Làm mới đạo Bụt – những cành lá mới trên cây đại thụ

Qua nhiều năm thực tập hơi thở chánh niệm, thiền hành và an trú trong hiện tại, Thầy đã ôm ấp và trị liệu nỗi đau khi không được trở về quê hương. “Chính nhờ sự thực tập mà tôi đã có thể trở về với quê hương đích thực của mình ngay bây giờ và ở đây,” Thầy giải thích. “Quê hương đích thực của chúng ta không phải là một ý niệm trừu tượng mà là một thực tại chắc thật mà ta có thể tiếp xúc bằng đôi chân, đôi tay và bằng ý thức. Nó có mặt ngay bây giờ và ở đây, và không ai có thể lấy nó đi được. Người ta có thể chiếm đóng đất nước bạn. Họ có thể bỏ bạn vào tù. Nhưng họ không thể tước đoạt quê hương đích thực và sự tự do của bạn.”

Thầy nói “Đã về, đã tới” chính là cốt tủy của sự thực tập và là “bài pháp thoại ngắn nhất” của Thầy. Bốn chữ đó cũng đã trở thành giáo lý quan trọng nhất khi Thầy hướng dẫn thiền sinh tu tập ở Làng Mai để họ thật sự trở về với tự thân, để thấy đó chính là ngôi nhà đích thực của họ trong giây phút hiện tại. Bốn chữ đó đã trở thành pháp ấn đầu tiên trong Bốn Pháp ấn của Làng Mai[i]:

Sự thực tập đã về đã tới thể hiện được cái hiểu của tôi về giáo pháp của Bụt… Từ khi tìm được quê hương đích thực của mình, tôi không còn đau khổ nữa. Quá khứ hay tương lai không còn là ngục tù giam hãm tôi nữa. Tôi có khả năng sống ngay bây giờ và ở đây. Tôi có thể tiếp xúc với quê hương đích thực của mình.

Tương lai có mặt nơi hiện tại. Đây là điều mà tôi đã nhận ra được. Và khi tiếp xúc với hiện tại một cách sâu sắc, ta có thể tiếp xúc với quá khứ. Nếu ta biết cách xử lý hiện tại một cách rốt ráo, ta có thể chữa lành quá khứ. Nhiều người nghĩ là quá khứ đã đi qua, mình không thể làm gì được nữa, mình không thể quay lại quá khứ, sửa chữa những gì đã xảy ra. Nhưng theo giáo lý của Bụt, quá khứ vẫn còn đó với tất cả những nỗi khổ niềm đau. Và nếu ta biết cách trở về với ngôi nhà của giây phút hiện tại và tiếp xúc với hiện tại thật sâu sắc thì ta sẽ tiếp xúc được với quá khứ, và ta có thể chữa lành quá khứ. Một khi chữa lành được cho chính mình nghĩa là ta cũng đồng thời chữa lành cho tổ tiên của ta. Điều này là điều ta có thể làm được. Tổ tiên trong tôi đang đau khổ thì chính tôi cũng đang đau khổ. Và vì tôi có thể tiếp xúc với giây phút hiện tại thật sâu sắc, tôi chữa trị cho chính mình, và tôi cũng chữa trị cho tổ tiên tôi, trong đó có cha, mẹ, anh, chị, ông bà của tôi”[ii].

 

Đi sâu nghiên cứu đạo Bụt với tư cách một học giả

Tại Làng Mai Pháp, Thầy tiếp tục công việc nghiên cứu, xuất bản sách mới, dịch kinh, thực hiện ước mơ hiện đại hóa các giáo lý căn bản của đạo Bụt và đem một sức sống mới cho các bản kinh nguyên thủy. Tác phẩm Đường xưa mây trắng, một cuốn sách viết về cuộc đời của Bụt, được xuất bản năm 1988 và đã được dịch ra trên 20 thứ tiếng. Qua tác phẩm này, Thầy đã giúp cho chúng ta khám phá lại Bụt như một con người mà không phải là một vị thần linh, dẫn dắt người có tâm cầu đạo thoát ra khỏi hình ảnh một vị Bụt của truyền thuyết và huyền thoại để tiếp xúc với Bụt như một vị thầy giản dị. Thầy đã rất hạnh phúc đem quyển Đường xưa mây trắng được dịch ra tiếng Hindi trong chuyến hành hương về Ấn Độ năm 1997. Quyển sách đã phục hồi tính nhân bản cho một trong những hình tượng nổi bật nhất của đất nước này[iii]. Từ đó đến nay, nó đã trở thành một trong những quyển sách bán chạy nhất ở Ấn Độ[iv].

Bản dịch mới những kinh căn bản của Phật giáo như Bát Nhã Tâm Kinh (được xuất bản thành sách Trái tim của hiểu biết), Kinh An ban thủ ý (sách Kinh Quán niệm hơi thở), Kinh Tứ niệm xứ (sách Con đường chuyển hóa) được Thầy chú giải dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm mà Thầy tiếp nhận từ truyền thống, kết hợp với nguồn cảm hứng từ thiền sư Khương Tăng Hội.

Thầy đã đi sâu nghiên cứu kinh An ban thủ ý (Quán niệm hơi thởĀnāpānasati Sutta) và phát hiện ra ba bản kinh tương tự trong Hán tạng mà các học giả Tây phương đương thời ít biết đến (các kinh số 803, 810 và 815 của bộ Tạp A Hàm). Thầy đã so sánh các bản kinh trong Hán tạng với bản kinh trong tạng Pali, nhờ đó đã có thể bổ sung cho bản Pali và giúp các hành giả có thể áp dụng vào sự thực tập. Thầy nhấn mạnh rằng “đây là lúc chúng ta đem kinh An ban thủ ý trở lại vị trí đúng đắn trong truyền thống thiền tập”[v]. Thầy phát hiện ra Thiền sư Tăng Hội đã sử dụng các kinh nguyên thủy với một cái nhìn phóng khoáng của đạo Bụt Đại thừa. Tại Làng Mai, Thầy đã kết hợp truyền thống Nam tông với truyền thống Bắc tông, và các kinh căn bản được sử dụng tại Làng được lấy từ tất cả các truyền thống khác nhau – từ các tạng Pali, Hán tạng, Sanskrit, Cao Ly (Hàn Quốc) và Tây Tạng[vi]. Suốt hai thập niên giảng dạy tại Làng Mai, Thầy đã cho các bài pháp thoại và chú giải kinh điển từ tạng Hán và tạng Pali, kết hợp những kiến thức Thầy đã được học hỏi nghiên cứu từ truyền thống với kinh nghiệm thực chứng của chính Thầy. Thầy đã dạy các khóa học về Tâm lý học và triết học Phật giáo (trong đó có Ba mươi bài tụng Duy thức của ngài Thế Thân, Nhiếp đại thừa luận của ngài Vô Trước, Trung quán luận của ngài Long Thọ), về Lâm Tế Ngữ Lục, các kinh điển Đại thừa chính yếu[vii], Kinh Nghĩa Túc và Kinh Pháp Cú Hán tạng.

Thành lập tăng thân xuất sĩ

Năm 1988, sau 35 năm giảng dạy, cuối cùng Thầy đã bắt đầu nhận đệ tử xuất gia và xây dựng tăng đoàn xuất sĩ. Thầy thấy được giá trị của liên hệ thầy trò qua sự cam kết cùng nhau học hỏi và tu tập miên mật trong môi trường của một tăng thân thường trú. Tại đỉnh Linh Thứu, Ấn Độ, vào tháng 11 năm 1988, Thầy đã làm lễ xuất gia cho chị Cao Ngọc Phượng (sư cô Chân Không) – một đệ tử và cũng là một cộng sự lâu năm của Thầy, cùng với chị Annabel Laity (sư cô Chân Đức) – đệ tử xuất gia người Tây phương đầu tiên của Thầy và chị Thanh Minh (sư cô Chân Vị). Trong một thời gian ngắn sau lễ xuất gia này còn có nhiều lễ xuất gia nữa. Đến giữa thập niên 90, đã có khoảng 30 sư cô, sư chú và các vị tập sự từ ít nhất là 6 nước khác nhau sống và tu tập tại Làng Mai dưới sự giáo dưỡng của Thầy.

Khi tăng thân mỗi ngày mỗi lớn,  Thầy đã phát triển những phương pháp thực tập để xây dựng tăng thân[viii]. Thầy luôn thúc đẩy tinh thần bình đẳng, cộng tác và tình huynh đệ giữa các thầy và các sư cô, nhấn mạnh đến phương pháp làm quyết định dựa trên sự đồng thuận mà không dựa trên uy quyền của một cá nhân. Thầy là một trong những vị đạo sư đầu tiên trong thời hiện đại đã tân tu giới bản Tỳ kheo và Tỳ kheo ni (Pratimokṣa)[ix].  Thầy là vị thầy đầu tiên của Phật giáo đương đại nhận ra rằng chánh niệm và giới phải đi đôi với nhau và xác quyết rằng trong Tam học, giới (śīla ) và niệm (smṛti) là một: nếu ta hành trì chánh niệm nghĩa là ta đang hành trì giới; và giới giúp ta thực tập chánh niệm[x]. Quyển cẩm nang cho sadi, sadini Bước tới thảnh thơi (1996) và quyển giáo khoa Trái tim của Bụt (1997) của Thầy ngày nay được sử dụng rộng rãi tại các viện Phật học trên toàn thế giới.

Thầy đã cô đọng những nguyên tắc nền tảng cho tất cả giáo lý và pháp môn thực tập của Thầy trong 40 định đề của truyền thống Làng Mai[xi].

 Một cách hành trì mới

Nhằm huấn luyện tăng thân xuất sĩ còn non trẻ, Thầy bắt đầu cụ thể hóa những nguyên tắc của đạo Bụt ứng dụng mà Thầy khởi xướng. Điểm nhấn trong các pháp môn của Làng Mai là tính thực tiễn. Mục tiêu của sự thực tập không phải là để tìm cầu niết bàn, để được tái sinh vào cõi Tịnh độ, đạt tới sự giác ngộ cao tột, hay tích phước. Thay vào đó, Thầy dạy các đệ tử của mình cách làm lắng dịu và thư giãn thân tâm; hiểu rõ tâm ý, nhận diện, ôm ấp và nhìn sâu vào nỗi khổ niềm đau để hiểu và thương, chuyển hóa cơn giận, thực tập ái ngữ lắng nghe để tái lập lại truyền thông và hòa giải. Thầy dạy đệ tử rằng sự thực tập chánh niệm hay sự tu học nói chung không phải là lao tác cực nhọc; không nên chạy theo hình thức và thực tập một cách máy móc, mà phải bằng sự có mặt thật sự nhờ nương vào hơi thở ý thức và các bài thi kệ.

Nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc chế tác năng lượng chánh niệm theo tinh thần các kinh An ban thủ ý và kinh Tứ niệm xứ, Thầy có chủ ý không đi theo các lối thiền công án hay thiền mặc chiếu. Thậm chí có nhiều nghi lễ truyền thống mà Thầy đã từng duy trì, giờ đây Thầy nhận thấy không còn hiệu quả và nuôi dưỡng sự thực tập tâm linh trong thế kỷ 21 như trước đây nữa. Thầy dạy các đệ tử không tìm cầu bất cứ điều gì ở tương lai – ngay cả tìm cầu sự giác ngộ – mà trở về với hiện tại để tiếp xúc với hạnh phúc, sự trị liệu, bình an, và Tịnh độ đang có sẵn. Thầy giải thích rằng thực tập chánh niệm không phải là để trốn chạy khổ đau, hoặc để đạt tới giác ngộ, mà là để chữa trị và chuyển hóa khổ đau ngay trong giây phút hiện tại. Thầy khai triển pháp môn Thiền lạy (Sám pháp địa xúc) để giúp hành giả tiếp xúc với tổ tiên tâm linh và huyết thống. Đây là một trong rất nhiều phương pháp áp dụng giáo lý tương tức một cách cụ thể. Khai thác những nét đẹp trong văn hóa Việt nam, Thầy đã giới thiệu cho các đệ tử quốc tế của mình cách thiết lập một bàn thờ tổ tiên, giúp họ thực tập nối kết và hòa giải với tổ tiên tâm linh và huyết thống trong chính tự thân, và biết nương tựa tổ tiên trên con đường tâm linh.

Những giáo lý này của Thầy nghe qua thì có vẻ rất đơn giản, nhưng thực ra những giáo lý ấy tiêu biểu cho một đường hướng cực kỳ cấp tiến trong thiền tập. Tất cả các phương pháp cụ thể về thực tập chánh niệm do Thầy phát triển – từ phương pháp thở chánh niệm đến thiền hành, rửa bát, đánh răng, nấu ăn, làm việc, dừng lại và thở khi nghe chuông …- đã làm Thầy trở thành một trong những thiền sư đầu tiên trong thời hiện đại gỡ bỏ sự huyền bí của Thiền, làm cho sự thực tập trở về với tự thân và tiếp xúc với giây phút hiện tại trở nên gần gũi và dễ tiếp cận  hơn.

Khi nhu yếu tham dự các khoá tu do Thầy hướng dẫn ngày càng tăng, vào cuối những năm 1990, Thầy mở thêm một số trung tâm tu học tại Hoa kỳ: tu viện Thanh Sơn tại Vermont năm 1998, tu viện Lộc Uyển tại California năm 2000. Thầy cũng đã truyền đăng phú pháp cho vài chục đệ tử cư sĩ – những người đã có nhiều kinh nghiệm tu học – trở thành Giáo thọ, tiếp tục công trình hoằng pháp của Thầy trên thế giới. Trong số đó, có rất nhiều vị đã  thành lập các cộng đồng sống chánh niệm tại châu Âu, châu Mỹ cũng như châu Úc, và trở thành những vị thầy dạy chánh niệm được nhiều người biết đến. 

Thầy luôn nhấn mạnh đến sức mạnh của thiền tập cộng đồng trong việc trị liệu và chuyển hóa, cũng như tầm quan trọng của việc xây dựng các cộng đồng thực tập chánh niệm tại địa phương (hay còn gọi là tăng thân). Thầy mong muốn mọi người có một nơi để cùng tu tập, nuôi dưỡng niềm vui, sự gắn kết nhằm đối trị với sự cô đơn, biệt lập và chủ nghĩa cá nhân đang chiếm ưu thế trong thế giới hiện đại. Ngày nay, những đệ tử cư sĩ của Thầy đã xây dựng được một mạng lưới gồm hơn 1500 tăng thân thực tập chánh niệm tại hơn 40 quốc gia trên thế giới.

Các trung tâm thiền tập (có tăng thân xuất sĩ thường trú) do Thầy thành lập cũng dần mở rộng thêm tám trung tâm nữa, đó là: tu viện Bích Nham (New York); Thiền đường Hơi thở Nhẹ (Paris); Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB, Đức); Trung tâm Làng Mai quốc tế Thái Lan (Khao Yai, Thái Lan); tu viện Mộc Lan (Mississippi); Viện Phật học Ứng dụng châu Á (AIAB, Hồng Kông); tu viện Nhập Lưu (bang Victoria, Úc); và tu viện Suối Tuệ (Verdelot, Pháp).

 

 

[i] Trong pháp thoại ngày 10.5.2012, Thầy đã nói về Bốn pháp ấn của Làng Mai (nghĩa là bất kỳ giáo lý nào của Làng Mai cũng bao gồm bốn yếu tố này, nếu không thì đó không phải là giáo lý đích thực của Làng Mai). Bốn pháp ấn đó là: 1. Đã về, đã tới; 2. Đi như một dòng sông; 3. Đế thời tương tức; 4. Sát na dị thục.

[ii] Pháp thoại của Thầy ngày 25 tháng 3 năm 2004.

[iii] Quyển sách do Tiến sĩ Ramchandra Tiwari dịch ra tiếng Hindi và được công ty sách Hind Pocket Books xuất bản năm 1997. Thầy đã dâng quyển sách cúng dường Bụt tại cội bồ đề ở Bodhagaya trong chuyến hành hương Ấn độ năm 1997.

[iv] Quyển sách được công nhận là tác phẩm về cuộc đời của Bụt được yêu chuộng nhất bằng tiếng Hindi. Đến này nó đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng ở Ấn Độ.

[v] Trích từ tác phẩm Breathe! You are Alive: Sutra on the Full Awareness of Breathing (Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Thích Nhất Hạnh chú giải), tr.18.  Rất nhiều truyền thống Đại thừa khác tập trung vào các kinh điển như kinh Hoa Nghiêm hoặc kinh Pháp Hoa… thay vì kinh Quán niệm hơi thở.

[vi] Giải thích của Thầy trong pháp thoại tại Đà Nẵng vào ngày 10 tháng 4 năm 2007, đã được dịch ra tiếng Anh và in trong báo Mindfulness Bell, số 46, mùa thu 2007 dưới tựa đề “The Three Spiritual Powers” (Tam đức: đoạn đức, ân đức và trí đức – Ba nguồn sức mạnh tâm linh)

[vii] Các kinh điển Đại thừa chính yếu, bao gồm: Bát Thiên Tụng Bát Nhã  (Aṣṭasāhasrikā Prajñāpāramitā Sūtra),  Phật mẫu bảo đức tạng bát nhã ba la mật kinh (Prajñāpāramitā Ratnaguṇasaṁcayagāthā), kinh Đại Bảo tích (the Ratnakūṭa Sūtra collection), kinh Duy Ma Cật (Vimalakīrti Sūtra), kinh Pháp Hoa (Saddharma Puṇḍarīka Sūtra), kinh Hoa Nghiêm (Avataṃsaka Sūtra), và kinh Kim Cương (Vajracchedikā Prajñāpāramitā Sūtra).

[viii] Xem tác phẩm Sống chung an lạc: Phương cách xây dựng tăng thân (NXB Văn hóa Sài Gòn).  

[ix] Giới bản tân tu cho nam và nữ khất sĩ đã được Thầy công bố lần đầu ngày 31 tháng 3 năm 2003 tại Viện Đại Học Tăng Già Trung Ương (Choong Ang Sangha University ) ở Seoul, Hàn Quốc.

[x] Theo truyền thống, có hai phiên bản của Tam học. Đó là Giới, Định, Tuệ và Niệm, Định, Tuệ. Thầy là người đầu tiên khẳng định rằng Giới và Niệm là một.

[xi] Được Thầy giảng dạy trong các bài pháp thoại tại Làng Mai từ năm 2005 đến 2007 và in thành sách Làng Mai Nhìn Núi Thứu (2014)

Xây dựng những cộng đồng thực tập chánh niệm và hòa bình

Từ những những thập niên 50 và 60 ở Việt Nam cho tới thời gian hoạt động ở Paris trong những năm 70, Thầy đã nhận thấy việc tạo lập môi trường sống bình an và xây dựng những cộng đồng sống chánh niệm là con đường chắc chắn nhất để chữa lành những vết thương chiến tranh, khổ đau và gieo trồng hạt giống của bình an, trị liệu, hòa giải và tỉnh thức trên thế giới. 

Chế tác bình an là một sự thực tập

Tháng 6 năm 1982, Thầy đang ở New York và tham dự một cuộc biểu tình cho hòa bình cùng với một số đệ tử của cố Thiền sư người Nhật Shunryu Suzuki[i]. Thầy dẫn đầu phái đoàn đi một cách chậm rãi, bình an; nhưng tốc độ đi của đoàn quá chậm cho đám đông ở phía sau, và rất nhiều người đã vượt qua mặt đoàn và tỏ vẻ rất tức giận. “Có rất nhiều giận dữ trong phong trào hòa bình,” Thầy quan sát[ii]. “Mỗi khi bạn có một ý nghĩ đầy sân hận và chứa đựng cái thấy sai lầm, đó chính là chiến tranh. Chiến tranh có thể biểu hiện qua cách ta suy nghĩ, nói năng và hành động. Có thể chúng ta đang sống trong chiến tranh mà không hề hay biết, nó xảy ra trong cách chúng ta tranh đấu với chính bản thân và với những người xung quanh… Có thể trong cuộc sống hàng ngày, ta cũng có một vài khoảnh khắc ngưng chiến. Nhưng phần lớn là những khoảnh khắc của chiến tranh”. Đối với Thầy, sự thực tập chánh niệm là điều vô cùng thiết yếu để chế tác hòa bình: “Cách ta sống đời sống hàng ngày sẽ góp phần làm nên hòa bình hay chiến tranh. Chánh niệm có thể cho ta biết là ta đang đi về hướng chiến tranh và chính năng lượng chánh niệm sẽ giúp ta quay lại để đi về hướng khác, hướng của hòa bình”[iii]. Với chánh niệm, chúng ta có thể chuyển hóa cách tư duy:

Hoạt động hòa bình không chỉ là việc tháo gỡ bom. Thậm chí khi ta vận chuyển toàn bộ bom lên mặt trăng, ta cũng vẫn không có an ninh, bởi vì gốc rễ của chiến tranh và của những trái bom vẫn còn đó, ở trong tâm thức cộng đồng của chúng ta. Chúng ta không thể xóa bỏ chiến tranh bằng các cuộc biểu tình đầy giận dữ. Chuyển hóa tâm thức cộng đồng là cách duy nhất có thể xóa bỏ chiến tranh tận gốc[iv].

Và như thế Thầy đã chuyển trọng tâm từ các cuộc biểu tình và họp báo qua công việc có bề sâu hơn, đó là việc chuyển hóa tâm thức cộng đồng qua các khóa tu chánh niệm và qua nếp sống cộng đồng. Các khóa tu đã trở thành lĩnh vực hoạt động của Thầy và đem lại rất nhiều chuyển hóa.

Làng Mai ra đời

Cộng đồng tu học do Thầy hướng dẫn phát triển rất nhanh nên Phương Vân Am không còn đủ chỗ để đón thiền sinh đến tu học. Năm 1982, Thầy và các cộng sự đã tìm được một mảnh đất rộng hơn, đó là một nông trại tọa lạc ở vùng thung lũng sông Dordogne, miền Tây Nam nước Pháp. Tại đây, giữa những ngọn đồi chập chùng và ruộng nho xanh mướt, họ đã thành lập một trung tâm tu học chánh niệm có tên là Làng Mai, cái tên bắt nguồn từ 1250 cây mận (hay còn được gọi là cây mai) được trồng trên mảnh đất màu mỡ này. Những ngôi nhà có sẵn ở Làng lúc đó đã đổ nát. Nhà kho đã được biến thành thiền đường và chuồng cừu được sửa sang lại làm phòng ngủ. Giường thì được làm bằng những tấm ván đặt trên bốn viên gạch[v]

 Những pháp môn chánh niệm mới

Trong khóa tu mùa hè đầu tiên ở Làng, có 117 thiền sinh tới thực tập thiền tọa, thiền hành, ăn cơm trong chánh niệm, và thưởng thức thiền trà trong bầu không khí thư giãn với âm nhạc và thơ ca. Ngoài những người tị nạn Việt Nam tìm đến Làng để được hướng dẫn và trị liệu khi sống nơi xứ người, còn có những người trẻ muốn tìm một hướng đi, những nghệ sĩ và những nhà hoạt động hòa bình tha thiết muốn được nghe những tuệ giác từ một Thiền sư.

Thầy cho tư vấn và nói pháp thoại mỗi ngày, dạy trẻ em cùng người lớn những pháp môn thực tập chánh niệm mà họ có thể áp dụng trong đời sống hàng ngày. Thầy giới thiệu cách áp dụng thi kệ chánh niệm trong các hoạt động thường nhật như đánh răng, quét nhà, thắp nến – sự thực tập của chính Thầy khi mới bước vào đời sống xuất gia[vi]. Cùng với thời gian, càng ngày Thầy càng phát triển được nhiều phương pháp thực tập mới. Những phương pháp này giúp cho các thành viên trong tăng thân tiếp xúc được với sự bình an, khỏe nhẹ và niềm vui của việc an trú trong hiện tại, giúp họ có sự chuyển hóa và trị liệu[vii]. Cũng trong những năm này, Thầy đã phát triển các pháp môn Sám pháp địa xúc (thiền lạy với những bài hướng dẫn quán chiếu), thiền hướng dẫn, pháp đàm (sử dụng phương pháp ái ngữ và lắng nghe sâu) và thiền buông thư. Căn cứ trên nền tảng vững chắc về Tâm lý học Phật giáo, Thầy đã phát triển pháp môn Làm mới –  một pháp môn thiết thực dựa trên khả năng ái ngữ và lắng nghe sâu để đem lại sự hòa giải, giúp vợ chồng, cha mẹ, con cái, bạn bè lâu năm giải quyết khó khăn giữa họ với nhau, thiết lập lại truyền thông. Những pháp môn có vẻ đơn giản này thực chất là được xây dựng dựa trên tuệ giác của đạo Bụt về vô ngã, vô thường và tương tức, để giúp thiền sinh thấy được gốc rễ của khổ đau, từ đó đưa đến sự trị liệu và chuyển hóa.

Nhờ tài năng và sự tháo vát của chị Phượng – người cộng sự lâu năm với Thầy, cũng như của những vị thường trú có mặt ở Làng từ lúc ban sơ, Làng Mai đã bắt đầu hiến tặng những hoa trái, dù khả năng tài chính của Làng vẫn còn rất eo hẹp. Vào mùa hè thứ ba, Làng Mai đón tiếp trên 300 thiền sinh và đến năm 1990, Làng đã đón đến gần 1000 thiền sinh. Trong hai thập niên tiếp theo, Làng Mai đã phát triển thành một trung tâm tu học Phật giáo lớn nhất ở Tây phương, thu hút thiền sinh từ khắp nơi trên thế giới, với hơn 4000 người vào mỗi mùa hè và đón hơn 10.000 thiền sinh đến tu học mỗi năm.

 Thầy của những người thầy

Trong các thập niên 80 và 90, Thầy thường xuyên qua Hoa Kỳ để giảng dạy và có ảnh hưởng càng ngày càng lớn, trong bối cảnh thiền tập đang phát triển nhanh chóng ở Tây phương. Thầy hướng dẫn những khóa tu tại các trung tâm thiền Phật giáo mọc lên ở hai bờ Đông và Tây Hoa Kỳ[viii]. Mùa xuân 1983, Hội Thân hữu Hòa bình Phật giáo và Trung tâm Thiền ở San Francisco tổ chức khóa tu đầu tiên do Thầy hướng dẫn cho Phật tử Tây phương tại Trung tâm Tassajara Zen Mountain[ix]. Mô thức của khóa tu chánh niệm mà Thầy thiết kế hoàn toàn khác với những khóa tu đặt trọng tâm vào thực tập tọa thiền (sesshin) của những truyền thống thiền khác. Thầy là một trong những vị thầy Phật giáo đầu tiên ở Tây phương nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc kết hợp thiền tập và chánh niệm với các hoạt động thường nhật xảy ra bên ngoài thiền đường, theo tinh thần thiền tập của truyền thống Lâm Tế[x].

Từ kinh nghiệm tu học và sự chứng nghiệm của chính mình, Thầy nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc áp dụng hơi thở chánh niệm trong việc chữa trị thân tâm. Thầy chế tác và giới thiệu cho thiền sinh những phương pháp thực tập như dừng lại và thở theo tiếng chuông. Và Thầy giới thiệu một hình thức mới của pháp môn thiền hành mà chính Thầy đã thực tập và phát triển. Đó là hình thức thiền hành nhẹ nhàng, thư giãn ở giữa thiên nhiên, rất khác với phép kinh hành. Theo phép thiền hành, ta kết hợp hài hòa giữa bước chân, hơi thở với những thiền ngữ trong khi đi. Thầy còn phát triển một pháp môn mới là thiền buông thư, dựa trên việc sử dụng ánh sáng chánh niệm để soi chiếu và làm lắng dịu toàn thân từ đầu đến chân. Ngoài ra, Thầy còn đi tiên phong trong phương pháp thực tập thiền tọa có hướng dẫn, kết hợp những câu hướng dẫn và các từ khóa với hơi thở, để giúp cho thiền sinh chế tác hỷ lạc, đem lại sự trị liệu và tuệ giác[xi]. Cho đến nay, những cách thức mới mẻ, đầy sáng tạo và vô cùng hiệu quả trong thiền tập do Thầy phát kiến đã được hàng ngàn người dạy thiền tiếp nhận và chia sẻ lại với hàng triệu người trên toàn thế giới.

Thầy đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nguyên tắc đạo đức Phật giáo và Năm giới trong thiền tập, những điều mà rất nhiều người đã bỏ qua vì cho rằng chúng không phù hợp với một đạo Bụt hiện đại ở Tây phương[xii]. Thầy luôn nhấn mạnh rằng đạo đức và chánh niệm không thể tách rời nhau; và thiền tập hoặc chánh niệm mà không có đạo đức thì không phải là chánh niệm đích thực. Những điều đó đã làm Thầy trở thành một biểu tượng quan trọng của đạo đức, khi đạo Bụt và thiền tập càng ngày càng trở nên được ưa chuộng ở Tây phương. Nhiều thiền sinh đến tham dự những khóa tu của Thầy trong thập niên 1980 sau này đã trở thành những người thầy dạy chánh niệm hàng đầu ở Tây phương, trong đó có Joan Halifax, Jack Kornfield, Joanna Macy và Sharon Salzberg. Jon Kabat-Zinn dự khóa tu với Thầy tại Hội Thiền Minh Sát (Insight Meditation Society) ở Massachusetts năm 1987. Giáo lý của Thầy về “chánh niệm trong đời sống hàng ngày” và phương pháp thiền hành do Thầy khởi xướng giờ đây đã được phổ biến rộng rãi bởi phong trào chánh niệm và đã đem đến sự trị liệu cho hàng trăm ngàn người ở khắp nơi trên thế giới.

Tương tức

Chính tại một trong những khóa tu tại trung tâm thiền tập Tassajara ở California, lần đầu tiên Thầy đã sử dụng từ “interbeing” để giải thích cho thiền sinh Tây phương về tính tương tức của vạn pháp. Sử dụng từ gốc “to be” làm nên một từ mới là inter-being để dịch sahabhūtā (từ tương tức bằng tiếng Phạn) là một cách chuyển ngữ rất sáng tạo và đầy tuệ giác. Thầy dạy đệ tử nhìn bằng con mắt tương tức để thấy rằng một tờ giấy không thể nào có mặt nếu không có những đám mây, rừng cây và những cơn mưa. “Tương tức nghĩa là ta không thể nào tự mình có mặt hay làm cho một cái khác có mặt, ta phải cùng nhau có mặt”, Thầy giải thích[xiii]. Sự quán chiếu về tương tức có thể giúp thiền giả cởi bỏ cách tư duy lưỡng nguyên và kỳ thị. Chỉ với một danh từ đơn giản interbeing – tương tức, Thầy đã chuyển tải được tuệ giác nằm phía sau cam kết “không phe phái” của mình trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Cái thấy của Thầy trong thời kỳ khủng hoảng thuyền nhân, được thể hiện qua bài thơ Hãy gọi đúng tên tôi, chính là sự chứng ngộ về tương tức của Thầy: tất cả mọi thứ đều là sự biểu hiện của mạng lưới nhân duyên trùng điệp, và ta cũng là một trong muôn vàn những nhân duyên ấy. Như Thầy đã nói: “Tất cả mọi cái đều chứa đựng trong nó tất cả những cái khác”[xiv]. Ngay trong những khóa tu đầu tiên, Thầy đã dạy rằng không thể có hạnh phúc nếu không có khổ đau, nếu không có bùn thì không thể có sen. Tuệ giác về tương tức đã trở thành cốt lõi trong những lời dạy của Thầy. Nó đã giúp cho nhiều người biết thực tập nhìn sâu để hiểu nỗi khổ niềm đau của họ, để trị liệu và chuyển hóa. Thầy dạy rằng bất cứ ai cũng có thể sử dụng tuệ giác về tương tức để tiếp xúc với tự tánh của thực tại, vượt thoát khỏi mọi ý niệm, trong đó có ý niệm “hiện hữu (có)” và “không hiện hữu (không)”. Tuệ giác và phương pháp hành trì rất cụ thể về tương tức (Interbeing) đã trở thành một trong những sự đóng góp nổi bật của Thầy cho sự thực tập đạo Bụt ở Tây phương.

 

Năm 1984, cha của Thầy qua đời ở Nha Trang. Một số đông chư tăng đã thay mặt Thầy đi dự tang lễ vì biết rằng Thầy không thể trở về quê hương. Khi ấy, Thầy đã thực tập quán chiếu để thấy mình là sự tiếp nối của cha: “Tôi thấy cha tôi đang có mặt trong từng tế bào của cơ thể tôi, mẹ tôi cũng vậy. Ông bà, tổ tiên của tôi cũng chưa bao giờ thực sự chết. Tất cả đều đang có mặt trọn vẹn trong từng tế bào của cơ thể tôi. Khi nghe một tiếng chuông, tôi mời tất cả cha mẹ, ông bà, tổ tiên cùng nghe chuông với tôi. Trong khi nghe chuông, tôi có thể đọc thầm bài kệ: Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe. Tiếng chuông huyền diệu đưa về quê hương[xv].

 

 

[i] Cuộc biểu tình chống vũ khí hạt nhân ở New York ngày 13.06.1982 là một trong những cuộc biểu tình lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ (theo New York Times). Thầy sang New York để tham dự Hội nghị Tôn trọng Sự sống (Reverence for Life Conference ), một hội nghị liên tôn về vấn đề giải trừ vũ khí hạt nhân được tổ chức song song với một hội nghị thượng đỉnh của các nhà lãnh đạo quốc tế về vấn đề giải trừ vũ khí hạt nhân do Liên Hiệp Quốc tổ chức (“The United Nations Second Special Session on Disarmament”).

[ii] Trong một buổi vấn đáp tại tu viện Bích Nham ngày 29.8.2013, Thầy nói: “Trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam, ở Mỹ đã diễn ra phong trào hòa bình phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam. Và khi người ta đòi hòa bình mà không được đáp ứng, họ trở nên rất giận dữ. Vì vậy có rất nhiều sân hận trong phong trào hòa bình lúc đó.” Khi đi du thuyết ở Mỹ và trò chuyện với các nhóm này, Thầy nói: “Nếu bạn có quá nhiều giận dữ trong tự thân thì hòa bình không thể thành tựu. Bạn phải hòa bình trước khi bạn vận động cho hòa bình”. Ngoài ra trong buổi phỏng vấn với John Malkin của báo Shambhala Sun, số ra ngày 1 tháng bảy, 2003, Thầy nói: “Vào thập niên 60, người dân Mỹ rất từ bi và sẵn sàng yểm trợ chúng tôi trong việc chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Nhưng những người tham gia phong trào hòa bình ở Mỹ không có đủ kiên nhẫn. Họ rất dễ nổi giận khi những gì họ làm không đem lại kết quả như mong muốn. Có rất nhiều giận dữ và bạo động trong các phong trào hòa bình lúc bấy giờ. Bất bạo động và từ bi là nền tảng của phong trào đấu tranh cho hòa bình. Nếu không có đủ bình an, sự hiểu biết và thương yêu trong chính tự thân thì những công việc mà chúng ta làm không phải thật sự là vì hòa bình. Chúng ta đều biết là hòa bình phải bắt đầu từ chính tự thân, nhưng không phải nhiều người trong chúng ta biết cần phải làm như thế nào để có được điều đó.”

[iii] Pháp thoại công cộng dành cho các nhà lãnh đạo tôn giáo tại Hàn Quốc ngày 19.3. 2003, được đăng trên báo Mindfulness Bell, số 34, mùa thu 2003.

[iv] Pháp thoại ngày 21 tháng 2 năm 1991.

[v] Để tìm hiểu thêm về lịch sử Làng Mai, xin đọc bài Ngày em hai mươi tuổi (LTLM số 25 – 2002) của Thầy và bài Làng Mai qua năm tháng (LTLM số 35 – 2012) của Sư cô Chân Không trên Trang nhà Làng Mai

[vi] Các bài thi kệ đã được in thành sách Từng bước nở hoa sen – NXB Lá Bối (1985)

[vii] Những bài giảng của Thầy về sự thực tập hiện pháp lạc trú đã được Tu viện Kim Sơn in thành sách An trú trong hiện tại vào năm 1986. 

[viii] Bao gồm Hội Thiền Minh Sát (Insight Meditation Society), Học viện Omega, Hiệp hội Ojai và trung tâm thiền San Francisco

[ix] Xin xem trang nhà của Hội Phật giáo Hòa bình

[x] Quyển Nẻo vào thiền học (1971)Phép lạ của sự tỉnh thức (1975) đã nêu rất rõ phương hướng cho sự thực tập hàng ngày.

[xi] Các bài thiền hướng dẫn mà Thầy sử dụng trong các khóa tu đã được in thành sách Sen búp từng cánh hé

[xii] Điều này đã được James William Coleman đề cập đến trong tác phẩm của ông có tên The New Buddhism: The Western Transformation of an Ancient Tradition by James William Coleman (Một Đạo Bụt mới: Hình tướng Tây phương của một truyền thống cổ đại) –  2002.

[xiii] “Tương tức, tiếng Phạn là sahabhūta. Ta không thể nào tự mình có mặt hay làm cho một cái khác có mặt, ta phải cùng nhau có mặt. Chúng ta dùng ý niệm tương tức để thoát ra khỏi ý niệm có, dùng ý niệm câu hữu thay thế cho ý niệm hữu. Thoát được ý niệm có thì đồng thời cũng thoát được ý niệm không. Nhờ ý niệm tương tức mà ta thoát ra khỏi ý niệm có và không. Đó là nhờ tài năng của tùy thuận trí. Ta vẫn sử dụng danh từ và ý niệm, nhưng sử dụng rất khéo theo trí tùy thuận để từ từ thoát ra khỏi danh từ và ý niệm. Ta dùng những ý niệm mới là tương sinh và tương tức để thoát ra khỏi những ý niệm cũ là sinh-diệt và có-không. Và khi thoát ra được rồi thì chúng ta phải bỏ những ý niệm đó đi. Cũng như ta dùng thuổng để đào giếng, đào giếng xong rồi thì ta phải cất thuổng đi, không cần phải mang nó theo suốt đời. Tương sinh và tương tức giúp ta vượt thoát sinh-diệt và hữu-vô.” – trích pháp thoại ngày 10.1.2013 tại Làng Mai, Pháp.

[xiv] Trích pháp thoại của Thầy, ngày 25.3.2004

[xv] Pháp thoại của Thầy ngày 20 tháng 6 năm 2014

Phép lạ của sự tỉnh thức: chế tác bình an và trị liệu

Những bài giảng của Thầy tại đại học Sorbonne trong những năm đầu của thập niên 1970 đã được làm thành quyển sách Việt Nam Phật Giáo Sử Luận gồm ba tập, trong đó trình bày rõ ràng nguồn gốc của pháp môn chánh niệm và vai trò đặc biệt của Thiền Việt Nam tại châu Á[i]. Là một giáo sư tại đại học Sorbonne, Thầy có cơ hội khai thác bộ sưu tập những tài liệu Phật giáo phong phú tại thư viện quốc gia Paris. Tại đây, Thầy đã khám phá ra các tài liệu quý hiếm với các chi tiết về cuộc đời của Thiền sư Khương Tăng Hội, một danh tăng kiệt xuất người Việt, có cha là người Trung Á và mẹ là người Việt[ii]. Vào thế kỷ 247 sau công nguyên, Thiền sư Tăng Hội đã từ Giao Châu du hóa lên miền Bắc, đến nước Đông Ngô (bây giờ là miền Nam Trung Quốc), trở thành vị thiền sư đầu tiên hoằng pháp tại Trung Quốc, trước Tổ Bồ Đề Đạt Ma ba thế kỷ. Thiền sư Tăng Hội đã dựng chùa Kiến Sơ tại Luy Lâu, và tổ chức giới đàn truyền giới cho các vị xuất gia đầu tiên của Đông Ngô, thiết lập nền tảng và cấu trúc cho một truyền thống thiền Phật giáo hưng thịnh suốt hơn một ngàn năm tại Trung Hoa[iii]. Thiền sư Tăng Hội đã hành thiền và dạy thiền dựa trên các kinh điển nguyên thỉ về thiền tập, trong đó có kinh Quán niệm hơi thở và kinh Bốn lĩnh vực quán niệm, nhưng tư tưởng thiền của Người là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức. Nghiên cứu này của Thầy đã được ghi lại trong tác phẩm Nẻo vào thiền học[iv], và sau này trong tác phẩm Thiền sư Khương Tăng Hội: Sơ tổ của thiền tông Việt Nam và Trung Hoa (2001).

Trong các tác phẩm của mình, Thầy nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc đem ý thức và sự chú tâm vào từng hành động. “Cuộc đời không phải để mà ngồi dù ngồi chín năm xây mặt vào vách cũng thế. Ngồi chỉ là những bước đầu… Thiền là ăn, là thở, là nấu cơm, là gánh nước, là chùi cầu tiêu vệ sinh. Thiền là dọi ý thức minh mẫn vào mọi động tác thân khẩu ý…”[v]. Chính trong khoảng thời gian này Thầy đã đi sâu hơn vào việc nghiên cứu và học hỏi các kinh điển nguyên thỉ của đạo Bụt, trong đó có kinh Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna)An Ban Thủ Ý (Ānāpānasati). Tuệ giác và những khám phá của Thầy trong thời gian này đã trở thành nền tảng cho những pháp môn mà Thầy cống hiến cho các thiền sinh trong các khóa tu về sau[vi].

Chính tại Sceaux vào năm 1973, Thầy bắt đầu viết quyển Phép lạ của sự tỉnh thức, phát triển xa hơn các pháp môn chánh niệm đã được diễn giải trong quyển Nẻo vào thiền học, chuyển tải kinh nghiệm thực tập chánh niệm của chính Thầy trong hơn một thập niên. Ban đầu nó chỉ là một cẩm nang thực tập cho các tác viên trẻ của trường TNPSXH để họ có thể tiếp tục làm việc trong điều kiện đầy khó khăn và hiểm nguy của chiến tranh. Chủ ý của Thầy là đưa ra một đường hướng tâm linh cũng như những pháp môn thực tập thật cụ thể để có thể dễ dàng áp dụng trong khi phụng sự. Sau này Thầy giải thích: “Bởi vì nếu bạn không tu tập trong khi phụng sự, bạn sẽ đánh mất mình, tinh thần bị kiệt quệ, và đó không phải là đạo Bụt dấn thân”[vii].  Những trang cuối của cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức đã được Thầy viết trên gác của nhà giáo sư Thomas Roëp ở Alkmaar tại Hà Lan. Sau đó, Giáo sư Thomas cũng có giúp Thầy khi Thầy in cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức tại nhà in của Phương Vân Am với máy offset Gestetner. Mobi Warren đã dịch quyển sách sang tiếng Anh với tựa đề The Miracle of Mindfulness [viii].

The Miracle of Mindfulness (Phép lạ của sự tỉnh thức) đã nhanh chóng trở thành một cẩm nang thiền tập hàng đầu ở Tây phương. Jon Kabat-Zinn đã nói: “Đó là quyển sách đầu tiên đánh thức đọc giả Tây phương, làm họ lưu ý tới đề tài chánh niệm”.  Quyển sách là một tác phẩm đột phá trong lĩnh vực thiền tập vào những năm cuối của thập niên 1970 và những năm đầu của thập niên 1980, đưa sự thực tập thiền ra khỏi thiền đường và chỉ cho mọi người biết làm thế nào để có thể đem chánh niệm vào đời sống hàng ngày. Như lời một học giả trường đại học Oxford đã nói: “Quyển sách đã âm thầm gieo hạt giống cho một cuộc cách mạng”.[ix] Đến nay thì nó đã trở thành một quyển sách cổ điển về thiền tập bán chạy nhất, được dịch ra hơn 30 thứ tiếng[x].

Phương Vân Am

Sau ngày 30.4.1975, sự liên lạc giữa Thầy và các bạn hữu cùng các cộng tác viên trong cộng đồng Phật giáo Việt Nam bị cắt đứt một cách đột ngột. Chính phủ mới tịch thu tất cả những nguồn tài trợ cho các chương trình xã hội của Thầy. Cuối năm 1975, Thầy cùng phái đoàn rút hẳn về Phương Vân Am và thành lập một cộng đồng thực tập chánh niệm nơi đây. Cộng đồng ở Phương Vân Am sống rất giản dị. Thầy và các cộng sự làm những gì trong khả năng cho phép để tiếp tục chương trình bảo trợ trẻ em mồ côi, gây quỹ để gởi về Việt Nam những gói thuốc tây có thể bán đổi lấy vài chục kí gạo. Họ tập trung chủ yếu vào việc yểm trợ tinh thần và tài chính cho các văn nghệ sĩ – những tinh hoa của gia tài văn hóa Việt Nam – đang phải đương đầu với những nghịch cảnh lớn lao nhất. Họ gửi những gói quà cứu trợ kèm theo những lá thư ký tên giả; những người nhận không thể biết được ai thực sự đã giúp đỡ cho họ[xi]. Trong thời gian này, Thầy dành nhiều thời gian làm vườn và những công việc ở ngoài trời. Có người hỏi Thầy: “Thưa Thầy, Thầy trồng rau xà lách làm gì cho mất thời gian. Thầy dành thời gian đó để làm thơ có hơn không? Ai mà không trồng được rau xà lách, nhưng ít ai có thể sáng tác những bài thơ sâu sắc như thơ của Thầy”. Thầy mỉm cười đáp: “Bạn ơi, nếu tôi không trồng những cây xà lách thật chánh niệm như vậy thì tôi không làm ra những bài thơ như vậy được”[xii]

Thời kỳ trị liệu

Ôm ấp nỗi đau không được trở lại quê hương, Thầy dành thì giờ để thực tập thiền hành, thiền tọa, làm vườn và viết lách. Không để cho tuyệt vọng xâm chiếm quả là một thử thách. Thầy cùng các cộng sự của mình học cách trân quý sự sống và lấy lại sự quân bình bằng cách tiếp xúc với những cái đẹp vẫn đang có mặt ở xung quanh, trong phút giây hiện tại. Sự thực tập hơi thở ý thức đã giúp Thầy xử lý cơn sốc tâm lý khi hộ chiếu của Thầy bị vô hiệu hóa, khi những chương trình xã hội ở Việt Nam bị ngừng hoạt động, đồng thời sự thực tập này cũng giúp Thầy ôm ấp nỗi đau khi nhận tin báo tử của rất nhiều người thương của Thầy ở Việt Nam. Cùng với sự ra đi của Sư Ông – vị bổn sư của Thầy, ba người học trò gần gũi nhất của Thầy cũng đã bị thiệt mạng từ khi Thầy bắt đầu bị lưu vong: Sư chú Nhất Trí, đệ tử xuất gia đầu tiên của Thầy, bị bắt cóc cùng với bảy tác viên khác của trường TNPSXH vào năm 1967 và biệt tích từ đó. Thầy Thanh Văn, giám đốc trường TNPSXH bị một người lính Mỹ say rượu lái xe tải đụng chết năm 1971. Thầy Châu Toàn, từng là thư ký của tờ Hải Triều Âm và sau này tiếp nối thầy Thanh Văn làm Giám đốc điều hành trường TNPSXH, bị nhồi máu cơ tim vào tháng Sáu năm 1974. Thầy viết: “Tôi đối xử với thầy Châu Toàn như một người em ruột. Có thể nói tôi yêu Châu Toàn còn hơn yêu em trai nữa, có thể bởi vì chúng tôi cùng có một thao thức chung, một lý tưởng chung”[xiii].

Trong những năm sau đó, Thầy viết các quyển Tố, Trái Tim Mặt Trời, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập II và tập III[xiv]. Lúc ở Paris, Thầy đã tham gia một khóa học nghề về in ấn. Và tại Phương Vân Am, Thầy đã tự in và đóng những quyển sách bằng tiếng Việt của mình, tự dàn trang, thiết kế bìa, khắc bản rồi in, cắt và đóng sách bằng tay[xv]. Sách được phân phối cho người Việt tị nạn tại châu Âu. Tại Việt Nam, cách duy nhất để tránh kiểm duyệt là in sách dưới bút hiệu khác rồi gởi về cho các bạn hữu ở Việt Nam qua những lá thư mỏng, mỗi lần chỉ gửi vài trang để không bị tịch thu. Sau đó sách sẽ được in chui[xvi].

Làn sóng thuyền nhân

Tháng 12 năm 1976, Thầy được mời tham dự Hội Nghị Tôn giáo và Hòa bình Thế giới tại Singapore. Tại đây, Thầy được biết về số phận của những người dân Việt tìm cách trốn khỏi miền Nam Việt Nam bằng thuyền. Đã có hàng ngàn người trôi dạt ngoài biển khơi, giao thân mạng mình cho bão tố và hải tặc. Nếu thuyền của họ tới được bờ thì thường bị đẩy trở ra biển. Vào thời điểm đó, khi không thể tiếp tục các chương trình xã hội ở Việt Nam, Thầy đã tìm mọi cách để giúp những thuyền nhân lênh đênh trên biển. “Nói về từ bi thôi chưa đủ, chúng ta cần phải biến từ bi thành hành động”, sau này Thầy đã nói như vậy[xvii]. Từ Singapore, Thầy cùng chị Phượng và những người cộng sự thuê ba chiếc tàu: chiếc Roland là một tàu chở hàng, chiếc Leap Dal là tàu chở dầu và chiếc Sài gòn 200 là một chiếc tàu nhỏ cơ động có thể chuyển người đến các chiếc tàu lớn; ngoài ra, còn mướn một máy bay nhỏ để truy tìm những người trôi dạt trên biển. Trong vòng vài tuần, Thầy và các cộng sự đã vớt được hơn 800 thuyền nhân ngoài biển khơi[xviii].

Nhưng nỗ lực cứu trợ thuyền nhân của Thầy đã làm cho Giám đốc của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về Người Tị Nạn tức giận, cho nên chỉ ba tháng sau chương trình đã bị đóng cửa. Những chiếc tàu cứu hộ trên đó có vài trăm thuyền nhân đã không được phép vào lãnh hải Mã Lai để tránh bão, cũng không được phép vào để mua thực phẩm và nhiên liệu. Chính quyền Singapore ra lệnh cho Thầy phải rời khỏi nước họ trong vòng 24 giờ đồng hồ. Đó là giây phút mà Thầy phải gánh chịu sức ép và nỗi tuyệt vọng khủng khiếp, bởi vì sự sống chết của mấy trăm mạng người đang tùy thuộc vào hành động của Thầy. Sau khi biết tin mình sẽ bị trục xuất, Thầy đã hành thiền để tìm một lối ra, và Thầy đã thiền tập cả đêm hôm đó. Sau này Thầy nói là nhờ chú tâm vào hơi thở và bước chân chánh niệm, Thầy mới có thể thiết lập lại sự bình an và sáng suốt để có một cái thấy sáng tỏ giúp Thầy tìm ra một giải pháp cho vấn đề: làm thế nào xóa được lệnh trục xuất, để ở lại Singapore lâu hơn, để có thời gian sắp xếp công việc, bảo đảm sự an toàn cho tất cả mọi người ở trên tàu[xix]. Trải nghiệm ở Singapore giúp cho Thầy chứng nghiệm được một điều, đó là với hơi thở chánh niệm, ta luôn có thể tìm được sự bình an, sáng suốt và tuệ giác, dù trong những tình huống khó khăn nhất. Hay nói cách khác, đó là “dục an đắc an”. Nếu thực sự muốn an thì có an,  an ngay trong cơn nguy khốn[xx].

Về lại châu Âu, qua những bài giảng và những cuốn sách của mình, Thầy tiếp tục thu hút một số đông những người Việt tị nạn đến tu tập cùng Thầy. Trong những tháng mùa hè, nhiều gia đình tụ tập tại Phương Vân Am để hưởng không khí của miền quê và khôi phục lại tinh thần. Tại đó, họ được Thầy dạy những pháp môn thực tập chánh niệm để ôm ấp và chữa trị những vết thương chiến tranh, đồng thời tiếp xúc được với gốc rễ văn hóa và tâm linh để có thêm sức mạnh và sự vững chãi.  Một số bài thơ đáng nhớ và cảm động nhất của Thầy đã được sáng tác trong giai đoạn cứu trợ thuyền nhân, tiêu biểu là bài Chúng ta hãy trả lời và bài Hãy gọi đúng tên tôi, trong đó Thầy thấy mình là người thuyền nhân mà cũng là người hải tặc, là người trong trại cải tạo mà cũng là người đảng viên cao cấp, là người buôn bán vũ khí mà cũng là em bé nghèo đói trơ xương[xxi].

 

[i] Tập đầu tiên của Việt Nam Phật giáo sử luận được xuất bản vào năm 1974 dưới bút danh Nguyễn Lang – lấy từ tên khai sinh của Thầy (Nguyễn Đình Lang).

[ii] Cha của ngài Tăng Hội là người gốc Khương cư (ngày nay là Uzbekistan) thuộc Trung Á, là một thương nhân đến lập nghiệp tại Việt Nam, và sau đó lập gia đình với một phụ nữ người Việt, mẹ của ngài.

[iii] Trích Cao Tăng Truyện của Huệ Hạo, Nhất Hạnh dịch

[iv] Nẻo vào thiền học được NXB Lá Bối phát hành năm 1971 và được dịch sang nhiều thứ tiếng: tiếng Pháp có tựa là Clés pour le Zen và tiếng Anh có tựa Zen Keys.

[v] Trích từ tác phẩm Nẻo về của ý, NXB Văn hóa Sài Gòn, tr. 183

[vi] Kinh An ban thủ ý (Ānāpānasati sutta)  – được Thầy dịch từ tạng Pali và chú giải – đã được ấn hành vào năm 1975 với tựa đề Kinh Quán niệm hơi thở.

[vii] Pháp thoại 21 tháng 6 năm 2009 tại Làng Mai, Pháp.

[viii] Đầu tiên quyển sách được phát hành tại Việt Nam vào cuối năm 1974 dưới bút danh Thạc Đức và có tựa đề là Ý thức em mặt trời tỏ rạng. Năm sau, quyển sách được in chui với tựa đề Hàm tiếu thiền: Phép lạ của sự tỉnh thức. Bản tiếng Anh đầu tiên được Hội Thân hữu Hoà giải (F.O.R) tại Mỹ và châu Âu xuất bản năm 1975 với tựa đề The Miracle of Being Awake. Hòa thượng người Đức Nyanaponika, từng đến viếng thăm Thầy tại Sceaux, rất thích cuốn sách này và đã sắp xếp để cuốn sách này được xuất bản tại Sri Lanka bởi Hội Theravada Buddhists. 

[ix]  Lời ngỏ do Giáo sư Mark Williams, trường Đại Học Oxford, viết cho bản in đặc biệt kỷ niệm 40 năm quyển The Miracle of Mindfulness ra đời (1975-2015). 

[x] Được Fellowship of Reconciliation, Mỹ xuất bản đầu tiên năm 1975 với tựa đề The Miracle of Being Awake. Chỉ sau khi nhà in Beacon Press đồng ý xuất bản, tên quyển sách được đổi thành The Miracle of Mindfulness. Trong khi đó, quyển sách lại mang tên Be Still and Know: Meditation for Peacemakers khi được nhà in Pax Christi ở London xuất bản. Bản tiếng Pháp đầu tiên có tên là Le Miracle est de Marcher sur Terre (Phép lạ là đi trên mặt đất). Năm 1976, nó được xuất bản ở in Sri Lanka và Thailand như là một “cẩm nang thiền tập cho những nhà hoạt động trẻ tuổi”.

[xi] Tác phẩm Phương hương xuôi vạn lý, Sư cô Chân Không

[xii] Trích lời giới thiệu của Thầy cho cuốn sách Con đường mở rộng của Sư cô Chân Không

[xiii] Trích từ tác phẩm Bây giờ mới thấy – NXB Phương Đông, tr.38.

[xiv] Quyển Tố được xuất bản lần đầu tiên năm 1980 và Trái Tim Mặt Trời xuất bản năm 1982 bởi NXB Lá Bối ở Paris. Việt Nam Phật giáo Sử luận tập I, do NXB Lá Bối ở Sài gòn xuất bản năm 1974; tập II do NXB Lá Bối ở Paris xuất bản năm 1978; tập III hoàn tất năm 1984 và được xuất bản năm 1985. 

[xv] “Có một thời gian tôi đi học nghề in. Hiện bây giờ tôi in sách và đóng sách khá giỏi. In trong chánh niệm, đóng sách trong chánh niệm. Tôi đã in hàng chục cuốn sách, đóng hàng chục ngàn cuốn sách” – Trích Ngày em hai mươi tuổi, LTLM số 25

[xvi] Vì trong giai đoạn này sách của Thầy bị cấm lưu hành tại Việt Nam nên quyển Việt Nam Phật giáo Sử luận (ba tập) đã được in dưới tên tác giả Nguyễn Lang (là tên khai sinh của Thầy) và phát hành không chính thức. Cho đến hôm nay thì bộ sách này vẫn đang được sử dụng làm sách giáo khoa tại trường đại học Vạn Hạnh và những viện Phật học khác tại Việt Nam. Bản tiếng Anh sắp được Parallax xuất bản.

[xvii] Trích từ tác phẩm At Home in the World (2016), chương “At Sea on Solid Ground”, tr.61.

[xviii] Trích tác phẩm Trái Tim Mặt Trời, Thích Nhất Hạnh (1982)

[xix] “Thầy nhận ra rằng nếu Thầy có thể thuyết phục tòa Đại sứ Pháp thay mặt Thầy can thiệp và thuyết phục chính quyền Singapore cho phép Thầy được ở lại thêm một tuần nữa, Thầy sẽ có đủ thời gian để sắp xếp, bảo đảm an toàn cho hàng trăm thuyền nhân tị nạn đang lênh đênh trên biển không nhiên liệu, không thực phẩm.” – At Home in the World , Thích Nhất Hạnh (2016), tr. 61.

[xx] Trích lá thư “Bây giờ rõ mặt đôi ta” viết cho đệ tử ngày 7.3.2010.

[xxi] Bài thơ “Hãy gọi đúng tên tôi” đã nói lên được tinh thần tương tức – một giáo lý cốt tủy của đạo Bụt. Tương tức nghĩa là mọi sự vật, hiện tượng đều nương vào nhau mà biểu hiện, mọi thứ có mặt trong nhau. Không có cái gì có thể tồn tại một cách biệt lập. Giáo lý tương tức cũng là nền tảng của đạo Bụt dấn thân: với cái thấy tương tức, ta có thể ôm lấy mọi khía cạnh của thực tại, cả khổ đau lẫn hạnh phúc, và từ đó có thể giúp đem lại một sự thay đổi tích cực cho thế giới.   

Tiếp nhận những yếu tố mới từ Tây phương

Bị chia cách với những học trò của mình và với phong trào hòa bình Phật giáo tại Việt Nam, Thầy đã thiết lập tình thân hữu với các nhân sĩ, nhà thơ, sinh viên và các tu sĩ Cơ đốc giáo hoạt động tích cực cho hòa bình. Khi các cuộc hòa đàm trở nên dai dẳng (kéo dài trong khoảng 5 năm), các bạn của Thầy bắt đầu tổ chức các chuyến du thuyết cho Thầy, dịch sách Thầy ra nhiều thứ tiếng. Ngoài ra, họ còn tổ chức gây quỹ cho các chương trình cứu trợ xã hội ở Việt Nam.

Những người bạn Cơ đốc giáo của Thầy ở Rome tổ chức một cuộc biểu tình rầm rộ với sự tham gia của 300 tu sĩ Cơ đốc giáo, mỗi vị đeo quanh cổ một tờ cáo thị có viết tên của một nhà sư Phật giáo đang bị giam giữ ở Việt Nam[i]. Cô Hebe Kohlbrugge nhất quyết giúp các chương trình bảo trợ trẻ em mồ côi Việt nam nên khi chính quyền Hà Lan từ chối không yểm trợ cho công việc của Thầy, cô đã trả lại huy chương mà cô được nhà nước ban tặng vì những đóng góp của cô trong việc cứu người Do Thái khỏi sự tàn sát của phát xít Đức trong Thế Chiến thứ II. 

 Đối thoại liên tôn

Tình bạn và các cuộc đối thoại giữa Thầy với cha Daniel Berrigan – một vị linh mục dòng Tên, cha Thomas Merton – một tu sĩ thuộc dòng tu Luyện Tâm (Trappist – một dòng tu kín), mục sư đạo Lutheran Heinz Kloppenburg (hội trưởng Hội Thân Hữu Hòa Giải Đức), Hannes de Graff – nhà thần học Hà Lan, cũng như cuộc hội thảo của Thầy tại Đại hội Tôn giáo Thế giới ở Chicago nhiều năm sau đó đã trở thành cơ sở cho cuốn sách về mối liên hệ giữa Phật giáo và Cơ đốc giáo, có tựa đề “Bụt ngàn đời, Chúa ngàn đời”[ii]. Quyển sách này của Thầy đã có ảnh hưởng lớn đến cả Phật giáo lẫn Cơ đốc giáo. Thầy đã có cơ hội mở rộng tầm nhìn và hiểu biết về Cơ đốc giáo một cách sâu sắc hơn nhiều so với hồi còn ở Việt Nam[iii].

Cha Berrigan đến sống với Thầy và các cộng sự của Thầy tại Sceaux trong nhiều tháng để học thiền và chánh niệm. Những cuộc đàm thoại đáng nhớ trong đêm khuya giữa cha và Thầy tại văn phòng ở Sceaux đã được ghi âm lại và sau đó làm thành sách với tựa đề  The Raft Is Not the Shore (Chiếc bè không phải là bờ bên kia)[iv]. Sự tiếp xúc và đối thoại với những người bạn Cơ Đốc giáo đã tạo cảm hứng cho Thầy viết thêm những tác phẩm như: Trở về nhà: Bụt và Chúa là anh em (Going Home: Jesus and Buddha as Brothers); Hiệu lực cầu nguyện[v].

Sống lưu vong tại Paris, Thầy bắt đầu nắm vai trò lãnh đạo trong công việc yểm trợ và hướng dẫn tâm linh cho ngày càng đông các Phật tử Việt Nam sống tại Pháp và nhiều nước ở châu Âu. Tháng 6 năm 1969, khi Thầy tổ chức Buổi cầu nguyện cho hòa bình ở Paris tại một khách sạn gần Bộ ngoại giao Pháp, một đám đông gồm khoảng 600 người tham gia đã nói lên được sự phối hợp độc đáo giữa những người Việt ở hải ngoại với các nhà trí thức và các nhà hoạt động xã hội ở Tây phương[vi].

Khởi đầu phong trào môi sinh

Ngay trong thời gian này, phạm vi hoạt động của Thầy đã vượt ra khỏi những vấn đề liên quan đến Phật giáo và hòa bình. Thầy đã cùng ông Alfred Hassler, Tiến sĩ Pierre Lépine của viện Pasteur Paris, nhiều nhà trí thức và nhà khoa học quen biết khác triệu tập một hội nghị đầu tiên về môi trường ở châu Âu tại Menton, Pháp. Hoạt động của họ bắt đầu bằng bản Tuyên Ngôn Menton (Menton Statement) – ”Một thông điệp cho 3.5 tỷ công dân của hành tinh trái đất”. Bản tuyên ngôn đề cập tới vấn đề tàn hại sinh môi, ô nhiễm môi trường và sự gia tăng dân số. Được phát thảo vào tháng 5 năm 1970, bản tuyên ngôn có chữ ký của hơn 2000 khoa học gia và được đăng trên tạp chí Courier của UNESCO[vii]. Một năm sau, Thầy và các cộng sự gặp ông U Thant, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc và được ông cam kết yểm trợ. Năm 1972, họ đứng ra chủ trì Hội nghị Môi trường có tên Đại Đồng (Great Togetherness”), song song với Hội Nghị thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc về Môi trường ở Stockholm[viii]. Sinh thái học bề sâu (deep ecology), tính tương tức và tầm quan trọng của việc bảo hộ trái đất tiếp tục là những đề tài quan trọng được Thầy đưa vào các bài giảng và các tác phẩm của Thầy.   

Thầy tiếp tục giảng dạy ở khắp nơi. Tháng Năm năm 1971, lúc Thầy đang ở tại Washington D.C trong chuyến du thuyết kêu gọi hòa bình và ngưng bắn ở Việt Nam thì một ký giả của tờ Baltimore Sun báo cho Thầy tin chính quyền miền Nam Việt Nam đã gởi một công hàm quốc tế vô hiệu hóa hộ chiếu của Thầy, buộc Thầy phải sống lưu vong[ix]. Đó là một cú sốc rất lớn đối với Thầy. Thầy bay sang châu Âu và ngay khi đáp xuống Paris, Thầy đã có một cuộc họp báo để xin tị nạn chính trị tại Pháp. Hai năm sau, vào tháng Giêng năm 1973, khi Hiệp định Paris cuối cùng đã được ký kết, Thầy thử xin về nước nhưng vẫn bị từ chối. Phải nhiều thập niên sau Thầy mới có thể trở lại quê hương.

 

 

[i]Cuộc biểu tình diễn ra vào ngày 11 tháng 10 năm 1971, trùng với buổi họp báo được Thầy và các cộng sự tổ chức tại khách sạn Lutèce Paris. Đó là một phần trong chiến dịch “Hãy ngưng ngay sự giết chóc”mà Thầy cùng hợp tác với Ủy Ban Lương Tâm Quốc tế về Việt Nam (International Comittee of Conscience on Việt Nam). Chiến dịch này nhằm vận động các nghị sĩ, các nhà lãnh đạo tôn giáo và đã thu thập được hơn 9000 chữ ký

[ii] Cuốn sách có tựa đề tiếng Anh là Living Buddha, living Christ, xuất bản năm 1995. Đại hội Tôn giáo Thế giới được tổ chức ở Chicago năm 1993.

[iii] Cha Thomas Merton đã từng viết về tình huynh đệ với Thầy: “Tôi đã từng nói rằng tôi coi thầy Nhất Hạnh như một người anh em của tôi, và điều này là sự thật. Cả hai chúng tôi đều những người tu và có tuổi đạo cũng gần bằng nhau. Chúng tôi đều là những nhà thơ, cả hai đều là những nhà hiện sinh. Tôi thấy tôi có nhiều điểm tương đồng với thầy Nhất Hạnh còn hơn với những huynh đệ người Mỹ của tôi. Và tôi không ngại khi nói ra điều đó.” (nguồn: tác phẩm Passion for Peace: The Social Essays của tác giả  William H. Shannon, ed. (1997), tr.260-1.)

[iv] Cha Daniel Berrigan đến vào tháng Chín năm 1974. Cuốn sách của Thầy và cha Berrigan có tựa đề The Raft is not the Shore được nhà xuất bản Beacon Press ấn hành năm 1975.

[v] Tác phẩm Going Home: Jesus and Buddha as Brothers được xuất bản năm 1999; tác phẩm The Energy of Prayer: How to Deepen Your Spiritual Practice được xuất bản năm 2006 (sách tiếng Việt là Hiệu lực cầu nguyện, do NXB Lá Bối Hoa Kỳ ấn hành năm 2003)

[vi] Buổi cầu nguyện cho hòa bình diễn ra tại khách sạn Hôtel du Palais du Quai d’Orsay vào ngày 8 tháng 6 năm 1969.

[vii] Ấn bản tháng 7 năm 1971 của UNESCO Courier.

[viii] Thông tin về cuộc gặp gỡ giữa Thầy và ông U Thant, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc ngày 11.5.1971, cũng như sự yểm trợ của ông U Thant được ghi lại và lưu tại kho lưu trữ của Liên Hiệp Quốc. Những thông tin về Hội nghị Đại Đồng được lưu tại Swarthmore Library.  Trong thời gian ở Stockholm, chị Cao Ngọc Phượng có một loạt những cuộc gặp gỡ riêng đầy tâm huyết với các bộ trưởng và các cơ quan của Thụy Điển, và cô đã thành công trong việc thuyết phục họ bảo trợ cho chương trình từ thiện xã hội của GHPGVNTN giúp xây dựng lại làng mạc bị dội bom ở Việt Nam. Khoản viện trợ đầu tiên là 300.000 đô-la thông qua Nhà Thờ Tin Lành Thụy Điển (Swedish Lutheran Church). Nguồn: tác phẩm Learning True Love (2007), tr.164.

[ix] Đêm đó Thầy đã sáng tác bài thơ Tôi về lật lại trang xưa – tuyển tập Thơ từng ôm và mặt trời từng hạt, Thích Nhất Hạnh.

Hòa đàm Paris

Đầu năm 1969, một chuyến bay dài ngang qua Hồng Kông, Nhật và Ấn độ đã đưa Thầy trở lại Paris, nơi Thầy tiếp tục công việc vận động hòa bình trong Hội nghị Hòa bình Paris (1968-1973).  Tháng Chín năm 1970, Thầy được GHPGVNTN chính thức đề cử làm lãnh đạo Phái đoàn Phật giáo Hòa bình tại Hội nghị Paris. Chị Phượng đã bay từ Việt Nam sang giúp cho Thầy. Ngoài ra Thầy còn được sự hỗ trợ của rất nhiều người trẻ quốc tế, thiện nguyện viên của phong trào hòa bình. Thầy thuê một căn hộ nhỏ nằm trong khu nghèo của người Ả rập ở Maisons Alfort, thuộc quận 18 của thành phố Paris và mở một văn phòng tại số 11, đường Goutte d’Or. Tại đó, họ đã làm việc để đại diện cho Phật tử Việt Nam và những người dân không có tiếng nói ở miền Nam lẫn miền Bắc. Họ cũng tiếp tục yểm trợ cho những công tác xã hội ở Việt Nam, điều hành bởi chính những tác viên của trường TNPSXH, phối hợp với cơ quan OXFAM[i], tổ chức Ân Xá Quốc Tế (Amnesty international) và nhiều tổ chức nhân đạo khác[ii]. Qua những mạng lưới này, họ đã tìm được sự bảo trợ khắp nơi trên thế giới cho hàng ngàn trẻ em mồ côi vì chiến tranh ở Việt Nam. Đến năm 1975 đã có khoảng 20 ngàn nhà hảo tâm ở châu Âu và Hoa Kỳ bảo trợ cho khoảng 10 ngàn trẻ em mồ côi tại Việt Nam[iii].

Những năm tháng ở Paris là khoảng thời gian Thầy và các cộng sự của mình sống trong nghèo khó nhưng đầy niềm vui và tình huynh đệ. Các tình nguyện viên cùng làm việc với Thầy trong một căn hộ nhỏ. Họ phải để cái máy in rô-nê-ô trong phòng tắm[iv]. Để có đủ tiền sinh sống, Thầy nhận dạy môn “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” tại trường đại học Sorbonne nổi tiếng.  Thầy trò chỉ ăn gạo gãy mua được các tiệm bán thực phẩm bán cho chim ăn. Thầy và những người cộng sự biên tập và phát hành tờ Le Lotus, lá thư của Phật giáo và tiếng nói của người dân chạy dưới đạn bom, nhằm cung cấp những tin tức từ trong nước và thúc đẩy phong trào tranh đấu cho hòa bình ngày càng lớn mạnh khắp châu Âu và Mỹ. Sau một ngày làm việc cho các hoạt động hòa bình và xã hội, vào buổi tối cả cộng đồng nhỏ đó có cơ hội ngồi ăn cơm với nhau trong chánh niệm, rửa chén trong chánh niệm, hát và ngồi thiền trong im lặng. Thầy hướng dẫn cả nhóm thực tập thiền hành ngoài trời, và chủ trì những buổi tụng giới của dòng tu Tiếp hiện – đây là nguyên tắc đạo đức mới mẻ, thể hiện tinh thần dấn thân và là ngọn đuốc dẫn đường cho mọi người. Mỗi tuần, họ tổ chức một buổi thiền chánh niệm công cộng trong hội trường của nhóm Quaker gần đó (tại Vaugirard Boulevard), thu hút những người trẻ Tây phương muốn tới tìm hiểu. Khi đã tìm được một chỗ rộng rãi hơn để làm văn phòng ở Sceaux[v], họ đã sử dụng không gian ở Goutte d’Or này để làm nơi tọa thiền.

Tháng 8 năm 1971, các bạn của Thầy đã tìm cho phái đoàn một nông trại nhỏ, đổ nát ở miền quê Fontvannes, cách Paris khoảng 2 giờ lái xe, không xa Forêt d’Othe cho lắm[vi]. Vào cuối tuần, họ bắt đầu về đó để tĩnh tu, nghỉ ngơi và làm mới lại thân tâm. Họ thực tập thiền hành trong rừng, làm vườn, trồng rau và bắt đầu sửa chữa lại các tòa nhà. Nơi đây được gọi là Phương Vân Am. Để cho người Tây Phương dễ nhớ, nơi đây còn được gọi là Les Patates Douces hay Sweet Potatoes (Khoai Lang) để nhớ tới người dân nghèo Việt Nam, chỉ có khoai lang là món rẻ tiền nhất ăn thay cơm khi đói[vii].

 

[i] OXFAM là một liên minh quốc tế gồm 19 tổ chức cùng phối hợp hoạt động tại trên 90 quốc gia trên thế giới nhằm hỗ trợ cho công tác xóa đói giảm nghèo và đấu tranh cho bình đẳng.

[ii] Các tổ chức nhân đạo như: F.O.R., The Third Way in Vietnam, Friends Quaker House, Christian Aid, Save the Children, Help the Aged, Huddersfield Famine Committee, Comité pour les Enfants du Vietnam, Swedish International Development Aid (SIDA), War Resistance International (WRI), Mouvement Chrétien pour la Paix (MCP), Hiflt fur Vietnam (Help for Vietnam in Germany), và nhiều tổ chức khác.

[iii] Xin xem sách Learning True Love của Sư cô Chân Không, tr. 306 – 307

[iv] Nguồn: Bài viết của Jim Forest với tựa đề “Only the Rice Loves You: a month with Thich Nhat Hanh in Paris,”  (“Chỉ có cơm thương mình thôi: Một tháng cùng sống với Thầy Nhất Hạnh”) – 1972.

[v] Tại số 69 Desgranges, Sceaux

[vi] Làng Mai qua năm tháng

[vii] Thời gian này, phái đoàn gồm có Thanh Hương, Chơn Hòa, Chơn Ngữ, Laura Hassler, Mobi Warren, Lợi, Thoa, Raphael Ruiz, Pierre Marchand, Neige Achiary, Jim Forest, Marie Emmeny and một số người khác. Thường thì có khoảng 10 người, cùng nhau thực tập thiền tọa, thiền hành, tụng giới và pháp đàm. Để tìm hiểu thêm về Phương Vân Am, xin đọc bài Làng Mai qua năm tháng.

Tình huynh đệ: Tình bạn với Mục sư Martin Luther King Jr.

Tháng Giêng năm 1967, sáu tháng sau lần gặp gỡ lần đầu tiên, Mục sư King đề cử Thầy cho giải Nobel Hòa Bình. Mục sư nói: “Những phát kiến cho hòa bình của thầy Nhất Hạnh, nếu được thực hiện, sẽ dựng lên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản”[i]. Vài tháng sau, vào ngày 4 tháng 4 năm 1967, trong bài diễn văn quan trọng “Beyond Việt Nam” tại nhà thờ Riverside, Mục sư King đã trích dẫn những đoạn trong cuốn Hoa sen trong biển lửa của Thầy. Đó là lần đầu tiên ông dứt khoát lên án chiến tranh và đi đến quyết định kết hợp phong trào đấu tranh cho hòa bình với phong trào dân quyền. Mục sư King đã chia sẻ thông điệp hào hùng của Thầy: “Kẻ thù của chúng ta không phải con người. Kẻ thù của ta là sự hận thù, kỳ thị, cuồng tín và bạo động”. Và khi Mục sư King xuống đường biểu tình chống chiến tranh, ông đã đi dưới tấm biểu ngữ có dòng chữ Kẻ thù ta đâu có phải là người. Giết người đi thì ta ở với ai? viết bằng tiếng Anh và tiếng Việt[ii].

Tại Geneva tháng 05 năm 1967, Thầy và Mục sư King gặp nhau lần thứ hai, và cũng là lần cuối, trong hội nghị Pacem in Terris (Hòa Bình trên Trái đất) do Hội đồng các Giáo hội Thế Giới (World Council of Churches) tổ chức. Trong cuộc gặp này, Thầy và Mục sư King tập trung thảo luận về hướng đi xây dựng một “cộng đồng yêu quý”, xây dựng tình thân hữu giữa các dân tộc và các quốc gia dựa trên nguyên tắc bất bạo động, hòa giải, công bằng, bao dung và không kỳ thị. Cả hai đều thấy rằng đây không phải là một giấc mơ không tưởng, mà là một mục tiêu thực tế có thể đạt được khi số đông quần chúng tuân thủ theo những nguyên tắc và phương pháp sống hòa bình và bất bạo động. Theo hướng đi đó, tất cả mọi hoạt động tranh đấu và dấn thân đều phải dựa trên tinh thần bất bạo động, luôn đi theo đường hướng hòa giải, đoàn kết, nuôi dưỡng tình thương để có thể chuyển thù thành bạn và giúp xây dựng “cộng đồng yêu quý”[iii]. Tại Geneva, Thầy đã có dịp nói với Mục sư King: “ Mục sư có biết rằng ở Việt Nam người ta xem mục sư như là một vị Bồ tát hay không? Một người suốt đời tranh đấu cho nhân quyền, và đã đứng ra lên tiếng chống lại sự tàn sát ở Việt Nam. Vì vậy mà ở Việt Nam người ta coi mục sư là một vị Bồ tát, nghĩa là một người mang hết tất cả sức mình, hết năng lượng của mình để làm những việc có thể làm vơi được những đau khổ của chúng sanh”[iv].

Gần một năm sau thì Mục sư King bị ám sát. Thầy đang ở Hoa Kỳ thì nhận được tin dữ này. Sự ra đi đầy thương tâm của một người bạn, một người tri kỷ có cùng nhiệt tâm, cùng một hướng đi đã tác động đến Thầy một cách sâu sắc. “Tôi cảm thấy hoàn toàn suy sụp. Tôi không thể ăn, không thể ngủ. Tôi đã phát nguyện là sẽ tiếp tục xây dựng cái mà Mục sư King gọi là cộng đồng yêu quý, không chỉ cho chính tôi, mà cho cả ông ấy. Tôi đã và đang thực hiện lời hứa đó với mục sư King. Và tôi luôn cảm thấy sự yểm trợ của ông dành cho tôi”[v].

Cuối tháng Giêng năm 1968, khi Thầy đang ở New York thì được tin cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân ở Việt nam. Cuộc giao chiến và tàn phá xảy ra nặng nề nhất ở Huế, nơi chiến sự kéo dài hơn cả tháng. Hàng ngàn dân thường bị tàn sát. Chị Phượng và các cộng sự khác của trường TNPSXH viết thư kể cho Thầy về sự tàn bạo của đợt tấn công này. Đường phố đầy xác người chết. Chị và các bạn điều động tình nguyện viên đi nhặt xác và đào các hố chôn tập thể[vi]. Trong khi đó, khuôn viên của trường TNPSXH đã trở thành trại tị nạn cho hàng ngàn người. Sau cuộc bạo động này, nhiều vị tôn túc trong Giáo hội đã bị bắt giam. Hòa thượng Thích Đôn Hậu, người đã truyền giới lớn cho Thầy, đã bị bắt cóc mang ra Bắc. Nhiều chùa bị dội bom. Chùa Từ Hiếu cũng không tránh khỏi tình trạng bị bom đạn bắn phá. Không lâu sau đó, người thầy kính yêu của Thầy, Thiền sư Thích Chân Thật, viên tịch. Trong giờ phút cuối, Sư Ông đã nằm trong thế sư tử tọa, hai tay chắp lại thành búp sen. Sau này Thầy ghi lại: “Thầy trò mình cũng mong ước thực tập được như Sư Ông, giữ gìn chí nguyện và Tâm Ban Đầu cho nguyên vẹn trong suốt một đời tu”[vii]. Trong di chúc để lại, Thiền sư Thích Chân Thật đã đề cử Thầy tiếp nối làm trú trì chùa Từ Hiếu[viii]. Thầy không thể về dự tang lễ – các bạn của Thầy sợ Thầy sẽ bị nguy hiểm đến tánh mạng khi trở về Việt Nam. Họ thuyết phục Thầy ở lại ngoại quốc, tiếp tục kêu gọi hòa bình và vận động một mạng lưới quốc tế yểm trợ cho công tác nhân đạo của trường TNPSXH.

 

 

[i]  Mối tình tri kỷ

[ii] Điển hình như trong cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam vào ngày 25.3.1967 tại Chicago  (Los Angeles Sentinel)

[iii] Để hiểu thêm về giấc mơ xây dựng Cộng đồng Yêu quý của Mục sư King, xin xem tại đường link này: http://www.thekingcenter.org/king-philosophy#sub4

[iv]  Ai là người tri kỷ

[v] Trích từ tác phẩm At Home in the World (2016), “Martin Luther King Jr., Bodhisattva

[vi] Trích từ tác phẩm Con đường mở rộng  (chương 10: Tết Mậu thân) của Sư cô Chân Không

[vii] Trích Thư Thầy ngày 13.10.2009 với tựa đề Âm thanh huyền diệu của chiếc hồ cầm

[viii] Thầy là người đệ tử duy nhất được Sư Ông – Hoà thượng Thích Chân Thật – phú pháp truyền đăng và phó thác làm trú trì chùa Từ Hiếu. Từ khi được thành lập bởi Tổ khai sơn Tánh Thiên Nhất Định, chùa Từ Hiếu chỉ có 4 vị được chính thức phó thác làm trú trì:

  1. Hải Thiệu Cương Kỷ (1810-1899)
    HT.
    Thanh Thái Huệ Minh (1861-1939)
    HT
    . Thanh Quý Chân Thật (1884-1968)
    HT. Trừng Quang Nhất Hạnh (1926 – )

 Phụ tá cho vị trú trì là vị Giám tự: HT. Thích Huệ Đăng (1930-1892); HT. Thích Tâm Tịnh (1868-1927); HT. Thích Chí Niệm (1918-1979), sư đệ của Thầy; HT. Thích Chí Mậu (1948-2009), sư đệ của Thầy; TT. Thích Từ Đạo (1955-), đệ tử của HT. Thích Chí Mậu.

 

Rời Việt Nam đi kêu gọi hòa bình

Mùa xuân năm 1966, tiến sĩ George Kahin của trường đại học Cornell đã mời Thầy sang Hoa Kỳ để giảng dạy và chia sẻ về tình trạng của Việt Nam tại khoa Chính trị học về Đông Nam Á của trường. Sau đó, Alfred Hassler, Thư ký điều hành của Hội Thân hữu Hòa giải (Fellowship of Reconciliation – gọi tắt là F.O.R), một tổ chức liên tôn về hòa bình và công bằng xã hội nổi tiếng ở Hoa kỳ lúc bấy giờ, tổ chức cho Thầy có một chuyến du thuyết tại các trường đại học và nhà thờ khắp Hoa Kỳ, châu Âu, châu Á và châu Úc để kêu gọi hòa bình[i]. Đó là một chuyến đi khá mạo hiểm, dự định chỉ kéo dài ba tháng và sau đó Thầy sẽ trở lại Việt Nam để tiếp tục công việc vận động hòa bình và hoạt động xã hội.

Ngày 1.5.1966, 10 ngày trước khi rời Việt Nam đi Hoa Kỳ, Thầy được Thiền sư Thích Chân Thật, bổn sư của Thầy truyền đăng phú pháp tại chùa Từ Hiếu, chính thức trở thành một vị giáo thọ thuộc phái Liễu Quán, thế hệ thứ 42 của tông Lâm Tế. Theo đúng truyền thống, Thiền sư Thích Chân Thật đã trao cho Thầy một bài kệ phú pháp:

Nhất hướng phùng xuân đắc kiện hành

Hành đương vô niệm diệc vô tranh

Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể

Diệu pháp đông tây khả tự thành.

 

Bản dịch tiếng Việt của Thầy:

Đi gặp mùa xuân, bước kiện hành
Đi trong vô niệm với vô tranh
Đèn tâm soi chiếu vào nguyên thể
Diệu pháp Đông Tây ắt tự thành.

Thầy rời Việt Nam ngày 11 tháng 5 năm 1966 và mãi 39 năm sau mới trở lại quê hương. Thầy không gặp lại thầy bổn sư của mình lần nào nữa.

Lúc rời Việt Nam, Thầy là một nhân vật đi tiên phong trong phong trào hòa bình Phật giáo và các hoạt động xã hội, đã có hơn 20 tác phẩm được xuất bản và là một trong những nhà thơ được yêu chuộng trong nước[ii]. Trong chuyến du thuyết năm 1966, Thầy đã đến 19 quốc gia, kêu gọi hòa bình và chia sẻ với thế giới nguyện vọng và nỗi thống khổ của đại đa số người dân Việt – những người không được nói lên tiếng nói của mình. Một ký giả của tờ New York Post đã diễn tả lại ấn tượng mà Thầy để lại trong lòng ông khi Thầy mới đến Hoa Kỳ chỉ một vài hôm như sau:

Ông ấy là một người nhỏ thó, mảnh khảnh trong chiếc áo thầy tu; có đôi mắt khi thì buồn, khi thì rất linh động; giọng nói nhỏ nhẹ và truyền cảm. Nói theo kiểu bình dân của Mỹ thì có lẽ chiếc đầu của ông ta đang được Tướng Nguyễn Cao Kỳ treo giá ở Sài gòn. […] Ông ta nói bằng một ngôn ngữ quốc tế của một học giả bị cuốn vào bi kịch của lịch sử, khao khát chấm dứt sự điên rồ của chiến tranh, chứ không phải tìm kiếm một nền hòa bình có được bằng mọi giá. […] Khi được hỏi về ‘tự do’ và ‘dân chủ’, ông ta sẽ hỏi lại bạn: “Tự do và dân chủ để làm gì nếu bạn không còn sống?” […] Lắng nghe một con người ốm yếu nhưng chân thành và đầy nhiệt tâm như thế, người ta tự hỏi Bộ Ngoại giao có nên cho phép ông ta được trực tiếp hội kiến Tổng thống Johnson hay không[iii].

Tại Hoa Kỳ, Thầy đã gặp các nhà hoạt động cho hòa bình và các tu sĩ Cơ đốc giáo có tiếng như cha Daniel Berrigan hay cha Thomas Merton, cũng như các nhà lãnh đạo của Hoa Kỳ như Bộ trưởng Bộ quốc phòng McNamara, Thượng nghị sĩ Edward Kennedy, Thượng nghị sĩ George McGovern[iv]. Thầy cũng gặp Mục sư Martin Luther King Jr., người mà Thầy đã bắt đầu liên lạc vào năm trước. “Chúng tôi nói với nhau về nhân quyền, hòa bình và bất bạo động”, Thầy nhớ lại. “Công việc mà chúng tôi đang làm rất giống nhau – xây dựng cộng đồng và làm phát khởi những hạt giống của tuệ giác, từ bi và bất bạo động.” Ngày 31 tháng 05 năm 1966, Mục sư King và Thầy mở một cuộc họp báo tại khách sạn Sheraton ở Chicago. Đó là lần đầu tiên Mục sư King công khai tuyên bố chống chiến tranh Việt Nam. Trong một bản tuyên bố chung, hai vị đã so sánh những người tự thiêu cho hòa bình ở Việt Nam với những nhà tranh đấu cho nhân quyền: “Chúng tôi tin rằng, những người Phật tử hy sinh thân mạng của mình cũng giống như những vị thánh tử đạo của phong trào nhân quyền. Họ không có ý muốn gây hại cho những kẻ trấn áp mình mà chỉ muốn những người đó thay đổi chính sách mà thôi. Kẻ thù của những người tranh đấu cho tự do và dân chủ không phải là con người, mà là sự kỳ thị, độc tài, tham lam, hận thù và bạo động trong tâm của con người. Đó mới chính là những kẻ thù thật sự” [v].

Chuyến đi năm 1966 là một chuyến đi khá căng thẳng. Sau buổi hội thảo với Mục sư King ở Chicago, ngày hôm sau Thầy bay về Washington D.C. Tại đây, trong cuộc họp báo vào ngày 01 tháng 06, Thầy đưa ra một bản kiến nghị gồm năm điểm nhằm chấm dứt chiến tranh Việt Nam, trong đó có đề nghị Hoa Kỳ ngưng bắn ngay lập tức và có lịch trình rút quân khỏi Việt Nam[vi].  Ngay ngày hôm đó, giới truyền thanh, báo chí và chính quyền miền Nam Việt Nam (chính quyền của Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ và Quốc trưởng Nguyễn Văn Thiệu) đã tố cáo Thầy tội phản quốc. Thầy bị tước quyền được trở về nước và bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài trong 39 năm. “Tội của tôi là đã dám lên tiếng kêu gọi hòa bình”, Thầy nói.

Hơn một tuần sau, vào ngày 9.6, những bài thơ mạnh mẽ nói về hòa bình của Thầy được đăng trên trang đầu của tờ New York Review of Books. Đêm hôm đó, sự kiện đặc biệt “Việt Nam và lương tâm Hoa Kỳ” (“Vietnam and the American Conscience”) được tổ chức tại tòa thị chính thành phố New York với sự hiện diện của nhà biên kịch Athur Miller, nhà thơ Robert Lowell và cha Daniel Berrigan, những người đã lên tiếng mạnh mẽ để chỉ trích cuộc chiến tranh Việt Nam. Thầy xuất hiện trên chuyên mục “Talk of the Town” của tờ The New Yorker[vii]. Trình trạng tuyệt vọng của cuộc chiến tranh Việt Nam đã đưa một người tu vốn quen với nếp sống thiền môn như Thầy lên vị trí quan trọng nổi bật trên chính trường cũng như trong giới trí thức của Hoa Kỳ trong thập niên 60.

Cha Thomas Merton đã viết lời tựa cho cuốn sách Hoa sen trong biển lửa bằng tiếng Anh của Thầy, được xuất bản tại Hoa Kỳ trong năm đó. Cuốn sách là lời kêu gọi mạnh mẽ, hùng hồn, đầy tuệ giác nhằm chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Sách này được in chui ở Việt Nam và tái bản nhiều lần với hàng chục ngàn bản[viii]. “Thầy Nhất Hạnh nói lên tiếng nói của quảng đại quần chúng – những người không biết nhiều về chính trị nhưng muốn gìn giữ bản sắc truyền thống Việt Nam, một nền văn hóa Á đông và trên hết là văn hóa Phật giáo”, Cha Merton viết. “Trên hết, họ muốn được sống và thấy cuộc chiến tranh tàn bạo và vô ích này chấm dứt”. Thầy cũng nhớ lại: “Chiến tranh Việt nam lúc ấy ngày càng trở nên khốc liệt. Chúng tôi, những người anh em cùng một nhà, giết nhau bằng vũ khí của Nga, Trung Quốc và Hoa Kỳ. Bom đạn tàn phá núi rừng, làng mạc và sát hại dân lành. Phật giáo giống như một bông sen đang cố gắng sống sót trong biển lửa. Phật giáo là một loại sức mạnh tâm linh mà người Việt Nam được thừa hưởng từ tổ tiên. Chúng tôi muốn sử dụng gia tài tâm linh đó để tự bảo vệ mình khỏi sự hủy diệt.”[ix]

Hội Thân Hữu Hòa Giải tiếp tục tổ chức cho Thầy đi kêu gọi hòa bình ở châu Âu. Thầy được hội kiến hai lần với Đức Giáo Hoàng Paul VI và ngỏ lời mời Ngài đi thăm viếng Việt Nam[x]. Thầy mở những buổi họp báo ở Copenhagen, Paris, Rome, Geneva, Amsterdam và Brussels. Thầy thuyết trình về tình hình Việt Nam tại các trường đại học và các nhà thờ, thường là cho số lượng thính giả hơn một ngàn người. Thầy nói chuyện trước Quốc hội của Vương quốc Anh, Canada, Thụy Điển và gặp gỡ triết gia Bertrand Russel tại Anh[xi].

Ở Hà Lan, Thầy kết bạn với nhà tranh đấu Hebe Kohlbrugge – người đã cứu hàng chục ngàn người Do Thái khỏi sự tàn sát của phát xít Đức trong chiến tranh thế giới thứ hai và nhà thần học Hannes de Graaf. Ở Đức, Thầy kết bạn với mục sư đạo Lutheran Heinz Kloppenburg và Martin Niemöller, một nhà thần học và chống lại Đức quốc xã. Tất cả những vị này đã trở thành những người bạn trung kiên và cộng tác viên của Thầy ở châu Âu. Đến mùa thu, chuyến du thuyết kêu gọi hòa bình của Thầy tiếp diễn tại châu Úc, New Zealand, Philippines và Nhật Bản[xii].

Trong khi đó thì chiến tranh và sự thống khổ tại Việt Nam vẫn không hề suy giảm. Số lượng lính Mỹ có mặt ở Việt Nam nhanh chóng tăng lên và vượt qua con số 500.000 người. Tháng 6 năm 1966, ngay sau khi Thầy rời khỏi Việt Nam, khuôn viên trường TNPSXH bị tấn công bằng lựu đạn. Tháng 4 năm 1967, một lần nữa trường bị tấn công làm một giáo viên và một sinh viên bị thiệt mạng[xiii]. Tháng 5 năm 1967, Thầy đang ở Paris thì được tin Nhất Chi Mai tự thiêu.  Nhất Chi Mai là một trong sáu thành viên Tiếp Hiện đầu tiên của Thầy. Trước khi tự thiêu, chị để lại một bức thư cho Thầy, nói rằng: “Thầy ơi, Thầy đừng lo, chắc chắn sẽ có hòa bình”. Nhiều năm sau, Thầy nói với các đệ tử: “Dù sắp ra đi, Nhất Chi Mai vẫn không muốn thầy lo lắng. Nhất Chi Mai đã cống hiến mạng sống của mình cho hòa bình. Hành động của chị được thúc đẩy bởi tình thương đích thực mà không phải vì tuyệt vọng”[xiv]. Tuy vậy, sự ra đi của chị đã để lại một nỗi đau rất sâu không những cho Thầy, mà cho cả cộng đồng trường TNPSXH. Thầy đã ghi lại nỗi đau của sự mất mát ấy trong những bài thơ và kêu gọi những người bạn khác viết bài để vinh danh Nhất Chi Mai[xv]. Ông Đạo Dừa đã viết cho Nhất Chi Mai: “Cháu Mai ơi! Cháu tự thiêu cho hòa bình, cho tình nhân ái thì ta cũng đang tự thiêu, tuy chậm nhưng cũng là một thứ tự thiêu”.  Sau này Thầy đã giải thích với đệ tử: “Có rất nhiều cách để xả thân cho hòa bình.”[xvi]

Trong khi tiếp tục du thuyết để kêu gọi cho hoà bình, Thầy nhận được tin dữ là tám tác viên của trường TNPSXH bị bắt mất tích vào ngày 14.6.1967, trong đó có sư chú Nhất Trí – người đệ tử xuất gia đầu tiên của Thầy. Chưa đầy ba tuần sau,  ngày 5.7.1967, Thầy lại nhận được tin năm tác viên trẻ của trường THPXSH bị bắn bên bờ sông Bình Phước. Một người té xuống sông sống sót, bốn người còn lại chết ngay tại chỗ[xvii]. Người tác viên còn sống kể lại rằng trước khi bắn, một người trong nhóm lạ mặt đó đã đặt tay lên trán của một tác viên và nói: “Chúng tôi rất tiếc, nhưng chúng tôi buộc lòng phải giết các anh”[xviii].

Tại tang lễ của những người bị sát hại (có thể có sự hiện diện của những kẻ sát hại và những người mật báo cho họ), chị Phượng đã thay mặt trường TNPSXH viết bài điếu văn trong đó không hề có sự trách móc hay thù hận bất cứ ai, kể cả kẻ sát nhân mà chỉ nhấn mạnh thông điệp “kẻ thù của chúng ta không phải con người”. Nhờ có sức mạnh tâm linh, dù đau khổ tột cùng trước cái chết của những người anh em của mình nhưng các tác viên của trường TNPSXH đã nhận ra rằng những kẻ sát hại đó cũng chỉ là nạn nhân của hoàn cảnh; họ bị bắt buộc phải giết, nếu không vâng lời cấp chỉ huy thì họ cũng sẽ bị giết. Và kể từ ngày đó, dù công tác xã hội vẫn phải đương đầu với nhiều trở ngại và thử thách, trường TNPSXH không bị tấn công lần nào nữa.

Ngay khi nghe tin về cái chết của bốn tác viên, Thầy đã khóc. Một người bạn có mặt lúc ấy đã an ủi Thầy: “Thưa Thầy, Thầy cũng như một vị tướng lãnh đạo đội quân bất bạo động, và khi quân đội của Thầy làm việc cho tình thương và sự hòa giải thì thế nào cũng có những thương vong. Thầy đâu cần phải khóc”. Thầy nói, “Tôi không phải là một ông tướng. Tôi là một con người. Chính tôi đã kêu gọi các em đến để được đào luyện như những tác viên và giờ đây các em đã bị giết. Tôi cần được khóc”[xix]. Thảm kịch đó ghi đậm trong tâm khiến cho Thầy quán chiếu sâu hơn để tìm ra gốc rễ của hận thù và bạo động. Và Thầy thấy nguyên nhân trước tiên là do những nhận thức sai lầm. Sự trung lập chính trị của trường TNPSXH – không theo phe cộng sản cũng không theo phe chống cộng – làm cho cả hai phe lâm chiến nghi ngờ họ. Quán chiếu về việc các tác viên của trường bị bắn giết, Thầy nói: “Chúng ta phải dùng lưỡi gươm trí tuệ để chặt đứt những hình ảnh, khái niệm và tất cả những nhãn hiệu. Ý niệm của chúng ta có thể đưa tới cuồng tín, có thể tiêu diệt con người, tiêu diệt tình thương”[xx].

 

 

 

[i] Tiến sĩ Kahin thuộc khoa Chính trị về Đông Nam Á của trường đại học Cornell. Và chuyến đi của Thầy do Nhóm liên đại học của trường Cornell (Cornell’s Inter-University Team) đài thọ. Alfred Hassler đã đến thăm Việt Nam vào năm 1965 và đã gặp Thầy tại Viện đại học Vạn Hạnh mùa hè năm đó.

[ii] Xem bản tiểu sử ngắn của Thầy được đăng trên The New York Review of Books vào ngày 9.6.1966 khi họ đăng các bài thơ về hòa bình của Thầy.

[iii] Bài báo có tựa “A Plea For Life” của James A. Wechsler,  đăng trên tờ New York Post, ngày 18.5.1966.

[iv] Cha Thomas Merton đã ghi lại ấn tượng lần đầu tiên gặp Thầy: “điều trước tiên mà tôi nhận thấy ở thầy Nhất Hạnh đó là: thầy thực sự là một bậc chân tu; rất yên lắng, nhẹ nhàng, bình dị, khiêm cung. Ta có thể thấy chất Thiền nơi con người của Thầy”. Nguồn: tác phẩm Learning to Love: The Journals of Thomas Merton, vol. 6  (1997), tr.76.

[v] Theo báo cáo của FBI, sáng sớm hôm đó thầy Nhất Hạnh đã tham gia một buổi lễ hòa bình đại đồng tại nhà thờ Rockerfeller trong khuôn viên trường đại học Chicago với sự tham dự của nhiều giáo sĩ cao cấp.

[vi] Trích từ tác phẩm Hoa sen trong biển lửa:

  1. Hoa Kỳ ngưng oanh tạc ở Bắc cũng như ở Nam.
  2. Giới hạn hoạt động quân sự Hoa Kỳ và Việt Nam lại trong phạm vi tự vệ. Nếu Mặt Trận đáp ứng thì tức khắc đó là một cuộc ngưng bắn.
  3. Hoa Kỳ long trọng cam kết rút quân khỏi Việt Nam trong một thời gian là bao nhiêu tháng, và bắt đầu thực hiện rút ít toàn quân để chứng minh thiện chí và sự thành thực.
  4. Hoa Kỳ tuyên bố rõ rệt ý muốn tôn trọng ý chí người Việt trong việc thành lập một chính quyền đáp ứng được nguyện vọng của dân chúng Việt Nam, và thực hiện những hành động cụ thể để chứng minh lời tuyên bố đó như từ chối không ủng hộ nhóm này để đàn áp nhóm khác.

5.Thành thực giúp Việt Nam tái dựng xứ sở đã bị chiến tranh tàn phá. Sự giúp đỡ này hoàn toàn không có sự liên hệ chính trị và ý thức hệ – những thứ được coi là động chạm đến nền độc lập Việt Nam.

[vii] Tờ New Yorker, ngày 25.6.1966.

[viii] Cuốn sách được NXB Hill & Wang phát hành tại Mỹ đầu năm 1967. Sách được in chui và phát hành tại Việt Nam với tựa đề Hoa Sen Trong Biển Lửa (1967).

[ix] Pháp thoại của Thầy tại Hà Nội, ngày 5.5.2008 với chủ đề: “A History of Engaged Buddhism” (Lịch sử đạo Bụt Dấn thân)

[x] “Theo các phóng viên của Tòa thánh Vatican, các chuyến thăm miền Nam và miền Bắc Việt Nam sau đó của Tổng Giám mục Pignedoli và Đức Ông Huessler có liên hệ đến lời mời của Thầy Nhất Hạnh.”— nguồn: Tài liệu của Hội Thân hữu Hòa Giải được lưu trữ tại Swarthmore, có tựa đề “Thich Nhat Hanh: A Brief Biography,” (Thích Nhất Hạnh: Tiểu sử vắn tắt) – năm 1970.

[xi] Tại Canada, Thầy là người ngoại quốc đầu tiên được mời diễn thuyết trước Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Canada — nguồn: như trên.

[xii] Nguồn: Tài liệu riêng của Thầy

[xiii] Theo tài liệu riêng của Thầy thì đó là ngày 24.4.1967

[xiv] Trích các pháp thoại ngày 25.3.2004 và 7.6.2002. Nhất Chi Mai đã đọc và ghi âm lại vào băng cassette bài thơ “Dặn dò” của Thầy trước khi tự thiêu cho hòa bình.

[xv] Thầy đã làm một bài thơ theo kiểu văn xuôi để tưởng nhớ Nhất Chi Mai, có tựa đề là Chân dung. Bài thơ này được in trong tập Chim về trên không, do Viện Hóa Đạo ấn hành năm 1971, kỷ niệm ngày giỗ thứ tư của Nhất Chi Mai. Bài này được Thầy ký tên là Thạc Đức.

[xvi] Pháp thoại của Thầy, ngày 7.6.2002

[xvii] Sự kiện này đã được Thầy viết trong bài thơ Xin trả về cho non sông, cho nhân loại, cho đồng bào trong tuyển tập Tiếng đập cánh loài chim lớn. Thầy cũng đã viết một vở thoại kịch về cái chết của những người học trò này, với tựa đề: Nẻo về tiếp nối đường đi.

[xviii] Đọc thêm Hồi ký của Sư cô Chân Không: 52 năm theo thầy học đạo và phụng sự

[xix] Lời chia sẻ này của Thầy đã được ghi lại trong cuốn sách Để có một tương lai – NXB Văn hóa Sài Gòn

[xx] Pháp thoại ngày 21-12-2003 tại xóm Thượng, Làng Mai trong khóa Lâm Tế Lục

Lãnh đạo phong trào hòa bình Phật giáo và hoạt động xã hội

Tháng 12 năm 1963, Thầy rời Hoa Kỳ để về lại Việt Nam. Trên đường về nước, Thầy ghé qua Paris và có thuyết pháp cho đồng bào tại đây. Tháng Giêng năm 1964, Thầy về đến Việt Nam và đứng ngay vào vai trò lãnh đạo của phong trào hòa bình Phật giáo và hoạt động xã hội[i].  Chỉ vài ngày sau khi về nước, Thầy đã gặp gỡ các nhà lãnh đạo Phật giáo và sinh viên để lắng nghe về tình hình của đất nước. Thầy đề nghị hai phương án cụ thể cho các nhà hoạt động xã hội trẻ tuổi: thứ nhất, mỗi tuần dành hẳn một ngày để cùng nhau đến chùa Trúc Lâm tu tập, tĩnh lặng thân tâm và thảo luận kế hoạch hành động; thứ hai hết lòng xây dựng những làng hoa tiêu (còn gọi là làng tự nguyện hay làng tình thương) nhằm tái thiết và phát triển nông thôn.

Đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN)[ii], Thầy đã đưa ra 3 điểm kiến nghị rất cụ thể để cộng đồng Phật giáo có thể góp phần vào việc chấm dứt tình trạng chia rẽ và bạo động trên đất nước:

  1. Giáo hội nên đứng lên kêu gọi anh em miền Nam và miền Bắc Việt Nam ngồi lại tìm giải pháp chung để chấm dứt chiến tranh cốt nhục tương tàn.
  2. Giáo hội nên cấp thiết thành lập một Viện Cao đẳng Phật học để xây dựng lớp trí thức mới có tu có học rành mạch những điều Phật dạy hầu hướng dẫn đất nước đi về hướng đại trí đại bi, khoan dung, và biết lắng nghe tiếng nói của toàn dân.
  3. Giáo hội nên xây dựng ngay một trung tâm đào tạo tác viên xã hội để về các vùng nông thôn giúp người nghèo – những người thiếu ăn, thiếu học, chưa biết cách tổ chức làng xã – nhằm thúc đẩy việc thay đổi xã hội một cách bất bạo động, dựa trên giáo lý của Bụt.

Các vị tôn túc trong Giáo hội chỉ đồng ý điểm thứ hai là thành lập Viện Cao đẳng Phật học. Tuy nhiên, vì không có tài chánh và địa điểm để xây dựng học viện nên họ cho Thầy được toàn quyền xúc tiến. Chỉ trong vòng một tuần, Thầy đã gặp các vị lãnh đạo của GHPGVNTN và bắt tay vào xây dựng Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn[iii].

Những năm tiếp theo là thời kỳ dày đặc các hoạt động giảng dạy, in ấn, thuyết giảng công cộng, xây dựng cộng đồng và các hoạt động xã hội. Qua đó, Thầy đã gây được rất nhiều cảm hứng cho thế hệ trẻ. Cuối cùng thì Thầy đã có cơ hội biến ước mơ thành hành động. Chùa Trúc Lâm trở thành một địa điểm nơi những người tu trẻ và cư sĩ cùng gặp gỡ và làm việc chung với nhau như một cộng đồng. Các sinh viên về đây vào cuối tuần[iv]. Thầy hướng dẫn cho sư chú Nhất Trí – người đệ tử đầu tiên được Thầy thế phát xuất gia và là một tác viên xã hội tài năng – phụ trách chương trình xây dựng làng Cầu Kinh[v]. Cộng đồng của Thầy xây dựng hai làng thí điểm: làng Cầu Kinh và sau đó là làng Thảo Điền[vi]. Các tác viên xã hội trẻ, cả xuất sĩ và cư sĩ, giúp dân làng xây trường học và khởi sự dạy chữ cho trẻ con trong làng. Ngay sau đó, họ cũng bắt đầu huấn luyện dân làng các kỹ thuật nông nghiệp, xây dựng hệ thống tưới tiêu và hướng dẫn về vệ sinh trong cộng đồng. “Chúng tôi không có tiền bạc, nhưng chúng tôi đã có kế hoạch và rất nhiều thiện chí”, Thầy nói[vii].

Tháng Ba năm 1964, với sự hỗ trợ hết lòng của các sinh viên và bạn hữu, Thầy đã thành lập Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn tại chùa Pháp Hội. Thầy dời thư viện gồm khoảng 20,000 quyển sách từ Phương Bối về Viện. Thầy bắt đầu một trong những khóa học đầu tiên về Pháp tướng duy thức họcPháp tánh không tuệ học cùng với các kinh nguyên thỉ khác. Khi HT. Thích Minh Châu từ Ấn độ trở về vào tháng Tư, Thầy đã thỉnh Hòa thượng làm giám đốc của Viện. Niên khóa đầu tiên bắt đầu vào mùa thu năm 1964, thời điểm mà Viện Phật học có tên mới là Viện Đại học Vạn Hạnh[viii].

Đồng thời, Thầy cùng với các cộng sự thành lập nhà xuất bản Lá Bối để nói lên tiếng nói của một đạo Bụt mới, khởi xướng một con đường chấm dứt bạo động[ix]. “Chúng tôi sử dụng văn hóa và nghệ thuật như một ‘vũ khí’ để chống lại sự đàn áp,” Thầy giải thích. “Sáng tác của các cây bút phản chiến, các nhạc sĩ, nhà thơ, họa sĩ, dù là bất hợp pháp, đều được phát hành rộng rãi. Các bản nhạc phản chiến được hát trên đường phố và trong lớp học, và văn học phản chiến trở thành loại sách được bán nhiều nhất ở Việt Nam, thậm chí còn lọt vào các đơn vị quân đội.”[x] 

Không lâu sau đó, Thầy trở thành chủ bút của tuần san Hải Triều Âm – cơ quan thông tin văn hóa của Viện Hóa Đạo thuộc GHPGVNTN. Tờ báo ngày càng được nhiều người biết đến. 50 ngàn bản đã được in mỗi tuần, được chuyển ra Huế và Đà Nẵng bằng đường hàng không. Đó là tờ báo đầu tiên công khai đăng các bài thơ và nhạc về hòa bình, đồng thời với các bài tham luận Phật giáo quan trọng, các bài tường trình về hành động tuyệt thực để biểu tình của tăng ni và các cuộc phản đối sự áp bức của chính quyền. Các bài thơ về hòa bình của Thầy, được viết theo thể thơ tự do, trở nên rất nổi tiếng và chạm đến trái tim của hàng triệu người dân Việt. Mặc dù Thầy chưa bao giờ gọi thơ của mình là “thơ tự do” nhưng những bài thơ của Thầy được xem là những tác phẩm tiêu biểu của phong trào Thơ Mới[xi].

Tháng Mười một năm 1964, một nạn lụt lớn tại miền Trung đã cướp đi hàng ngàn sinh mạng và cuốn trôi hết nhà cửa. Nạn nhân trong những vùng có giao tranh chịu thiệt thòi nhất vì không ai dám tới tận nơi để cứu trợ. Thầy, sư chú Nhất Trí và chị Phượng đã tổ chức một đoàn thuyền cứu trợ có treo cờ Phật giáo và biểu ngữ cho biết đây là đoàn thuyền cứu trợ, đi ngược dòng Thu Bồn dưới những làn đạn để phân phát lương thực và các vật dụng cần thiết cho bà con tại huyện Đức Dục, tỉnh Quảng Nam. Đoàn đã gặp những trẻ em trúng đạn mình đầy máu me, những thanh niên xanh xao thiếu ăn, những người cha đang khổ đau vì cả gia đình đã bị lũ cuốn đi. Đêm hôm đó, Thầy đã cắt đầu ngón tay, nhỏ máu xuống dòng sông Thu Bồn và phát nguyện sẽ không bao giờ quên đồng bào khổ cực chết vì thiên tai, vì bom đạn ở những vùng xa xôi như vậy[xii].

Làm công tác phụng sự xã hội trong bầu không khí đầy nghi kỵ, hận thù, sợ hãi và bạo động thật vô cùng khó khăn. Hiểm nguy có thể đến từ bất cứ bên nào, bất cứ lúc nào. Bạn bè của Thầy đã bị bắt bớ, các tác viên xã hội bị đe dọa, và hiểm nguy, bạo động lúc nào cũng có thể xảy ra. “Nếu không có một sự thực tập tâm linh, bạn không thể nào sống nổi,” Thầy giải thích[xiii]. “Đạo Bụt dấn thân đã được sinh ra trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn như vậy. Chúng tôi muốn duy trì sự thực tập của mình trong khi đối diện với khổ đau. Chúng tôi thực tập thiền hành ngay tại nơi mà đồng bào vẫn đang chạy dưới bom đạn. Và chúng tôi học cách trở về với hơi thở chánh niệm trong khi giúp chăm sóc cho một em bé bị thương vì trúng bom đạn”[xiv]. Chỉ có hơi thở chánh niệm mới có thể giúp cho các tác viên xã hội không bị những cảm xúc mạnh kéo đi, có đủ bình an để biết cái gì cần làm và cái gì không nên làm trong khi thực hiện công tác cứu trợ.

Khổ đau và khó khăn đã trở thành những người thầy lớn của các tác viên xã hội lúc bấy giờ. “Điều khó khăn nhất là không để mất hy vọng, không đầu hàng tuyệt vọng,” Thầy nói. “Trong hoàn cảnh khổ đau tột cùng như vậy, chúng tôi phải thực tập như thế nào để giữ được hy vọng và lòng từ bi của mình.”[xv] Cũng trong thời gian này, một trong những làng mà họ đang giúp tái thiết gần vùng phi quân sự đã bị ném bom. Họ xây lại làng. Khi làng bị ném bom lần thứ hai, các tác viên xã hội hỏi Thầy là có nên dựng lại làng nữa hay không, và Thầy đã trả lời: “Nên”. Làng lại tiếp tục bị ném bom lần thứ ba. Và khi được hỏi, Thầy suy nghĩ một hồi lâu rồi trả lời : “Nên”.  Sau này Thầy giải thích: “Có vẻ không có một hy vọng nào là chiến tranh sẽ kết thúc, bởi vì chiến tranh đã kéo dài quá lâu. Tôi phải thực tập thở và trở về với chính mình trong giây phút đó, khi các bạn trẻ hỏi tôi. Phải thú thật là lúc ấy tôi chẳng có hy vọng gì nhiều, nhưng nếu tôi không còn hy vọng thì tôi sẽ khiến cho các bạn trẻ đau buồn và tuyệt vọng. Tôi phải thực tập thật sâu sắc và nuôi một chút hy vọng le lói trong lòng để trở thành nơi nương tựa cho các em.”[xvi]

Cho đến thời điểm tháng Sáu năm 1965, ở miền Nam Việt Nam, phe quân sự đã giành chính quyền; bạo động và đàn áp nổi lên khắp nơi. “Quyền tự do dân sự bị hạn chế, những người có quan điểm chính trị đối lập – bị tố cáo là trung lập hoặc thân cộng sản – đều bị bắt bỏ tù; các đảng chính trị được phép hoạt động với điều kiện là họ không được công khai chỉ trích chính sách của nhà cầm quyền”[xvii]. Các trận đánh du kích vẫn tiếp tục diễn ra. Thầy tiếp tục viết những bài thơ kêu gọi hòa bình, nói lên những đau thương cùng cực của người dân trong cảnh bom đạn của chiến tranh. Tập thơ của Thầy, Chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện, được xuất bản năm 1965. Hơn 3000 bản đã được bán hết trong vòng hai tuần lễ. Không lâu sau đó, những bài thơ của Thầy bị hai bên lâm chiến công kích trên đài phát thanh, gọi là “thơ phản chiến” làm an ninh của Thầy bị đe dọa[xviii]. Mặc dù vậy, tập thơ này vẫn được in chui và phổ biến rộng rãi. Những bài thơ của Thầy được phổ nhạc và trở thành các bài hát cho hòa bình được nhiều người ưa thích, thường được hát trên đường phố hoặc trong các buổi hội họp của sinh viên học sinh. Phạm Duy, một trong những nhạc sĩ nổi tiếng đã viết 10 bài Tâm ca, lấy cảm hứng từ các bài thơ và thông điệp của Thầy : “Kẻ thù ta không phải là con người”[xix].

Năm 1965, lo ngại quân cộng sản chiếm ưu thế, Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon B Johnson đã gửi một đội quân viễn chinh Mỹ đầu tiên đến Việt Nam. Đến mùa hè thì đã có hơn 125 ngàn lính Mỹ trên đất Việt. Thầy và các nhà trí thức hàng đầu ở Việt Nam nhận ra rằng gốc rễ của cuộc chiến thực sự nằm ở Tây phương và sự yểm trợ của các nhà lãnh đạo tâm linh và nhân quyền nổi tiếng ở Tây phương là rất cần thiết để giúp công luận có một cái nhìn khác về cuộc chiến tranh Việt Nam. “Qua hai cuộc chiến tranh, chúng tôi đã chứng kiến những người lính Pháp đến Việt Nam để giết và bị giết, và những người Mỹ trẻ tuổi cũng đến đây để giết và bị giết”, Thầy nói[xx]. “Tôi có thể thấy nguyên nhân gây ra khổ đau ở Việt Nam không phải là từ những người lính Mỹ mà là từ một chính sách không có tuệ giác, một chính sách được làm bởi sợ hãi và cái thấy sai lệch.”[xxi]

Vì lý do đó mà Thầy cùng với các cộng sự nhất trí rằng Thầy nên viết thư cho Mục sư Martin Luther King Jr vào tháng 6 năm 1965, còn những vị khác thì viết thư cho Jean-Paul Sartres, Henry Miller, v.v.[xxii] Trong bức thư gửi Mục sư King, Thầy đã giải thích về lòng từ bi ẩn chứa trong hành động tự thiêu của các tu sĩ Phật giáo cho hòa bình. Và Thầy viết: “Ở đây không ai muốn chiến tranh cả. Vậy thì chiến tranh để làm gì? Và chiến tranh cho ai? […] Tôi biết chắc rằng bởi vì Mục sư đã từng dấn thân vào một cuộc tranh đấu cam go nhất cho bình đẳng và nhân quyền, Ngài là một trong những người có thể hiểu thấu và chia sẻ được những đau khổ không bờ bến của dân tộc Việt. Các nhà nhân bản lớn trên thế giới chẳng thể nào ngồi yên và giữ yên lặng được. Ngài không thể im lặng được”[xxiii]. Một năm sau đó, khi hai vị gặp nhau tại Chicago thì Mục sư King đã tham gia vào Ủy ban Lương tâm Quốc tế về vấn đề Việt Nam (International Committee of Conscience on Vietnam).  

Mùa hè năm 1965, Thầy và các cộng sự chính thức thành lập trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (TNPSXH), một mô hình chính quy cho các dự án thí điểm mà Thầy và một nhóm các sinh viên trẻ – còn được gọi là nhóm “13 cây tùng”- khởi xướng trước khi Thầy rời Việt Nam. Giờ đây hướng đi của trường là xây dựng nên một tổ chức hoạt động xã hội chính quy, gắn liền với quần chúng, trung lập về chính trị, một nơi đào luyện cho người trẻ những kỹ năng thực tế và giúp họ có tinh thần vững vàng để có thể đi về những làng mạc nghèo khổ bị bom đạn tàn phá, giúp dân xây trường học, bệnh xá, làm nhà ở cho người vô gia cư và tổ chức những hợp tác xã nông nghiệp[xxiv]. Trường tập trung vào bốn lĩnh vực: giáo dục, sức khỏe & vệ sinh, kinh tế và tổ chức. Các học viên của trường TNPSXH giúp dân làng dựng các trường học bằng tre lợp lá dừa và bắt đầu dạy học. Các tác viên còn dạy dân làng làm hệ thống tưới tiêu ngoài đồng và phương pháp trồng nấm rơm. Họ giúp đào các hố tiêu tự hoại, xây các bệnh xá để chữa tiêu chảy và các bệnh nhiễm trùng[xxv]. Thời gian đó Thầy đã ghi lại: “Chúng tôi thấy rõ điều đó và đã quyết định với nhau rằng một phong trào dựng lại xứ sở cần được đặt trên một căn bản hoàn toàn khác biệt. Chúng tôi muốn mở một mặt trận chống lại nghèo đói, ngu dốt, bệnh tật và vô tổ chức”[xxvi].

Trường TNPSXH đã thu hút những người trẻ có nhiệt tâm muốn hành động để làm thay đổi tình trạng, những người muốn chọn một con đường bất bạo động, thay vì phải theo phe cộng sản hay phe chống cộng. Cũng như những người làm cách mạng, tham gia TNPSXH đòi hỏi sự dấn thân và hy sinh. Tương tự như những thành viên của Đoàn thanh niên phụng sự Hòa bình (Peace Corps) của Mỹ, các tác viên xã hội không có lương, chỉ có một ít tiền để ăn trưa, công tác phụng sự của họ được làm bằng tấm lòng. Tuy nhiên, thật chóng vánh, người ta có thể thấy rõ ràng là sự trung lập về chính trị vừa là điểm mạnh nhất nhưng cũng là điểm làm TNPSXH gặp nhiều hiểm nguy nhất. Với một đất nước bị chia cắt nặng nề, thậm chí sự trung lập cũng làm cho cả hai phe lâm chiến cảm thấy bị đe dọa.

Thầy đã làm bài thơ Dặn dò[xxvii] để nhắn nhủ các sinh viên của mình giữ gìn tâm từ bi và không bị rơi vào tuyệt vọng khi phải đối diện với bạo động và bất công trên con đường phụng sự:

Xin hứa với tôi hôm nay
Trên đầu chúng ta có mặt trời
Và buổi trưa đứng bóng
Rằng không bao giờ em thù hận con người
Dù con người
Có đổ chụp trên đầu em
Cả ngọn núi hận thù
Tàn bạo,
Dù con người
Giết em,
Dù con người
Dẫm lên mạng sống em
Như là dẫm lên giun dế,
Dù con người móc mật moi gan em
Đầy ải em vào hang sâu tủi nhục,
Em vẫn phải nhớ lời tôi căn dặn:
Kẻ thù chúng ta không phải con người.
Xứng đáng chỉ có tình xót thương
Vì tôi xin em đừng đòi điều kiện

Bởi không bao giờ
Oán hờn lên tiếng
Đối đáp được
Sự tàn bạo con người
.

Thầy đã được một đoàn thể rất mạnh gồm các bạn bè và cộng sự yểm trợ trong việc thực hiện chí nguyện của mình. Thầy Thanh Văn, đệ tử của một trong các huynh đệ của Thầy, là người rất tận tụy và đã trở thành giám đốc đầu tiên của trường TNPSXH. Thầy Châu Toàn, đệ tử duy nhất của HT. Thích Mật Thể – người khởi xướng phong trào đạo Bụt dấn thân đã gây cảm hứng sâu sắc cho Thầy khi Thầy còn là một người tu trẻ, đã trở thành Tổng thư ký của tờ Hải Triều Âm. Sư chú Nhất Trí, người đệ tử xuất gia đầu tiên của Thầy, là một tác viên xã hội mẫu mực, một tấm gương của sự khiêm nhường và lòng từ bi. Chị Phượng, Chủ tịch hội sinh viên Phật tử Viện Đại học Vạn Hạnh, trở thành một lãnh đạo hăng say và tháo vát trong các công tác xã hội của trường[xxviii].

Bất chấp tất cả những hiểm nguy, thử thách mà các tác viên xã hội phải dối diện hàng ngày trong công tác, những năm giữa thập niên 1960 là thời gian của sự đoàn kết, của tình huynh đệ và niềm vui trong công việc xây dựng cộng đồng. Cộng đồng TNPSXH là một tập thể trẻ, năng động đang hướng tới một tương lai đầy hy vọng và hòa giải. Thầy yêu cầu tất cả các tác viên mỗi tuần một lần, dù bất cứ chuyện gì xảy ra cũng phải tập họp ở chùa Trúc Lâm, Gò Vấp để cùng nhau thiền tọa, thiền hành, ăn với nhau một bữa cơm và cùng ngâm thơ, ca hát với nhau để lấy lại tinh thần.

Tháng Hai năm 1966, Thầy tiến thêm một bước nữa trong công việc xây dựng cộng đồng bằng cách thành lập dòng tu Tiếp Hiện, một dòng tu mới dựa trên giới Bồ Tát truyền thống, trình bày được cái thấy mới về một đạo Bụt dấn thân hiện đại. Dòng tu Tiếp Hiện chuyên chở giáo lý của Thầy về việc “không theo phe trong một cuộc tranh chấp”, và nhấn mạnh đến việc không bị vướng mắc vào một quan điểm hoặc một ý thức hệ nào. Đối với Thầy, những giới này chính là “câu trả lời trực tiếp cho vấn đề chiến tranh, là câu trả lời trực tiếp cho chủ nghĩa giáo điều khi mà người ta sẵn sàng giết hoặc chết cho niềm tin của mình”[xxix]. Sau này Thầy nói: “Là những Phật tử thực tập theo con đường hòa bình và hòa giải, chúng ta không thể nào chấp nhận một cuộc chiến mà trong đó anh em một nhà dùng ý thức hệ và vũ khí của bên ngoài để tàn sát lẫn nhau. Dòng tu Tiếp Hiện được lập ra như một phong trào phản kháng tâm linh”[xxx]. Sáu vị Tiếp Hiện đầu tiên (trong đó có chị Phượng) là những tác viên xã hội năng nổ, hết lòng đem lý tưởng của đạo Bụt áp dụng vào đời sống thực tế, họ yểm trợ lẫn nhau trong việc kết hợp đời sống tâm linh vào hoạt động xã hội. Mỗi tuần họ đều đến chùa lá Pháp Vân để cùng tụng giới với nhau[xxxi]. Trong những thập niên kế tiếp, Thầy tiếp tục làm mới Mười bốn giới Tiếp Hiện, và những giới này đã trở thành kim chỉ nam đạo đức giúp định hướng cho hoạt động dấn thân. Đến hôm nay, đã có hơn 3000 thành viên thuộc dòng tu Tiếp Hiện trên toàn thế giới.

Sau này Thầy viết: “Chiến tranh Việt Nam, trước hết và trên hết, là một cuộc tranh đấu về ý thức hệ. Để bảo đảm cho sự sống còn của dân tộc, chúng tôi phải vượt qua thái độ cuồng tín của cả hai phía cộng sản và chống cộng sản và duy trì sự trung lập một cách cực kỳ nghiêm mật. Người Phật tử làm hết sức mình để nói lên tiếng nói của cả dân tộc mà không theo phe phái, nhưng chúng tôi đã bị lên án là ‘thân cộng’. Cả hai bên lâm chiến đều hô hào rằng họ nói lên mong muốn đích thực của dân chúng, nhưng miền Bắc là tiếng nói của khối cộng sản, và miền Nam là tiếng nói của khối tư bản. Người Phật tử chỉ muốn tạo ra một phương tiện để tiếng nói của người dân được lắng nghe – và người dân chỉ muốn hòa bình mà không phải là ‘chiến thắng’ cho bên này hoặc bên kia”[xxxii]. Nhưng, Thầy nói, “tiếng máy bay và tiếng bom quá lớn. Người dân trên thế giới không thể nghe được tiếng nói của dân tộc chúng tôi. Vì vậy tôi đã quyết định sang Hoa Kỳ để vận động chấm dứt chiến tranh”[xxxiii].

 

 

[i] Phong trào tranh đấu bất bạo động này được gọi là “Lực lượng thứ ba” trong bối cảnh chính trị ở Việt Nam vào thời điểm đó.

[ii] Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được chính thức thành lập vào ngày 31 tháng 12 năm 1963, hợp nhất tất cả các tông phái Phật giáo Việt Nam lại thành một giáo hội duy nhất. Đây là kết quả từ sự nỗ lực của Tổng Hội Phật giáo Việt Nam từ 10 năm trước.

[iii] Thầy đã gặp các vị lãnh đạo của GHPGVNTN vào ngày 30.1.1964 và mời quý Hòa thượng Trí Thủ, Thiện Hoa và Thiên Ân cùng tham gia vào công trình này.

[iv] Quý thầy gồm có Đồng Bổn, Thanh Văn, Thanh Tuệ, Thanh Hương, Thanh Hiện, Từ Mẫn, Châu Toàn, Nhất Trí; và các bạn sinh viên gồm có Tâm Quang, Tâm Thái, Thu Hà, Trà Mi, Phùng Thăng.

[v] Sư chú Nhất Trí đã từng theo học và thọ Năm giới với Thầy tại B’lao. Năm 1964, sư chú đã được Thầy thế phát xuất gia.

[vi] Dự án Làng Thảo Điền do chị Phượng khởi xướng. Sư chú Nhất Trí đã sống và làm việc tại chính ngôi làng này. 

[vii] Trích Nẻo về của ý – NXB Văn hóa Sài Gòn,  tr.206.

“Thỉnh thoảng Lý hỏi tôi có ‘nghèo’ lắm không. Tôi nói: nghèo lắm thì cũng chưa phải là nghèo. Nghèo mấy thì cũng còn có ánh trăng bên cửa sổ, khi điện thành phố bị cúp. Đó là lời nói theo kiểu thơ  ‘hài cú’(haiku) của thi sĩ Ba Tiêu (Basho). Lý cười ha hả và móc túi đưa cho tôi năm bảy trăm đồng, nói rằng trả tiền cái truyện ngắn đăng trên báo của Lý. Tôi không nhớ là Lý đã đăng truyện gì của tôi, nhưng mà tôi cứ nhận tiền của Lý như thường. ” – Trích Nẻo về của ý – NXB Văn hóa Sài Gòn,  tr.210.

[viii] Viện Đại học Vạn Hạnh được Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa cấp giấy phép ngày 17.10.1964. Kể từ khi Thầy không được phép trở về quê hương, tên của Thầy đã không còn được ghi trong lịch sử của Viện Đại học Vạn Hạnh, dù Thầy là người sáng lập.

[ix] Những cuốn sách của Thầy như Đạo Phật Hiện Đại Hóa, Nói Với Tuổi Hai Mươi đều được phát hành vào năm 1965. Qua những tác phẩm này, Thầy đã nói lên được những sợ hãi, hoang mang và hy vọng của thế hệ trẻ và chỉ ra cho họ một hướng đi.

[x] Trích từ cuốn sách của Thầy Love in Action: Writings on Nonviolent Social Change (1993), chương.1.

[xi] Nhà thơ Vũ Hoàng Chương – người phụ trách trang thơ của tuần san Hải Triều Âm – đã nói với thầy Châu Toàn rằng “tuy các anh ở nhóm Sáng Tạo ‘lăng xê’ thơ tự do nhiều như thế, nhưng rốt cuộc theo ông thì những bài thơ ‘hoà bình’ của thầy Nhất Hạnh đăng trong Hải Triều Âm lại là những bài thơ tự do thành công nhất, tuy chưa bao giờ thầy nói thơ thầy là thơ tự do” (nguồn: tác phẩm Bây giờ mới thấy, NXB Phương Đông, tr.20-21)

[xii] Thơ Ruột đau chín khúc – Tập thơ Cho bồ câu trắng hiện

[xiii] Trích phần trả lời của Thầy trong buổi vấn đáp tại tu viện Bích Nham, ngày 29.8.2013

[xiv] Pháp thoại của Thầy tại Làng Mai, ngày 21.6.2019

[xv] Trích phần trả lời của Thầy trong buổi vấn đáp tại tu viện Bích Nham, ngày 29.8.2013

[xvi] Trích từ tác phẩm At Home in the World (2016), bài “Not Giving Up,”.

[xvii] Trích từ Bách khoa toàn thư Encyclopaedia Britannica (2020), phần nói về chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954 – 1965 (“The two Vietnams 1954–65”): https://www.britannica.com/place/Vietnam

[xviii] Thầy chưa bao giờ xem những bài thơ của mình là “thơ phản chiến”. Thầy nói rằng những bài thơ đó chẳng “chống” bất cứ cái gì; nó chỉ đơn thuần là “những bài thơ kêu gọi hòa bình” mà thôi.

[xix]Kẻ thù của chúng ta là cuồng tín, là bạo tàn

Là tham lam, là vu khống

Kẻ thù chúng ta không phải con người

– dù  con người  gọi là Việt cộng –

Giết  con người  đi rồi, chúng ta ở với ai ? ” – Trích từ bài thơ Chiến tranh, trong tập thơ Chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện.

[xx] Trích phần trả lời của Thầy trong buổi vấn đáp tại tu viện Bích Nham, ngày 29.8.2013

[xxi] Trích pháp thoại công cộng của Thầy tại nhà thờ Riverside, thành phố New York, ngày 25.9.2001 (ngay sau sự kiện 11.9)

[xxii] Những lá thư này đã được NXB Lá Bối in trong tác phẩm Dialogue (Đối thoại) bằng tiếng Anh vào năm 1965. Hồ Hữu Tường viết cho Jean Paul Sartres; Tam Ích viết cho André Malraux; Bùi Giáng viết cho René Char; and Phạm Công Thiện viết cho Henry Miller.

[xxiii] Lá thư của Thầy gửi cho Mục sư King

Bản dịch tiếng Việt

[xxiv] Để hiểu thêm về hoạt động của trường TNPSXH, xin xem tại đây. Mô hình trường TNPSXH được Thầy lấy cảm hứng từ Đoàn thanh niên phụng sự Hòa Bình (Peace Corps) của Mỹ, phong trào kibbutz (mô hình kinh tế nông thôn) ở Israel cũng như mô hình ashram và các công tác xã hội của Vinoba Bhave ở Ấn Độ. Vào tháng 11 năm 1966, Thầy còn đi Philippines để quan sát và học hỏi kinh nghiệm từ phong trào tái thiết nông thôn của quốc gia này.

[xxv] Pháp thoại của Thầy tại Làng Mai, ngày 4.12.2011.

[xxvi] Trích Nẻo về của ý, NXB Văn hóa Sài Gòn, tr.203 – 204

[xxvii] Trích từ tập thơ Tiếng đập cánh loài chim lớn

[xxviii] Đọc thêm Con đường mở rộng: 52 năm theo Thầy học đạo và phụng sự để hiểu thêm về Sư cô Chân Không (chị Phượng)

[xxix] Pháp thoại của Thầy tại Hà Nội, ngày 7.4.2008

[xxx] Pháp thoại của Thầy tại Hà Nội, ngày 5.5.2008 với chủ đề: “A History of Engaged Buddhism” (Lịch sử đạo Bụt Dấn thân)

[xxxi] Chùa Pháp Vân còn được gọi là chùa Lá, vì chùa được lợp bằng lá cho giống với chùa của người dân nghèo. Chùa được xây dựng theo thiết kế của Thầy. Chùa Lá là trái tim của trường TNPSXH, là cái nôi của dòng tu Tiếp Hiện. Chính tại nơi đây, Thầy đã truyền giới Tiếp hiện cho 6 thành viên đầu tiên của dòng tu. Năm 1967, năm tác viên của trường bị bắn tại bờ sông, trong đó bốn người chết và một người bị thương. Bốn tác viên bị bắn chết đã được chôn tại khu vườn nằm trong khuôn viên của chùa Lá. Ngày nay, chùa Pháp Vân là một trong những ngôi chùa lớn nhất ở Tp. Hồ Chí Minh. Khi đến thăm chùa, ta vẫn có thể đến viếng khu vườn tưởng niệm các tác viên của trường TNPSXH đã hy sinh.

[xxxii] Trích từ tác phẩm Love in Action, tr.39

[xxxiii] Trích pháp thoại công cộng của Thầy tại nhà thờ Riverside, thành phố New York, ngày 25.9.2001 (ngay sau sự kiện 11.9)

Princeton và Columbia

Năm 1961, Thầy được chương trình Fulbright Fellowship cấp học bổng sang Hoa Kỳ học nghành Tôn Giáo Tỷ Giáo tại trường đại học Princeton từ năm 1961 đến năm 1962. Trước khi đi, Thầy thăm Phương Bối lần cuối cùng để chia tay với Thầy Thanh Từ, người cuối cùng còn lưu lại Phương Bối.

Tại Princeton, Thầy theo các khóa học về Thiên Chúa giáo, Hồi giáo và đạo Bụt Trung Quốc. Thời gian ở Princeton đã đem đến cho Thầy rất nhiều cảm hứng, sự chiêm nghiệm và trị liệu bởi vì không khí bình an trong khuôn viên của trường không khác gì trong một tu viện[i]. Thầy có nhiều thời gian để thực tập thiền hành trên những con đường trong khuôn viên trường. Chính tại Princeton, lần đầu tiên trong đời Thầy được thưởng thức mùa thu, được thấy tuyết rơi và tận hưởng vẻ đẹp tinh khôi của mùa xuân tiếp nối mùa đông. Trong sự bình an và tĩnh lặng, tuệ giác của Thầy đã có cơ hội được chín mùi. Cũng chính tại nơi đây, lần đầu tiên Thầy đã thực sự nếm được sự an lạc của hiện pháp lạc trú[ii]. Thầy đã về đã tới một cách đích thực trong giây phút hiện tại và tiếp xúc được với tinh thần vô nguyện.

Mùa hè 1962, tại trại hè Ockanickon ở Medford, New Jersy, Thầy đã ghi lại những “hoa trái tuệ giác đầu tiên” đó trong tác phẩm Bông hồng cài áo. Đó là một quyển sách nhỏ thật giản dị, đầy chất thơ vinh danh tình mẹ và gây cảm hứng để người đọc trân quý những gì mà họ có ngay trong giây phút hiện tại (dṛṣṭadharmasukhavihāra). Đây cũng là quyển sách đầu tiên thể hiện hướng đi mới trên con đường tu tập và hoằng pháp mà Thầy sẽ triển khai trong những năm kế tiếp. Thầy đã chuyển quyển sách này về Việt Nam theo hình thức một lá thư gửi cho một sinh viên của Thầy trong nhóm “Những cây tùng”. Vị này đã sắp xếp để xuất bản quyển sách ngay lập tức[iii]. Đây là quyển sách bằng tiếng Việt đầu tiên đưa chánh niệm trở thành một sự thực tập tâm linh trong đời sống hàng ngày, và nó đã nhanh chóng trở thành một quyển sách được ưa chuộng nhất.

Quyển sách được viết với ngôn ngữ đầy thi ca nhưng cũng rất đỗi tự nhiên và giản dị mà thậm chí trẻ con cũng có thể hiểu được. Bông hồng cài áo không mang hình thức giáo lý đạo Bụt, nhưng về bản chất, nó là một bài thiền hướng dẫn, giúp người đọc tiếp xúc với sự có mặt mầu nhiệm của mẹ trong giây phút hiện tại. Lần đầu tiên một thầy tu đạo Bụt đã chỉ ra rằng năng lượng tỉnh thức của thiền tập có thể là một năng lượng tươi sáng, nhẹ nhàng – một người bạn đồng hành soi sáng cho cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Người đọc có thể tiếp xúc với hoa trái của thiền quán mà không cần phải biến thân tâm họ thành một bãi chiến trường để chống lại những phiền não của tham dục, giận hờn và si mê. Cuốn sách này được xuất bản đã làm cho Thầy bắt đầu được biết đến như một vị thầy có khả năng diễn đạt giáo lý đạo Bụt một cách sâu sắc và dễ hiểu, bởi vì cho đến thời điểm đó Thầy chủ yếu được biết đến như là một nhà thơ và chủ bút.

Vu Lan năm ấy, đoàn sinh viên Phật tử mà Thầy từng hướng dẫn đã tổ chức lễ Bông hồng cài áo để vinh danh tình mẹ dựa trên bài viết Bông hồng cài áo. Từ đó trở đi, lễ Bông hồng cài áo hàng năm này đã trở thành một phần quen thuộc của văn hóa Phật giáo Việt nam. Quyển sách đã được phát hành trên một triệu bản và có mặt trong tủ sách của mọi gia đình Phật tử. Phong cách viết chân tình, gần gũi nhưng cũng đầy thi vị và chứa đựng tuệ giác thâm sâu của Thầy đã mở ra một hướng đi mới cho văn chương Phật giáo và gây ảnh hưởng lớn không những ở Việt Nam mà còn ở Tây phương.

Sau này khi nhìn lại những năm tháng ở Mỹ, Thầy thấy: “Tôi lớn lên và xuất gia tại Việt Nam. Tôi đã học hỏi và tu tập theo đạo Bụt ở Việt Nam. Trước khi tới Tây phương, tôi đã giảng dạy cho nhiều thế hệ tăng sinh ở Việt Nam. Nhưng giờ đây, tôi có thể nói rằng tôi đã chứng đạo ở Tây phương”[iv].  

Sau khi hoàn tất năm học tại Princeton, Thầy ở lại Hoa Kỳ tiếp tục công việc nghiên cứu tại Chủng viện Thần học (Union Theological Seminary) trực thuộc đại học Columbia (1962-1963), theo một chương trình liên kết giữa hai trường đại học Princeton và Columbia[v]. Ở đó, Thầy đã tận dụng kho tư liệu về đạo Bụt rất giàu có được lưu giữ tại thư viện Butler. Thầy cũng nhận được hướng dẫn và yểm trợ của Giáo sư tôn giáo Anton Zigmund-Cerbu. Giáo sư Cerbu là một học giả lỗi lạc, một chuyên gia trong lĩnh vực tôn giáo Á đông. Ông thành thạo khoảng 40 thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt và tiếng Pháp[vi]. Với năng lượng trẻ trung, dễ gần, giáo sư Cerbu là một người bạn tri kỷ, một chỗ dựa vững chãi của Thầy. Ông có thể nhận thấy và nuôi dưỡng những tiềm năng nơi Thầy. (Nửa thế kỷ sau, vào năm 2017, Chủng viện Thần học trực thuộc trường đại học Columbia đã xây dựng chương trình Thạc sĩ về đạo Bụt dấn thân, “Thich Nhat Hanh Master’s Program for Engaged Buddhism”, để vinh danh Thầy – một cựu sinh viên của trường.)

Tháng 11 và 12 năm 1962, Thầy có được những cái thấy rất sâu về tâm linh. Những bài viết của Dietrich Bonhoeffer đã đánh động Thầy một cách sâu sắc. Bonhoeffer là nhà thần học và là một mục sư người Đức. Ông đã can đảm lên tiếng công khai phản đối chế độ độc tài của phát xít Đức nên đã bị cầm tù và bị xử tử vào năm 1945. Sự bình an, từ bi và dũng cảm của Bonhoeffer trong những ngày cuối cùng của cuộc đời ông đã làm cho Thầy rất xúc động:

… Đầu hôm tôi thức để đọc Bonhoeffer, và giai đoạn chót của đời chàng đã giúp tôi làm bừng tỉnh dậy cái bầu trời đầy sao sáng sẵn có trong tâm linh mỗi người. Tôi bỗng thấy sung sướng lạ kỳ và có cảm nghĩ rõ rệt rằng tôi có thể chịu đựng được những đau khổ lớn lao nhất mà thường ngày tôi không thể hoặc chưa thể chịu đựng nổi […]  Bonhoeffer chỉ là một giọt nước cuối cùng làm tách nước tràn đầy, một nhân duyên cuối cùng, một làn gió nhẹ thổi tới cho trái cây chín muồi rụng xuống. Được sống trọn một đêm như thế thì ta không nên than trách chi hết nữa về cuộc đời. […] Can đảm và nghị lực dâng tràn, ta thấy óc và tim ta là những đóa hoa; những cảm xúc, những rung động, những đau khổ của chúng ta đều hiện hữu một cách rất mầu nhiệm, tuy ta biết rằng hình hài ta vẫn là hình hài của chính ta. Nguyên Hưng chớ cho rằng đó là một trạng thái tôn giáo, đạo đức hay thánh thiện của tâm hồn, khơi động do một nguồn cảm thông hay một ân huệ thiêng liêng nào. Trạng thái tâm linh ấy hoàn toàn nhân bản. Tôi biết, ngay trong giờ phút đó, không có thần thánh, không có giác ngộ ngoài tim tôi, phổi tôi, những hạch tiết tuyến, những tế bào của cơ thể tôi. Sự sống đã mầu nhiệm mà khổ đau cũng mầu nhiệm. Cuộc đời sẽ xấu xí sẽ đen tối và sẽ không thể có, nếu không có khổ đau[vii]

Trước đức độ và sự dũng cảm phi thường của Bonhoeffer, Thầy nhận ra sự có mặt của các vị Bồ tát “ngay trên trái đất này”. Thầy thoát khỏi ý niệm cho rằng các vị Bồ tát là những thần linh xa cách con người, và Thầy đã bỏ ra rất nhiều tuần sau đó để quán chiếu về các vị Bồ tát trong kinh Pháp Hoa. Thầy thấy rằng các vị Bồ tát “là những người bạn quý mà ta có thể gặp ngay trong cuộc sống này”[viii], ngay cả trong những người trẻ ở Việt Nam. Bạn bè và học trò của Thầy vẫn thường xuyên viết thư kể cho Thầy nghe về những gì đang diễn ra ở quê nhà, về những nỗ lực và hành động của họ giúp giảm thiểu khổ đau đang diễn ra xung quanh mình. Thầy đã phát khởi hạnh nguyện nuôi dưỡng những người trẻ và Thầy bắt đầu dự tính về những giáo pháp và chương trình phù hợp để yểm trợ họ khi về lại Việt Nam.

Vào năm 1963, trong thời gian diễn ra lễ Phật đản, sự đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm càng trở nên nghiêm trọng. Bổn sư  của Thầy, Thiền sư Thích Chân Thật, đã tham gia cuộc biểu tình để phản đối hành động đàn áp này[ix]. Tại Hoa Kỳ, Thầy trở thành phát ngôn viên tích cực của phong trào Phật Giáo Hòa Bình đang diễn ra ở Việt Nam. Thầy đã có nhiều buổi diễn thuyết và trả lời phỏng vấn của giới truyền thông cũng như trình lên Liên Hiệp Quốc một báo cáo về vấn đề vi phạm nhân quyền[x].

Tháng Sáu năm 1963, Thầy biết tin Hòa thượng Thích Quảng Đức, 66 tuổi, tự thiêu qua tờ New York Times[xi]. Thầy quen biết thân tình với Hòa thượng và đã từng sống với Ngài ở Nha Trang và Sài Gòn. Sau này Thầy giải thích: “Khi bạn tự tử, đó là vì bạn tuyệt vọng, bạn không còn muốn sống nữa. Nhưng Hòa thượng Quảng Đức không phải như thế. Ngài vẫn muốn sống. Ngài muốn mọi người, mọi loài được sống, Ngài yêu cuộc sống. Nhưng Ngài có đủ tự do để hiến tặng nhục thân của mình nhằm gửi một thông điệp tới mọi người rằng chúng tôi – những người dân Việt – đang khổ đau và chúng tôi cần sự giúp đỡ của các bạn”[xii]. Sau đó không lâu, Thầy lại nhận được tin tự thiêu của nhiều thầy và sư cô khác[xiii].  Bài thơ Lửa đốt em tôi[xiv] đã ghi lại nỗi đau và quyết tâm tiếp tục sự nghiệp hoạt động cho hòa bình của Thầy.

Vào tháng 8 năm đó, hơn 1000 tăng ni đã bị bắt và hàng trăm vị đã “mất tích”. Thầy trình lên Liên Hiệp Quốc một bản tài liệu liên quan đến sự đàn áp ấy. Thầy tổ chức họp báo và tuyệt thực để kêu gọi Liên Hiệp Quốc nhanh chóng gửi một phái đoàn đến Việt Nam tìm hiểu sự thật[xv].

Mùa hè năm 1963, Thầy hoàn tất chương trình Thạc sĩ về Tôn giáo của Chủng viện Thần học trực thuộc trường Đại học Columbia. Bản luận án của Thầy lấy đề tài về tâm lý học Phật giáo. Giáo sư Horace L. Friess, một nhà Đạo đức học mời Thầy ở lại trường trong vai trò của một phụ tá giảng dạy và nghiên cứu trong phân khoa Triết học và Tôn giáo của trường[xvi]. Nhưng sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ vào tháng 11 năm 1963, Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ mời Thầy về lại quê hương, và sau đó là lời mời của Tổng hội Phật giáo Việt Nam[xvii]. Trong khi đó, Giáo sư Cerbu cố gắng thuyết phục Thầy ở lại Hoa Kỳ để cùng với ông thành lập một phân khoa về Việt Nam tại trường đại học Columbia[xviii]. Không lâu sau, Thầy lại nhận được một bức điện tín từ Hòa thượng Trí Quang – một trong những bậc tôn túc lãnh đạo Phật giáo Việt Nam, kêu gọi Thầy trở về Sài gòn để một lần nữa góp sức vào công cuộc cải cách Phật giáo[xix]. Đó là thời kỳ có nhiều cơ hội nhưng cũng rất nhiều bất ổn và chia rẽ tại Việt Nam. Trong khi vẫn chưa nhận lời trở về thì Thầy nhận được một bức điện tín báo rằng vé máy bay đã được đặt sẵn và đang chờ Thầy tại sân bay. Cuối cùng, Thầy chấp nhận trở về, dù   trong lòng còn nhiều lo ngại. Tâm trạng này, Thầy đã diễn tả trong bài thơ Xin cúi đầu đưa về[xx].

 

 

[i] Theo tác phẩm Nẻo về của ý – NXB Văn hóa Sài Gòn, tr.88, trong thời gian ở tại Princeton, Thầy đã ở tại Brown Hall trong khuôn viên của Viện Thần học (Theological Seminary campus).

[ii] Trong bài “Ngày em hai mươi tuổi” – LTLM số 25 năm 2002, Thầy đã viết: “Chính năm 1962 tại trường đại học Princeton nơi tôi cư trú, tôi bắt đầu có những cái thấy rất sâu sắc, hoa trái của sự thực tập. Tôi có thì giờ rất nhiều để đi thiền hành, để làm chín những cái thiền quán chưa được chín lúc đó. Mùa hè năm 1962 tôi viết cuốn Bông Hồng Cài Áo. Bông Hồng Cài Áo là một tập văn rất đơn sơ, nhưng đó thực sự là hoa trái của tuệ giác. Đó là lần đầu giáo pháp Hiện Pháp Lạc Trú được diễn tả.” (trích từ pháp thoại ngày 13.12.2001)

[iii] Thầy đã gửi thư này cho cô Trương Thị Nhiên – một thành viên của đoàn Sinh viên Phật tử Sài Gòn do Thầy hướng dẫn. Tác phẩm “Bông hồng cài áo” được đăng lần đầu tiên trong Nguyệt san Liên Hoa của Giáo Hội Tăng Già Trung Phần, do Thầy Đức Tâm làm chủ bút, dưới tựa đề “Nhìn kỹ Mẹ” vào năm 1962. Hòa Thượng Trí Thủ, bổn sư của Thầy Đức Tâm, đọc được đoản văn trên nguyệt san Liên Hoa đã khóc vì cảm động. Năm 1965, đoàn cải lương Thanh Nga đã dựng và trình diễn vở tuồng Bông Hồng Cài Áo. Và cũng trong năm 1965, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã phổ nhạc tác phẩm này và làm cho thông điệp của Thầy sống mãi trong lòng mỗi người dân Việt mỗi mùa Vu Lan về. (Nguồn: Thầy trả lời phỏng vấn của Nguyệt san Giác Ngộ 2008)

[iv] Trích từ tác phẩm At Home in the World (2016), tr. 87.

[v] Bài luận của Thầy về Summa Contra Gentiles (Tổng luận về việc Đối phó với Dân ngoại) của Thánh Thomas Aquinas đã tạo ấn tượng lớn đối với các giáo sư. Cũng chính tại đại học Columbia, Thầy đã biết đến công trình của các nhà thần học như Karl Bath, Paul Tillich, Martin Buber và Dietrich Bonhoeffer. Thầy còn có cơ hội đọc các tác phẩm của Alan Watts và nghe các bài diễn thuyết của các nhà thần học hàng đầu trong đó có Jacques Maritain.

[vi] Giáo sư Cerbu hơn Thầy 3 tuổi. Ông đã qua đời sau một cuộc phẩu thuật tim vào tháng 11 năm 1964, chỉ một vài tháng sau khi Thầy về lại Việt Nam.

[vii] Thầy đã mô tả lại những trải nghiệm của mình trong đêm mùng 2 tháng 11 năm 1962. Trích từ tác phẩm Nẻo về của Ý– NXB Văn hóa Sài Gòn, trang 154

[viii] Trích từ tác phẩm Nẻo về của Ý – NXB Văn hóa Sài Gòn, trang 159

[ix] Xem hình Thiền sư Chân Thật tham gia cuộc biểu tình

[x] Thầy đã đệ trình bản báo cáo lên Liên Hiệp Quốc vào ngày 8.10.1963, ngày mà Liên Hiệp Quốc xem xét về hành động đàn áp Phật giáo của Tổng thống Ngô Đình Diệm.

[xi] Bài báo đăng trên tờ The New York Times, ngày 1.7.1969 với tựa đề “Man Sets Himself Afire”.

[xii] Pháp thoại của Thầy tại Làng Mai, ngày 7.6.2002

[xiii] Trong tháng 8 năm 1963, còn có thêm những tu sĩ tự thiêu cho hòa bình như thầy Nguyên Hương; thầy Thanh Tuệ; sư cô Diệu Quang; và thầy Tiêu Diêu.

 

[xiv] … Lửa đốt em tôi

Ôi là da là thịt

Em có đau không? nước mắt tôi không đủ

Để tưới lên, mát dịu hồn bé nhỏ linh thiêng

Tôi còn đây, thương tích dẫu nặng nề,

Mang nguyện lớn chuyển trao về thế hệ.

Tôi còn đây, chúng tôi hứa chẳng bao giờ phản bội.

Em nghe không? – chẳng bao giờ phản bội,

Vì tim em đã hóa trái tim tôi. (Thơ “Lửa đốt em tôi” – Tập thơ “Cho bồ câu trắng hiện”)

[xv] Tác phẩm Con đường mở rộng của Sư cô Chân Không, chương 5.

[xvi] Thông tin từ website của Union Theological Seminary, và tác phẩm Nẻo về của ý – NXB Văn hóa Sài Gòn, tr.104: “Từ đầu mùa thu tôi được nhận làm việc tại trường đại học Columbia. Tôi dạy mỗi tuần năm giờ, ngoài ra còn có một số giờ phải ngồi văn phòng để tiếp sinh viên và giúp đỡ cho họ về việc sưu tầm tài liệu. Lương tôi được ba trăm năm chục đồng.”

[xvii] Thầy còn nhận thêm lời mời từ Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo

[xviii] Tác phẩm Nẻo về của ý– NXB Văn hóa Sài Gòn, tr.207

[xix] Thầy đã nhận được điện tín sau đó là một lá thư từ Hòa thượng Trí Quang với nội dung: “Tôi kiệt sức quá rồi, nhất là về phương diện sức khỏe. Còn về phương diện khả năng thì tôi thấy tôi đã cằn cỗi và hẹp hòi quá. Đặt tin tưởng cả vào Nhất Hạnh.”

[xx] Thơ Xin cúi đầu đưa về  – Tập thơ Cho bồ câu trắng hiện

“Đây hai bàn tay tôi

Xin trả về cho em

Thành khẩn nguyện cầu xin đừng nghiến nát

Tôi đã trở về, như một kẻ đầu hàng ngoan ngoãn

Dù muôn khổ đau, lòng không oán thán,

Bởi vì dưới ngôi sao em tôi đã sinh ra,

Bởi vì em tôi mới sinh ra

Để vạn kiếp làm người trai khờ dại…”

Cộng đồng thí điểm

Thế là vào khoảng cuối năm 1956, Thầy bắt đầu dành nhiều thời gian hơn ở B’lao, một miền cao nguyên hẻo lánh khoảng 200 km ở phía Đông bắc Sài gòn, trên đường đi Đà lạt. Đất nước bị chia cắt, mất mẹ, và sự phản ứng gay gắt của các nhà lãnh đạo Phật giáo đối với những cố gắng của Thầy trong việc thống nhất Phật giáo cũng như việc cải tổ chương trình học tại chùa Ấn Quang, tất cả những sự kiện đó bắt đầu gây ảnh hưởng đến sức khỏe của Thầy.

Tại làng Công Hinh (một tên gọi khác của B’lao), có một ngôi chùa tên là Phước Huệ, trụ sở chính của hội Phật giáo địa phương. Bao quanh chùa là những vườn chè [i]. Thầy có một cái am nhỏ mái lá vách đất ngay giữa vườn chè. Thầy ở đó một mình, trong am chỉ vẻn vẹn có một cái giường ngủ và một cái bàn viết. Thời tiết ở B’lao ấm hơn ở Đà lạt một chút. Nơi đây, Thầy có điều kiện thuận lợi để nghiên cứu và viết lách, xa rời những náo nhiệt chộn rộn ở Sài gòn và những vấn đề trong bộ máy tổ chức Phật giáo. Nơi đây rất tĩnh mịch, chỉ thỉnh thoảng có tiếng xe hơi vọng lại xa xa từ phía con lộ chính. Trong chùa không có điện, chỉ có một máy phát điện nhỏ chạy khoảng vài tiếng đồng hồ để thắp sáng trên dưới mười bóng điện mỗi tối[ii].

Thầy mong ước xây dựng một cộng đồng xuất sĩ trên miền núi. Và thế là, một số huynh đệ xuất sĩ và học tăng của Thầy từ chùa Ấn Quang đã đến chùa Phước Huệ cùng tu với Thầy không lâu sau đó. Thầy đề ra một chương trình tu học và các vị Phật tử cư sĩ cư ngụ gần đó cũng thường đến tham gia. Mọi người thức dậy lúc 4 giờ sáng để ngồi thiền và tụng kinh; những lớp học cũng diễn ra vào buổi sáng. Chính ở đây Thầy đã viết và biên tập các bài báo cho tờ Phật giáo Việt Nam trong vòng hai năm sau đó trong khi vẫn tiếp tục đứng lớp dạy cho các vị xuất sĩ trẻ. Mỗi buổi chiều, Thầy vẫn thường chơi đánh bóng bàn, hay bóng đá ở khoảng đất rộng phía sau chùa – điều này cũng khá là cấp tiến bởi vì thời đó tu sĩ ở Việt Nam không chơi thể thao[iii]. Một ngày khép lại bằng thời công phu ngồi thiền, tụng kinh mỗi tối.

Thầy muốn cho các học tăng có cơ hội để được huấn luyện trong tinh thần tự đề ra hướng đi cho mình trong nghiên cứu và học hỏi, trong một môi trường gần với thiên nhiên đầy nuôi dưỡng và hứng khởi. Thầy muốn tạo cảm hứng cho những người xuất gia trẻ phát triển trí tò mò để tự tìm ra hướng đi cho mình mà không chỉ học để đỗ đạt và lấy những mảnh bằng. “ Chúng tôi muốn cống hiến một đạo Bụt lột xác có khả năng thả một bè lau, cứu được đất nước ra khỏi tình trạng tranh chấp, qua phân và chiến tranh.“[iv] Thầy muốn mỗi người xuất sĩ biết cách nuôi lớn cái thấy sáng tỏ, tuệ giác và tỉnh thức nơi chính mình mà không chỉ đơn thuần là tin tưởng một cách mù quáng vào học thuyết Phật giáo[v]. Thầy dạy các vị xuất sĩ trẻ cách sử dụng các môn thế học như khoa học, lịch sử và văn chương như là những “công cụ“ để có thể đi xa hơn trong khi nghiên cứu đạo Bụt[vi]. Thầy dạy cho họ về lịch sử các tư tưởng Phật giáo, quá trình hình thành và phát triển của các tông phái, truyền thống Phật giáo các nhau, các kinh điển căn bản của các truyền thống Nam tông và Bắc tông trong giai đoạn mở đầu[vii]. Đôi khi có các giáo sư và học giả từ Sài gòn lên ở lại vài tuần. Họ có những buổi chia sẻ, đi bộ chung với Thầy và các học tăng, tận hưởng sự bình an và niềm vui của nếp sống bình dị nơi đây.

Thỉnh thoảng Thầy cùng mọi người đi thăm Ni Sư Diệu Âm ở Djiring và ở lại đó ăn trưa, hoặc đi bộ trong rừng Đại Lão gần bên, nơi có sông, có thác để khám phá và tham thú các cảnh đẹp thiên nhiên, thưởng thức tiếng chim, tiếng suối[viii]. Các thầy thường mang theo thức ăn để đi picnic, sau khi ăn xong là nằm trên các tảng đá bên bờ suối để nghỉ ngơi. Thầy khuyến khích mọi người hát ca, thưởng thức trời xanh, mây trắng, thực sự làm tinh thần tươi mới lại. Có khi mọi người ngồi giữa rừng để nghe Thầy kể chuyện, đọc thơ hoặc chia sẻ tầm nhìn của Thầy về tương lai Việt Nam. Có những lúc Thầy cho mọi người ngồi thành vòng tròn và ghi chép.

Chính trong thời gian ở chùa Phước Huệ, tại chiếc am lá giữa vườn trà mà Thầy có một giấc mơ. Trong giấc mơ đó, Thầy thấy mẹ, và lần đầu tiên Thầy chứng thực một cách sâu sắc rằng “còn“, “mất“ chỉ là những ý niệm mà thôi. Trong giấc mơ, “dung nhan mẹ không có gì biến đổi, tôi nói chuyện với mẹ rất tự nhiên, không có một mảy may cảm giác rằng tôi trong bốn năm, chịu đựng ý tưởng mất mẹ… Bữa đó, tôi thức dậy vào lúc một giờ rưỡi khuya và thấy phép mầu hiển hiện. Niềm đau xót không còn nữa và tôi chứng thực rằng ý tưởng mất mẹ trong suốt bốn năm vừa qua chỉ là những ý tưởng. Thấy được mẹ trong giấc mơ ấy rồi tức là thấy mẹ tôi mãi mãi.“ Thầy giải thích, “Đêm đó, tôi thấy một cách rất hiện thực rằng sự sinh diệt của mẹ tôi là một cái gì do tôi tạo ra mà không phải là một thực tại khách quan. Sự hiện thực của mẹ tôi không phụ thuộc vào sinh diệt; không phải nhờ sinh mà mẹ tôi có, không phải vì diệt mà mẹ tôi không có…“[ix]

Năm 1957, Thầy và các bạn tìm mua một miếng đất thích hợp với diện tích khoảng 25 mẫu tây giữa rừng Đại Lão, một nơi yên tĩnh gần ngôi làng B’su Danglu của người Thượng, cách B’lao và chùa Phước Huệ khoảng 10 cây số[x]. Tháng Giêng năm 1958, Thầy cùng các bạn bắt đầu dọn đất và vào mùa hè năm đó bắt đầu dựng lên vài ngôi nhà bằng gỗ đơn sơ. HT. Thanh Từ cũng lên dựng một cái thất trên đồi và ở đó cho đến năm 1961[xi]. Thầy về lại Sài gòn để gây thêm quỹ, đồng thời bán bản thảo một quyển sách mới về tâm lý học Phật giáo[xii]. Hai ngàn bản của quyển sách đã được bán và Thầy nhận được khoảng 12 ngàn đồng. Số tiền đủ để xây một cái thất nhỏ và một ngôi nhà dài mái tôn có 3 phòng: một phòng thư viện, một thiền đường và một phòng ăn.

Mảnh đất mới được bao quanh bởi cây cối xanh tươi, những dòng suối trong cùng với những con đường rất đẹp cho thiền hành. Cộng đồng mới được đặt tên là Phương Bối, gọi theo tên của cái am lá trong vườn chè của chùa Phước Huệ, nơi mà Thầy từng trú ngụ. Thầy nhớ lại: “Ẩn mình trên rừng núi Đại Lão, Phương Bối đã xòe những cánh đồi hoang vu và êm dịu như một chiếc nôi lớn – một chiếc nôi lót bằng bông đá, hoa dại, cỏ rừng – chào đón chúng tôi. Ở đây chúng tôi sẽ xa được trong một thời gian tất cả những xấu xa nhỏ mọn của cuộc đời“[xiii]. Đó là một nơi trú ẩn lý tưởng cho một cộng đồng nhỏ – một nơi để đọc sách, viết lách, hành thiền và chiêm nghiệm – được bao bọc bởi núi rừng hùng vĩ, bình an và tĩnh lặng. Phương Bối đồng thời cũng rất hoang dại và vô cùng linh động. Thầy viết trong nhật ký là “Tôi thấy thức dậy ở trong tôi con người ở thời cổ sơ“[xiv]. Đôi khi Thầy và các bạn gặp cả cọp, trải qua những cơn bão rừng, có khi họ bị đánh thức trong đêm bởi những tiếng động kỳ lạ vọng ra từ rừng sâu. Có những lúc họ chạy và la hét để chứng tỏ là mình có tự do – tự do để sống thật sâu sắc, thật tự nhiên mà không tuân theo bất kỳ một luật lệ nào hết, và tự do để được sống với chí nguyện của mình trong tình huynh đệ[xv]. Với hoài bão mới là xây dựng “một trung tâm thực tập ở làng quê “, Thầy đã thực sự phá vỡ khuôn khổ truyền thống, tạo nên một môi trường dành riêng cho sự tu tập, nghiên cứu, chữa trị, âm nhạc, thơ ca và xây dựng cộng đồng. Thầy và các bạn thưởng thức thiền tọa vào sáng sớm, thiền trà vào buổi chiều, và thiền tọa vào buổi tối. Phương Bối là một mô hình thử nghiệm để làm mới và phục hồi sinh lực cho đạo Bụt. Và như thế, Phương Bối đã trở thành một kiểu mẫu để rồi về sau rất nhiều trung tâm thực tập chánh niệm của Thầy được hình thành và phát triển khắp nơi trên thế giới vào cuối thế kỷ XX.

Tại Phương Bối, Thầy và các bạn tiếp tục theo đuổi lý tưởng của mình. Sau này Thầy ghi lại: “Chúng ta đã làm việc tích cực trong thời gian ở Phương Bối. Tuy rằng chúng ta có những buổi thám hiểm núi rừng những ngày cắm trại, những buổi bình văn, và tuy rằng tất cả những sinh hoạt ấy đều rất thú vị, chúng ta cũng đã để rất nhiều thì giờ vào việc học tập, nghiên cứu, viết lách“[xvi]. Trong thời gian này, Thầy vẫn đi lại giữa Phương Bối và Sài Gòn để dạy học và bỏ rất nhiều tâm lực để biên tập tờ Phật Giáo Việt Nam. Nhưng vào năm 1959, chỉ sau hai năm hoạt động, vì không đủ kinh phí nên tờ báo đã bị đóng cửa. Thầy cảm thấy tờ báo bị đóng cửa không thật sự vì lý do hết tiền, mà còn vì các nhà lãnh đạo Phật giáo không chịu được những loạt bài nói về vấn đề thống nhất Phật giáo của Thầy. Thầy cảm thấy bị thất bại trong việc cố gắng làm mới đạo Bụt và thống nhất các tổ chức Phật giáo[xvii].

Khó khăn này, cộng với nỗi đau mất mẹ và tình cảnh đất nước bị chia cắt khiến cho Thầy ngã bệnh nặng đến nỗi suýt chết[xviii]. Thầy phải vào nằm bệnh viện Grall ở Sài Gòn gần một tháng. Ở bệnh viện, các bác sĩ người Pháp đã chữa trị cho Thầy các chứng bệnh liên quan đến tim, phổi và đường ruột. Thầy Thích Trí Không – một trong những học tăng từng học với Thầy tại chùa Ấn Quang – đã theo Thầy để làm thị giả. Phải mất một thời gian dài Thầy mới dần lấy lại sức. Thầy phải ở lại nhà một vị cư sĩ ở Sài Gòn để nghỉ dưỡng. Nhưng thời gian này, tài chánh eo hẹp nên Thầy không có đủ chi phí cho thuốc men. Số tiền ít ỏi mà anh của Thầy cho, Thầy giữ để xây mộ cho mẹ[xix].

Đây là một giai đoạn cực kỳ khó khăn của Thầy. Cơ thể vẫn còn rất yếu và Thầy bị mất ngủ triền miên. Thậm chí các bác sĩ cũng không biết phải trị cho Thầy như thế nào. Tinh thần của Thầy chưa bao giờ suy sụp trầm trọng như vậy. Sau này khi nhớ lại giai đoạn đó, Thầy nói rằng Thầy đã bị trầm cảm nặng[xx]. Nhưng Thầy có linh tính là nếu có thể làm chủ được hơi thở và bước chân thì Thầy sẽ có thể thực sự được chữa lành. Tại chùa Báo Quốc, Thầy đã được học nguyên tắc sổ tức trong khi theo dõi hơi thở. Từ khi còn là một chú điệu, Thầy đã được học kinh hành, nhưng các Phật học đường tại Việt Nam không dạy cách áp dụng thiền tập vào việc trị liệu, và chỉ dạy lý thuyết mà thôi. Chính lúc đối diện với đau khổ cùng cực đó, Thầy đã tự tìm ra cách thức thở và đi để có thể làm tĩnh lặng thân tâm, đó là cách kết hợp hơi thở và bước chân một cách tự nhiên trong khi đi. Thay vì sử dụng phương pháp sổ tức, Thầy đếm bước chân trong sự hòa điệu với hơi thở. Bằng cách hoàn toàn tập trung vào bước chân và hơi thở – mà không vào bất cứ một cái gì khác – Thầy đã có khả năng thực sự dừng lại (chỉ – śamatha), và ôm ấp nỗi đau mà không bị những cảm xúc mạnh kéo đi. Thầy nói: “Bằng phương pháp thực tập hơi thở chánh niệm, tôi đã ra khỏi tình trạng khó khăn lúc đó”[xxi]. Thầy đã bắt đầu thực hành phương pháp đó hồi còn ở chùa Ấn Quang và tiếp tục thể nghiệm ở B’lao, Phương Bối, và sau đó nữa là ở trường Đại học Princeton, Hoa Kỳ cũng như trong những thập kỷ kế tiếp, khi cái hiểu củaThầy về các kinh quán niệm hơi thở và thiền tập càng sâu hơn[xxii]. Như Thầy viết trong hồi ký: “Tôi thấy rằng cái chân hoặc cái thiện bao giờ cũng phải đi với cái cường nữa thì mới có thể có chỗ đứng trên trái đất này… Chân lý mà không có sức mạnh thì không có chỗ đứng”[xxiii].

Mùa xuân năm 1959, Thầy được mời đi Nhật với tư cách chủ bút tờ Phật giáo Việt Nam để tham dự lễ Phật đản quốc tế kỷ niệm 2500 năm ngày Bụt đản sinh. Thầy được mời cho một bài diễn văn – đó bài nói chuyện công cộng đầu tiên bằng tiếng Anh của Thầy[xxiv]. Trong chuyến đi, sức khỏe của Thầy lại một lần nữa bị suy giảm, phải nhập viện ở Tokyo. Thầy lại tiếp tục thực tập hơi thở và bước chân chánh niệm trên các hành lang bệnh viện, để hết tâm ý vào hơi thở và buông bỏ những lo lắng. Giữa tháng Năm, khi trở lại Việt Nam, Thầy đã nuôi ý định đi ra thế giới để học hỏi, vì vậy mục tiêu của Thầy là phải nói lưu loát tiếng Anh. Lúc còn bên Nhật, Thầy có nghe nói đến những bộ sưu tập phong phú về sách Phật giáo ở các thư viện ngoại quốc. Và với sự giúp đỡ của một thầy, người vừa từ Mỹ trở về, Thầy đã nộp đơn xin học bổng tại Bộ ngoại giao Hoa Kỳ[xxv].

Tháng 11 năm 1959, Thầy có những buổi giảng hàng tuần tại chùa Xá Lợi, dành cho các sinh viên của các trường đại học ở Sài Gòn. Chính trong khóa học này Thầy đã gặp rất nhiều người trẻ nhiệt tình yểm trợ công việc của Thầy. Một trong số này là cô Cao Ngọc Phượng, một sinh viên trẻ ngành sinh học, người trở thành một trong số “Mười ba cây tùng“ của Thầy. Đó là một nhóm người trẻ đầy nhiệt huyết theo thầy tu học và yểm trợ những dự án của thầy.

Khi ấy cô Phượng đã năng nổ đi đầu trong các chương trình xã hội ở các khu ổ chuột của thành phố Sài Gòn nên cô thúc đẩy Thầy phát triển những thực tập tâm linh nhằm yểm trợ sự hoạt động dấn thân này. Trong những năm hướng dẫn cô Phượng và nhóm “Mười ba cây tùng“ trong hoạt động xã hội, giáo dục và cứu trợ, Thầy đã tìm cách để làm cho giáo lý của Bụt trở nên thực tiễn và đi vào cuộc đời. Sau này nhìn lại, Thầy thấy: “Thật không dễ dàng chút nào, bởi vì tính chất dấn thân chưa được thể hiện một cách cụ thể, trực tiếp trong đạo Bụt truyền thống. Vì vậy chúng tôi phải tự tìm đường đi“[xxvi]. Cô Phượng đã trở thành một cộng sự cốt cán của Thầy trong 60 năm kế tiếp, đó chính là sư cô Chân Không ngày nay.

Trong một lần về Huế, thầy Đức Tâm, bạn học cũ của Thầy hồi ở Phật Học Đường Báo Quốc, khi đó cũng đang là chủ biên tạp chí Liên Hoa ở Huế, đã mời Thầy về thăm chùa.  Chùa của thầy Đức Tâm ở Cồn Hến, một hòn đảo nhỏ giữa dòng sông Hương. Mỗi sáng Thầy đều được mời một ly trà tường vi và được đãi món bắp luộc – đặc sản ở Cồn Hến. Rồi thầy Đức Tâm ngỏ lời mời Thầy viết một loạt bài về đạo Phật nhập thế, khai triển ý tưởng về “Đạo Phật đi vào cuộc đời” mà Thầy đã nói đến trong loạt bài đăng trên báo Dân chủ năm 1955.  Và Thầy đã viết một loạt 10 bài nữa, nhan đề “Đạo Phật Ngày Nay”. Những bài báo này đã được in thành sách và được NXB Lá Bối phát hành năm 1965, không chỉ bằng tiếng Việt mà còn bằng tiếng Pháp[xxvii]. Quyển sách này trở thành quyển sách đầu tiên của Thầy được xuất bản ở Tây phương.

Từ năm 1959, Mỹ can dự ngày càng sâu vào tình hình Việt Nam và sự hậu thuẫn của họ đối với chính quyền thân Công giáo của Ngô Đình Diệm trở nên rõ rệt hơn. Cuối năm 1961, chiến cuộc giữa lực lượng du kích của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam và chính quyền Sài Gòn lan tới Phương Bối. Thầy và các bạn bị buộc phải rời Phương Bối để vào trong ấp chiến lược[xxviii]. Sự mất mát này đã tác động rất lớn đến Thầy. Hai năm sau, khi đã đi xa tận Hoa Kỳ để nghiên cứu, Thầy hồi tưởng lại: “Tội nghiệp cho Thiền Duyệt Thất. Tội nghiệp cho nhà Thượng. Tội nghiệp cho từng lá cây, ngọn cỏ”. Thế nhưng Thầy cũng viết: “Chúng ta không bao giờ mất Phương Bối. Phương Bối đã chiếm chỗ linh thiêng trong lòng chúng ta. Ở bất cứ phương trời nào, nghe đến Phương Bối là ta cảm động.”[xxix]

 

 

[i] Nơi đó nay là thành phố Bảo Lộc và chùa Phước Huệ giờ đây cũng đã trở thành một ngôi chùa lớn và nổi tiếng ở địa phương

[ii] Hồi ký của HT. Trí Không.         

[iii] Thư gửi các con Bát Nhã của Thầy, ngày 13.10.2009, với tựa đề “Âm thanh huyền diệu của chiếc hồ cầm”; và hồi ký của HT. Trí Không.

[iv] Trích từ tác phẩm Bây giờ mới thấy (NXB Phương Đông – 2014), tr.43.

[v] Có thể chính tại B’lao Thầy đã làm bài thơ Tôi sẽ xin rằng tất cả, trong tuyển tập Thơ từng ôm và mặt trời từng hạt, NXB Lá Bối, tr.206. Bài thơ này được in lần đầu trong tạp chí Phật Giáo Việt Nam số 13 năm 1956.  

[vi] Trong thời gian giảng dạy ở chùa Ấn Quang, Thầy đã đọc cuốn sách của tác giả Uông Trí Biểu – một nhà khoa học Trung Hoa – có tên là Nhất cá khoa học giả nghiên cứu Phật Kinh đích báo cáo (Bản báo cáo của một nhà khoa học đã từng nghiên cứu Kinh điển Phật giáo), nói về những điểm đồng giữa khoa học và Phật học. Cuốn sách này đã được HT. Thích Tuệ Đăng dịch sang tiếng Việt vào năm 1961 với tên Nhìn Phật Giáo Qua Khoa Học.

[vii] Chẳng hạn như: Dị Bộ Tông Luân Luận (samaya bhedoparacanacakra) của Ngài Thế Hữu (Vasumitra); Tranh Luận Sự (kathāvatthu) trong A-tỳ-Đạt-ma của Thượng tọa bộ; và kinh Tỳ kheo Na Tiên (Nagasena Bhiksu Sutra), ghi lại cuộc đối thoại về giáo pháp giữa Tỳ kheo Na Tiên và Vua Di Lan Đà – một vị vua người gốc Hy Lạp trị vì nước Ðại Hạ vào khoảng năm 150 trước Tây lịch. (Nguồn: Hồi ký của HT. Trí Không)

[viii] Thác Bo Bla, thác Liên Khang, và thác Pongour.

[ix] Trích từ tác phẩm Nẻo về của ý – NXB Văn hóa Sài Gòn, tr. 139

[x] Miếng đất được mua từ hai người Thượng tên là K’Briu and K’Brôi vào ngày 7 tháng 8 năm 1957.

[xi] Tác phẩm Nẻo về của ý – NXB Văn hóa Sài Gòn, tr.57-64. HT. Thanh Từ cũng bị buộc phải rời Phương Bối vào năm 1961. Tuy nhiên, Hòa thượng vẫn một lòng đi tới trên con đường phục hưng Thiền tông Việt Nam, đặc biệt là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, đời Trần.

[xii] Cuốn Duy Thức Học được Phật Học Đường Nam Việt xuất bản năm 1958 dưới bút danh Giáo sư Thạc Đức

[xiii] Tác phẩm Nẻo về của ý – NXB Văn hóa Sài Gòn, tr.34

[xiv] Như trên, tr.38

[xv] Như trên, tr.47

[xvi] Như trên, tr.76

[xvii] “Chúng ta đã mang tiếng là những người gieo rắc tư tưởng phản giáo lý truyền thống, những người quá khích, những người chỉ biết phá hoại. Chế độ không dung được ta mà truyền thống cũng không dung được ta. Cổ họng chúng ta bé bỏng. Nói chuyện thống nhất Phật giáo, nói chuyện hiện đại hóa lễ nhạc, giáo dục, hoằng pháp, nói chuyện về một nền Phật giáo nhân bản và dân tộc, những điều ấy chúng ta đã đeo đuổi từ gần tám năm nay. Những hạt giống đã gieo, một cách vô cùng khó khăn. Trong khi chờ đợi, chúng ta gặp toàn những giông tố, những ghen ghét, những thành trì cố chấp hủ bại, tuy nhiên chúng ta không nản chí, không thất vọng.” – Như trên, tr. 75 

[xviii] Như trên, tr. 13

[xix] Hồi ký của HT. Thích Trí Không

[xx] “…Sau khi mẹ tôi mất, đất nước bị chia cắt và chiến tranh vẫn tiếp diễn, tôi rơi vào trầm cảm… Các bác sĩ không giúp gì được. Chính nhờ sự thực tập thiền hành và hơi thở ý thức mà tôi có thể tự chữa trị cho chính mình. […] Khi bạn thực tập thiền tọa hay thiền đi, bạn có thể biết được là hơi thở có đang trị liệu cho bạn không. Bạn có thể thấy được tác dụng trị liệu ngay khi bạn thở vào. Và khi đi, nếu mỗi bước chân đem đến cho bạn niềm an lạc thì mỗi bước chân đó rất nuôi dưỡng và trị liệu. Bạn biết điều đó. Nếu bạn thực tập thở và đi như vậy trong vòng một tuần, tôi tin là bạn có thể chữa trị được chứng bệnh trầm cảm của mình.  Đó là sự thực tập dừng lại để trị liệu – dừng sự rong ruổi, không để cho mình bị kéo đi. Bạn kháng cự lại, bạn không muốn mình bị kéo đi; bạn muốn sống cuộc đời của mình và bạn biết làm thế nào để có được điều đó.” – Pháp thoại ngày 20.6.2014 tại Làng Mai, Pháp

[xxi] Vấn đáp ngày 25.7.2013 tại Làng Mai

[xxii] Những tài liệu cá nhân chưa được công bố của Thầy

[xxiii] Tác phẩm Nẻo về của ý – NXB Văn hóa Sài Gòn, tr.74

[xxiv] Lễ Phật đản (“Buddha Jayanti”) diễn ra tại Tokyo từ ngày 27 – 31.3, và Thầy đã ở lại Nhật từ tháng 3 đến tháng 5.

[xxv] “Thầy nghe nói có hơn 100 thư viện tại Mỹ, với những bộ sách lớn về tôn giáo, trong đó có nhiều kinh điển Phật giáo bằng tiếng Hán, tiếng Phạn và tiếng Pali” – trích từ cuốn sách của Sư cô Chân Không với tựa đề Learning True Love: Practicing Buddhism in a time of War (2007, Rev. Ed).

[xxvi]Phỏng vấn của tạp chí Shambhala Sun, ngày 1.7.2003.

[xxvii] Năm 1965, cuốn Đạo Phật Ngày Nay được NXB Lá Bối phát hành bằng tiếng Pháp với tựa đề Aujourd’hui le Bouddisme do Giáo sư Lê Văn Hảo chuyển ngữ.         

[xxviii] Như trên, tr.78

[xxix] Như trên, tr.87