Đạo Bụt trong lòng người trẻ

 

Làng Mai năm nay tròn 30 tuổi và đang bước vào một giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Trong thời gian qua, Làng Mai đã cho ra đời nhiều pháp môn mới và tạo cơ hội để đưa đạo Bụt đến với nhiều người trong xã hội. Đặc biệt, Làng Mai đã mở ra một con đường cho các bạn trẻ mong ước được tu tập và phụng sự thông qua phong trào Wake Up cũng như chương trình đào tạo năm năm. Làng Mai cũng là nơi “sản sinh” ra một thế hệ tu sĩ mới. Có thể bạn sẽ thắc mắc rằng: Vì sao Làng Mai lại thu hút được nhiều người trẻ xuất gia như vậy? Có điều gì hấp dẫn những người trẻ để họ có thể chấp nhận cạo sạch mái tóc và sống một nếp sống giản dị của người tu? Có lẽ câu chuyện của tôi sẽ phần nào giải đáp cho bạn những câu hỏi đó.

Tôi năm nay hai mươi bốn tuổi, là một người tu trẻ và hạnh phúc. Tôi biết đến pháp môn tu tập của Làng Mai từ khi còn rất nhỏ. Có thể tôi không giống với mẫu người tu theo kiểu truyền thống như bạn từng biết. Tôi là một trong những người tu trẻ của thế hệ mới. Tôi không xuất gia vì thất tình hay vì không biết làm gì với cuộc đời mình; tôi cũng không chán ghét cuộc đời và tìm cách trốn chạy như cách suy nghĩ thông thường của hầu hết những người lớn tuổi mà tôi có duyên được gặp. Tôi cũng không giống  những thầy tu mà các bạn nhìn thấy trên phim ảnh. Tôi thực sự rất hạnh phúc với đời sống xuất gia của mình tại Làng Mai.

Tôi là một trong những người tu trẻ của thế hệ mới, được rèn luyện và lớn lên trong một trung tâm tu học có tên là Làng Mai. Ở nơi đây, chúng tôi được vui đùa, chơi thể thao, ca hát, có thể hát cả nhạc rap và được giao lưu, gặp gỡ với rất nhiều người, đặc biệt là các bạn trẻ. Nếu bạn tình cờ thấy tôi cùng với các thầy, các sư cô Làng Mai đang tắm biển hay đang đi chơi picnic trên núi, có khi vừa chơi đàn guitar vừa hát thì chắc là bạn sẽ tự hỏi: “liệu những người này có thực sự là những người tu không nhỉ?”. Khi đó tôi sẽ trả lời với bạn rằng: “chúng tôi đích thực là những người tu, chỉ có điều chúng tôi thuộc một thế hệ mới, chỉ đơn giản vậy thôi!”.

Tôi lớn lên tại Canada, trong một gia đình theo đạo Bụt. Trong nhà chúng tôi có một bàn thờ ở phòng khách, trên đó cha mẹ tôi có đặt một tượng Bụt cùng với nhang, đèn và những đồ thờ cúng theo kiểu truyền thống. Tôi được cha mẹ dạy thắp hương lên bàn thờ Bụt mỗi sáng trước khi đi học. Ban đầu tôi cũng vâng lời và làm theo, nhưng thú thật là đối với một cậu bé đang tuổi mới lớn thì việc làm này chẳng có gì hứng thú hết, vì vậy mà sau một thời gian thì tôi không làm nữa. Ở thành phố Toronto nơi tôi lớn lên có rất nhiều ngôi chùa nhỏ. Cha mẹ thường dẫn tôi và chị gái đến các ngôi chùa này vào những dịp Tết, lễ Vu Lan, Trung thu và nhiều dịp lễ khác. Mặc dù những dịp như vậy cũng khá vui nhưng sao tôi vẫn cảm thấy chán, chỉ muốn đi về nhà để xem tivi hay chơi điện tử Nintendo. Đến bây giờ, tôi vẫn còn thấy nhiều bạn trẻ cũng có thái độ giống tôi, không hứng thú gì với những sinh hoạt ở chùa.

Khi đến những ngôi chùa ở Canada hay Việt Nam, lúc nào tôi cũng chỉ thấy những nghi lễ tụng kinh và cầu nguyện. Đôi khi đó là một buổi cầu siêu cho người đã chết hay là việc cúng bái theo kiểu sùng tín. Tôi chưa bao giờ cảm thấy những điều này có gì liên hệ tới cuộc sống của tôi hết. Mặc dù trong gia đình tôi, mọi người vẫn thường đến chùa tụng kinh và nghe pháp nhưng sao tôi vẫn thấy họ khổ đau và làm cho những người mình thương khổ đau. Vì vậy tôi chưa hiểu được ý nghĩa và sự lợi ích của việc đi chùa. Khi đến chùa, nhìn lên những tượng Bụt và Bồ tát, tôi không có cảm giác có sự liên hệ hay gần gũi nào. Đối với tôi, những bức tượng đó không có vẻ gì là giống con người cả. Có nhiều người trong chúng ta vốn không tin rằng có Thượng đế. Phải chăng Bụt và Bồ tát cũng là những Thượng đế của người Á Đông? Có thể lúc đầu chúng ta nghĩ rằng đúng vậy, đó là Thượng đế của chúng ta, theo kiểu Á Đông. Và rồi khi lớn lên, chúng ta bắt đầu nhận ra rằng đó chỉ là những bức tượng được làm rất đẹp để chúng ta thờ cúng. Trong nhiều ngôi chùa, ta có thể nhìn thấy những câu có nội dung như: Nam Mô Đức Phật A Di Đà, con nguyện sẽ sinh về Tây phương Tịnh độ (Tây phương cực lạc). Điều này có nghĩa là gì? Phải chăng những người Phật tử không muốn sống trên hành tinh xinh đẹp này nữa sao? Tại sao phải đợi cho đến khi chết đi mới sang được Tịnh độ? Đây không phải là điều mà những người trẻ ước muốn. Mặc dù tôi rất tôn trọng và cũng hiểu đôi chút về những sinh hoạt tín ngưỡng và lòng mộ đạo, nhưng tôi thấy những sinh hoạt này không hấp dẫn được những người trẻ ngày nay. Bởi vì sau một thời gian cầu nguyện, họ không cảm thấy những lời cầu nguyện của họ được đáp lại. Nhiều khi họ nghĩ rằng đạo Bụt không dành cho những người trẻ như họ mà chỉ dành cho những người lớn tuổi và cho người chết mà thôi. Từ đó  họ bắt đầu nghi ngờ, rồi dần xa rời đạo Bụt.

Trong giây phút này có thể bạn nghĩ rằng tôi đang phán xét và chỉ trích đạo Bụt. Sự thật thì tôi không hề có ý định đó, tôi chỉ muốn chia sẻ cảm giác của một người trẻ cũng như quan điểm của người trẻ về đạo Bụt ngày nay. Tôi nhận thấy đạo Bụt có vai trò và tầm quan trọng rất lớn trong việc giúp những người trẻ của thế hệ mới trở về để tiếp xúc với kho tàng tuệ giác mà tổ tiên huyết thống và tâm linh đã trao truyền. Tuy nhiên, muốn làm được như vậy thì đạo Bụt phải thay đổi để thích ứng với thế kỷ mới, thế kỷ 21.

Là những người trẻ, khi đến thăm một ngôi chùa, thiền viện hay một trung tâm tu học, chúng ta mong muốn hiểu được lời kinh, tiếng kệ mà quý thầy, quý sư cô đang tụng niệm cũng như những lời chỉ dạy từ quý thầy, quý sư cô. Chúng ta muốn học hỏi một phương pháp thực tập có thể áp dụng ngay trong đời sống hàng ngày và có tác dụng ngay khi thực tập. Chúng ta muốn có một nơi để trở về nương tựa, để làm lớn mạnh khía cạnh tâm linh trong đời sống của mình và tiếp xúc với chiếc nôi truyền thống.

Bố tôi dẫn tôi và chị gái đến Làng Mai năm 1996. Tôi vẫn còn nhớ rất rõ là khi chúng tôi mới đến, tôi nghĩ trong đầu rằng nơi này chắc cũng chẳng khác gì những ngôi chùa mà tôi từng biết. Điều làm tôi ấn tượng đầu tiên là hình ảnh một vị thầy trẻ chào đón chúng tôi với nụ cười thân thiện. Nhìn vị thầy đó thật bình an, hạnh phúc và gần gũi. Sự ấm áp và chu đáo của vị thầy đó làm cho tôi cảm thấy ở nơi này có một cái gì đó không giống với những ngôi chùa mà tôi đã đến và vị thầy tôi gặp là người mà tôi có thể đến chơi một cách thoải mái, dễ dàng. Tôi đã được gặp rất nhiều thầy và sư cô trẻ khác trong thời gian ở Làng. Tôi cũng học được rất nhiều từ cách sống hàng ngày của các thầy, các sư cô nơi đây. Tôi thấy được sự quan tâm, chăm sóc giữa những người tu với nhau đầy tình thương như thế nào. Tôi cũng thấy được các thầy, các sư cô làm việc rất nhiều để phụng sự nhưng sao trên môi các vị vẫn nở được những nụ cười tươi. Những nụ cười đó không có vẻ gì là xã giao mà lại rất thật, phát sinh từ sự thực tập chánh niệm hàng ngày. Năng lượng chánh niệm đã giúp cho các thầy, các sư cô tiếp xúc được với những điều kiện hạnh phúc đang có mặt trong mình và xung quanh mình ngay trong giờ phút hiện tại. Năng lượng đó cũng giúp cho các vị nuôi lớn tâm thương yêu đối với mọi người, ngay cả đối với những người chưa dễ thương với mình.

Làng Mai được bao bọc bởi khung cảnh thiên nhiên xung quanh. Ở đây mọi người không được phép chơi các trò chơi điện tử. Điều này tạo cơ hội cho những người trẻ như tôi có cơ hội chơi và tiếp xúc với các bạn trẻ cũng như các em nhỏ đến Làng từ nhiều quốc gia khác nhau. Và nhờ vậy mà tình bạn giữa chúng tôi được hình thành nhanh chóng. Chúng tôi nhận ra rằng hạnh phúc là một cái gì có thật mà không cần phải có nhiều tiền bạc và danh tiếng. Chúng tôi không bị phụ thuộc vào máy tính, tivi, những trò chơi điện tử hay Facebook, Twitters cũng như các hình thức giải trí trên mạng để có hạnh phúc. Cái thấy này có thể giúp thế hệ trẻ không bị cuốn hút vào thế giới công nghệ như hiện nay.

Tôi thích cách diễn bày đạo Bụt theo phương pháp của Làng Mai, tôi không cảm thấy đạo Bụt là một tôn giáo mà chính là một nếp sống. Bụt đã dạy rất rõ rằng hạnh phúc và sự bình an chân thực có thể được tìm thấy ngay bây giờ và ở đây. Chỉ với một hơi thở vào, tôi có thể tiếp xúc được với tất cả những điều kiện hạnh phúc mà tôi đang có, chẳng hạn như tôi đang có một cơ thể khỏe mạnh, một gia đình hạnh phúc, những người bạn dễ thương, v.v. Sự thật là có rất nhiều những điều kiện hạnh phúc đang có mặt cho chúng ta nhưng chúng ta thường bị cuốn đi bởi nhịp sống hối hả của xã hội mà quên đi điều đó. Tôi nhận ra rằng tương lai của mình đang được làm bởi những hành động trong giây phút hiện tại. Và ý thức đó đã cho tôi sức mạnh để quyết định lựa chọn cho mình một hướng đi. Tôi biết tương lai của tôi có tốt đẹp hay không, tất cả đều do chính tôi lựa chọn. Sự “vui tươi” và “trẻ trung” của pháp môn Làng Mai đã thực sự thu hút tôi cũng như rất nhiều các bạn trẻ khác đến Làng. Kinh nghiệm này đã giúp tôi thay đổi cái nhìn của mình đối với nếp sống ở chùa, đối với người tu và đối với đạo Bụt nói chung.

Tôi quyết định xuất gia ở tuổi 13, bởi vì tôi muốn sống một nếp sống như ở Làng Mai. Tình huynh đệ là một cái gì rất sống động ở Làng Mai đã thu hút tôi như… đường thu hút kiến. Tôi nhận thấy ở ngoài xã hội, chúng ta được đào tạo để trở thành những cá nhân xuất sắc, nhưng tại Làng Mai thì chúng ta phải học nhìn mọi thứ bằng con mắt tương tức, dù đó là công việc hay là vấn đề hạnh phúc hoặc khổ đau. Tôi biết điều này là một sự thực tập không hề dễ dàng đối với bất kỳ ai, đặc biệt là những người trẻ lớn lên ở Tây phương như tôi. Ở Làng Mai, tất cả các thầy cùng sống chung với nhau trong một khu tăng xá và các sư cô cũng sống chung trong cùng một ni xá. Chúng tôi đến từ nhiều quốc gia, từ nhiều nền văn hóa khác nhau và có trình độ học vấn cũng như nền tảng gia đình khác nhau. Vì vậy mà chúng tôi có cách nhìn và quan điểm không hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn thực tập sống chung an lạc với nhau. Mỗi ngày chúng tôi thực tập buông bỏ cái tôi riêng biệt và nuôi dưỡng tuệ giác tương tức bằng cách tập nhìn các sư anh, sư chị, sư em của mình là một tế bào của cùng một tăng thân.

Tôi nhớ có một lần khi làm thị giả cho Thầy, tôi may mắn được trực tiếp nghe Thầy dạy các đệ tử của mình về điều này. Lúc đó có một số quý thầy, quý sư cô đang chuẩn bị cho chuyến đi giảng dạy ở xa; trước khi đi, quý vị ấy đến chào Thầy và xin Thầy chỉ dạy. Trong nhóm này có nhiều vị rất trẻ, tài giỏi và có đủ khả năng thuyết pháp và hướng dẫn tu tập cho thiền sinh. Tuy nhiên, đôi khi có quá nhiều người tài giỏi ở trong cùng một nhóm cũng khá nguy hiểm bởi vì sẽ không ai chịu lắng nghe ai! Hôm đó, các thầy, các sư cô trẻ trong nhóm cùng ăn cơm trưa với Thầy và sau bữa ăn, các vị chia sẻ với Thầy về chương trình cũng như những ước muốn của mình trong chuyến đi. Sau khi lắng nghe các học trò của mình, Thầy dạy rằng: “Tất cả các con phải tập nhìn các sư anh, sư chị, sư em là một với mình. Hãy nhìn những ngón tay của các con. Các con có thấy mỗi ngón tay có hình dáng khác nhau không? Ngón cái thì ngắn và bụ bẫm nhưng lại rất khỏe, ngón trỏ là ngón chỉ phương hướng, ngón giữa là ngón dài nhất, kế đó là ngón đeo nhẫn rồi đến ngón út, ngón này tuy nhỏ nhưng lại rất hữu dụng. Các ngón tay biết rằng mỗi ngón đều rất khác biệt nhưng chúng cũng đồng thời ý thức rằng chúng cùng thuộc một bàn tay. Nhờ khác nhau như vậy mà các ngón tay có thể cùng nhau tạo thành một quả đấm. Nếu các ngón tay đều y như nhau thì chúng không thể hợp lại thành một quả đấm được. Các con phải tập nhìn sư anh, sư chị, sư em mình như vậy. Tất cả chúng ta đều khác nhau, mỗi người đều có điểm mạnh và điểm yếu, nhưng nếu chúng ta nhận ra rằng chúng ta là những ngón tay của cùng một bàn tay thì chúng ta sẽ vượt thoát cái nhìn phân biệt, kỳ thị và chúng ta có thể phối hợp hài hòa với nhau để tạo nên sức mạnh như một quả đấm”. Các thầy, các sư cô trẻ rất vui mừng được nghe lời chỉ dạy của Thầy và hứa sẽ thực tập điều đó. Đây chính là tinh thần mà chúng tôi luôn thực tập cùng nhau tại Làng Mai.

Được sống và lớn lên trong Tăng thân, tôi nhận diện được rất nhiều tâm hành trong tự thân và biết cách chăm sóc những tâm hành đó mỗi khi chúng phát khởi. Tôi nhận ra  mình có nhiều đức tính và phẩm chất tốt được trao truyền từ ông bà tổ tiên, nhưng đồng thời cũng có không ít những tập khí chưa dễ thương cần được chuyển hóa. Đảm đương những trách nhiệm trong tăng thân đã cho tôi cơ hội tốt nhất để thực tập điều đó. Tôi được Tăng thân giao phó chức vụ trụ trì của chùa Pháp Vân, Xóm Thượng sau khi Thầy Pháp Đôn – nguyên trụ trì của chùa Pháp Vân chuyển sang tu viện Lộc Uyển, Mỹ để tiếp tục tu tập cùng đại chúng bên đó. Mặc dù trách nhiệm này có vẻ rất quan trọng và nhiều khó khăn nhưng tôi vẫn hoan hỷ chấp nhận. Tôi thực sự thấy rằng tôi đã cắm rễ sâu vào mảnh đất Tăng thân, nơi tôi có nhiều thương yêu, vì vậy khi được Tăng thân giao phó trách nhiệm đó, tôi chấp nhận một cách rất tự nhiên.

Làm trụ trì ở Làng Mai rất khác so với làm trụ trì ở những chùa truyền thống. Tăng thân Làng Mai bây giờ đã phát triển khá lớn, vì vậy Thầy chúng tôi đã đưa ra một cách thức mới để tổ chức tăng thân. Cách thức này tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các thầy, các sư cô trẻ thể hiện tài năng của mình. Ở những chùa truyền thống, các vị trụ trì thường có quyền hành rất lớn và quyết định mọi việc trong chùa. Nhưng ở Làng Mai thì khác, Thầy đã cho chúng tôi một hướng đi mới. Thầy khuyến khích các sư anh, sư chị lớn đóng vai trò là những trụ cột của Tăng thân. Các vị lớn có mặt đó để lắng nghe các sư em mình chia sẻ về những khó khăn trong tu học, nâng đỡ, yểm trợ và đưa những lời chỉ dẫn khi cần thiết. Các vị cũng đóng góp tuệ giác và kinh nghiệm của mình đối với những công việc trong Tăng thân, nhưng sau khi đưa ra ý kiến của mình, các vị để cho các sư em tự quyết định và thực hiện công việc đó. Tuy nhiên, các vị luôn có mặt ở phía sau để yểm trợ các sư em của mình. Cách tổ chức mới này đã tạo động lực cho các thầy, các sư cô trẻ năng động hơn và điều này giúp cho những người trẻ như chúng tôi cảm thấy mình đang được góp sức vào sự phát triển của Tăng thân. Đó là lý do tại sao Xóm Thượng của Làng Mai lại có một vị trụ trì trẻ như vậy!

Là trụ trì ở Làng Mai, chúng tôi phải làm lớn mạnh kỹ năng truyền thông của mình với những thành phần khác trong Tăng thân. Chúng tôi phải tập lắng nghe các sư anh, sư chị, sư em của mình cũng như các bạn thiền sinh với một tấm lòng rộng mở mà không để bị cuốn đi bởi những cảm xúc của mình. Công việc của một trụ trì Làng Mai cần làm là: Khám phá tài năng của các thành phần trong chúng để giúp các anh chị em có cơ hội phát triển tài năng của mỗi người. Là một thành phần của Tăng thân Làng Mai, ai trong chúng tôi cũng được khuyến khích chia sẻ ý kiến và đóng góp cái thấy của mình cho đại chúng, nhưng một khi đã chia sẻ ra rồi thì chúng tôi nương tựa vào mắt Tăng và để cho Tăng thân dung hòa tất cả các ý kiến.

Cũng có những lúc tôi cảm thấy căng thẳng và đã để cho cảm xúc cuốn đi, khiến cho tôi có những lời phàn nàn, trách cứ Tăng thân, khiến cho tôi nghĩ rằng mình giỏi hơn những người khác và nếu không có tôi thì Tăng thân sẽ rất khó khăn. Thái độ này đã làm cho tôi trở nên xa cách với các sư anh, sư chị, sư em của mình. Nó cũng khiến cho tôi mất rất nhiều năng lượng và làm tổn hại đến tình huynh đệ trong Tăng thân. Những lúc như vậy, tôi luôn tìm cách trở về với những phương pháp thực tập căn bản, buông bỏ những nghĩ suy về các dự án, các cuộc họp trong đầu và nhắc cho mình nhớ rằng chính tôi đã tự nguyện xuất gia và tự nguyện trở thành một thành phần của Tăng thân. Cùng với sự thực tập này, tôi để cho tăng thân ôm ấp những khó khăn trong tôi và nhờ đó tôi có thể nối lại truyền thông với tăng thân của mình. Kinh nghiệm này cũng giúp cho tôi nhớ rằng tôi chỉ là một trong rất nhiều những thành phần tạo nên Tăng thân. Và nếu tôi không làm những dự án đó hoặc giả dụ nếu tôi không chủ tọa những buổi họp thì sẽ có một người khác làm thay tôi. Tôi tự nói với chính mình :“Pháp Hữu, anh không có gì đặc biệt lắm đâu! Anh cũng chỉ là một tế bào như tất cả những tế bào khác của tăng thân thôi”. Sự thực tập này đã cứu tôi rất nhiều lần và giúp cho tôi buông bỏ bản ngã của mình. Nó cũng đồng thời giúp tôi làm mới lại mình và nhắc nhở tôi rằng tôi là một người tu, rằng tôi còn rất trẻ và có nhiều điều cần phải học hỏi; và rằng tôi nên nuôi lớn tâm hiểu biết cũng như tình thương yêu nơi mình. Việc làm trụ trì đã thực sự rèn cho tôi mở lòng mình nhiều hơn và giúp tôi nuôi dưỡng tâm bình đẳng, không phân biệt nơi mình.

Tôi muốn nói với những người bạn trẻ rằng đạo Bụt vẫn còn rất tươi mới và thiết thực đối với thế hệ trẻ chúng ta. Đạo Bụt không chỉ dành cho người già và người đã chết, mà có thể trở nên sống động và tràn đầy sự sống. Đạo Bụt có thể dẫn dắt thế hệ mới của chúng ta hướng về một tương lai tươi sáng hơn. Là một người tu, tôi luôn hành trì theo giới luật và uy nghi để bảo hộ cho mình, nhưng không vì vậy mà tôi không được sống như một người trẻ! Tôi vẫn có thể chơi bóng rổ với các sư anh, sư chị, sư em của mình; tôi vẫn có thể hát nhạc rap với các bạn trẻ. Chỉ có điều, tôi làm những điều này với ý thức chánh niệm và với tinh thần xây dựng tình huynh đệ.

Tôi thấy mình thật may mắn được gặp Tăng thân và không đánh mất gốc rễ truyền thống của mình. Tôi mong ước mình sẽ là sự tiếp nối xứng đáng của Thầy và của Tăng thân. Tôi thấy lòng mình tràn đầy niềm biết ơn vì tôi được là một thành phần của Tăng thân Làng Mai, đặc biệt là khi Làng Mai tròn 30 tuổi. Tôi cầu mong cho mọi người trẻ trên thế giới này đều tìm thấy cho mình một nơi mà mình có thể trở về để tiếp xúc với gốc rễ của mình, và tiếp xúc với gia tài tâm linh mà tổ tiên đã trao truyền.

Thệ nguyện từ nay chỉ một đường

-“Cháu ra đời vậy cháu có ý định trở lại với Tăng thân, trở về xuất gia lại không?”, thầy Pháp Niệm hỏi với một hy vọng rằng rằng câu đáp sẽ là: -“Dạ, thưa có”.

Vào năm 1995, lúc đó tôi mười lăm tuổi, vào dịp nghỉ hè tôi được ba mẹ cho qua Làng Mai. Lúc bấy giờ, thầy Pháp Niệm (cậu ruột của tôi) mới xuất gia được một năm. Lần đầu tiên khi đặt chân vào khuôn viên Làng, tôi đã có ấn tượng. Làm sao mà có được một môi trường bình an như vậy nhỉ! Nhớ lại những lúc đi sinh hoạt trong Gia Đình Phật Tử (GĐPT) tôi không bao giờ có được cảm giác như vậy. Mỗi chủ nhật, tôi tự động khoác chiếc áo lam của GĐPT và lên đường đến chùa. Thỉnh thoảng tôi còn tự hỏi vì sao tôi đi chùa? Tập khí của tôi vẫn còn y nguyên đó, ai nói gì thì tôi nói lại, cứng đầu, bướng bỉnh, có sự so đo khi làm việc nhà với đứa em trai,… Khi Mẹ tôi hỏi một câu làm tôi bừng tỉnh mà không biết làm sao đáp lại: “Con đi chùa làm gì mà khi về nhà con vẫn như vậy?” Tôi đi GĐPT được học Phật Pháp, được sinh hoạt và tham dự vào những trò chơi, đố vui để học. Như khi  được hỏi “Tứ Diệu Đế là gì?”, tôi đáp như một cái máy: “Tứ Diệu Đế là Khổ, Tập, Diệt, Đạo”, nhưng cuối cùng tôi vẫn không hiểu làm sao có thể áp dụng giáo lý đó vào đời sống hàng ngày. Tôi được đi chùa từ lúc tôi vượt biên và được bảo lãnh đến Toronto lúc tôi khoảng tám tuổi.

Mùa hè năm ấy tôi đến Làng với mục đích đi thăm thầy Pháp Niệm thôi, nhưng nhờ cơ hội đó mà tôi may mắn được tiếp xúc với Làng. Đó chính là “mối tình đầu” của tôi. Bước chân vào khuôn viên Làng, tự nhiên bao nhiêu lo phiền tan biến và chỉ còn lại không khí trong lành để tôi có thể cảm được sự bình an trong bản thân. Quý thầy và quý sư cô mà tôi được tiếp xúc tại Làng rất khác với những Thầy tôi quen biết trong những năm sinh hoạt trong GĐPT. Tôi thấy sao các thầy các sư cô ở đây có vẻ rất tự do, đi những bước chân rất khoan thai và tự tại. Khi ăn cơm, các vị nhai từng muỗng đến hơn ba mươi lần. Quý thầy, cô ở đây đích thực là biết sống và biết thưởng thức những mầu nhiệm của đất trời.Tôi khám phá ai ai cũng thương nhau như anh em ruột thịt và đôi lúc còn thương nhau hơn thế nữa, vì mỗi người trong đại chúng cùng chung một lý tưởng.

Tôi nhớ ngày tôi phải chuẩn bị rời Làng để về lại Toronto, tôi đã phải thức dậy rất sớm để đón chiếc tàu TGV từ Libourne đến Paris vào lúc 5h45 sáng. Ấy vậy mà có một sư cô đã thức dậy thật sớm để chuẩn bị thức ăn cho tôi đi tàu dù sư cô đó không quen biết gì nhiều đến tôi. Lúc tôi ngồi trên tàu, nhìn miếng bánh mì, tôi cảm được tình thương của sư cô. Tôi tự hỏi: “Tôi có khả năng để cống hiến tình thương như sư cô đã cống hiến cho tôi không? Dù đó là người mình không có quen biết?” Đó chính là hạt giống Bồ Đề trong tôi lần đầu được tưới tẩm, và tôi có ý muốn xuất gia. Vì tôi nghĩ chỉ có duy nhất con đường xuất gia mới trả lời được câu hỏi đó của tôi mà thôi.

Khi tôi về lại môi trường xã hội, về lại gia đình, tôi thấy con người có khuynh hướng hay sống với bản ngã hơi nhiều. Chúng ta tìm đủ cách để cho mọi việc đều thuận lợi cho riêng mình. Chính xã hội cũng khuyến khích và tưới tẩm hạt giống đó. Không ít thì nhiều, tôi đã học được một số pháp môn của Làng, như là thiền đi, thiền trà và trở lại tiếp xúc với hơi thở. Sống trong xã hội, mỗi lần tôi đi học, tôi vẫn tiếp tục thực tập được năm bước hoặc mười bước đi trong chánh niệm. Thỉnh thoảng tôi may mắn thực tập được nhiều hơn. Đã có những lúc tôi xin phép được cô giáo dạy sinh học yểm trợ cho tôi có thể mở những lớp hướng dẫn thiền đi và thiền trà. Vì trong trường có thành lập một cái phòng “peace room” (Sư Ông gọi là phòng thở và có nhóm conflict resolution, những người học cách giải toả xích mích.) Tôi không thuộc trong nhóm đó vì đối với tôi, nhóm ấy học nghiên về lý thuyết hơi nhiều. May mắn là cô giáo chấp thuận và trong năm tôi được hướng dẫn một vài lớp. Đến năm tôi vào lớp 11, tôi được trường trao cho giải thưởng hòa bình. Mỗi năm trường trao giải hòa bình cho một thành viên trong nhóm conflict resolution. Đối với tôi, nhận được giải đó là một điều rất đỗi ngạc nhiên. Tôi vui mừng và chấp nhận. Vì có lẽ đó cũng là những nấc thang, giúp tôi giải đáp một phần nào đó câu hỏi trong chiếc tàu TGV.

Đến khi học xong trung học, tôi quyết định xin mẹ đi tu vì hạt giống Bồ Đề trong tôi đã được chín mùi và tôi không có cách nào có thể chịu đựng được nữa. Lúc đó tôi đang vừa xem vô tuyến truyền hình vừa cắt vải làm túi áo cho mẹ may. Tôi ngừng công việc và tắt máy. Bước lên cầu thang, tôi hơi run run vì sợ mẹ sẽ không cho đi. Nhưng tôi đã quyết tâm rồi. Đến phòng may thì thấy mẹ đang may. Tôi ngồi xuống và xin mẹ ngừng may và hỏi mẹ:

– Mẹ ơi, nếu con quyết định đi tu thì mẹ nghĩ như thế nào?

Mẹ tôi trả lời với giọng nói có vẻ lo lắng nhưng lại vui mừng:

– Nếu con đã suy nghĩ kỹ rồi thì con có thể đi, nhưng con nên nhớ là có những người tu nửa chừng và ra đời.

Tôi nghĩ rằng tôi sẽ không thuộc những người đó và trả lời một cách rắn chắc.

-Dạ con biết.

-Vậy thì mẹ đi báo tin cho ba mừng.

Tháng hai năm 2001, tôi được xuất gia trong gia đình Cây Trà Mi. Gia đình có chín người và tôi được làm sư út của gia đình. Được làm sư út tôi mừng ghê vì ở nhà tôi là anh cả trong gia đình. Không ngờ, nhờ đi tu tôi mới được nhõng nhẽo! Mỗi ngày tôi được bao bọc bởi tình thương của Sư Ông và của toàn thể đại chúng. Tôi và mọi người nơi đây thật sự được sống như là những người tự do và không kỳ thị chủng tộc hoặc tôn giáo. Bất cứ lúc nào cũng có thể chế tác hạnh phúc và nuôi dưỡng bình an. Mỗi ngày, tôi cùng mọi người thực tập để trân quý hai mươi bốn giờ mà đất trời ban cho và cứ như vậy tôi nở nụ cười để tiếp nhận món quà đó. Tôi ý thức trong thế giới chung quanh có những người không được may mắn như tôi. Mỗi sáng thức dậy, tôi ý thức rằng tôi vẫn còn là một vị xuất gia, còn có thể thở được, nhìn được với đôi mắt sáng và mỉm cười được, chừng đó đã là kỳ diệu lắm rồi. Tôi không cần theo đuổi gì thêm. Dù cho làm tổng thống hay có quyền lợi, giàu sang trong xã hội chắc gì tôi có được hạnh phúc và tự do bằng nếp sống đơn giản và ăn chay nằm đất!

Nhưng có lẽ, tôi nằm trong thành phần những người xuất gia trẻ mà trong tâm thức vẫn còn những hạt giống đã được trao truyền từ ông bà tổ tiên. Dần dà tôi đã đánh mất đi sự thực tập căn bản của Làng, và thế vào đó những hạt giống thèm khát, muốn sống một nếp sống gia đình được khơi dậy trong tôi. Lúc ấy tôi xuất gia đã được chín năm. Chính vào hai năm cuối là thời điểm khó khăn nhất. Tôi đã vất vả nhiều với sự lựa chọn giữa con đường xuất gia và con đường hoàn tục. Nếu tôi chọn con đường ra đời, tôi sẽ phụ bạc tình thương của Sư Ông, của Tăng thân và của ba mẹ tôi. Nhất là với những lời dặn dò của mẹ ngày tôi xin đi xuất gia. Tôi đã chật vật rất nhiều với sự đắn đo ấy. Để rồi cuối cùng, tôi đã nhắm mắt trước tình thương to lớn mà tôi đã nhận từ Sư Ông và từ Tăng thân. Đồng thời tôi cũng chấp nhận, chính quyết định này là con đường mà tôi phải đi ngang thì mới lớn lên được. Vào hai năm cuối đó, tôi đã để hạt giống thèm khát trỗi dậy trong tâm thức rất nhiều và âm thầm muốn rủ người tôi thương cùng nhau ra đi. Thuở ban đầu chỉ là đơn phương, về sau trở thành song phương. Do vậy, tôi đã bám víu vào nó. Đã để dòng mơ tưởng lấn chiếm cả “mối tình đầu” của tôi với Tăng thân. Tôi nhớ trong những ngày tháng đó, tất cả những gì tôi làm chỉ là nuôi lớn hạt giống và năng lượng thèm khát đó trong tôi thôi. Tôi đã dại dột nghĩ rằng: “Đâu phải cặp vợ chồng nào cũng khổ đau, cũng có những cặp vợ chồng rất thành công trong sự thực tập và có thể giúp đỡ rất nhiều người bớt khổ”. Đến mức tôi nghĩ, tôi không có thể sống được trong Tăng thân nữa vì tôi không xứng đáng với tình thương của Sư Ông và của Tăng thân mỗi ngày đã dành cho tôi. Sư Ông và Tăng thân đã làm mọi cách để nâng đỡ và dạy tôi rất nhiều điều, nhưng tâm tôi đã khép kín rồi nên tôi không thể tiếp nhận được tình thương đó! Cuối năm 2010, tôi đã quyết định xin phép Sư Ông và tăng thân cho tôi xả giới. Tôi biết ơn tình thương của Sư Ông và đại chúng  luôn luôn dành cho tôi. Sống trong Tăng thân, tôi cảm được đây chính là nơi có tình huynh đệ, tình tỷ muội thật sự. Đi nhiều nơi trên thế giới, tôi chưa kiếm được thứ tình huynh đệ mà tôi đã cảm được trong suốt ngần mười năm xuất gia của tôi. Thầy Pháp Niệm cũng từng cố gắng để giúp tôi ra khỏi khó khăn này rất nhiều lần. Thầy hay chia sẻ: “Từ ngày cháu đi xuất gia đến giờ, cháu có thấy gia đình, họ hàng của mình đã chuyển hoá được biết bao không? Các em trẻ có ý thức hơn về sự thực tập và trở nên những người rất dễ thương.Thời gian mà Tony mất (em ruột của tôi mới 18 tuổi), cháu đã là cột trụ để làm nơi nương tựa cho ba mẹ cháu, và cho họ hàng…” Nhưng cuối cùng thầy Pháp Niệm cũng đành buộc lòng chấp nhận quyết định của tôi vì biết rằng tôi sẽ không còn đứng lưng chừng ở giữa ngã ba nữa. Nên khi thầy hỏi: “Cháu ra đời, vậy cháu có ý định trở lại với Tăng thân, trở về xuất gia lại không?” Tôi trả lời một cách chắc chắn: “Dạ không! Nếu cháu ra đi cách đây một năm thì cháu nghĩ sẽ có ngày trở lại. Giờ đây thì không.”

 

Ngày tôi về nhà, có lẽ là ngày khổ sở nhất trong cuộc đời của tôi, vì tôi đã cắt đi niềm tự hào của ba mẹ tôi đối với chuyện có người con đi xuất gia. Có đứa con đi tu là niềm hạnh phúc và tự hào nhất đối với những người Phật tử chất phác như ba mẹ tôi. Tôi đành phải nhắm mắt trước việc ấy và hy vọng có ngày ba mẹ sẽ hiểu. Nghỉ ngơi được vài ngày thì tôi đi làm cùng với ba mẹ và đứa em trai trong nghề home renovation (cải tiến, sửa chữa nhà cửa). Sau một ngày làm việc, mẹ tôi nói với giọng than và buồn khổ: “Sao thấy con mình đi làm khổ quá”. Tôi thấy mẹ buồn khổ quá nên quyết định không đi làm chung nữa và lên mạng tìm việc làm khác.Thấy tiệm Tim Hortons (tiệm café) đăng báo cần tìm người tính tiền (cashier) và làm café. Tôi liền tạo một cái lý lịch tóm tắt (résumé). Trong lý lịch ấy phần nhiều là kinh nghiệm từ thời gian tôi ở Làng và một ít từ thời trung học. Viết xong tôi gửi qua điện thư đến tiệm. Chỉ trong vài ngày sau, tôi may mắn đã được bà chủ tiệm gọi điện và hẹn ngày phỏng vấn để nhận công việc. Sau buổi phỏng vấn tôi được chấp nhận làm thành viên của Tim Hortons. Lúc đó tôi mừng lắm! Tôi không ngờ những kinh nghiệm mà tôi có được ở Làng, ghi vào lý lịch mà tiệm vẫn có thể chấp nhận được tôi. Có lẽ do đặc điểm lý lịch tôi viết là tôi có thể lắng nghe, nói những lời ái ngữ và luôn mỉm cười và có thể giúp được khách hàng khi họ có những lời than phiền, có thể đem niềm vui đến với những người cùng làm chung việc. Tôi nhớ trong hai tháng đầu, bà chủ tiệm rất thích cách tôi làm việc, rất hiệu quả và luôn vui tươi chấp nhận bất cứ việc làm gì, dù đó là quét nhà, lau nhà. Nhìn thấy cách tôi làm, cách tôi nói chuyện, và kể cả việc tôi ăn chay điều khiến cho bà chủ tiệm ngạc nhiên. Tuy rằng sống trong căn nhà của ba mẹ, tôi không phải lo về cơm nước, nhà cửa, tiền bạc, nhưng tôi vẫn thấy vất vả thật. Luôn luôn phải đi làm để kiếm chút tiền. Phải đua đòi với người ta để được bà chủ khen thưởng và mong có ngày để được lên chức. Nếu tôi ở riêng, chắc chắn bao nhiêu tiền tôi làm được chỉ đủ để trả tiền nhà, tiền điện, tiền nước, điện thoại, bảo hiểm,… và có thể không đủ nữa. Tôi chưa bao giờ nghe ai nói là số tiền họ làm được là đủ để cho họ sống cả. Sống trong tu viện, tôi không cần lo đến chuyện tiền bạc hoặc ngủ đâu, ăn ra sao. Mỗi ngày đều có ba bữa cơm dọn sẵn trên bàn. Tôi biết rõ, ra đời không phải để tôi tìm kiếm những tiện nghi mà tôi không có trong tu viện. Mà nói cho đúng, sống trong tu viện chúng tôi thiếu tiện nghi nhưng cũng lại rất dư dả. Vì chính tình thương của Tăng thân chính là tiện nghi đích thực nhất. Dần dà tôi thiết kế phòng ngủ của tôi y như là cách sống của tôi ở trong tu viện. Chính nhờ cách sống mà tôi quen thuộc ở trong tu viện đã giúp tôi có thể trở về lại với sự thực tập, thở vào thở ra dễ dàng nhất. Tôi từ từ tạo cho mình có đủ thời gian và không gian để tôi có thể ngồi thật yên. Ngồi để nhìn lại những năm qua và trong hiện tại. Và tôi luôn luôn khơi dậy được trong tôi tình thương mà tôi đã tiếp nhận được từ Sư Ông và Tăng thân. Đích thực, tôi ra đây là để tìm kiếm nếp sống đôi lứa hay sao? Nếu vậy, người mà tôi mong đợi sẽ từ bỏ đời sống xuất gia của người đó có để sống với tôi không? Tôi đã vật lộn với câu hỏi đó trong tôi. Mãi đến sáu tháng sau tôi mới thấy rõ hơn. Đây có phải là thứ tình thương đích thực không? Tình thương mà tôi đang muốn tìm kiếm chính là tình thương có sự chiếm hữu. Một bông hoa đẹp ngoài sân tự dưng mình cắt đi đem vào nhà chưng để cho chỉ có mình thưởng thức thôi thì sớm muộn gì hoa cũng sẽ héo tàn. Sư cô đó đang sống một nếp sống cao thượng, có nhiều hạnh phúc và giúp đỡ được biết bao nhiêu người. Tôi có đem sư cô đó được về nhà thì cũng giống như việc tôi ngắt bông hoa ngoài sân kia thôi. Bông hoa có thể cống hiến cái đẹp cho nhiều người thì đó mới là bông hoa đẹp. Sư Ông thường xuyên dạy cho chúng tôi là chúng ta có quyền thương, nhưng thương như thế nào để không có vướng mắc, vẫn có giới luật và uy nghi hỗ trợ. Đó mới đích thực là thương. Chẳng lẽ tình thương của tôi hẹp hòi và ích kỷ vậy sao? Nhờ sống trong xã hội, tôi mới thực sự hiểu cái khó và cái khổ của những người phải đua đòi cho miếng cơm và chỗ ngủ. Cuối cùng, tôi bắt đầu thực tập để chuyển hóa cách nhìn của tôi về tình thương trong bản thân. Tôi bắt đầu muốn ủng hộ và yểm trợ sư cô đó tu tập cho đến nơi đến chốn, đem lợi lạc cho bản thân và cho mọi người.

Vào tháng 10 và đến đầu tháng 11, Sư Ông và Tăng thân hướng dẫn khoá tu tại Tu viện Bích Nham, New York, Mỹ. Tôi lấy dịp đó để dự khoá tu năm ngày, với tựa đề là: “Stepping into Freedom, Savoring Life”(Bước tới thảnh thơi). Khi tôi đến tu viện, các thầy các sư cô vẫn tiếp đãi tôi như là huynh đệ trước đây.Vẫn thương tôi như huynh đệ trước đây. Có những thầy những sư cô vẫn gọi tôi là “Pháp Duệ” vì luôn có niềm tin vững chắc là sẽ có ngày tôi trở lại với Tăng thân. Tôi được quý thầy ưu đãi cho ngủ chung trong Tăng xá. Tôi thật sự rất ngạc nhiên, vì trước giờ những vị ra đời sau này khi trở lại Làng thì họ đều ở nơi cư xá của những người khách thôi mà không có cùng ở trong tăng xá. Vậy mà các thầy vẫn cho tôi ngủ trong tăng xá và có những buổi trà đàm mà cư sĩ bình thường ít ai may mắn được tham dự. Tôi có mặt đó giống như là một vị xuất sĩ. Vì bất cứ chuyện gì các thầy các sư chú đều có thể cùng nhau chia sẻ cả, dù có tôi ngồi đó, các thầy cũng không có nhu cầu phải che dấu gì cả. Trở về lại Bích Nham, tắm mình trong dòng nước từ bi và yêu thương của quý thầy đã khiến khơi dậy mạnh mẽ hơn nữa tình thương của tôi đối với Sư Ông và với Tăng thân. Và đó chính là “mối tình thứ hai” của tôi.

Đến lần thứ ba tôi đến Bích Nham, tôi cùng đi với Ba Mẹ tôi và thầy Pháp Niệm. Tôi ngủ lại một đêm và ngày sau Sư Ông và đại chúng làm lễ an vị Phật. Sau buổi lễ an vị Phật, thì Sư Ông nói: “Pháp Duệ đâu rồi, đem đầu ra mà cạo cho rồi!” Tôi quá là ngạc nhiên và hầu như không chỉ tôi thôi mà cả đại chúng đều rất ngạc nhiên. Mẹ tôi liền tức thời qùy lên và đáp:”Dạ, xin Sư Ông cạo đầu cho!”. Lúc ấy, trong đầu tôi giống như có một cuộn phim đang quay bằng tốc độ nhanh gấp cả ngàn lần, và tôi tỏ vẻ hơi phân vân. Nhưng liền tức khắc tôi biết Sư Ông chỉ có thể nói như vậy khi Sư Ông có tình thương đích thực, và mối liên hệ tình thầy trò với nhiều cảm thông. Và Sư Ông cũng biết rõ trong chúng ai ai cũng muốn và hy vọng có ngày tôi trở lại làm người tu sĩ. Nếu tôi không có đáp ứng tình thương mà Sư Ông đã luôn luôn dành cho tôi và cho gia đình dòng họ thì tôi tỏ ra phụ bạc quá. Tôi cũng biết rõ thời điểm này cũng có thể là thời điểm duy nhất mà tôi có thể trở lại xuất gia, nếu tôi không nắm bắt cơ hội này thì tôi có thể không còn dịp khác nữa. Tôi liền lập tức qùy lên và xin Sư Ông: “nếu con cạo đầu thì xin cho con làm lại Sa di”. Sư Ông đáp với nụ cười vui: “Trước mắt là con cạo đầu đã, sau đó tùy theo Tăng thân.” Tôi đã đến trước Sư Ông và lạy xuống ba lạy, sau đó được Sư Ông và đại chúng chứng minh và thầy Pháp Niệm đại diện cắt tóc. Ngày tôi rời chúng ra đi đã có nhiều nước mắt, bây giờ ngày tôi xuống tóc trở lại thì có nhiều nước mắt của hạnh phúc. Kỳ thực “mối tình đầu” của tôi, “mối tình thứ nhì” của tôi, tình thương tôi dành cho sư cô ấy không khác nhau, rốt cuộc chỉ là một mà thôi. Tôi ngỡ là tôi thương một cá nhân, nhưng phải chăng sư cô ấy là một hình thức của Bồ Đề Tâm vốn nằm vỏn vẹn trong tôi, nhưng vì theo khuynh hướng con người mà tôi đã tìm kiếm bên ngoài, thay vì trở về với nội tâm tôi?

Cuộc đời tôi đã không là một kết thúc của một thất bại, của sự thụt lùi. Nhờ hồng ân Tam Bảo, nhờ đại bi tâm của Sư Ông và Tăng thân mà tôi được thêm một cơ hội nữa để sống nếp sống xuất gia cao thượng, trong sáng này. Tôi xin hướng về Tam Bảo, hướng về Sư Ông và Tăng thân mà thành tâm chắp tay đọc câu trong bài kệ tôi từng trình lên chư Tổ:

“Sơn kia đứng vững trong bão tố.

Thệ nguyện từ nay chỉ một đường.”

-Chân Pháp Duệ-

Chuyện của sư bé

Phải đọc chuyện của Bé mới biết Sư Bé là ai, nhưng cũng chưa đủ vì Sư Bé bây giờ khác xưa nhiều lắm. Sư Bé là một bông sen trắng thơm ngát và trong sáng hồn nhiên, biểu hiện cùng với rất nhiều bông sen khác trong gia đình xuất gia Sen Trắng. Hiện giờ, Sư bé đang có những tháng ngày rất hạnh phúc và bình yên ở Xóm Mới,  bên cạnh Thầy và Tăng thân yêu quý.

Sư bé Đôn Nghiêm

 

ơi, con mun đi tu!

“Má ơi! Con muốn đi tu. Má cho con vô ở với quý sư cô trong Bát Nhã nhé!”

Con nhớ cách đây một tháng thôi con đã rất buồn, thật sự buồn trước sự ra đi của ba người thân trong gia đình. Đầu tiên là Bà Nội. Con đã khóc rất nhiều. Một tuần sau anh con cũng theo Bà ra đi. Ui cha, con khóc nhiều hơn nữa. Nỗi buồn chưa nguôi thì mấy ngày sau ba con cũng từ giã cuộc đời. Con chưa kịp thấy mặt ba lần cuối… Còn nỗi đau nào hơn khi mất người thân? Lúc đó con chưa biết gì về vô thường, về tương tức để biết là ba có mặt trong con và con là sự tiếp nối của ba… Ba cái đám tang dồn dập tới nên nỗi buồn trong con cũng được nhân lên làm ba lần. Trong đám tang của ba con không khóc nữa. Con ngơ ngác quá đỗi như không thể tin vào mắt mình, vào tai mình. Con cứ đinh ninh rằng người nằm trong cái hòm lạnh lẽo kia không phải là ba con. Một ngày nào đó ba con sẽ trở về. Mau lắm thôi, ba sẽ ôm con vào lòng, con chìa tay ra xin kẹo và bỏ nhanh vào miệng, nhấm nháp hương vị ngọt của kẹo, của tình ba. Con thương bà Nội, thương anh và thương Ba lắm. Con không thể chấp nhận được sự ra đi vĩnh viễn của ba người thân trong gia đình. Con cứ nuôi hy vọng một ngày nào đó, Nội con sẽ trở về và con lại được nghe tiếng nhai trầu bỏm bẻm của Bà, được thỉnh thoảng giặt đồ cho anh hay để anh sai vặt. Có những lúc nhớ quá, con tự nói trong im lặng: “Anh Bi ơi! Anh tỉnh dậy đi, bây giờ anh bảo gì em cũng làm chớ không kì kèo bắt anh trả công bằng bánh kẹo hay cà rem nữa. Con cũng sẽ nhổ tóc bạc cho Nội, cho Ba miễn phí mà không tính tiền từng cọng năm trăm hay một ngàn nữa. Con sẽ đổi tất cả, bánh kẹo, những đồ chơi đẹp con đang có để được sự có mặt của Nội, của Ba và anh…” Con có đọc sách và được nghe Sư Ông nhắc tới câu thơ: “ Tôi thấy tôi mất mẹ, là mất cả bầu trời”. Còn con mất một lúc ba người nghĩa là con mất cả ba bầu trời, mất luôn cả mặt đất. Con còn quá nhỏ để hiểu được rằng những gì quý giá bên cạnh mình không chịu trân quý, đến lúc tuột khỏi tầm tay rồi mới nhận ra được giá trị của nó. Dù hối tiếc cũng muộn màng. May mắn thay bên con còn có Má và các anh chị em. Hơn ai hết, Má là người thương Nội, thương Ba và anh. Má đang đau khổ cực độ. Khuôn mặt Má phờ phạc quá. Nỗi đau buồn làm con quên mất  sự có mặt của Má và những người còn lại trong nhà. Con giật mình: “May mà Má còn đây cho con!” Con thương Má nên nỗi buồn trong con vơi lại, nó lặng lẽ rút về một góc nào đó trong tâm hồn. Con để ý tới Má và các anh chị em trong gia đình. Ngoài giờ đi học ở trường con ở nhà giúp đỡ Má những công việc lặt vặt. Ở trường, những sinh hoạt của Đoàn, Đội hay những phong trào văn nghệ con tham gia rất tích cực. Ở nhà, tối tối con lại rủ đám trẻ trong xóm chơi đủ trò, nào là chơi u, chơi trốn tìm, chơi keo, đá banh, đá cầu.v.v… Từ từ rồi mọi chuyện cũng qua, con dần vui trở lại. Con đi học đều đặn và cuối năm vẫn được học sinh giỏi. Con đặt phần thưởng lên bàn thờ, cười tươi rói khoe với Ba. Ba muốn con trở thành một cô giáo nên con ráng học để thực hiện mong ước của Ba. Và rồi kỳ nghỉ hè tới, anh trai con đi tu trở về thăm nhà. Anh lặng lẽ đứng trước bàn thờ của Ba, không nói câu gì. Sau mấy phút mật niệm anh mỉm cười thật tươi, từ từ quay lại với đôi mắt đỏ hoe: “ Cả nhà mình ngồi xuống đây chơi đi!” Con thấy sống mũi mình cay cay, xúc động quá. Rồi anh rủ con và hai đứa em gái nữa vô Bát Nhã chơi, coi như là phần thưởng vì đã được học sinh giỏi. Con vốn thích đi chơi nên cũng chẳng bận tâm Bát Nhã là chỗ nào, miễn đi chơi với anh, với chị, với em là vui rồi. Vậy là ba chị em con hí hưởng chuẩn bị đồ đạc để lên đường. Con ở xóm Bếp Lửa Hồng, hai em ở xóm Mây Đầu Núi. Ngày Quán Niệm ba chị em gặp nhau, thi nhau kể những chuyện kì lạ ở đây. Nào là ăn cơm im lặng, rồi ngồi im ru trong thiền đường, nghe chuông lại đứng im như bị điểm huyệt, rồi còn thở vô thở ra chi chi đó nữa… vừa kể vừa cười hí hí. Tóm lại cả ba cùng đồng ý là rất thích pháp môn thiền trà, vừa được ăn kẹo, vừa được uống trà và chia sẻ hạnh phúc. Pháp môn thiền buông thư tựa tựa như Má hay ru mình ngủ và những bài hát thiền ca cũng hết sức dễ thương. Lâu lâu quý sư cô cứ mua bánh kẹo cho ăn. Con thấy ở đây vui quá, sư cô nào cũng đẹp và hiền chi lạ, nói chuyện lại nhẹ nhàng và rất thương tụi con và thương những người sống quanh mình… Một tuần trôi qua thật nhanh, chị em con phải trở về nhà chuẩn bị sách vở, quần áo cho năm lớp 11. Hai em con cũng sắp vào lớp 9 và lớp 6. Trước khi đưa các em về, anh con có hỏi ba đứa: “Ở đây đẹp không mấy em?” Cả ba đồng thanh: “Dạ đẹp!” “Mấy em có thích nơi này không?” “Dạ thích lắm!” “Vậy có ai muốn đi tu giống anh và quý sư cô không?” Hai em con nhanh nhảu: “Dạ không! Đi tu mà cứ nghe pháp thoại, ngồi yên cả ngày rứa em buồn ngủ lắm. Đi tu mà không phải làm hai việc đó thì chúng em đi.” Anh con cười, cóc cho mỗi đứa một cái thật nhẹ trên đầu. Thấy con còn chần chừ anh hỏi: “Còn em?” Nghe anh hỏi con giật mình vì con còn háo hức với ý định về nhà gặp lại Má, các bạn ở trường, cùng học, cùng chơi và sau này làm giáo viên như đã hứa với Ba. Con đáp: “ Em cũng thích ở đây lắm nhưng…” Con chưa nói hết câu thì anh bảo: “Đi tu cho rồi, ở ngoài đời người ta lượm mất đó.” Con đỏ mặt tía tai:  “Anh cứ chọc em hoài, em còn nhỏ mà, ai lượm em cơ chứ?” Nói thiệt trong lớp con thuộc hạng ngơ nhất, chỉ có việc học, làm công việc của một bí thư chi đoàn, ngoài ra không biết gì về cái chuyện “lượm, rớt…” gì cả. Ai mà nhắc tới là con nghỉ chơi với người đó luôn. May là anh, người mà con thương và kính trọng nên con không muốn nghỉ chơi. Nghe con giãy nãy như vậy, anh cũng thôi không nhắc nữa, chỉ buông lửng một câu “Ừ, anh xin lỗi, để từ từ cũng được.” Vậy đó mà một tuần sau về lại nhà, con quyết định xin vô Bát Nhã tập sự xuất gia. Anh con hỏi lạ lùng: “Em bị cái chi rứa?” Con cười tươi rói: “Có răng mô anh, em bị tương tư… Bát Nhã rồi. Em nhớ quý sư cô và mọi người trong đó lắm, em nhớ những buổi đi thiền hành lên đồi rất đẹp, được nghe quý sư cô kể chuyện, nhớ những buổi ăn cơm im lặng, em nhớ ông Bụt màu cam cam ở trong thiền đường Cánh Đại Bàng nữa. Quý sư cô sống hòa hợp và thương yêu nhau, em chưa thấy quý sư cô giận hờn nói nặng với nhau điều gì… Sao lại có những con người tuyệt vời quá vậy anh? Em cũng muốn sống đẹp như vậy đó, bây giờ “ Bụt” lượm em rồi, anh cho em đi theo Bụt, theo chân anh đi!” Anh xoa đầu con cười nói: “Thôi, hay là em học xong lớp 12 rồi đi, đang học lỡ dở bỏ có được không?” Con reo lên: “ Sao lại không được, bỏ ba bỏ mẹ, bỏ nhà đi còn được, bỏ học đâu thấm thía gì hả anh?” “Ừ, nếu em đã quyết thì anh ủng hộ hai tay hai chân. À, mà em hỏi ý kiến má chưa, anh nghĩ chắc má vui lắm đó!” Từ trong nhà bếp má đã nghe hết, ánh mắt má sáng lên một niềm vui. “ Má đồng ý, việc gì chơ đi tu là má chịu liền. Má còn mong sao cho những đứa con của má có duyên với Phật, đi vào chùa tu hết. Đến lúc đó cho má theo vô làm dì vải luôn.” “ Ôi! Má của con thật là tuyệt vời!” Con ôm cổ má mừng rơn, cả nhà vui như thể có đám cưới vậy. Coi bộ xuất gia hạnh phúc hơn xuất giá nhiều. Chỉ ngay ngày hôm sau, con thu xếp đồ đạc, chào cả gia đình, ăn tô bún riêu Má nấu rồi lên xe anh chở vô lại Bát Nhã. Tới nơi quý sư cô ngạc nhiên và vui lắm. Trong vai một cô bé tập sự 16 tuổi với bộ đồ vạt hò rộng thùng thình của anh và cái áo tràng lam quý sư cô mua cho ở thư quán, con tung tăng đến từng ngõ ngách của tu viện, đến từng gốc cây bờ cỏ, miệng không ngừng reo vang: “ A ha, đây là nhà mới của mình, đây là cuộc sống mới của mình!” Con bắt đầu cuộc sống của người xuất gia như thế đó.

 

Lớp học mới

Xa lìa bạn bè, thầy cô, trường lớp và những thú vui của đời học sinh, con bắt đầu tiếp xúc được những điều mộc mạc nơi đây. Đi tu rồi tự nhiên con thấy mình có vô khối thời gian để tận hưởng thiên nhiên và tận hưởng cuộc đời. Một bông hoa dại cũng có nét đẹp lạ kỳ, tiếng chim hót mỗi sớm mai, tiếng suối chảy róc rách xem lẫn bài hát thì thào của những ngọn cây mỗi khi có gió xao nhẹ. Rồi có những đêm trăng sáng thật trong, ngàn sao chi chít, những buổi tinh sương khi rừng thông còn lặng chìm trong đám sương mờ, những người con Bụt ngồi thiền an tịnh thân tâm, hơi thở hòa theo tiếng chuông ngân vang. Ngồi trong lòng đại chúng thật ấm cúng, con mới nhận ra một điều: “Cuộc đời này vốn rất xinh đẹp vậy mà bao lâu nay mình cứ bị những bận rộn kéo đi và không nhận ra cuộc sống bình dị nhưng thật đẹp này.” Từ đó con bước vào ngày mới như một chuyến phiêu lưu, khám phá ra những điều mới lạ trong con và xung quanh con.

Trở thành một tập sự con ở trong nhóm y chỉ muội của sư cô Như Hiếu. Y chỉ muội ở trong chùa, con thấy giống học sinh ở trường, còn Y chỉ sư giống như thầy cô giáo. Vậy là ngày ngày, y chỉ sư dạy cho chúng con cách đi, đứng, nói cười, dạy từng li từng tí về cách ăn cơm, để dép, đến cả cách mặc áo và một việc hết sức đơn giản: Thở! Được sinh ra 16 năm rồi mà lần đầu tiên con mới biết thở một hơi thở có ý thức, cảm nhận được không khí trong lành tràn đầy hai lá phổi, một điều đơn giản nhưng quý giá vô cùng. Ở trường con là một học sinh xuất sắc, còn ở trong ngôi nhà mới này, con thấy mình ngơ ngơ như một em bé, cả bước chân cũng phải tập đi sao cho thảnh thơi. Các thầy và sư cô ở đây cũng thật hiền như Bụt, chẳng bao giờ đánh đập la mắng, phạt quỳ hay chấm điểm Zê rô cho chúng con. Còn nhiều và nhiều điều mà chúng con đã được học ở trong tăng thân. Đây đúng là ngôi trường đích thực, có dịp con sẽ kể cho hai em gái của con nghe về những lớp học thú vị này.

 

Con muốn giống thầy

Ba ơi, con đi tu rồi, ba có đồng ý không? Con học được nhiều cái lạ, cái mới lắm ba à. Con học được cách trở về với tự thân để chăm sóc cho mình thật tốt, nghĩa là con làm cho sự tiếp nối của ba trong con thật đẹp. Ba muốn con trở thành cô giáo, dạ thưa Ba, con thấy con đang đi trên đường mà Ba mong ước. Giáo dục không có giới hạn ở trường lớp mà rộng ra đến tất cả mọi nơi, trong từng giây phút của đời sống hằng ngày. Con đang sống có hạnh phúc, con muốn một ngày nào đó con cũng sẽ giống như Thầy, quý sư cha sư mẹ, biết đem hạnh phúc cho mình và hướng dẫn mọi người tìm được hạnh phúc. Ba ơi, Ba có hạnh phúc không, con xin gởi đến Ba nụ cười thật tươi thật lành của con.

 

Bữa cơm gia đình mừng cây Sen Trắng ra đời

sư cha trao “vòng hoa sư út cho sư Bé út Sen Trắng nè!

Ngày tháng hạnh phúc

Sau ba tháng tập sự con được xuống tóc, trở thành một “ baby nun” trong gia đình áo nâu. Những ngày tháng tiếp theo là những tháng ngày hạnh phúc và tràn đầy tiếng cười.

Con như con cá nhỏ tung tăng bơi lội trong dòng sông tăng thân, ngày ngày uống dòng sữa pháp từ Thầy, từ pháp môn. Con rất biết ơn cuộc đời đã đưa con tới gặp Thầy, gặp các sư anh, sư chị và sư em. Và từ đó, hơi thở tiếp nối bình an, bước chân tiếp nối thảnh thơi, nụ cười tiếp nối niềm vui.

Cho đến một ngày nọ má con đột ngột vô thăm. Con chưa kịp mừng rỡ thì má đòi dắt con về. Thì ra có mấy chú công an vô nhà thăm và bắt má phải vào đây dắt con về với lí do: “Ngày mai, người ta sẽ vô Bát Nhã biểu tình. Dắt con về là bảo vệ an toàn cho con và giữ gìn an ninh trật tự xã hội.” Con lo quá vì thấy má đang bị bắt ép. Làm sao để cho má hiểu là không đâu an toàn bằng sống trong tăng thân. May quá, các sư cô ra giải thích giùm cho con để má hiểu rõ tình hình. Có một bà mẹ của sư chị con cũng đang lên thăm con và tiếp tế lương thực cho quý sư cô. Hai người mẹ dắt nhau ra gốc mít ngồi hàn huyên tâm sự một hồi. Con đứng trong phòng niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, gởi năng lượng bình an cho hai bà mẹ, mong cho công tác tư tưởng thành công. Không biết bà mẹ của sư chị con đã to nhỏ những gì mà khi vào gặp con, má vừa khóc vừa cười và nói: “ Con ở lại tu ngoan và khỏe nhé, má về!” Con nhìn theo bước chân của má khuất sau đám trà xanh mà lòng thương má vô cùng. Chú công an đã đợi má sẳn ở đó từ lâu. Má thẳng thắn nói với chú: “ Cháu nó không chịu về, tôi bắt cũng không được. Anh giỏi thì vô bắt dùm tôi với!” Thế là chú ấy cam lòng ra về tay không. Con biết thế nào về tới nhà Má cũng bị mấy chú làm khó tiếp. Vậy mà một tuần sau, má con trở vô lại không phải với chú công an mà với một xe đầy rau củ cúng dường cho đại chúng. Con mừng quá trời, con ôm má trong vòng tay nhỏ: “ Đó, má thấy chưa, con vẫn còn đây, vẫn tròn trịa dễ thương như ngày nào, má đừng lo cho con má nhé. Con cảm ơn má nhiều nhiều lắm, đã yểm trợ cho con và quý thầy quý sư cô ở đây.”  Má thoa thoa cái đầu tròn của con và cười tươi: “Má biết rồi thưa sư cô bé nhỏ của má!”  Vậy là lần đó nhờ có tăng thân, nhờ có niềm tin nơi Tam Bảo của Má mà con còn được ở lại với tăng thân. Nhưng chuyện còn chưa hết, mấy tháng sau con về nhà làm hộ chiếu. Được gặp lại Má và các anh chị em. Cả nhà cùng ăn chay. Con tình nguyện nấu ăn, món gì cũng dở vậy mà ai cũng tấm tắc khen… méo mặt. Con mắc cỡ quá, tự hứa sau này sẽ học cách nấu ăn ngon hơn. Con mới về buổi sáng thì tối lại có chú thôn trưởng đến thăm liền. Con chưa kịp tránh nên phải đối diện. Chú hỏi: “ Đợt này về chắc ở luôn cô nhỉ? Bát Nhã không còn gì… thôi ở nhà với mẹ lấy chồng cho rồi, tu khổ lắm!” Con thở thật sâu, yên lặng không trả lời. Nếu nói thiệt thế nào con cũng bị họ giữ hết giấy tờ, đến lúc đó ra khỏi nhà còn không được, mơ gì đi qua Làng. Má con cười cười: “ Ừ, chú đừng lo, em nó ở chơi khuây khỏa vài tuần đã, chị cũng tính cho em nó học cái nghề gì đó!” Nghe vậy chú vui ra mặt, hớn hở đồng tình: “ Phải đó chị, học hành cho giỏi, sau này cháu sẽ đỡ đần giúp mẹ và xã hội được nhiều lắm.” Không ngờ từ “cô” con bị rớt xuống chức “cháu”. Chú nhìn con và tiếp: “Chú có đứa cháu trai, dễ thương và hiền lành lắm, chú sẽ giới thiệu cho!” Nghe tới đây con mắc cười quá nhưng rán nhịn lại.  Ngay khi đó con nghĩ tới tăng thân mình rất nhiều. Con mong tình thương của con cũng lớn như tình thương của Bụt, của tăng thân. Nếu bó buộc vào một người thì mình sẽ mất tự do và người đó cũng mất tự do rồi suốt ngày cứ phải lo chuyện chồng con cơm nước, rất là cực. Nghĩ tới đây con nhắm mắt lại và trở về với hơi thở, không để những tư tưởng đó lôi kéo nữa. Con cũng không thốt lên một lời nào để phản ứng lại, những lúc như thế này thở là khỏe nhất.

Khi chú về rồi cả nhà con cười rộ lên. Em con còn chọc: “ Chị ơi, mới 16 tuổi mà lấy chồng thì sớm quá, em chưa muốn có cháu!” Đứa khác chen vào: “ Một tay bế con, một tay đút cháo. Ôi, cực lắm chị ạ!” Con không dám nghĩ tới tương lai “ cực nhọc” đó nên hôm sau xin phép Má và cả nhà lẳng lặng ra đi trước khi chú ấy dẫn… cháu trai đến.

Bây giờ con đang thật sự ở Làng. Nhớ lại chuyện đó, con vừa thấy mắc cười vừa hú hồn. May mắn quá! Sau tất cả những gì xảy ra với bao nhiêu tiếng cười, bao giọt nước mắt, tăng thân mình cùng đứng bên nhau để vượt qua tất cả. Con hạnh phúc biết bao khi đang được sống ở Làng, được gặp Thầy, gặp tăng thân để rồi xúc động trước những điều Thầy dạy bấy lâu nay, cốt là để cho chúng con nhận ra được bản tâm thanh tịnh trong mình và an trú trong giây phút hiện tại. Con xin cúi đầu lạy tạ chư Bụt Tổ, Thầy, Ba má và tất cả mọi người, mọi loài đã cho con có được con đường tươi đẹp này.

“Thở vào tâm tĩnh lặng

Thở ra miệng mỉm cười

An trú trong hiện tại

Giây phút đẹp tuyệt vời”

Phong trào Wake up

http://www.wkup.org

Wake Up! Tên một phong trào dành cho các bạn thanh niên Phật tử và không Phật tử do Thầy Làng Mai phát động vào mùa hè năm 2008. Tiếng Việt có thể dịch là Thức dậy đi! Ý tưởng xây dựng phong trào bắt nguồn từ buổi sinh hoạt giữa Sư Ông và tăng đoàn Làng Mai với trên 500 học sinh trung học ở thành phố Napoli trong chuyến hoằng pháp tại Ý mùa xuân năm 2008, trong đó các bạn trẻ tham dự rất tích cực, hỏi những câu hỏi rất thực tế và tỏ ra rất khao khát học hỏi chánh pháp. Điều này đã gây cảm hứng lớn cho Thầy và Tăng thân nên trong khoá tu mùa hè 2008, Thầy đã khuyến khích thiền sinh từ hơn 40 quốc gia có mặt trong khoá tu về tổ chức tại nước mình những Đoàn thanh niên Phật tử (và Không Phật tử) phục vụ cho một xã hội lành mạnh và từ bi (tiếng Anh là Young Buddhists (and non-Buddhist) for a Healthy and Compassionate Society). Sự thực tập chính của Đoàn là Năm phép thực tập chánh niệm (Năm giới) và những pháp môn căn bản của Làng Mai có tác dụng giúp chuyển hoá, hoà giải và chữa lành để giúp các bạn trẻ có thể vượt thoát những vấn đề khó khăn, bế tắc của người trẻ trong xã hội hiện đại. Một số thầy và sư cô trẻ của Làng Mai đang yểm trợ và nâng đỡ hết lòng cho việc thành lập các đoàn thanh niên như thế tại các nước. Phong trào có địa chỉ trang nhà là http://wkup.org và địa chỉ điện thư wkupnow@gmail.com. Trên trang nhà có tài liệu “Đạo Bụt của người trẻ” và nhiều tư liệu hữu ích cho sự tổ chức, học hỏi và thực tập của đoàn.

 

Đây là nguyên văn tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt bài viết của Sư Ông gửi các bạn trẻ.

“Wake up! – Young Buddhists (and non-Buddhists) for a Healthy and Compassionate Society
YBHCS (Young Buddhists for a Healthy and Compassionate Society) is a community of young Dharma practitioners who want to help their society which is overloaded with intolerance, discrimination, craving, anger and despair.
Their practice is the Five Mindfulness Trainings, ethical guidelines offered by the Buddha; the most concrete practice of true love and compassion, clearly showing the way towards a life in harmony with each other and with the Earth. If you are a young practitioner you are urged to join the YBHCS in your country. We may feel anger and frustration when we see the environmental degradation caused by our society and we feel despair because we don’t seem to be strong enough individually to change our way of life. The YBHCS offers us a way to pool our energy and act in synchrony. Let us get together and form local chapters of the YBHCS. Our collective practice will surely bring transformation and healing to individuals and society. Let us get in touch with young practitioners from Plum Village, both monastic and lay, to get more support and information.
Buddhism needs to be recognized as a source of wisdom, a long tradition of the practice of understanding and love and not just of devotion. The spirit of the Dharma is very close to the spirit of Science; both help us cultivate an open and non-discriminating mind. You can join the YBHCS as a Christian, a Jew, a Muslim, an agnostic or an atheist. The practice of maitri, of loving kindness, the practice of sisterhood and brotherhood, is at the foundation of the Dharma.
When members of the YBHCS come together they like to hang out and connect with each other. They listen to a Dharma teaching, participate in a Dharma sharing, recite the Five Mindfulness Trainings and do sitting and walking meditation. The practice helps them to release the tension in their bodies and their feelings, to live more deeply and enjoy more each moment of their daily lives, and to use compassionate listening and loving speech to help restore communication and reconcile with other people, and help others in society to do the same.
Dharma sharings help us to share our practice with each other, to deepen our understanding of the Five Mindfulness Trainings and to find more appropriate ways to apply them right away in our daily lives and so change society in the direction of compassion and harmony. Together we can discover many concrete ways to help, such as:

•offering guided relaxation sessions to our classmates before exams
•organizing sessions of conflict resolution and reconciliation amongst our friends and within our families
•organizing sessions of sitting, walking and eating meditation with our friends and classmates
•helping our schools and colleges to move towards more mindful consumption (for example contacting organic suppliers or setting up fair-trade vending machines)
•promoting Car Free Days
•facilitating Deep Ecology workshops to help us wake up to the situation of the planet
•creating organic vegetable gardens in our schools, colleges, and urban centres
•using the tools and insights of Buddhism to help friends struggling with addiction and dependency
•working together with local charities to help those in need, and supporting aid projects in the developing world

The YBHCS can also organise camps and retreats so that many others, young and less young, can come and share the practice of joyful and mindful living, and so we can all nourish ourselves through contact with nature.
The Five Mindfulness Trainings encourage everyone to live in such a way that our Planet Earth will be able to survive for a long time. These Trainings are the foundation of the lives of the members of the YBHCS and represent their ideal of service. Mindfulness, concentration and insight are the energies we cultivate through our practice and that can bring about tolerance, non-discrimination, understanding and compassion.
In the last three decades Plum Village has helped to train many young people in Europe, North America and Asia in this way. Now it is possible to set up chapters of the YBHCS in each town and country. Please report to us in Plum Village what you are planning to do and what you are trying to achieve. We shall do our best to support you.
You can contact us now with your ideas and any suggestions at ybhcs1@gmail.com”

Bản dịch tiếng Việt

“Đoàn Thanh Niên Phật Tử và không-Phật tử cho một Xã hội Lành Mạnh và Từ Bi (YBHCS) là đoàn thể của những thanh niên trẻ đang hết lòng thực tập theo giáo lý đạo Bụt với ước vọng bằng sự thực tập của mình giúp xã hội chuyển hoá những kỳ thị, hận thù, tham đắm, giận hờn và tuyệt vọng.

Phương pháp thực tập của Đoàn là Năm phép thực tập chánh niệm (năm giới) do chính Đức Bụt trao truyền lại. Thực tập Năm Giới là biểu hiện cụ thể nhất của tình thương và lòng từ bi, và cũng là con đường sáng đẹp đưa tới cuộc sống hoà hợp với mọi người, mọi loài và với Mẹ Trái Đất. Bạn là những thanh niên đang khao khát đóng góp sức mình để giúp đời. Bạn giận dữ và xót xa khi phải chứng kiến cảnh môi trường sống đang bị tàn phá do chính cách sống của chúng ta trong xã hội ngày nay, bạn tuyệt vọng vì thấy dường như cá nhân mình không đủ sức mạnh thay đổi lối sống hiện tại. YBHCS ra đời chính là để hợp nhất những nguồn năng lượng trẻ và những trái tim đang cùng nhịp đập, để chúng ta có thể cùng nhau hành động. Sự thực tập của cả một cộng đồng chắc chắn sẽ đem tới sự chuyển hoá và chữa lành cho mỗi cá nhân và cho cả xã hội. Xin mời bạn hãy tham gia thành lập các Đoàn Thanh Niên Phật Tử (và không Phật tử) cho một Xã hội Lành Mạnh và Từ Bi tại quốc gia mình, tại địa phương mình, cùng nhau xây dựng điều lệ cho Đoàn và cùng sát cánh với quí thầy, quí sư cô và các bạn trẻ ở Làng Mai để được yểm trợ và có thêm thông tin.

Đạo Bụt cần được phải được nhìn nhận lại như một nguồn tuệ giác, một truyền thống thực tập tình thương và sự hiểu biết đã được trao truyền qua bao nhiêu thế hệ, chứ không phải một tín ngưỡng đơn thuần. Tinh thần của giáo lý Đạo Bụt không khác tinh thần của Khoa học hiện đại bao nhiêu, đó là tinh thần cởi mở và không kỳ thị. Bạn có thể tham gia YBHCS, không phân biệt nguồn gốc tín ngưỡng, tôn giáo, dù bạn có tôn giáo hay không, dù bạn là tín đồ Đạo Thiên Chúa, Đạo Hồi, Đạo Do Thái. Chúng ta cùng đến với nhau thực tập Từ bi và Tình huynh đệ, vì đó chính là nền tảng của giáo lý đạo Bụt.

Thành viên của YBHCS cùng thực tập và cùng chơi với nhau. Chúng ta cùng lắng nghe giáo lý, cùng tham dự các buổi pháp đàm, cùng nhau đọc tụng Năm Giới, cùng nhau ngồi thiền và đi thiền hành. Sự thực tập sẽ giúp chúng ta buông thư những căng thẳng trong thân thể và trong cảm xúc để chúng ta có thể sống sâu sắc hơn và biết tận hưởng từng phút giây trong cuộc sống hàng ngày, để chúng ta có khả năng thiết lập lại truyền thông và hoà giải với những người xung quanh nhờ biết lắng nghe với tâm từ bi và nói năng bằng lời ái ngữ. Khi đã thực tập được cho mình, ta sẽ giúp người khác cũng thực tập được như vậy.

Những buổi pháp đàm giúp chúng ta chia sẻ kinh nghiệm thực tập với nhau, cùng giúp nhau hiểu sâu thêm về Năm Giới và khám phá thêm nhiều phương pháp áp dụng Năm Giới vào cuộc sống hàng ngày, nhờ đó chúng ta có thể chuyển xã hội đi về hướng từ bi và hoà hợp.

Thực tập với đoàn thể và tăng thân, chúng ta sẽ có khả năng khám phá thêm nhiều phương pháp thực tập cụ thể, như:
– Tổ chức thiền buông thư cho các bạn trong lớp trước các buổi thi
– Tổ chức những buổi hoà giải giữa các bạn và trong gia đình
– Tổ chức những buổi ngồi thiền, đi thiền và ăn cơm im lặng cho bạn bè.
– Giúp tổ chức trường học của mình theo hướng tiêu thụ có chánh niệm (ví dụ như liên hệ với những nhà cung cấp sản phẩm hữu cơ, thiết lập quan hệ mua bán máy móc lành mạnh và công bằng)
– Thực tập ngày Không Xe Hơi
– Tổ chức những buổi hội thảo về môi trường để thức tỉnh mọi người về tình trạng môi trường trái đất.
– Thành lập những khu vườn trồng rau sạch trong trường học hay ở những khu trung tâm đô thị.
– Áp dụng tuệ giác và phương tiện thiện xảo của đạo Bụt giúp bạn bè vượt qua tình trạng nghiện ngập và sống phụ thuộc.
– Hợp tác với các trung tâm từ thiện tại địa phương giúp những người gặp hoàn cảnh khó khăn và yểm trợ những chương trình từ thiện cho các nước đang phát triển.

YBHCS cũng tổ chức các khoá tu, những buổi đi cắm trại để cả những người tuổi không còn trẻ cũng có thể tham gia và chia sẻ sự thực tập sống chánh niệm và an lạc. Chúng ta cùng nuôi dưỡng nhau qua việc tiếp xúc với thiên nhiên và môi trường.

Năm phép thực tập chánh niệm mở bày cho chúng ta cách sống giúp bảo tồn Trái Đất. Năm giới là nền tảng cho cuộc sống và đồng thời thể hiện lý tưởng phụng sự của đoàn viên YBHCS. Niệm – Định – Tuệ là những nguồn năng lượng chúng ta chế tác được bằng sự thực tập và những nguồn năng lượng này sẽ đem lại lòng bao dung, sự không kỳ thị, hiểu biết và từ bi.

Trong suốt gần ba thập niên qua, tăng thân Làng Mai đã giúp đỡ và hướng dẫn rất nhiều bạn trẻ Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu Á thực tập theo hướng đi trên. Hiện nay chúng ta có khả năng thành lập các Đoàn Thanh Niên Phật Tử cho một Xã hội Lành Mạnh và Từ Bi tại từng địa phương hay từng quốc gia. Mong các bạn chia sẻ với tăng thân Làng Mai kế hoạch và mong muốn của các bạn. Chúng tôi sẽ hết lòng yểm trợ.

_____________

Xem bài >>Đoàn thanh niên Phật tử Âu châu với ước mơ làm đẹp cuộc đời>>

Wake Up

Wake Up! Tên một phong trào dành cho các bạn thanh niên Phật tử và không Phật tử do Thầy Làng Mai phát động vào mùa hè năm 2008. Tiếng Việt có thể dịch là Thức dậy đi! Ý tưởng xây dựng phong trào bắt nguồn từ buổi sinh hoạt giữa Sư Ông và tăng đoàn Làng Mai với trên 500 học sinh trung học ở thành phố Napoli trong chuyến hoằng pháp tại Ý mùa xuân năm 2008, trong đó các bạn trẻ tham dự rất tích cực, hỏi những câu hỏi rất thực tế và tỏ ra rất khao khát học hỏi chánh pháp. Điều này đã gây cảm hứng lớn cho Thầy và Tăng thân nên trong khoá tu mùa hè 2008, Thầy đã khuyến khích thiền sinh từ hơn 40 quốc gia có mặt trong khoá tu về tổ chức tại nước mình những Đoàn thanh niên Phật tử (và Không Phật tử) phục vụ cho một xã hội lành mạnh và từ bi (tiếng Anh là Young Buddhists (and non-Buddhist) for a Healthy and Compassionate Society). Sự thực tập chính của Đoàn là Năm phép thực tập chánh niệm (Năm giới) và những pháp môn căn bản của Làng Mai có tác dụng giúp chuyển hoá, hoà giải và chữa lành để giúp các bạn trẻ có thể vượt thoát những vấn đề khó khăn, bế tắc của người trẻ trong xã hội hiện đại. Một số thầy và sư cô trẻ của Làng Mai đang yểm trợ và nâng đỡ hết lòng cho việc thành lập các đoàn thanh niên như thế tại các nước. Phong trào có địa chỉ trang nhà là http://wkup.org và địa chỉ điện thư wkupnow@gmail.com. Trên trang nhà có tài liệu “Đạo Bụt của người trẻ” và nhiều tư liệu hữu ích cho sự tổ chức, học hỏi và thực tập của đoàn.

Điểm danh

Mỗi buổi sáng, khi có hai giờ đầu của một lớp học, Henri phải điểm danh học sinh. Henri vào lớp sớm năm phút để xếp bàn ghế học sinh cho ngay thẳng.

Thường thường Henri nhờ thêm một vài học sinh của lớp ấy giúp Henri, dạy chúng xếp bàn ghế trong chánh niệm, nghĩa là xếp bàn ghế vào chỗ nhất định không gây tiếng động, nâng chiếc bàn chiếc ghế nhẹ nhàng, vừa thở vừa cười nhẹ.

Xếp xong bàn ghế, Henri ngồi vào ghế mình chờ học sinh đến đông đủ. Khi học sinh bước vào lớp, thấy Henri ngồi yên thở, chúng mỉm cười, tự động đi nhẹ nhàng đến chỗ của chúng để khỏi quấy rầy Henri. Chờ chúng ngồi vào chỗ xong, luôn luôn với nụ cười, Henri điểm danh. Henri kêu tên từng học trò, nhìn vào mặt nó. Đứa được kêu tên, đứng dậy, hô lớn Présent (hay Présente), nghĩa là Có mặt, chắp tay xá và mỉm cười. Henri cũng chắp tay xá, mỉm cười và ghi vào sổ.

Vào giờ học đầu năm Henri đã giải thích cho học sinh nghe tại sao Henri muốn chúng nó trả lời Présent, chớ không nói “ici” hay “yes”, hay “oui”.

Nguồn: Delphine Roucaute – Le Monde

Henri nói: “Các con (mes enfants), thầy muốn các con hô lớn tiếng “Présent” là vì những lý do sau đây:

Thứ nhất, tiếng Présent đánh dấu sự có mặt của các con, của học sinh. Sự có mặt của học sinh trong lớp toán rất quan trọng cho sự chuyển động guồng máy của lớp học và một học sinh được xem là một bộ phận của guồng máy ấy. Khi một bộ phận vắng mặt, guồng máy sẽ chạy yếu ớt nêu không nói là ngưng trệ. Học toán, học trò cần phải có mặt thường xuyên vì bài này liên quan đến bài kia. Nếu vắng mặt sẽ có một lỗ trống trong chương trình, tất nhiên vào giờ sau, sẽ gây xáo trộn trong lớp học và thầy phải mất thời giờ nhắc lại, nhắc đi, lớp học sẽ trì trệ, không đủ thời giờ cần thiết để đào sâu những phần cần thiết.

Thứ hai, sự có mặt (la présence) của học sinh, của các con tất nhiên đưa đến sự có mặt của thầy (Henri). Có học sinh, có thầy là có lớp học ở Toronto French School, có thành phố Toronto của tỉnh bang Ontario, cũng có tỉnh bang Ontario của Canada, cũng có Bắc Mỹ, cũng có Mỹ Châu, cũng có Năm Châu, cũng có Trái Đất, cũng có Thái dương hệ, cũng có Mặt trời, các vì Tinh tú, tóm lại tiếng Présent đưa từ sự có mặt của các con đưa đến sự có mặt của toàn Vũ Trụ và tiếng ấy có tầm quan trọng hết sức đặc biệt.

Thứ ba, tiếng Présent đánh dấu giờ phút hiện tại (moment présent). Đó là giờ phút tuyệt vời. Đó là sự có mặt của các con trong giờ phút này, theo học cùng các bạn, cùng thầy trong “lớp Toán trình độ cao cấp” (Advanced) của trường. Giờ phút hiện tại đang chứa đựng cả giờ phút hiện tại và vị lai. Thầy giải thích cho tất cả các con nghe tại sao: Trong quá khứ, các niên học trước, các con đã cố gắng học giỏi toán để được lựa chọn vào lớp của thầy (Henri). Từ bấy giờ trở đi, các con đã được huấn luyện về mặt kiến thức toán và đồng thời được trau dồi đức hạnh cần thiết của một học sinh để tiếp tục theo thầy ít nhất một hai năm nữa. Các con sẽ được chuẩn bị hành trang một cách chu đáo để lên đại học một cách vững vàng.

(Đến đây, Henri xin mở dấu ngoặc kể lại cho vui. Học sinh của T.F.S thi đỗ rất cao trong các kỳ thi tuyển, được vào các đại học lớn bên Mỹ như M.I.T, Princeton, Harvard, các đại học bên Anh như Oxford, Cambridge, các đại học lớn ở Canada như U of T, Waterloo, McGill v.v…

Một buổi sáng ông giám đốc dẫn đến lớp Henri hai ông tây râu ria xồm xoàm, rất uy nghi. Ông nói đây là hai giáo sư ở M.I.T qua thăm trường và xin được vào tham dự lớp Henri dạy. Henri hỏi lý do, ông giám đốc nói, năm vừa qua, học trò T.F.S ở M.I.T quá xuất sắc, vượt xa các sinh viên khác. Trường đại học hỏi chúng đã được học với ai, chúng nó trả lời: đã được huấn luyện bởi giáo sư Henri và do đó hai giáo sư được qua Toronto để xin xem Henri dạy. Henri biết làm sao đây? bèn mời hai đại giáo sư vào lớp xem. Henri tưởng hai ông ngồi vài phút thôi, ai dè hai ông lại ngồi suốt cả buổi học, luôn cả giờ, còn lấy sổ tay ra ghi ghi chép chép nữa làm Henri phát ớn. Cuối giờ, hai ông ấy đi ra, bắt tay Henri và chua một câu: “Chúng tôi hiểu tại sao học sinh của ông rất giỏi như vậy”. Henri hỉnh mũi và cũng hú hồn!!!)

Xin kể tiếp lời nói của Henri với học sinh:

Lý do thứ tư, khi các con hô lên tiếng “Présent” làm thầy nhớ đến khi thầy đi lính bên Pháp. Mỗi buổi sáng chào cờ, khi chào súng, người sĩ quan hô lệnh: “Présentez -arme” đó là lời hô: “Chuẩn bị – chào”. Ở đây, qua tiếng hô “Présent” các con cũng chuẩn bị. Đó là chuẩn bị nhìn kỹ những điều thầy viết lên bảng, nghe kỹ những điều thầy giảng. Các con cũng sẵn sàng tìm hiểu những điều thầy muốn trao truyền cho các con rồi từ đó, các con mới học cách áp dụng những lý thuyết vào những bài toán một cách thuần thục. Đó là các con chuẩn bị chu đáo cho các cuộc thi sau này. (Tôi muốn nói cho chúng biết cách áp dụng Văn – Tư – Tu khi học toán). Ngoài ra, các con cũng chuẩn bị chiến đấu chống những tật xấu như sự lười biếng, sự chán nản, sự ganh tỵ, sự buồn phiền v.v…

Tiếp đến, thứ năm, khi các con hô lớn tiếng “Présent”, đứng dậy, chắp tay xá và mỉm cười, đó là các con tặng thầy một món quà (you give me a present). Món quà đó là nụ cười tươi mát của các con. Món quà đó là các búp sen trong hai tay chắp lại của các con. Các búp sen ấy nói lên lời thầy có đủ sức khoẻ để dạy các con. Thầy cũng mỉm cười và chắp tay xá lại các con, có nghĩa là thầy cũng tặng lại các con những lời chúc tụng chân thành của thầy”.

Kết luận: Henri để ý rằng, buổi sáng nào có hai giờ đầu mà Henri phải điểm danh, học sinh rất vui sướng hô “Présent”. Chúng xem đó như là một buổi chào cờ long trọng và nét mặt chúng vừa nghiêm trang, vừa tươi mát, thật dễ thương.

Mùa tựu trường, 1994

 

Bài cùng tác giả:

1. Thiền trong lớp học

2. Sự chuyển hóa của pháp môn Thở và Cười

3. Vòng tay tình thương

4. Hạnh Lắng Nghe

Hạnh Lắng Nghe

Năm học vừa qua (1994), trong lớp 12, Henri có một học sinh tên Mandy. Đó là một học sinh cao lớn, da ngăm đen. Cha là người Phi Châu, mẹ là người Âu Châu. Mandy là một học sinh khá thông minh và chăm chỉ, luôn luôn ngồi bàn đầu nên được Henri theo dõi rất kỹ. Mandy rất trầm tĩnh.

Bỗng nhiên hai tuần liên tiếp Mandy không nộp bài làm. Henri có nhắc tới, Mandy hẹn và cũng lờ luôn. Khi hăm cho “zéro” Mandy chỉ lắc đầu và xin chịu nhận “0”. Henri ngạc nhiên và hỏi những giáo viên khác về việc học hành của Mandy, họ cũng cho hay là trong hai tuần qua, Mandy rất bê bối trong việc học hành. Mandy ngồi trong lớp như người mất hồn, không buồn ghi chép chi cả. Ban giáo sư bèn gửi giấy mời cha mẹ và Mandy tới trường một buổi, để gặp hội đồng các giáo sư của Mandy.

Trong buổi họp, cha của Mandy nói là Mandy không nghe lời ông dạy, chỉ biết nghe lời bà mẹ thôi. Còn Mandy thì nói Ba nó là một người độc tài trong gia đình. Nó muốn nói nhiều nhưng không muốn nói trong hội đồng. Nó buồn việc trong gia đình nên nó học không vô.

Có giáo sư khuyên ba Mandy không nên độc tài ở xứ Canada. Điều đó làm ông ta nổi nóng: “Tôi là người chủ gia đình. Tôi làm việc nuôi gia đình. Tôi có quyền tối thượng điều khiển gia đình.” Henri ngồi yên từ đầu cho đến cuối để nghe và tìm hiểu, thấy không khí không tốt đẹp bèn xin nói. Henri hỏi người cha: “Ông có thương Mandy không?” Ông trả lời: “Tôi thương Mandy lắm, tôi đặt hết lòng thương vào đứa con lớn của tôi”. Quay qua đứa con Henri hỏi: “Mandy có tin rằng cha thương mình không?” Mandy trả lời: “Chưa chắc”. Henri hỏi: “Mandy, có thương Ba không?” Mandy không trả lời.

Henri đề nghị: “Có những điều mà Mandy cần giãi bày cho ba biết và có những điều mà ba của Mandy cũng cần thổ lộ với Mandy. Vậy thì ngày thứ sáu này, ông cha nên cho cậu con Mandy một cơ hội nói hết nỗi lòng của Mandy ra với ông và ông phải ngồi tuyệt đối im lặng để nghe, không phản ứng, không phán xét, ông phải suy nghĩ trong ba ngày những điều Mandy đã thổ lộ. Sau ba ngày, đến lượt Mandy phải ngồi nghe ông cha phân trần phải quấy và cũng không phản ứng và không phán xét. Sau đó hai cha con sẽ suy nghĩ thật kỹ những điều đã nghe và ba ngày sau hẹn gặp nhau lại.”

Điều rất hay là hai cha con bằng lòng thử thực tập Hạnh Lắng Nghe. Mandy nghỉ học luôn một tuần sau đó.

Một tuần sau, Mandy trở vào lớp học, gương mặt sáng rỡ, có nụ cười trên môi. Henri hỏi:

    • Kết quả ra sao Mandy?

Mandy nói như muốn khóc:

    • Mon père m’a embrassé (ba tôi đã ôm tôi)

Chỉ nói có thế là Henri hiểu hai cha con đã tha thứ và thông cảm nhau rồi sau khi đã lắng nghe và hiểu rõ nỗi lòng của nhau.

Mandy bấy giờ trở lại học chăm chỉ, xin được nộp các bài đã trễ và xin Henri giúp đỡ giảng lại các bài đã mất trong mấy tuần qua. Henri giúp đỡ giảng lại các bài đã mất trong mấy tuần qua. Henri rất vui lòng (tuy hơi mệt) dạy thêm cho Mandy để nó bắt kịp các bạn. Kết quả rất khả quan. Điểm các bài thi trong thời kỳ khủng hoảng chỉ có lối 45% . Bây giờ bài thi cuối năm và các bài phải nộp định kỳ đều trở lại mực bình thường của Mandy (85%).

Henri rất lấy làm hãnh diện khi được ông Hiệu  trưởng khen: “Chỉ có Henri mới có cách giải quyết quá tốt đẹp như thế”.


Bài cùng tác giả:

1. Thiền trong lớp học

2. Sự chuyển hóa của pháp môn Thở và Cười

3. Vòng tay tình thương

Vòng Tay Tình Thương

Hàng năm, trường tư thục song ngữ Toronto French School đều tổ chức lễ tốt nghiệp cho học sinh. Như các buổi lễ tương tự của tất cả các trường, phụ huynh học sinh hãnh diện đến tham dự cùng với con em của mình. Dĩ nhiên, còn có sự hiện diện của ban giám đốc trường và các giáo sư.

Năm nay, sau những thủ tục và nghi thức thường lệ, buổi lễ còn có một tiết mục thật xúc động do giáo sư Henri Kỷ Cương đảm trách. Giáo sư Henri, trưởng ban Toán của trường được mời lên diễn đàn. Ông bước ra bục, nhìn vào khán giả, mỉm cười và bắt đầu nói chuyện. Ông nói bằng tiếng Pháp, có một học sinh dịch sang tiếng Anh:

“Kính thưa quý vị phụ huynh học sinh

Các con học sinh thân mến,

Trước hết, tôi xin cám ơn ông Tổng Giám Đốc cho tôi hân hạnh giảng một bài học cuối cùng cho các học sinh tốt nghiệp năm nay. Bài học tựa đề là Sự thành công (Succès) và Giờ phút hiện tại (Moment présent).

Tôi xin kể một câu chuyện có thật của đời tôi. Tôi sinh trưởng trong một tỉnh nhỏ miền Nam Việt Nam. Ba tôi làm giáo viên. Đến năm 16 tuổi, sau khi thi đậu bằng Trung Học đệ nhất cấp, tôi xin ba má tôi cho tôi xuất ngoại du học tại Pháp vì ở Việt Nam chiến tranh liên miên. Tôi nhớ rõ ba má tôi rất phân vân. Lương của ba tôi lúc bấy giờ 120$ một tháng, vé tàu đi Pháp khoảng 800$ và còn phải mất khoảng 1000$ để lo hối lộ xin giấy thông hành. Ba tôi cho rằng tôi tiếp tục học ở Sài Gòn cũng được, nhưng má tôi quyết liệt ủng hộ việc cho tôi đi du học. Bà nói ba tôi lo giấy tờ, phần tiền bạc bà sẽ xoay sở.

Tôi biết ba má tôi sẽ hy sinh rất nhiều nên nguyện thầm sẽ cố gắng học cho mau thành tài để đền đáp công ơn cha mẹ.

Từ ngày sang Pháp, mỗi sau kỳ thi cuối năm, được tin đậu là tôi viết thư về nhà và đề ngoài góc phong bì chữ “Succès” (thành công). Khi được thơ, thấy ngay chữ succès, má tôi liền khóc vì mừng: thứ nhất, thời gian xa tôi được rút ngắn đi một năm; thứ hai, đỡ lo thêm tiền học một năm. Về phần ba tôi, chữ succès đem lại cho ông một niềm hãnh diện to tát: ông đi khoe cả trường, cả xóm làng về việc Henri thi đậu Tú Tài I, Tú Tài II, năm thứ nhất đại học v.v…

Có một năm tôi cũng thi đậu nhưng khi viết thơ về nhà quên đề chữ succès ngoài phong bì. Trong thơ má tôi gởi qua, má tôi kể lại: “Má được thơ con, má không thấy chữ succès ở ngoài, má run bắn người, rất lo âu hồi hộp. Chuẩn bị một thất vọng, má không dám mở thơ ra. Nhưng ba con bình tĩnh nói má mở thơ coi trong thơ nói gì. Lúc bấy giờ má mới phát khóc, vừa khóc vừa cười”. Còn ba tôi thì lại đi khoe…

Khi đọc thơ má tôi, tôi rất hối hận. Tôi ứa nước mắt vì đã vô tình làm cho ba má buồn, dù chỉ trong giây phút. Và đây là kết luận của phần đầu bài học:

Các con thân mến, cha mẹ các con muốn gì nơi các con khi hy sinh rất nhiều để cho các con ăn học? Cha mẹ các con không mong các con mang về tiền bạc mà chỉ mong các con đem về chữ succès. Chữ ấy có tác dụng thần diệu (Magic), có tác dụng xua tan tất cả những lo lắng, buồn phiền, mong đợi… và làm họ yên tâm về tương lai của các con.

Ngoài chữ succès rất quan trọng, còn một điều nữa cũng quan trọng không kém. Đó là tình yêu thương của các con đối với cha mẹ. Không ai chối cãi việc cha mẹ thương yêu các con và các con thương yêu cha mẹ, nhưng nhiều khi việc bộc lộ tình thương ấy không rõ rệt.

Tôi xin bộc lộ một cách biểu lộ tình thương: Thiền ôm (Hugging Meditation). Ở tây phương, việc ôm nhau là một ý nghĩa ít sâu đậm. Tôi xin giảng thế nào là Thiền Ôm.

Điều quan trọng là khi ôm, các con ôm với tất cả sự chú tâm và thành khẩn. Đứng trước mặt người mình muốn ôm, mình chắp hai tay thành búp sen, nhìn thẳng vào mặt người đó, mỉm cười và tưởng tượng rằng người ấy vừa về với mình sau bao nhiêu năm xa cách, hay một ngày nào đó, người ấy sẽ phải xa lìa mình. Các con mở rộng vòng tay ra và tất nhiên, người đối diện cũng mở vòng tay vui lòng chấp nhận cái ôm ấy. Việc đó không khó gì giữa cha mẹ và con cái. Các con nên nhớ trong khi ôm:

    • Ôm thật chặt cha hay mẹ mình, tưởng tượng thân cha mẹ và thân mình sẽ hoà làm một.

    • Thở ba hơi sâu và chậm, tưởng tượng như hơi ấm của mình và của cha mẹ mình sẽ hoà vào làm một với nhau.

    • Thì thầm rằng “Ba (má) ơi, giờ phút này con thương ba (má) lắm. (Mom, Dad, here and now, I love you so much hay En ce moment, je vuos aime tant.)

      Sau đó Henri và đứa học trò thông dịch biểu diễn Thiền Ôm trước công chúng. Trong khi ôm, em học trò thì thầm: “Henri, tu es mon Papa, je t’aime tant” (Henri, ông là cha của tôi, tôi thương ông lắm).

Henri mời tất cả các học sinh đứng dậy, đi tới trước cha hay mẹ, chắp tay xin được ôm cha hay mẹ mình. Và những cặp mẹ con, cha con ôm nhau trong bầu không khí hết sức nghiêm trang, hầu hết đều chan hoà nước mắt.

Sau đó ông nói thêm: “Tại sao trong khi ôm, tôi có nói thêm “trong giờ phút hiện tại này?”. Các con thân mến, các con sẽ lên đại học, các con sẽ xa cha mẹ, và các con sẽ đem chữ succès về cho cha mẹ. Thầy tin tưởng như thế. Nhưng điều chắc chắn là các con sẽ có rất ít cơ hội để ôm mẹ mình, cha mình trong vòng tay âu yếm như hôm nay. Do đó chữ “hiện tại tuyệt vời” (moment présent, moment merveilleux) các con phải nhớ”.

Henri chậm rãi xá thính giả và bước xuống bục. Ông Tổng Giám Đốc bước đến trước ông, chắp tay xin ôm ông. Và rồi các phụ huynh, các học sinh đến chắp tay xin ôm ông. Và cùng lúc ấy là tràng pháo tay tưởng chừng như vô tận…

Buổi lễ chấm dứt trong một bầu không khí vui mừng, thắm thiết giữa phụ huynh và học sinh.

Bài cùng tác giả:

1. Thiền trong lớp học

2. Sự chuyển hóa của pháp môn Thở và Cười

Sự chuyển hoá của pháp môn “Thở và Cười”

Giáo sư toán Henri dạy học trò thở, cười làm nguôi cơn buồn, cơn giận, cơn nóng nảy bực bội. Học trò thực tập mỗi ngày trong mỗi lớp, kết quả rõ rệt, chúng học chăm chỉ, rất tấn tới. Nhưng dạy thì dễ, nói thì dễ nhưng khi áp dụng, chính giáo sư lại quên thở, quên cười, còn buồn, còn giận, còn bực bội.

Trong kỳ thi đệ nhất tam cá nguyệt, Henri chấm một xấp bài thi của một lớp. Không biết tại sao, có lẽ đó là mùa lễ, mùa Noel, chúng lơ là việc học nên bài thi kỳ đó quá kém, trung bình dưới 60%. Henri khi chấm bài, giận “sôi gan” vì những lỗi lầm chúng làm đều đã được dạy qua. Sáng hôm đó, khi vào lớp, Henri bước vào, cầm xấp bài liệng lên bài khá mạnh, không nói gì, nhìn học trò thở, nhưng chúng lại không mỉm cười như thường lệ và Henri cũng không mỉm cười, có lẽ sẽ mắng nữa… Nhưng lúc bấy giờ, có một cậu ngồi đầu bàn nhận diện được cái buồn, cái giận của Henri nên nói: “Souriez, Souriez, Henri.” “Cười lên, cười lên, Henri.”

Chỉ mấy tiếng đó là Henri bừng tỉnh, nở nụ cười, đó là nụ cười khoan dung, tha thứ, lòng từ bi bừng mở. Điều rất lạ là Henri bèn nói: “Các con, hôm nay thầy buồn vì các con làm bài thi quá dở, ngoài sự mong đợi của thầy. Đó là không phải lỗi của các con mà chính là lỗi của thầy, thầy xin lỗi các con.” Lời nói đó như một liều thuốc chữa trị được bệnh buồn, bệnh giận của Henri và cũng chữa trị luôn bệnh lo âu, sợ sệt của học trò. Chúng nở một nụ cười tuy còn dính chút lo âu, sợ sệt. Henri bèn tiếp: Hôm nay thầy sẽ giảng lại các lỗi đã phạm, các bài đã quên và các con phải chăm chú lắng nghe, tìm hiểu và hỏi lại tường tận những điều còn thắc mắc. Vào tuần tới thầy sẽ cho thi lại. Tất nhiên, với tinh thần nhẹ nhõm, chúng rất chăm chỉ ghi nhận. Vào tuần tới Henri cho bài, kỳ thi này khó hơn một chút nhưng kết quả quá hay, trung bình cả lớp trên 78%. Kết luận, nhờ học thở, học cười, ngồi thiền đều đặn, hạt giống từ bi được tưới tẩm nên Henri được chuyển hoá mau lẹ cái giận, cái buồn thành niềm vui, lòng tha thứ rất có ích cho sự dạy dỗ các môn sinh, và đó cũng là niềm vui cho chính mình.

Nguồn: Mindful school

Hơi Thở Làm Tăng Trưởng Sự Nhẫn Nhịn

Một hôm, vào tháng tư, gần mùa thi toán quốc tế, môn toán cao cấp, học trò lớp Henri bèn tìm Henri xin học thêm. Chúng thấy có thời khoá trống, biết thời khoá biểu của Henri cũng trống vào giờ đó, chúng đến phòng giáo sư xin gặp. Một giáo sư khác trong phòng, tuy thấy Henri đang ngồi dựa vào lưng ghế, mắt nhắm lại (nhưng chưa ngáy!) nên lại đánh thức Henri. Học trò xin Henri dạy giúp chúng để được hiểu thêm bài. Không bao giờ từ chối sự dạy dỗ học trò khi chúng muốn học, Henri chấp nhận vào lớp trống đó và dạy thêm. Không ngờ, nửa chừng buổi học, bà Phó hiệu trưởng, hầm hầm vào lớp không gõ cửa, phán một câu: “Ai cho ông vào dạy lớp này, vào giờ này?” Henri quay lại nhìn Bà, ngạc nhiên nhưng đứng yên, nắm lấy hơi thở, nhìn học trò chờ chúng trả lời. Bà ta tức khí hơn nói: “Ở đây không phải là rừng, muốn làm gì thì làm” (Nous ne sommes pas dans la jungle!)

Trời đất quỷ thần ơi! Bà dữ quá, bà chửi thầy trò chúng tôi là đồ rừng rú, man rợ. Henri vẫn thở, vẫn mỉm cười, nói: “Xin lỗi, Bà hỏi học trò”. Học trò nói: “Hiện mùa thi gần tới, chúng tôi thấy phòng trống, muốn học thêm, chính là lỗi của chúng tôi chớ Henri thương mới dạy thêm cho chúng tôi”. Bà làm thinh. Học trò hỏi: “Bà có phòng nào trống nữa không?” Bà ta nói có và chỉ một phòng khác. Thầy trò chúng tôi bèn qua lớp khác tiếp tục vậy. Henri tỉnh bơ, có lẽ nhờ đã thở, cười, thiền đều đặn nên bông hoa nhẫn nhịn có dịp nở. Nhưng học trò chưa nguôi, không chịu được lời nói quá sỗ sàng, giận dữ của bà ấy, bèn xuống trình bày với ông Giám Đốc. Ông Giám Đốc gọi Henri xuống hỏi tự sự. Henri giải thích: Tuy bà Phó giận dữ, nói lời cộc cằn nhưng đó là lỗi của Henri và học trò đã không xin phép qua bà ấy. Ông Giám Đốc quá nể Henri và cũng sợ phụ huynh học sinh nữa nên mời Bà Phó đến xin lỗi Henri vì đã nói quá lời.

Tuy Henri thì tha thứ nhưng học trò đâu chịu! Sau đó trng tờ báo cuối năm của trường, chúng phê bình bà ấy nặng nề.

Kết luận: Nếu bà Phó biết xử sự một cách tỉnh thức thì đã không hấp tấp nói ra những lời thiếu ái ngữ làm buồn người khác và làm mình lãnh hậu quả xấu sau đó. Thở đi, cười đi, ngồi thiền đều đặn thì những bông hoa từ bi, nhẫn nhục sẽ nở lên tươi tốt và sẽ làm mình an vui, không làm người khác buồn lòng.

Nụ Cười Làm Nguôi Cơn Giận

Một hôm được tin ba mất ở Việt Nam, Henri không được về thăm Ba, buồn lắm. Vẫn đi dạy như thường lệ. Vào lớp, vẫn cho học trò thở, cười, xá chào như thường lệ nhưng Henri chỉ thở, chỉ xá và không cười được. Hết giờ dạy, Henri vẫn đứng trước cửa để học sinh đi ra xá búp sen và xá, nó dừng lại nói: “Tôi để ý thấy hôm nay Henri có nét buồn và thiếu nụ cười như thường lệ.”

Henri trả lời: “Nghe tin ba tôi mới mất nên tôi rất buồn.” Cậu ấy nói: “Cười đi Henri, Ba mất, buồn thật nhưng Henri cười thì Ba Henri mới cười và vui vẻ ra đi được bình an trong lòng.”

Henri bèn cười và cũng hổ thẹn nữa. Mình dạy học trò thở, cười để làm nguôi cơn buồn, cơn giận, cơn bực bội v.v… . Chúng nó thực tập rất thành công còn mình thì “chưa chín” gì cả. Nhờ sự nhắc nhở của học trò nên Henri bớt buồn rất nhiều vì nghĩ rằng sanh, lão, bệnh, tử là chuyện thường tình, mình phải sống an lạc, sâu sắc và thảnh thơi thì ông bà cha mẹ mình cũng an lạc, vui tươi nơi suối vàng (Sư Ông dạy như vậy mà).

Kết luận: Mỗi khi có chuyện buồn, nhớ thở và cười thì cái buồn khổ trong tâm giảm cường độ rất nhiều và nhất là làm cho người chung quanh cũng đỡ buồn theo. Nói thì dễ nhưng lòng dặn lòng, có buồn thì “buồn năm phút thôi!!!”

Bài cùng tác giả:

1. Thiền trong lớp học

2. Vòng Tay Tình Thương

3. Hạnh Lắng Nghe

4. Điểm Danh