Từ Oxford đến Cambridge

 

Giao lưu với sinh viên các trường Đại Học Anh Quốc

Từ Imperial Colleege đến Đại học Luân Đôn (phần 1)

Từ Oxford đến Cambridge (phần 2)

thienhanhOxford.jpg


Đại học Oxford (từ ngày 13 – 14/3/2011)

Chia sẻ với những người bạn tại Hội Thân Hữu Hòa Giải Oxford (Oxford Fellowship of Reconciliation)

Tiến sĩ Millius Palayiwa, Giám đốc của Hội Thân Hữu Hòa Giải Oxford và các bạn thành viên chào đón quý thầy, quý sư cô Làng Mai rất nồng hậu. Họ vui mừng được gặp gỡ những đệ tử của Sư Ông Làng Mai, người mà họ đã từng gắn bó thân thiết, đồng thời họ muốn nghe quý thầy, quý sư cô chia sẻ về sự thực tập của mình trong đời sống hàng ngày. Thầy Pháp Uyển chia sẻ về những trải nghiệm và sự thực tập của mình khi tham gia vào quân đội Mỹ và phải chứng kiến bảy đồng đội của mình bị bắn  chết trong một trận đánh. Thầy Pháp Lai chia sẻ về cuộc sống trong Tăng thân. Thầy Pháp Lưu chia sẻ về những chuyển hóa của mình khi thực tập lắng nghe sâu. Sư cô Hiến Nghiêm chia sẻ về những gì mà mình đã làm để giúp quý thầy, quý sư cô ở Bát Nhã và những khó khăn mà Sư cô đã vượt qua với sự yểm trợ và tình thương yêu của Tăng thân. Cuối buổi chia sẻ, các bạn đã đặt rất nhiều câu hỏi cho quý thầy, quý sư cô về cuộc sống ở Làng Mai; làm cách nào để duy trì sự thực tập trong khi vẫn tham gia vào các công việc như giúp Bát Nhã; và làm sao để giúp trẻ em và thanh thiếu niên được bình an hơn trong thế giới ngày nay…

Trên trang web của Hội Thân Hữu Hòa Giải Oxford đã có lời nhận xét về buổi tối hôm đó như sau:

“Những đệ tử của Thầy Làng Mai đã chia sẻ kinh nghiệm cá nhân của mình về nghệ thuật sống tỉnh thức của đạo Bụt. Họ cũng chia sẻ về việc xây dựng Tăng thân như một phương thức giúp thay đổi xã hội… Đối với phong trào hòa bình trên thế giới thì những khái niệm như Tăng thân (beloved community) hay một hướng đi tâm linh giúp nuôi dưỡng sự bình an trong chính mỗi người (inner peace) không còn là những điều mới mẽ. Điều đáng chú ý ở đây là làm sao tất cả những điều này cùng được thể hiện trong cuộc sống của những tu sĩ trẻ và trong lời dạy của vị Thầy nổi tiếng của họ. Thật thú vị và hứng khởi khi được biết về những người trẻ đã từ bỏ lối sống hưởng thụ cá nhân để theo đuổi con đường phụng sự và hành động, dựa trên nền tảng xây dựng Tăng thân và tu tập cùng nhau trên con đường tâm linh… Chuyến đi của nhóm Wake Up do quý thầy, quý sư cô Làng Mai tổ chức chính là lời kêu gọi hành động và thương yêu đối với tất cả những người trẻ trên đất nước chúng ta”.

 

Ngày tu tập chánh niệm tại Trường Mansfield, Đại học Oxford

dharmahallatOxford.jpgĐây là một ngày rất đặc biệt, vì Thầy Dhammasami, trụ trì của Oxford Vihara – một trung tâm tu tập theo truyền thống Theravada tại Oxford cùng một thầy phụ tá đã đến tham dự. Trong thời gian ở Oxford, Quý thầy, quý sư cô đã nghỉ tại Oxford Vihara và được thầy Dhammasami đón tiếp rất nồng hậu. Thầy Dhammasami là một trong những thành viên của Ủy ban đã mời Thầy Làng Mai tham dự Đại lễ Phật Đản Vesak tổ chức tại Thái Lan năm 2007. Thầy hiện là Giám đốc của Trung tâm thực tập chánh niệm của Oxford (Oxford Center for Mindfulness).

Buổi sáng hôm đó, quý thầy, quý sư cô đã cho pháp thoại về chủ đề Ngũ Lực (Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ). Thầy trụ trì Oxford Vihara cùng thầy phụ tá ngồi phía sau quý thầy, quý sư cô Làng Mai như những sư anh lớn đang có mặt để yểm trợ cho các sư em của mình.

Thầy Pháp Lưu mở đầu bài pháp thoại bằng phần chia sẻ về nguồn năng lượng thứ nhất, đó là Tín, niềm tin về phương pháp tu học có được dựa trên sự chứng nghiệm trực tiếp của chúng ta. Ta phải hỏi chính mình: phương pháp tu học này có mang lại hạnh phúc cho ta không? Có giúp cho ta tỉnh thức không? Tiếp sau Thầy Pháp Lưu, Sư cô Hành Nghiêm chia sẻ về nguồn năng lượng có được từ Chánh Tinh Tấn và phương pháp tưới tẩm những hạt giống tốt nơi ta và nơi người, hiến tặng sự có mặt đích thực cho những người xung quanh ta. Thầy Pháp Uyển chia sẻ về Niệm và về sự thực tập dừng lại, làm lắng dịu thân tâm, sử dụng thở ý thức để thực sự có mặt với những gì đang diễn ra trong ta và xung quanh ta. Thầy Pháp Linh chia sẻ về chánh định – nguồn năng lượng được sinh ra từ chánh niệm và sự khác biệt giữa chánh định và tà định (ví dụ như việc để hết tâm ý vào việc chơi game cả ngày lẫn đêm, quên ăn quên ngủ, đó là tà định, không phải là chánh định). Thầy cũng đồng thời chia sẻ về sự thực tập Vô nguyện, không mong cầu gì ở tương lai và sống trọn vẹn với những điều kiện hạnh phúc đã có đầy đủ trong phút giây hiện tại. Thầy Pháp Lai kết thúc bài pháp thoại với phần chia sẻ về hạnh phúc và tự do chân thực do tuệ giác mang lại; tuệ giác giúp chúng ta biết rõ điều gì nên làm và điều gì không nên làm để có được hạnh phúc và tự do.

Các bạn trẻ tham dự ngày tu tập chánh niệm cảm thấy rất xúc động khi được thực tập dừng lại, tận hưởng từng bước chân thảnh thơi và được ngồi ăn chậm rãi tận hưởng không khí tĩnh lặng và sự có mặt tươi mát của quý thầy, quý sư cô và những người bạn xung quanh. Các bạn còn được ngồi với nhau trong giờ pháp đàm để chia sẻ về những kinh nghiệm thực tập của mình, những khó khăn, lo lắng trong học hành, thi cử và tìm kiếm công việc trong tương lai…

Thầy trụ trì của Oxford Vihara và vị phụ tá đã tham dự tất cả các sinh hoạt của ngày quán niệm, ngay cả buổi ăn trưa quá ngọ lúc 1h chiều. Quý thầy cũng rất thích thực tập Thiền Buông Thư (quý thầy gọi đó là “Thiền ngủ”) và muốn áp dụng thiền buông thư vào trong chương trình cho trẻ em vào mùa hè tới.

 

Đại học Sussex, Brighton

sessexuBrighton.jpgRời Oxford, sau ba giờ đồng hồ trên tàu, quý thầy, quý sư cô Làng Mai đã có mặt tại Brighton và có một buổi tối gặp gỡ, chia sẻ với các bạn sinh viên trường đại học Sussex tại Trung tâm của Hội Quaker. Có 40 bạn trẻ tham dự, các bạn đều rất cởi mở và có tâm phụng sự, mong muốn đóng góp sức mình để thay đổi tình trạng thế giới hiện nay.

Sau khi cùng hát các bài thiền ca và thực tập thiền hướng dẫn, các bạn được nghe quý thầy, quý sư cô chia sẻ về chủ đề Tứ Vô Lượng Tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả) – bốn yếu tố của tình thương chân thực. Quý thầy, quý sư cô đã chia sẻ với các bạn về cách thức chăm sóc thân tâm mình, chăm sóc những cảm xúc mạnh và khổ đau của mình; mình phải hiểu và thương mình trước khi có thể thương yêu và giúp đỡ một ai khác. Các bạn còn được thực tập thiền quýt cùng Thầy Lưu. Sau phần chia sẻ, quý thầy, quý sư cô dành thời gian để trả lời những câu hỏi của các bạn trẻ. Có nhiều câu hỏi được đặt ra như: tại Làng Mai, quý thầy, quý sư cô thực tập như thế nào để đối phó với cuộc khủng hoảng môi trường toàn cầu? Làm thế nào để có thể theo đuổi sự nghiệp của mình mà vẫn giữ được sự thực tập và có bình an trong tâm? Làm thế nào để phát khởi tình thương với những người đang gây tàn hại đối với thế giới? Làm sao để ta không đắm chìm trong khổ đau khi đối diện với những điều tồi tệ đang xảy ra trên thế giới? …

 

Đại học Cambridge

Thầy Pháp Linh và Sư cô Hiến Nghiêm từng là sinh viên của Đại học Cambridge. Lần này được về thăm trường cùng Tăng thân, Thầy Pháp Linh và Sư cô Hiến Nghiêm có cơ hội hiến tặng hoa trái tu học của mình để giúp các bạn sinh viên vượt qua những khó khăn và căng thẳng trong học tập cũng như trong cuộc sống.

Tại Clare College thuộc đại học Cambridge, Quý thầy, quý sư cô Làng Mai đã có một buổi hội thảo với sinh viên. Buổi chiều hôm đó, quý thầy, quý sư cô cùng nhau cho pháp thoại dựa theo bài kệ:

ClareCollege.jpg

Đã về, đã tới

Bây giờ, ở đây

Vững chãi, thảnh thơi

Quay về, nương tựa.

Các bạn sinh viên đã được chia sẻ về sự thực tập trở về với hải đảo tự thân, trở về với ngôi nhà bên trong mình và làm sao để ngôi nhà đó luôn ấm áp, thân thương và trở thành một chỗ nương tựa mà ta luôn muốn trở về. Thầy Pháp Uyển chia sẻ với các bạn phương pháp thực tập lắng nghe chuông để trở về với chính mình (ở Cambridge các bạn có thể sử dụng tiếng chuông nhà thờ để thực tập mỗi ngày), và sử dụng hơi thở ý thức để chăm sóc những cảm xúc của mình. Khi đã trở về với chính mình, ta có thể nhìn rõ nguyên nhân của những ham muốn, thèm khát trong ta, và nhờ vậy ta mới có thể buông bỏ được chúng và thực sự có tự do. Thầy Pháp Linh chia sẻ thêm về những điều kiện hạnh phúc đã có đầy đủ trong ta và xung quanh ta; ta cần phải vượt thoát ý nghĩ “như vậy vẫn chưa đủ” và cần phải tìm kiếm thêm những điều kiện khác thì mới có thể hạnh phúc. Buổi hội thảo kết thúc với thiền buông thư do sư cô Hành Nghiêm hướng dẫn. Cuối buổi, các bạn sinh viên được tặng những tấm bưu thiếp với dòng chữ Đã về, Đã tới (I have arrived, I am home) do quý thầy, quý sư cô tự tay viết tặng.

Ra khỏi hội trường, các bạn còn được quý thầy, quý sư cô hướng dẫn đi thiền hành qua những con đường hai bên rực sắc vàng của hoa thủy tiên. Đến giờ chia tay, không ai chịu về hết, vậy là quý thầy, quý sư cô lại đứng hát cùng các bạn, nhưng rồi cũng không ai muốn về. Nhiều người đã đi theo quý thầy, quý sư cô sang trường Emmanuel để dự buổi giao lưu tối hôm đó.

 

Tại Emmanuel College (Sư cô Hiến Nghiêm từng là sinh viên của trường)

CambridgeUni.jpg

Buổi giao lưu với sinh viên của trường Emmanuel diễn ra với chủ đề “Những căng thẳng trong đời sống sinh viên và sự thực tập chánh niệm” (“Student Life, Stress and Mindfulness”). Sau phần thiền hướng dẫn, Thầy Pháp Linh đã chia sẻ về đời sống sinh viên trước đây của mình và Thầy đã thực tập như thế nào để ôm ấp những niềm đau, nỗi khổ và vượt qua cảm giác cô đơn trong lòng mình. Bằng cách tái lập truyền thông với gia đình, bạn bè và thầy cô giáo, Thầy đã tìm được nguồn hạnh phúc để nuôi dưỡng đời sống sinh viên của mình. Quan điểm về “tự lập” (independence) của Thầy đã thay đổi rất nhiều so với trước đây. Sư cô Hiến Nghiêm cũng chia sẻ kinh nghiệm vượt qua những căng thẳng trong trường học, rồi đến khi đi làm tại BBC và khi sống trong tu viện. Sư cô chia sẻ về sự thực tập hơi thở ý thức và thiền hành đã giúp Sư cô giữ được sự tươi mát của mình, tạo ra được không gian và tự do cho chính mình ngay trong những lúc căng thẳng. Thầy Pháp Lưu chia sẻ với các bạn rằng sự thực tập chánh niệm chính là để hiểu được nguồn gốc của những khổ đau và tìm thấy con đường thoát khổ, và Thầy đã trình bày với các bạn về Năm Giới – con đường đưa đến hạnh phúc chân thực.

Để có cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu những khó khăn của các bạn sinh viên, quý thầy, quý sư cô đã chia ra thành nhiều nhóm tham vấn với các chủ đề khác nhau như: Ta sẽ làm gì với cuộc đời mình? Làm thế nào để đối diện với các cảm xúc mạnh? Thực tập Làm Mới như thế nào? Thực tập chánh niệm trong đời sống hàng ngày như thế nào? Ta cần làm gì trước tình trạng khủng hoảng môi trường và xã hội toàn cầu đang diễn ra hiện nay? Các bạn sinh viên rất hạnh phúc được ngồi lắng nghe quý thầy, quý sư cô chia sẻ. Không khí tối hôm đó thật là thân mật và cởi mở. Đến 10h tối mà các nhóm vẫn chưa thể kết thúc được. Quý thầy, quý sư cô thực sự cảm thấy mình đã thâm nhập được vào đời sống của sinh viên Cambridge. Một điều mà quý thầy, quý sư cô nhận thấy rất rõ qua chuyến đi Anh lần này đó là các bạn trẻ, đặc biệt là sinh viên, rất lo lắng về khả năng kiếm việc sau khi ra trường. Họ gặp nhiều khó khăn vì áp lực này.

Chuyến đi giao lưu với sinh viên các trường đại học Anh quốc đã khép lại nhưng dường như

Giao lưu với sinh viên Anh Quốc

Đoàn thanh niên Phật tử Âu châu với ước mơ làm đẹp cuộc đời

DelegationintheCenterofOxford.JPG

 

Từ Imperial Colleege đến Đại học Luân Đôn

Với mong muốn kêu gọi người trẻ trên khắp thế giới cùng góp sức xây dựng một nếp sống tỉnh thức, lành mạnh và từ bi, trong thời gian qua, Tăng thân Làng Mai đã phát động phong trào Wake Up (Tỉnh dậy đi thôi, hỡi các bạn trẻ!) và thường xuyên tổ chức những khóa tu cho người trẻ tại nhiều nước, đặc biệt là ở châu Âu.

Với tinh thần đó, ngày 05.03.2011, quý thầy, quý sư cô Làng Mai đã lên đường đi Anh Quốc, bắt đầu chuyến đi giao lưu với sinh viên các trường đại học tại Vương quốc Anh kéo dài gần hai tuần (08 – 17.03.2011). Tham gia đoàn có các thầy: Pháp Lai, Pháp Uyển, Pháp Lưu, Pháp Linh và các Sư cô: Kính Nghiêm, Hành Nghiêm và Hiến Nghiêm. Phụ tá cho quý thầy, quý sư cô đợt này còn có 5 bạn trẻ thuộc phong trào Wake Up (2 người đến từ Đức, hai người đến từ Hà Lan và một người ở Anh). Các bạn muốn học hỏi từ quý thầy, quý sư cô kinh nghiệm tổ chức và hướng dẫn khóa tu để có thể cùng các bạn trong phong trào Wake Up đứng ra tổ chức những khóa tu dành cho người trẻ tại quê hương mình.

 

Imperial College, Luân Đôn

ImperialCollegeLondon1.jpgBuổi tối đầu tiên tại Imperial College, Luân Đôn đã thu hút 90 sinh viên và người trẻ đến tham dự, hầu hết đều là những nhà khoa học, và một phần ba trong số đó là người gốc châu Á. Sau khi được hướng dẫn một số bài thiền ca và thực tập lắng nghe chuông, các bạn sinh viên được nghe một bài pháp thoại ngắn của Thầy Pháp Lưu với chủ để “Để có được thân tâm an lạc – Từ một cách tiếp cận khoa học” (“A Scientific Approach to Wellbeing”).   Thầy chia sẻ rằng Bụt là một nhà khoa học và sự thực tập theo truyền thống đạo Bụt có tính cách khoa học, dựa trên nền tảng thực nghiệm. Nếu những nhà khoa học thường lấy một vấn đề cụ thể làm đối tượng nghiên cứu thì Bụt lấy đối tượng nghiên cứu của mình là KHỔ, Người muốn tìm cho ra những nguyên nhân mang đến khổ đau cho con người và muôn loài. Thầy cũng mời các bạn sinh viên tiến hành thực nghiệm với đối tượng là hơi thở và xem thử mình có khả năng tập trung quan sát hơi thở trong bao lâu, sau đó mọi người đều báo cáo lại kết quả nghiên cứu của mình.

Trong buổi tối này, các bạn sinh viên của Imperial College còn có cơ hội được “nếm” những bước chân bình an, nhẹ nhàng khi đi thiền hành cùng quý thầy, quý sư cô qua những hành lang đông đúc của trường đại học. Sau đó nhiều người chia sẻ:  họ thấy màu sắc xung quanh trở nên sáng hơn và các giác quan trở nên bén nhạy hơn nhờ sự chú tâm vào hơi thở và bước chân. Thú vị hơn nữa khi các bạn được Thầy Pháp Uyển hướng dẫn thiền ăn với quýt và bánh donut. Chưa bao giờ ở Luân Đôn người ta có thể thấy 100 cái bánh donut được ăn thật chậm rãi và dễ thương như vậy! Buổi tối kết thúc với phần trả lời những câu hỏi của các bạn sinh viên về cách thức thực tập trong đời sống hàng ngày của người trẻ, làm sao để không bị quá tải bởi việc học hành và sự thực tập chánh niệm trong khi tiêu thụ.

 

Đại học Leeds (9 – 10.03.2011)

leedbussinessschool.jpgTại Leeds, quý thầy, quý sư cô Làng Mai có một buổi tối giao lưu với sinh viên tại giảng đường của trường đại học, có khoảng 40 người tham dự trong đó có một số thành viên thuộc các Tăng thân cư sĩ ở York & Sheffield. Dưới hình thức một cuộc phỏng vấn, Thầy Pháp Uyển và Sư cô Hành Nghiêm đã tạo một không khí rất thoải mái và cởi mở khi giới thiệu cho các bạn sinh viên về phương pháp theo dõi hơi thở, thực tập chánh niệm trong khi đánh răng, nấu ăn, sử dụng điện thoại di động… Các bạn sinh viên đã rất hào hứng thực tập thiền hành chậm ngay trong giảng đường cùng Thầy Pháp Lưu và cảm nhận sự tiếp xúc sâu sắc giữa bàn chân và sàn nhà. Pháp môn thiền hành đã gây hứng thú đối với nhiều bạn trẻ và một số bạn quyết tâm dậy thật sớm để tham gia buổi thiền hành vào sáng hôm sau tại công viên nằm trong trường đại học.

Ngày hội “ Vì một tinh thần khỏe mạnh” (Mental Wealth Day)

mentalweathday.jpg.jpgSáng ngày 10.03.2011đã diễn ra ngày hội “ Vì một tinh thần khỏe mạnh” (Mental Wealth Day) với sáng kiến của Ed – một sinh viên vừa mới tốt nghiệp đại học Leeds và thường xuyên đến tu tập tại Làng Mai. Ed luôn mong ước có thể làm một điều gì đó để giúp hạn chế được không khí độc hại  tại các trường đại học, nơi càng ngày  càng có nhiều áp lực, căng thẳng dẫn đến tình trạng trầm uất, nghiện ngập… trở thành một môi trường lành mạnh cho sinh viên.  Quý thầy, quý sư cô Làng Mai đã có mặt ở đó để yểm trợ Ed tổ chức các buổi hội thảo về thực tập chánh niệm dành cho sinh viên cũng như các cán bộ phụ trách về chăm sóc sinh viên của trường. Quý thầy, quý sư cô đã mời các bạn sinh viên trong Ban Tổ Chức cùng đi thiền hành vào buổi sáng hôm đó và buổi thiền hành cuối cùng đã biến hành buổi thiền chạy (jogging meditation) vì… trời mưa.

Tại sảnh lớn của Trường đại học, Ed. và các bạn của Ed. đã tổ chức  một hội chợ về sức khỏe tinh thần (“Mental Wealth Fair”), tại đó có trưng bày các bức ảnh của Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Làng Mai. Ngoài ra còn có những slideshow hình ảnh về các khóa tu người trẻ và những tờ thông tin cần thiết. Những gian hàng của hội chợ có chủ đề như “Bạn đã làm gì để chăm sóc tâm  mình?” hay “Điều gì khiến cho bạn hạnh phúc?”. Quý thầy, quý sư cô đã có mặt tại hội chợ để giao lưu với các bạn sinh viên. Sự bình an và tươi mát của quý thầy, quý sư cô đã thu hút sự chú ý của hàng trăm sinh viên tham gia hội chợ. Chính vì vậy mà đại diện của nhiều trường đại học khác đã mời Tăng thân đến thăm trường của họ vào năm tới!

Buổi chiều cùng ngày, quý thầy, quý sư cô đã có buổi hội thảo trong hai giờ đồng hồ để chia sẻ với các bạn sinh viên và các cán bộ phụ trách về chăm sóc sinh viên của đại học Leeds về những phương pháp chế tác hạnh phúc và xử lý những cảm xúc mạnh. Sư cô Hiến Nghiêm đã chia sẻ về kinh nghiệm sử dụng thi kệ để chế tác hạnh phúc trong đời sống hàng ngày, ví dụ như thi kệ Thức dậy, và kinh nghiệm ký hiệp ước với một đoạn đường mà mình thường đi mỗi ngày để thực tập thiền hành.

 

Trường Đông phương và Phi châu học (School of Oriental & African Studies), Đại học Luân Đôn (11 – 12.03.2011)

Một đêm giao lưu đáng nhớ

SchoolofOrientalAfrican.jpg Buổi tối giao lưu đã thu hút được 80 người trẻ tham dự, hầu hết đều là những người lần đầu tiên biết đến pháp môn Làng Mai. Chủ đề chia sẻ của buổi tối hôm đó là Niệm, Định, Tuệ. Thầy Pháp Uyển đã hướng dẫn các bạn sinh viên thực tập tiếp xúc với cơ thể và buông thư toàn thân bằng hơi thở ý thức để giảm căng thẳng sau một tuần học tập. Tiếp sau đó, Thầy Pháp Lưu và Sư cô Kính Nghiêm chia sẻ về Định và Tuệ, năng lượng được tạo ra bởi chánh niệm và dạy cho các bạn sinh viên bài hát “Happiness is Here and Now” (Hạnh phúc bây giờ và ở đây) với thông điệp hiện pháp lạc trú chính là hoa trái của Niệm, Định, Tuệ. Sư cô Kính Nghiêm cũng chia sẻ với các bạn về phương pháp lắng nghe sâu và nói lời ái ngữ để giúp tái lập truyền thông trong gia đình. Cũng trong buổi tối hôm đó, các bạn trẻ đi cùng đoàn đã giúp quý thầy, quý sư cô tổ chức thiền trà trong không khí thân mật và ấm cúng. Sư cô Hành Nghiêm đã chia sẻ với các bạn về phương pháp nhận diện những nguồn hạnh phúc đang có mặt xung quanh ta trong đời sống hàng ngày và làm thế nào để ta có thể chia sẻ niềm hạnh phúc đó với những người mà ta thương yêu.

Để giúp các bạn sinh viên có cơ hội tiếp xúc và tham vấn trực tiếp về những khó khăn của mình, quý thầy, quý sư cô đã chia ra thành những nhóm nhỏ theo chủ đề: Đời sống của người xuất gia và chương trình đào tạo 5 năm tại Làng Mai, Đối diện với những cảm xúc mạnh, Phương pháp Làm Mới để giúp tái lập truyền thông, Xây dựng Tăng thân ở Anh và Những phương pháp thực tập căn bản trong đời sống hàng ngày. Cách thức tổ chức này tỏ ra rất hiệu quả và giúp các bạn sinh viên có cơ hội mở lòng chia sẻ và nhận được những lời chỉ dẫn từ quý thầy, quý sư cô để đi ra khỏi những khó khăn của mình. Buổi giao lưu chỉ diễn ra trong hai giờ đồng hồ nhưng đã mang lại rất nhiều hạnh phúc cho các bạn trẻ. Nhiều bạn đã khóc vì xúc động.

 

Theo dấu chân Thầy giữa lòng thành phố Luân Đôn

Ngay hôm sau, tại trường Đông phương và Phi châu học đã diễn ra một ngày tu tập chánh niệm với trên 130 người tham dự. Giảng đường đại học đã biến thành một thiền đường với năng lượng thật hùng hậu. Quý thầy, quý  Sư cô cùng nhau cho pháp thoại về đề tài “7 Yếu tố giác ngộ (Thất bồ đề phần)”, trong đó nhấn mạnh đến hơi thở ý thức, phương pháp chăm sóc vườn tâm, chế tác hỷ lạc và làm lắng dịu thân tâm… Sau buổi pháp thoại, các bạn sinh viên đã được Sư cô Kính Nghiêm hướng dẫn đi thiền hành vòng quanh khuôn viên của trường. Nhìn những bước chân chậm rãi, nhẹ nhàng của quý thầy, quý sư cô giữa lòng thành phố Luân Đôn đông đúc, nhiều người cảm thấy như mình đang được cùng Thầy và Tăng thân Làng Mai đi thiền hành tại Bloomsbury mùa hè năm ngoái. Trong buổi pháp đàm sau đó, một người bạn Ấn Độ chia sẻ rằng trong cuộc đời mình anh chưa bao giờ nghĩ rằng mình có thể dừng lại trong từng bước chân như vậy. Các bạn sinh viên còn được thầy Pháp Lưu hướng dẫn về thiền ăn, về cách ăn cơm trong im lặng và tận hưởng sự có mặt của nhau.

 

Năng lượng mầu nhiệm của thiền buông thư

Buổi trưa hôm đó, những người bạn trẻ đã được Sư cô Hành Nghiêm hướng dẫn thiền buông thư. Giảng đường chật kín người, ai cũng hoàn toàn thả mình vào không gian tĩnh lặng, bình an, buông hết những lo âu, căng thẳng trong thân tâm. Giờ buông thư vừa được bắt đầu vài phút thì bên ngoài có tiếng lao xao, ồn ào của hàng trăm phụ nữ đang đi biểu tình, đấu tranh cho nữ quyền, lại thêm tiếng máy cưa từ một công trình xây dựng gần đó. Vậy mà dường như không một bạn trẻ nào cảm thấy bị quấy rầy. Một vài người biểu tình ghé vào xem và họ không khỏi ngạc nhiên khi thấy cảnh tượng hàng chục người trẻ đang được quý thầy, quý sư cô “ru ngủ”, trông họ thật thư giãn và bình an.

 

Tận dụng tối đa cơ hội để tiếp xúc và lắng nghe các bạn trẻ

copy_of_10MM.JPG Sau khi làm nóng cơ thể với mười động tác chánh niệm, các bạn trẻ được chia ra thành bảy nhóm pháp đàm. Đây là cơ hội để các bạn mở lòng chia sẻ về những khó khăn trong cuộc sống và về những điều khiến cho họ xúc động nhất khi tham dự ngày tu tập chánh niệm cùng quý thầy, quý sư cô. Một bạn trẻ chia sẻ là mình đã hoàn toàn buông thư và ngủ rất sâu khi thực tập thiền buông thư. Có bạn thì chia sẻ rằng cả ngày hôm đó cô cảm thấy hoàn toàn được ôm ấp bởi năng lượng thương yêu và chăm sóc của quý thầy, quý sư cô. Một bạn trẻ khác lại cảm thấy hoàn toàn bất ngờ khi chứng kiến giảng đường thân quen nay bỗng trở nên mới lạ với sự có mặt bình an và tươi mát của quý thầy, quý sư cô. Và đến cuối ngày thì không một ai muốn về cả, mọi người đều nắm tay nhau và cùng hát “Không đi đâu, cũng không đến, không trước cũng không sau…”. Một giây phút thật xúc động và đáng nhớ!

Từ Oxford đến Cambridge (phần 2)

Viết tiếp những ước mơ cho mẹ

Mẹ à, vậy là đã hơn 10 năm kể từ ngày con từ Sài Gòn về quê để xin phép ba mẹ cho con được đi tu, trở thành một người xuất gia, con gái của Bụt. Bây giờ ngồi nhớ lại, cảm giác khi xưa lại trở về, như mới hôm qua đây thôi. Bởi mẹ chẳng bao giờ tin được con lại có quyết định khác thường như thế. Những giây phút ấy thật khó khăn với con khi phải thuyết phục ba mẹ. Mẹ khóc, mẹ trách, mẹ nói con bất hiếu. Còn con, con chỉ biết… khóc, những gì con nói ra lúc đó chẳng thể nào ngăn nổi cảm giác khổ đau của mẹ khi nghĩ rằng mình sẽ mất đi đứa con đầu lòng mà mình thương yêu.

Dù mẹ khóc như mưa nhưng đôi chân con vẫn bước, cảm nghe lòng quặn thắt. Nhưng tận sâu thẳm trong tâm hồn con lại có một niềm tin mãnh liệt rằng chỉ có con đường xuất gia này con mới có thể trả lời được những câu hỏi, những khó khăn, bế tắc trong lòng và thực hiện được ước mơ từ nhỏ: làm sao cho gia đình mình có nhiều tiếng cười hơn.

Mẹ của con – người chị cả của tám đứa em leo nheo lóc nhóc – từ nhỏ đã sớm biết giúp ông bà ngoại làm đủ mọi việc trong nhà và chăm sóc các em. Mẹ của con siêng năng lắm, chu toàn mọi việc, nhiều lúc còn phải dậy thiệt sớm nấu cơm mang ra đồng cho thợ cấy lúa nữa. Ôi, cái tuổi ăn tuổi ngủ ấy mà phải dậy sớm thì thiệt là tội nghiệp, có lúc mẹ vừa ngồi bên bếp củi, vừa thổi cơm, vừa ngủ gục, bị ông ngoại phát hiện thế là… bị đòn. Con đã được nghe mẹ kể rất nhiều về tuổi thơ cơ cực ấy. Ông ngoại khó, lời nói yêu thương ít hơn những tiếng la mắng, có lẽ đó là nguyên nhân mà đôi mắt mẹ thường buồn, hay nhìn xa xăm. Mẹ đâu được học nhiều, chỉ tới lớp ba trường làng, đủ để đọc, viết và làm toán cộng trừ nên làm sao mà không mặc cảm với chúng bạn cho được, mẹ nhỉ? Quê ngoại lúc đó còn nghèo, ở tận cùng của bản đồ hình chữ S, quanh năm người dân chỉ gắn bó với ruộng đồng, với con cá, con cua, nhà thì đông con, mẹ là chị cả, hi sinh thật nhiều.

Rồi mẹ gặp ba, chàng trai vùng đất thần kinh, về quê mẹ làm kế toán. Sau đó mẹ quyết định theo ba về tận vùng đất đỏ Long Khánh trên này chỉ mong thoát cảnh “bị đỉa đeo chân” (mẹ sợ con đỉa mỗi khi lội xuống ruộng). Và rồi ba chị em con lần lượt ra đời. Một thân một mình không bà con thân thuộc, chỉ với hai bàn tay trắng, làm sao tránh khỏi những lúc mẹ phải tự đương đầu với những khó khăn, gian nan trong cuộc sống gia đình. Nhiều lần con thấy mẹ cô đơn, mẹ khóc. Những khó khăn cứ chất chồng mà ít có người để sẻ chia, rồi như một định luật tự nhiên, chúng trào ra và mấy chị em con cùng “hưởng”.

Là chị đầu, con ảnh hưởng nhiều nhất từ những nỗi đau của mẹ. Lúc đó con giận, con buồn, con phân vân tự hỏi có lẽ mình được mẹ lượm ở đâu đó về nuôi nên mẹ mới không thương, nên mới la, đánh mình mỗi ngày như thế chứ. Trái tim con cứ xa mẹ dần, xa dần… Lớn lên, con buồn vì thấy mình vô cảm, mẹ đó mà sao thấy lòng không thương mẹ như bao nhiêu bài hát, bao nhiêu câu chuyện ca ngợi tình mẹ con thật đẹp xung quanh. Mình mâu thuẫn với chính mình quá!

Con đã từng ước mơ rằng sau này khi con lớn lên, con sẽ tìm và xây dựng cho mình một gia đình nhỏ hạnh phúc, sẽ yêu thương các con mình và không la mắng chúng nó như con từng bị ngày xưa. Ấy vậy mà lạ lắm mẹ à, con vẫn lặp lại những điều con không muốn với các em, cũng la, cũng giận, rồi các em sợ, xa con. Tại sao lạ quá vậy mẹ, mình cứ lập lại y chang những gì mà ông bà, cha mẹ mình có, mặc dầu mình không muốn, và hình như cái em bé khổ đau trong mẹ lại đang có trong con. Con buồn, con tự hỏi là mình phải làm sao để thoát khỏi em bé đó đây, làm sao cho gia đình mình yêu thương nhau hơn, tiếng cười sẽ thay thế cho những trách móc giận hờn. Con muốn tâm hồn mình được bình an, hiểu thương nhiều hơn. Ngày xưa, trước những khó khăn trong truyền thông của gia đình ngoại, mẹ đã chọn con đường ra ngoài tự lập khi còn rất trẻ. Còn con, con lại muốn mình đi một con đường mới, muốn sống vui, sống hạnh phúc hơn cho mẹ. Đó là lý do con chọn con đường tâm linh này.

Mẹ ơi, thật may mắn phước đức khi con có duyên lành được gặp Thầy và tăng thân với những phương pháp cụ thể dạy con trở về chăm sóc lại tâm hồn mình. Con tập thở, tập đi, tập ngồi yên cho thân tâm lắng dịu, học lắng nghe sâu để hiểu những cảm xúc suy tư trong mình, học nói lời hòa ái, dễ thương. Rồi tập nhận ra bao nhiêu thói quen đẹp lành mà con thừa hưởng được từ ông bà, ba mẹ, để nuôi lớn. Còn những điều chưa hay thì tập thay đổi, làm cho nó đẹp hơn. Con tập nhìn lại cuộc sống của gia đình mình trước đây, cách con tiếp nhận, cách con nói năng. Cứ thế mà đi qua bao nhiêu năm… Cho đến một ngày, sau giờ ngồi thiền cùng đại chúng về, con tiếp tục ngồi yên bên góc học, quán chiếu tiếp đề tài lúc nãy hãy còn dở dang, bỗng nhiên… con nhìn thấy một cô bé khoảng 8 – 9 tuổi đang ngồi trong lòng con và… khóc. Nhìn kĩ, con nhận ra là mẹ của mình, hình ảnh cô bé nhỏ qua lời kể của mẹ khi xưa. Nhìn em bé khóc, con bỗng giật mình khi hai hàng nước mắt cũng đang lăn dài một cách tự nhiên trên gương mặt mình. Cô bé khóc vì những khổ đau bao lâu nay bây giờ đã có người thấu hiểu, và người ấy không ai xa lạ, chính là con. Một cuộc tương phùng bất ngờ xảy ra sau ngần ấy năm, con có cảm tưởng một sợi dây vô hình giữa mẹ và con vừa được nối lại. Hạnh phúc trong con vỡ òa!

Kể từ phút giây ấy, hình ảnh mẹ trong con đã khác, con thương mẹ nhiều hơn. Biết rằng vì mẹ khổ mà chưa có cơ hội chuyển hóa nên làm con khổ lây. Bao nhiêu điều chưa nói ra được bao năm, nay con có cơ hội chia sẻ hết bằng cách nói không một chút trách móc, giận hờn qua từng lá thư con gởi về. Mẹ đọc và tiếp tục khóc. Mẹ nói lúc xưa còn trẻ, lo cơm áo gạo tiền tất bật, chưa có nhiều kinh nghiệm dạy con, lại chồng chất bao nỗi đắng cay một mình nơi xứ lạ, mẹ vô tình trút giận lên con, bây giờ biết thương thì nó đã đi xa mình rồi… Nghe mà sống mũi con cay cay…

Con tự nhủ nếu không được đi tu, chắc gì con đã chuyển hóa được những nỗi đau của mẹ và hiểu mẹ như bây giờ, mẹ nhỉ? Nhờ được học trở về lắng nghe những niềm đau, những vụng về của mình mà trái tim con mở ra, tình thương cùng sự chấp nhận cứ thế tự nhiên đến mà con không cần cố gắng một chút nào cả. Càng thực tập, càng hiểu mình, con lại càng gần với mẹ hơn. Hai mẹ con mình chia sẻ được với nhau thật nhiều điều: từ chuyện gia đình, chuyện xã hội, chuyện cuộc sống xung quanh. Con thấy mẹ vui hơn, hay cười, suy nghĩ cũng tích cực ra. Mẹ lại hay quan tâm đến những người khốn khó hơn mình, giúp được tí gì là mẹ làm mặc dầu nhà mình cũng không khá giả hơn ai. Mẹ biết quay về nương tựa năng lượng thương yêu của Đức Bồ tát Quan Thế Âm, cứ sáng sáng chiều chiều, mẹ lại thành tâm thắp nhang. Con hay gọi vui nơi đặt tượng Đức Bồ tát trước nhà mình là “góc yên bình” của mẹ, nơi mẹ hay trở về nương tựa, chia sẻ mỗi khi muộn phiền hay lo lắng bất an. Có lần con hỏi: “Vậy mỗi lúc thắp nhang, mẹ nguyện cầu gì?” Mẹ nói: “Thì cầu cho gia đình mình an vui, khỏe mạnh, cho con tu tập giỏi”.

Vậy là bây giờ mẹ không còn muốn kêu con về với mẹ như những năm đầu nữa rồi, mẹ cũng ít khóc hơn xưa. Những khi nghĩ về mẹ với bao hy sinh cho ba và tụi con, chẳng bao giờ thảnh thơi mà đi đâu lâu, cũng đâu có cơ hội đi đây đó nhìn cuộc đời rộng lớn ra sao, con lại ý thức hơn mà sống cho thảnh thơi và đi cho mẹ. Mỗi khi có cơ hội đi khóa tu, tới một vùng đất mới, con lại cố gắng mở mắt thật to, cảm nhận cho hết lòng vì biết mình đang đi luôn cho ước mơ của mẹ. Em bé trong mẹ được tung tăng, vui vẻ hồn nhiên trở lại bởi em bé trong con đang từng ngày được chăm sóc, được sống một cuộc đời mới, ý thức hơn, bình an hơn. Hai mẹ con mình như hai em bé, đang nắm tay nhau đi về phía mặt trời, nơi mà hai bên đường thơm nức mùi cỏ dại, có bướm, có hoa, có nụ cười tươi sáng cùng những bước chân thật an bình. Biết ơn vô cùng tình thương của Bụt, của Thầy, của Tăng thân để giờ đây, con có thể tiếp tục viết tiếp những ước mơ của mẹ, ước mơ tưởng chừng thật nhỏ nhoi mà khó thực hiện vô cùng.

Và bỗng nhiên con thấy cô bé nhỏ ngày xưa đang nhìn con… mỉm cười!

Con gái nhỏ của mẹ.

Như mới hôm qua

Những cơn mưa kèm theo không khí lạnh kéo dài từ ngày này sang ngày khác. Con thích Huế nhưng chẳng thích những cơn mưa ở xứ này tí nào. Mới đó mà con đã tròn một tuổi trong gia đình tâm linh, mọi chuyện tưởng chừng như mới xảy ra hôm qua thôi. Những dòng ký ức hiện về trong con như một cuốn phim được trình chiếu lại, con gọi tên những cảm xúc đi lên, chợt vui chợt buồn len lỏi trong lòng như những luồng khí lạnh xứ Huế, len lỏi trong từng chiếc lá rồi bất ngờ tạt vào cơ thể.

Sinh ra từ một miền quê trên dải đất miền Trung, Phú Yên tạm gọi là yên bình nhưng cũng không tránh khỏi những thiên tai. Tuổi thơ con thật ấm áp trong tình thương của ba mẹ. Là con gái một trong gia đình nên phần nào đó con hơn bạn bè nhiều thứ. Cứ tưởng rằng cuộc sống của con cũng sẽ mãi đi theo dòng chảy của xã hội với ý niệm học hành đàng hoàng, công việc ổn định, có được người thương rồi sau đó là một gia đình đầm ấm, như vậy gọi là hạnh phúc, ba mẹ sẽ mát dạ và dòng họ sẽ được cái gọi là “nở mặt nở mày với thiên hạ.” Nhưng với con, những cái đó con chẳng bao giờ hình dung hay tưởng tượng ra được. Con thấy mình cần một hướng đi mới, phải làm sao chọn được con đường mà bản thân con muốn đi. Những suy nghĩ ấy cứ ấp ủ trong con nhưng con chưa định hình một cách rõ ràng được. Rồi theo năm tháng, tuổi mới lớn đã hướng con đi theo một lối khác, dần dần những ý niệm “chọn cho mình hướng đi mới” đã mờ nhạt trong con.

Lớn lên đi học xa nhà, môi trường và những người bạn mới, cuộc sống nhộn nhịp tất bật vô tình đã cuốn con đi lúc nào không hay. Con bắt đầu lao vào những cuộc chơi. Mãi rồi cũng chán. Có lúc con sợ phải đối diện với bản thân mình, con sợ cái trống trải trong lòng. Và lúc con mất phương hướng cho tương lai thì cái phao cứu sinh được thả ra để con nương vào.

Sau giờ học trên lớp, con về phụ bếp ăn sinh viên của chương trình Hiểu và Thương của các bác Tiếp Hiện. Con được các bác hướng dẫn thực tập các pháp môn căn bản của Làng Mai như thiền ăn, thiền thở, thiền im lặng… Con bắt đầu cảm thấy thích cách thực tập mới này vì đã đem lại cho con một cảm giác gì đó rất mới mà con chưa xác định và gọi tên được. Con bắt đầu tập nghe Đường xưa mây trắng, nhưng mỗi lần nghe là con đều ngủ quên. Cuối tuần, chị em làm việc trong bếp hay đến trung tâm bảo trợ xã hội để giúp những cụ già và những bạn trẻ bị bệnh tâm thần. Lần đầu tiên tới đây con đã bật khóc vì thấy mình được may mắn làm người và có được tình thương từ gia đình, bạn bè. Chúng con gọi ngày đó là ngày Chủ nhật thương yêu. Sau lần đi đó con đã suy nghĩ rất nhiều và con thấy mình phải sống khác, phải tìm cách nào đó để có thể giúp được những người đang gặp khó khăn. Lý tưởng năm xưa trong con trỗi dậy và hạt giống bồ đề trong con đang chuyển mình. Con quyết định đi tu. Nhưng làm sao để đi được khi ba mẹ chỉ có một mình con để nương tựa lúc về già. Nghĩ đến đó thôi là con thấy mình chẳng thể nào đi xa được rồi. Cuối cùng con quyết định xin việc làm. Con may mắn được một chị giám đốc người Nga nhận việc ngay sau khi phỏng vấn. Có được công việc khá tốt vậy mà con chẳng thấy vui tí nào, thấy mình không thích hợp trong môi trường này vì không đem lại hạnh phúc thật sự. Mọi thứ con đang có chỉ là sự hào nhoáng bên ngoài. Sau nhiều lần suy nghĩ, con quyết định trốn nhà đi tu dù biết ba má sẽ rất sốc khi nghe tin này. Con bất chấp tất cả, phải thử mới biết được. Vậy là con xin ra Diệu Trạm tập sự xuất gia.

Mới ở tu viện được hai ngày, hôm đó con đang ngồi ăn chiều thì ba má con xuất hiện. Mặc dù đã chuẩn bị tinh thần trước nhưng con vẫn sợ bị bắt về. Ba má con khóc rất nhiều. Cái tội to đùng của con là dám trốn nhà đi tu. Ba má dùng mọi lời lẽ để khuyên con về, từ lời nói nhẹ nhàng rồi chuyển qua nặng nề. Vốn thừa hưởng cái tính ngang ngạnh của ba nên lúc đó con nguyện là có chết cũng không về. Ba má cứ nói, con thì trơ trơ ra đó dù biết ba má đang rất đau khổ. Quý sư cô phải giúp, con mới chia sẻ được với ba má. Con nói lên ước muốn của con, muốn sống thật sự với chính mình, không muốn bị trói buộc vào tình cảm nhỏ bé, muốn hòa vào tình thương lớn với tăng thân, có như vậy con mới giúp được con, giúp gia đình và xã hội. Nghe con chia sẻ má lại càng khóc to hơn, ba càng giận dữ hơn. Ba bảo ba rất thất vọng vì bao nhiêu tình thương và hy vọng ba đều đặt vào con hết. Má thì chỉ nói ba từ “đồ bất hiếu.”

Lúc đó con buồn lắm, con nghĩ tại sao ba má thương con mà không hiểu con tí nào. Ba má càng nói vậy thì con càng nên ở đây để chứng tỏ rằng con đường mà con chọn không hề sai. Bên ngoài mưa như trút, sấm chớp liên hồi. Bên trong không khí vô cùng nặng nề. Cuối cùng ba bảo nếu con không về thì ngay bây giờ ba sẽ tự tử rồi con muốn làm gì thì làm. Nghe ba nói thế má càng khóc to hơn, má bảo nếu ba chết thì má cũng sẽ chết vì má không sống nổi nữa. Con thật sự bối rối không biết giải quyết ra sao để tạm thời giảm đi sự căng thẳng. Cách còn lại là con quỳ xuống xin ba má để cho con ở lại đây. Không khí càng căng thẳng hơn. Sư cô XN chia sẻ rồi khuyên ba má thật nhiều và: “Nếu hai bác đem em về mà em có chuyện gì thì hai bác cũng không sống nổi đâu!”. Nghe đến đây má bắt đầu sợ con sẽ chết, thế là tình thế đảo ngược lại. Thật may mắn cho con, cuối cùng thì bầu không khí căng thẳng dần dần giảm xuống, ba má cũng chịu suy nghĩ lại. Tối đó cả nhà con được ngủ chung với nhau, con nằm giữa ba má và suốt đêm nghe ba má trách móc hoài, lôi bao nhiêu chuyện ra để khuyên con về nhà. Con chỉ biết im lặng để lắng nghe thôi.

Sự mầu nhiệm đã xảy ra. Buổi hô canh ngồi thiền sáng hôm sau đã làm ba con có chút gì đó thay đổi trong lòng. Thế là con được ở lại mặc dù ba má không thoải mái cho lắm. Con cứ tưởng mọi việc đã ổn để con đặt hết lòng vào sự thực tập, nhưng mọi chuyện chưa dừng lại ở đó. Những cuộc điện thoại liên tiếp gọi đến báo tin về ba má. Sau khi ở Huế vào, vì buồn quá nên ba đã bỏ nhà đi chẳng thấy về, còn má thì đau khổ không thiết ăn uống phải nhập viện. Mọi thứ đến quá bất ngờ, con có cảm tưởng như chính mình là nguyên nhân gây ra đau khổ cho gia đình và dòng họ. Bao nhiêu lời trách móc, đổ lỗi đều ụp lên đầu con một lúc. Về hay ở? Câu hỏi đó cứ liên tiếp bám lấy con. Con quay về nắm lấy hơi thở để chế tác bình an trong lòng nhưng sao khó quá. Bên ngoài nhìn con có vẻ an nhưng bên trong thì vô cùng xáo trộn. Con quyết định xin phép quý sư cô về nhà một tuần để sắp xếp và thuyết phục ba má bằng những gì con đã được thực tập trong một tuần qua.

Thời gian về nhà, những cuộc tranh luận không có hồi kết, chung quy cũng chỉ chuyện lo cho con không chịu được cuộc sống ở chùa vì từ nhỏ con quen được nuông chiều. Riêng bản thân con luôn nhìn nhận nó theo hướng tích cực, khi có quyết tâm thì tất cả không thành vấn đề. Sống đúng theo lý tưởng và con đường mình lựa chọn là mang lại hạnh phúc cho con rồi. Hạt giống bồ đề trong con đang chuyển mình vươn lên để tiếp tục sự sống mầu nhiệm. Và cuối cùng thì con cũng được tái sinh trong gia đình Cây Sồi Đỏ.

Vu Lan năm nay có lẽ là những ngày hạnh phúc nhất của con. Nhân mùa báo hiếu, đại chúng tổ chức ngày sinh hoạt dành cho gia đình của quý thầy, quý sư cô, con mời ba mẹ ra tham dự và ba đã có mặt tại Diệu Trạm. Ba thực tập rất hết lòng. Con thấy ba đã tìm lại được hạt giống của tuổi thơ trong mình, ba còn biết làm nũng với quý sư cô để được sự quan tâm. Ba thương tất cả quý sư cô và mỗi khi về nhà, ba nói là ba nhớ quý sư cô lắm. Con nói với các chị em là ba thương các chị em hơn thương con nữa nên con cũng muốn ganh tị với các chị em. Những ngày ở lại Diệu Trạm việc gì ba cũng làm, từ đẩy rác đi đổ đến nhặt rau, quét sân, xếp thiền đường. Ba đã chuyển hóa trong cách suy nghĩ. Đi tu không khổ như ba từng nghĩ.

Trong khóa tu cũng có các em tập sự trốn nhà đi tu như con trước đây và cũng bị ba mẹ ra bắt về, mẹ các em cũng khóc và làm dữ lắm. Ba đã có một bước đột phá, theo suy nghĩ của con, vì ba đã hết lòng khuyên mẹ của một em tập sự để em đó được ở lại tu học. Khi cô không chấp nhận cho em ở lại, em đã trốn nên cô tìm khắp tu viện mà không thấy, vậy là cô ngồi ngay cửa nhà ăn mà khóc. Ba nhẹ nhàng đi đến và ngồi xuống bên cạnh thủ thỉ: “Thôi, chị về chăm sóc những đứa con ở nhà đi, chị còn tới mấy đứa nữa. Tui đây nè, tui chỉ có một đứa con gái duy nhất, lúc nó trốn nhà đi tu tui cũng khóc, cũng đòi bắt nó về dữ lắm. Nhưng bây giờ tui thấy nó đi tu vậy mà hay. Tui chừ không những có một đứa con mà tui có cả đàn con để thương, sư cô nào cũng dễ thương hết. Chị cứ cho cháu ở lại đây tu đi, khi nào tui ra thăm tui sẽ ghé nhà chị rủ chị đi cùng…” Nghe ba nói vậy con thấy ba đang làm một hành động rất dễ thương, đâu đó trong lòng ba đã bắt đầu nhen nhúm được hình ảnh đẹp của một người tu rồi.

Vừa rồi nghe tin má bệnh phải nhập viện, được sự cho phép của quý sư cô, con cùng với một sư em về chăm sóc má một thời gian. Má con rất xúc động khi hai chị em con về có mặt hết lòng cho má. Mấy dì mấy cô thấy con “đẹp” hơn ngày trước nên cũng an tâm là trong chùa cháu mình sống không khổ như họ tưởng. Bây giờ má thấy mình chẳng những không mất con mà ngược lại, má có rất nhiều con gái. Con thấy khi con thực tập có hạnh phúc đủ và biết cách trở về nhận diện những hạnh phúc đang có mặt thì chắc chắn ba má ở nhà cũng sẽ có được niềm vui và bình an. Sinh nhật thôi nôi gia đình cây Sồi Đỏ, ba ra có mặt cho con và đại chúng. Ba chia sẻ sự thực tập, nói lên niềm biết ơn tăng thân đã chăm sóc và dạy dỗ con. Bây giờ con đã thay đổi nhiều lắm. Con đã biết nấu ăn dù chưa ngon, chưa giỏi như các sư chị, con biết làm nhiều việc mà ở nhà con chưa từng làm. Năm nay ba má hứa sẽ ra Diệu Trạm đón Tết cùng đại chúng. Vui hơn nữa là sáng nay con gọi điện về hỏi ba có đi khóa tu tiếng Việt ở Thái không, ba bảo ba sẽ đi, nếu ba không đi được thì má sẽ đi. Con nghe mà mừng lắm, vừa về phòng con tin cho các chị em liền. Con thấy mỗi khi chia sẻ niềm vui của con đến các chị em thì y như niềm vui ấy lớn lên thêm.

Một năm đã trôi qua với bao nhiêu thử thách, con thấy mình vẫn còn nhiều phước đức từ ông bà tổ tiên để lại khi con được mang hình tướng của người tu. Con trân quý những tháng ngày được sống trong vòng tay của tăng thân, giúp con lớn lên từng ngày trong suy nghĩ và thực tập, làm việc. Con vô cùng biết ơn ba má là những vị “Bồ tát nghịch duyên” để con xác định rõ hơn con đường mà con lựa chọn. Con muốn làm chiếc cầu nối giúp ba má tiếp xúc với pháp môn để hiểu tại sao đây lại là con đường con gái mình lựa chọn mà không phải là con đường nào khác. Con thấy mình vô cùng an toàn khi sống trong vòng tay của tăng thân, thực tập uy nghi, giới luật giúp con được bảo hộ trước nhiều cám dỗ mà lắm lúc con phải đắn đo suy nghĩ để chọn hướng đi cho chính mình. Tuy không được Sư Ông dạy dỗ trực tiếp nhưng con luôn thấy được hình ảnh của Sư Ông nơi mỗi sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị và sư em của con. Trong con luôn có Sư Ông trong từng bước chân và hơi thở ý thức. Đất Tổ rất linh thiêng để cho con cắm rễ sâu hơn trong sự thực tập hằng ngày. Chỉ cần một hơi thở nhẹ, là bao phép lạ hiển bày. Giờ đây con đã nhận được sự yểm trợ từ gia đình, điều đó luôn làm động lực để con cố gắng nhiều hơn trong việc tu học. Con cúi đầu tri ân ba má đã hiểu và thương con thật sự, tri ân tăng thân đã giúp con và ba má con chuyển hóa để cuộc sống gia đình con có ý nghĩa hơn. 

 

Đến tận cùng vẫn là phút đầu tiên

Mới chiều qua, giọng mẹ tôi reo vui qua điện thoại: con biết không, cách đây mấy hôm, trong một buổi sáng ngồi uống trà, ba nói với mẹ là: “ba có tìm vé xem có rẻ không, rồi mình qua Làng thăm KN một chuyến, chắc là KN bất ngờ lắm.” Tôi cảm được niềm hạnh phúc của mẹ khi báo tin đó cho tôi. Tôi nghe mà như mơ. Dù ba mẹ có qua được hay không, thì tôi cũng đã mãn nguyện thật sự rồi. Bởi lẽ…

Trở về chín năm trước đây…

“Con mà đi tu, chắc chắn hạnh phúc gia đình sẽ đổ vỡ. Con liệu đó mà làm. Con là chị đầu đó, rồi ba đứa em con nó sẽ thế nào? Bao nhiêu kỳ vọng ba mẹ đặt vào con hết rồi bây chừ ra ri đây hả!”

– “Ba làm sao mà ăn nói với bà con và với mấy thầy cô trên trường đây. Cho ăn học đâu vào đó để rồi bỏ mà đi tu hả ?”

– “Được chỗ làm như con bây giờ ở Huế đâu phải ai muốn cũng được đâu? Dạy đại học chưa làm con đủ hạnh phúc sao?”

Tôi cúi đầu im lặng. Biết là ngôn ngữ không thể giúp tôi thuyết phục được ba trong lúc này. Tôi chỉ biết cầu nguyện và chờ đợi. Tôi kiên nhẫn đợi một dịp khác, canh hoài canh mãi xem ba thật sự vui thì mới dám hó hé. Lần này, ba càng dứt khoát hơn: “Muốn đi thì đi đi, không ba không con gì nữa hết. Đừng có mà nói nhiều.”

Và rồi, tôi quyết định “bỏ nhà đi bụi” để mong ba chuyển ý. Tôi viết thư để lại nói là ba mẹ đừng lo gì cho tôi hết, tôi chỉ muốn có thời gian thật sự cho cả ba và tôi cùng nhìn lại quyết định xin xuất gia của tôi mà thôi. Tôi cần không gian yên lắng cho quyết định của mình được chín chắn và tôi nghĩ ba cũng vậy. Tôi nói trong thư là chừng nào ba đồng ý thì tôi mới về lại nhà. Tôi đợi đến lúc cả nhà ngủ thật ngon, khoảng 2 giờ khuya, tôi vác một cái ba lô con trên vai, đi bộ ra đầu cầu An Cựu. Gặp may có một chú xe thồ ở đó. Tôi nhờ chú chở cho lên địa chỉ mà tôi cần tới. Nghĩ lại mới thấy mình quá ư là liều mạng, thân gái giữa khuya một mình trong thành phố! Sao lúc đó trong tôi không có một nỗi sợ nào. Có thể, chư vị hộ pháp đã có mặt cho tôi ngay những phút giây đầu tiên đó. Bảy ngày đó đến bây giờ vẫn còn là một bí mật. Tôi đã đi đâu? Đã làm gì? Ai đã “chứa chấp” tôi trong những ngày này?

Tắt nguồn máy di động, không liên lạc bất cứ một ai. Với tôi, những ngày đó quả thật đã un đúc mạnh mẽ hơn chí nguyện của mình. Nhưng còn ở nhà, một tai họa lớn đã xảy ra. Với một gia đình từ lâu nay được nhìn với cặp mắt gia giáo, mẫu mực, việc bỏ nhà đi của một đứa con gái là một chuyện không thể tưởng tượng được. Hơn nữa, trước đó trong mắt mọi người tôi quả là người hạnh phúc, có đầy đủ gia đình huyết thống và tâm linh bên mình, không hề tỏ một thái độ nào “chán đời” hết. Cả nhà cuống cuồng lên, gọi điện khắp hết tất cả những ai có can hệ tới tôi. Tôi đâu biết rằng chuyện “nó bỏ nhà đi rồi” là một cái gì đó rất tủi nhục và xấu hổ vô cùng cho cả nhà… Chuyện ầm lên tới chùa Tổ. (Có một thời gian ba tôi có giúp quý Thầy học ngoại ngữ nên nhiều Thầy rất thương quý ba. Còn tôi thì khỏi nói, ngày mô mà tôi chẳng có mặt.) Tin tôi bỏ nhà đi làm ai cũng sốc. Chẳng hiểu chuyện gì xảy ra trong cái gia đình mà ai ai cũng nghĩ là quá ư lý tưởng đó. Ba tôi lên cầu cứu Sư thúc, cầu cứu Thầy giáo thọ, hy vọng có chút manh mối để lần tìm nơi tôi ở. Nhưng như tôi đã nói, tôi không hề liên lạc với một ai. À, chỉ có một người (tôi xin giấu tên) nhưng cũng chỉ để hỏi xem tình hình gia đình và xem ba đã có đổi ý gì chưa mà thôi.

Nhưng tôi đã tính sai nước. Tôi cứ hy vọng là mình bỏ nhà đi như vậy chỉ một vài hôm thì ba sẽ thay đổi. Nhưng không hề. Ba tôi còn cao cơ hơn tôi nhiều! Tôi không thể ở ngoài lâu hơn được. Vấn đề không phải là chỗ ở mà chính là công việc của tôi chỉ sắp xếp nhờ người dạy thế chỉ được chừng đó thôi. (Lúc này, tôi chưa có tin tức gì về giấy tờ bảo lãnh đi Làng nên chưa dám nghỉ việc.) Tôi đành vác mặt lủi thủi về. Thời gian này là gần Tết. Và chính tôi đã làm cho không khí gia đình thật khó thở vào những ngày đúng ra là phải vui vẻ để đón Xuân. Tôi về, càng lầm lỳ hơn trước, chẳng nói chẳng rằng gì, hỏi đi đâu tôi cũng chỉ làm mặt ngầu im lặng. Vào phòng đóng cửa không tiếp xúc một ai, chỉ ra ngoài khi có giờ lên lớp. Lúc đó, thật tội mẹ vô cùng, mẹ đâu có cản trở tôi, nhưng vì là người đứng giữa nên mẹ đã khó xử như tơ vò trăm mối. Giận ba, tôi cũng không còn sáng suốt để không giận lây mẹ và các em. Tôi chặm bặm cái mặt thật khó coi trong suốt một thời gian dài. Tôi đã nói trong bụng rằng muốn tôi vui lên, chỉ có một cách: cho tôi đi tu. Nếu không, thì phải rán chịu vậy!

Ai tính được những cơn đau chợt đến

khi giữa lòng bao day dứt

vấn vương. (*)

Tôi lẳng lặng sắp xếp mọi chuyện ở trường. Từ chối lần những giờ dạy. Tôi cáo bệnh và xin được nghỉ một thời gian để đi xa trị bệnh. Đơn giản chỉ có thế, nên trên trường coi như không ảnh hưởng gì. Tôi nghe nói là trong một năm đó, họ cứ gọi điện nói mẹ tôi qua trường nhận lương về cho tôi có chi phí trị bệnh. Mẹ không biết phải nói thế nào về thiện ý đó của họ. Nhận thì không được rồi, nhưng phải nói làm sao đây. Một năm sau, khi tôi đã ổn định bên này rồi, mẹ tôi mới dám nói sự thật.

Sư cô Chân Không đã lo cho tôi đâu vào đấy mọi giấy tờ và gọi tôi phải ra gấp chùa Đình Quán để chuẩn bị đi phỏng vấn. Chỉ đợi có thế và tôi quyết định lên đường ngay. May vô cùng là những ngày này ba tôi đi công tác xa. Mẹ và mấy em tôi tiễn lên ga Huế để ra Hà Nội vào một đêm mưa. Buồn não ruột. Trong tôi, lúc đó dù có thích tu mấy đi nữa cũng thấy đau buốt trong lòng khi thấy cảnh dưới toa tàu mẹ đang đưa tay lau vội hai dòng nước mắt. Rồi ba về, mẹ sẽ ăn nói thế nào đây? Thương mẹ một mình, có chịu nỗi trời đông! Gia đình sẽ phải chịu đựng không khí âm u này đến bao giờ? Một sự chịu đựng phi thường như trước đây mẹ đã từng như vậy, đang hiện lên trên khuôn mặt hao gầy của mẹ. Tàu chạy. Tôi khóc như mưa trút nước. Khóc thật đã đời, vì trước đó tôi bận đóng mặt ngầu, lạnh lùng như sắt đá nên chẳng có giờ nghĩ đến chuyện khóc.

Ngồi trên tàu, tôi gởi cho ba một tin nhắn nhỏ, xin ba tha thứ là tôi đã lên đường. Và đau đớn thay, tin nhận được là một lời khẳng định rằng từ nay đừng có liên lạc gì với ba nữa hết. Ba đã từ tôi. Nói là từ nhưng ba chưa chịu dừng việc cản bước của tôi đâu. Ba tiếp tục lên cầu cứu với Sư thúc và Thầy giáo thọ. Nghe nói ba đã quỳ dưới chân hai vị đó và khóc thật thảm thương. Ba tìm đủ mọi cách, từ điện thoại, đến email, ba gởi thư qua tới Làng, gởi hết tất cả những địa chỉ email của các xóm từ Thượng, đến Hạ, và xóm Mới, nói là tuyệt đối không được nhận tôi. Tôi ngạc nhiên vô cùng khi tôi mới tới Làng ngày đầu thì ai cũng tới hỏi: Ủa, em là Tm  ở Huế phải không? Như thể là tôi đã được nhắc tới từ lâu rồi. Thì ra là ba tôi đã vô tình làm cho tôi “nổi tiếng” ngay khi chưa có mặt ở Làng. Mẹ còn bật mí là ba đã nói mẹ lục tìm hộ chiếu của tôi khắp nơi, nhưng may là không tìm ra. Tôi thật là không cố tình cất kỹ, nhưng có thể chư Bụt đã giúp tôi.

Những ngày ở Đình Quán cũng hồi hộp không kém. Tôi ngày đêm cầu nguyện cho giấy tờ được thông suốt để bay cái vèo tới đâu cũng được, miễn là ra khỏi VN để khỏi lo gia đình bắt về. Biết tôi đang gặp nhiều khó khăn từ gia đình, giấy tờ lại trục trặc, Sư Cô Chân Không luôn gọi điện về khích lệ tinh thần tôi, gởi kèm lời nhắn thương yêu của Sư Ông nữa, nên trong tôi đang được tiếp sức. Tôi mang ơn Sư Thầy Đình Quán vô cùng. Hai tháng ở đó thật quý giá với một người đang xin được tập sự xuất gia như tôi. Tôi học được rất nhiều qua thân giáo của Người, qua sự khiêm hạ và hết lòng có mặt cho những chướng ngại vật đầu tiên trong quãng đời tu sau này của tôi. Không có sự cưu mang, đùm bọc đầy tình thương lẫn tuệ giác của Người thì chắc chắn tôi đã bị túm cổ về rồi. Hết ba, đến ôn nội tôi liên tiếp gọi ra chùa và nhất định đòi Sư Thầy đừng cho tôi “tá túc”. Sư Thầy thật thông minh vô cùng và chính Sư Thầy đã cứu tôi sau cú điện thoại đó. Tôi nhớ chiều đó Ba tôi gọi ra và cho Sư Thầy hay là sáng mai ba sẽ ra bắt tôi về. Rứa là Sư Thầy nói liền: Anh đừng có mà dại. Anh muốn mất con gái thiệt hay không? Thà nó ở đây thì anh còn biết đường mà lần. Còn nếu tôi cho nó biết là ngày mai anh sẽ ra đây, chắc chắn nó sẽ trốn chùa đi trong đêm nay và lúc đó thì tôi cũng không biết nó ở đâu mà giúp anh luôn. Anh tính sao? Có định ra nữa hay không? Nếu còn chút sáng suốt, xin anh đừng lên đường…”

Và ngay tối đó, Sư Thầy cho gọi tôi vào và quyết định ngay: Khuya nay 4 giờ, con sẽ được Thầy xuống tóc. Tôi khá bất ngờ, nhưng hiểu ngay liền rằng dù gì cũng phòng hờ lỡ ngày mai ba làm liều ra tận đây thì… đầu cũng đã rụng tóc! Và Sư Thầy cũng đang tính đưa tôi qua một ngôi chùa khác ở lánh (đi trốn) vài ngày. Hình ảnh đêm khuya hôm đó tôi không thể nào quên. Trên chiếc gác xép phía sau chùa, Sư Thầy Đàm Nguyện cùng Sư Thầy Tịnh Quán và một vài sư cô khác nữa đã làm lễ xuống tóc cho tôi. Chỉ xuống tóc thôi chứ không nhận giới gì hết, nhưng đó là buổi lễ tiền xuất gia của tôi. Thật ấm cúng và cảm động vô cùng.

Giữ mình giữa những phù vân

thì mây phiền não

khó gần

được ta. (*)

Suốt một năm rưởi tôi và ba không liên lạc nhau. Nhưng thú thật là tôi luôn canh cánh bên lòng những thao thức, trăn trở tìm cách gỡ mối tơ vò trong lòng ba và tôi. Nói là không để tâm nhiều, nhưng sâu thẳm trong tàng thức tôi nó đang hướng về. Sau ngày tôi đi tu, ba tôi cũng đi nghiên cứu thêm ở Mỹ khoảng 8 tháng và thế là… cơ hội đã đến!

Ba tôi là một giảng viên đại học, nhưng đồng thời cũng là một nhà thơ. Ba đi công tác nhiều lắm, trong nước cũng có, ngoài nước cũng có. Mà lạ là chỉ những lần xa nhà thì ba mới ra thơ.

Đời anh

những cuộc hành trình

đi xa là để

thấy mình

rõ hơn. (*)

Tôi thích thơ ba lắm. Thơ ba nhẹ như hơi thở và sâu thẳm vô cùng.

Tôi không thể dùng lý luận để thuyết phục ba tôi, vì về lý, ba chẳng cần tôi phải nói gì thêm. Đọc thơ ba cũng đủ thấy là ba tôi thấm đạo đến đâu rồi. Nên tôi biết, có cố gắng thêm gì cũng càng bít lối giữa ba và tôi. Tôi không thể nói chuyện về lý tưởng nọ kia gì ráo với ba. Tôi tiếp tục im lặng, chỉ chú tâm lo về phần tu học của mình trước đã. Bẵng tin một thời gian, một hôm mẹ tôi gọi điện qua với một giọng rất vui. Mẹ khoe liền: “Con biết không, ba bây chừ thay đổi rồi, ba được gặp lại một người bạn học cũ, và bác ấy dẫn ba đến sinh hoạt chung với Tăng thân Lá Bối ở Cali.”

Bạn ngồi ngẫm phù vân

Tôi đứng nhìn danh lợi

Thôi rong tìm, trông đợi

Thong thả mỗi bước chân. (*)

Một buổi nọ, theo lời kể của ba sau này, ba tôi ngồi thật yên bên chung trà và ba đã òa khóc khi nghe bài “Tìm nhau”.

Con đã tìm ra Thế Tôn

Con đã tìm ra con

Nước mắt con không cầm nổi

Một cơn xúc động đã xâm lấn cõi lòng của ba, hay chính vị Bụt trong ba đang rơi những giọt nước mắt tỉnh thức. Ba chợt nhận ra những sợ hãi, lo lắng, những bất an… của những ngày qua… Bây giờ mới có giờ lắng lòng, nhìn lại,…

Dù cho đất trời đã lên cơn bão tố,…

nhưng cuối cùng trong con

mưa cũng tạnh,

mây cũng tan

nhìn ra cửa sổ con thấy vầng trăng khuya đã hiện

và đất trời đã thật sự bình an.

Qua bài hát Tìm Nhau, ba tôi đã thật sự cảm thông khi chạm đến mối tình thầm kín và linh thiêng của con gái mình với Bụt, với Tăng thân khi nó quyết định bỏ lại sau lưng tất cả để đi theo tiếng gọi cao cả ấy. Thế Tôn đã chờ đúng thời điểm để lên tiếng gọi. Và chính ba đã mở cánh cửa lòng mình để đón chào phút giây mầu nhiệm ấy. Cánh cửa đã mở ra thật rồi. Đã mở ra một lần và sẽ mở ra mãi mãi. Đâu phải ai cũng may mắn có được những giây phút linh thiêng chấn động tâm can như vậy trong đời mình! Từ sau giây phút đó, có thể nói ba tôi không còn là ba tôi trước đây nữa.

Tôi thấy rõ là không phải Bụt trong ba trước đây đã ngủ quên mà chính Bụt đang thử lòng tôi. Tôi chẳng tu tập gì giỏi cho lắm đâu, chỉ là phước đức ông bà để lại nên tôi đã nương theo mà may mắn leo qua nổi đoạn đèo dốc cao thật là cao ấy. Thú thật là có lúc tôi cũng đã hụt hơi. Và chính những người leo núi cùng tôi luôn có mặt tiếp sức cho tôi kịp lúc.

Chưa gánh nặng qua đời

lưng chưa đẫm mồ hôi

làm sao đến

phút nhẹ rơi của lá?

Phải đi từ cái xanh biếc của chồi

cái hồng thơm của quả

mới hiểu hết sắc vàng của những chiếc lá khô. (*)

Tôi chỉ mới kể đôi chút những truân chuyên vào khoảnh khắc tôi quyết định dứt áo ra đi. Cũng còn khá nhiều những ngõ ngách mà tôi đã phải “luồng lách” để đi qua. Khá vất vả. Nhưng nghĩ lại, giai đoạn đó sao mà tâm tôi cứng như chì vậy đó, chẳng gì lay chuyển nỗi tôi, dù đó là tình phụ tử. Thật ra, không phải tôi không bị mềm lòng đâu, nhưng sự thật là tôi có một niềm tin rất lớn rằng với đời sống xuất gia, với công phu tu tập của tự thân thì một ngày rất gần ba tôi sẽ thấu hiểu. Cảm ơn ba thật nhiều đã âm thầm tạo ra những nghịch duyên để giúp tôi thấm sâu hơn cái sắc vàng của những chiếc lá khô.

Với tôi, mãi mãi vẫn là phút đầu tiên, là tâm ban đầu dũng liệt phi thường, là khởi điểm cho dòng suối tâm linh tìm về nguồn cội. Phải đi qua những thác ghềnh, ngay những phút đầu tiên, như ba tôi vẫn thường nhắn nhủ: muốn có ngay không dễ, phải lao nhọc đầy vơi. Đúng thật, phải đầy vơi những niềm đau, thì hạnh phúc mới chín ngọt.

Hạnh phúc không vào đời

bằng

lối đi riêng

dễ gì đến đại dương

phải làm mưa vào đất.

Vượt sa mạc vàng khô

dòng nước sẽ

thanh khiết nhất

trước mặt

biển rồi

vực thẳm

vẫn chờ kia.(*)

Ba tôi vẫn luôn cho tôi những homework (bài tập về nhà) để làm, để chơi, để thử sức mình. Bây chừ nhìn lại, Chuyện xưa như mới hôm qua, quay nhìn sao nắng cứ nhòa lên mi. (*)

Xin được cảm ơn tất cả những nhân duyên để tôi được làm con của người. Nếu được sinh ra trở lại, tôi cũng xin được chọn ba là ba của tôi, và tiếp tục tôi cũng sẽ xin người được xuất gia. Lúc đó, có thể người sẽ chỉ mỉm cười và cú cho tôi một cú thật đau trên đầu: “Ngốc nì, đã “lỡ” tu rồi thì phải tiếp tục thôi chứ xin xỏ gì nữa hả. Con của ba, không đứa nào được phép bỏ dở nửa chừng con đường đang đi, nghe chưa!?” Chỉ một hướng tìm, chỉ một phương đến. Chỉ một. Nhớ nhé, nghe tôi!

Có dịp ngồi chơi với huynh đệ, với chị em chúng tôi bên bếp lửa hồng, chắc chắn bạn sẽ được nghe nhiều hơn nữa những câu chuyện ly kỳ và hấp dẫn. Có người đã chọn hạnh im lặng, có người có duyên được sẻ chia. Dù nói ra hay chưa nói ra, thì tận sâu thẳm trong lòng tất cả anh chị em áo nâu chúng tôi xin được cúi đầu đảnh lễ những người mẹ hiền, những người cha trung kiên đã hết lòng yểm trợ để anh chị em chúng tôi được hội ngộ dưới cùng một mái nhà tâm linh. Đặc biệt, xin tri ân những ba mẹ đã “hết lòng” cản ngăn chúng tôi vào những ngày đầu chúng tôi xin được lìa xa vòng tay ấm của người. Chính trên những lớp bùn quý giá đó mà những đóa sen thơm đang hiển lộ ra từng ngày. Càng tu, chúng con càng hiểu hơn những tình thương thầm lặng đó. Tấm lòng ấy vẫn luôn dõi theo mỗi bước chân, mỗi chặng đường chúng tôi đi qua. Bây giờ và mãi mãi.

Trong tôi có cái gì đang tràn ngập cõi lòng…

Nơi đây, một tấm lòng son, hướng về người…

Đợi gì đến bình minh

môi mới nở nụ cười

khi đôi mắt đêm qua

đã một vầng trăng sáng.

lúc trong trái tim

mặt trời

bừng cháy nắng

chưa hái được hoa hồng

ta vẫn thấy

niềm vui. (*)

———————————

(*)Thơ ba tôi

Con đi xuất gia mẹ nhé

 

Kính gửi mẹ!

Con là đứa con gái út trong gia đình và cũng là đứa con được đón nhận tình yêu thương, sự lo lắng của mẹ dành cho nhiều nhất. Mặc dù mẹ không bao giờ thể hiện nhưng con hiểu rõ lắm mẹ ơi.

Thương mẹ, con đã cố gắng thật nhiều trong học tập, công việc và ngay cả sinh hoạt cuộc sống… khi con sống xa nhà, xa mẹ.

Con luôn tìm cách để đạt những gì thành công nhất như những gì mẹ mong muốn. Con biết đây là những gì con có thể làm để cho mẹ không phải ái ngại với những hàng xóm láng giềng phải không mẹ ?

Nhưng có một việc mà con đang làm mẹ buồn và lo lắng khôn xiết. Đó là việc khi nào con mới lấy chồng. Mỗi lần con gọi điện cho mẹ hay về quê thăm gia đình, con luôn phải tránh né điều này. Cứ khi con nói chuyện với mẹ được một lát, mẹ lại “hát” cho con nghe “bài ca lấy chồng”. Thực sự, lúc đó con cũng buồn lắm mẹ ạ. Vì để mẹ buồn, mẹ lo cho tương lai của con.

Song mẹ ơi, mẹ có biết con cũng đang khổ tâm như thế nào không? Mẹ có biết, khi con biết đến đạo Phật là lúc con đã tâm nguyện đi xuất gia không ạ? Con đã thầm nhận diện đây là con đường rất phù hợp và phải cố gắng đi theo hơn là con đường xuất giá. Do vậy, con đã quyết định theo tâm nguyện ấy.

Nhiều lần con muốn bước trên con đường đạo nhưng con lại nghĩ về mẹ. Về những gì mẹ đang mong muốn ở con nên vẫn đang chần chừ vì không muốn mẹ phải buồn về con.

Vì lẽ đó mà trong lòng con khổ tâm lắm, phiền não lắm, mẹ có biết hay chăng? Vâng, mẹ làm sao mà biết được chứ vì con đã bao giờ thể hiện những điều này cho mẹ biết đâu. Mẹ vẫn luôn nghĩ rằng: con đang làm công việc liên quan đến Phật giáo nên hay phải đến chùa. Mẹ chỉ biết vậy thôi, chứ chưa hề biết tâm nguyện của con.

Con biết nếu bây giờ con nói rằng: “con sẽ đi tu” thì chắc mẹ buồn về con vô cùng phải không ạ? Nhưng có lẽ nào mẹ lại muốn con phải sống “bồng bềnh” giữa ngã ba đường đời như thế này hay sao? Con đã mệt mỏi khi phải gồng mình lên bởi những cố gắng để vượt qua những phiền não đó rồi mẹ ơi.

Con biết mẹ thương con nên mẹ mới mong thấy con cái lập gia thất, có con cái… như bao gia đình khác. Thế nhưng con lớn rồi, đã đủ chín chắn để nhận diện được con đường đi cho mình rồi mẹ ạ.

Vì vậy, con mong mẹ hãy hiểu và chấp nhận sự lựa chọn của con, mẹ nhé. Dù con là người ở tại gia hay xuất gia thì con vẫn là con của mẹ cơ mà. Con có mất đi đâu phải không mẹ.

Mẹ hãy an tâm mẹ nhé!.. Đừng lo lắng điều gì khác mà hãy mỉm cười và hạnh phúc khi con đã có được con đường đi mà đó là con đường đẹp nữa chứ.

Con yêu và thương Mẹ nhiều!

Con của Mẹ

Tâm Đức Hậu

May Mắn Một Con Đường

Thầy Pháp Cứ được xuất gia trong gia đình Cây Lê, tại Bát Nhã, vào năm 21 tuổi.

Thầy là người con có hiếu với ba mẹ cũng như với Tăng thân. Thầy tu học rất hết lòng.

Hiện tại thầy đang ở Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu.

“Nắng lên ngập lối em về

Hoa thơm cỏ lạ hồn quê vẫn còn

Nơi đây một tấm lòng son

Nơi đây chí nguyện mãi còn trinh nguyên.”

Cho đến bây giờ con chưa bao giờ có ý nghĩ sẽ từ bỏ cuộc sống xuất gia của mình, thời gian bốn năm không phải là dài. Sau bốn năm tu học so với con đường phía trước, nó chỉ mới là bước khởi đầu cho cuộc hành trình, đó là một cuộc hành trình mà con phải đi qua để có thể hiểu được chính mình và làm an lạc cho thế giới.

 

Chư vị tổ sư đã sống một đời sống tỉnh thức, không cạnh tranh, không tiền bạc, không chạy theo bất cứ một danh vọng nào của thế gian. Quý Ngài thật trong sáng, tự tại. Con hay đặt câu hỏi tại sao các Ngài làm được như vậy, trong khi đó bản thân mình thì đi theo con đường ngược lại, tìm kiếm thật nhiều tiền để thỏa mãn lòng tham, sống trong  nghi ngờ, ganh tỵ, luôn tìm cách để có lợi riêng  mà không nghĩ đến cái khổ của người khác. Có những lúc con tự hỏi: “Mình là ai, mình đang làm gì?” Song đến bây giờ con mới có thể hiểu được một phần nào đó từ câu hỏi này. Thật may mắn cho con, nhờ phước duyên từ kiếp nào mà con đã được Bụt, Tổ và tăng thân cho con cơ hội tìm lại con người thật của mình để có thể trở về được với bản chất trong sáng và tinh khôi, bản chất của sự không kì thị, trách móc, lên án với bất kỳ ai như lời Thầy thường dạy. Và con có thể sống thanh nhàn, tĩnh lặng mà không phải là con của bốn năm về trước, một người trẻ sống với nhiều tham vọng, lo lắng, chỉ biết lao vào làm việc quần quật để mong sao kiếm được thật nhiều tiền và xây dựng một tương lai mơ hồ trong tâm trí…. Vậy mà khi đó con cho những điều như vậy là hạnh phúc và thành công.

 

Nhân duyên khiến con đi xuất gia có thể là do cảm nhận được quá nhiều đau khổ của cuộc sống và của chính bản thân mình. Có những lúc con cảm thấy mình tuyệt vọng tột cùng, muốn lìa xa cuộc đời để trốn chạy tất cả…Nhưng con cũng thầm biết ơn vì chính nhờ nếm trải được mùi vị của khổ đau mà giờ đây với đời sống xuất gia con càng thêm tin tưởng và trân quý những điều kiện mà con đang có được. Nhờ những khổ đau mà con nhận ra được những nhiệm mầu vốn có của sự sống.

 

Quán chiếu và nhìn lại tính tự lập mà con có được một phần cũng do hoàn cảnh khó khăn từ nhỏ tạo nên. Học xong lớp mười hai con vào Sài Gòn để đi học, trong thời gian đó con đi làm thêm để kiếm tiền phụ anh chị trả tiền ăn, tiền phòng. Con có thể tự lo cho cuộc sống của riêng mình mà không phải nhờ sự giúp đỡ của các anh chị nhiều. Con làm bồi bàn cho một nhà hàng không lâu thì may mắn được chọn làm đầu bếp. Chính thời gian làm ở đây đã cho con học hỏi được nhiều bài học từ cuộc đời. Người đến ăn trong nhà hàng thường là những người có tiền nên đa số họ rất kiêu ngạo, xem người làm, người phục vụ như đầy tớ. Vì mong kiếm được tiền cho nên con đành phải chấp nhận tất cả, hơn nữa nếu mình không làm vừa lòng khách, thì sẽ bị chỉ trích vì lần sau khách có thể sẽ không đến…

 

Một bạn cùng làm tâm sự với con rằng: “Cuộc sống là vậy đó, người nào có học thức, có chút tiền tài thì không phải khổ như tụi mình.” Điều con cảm nhận trong câu nói ấy là sự thiếu vắng tình thương giữa con người với con người, tại sao lại đối xử với nhau như vậy? Khoảng mấy tháng sau con cùng một người bạn ra mở quán ăn ở bên ngoài. Rồi khi quán cơm được hình thành khoảng năm tháng thì những khó khăn bắt đầu xảy đến cho con với biết bao điều buồn tủi, giận hờn khổ đau…. Sau đó con là người phải ra đi. Với con lúc này mọi thứ như đen tối hẳn đi, con chỉ muốn quên đi tất cả. Đối với con lúc đó, cuộc sống thật vô vị, sự ngột ngạt như bao trùm cả một không gian và con cảm thấy hướng đi gần như bít lối. Con trở về nhà anh chị và không làm gì nữa. Chính trong thời gian này, con bắt đầu cảm nhận được sự sống tâm linh của mình. Lúc này tự nhiên con muốn ngồi thiền, đọc những quyển sách về giáo lý của đạo Bụt mà con mượn ở quê của một nhà người quen (nhà ba sư cô Thiện Nghiêm). Ngày qua ngày, dần dần con tìm lại được chính mình nhiều hơn, vì không muốn làm cho ba và anh chị buồn, nên con làm giấy tờ để đi học lại.

 

Sau khi có giấy báo học con về nhà thăm Ba và lấy tiền đóng tiền học, con cũng không quên đi mượn thêm một vài Kinh sách Phật giáo để đem theo. Trước khi đi con tình cờ gặp được Thầy Giác Hưng, ngồi nghe Thầy nói chuyện rồi Thầy lựa cho con những quyển kinh phù hợp. Con không ngờ rằng sau cuộc nói chuyện đó hạt giống xuất gia trong con được nảy mầm. Một tuần sau, con lấy tiền của nhà và chào Ba để đi nộp học mà không nói gì về chuyện muốn đi xuất gia vì sợ Ba buồn. Bởi trong số bảy anh chị em, con là người duy nhất còn đi học nên ba dành rất nhiều ưu tiên và hy vọng ở con, mong con có chút kiến thức để sau này không phải vất vả như các anh chị. Nhìn ba con thấy rất thương và muốn làm cho Người vui lòng khi về già. Ngồi trên chuyến xe khách để vào Sài Gòn mà trong đầu con cứ phân vân và suy nghĩ mãi không biết nên chọn con đường nào đây? Đi xuất gia hay đi học? Con bắt đầu đi lạc vào những dòng suy nghĩ, bao nhiêu nghi vấn về đời sống xuất gia tràn về, không biết trong chùa sống như thế nào? Nếu đi xuất gia thì liệu có hạnh phúc không? Mình sẽ làm gì khi ở đó? Rồi  trong đó có sự giận hờn, trách móc nhau không?… Còn nếu đi học gặp lại những chuyện như trước đây thì phải làm sao?… Nhìn qua cửa kính xe, cảnh tượng người chen chúc, vội vã, cuốn theo những bon chen của dòng đời. “Rồi mình cũng sẽ như họ sao?”, con tự hỏi. Xe vẫn không ngừng lăn bánh để hướng về Sài Gòn. Khi gần đến chùa của Hòa Thượng thì con nói bác tài xế cho xuống rồi gọi xe đi lên cốc của thầy Giác Hưng. Thật không thể tưởng được sự bình an và yên tĩnh nơi đây. Cốc của Thầy thật đơn giản, chỉ toàn bằng tre, xung quanh có rất nhiều cây lớn với bầu không  gian yên tĩnh làm lòng con lắng xuống nhiều. Sáng hôm sau con vẫn chưa tin là mình đang ở chùa cho đến khi tiếng chuông Đại hồng vọng lên con mới biết là mình đang nằm trên  một chiếc giường đơn sơ, con trầm tư và ý thức rất rõ hôm nay là ngày quyết định! Nếu không vào trường nộp tiền học trong ngày thì  phải đợi cơ hội năm sau.

 

Con đi dạo quanh khu rừng gần đó để suy nghĩ cho thật kỹ về quyết định của mình thì bỗng con nghe từ xa, một giọng đọc rất hay vọng lại. Bước chân con chậm lại và đặt khẽ xuống mặt đất để không bị những tiếng lá khô làm ồn, những lời đó con chưa từng được nghe. Từng lời như thấm vào tim con. Lát sau con vào cốc hỏi thì Thầy cho biết đây là sách đọc “Đường Xưa Mây Trắng” của Sư Ông. Hạnh phúc làm sao khi nhận thấy trong tâm mình có sự nhẹ nhàng và không có gì vướng bận. Vậy là con đã quyết định chọn hướng đi cho mình trong ý thức sáng tỏ về lẽ sống. Trở vào gặp thầy để nói ý định xuất gia của mình và con không mấy ngạc nhiên khi thầy nói con nên ở lại đây thêm nửa tháng nữa để nhìn nhận cho rõ về con đường mà con sẽ chọn. Trong thời gian này con viết đôi dòng xin lỗi ba và gửi số tiền lại cho gia đình. Mười lăm ngày ở cốc khiến tâm tư con mở rộng hơn, con không còn suy nghĩ nhiều nữa. Con được nghe thầy kể nhiều chuyện về đời sống tăng thân, cũng như những gì thầy biết qua băng giảng, điều đó đã cho con thêm nhiều niềm tin. Thầy dẫn con lên Tu viện Bát Nhã, nơi mà con chưa từng biết đến, rồi cũng chính nơi đây con đã tái sinh thêm một lần nữa. Con được sinh ra trong đời sống tâm linh.

 

Bốn năm nhìn lại sao nhanh quá, tuy vậy con thấy những tập khí trong con cũng được chuyển hóa khá nhiều. Cuộc sống của một người tu thật đẹp, lúc nào cũng hướng đến cái thiện, cái lành cho bản thân và cho mọi người. Nói đến đây lòng biết ơn sâu xa trong con tràn dâng. Con biết nếu không có Sư Ông, không có tăng thân … thì con không có được may mắn như ngày hôm nay, con không được trở thành một con người có hiểu biết, có tình thương và nhận ra được đâu là chân giá trị của hạnh phúc. Bên cạnh đó con được sống chung với những người mà trong tâm hồn, trong lời nói hay trong cách hành xử hàng ngày luôn ẩn chứa một tình thương vô hạn, ai cũng thật hiền, thật trong sáng. Đó là những sư anh, sư chị, sư em của con, những con người thích đem vui cho mọi người bằng cả tấm lòng của mình. Con mong cho tất cả những ai khi gặp phải những vấn đề khó khăn (có thể là như con trước đây) sẽ có cơ hội tiếp xúc với tăng thân và biết đâu sẽ tìm lại được cái mà mình nghĩ rằng có thể đã mất.

 

Tay trong tay đi chung một con đường

Năm nay con đã được hai mươi bốn tuổi, cái tuổi vẫn còn rất trẻ, vậy mà cảm thấy hối hận rằng tại sao mình không được gặp tăng thân sớm hơn, đi tu sớm hơn? Thêm một lần nữa con muốn nói rằng con thật biết ơn Sư Ông, người đã tạo ra tăng thân, đã truyền trao pháp môn cho chúng con tu tập, đã giúp cho rất nhiều người nhận ra được cuộc sống vốn tươi đẹp này! Những lúc khó khăn con hay nghĩ về hình ảnh của Sư Ông để làm nơi nương tựa và thực tập. Cám ơn tất cả những gì đã cho con có ngày hôm nay, con sẽ cố gắng thực tập và giữ gìn hoài bảo của Sư Ông và tăng thân.

 

Thế giới của chúng ta đẹp lắm, bây giờ nó có đẹp thêm hay xấu đi thì tất cả đang ở đây, trong tay của bạn, trong hơi thở ý thức trong tư duy, hành động …. từ cuộc sống hàng ngày của bạn.” Câu nói của Sư Ông làm con nhớ lại những điều không tốt mà con đã làm trước đây và cũng là cơ hội cho con có thêm ý thức bảo vệ cho hành tinh. Xin nguyện cầu cho những ai đang làm cho Đất Mẹ khổ bằng những chương trình thử vũ khí, khai thác khoáng sản, tài nguyên vô tội vạ và làm ô nhiễm nguồn nước… Thì xin dừng lại ngay bây giờ để cho tương lai còn có mặt.

 

EIAB mùa đông 19/12/2011

Con của tăng thân.

 

Thích chân Pháp Cứ

Duyên thầy trò

 

Trăng Phổ Đà

Câu chuyện tôi bắt đầu từ một người bạn thân: Jenny mà tôi đã quen 20 năm về trước. Lúc đó tôi mới trở về từ một chuyến đi nghỉ mát từ Âu Châu và đang tìm một công mới. Trước khi bước sang công việc mới, tôi đã có một việc làm tạm ổn và đó là thời điểm tôi quen cô Jenny. Chị ta đã mở con đường tâm linh và giới thiệu tôi tới Làng Mai.

Jenny đã giới thiệu tôi tham gia vào chương trình Tái thiết lập gia đình (family reconstruction therapy workshop) được hướng dẫn bởi một vị Thiên chúa giáo. Chị đã dạy tôi thở và tiếp xúc được với sự mầu nhiệm của thiên nhiên. Một thời gian sau chị đã kể với tôi rằng tuy chị là một người gốc Thiên chúa giáo nhưng chị cảm thấy gần gũi với Sư Ông và pháp môn của Làng Mai. Cuối buổi sinh hoạt chị tặng tôi một danh sách của những cuốn sách để tôi có thể dùng tham khảo thêm. Cuốn sách của Sư Ông, “Living Buddha, Living Christ” ( Bụt ngàn đời, Chúa ngàn đời) là một trong những quyển sách trong danh sách đó. Vì tôi đã được học trong những trường Thiên chúa giáo từ nhỏ, tôi đã rất quen thuộc với Kinh thánh và đã cảm kích bởi niềm tin và hạnh phúc của những người bạn Thiên chúa giáo của tôi. Tuy nhiên, vì hoàn cảnh gia đình, tôi không có cảm thấy thỏa mãn với truyền thống thiên chúa giáo và Tin lành hoặc tin tưởng rằng niềm tin nơi tôn giáo được xác định bởi Thượng đế. Câu hỏi, “Ai là Thượng Đế?” làm cho tôi bối rối. Hơn nữa tôi cảm thấy sự va chạm giữa đức tin tổ tiên huyết thống của tôi và những người theo đạo Tin lành.

Tôi là một người Trung Quốc và bà ngoại thực tập đạo Bụt rất tinh tấn nhưng có lẽ là theo đạo Lão nhiều hơn (Người Trung Quốc thường có sự lẫn lộn giữa đạo Bụt và đạo Lão). Nhà chúng tôi có một bàn thờ với những tượng Bụt và Bồ Tát. Bà ngoại của tôi đã dành nhiều thời gian để tụng kinh và niệm thần chú. Bà ngoại của tôi đã ăn chay trường và ăn riêng từ gia đình của bà. Mỗi cuối tuần đều đi lên chùa để nghe pháp thoại và lâu lâu tôi đi theo bà ngoại của tôi. Tuy tôi đã được dạy bảo rằng tôi đã được quy y Tam Bảo từ thuở bé nhưng tôi không bao giờ cảm thấy có sự truyền thông với Tam Bảo. Bên cạnh đó, tôi có sự cảm hứng hơn khi tôi gặp những khuôn mặt hạnh phúc từ những người theo đạo Thiên chúa giáo và Tin lành hơn là những người thờ cúng với nét mặt long trọng tôi gặp ở chùa mà bà ngoại tôi hay tới. Sau khi được đọc cuốn sách “Living Buddha, Living Christ”, tôi rất hạnh phúc khi thấy được con đường Sư Ông đã kết nối Bụt và Chúa như hai anh em.

Gia đình tôi tuy không giàu có nhưng cũng không hề thiếu về  vật chất, những thứ tiêu dùng hằng ngày rất đơn giản. Ba tôi là người đánh cá và gia đình chỉ gặp Ba hai ngày mỗi hai tháng và có lúc thì lâu hơn. Kết quả là mẹ tôi phải gánh hết những công việc nhà và chăm sóc năm đứa con dưới sự chỉ định của một bà mẹ chồng rất nghiêm khắc. Đã có nhiều trường hợp mẹ của tôi tuy  không đồng ý với bà nội của tôi nhưng  phải rất khiêm nhường xin lỗi bà tôi trước một đêm ba tôi trở về vì không muốn để cho ba tôi biết những chuyện đã xảy  ra ở nhà. Khi tôi còn nhỏ, tôi đã cảm được sự khổ đau của mẹ tôi. May thay, mẹ tôi là một người dễ chịu nhưng tôi biết mẹ tôi sống với nhiều sự căng thẳng. Thật ra mẹ tôi đã sống sót bởi căn bệnh ung thư. Có lẽ tôi đã bám vào sự khổ đau của mẹ tôi. Vì vậy khi mẹ hỏi tôi có hạnh phúc không, tôi luôn luôn trả lời một cách cho có lệ bởi vì tôi không thật sự biết hạnh phúc là gì. Tôi có một gia đình hòa hợp, luôn nâng đỡ tôi và công ăn việc làm ổn định nhưng khi nào tôi cũng cảm thấy có gì đó thiếu thốn. Cái cảm giác trống rỗng trong trái tim làm tôi khó chịu và kiến cho tôi háo hức để tìm một con đường tâm linh để tự giúp mình. Câu hỏi: “Tại sao tôi có mặt trên trái đất này?” luôn luôn nằm trong đầu tôi cho đến khi tôi gặp Sư Ông và tăng thân Làng Mai.

Năm 2005, có một người bạn chia sẻ với tôi hạnh phúc của chuyến đi thăm viếng Làng Mai và theo Sư Ông trong chuyến đi về Việt Nam lần đầu tiên. Tôi rất thắc mắc và tự hỏi Làng Mai như thế nào và cũng có sự mong muốn được cái hạnh phúc mà bạn tôi kể. Chị ta cho tôi mượn cuốn sách “Giận”.  Lúc đó tôi đã tích lũy sự giận hờn mà tôi tiếp nhận từ khách hàng trong công việc của tôi.  Trái tim của tôi đã quá đầy và không có không gian để có tình thương cho bất cứ ai, trong đó cũng có chính bản thân tôi. Tôi đã nổi giận rất dễ dàng và tệ nhất là tôi biểu lộ sự giận hờn của tôi đối với gia đình và bạn bè. Lời nói và hành động của tôi đã không dễ thương và làm tổn thương họ nhưng tôi thấy rất rõ là đó không phải là ý muốn của tôi. Tôi không muốn làm họ bị tổn thương. Tuy vậy tôi đã không có cách gì để giúp tôi tránh những trường hợp đó. Đồng thời, người bạn Jenny cũng mệt mỏi với công việc và muốn có thời gian nghỉ mát. Chị ta hỏi tôi có muốn đi chung với chị qua Làng Mai trong mùa đông không. Tôi trả lời “Được!” Nhưng chuyến đi đó đã không có đủ nhân duyên để thành sự thật.

Sự gặp gỡ đầu tiên của tôi với pháp môn Làng Mai là qua chuyến viếng thăm ngắn của phái đoàn Làng Mai ở Hong Kong vào tháng 4 năm 2006. Tôi đã thấy có cảm hứng với cách quý thầy, sư cô đi, ăn và cười.v.v… Lúc đó tôi đã mua vé qua Pháp rồi và trong mùa hè năm đó, tôi đã có đủ nhân duyên để thăm Làng lần đầu tiên trong cuộc đời tôi. Thư pháp, “Peace in Oneself, Peace in theWorld” ( Tâm bình thế giới bình ) của Sư Ông treo trong thiền đường Cam Lộ đã đánh động tôi. Thế giới mình đã và còn nhiều chiến tranh lớn và nhỏ xảy ra mọi nơi. Sự xung đột trong chính mình, trong gia đình, trong sở làm và trong xã hội và giữa những quốc gia. Chiến tranh đã đem lại rất nhiều khổ đau cho vô số người. Tôi nghĩ nếu mình có thể sống hòa hợp với chính bản thân mình thì mình cũng có khả năng để sống hòa hợp với mọi loài xung quanh mình. Tôi rất hạnh phúc được Sư Ông dạy là mình có thể phục hồi lại bình an với sự thực tập chánh niệm. Sự thực tập rất đơn giản nhưng rất sâu sắc. Mình chỉ cần trở về với hơi thở và có chánh niệm trong mỗi sinh hoạt hằng ngày. Tôi không cần ngồi lâu để tụng kinh và niệm thần chú như bà nội tôi đã từng thực tập. Khi mà mình có ý thức là mình đang thở thì đó là sự giác ngộ nho nhỏ. Điều đó có rất nhiều ý nghĩa đối với tôi bởi vì tôi thường nghĩ giác ngộ là một cái gì xa vời, khó mà đạt tới được. Mầu nhiệm quá! Tôi có thể áp dụng sự thực tập ở nơi nào và lúc nào cũng được. Tôi cảm thấy rất hạnh phúc và trái tim của tôi đã mở rộng lớn hơn. Cuối khóa tu tôi đã thọ năm giới và nhận được pháp danh là Tâm Hướng An (Peaceful Direction of the Heart).

Khi trở về Hong Kong, tôi đã gia nhập vào tăng thân Hong Kong và tiếp tục thực tập với sự nâng đỡ của các bạn. Tôi đã rất may mắn được có cơ hội chuẩn bị cho chuyến đi Hong Kong của Sư Ông và tăng thân năm 2007. Tôi đã được sống chung với chúng xuất sĩ gần hai tuần. Đó là lần đầu tiên tôi cảm được cái hạnh phúc của tình huynh đệ và đó cũng là lần đầu tiên được gần gũi vị Thầy của tôi. Tôi có mặt hôm nay chắc có lẽ vì hạt giống đi xuất gia đã được gieo trồng trong lúc đó. Hạt giống của tôi không có đủ điều kiện để mọc bởi vì ba của tôi bị nằm liệt giường. Tuy hạt giống của tôi không có cơ hội được nẩy mầm liền, tôi rất mang ơn cơ hội để tiếp tục đi sâu vào sự thực tập và tiếp tục nâng đỡ Làng Mai ở Hong Kong bằng cách tổ chức những buổi sinh hoạt, khóa tu cuối tuần, ngày quán niệm.v.v. Mỗi khi tôi thấy các bạn thiền sinh rời nơi sinh hoạt tu học với một trái tim nhẹ hơn và mỉm cười được, tôi cảm thấy rất hạnh phúc. Tuy nhiên bởi vì sự ngăn cách ngôn ngữ nên những người không hiểu được tiếng Anh ngần ngại để tham gia vào sự thực tập. Có những thiền sinh rất ngại để chia sẻ trong những buổi pháp đàm bởi vì họ không nói được tiếng Anh. Tôi rất mong rằng pháp môn Làng Mai có thể đem lợi lạc cho mọi người và có thể giúp họ tìm cách điều phục sự căng thẳng, sự thất vọng và hạt giống giận hờn.

Ba thương yêu của tôi, một người không theo đạo, đã sống với cơn bệnh trong 12 năm sau khi nhận ra là mình có bệnh cho đến ngày Ba mất. Trong lúc bệnh Ba tôi vẫn giữ được sự bình an. Ba tôi đã được phẫu thuật và tưởng rằng đã lành bệnh. Nhưng cơn bệnh không lành và gia đình của tôi chưa học được bài học. Chúng tôi luôn luôn tìm cách để chữa lành bệnh của Ba mà không biết là cách chữa hay nhất là chấp nhận và sống hòa hợp với cơn bệnh của Ba. Vì vậy, Ba tôi đã giải phẫu lần thứ hai và đã không thành công. Sau lần phẫu thuật thứ hai thì Ba tôi đã mất khả năng để tự chăm sóc mình. Mới đầu Ba tôi mất khả năng đi, chỉ dùng hai tay, thân không cử động được, không uống nước hay nuốt được bình thương, không nói chuyện được và dần dần thì không nhận diện được những người thương trong gia đình. Mọi người trong gia đình đều hết lòng góp bàn tay để chăm sóc Ba. Tuy nhiên, tất cả anh chị em tôi ban ngày phải đi làm và mẹ tôi phải gánh trách nhiệm chăm sóc Ba. Trong hai năm cuối của Ba tôi, mẹ tôi phải tự thân đút cho ba tôi ăn như chăm sóc một đứa bé nhưng khó hơn gấp hai lần. Khi Ba tôi nuốt không được thì Mẹ tôi không giữ được sự kiên nhẫn và thốt lên những lời không ái ngữ với Ba. Tôi biết trong trái tim của mẹ tôi đầy sự đau đớn khi thấy thân thể của người mình thương yêu hoại diệt từ từ. Anh chị em tôi cũng cảm được như vậy. Khi Ba tôi thấy nỗi đau đớn của mẹ tôi và tất cả thân phận trong gia đình thì Ba tôi từ chối ăn. Đó là những lúc khó khăn nhất cho cả gia đình. Với một trái tim đau đớn, tôi năn nỉ Ba tôi cho phép gia đình chăm sóc và xin Ba chấp nhận và sống với cơn bệnh cho đến ngày Ba ra đi. Dần dần Ba tôi cố gắng ăn lại tuy rằng mỗi bữa ăn là một sự hành hạ đối với Ba. Tôi biết sự cố gắng đó là cách Ba tôi biểu lộ tình thương đối với gia đình. Tôi vẫn nhớ buổi tiệc ăn mừng sinh nhật cuối cùng chung với nhau, tuy không ăn được nhiều nhưng Ba ngồi đó với gia đình và tôi thấy nước mắt của Ba chảy. Hình ảnh đó đã làm trái tim tôi nhói đau và tôi biết chắc mẹ tôi cũng trong tình trạng như vậy. Tôi rất ngạc nhiên khi nhận biết mẹ tôi đủ vững để nói với Ba tôi hãy thưởng thức giây phút quý báu là đang được ngồi chung với nhau. Chúng tôi đã cố gắng hết sức để giữ Ba tôi ở nhà bởi vì biết rằng khi Ba tôi nhập viện thì sẽ không trở về. Ba tôi đã nhập viện vào ba tháng cuối của cuộc đời trước khi đi vào cuộc hành trình mới.

Tôi thật sự mang ơn sự can đảm của Ba tôi trong lúc sống với cơn bệnh. Đó là một bài học quý báu cho gia đình và tôi. Tôi đã học được là cho dù mình khỏe cách mấy đi nữa, mình cũng không thoát được sinh, lão, bệnh và tử. Tuy rằng chỉ có tôi trong gia đình theo đạo Phật, gia đình tôi đã cho phép tôi sắp xếp đám ma theo truyền thống Phật giáo. Chúng tôi sắp đặt làm lễ Cúng Thất. Buổi lễ đầu tiên được tổ chức theo nghi lễ Làng Mai do Thầy Pháp Ấn hướng dẫn. Đó là cơ hội đầu tiên tôi giới thiệu mẹ tôi với pháp môn Làng Mai. Buổi lễ được diễn ra bằng tiếng Anh và có thông dịch qua tiếng Trung Hoa nhưng mẹ tôi vẫn không hiểu. Đó là một sự nhắc nhở về chí nguyện để đem pháp môn Làng Mai đến cho tất cả mọi người. Ngôn ngữ không là một sự chướng ngại để mọi người có thể tiếp xúc với chánh Pháp. Sáu buổi Cúng Thất sau được tổ chức theo truyền thống Phật giáo Trung Hoa. Tất cả mọi người trong gia đình đã tham dự các buổi lễ hết lòng. Sự ra đi của Ba tôi là cơ hội cho gia đình, nhất là mẹ tôi được tiếp xúc với đạo Bụt nguyên thủy.

Mọi người trong gia đình đã chấp nhận sự ra đi của Ba một cách nhẹ nhàng. Trong thời gian đó mẹ tôi giữ được sự bình an. Ba tôi mất vào tháng 3 năm 2010 và trong tháng 6 năm đó tôi đã tham dự khóa tu đầu tiên tại Phật Học Viện Ứng Dụng Châu Âu do Sư Ông tổ chức. Các bạn hữu trong đạo biết tôi có ý nguyện làm người xuất sĩ nhưng tôi cần sự nâng đỡ để ước nguyện đó thành sự thật. Những ngày cuối của khóa tu,tôi ngạc nhiên khi nghe bạn hữu của tôi thưa với Sư Ông là tôi có ý định đi xuất gia. Tôi đã thưa với Sư Ông là tôi sẽ qua Làng sau chuyến đi hoằng pháp của Sư Ông tại Hong Kong. Trong thời gian đó, tôi đã sắp xếp cho mẹ và em gái tôi nghe pháp thoại tại một ngôi chùa ở Hong Kong. Tôi đã mời mẹ tôi tham dự khóa tu của Sư Ông tổ chức tại Hong Kong để mẹ tôi có cơ hội tiếp xúc với Sư Ông. Tôi cũng thưa với mẹ tôi là tôi sẽ qua Pháp để học hỏi từ Sư Ông. Mẹ tôi đã không từ chối. Lúc đó tôi không có đủ can đảm để thưa với mẹ tôi là tôi có ý định qua Làng để xuất gia bởi vì mẹ và tôi rất gắn bó với nhau. Trước khi tôi bước ra khỏi nhà, mẹ tôi bảo rằng con đừng lo lắng bởi vì anh chị em của con sẽ lo mọi việc ở nhà. Lúc đó tôi thưa với mẹ tôi là nếu có đầy đủ điều kiện thì con sẽ xuất gia. Mẹ tôi khóc và tôi cũng khóc trong lòng. Tôi lập tức rời khỏi nhà bởi vì tôi không muốn mẹ tôi khổ bởi sự ra đi của tôi vào tháng 12 năm 2010. Tôi đã gọi mẹ tôi để xin phép xuất gia vào tháng 6 năm 2011.  Mẹ tôi đồng ý.

Sư cô Her Xuan (Malaisia); Sư cô Trăng Nga Mi (Malaisia);
Sư cô Trăng Mới Lên (Indonexia); Sư cô Trăng Phổ Đà (Hongkong)

Tôi rất mang ơn phước đức của ông bà tổ tiên để tôi có cơ hội đi trên con đường này. Trong tôi sự mang ơn tới Ba Mẹ, Thầy cô, bạn bè và mọi loại thật lớn. Nhờ sự nâng đỡ của mọi người mà tôi đã dễ dàng tìm được Thầy tôi. Ngay bây giờ và ở đây, tôi đang được đi trên con đường mầu nhiệm này. Tôi nguyện sẽ đi cùng với mọi loại và hồi hướng tất cả hoa trái của sự tu tập đến mọi loài.

Núi cao biển sâu

 

Trước ngày xuất gia tại chùa tổ Từ Hiếu

Chân tâm một quyết lên đường”

Sư cô Ân Nghiêm được xuất gia trong gia đình Cây Sen Vàng, năm 2009, lúc tu viện Bát Nhã bắt đầu xảy ra chuyện. Sư cô rất thiết tha trong việc tu học nên nhờ đó đã thay đổi cái nhìn của gia đình về việc đi tu của mình và còn hết lòng ủng hộ.

Tôi đã quen với mùi nước mặn từ thuở bé, vì mỗi lần con nước cạn tôi thích đi mò cua bắt ốc. Khi con nước lên làm tôi thêm háo hức, cùng với bạn bè ra bơi lội trên sông. Tuổi thơ êm đềm nhưng cũng lặng lẽ trôi đi như dòng nước sông quê. Trong ngôi làng nhỏ nằm trên vùng hải đảo, quê nghèo đã nuôi tôi lớn lên với nhiều kỉ niệm khó quên…

Nhiều người trong làng thường cho tôi là cô bé nghịch ngợm, cứng đầu, thứ hạng nhất nhì trong xóm. Vậy mà từ rất bé tôi hay đến chùa sinh hoạt trong gia đình Phật Tử. Nhờ đến chùa nên tôi sớm tiếp xúc với hình ảnh quý thầy, quý sư cô. Mỗi lần bắt gặp hình ảnh này, tôi cứ ngắm nhìn mãi. Tâm trí trẻ thơ của tôi bấy giờ, hình dáng người tu sĩ là biểu tượng cho một điều gì thiêng liêng thần thánh nhưng cũng khó diễn đạt để khái niệm rõ ràng về biểu tượng ấy.

Thật ấn tượng với những cái đầu tròn được cạo sạch tóc, với đôi mắt trong như hạt sương trên gương mặt  sáng tươi hiền lành, nhiều lúc tôi tự hỏi: “Sao đầu của các vị xuất gia tròn và sáng quá vậy? Hay là có thoa chất thuốc gì đó? Nếu mình rủ bỏ mái tóc xanh xinh đẹp này đi thì đầu mình có đẹp hơn vậy không?”. Rồi bất chợt một ý nghĩ lóe lên trong tâm tư: “Hay là, lớn lên mình sẽ xuất gia!” Khó có thể biết được điều gì sẽ đến, nhưng có một điều đã đến âm thầm trong trái tim tôi là một ước nguyện xuất gia được thắp lên từ ấy, dù không biết mình đi xuất gia để làm gì? Ước nguyện này như một ngọn nến soi tỏ tấm lòng, như ánh trăng khuya vằng vặc trên thái không mà tôi từng nhìn ngắm. Vì sao mình lại muốn đi tu? Câu hỏi đến từ trái tim mà tôi chưa lý giải được. Có thể đó là một suy nghĩ dễ thương trong tâm hồn đứa trẻ con.

Dì tôi là một nữ huynh trưởng gia đình Phật tử, dì rất có tâm phụng sự Tam Bảo nên bà thường dẫn tôi đi cùng trong những chủ nhật hàng tuần, ngày sinh hoạt gia đình Phật tử. Mỗi lần nấu xong thuốc cho thầy Trụ trì, dì hay dẫn tôi vào gặp thầy. Từ đó tôi biết đến thầy – vị thầy tâm linh đầu tiên của tôi. Lần đầu tiên tôi được thừa hưởng tình thương của một người thầy dành cho người đệ tử. Những lần đi học về chúng tôi thường xách dép lên tay, đua nhau chạy ngang qua chùa, thầy hay ra ngoài đường đứng đợi lũ con nít chúng tôi về cùng chơi. Thầy thương tôi lắm, nên một hôm thầy gọi:

–        Bé P, Con có muốn vào chùa ở không? Thầy nuôi. Con về nhà xin ba má, nếu ba má cho thì mang đồ xuống đây nhé!

Thầy nói xong, tôi vô tư đáp:

–        Dạ không!

–        Sao vậy con? Ở nhà ba má cho ăn cao lương mỹ vị quen rồi nên ăn chay không được chứ gì?

Tôi nghĩ thầm: “Thầy nói lạ quá, nhà mình có giàu gì đâu mà ăn những thứ sang trọng kia, mình ăn chay được chứ bộ…” Tôi nhớ cái thời tấm bé ấy bạn bè chọc nhà đứa này giàu, nhà đứa kia giàu là tôi dị ứng lắm. Không đứa nào chịu cho là nhà nó giàu mặc dù có khá giả thiệt. Huống hồ Ba Má tôi có cái gì đâu để gọi là giàu. Thế rồi tôi phân bua với thầy:

–        Thưa thầy không phải vậy đâu! Vì con chưa muốn đi

tu bây giờ. Lớn lên con mới đi.

Chùa quê nơi nào cũng mộc mạc chân quê. Tôi mến yêu mái chùa từ sự hoang sơ nghèo khó của chùa. Từ lâu chùa bị bỏ hoang, không một bóng người qua lại, không một đường chổi quét dọn, không một bàn tay chăm sóc. Cây bồ đề trước sân vẫn héo hắt trơ cành qua mấy mùa đông. Nét hoang sơ làm chùa thêm lạnh lẽo, nên mỗi lần qua ngỏ ai cũng có cảm giác sợ ma. Người trong xóm ai cũng cho quanh chùa rất nhiều ma. Từ lúc có thầy về chùa, xóm làng trở nên thân thiện ấm áp. Tiếng chuông đại hồng ngân vang trong sớm mai và trong buổi chiều tà đã xóa tan nhiều nỗi u uẩn sợ hãi trong lòng người. Gia đình Phật tử sinh hoạt trở lại, chủ nhật nào cũng là ngày vui cho tất cả mọi người. Nếu không có thầy về tu tập, chăm sóc cho ngôi chùa này thì hôm nay không biết chùa còn không? Hạnh phúc đã đến – với tôi chỉ có thế.

Tháng năm đi qua như vừa tỉnh một giấc mơ, từ một chú chim non mới mở mắt, chập chững trong đôi chân chưa cứng cánh chưa mềm, rồi một ngày nào chợt tung cánh bay cao. Từ ngành oanh tôi lên ngành thiếu, phụ các anh chị huynh trưởng hướng dẫn sinh hoạt đoàn và tập sự làm chị trưởng. Làm anh chị trưởng trong gia đình Phật tử làm gì có lương bổng thù lao nhưng lại cho tôi nhiều hạnh phúc. Vì thế tôi cống hiến, đóng góp phần mình nhiều hơn cho công việc xây dựng gia đình tâm linh này.

Tôi yêu mến màu khói trầm thanh thoát nên dành rất nhiều tình thương cho màu áo gia đình Phật tử và gắn bó với màu áo ấy ngần mười mấy năm. Tình thương sâu đậm làm cho tâm hồn tôi cảm thấy vui hơn khi được sống và đồng hành với những người anh, người chị, người em chung màu áo. Thầy của tôi vẫn sát cánh dìu dắt cho gia đình Phật tử của chùa. Tôi nhớ mãi lời dạy của thầy: “Chỉ có đi tu các con mới có thể báo đền trọn vẹn ơn đức của cha mẹ”.

Lời thầy dạy như khai mở cho tôi một con đường mới, nhưng tôi chưa hiểu và luôn trăn trở. Ước nguyện cũng là một hạt giống mà ngày xưa được gieo trồng trong đất tâm nên thêm một lần tôi thao thức: “Có phải mình muốn đi tu?”. Nhìn sâu vào đời sống thế gian, hạnh phúc là điều quá hiếm hoi mà bế tắc thì cứ hiển bày nhưng ít có ai tìm ra lối thoát cho sự bế tắc ấy. Cuộc giống của gia đình huyết thống, bên nội bên ngoại, không thực sự có được bình an đẹp đẽ như tôi thường nghĩ. Cái mà người đời mãi tìm cầu và cho nó là hạnh phúc sao lại quá mong manh. Mọi người đều đi chung một con đường là lợt lạt với nhau trong sự gắn bó liên hệ, thâm tình ngày một cách xa khi mỗi người an bề gia thất. Tiền bạc có thể làm phương tiện đem lại cho mọi người một ít hạnh phúc, nhưng mặt khác nó lại thành con dao cắt chia tình ruột thịt. Đây là một thực tại trong đời sống thế gian.

Tôi còn có ba người em, chúng tôi thương nhau lắm. Nhưng ngày sau, khi mỗi người tự lo tương lai cho riêng mình thì tình nghĩa chị em biết còn keo sơn như bây giờ? Tôi phải làm gì và phải sống như thế nào để gìn giữ tình thương trọn vẹn cho tất cả những người thân ruột thịt của tôi, bây giờ và mai sau?

Thời học sinh ngày hai buổi đến trường, tình bạn học trò cũng chan hòa màu sắc buồn, vui. Cái tuổi bồng bột, hồn nhiên, trong sáng ấy đã cho tôi biết được thế nào là cảm giác mến mến thương thương, rồi giận hờn vu vơ, trách móc. Tình cảm bạn bè có nhiều mức độ khác nhau. Tình thương mang đến nhiều cơn buồn chứ đâu hẳn chỉ có vui. Tôi lại mơ hồ về hạnh phúc dưới cái tuổi mười chín đôi mươi. Có lẽ bởi sự đổ vỡ mái ấm của các dì, của các bậc tiền bối trong họ nên tôi thường ám ảnh và hoài nghi về nó. Không thật sự tin tưởng vào tình thương, tuy nhiên khi chia tay bạn cũng khiến tôi man mác buồn.

H là người bạn thân trong những năm phổ thông. H thường hay kể cho tôi nghe về người chị đang tu học bên Làng. Thoạt đầu tôi chẳng hiểu Làng là cái gì? Làng ở đâu? Hỏi ra mới biết là trung tâm tu học có tên gọi Làng Mai tại đất Pháp. Thấy tôi hay quan tâm về người tu, H giới thiệu và cho tôi mượn băng giảng “Tuổi trẻ, tình yêu và lý tưởng” của Sư Ông Làng Mai cùng với một CD nhạc thiền của Làng do quý thầy quý sư cô hát. Tôi như được thoát thai, khám phá ra điều mầu nhiệm của tình thương đích thực khi nghe băng giảng. Chưa thương được chính tôi thì làm sao thương được bất cứ ai. Thứ tình thương trong tôi có chăng là vướng mắc, muốn chiếm hữu cho riêng mình, đem đến phiền muộn, mất tự do. Tôi đã trở thành nô lệ của tình thương mà không hề hay biết. Những bản nhạc thiền, giọng tụng niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Thế Âm từ quý thầy, quý sư cô đã chữa trị cho tâm hồn tôi. Chưa bao giờ tôi cảm một bài hát đơn giản mà hay đến thế. Và một điều hết sức bất ngờ, quyết định không chút chần chừ “mình sẽ làm được điều này, mình sẽ xuất gia. Mình sẽ làm một điều gì đó có ích cho cuộc đời này, cho những người đang đau khổ, cho cả thân bằng quyến thuộc và cho chính bản thân mình.” Cùng một lúc tôi thấy hiểu hơn về câu nói của Thầy năm giới đã “tuyên bố” ngày xưa, và thấy được con đường mà mình hằng tìm kiếm bấy lâu nay. Tâm sự với H về tâm nguyện của mình, H đưa tôi đi thăm Ôn Từ Đức lần đầu tiên tại chùa Pháp Vân TPHCM. Từ đó tôi biết Ôn, nhiều lần xin tham vấn Ôn và lần nào cũng ôm về được một số bài viết đã được đánh máy. Tâm Bồ Đề được nuôi lớn nhanh hơn từ đó. Tôi thấy quá hạnh phúc, quá bình an khi được Ôn hướng dẫn, chỉ dạy phương pháp thực tập. Thấy tôi có tâm xuất gia, Ôn giới thiệu tu viện Bát Nhã.

 

Như một cảnh giới của xứ sở thần tiên, Bát Nhã đẹp, thiêng liêng và hùng vĩ. Người tu ở đây phần đông trẻ tuổi. Ai cũng thanh thoát, nhẹ nhàng. Tôi thoáng gặp lại hình ảnh của những vị tu sĩ ngày xưa – những hình ảnh đẹp đã luôn đi theo bên lòng đứa bé lên bảy lên tám, hôm nay tái hiện lại khiến tôi xúc động. Ước mơ được trở thành một sư cô càng mãnh liệt hơn. Tuy vậy tôi không vội vàng, để cho mình thời gian trải nghiệm và tiếp xúc với con người cũng như môi trường nơi ấy.

Có cơ hội ngồi chơi, tôi hay bàn chuyện tu hành, ba má chột dạ lo lắng. Vậy nên mỗi lần Ôn về chùa Từ Đức, tôi hay “rón rén” đi thăm mà không để ba má biết. Tôi cứ hay mon men rời khỏi nhà, rồi một ngày cũng chẳng qua mặt được ba. Ba tuyệt đối nghiêm cấm không cho tôi tiếp xúc với người tu, đặc biệt quý thầy quý sư cô Bát Nhã về Từ Đức. Như một con chim bị nhốt vào lồng, tôi chẳng được bay nhảy thoải mái như xưa, luôn bị gia đình theo dõi từng nhất cử nhất động. Nhưng có dịp đi đâu ra ngoài hoặc viện cớ đi nhà bạn chơi, tôi luôn lái xe lên chùa. Biết được sẽ có một xe lớn đưa quý thầy quý sư cô về lại trú xứ, H gọi điện rủ tôi đi Bát Nhã chơi nhân dịp xe còn dư chỗ. Hết sức cẩn trọng và cố gắng để xin đi nhưng ba mẹ cương quyết chối từ. Vẫn còn thời gian nên tôi cố gắng ỉ ôi xin xỏ mấy ngày. Ba trở nên cáu gắt, bực bội :

–        Đã nói không là không, sao con lì quá vậy? Đừng tốn công vô ích.

Tôi âu sầu không dám “rọt rẹt” nữa, thất bại ão não, tôi cầm máy điện thoại cho H báo cái tin chẳng mấy vui vẻ gì. Tôi sẽ không còn một tia hy vọng nào nữa cả nếu đêm ấy H không gọi lại cho tôi. Biết có thêm nhỏ bạn cùng lớp muốn đi Bát Nhã nữa, tất cả là ba đứa, tôi hứng khởi lấy hết can đảm để xin một lần cuối cùng, cũng là lần quyết định, tuy nhiên hy vọng phần trăm trong tôi không lên đến năm mươi. Lúc ấy Ba đang nằm xem ti vi:

–        Ba ơi! Ngày mai đoàn đi Bảo Lộc rồi. Lớp con có hai đứa nữa cũng đi. Ba cho con đi chơi với tụi nó cho vui. Con đi chơi thôi mà! Tụi nó nói nếu con không đi thì chắc tụi nó cũng ở nhà. Tội tụi nó quá!

Ba vẫn nằm im, không nói gì. Thấy án binh bất động, tôi tiếp:

–        Mà con xin đi mấy ngày về thôi chứ có ở nhiều đâu. H nó cũng chuẩn bị vào lại Sài Gòn để chuẩn bị nhập học. Nó muốn đi chơi một chuyến rồi về đi học sớm, con cùng về với nó mà! Con xin đi một lần này nữa thôi, con không đòi đi nữa đâu! Một lần cuối cùng nha ba !

Không biết nghe tôi nói có vẻ lọt lỗ tai hay vì thương cảm cho mấy đứa bạn tôi mà Ba từ từ ngồi dậy lên tiếng. Tôi cứ tưởng sẽ bị rầy một trận vì cái tội lãi nhãi. Nhưng một điều mầu nhiệm đã đến với tôi:

–        Bây giờ con muốn đi phải không ? Lên mời má xuống đây rồi trước mặt ba má con phải hứa đây là lần cuối con đến chùa đó, và phải hứa là về lại nhà chứ không được đi luôn…

Tôi  mừng như được mở cờ trong bụng. Còn gì nữa mà không lo dạ lia lịa, có gì đâu phải sợ chỉ vì một lời hứa. Đối với tôi lúc ấy, bao nhiêu điều kiện ba đưa ra tôi đều làm được hết, miễn sao được đi Bát Nhã, thăm lại chốn thần tiên, thăm lại những con người thần thánh ấy. Đó cũng là lần thứ hai tôi đến tu viện và là lần đầu tiên được “cấp” giấy phép hẳn hoi.

 

Phép được ba ngày nhưng tôi đi tuốt đến năm ngày với lý do trời mưa bão, đường đèo nguy hiểm nên con chưa về được. Ba giận lắm, mắng và ra lệnh cho tôi phải về gấp, rồi ông cúp máy. Tôi phải nhờ đến sự phò tá của má, ba mới xiêu lòng.

Mấy ngày ở đây, do không có khóa tu nên thời khóa sinh hoạt bình thường. Tôi có cơ hội được tiếp xúc với những gì hiện thực xảy ra trước mắt, cái nhìn thơ mộng ban đầu về đời sống và hình ảnh người xuất gia cũng giảm bớt. Điều này khiến tôi tự kiểm và rà soát lại cảm quan bản thân, thẩm tra lại các ước muốn của mình. Trong buổi vấn đáp, câu trả lời cho câu hỏi của tôi bởi một sư cô khiến tôi thức tỉnh và giúp tôi mạnh dạn định hướng đi cho mình với một bầu nhiệt huyết dâng tràn. Thời gian ở đó, tôi lại xin đi tham vấn Sư Bá (tức Ôn Từ Đức), phần trăm muốn xuất gia của tôi lúc này lên đến một trăm.

 

Thời hạn đã hết, tôi trở về gia đình. Ba thấy tôi liền mừng vui hỏi :

–        Sao con, đi ngán chưa?

–        Tôi vờ vịt: “Dạ ngán rồi! Con không thèm đi nữa.”

 

Đó là khoảng thời gian gần cuối năm 2006, trong khi đợi chờ cơ hội tốt hơn để thưa chuyện với ba má. Tôi tiếp tục đi học tại TP.HCM. Xa được sự kiểm soát của ba mẹ, có trốn đi chùa cũng chẳng ai biết. Và tôi cứ đi lên vùng Bảo Lộc mỗi khi có ngày nghỉ nhiều để nuôi dưỡng và tưới tẩm hạt giống bồ đề trong mình. Thời gian ấy, nghĩ lại tôi thấy mình phạm giới nói dối nhiều lần. Mỗi khi nhận được điện thoại của ba má hoặc của các dì, tôi hoang mang lo sợ đầu dây bên kia nghe tiếng chuông thỉnh. Có lẽ được Bụt Tổ che chở nên không lần nào bị ba má phát hiện.

Những ngày đầu xuân năm 2007, Sư Ông và tăng thân Làng Mai về, tổ chức khóa tu. Tôi âm thầm lén lút ghi danh tham dự. Tiếp tục nói dối ba má vào lại TP.HCM trước mấy ngày để học sau kì nghỉ Tết, nhưng kỳ thực đi sớm mấy ngày để kịp khóa tu. Tôi chẳng để ba má chở ra quốc lộ đón xe như mọi khi tôi đi, mà hôm ấy nhờ em trai chở qua đón xe đi Bảo Lộc. Tất nhiên em tôi vì thương chị nên giấu kín giùm. Vậy là tôi được dự trọn vẹn khóa tu. Hơn nữa còn dự được buổi lễ xuất gia của bảy mươi bảy người trẻ, một con số khiến ai nghe cũng phải chấn động. Và làm sao tôi tránh khỏi cơn xúc động trước những bồ đề tâm cực kỳ dũng mảnh ấy. Sơ tâm cứ thế trào dâng, tôi hạnh phúc biết nhường nào! Tôi lại thưa với Sư Bá, bày tỏ nguyện vọng muốn đi tu của mình, Sư Bá yểm trợ. Ôn dạy tôi nên về nhà sống hết lòng với ba má trong một tháng.

Thế là tôi về Sài Gòn sau khi mãn khóa tu, quyết định không học tiếp nữa nên tôi lo thu dọn đồ đạc về nhà chơi với gia đình. Chẳng thể nào dám mở miệng xin vì lần nào cũng thế, ba luôn dọa:

–        Con mà bước ra khỏi nhà thì chừng ba ngày sau con về để tang cho ba.

Hoặc là:

–        Con đi đi, trong năm ngón tay này ba sẽ chặt đứt một ngón, xem như không có đứa con này.

Và dữ dội hơn nữa:

–        Con cứ đi trước, ba xách rựa theo sau, hễ gặp ông nào ba sẽ chém ông đó. Con đừng có mà bị dụ dỗ.

Vậy thì làm sao tôi dám, chỉ còn cách âm thầm xách áo ra đi.

Ba má thấy tôi mang tất cả hành lý về nhà nên hơi lo ngại:

–        Sao mang đồ về nhà nhiều vậy? Máy vi tính mang đi mang về làm chi mà khổ vậy con?

–        Trường con một tháng nữa mới đi học lại. Thầy cô ăn Tết hơi kỹ ba à! (tôi cười đùa). Với lại máy tính mà để trong đó thì không an toàn. Nhà không có khóa an toàn nên con mang về thôi. Còn cả tháng nữa mới học lận mà. Mang về con có cái để học chứ ba.

Rồi ba má yên tâm. Thời gian ấy tôi lén may đồ tu gấp. Thấy tôi có vẻ ít nói, hiếu để, ngoan ngoãn hơn rất nhiều so với trước nên ông bà sinh nghi nên cứ vặn hỏi mãi, nhẹ nhàng khuyên tôi nói thật, tôi hơi xiêu xiêu. Đó là một buổi tối, tôi mời ba má lên phòng khách, lấy hết can đảm tôi quỳ xuống thưa:

–        Con xin phép ba má cho con đi tu…

Tôi thấy tay ba run bần bật, ông kêu lên: – Trời ơi!…

–        Khoan đã, xin ba hãy cho con nói hết… Trường con đi học rồi nhưng con định không học nữa mà ôm đồ về sống với ba má một tháng, cố làm những gì có thể với ba má rồi con sẽ trốn đi. Do ba từng dọa dữ quá, nhưng vì ba má bảo con nói thiệt nên con xin khai thiệt… Con thấy hoàn cảnh gia đình hai bên nội ngoại của mình đầy đau khổ. Có tiền nhưng đâu có hạnh phúc thật sự đâu ba! Ba nhìn xem nơi các dì con đó, có mấy dì được hạnh phúc? Nếu con xin đi tu, ba má không cho mà cứ bắt con qua Mỹ, thì dù có qua đó rồi con vẫn đi tu. Con xin ba má cho phép con đi.

–        Thà con qua Mỹ, biết nước này nước kia với người ta, biết đó biết đây, sống khuất mặt ba muốn làm gì thì làm. Chứ giờ ba còn ở đây, con ở đó mà con đòi đi tu trước mặt ba, làm sao ba chịu nổi? Mỗi người có một cái số riêng. Con làm sao giống dì con. – Ba khóc nức rồi đứng dậy bỏ đi, không thèm nghe tôi nói nữa…

 

Đêm đó ba vào phòng nhưng không ngủ được. Ba khóc suốt và rên từng cơn. Nửa đêm, cơn đau khổ dường như tột cùng, ba đập tay xuống thanh giường tức tưởi than trời trách đất. Tôi ở ngoài lòng đau
như cắt, cũng không tài nào chợp mắt được. Quá nửa đêm, ba mở cửa phòng đi ra ngoài. Tôi đợi mãi không thấy ba trở vào trong khi ngoài kia trời đang mưa. Sợ ba nghĩ quẩn, tôi liền mở cửa đi tìm. Khi tôi đi ra tới hiên trước nhà, thấy ba ngồi bó gối co ro buồn bã, tay cầm khăn vừa khóc vừa chùi nước mắt. Lần đầu tiên từ khi sinh ra cho đến bây giờ tôi mới thấy ba tôi khóc như vậy. Như một đứa bé. Tôi thấy

quá xót xa, cảm thương ba vô hạn. Tôi ôm chầm lấy ba và hai cha con cùng khóc. Hồi lâu:

–        Con vào ngủ đi. Ba không sao đâu! – Ba sụt sùi.

–        Ba vào thì con mới vào – Tôi thút thít.

Ngồi đó rất lâu, ba mới chịu đi vào.
Hôm sau, ba bỏ ăn mấy ngày liền và mượn rượu để giải sầu. Kể từ đó hai cha con không nói chuyện với nhau nữa. Tôi cũng “đấu lại” bằng cách bỏ ăn giống ba. Ba xót con nên năn nỉ tôi ăn cơm. Cuộc “chiến” diễn ra ngót mấy ngày, tôi nghĩ mình khó lòng “thắng” được ba nên đành chọn giải pháp hoãn binh, gác chuyện đi tu lại, xin đi làm một thời gian cho ba thấy vậy mà an tâm và vui lòng.

Tôi xin việc nơi một nhà hàng, làm ở quầy bán hải sản. Hằng ngày phải đối mặt với cảnh giết chóc, buôn bán gian dối mà tôi phải tham dự vào công việc gian dối ấy. Lương tâm mình không cho phép phải tiếp tục. Thầm nghĩ chắc bây giờ ba nguôi ngoa rồi, đồ tu đã có sẵn nên tôi háo hức đợi ngày trốn đi. Nên gần hai tháng làm công việc đó, tôi muốn xin nghỉ. Có ngờ bị ba má phát hiện số đồ của tôi, ba lệnh má phải đốt ngay. Má tôi vì phần thương con và cũng muốn ủng hộ tôi nên không nỡ đốt mà đem vào gửi tạm nhà nội. Biết chuyện, tưởng đồ bị đốt sạch nên hơi buồn về cách hành xử của ba má, tôi tự an ủi mình và nhủ sẽ may lại không lâu.

Giai đoạn ấy, phái đoàn Làng Mai có viếng thăm chùa Long Sơn Nha Trang. Tôi nhân cơ hội còn ở đó, lái xe đi thăm Sư Bá và tham vấn chuyện lên Bát Nhã tập sự. Tôi đã làm theo lời Ôn dạy, nghỉ việc và tìm cách khác để ba hiểu mình hơn, thua keo này ta lại bày keo khác.

Với lời góp ý của một đứa bạn thân, tôi vào Sài Gòn học thêm vi tính với chủ ý mở một tiệm Internet tại nhà cho gia đình có thu nhập, sau này có đi cũng an lòng hơn vì mình đã giúp chút ít cho gia đình. Thời gian ở nhà làm việc cũng là thời gian để tôi thực tập hết lòng với gia đình. Chí xuất gia mãnh liệt thôi thúc tôi từng ngày, tôi lại lén may đồ tu giấu kỹ trong tủ quần áo của tôi. Tiếp tục đấu tranh tư tưởng với ba, tôi tiếp tục ăn chay trường sau hơn mấy tháng ăn chay khi học ở thành phố. Tôi không còn thiết nghĩ đến bạn bè, tiệc tùng. Cái điện thoại di động cũng trở thành vô nghĩa đối với tôi, cho nó nằm yên đó. Mỗi tối được xuống chùa tụng kinh cùng quý bác Phật tử là niềm vui sướng của tôi. Mỗi chủ nhật lại về chùa sinh hoạt cùng anh chị em là một điều vô cùng ý nghĩa và nuôi dưỡng bồ đề tâm. Cứ thế ngày lại ngày cho đến sáu tháng tôi sống và làm việc tại gia đình. Đó là cách tôi nỗ lực để cho ba hiểu lý tưởng của tôi. Tôi ao ước ba hiểu tôi muốn gì và cần gì trong đời này. Cái tôi cần không phải là tiền bạc danh vọng. Còn hạnh phúc gia đình đối với tôi giống như ảo ảnh phù du rất dễ vỡ nhưng muốn diễn tả điều tôi nghĩ cho ba má hiểu và cảm thông lại thật khó. Vì ba má lúc nào cũng cầu cho con cái có được tương lai rạng ngời, tươi sáng và hạnh phúc qua việc kết hôn. Nhưng ngưỡng cửa đó nhiều phiền luỵ buộc ràng. Cái tôi muốn là sự tự do, sự thanh thoát thong dong, và cuộc sống xuất gia giúp tôi thực hiện được điều này, lại còn có thể báo ân đấng sinh thành. Tôi rất muốn mang lại sự cảm thông hài hòa thắm thiết nghĩa tình trong gia đình.

Làm người xấu thường rất dễ, chịu sống đẹp rất khó. Sư Bá từng nói một câu khiến tôi nhớ mãi: “Một người đi tu là thế giới bớt khổ hơn bởi một người”. Như vậy nếu tôi tu chẳng phải cũng giúp đời được một phần nhỏ đó sao? Những thao thức trong lòng ngày càng nung nấu chí xuất gia của tôi. Quý thầy quý cô thường nói: Khi nào bồ đề tâm phát lên trên 100% thì hãy quyết định đi tu. Đối với tôi lúc ấy, không được đi tu chắc tôi chết mất. Tôi cảm thấy mình chẳng thể làm được gì nữa, nếu ba má cứ ngăn không cho tôi đi…

Suy nghĩ và chờ thời cơ, tôi sắp xếp hành lý dự tính lên đường trước Vu Lan 2008. Nhưng theo lời khuyên của anh chị trưởng trong đoàn, tôi đành nán lại chờ xong Vu Lan, nghĩ mình nên hưởng một mùa Vu Lan cuối bên cạnh ba má rồi ra đi cũng còn kịp.

 

Ngày báo ân phụ mẫu tôi dâng quà lên cho má. Khi má tôi nhận quà, bà khóc nhiều lắm. Tôi không hiểu vì sao má khóc. Tôi cố gắng cười nhiều để má vui mà lòng tôi lại rất buồn vì cảm giác sắp chia ly. Tôi cố giấu đi bao cảm xúc khi biết mình phải lìa xa gia đình thời gian khá lâu và có thể sẽ không bao giờ được về lại gia đình nếu ba tôi còn giận và muốn từ con. Tôi đã quyết định và chấp nhận hậu quả xảy ra.

Nữa tuần sau, ngày mong đợi đã đến. Hay tin ôn Từ Đức đang về chùa và chuẩn bị trở lại Bát Nhã, tôi lập tức liên lạc và xin đi tập sự xuất gia.

Chiều 20/8/2008, tôi chuyển giấu một cái ba lô xuống nhà bạn thân trước. Đồ đi trước, người đi sau sẽ tiện hơn, sẽ không ai phát hiện ra. Nghĩ rồi tôi gọi điện cho người anh họ xuống chở mình ra khỏi nhà. Em gái tôi biết tôi sẽ đi chiều nay vì một sự hớ hên nào đó trong lúc chuẩn bị nên hỏi:

–        Chị làm gì đó? Chị tính đi thiệt hả? – Em vừa khóc vừa hỏi.

–        Ừ, chị đi. Đừng cho ba má với mấy đứa kia biết nha.

–        Chị đừng đi mà! Lỡ ba má biết chuyện, ba có chuyện gì thì tính sao đây? – Em càng khóc to hơn.

–        Chỉ cần giấu giúp chị thôi, để chị đi cho yên. Đây là cơ hội cuối cùng của chị. Thương chị, em im lặng giùm chị nha! – Tôi bình thản đáp và biết rằng lúc ấy mắt tôi cũng đỏ hoe. Kết quả em đã rất dũng cảm giấu kín.

Chiều ấy ba tôi đi làm ngoài biển. Tôi đứng nhìn qua các lỗ thông gió để được thấy ba lần cuối. Nhìn dáng ba vô tư hiên ngang chẳng hề biết sắp có chuyện động trời xảy ra. Một mình tôi đứng đó bất động và dường như tim mình đang quặng thắt lại. Đau lắm! Cái cảm giác đau thống thiết mà không được khóc thành tiếng, tức ngực, tôi cố gắng dùng tay bịt miệng để ngăn tiếng khóc bật ra.

Cứ thế bóng ba khuất dần sau con dốc nhỏ. Mắt tôi đau và nóng ran lên, nhưng rồi tôi cố kềm nén cơn sầu, đi rửa mặt cho mắt đỡ sưng vì má tôi hiện còn đang ở nhà. Má sẽ lo lắng nhiều nếu thấy mắt tôi đỏ với sự bất an đang có. Lúc này má đang quét sân sau nhà, công việc gì đó khiến má lấy xe đi đâu. Tôi biết đây là giây phút có thể ra đi nhưng cũng là giây phút ngậm ngùi nhất. Tôi lại đứng ở vị trí cũ, lén nhìn má như đã nhìn ba. Bà đang vui vẻ nói nói cười cười với những người hàng xóm đang đi lại trước nhà. Nước mắt tôi lại trào ra giàn giụa, nhìn trước sau trong nhà vắng tanh. Má dẫn xe ra, mắt hướng về phía trước. Tôi chạy ra trước hiên để nhìn dáng má đi xa trên con “ngựa sắt”. Tôi đã có thể buông tay, cho phép mình khóc thành tiếng rồi nghẹn ngào thầm gọi “Má ơi!”.

Con đường làng quanh co lượn khúc. Dáng má đã mất hút. Tôi đứng lặng người trong vài phút để lắng nghe cảm xúc trong mình. Đến giờ tôi phải lên đường rồi, không thể chần chừ thêm phút giây nào nữa. Quýnh quáng đi tìm đôi dép. Đôi dép “rất hợp” để đi tu – tôi thấy vậy đó. Nhưng mèn ơi ! Dép đâu rồi, nó trốn nơi nao úy trời! Nó dường như đã nằm gọn trong đôi chân của má tôi rồi. Nhìn quanh quẩn tôi chẳng thấy mang một đôi dép nào khác được vì toàn là dép thời trang thôi. Có đôi dép “chùa” kia tôi mới tự tin lên Bát Nhã được, tôi ngây thơ nghĩ vậy nên đành phải ráng đợi má về.

Mười lăm phút sau má về với đôi dép rõ nằm trên chân. Như tên trộm khôn ngoan, lấy được đôi dép xong tôi quan sát bốn bên, thấy im vắng, không bóng người, tôi liền chạy một mạch ra khỏi nhà, đi thẳng xuống trường mẫu giáo cách nhà chừng 30m – nơi anh họ tôi đang đợi. Anh chở tôi xuống nhà nhỏ bạn lấy ba lô, nón lá, thêm một vài cuốn sách của Sư Ông mà tôi chưa đọc xong. Mẹ nhỏ bạn cho phép nó đi cùng tôi. Bà là người mộ đạo, hiểu đạo, nhưng lại phải giấu ba nó. Bà chở nó đi trước rồi về thưa lại với Ông sau. Bà nói: “- Cho nó đi lên chùa một tháng, nếu mà muốn tu luôn thì càng tốt”.

Hai xe bốn người đi được một đoạn đến nhà anh huynh trưởng. Anh ngoắc lại mời vào uống nước để nán đợi vài người nữa. Tôi mới biết lúc này tin tôi ra đi đã truyền lan và hôm nay có nhiều người muốn “hộ tống” đưa tôi lên tới chùa Từ Đức để tạm biệt. Cố nhiên không ai mách lại với gia đình tôi và
sẵn lòng giấu kín. Dễ thương làm sao!

 

Khi đoàn người đưa tiễn với cả xe máy lẫn xe đạp tập trung đầy đủ. Có khoảng hai mươi người kể cả anh chị huynh trưởng và các em đoàn sinh gia đình Phật tử. Nhìn bộ dạng tôi lúc ấy, mặc quần tây, áo thun đen, ba lô trên tay, đầu đội nón lá…nên nhiều người đã không cầm được nước mắt.

 

Xe đạp được để gọn vào nhà anh huynh trưởng và xe máy được vân tập để cùng chở nhau đi. Không đủ xe nên anh chị em tôi phải chở ba. Ai cũng muốn tiễn tôi đến tận chùa, vì thế phải cùng nhau đi đường hẻm để tránh công an giao thông.

Đến chùa, trời đã sụp tối hẳn. Cả đoàn lần lượt đi vào, thầy thị giả Ôn đưa chúng tôi vào bàn khách. Cuộc chia ly thấm đẫm đạo tình, nước mắt tiễn đưa, mọi người ra về. Tôi được sư cô (chị của H. đã từ Làng về) đưa vào phòng nghỉ. Đêm đó là một đêm khó ngủ. Tôi yên tâm là gia đình chưa thể tìm ra tôi và ba không dễ dàng bắt tôi về. Nhưng tôi rất lo lắng cho gia đình, không biết khi tôi đi ở nhà liệu có xảy ra chuyện gì! Ba có bị làm sao không? Tôi sợ ba tự tử lắm.

 

Một đêm sáng trăng, tuy không tròn nhưng trời trong và sáng lắm. Sư cô rủ hai chị em cùng đi thiền hành, ngắm trăng, trao đổi với nhau. Lúc ấy tôi mới biết Bát Nhã đang có chuyện không an. Nhưng tâm đã quyết “người ra đi đầu không ngoảnh lại mặc cho sau lưng thềm nắng lá rơi đầy…”, tôi chấp nhận tất cả mọi rủi ro nếu sự việc không hay xảy đến cho tu viện. Khi ấy tôi có niềm tin dũng mãnh nơi Tăng Thân nên dù có khó khăn đi chăng nữa, được ở trong Tăng Thân là điều tuyệt vời nhất rồi. Sư cô tin tưởng nơi tôi, tôi cũng tin mình sẽ chân cứng đá mềm. Sau khi tâm sự hàn thuyên, mấy chị em về phòng nghỉ để sáng mai lên đường đi Bát Nhã sớm.

 

Về phía gia đình tôi, chiều đó khi rời gia đình, tôi đã lưu lại thư từ biệt và cuốn nhật ký trong phòng. Tám giờ tối, thấy tôi chưa về, má tôi bắt đầu bồn chồn sốt ruột. Bà hỏi thăm các em tôi:

–        Mấy đứa biết chị đi đâu không?

–        Dạ chắc chị đi uống nước với bạn rồi.

Má suy diễn:

–        Có khi nào nó đi uống nước để từ giã bạn bè không? Tư tưởng này càng khiến bà lo lắng hơn.

Má tôi lo vì có lần vào phòng tôi, bà mở tủ đồ tìm cái gì đó và bất ngờ thấy cái ba lô tôi giấu ở ngăn dưới nên đã để bụng nghi ngờ… Lúc đó má đã nói với ba:

–        “Em nghĩ con nó chuẩn bị đi nữa rồi. Nó lại chuẩn bị đồ tu đủ cả. Em nghĩ lần này nếu nó xin đi thì anh cho nó đi đi, để nó thoải mái, chứ mình cản nó nhiều lần lắm rồi. Anh thấy đó, mình cản nó vô chùa tu, một năm nay nó cũng như người tu tại gia rồi còn gì nữa. Tâm nó quyết rồi, mình cản cũng không được. Để nó đi rồi nếu không được thì nó lại về…”

Nghe đến đó ba làm thinh không nói. Có lẽ ba cũng đồng ý vì những lần trước vừa nghe nhắc đến chuyện tôi đi tu là ba đã nổi trận lôi đình, phản bác tuyệt đối.

Rồi một người cậu họ xuống hỏi thăm tôi khiến má càng cuống quýt lo lắng:

 

–        Lạ thiệt, không hiểu nó đi đâu, bình thường tám giờ là nó về rồi, sao hôm nay đi từ chiều mà giờ hơn chín giờ vẫn chưa về? Bình thường nó lấy xe đi, hôm nay xe còn đó, vậy ai chở?

 

Lúc bấy giờ má thật sự lo bấn người. Ba tôi đã về, ăn tối và về phòng nằm nghỉ. Ba cứ tưởng tôi đi chơi với bạn. Nhưng khi má chạy vào phòng tôi kiểm tra, mở tủ nhìn cái ba lô không còn thì má hô toáng lên
rằng tôi đã đi rồi. Ba hoảng quá ngồi bật dậy. Ngay lúc ấy ông bà ngoại từ Mỹ điện thoại về, má nhấc máy mà giọt ngắn giọt dài trình bày đôi chút rồi lại cúp máy để lo chuyện của tôi. Cả nhà nhốn nháo vào phòng tìm kiếm. Biết là sẽ có thư, má lục toang giường ngủ của tôi, thấy dưới gối có lá thư,  đầu hàng ghi dòng chữ: “Khi Ba Má nhận được thư này thì con đã đi xa rồi” (tất nhiên lúc ấy tôi ở gần nhà lắm, mười hai cây số thôi nhưng tôi phải viết vậy để đánh lạc hướng, không bị bắt về. Vì vậy khi ở chùa tôi tin chắc chắn mình an toàn).

Cả nhà ồ lên khóc. Hàng xóm xúm xít qua thăm thốt lời động viên, an ủi. Má cố gắng gọi điện cho bạn bè tôi hỏi thăm tin, nhưng chẳng ai biết tôi đi đâu, đến đâu. Trong thư tôi nói mình đi Huế mặc dù thực tế tôi đi Bảo Lộc.

Đêm đó cả nhà không ai ngủ ngon. May mắn là ba tôi không tự tử, cũng không làm điều gì nông nổi, chỉ khóc ròng mấy ngày. Hai mắt ba đỏ kè, sưng húp, cứ ngồi chờ tôi điện thoại về. Tôi ra đi ngày thứ Tư, đến Chủ Nhật, ba nhìn thấy mấy em đoàn sinh gia đình Phật tử đến chùa sinh hoạt, ba càng khóc nhiều hơn vì nhớ tôi và nói với má:

–        Anh không chịu nổi nữa, anh nhớ con quá, trong người anh bức rức không yên. Anh phải đi tìm con!

–        Biết ở đâu mà tìm hả anh? Mình phải đợi nó điện thoại về rồi hỏi thăm địa chỉ, chứ giờ biết tìm ở đâu? Anh có thấy không? Bao lần nó xin anh đi tu, anh hăm he đốt chùa đòi sống, đòi chết. Bây giờ nó trốn đi liệu nó có dám gặp anh không, người ta mà biết thì cũng giấu giùm nó, dại gì họ chỉ…

–        Giọng ba áo não: – Nhưng giờ anh sẽ không bắt nó về, anh chỉ muốn nói với nó là: – Ba má đồng ý để con đi tu, cho lòng nó thoải mái, không phải âu lo về gia đình, nó yên tâm tu hành mà mình cũng an lòng biết nơi nó ở – Ba vừa nói vừa sụt sùi nước mắt.

–        Vậy để em ráng hỏi thăm.

 

Má cố gọi điện thoại hỏi gạn thêm mấy anh chị em trong gia đình Phật tử, năn nỉ đủ điều, rồi một em xiêu lòng khai báo:

–        Vậy cô lên chùa Từ Đức hỏi thăm sẽ rõ hơn. Hôm đó P ngủ lại ở chùa một đêm, sáng đi sớm.

 

Ba má tôi mừng lắm, lái xe lên chùa hỏi thăm. Gặp anh L và hỏi thăm về tôi. Anh L cũng ngại lắm, không dám khai nhưng khi hiểu nỗi lòng của ba thì rất thương cảm và chỉ chỗ. Tính đến đó thì cũng gần một tuần kể từ ngày tôi đi.

Phần tôi, tại tu viện, V- nhỏ bạn đi cùng tôi có mang điện thoại theo. Nhưng hễ điện thoại nó reo là tim tôi đập thình thịch, vì vậy nó phải tắt nguồn vì sợ gia đình tôi lần dấu. Nhưng tôi đâu được an tâm trong những ngày đó, cứ ngay ngáy lo cho gia đình. Cuối cùng tôi lấy hết can đảm bảo V mở máy và điện thoại về hỏi thăm em gái tôi. Nó bảo:

–        Chị gọi về cho ba đi. Hổm rày ba cứ khóc hoài và định đi tìm chị đó.

–        Chị không dám điện đâu, ba không sao thì chị mừng rồi. Nếu điện về ba hỏi chỗ rồi lên bắt chị về thì làm sao?

–        Ba không bắt chị về đâu, thiệt đó. Ba nói đã cho phép chị đi tu rồi. Ba muốn biết chỗ chị ở như thế nào, có an không?

–        Đừng gạt chị. Chị không điện. Em cứ nhắn với ba má là chị khỏe, đi tới nơi bình an là được rồi.

Nói đến đó tôi cúp máy, suy nghĩ về những gì em tôi nói và lời động viên của V, và tin chắc đây là sự thât. Nên thu hết can đảm điện về cho em. Lần này tôi chịu nói chuyện với ba. Giọng ba thật ngọt ngào, cứ như dỗ dành tôi ngày còn bé vậy.
– Con đó hả? Con có khỏe không?

Tôi đáp: – Con khỏe, ba có ổn không ba?

Ba nghẹn ngào: – Sao con đi mà không thưa với ba má một tiếng, lẳng lặng rời nhà vậy con? Con có biết lúc biết tin con đi ba bị sốc chừng nào không?  Mấy ngày nay ba cứ đợi tin con, hỏi thăm rất nhiều người mà không ai biết con đang ở đâu, sống như thế nào…

Rồi ba khóc. Nghe tiếng khóc của ba trong điện thoại, nước mắt tôi tuôn đầm đìa:
– Con sợ… ba không cho con đi. Con sợ ba đòi chết. Con sợ ba làm điều xằng bậy với người tu. Vì nhiều lần ba đã hù con…

–        Ba chỉ nói vậy để con nghĩ lại, để con sợ mà bỏ ý định đi tu thôi, chứ ai mà làm điều dại dột đó hả con? Giờ con đang ở đâu? Hãy cho địa chỉ để ba má lên thăm con…

–        Không, con không cho ba má biết đâu. Ba biết ba sẽ lên bắt con về.

–        Ba không bắt con về đâu. Ba má cho con đi tu lâu rồi. Ba chỉ đợi một ngày con xin phép hẳn hoi rồi ba sẽ cho con biết. Nhưng ba chưa kịp nói gì… thì con đã bỏ nhà ra đi. Ba đau lòng lắm. Ba chỉ muốn lên thăm con một lần, nói với con là ba đã đồng ý với sự lựa chọn của con. Nhìn thấy con ba má mới yên tâm được.

–        Vậy ba hứa đi. Ba hứa là sẽ không bắt con về thì con mới cho địa chỉ.

–        Ba hứa!

Thế là theo hẹn, từ quê tôi đến Bảo Lộc đi bằng xe máy thì mất sáu giờ nhưng ngày hôm đó tôi đợi mãi, càng lúc càng về chiều, nghĩ đường đèo nguy hiểm, trời lại mưa dầm, khiến tôi thêm nơm nớp lo sợ. Đến ba-bốn giờ chiều tôi mới thấy một chiếc xe Future đỏ chạy ngang qua tu viện. Hai người ngồi trên xe cứ chăm chăm nhìn vào phía chúng tôi, nhưng do Ni xá cách đường khá xa không thể nhìn rõ mặt, tôi thấy họ chạy thẳng vào khu du lịch Đamb’ri. Lòng sinh nghi, tôi xin phép được cùng V ra ngoài đường đứng đợi. Lát sau khách quay xe ngược trở lại, thì đúng là ba má. Cả ngày dài ba má đi xe rã rời mệt mỏi, tôi xót xa nhìn bụi bặm đóng từng lớp trên gương mặt hai đấng sinh thành yêu thương. Gặp nhau đôi bên đầy xúc động, không cầm được nước mắt. Phút giây đoàn tụ đã giúp chúng tôi giải tỏa hết bao nhiêu khúc mắc. Khi tôi mới chân ướt chân ráo vào tu viện, vài sư cô biết hoàn cảnh của tôi lúc ấy, thông cảm và đến chơi. Nhân cơ hội ba má lên thăm, mọi người rủ nhau đi chơi suối, ăn mít tố nữ và cùng thưởng thức quà bánh ba má mang lên cho tôi tại nhà Lục Giác.

Những gì xảy ra sau khi tôi trốn nhà đi được kể lại. Bao nhiêu buồn vui, bao nhiêu sung sướng khiến không khí đoàn tụ càng trở nên ấm cúng, thân tình. Thấy quý sư cô thật tâm lý, thật gần gũi nên ba má tôi rất yên tâm. Đúng như những gì ba tôi hứa, ông không bắt tôi về và ngược lại rất hạnh phúc khi thấy tôi được sống giữa một tập thể lành mạnh, thân ái, mọi người lại thương yêu, giúp đỡ cho nhau – một tập thể thiện tri thức. Ba mẹ ở lại chơi một ngày. Hôm sau trước khi về, đã chân thành gửi gắm con mình lại cho quý sư cô. Tôi chính thức được tập sự sau một tháng sống tại tu viện, và có những ngày ngập tràn hạnh phúc tiếng cười. Sau sáu tháng tập sự, tôi được đại chúng cho xuất gia cùng với gia đình cây Sen Vàng tại tổ đình Từ Hiếu – Huế. Ba má tôi đã ra tận nơi để dự lễ xuất gia.

 

Lễ xuất gia sư cô Chân Ân Nghiêm tại tổ đình Từ Hiếu

Sau này có dịp về thăm nhà, ngắm tôi trong hình tướng người xuất gia, ba má tỏ vẻ hạnh phúc lắm. Hình như ba má đã nhận ra được điều gì đó nên bảo: – “Con đi tu là sáng suốt lắm. Giờ trong ba đứa em còn lại của con, nếu đứa nào muốn đi tu thì ba má hết lòng ủng hộ”…

Tôi cười, lòng tràn ngập niềm vui vì ba má đã thấu hiểu. Thật tri ân tấm lòng núi cao biển sâu của ba má vô bờ.
Một niềm biết ơn lớn lao hơn nữa là sự yểm trợ hết lòng của ba má đã cho tôi tiếp tục đi trên con đường phụng sự, con đường bất bạo động dù cho biến cố Bát Nhã có xảy ra, dù cho bốn trăm tăng ni không có chỗ ở phải tá túc nhiều nơi nhiều tháng, dù chưa biết số phận của bốn trăm tăng ni trong đó có con của mình sẽ đi về đâu nhưng hai vị đã âm thầm tiếp thêm nghị lực cho tôi được vững lòng và nương vào sức mạnh của Tăng thân để vượt qua muôn ngàn sóng gió.

Trải qua những biến động thăng trầm, mỗi ngày trôi qua, tôi dần lớn lên trong tình thương của huynh đệ và Tăng thân. Cùng với năng lượng thực tập hùng hậu và sự đi tới của tăng thân, niềm tin lớn lên trong tôi và tôi thấy mình thật sự may mắn khi chọn đúng Thầy, đúng môi trường để thực tập nhìn sâu tự thân, dừng lại và chuyển hóa. Cùng trang lứa như tôi hoặc trẻ hơn tôi hiện nay ngoài xã hội có biết bao bạn trẻ đang bị cơn bão của cuộc đời cuốn đi, xô ngã, đau khổ và tuyệt vọng. Các bạn có bao giờ biết dừng lại và biết đủ với những gì đang có trong hiện tại mà mỉm miệng cười hạnh phúc. Tôi nhìn họ và thấy thương thật nhiều. Trong khi đó, tôi nhìn lại tôi và thấy mình có quá nhiều hạnh phúc. Có Thầy và muôn triệu anh chị em, bạn bè cùng chung đôi tay tô đẹp cho đời, có cả một bầu trời xanh, một bầu trời đầy trăng sao trong những đêm Rằm, có đầy không gian của chim choc, của hoa lá, có đầy tình thương của sự hiểu biết, sẵn sàng ôm ấp tha thứ bao dung cho những niềm đau nổi khổ của  mình và cho những gì đã làm mình khổ. Bởi vậy mà con đường tôi đi như rộng lớn thênh thang thêm, có đầy đủ các loại “thuốc men” để chữa trị những lần tôi “đau ốm”. Tôi sẽ vẫn mãi có mặt đây để hát ca cho tôi, cho cuộc đời, cho những người xung quanh tôi.”

Mấy lời kính gởi đến Ba Má lòng tri ân của con. Kính tri ân Thầy và Tăng thân xinh đẹp đầy tình thương này.

 

Con –  Chân Ân nghiêm –

Tôi tu vì tôi là người tu

– Thường Minh –

Thiền hành trong rừng

Trong những khóa tu, tôi có nhiều cơ hội ngồi chơi với anh chị em cư sĩ.  Khi đủ thân một chút thì có người hỏi tôi: “Hỏi thiệt Thầy cái này nha! Tại sao Thầy đi tu vậy?  Thầy còn trẻ mà!  Bộ bị bồ đá rồi chán đời đi tu hả?

Tôi ngường ngượng, thầm nghĩ: “Bộ già hay thất tình mới đi tu sao?”  Nhưng rồi tôi cười trong bụng vì ngày xưa tôi cũng nghĩ như vậy.  Cuộc đời có biết bao nhiêu  cái để hưởng thụ, biết bao nhiêu nơi để chơi! Sống mà không tận hưởng thì hơi… khờ quá,  đó là tư tưởng trước đây của tôi. Ấy vậy mà ngày nay tôi ngồi đây, trong hình tướng của một người đầu trọc, khoác áo cà-sa, tay ôm bình bát.

Tôi nhớ lại ngày xưa khi còn là cư sĩ, tôi ghé qua chùa chỉ với mục đích là thắp vài cây nhang, cúng dường chút đỉnh để hồi hướng cho cô bạn đang bệnh của tôi. Có một lần tôi đến một tu viện và cũng định làm những việc như trước mỗi khi đến chùa, thắp hương, lạy Bụt.v.v. qua loa. Nhưng khi đến nơi, tôi không ngờ ở đó có cả trăm thầy và sư cô rất trẻ cùng với nhiều cư sĩ đang đi thiền hành như một dòng sông, tất cả đều  đi trong im lặng, nhẹ nhàng và thảnh thơi. Tôi bắt đầu hỏi thăm và tìm hiểu về đời sống của những người xuất gia nơi này. Sau đó tôi có cơ hội tham dự những khóa tu và thấy rõ nét đẹp của người xuất gia, nhất là lý tưởng phụng sự và dấn thân. Từ đó tôi rất mê đời sống của người xuất sĩ: từ ý tưởng đến cách đi, cách nói, từ chiếc áo nâu nắng phai đến đôi dép đơn giản. Đời sống thật phạm hạnh và tri túc. Thích quá nên khi về nhà tôi cứ kể tới kể lui với cô bạn. Trong một đêm tâm sự, sau khi lắng nghe tôi kể về  ước muốn đi xuất gia của tôi, bạn tôi nhẹ nhàng nói: “Anh cứ đi đi!” Tôi hơi ngạc nhiên với câu nói của cô bạn, nhưng rồi tôi trả lời: “Không sao đâu em! Anh có thể sống như bây giờ được. Mình cũng có thể bắt chước như Kim Trọng và Thúy Kiều, anh ở một phòng, em ở một phòng. Tu tại gia vẫn là tu mà!”

Huynh đệ bên nhau

Nghe tôi nói vậy cô bạn tôi cười khúc khích và phán: “Theo trong truyện Kiều, thì anh bây giờ không phải là Kim Trọng.” Bị cô bạn phán cho một câu xanh rờn tôi hơi quê quê làm mặt ngớ: “Êh!”. Nhưng như hiểu được tâm nguyện của tôi, cô bạn tôi động viên: “Anh còn sức khỏe.  Anh tu cho anh, cho gia đình, chuyển hóa nghiệp không tốt của anh và của gia đình. Em tự lo cho em được.” Nghe cô bạn động viên vậy, tôi rủ rê: “Vậy thì hai đứa mình đi tu luôn! Không có ai chăm sóc em, anh lo lắm.” Sau một vài phút im lặng, với ánh mắt buồn, cô bạn nói: “Thân em là thân bệnh. Em chỉ làm gánh nặng thôi.  Anh tu cho em, cho hai đứa mình.” Tôi biết cô bạn nói thật và yểm trợ cho tôi đi xuất gia, tôi cảm thấy mình đang có một người tri kỷ luôn luôn hiểu được những gì tôi muốn. Tôi mở lời khuyên cô bạn: “Em bệnh như vậy, cần có người  bên cạnh em để lỡ khi em có chuyện gì. Nếu anh đi tu thì em cứ lập gia đình đi.  Anh không buồn đâu.” “Sau khi quen anh rồi, em không còn tin tưởng một người đàn ông nào trên đời này nữa.” Cô bạn lại chọc tôi trong tiếng cười khúc khích. “Nhưng đi tu, anh phải tu cho đàng hoàng nha. Tu không được thì về với em, chứ đừng vô chùa mà phá. Đừng để em xách gậy vô chùa đập anh, tội lỗi lắm nha!” Trời! Tôi thầm nghĩ. Tôi đâu đến nỗi tệ như vậy.

Vậy đó, ước nguyện của tôi đã được cô bạn yểm trợ và tôi nhẹ nhàng ra đi mang theo sự biết ơn đối với cô bạn của tôi. Tôi biết, có rất nhiều chàng thanh niên khi nhận ra được hướng đi đích thực của đời mình nhưng khi đã dính vào chuyện tình cảm thì khó mà thoát ra được. Và không phải cô gái nào cũng như Da Du Đà La, như cô bạn của tôi, chịu hy sinh cho lý tưởng của người mình thương.

 

Tôi đi tu vì tôi yêu cuộc sống của người xuất gia nhưng phần lớn cũng vì cô bạn mến thương này. Bạn tôi rất muốn đi xuất gia nhưng vì bệnh nên không thể thực hiện được ước muốn của mình. Từ nhỏ đến lớn tôi không có diễm phúc sống cạnh ba mẹ, không có ai dạy cho tôi cách sống có đạo đức. Mười một tuổi tôi rời quê hương sang sống ở xứ Mỹ, xứ sở được mệnh danh là đất nước tự do. Tôi cứ tự do sống cho tôi, sống cuộc đời ăn chơi, thỏa mãn những gì tôi muốn: tiền, sắc, danh và bị bạn bè lôi kéo vào những nơi không nuôi dưỡng…  Tôi hầu như chưa biết thương là gì, ai chết kệ ai, ai khổ mặc kệ, không mắc mớ gì đến tôi. Nhưng cô bạn thì lại khác: luôn hy sinh cho người khác, luôn có tâm giúp người, thương loài vật, con kiến cũng không muốn giết. Khi quen được cô bạn đó, tôi đã hiểu được thế nào là “sống”. Từ nhỏ tôi sống thiếu tình cảm của ba mẹ và người thân, khi gặp được cô bạn này, tôi thấy lòng mình được sưởi ấm lại bằng tình thương, tình thương mà bấy lâu nay tôi chưa hề có được. Cho nên khi gặp được cô bạn đó, tôi mừng quá, cưới liền!

 

Chán thay cái thói quen tật xấu của tôi, có Giáng Kiều mà không biết trân quý. Cưới nhau được vài năm nhưng hai đứa sống không có hạnh phúc, cứ hai ba ngày là có chuyện gây lộn, đập bàn, đập tường. Sống làm sao nổi nên tức quá, tôi ly dị. Hồi đó tôi chưa gặp được tăng thân, chưa hề biết thực tập nuôi dưỡng hạnh phúc là gì nên mới có chuyện không hay xảy như vậy. Nhưng duyên chưa hết, hai đứa trở lại làm bạn sau hơn một năm chia tay. Mất rồi tôi mới biết quý, có lại tôi mới biết thương. Lúc đó tôi mới hiểu được tâm trạng của người bệnh. Ngồi kế bên cô bạn trong những cơn đau vì bệnh của thân, vô ra nhà thương cấp cứu hai ba lần trong tháng, tôi nếm được sự thật của vô thường. Lúc đó, tôi nhìn lại cuộc đời ăn chơi tiều tụy mà tôi đã dấn vào trước đó và giật mình tự hỏi: Tôi sống để làm gì?

 

Có nhiều người khuyên: “Vợ chồng ai không có sóng gió. Bây giờ hiểu nhau rồi thì sanh vài thằng nhóc cho vui.” Sống để sanh con à?  Có con là vui? Nhìn cô bạn đau đớn khi bệnh hành thân, không lẽ nào ép sanh con cho tôi nữa? Tôi biết đó là con đường mà nhiều người chọn, nhưng không phải là con đường mà tôi muốn đi.

 

Cũng vì bệnh mà cô bạn tôi hướng về con đường tâm linh và  nhờ vậy mà tôi được đi ké. Hình ảnh đoàn người với áo nâu đi như một dòng sông đã đánh thẳng vào tim tôi như tia sét, khơi dậy ngọn lửa “tánh Bụt” trong tôi mà tôi không ngờ là mình có được và có công năng phá tan ngọn núi ăn chơi dục lạc, mở một đường khác cho tôi đi. Chỉ mới nhìn hình tướng bên ngoài thôi mà đã khiến tôi “ mê mẫn” đến vậy đó. Đến khi tiếp xúc rồi thì không có một điều gì có thể cản trở ước muốn của tôi được. Phước đức của tôi vẫn còn.

 

Vào sống trong tu viện tôi như đi vào một thế giới khác. Năng lượng tu tập vững chãi của đại chúng như núi cao, tình thương như dòng suối mát. Sống trong chúng rất dễ cho tôi tu tập chuyển hóa những thói quen tật xấu. Đại chúng như tấm gương sáng cho tôi soi vào và nhìn thấy những vết dơ của tập khí, cho tôi pháp môn để chùi sạch những vết xấu ấy, giúp tôi làm đẹp thêm bằng uy nghi và giới luật. Tu cùng đại chúng, tôi thấy có nhiều cái lợi lắm, một trong những cái mà tôi quý khi sống trong tăng thân là giúp tôi chuyển hóa những tập khí lười biếng, thói quen biện hộ cho những tập khí xấu của mình hơn khi tu một mình.

 

Con người ta hay có thói quen bị lờn và tôi cũng vậy, vì những pháp môn thực tập đơn giản quá thành ra đôi khi tôi quên. Ai mà không biết thở! Ai mà không biết đi! Nhưng ai thật sự biết thở và ai thật sự biết đi đúng nghĩa? Vào tăng thân chưa được bao lâu và cũng chưa thấm tương chao lắm, ấy vậy mà tôi cứ tưởng mình biết mọi cái rồi, là thầy rồi, giỏi rồi nên lơ là thực tập các pháp môn căn bản mà Thầy đã hết lòng trao truyền. Ngày này qua tháng nọ, năm này đến năm kia, tôi không nắm được sự thực tập căn bản nên tôi bị vọng tưởng kéo đi. Cứ như vậy tôi sống trong bóng hình của hạnh phúc, nghĩ rằng chỉ cần trôi với dòng chảy của đại chúng thì cũng có ngày mình đi ra tới biển.

May thay nhờ phước đức của ông bà nên tôi sớm nhận ra hướng đi của mình. Tôi còn nhớ chuyến đi hoằng pháp của Thầy ở Mã-Lai, trong một đêm khuya, trên đường trở về lại chùa sau buổi pháp thoại công cộng, xe chở chúng tôi dừng lại trước đèn đỏ gần cầu xa lộ. Tôi nhìn xuống đường và thấy rất nhiều người vô gia cư sống ở đó, đa số là đàn ông. Khuất dưới cột đèn, có một phụ nữ đang cho con bú. Áo cô rách tơi tả, người chỉ còn xương với da, ánh mắt không hồn. Cô đã mất hết tất cả hy vọng trong đời, có thể đứa bé đó là sợi giây duy nhất níu giữ mạng sống của cô.

 

Xe đã chạy lâu rồi nhưng hình ảnh người phụ nữ đó đã khắc sâu trong lòng tôi. Hình ảnh đó như một cái tát mạnh vào má tôi và tôi bàng hoàng tự hỏi: Tôi đi tu để làm gì?

 

Ngày xưa, tôi có thể giúp đỡ cho người phụ nữ này bằng cách tặng cho cô ta một ít tiền để mẹ con cô có thể sống qua ngày, không chỉ một cô mà tôi có thể giúp mười cô như vậy. Bây giờ tôi không có một xu dính túi. Tôi làm sao để giúp họ đây? Người ta nghèo tả tơi như vậy còn mình thì được mọi người lo cho từng bát cơm, chổ ngủ? Hình ảnh đó khiến mỗi lần bưng bát cơm trên tay, tâm hỗ thẹn trong tôi lại phát khởi, tôi tự hỏi mình có xứng đáng để thọ nhận bát cơm này không? Cả tuần như vậy, tôi ôm giữ câu hỏi này, vừa ăn vừa nuốt nước mắt. Mỗi muỗng cơm đưa lên, tôi lại thấy hình ảnh cô ta nhìn tôi với đôi mắt tuyệt vọng.

 

Có một lần, tôi có cơ hội ngồi chơi với Thầy. Hồi đó, tôi hơi phóng tâm một chút, lơ là chuyện tu tập nên được Thầy nhắc nhở: “Khi là người tu, con phải là người tu trọn vẹn 24/24 giờ. Con luôn giữ phạm hạnh của người tu sĩ, suy tư và hạnh động luôn là của người tu. Con đầu tư hết vô một chuyện thôi.” Thầy dạy thêm: “Thầy chỉ có một mong muốn nơi đệ tử của Thầy, dù xuất sĩ hay cư sĩ thì  tụi con phải sống có đạo đức.”

 

Những lời Thầy chỉ dạy cho tôi trước đây tôi đã lãng quên vì tập khí ham chơi của mình. Hôm ấy, nhờ bắt gặp hình ảnh người phụ nữ với đứa con không nhà không cửa, không đủ cơm ăn áo mặc ấy mà tôi nhớ lại lời Thầy, nhớ lại chí nguyện xuất gia ban đầu. Tôi không còn hỗ thẹn khi nâng bát cơm nữa. Tôi trân quý từng muỗng cơm, từng hạt gạo. Đôi khi tôi vẫn nuốt nước mắt khi ăn, nhưng nuốt vì lòng biết ơn.

 

Tôi trở lại với chính tôi, trở lại với những pháp môn căn bản. Tôi ngồi yên và nương vào hơi thở để trở về, nối lại nhịp cầu giữa thân và tâm. Ngồi yên như thế, tôi cảm được nguồn năng lượng vững chãi của đại chúng và của chính tôi. Với mỗi hơi thở ra vào tôi tập dừng lại. Dừng lại có mặt đích thực mỗi khi có tiếng chuông thỉnh hay cho dù không có một hiệu lệnh nào, tôi cũng tự nhắc nhở mình là phải bám vào hơi thở. Tôi thở và gửi năng lượng bình an và vững chãi đó cho tất cả. Năng lượng đi theo như làn sóng, tôi gửi đến mọi loài, đến những nơi u tối để nguyện cầu cho tất cả đều được bình yên như tôi.

 

Khi lạy sám hối, tôi biết tôi và Đất Mẹ là một. Hình hài tôi có mặt từ Đất Mẹ, được nuôi lớn, và một ngày nào đó tôi cũng sẽ trở về với Đất Mẹ. Người phụ nữ và đứa bé vô gia cư kia cũng là một với Đất Mẹ. Tôi và cô không phải là hai. Nỗi khổ niềm đau của cô cũng là của tôi. Niềm an lạc và vững chãi thảnh thơi của tôi cũng là của cô. Khi tôi lạy xuống, tôi lạy xuống với mẹ con người phụ nữ ấy, tôi lạy xuống với cô bạn thương mến của tôi, tôi lạy xuống với ông bà tổ tiên trong và ngoài tôi, tôi lạy xuống với tất cả.

 

Là người tu, tôi chỉ có một việc để làm thôi: “Tu!” Tôi rất biết ơn những điều kiện mà tôi đang có để tiếp tục là người xuất sĩ trọn đời. Mỗi ngày tôi là một con người mới. Chí nguyện của tôi cũng thay đổi, mỗi ngày một vững mạnh hơn và tôi luôn hướng về Tam Bảo. Ngày xưa tôi tu vì em.  Ngày nay, tôi tu vì tôi là người tu.

Trích từ Lá thơ làng mai số 35