Tích môn, bản môn

Trích trong sách: “Không sinh không diệt đừng sợ hãi” của Sư Ông Làng Mai

 

 

Tích môn và bản môn

Ngày thường ta nhìn vào thực tại qua bình diện tương đối hay tích môn, nhưng ta cũng có thể nhìn các thực tại đó qua bình diện tuyệt đối hay bản môn. Thực  tại có thể biểu hiện ra ở cả hai bình diện tương đối và tuyệt đối. Chúng ta cũng vậy. Chúng ta đều có những điều cần làm trong bình diện tương đối, nhưng mỗi chúng ta cũng có những quan tâm trong bình diện tuyệt đối.

Khi chúng ta tìm Thượng đế hay Niết bàn ở tình trạng an bình sâu xa nhất, là chúng ta đi tìm tuyệt đối. Chúng ta không chỉ quan tâm tới những chuyện bình thường trong đời sống như danh vọng, lợi nhuận, địa vị xã hội, các dự án mà chúng ta cũng quan tâm tới bản chất chân thật trong ta. Thiền quán sâu xa là bắt đầu thực hiện sự quan tâm tới bình diện tuyệt đối của mình.

Sóng là nước

Khi bạn nhìn trên mặt biển, bạn thấy các đợt sóng lên xuống nhấp nhô. Bạn có thể mô tả sóng này cao, sóng kia thấp, sóng lớn hay nhỏ, sóng mạnh hay yếu và sóng đẹp hay không đẹp. Bạn có thể mô tả sóng lúc bắt đầu, lúc chấm dứt, sóng được sinh ra và sóng bị hoại diệt. Giống như trong tích môn hay trong bình diện tương đối, chúng ta quan tâm tới sinh-diệt, mạnh-yếu, đẹp-xấu, bắt đầu và chấm dứt… của mọi sự vật.

Nhìn sâu, chúng ta thấy sóng đồng thời cũng là nước. Một lọn sóng hình như muốn đi tìm bản thể của nó. Nó có thể đau khổ vì rối ren. Ngọn sóng có thể nói: “tôi không lớn bằng các ngọn sóng kia,” “tôi bị đàn áp,” “tôi không đẹp bằng các sóng khác,” ”tôi sinh ra đời và tôi sẽ chết đi.” Ngọn sóng có thể đau khổ vì các ý nghĩ đó. Nhưng nếu sóng uốn mình xuống để tiếp xúc với bản chất của nó thì nó sẽ thấy nó cũng là nước. Sự sợ hãi và rối ren của sóng sẽ biến mất.

Nước không bị ràng buộc bởi sự sinh diệt của sóng. Nước được tự do không sợ cao hay thấp, đẹp hay xấu. Khi nói về các tiếng cao-thấp, đẹp-xấu, đó chỉ là những từ ngữ nói về sóng. Đối với nước, những từ ngữ đó vô giá trị.

Bản chất thật sự của chúng ta có tính cách vô sinh bất diệt. Chúng ta không cần phải đi đâu mới tiếp xúc được bản chất chân thực của mình. Sóng không cần đi tìm nước vì chính nó là nước. Chúng ta không cần đi tìm Thượng đế hay Niết bàn, hay bản chất tuyệt đối, vì chúng ta là Niết bàn, là Thượng đế.

Bạn chính là điều bạn đi tìm. Bạn chính là thứ bạn đang muốn trở thành. Bạn có thể nói với sóng: “Sóng ơi, con chính là nước rồi, con không cần đi đâu để tìm nước nữa. Bản chất của con chính là bản chất không phân biệt, không sống chết, không có cũng không không.”

Hãy thực tập như sóng. Hãy kiên trì nhìn sâu vào chính mình và nhận biết rằng bản thể của bạn là vô sinh bất diệt. Bạn sẽ đạt tới tự do và vô úy bằng cách này. Phương pháp thực tập này giúp chúng ta sống không sợ hãi và chết một cách bình an, không hối tiếc.

Nếu bạn đang mang trong mình một nỗi đau lớn, nếu bạn mới mất người thân thương, nếu bạn đang sống trong sự lo sợ cái chết, trong lãng quên và hủy diệt, xin hãy học phương pháp này và bắt đầu thực tập. Nếu bạn thực tập giỏi, bạn sẽ có thể nhìn đám mây, bông hồng, hòn sỏi và em bé bằng con mắt mà Bụt đã mở ra cho bạn. Bạn sẽ hết sợ hãi, lo âu và phiền não. Bạn sẽ có sự an bình thật sự, sẽ trở nên mạnh mẽ và vững vàng, có thể mỉm cười với mọi chuyện xảy tới. Sống như thế, bạn có thể giúp được nhiều người chung quanh bạn.

Bạn ở đâu trước khi ra đời?

Nhiều người được hỏi: “Bạn sinh ngày nào?” Nhưng bạn có thể trả lời bằng một câu hỏi hay hơn: “Trước ngày gọi là sinh nhật của tôi thì tôi ở đâu?”

Nếu bạn hỏi một đám mây: “Mây sinh ngày nào, trước khi sinh ra, mây ở đâu?” Nếu bạn hỏi nó: “Mây lên mấy tuổi rồi? Mây sinh ngày nào vậy?” rồi bạn lắng nghe, bạn có thể nghe được câu trả lời.

Bạn có thể tưởng tượng mây sinh ra đời cách nào. Trước khi sinh ra, nó là nước trên mặt đại dương, hay trên mặt sông, rồi nước bốc thành hơi. Mây cũng là mặt trời vì chính mặt trời làm cho nước bốc thành hơi. Gió cũng có trong mây, vì gió làm cho hơi nước tụ lại thành đám mây. Mây không tới từ hư không, mây chỉ là sự chuyển hóa hình thức. Không có chuyện một vật sinh ra từ hư không.

Sớm hay muộn, mây cũng sẽ biến thành mưa hay tuyết, hay nước đá. Nếu bạn nhìn sâu vào mưa, bạn sẽ nhìn thấy mây. Mây không mất đi, nó biến hóa thành ra mưa và mưa biến thành ra cỏ, cỏ vào trong con bò để rồi biến ra sữa và cà-rem bạn ăn đó. Hôm nay khi ăn một ly cà-rem, bạn hãy để thì giờ nhìn nó và nói: “Chào đám mây, ta nhận ra ngươi rồi.” Làm như vậy, bạn đã giác ngộ được bản chất thật của cà-rem và của mây. Bạn cũng có thể nhìn thấy biển, sông, thấy hơi nóng mặt trời, thấy cỏ và con bò trong ly cà-rem.

Nhìn cho sâu, bạn sẽ không thấy được ngày sinh thực và ngày chết thực của đám mây. Chỉ có chuyện đám mây chuyển hóa thành ra mưa hay tuyết. Không có gì thực sự chết đi vì luôn luôn có sự nối tiếp. Mây là tiếp nối của biển, của sông, của sức nóng mặt trời và mưa là tiếp nối của mây.

Trước khi sinh ra, đám mây đã có đó rồi. Hôm nay, khi bạn uống một ly sữa hay một tách trà, ăn một cái cà-rem, xin hãy theo dõi hơi thở. Hãy nhìn vào ly sữa hay ly trà và gửi lời chào đám mây.

Bụt dùng nhiều thời gian để nhìn thật sâu, chúng ta cũng vậy. Bụt không phải là Thượng đế, Ngài là một con người giống như chúng ta. Ngài đau khổ nên Ngài tu tập, vì vậy Ngài vượt thoát được khổ đau. Ngài có trí tuệ lớn, có hiểu biết, trí tuệ và từ bi. Vì thế nên chúng ta nói Ngài là bậc thầy, là huynh trưởng của ta.

Nếu chúng ta sợ chết là bởi vì chúng ta không hiểu rằng không có gì thực sự mất đi. Người ta nói Bụt đã chết, nhưng không phải thế. Bụt còn đang sống. Khi nhìn chung quanh, ta sẽ thấy Bụt dưới nhiều hình thái. Bụt đang ở trong bạn vì bạn có thể nhìn sâu và thấy được mọi sự đều không thực sự được sinh ra hay mất đi. Chúng tôi có thể nói bạn là một hình thức mới của Bụt, một tiếp nối của Bụt. Đừng coi thường chính mình. Hãy nhìn ra chung quanh, bạn sẽ thấy Bụt được tiếp nối ở khắp nơi.

Tôi có phải là tôi ngày trước?

Tôi có một tấm hình chụp hồi tôi mười sáu tuổi. Đó có phải là hình tôi chăng? Tôi không tin lắm. Ai là chú bé trong hình? Đó chính là tôi hay là một ai khác? Hãy nhìn cho kỹ trước khi trả lời.

Nhiều người nói rằng đứa bé trong hình và tôi là một. Nếu chú ta là tôi thì sao trông chú khác quá vậy? Chú bé đó còn sống hay đã chết? Chú ta không giống tôi mà cũng không khác tôi. Một số nhìn tấm hình, cho rằng chú bé trong đó không còn đây nữa.

Con người ta gồm có cơ thể (sắc), các cảm xúc (thọ), các nhận thức (tưởng), các loại tâm (hành) và các hiểu biết (thức). Mọi thứ đó đều đã thay đổi trong tôi kể từ khi chụp tấm hình đó. Cơ thể chú bé trong hình không còn là cơ thể của tôi ngày nay, một ông già bảy mươi tuổi. Các cảm thọ khác nhau, nhận thức cũng rất khác. Hầu như tôi hoàn toàn khác với con người chú bé đó, nhưng nếu chú ta không hiện hữu thì tôi cũng không có mặt đây được.

Tôi là sự tiếp nối, cũng như mưa là tiếp nối của đám mây. Khi nhìn vào tấm hình, bạn có thể đã thấy tôi khi già lão. Bạn không cần phải đợi năm mươi lăm năm. Khi cây chanh nở hoa, bạn có thể không nhìn thấy trái chanh nào, nhưng nếu nhìn cho sâu, bạn sẽ thấy trái chanh đã có đó rồi. Bạn chỉ cần một nhân duyên để làm cho chanh hiển hiện, đó là thời gian. Trái chanh có sẵn trong cây chanh. Nhìn cây chanh bạn chỉ thấy cành, lá và hoa chanh. Nhưng với thời gian, cây chanh sẽ biểu hiện ra thành trái chanh.

 

*** Bạn mến, hôm nay, thương mời bạn cùng thực tập “Quán niệm khi tắm”

Để ra từ nửa giờ đến 45 phút để tắm. Đừng có một giây nào hối hả. Từ lúc sửa soạn bồn tắm cho đến lúc mặc xong áo quần sạch lên mình, giữ cho động tác thật nhẹ nhàng chậm rãi. Để ý tới mọi phần vị trên cơ thể, không phân biệt và e ngại, chú ý tới từng gáo nước trên cơ thể. Theo dõi hơi thở. Thấy rằng bồn tắm cũng mát và thơm như một hồ sen mùa hạ thơm mát và tinh khiết.

Chúc bạn thực tập vui!

 

Pháp lạc, trở về quê hương tâm linh cao chót vót

(Trích pháp thoại trong khóa giảng “Truyền thống sinh động của thiền tập đạo Bụt” của Sư Ông Làng Mai ngày 5 tháng 12 năm 1996)

Pháp lạc, pháp nhũ

Đạo Bụt có danh từ Pháp lạc, có nghĩa là niềm vui, là hạnh phúc trong khi thực tập chánh pháp. Chúng ta cũng có danh từ Pháp nhũ. Nhũ tức là sữa, và sữa là thức ăn rất bổ dưỡng. Chánh pháp có tác dụng nuôi dưỡng và trị thương cho chúng ta. Khi ngồi nghe một bài pháp, chúng ta có thể hưởng pháp lạc và hưởng được pháp nhũ. Nếu ngồi nghe với trí năng, thì chúng ta cũng có thể có hạnh phúc khi tiếp xúc được với những tư tưởng cao siêu và nhiệm mầu của Phật pháp. Nhưng niềm vui đó nó nhỏ bé so với pháp nhũ. Pháp nhũ mầu nhiệm hơn, có tính cách nuôi nấng và trị liệu, còn pháp lạc chỉ là niềm vui khi thực tập.

Pháp lạc sâu hay cạn là tùy cách ta nghe pháp thoại. Nếu chỉ biết sử dụng trí năng để tiếp nhận Phật pháp, thì chúng ta chỉ thấy được cái đẹp của những tư tưởng Phật giáo, mà những cái đẹp đó, những tư tưởng đó không thấm sâu vào trong con người của chúng ta để nuôi dưỡng chúng ta được. Đó là vì con người của chúng ta không phải chỉ được làm bằng trí năng. Con người được làm bằng năm yếu tố lớn, và trí năng chỉ là một phần nhỏ của năm yếu tố đó mà thôi. Năm yếu tố đó là sắc, thọ, tưởng, hành, và thức.

 

 

Trước hết, pháp lạc có đi vào được trong sắc, tức là trong hình hài của ta hay không? Pháp lạc phải đi vào hình hài, hình hài vật chất. Pháp lạc còn phải đi được vào những cảm thọ của chúng ta. Trong ta có một dòng sông cảm thọ, đêm ngày lưu chuyển, và mỗi giọt nước trong dòng sông đó là một cảm thọ. Phẩm chất đời sống của ta tùy thuộc vào phẩm chất của những cảm thọ trong dòng sông đó. Nếu trong dòng sông đó chỉ có những giọt cảm thọ đau buồn, thì đời sống của chúng ta không có giá trị, chúng ta không làm được niềm vui và hạnh phúc cho người khác. Vì vậy nghe pháp thoại đúng thì lời pháp phải thấm vào trong hình hài của chúng ta và cũng phải thấm vào trong dòng sông cảm thọ của chúng ta.

Làm thế nào để khi nghe pháp chúng ta có những lạc thọ? Nhờ lời pháp mà những khổ thọ ở trong dòng sông đó được ôm ấp, rồi được chuyển hóa. Những cái gọi là xả thọ, tức là những cảm thọ không vui, không buồn, không khổ, không lạc, cũng được ôm ấp để biến thành lạc thọ. Đối với những lạc thọ có sẵn, những lạc thọ lành mạnh, khi được chánh pháp ôm ấp, nó lớn lên thêm. Vì vậy cho nên pháp lạc có công năng nuôi dưỡng cảm thọ. Khi nuôi dưỡng được thì nó trị liệu được. Chúng ta có chất liệu của sự sầu khổ, sự tuyệt vọng, đau nhức ở trong ta. Nếu pháp nhũ thật sự là thức ăn bổ dưỡng thì ngoài tác dụng nuôi dưỡng, nó còn có tác dụng trị liệu.

Ở Đông phương, về phương diện y khoa không có ranh giới ngăn cách giữa thức ăn và dược liệu, Ví dụ khi chúng ta ăn chè đậu xanh, hay ăn cháo đậu xanh, thì bát cháo, bát chè đó có thể được gọi là thức ăn mà cũng có thể được gọi là thuốc chữa trị. Khi trong người ta nóng, bị nổi mụt trên mặt, và ngủ không được, thì chúng ta ăn đậu xanh. Đậu xanh làm cho cơ thể mát mẻ. Vì vậy cháo đậu xanh vừa là thức ăn, mà cũng vừa là y dược. Chè Sâm bổ lượng cũng vậy, tất cả các thức ăn đều là y dược, và tất cả các thứ y dược cũng đều là thức ăn. Tây phương cũng đã có cái thấy đó. Chúng ta chỉ cần ăn thôi là chúng ta có thể lành bệnh, và ăn là một nghệ thuật. Biết rằng mình có nên ăn cái đó không, biết rằng mình nên ăn ít hay ăn nhiều cái đó, những cái biết đó đã là chánh pháp để chữa trị rồi.

Trong ta có dòng sông hình hài gọi là sắc. Mỗi tế bào của cơ thể là một giọt nước trong dòng sông hình hài, đó là sắc ấm, là sắc uẩn. Trong ta có dòng sông thứ hai là dòng sông cảm thọ. Pháp lạc phải thấm nhuần vào hai dòng sông đó.

Dòng sông thứ ba của ngũ uẩn là dòng sông tưởng. Tưởng tức là tri giác, là nhận thức của chúng ta. Tưởng đây không phải là tư tưởng mà thôi, cũng không phải là tưởng tượng mà thôi. Tưởng đây là tất cả sinh động của tri giác, tiếng Anh dịch là Perception.

Khi nhìn một bông hồng, chúng ta có tri giác về bông hồng và ta nói: Có bông hồng trước mặt tôi. Cái biết đó gọi là một tưởng. Khi nhìn bàn tay thì ta biết rằng đây là một bàn tay, đây là bàn tay của tôi. Đó cũng là một cái tưởng. Cái tưởng của ta có thể phù hợp với sự thật. Cái tưởng của ta có thể không phù hợp với sự thật. Khi cái tưởng, cái tri giác của ta không phù hợp với sự thật, thì chúng ta gọi nó là một vọng tưởng. Vọng tưởng là một tri giác sai lầm, ngược lại với sự thật. Tâm Kinh Bát Nhã gọi là vọng tưởng điên đảo. Điên đảo tức là lộn ngược. Thực tại là như vậy, nhưng trong cái tưởng của mình, mình thấy nó hoàn toàn khác, đó gọi là một vọng tưởng điên đảo.

  Nghe pháp là một thiền tập để chuyển y

Khi ngồi nghe pháp thoại, chúng ta phải làm thế nào để lời pháp đi vào được trong tâm hành đang có mặt trong giây phút hiện tại. Tâm hành đó là buồn, là vui, là giận, là ghét, là lo lắng. Ta phải làm thế nào để trong khi nghe, pháp có thể đi xuyên vào sắc, thọ, tưởng, hành, và đi sâu được cả vào thức, pháp phải đánh động tới được chiều sâu của tâm thức. Đó mới là biết nghe pháp thoại. Nghe pháp là một thực tập. Nghe pháp không phải là học lý thuyết để đem ra áp dụng vào sự thực hành.

 

 

Ngồi nghe pháp, tự thân nó đã là một sự thực tập rồi, nghe để có một sự thay đổi tận gốc. Mà gốc là ở múi quít thứ năm. Để cho pháp đi lọt vào trong thức, đánh động những hạt giống trong nhà kho, mới thật là sự tu tập.

Trong Duy Thức học có danh từ Chuyển y. Y tức là nền móng. Mà nền móng của chúng ta là Nhất thiết Chủng thức, có khi gọi là Tàng thức (store conciousness). Tàng tức là cất giữ, store, depot. Sự thay đổi đáng kể nhất là sự thay đổi ở tại nền móng. Chuyển y là sự thay đổi tận nơi nền móng. Vậy thì khi nghe pháp phải ngồi như thế nào, phải nghe như thế nào để pháp thấm vào hình hài, vào cảm thọ, vào tưởng, vào tâm hành nào đang có mặt, dầu là tưởng hay là thọ, và rốt cuộc nó phải đánh động được tới những hạt giống trong tâm thức.

Pháp lạc và pháp nhũ là cái mà chúng ta phải được thừa hưởng trong từng giây phút của đời sống tu học, thì ta mới lớn lên mau được. Nếu biết cách thì ba ngày, năm ngày, mười ngày là đủ để chúng ta lớn lên rất mạnh. Khi nghe tiếng chuông chẳng hạn, tiếng chuông báo chúng hay tiếng chuông gia trì, thì trong tư thế ngồi, trong tư thế đi, trong tư thế đứng, chúng ta làm sao cho tiếng chuông đó thấm được vào trong hình hài, thấm vào được trong cảm thọ, trong tri giác của chúng ta.

Tất cả chúng ta đều có nghe tiếng chuông đó, nhưng có người nghe hời hợt, có người nghe rất sâu. Tiếng chuông là một tiếng gọi rất sâu thẳm. Chiều sâu thăm thẳm của tâm thức, chúng ta có thể đạt tới được nếu chúng ta biết nương theo tiếng chuông để đi xuống, hoặc để đi lên, tại vì xuống hay lên chẳng qua chỉ là những danh từ thôi. Đi xuống tới chỗ sâu thẳm nhất của ta, hay đi lên tới đỉnh chót vót nhất của ta, đó chỉ là một cách nói thôi.

Bong bong, tôi là chuông đại hồng,

Ngôi chùa xưa trên đỉnh núi.

Quí vị có biết ngôi chùa xưa trên đỉnh núi là gì không? Đó là quê hương của chúng ta, đó là quê hương tâm linh cao chót vót của chúng ta, mà đỉnh tâm linh đó nằm trong ta. Khi hát Bong bong, tôi là chuông đại hồng. Ngôi chùa xưa trên đỉnh núi thì ta chỉ lên trên trời, nhưng kỳ thật, đó không phải là cái hướng đích thực của đỉnh núi tâm linh cao chót vót của chúng ta. Cái đỉnh núi tâm linh cao chót vót nó ở trong ta. Nhưng nếu ta lấy ngón tay mà chỉ vào ngực ta, thì cũng không đúng. Tại vì đây chỉ là cái hình hài mà thôi, ta tưởng lầm đây mới là ta, còn cái kia là ở ngoài. Cái đỉnh tâm linh cao chót vót của chúng ta nó không phải ở trong, nó cũng không phải ở ngoài. Trong và ngoài chẳng qua chỉ là những cái vọng tưởng. Nguyễn Công Trứ có nói: Nhỏ không trong mà lớn cũng không ngoài.

Khi mới tu, người ta đang làm việc ngon trớn, đang nói chuyện ngon trớn, mà nghe một tiếng chuông thì thấy giận lắm, bực lắm! Có một Phật tử rất thương Làng Mai, tới giúp Làng Mai nấu cơm cho ba bốn trăm người, nhưng ông ta không chịu nổi tiếng đồng hồ treo ở trong bếp. Tại vì theo nguyên tắc thực tập, mỗi 15 phút đồng hồ sẽ thỉnh chuông, ông phải dừng lại thở. Ông đang làm ngon trớn như vậy mà phải ngưng lại để thở là khổ lắm! Cho nên trong khi đại chúng đi khỏi, ông lén tháo đồng hồ đem treo ở một phòng khác. Cái đó cũng do thương mà ra! Đang làm ngon trớn như vậy mà phải ngưng lại thì tức quá, cho nên ông thương theo kiểu của ông!

Cũng như khi sư chú đang say sưa chia sẽ một giáo pháp tâm đắc, mà tự nhiên có tiếng chuông thì sư chú giận quá chừng! Ban đầu thì ráng ngừng, không có hạnh phúc, nhưng khi thở được một vài hơi thì cái pháp lạc nó bắt đầu xuất hiện. Nhờ vậy cái bực chuyển thành pháp lạc. Nếu sư chú làm hay thì khi chuông thỉnh đến tiếng thứ hai là chú bắt đầu leo lên đến đỉnh cao của tâm linh. Một tiếng gọi rất là sâu thẳm mà khi ngồi thiền, đi thiền, chúng ta phải nghe cho được tiếng gọi tâm linh đó, tiếng chuông của ngôi chùa cổ đó.

Người trong truyền thống đạo Bụt cũng vậy, mà người trong truyền thống đạo Cơ Đốc cũng vậy, chúng ta gọi điểm cao đó là Pagoda hay là Temple cũng được. Điều quan trọng là chúng ta biết nó là điểm cao tâm linh chót vót, nó là nguồn gốc của chúng ta, là chỗ chúng ta khao khát trở về.

Ngày xưa tôi có làm một bài thơ[1] nói về buổi trưa hè ở Việt Nam. Buổi trưa mùa hè miền quê Việt Nam thường im lặng một cách lạ kỳ. Những đám mây đứng yên như trở thành những tảng đá. Những ngọn lá, những thân cây đứng im như được làm bằng ngọc thạch. Không có một sự di chuyển nào cả! Vũ trụ như ngưng đọng lại. 

Trưa, ôi những buổi trưa lắng vào tuyệt đối

Trời cao xanh ngắt, bâng khuâng nghe tiếng gọi tôi về.

Tiềm thức dâng tràn u hoài của thăng trầm mấy kiếp.

Lá đón nắng hồng mai đến

Chiếc áo tháng Tư nhẹ sắc, thoáng hương kỳ ảo mùa Xuân.

Trong buổi trưa yên lặng như vậy, mình nghe một tiếng gọi như từ ngàn đời xa xưa kéo mình trở về. Tại vì mình là những người cùng tử, đi lang thang đã muôn ngàn triệu kiếp! Mình đã bỏ nhà ra đi, bỏ đỉnh tâm linh cao chót vót để ra đi. Vì vậy mà có những tiếng chuông kêu mình trở về, và buổi trưa là một tiếng chuông. Một cơn mưa lớn cũng là một tiếng chuông gọi mình về trong nháy mắt. Đi máy bay, đi hỏa tiễn, có thể cũng còn lâu hơn nhiều. Đi về điểm cao tâm linh bằng hơi thở thì nhanh lắm.

 

 

Hơi thở giống như một phương tiện chuyên chở rất mầu nhiệm. Thở vào, và chỉ cần biết là hơi thở vào, thì chúng ta đã trở về đỉnh núi rồi, và hơi thở trở nên là hơi thở chánh niệm, có phẩm chất rất cao, đưa ta về đỉnh tâm linh chót vót đó.

Hơi thở đó cũng có thể đem tới pháp lạc rất lớn, và chỉ khi nào ta buông bỏ được, trở thành con người tự do thì phẩm chất hơi thở của ta mới thật sự là cao, và pháp lạc mới thật sự là lớn. Chỉ cần thở thôi và một hơi thở vào có thể kéo dài tám, mười hay mười hai giây đồng hồ. Trong mười mấy giây đó mình nuôi dưỡng thân, nuôi dưỡng thọ, nuôi dưỡng tưởng, nuôi dưỡng thức của mình rất là sâu sắc. Mình cảm thấy pháp lạc rất rõ ràng, Mình không lao động, không cố gắng, không tranh đấu gì cả, mình chỉ hoàn toàn thừa hưởng. Phẩm chất của pháp lạc mà ta được thừa hưởng đó tùy thuộc vào mức độ tự do của ta. Anh tự do được hay không là do anh có buông bỏ được cái kia hay không. Cái kia có thể là cái lo, cái buồn, cái khổ hay là cái thích thú.

Khi anh đang chia sẻ một cái mà anh rất quý với một người bạn, mà bị tiếng chuông làm anh ngừng lại, thì anh rất giận. Anh nói tiếng chuông không phải thời! Đợi người ta nói xong rồi thỉnh có phải hay biết mấy không? Ban đầu thì anh không buông được, nhưng tại vì anh đã thở tới giây thứ tư, thứ năm của hơi thở vào, nên tự nhiên anh thấy anh buông được, anh mỉm cười: Trời đất ơi! Cái này nó quý, nó ngon lành, nó thanh tịnh, nó an lạc gấp cả triệu lần cái thích thú hồi nãy, vậy mà mình dại dột, mình bực nó! Tất cả chúng ta người nào cũng đều đã đi qua kinh nghiệm đó hết.

Trong khi sư chú ngồi đợi thầy vào để nói pháp, thì tại sao sư chú không thực tập sự nuôi dưỡng thân, thọ của mình bằng pháp lạc đó, mà lại chờ đợi? Chờ đợi cái gì? Chờ bài pháp thoại? Bài pháp thoại đó đã có sẵn ở trong sư chú rồi! Tại sao mình phải nói chuyện với người khác trong khi chờ đợi? Tại sao đi vào pháp đường mà không bắt đầu ngay chuyện thừa hưởng pháp lạc?

Pháp lạc ở đâu lại không có mà phải vào thiền đường mới có? Phải làm thế nào để trong khi chúng ta rửa rau, rửa bát thì pháp lạc cũng có mặt. Chúng ta có thông minh, có tài năng, chúng ta phải sử dụng cái thông minh và tài năng đó để tổ chức đời sống như thế nào để cho trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày, chúng ta đều có pháp lạc. Hơi thở đó, nụ cười đó, tiếng chuông đó là để làm gì? Là để cho chúng ta sử dụng mà nuôi nấng pháp lạc của chúng ta. Trong một bài thơ Lưu Trọng Lư có viết mấy câu rất buồn:

Mời anh cạn hết chén này,

Non vàng ở cuối non Tây ngậm buồn,

Tiếng gà gáy dục trong sương,

Nửa đời phiêu lãng chỉ còn đêm nay!

Câu đáng nói là câu: Nửa đời phiêu lãng chỉ còn đêm nay! Chúng ta đã làm gì cuộc đời của chúng ta? Đi phiêu lãng, chìm đắm và trôi lăn trong sinh tử. Không có giải pháp nào hết!

Để lòng với rượu cùng say,

Giờ đây lời nói chua cay lạ thường.

Đó là tâm tình của thi sĩ. Thấy được mình đã để hết đời mình vào cuộc phiêu lãng, nhưng không có cách nào để có thể chấm dứt được, mà chỉ có phương cách uống rượu thôi. “Nửa đời phiêu lãng chỉ còn đêm nay, Để lòng với rượu cùng say, Giờ đây lời nói chua cay lạ thường.” Tội nghiệp vô cùng!

Khi nghe tiếng chuông, nếu biết nương vào tiếng chuông để trở về đỉnh tâm linh cao chót vót, là chúng ta có thể chấm dứt cuộc phiêu lãng. Chúng ta có thể đang phiêu lãng trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày. Chúng ta thường nói “phiêu lãng trong biển sinh tử”, có nghĩa là khi chết rồi thì mới phiêu lãng. Không! Chúng ta đâu có chết rồi mới phiêu lãng? Chúng ta đang phiêu lãng trong từng giây từng phút. Thọ chìm đắm, trôi lăn. Tưởng chìm đắm, trôi lăn. Tham, sân, si, mạn, nghi, kiến, phẩn, hận, phú, não, tật, xan cũng đang chìm đắm, trôi lăn. Chúng ta bị nhồi theo những đợt sóng của tâm thức, chúng ta luôn luôn phiêu lạc, và chúng ta đã phiêu lạc mấy mươi năm của đời chúng ta rồi, cho nên tiếng chuông là để thức tỉnh: Con ơi, con đừng phiêu lạc nữa, con hãy trở về với cha, con hãy trở về với mẹ, con hãy trở về với thầy, với quê hương tâm linh cao chót vót của con.

 

 

Mình đang ngồi đó hay đứng đó, thở vào một hơi là mình trở về được. Tu tập là trở về trong mỗi giây phút, trở về với sự sống, trở về với cái an lạc có sẵn trong tâm thức của chúng ta. Tùy anh chọn lựa giữa hai cái. Một là cuộc phiêu lãng, tiếp tục phiêu lãng. Hai là trở về, trở về với vững chãi, với thảnh thơi để cho mình có an lạc. để cho mình trở thành chỗ nương tựa của biết bao nhiêu người đang chới với ở quanh ta. Đó là mục đích của người tu.

 

Đi để về

Sư cô Trăng Mai Phương xuất gia ngày 14 tháng 12 năm 2016 tại Làng Mai, Pháp trong gia đình cây Mai Vàng. Sư cô hiện đang tu học và phụng sự với nhiều hạnh phúc ở xóm Mới, Làng Mai, Pháp.

 

Bật máy lên mà gõ là khẩu hiệu thay cho Cầm bút lên mà viết tôi đã tự đặt ra cho mình lần này. Bốn năm rồi hứa nộp bài cho Lá thư Làng Mai mà cuối cùng cũng ngậm hột thị cho tới tận năm nay. Tôi thích viết nhưng cũng dễ tụt cảm hứng, và dù có làm cách nào đi nữa thì cũng chẳng thể nặn ra được một chữ, nhất là để nộp thì lại càng khó cho tôi. Nhưng lần này là trường hợp ngoại lệ. Ừ, thì thử làm trái lại với cái mà tôi gọi là “tính tôi thế”, xem tình hình nó đi đến đâu. Mà nếu không được đăng thì ít ra tôi cũng đã thử để chơi với chính mình… cho bõ những ngày làm biếng đầu năm cũng như để sau này chẳng có gì phải tiếc!

Bắt đầu… lạch cạch… lạch cạch…

Năm ấy, tôi, một người trẻ, vào độ tuổi đứng trước nhiều ngã rẽ quan trọng trong cuộc đời. Sống cá tính, với nhiều hoài bão, lý tưởng, tôi đã quyết định rời xa quê hương đất nước, vác trên vai một cái bị nặng mang tên chán chường, và suýt nữa tự dán cho mình cái mác mất gốc. Hai mươi tư tuổi, thẳng tay vứt đi cái kính màu hồng đã mang theo nhiều năm về đời sống gia đình, xã hội và đất nước. Tôi đã quyết định cho mình cơ hội để thấy cho tỏ tường những thứ tưởng chừng như còn hết sức hình tượng trong đầu về đời sống Tây phương, và hơn cả là về đời sống tâm linh. Tôi vẫn muốn vỗ vai và tung ra vài câu khen ngợi cho chính mình vì đã dám quyết định mạo hiểm. Và rồi lại tự ngoan ngoãn tháo ra cái kính màu hồng khác trong lòng, trước khi toàn tâm toàn ý bước tới con đường này – con đường của những người tự do.

Để tôi kể rõ thêm về kế hoạch hết sức mạo hiểm năm đó, mà tôi tin ông bà tổ tiên chắc cũng hài lòng lắm khi thấy tôi dám làm liều. Tôi nuôi mộng đi tu từ những năm đầu ngồi trên ghế giảng đường, nhưng mộng ấy chắc nhỏ xíu như hạt đỗ xanh, nếu không có cô bạn tưới tẩm cho mỗi lần cùng nhau đi công quả xây tháp trên núi Tây Thiên. Dù bây giờ chúng tôi mỗi đứa tu một pháp môn khác nhau, nhưng khi nghĩ về, tôi luôn thấy ấm lòng. May phước là nhân duyên thế nào, sau khi tốt nghiệp đại học tôi tìm thấy một chương trình giao lưu văn hóa với một số nước như Mỹ, Pháp, Đức… Cuối cùng tôi chọn Pháp với suy nghĩ đi kiểu đó bố mẹ không tốn tiền như cho tôi đi du học. Sau đó nếu tôi có quyết định đi tu mà không đi học tiếp thì chắc cũng sẽ thấy bớt áy náy hơn. Và hơn cả là tôi sẽ có tất cả điều kiện thuận lợi để tới xem Làng Mai là sao, liệu tôi có thể gửi gắm cả cuộc đời mình lại nơi đó!

Vậy là tôi tới Pháp vào một ngày đầu thu. Đặt chân tới Pháp, cái cảm giác xa lạ hình như không có nhiều, chỉ có khoảng cách về ngôn ngữ có lẽ là lớn nhất với tôi lúc đó. Tiếng Anh thì không, tiếng Pháp thì chỉ oui, non, gật lắc dù đã đi qua bao trường lớp, chứng chỉ. Thế tôi mới nói là liều. Thời gian ở cùng gia đình Pháp không lâu, cũng chỉ mười tháng nhưng có lẽ trong tôi nó dài đến chục năm. Theo đúng quy định thì tôi phải đi học tiếng Pháp ở trường, được hưởng mọi thứ như con trong nhà, giúp chăm sóc và đưa các em tới trường khi bố mẹ các em bận công việc. Tôi cũng được có tiền bỏ túi mỗi tháng, đủ để đi du lịch hay mua sắm nếu tôi cần. Tình thương, sự cảm thông, sự tôn trọng, nâng đỡ và cả những khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ, đời sống, về cách chăm sóc trẻ em mà tôi trải qua cùng gia đình đã làm tôi khôn lớn và để thấy mình rõ hơn rất nhiều. Vì hai nhóc có chút vấn đề về tâm lý, tình trạng phổ biến cho trẻ em hiện nay ở các nước Tây phương, nên tôi cũng có nhiều động lực để học ngôn ngữ hơn và học cách chăm sóc với nhiều sự kiên nhẫn mặc dù gặp nhiều khó khăn.

 

 

Nhờ sống chung trong gia đình Pháp và chăm sóc các em, tôi mới thấy mình thật rất Việt. Không chỉ vì dòng máu, màu da hay mái tóc đen mà cả cái cách tôi dạy hay muốn các em làm theo. Tôi biết mình không thể áp dụng cái mà mình được dạy và cho là đúng lên đời sống các em được. Bố mẹ các em và các em cũng dạy cho tôi một bài học về sự sẻ chia khi có khó khăn trong lòng mà không cắn răng chịu đựng, rồi cho đó là khó khăn và trách nhiệm của riêng mình. Tình thương, sự tôn trọng từ cả hai phía và mong muốn từ lúc đầu mà tôi luôn giữ khi sống chung là để hiểu thêm văn hóa, đời sống ở Pháp, đồng thời để họ thấy được văn hóa Việt, thấy được một phần của con người Việt đã giúp tôi thấy rõ thêm cả hai bên, để học hỏi và để buông đi nhiều điều trong lòng. Nhờ thế mà tôi đã đi qua được rất nhiều khó khăn trong quá trình chăm sóc và dạy dỗ các em sau đó. Hơn cả, nếu không có sự động viên và thực tập với quý sư cô ở thiền đường Hơi Thở Nhẹ, tăng thân Paris và đặc biệt là các bạn trong Vườn Bông, tôi đã không thể sống trọn vẹn như thế trong khoảng thời gian ấy. Sau khi chương trình giao lưu văn hóa kết thúc, bố mẹ và các em tìm đủ cách giữ tôi lại, bởi một phần thấy tôi giúp được cho em bé nhất có chút tiến bộ về mặt tâm lý. Nhưng có lẽ vì tôi cũng đã có được gần hết những câu trả lời cho những câu hỏi còn sót lại sau khi rời Việt Nam nên tôi quyết tâm đầu đội trời chân đạp đất, kéo vali rời gia đình và các em để đi. Đi về con đường mà tôi tin, một niềm tin to lớn trong lòng là sẽ giúp được cho nhiều người và cho chính tôi nữa.

Rồi trở thành sư cô, ý thức về những bức xúc, chán chường về đời sống gia đình, về đất nước quê hương vẫn đọng lại, tắc nghẽn đâu đó trong lòng. Rồi tiếc vì vào chùa rồi mới đọc được cuốn Nói với tuổi hai mươi và Tuổi trẻ, tình yêu, lý tưởng. Tôi quyết định làm lại, bắt đầu lại trong chính mình. Hàn gắn lại những rạn nứt với gia đình huyết thống, với quê hương bằng ý thức. Chỉ có vậy tôi mới có khả năng cắm rễ trong gia đình mới – gia đình tâm linh. Thực tập như một Sa di ni trong những năm đầu, tôi thích lắm pháp môn Ba cái lạy hay Năm cái lạy mà Sư Ông viết trong nhiều cuốn sách. Tôi dùng đủ mọi cách để tưới những lời Sư Ông viết trong từng cái lạy vào ý thức mình. Đọc hết bằng tiếng Việt rồi đến tiếng Pháp, bằng cách thu âm rồi thực tập lạy. Lúc mới bắt đầu thực tập thì chưa, nhưng khi đã bắt đầu ngấm và yên hơn trong lòng, thì mười lần thực tập tám lần tôi khóc, nước mắt cũng đủ làm đầy mấy cái hồ sen xóm Mới.

Lạy thứ Tư và thứ Năm là hai cái lạy mà tôi phải dành nhiều thời gian để nhìn sâu hơn cả. Càng đọc tôi càng thấy những góc sâu khuất, tưởng chừng như đã bị phủ một lớp bụi dày đặc được chạm tới, được lau chùi bằng cái thấy với sự bình tĩnh, sáng suốt và nhiều chấp nhận hơn. Tôi hiểu ra và nhìn ra được những người mà tôi đã giận, đã từng nói là ghét cay ghét đắng cũng đang mang rất nhiều tổn thương, khổ đau để bắt đầu thấy thương và buông dần đi những vết thắt đã kết lại nhiều năm. Để rồi lại thấy thêm nhiều điều vỡ òa trong lòng, những điều tôi đã trách cứ, khổ đau, đã không hiểu về những người tôi thương. Tôi đã từng rất buồn về cách bố hành xử trước đây trong gia đình. Nhưng khi nhận ra chính mình đang lặp lại y hệt những gì bố đã làm trong đời sống hiện tại, tôi mới hiểu ra có lẽ cũng như tôi, dù không muốn nhưng bố cũng đã tiếp nhận nó từ thế hệ trước, từ đời sống, từ những khó khăn bố đã từng đi qua mà không ý thức những gì mình tiếp nhận và sẽ trao truyền lại. Và có lẽ bố cũng đã từng muốn thay đổi, làm gì đó để chính mình bớt khổ mà không biết phải làm sao. Thấy được đến đó tôi thương bố quá. Tôi biết bố cũng rất thương tôi, một sự thật mà vì giận hờn tôi đã từng gạt sang một bên. Bao nhiêu trách cứ, tủi hờn theo từng giọt lăn dài trên má. Tôi tự hứa với chính mình là với tất cả những điều kiện thuận lợi mình đang có trong đời sống tu học, tôi quyết tập lại, tập để chấp nhận và thương những vụng dại mà tôi đã gây ra cho bản thân và những người mình thương. Làm mới lại đời sống với những cái đẹp mà tôi đã được trao truyền. Và tôi biết tôi không chỉ làm nó cho riêng mình mà cho cả bố nữa.

Nhìn lại những năm tháng sống đời sống xuất gia tại Làng Mai, tôi cũng thấy mình thật may mắn không chỉ có Việt Nam là quê hương mà tôi còn có đất nước, con người Pháp – nơi đã cho tôi bao nhiêu điều kiện để tìm lại chính mình, để thấy mình có khả năng khai thông lại dòng suối mát lành của gia đình huyết thống mà cũng để tôi dần dần cắm rễ hơn, chấp nhận để hiểu và thương hơn gia đình tâm linh. Tập thương lại, ngâm nga làn điệu dân ca để tiếng hô canh sáng tối cũng mềm và thấm hơn. Tôi cũng tập thương lại, nhìn lại những cái đẹp của người Việt, của văn hóa Việt để ông bà tổ tiên lại được cười, được thở và cùng bước trên từng bước chân tôi đi về tương lai.

 

 

Một ngày, tự nhiên trong tôi đi lên một câu hỏi: “Nếu tôi không quyết định bỏ đất nước để lên đường, không bỏ gia đình để lên đường, liệu tôi có cơ hội để nhìn lại, để hiểu, để chấp nhận những đổ vỡ trong gia đình hay trong đời sống, trong xã hội, đất nước hay không?”. Câu hỏi ấy đã mở ra cho tôi những cái nhìn mới và tự do hơn về chuyện đến – đi đã xảy ra với những người thương trong cuộc đời mình. Tôi chợt mỉm cười… qua khung cửa nắng vàng đầy sân, những chiếc lá khô còn sót lại cũng theo gió trở về…

lạch cạch lạch cạch…
… dừng tay nhấp miếng trà bancha mẹ mới gửi và cười thầm: “Hóa ra chữ nghĩa cũng chịu trào ra đấy chứ nhỉ!”.

Ly trà nóng và tiếng ai thì thầm: “Đâu là cái tính tôi?”.

 

Kết quả của sự buông thư và thiền tập

“Trích trong bài phỏng vấn Sư Ông Làng Mai của Marianne Schnall – Đăng trên The Huffington Post của Mỹ, ngày 21.05.2010″

 

Xin Thầy chia sẻ về những kết quả mà sự buông thư và thiền tập mang lại trong cuộc sống hàng ngày của Thầy?

Thầy: Thiền tập có sức mạnh trị liệu rất lớn, như các nghiên cứu khoa học hiện đại đã cho thấy. Sự thực tập hơi thở ý thức, thiền tọa, thiền hành giúp giải tỏa những căng thẳng trong thân và trong tâm. Khi ta cho chính mình một cơ hội để buông bỏ tất cả những căng thẳng, khả năng tự trị liệu của cơ thể sẽ bắt đầu làm việc. Các con thú trong rừng đều biết điều này. Khi chúng bị thương, bệnh hoặc quá mệt, chúng biết phải làm gì. Chúng tìm một nơi yên tĩnh, nằm xuống để nghỉ ngơi. Chúng không đi tìm thức ăn hoặc đuổi theo những con thú khác, chúng chỉ nghỉ ngơi thôi. Sau vài ngày nằm yên để nghỉ ngơi, chúng được chữa lành và hoạt động bình thường trở lại.

Loài người chúng ta đã đánh mất tuệ giác của sự nghỉ ngơi và thư giãn thật sự. Chúng ta lo lắng quá nhiều. Chúng ta không cho phép cơ thể mình tự chữa lành, và cũng không cho phép tâm ta được chữa lành. Thiền tập có thể giúp ta ôm ấp những lo lắng, sợ hãi, giận hờn và điều này rất trị liệu. Ta để cho khả năng tự trị liệu trong ta được hoạt động một cách tự nhiên.

Thư giãn hoàn toàn chính là bí quyết để có an lạc trong khi ngồi thiền. Tôi ngồi với một cái lưng thật thẳng nhưng không gồng cứng, và tôi thư giãn tất cả các bắp thịt trong cơ thể. Thở vào, tôi đem tất cả sự chú ý đến một bộ phận nào đó trong cơ thể; thở ra tôi mỉm cười biết ơn và gửi tình thương đến bộ phận đó. Thí dụ như tôi thở vào và hướng sự chú tâm đến khuôn mặt. Trên mặt tôi có khoảng 300 bắp thịt và khi nào tôi lo lắng, giận dữ hoặc sợ hãi, 300 bắp thịt đó siết lại, và bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng có thể thấy tôi đang căng thẳng. Nhưng nếu trong khi thở vào, tôi có thể ý thức đến khuôn mặt của mình, và thở ra tôi có thể mỉm cười với khuôn mặt của mình, thì ngay lập tức sự căng thẳng sẽ tan biến. Điều đó gần như là một phép lạ. Chỉ trong một vài hơi thở, ta có thể cảm nhận được sự bình an, hạnh phúc và thư giãn trên khuôn mặt. Mặt ta trở nên nhẹ nhàng, tươi mát, giống như một bông hoa. Khuôn mặt ai cũng đều là một đóa hoa.

 

 

“Thở vào tôi ý thức về gương mặt tôi, thở ra tôi mỉm cười với gương mặt tôi”, ta có thể thực tập như vậy trong vòng ba đến bốn hơi thở. Sau đó, ta hướng sự chú tâm đến các bắp thịt trên hai vai, bởi vì các bắp thịt trên hai vai chúng ta thường hay bị căng thẳng. “Thở vào, tôi ý thức về các bắp thịt trên hai vai; thở ra, tôi thư giãn và mỉm cười với hai vai tôi”. Cứ như thế ta dần dần di chuyển đến khắp các vùng trên cơ thể, và chỉ sau một vài phút ta có thể làm cho cơ thể trở lại bình thường với trạng thái nhẹ nhàng, thư giãn.

Đây là điều mà ai cũng có thể làm được trong một vài phút đầu tiên sau khi ngồi xuống, không nhất thiết là chỉ ngồi trong thiền đường mà thôi. Bất cứ ngồi ở chỗ nào, ta cũng có thể ngồi thật đẹp, như là ta đang ngồi thiền vậy, ngồi đâu ta cũng có thể cảm thấy vững chãi, thảnh thơi. Ngồi xuống để ăn cơm hay làm việc văn phòng, ta nên ngồi thẳng và buông thư. Hãy ngồi như Bụt ngồi.

Tôi biết có một vài Nghị sĩ ở Quốc hội Mỹ thực tập thiền hành ở Capital Hill. Một vị nói với tôi là khi đi đến phòng bỏ phiếu để thông qua một dự luật, ông ấy luôn thực tập thiền hành, hoàn toàn dừng lại mọi suy nghĩ. Văn phòng của ông rất bận rộn, mỗi ngày ông phải trả lời rất nhiều câu hỏi, giải quyết bao nhiêu việc khác nhau. Vì vậy thời gian duy nhất trong ngày mà ông có thể thật sự dừng mọi suy nghĩ để nghỉ ngơi là khi ông rời văn phòng để đến phòng bỏ phiếu thông qua dự luật. Ông để tất cả tâm ý vào hơi thở và vào bước chân, hoàn toàn không suy nghĩ gì hết. Và ông nói điều đó thực sự giúp ông có thể sống còn trong cuộc sống bận rộn tối mắt tối mũi của một Nghị sĩ.

Chúng ta phải học lại nghệ thuật nghỉ ngơi và buông thư, điều này rất quan trọng. Nó không những giúp ngăn ngừa rất nhiều các bệnh tật phát sinh từ chứng căng thẳng và lo lắng mãn tính mà còn làm cho đầu óc sáng sủa, tập trung, từ đó tìm ra các phương cách sáng tạo để giải quyết vấn đề. Nếu như ta có thể buông bỏ tập khí luôn chạy về tương lai, biết dừng lại để thư giãn và trở về với chính mình, chúng ta sẽ thành công hơn trong bất cứ phương diện nào mà ta muốn. Và chúng ta sẽ có thêm niềm vui sống.

Thiền tập và thư giãn sẽ tác động đến xã hội như thế nào?

 

Nếu một số đông người thật sự bỏ thì giờ ra để thiền tập và thư giãn thì sẽ tác động đến xã hội như thế nào?

 

 

Thầy: Có một điều dễ dàng nhận thấy là có quá nhiều bạo động, đói nghèo và khổ đau xung quanh ta; nhưng ta nghĩ rằng ta quá nhỏ bé và bất lực để giúp thay đổi tình trạng. Có thể chính trong gia đình ta cũng có khó khăn; có thể một thành viên trong gia đình đang rất đau khổ, tuyệt vọng và người ấy lâm vào tình trạng nghiện ngập hoặc phạm tội. Ta tự nhủ rằng ta không biết phải làm sao để giúp người kia, trong khi đó ta còn có một cuộc sống bận rộn của riêng mình.

Nhưng chính xác là ta bận cái gì? Đối với rất nhiều người trong chúng ta, đó là bận làm việc để kiếm tiền trả cho cái bằng cấp, chiếc xe mới, cái nhà to hơn, hay một chuyến nghỉ mát kỳ thú. Khi ta dành thời gian để thư giãn và thiền tập, tắt đi những âm thanh ồn ào, không ngớt của các quảng cáo trên các thiết bị điện tử, ta sẽ nhận ra rằng thực ra để có hạnh phúc, ta cần rất ít.

Ta đã có sẵn rất nhiều điều kiện để có hạnh phúc mà không cần tốn một đồng nào hết. Thí dụ như đôi mắt. Đôi mắt của chúng ta thật là mầu nhiệm, là hai viên ngọc quý. Ta chỉ cần mở mắt ra là thấy được trời xanh, mây trắng, những đóa hoa xinh đẹp, thấy gương mặt của những người thương. Hoặc đôi tai của ta: Bất cứ khi nào ta thích, ta đều có thể nghe được âm thanh của bản nhạc gây cho ta cảm hứng, của tiếng chim, dòng suối, hoặc tiếng thông reo. Tất cả những cái đó đều là những mầu nhiệm của sự sống, có sẵn cho ta bất cứ lúc nào. Ta chỉ cần mở mắt, ta chỉ cần lắng tai thôi. Thân thể ta vẫn còn khỏe mạnh, đôi chân ta vẫn còn cứng cáp. Và tất cả những mầu nhiệm đó nằm trong chính thân thể của ta.

Chúng ta có thấy mãn nguyện trong những niềm vui không tốn kém này và sống đơn giản hơn để có thì giờ thật sự lắng nghe những người mà ta gần gũi, hoặc viết thư cho một vị đại biểu quốc hội hay không? Khi ta tỉnh thức, khi ta ý thức hơn về những gì đang xảy ra, và thấy rõ mình thật sự cần phải làm gì (và không nên làm gì), thì cuộc sống của cá nhân ta và toàn xã hội sẽ dễ dàng có những thay đổi lớn. Thật tình thì tôi không biết có cách nào khác để đem đến sự thay đổi ấy ngoài cách này.

Khi thân tâm được thư giãn, người ta sẽ có khuynh hướng bớt nói năng, hành xử một cách bạo động. Khi ấy người ta sẽ có thể chạm đến rất nhiều tuệ giác và nguồn năng lượng dồi dào mà lâu lắm rồi ta chưa chạm đến, từ hồi thơ ấu đến giờ. Trong suốt tiến trình lịch sử, con người – cả nam lẫn nữ – đã đạt được những thành quả có thể nói là không thể tưởng tượng được. Sự thật là, những thay đổi chúng ta có thể làm nên cho chính bản thân và cho xã hội qua sự thực tập chánh niệm là không có giới hạn. Ta chỉ cần bắt đầu thôi, bắt đầu nơi chúng ta đang có mặt, ngay bây giờ, ở đây.

Chữ ký của ta

Tôi không có con cái huyết thống, nhưng lại có rất nhiều con cháu tâm linh. Không có ngày nào tôi không trao truyền những gì mà tôi cho là hay nhất, đẹp nhất của cuộc đời tôi. Cho nên gia đình tâm linh của tôi là một gia đình rất lớn. Bất cứ một tư duy, một lời nói hay một hành động nào cũng đều là những phẩm vật để trao truyền. 

Nếu tư duy của ta đi đôi với trí tuệ, từ bi, bao dung và hòa ái thì tư duy đó là phẩm vật trao truyền cho con cháu tâm linh. Nếu lời nói của ta đi đôi với sự hòa ái, tình thương và hiểu biết, có khả năng an ủi và tạo thêm hy vọng và thương yêu thì lời nói đó là một phẩm vật trao truyền. Nếu hành động của mình đi đôi với ý chí bảo vệ sinh mạng, muốn cứu đời, giúp người thì hành động đó là một phẩm vật trao truyền. 

Mỗi tư duy của tôi đều mang chữ ký của tôi. Không thể chối cãi rằng tư duy đó không phải là của tôi khi rõ ràng nó đã mang chữ ký của tôi. Nếu tư duy đó mang tính tham, sân và si thì đó là tư duy tiêu cực mà tôi lại đi trao truyền lại cho con cháu thì quá tội nghiệp cho họ. Vì con cháu tôi là sự tiếp nối của tôi mà cũng chính là tôi. Tôi rất cẩn thận, phải để cho tư duy của tôi là chánh tư duy. Chánh tư duy là tư duy đi theo hiểu và thương, là sự bao dung. Mỗi lời nói của tôi đều mang theo chữ ký của tôi. Một khi đã nói ra thì ta không thể nói rằng đó là câu tôi đã không nói. Nếu lời nói đó có thể gây hoang mang và hận thù thì tôi không muốn trao truyền những lời nói như vậy; tôi không muốn được tiếp nối bằng những lời nói như vậy. Vì thế sự tu tập giúp cho tôi chỉ trao truyền những cái gì đi đôi với tinh thần từ bi, trí tuệ, hiểu biết, bao dung và thương yêu. 

Hành động cũng như vậy. Mỗi hành động của tôi đều mang chữ ký của tôi và không thể nào chối bỏ được. Hành động đó phải là hành động bảo vệ sự sống, xây dựng tình huynh đệ thì đó mới là phẩm vật đáng trao truyền để được tiếp nối, và luân hồi. Luân hồi tức là được tiếp nối. Nếu mình muốn luân hồi cho thật đẹp thì mình phải chế tác những tư tưởng rất thiện, gọi là chánh tư duy. 

Mình chế tác những ngôn ngữ rất đẹp gọi là chánh ngữ, những hành động rất cao cả gọi là chánh nghiệp. Chỉ có những người có tu thì mới biết là họ đang trao truyền chánh tư duy hay tà tư duy, trao truyền chánh ngữ hay tà ngữ, chánh nghiệp hay tà nghiệp. 

 

 

Vì vậy có một đời sống tâm linh, một chiều chiều hướng tâm linh rất quan trọng cho những người làm cha làm mẹ; làm thầy cô giáo. Là thương gia hay chính trị gia cũng phải có chiều hướng tâm linh để trao truyền những gì tích cực và không phải là trao truyền những chiều hướng tiêu cực. Vì mình không muốn tiếp nối tính cách không đẹp đẽ, cho nên mình cương quyết chỉ trao truyền những gì có tính cách tích cực mà thôi.

Tôi nói với người thanh niên Âu Châu là anh hãy nhìn lại và đặt câu hỏi tại sao cha của anh có nhiều khổ đau, hận thù, bạo động và tuyệt vọng như vậy. Cha anh có muốn như vậy không hay tại vì ông cũng là nạn nhân của xã hội, của gia đình. Ông đã sinh ra và lớn lên ở nơi mà trong đó người ta không chế tác được chất liệu hiểu, thương và bao dung, nuôi dưỡng. Nếu ông ấy có may mắn gặp được một người bạn, một người thầy có đời sống tâm linh sâu sắc để chỉ dẫn cho cha anh phương pháp nhận diện, ôm ấp và chuyển hoá những nỗi khổ niềm đau thì ông ấy đã có thể chuyển hóa và đã không trao truyền những tiêu cực đó cho anh. Nếu cha anh chưa có may mắn đó thì anh nên biết nhìn ông ấy bằng con mắt xót thương và tội nghiệp; cha chưa bao giờ có cơ hội, chưa bao giờ được ai giúp đỡ. Ông bà nội đã làm khổ cha và không có khả năng để giúp cha, bạn bè của cha cũng chưa có cơ hội để giúp ông ấy, tội nghiệp cho cha. Riêng mình, mình may mắn hơn cha, vì mình đã có cơ hội để tiếp xúc những bậc đạo sư, những người anh, người chị, người bạn có chiều hướng tâm linh tốt giúp cho mình nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa những khổ đau trong tự thân. 

Vua Trần Thái Tông năm hai mươi tuổi, ôm ấp niềm đau đó; đã may mắn gặp được Viên Chính quốc sư ở trên núi Yên Tử. Chính Viên Chính quốc sư đã khai sinh ra đời sống tâm linh cho vua Trần Thái Tông, từ đó trở về sau vua Trần Thái Tông đã có con đường tu học và chiều hướng tâm linh trong đời sống của mình, của một vị vua và một nhà chính trị. Vì vậy vua Trần Nhân Tông (cháu của vua Trần Thái Tông) đã có cơ hội nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau trong tự thân. Nhờ đó vua Trần Nhân Tông đã tạo nên sự đoàn kết trong dòng họ, trong triều đình. Để thành công được như một ông vua lớn, chúng ta cũng cần một chiều hướng tâm linh.

Nếu cha chúng ta không có cơ hội, thì đó là vì ông ấy thiếu may mắn, điều đó không đáng để cho chúng ta giận dỗi hay thù hằn cha. Chúng ta phải thấy xót thương và tội nghiệp cho cha. Cha chưa bao giờ gặp được một vị thầy như vị thiền sư trên núi Yên Tử kia, chưa bao giờ được tiếp xúc với chánh pháp, với những pháp môn tu tập để giúp cho cha nhận diện, ôm ấp nỗi khổ niềm đau để mà trị liệu và chuyển hóa. Bây giờ mình phải giúp cha, phải thực tập cho được. Sau khi đã thực tập thành công thì hòa giải với cha trong từng tế bào của cơ thể mình. Theo cách đó, mình có thể giúp cho cha hóa giải và trị liệu dễ dàng.

Những người thanh niên ấy đã nghe theo lời tôi. Họ đã tu tập và chuyển hóa, sau đó trở về để giúp cho cha mẹ của họ. Khi mình giúp được cho những người trẻ chuyển hóa khổ đau và trở về hòa giải được với cha mẹ thì niềm vui và hạnh phúc đó rất lớn. Hạnh phúc không phải là có uy quyền và tiền bạc, danh vọng hay sắc dục; mà hạnh phúc vì mình thấy được cuộc đời có ý nghĩa, mình giúp được nhiều người hòa giải được với người thân.

 

Khi năm uẩn không hoà hợp

(Trích  thoại của Sư Ông Làng Mai tại Xóm Hạ, Làng Mai ngày 02 tháng 10 năm 1994) 

Khi một người có “chiến tranh” với cha mẹ, anh em, vợ con trong gia đình hay với bạn bè ngoài xã hội, thì chính người đó đang có sự rối loạn bất ổn trong nội thân. Những lúc đó tâm họ không an lạc. Nói một cách khác, năm uẩn của người đó không có sự phối hợp điều hòa, chúng đang chống đối nhau.

Thường thường khi có “chiến tranh” ở bên trong là chúng ta hay “khai chiến” với bên ngoài. Thành ra những người hay “khai chiến” với bên ngoài là chắc chắn họ đang có nội chiến trong thân tâm của họ. Những lúc như vậy, nếu biết nắm lấy hơi thở và thở theo chánh pháp-tức là ta biết dùng chánh niệm để soi chiếu nội tâm, thì tự nhiên năm uẩn sẽ trở lại hòa điệu với nhau, và nhờ vậy mà ta có được an lạc, ta thôi gây chiến. Trong Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Bụt dạy “Tôi đang thở vào và làm cho thân thể tôi trở nên an tịnh”, tức là ta có thể dùng hơi thở chánh niệm để tạo ảnh hưởng tốt trên “sắc” và “thọ” của mình. Trong khi thực tập nắm lấy hơi thở, ta điều hợp năm uẩn để cho chúng êm dịu lại và tự nhiên sự an lạc sẽ tới. Và nhờ vậy mà mình không còn khai chiến với người khác nữa.

Năm uẩn ở đây không có nghĩa là thế giới bên trong. Khi nói năm uẩn là năm uẩn của anh là không đúng, tại vì đứng về phương diện “thân” tức là “sắc“, cũng như đứng về phương diện “thọ“, “tưởng“, “hành” và “thức” thì thân thể của tôi được làm bằng những chất liệu không phải là tôi. Thức ăn tôi ăn, không khí tôi thở, nước tôi uống, tất cả những cái đó là từ anh, từ chị, từ những người khác, từ những hiện tượng khác trong vũ trụ. Cho nên khi ta nói cái “sắc” này là của tôi là không đúng. “Thọ” cũng vậy, “thọ” tức là cảm giác, mà cảm giác luôn luôn là cảm giác giác về cái gì, cảm giác về những cái ở trong thân và cảm giác về những cái ngoài thân. Còn “tưởng” tức là tri giác, cũng vậy. Tri giác là tri giác về cái gì. Ví dụ tôi có tri giác về anh thì chủ thể của tri giác với đối tượng của tri giác là một. Anh là đối tượng của tri giác của tôi, thành ra nói anh ở ngoài tôi là không đúng. Những tâm hành khác như giận cũng vậy. Giận thì giận ai, hay thương là thương ai. Thành ra đối tượng của những tâm hành này là tất cả những cái ở bên ngoài. Vì vậy nên nói năm uẩn là những cái ở bên trong tôi là không đúng. Khi chưa tu học thì ta tưởng như vậy, nhưng nhờ quán chiếu, nhờ nhìn kỹ ta thấy năm uẩn thật ra không phải là của ta. Chúng liên kết với nhau. Năm uẩn của anh và năm uẩn của tôi có liên hệ tới mức mà ta không thể nào tách rời ra được.

Một tăng thân không có sự hòa hợp thì mọi người không có hạnh phúc. Khi năm uẩn của ta không có hòa hợp thì chúng có chiến tranh, và ta không có hạnh phúc. Hơi thở chánh niệm làm lắng dịu, và đem lại sự hòa điệu bên trong, vì vậy cho nên hơi thở chánh niệm là sự thực tập rất quan trọng. Ban đầu, chánh niệm làm lắng dịu tâm tư, đó gọi là an tịnh tâm hành. Một khi tâm hành an tịnh rồi, nếu ta tiếp tục thực tập thì chánh niệm sẽ càng soi sáng cho ta. Ta sẽ thấy rõ mọi thứ hơn. Cũng như trong  căn phòng của ta, nếu không có thì giờ để sắp xếp, thì đồ đạc sẽ lộn xộn, lung tung. Khi bước vào phòng, ta dễ bực bội và khó chịu. Nếu có thì giờ để sắp xếp lại mọi thứ thì trong phòng sẽ có không gian, và ta cảm thấy thoải mái và dễ chịu ngay. Năm uẩn cũng như vậy, nếu không có chánh niệm thì ta để sắc, thọ, tưởng, của ta trở nên bất an, xáo trộn. Và vì vậy mà ta cảm thấy khó chịu, bứt rứt ở bên trong. Một khi trong lòng khó chịu thì ta khai chiến với bên ngoài!

Hãy thắp ngọn đèn chánh niệm lên, nhìn cho kỹ, sắp đặt lại mọi thứ bằng hơi thở chánh niệm. Khi trong lòng có sự an lạc và hòa điệu thì tự nhiên mình có hạnh phúc nội tại lẫn ngoại tại. Vì vậy mà năm uẩn đích thực là tăng thân của ta. Khi ta thực tập hơi thở chánh niệm một cách tinh cần thì sự an lạc cũng từ đó mà phát sinh. Những lo sợ, những giận hờn, những thất vọng của ta sẽ dần dần được chuyển hóa.

Sau đó ta thực tập tiếp bài Quán niệm hơi thở:

            Thở vào, thở ra,

            Là hoa tươi mát,

            Là núi vững vàng,

            Nước tĩnh lặng chiếu,

            Không gian thênh thang.

Thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra. Thở vào tôi thấy là hoa, thở ra tôi thấy tôi tươi mát, thở vào tôi thấy tôi là núi, thở ra tôi thấy tôi vững vàng, thở vào tôi thấy tôi là nước tĩnh …

Lúc đó những cảm xúc, những giận hờn, những lo lắng của ta sẽ lắng xuống, và tâm ta an lạc như mặt nước tĩnh. Mặt nước tĩnh sẽ phản chiếu được sự thật. Nước tĩnh lặng chiếu là như vậy. Nếu tâm mình còn ghét bỏ, còn giận hờn thì hình ảnh về người anh, người em hay người chị của mình bị méo mó đi. Khi tâm tĩnh lặng thì tri giác của ta sẽ đúng lại từ từ, nếu không thì chỉ là vọng tưởng và là tri giác sai lầm mà thôi. Tri giác sai lầm sẽ làm làm khổ mình và cũng làm người khác khổ theo.

Câu cuối của bài thực tập “Không gian thênh thang” nghĩa là lúc đó ở trong tâm ta có không gian và ta thấy khỏe, không còn chật chội nữa! Khi có những tri giác sai lầm, những giận hờn buồn phiền thì trái tim ta co lại nhỏ xíu, không có chỗ cho sư anh sư em của ta. Khi tâm tĩnh xuống thì ta bắt đầu thấy được rõ hơn, trái tim ta mở rộng hơn ra. Vì vậy mà ta có không gian bên trong và chấp nhận được người kia.

Những lúc mà ta do dự, sợ hãi, không được vững chãi, là những lúc ta cần tới những bài thực tập này hơn hết. Nhưng những lúc không do dự, không sợ hãi, không lung lay mà ta thực tập bài này hạnh phúc sẽ càng được nuôi lớn. Đừng đợi tới khi có do dự, sợ hãi, lung lay rồi mới thực tập. Chúng ta hãy thực tập hàng ngày cho thuần thục, để lúc sắp có “chiến tranh” ta chỉ cần vài hơi thở là có thể thiết lập được hòa bình.

Hạnh phúc là có sự mát mẻ và thanh lương. Trái với hạnh phúc là cơn sốt. Khi rơi vào ngũ dục ta sẽ lên cơn sốt ngũ dục. Dầu đó là danh, là lợi, là tiền tài, là sắc dục, hay là sự ăn ngon. Trong khi hưởng thụ những dục lạc đó, người nào cũng có những cơn sốt. Ta chỉ cần quán chiếu là thấy cơn sốt có mặt trong lúc hưởng thụ và cơn sốt sẽ trầm trọng hơn sau khi hưởng thụ.

Về giữa núi đồi

Chân Pháp Biểu

Tôi chờ đợi giây phút này từ mấy tháng nay rồi. Từ tối mai, tôi sẽ có cơ hội nhập thất trong bốn tuần. Tôi bắt đầu thấy mình cần dành thời gian cho bản thân khi nhận ra không gian dành cho những tương tác thường ngày với mọi người xung quanh đang dần co rút lại trong tôi. Tôi trở nên dễ bực bội và hay phán xét hơn. Có những điều, chỉ mấy tháng trước đây, không hề là chuyện gì to tát, bây giờ đòi hỏi nhiều không gian hơn trong tâm tôi. Tôi cũng nhìn ra mình bắt đầu cảm thấy tách biệt và xa cách hơn với những người xung quanh.

Cách đây vài năm, chuyện này có lẽ sẽ làm tôi lo lắng. Tôi sẽ tự chất vấn xem mình đã làm gì sai hay mình có cần phải cố gắng ra khỏi cái vỏ của mình nhiều hơn không. Nhưng tôi đã học để mỉm cười với cái tập khí cố hữu này. Mỗi khi cảm thấy “đầy”, thay vì dành cho mình thời gian và không gian để nhìn ra vấn đề và để tự chữa trị, tôi sẽ dẹp hết những cảm xúc, tình cảm của mình sang một bên và tham gia vào các hoạt động, chuyện trò với người khác thậm chí còn nhiều hơn bình thường. May thay, chỉ chút ít trải nghiệm đã có thể đem lại một sự khác biệt lớn. Tôi mỉm cười với mình. Chỉ bấy nhiêu thôi đã đủ để nhắc cho tôi rằng tôi cần dừng lại, nhìn sâu vào nội tâm mình.

Một kỳ nhập thất không hẳn là thời gian nghỉ ngơi. Tuy vậy, khi nó kết thúc, tôi luôn có cảm giác rất sâu là mình đã tìm lại được sức mạnh, và một nguồn năng lượng mới hùng hậu trào dâng trong tôi. Nhưng nghỉ ngơi không phải là thứ làm tôi thích thú nhất trong những đợt nhập thất như thế này. Luôn khám phá ra một điều gì đó của tự thân mà tôi không hề ngờ tới mới là điều thú vị nhất. Đôi khi đó là một cảm xúc sâu sắc về lòng biết ơn và niềm vui. Trong những khoảnh khắc ấy tôi có thể tận hưởng được phần nào những hoa trái của sự tu tập. Nhưng nhiều khi, đó có thể là một vết thương tôi đang mang trong mình hay tâm trạng buồn chán, cô đơn. Những giây phút ấy, tôi thấy mình chạm tới một cái gì đó bấy lâu nay đã được nuôi dưỡng trong chiều sâu tâm thức của mình. Và khi tôi bắt đầu mở lòng ra để thừa nhận sự có mặt của nó, của cả lớp khổ đau này, tôi luôn cảm thấy bị cuốn hút và kinh ngạc nhận ra rằng hình như nó luôn thường trực có mặt đó thông qua mỗi hành động của tôi trong đời sống hàng ngày. Nó giống như một bức toan, trên đó tôi không ngừng vẽ lên mỗi ngày mọi trải nghiệm buồn vui của mình.

Khi chia sẻ với bạn như vậy, tôi có thể cho bạn cảm tưởng các khóa nhập thất của tôi không dễ chịu chút nào, giống như khi phải làm các việc vặt, nhưng sự thực hoàn toàn ngược lại. Ngay từ lần đầu tiên tôi đã nhận ra rằng chạm vào được gốc rễ của khổ đau là một trải nghiệm vô cùng bổ ích, rất đáng làm. Mỗi kinh nghiệm đi qua đem tới cho tôi thật nhiều năng lượng, đầy hy vọng và cảm hứng để tiếp tục thực tập. Có vẻ hơi lạ khi nói điều này, nhưng đây thực sự là những gì tôi thấy. Tôi có cảm giác là trong cuộc sống hàng ngày, tôi thường rời xa trái tim mình. Và những giây phút im lặng của kỳ nhập thất đã giúp tôi về yên lại chính nơi tâm mình. 

Tôi đã luôn là một người phức tạp. Từ khi là một đứa trẻ tôi đã rất hiếu động, ít khi hài lòng với những điều mà đa số những đứa trẻ khác đều có thể chấp nhận bằng một thái độ vui vẻ và trân trọng. Ở tuổi thiếu niên, tôi có cảm giác mình không có chỗ đứng trong thế giới này và mọi thứ trong xã hội dường như đều đi ngược lại với những nguyên tắc của tôi. 

Là một tu sĩ trẻ, tôi cũng cảm thấy có gì đó còn thiếu trong cuộc sống của mình, nhưng rồi giáo pháp đã từ từ thấm vào trái tim tôi. Kể từ đó, mặc dù tôi nhận thấy thân tâm mình không có sự thay đổi nào rõ nét – tôi thấy tôi chẳng khác gì nhiều so với chàng thanh niên đầy hoang mang của 10 năm về trước khi đến tu viện lần đầu, nhưng vì một lý do nào đó, tôi không còn tin vào lý lẽ của anh chàng lãng tử trong tôi nữa. Đôi khi, anh chàng hiện hình và tìm cách sáng tạo ra một câu chuyện gì đó, khi ấy tôi nhìn chàng rồi thong thả hỏi: “Này, anh từ đâu đến vậy?”. Có đôi khi, tôi nói: “Trông anh mệt rồi đấy, sao anh không đặt vali xuống, nghỉ ngơi một chút trước khi tiếp tục cuộc hành trình bất tận của mình?”. Thời gian trôi qua, dần dần anh chàng trở thành bạn với tôi. Tôi vui mừng chào đón sự trở lại của anh dù anh có khuynh hướng xuất hiện tuy chẳng được mời, lại đúng vào những thời điểm không mong đợi. Thực sự là ngay bây giờ, anh chàng đang ngồi đây cùng tôi, khi tôi đang viết những dòng này và đang tự hỏi chuyện gì sẽ diễn ra trong những tuần tới. 

 

 

Ban đầu, tôi đi tu với ý định “quay lưng lại với xã hội”. Đời sống xuất sĩ kỳ thú cuốn hút tôi đến độ tôi nghĩ mình có thể quên hết mọi nhu cầu, mọi ước vọng về tình yêu, sự thừa nhận xã hội cũng như mọi tiện nghi về tình cảm. Nhưng bây giờ, kể cả khi đã là một tu sĩ rồi, tôi biết rằng rất khó để vượt qua những nhu yếu này. Đương nhiên, chúng không còn thô như khi chúng ta theo đuổi cuộc sống ở bên ngoài nhưng hương vị của chúng thì vẫn dễ dàng nhận ra được trong đời sống hàng ngày.

Đôi khi, tôi chăm sóc một sư em trong đại chúng, đây là việc một vị giáo thọ thường làm. Tuy vậy, nếu tôi thật sự trung thực với mình, tôi cần thừa nhận là tôi không chỉ quan tâm tới những tiến bộ trong thực tập và hạnh phúc của các sư em. Một phần trong tôi tìm kiếm sự công nhận trong mắt các sư em. Tôi luôn cần được thương và được hiểu. Tôi không thể ngăn mình mong ước những điều này. Lần đầu tiên nhìn ra chuyện đó, tôi đã rất choáng váng, tôi phản ứng lại chính mình bằng một năng lượng vừa căm ghét vừa xấu hổ. Không cần nói hẳn bạn cũng biết là những phản ứng này không hề giúp tôi cảm thấy dễ chịu hơn và cũng không đem thêm chút nào cảm thông và chấp nhận trong đời sống của tôi.

Thật may mắn, tiếng gọi “Hãy thương chính mình”, như gàu nước lạnh, đã được dội xuống tôi hết lần này tới lần khác. Và rồi một ngày kia, tôi đã có can đảm lắng nghe tiếng nói ấy. Tôi không nhớ giây phút này đã diễn ra lần đầu tiên vào lúc nào nhưng, theo dòng thời gian, có gì đó đã thay đổi rõ nét trong tôi. Bây giờ mỗi khi tôi giật mình nhận ra mình đang đi theo “lối cũ” – đang đi vào lối mòn của căm ghét và mặc cảm hay đang đòi hỏi tình thương và sự công nhận, tôi thường nghĩ tới hình ảnh một cái thất nhỏ nằm giữa những đỉnh núi đầy tuyết phủ. Tôi chưa bao giờ tới đó nhưng tôi biết nơi ấy gìn giữ Tâm ban đầu của tôi. Đó là biểu tượng của niềm mong ước sâu xa về tự do tuyệt đối, về sự vượt thoát nhu yếu rất con người trong tôi là được chấp nhận, được thương yêu và chăm sóc.

Đó là một căn nhà đơn sơ bằng đá có cửa ra vào bằng gỗ và cửa sổ nhìn xuống thung lũng. Bước vào trong, sẽ chỉ có một lò củi nhỏ, một bục gỗ làm giường, một cái bàn và kệ gỗ để ngồi đặt ngay trước cửa sổ, nơi mỗi ngày tôi có thể ngắm mây trời đến đi trên thung lũng.

Nơi ấy, cuối cùng, tôi có thể bình thản khóc cười với buồn vui của chính mình mỗi ngày. Tôi đã tiếp xúc và nuôi dưỡng những tâm nguyện của mình như thế. Đó là nơi tôi trở về nương náu khi lo lắng, cô đơn và bất an có mặt trong tôi.

Một vị thiền sư Trung Hoa đã viết bài thơ này vào một ngày hè, khi ngài đang sống ở một tu viện nằm trong lòng một thành phố đông người:

三面僧鄰一面牆 

更無風路可吹涼

 他年捨此歸何處

 青壁紅霞裹石房

Tam diện tăng lân nhất diện tường

Cánh vô phong lộ khả xuy lương 

Tha niên xả thử quy hà xứ 

Thanh bích hồng hà khoả thạch phòng 

(Thiền sư Tề Kỷ)

Ba hướng tăng nhân, một bức tường 

Nẻo nào cho gió thoảng thanh lương 

Bỏ hết, mai ta về đâu nhỉ 

Thạch thất đồi xanh quyện ráng hồng 

(Bản dịch của thầy Nguyên Tịnh)

Khi đọc bài thơ này tôi đã mỉm cười! Tôi nghĩ tới tác giả và tự nói với mình: “Không lạ lùng sao? Hơn một ngàn năm trôi qua rồi vậy mà cuộc sống của tôi và của Ngài thật giống nhau quá!”. Niềm vui của tôi, trong một thoáng bất ngờ, đã biến thành tình bằng hữu, thành sự tương giao vượt thoát không gian và thời gian. Tôi nghe lòng mình mở ra. Thoáng chốc, dòng chảy sự sống cuồn cuộn trôi trong cả châu thân.

Mỗi khi có thể tiếp xúc với không gian nội tâm này, tôi thấy thật lạ là tôi thường muốn được chia sẻ với ai đó. Nó giống như một hành động hiến tặng sự tử tế và tình thương. Khi trẻ tuổi hơn bây giờ, tôi đã từng làm như thế nhưng khi đó tôi thấy điều mầu nhiệm này đã xẹp xuống như một quả bóng bị châm kim. Tôi nhận ra rằng có những điều không thể nói bằng lời. Trong cuộc sống, được gặp gỡ hai hay ba người bạn có thể hiểu chúng ta chỉ sau một thoáng nhìn, ta có thể coi như mình là một trong số những người may mắn. Không phải lúc nào tôi cũng có mặt trong số này nhưng tôi biết chừng nào tôi còn giữ được sự ấm áp cho thạch thất của mình thì chừng đó tôi còn có đủ năng lượng để đi tới, để tiếp tục thử nghiệm.

Tôi hy vọng là bạn sẽ tạo dựng cho mình một thiền thất như thế, nằm bên một hồ nước trong xanh hay bên một thác nước cuộn chảy đêm ngày. Biết đâu, một ngày, tôi sẽ tới thăm bạn. Ban đầu, có thể bạn sẽ không biết tôi tới nhưng nếu bạn để cửa ngỏ, tôi sẽ nhẹ nhàng bước vào. Tôi sẽ nhìn bạn viết sổ công phu hay đọc kinh cho tới khi bạn nhận ra sự có mặt của tôi và mỉm cười với tôi. Có thể chúng ta sẽ giữ im lặng, có thể chúng ta sẽ vui vẻ nói với nhau về chuyện này chuyện kia. Thực ra,  điều đó không có gì quan trọng bởi hai chúng ta đều biết rằng chẳng có điều gì thực sự cần phải nói. Có thể tôi đã quen biết bạn từ trước. Chúng ta đã cười với nhau mà không cần biết mỗi chúng ta đang mang điều gì trong lòng. Cũng có thể là bạn còn chưa ra đời và còn cần cả nghìn năm nữa để cho cha mẹ bạn gặp nhau. Thêm một lần nữa, điều ấy cũng không thực sự quan trọng. Khi tôi viết ra thế này, tôi có cảm giác rất thật là tôi đang nắm tay bạn. Sau cùng, khuôn mặt và nụ cười bạn soi bóng xuống mặt hồ, in dấu trong những hàng cây, đồng cỏ bên ngoài cửa sổ và trong cả ánh mặt trời vừa hiện ra sưởi ấm ngày đầu tiên trong kỳ nhập thất của tôi.

 

 

 

Pháp Thân Tạng

Chuyện kể rằng, mỗi khi nghe tiếng gió reo vui qua cành lá, tiếng chim líu lo gọi nhau trở về thì những mầm non ngủ say trong lòng đất cũng cựa mình thức giấc… 

Một sớm đầu xuân, triền đồi Xóm Thượng đã vàng rực những hoa thủy tiên. Cánh hoa mỏng và tươi như tự mình ướp hết những giọt nắng vàng của trời xuân.

Sư Ông đã đặt tên nơi ấy là “Pháp Thân Tạng”- tức là kho tàng của Pháp Thân. Hàng ngàn, hàng vạn bông hoa bé xíu tái sinh từ lòng đất như những vị Bồ Tát tùng địa dũng xuất.

Bồ Tát lên nghe kinh hay là Bồ Tát đang thuyết pháp? 

Thương mời mọi người dừng chân bên sườn đồi và hòa mình giữa lòng bao la để ngắm nhìn “Pháp thân tạng”: