạm và chùa Từ Hiếu đã được mở khóa nên đại chúng có thêm không gian để đi thiền hành qua hồ Sao Hôm đến hồ bán nguyệt. Chánh điện chùa Từ Hiếu đã bắt đầu được trùng tu sau Tết năm ngoái. Khi chánh điện cũ bị đập xuống, trong không khí có nhiều bụi và các chị em tôi phải thỉnh Thầy đi biển vài ngày. Chỉ cần lái xe nửa giờ là đến biển, vì vậy thầy trò chúng tôi đi biển cũng được năm lần rồi. Có một lần, Thầy đã muốn các thị giả đưa Thầy ra tắm biển. Thầy thích nước ấm và sóng vỗ quá, Thầy muốn đi ra xa hơn nữa, rồi lại xa hơn nữa. Lại có một lần ở núi, Thầy nằm trên võng ngắm núi cả ngày, chiều tối rồi mà Thầy cũng không chịu vào nhà. 

Nhờ chấp nhận mà tôi an trú được. Và nhờ an trú mà tôi sống vui và tận hưởng được năng lượng của chư Tổ, tận hưởng được những gì đẹp xung quanh tôi. Nhưng thỉnh thoảng, tôi cũng nhớ xóm Mới, nhất là khi nhận được một món quà từ Pháp, như một hộp sô-cô-la Mme Guinguet chẳng hạn. Mở hộp quà ra là tôi ngửi thấy hương vị của cả mùa đông xứ Pháp, mùa của lễ lược. Tôi không biết khi nhận được hủ bùi kho, Thầy có nhớ chùa Tổ như khi tôi nhận được hộp sô-cô-la và nhớ xóm Mới không. 

Những lúc như vậy, tôi phải thực tập an trú trong giây phút hiện tại để không tiếc thương hay buồn khổ, mà trái lại, để cảm thấy vui vui và hạnh phúc vì nhớ rằng mình còn có một quê hương ấm áp đâu đó trên quả địa cầu này. Có phải là tôi đang đi qua những gì mà Thầy đã từng đi qua không? Thầy đã bị kẹt lại ở hải ngoại một mình như một tế bào bị văng ra khỏi cơ thể trong khi tôi thì đang có Thầy, có các sư chị, sư em, cả một đại chúng dễ thương bên cạnh. Thầy bị kẹt lại ở một đất nước mà ngôn ngữ, thức ăn, tập quán, văn hóa, khí hậu, tất cả đều khác lạ. Hộ chiếu của Thầy đã bị vô hiệu hóa năm 1966, nhưng Thầy vẫn còn suy nghĩ phương cách về lại nước cho đến năm 1968, khi Thầy bay đến Hong Kong. Chỉ sau khi đã hiểu rõ rằng các vị Tôn đức và các học trò của Thầy không muốn Thầy về nước mà chỉ muốn Thầy tiếp tục ở hải ngoại để vận động cho hòa bình, Thầy mới chấp nhận và quyết định bay về Pháp để an trú bên Tây phương. Chắc hẳn giây phút Thầy làm quyết định này là giây phút mà từ đó, để có thể sống còn, Thầy đã thực tập một cách ráo riết an trú bây giờ và ở đây. Và sự thực tập này đã trở thành trái tim của những pháp môn Làng Mai. 

Tuy rằng tôi chỉ mới đi qua một phần triệu của những gì thầy tôi đã đi qua, tôi vẫn cảm là tôi hiểu được Thầy thêm một chút. 

Tại Diệu Trạm mỗi ngày, hai sư em được luân phiên làm đệ nhị thân theo tôi qua thất Thầy để làm thị giả vòng ngoài và nhất là, để được đi thiền hành và được ăn cơm với Thầy. Trong số các em, có một vị ít có cơ hội được gần Thầy từ khi xuất gia. Và nhờ Thầy về đây, sư em được thường xuyên gặp Thầy. Mỗi khi khỏe là Thầy đều đi thăm liêu Sư cố và nhiều lần sư em được đi theo. Vào trong liêu, với ánh mắt rất sáng và nét mặt rất tươi, Thầy luôn cung kính chắp tay xá hình Sư cố, bức chân dung đắp bằng lụa nổi mà Thầy đã cúng dường Sư cố năm 1955, nhân dịp lần đầu tiên Thầy về thăm Sư cố từ Sài Gòn. Rồi trăm lần như một, Thầy quán sát từng đồ vật trong liêu với tất cả sự chăm chú và kính cẩn. Rồi Thầy đưa tay sờ nhẹ vào các đồ vật trong liêu một cách trân quý. Sư cố là người đã luôn săn sóc, nâng đỡ và tin tưởng Thầy. Khi chánh điện và liêu Sư cố được trùng tu, Thầy không đi thăm liêu Sư cố được nữa thì Thầy lại tiếp tục đi thăm công trường trùng tu. Được gần Thầy trong im lặng và được chăm sóc chỗ ở của Thầy, tình thầy trò lớn lên trong trái tim sư em và tự nhiên sư em cởi mở ra, tươi vui và mạnh khỏe hơn. Các sư em khác cũng rất hạnh phúc và trông chờ đến phiên mình để được qua ở cả ngày nơi thất Thầy. Vậy mà có một hôm, một danh sách gồm mười sư em sẽ đổi trung tâm qua Làng Mai Thái Lan được công bố, các sư em buồn quá, có em khóc! Thế là đại chúng đành phải quyết định hủy bỏ chuyến đi để các em được ở lại, gần Thầy. Nhưng sau đó vì không còn chỗ cho các sư em mới và các sư chị lớn từ các trung tâm khác trở về, các sư em vẫn phải chuyển xóm như thường, chỉ trễ hơn được nửa năm. 

Nhờ được tiếp xúc với các sư em đệ nhị thân qua thất Thầy mỗi ngày, tôi đã làm quen và nhớ được tên của tất cả các sư em khá nhanh. Thêm vào đó, tôi nhận chăm sóc hai lớp học mỗi tuần và tôi rất hạnh phúc khi được ngồi chung với các em. Các sư em ham học lắm! Chỉ mới có hai tháng sau đó thôi mà tôi đã cảm thấy rất gần gũi và gắn bó với đại chúng Diệu Trạm rồi. Tôi còn suy nghĩ rằng sau này khi trở lại với xóm Mới bên Pháp, chắc tôi sẽ xin đại chúng cho phép tôi trở lại Diệu Trạm mỗi năm ba tháng. Lần đầu tiên tôi cảm nhận được một điều: nơi mà làm cho mình thật sự muốn trở lại là nơi mình thương chứ không hẳn là nơi mình sống sung sướng và tiện nghi. Nơi tôi thương là Diệu Trạm. Các sư em ở đây cái gì cũng cười được, hạnh phúc trong mọi hoàn cảnh. Trong khi đó, nơi thầy tôi thương là một đất nước bao phủ trong lửa đạn. Trong số những người mà Thầy thương, người thì bị ám sát bên bờ sông, người thì tự thiêu, người thì bị mất tích, cho đến người thì bị chết vì tai nạn xe cộ,… Tình thương của Thầy da diết và rộng lớn. 

Tuy rằng tình thương của tôi chắc chắn chỉ nhỏ bằng một phần triệu tình thương của Thầy, tôi vẫn cảm là tôi hiểu được Thầy thêm một chút. 

Đầu tháng 11 vừa rồi, khi Thầy tôi quyết định về lại Làng Mai Thái Lan để khám sức khỏe tổng quát, đi theo Thầy, tôi được sống lại trong bầu không khí an toàn và tiện nghi. Thầy tôi được bao quanh bởi các bác sĩ và y tá, những đệ tử của Thầy. Từ thất của Thầy nhìn ra là dãy núi Khao Yai và không gian bao la. Khí hậu khô ráo và nắng ấm, dù cho nhiệt độ có xuống thật thấp vào đêm. Mỗi sáng, thị giả chỉ cần vén màn lên là Thầy có thể tắm nắng ngay trên giường ngủ. Mỗi ngày, ngoài hai thị giả ở bên Thầy còn có các thầy và các sư chú khác thường xuyên xin được vào gần Thầy để hưởng năng lượng bình an. Nhiều sư cô cũng đến thất Thầy mỗi ngày với niềm hy vọng được đẩy xe hầu Thầy đi dạo. Thầy đi đến đâu là nơi đó lại tấp nập và vui tươi đến đó. 

Khi còn ở Huế cũng vậy. Vào mùa mưa đâu bao giờ có khách du lịch. Ấy vậy mà khi có mặt Thầy tại Huế, các chú tài xế taxi chạy cả ngày. Các nhà khách luôn đầy người, không những đầy người Việt mà còn đầy người ngoại quốc nữa. Họ thường ngồi canh ở tháp chuông để mỗi khi Thầy đi thiền hành, họ được đi theo Thầy. Có những người canh năm, sáu ngày mà cũng vẫn không nản lòng. Họ đến từ miền Bắc, miền Nam, từ các nước Đông Nam Á, từ châu Âu hoặc châu Mỹ. Các ngày quán niệm tại Diệu Trạm cũng đông hơn. Có khi đại chúng được đi thiền hành cùng Thầy quanh hồ bán nguyệt. Ông Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam cùng đoàn Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, cũng như một số lãnh đạo của Chính phủ Việt Nam đã đến thăm Thầy và con đường trước chùa đã được chính quyền địa phương cho tráng nhựa rất đẹp và êm. 

Về lại Thái, tôi tận hưởng từng giây phút mỗi ngày. Cách đây hơn một năm, đây là điều tôi mong muốn mà, mong muốn Thầy về lại đây. Tôi tận hưởng bầu không khí an toàn và tiện nghi. Nhưng mỗi ngày tôi đều nhớ đến các em ở Diệu Trạm. Trên con đường đất từ Diệu Trạm đến tháp chuông Từ Hiếu, trước kia nhìn lên thấy thất Thầy lúc nào cũng hoa lá xanh tươi, đèn đuốc sáng trưng, ấm cúng, đông các thị giả qua lại. Giờ đây tối đến, nhìn lên lại thấy vắng hoe. Các sư em nhắn tin cho tôi rằng không khí ở Diệu Trạm trầm xuống, ai cũng nhớ Thầy. Để làm cho không khí tươi vui lên, các sư chị lớn dẫn các sư em qua thất Thầy để dọn dẹp, trang hoàng, trưng bày triển lãm sách Thầy trong nhà kính thật đẹp. Các sư chị lớn còn tổ chức đốt lửa, đem máy chiếu xuống nhà rạp cho các sư em xem bóng đá giữa hai đội Việt Nam và Thái Lan nữa. Các sư anh thì kêu thợ đến sơn tường ngoài thất Thầy, sửa tường bên trong và xây thêm nhà vệ sinh phía sau. 

Thầy ở lại Thái năm tuần. Mỗi khi có ai từ Từ Hiếu hay Diệu Trạm sang Thái, tôi lại nhờ đem qua cho Thầy thêm cái này, cái kia. Và mỗi lần các sư em Diệu Trạm thấy ai đóng gói đồ đem qua cho Thầy, các em đều rất buồn và cứ hỏi: “Sao lại gửi đồ tiếp nữa à? Sao Thầy chưa về cho rồi mà còn gửi đồ qua đó nữa?”. 

Ngày Thầy quyết định trở về lại chùa Tổ, tôi hăng hái đi làm hành lý với một tâm trạng hoàn toàn khác hẳn với giây phút cách đó hơn một năm. Tôi hạnh phúc ở Thái mà tôi cũng hạnh phúc được trở về. 

Không những Thầy đã trở về mà Thầy còn kéo tôi trở về theo. Thầy đã bắt đầu làm công việc này từ khi tôi mới về Làng xuất gia. Để bắt đầu, Thầy đã cho tôi tiếp xúc với những gì đẹp nhất của văn hóa Việt Nam. Thầy đã dạy tôi văn hóa Việt Nam qua Phật pháp. Sau đó, không cần dùng lời mà Thầy đã kéo tôi trở về để học chấp nhận và thương yêu. Được trở về, tôi nhẹ nhàng và hạnh phúc hơn. Tôi đã thôi làm thân cùng tử để trở về với Sư cố, với chư Tổ. 

 

Bình minh vừa dậy tinh khôi

Chân Trời Ruộng Pháp 

Sư chú Trời Ruộng Pháp người Bồ Đào Nha, xuất gia trong gia đình Cây Bạch Quả vào mùa thu năm 2019 tại Làng Mai, Pháp. Sư chú đang sống và tu tập hết lòng tại xóm Thượng. Dưới đây là những chia sẻ của sư chú về hành trình đến với sự chuyển hóa và trị liệu của mình. Bài viết được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh. 

Để có thể viết về những gì con đã đi qua và điều gì đã đưa con đến với con đường xuất gia, con phải nhìn sâu vào những ký ức rất khó đối diện. Trên thực tế, vẫn còn có rất nhiều điều chưa rõ ràng trong con. Cho dù giờ đây tâm con đã rỗng rang và ổn định hơn nhờ thiền tập, con vẫn thấy khó mà hiểu được tâm mình một cách rốt ráo. Có lẽ con không phải là người duy nhất như vậy. Dù sao đi nữa, con đã có thể bắt đầu hiểu được gốc rễ những khổ đau của mình. Những ký ức trước giờ vẫn bị chôn vùi, vì hậu quả của những chấn thương tâm lý trong quá khứ, giờ đây đã hiển hiện rõ ràng hơn. 

Con nhớ là con đã có cảm giác sợ hãi và không thể kết nối với thế giới bên ngoài. Có một khoảng trống trong lòng mà con không thể diễn đạt và cũng không hiểu được. 

Nhìn lại tuổi thơ và thời niên thiếu của mình là một thử thách lớn đối với con, vì phần lớn những ký ức đó đã bị chôn vùi bởi nỗi đau của việc bị ức hiếp và mất mát người thân. Con thấy nỗi sợ hãi, bất an và trống vắng mà con thường cảm nhận trong gần suốt cuộc đời mình đã hình thành do rất nhiều nhân duyên xa gần, từ ông bà tổ tiên cũng như từ những gì đã đi qua trong cuộc đời hiện tại của con. Thế nhưng khi không có đủ sự sáng tỏ, con không thể chấp nhận chúng như là một phần của mình. Do vậy, gần như suốt cuộc đời, con đã chống cự hoặc trốn chạy chính tâm mình. Khổ đau đã trở thành kẻ thù lớn nhất của con, tàn phá tâm con. 

Con đã lớn lên với tinh thần bất ổn như thế. Đến năm mười chín tuổi, ba con mất vì bệnh ung thư phổi. Không lâu sau đó, một người bạn thân của con cũng qua đời vì tai nạn xe mô tô. Những mất mát ấy đã làm cho tinh thần của con sa sút nghiêm trọng. Con đã cố gắng thật vất vả trong rất nhiều năm để thoát khỏi tình trạng ấy mà không hiệu quả. Các bác sĩ đã nhiều lần chẩn bệnh và con điều trị hết theo đơn thuốc này tới đơn thuốc khác mà không có kết quả. Trong nhiều năm, con tự dùng thuốc theo ý mình. Không gì giúp được con hết. Ngay cả khi con tìm ra được một con đường tâm linh, con cũng không hoàn toàn đi ra khỏi sự tối tăm của tâm hồn. Con cảm thấy mình đang xoay vòng trong một thế giới bệnh hoạn nội tâm lẫn ngoại tại. Và con không đủ sức để dừng lại, quay đầu để thấy phía sau mình chính là bờ. Con thấy hoàn toàn bất lực và bị nhấn chìm trong sự đau khổ của chính mình và của thế giới xung quanh. 

Sự đau khổ ấy không chỉ là sự đau khổ của con người mà còn là sự đau khổ của muôn loài. Tám năm trước, con quyết định hoàn toàn ăn chay trường, không sử dụng các sản phẩm từ sữa và trứng, vì con đã thức tỉnh trước những gì con người đã làm đối với động vật. Cũng như chúng ta, loài vật cũng muốn được hạnh phúc và tự do. Con đã trở thành một người hoạt động cho nhân quyền và bênh vực quyền lợi của động vật. Con không thể làm ngơ trước những gì chúng ta đã và đang làm: bóc lột, hành hạ và giết chóc các loài vì sở thích và tiện nghi. Thời gian trôi qua, không biết cách chăm sóc những khổ đau vô hạn bên trong và bên ngoài mình, con đã hoàn toàn gục ngã, không còn thiết sống nữa và đã gần như đánh mất cả mạng sống của mình. 

Con thấy mình thật may mắn vẫn còn sống sau cơn hôn mê. Mặc dù gia đình và người thân của con đã vô cùng đau khổ khi con muốn lấy đi mạng sống của mình, nhưng con có thể thấy là họ sẽ còn đau khổ hơn nhiều nếu con mất đi. Sự thật là con đã không chết trong ngày hôm ấy về mặt vật lý, nhưng có một cái gì đó xảy ra sâu thẳm bên trong làm con cảm thấy mình như đã chết và được sinh trở lại. 

Con đã lập gia đình trong hơn mười năm với một người rất tuyệt vời. Cô ấy giống như một vị Bồ tát, dạy cho con biết ý nghĩa thật sự của lòng từ bi. Thế nhưng cô ấy lại là người bị con gây ra nhiều đau khổ nhất. Và cũng chính cô ấy là người thấy được, ngay cả trong những giây phút đen tối nhất, con đường mà con sẽ đi là con đường xuất gia. Cô ấy đã nhìn ra điều này rất lâu trước khi chính bản thân con nhận ra nó. 

Tình thương là điều đã mang con đến với Làng Mai – đó là tình thương không điều kiện của gia đình và của người bạn hôn phối của con. Sự tiếp xúc sâu sắc với tình thương ấy khiến con muốn học cách để chuyển hóa tự thân và giúp người khác chuyển hóa. Con không muốn tàn hại thêm nữa. Con đã thấy con đường để thoát ra. 

 

 

Ngày hôm nay con đã là một sư chú trong truyền thống Làng Mai. Vợ cũ của con, người bạn hôn phối mới của cô ấy và mẹ con đã đến dự buổi lễ xuất gia. Đó là một ngày không thể nào quên đối với con. Con đã nhận được rất nhiều năng lượng của thương yêu và hỗ trợ từ đại chúng và gia đình. Thay vì cảm thấy mất đi một người thân, bây giờ họ có cả một gia đình lớn. 

Con đã có thể làm mới lại thâm tình với ba người ấy. Thấy được sự thay đổi và khả năng chuyển hóa khổ đau, con và gia đình bắt đầu liên hệ với nhau một cách sâu sắc hơn. Tình thương dành cho nhau thật hơn và đẹp hơn bao giờ hết. Quá khứ đã thật sự được chuyển hóa. 

Ước nguyện của con khi trở thành một người tu là khả năng tỉnh thức trước những gì sâu xa nhất, những góc cạnh tối tăm nhất của tâm mình để con có thể thấy khổ đau và gốc rễ của khổ đau một cách thật rõ ràng. Nhờ đó con có thể chăm sóc và nhổ bật những gốc rễ ấy với tâm từ bi. Chỉ khi nào con có thể chuyển hóa tự thân một cách sâu sắc con mới có thể giúp cho những loài khác được. 

Trong một thế giới đầy sợ hãi, tuyệt vọng, hận thù, tham đắm, trầm cảm và chết chóc, điều hay nhất mà con có thể làm là học cách dừng lại, thở và ôm ấp những gì đang diễn ra, đang có mặt. Như Thầy đã dạy: Dừng lại chính là một hành động mang tính cách mạng, và biết cách khổ thì mình sẽ khổ ít hơn. Chế tác năng lượng của chánh niệm, định và tuệ, con bắt đầu biết trân quý sự sống một cách sâu sắc hơn. Cuối cùng, con đã nhận ra rằng sự sống đích thực là một phép lạ, tràn đầy những điều mầu nhiệm. Vâng, dĩ nhiên là những nỗi khổ niềm đau trên đời này là vô tận nhưng những nhiệm mầu và cái đẹp cũng vô tận. 

Là người xuất sĩ, con học thay đổi cách suy nghĩ của mình để có thể chế tác năng lượng của niềm vui và hạnh phúc bất cứ lúc nào. Chỉ bằng sự có mặt và an trú một cách hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây, chúng ta có thể thật sự thay đổi thế giới. Làm thế nào ta có thể thay đổi được bất cứ điều gì nếu như quá nhiều những cái ta muốn tiêu trừ vẫn còn đang bám quá sâu trong chính tự thân ta? Chúng ta cần phải bắt đầu từ chính bản thân mình. Không có một thế giới riêng biệt ở bên ngoài ta. Ta chính là thế giới. 

Con là một sư chú rất nhỏ và con đường của con còn rất dài ở phía trước. Những hạt giống của sợ hãi, lo lắng, trầm cảm và ân hận còn nhiều trong con. Nhưng bên cạnh đó, con cũng đã gieo trồng tưới tẩm thêm hạt giống của niềm vui, hạnh phúc, thương yêu, từ bi, tin cậy và vững chãi. Trong khi những hạt giống tốt này càng lúc càng lớn lên nhờ sự thực tập thì những hạt giống kia dần dần được lắng xuống. 

Có thể phải qua nhiều kiếp con mới hoàn toàn được giải thoát khỏi những phiền não của mình. Nhưng ở đây, ngay lúc này, khi đang viết xuống những dòng chữ này, con cảm thấy mình được ôm ấp, bao bọc bởi một sự tĩnh lặng thâm sâu và vô tận. Con thấy thật khỏe nhẹ. Lòng biết ơn vì còn được sống trong giây phút này đang tràn ngập trong con. Con nhận ra rằng trong khi tiếp xúc với khổ đau, ta vẫn có thể chạm được hạnh phúc, đây là điều mà ta có thể làm được. Ta chỉ cần thức tỉnh và trở về. Thức tỉnh là ra khỏi giấc mơ mà mình đã ở trong đó gần như suốt cả cuộc đời. Trở về là đem tâm về với thân. Khi có thể làm điều ấy, ta sẽ thấy mình đang ở trong giây phút hiện tại, giây phút duy nhất mà chúng ta có thể thực sự trải nghiệm sự sống. 

 

 

Hương vườn

Chân Bảo Nghiêm 

Sáng nay em ra vườn

Em thấy một con sâu 

Sâu nằm trên cành lá

Lá xanh sâu cũng xanh 

Sáng nay em ra vườn 

Trông thấy một cành hoa 

Hoa là vị Bồ tát 

Tươi cười trong nắng xuân 

Sáng nay em ra vườn

Vườn em đầy hương thơm  

Hương thơm mùi an lạc 

Hương là hương tình thương 

Tay cầm

Chân Bội Nghiêm 

Hãy dành chút thời gian để nhìn kỹ vào bàn tay, để ý từng chi tiết như lần đầu tiên bạn nhìn ngắm một báu vật. Đôi bàn tay đã song hành cùng tôi 35 năm, nhưng trước đây tôi xem thường và thấy không có gì đặc biệt để cần phải chăm sóc hay biết ơn. Chỉ vài năm gần đây tôi mới nhận ra sự nhiệm mầu, bàn tay giúp trị liệu và làm vơi đi những nỗi đau trong lòng. Đôi bàn tay có mặt để bảo vệ và hiến tặng bởi vì “bàn tay cũng là hoa”. Bàn tay nhắc nhở tôi hãy trở về với giây phút hiện tại để tiếp xúc với những gì đẹp, thiện, lành và bất diệt. 

Đôi khi tôi hình dung hình ảnh lần đầu tiên ba mẹ để ngón tay trỏ vào bàn tay của tôi khi tôi chào đời được vài ngày. Tôi nắm chặt ngón tay đó để cảm nhận được tình thương. Rồi ngày đầu tiên cầm bút để tập viết những chữ cái, thật khó khăn và đầy thử thách. Đến ngày tôi phải tập đi nhiều nơi một mình, không được cầm tay của ba mẹ hay chị, nỗi sợ hãi và lo lắng khởi lên vì không biết phía trước sẽ có những khó khăn gì. 

Một lần trong lúc nghe pháp thoại, hai tay tôi nắm lại với nhau và đột nhiên một nguồn năng lượng chạy từ đỉnh đầu xuống đến gót chân. Tôi rất ngạc nhiên với sự lạ thường này. Bỗng nhiên tôi nhận ra rằng trong đời không phải lúc nào cũng có người bên cạnh để mình nắm tay. Nhưng hai bàn tay của mình vẫn luôn có mặt ở đó thì tại sao mình lại không để hai bàn tay tự nắm lấy nhau để cảm được tình thương, bình an và sự che chở? Tại sao phải đi tìm bàn tay của một đối tượng nào khác ngoài mình? Từ đó tôi thường xuyên làm công việc “tay nắm tay” này. 

Trong một ngày, đôi bàn tay tiếp xúc trực tiếp với biết bao vật dụng nên chúng ta có thật nhiều cơ hội để nếm được hạnh phúc. Xả thọ là một cảm thọ không vui, không buồn, và tần suất có mặt nhiều hơn cảm thọ dễ chịu hay khó chịu. Quá trình của sự tu tập là tìm cách để chuyển hoá xả thọ thành lạc thọ. Thật ra điều này không quá khó để thực hiện. Vào cuối năm 2017, tôi phát lời nguyện: “Trong năm 2018, mỗi khi bàn tay tiếp xúc với vật gì như ly trà, ngòi bút, vô lăng, áo ấm, hay khi cầm tay người khác, trong con sẽ khởi lên lòng biết ơn”. Lời phát nguyện đó đã giúp nuôi dưỡng niềm hạnh phúc mỗi ngày mỗi lớn trong tôi. Những lúc chánh niệm có mặt, cả người tôi nổi “da gà” vì niềm hạnh phúc quá lớn. 

Hãy tưởng tượng khi vào nhà vệ sinh mà không có cửa để đóng, không có chốt để khoá thì nỗi sợ hãi và lo lắng sẽ đi lên nhiều như thế nào. Hay như khi đang có một dĩa thức ăn rất đẹp và ngon nhưng lại không có muỗng, đũa, lúc đó phải làm sao? Vậy nên tôi đang trân quý tất cả những gì tôi cầm được trong tay, cũng không còn xem thường đôi bàn tay mình nữa. Có lần đi bộ và cầm tay mẹ, tôi thầm nghĩ đến những ngày mẹ làm việc vất vả ngoài ruộng đồng, nấu những bữa ăn, giặt áo cho các con, viết những bức thư hay tập cho tôi lái xe, trong tôi tràn đầy lòng biết ơn. 

Những vật đang nằm trong lòng bàn tay nhắc nhở tôi rằng tất cả những gì có mặt trên cuộc đời đều có ý nghĩa và mục đích, không có gì là vô dụng. Kim chỉ giúp khâu vá những chiếc áo rách, trái táo cho thêm dinh dưỡng, ly nước làm vơi đi cơn khát,… Thế thì tại sao đôi khi ta lại hành hạ mình bằng những suy nghĩ cực đoan như: “Sự có mặt của tôi không có ý nghĩa gì, chỉ gây thêm phiền toái! Tôi là người vô ích, vô dụng, vô tích sự”. Mọi vật hiện hữu đều có mục đích, huống gì một con người? Vì vậy, đừng la mắng chính mình, và cũng đừng thu nhận hay chấp nhận những lời la mắng tiêu cực như thế từ bất cứ ai. Bản thân tôi, mỗi khi nhìn hay nghĩ đến những người thân trong gia đình huyết thống và gia đình tâm linh, tôi đều nhận thấy tầm quan trọng của từng người. 

 

 

Có lần tôi nghe câu chuyện của một cô độ tuổi trung niên sống chung với chồng hơn 30 năm. Người chồng thiếu sự tôn trọng nên đã dùng bạo lực với vợ khiến nỗi đau trong cô rất lớn. Điểm đáng buồn ở đây không chỉ là người vợ chấp nhận bị bạo hành, mà người chồng xem chuyện đánh vợ không có gì là nghiêm trọng và không nhận ra rằng mình đang đánh mất hạnh phúc gia đình. Tôi có chia sẻ trong buổi pháp đàm với sự có mặt của cả hai vợ chồng cô rằng: “Khi các em nhỏ đến tu viện tu học, quý thầy và quý sư cô hướng dẫn các em hãy nâng ly nước lên bằng đôi bàn tay để thể hiện sự trân quý và tôn trọng. Ngay từ lúc nhỏ, chúng ta mời các em ý thức việc hiến tặng tình thương, sự tôn trọng và bất bạo động với những đồ vật để sau này các em không dùng hai bàn tay làm đau bất cứ ai”. Nhìn ánh mắt của chú, tôi cảm nhận có lẽ chú đã ngộ ra rằng chú cần thay đổi hành động của mình. 

Ngày tôi xuống tóc xuất gia, ba mẹ ở xa nên không đến tham dự được. Đó là ngày tôi được sinh ra trở lại và tôi rất mong muốn ba mẹ thấy được con gái út dưới hình tướng mới. Tôi tự nghĩ phải làm sao để cảm nhận sự có mặt của ba mẹ trong buổi lễ. Vậy là, trong khi từ chỗ ngồi đi lên để nhận giới, tôi chắp tay và bước từng bước bình an. Tôi nhìn vào hai bàn tay và thầm nói “Tay phải là mẹ, tay trái là ba.” Đó là lần đầu tiên tôi cảm nhận được sự có mặt sâu sắc và vi diệu của ba mẹ khi nhìn vào đôi bàn tay của mình. Giờ đây, dù mẹ đã trở về với đất Mẹ và ba đang ở xa, nhưng điều đó không cản trở sự truyền thông giữa tôi và ba mẹ vì hai bàn tay của tôi vẫn còn nguyên vẹn thì có nghĩa ba mẹ vẫn đang hiện hữu. 

Trước đây tôi không có cảm xúc gì đặc biệt mỗi lần cầm một vật trong tay, nhưng sau này tôi không còn dại dột như thế nữa. Mỗi giây phút, mỗi lần bàn tay cầm hay chạm vào một vật gì thì đó là một cơ hội để tôi cảm nhận, cảm thông, cảm thấu, cảm kích, cảm mến và cảm động chứ không phải để vô cảm hay trầm cảm. 

Mộc Lan ngày 10.11.2019 

 

Còn thương cây táo trên đồi

Chân Chuẩn Nghiêm 

Mỗi lần đi ngang qua đồi táo của Học viện con đều dừng lại để nhìn thật kỹ. Bây giờ đang là mùa đông nên ai cũng có cơ hội nhìn thật rõ dáng hình của từng cây táo. Cây được trồng và lớn lên một cách tự nhiên mà sao có dáng bonsai thật đẹp? Cho dù cây không có một chiếc lá nào nhưng vẫn có một vẻ đẹp riêng. Đến khi xuân về, những cành cây khô ấy lại cho ra không biết bao nhiêu là những chiếc lá non xanh, sau đó là cho hoa, cho trái. Hoa táo đẹp lắm! Ở xóm Mới có cây táo cho hoa rất nhiều và con thường không bỏ lỡ cơ hội ngắm nhìn nó thật sâu, thật kỹ. 

Nụ hoa táo rất đẹp, chúm chím một màu hồng nhạt đầu nụ. Hoa táo phớt chút hồng nhạt trên đầu cánh, đầy đặn và thanh thoát. Hoa táo cũng lâu tàn nên mọi người có thêm nhiều thời gian chiêm ngưỡng. Thật không thể phân biệt được sự già trẻ nơi cây táo. Những cành cây thô cứng, xù xì, có vẻ già cỗi ấy lại tràn đầy sức sống khi mùa xuân về. Nhìn và nghĩ về cây táo, con học được bài học về vô thường rất rõ từ thiên nhiên. Nếu không có vô thường thì không thể có sự thay đổi mầu nhiệm ấy. Sau một vài tháng, cây táo ấy lại mang đầy quả. Những cành táo như gồng mình lên để nâng đỡ và nuôi nấng một đàn con đang tuổi ăn, tuổi lớn, để sau đó hiến tặng những gì tinh túy nhất của mình cho con người. 

Mấy hôm nay, giờ ăn sáng con đều khất thực thêm một hoặc hai miếng táo nhỏ để thưởng thức. Cầm miếng táo trên tay con lại nhớ tới những cây táo trên đồi. Táo cũng có nhiều loại. Khi thì con khất thực được những miếng rất ngọt, khi thì lại rất chua. Cũng có táo xanh, táo đỏ. Khi được miếng táo chua con cũng vẫn ăn rất ngon lành và nghĩ rằng chua cũng rất tốt cho cơ thể. Nếu mình cứ ưa ăn ngọt hoài thì đâu có tốt. Con thầm nghĩ, một người ghép cây giỏi cũng có thể ghép được một cây táo mà khi cho trái thì có cả trái chua và ngọt. Lâu dần, biết đâu cây táo ấy sẽ cho trái vị rất thanh, chua ngọt hài hòa. 

Con nghĩ đến tăng thân, nơi đang nuôi lớn con từng ngày, cũng giống như một cây táo đã được lai ghép. Con cứ tha hồ tận hưởng những trái táo, khi thì ngọt, khi thì không được ngọt lắm. Điều cơ bản là do mình thưởng thức trái táo ấy như thế nào thôi! 

Con qua Học viện đã được hơn bốn tháng, thời gian vừa đủ để con dần quen với đại chúng nơi đây. Chúng xuất sĩ ở đây thật ít. Bên quý thầy chỉ có chín vị, bên quý sư cô thì đông hơn, hai mươi mốt vị. Con số hai mươi mốt là đầu mùa an cư năm nay chứ trước đó thì ít hơn. Rất thương đại chúng Học viện nên bảy sư cô ở Làng đã sang yểm trợ. Từ ngày mới qua con đã thấy sự nỗ lực rất lớn của mỗi huynh đệ. Một người phải lo nhiều việc. Bốn ngày cuối tuần thì công việc nhiều hơn vì thiền 

sinh về tu học khá đông. Điều này cho con thấy là đạo Bụt đang dần đi sâu vào lòng người dân Đức. Chúng xuất sĩ rất được nước Đức yểm trợ. Con thấy con chỉ có lo một việc là tu và học cho tinh tấn mà thôi. 

Bên cạnh những công việc cần phải lo toan vẫn luôn có những câu chuyện vui và nuôi dưỡng con trong đời sống tu học hàng ngày. Con xin viết ra đây để tăng thân cùng vui với con và đại chúng Học viện. 

Niềm vui khi được thêm một tuổi 

Ở Học viện, thường thường, trong ngày xuất sĩ, buổi sáng, đại chúng được nghe pháp thoại Sư Ông, buổi chiều có sinh hoạt ngồi chơi chia sẻ (Be-in) hoặc pháp đàm hay đi bộ, tùy theo sự sắp xếp của ban chăm sóc. Trong ngày xuất sĩ 20 tháng 9, đại chúng được ngồi chơi với nhau vì thời gian qua anh chị em bận tổ chức nhiều khóa tu, rồi sau đó có đến mười ngày làm biếng. Buổi ngồi chơi có trà, bánh và hoa. Đại chúng không nhớ hôm ấy là sinh nhật gia đình xuất gia Cây Sen Trắng, nhưng sau đó thì con đã tự giới thiệu. Thế là con được chúc mừng. 

Tuy đại chúng ở nhà rất ít do có khóa tu bên ngoài, bên quý thầy được ba người, bên quý sư cô được tám người, cộng thêm thầy Thuận Đức (khách tăng) tổng cộng chỉ có 12 người nhưng buổi chia sẻ đã diễn ra thật sâu sắc, cảm động, và… quá giờ. Con nhận thấy rằng các anh chị em của con, những người còn rất trẻ nhưng ai cũng rất thương con đường xuất gia này. Ai cũng thương Thầy, thương tăng thân nên nguyện gánh vác thêm công việc. Sau khi ở nơi này được gần hai tháng thì con đã nhận ra rằng mình thật có lỗi với Thầy, với tăng thân khi đã không chọn nơi này. Nơi đây chỉ có bốn đội luân phiên nên nấu ăn rồi tiếp tục làm công việc khác vào ngày hôm sau thay vì được nghỉ ngơi. Vậy mà ai cũng hoan hỷ để làm. 

Sau buổi chia sẻ, chúng con đã chơi đá cầu với nhau trong tình huynh đệ. 

Chuyện cúng ngọ 

Hôm nay, đội con làm đội chuông nên con được đi cúng ngọ. Sau khi chuẩn bị cơm và nước để cúng Bụt, con đi từng bước thật chánh niệm về thiền đường Vững chãi (Solidity). Học viện có nhiều thiền đường và con đang từ từ nhớ tên các thiền đường để đi cho đúng. 

Xá Bụt, xá Tổ, đặt cơm và nước lên bàn thờ xong con thắp lên ba nén hương, thấy sao khói nhiều quá mặc dù cây hương nào cũng nhỏ xíu. Con sợ hệ thống phòng cháy chữa cháy bắt tín hiệu báo động, nên đi mở cửa. Con đứng ở cửa và cầm ba nén hương đó đưa ra ngoài, đợi cho bớt khói rồi mới dám vào cúng Bụt, nhưng khói chẳng bớt gì cả. Nhớ hôm tụng 14 Giới, sư em con dâng hương bình thường mà còi báo cháy đâu có hú, sao hôm nay con lại sợ nhiều đến như thế! Tuy vậy nhưng con vẫn không dám đi vào vì nghĩ chỉ có mình con ở đây, nhỡ còi báo cháy hú do khói hương này thì con không biết phải làm sao? Rồi xe cứu hỏa tới, cảnh sát tới, đại chúng lại phải trả chi phí từ vài trăm tới một ngàn Euro thì thật là một số tiền khá lớn. 

Thế là con nghĩ ra một cách. Thôi thì mình cắm hương xuống bát hương trước, ba cây hương mà được chia làm ba nơi thì khói còn rất ít nên sẽ không sao. Sau đó mình dâng hương mà không có hương cũng được, Bụt không trách mình đâu. Sau khi tự sắp xếp như thế con thấy khá ổn và con bắt đầu dâng hương, tụng kinh cúng Bụt. 

Cúng ngọ xong, con ngồi yên và nhìn lên Bụt, thấy Bụt đang mỉm cười. Ngoài kia, đại chúng đang đi thiền hành dưới trời thu. 

Chuyện xuôi ngược 

Học viện đang vào thu. Phòng con ở, chỉ cần nhìn ra cửa sổ là thấy ngay một trời thu trước mắt. Lá cây đang dần chuyển sang màu vàng, màu đỏ. Mấy ngày nay trời mưa nên có những giọt nước đọng trên lá. Nhìn càng kỹ, càng sâu lại càng thấy đẹp. Những chiếc lá thu ấy khi có ánh nắng chiếu vào bỗng đẹp hẳn ra. Một người thích chụp hình, yêu thiên nhiên mà bắt gặp cảnh này chắc chắn sẽ không bỏ lỡ cơ hội. Nhiệm mầu của thiên nhiên sẽ được thu vào ống kính. 

Trong cuộc sống, có những việc mình không nên làm ngược. Thế nhưng có những bức hình trở nên rất đẹp nhờ chụp ngược sáng. Những chiếc lá thu còn đọng những giọt nước mưa, có thêm ánh nắng mà được chụp ngược sáng thì đẹp lắm! Cũng như thế, đi tu là đi ngược dòng đời. Nếu ai chưa hiểu thì tưởng rằng những người đi xuất gia là bị thất tình hay chán đời. Họ đâu biết rằng đi tu vui lắm. 

Nhẩm tính, con thấy mình qua Học viện mới hai tháng một ngày mà được tham dự tới hai buổi ngồi chơi chia sẻ, lần nào cũng rất nuôi dưỡng. Con rất biết ơn quý thầy, quý sư cô trong ban chăm sóc đã chuẩn bị rất chu đáo. Con thấy mình như được tiếp thêm lửa – ngọn lửa của bồ đề tâm để bước vào mùa đông rất lạnh trên nước Đức. Thiết nghĩ, con không thể tu hạnh phúc nếu thiếu đi tình huynh đệ. Mà tu tập không có hạnh phúc thì làm sao có thể đi đường dài. Con chỉ ước mong sao cho các huynh đệ mỗi ngày đều thắp được ngọn lửa của bồ đề tâm lên, để đường dài ta cùng nhau đi mãi. 

 

 

Ông chủ tiệm bánh mì 

Nghe kể về ông chủ tiệm bánh mì con không khỏi thán phục. Ông là người Mỹ, đầy nghị lực, đến nước Đức với hai bàn tay trắng. Những ngày đầu tiên trên nước Đức, ông đi rửa chén thuê. Trải qua nhiều khó khăn, bây giờ ông đã trở thành ông chủ của một tiệm bánh mì khá lớn trong vùng Waldbrol. Con đã có cơ hội đi cùng một số quý thầy, quý sư cô đến thăm tiệm. Ngoài bánh mì, tiệm ông còn làm nhiều loại bánh ngọt khác nữa. Mấy năm gần đây, ông thường tặng bánh sinh nhật mỗi khi Học viện được thêm một tuổi. Trong ngày Phật đản cũng vậy, một chiếc bánh sinh nhật rất to với hàng chữ Happy Birthday Buddha (Mừng ngày Bụt Đản sanh) thật dễ thương được ông mang đến. 

Nhân duyên để ông biết đến Học viện cũng là một câu chuyện đầy thú vị. Sư cô Song Nghiêm kể: “Mầu nhiệm lắm em à, chị đang tính đi kiếm xem có tiệm bánh mì nào gần đây không, để xin bánh mì cũ về cho đại chúng chứ bánh mì cũ người ta cũng phải mang đi bỏ thì uổng, trong khi mình không có bánh mì để ăn”. Có lẽ Bụt Tổ đã đưa đường chỉ lối cho ông. Ông đã đọc sách của Sư Ông lúc ở Mỹ. Khi nghe nói tại Đức có một trung tâm thiền tập của Sư Ông thì ông đã đi tìm, nhưng hai năm trôi qua ông vẫn chưa tìm ra, dù từ Học viện đến tiệm bánh mì của ông chỉ có 30 km. Rồi một ngày, ông có được số điện thoại của văn phòng và ông đã gọi điện đến. May quá, đang giờ văn phòng mở cửa nên thầy Pháp Thiên bắt máy. Qua điện thoại, ông nói rằng ông đã tìm Học viện suốt hai năm qua và rất muốn cúng dường. Sư cô Song Nghiêm đã làm một cái hẹn với ông. 

Ngày sư cô hẹn với ông cũng lại là một câu chuyện khá thú vị. Sư cô hẹn ông chín giờ sáng, nhưng hôm đó sư cô lại phải đi bưu điện. Khi lái xe đi ngang qua phía trước tòa nhà lớn thì sư cô thấy một cái xe lớn chở bánh mì. Sư cô muốn đến hỏi để xin bánh mì cũ nhưng nghĩ lại mình có hẹn nên phải về liền kẻo trễ hẹn với người ta. Ông chủ tiệm bánh mì dừng xe ở đó, đang không biết rẽ ngã nào để vào Học viện vì đoạn đường đó có hai ngã rẽ. Nhìn qua cửa xe, ông thấy người lái xe là một sư cô nên ông đã lái xe theo sau. 

Vô đến cửa chính của chùa Đại Bi, ông đến hỏi thăm sư cô. Sư cô nói qua loa với ông vài câu rồi xin phép đi vì có hẹn thì ông nói: “Cô có hẹn với tôi nè”. Sư cô nhìn ông không khỏi ngạc nhiên và mừng rỡ. 

Sau khi nghe ông nói là ông muốn cúng dường thì thầy Pháp Ấn đã cho ông biết những công việc cần làm của Học viện, mỗi công việc cần số tiền là bao nhiêu thì ông vẫn rất điềm tĩnh ngồi 

nghe. Sau đó ông trả lời: “Tôi không có một số tiền lớn như vậy nhưng tôi có bánh mì”. Ông có mang theo bánh mì còn nóng để mời thầy và sư cô. Sư cô lại một lần nữa ngạc nhiên nhưng đầy hạnh phúc, sư cô nhìn ông cười và nói: “Chúng tôi đang rất cần bánh mì của ông. Ông có thể cho chúng tôi xin bánh mì cũ cũng được”. Ông nói: “Không, tôi không thể cúng dường quý vị bánh mì cũ. Tôi sẽ cúng dường quý vị bánh mì nóng mỗi sáng”. Từ đó, ông cho nhân viên chở bánh mì nóng tới mỗi buổi sáng. Nhưng như vậy thì hơi nhiều, đại chúng không dùng hết nên bây giờ bánh mì được mang đến ba ngày cố định trong tuần. 

Khi con nghĩ đến ông chủ tiệm bánh mì, thì hình ảnh của một vị Cấp Cô Độc hiện ra trước mắt con. Đại chúng Học viện biết ơn ông vô cùng. 

Mùa Giáng sinh 

Đây là mùa Giáng sinh đầu tiên con có mặt tại Học viện. Như đã thành thông lệ, cứ đến ngày 24 tháng 12, quý thầy, quý sư cô Học viện rất vui được chào đón tăng thân địa phương và những người láng giềng về đón Giáng sinh trong không khí đầm ấm của một đại gia đình tâm linh. Năm nay, thiền sinh về chật cả thiền đường trong giờ pháp thoại. Mùa Noel, thay vì cả gia đình đi chơi đâu đó thì về Học viện, để vừa nghe pháp, vừa được chơi trong môi trường rất lành, và được ăn cơm chay nữa. 

Sau giờ pháp thoại, đại chúng cùng nhau rước đèn từ nhà ra đến tháp chuông. Trời mưa và có gió khá mạnh nên nến đã bị tắt khi vừa đi được một đoạn, nhưng đại chúng đã đi cùng nhau dưới mưa rất bình an. Sau giờ ăn chiều, đại chúng đã cùng ngồi chơi, có mặt cho nhau trong nhà ăn. Tất cả đã cùng nhau làm nên một buổi tối đầy ý nghĩa. 

Con nghe nói chưa có năm nào mà thiền sinh lại cứ muốn ở lại chơi thêm, chưa muốn về như năm nay. Đúng ra thì sau những tiết mục văn nghệ, khi đã cầm tay nhau, đứng thành vòng tròn và hát bài Không đi đâu cũng không cần đến thì sau đó là lúc chia tay. Thế nhưng mọi người ngồi lại, không muốn về. Vậy là văn nghệ cây nhà lá vườn được tiếp tục. Một bạn gái trẻ, đã từng tham dự khoá tu cho người trẻ (Wake Up) ở Làng lên hát quá hay khiến đại chúng vô cùng hạnh phúc. Tiếp theo, thầy Pháp Ấn bất ngờ được mời hát và thầy rất hoan hỷ nhận lời. 

Đã 10 giờ khuya, phải kết thúc thật rồi. Con chưa biết nhiều tiếng Đức nên chỉ biết nhìn vào mắt của các cô chú, các anh chị người Đức mà nói “Vielen Dank” (Cám ơn nhiều) thôi.

Mọi người đã ra về, con thầm cầu nguyện cho ai ai cũng có được một cuộc sống bình an, hạnh phúc. Học viện đã có trong trái tim của người dân địa phương rồi, và nơi đây đã trở thành chỗ quay về để đoàn tụ. Con chợt nhớ đến Thầy cùng câu: 

‘‘Có con cho nên mới có Thầy. Có một bếp lửa để khi mình đi đâu thì nhớ về. Thầy trò mình hãy chăm sóc bếp lửa hồng để bếp lửa còn cháy mãi, cho mình và cho bè bạn”. 

(Giáng sinh 2012). 

Chỉ còn vài tuần lễ nữa là hết năm 2019, giờ này ban làm báo, quý thầy, quý sư cô, sư chị, sư em của con đang miệt mài ngày đêm để báo được ra đúng thời khắc Giao thừa. Con trân quý biết bao đời sống xuất gia này, và con không cầu cho không có những khó khăn, chỉ cầu cho con được chân cứng đá mềm. Dù thế nào đi chăng nữa thì con vẫn Còn thương cây táo trên đồi.