Ngát hương thơm quê mẹ

(Bài viết của Giải Hạnh đã được đăng trên Báo Giác Ngộ ngày 15/4/2021)

Những ngày cuối tháng 3, giữa tiết trời nóng bức của phương Nam, nhiều người vẫn dành thời gian để ghé qua một không gian triển lãm đặc biệt. Nói đặc biệt bởi trong triển lãm này, mọi thứ được xếp đặt không chỉ với mục đích trình diễn hay thiên về việc thưởng lãm. Ở đó, những người tổ chức đã tạo nên một không gian bình yên, thư thả. Khách có thể đến trong yên lặng và về cũng trong yên lặng. Mạch kết nối duy nhất giữa không gian, tác phẩm và con người chính là những rung động trong sâu thẳm tâm hồn.

 

 

100 tác phẩm – 100 bức thư pháp do Thiền sư Thích Nhất Hạnh chấp bút, trong đó có cả các bức thư pháp cuối cùng được Thầy viết tại nội viện Phương Khê (Pháp), cùng góp mặt trong triển lãm mang tên “Hương thơm quê mẹ”. Cái tên ấy gợi nhắc cho nhiều người, nhất là những người lớn tuổi nhớ lại “Giữ thơm quê mẹ”, một tờ báo mang khuynh hướng dung hòa giữa văn nghệ và triết lý đạo Phật do thầy Nhất Hạnh sáng lập vào thập niên 60 của thế kỷ trước. Đó là cách thầy Nhất Hạnh năm xưa từng thực hiện để làm mới đạo Phật. Thầy luôn ấp ủ trong mình mong muốn làm mới, đem đạo Phật đi vào cuộc đời, tháo bỏ lớp áo huyền nhiệm mà bao thế hệ đã khoác lên để đưa Đức Phật, mà thầy quen gọi một cách rất Việt Nam là Bụt, tới gần hơn với quần chúng, với con người. Mấy mươi năm hành đạo ở phương Tây, rồi quay về quê hương, thầy vẫn luôn đi đúng con đường mà mình đã chọn.

Một trong những bài viết của thầy nói về thư pháp, về làm mới sự thực tập đạo Phật mà người viết có cơ duyên được tiếp xúc lần đầu, khi còn sinh viên, đó là “Hẹn nhau mùa hoa đào sang năm”. Trước đó, tôi chỉ được biết tới thủ bút của thầy trên những bìa sách thanh tao kèm những bức minh họa mang đậm hồn vị dân tộc mà sau này mới được biết tác giả chính là đôi vợ chồng họa sĩ Nguyễn Thị Hợp – Nguyễn Đồng. Lúc bấy giờ, tôi chưa từng có ý niệm rằng nét chữ của Thiền sư Nhất Hạnh là thư pháp, bởi đã quá quen với những nét mác phẩy của nền thư pháp chữ Hán được những bậc cao niên trong gia đình chỉ vẽ cho. Câu hỏi trong bài viết của thầy như một sự đánh động tâm thức của một người trẻ lúc ấy: “Tôi thấy nhiều nhà thơ Việt Nam hiện đại đã viết thơ của mình thành bức, bằng chữ Việt, có khi viết bằng bút lông, có khi viết cả bằng bút sắt… Tại sao chỉ viết chữ Hán?”. Từ đó, dần dần, tôi để tâm nhiều hơn đến thư pháp của thầy và nhận ra được nhiều điều thú vị hơn đằng sau những con chữ ấy.

 

 

Công tâm mà nói, chúng ta không thể đem cái nhìn gắn liền với những nguyên tắc cứng nhắc gần như đã thành lề luật trong nghệ thuật thư pháp để ngắm con chữ của Thiền sư Nhất Hạnh. Chữ của thầy đứng ngoài mọi nguyên tắc ấy. Nhà phê bình nghệ thuật Hồng Kông Eva Yuen gọi những tác phẩm thư pháp của thầy Nhất Hạnh là “choreographic calligraphy”, tức nghệ thuật kết hợp giữa thư pháp và vũ đạo. Nhưng có lẽ chúng ta không cần bàn sâu vào vấn đề nghệ thuật, phạm trù ấy dành cho những chuyên gia có thẩm quyền hơn. Ở đây, tôi muốn nói về một khía cạnh khác trong thư pháp của thầy, đó là những nội dung mà thầy chuyển tải qua câu chữ.

Và quả thật, tất cả những bức thư pháp của thầy đều là một lời nhắc nhở người xem về sự thực tập chánh niệm trong đời sống hàng ngày. Những câu chữ được thầy thể hiện không phức tạp mà hết sức gần gũi, giản dị. Khi nghe nhắc đến thiền ngữ, chắc không ít người nghĩ đến những giai thoại kỳ thú giữa các thiền sư, những công án khó thấu triệt, những câu nói hàm nghĩa sâu xa mà một người bình thường không thể hiểu hết được. Nhưng với thầy Nhất Hạnh, thiền ngữ đơn giản là những câu nói có công năng giúp cho mọi người nhận diện được thực tại, hạnh phúc, quay về với hơi thở, bước chân có ý thức và nuôi lớn được chánh niệm bằng sự thực tập. “Uống trà đi”, “Vô sự”, “Mỗi bước chân là Tịnh độ”,… chỉ vậy mà thôi. Đôi lúc thiền ngữ lại là một câu kệ, bài thơ do thầy sáng tác, một câu lẩy Kiều được thầy diễn đạt lại dưới góc nhìn thiền quán.

 

 

Thư pháp – đó chính là cách để thầy diễn đạt những thiền ngữ ấy bằng giấy trắng mực đen. Đối với thầy Nhất Hạnh, viết thư pháp cũng là một môn thiền định, “trong thư pháp của tôi, có mực, trà, hít thở, chánh niệm và sự tập trung… Khi viết thư pháp, tôi luôn tìm cách viết như thế nào để có thể chế tác và duy trì được năng lượng niệm, định, tuệ và từ bi trong suốt thời gian viết”. Có lẽ cũng vì lý do đó, mỗi thiền sinh khi đứng trước một thư pháp của thầy đều cảm nhận được ít nhiều sự phát sinh của năng lượng bình an.

Không ít lần, thư pháp của Thiền sư Nhất Hạnh được triển lãm tại nhiều nơi trên thế giới như Mỹ, Pháp, Đài Loan, Thái Lan,… và nhận được sự quan tâm từ giới nghiên cứu mỹ học lẫn thiền học. Tuy nhiên, chỉ đến khi “Hương thơm quê mẹ” được tổ chức tại TP.HCM, lần đầu tiên, công chúng Việt Nam mới có dịp được bước chân vào không gian thiền… chữ của thầy Nhất Hạnh. Bên cạnh những bức thư pháp, còn là hoa, các đầu sách của thầy viết bằng tiếng Việt đã được xuất bản tại Việt Nam, các “pháp khí” gợi lên những phương pháp thực tập thân và tâm mà thầy đã từng hướng dẫn suốt nhiều năm qua: một quả quýt, vài que diêm, những hạt bắp,… Bắt đầu từ những bước chân đầu tiên cho tới khi kết thúc một vòng dạo quanh vài trăm mét vuông của phòng triển lãm, nếu chuyên chú và gạt được những lo toan, bộn bề để thưởng lãm, có lẽ người xem cũng đã hoàn tất trọn vẹn một vòng thiền hành, hít thở và thụ hưởng một không gian tĩnh lặng…

 

 

Một tiếng chuông ngân lên, những cuộc trò chuyện tạm dừng, những bước chân cũng tạm dừng, những nghĩ suy cũng tạm dừng,… chỉ có hơi thở và sự sống tiếp diễn. Giây phút ấy, phòng triển lãm trở thành một thiền đường đúng nghĩa, điều mà có lẽ chưa một triển lãm nghệ thuật nào tại Việt Nam từng thực hiện và thực hiện được. Giây phút ấy, cái đẹp sâu sắc nhất ẩn chứa trong những bức thư pháp của Thiền sư Nhất Hạnh bất chợt biểu hiện thật rõ ràng và sinh động.

 

 

Tiếp xúc với hạnh phúc

(Trích pháp thoại Sư Ông Làng Mai giảng về kinh “Tam Di Đề” tại Xóm Thượng ngày 14/9/1994)

Tiếp xúc với hiện tại là tiếp xúc với hạnh phúc

Ngày xưa lúc Bụt sắp nhập diệt, thầy A Nan rất đau buồn. Thấy vắng thầy A Nan nên Bụt hỏi, các thầy mới bạch cho Bụt biết thầy A Nan đang đứng khóc ở sau một gốc cây. Bụt liền kêu thầy A Nan đến và an ủi rằng: “Nếu chư Bụt quá khứ có những thị giả giỏi, thì họ cũng chỉ giỏi bằng thầy A Nan mà thôi”. Thầy A Nan lo cho Bụt hết lòng. Kinh Du Hành và Kinh Niết Bàn có ghi lại những câu Bụt khen thầy. Tuy nhiên, trong những kinh khác, ta thấy thỉnh thoảng thầy A Nan cũng được Bụt nhắc nhở là đừng có lo chuyện thị giả quá mà quên những điều mầu nhiệm đang xảy ra chung quanh mình. Dưới mắt của người thị giả thì chỉ có Thầy thôi, còn tất cả những chuyện khác đều như không có. Như vậy chưa phải là thị giả giỏi. Bằng chứng là Bụt thường nhắc thầy A Nan nhìn và sống với những cái mầu nhiệm đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Trong kinh có rất nhiều câu nhắc nhở của Bụt:

– Này thầy A Nan, thầy có thấy những thửa ruộng trải dài dưới chân đồi, những cánh đồng lúa chín vàng, trải tận chân trời, đẹp mầu nhiệm như thế nào không?

– Đẹp lắm, đẹp lắm, thưa Đức Thế Tôn.

Nếu Bụt không nhắc thì thầy đâu có thấy! Rồi Bụt lại nói:

– Cái áo Tăng Già Lê của các thầy nếu may theo kiểu của những đám ruộng này thì chắc đẹp lắm.

– Dạ để về con bàn với mấy sư huynh, chế cách may áo Tăng Già Lê theo mô thức của những đám ruộng đó.

Có lúc Bụt lại hỏi:

– Thầy A Nan thầy có thấy núi Linh Thứu đẹp không?

– Bạch Đức Thế Tôn đẹp lắm!

Đến năm thầy trò an cư lần cuối ở thành phố Vaisali, Bụt nói:

– Thành phố Vaisali đẹp quá hả thầy A Nan?

– Dạ bạch Đức Thế Tôn đẹp lắm.

– Cái đền này đẹp không?

– Dạ đẹp lắm.

– Cái đền kia cũng đẹp phải không?

– Dạ bạch Đức Thế Tôn cũng đẹp lắm.

Khi tới vùng có suối nước nóng, Bụt cũng khen và thầy A Nan cũng nhớ những vùng có suối nước nóng là rất đẹp. Đức Thế Tôn luôn luôn nhắc nhở như vậy vì Ngài thấy thầy A Nan mải lo cho Bụt mà quên hái những bông hoa tươi thắm trong đời sống hàng ngày.

Tại Làng Mai những vị đã từng làm thị giả cho thầy, chắc đã thấy thầy học được rất kỹ bài học này của Bụt. Khi nào thầy thấy ngôi sao mai lấp lánh trên nền trời thì thầy nói “Con! Con có thấy ngôi sao mai lấp lánh kia không?” hay “Con có thấy hoàng hôn rực rỡ hay không?” và luôn luôn thầy nhắc như vậy. Đó là một sự thực tập. Ta phải sống như thế nào để những hạt giống của hạnh phúc được tưới tẩm trong ta. Khi được tiếp xúc với hạnh phúc mà ta có khả năng tiếp nhận được hạnh phúc thì ta mới có thể giúp được sư em, sư chị, sư anh và sau này, học trò của ta. Cái đó gọi là “La culture de là joie”, “La culture du bonheur”, tu tập hạnh phúc, tu tập niềm vui, tu tập thương yêu.

 

 

Mình chỉ có thể làm được những điều đó khi mình có cái năng lượng gọi là chánh niệm. Nếu không có chánh niệm thì làm sao thấy được núi Linh Thứu đẹp? làm sao thấy được trời mưa là đẹp? Làm sao nhận ra mưa là một phần phải có của quê hương đích thực của ta, và làm sao thấy chính ta đang ở trong quê hương đích thực, không cần phải đi tìm ở đâu cả? Thở vào tôi biết là trời đang mưa, thở ra tôi mỉm cười với mưa, thở vào tôi biết mưa là một phần phải có của quê hương đích thực của tôi, thở ra tôi mỉm cười với quê hương của tôi hiện đang có mặt.

Cái thiên đường mình nghĩ rằng đã mất, ai sẽ giúp mình khôi phục được nó? Chánh niệm! Chánh niệm có thể giúp khôi phục lại cái quê hương mình đã đánh mất. Muốn phát ra cái năng lượng chánh niệm đó, chúng ta cần có một bầu không khí, một môi trường để tu tập cùng với tăng thân.

Ngồi cho yên, đứng cho vững

Chúng ta thường có khuynh hướng muốn đi tìm hạnh phúc và phủ nhận, chối từ cái quê hương đang có trong hiện tại vì nghĩ rằng hiện tại chỉ là khổ đau. Ta nghĩ hạnh phúc chỉ có thể có được ở trong tương lai và quê hương đích thực chỉ có mặt trong quá khứ mà bây giờ thì đã mất rồi! Cái khuynh hướng trốn chạy và chối từ đó đã trở thành một tập khí, nên bây giờ ta không đứng yên, không ngồi yên được nữa, ta chỉ có thể chạy thôi! Người Việt thường nói ngồi như ngồi trên đống lửa! là vì ta đã mất cái khả năng gồi yên, cái khả năng an tọa. Xin mời sư huynh an tọa, nghĩa là mời anh ngồi xuống trên một đóa sen, đừng ngồi như ngồi trên một đống lửa. Người không tu tập không tu tập thì không có khả năng ngồi yên. An tọa có nghĩa là ngồi yên và ngồi yên an lạc thì đó là ngồi trên một đóa sen. Dầu ngồi trên một tảng đá, dưới một gốc cây, hay trên một đồi cỏ, nếu ta biết an tọa thì chỗ ngồi đó sẽ biến thành một đóa liên hoa. Ta thường vẽ Bụt ngồi trên đóa sen là vì Bụt biết an tọa. Bụt ngồi ở đâu cũng là ngồi trên đóa hoa sen là vì Ngài am tường nghệ thuật an tọa.

Khi về tới quê hương là ta đã trở về nơi ta thương yêu nhất, thoải mái nhất, thì ta còn phải đi tìm gì nữa? Gia đình Phật tử Việt Nam có bài hát “Kính mến Thầy”, trong đó có một câu rất ngộ:

            Hôm nay Thầy về đây,

            Chúng con xin kính chào Thầy,

            Trong giờ phút vui này,

            Chúng con biết làm gì đây?

Thương thầy và được gặp thầy thì mình ngồi yên, an tọa với thầy là chuyện phải làm. Cái gì mà thương mến nhất, điều gì khiến ta cảm thấy thoải mái nhất, khi đã đạt rồi thì ta đâu cần làm gì nữa? Tại sao gặp được người mình thương, tới được chỗ ta coi là quê hương mà còn phải lăng xăng “không biết làm gì đây”? Vì vậy tôi đề nghị với các cháu sửa câu này lại là:

            Trong giờ phút vui này,

            Chúng con quyết lòng ngồi đây.

Người Việt có nhiều câu rất hay để diễn tả những người không có khả năng đi đứng, nằm, ngồi yên ổn. Ví như trong truyện Kiều:

            Vậy nên những chốn thong dong,

            Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng,

            Ma đưa lối, quỉ dẫn đàng,

            Lại tìm những chốn đoạn tràng mà đi.

Ở những chỗ thong dong như mái chùa, như tại Làng Mai, xóm Thượng, xóm Hạ, mà mình vẫn không an trú được, thì đúng là ta bị ma quỉ nó xúi đi về những nẻo đường tăm tối, những nẻo tạo nên trạng huống đau buồn đứt ruột. Những nẻo đường đó do đâu mà có? Chính là do những tập khí năm xưa, và tập khí đó là ma, là quỉ.

Một câu ví von khác là “Như bắt cóc bỏ vào đĩa!” Con cóc sống mà đạt lên cái đĩa thì nó ngồi yên được bao lâu? Nếu ta ngồi không yên, đi không vững ngay tại những nơi đáng lý ta phải có an lạc, thì đó là những năng lượng tiêu cực của tập khí, những năng lượng phát sinh từ tư tưởng ta đã đánh mất quê hương, đánh mất thiên đường, và từ ý tưởng rằng quê hương ấy chỉ có trong quá khứ hoặc trong tương lai. Nếu chuyên tâm và khôn khéo tu tập, ta có thể tạo được, khôi phục lại được cái quê hương ấy ngay bây giờ và ở đây.

 



Đi cho thảnh thơi

Giới bình dân mô tả những người không thể đi một cách thong thả, thảnh thơi bằng những câu rất hay như “chân đi không dính đất”, “chạy như chó đạp lửa”. Đi mà chân không dính đất là đi mà không biết mình đi, là đi như ma đi, còn chó mà đạp phải lửa thì nó chạy cuống quít, vừa chạy vừa kêu la, tâm thần tán loạn. Cái khả năng có thể tìm ra quê hương, an trú trong quê hương, hái được bông hồng trong quê hương, nghe được tiếng mưa trên quê hương là một hạt giống tích cực. Cái tập khí trốn chạy, làm thân cùng tử là một loại năng lượng tiêu cực. Nhờ tu tập chánh niệm, mỗi khi hạt giống tiêu cực này phát hiện, ta nhận diện được nó, mỉm cười với nó và nói “biết rồi, ta biết ngươi rồi”. Ngay giây phút ta nhận thức được cái tập khí đó, thì nó không còn làm gì được ta nữa, tự nhiên ta an trú được liền trong chánh niệm. Có rất nhiều kinh đề cập đến việc ma vương xuất hiện trong thời gian Bụt ngồi dưới cội Bồ Đề, nhưng mỗi lần ma vương xuất hiện, Bụt biết là ma vương và Ngài nói “Ta biết ngươi là ma vương”, thì ma vương vội vàng biến đi. Những bậc tu hành thâm hậu họ có khả năng ngồi yên, ngồi yên trong bất cứ hoàn cảnh nào. Hòa Thượng Thích Quảng Đức là một điển hình, Ngài đã ngồi yên trên tòa sen giữa đường Phan Đình Phùng trong khi lửa bốc cháy, thiêu đốt nhục thân của Ngài. Đó là một hình ảnh có thể dùng để cực tả cái khả năng an trú trong hiện tại của một con người. Vì vậy mà ta gọi Ngài là Bồ Tát Quảng Đức.

Kinh Samiddhi dạy ta những phương pháp tu tập để tận hưởng được nguồn hạnh phúc có ngay trong giây phút hiện tại. Kinh cũng dạy ta đừng chạy trốn, đừng lìa bỏ quê hương mà ta đang có để đi tìm một quê hương, một thiên đường, một bóng dáng của hạnh phúc vốn chỉ là ảo mộng mà thôi. Ta có thể nghiên cứu Kinh Samiddhi rất sâu để tìm được giáo lý mầu nhiệm của Bụt tiềm tàng trong từng câu, từng chữ trong Kinh.

Phỏng vấn thầy Pháp Nguyện: Sư Ông lúc nào cũng hướng về đất nước và con người Việt Nam

Thầy Pháp Nguyện đã từng có cơ hội được làm thị giả của Sư Ông Làng Mai trong vài năm. Từ đó đến nay, Thầy đã cùng Tăng thân tổ chức thành công các cuộc triển lãm thư pháp của Sư Ông tại một số thành phố lớn trên thế giới. Thầy cũng là người biên soạn cuốn sách “Hương thơm quê mẹ” và tham gia tổ chức các sự kiện nhân dịp ra mắt cuốn sách và triển lãm thư pháp lần này tại Việt Nam.

Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn của Báo Người Đô Thị với thầy Pháp Nguyện nhân sự kiện ra mắt sách và triển lãm thư pháp của Sư Ông Làng Mai tại thành phố Hồ Chí Minh.

 

Là người tổ chức triển lãm thư pháp cho Sư Ông tại Thái Lan năm 2019 và biên soạn cuốn sách Hương thơm quê mẹ, thầy có thể chia sẻ về việc viết thư pháp của thiền sư Thích Nhất Hạnh và những triển lãm trước đây trên thế giới?

Bắt đầu vào mùa thu năm 2010, sau chuyến hoằng pháp tại Hồng Kông, một bác sĩ ở Hồng Kông đã tổ chức cho Sư Ông một triển lãm thư pháp. Đó là triển lãm thư pháp và ra mắt sách thư pháp đầu tiên của Sư Ông. Sau triển lãm đầu tiên thành công đó, đã có chuỗi triển lãm diễn ra ở Canada, Pháp, Đức, Mỹ, Thái Lan… Cuốn sách thư pháp được tái bản lần thứ hai và ra mắt ở Đức.

 

Sư Ông tại triển lãm thư pháp 2013 ở Băng Cốc, Thái Lan

 

Năm 2019, triển lãm thư pháp một lần nữa diễn ra ở Thái Lan và cuốn sách được tái bản có lần thứ ba. Mỗi lần tái bản thì nội dung cũng được làm mới. Đây là lần đầu tiên triển lãm và ra mắt sách thư pháp của Sư ông tại Việt Nam. Cuốn sách này, tuy là cuốn thứ tư, nhưng có thể nói nội dung lại giàu có nhất, với gần 70 bức thư pháp Việt, Anh. Đặc biệt, trong cuốn này có tấm thư pháp “Một ngón chân nhúc nhích” lần đầu tiên được xuất hiện trước công chúng.

Nghe rất đơn giản nhưng đây là tấm thư pháp kỷ niệm của Làng Mai. Trong một lần nhập viện tại bệnh viện Agen miền nam nước Pháp, bàn chân phải của Sư Ông không cử động được trong một thời gian ngắn. Nhưng vào một buổi tối, đột nhiên một ngón chân của Sư Ông đã nhúc nhích được. Điều này đã làm cho Sư Ông và quý thầy, quý sư cô rất hạnh phúc.

Sau khi xuất viện, Sư Ông đã viết tấm thư pháp này tại nội viện Phương Khê để nhắc nhở chúng ta biết trân quý những điều kiện mà mình đang có, dù chỉ một ngón chân hay một ngón tay đang nhúc nhích. Đây là tấm thư pháp cuối cùng được Sư Ông viết vào ngày 15.10.2014. Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta quên đi những điều vô cùng đơn giản xung quanh mình, có thể là người thương đang ở bên cạnh, nhưng ngày qua ngày, mình cảm thấy điều đó thường đi. Khi sức khỏe còn, tim đang đập, chân đang đi, đôi lúc mình không biết trân quý, đến khi có chuyện xảy ra, mình mới biết trân quý.

Tấm thư pháp mang thông điệp nhắc nhở quý thầy, quý sư cô và mọi người biết trân quý những điều xung quanh mình, dù đó là điều đôi khi rất nhỏ nhoi. Người biết biết ơn, là người có hạnh phúc. Người biết đủ là người giàu có nhất, hạnh phúc nhất trên đời.

Song song đó là rất nhiều tấm thư pháp chuyển tải các vấn đề trong cuộc sống hằng ngày, giúp mình thực tập mỗi ngày để hạnh phúc và bình an hơn. Ví dụ tấm Thở và cười, Uống trà đi. Uống trà là một nghệ thuật, uống trà là để có mặt, để ngồi yên. Mỗi buổi sáng, trước khi đi làm, mình ngồi yên, thưởng thức một chén trà, thì lúc đó mình đang có mặt, đang tiếp xúc với giây phút hiện tại. Chính giây phút tiếp xúc với hiện tại đó là giây phút bình an chứ không phải là vô chùa thắp cây nhang mới là bình an.

Về nghệ thuật thư pháp. Ở Việt Nam, Nhật, Trung Hoa, có rất nhiều người viết thư pháp đẹp. Thư pháp Sư Ông viết chứa đựng sự tu học của Sư ông. Sư Ông viết thư pháp có niệm, định, tuệ. Khi Sư Ông đặt cây bút xuống, lúc đó, Sư Ông hoàn toàn có mặt trong giây phút đó. Khi Sư Ông viết xong, chữ thư pháp đó đi ra bằng tình thương. Đúng như tinh thần trong câu thư pháp của sư Ông “Lắng nghe để hiểu, nhìn kỹ để thương“. Mỗi câu thư pháp là để mọi người nhìn vào đó và thực tập đời sống thiền định.

Trong những năm đầu thành lập Làng Mai, từ những năm 1982, Sư Ông viết những bức như Thở đi con, An lạc từng bước chân, Từng bước nở hoa sen để cho mọi người đi mà nhớ quay về. Có những lúc mình đi nhưng mình thất niệm, đầu óc nghĩ này nghĩ nọ, tự nhiên thấy những bức thư pháp Sư Ông viết treo trên đường đi, mình liền nhớ phải trở về với hơi thở, với bước chân. Mục đích ban đầu của những bức thư pháp mà Sư ông viết là như vậy.

 

 

Khi treo thư pháp ở tu viện, thiền sinh thích và xin thỉnh về: “Thầy ơi, thầy viết cho con bức để con về con treo ở nhà”. Thức dậy miệng mỉm cười. Hăm bốn giờ tinh khôi. Xin nguyện sống trọn vẹn. Mắt thương nhìn cuộc đời. Ví dụ mấy câu này treo ở phòng ngủ, sáng thức dậy, mọi người nhìn thấy và bắt đầu ngày mới với những công việc hằng ngày.

Qua thời gian, trải qua 20 – 30 năm, nét chữ thư pháp của Sư Ông thong dong hơn, thảnh thơi hơn, mang nhiều ý nghĩa hơn. Cá nhân Pháp Nguyện đi theo Sư Ông trong 6 năm, nhìn thấy rất rõ sự chuyển hóa trong từng nét chữ của Sư Ông. Không phải là nét chữ đẹp hơn mà nét chữ thong dong hơn, tự tại hơn. Ở Làng, mỗi khi Sư Ông dạy cho quý thầy, quý sư cô viết thư pháp, Sư Ông nói: “Cuộc đời vốn phức tạp quá rồi, các con không cần phải làm cho cuộc đời phức tạp hơn, nên viết thư pháp sao để người ta nhìn vô đọc được liền, hiểu liền, không cần phải bay múa gì cả, không phải nhìn vô để đoán chữ này là chữ gì”. Nhìn vô nét chữ thư pháp của Sư ông thấy được chiều sâu của công phu thiền tập.

Thông điệp của cuốn sách Hương thơm quê mẹ là gì, thưa thầy?

Mấy chục năm sống xa quê hương, dù ở nơi đâu, Sư Ông lúc nào cũng hướng về đất nước và con người Việt Nam. Tình thương của Sư Ông lúc nào cũng gửi gắm trọn vẹn cho quê hương. Trong cuốn Hương thơm quê mẹ, 68 bức thư pháp thể hiện tinh thần, giá trị đạo đức của con người, văn hóa, dân tộc Việt Nam. Mình có thể tìm ra những phương pháp rất cụ thể và đơn giản để thực tập nếp sống tỉnh thức trong cuộc sống hằng ngày.

Hương thơm quê mẹ mang ba yếu tố. Trước hết đó là văn hóa, đạo đức, tinh thần, giá trị con người Việt Nam. Đất nước Việt Nam có nền văn hóa giàu đẹp. Nhưng quê hương Việt Nam không chỉ giới hạn trong khuôn khổ lãnh thổ Việt Nam. Quê mẹ cũng là quê hương. Quê mẹ gần nhất là Việt Nam nhưng quê mẹ cũng là hành tinh xanh, là quả địa cầu của mình.

Xa hơn nữa, quê mẹ còn là quê hương đích thực có trong từng hơi thở của mình. Khi nào tâm của mình hoàn toàn có mặt với thân, mình trở về với giây phút hiện tại, đó là lúc mình tìm được quê mẹ đích thực của mình. Quê hương đích thực của mình, mình không cần đi đến một nơi xa vời, một vùng đất hứa. Khi bạn hoàn toàn có mặt trong giây phút hiện tại, khi đó đất hứa chính là nơi đây.

 

Thầy Pháp Nguyện chia sẻ ý nghĩa nội dung các bức thư pháp

 

Sư Ông có chia sẻ cảm nhận của mình về triển lãm thư pháp đầu tiên của mình tại Việt Nam không, thưa thầy?

Từ 2008 đến 2014, Pháp Nguyện là một trong những thị giả thân cận của Sư Ông, phụ giúp Sư Ông nhiều trong việc thư pháp. Sư Ông cũng bày tỏ mong muốn sau này có một triển lãm thư pháp tại Việt Nam, đi theo đường hướng của văn hóa, chứ không phải tôn giáo. Trong bộ thư pháp được triển lãm lần này tại Việt Nam, phần nhiều những bức thư pháp tiếng Việt đã được Sư Ông viết riêng cho Việt Nam, và được chuẩn bị trước khi Sư Ông bệnh.

Cuốn thư pháp này đặc biệt ở chỗ có những bức chưa từng xuất hiện ở đâu hết. Kể từ khi Sư Ông bệnh và kể từ bức thư pháp cuối cùng vào năm 2014. Sau bảy năm, đến nay, mọi thứ mới đủ điều kiện, đủ duyên để có mặt tại Việt Nam. Trước khi tổ chức triển lãm, quý thầy quý cô cũng có thưa với Sư Ông, xin phép tổ chức. Sư Ông đã rất vui.

Sau triển lãm ở Sài Gòn, sự kiện sẽ tiếp tục diễn ra ở Hà Nội, và sau đó, nếu tình hình dịch bệnh ổn hơn thì sẽ mang các bức thư pháp đến Thái Lan, Pháp.

Sư ông viết thư pháp bằng tiếng gì là nhiều nhất, với những bức song ngữ Anh – Việt thì Sư ông viết tiếng nào trước?

Phần nhiều thư pháp của Sư ông là tiếng Anh. Bao nhiêu năm nay Sư Ông ở nước ngoài, phần đông người đến tu học cũng là người Tây phương, người Việt đến Làng Mai cũng không bao nhiêu so với người nước ngoài. Để giúp thiền sinh, Sư Ông viết tiếng Anh, tiếng Pháp. Ví dụ như câu “Be beautiful, be yourself” Sư ông viết bằng tiếng Anh trước sau đó Sư ông dịch qua tiếng Việt “Ta có là ta thì ta mới đẹp“. Nhưng cũng có những câu bắt đầu bằng tiếng Việt trước, trong một buổi đi thiền hành ở Xóm Hạ, cái câu tiếng Việt: “Đã về, đã tới” xuất hiện trong đầu Sư Ông trước. Đã về, đã tới, đó là về với ông bà tổ tiên, về với đất mẹ, về trong giây phút hiện tại. Sau đó, Sư Ông mới phóng tác sang tiếng Anh, tiếng Pháp. Nhưng ở cuộc triển lãm này, quý thầy quý sư cô mang về những bức thư pháp tiếng Việt nhiều hơn.

Về sự phát triển của các không gian thiền định, Làng Mai trên thế giới, Sư Ông và quý thầy ở Làng Mai có nghĩ đến một tương lai gần ở Việt Nam không?

Sư Ông dạy rất kỹ, với cá nhân thầy. Sư Ông nói rằng ở Làng Mai mình không chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng, không xây chùa cao móng lớn, mà chỉ chú trọng con người và sự tu học. Sư Ông dùng hình ảnh khay đào và trái đào để nói về việc này. Khay đào dùng để đựng trái đào. Nếu khay đào đẹp, bự, làm bằng những chất liệu sang trọng, bằng ngọc, gỗ, đá quý… mà không có trái đào để chưng thì cái khay đó trở nên vô nghĩa. Nếu bạn đầu tư vô cái chùa mà không tu học thì cũng vô nghĩa. Sư Ông dạy các con phải tập trung vào việc tu học mỗi ngày, chính đó là trái đào, là bài pháp sống, là nguồn cảm hứng để mọi người tu học. Còn lại, mọi chuyện khác phải tùy duyên, phải biết kiên nhẫn chờ đợi.

 

Sách thư pháp song ngữ Việt – Anh “Hương thơm quê mẹ”

 

Con xa đất nước thời thơ ấu

Giọng nói quê hương vẫn ngọt ngào

Nề nếp tổ tông cha nắm giữ

Hương sắc quê nhà mẹ chuyển trao.

Mấy chục năm sống xa quê hương, dù ở nơi nào, Sư ông lúc nào cũng hướng về đất nước và con người Việt Nam. Tình thương của Sư ông lúc nào cũng gửi gắm trọn vẹn cho quê hương. Trong cuốn Hương thơm quê mẹ, 68 bức thư pháp thể hiện tinh thần, giá trị đạo đức của con người, văn hóa, dân tộc Việt Nam. Mình có thể tìm ra những phương pháp rất cụ thể và đơn giản để thực tập nếp sống tỉnh thức trong cuộc sống hằng ngày.

 

 

Hương thơm quê mẹ mang ba yếu tố. Trước hết đó là văn hóa, đạo đức, tinh thần, giá trị con người Việt Nam. Đất nước Việt Nam có nền văn hóa giàu đẹp. Nhưng quê hương Việt Nam không chỉ giới hạn trong khuôn khổ lãnh thổ Việt Nam. Quê mẹ cũng là quê hương. Quê mẹ gần nhất là Việt Nam nhưng quê mẹ cũng là hành tinh xanh, là quả địa cầu của mình.

Xa hơn nữa, quê mẹ còn là quê hương đích thực có trong từng hơi thở của mình. Khi nào tâm của mình hoàn toàn có mặt với thân, mình trở về với giây phút hiện tại, đó là lúc mình tìm được quê mẹ đích thực của mình. Quê hương đích thực của mình, mình không cần đi đến một nơi xa vời, một vùng đất hứa. Khi bạn hoàn toàn có mặt trong giây phút hiện tại, khi đó đất hứa chính là nơi đây. 

Sức mạnh từ phương pháp thiền tập và tuệ giác đã làm cho nghệ thuật thư pháp của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trở nên đặc biệt và được nhiều người yêu thích trên khắp thế giới. “Mọi người đều muốn đem năng lượng của Thầy về nhà. Bức thư pháp Thầy viết chứa đựng năng lượng mà Thầy đã chế tác ra, đó là năng lượng hiểu biết, thương yêu và chánh niệm”. 

“Mỗi tác phẩm thư pháp đều là một đề tài thiền tập. Chẳng hạn như bức thư pháp “Be beautiful, be yourself”. Ta phải là chính ta thì ta mới đẹp. Ta không cần phải trở thành một ai khác. Ví như một đóa sen, tự thân nó đã rất đẹp, nó không cần phải cố gắng để biến thành hoa hồng hay một loại hoa khác mới đẹp. Trong mỗi chúng ta đều có hạt giống của niềm vui, của thương yêu và hạnh phúc. Nếu chúng ta để cho những hạt giống này được biểu hiện thì ta sẽ trở thành một đóa hoa đẹp trong vườn hoa của nhân loại.

Hay bức thư pháp “Let go and be happy” (Buông bỏ để có hạnh phúc). Buông bỏ ở đây nghĩa là buông bỏ những ham muốn, hờn giận, và buông bỏ luôn cả ý niệm của ta về hạnh phúc. Mỗi người trong chúng ta đều có một ý niệm về hạnh phúc. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta cần phải có cái này hoặc cái kia thì mới có thể hạnh phúc. Nhưng chúng ta đâu biết rằng: chính cái ý niệm về hạnh phúc đó lại là chướng ngại để chúng ta có hạnh phúc thực sự. Nếu chúng ta can đảm buông bỏ ý niệm đó thì hạnh phúc sẽ đến với chúng ta ngay lập tức.”

(Sư Ông Làng Mai)

 

Bạn có thể đặt mua sách tại những nhà sách:

Netabook

Lazada.vn

Khai mạc triển lãm sách và thư pháp của Sư Ông Làng Mai tại thành phố Hồ Chí Minh 26/3/2021

 

 

Ngày 26 tháng 3, 2021 vào lúc 5 giờ chiều, sự kiện Triển lãm sách và thư pháp của Sư Ông Làng Mai do Công ty TNHH Phan Lệ & Friends (Phanbook) đăng cai tổ chức với tựa đề “Hương Thơm Quê Mẹ” đã chính thức khai mạc tại Nhà sách Hải An (2B Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Đa Kao, Quận 1). Buổi khai mạc được diễn ra long trọng với đông đảo quan khách tham dự, trong đó có nhiều lãnh sự quán, lãnh đạo giới chức, thân hào nhân sĩ và truyền thông báo chí. Trong không khí tưng bừng khai mạc, quan khách cảm thấy rất hân hoan đón chào một sự kiện đầy thiền vị của một bậc Thầy đầy khả kính.

 

 

Sau nhiều cuộc triển lãm thư pháp thiền gây tiếng vang ở Hồng Kông, Đài Loan, Thái Lan, Canada, Pháp, Đức và Mỹ, đây là lần đầu tiên thư pháp và sách của Sư Ông Làng Mai được chính thức triển lãm tại Việt Nam. Sự kiện này đang thu hút sự quan tâm đông đảo của quần chúng, trong đó có những người mộ điệu từ mọi miền đất nước đến thưởng lãm.

Hơn 145 đầu sách tiếng Việt và 100 tác phẩm thư pháp với nhiều ngôn ngữ khác nhau của Sư Ông được trưng bày, phục vụ độc giả, công chúng.

 

 

Mục đích của cuộc triển lãm tại Việt Nam lần này là để giới thiệu, trình bày, và tạo cơ hội cho người xem được thưởng thức một gốc di sản văn hoá dân tộc và học hỏi nếp sống tỉnh thức qua những tác phẩm sách và thư pháp của Sư Ông. Hơn nữa, chủ đề của cuộc triển lãm cũng chuyên chở rất nhiều thông điệp ý nghĩa. Quê hương chúng ta đang tỏa ngát hương thơm. Quê mẹ cũng là quê hương mà trong mỗi người chúng ta ai cũng có một quê hương để hướng về — nơi đó chúng ta được sinh ra, được dạy dỗ và được chở che. Quê hương đó là Việt Nam, là nơi chứa đầy những giá trị đạo đức, văn hoá dân tộc và truyền thống cao đẹp ngàn đời của ông bà tổ tiên. Nhưng quê hương của chúng ta không dừng lại ở đó hoặc giới hạn ở một nơi chôn nhau cắt rốn, mà quê hương của chúng ta cũng còn là quả địa cầu này — một đại địa, một hành tinh xanh đẹp. Sư Ông thường dạy chúng ta phải biết gìn giữ quả địa cầu này cho xinh đẹp và xanh tươi để các thế hệ tương lai tiếp tục có chỗ nương tựa. Và cách căn bản và hữu hiệu nhất chính là cách tập sống tiêu thụ cho có chánh niệm trong đời sống hàng ngày của mỗi chúng ta.

 

 

Sư Ông cũng dạy chúng ta phải đi xa hơn. Chúng ta phải thực tập để khám phá và tiếp xúc cho được với quê hương đích thực, mà quê hương đích thực đó không phải là một nơi vật lý hay một cõi hứa hẹn nào đó xa xôi ở tương lai. Quê hương đó đang có mặt ngay bây giờ và ở đây mà chúng ta có thể tiếp xúc được trong từng hơi thở và bước chân trong cuộc sống hàng ngày. Thực tập như thế nào để mỗi hơi thở, mỗi bước chân chúng ta có thể tiếp xúc và trở về với quê hương đích thực, đó mới là điều tối hậu. Quê hương đích thực đó là chốn bình an, là nơi chúng ta không còn phải bôn ba ngược xuôi tìm kiếm.

 

Chương trình ngày khai mạc

17:00 Chào đón và ghi danh (thiền ca)

17:30 Khai mạc chương trình

  • Quý thầy, quý sư cô niệm danh hiệu Bồ Tát Avalokiteshvara 
  • Xem đoạn phim ngắn khi Sư Ông viết thư pháp
  • Âm nhạc cúng dường
  • Ra mắt cuốn sách “Hương thơm quê mẹ” của Sư Ông

18:30 Buổi giao lưu chia sẻ về nghệ thuật Thư pháp, Văn hoá và Nếp sống tỉnh thức

19:00 Lễ cắt băng khai mạc

19:15 Xem triển lãm

20:00 Kết thúc

 

 

Cuộc triển lãm tại thành phố Hồ Chí Minh sẽ kéo dài đến hết ngày 05/04/2021 và sau đó sẽ tiếp tục được diễn ra tại Hà Nội từ ngày 14/04 đến 26/04/2021.

 

Xem thêm:

Đoạn phim toàn cảnhHình ảnh triển lãm sách tại thành phố Hồ Chí Minh

Lễ khai mạc triển lãm tại Hà Nội  và  Hình ảnh triển lãm tại Hà Nội

 

 

Đám mây, một lần được hiểu

 

(Trích nhật ký thị giả của thầy Chân Trời Lĩnh Nam)

Sáng hôm nay trời lạnh. Đồng hồ reo lúc 4 giờ 30 phút. Tôi thức dậy và thắp lên ngọn nến cúng dường vị Bụt trên bàn học. Thời gian này không khí buổi sáng ở chùa Tổ khá lạnh nhưng khi nến được thắp lên đã làm sáng một vùng nhỏ trong phòng và Bụt hiện ra mờ mờ ảo ảo, ngồi nghiêm trang trên đài sen trắng với bình nước cam lồ trên tay như xua tan đi cái lạnh trấn ngự trong phòng. Hôm nay, phiên trực của tôi là từ 5 giờ – 8 giờ sáng.

Từ phòng quý thầy thị giả đến Thất Lắng Nghe có hai con đường và tôi thường đi bộ băng qua phòng quý thầy giáo thọ. Tôi chọn đi con đường đó chỉ đơn giản là thích chứ không có gì ghê gớm cả. Vào thất của Thầy phải đi qua cánh cửa được làm bằng nhôm, mỗi lần mở cửa này, tôi thường chánh niệm lắm. Có lần, vì đi vào hơi vội nên tôi đã vô tình tạo ra tiếng động khá lớn. Từ đó, mỗi lần đi trực tôi thường tự nhắc nhở mình phải thật chánh niệm trước khi vào phòng Thầy.

Vào phòng Thầy giữa lúc đất trời đang chuyển mình giữa đêm và ngày, vạn vật cũng đang thức dậy từ từ. Tôi nhẹ nhàng bước vào, đứng nghiêm trang, chắp tay xá chào Thầy. Tôi tiến đến gần thấy Thầy vẫn còn đang ngủ. Nhật ký thị giả cho tôi biết đêm qua Thầy không ngủ được và qua xe nhiều lần, vậy là sáng nay Thầy ngủ bù.

 

 

Ngồi xuống trên chiếc ghế cạnh giường Thầy, như một thói quen, tôi nắm lấy tay Thầy và bắt đầu thực tập theo dõi hơi thở và gởi sự bình an cho Thầy. Dù không biết được bao nhiêu nhưng đó là những gì tôi có thể làm được. Tôi ngồi yên trong khi Thầy nằm ngủ. Tôi nhìn lại lần nữa xem thầy còn ngủ không? Thầy vẫn còn ngủ. Tôi bắt đầu nhắm mắt lại như để bắt đầu một buổi ngồi thiền, cảm nhận sự yên lặng trong phòng cũng như hơi ấm từ tay Thầy. Lúc này không phải là “tay thầy trong tay con” hay “tay con trong tay Thầy”, mà đúng hơn là “tay con đang nắm tay Thầy”.

Ngồi yên như vậy được 20 phút, tôi mở mắt ra thì thấy Thầy đã thức từ lúc nào, Thầy đang nhìn tôi, tôi vội chắp tay lại và thưa: Dạ, con chào Thầy buổi sáng. Lúc ấy thầy nhìn tôi và gật đầu như một lời chào lại. Mắt Thầy sáng lắm, cái gật đầu của Thầy như một minh chứng là Thầy vẫn còn tỉnh táo. Đó là sự khích lệ tinh thần rất lớn cho tôi và cho cả ban thị giả.

Xung quanh thất của Thầy được bài trí nhiều hoa lắm. Thầy nằm yên, ngắm những bông hoa ngoài cửa sổ, một điều mà Thầy rất thích khi Thầy còn khỏe. Tôi di chuyển chỗ ngồi để dành lại không gian riêng cho Thầy ngắm hoa – như là một cách Thầy đang tự trị liệu cho mình. Cách hay nhất chúng tôi có thể làm cho Thầy những lúc như thế này là không làm phiền Thầy trong khoảng thời gian đó.

Ngồi nhìn Thầy từ xa, tôi cảm được năng lượng bình an toát ra từ Thầy và tôi nghĩ: Thầy để hết cả đời cho việc tu học, nghiên cứu và giúp người, đặc biệt là xây dựng chúng xuất sĩ, một công việc không hề đơn giản chút nào. Thầy muốn mọi người tu học với nhau như huynh đệ một nhà, nâng đỡ nhau trong sự tu học, thương yêu và chấp nhận nhau khi ai đó còn mắc phải những lỗi lầm. Nhưng sao con thấy khó quá Thầy ơi, thương Thầy thì dễ, nhưng thương được người mình không thương thì làm sao mà mình thương được? Đặc biệt là những người đó đã sử dụng những câu nói hoặc hành động chạm đến lòng tự trọng của mình thì quả thật rất khó thương Thầy ạ. Nếu Thầy đang nghe con chia sẻ những điều này thì chắc Thầy sẽ bật cười phải không ạ?

Và Thầy sẽ nói: Mình có thể giận một người nhưng mình đâu có thể giận một đám mây phải không con, dù là một đám mây đen, bởi vì mây đen báo hiệu sắp có một cơn mưa. Mưa đến cho cây cối xanh hơn, làm không khí mát mẻ hơn. Vạn vật cần đến mưa con ạ. Đúng như vậy thưa Thầy, cây cối không bao giờ giận mưa hay kể cả bão, mà nó chỉ làm công việc của nó là nhận thán khí và cho ra dưỡng khí để hiến tặng cho đời mà không đòi hỏi hay kể công kể trạng gì hết. Chúng cần cù như vậy cho đến khi về với đất mẹ. Đó là một sự biểu hiện rất đẹp.

 

 

 

Nghĩ đến đây, con thấy mình tu còn dở quá! Con xin thực tập như một thân cây với hai câu thơ của Thầy: “Sáng cho người niềm vui, Chiều giúp người bớt khổ”. Đang suy nghĩ miên man thì bỗng nhiên Thầy đưa tay lên như muốn điều gì, tôi đi đến bên Thầy, chắp tay lại và hỏi:

Thưa Thầy, Thầy khó chịu trong người ạ? Thầy nhìn tôi và không gật đầu.

Tôi hỏi tiếp: Thưa Thầy, Thầy muốn qua xe ạ?

Thầy cứ nhìn tôi thật lâu khiến tôi hơi lúng túng nhưng bất chợt một suy nghĩ ở đâu đi lên trong tôi, và tôi hỏi:
Thưa Thầy, Thầy muốn con mở khẩu trang ra phải không Thầy? Và Thầy liền gật đầu.
Tôi kéo khẩu trang xuống, chắp tay xá Thầy và nói tên mình cho Thầy nghe, sau đó lại mang vào để bảo vệ sức khỏe cho Thầy.
Khoảnh khắc ấy tôi thấy Thầy đã hoá thân thành một người Ông, một người Cha già muốn nhìn mặt từng đứa con tâm linh của mình để xem thử hôm nay nó có khỏe không, mắt nó có sáng không, miệng nó có mỉm cười được không?,… Có phải Thầy sợ những đứa còn nhỏ tuổi thì dễ bệnh phải không? Và khi bệnh thì không biết anh chị nó có quan tâm chăm sóc tốt cho nó không nữa?
Cha là vậy đó, cho nên mới có câu cha già 90 vẫn còn lo cho con 70 là vậy.
Thêm một sự gắn kết mới cho tình Thầy và trò lại sâu đậm hơn. Đâu cần nói gì đâu, tất cả mọi công việc của thị giả đều diễn ra trong im lặng. Ngôn ngữ truyền thông chính là khi tôi nhìn vào đôi mắt của Thầy, mặc dù tôi rất ngại điều này. Cái này thì quý sư cô làm giỏi hơn nhiều.

Có tiếng mở cửa, quý sư cô đi vào, đến giờ của quý sư cô điều trị cho Thầy, tôi nhường lại không gian và âm thầm cảm ơn Thầy.

Sư Ông Làng Mai kể chuyện Sư Tổ Thanh Quý – Chân Thật

(Trích Pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 3 tháng 3 năm 1996, tại thiền đường Nến Hồng)

Bây giờ, thầy muốn kể vài kỷ niệm về Sư Ông của các con để các con biết rõ thêm về nguồn gốc của mình. Sư Ông pháp danh là Thanh Quý, là người học trò chót của thế hệ Thanh trong giới xuất gia, thuộc dòng Lâm Tế chánh tông.

Sư Ông của các con đi xuất gia từ hồi còn rất nhỏ. Tuy nhiên, ở chùa đã lâu nhưng chú bé ngày xưa chưa được chính thức thọ giới sa di vì còn quá nhỏ! Đến khi hòa thượng Hải Thiệu viên tịch, thì sư anh của Sư Ông là hòa thượng Thanh Thái, hiệu Huệ Minh, đã làm lễ thế độ cho Sư Ông trước Linh Cữu của Bổn Sư, và đặt pháp danh cho Sư Ông là Thanh Quý. Thanh Quý có nghĩa là người đệ tử út mang pháp danh có chữ Thanh đứng đầu. Sư Ông được sư anh nuôi lớn, dạy dỗ, rồi sau đó được sư anh (hòa thượng Huệ Minh) truyền đăng cho và đặt pháp tự là Cứu Cánh, pháp hiệu là Chân Thật.

 

 

Bài kệ phó pháp mà sư anh Thanh Thái Huệ Minh trao cho sư em Thanh Quý Chân Thật là:

Chân Thật duy tùng thể tánh trung
Thâm cùng vọng thức bổn lai không
Thỉ tri thị vật nguyên vô vật
Diệu dụng vô khuy chỉ tự công

Thầy dịch ra tiếng Việt:

Chân lý nằm trong thể tính không
Trước sau vọng thức vẫn là không
Vật kia như thật mà không thật
Diệu  dụng công phu hãy một lòng.

Đây là một bài kệ mà ý nghĩa rất thâm sâu để chúng ta học hỏi và hành trì theo. Thầy được làm thị giả cho Sư Ông chỉ một mùa thôi, vào khoảng ba tháng, và không được làm lần thứ hai vì sau đó còn có nhiều sư em. Có một lần dọn cơm cho Sư Ông, không biết vì thiếu chánh niệm thế nào thầy đã quên không để một đôi đũa vào trong mâm cơm. Mâm cơm Việt Nam mà thiếu đũa thì nguy lắm! Sau khi đặt mâm cơm trên bàn của Sư Ông, thầy lui ra đứng khoanh tay sau lưng Sư Ông để chờ xem Sư Ông có cần sai bảo gì không.

Hồi đó, thầy dại lắm! Thầy nghĩ rằng: “Đứng mà không làm gì hết thì rất uổng thì giờ”. Vì vậy thầy đã lấy cuốn kinh đứng sau lưng Sư Ông mà học; hành động mà bây giờ ta gọi là “tranh thủ thời gian”. Thầy mải đọc kinh nên không thấy rằng mâm cơm của Sư Ông không có đũa. Ấy thế mà Sư Ông không nói gì hết. Sư Ông lấy thìa để ăn cơm, từ đầu đến cuối. Ăn cơm xong, Sư Ông gọi: “Này chú”, thầy bỏ cuốn kinh xuống, đứng chắp tay. Sư Ông hỏi: “Ngoài vườn của mình còn nhiều tre không?” Ngây thơ thầy trả lời: Dạ, bạch Sư Ông, ngoài vườn mình còn nhiều tre lắm. Nhất là tre cán giáo (tre cán giáo có nhiều măng, ăn ngon lắm!). Sư Ông nói: vậy thì ăn cơm xong, chú ra vườn đốn một cây tre đem vào đây! Thầy lại: “Dạ.” rất ngây thơ. Đột nhiên thầy nghĩ: “Đốn tre làm chi vậy ?” Thầy chắp tay: Bạch Sư Ông! Đốn tre để làm gì ạ? Sư Ông cười nói: để vót vài đôi đũa. Chú nhìn xem: trong mâm cơm này không có đôi đũa nào hết. Lúc đó, thầy mới giật mình sợ hãi. Bài học đó thầy không bao giờ quên. Bài học thiếu chánh niệm.

Ở Làng Mai, chuyện này cũng đã thường xảy ra. Có một lần sư chú Pháp Tạng làm thị giả cho thầy. Sư chú dọn cơm cho thầy với một thiền sư khách. Không biết loay hoay làm sao đó sư chú quên đem cơm mà chỉ đem thức ăn thôi! Hôm đó, vị thiền sư khách và thầy chỉ ăn thức ăn suông.

Tiếp Nhận Và Trao Truyền

Hồi còn thơ ấu, thầy được ra ngoài Bắc học, nên bị ảnh hưởng của người Bắc. Thay vì nói theo kiểu Huế: “Mời Sư Ông thời cơm” thì thầy lại nói: “Mời Sư Ông dùng cơm!” Nghe từ “dùng cơm”, Sư Ông hơi lấy làm lạ nhưng Sư Ông đã chấp nhận dễ dàng. Có một hôm, Sư Ông dẫn thầy đi và chỉ cho thầy những cây me đất mọc ở chỗ ẩm thấp và chung quanh mái tam quan. Những cây me đất cao chừng hai tấc, có bốn cánh, năm cánh, vị chua chua. Sư Ông nói: “Có một món này con có thể học được, đó là món canh khoai me đất”. Sư Ông dạy: “Mình chỉ cần đổ một ít nước vào xoong rồi cắt khoai lang ra từng miếng nhỏ bỏ vào nấu cho sôi, khi mềm thì nêm muối rồi cắt vào đó một mớ me đất”. Sư Ông rất ưa món canh này. Lâu lâu, thầy nấu món canh khoai đó để cúng dường Sư Ông. Trước khi nấu món canh khoai đó, thầy thường đến chắp tay thưa: “Bạch Sư Ông, hôm nay con muốn cúng dường món canh khoai me đất, Sư Ông có dùng không?” Sư Ông mỉm cười trả lời: “Dùng!”. Thế là Sư Ông đã dùng cái động từ mà thầy đã dùng.

Không bao giờ Sư Ông nói ra bằng lời rằng Sư Ông thương thầy, nhưng thầy biết là trong trái tim của Sư Ông luôn có đầy ắp yêu thương… một tình thương ấm áp và cao cả của thầy đối với trò. Người Á đông vốn là kín đáo. Khi thương, người ta để trong lòng không chịu nói ra. Vì vậy có những đứa con và những đứa học trò cứ tưởng rằng cha mình không thương, thầy mình không thương. Ở Tây phương, thương thì nói ra. Đôi khi thương ít mà nói thương nhiều, làm cho người ta tưởng là thương nhiều thật. Đó là sự khác biệt giữa hai nền văn hóa. Sư Ông có viết di chúc để lại mà không cho thầy và ai biết cả. Trong di chúc ghi là sau khi Sư Ông tịch thì thầy phải kế thế để làm trụ trì tổ đình Từ Hiếu. Nhưng hình như thầy đã được sinh ra không phải để làm trụ trì, cho nên khi Sư Ông tịch, sư anh của thầy là thượng tọa Chí Niệm đứng ra đảm trách chức vụ trụ trì của tổ đình Từ Hiếu.

 

 

Năm 1966 là năm mà thầy phải rời quê hương để đi vận động hòa bình, bởi vì chiến tranh Việt Nam vào lúc đó đã đến giai đoạn khốc liệt. Khốc liệt đến nỗi ban đêm mình không ngủ được vì sự chết chóc diễn ra hằng ngày, hằng đêm. Ngay tại xung quanh thành phố Sài Gòn, sự chết chóc cũng diễn ra từng ngày, từng đêm. Vì vậy, thầy nói với các vị cộng sự xuất gia và tại gia: hãy lo lắng mọi công việc ở quê nhà để thầy có thể xuất ngoại đi vận động chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Thầy lên đường vào ngày 11 tháng 5 năm 1966. Năm đó có Nhuần hai tháng Ba. Sau khi bà bác sĩ Hiệu, chị Uyên và chị Phượng, chị Phượng là sư cô Chân Không bây giờ, vận động xin được cho thầy giấy xuất ngoại. Thầy liền bay về Huế để từ biệt Sư Ông: Bạch Sư Ông! Con phải đi xuất ngoại, ít nhất là ba tháng. Con sẽ cố gắng vận động dư luận thế giới, tìm cách chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Thầy không biết lần đó là lần cuối cùng được gặp Sư Ông. Nhưng hình như có linh tính báo cho Sư Ông biết trước nên Sư Ông nói: Con hãy ở lại thêm một ngày nữa để thầy làm lễ truyền đăng cho con trước khi con đi. Khuya hôm sau, một lễ truyền đăng được tổ chức trong chánh điện. Sư Ông đã ban cho thầy bài kệ truyền đăng mà các con đã thấy treo ở trên tường:

Nhất hướng Phùng Xuân đắc kiện hành
Hành đương vô niệm diệc vô tranh
Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể
Diệu pháp Đông Tây khả tự thành

Thầy dịch ra tiếng Việt:

Đi gặp mùa xuân, bước kiện hành
Đi trong vô niệm với vô tranh
Đèn tâm soi chiếu vào nguyên thể
Diệu  pháp Đông Tây ắt tự thành.

Ngày xuất gia và được thọ giới sa di, thầy được trao pháp danh là Trừng Quang, pháp tự là Phùng Xuân. Phùng Xuân nghĩa là gặp mùa xuân. Thầy không thích cái pháp tự này mấy, vì thầy cho rằng pháp tự này giống tên con gái. Hồi đó, thầy chưa biết rằng Phùng Xuân là một từ để đối lại với từ Khô Mộc. Khô Mộc tức là cây khô. Giọt nước cam lồ của bồ tát Quan Thế Âm một khi rưới lên cây khô, cây khô đó biến thành một mùa xuân mới.

Trong thiền môn, có những đoàn thể không hiểu tu tập như thế nào mà người ta trở thành những cây khô. Vì vậy ngày nay chúng ta có những danh từ Khô Mộc Đường, Khô Mộc Chúng, v.v… Họ ngồi thiền ngày đêm, mục đích là làm sao để những ước muốn, những mơ tưởng của mình khô cạn hết, như một cây khô vậy thôi; làm sao để giải thoát ra khỏi những khổ đau, những bứt rứt ở trong lòng để đừng đau khổ. Truyền thống thiền đó gọi là “Khô Mộc Thiền”.

Những bài có liên quan:

Sư Cố Thanh Quý Chân Thật (Sư Thúc Chí Mậu chia sẻ) : https://langmai.org/tang-kinh-cac/la-thu-lang-mai/la-thu-lang-mai-28-2005-1/su-co-thanh-quy-chan-that

Tưởng niệm Sư Tổ Thanh Quý: https://langmai.org/tang-kinh-cac/loi-quan-nguyen/tuong-niem-su-to-thanh-quy

Tưởng nhớ Sư Tổ Thanh Quý: https://langmai.org/cong-tam-quan/thong-tin-sinh-hoat/sinh-hoat-nam-2014/tuong-nho-su-to-thanh-quy-chan-that/

Tích môn, bản môn

Trích trong sách: “Không sinh không diệt đừng sợ hãi” của Sư Ông Làng Mai

 

 

Tích môn và bản môn

Ngày thường ta nhìn vào thực tại qua bình diện tương đối hay tích môn, nhưng ta cũng có thể nhìn các thực tại đó qua bình diện tuyệt đối hay bản môn. Thực  tại có thể biểu hiện ra ở cả hai bình diện tương đối và tuyệt đối. Chúng ta cũng vậy. Chúng ta đều có những điều cần làm trong bình diện tương đối, nhưng mỗi chúng ta cũng có những quan tâm trong bình diện tuyệt đối.

Khi chúng ta tìm Thượng đế hay Niết bàn ở tình trạng an bình sâu xa nhất, là chúng ta đi tìm tuyệt đối. Chúng ta không chỉ quan tâm tới những chuyện bình thường trong đời sống như danh vọng, lợi nhuận, địa vị xã hội, các dự án mà chúng ta cũng quan tâm tới bản chất chân thật trong ta. Thiền quán sâu xa là bắt đầu thực hiện sự quan tâm tới bình diện tuyệt đối của mình.

Sóng là nước

Khi bạn nhìn trên mặt biển, bạn thấy các đợt sóng lên xuống nhấp nhô. Bạn có thể mô tả sóng này cao, sóng kia thấp, sóng lớn hay nhỏ, sóng mạnh hay yếu và sóng đẹp hay không đẹp. Bạn có thể mô tả sóng lúc bắt đầu, lúc chấm dứt, sóng được sinh ra và sóng bị hoại diệt. Giống như trong tích môn hay trong bình diện tương đối, chúng ta quan tâm tới sinh-diệt, mạnh-yếu, đẹp-xấu, bắt đầu và chấm dứt… của mọi sự vật.

Nhìn sâu, chúng ta thấy sóng đồng thời cũng là nước. Một lọn sóng hình như muốn đi tìm bản thể của nó. Nó có thể đau khổ vì rối ren. Ngọn sóng có thể nói: “tôi không lớn bằng các ngọn sóng kia,” “tôi bị đàn áp,” “tôi không đẹp bằng các sóng khác,” ”tôi sinh ra đời và tôi sẽ chết đi.” Ngọn sóng có thể đau khổ vì các ý nghĩ đó. Nhưng nếu sóng uốn mình xuống để tiếp xúc với bản chất của nó thì nó sẽ thấy nó cũng là nước. Sự sợ hãi và rối ren của sóng sẽ biến mất.

Nước không bị ràng buộc bởi sự sinh diệt của sóng. Nước được tự do không sợ cao hay thấp, đẹp hay xấu. Khi nói về các tiếng cao-thấp, đẹp-xấu, đó chỉ là những từ ngữ nói về sóng. Đối với nước, những từ ngữ đó vô giá trị.

Bản chất thật sự của chúng ta có tính cách vô sinh bất diệt. Chúng ta không cần phải đi đâu mới tiếp xúc được bản chất chân thực của mình. Sóng không cần đi tìm nước vì chính nó là nước. Chúng ta không cần đi tìm Thượng đế hay Niết bàn, hay bản chất tuyệt đối, vì chúng ta là Niết bàn, là Thượng đế.

Bạn chính là điều bạn đi tìm. Bạn chính là thứ bạn đang muốn trở thành. Bạn có thể nói với sóng: “Sóng ơi, con chính là nước rồi, con không cần đi đâu để tìm nước nữa. Bản chất của con chính là bản chất không phân biệt, không sống chết, không có cũng không không.”

Hãy thực tập như sóng. Hãy kiên trì nhìn sâu vào chính mình và nhận biết rằng bản thể của bạn là vô sinh bất diệt. Bạn sẽ đạt tới tự do và vô úy bằng cách này. Phương pháp thực tập này giúp chúng ta sống không sợ hãi và chết một cách bình an, không hối tiếc.

Nếu bạn đang mang trong mình một nỗi đau lớn, nếu bạn mới mất người thân thương, nếu bạn đang sống trong sự lo sợ cái chết, trong lãng quên và hủy diệt, xin hãy học phương pháp này và bắt đầu thực tập. Nếu bạn thực tập giỏi, bạn sẽ có thể nhìn đám mây, bông hồng, hòn sỏi và em bé bằng con mắt mà Bụt đã mở ra cho bạn. Bạn sẽ hết sợ hãi, lo âu và phiền não. Bạn sẽ có sự an bình thật sự, sẽ trở nên mạnh mẽ và vững vàng, có thể mỉm cười với mọi chuyện xảy tới. Sống như thế, bạn có thể giúp được nhiều người chung quanh bạn.

Bạn ở đâu trước khi ra đời?

Nhiều người được hỏi: “Bạn sinh ngày nào?” Nhưng bạn có thể trả lời bằng một câu hỏi hay hơn: “Trước ngày gọi là sinh nhật của tôi thì tôi ở đâu?”

Nếu bạn hỏi một đám mây: “Mây sinh ngày nào, trước khi sinh ra, mây ở đâu?” Nếu bạn hỏi nó: “Mây lên mấy tuổi rồi? Mây sinh ngày nào vậy?” rồi bạn lắng nghe, bạn có thể nghe được câu trả lời.

Bạn có thể tưởng tượng mây sinh ra đời cách nào. Trước khi sinh ra, nó là nước trên mặt đại dương, hay trên mặt sông, rồi nước bốc thành hơi. Mây cũng là mặt trời vì chính mặt trời làm cho nước bốc thành hơi. Gió cũng có trong mây, vì gió làm cho hơi nước tụ lại thành đám mây. Mây không tới từ hư không, mây chỉ là sự chuyển hóa hình thức. Không có chuyện một vật sinh ra từ hư không.

Sớm hay muộn, mây cũng sẽ biến thành mưa hay tuyết, hay nước đá. Nếu bạn nhìn sâu vào mưa, bạn sẽ nhìn thấy mây. Mây không mất đi, nó biến hóa thành ra mưa và mưa biến thành ra cỏ, cỏ vào trong con bò để rồi biến ra sữa và cà-rem bạn ăn đó. Hôm nay khi ăn một ly cà-rem, bạn hãy để thì giờ nhìn nó và nói: “Chào đám mây, ta nhận ra ngươi rồi.” Làm như vậy, bạn đã giác ngộ được bản chất thật của cà-rem và của mây. Bạn cũng có thể nhìn thấy biển, sông, thấy hơi nóng mặt trời, thấy cỏ và con bò trong ly cà-rem.

Nhìn cho sâu, bạn sẽ không thấy được ngày sinh thực và ngày chết thực của đám mây. Chỉ có chuyện đám mây chuyển hóa thành ra mưa hay tuyết. Không có gì thực sự chết đi vì luôn luôn có sự nối tiếp. Mây là tiếp nối của biển, của sông, của sức nóng mặt trời và mưa là tiếp nối của mây.

Trước khi sinh ra, đám mây đã có đó rồi. Hôm nay, khi bạn uống một ly sữa hay một tách trà, ăn một cái cà-rem, xin hãy theo dõi hơi thở. Hãy nhìn vào ly sữa hay ly trà và gửi lời chào đám mây.

Bụt dùng nhiều thời gian để nhìn thật sâu, chúng ta cũng vậy. Bụt không phải là Thượng đế, Ngài là một con người giống như chúng ta. Ngài đau khổ nên Ngài tu tập, vì vậy Ngài vượt thoát được khổ đau. Ngài có trí tuệ lớn, có hiểu biết, trí tuệ và từ bi. Vì thế nên chúng ta nói Ngài là bậc thầy, là huynh trưởng của ta.

Nếu chúng ta sợ chết là bởi vì chúng ta không hiểu rằng không có gì thực sự mất đi. Người ta nói Bụt đã chết, nhưng không phải thế. Bụt còn đang sống. Khi nhìn chung quanh, ta sẽ thấy Bụt dưới nhiều hình thái. Bụt đang ở trong bạn vì bạn có thể nhìn sâu và thấy được mọi sự đều không thực sự được sinh ra hay mất đi. Chúng tôi có thể nói bạn là một hình thức mới của Bụt, một tiếp nối của Bụt. Đừng coi thường chính mình. Hãy nhìn ra chung quanh, bạn sẽ thấy Bụt được tiếp nối ở khắp nơi.

Tôi có phải là tôi ngày trước?

Tôi có một tấm hình chụp hồi tôi mười sáu tuổi. Đó có phải là hình tôi chăng? Tôi không tin lắm. Ai là chú bé trong hình? Đó chính là tôi hay là một ai khác? Hãy nhìn cho kỹ trước khi trả lời.

Nhiều người nói rằng đứa bé trong hình và tôi là một. Nếu chú ta là tôi thì sao trông chú khác quá vậy? Chú bé đó còn sống hay đã chết? Chú ta không giống tôi mà cũng không khác tôi. Một số nhìn tấm hình, cho rằng chú bé trong đó không còn đây nữa.

Con người ta gồm có cơ thể (sắc), các cảm xúc (thọ), các nhận thức (tưởng), các loại tâm (hành) và các hiểu biết (thức). Mọi thứ đó đều đã thay đổi trong tôi kể từ khi chụp tấm hình đó. Cơ thể chú bé trong hình không còn là cơ thể của tôi ngày nay, một ông già bảy mươi tuổi. Các cảm thọ khác nhau, nhận thức cũng rất khác. Hầu như tôi hoàn toàn khác với con người chú bé đó, nhưng nếu chú ta không hiện hữu thì tôi cũng không có mặt đây được.

Tôi là sự tiếp nối, cũng như mưa là tiếp nối của đám mây. Khi nhìn vào tấm hình, bạn có thể đã thấy tôi khi già lão. Bạn không cần phải đợi năm mươi lăm năm. Khi cây chanh nở hoa, bạn có thể không nhìn thấy trái chanh nào, nhưng nếu nhìn cho sâu, bạn sẽ thấy trái chanh đã có đó rồi. Bạn chỉ cần một nhân duyên để làm cho chanh hiển hiện, đó là thời gian. Trái chanh có sẵn trong cây chanh. Nhìn cây chanh bạn chỉ thấy cành, lá và hoa chanh. Nhưng với thời gian, cây chanh sẽ biểu hiện ra thành trái chanh.

 

*** Bạn mến, hôm nay, thương mời bạn cùng thực tập “Quán niệm khi tắm”

Để ra từ nửa giờ đến 45 phút để tắm. Đừng có một giây nào hối hả. Từ lúc sửa soạn bồn tắm cho đến lúc mặc xong áo quần sạch lên mình, giữ cho động tác thật nhẹ nhàng chậm rãi. Để ý tới mọi phần vị trên cơ thể, không phân biệt và e ngại, chú ý tới từng gáo nước trên cơ thể. Theo dõi hơi thở. Thấy rằng bồn tắm cũng mát và thơm như một hồ sen mùa hạ thơm mát và tinh khiết.

Chúc bạn thực tập vui!

 

Pháp lạc, trở về quê hương tâm linh cao chót vót

(Trích pháp thoại trong khóa giảng “Truyền thống sinh động của thiền tập đạo Bụt” của Sư Ông Làng Mai ngày 5 tháng 12 năm 1996)

Pháp lạc, pháp nhũ

Đạo Bụt có danh từ Pháp lạc, có nghĩa là niềm vui, là hạnh phúc trong khi thực tập chánh pháp. Chúng ta cũng có danh từ Pháp nhũ. Nhũ tức là sữa, và sữa là thức ăn rất bổ dưỡng. Chánh pháp có tác dụng nuôi dưỡng và trị thương cho chúng ta. Khi ngồi nghe một bài pháp, chúng ta có thể hưởng pháp lạc và hưởng được pháp nhũ. Nếu ngồi nghe với trí năng, thì chúng ta cũng có thể có hạnh phúc khi tiếp xúc được với những tư tưởng cao siêu và nhiệm mầu của Phật pháp. Nhưng niềm vui đó nó nhỏ bé so với pháp nhũ. Pháp nhũ mầu nhiệm hơn, có tính cách nuôi nấng và trị liệu, còn pháp lạc chỉ là niềm vui khi thực tập.

Pháp lạc sâu hay cạn là tùy cách ta nghe pháp thoại. Nếu chỉ biết sử dụng trí năng để tiếp nhận Phật pháp, thì chúng ta chỉ thấy được cái đẹp của những tư tưởng Phật giáo, mà những cái đẹp đó, những tư tưởng đó không thấm sâu vào trong con người của chúng ta để nuôi dưỡng chúng ta được. Đó là vì con người của chúng ta không phải chỉ được làm bằng trí năng. Con người được làm bằng năm yếu tố lớn, và trí năng chỉ là một phần nhỏ của năm yếu tố đó mà thôi. Năm yếu tố đó là sắc, thọ, tưởng, hành, và thức.

 

 

Trước hết, pháp lạc có đi vào được trong sắc, tức là trong hình hài của ta hay không? Pháp lạc phải đi vào hình hài, hình hài vật chất. Pháp lạc còn phải đi được vào những cảm thọ của chúng ta. Trong ta có một dòng sông cảm thọ, đêm ngày lưu chuyển, và mỗi giọt nước trong dòng sông đó là một cảm thọ. Phẩm chất đời sống của ta tùy thuộc vào phẩm chất của những cảm thọ trong dòng sông đó. Nếu trong dòng sông đó chỉ có những giọt cảm thọ đau buồn, thì đời sống của chúng ta không có giá trị, chúng ta không làm được niềm vui và hạnh phúc cho người khác. Vì vậy nghe pháp thoại đúng thì lời pháp phải thấm vào trong hình hài của chúng ta và cũng phải thấm vào trong dòng sông cảm thọ của chúng ta.

Làm thế nào để khi nghe pháp chúng ta có những lạc thọ? Nhờ lời pháp mà những khổ thọ ở trong dòng sông đó được ôm ấp, rồi được chuyển hóa. Những cái gọi là xả thọ, tức là những cảm thọ không vui, không buồn, không khổ, không lạc, cũng được ôm ấp để biến thành lạc thọ. Đối với những lạc thọ có sẵn, những lạc thọ lành mạnh, khi được chánh pháp ôm ấp, nó lớn lên thêm. Vì vậy cho nên pháp lạc có công năng nuôi dưỡng cảm thọ. Khi nuôi dưỡng được thì nó trị liệu được. Chúng ta có chất liệu của sự sầu khổ, sự tuyệt vọng, đau nhức ở trong ta. Nếu pháp nhũ thật sự là thức ăn bổ dưỡng thì ngoài tác dụng nuôi dưỡng, nó còn có tác dụng trị liệu.

Ở Đông phương, về phương diện y khoa không có ranh giới ngăn cách giữa thức ăn và dược liệu, Ví dụ khi chúng ta ăn chè đậu xanh, hay ăn cháo đậu xanh, thì bát cháo, bát chè đó có thể được gọi là thức ăn mà cũng có thể được gọi là thuốc chữa trị. Khi trong người ta nóng, bị nổi mụt trên mặt, và ngủ không được, thì chúng ta ăn đậu xanh. Đậu xanh làm cho cơ thể mát mẻ. Vì vậy cháo đậu xanh vừa là thức ăn, mà cũng vừa là y dược. Chè Sâm bổ lượng cũng vậy, tất cả các thức ăn đều là y dược, và tất cả các thứ y dược cũng đều là thức ăn. Tây phương cũng đã có cái thấy đó. Chúng ta chỉ cần ăn thôi là chúng ta có thể lành bệnh, và ăn là một nghệ thuật. Biết rằng mình có nên ăn cái đó không, biết rằng mình nên ăn ít hay ăn nhiều cái đó, những cái biết đó đã là chánh pháp để chữa trị rồi.

Trong ta có dòng sông hình hài gọi là sắc. Mỗi tế bào của cơ thể là một giọt nước trong dòng sông hình hài, đó là sắc ấm, là sắc uẩn. Trong ta có dòng sông thứ hai là dòng sông cảm thọ. Pháp lạc phải thấm nhuần vào hai dòng sông đó.

Dòng sông thứ ba của ngũ uẩn là dòng sông tưởng. Tưởng tức là tri giác, là nhận thức của chúng ta. Tưởng đây không phải là tư tưởng mà thôi, cũng không phải là tưởng tượng mà thôi. Tưởng đây là tất cả sinh động của tri giác, tiếng Anh dịch là Perception.

Khi nhìn một bông hồng, chúng ta có tri giác về bông hồng và ta nói: Có bông hồng trước mặt tôi. Cái biết đó gọi là một tưởng. Khi nhìn bàn tay thì ta biết rằng đây là một bàn tay, đây là bàn tay của tôi. Đó cũng là một cái tưởng. Cái tưởng của ta có thể phù hợp với sự thật. Cái tưởng của ta có thể không phù hợp với sự thật. Khi cái tưởng, cái tri giác của ta không phù hợp với sự thật, thì chúng ta gọi nó là một vọng tưởng. Vọng tưởng là một tri giác sai lầm, ngược lại với sự thật. Tâm Kinh Bát Nhã gọi là vọng tưởng điên đảo. Điên đảo tức là lộn ngược. Thực tại là như vậy, nhưng trong cái tưởng của mình, mình thấy nó hoàn toàn khác, đó gọi là một vọng tưởng điên đảo.

  Nghe pháp là một thiền tập để chuyển y

Khi ngồi nghe pháp thoại, chúng ta phải làm thế nào để lời pháp đi vào được trong tâm hành đang có mặt trong giây phút hiện tại. Tâm hành đó là buồn, là vui, là giận, là ghét, là lo lắng. Ta phải làm thế nào để trong khi nghe, pháp có thể đi xuyên vào sắc, thọ, tưởng, hành, và đi sâu được cả vào thức, pháp phải đánh động tới được chiều sâu của tâm thức. Đó mới là biết nghe pháp thoại. Nghe pháp là một thực tập. Nghe pháp không phải là học lý thuyết để đem ra áp dụng vào sự thực hành.

 

 

Ngồi nghe pháp, tự thân nó đã là một sự thực tập rồi, nghe để có một sự thay đổi tận gốc. Mà gốc là ở múi quít thứ năm. Để cho pháp đi lọt vào trong thức, đánh động những hạt giống trong nhà kho, mới thật là sự tu tập.

Trong Duy Thức học có danh từ Chuyển y. Y tức là nền móng. Mà nền móng của chúng ta là Nhất thiết Chủng thức, có khi gọi là Tàng thức (store conciousness). Tàng tức là cất giữ, store, depot. Sự thay đổi đáng kể nhất là sự thay đổi ở tại nền móng. Chuyển y là sự thay đổi tận nơi nền móng. Vậy thì khi nghe pháp phải ngồi như thế nào, phải nghe như thế nào để pháp thấm vào hình hài, vào cảm thọ, vào tưởng, vào tâm hành nào đang có mặt, dầu là tưởng hay là thọ, và rốt cuộc nó phải đánh động được tới những hạt giống trong tâm thức.

Pháp lạc và pháp nhũ là cái mà chúng ta phải được thừa hưởng trong từng giây phút của đời sống tu học, thì ta mới lớn lên mau được. Nếu biết cách thì ba ngày, năm ngày, mười ngày là đủ để chúng ta lớn lên rất mạnh. Khi nghe tiếng chuông chẳng hạn, tiếng chuông báo chúng hay tiếng chuông gia trì, thì trong tư thế ngồi, trong tư thế đi, trong tư thế đứng, chúng ta làm sao cho tiếng chuông đó thấm được vào trong hình hài, thấm vào được trong cảm thọ, trong tri giác của chúng ta.

Tất cả chúng ta đều có nghe tiếng chuông đó, nhưng có người nghe hời hợt, có người nghe rất sâu. Tiếng chuông là một tiếng gọi rất sâu thẳm. Chiều sâu thăm thẳm của tâm thức, chúng ta có thể đạt tới được nếu chúng ta biết nương theo tiếng chuông để đi xuống, hoặc để đi lên, tại vì xuống hay lên chẳng qua chỉ là những danh từ thôi. Đi xuống tới chỗ sâu thẳm nhất của ta, hay đi lên tới đỉnh chót vót nhất của ta, đó chỉ là một cách nói thôi.

Bong bong, tôi là chuông đại hồng,

Ngôi chùa xưa trên đỉnh núi.

Quí vị có biết ngôi chùa xưa trên đỉnh núi là gì không? Đó là quê hương của chúng ta, đó là quê hương tâm linh cao chót vót của chúng ta, mà đỉnh tâm linh đó nằm trong ta. Khi hát Bong bong, tôi là chuông đại hồng. Ngôi chùa xưa trên đỉnh núi thì ta chỉ lên trên trời, nhưng kỳ thật, đó không phải là cái hướng đích thực của đỉnh núi tâm linh cao chót vót của chúng ta. Cái đỉnh núi tâm linh cao chót vót nó ở trong ta. Nhưng nếu ta lấy ngón tay mà chỉ vào ngực ta, thì cũng không đúng. Tại vì đây chỉ là cái hình hài mà thôi, ta tưởng lầm đây mới là ta, còn cái kia là ở ngoài. Cái đỉnh tâm linh cao chót vót của chúng ta nó không phải ở trong, nó cũng không phải ở ngoài. Trong và ngoài chẳng qua chỉ là những cái vọng tưởng. Nguyễn Công Trứ có nói: Nhỏ không trong mà lớn cũng không ngoài.

Khi mới tu, người ta đang làm việc ngon trớn, đang nói chuyện ngon trớn, mà nghe một tiếng chuông thì thấy giận lắm, bực lắm! Có một Phật tử rất thương Làng Mai, tới giúp Làng Mai nấu cơm cho ba bốn trăm người, nhưng ông ta không chịu nổi tiếng đồng hồ treo ở trong bếp. Tại vì theo nguyên tắc thực tập, mỗi 15 phút đồng hồ sẽ thỉnh chuông, ông phải dừng lại thở. Ông đang làm ngon trớn như vậy mà phải ngưng lại để thở là khổ lắm! Cho nên trong khi đại chúng đi khỏi, ông lén tháo đồng hồ đem treo ở một phòng khác. Cái đó cũng do thương mà ra! Đang làm ngon trớn như vậy mà phải ngưng lại thì tức quá, cho nên ông thương theo kiểu của ông!

Cũng như khi sư chú đang say sưa chia sẽ một giáo pháp tâm đắc, mà tự nhiên có tiếng chuông thì sư chú giận quá chừng! Ban đầu thì ráng ngừng, không có hạnh phúc, nhưng khi thở được một vài hơi thì cái pháp lạc nó bắt đầu xuất hiện. Nhờ vậy cái bực chuyển thành pháp lạc. Nếu sư chú làm hay thì khi chuông thỉnh đến tiếng thứ hai là chú bắt đầu leo lên đến đỉnh cao của tâm linh. Một tiếng gọi rất là sâu thẳm mà khi ngồi thiền, đi thiền, chúng ta phải nghe cho được tiếng gọi tâm linh đó, tiếng chuông của ngôi chùa cổ đó.

Người trong truyền thống đạo Bụt cũng vậy, mà người trong truyền thống đạo Cơ Đốc cũng vậy, chúng ta gọi điểm cao đó là Pagoda hay là Temple cũng được. Điều quan trọng là chúng ta biết nó là điểm cao tâm linh chót vót, nó là nguồn gốc của chúng ta, là chỗ chúng ta khao khát trở về.

Ngày xưa tôi có làm một bài thơ[1] nói về buổi trưa hè ở Việt Nam. Buổi trưa mùa hè miền quê Việt Nam thường im lặng một cách lạ kỳ. Những đám mây đứng yên như trở thành những tảng đá. Những ngọn lá, những thân cây đứng im như được làm bằng ngọc thạch. Không có một sự di chuyển nào cả! Vũ trụ như ngưng đọng lại. 

Trưa, ôi những buổi trưa lắng vào tuyệt đối

Trời cao xanh ngắt, bâng khuâng nghe tiếng gọi tôi về.

Tiềm thức dâng tràn u hoài của thăng trầm mấy kiếp.

Lá đón nắng hồng mai đến

Chiếc áo tháng Tư nhẹ sắc, thoáng hương kỳ ảo mùa Xuân.

Trong buổi trưa yên lặng như vậy, mình nghe một tiếng gọi như từ ngàn đời xa xưa kéo mình trở về. Tại vì mình là những người cùng tử, đi lang thang đã muôn ngàn triệu kiếp! Mình đã bỏ nhà ra đi, bỏ đỉnh tâm linh cao chót vót để ra đi. Vì vậy mà có những tiếng chuông kêu mình trở về, và buổi trưa là một tiếng chuông. Một cơn mưa lớn cũng là một tiếng chuông gọi mình về trong nháy mắt. Đi máy bay, đi hỏa tiễn, có thể cũng còn lâu hơn nhiều. Đi về điểm cao tâm linh bằng hơi thở thì nhanh lắm.

 

 

Hơi thở giống như một phương tiện chuyên chở rất mầu nhiệm. Thở vào, và chỉ cần biết là hơi thở vào, thì chúng ta đã trở về đỉnh núi rồi, và hơi thở trở nên là hơi thở chánh niệm, có phẩm chất rất cao, đưa ta về đỉnh tâm linh chót vót đó.

Hơi thở đó cũng có thể đem tới pháp lạc rất lớn, và chỉ khi nào ta buông bỏ được, trở thành con người tự do thì phẩm chất hơi thở của ta mới thật sự là cao, và pháp lạc mới thật sự là lớn. Chỉ cần thở thôi và một hơi thở vào có thể kéo dài tám, mười hay mười hai giây đồng hồ. Trong mười mấy giây đó mình nuôi dưỡng thân, nuôi dưỡng thọ, nuôi dưỡng tưởng, nuôi dưỡng thức của mình rất là sâu sắc. Mình cảm thấy pháp lạc rất rõ ràng, Mình không lao động, không cố gắng, không tranh đấu gì cả, mình chỉ hoàn toàn thừa hưởng. Phẩm chất của pháp lạc mà ta được thừa hưởng đó tùy thuộc vào mức độ tự do của ta. Anh tự do được hay không là do anh có buông bỏ được cái kia hay không. Cái kia có thể là cái lo, cái buồn, cái khổ hay là cái thích thú.

Khi anh đang chia sẻ một cái mà anh rất quý với một người bạn, mà bị tiếng chuông làm anh ngừng lại, thì anh rất giận. Anh nói tiếng chuông không phải thời! Đợi người ta nói xong rồi thỉnh có phải hay biết mấy không? Ban đầu thì anh không buông được, nhưng tại vì anh đã thở tới giây thứ tư, thứ năm của hơi thở vào, nên tự nhiên anh thấy anh buông được, anh mỉm cười: Trời đất ơi! Cái này nó quý, nó ngon lành, nó thanh tịnh, nó an lạc gấp cả triệu lần cái thích thú hồi nãy, vậy mà mình dại dột, mình bực nó! Tất cả chúng ta người nào cũng đều đã đi qua kinh nghiệm đó hết.

Trong khi sư chú ngồi đợi thầy vào để nói pháp, thì tại sao sư chú không thực tập sự nuôi dưỡng thân, thọ của mình bằng pháp lạc đó, mà lại chờ đợi? Chờ đợi cái gì? Chờ bài pháp thoại? Bài pháp thoại đó đã có sẵn ở trong sư chú rồi! Tại sao mình phải nói chuyện với người khác trong khi chờ đợi? Tại sao đi vào pháp đường mà không bắt đầu ngay chuyện thừa hưởng pháp lạc?

Pháp lạc ở đâu lại không có mà phải vào thiền đường mới có? Phải làm thế nào để trong khi chúng ta rửa rau, rửa bát thì pháp lạc cũng có mặt. Chúng ta có thông minh, có tài năng, chúng ta phải sử dụng cái thông minh và tài năng đó để tổ chức đời sống như thế nào để cho trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày, chúng ta đều có pháp lạc. Hơi thở đó, nụ cười đó, tiếng chuông đó là để làm gì? Là để cho chúng ta sử dụng mà nuôi nấng pháp lạc của chúng ta. Trong một bài thơ Lưu Trọng Lư có viết mấy câu rất buồn:

Mời anh cạn hết chén này,

Non vàng ở cuối non Tây ngậm buồn,

Tiếng gà gáy dục trong sương,

Nửa đời phiêu lãng chỉ còn đêm nay!

Câu đáng nói là câu: Nửa đời phiêu lãng chỉ còn đêm nay! Chúng ta đã làm gì cuộc đời của chúng ta? Đi phiêu lãng, chìm đắm và trôi lăn trong sinh tử. Không có giải pháp nào hết!

Để lòng với rượu cùng say,

Giờ đây lời nói chua cay lạ thường.

Đó là tâm tình của thi sĩ. Thấy được mình đã để hết đời mình vào cuộc phiêu lãng, nhưng không có cách nào để có thể chấm dứt được, mà chỉ có phương cách uống rượu thôi. “Nửa đời phiêu lãng chỉ còn đêm nay, Để lòng với rượu cùng say, Giờ đây lời nói chua cay lạ thường.” Tội nghiệp vô cùng!

Khi nghe tiếng chuông, nếu biết nương vào tiếng chuông để trở về đỉnh tâm linh cao chót vót, là chúng ta có thể chấm dứt cuộc phiêu lãng. Chúng ta có thể đang phiêu lãng trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày. Chúng ta thường nói “phiêu lãng trong biển sinh tử”, có nghĩa là khi chết rồi thì mới phiêu lãng. Không! Chúng ta đâu có chết rồi mới phiêu lãng? Chúng ta đang phiêu lãng trong từng giây từng phút. Thọ chìm đắm, trôi lăn. Tưởng chìm đắm, trôi lăn. Tham, sân, si, mạn, nghi, kiến, phẩn, hận, phú, não, tật, xan cũng đang chìm đắm, trôi lăn. Chúng ta bị nhồi theo những đợt sóng của tâm thức, chúng ta luôn luôn phiêu lạc, và chúng ta đã phiêu lạc mấy mươi năm của đời chúng ta rồi, cho nên tiếng chuông là để thức tỉnh: Con ơi, con đừng phiêu lạc nữa, con hãy trở về với cha, con hãy trở về với mẹ, con hãy trở về với thầy, với quê hương tâm linh cao chót vót của con.

 

 

Mình đang ngồi đó hay đứng đó, thở vào một hơi là mình trở về được. Tu tập là trở về trong mỗi giây phút, trở về với sự sống, trở về với cái an lạc có sẵn trong tâm thức của chúng ta. Tùy anh chọn lựa giữa hai cái. Một là cuộc phiêu lãng, tiếp tục phiêu lãng. Hai là trở về, trở về với vững chãi, với thảnh thơi để cho mình có an lạc. để cho mình trở thành chỗ nương tựa của biết bao nhiêu người đang chới với ở quanh ta. Đó là mục đích của người tu.

 

Đi để về

Sư cô Trăng Mai Phương xuất gia ngày 14 tháng 12 năm 2016 tại Làng Mai, Pháp trong gia đình cây Mai Vàng. Sư cô hiện đang tu học và phụng sự với nhiều hạnh phúc ở xóm Mới, Làng Mai, Pháp.

 

Bật máy lên mà gõ là khẩu hiệu thay cho Cầm bút lên mà viết tôi đã tự đặt ra cho mình lần này. Bốn năm rồi hứa nộp bài cho Lá thư Làng Mai mà cuối cùng cũng ngậm hột thị cho tới tận năm nay. Tôi thích viết nhưng cũng dễ tụt cảm hứng, và dù có làm cách nào đi nữa thì cũng chẳng thể nặn ra được một chữ, nhất là để nộp thì lại càng khó cho tôi. Nhưng lần này là trường hợp ngoại lệ. Ừ, thì thử làm trái lại với cái mà tôi gọi là “tính tôi thế”, xem tình hình nó đi đến đâu. Mà nếu không được đăng thì ít ra tôi cũng đã thử để chơi với chính mình… cho bõ những ngày làm biếng đầu năm cũng như để sau này chẳng có gì phải tiếc!

Bắt đầu… lạch cạch… lạch cạch…

Năm ấy, tôi, một người trẻ, vào độ tuổi đứng trước nhiều ngã rẽ quan trọng trong cuộc đời. Sống cá tính, với nhiều hoài bão, lý tưởng, tôi đã quyết định rời xa quê hương đất nước, vác trên vai một cái bị nặng mang tên chán chường, và suýt nữa tự dán cho mình cái mác mất gốc. Hai mươi tư tuổi, thẳng tay vứt đi cái kính màu hồng đã mang theo nhiều năm về đời sống gia đình, xã hội và đất nước. Tôi đã quyết định cho mình cơ hội để thấy cho tỏ tường những thứ tưởng chừng như còn hết sức hình tượng trong đầu về đời sống Tây phương, và hơn cả là về đời sống tâm linh. Tôi vẫn muốn vỗ vai và tung ra vài câu khen ngợi cho chính mình vì đã dám quyết định mạo hiểm. Và rồi lại tự ngoan ngoãn tháo ra cái kính màu hồng khác trong lòng, trước khi toàn tâm toàn ý bước tới con đường này – con đường của những người tự do.

Để tôi kể rõ thêm về kế hoạch hết sức mạo hiểm năm đó, mà tôi tin ông bà tổ tiên chắc cũng hài lòng lắm khi thấy tôi dám làm liều. Tôi nuôi mộng đi tu từ những năm đầu ngồi trên ghế giảng đường, nhưng mộng ấy chắc nhỏ xíu như hạt đỗ xanh, nếu không có cô bạn tưới tẩm cho mỗi lần cùng nhau đi công quả xây tháp trên núi Tây Thiên. Dù bây giờ chúng tôi mỗi đứa tu một pháp môn khác nhau, nhưng khi nghĩ về, tôi luôn thấy ấm lòng. May phước là nhân duyên thế nào, sau khi tốt nghiệp đại học tôi tìm thấy một chương trình giao lưu văn hóa với một số nước như Mỹ, Pháp, Đức… Cuối cùng tôi chọn Pháp với suy nghĩ đi kiểu đó bố mẹ không tốn tiền như cho tôi đi du học. Sau đó nếu tôi có quyết định đi tu mà không đi học tiếp thì chắc cũng sẽ thấy bớt áy náy hơn. Và hơn cả là tôi sẽ có tất cả điều kiện thuận lợi để tới xem Làng Mai là sao, liệu tôi có thể gửi gắm cả cuộc đời mình lại nơi đó!

Vậy là tôi tới Pháp vào một ngày đầu thu. Đặt chân tới Pháp, cái cảm giác xa lạ hình như không có nhiều, chỉ có khoảng cách về ngôn ngữ có lẽ là lớn nhất với tôi lúc đó. Tiếng Anh thì không, tiếng Pháp thì chỉ oui, non, gật lắc dù đã đi qua bao trường lớp, chứng chỉ. Thế tôi mới nói là liều. Thời gian ở cùng gia đình Pháp không lâu, cũng chỉ mười tháng nhưng có lẽ trong tôi nó dài đến chục năm. Theo đúng quy định thì tôi phải đi học tiếng Pháp ở trường, được hưởng mọi thứ như con trong nhà, giúp chăm sóc và đưa các em tới trường khi bố mẹ các em bận công việc. Tôi cũng được có tiền bỏ túi mỗi tháng, đủ để đi du lịch hay mua sắm nếu tôi cần. Tình thương, sự cảm thông, sự tôn trọng, nâng đỡ và cả những khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ, đời sống, về cách chăm sóc trẻ em mà tôi trải qua cùng gia đình đã làm tôi khôn lớn và để thấy mình rõ hơn rất nhiều. Vì hai nhóc có chút vấn đề về tâm lý, tình trạng phổ biến cho trẻ em hiện nay ở các nước Tây phương, nên tôi cũng có nhiều động lực để học ngôn ngữ hơn và học cách chăm sóc với nhiều sự kiên nhẫn mặc dù gặp nhiều khó khăn.

 

 

Nhờ sống chung trong gia đình Pháp và chăm sóc các em, tôi mới thấy mình thật rất Việt. Không chỉ vì dòng máu, màu da hay mái tóc đen mà cả cái cách tôi dạy hay muốn các em làm theo. Tôi biết mình không thể áp dụng cái mà mình được dạy và cho là đúng lên đời sống các em được. Bố mẹ các em và các em cũng dạy cho tôi một bài học về sự sẻ chia khi có khó khăn trong lòng mà không cắn răng chịu đựng, rồi cho đó là khó khăn và trách nhiệm của riêng mình. Tình thương, sự tôn trọng từ cả hai phía và mong muốn từ lúc đầu mà tôi luôn giữ khi sống chung là để hiểu thêm văn hóa, đời sống ở Pháp, đồng thời để họ thấy được văn hóa Việt, thấy được một phần của con người Việt đã giúp tôi thấy rõ thêm cả hai bên, để học hỏi và để buông đi nhiều điều trong lòng. Nhờ thế mà tôi đã đi qua được rất nhiều khó khăn trong quá trình chăm sóc và dạy dỗ các em sau đó. Hơn cả, nếu không có sự động viên và thực tập với quý sư cô ở thiền đường Hơi Thở Nhẹ, tăng thân Paris và đặc biệt là các bạn trong Vườn Bông, tôi đã không thể sống trọn vẹn như thế trong khoảng thời gian ấy. Sau khi chương trình giao lưu văn hóa kết thúc, bố mẹ và các em tìm đủ cách giữ tôi lại, bởi một phần thấy tôi giúp được cho em bé nhất có chút tiến bộ về mặt tâm lý. Nhưng có lẽ vì tôi cũng đã có được gần hết những câu trả lời cho những câu hỏi còn sót lại sau khi rời Việt Nam nên tôi quyết tâm đầu đội trời chân đạp đất, kéo vali rời gia đình và các em để đi. Đi về con đường mà tôi tin, một niềm tin to lớn trong lòng là sẽ giúp được cho nhiều người và cho chính tôi nữa.

Rồi trở thành sư cô, ý thức về những bức xúc, chán chường về đời sống gia đình, về đất nước quê hương vẫn đọng lại, tắc nghẽn đâu đó trong lòng. Rồi tiếc vì vào chùa rồi mới đọc được cuốn Nói với tuổi hai mươi và Tuổi trẻ, tình yêu, lý tưởng. Tôi quyết định làm lại, bắt đầu lại trong chính mình. Hàn gắn lại những rạn nứt với gia đình huyết thống, với quê hương bằng ý thức. Chỉ có vậy tôi mới có khả năng cắm rễ trong gia đình mới – gia đình tâm linh. Thực tập như một Sa di ni trong những năm đầu, tôi thích lắm pháp môn Ba cái lạy hay Năm cái lạy mà Sư Ông viết trong nhiều cuốn sách. Tôi dùng đủ mọi cách để tưới những lời Sư Ông viết trong từng cái lạy vào ý thức mình. Đọc hết bằng tiếng Việt rồi đến tiếng Pháp, bằng cách thu âm rồi thực tập lạy. Lúc mới bắt đầu thực tập thì chưa, nhưng khi đã bắt đầu ngấm và yên hơn trong lòng, thì mười lần thực tập tám lần tôi khóc, nước mắt cũng đủ làm đầy mấy cái hồ sen xóm Mới.

Lạy thứ Tư và thứ Năm là hai cái lạy mà tôi phải dành nhiều thời gian để nhìn sâu hơn cả. Càng đọc tôi càng thấy những góc sâu khuất, tưởng chừng như đã bị phủ một lớp bụi dày đặc được chạm tới, được lau chùi bằng cái thấy với sự bình tĩnh, sáng suốt và nhiều chấp nhận hơn. Tôi hiểu ra và nhìn ra được những người mà tôi đã giận, đã từng nói là ghét cay ghét đắng cũng đang mang rất nhiều tổn thương, khổ đau để bắt đầu thấy thương và buông dần đi những vết thắt đã kết lại nhiều năm. Để rồi lại thấy thêm nhiều điều vỡ òa trong lòng, những điều tôi đã trách cứ, khổ đau, đã không hiểu về những người tôi thương. Tôi đã từng rất buồn về cách bố hành xử trước đây trong gia đình. Nhưng khi nhận ra chính mình đang lặp lại y hệt những gì bố đã làm trong đời sống hiện tại, tôi mới hiểu ra có lẽ cũng như tôi, dù không muốn nhưng bố cũng đã tiếp nhận nó từ thế hệ trước, từ đời sống, từ những khó khăn bố đã từng đi qua mà không ý thức những gì mình tiếp nhận và sẽ trao truyền lại. Và có lẽ bố cũng đã từng muốn thay đổi, làm gì đó để chính mình bớt khổ mà không biết phải làm sao. Thấy được đến đó tôi thương bố quá. Tôi biết bố cũng rất thương tôi, một sự thật mà vì giận hờn tôi đã từng gạt sang một bên. Bao nhiêu trách cứ, tủi hờn theo từng giọt lăn dài trên má. Tôi tự hứa với chính mình là với tất cả những điều kiện thuận lợi mình đang có trong đời sống tu học, tôi quyết tập lại, tập để chấp nhận và thương những vụng dại mà tôi đã gây ra cho bản thân và những người mình thương. Làm mới lại đời sống với những cái đẹp mà tôi đã được trao truyền. Và tôi biết tôi không chỉ làm nó cho riêng mình mà cho cả bố nữa.

Nhìn lại những năm tháng sống đời sống xuất gia tại Làng Mai, tôi cũng thấy mình thật may mắn không chỉ có Việt Nam là quê hương mà tôi còn có đất nước, con người Pháp – nơi đã cho tôi bao nhiêu điều kiện để tìm lại chính mình, để thấy mình có khả năng khai thông lại dòng suối mát lành của gia đình huyết thống mà cũng để tôi dần dần cắm rễ hơn, chấp nhận để hiểu và thương hơn gia đình tâm linh. Tập thương lại, ngâm nga làn điệu dân ca để tiếng hô canh sáng tối cũng mềm và thấm hơn. Tôi cũng tập thương lại, nhìn lại những cái đẹp của người Việt, của văn hóa Việt để ông bà tổ tiên lại được cười, được thở và cùng bước trên từng bước chân tôi đi về tương lai.

 

 

Một ngày, tự nhiên trong tôi đi lên một câu hỏi: “Nếu tôi không quyết định bỏ đất nước để lên đường, không bỏ gia đình để lên đường, liệu tôi có cơ hội để nhìn lại, để hiểu, để chấp nhận những đổ vỡ trong gia đình hay trong đời sống, trong xã hội, đất nước hay không?”. Câu hỏi ấy đã mở ra cho tôi những cái nhìn mới và tự do hơn về chuyện đến – đi đã xảy ra với những người thương trong cuộc đời mình. Tôi chợt mỉm cười… qua khung cửa nắng vàng đầy sân, những chiếc lá khô còn sót lại cũng theo gió trở về…

lạch cạch lạch cạch…
… dừng tay nhấp miếng trà bancha mẹ mới gửi và cười thầm: “Hóa ra chữ nghĩa cũng chịu trào ra đấy chứ nhỉ!”.

Ly trà nóng và tiếng ai thì thầm: “Đâu là cái tính tôi?”.