Kinh Chiếc Lưới Ái Ân

Tâm ái dục là một dòng chảy thường xuôi theo dòng tập khí và dòng kiêu nạn.

Tự nhốt mình trong sắc dục thì cũng như con tằm kéo chiếc kén tự mình giam hãm lấy mình.

 

Ái dục phẩm Pháp Cú Kinh đệ tam thập nhị tam thập hữu nhị chương

愛欲品法句經第三十二

Kinh chiếc lưới ái ân
Dịch từ Kinh Pháp Cú trong Hán Tạng

Chương 32

Vị gì chút phận bèo mây,

Làm cho biển ái khi đầy khi vơi.

                                  Nguyễn Du (Truyện Kiều)

 

Một bao máu máu mủ, bao năm khổ luyến ân tình!

                       Vua Trần Thái Tông (Khóa Hư Lục)

 

Ái ân lưới nọ giang tay xé.

                               Nhất Hạnh (Kệ truyền đăng)

 

Bài kệ 1

Tâm phóng tại dâm hành                心 放 在 婬 行
Dục ái tăng chi điều                         欲 愛 增 枝 條
Phân bố sanh sí thạnh                     分 布 生 熾 盛
Siêu dược tham quả hầu                  超 躍 貪 果 猴

 

Tâm ý đi về hướng ái dục thì cây ái dục sẽ đâm chồi trổ nhánh rất mau. Tâm ý phân tán vì đối tượng ái dục sẽ làm cho lửa ái dục bừng cháy trong ta. Kẻ đi tìm ái dục cũng giống như một con vượn chuyền cành tìm trái, từ cành này sang cành khác.

 

Bài kệ 2

Dĩ vi ái nhẫn khổ                               以 為 愛 忍 苦
Tham dục trước thế gian                  貪 欲 著 世 間
Ưu hoạn nhật dạ trưởng                   憂 患 日 夜 長
Diên như mạn thảo sanh                   莚 如 蔓 草 生

 

Ái dục buộc mình phải gánh chịu khổ đau, ái dục làm cho mình bị vướng mắc vào cuộc sống trần tục. Những lo lắng và hoạn nạn do ái dục đem tới cứ tăng trưởng đêm ngày, mọc kín như cỏ tranh.

 

Bài kệ 3

Nhân vi ân ái hoặc                           人 為 恩 愛 惑
Bất năng xả tình dục                       不 能 捨 情 欲
Như thị ưu ái đa                               如 是 憂 愛 多
Sàn sàn doanh vu trì                        潺 潺 盈 于 池

 

Bị ái ân mê hoặc người ta sớm muộn gì cũng bị vướng vào dục tình. Cái lo lắng kia càng ngày càng lớn giống như dòng nước rỉ, rỉ mãi cũng đầy hồ.

 

Bài kệ 4

Phù sở dĩ ưu bi                               夫 所 以 憂 悲  
Thế gian khổ phi nhất                      世 間 苦 非 一     
Đãn vi duyên ái hữu                        但 為 緣 愛 有  
Ly ái tắc vô ưu                                離 愛 則 無 憂

 

Ở đời có nhiều thứ lo lắng và đau buồn, nhưng không có thứ lo buồn nào lớn hơn cái lo buồn do ái dục đem lại. Buông bỏ được ái dục mới hết lo buồn.

 

Bài kệ 5
Dĩ ý an khí ưu                                 己 意 安 棄 憂    
Vô ái hà hữu thế                              無 愛 何 有 世      
Bất ưu bất nhiễm cầu                      不 憂 不 染 求     
Bất ái yên đắc an                            不 愛 焉 得 安

 

Muốn tâm ý được an vui thì phải quyết tâm vứt bỏ ái ân. Không ân ái thì không đi vòng quanh trong cõi luân hồi, không còn phải mang nặng ưu tư, không còn thấp thỏm mong cầu những gì ô nhiễm, không còn ái nhiễm thì sẽ được thật sự an vui.

 

Bài kệ 6
Hữu ưu dĩ tử thời                          有 憂 以 死 時    
Vi trí thân chúc đa                         為 致 親 屬 多 
Thiệp ưu chi trường đồ                  涉 憂 之 長 塗    
Ái  khổ thường đọa nguy                愛 苦 常 墮 危

 

Ân ái thâm trọng thì đến giờ lâm chung bao quanh bởi những người thân thuộc sẽ thấy con đường của lo lắng và sầu khổ dài như thế nào. Cái khổ do ân ái gây nên thường đưa ta tới những hoàn cảnh không an toàn, đầy tai ách.

 

Bài kệ 7
Vi đạo hành giả                              為 道 行 者  
Bất dữ dục hội                                不 與 欲 會  
Tiên tru ái bổn                                先 誅 愛 本     
Vô sở thực căn                              無 所 植 根    
Vật như ngải vi                              勿 如 刈 葦  
Lệnh tâm phục sanh                      令 心 復 生

 

Là người tu đạo, ta không nên đi về hướng ái dục, phải bắt đầu bằng cách tìm diệt tận gốc cái cây ái dục để cho những cái rễ của nó không còn có thể đâm chồi lên được. Đừng làm như cắt cỏ lau để sau khi được cắt rồi lau lại mọc lên như cũ.

 

Bài kệ 8

Như thọ căn thâm cố                     如  樹  根  深  固
Tuy tài do phục sinh                       雖   猶  復  生
Ái ý bất tận trừ                              愛  意  不  盡  除
Triếp đương hoàn thọ khổ              輒  當  還  受  苦

 

Gốc cây ái dục sâu và vững, tuy cây đã bị đốn nhưng các cành lá vẫn có thể sinh ra trở lại. Tâm ái dục chưa dứt trừ thì theo lẽ thường cái khổ do ái dục đem tới vẫn còn trở lại như thường.

 

Bài kệ 9

Viên hầu đắc ly thọ                          猨  猴  得  離  樹
Đắc thoát phục thú thọ                    得  脫  復  趣  樹
Chúng nhân diệc như thị                  眾  人  亦  如  是
Xuất ngục phục nhập ngục               出  獄  復  入  獄

 

Như con vượn nhảy ra khỏi cây này thì lại nhảy vào cây khác, người đời cũng thế, ra khỏi được ngục tù ái dục này rồi lại lao vào ngục tù ái dục khác.

 

Bài kệ 10

Tham ý vi thường lưu                    貪  意  為  常  流
Tập dữ kiêu mạn tinh                    習  與  憍  慢  并
Tư tưởng ỷ dâm dục                     思  想  猗  婬  欲
Tự phú vô sở kiến                         自  覆  無  所  見

 

Tâm ái dục là một dòng chảy thường xuôi theo dòng tập khí và dòng kiêu mạn. Những trông cầu và nhận thức của ta đều có thể được tô điểm theo màu sắc ái dục và do đó chính mình tự che lấp sự thật và không thấy được sự thật.

 

Bài kệ 11

Nhất thiết ý lưu diễn                       一  切  意  流  衍
Ái kết như cát đằng                       愛  結  如  葛  藤
Duy tuệ phân biệt kiến                   唯  慧  分  別  見
Năng đoạn ý căn nguyên                能  斷  意  根  原

 

Dòng tâm ý tham dục ấy cứ mặc tình trôi chảy khiến cho những nút thắt ái dục đan kết lại với nhau chằng chịt. Chỉ có tuệ giác chân thật mới có thể có khả năng phân biệt và thấy rõ điều này, giúp ta đoạn trừ được căn nguyên của nó nơi tâm ý.

 

Bài kệ 12

Phù tùng ái nhuận trạch                  夫  從  愛  潤  澤

Tư tưởng vi tư mạn                        思  想  為  滋  蔓

Ái dục thâm vô để                           愛  欲  深  無  底

Lão tử thị dụng tăng                       老  死  是  用  增

Dòng suối ái dục thấm vào tư duy, mong cầu và nhận thức để lớn mạnh và quấn vào nhau. Nguồn suối ái dục sâu không đáy kia làm cho cái già và cái chết tăng trưởng một cách rất là mau chóng.

 

 

Bài kệ 13

Sở sinh chi bất tuyệt                       所  生  枝  不  絕

Đãn dụng thực tham dục                 但  用  食  貪  欲

Dưỡng oán ích khưu trủng              養  怨  益  丘  塜

Ngu nhân thường cấp cấp               愚  人  常  汲  汲

 

Những cành nhánh của cây ái dục cứ tiếp tục sinh trưởng không ngừng nghỉ cũng bởi vì chúng được nuôi dưỡng bằng thực phẩm ái dục. Thực phẩm này nuôi dưỡng oán hận, un thành từng gò từng đống, người thiếu trí tuệ thì cứ miệt mài đi về hướng ấy.

Bài kệ 14

Tuy ngục hữu câu diệp                   雖  獄  有  鉤  鍱

Tuệ nhân bất vị lao                        慧  人  不  謂  牢

Ngu kiến thê tử tức                       愚  見  妻  子  息

Nhiễm trước ái thậm lao                染  著  愛  甚  牢

Trong ngục thất có gông có cùm. Nhưng người có trí tuệ không thấy những dụng cụ này là thứ gông cùm vững chắc nhất. Cái loại gông cùm ái nhiễm cột người ta vào hệ lụy mới là loại gông cùm kiên cố.

 

Bài kệ 15

Tuệ thuyết ái vi ngục                       慧  說  愛  為  獄

Thâm cố nan đắc xuất                   深  固  難  得  出

Thị cố đương đoạn khí                  是  故  當  斷  棄

Bất thị dục năng an                       不  視  欲  能  安

 

Người có trí tuệ thấy ái dục là một ngục tù kiên cố khó thoát ra khỏi. Người ấy biết rõ rằng, phải đoạn trừ ái dục thì mới thật sự được an vui.

 

Bài kệ 16

Kiến sắc tâm mê hoặc                    見  色  心  迷  惑

Bất duy quán vô thường                 不  惟  觀  無  常

Ngu dĩ vi mỹ thiện                          愚  以  為  美  善

An tri kỳ phi chân                           安  知  其  非  真

Thấy sắc mà bị mê hoặc, đó là vì không biết quán vô thường. Kẻ u mê tưởng rằng cái sắc ấy là một cái gì lành và đẹp, không biết rằng cái bóng dáng bên ngoài kia không chứa đựng được một cái gì bền bỉ và chắc thật bên trong nó.

 

Bài kệ 17

Dĩ dâm lạc tự lý                             以  婬  樂  自  裹

Thí như tàm tác kiển                      譬  如  蠶  作  繭

Trí giả năng đoạn khí                     智  者  能  斷  棄

Bất hễ trừ chúng khổ                    不  盻  除  眾  苦

Tự nhốt mình trong sắc dục thì cũng như con tằm kéo chiếc kén tự mình giam hãm lấy mình. Bậc trí giả có khả năng đoạn trừ và buông bỏ dục tưởng, không thiết tha gì đến cái đối tượng ái dục cho nên mới tránh thoát khỏi mọi khổ nạn.

 

Bài kệ 18

Tâm niệm phóng dật giả                心  念  放  逸  者

Kiến dâm dĩ vi tịnh                         見  婬  以  為  淨

Ân ái ý thịnh tăng                          恩  愛  意  盛  增

Tùng thị tạo ngục lao                    從  是  造  獄  牢

Kẻ có tâm ý phóng đãng khi nhìn vào một đối tượng ái dục thì có thể cho đó là một cái gì tinh khiết, không biết rằng sự tăng trưởng lớn mạnh của ái ân sẽ đem tới bao nhiêu hệ lụy, tù ngục kiên cố sau này.

Bài kệ 19

Giác ý diệt dâm giả                         覺  意  滅  婬  者

Thường niệm dục bất tịnh                常  念  欲  不  淨

Tùng thị xuất tà ngục                      從  是  出  邪  獄

Năng đoạn lão tử hoạn                    能  斷  老  死  患

Những ai thực tập chánh niệm sẽ có khả năng thấy được rằng cái đối tượng ái dục kia là bất tịnh, do đó diệt trừ được dục ý, ra khỏi nguc tù và thoát khỏi tai nạn già và chết.

 

Bài kệ 2021

Dĩ dục võng tự tế                           以  欲  網  自  蔽

Dĩ ái cái tự phú                              以  愛  蓋  自  覆

Tự tứ phược ư ngục                      自  恣  縛  於  獄

Như ngư nhập cú khẩu                    如  魚  入  笱  口

Vi lão tử sở tứ                               為  老  死  所  伺

Nhược độc cầu mẫu nhũ                 若  犢  求  母  乳

Ly dục diệt ái tích                           離  欲  滅  愛  迹

Xuất võng vô sở tệ                         出  網  無  所  弊

 

Tự cuốn lấy mình trong chiếc lưới ái dục, tự che mình bằng chiếc dù ái dục là tự trói mình trong vòng hệ lụy như con cá tự chui vào trong một chiếc nơm, bị cái già và cái chết bắt theo và luẩn quẩn bên cạnh đối tượng ấy như một con bê đi tìm vú mẹ. Lìa bỏ được dục, không đi theo vết xe của ái thì có thể vượt thoát ra ngoài chiếc lưới ái ân, không còn bị bất cứ một cái gì làm hại mình nữa.

 

Bài kệ 22

Tận đạo trừ ngục phược                   盡  道  除  獄  縛

Nhất thiết thử bỉ giải                          一  切  此  彼  解

Dĩ đắc độ biên hành                         已  得  度  邊  行

Thị vi đại trí sĩ                                  是  為  大  智  士

 

Đi trọn được con đường, cởi bỏ được mọi ràng buộc hệ lụy, giải phóng được mọi phân biệt kỳ thị, vượt qua được các ý niệm lưỡng nguyên, đó mới thật là bậc xuất sĩ đại trí.

 

Bài kệ 23

Vật thân viễn pháp nhân                 勿  親  遠  法  人

Diệc vật vi ái nhiễm                        亦  勿  為  愛  染

Bất đoạn tam thế giả                     不  斷  三  世  者

Hội phục đọa biên hành                  會  復  墮  邊  行

 

Đừng thân cận với những kẻ đi ngược chánh pháp, cũng đừng để bị lôi kéo theo con đường ái nhiễm. Nếu chưa vượt thoát được thời gian thì hành giả vẫn còn bị kẹt vào cái thấy nhị nguyên.

Bài kệ 24

Nhược giác nhất thiết pháp          若  覺  一  切  法

Năng bất trước chư pháp             能  不  著  諸  法

Nhất thiết ái ý giải                          一  切  愛  意  解

Thị vi thông thánh ý                       是  為  通  聖  意

 

Thấy và hiểu được tự tánh các pháp, không còn bị vướng vào một pháp nào, biết cách gỡ ra mọi sợi dây ái dục trong tâm ý, như thế là đã nắm được ý chỉ của Bụt.

 

Bài kệ 25

Chúng thí Kinh thí thắng              眾  施  經  施  勝

Chúng vị Đạo vị thắng                  眾  味  道  味  勝

Chúng lạc Pháp lạc thắng             眾  樂  法  樂  勝

Ái tận thắng chúng khổ                 愛  盡  勝  眾  苦

 

Trong các thứ hiến tặng, hiến tặng chánh pháp là quí hơn cả. Trong các mùi hương, hương đạo đức là thơm tho hơn hết. Trong các thứ hạnh phúc, hạnh phúc được sống trong chánh pháp là hạnh phúc lớn nhất. Không có phương pháp nào chiến thắng được khổ đau một cách tận cùng bằng sự thực tập dứt trừ ái dục.

 

Bài kệ 26-27

Ngu dĩ tham tự phược                   愚  以  貪  自  縛

Bất cầu độ bỉ ngạn                        不  求  度  彼  岸

Ái dục ý vi điền                              愛  欲  意  為  田

Dâm oán si vi chủng                      婬  怨  癡  為  種

Tham vi bại xứ cố                          貪  為  敗  處  故

Hại nhân diệc tự hại                      害  人  亦  自  害

Cố thí độ thế giả                            故  施  度  世  者

Đắc phước vô hữu lượng              得  福  無  有  量

 

Người u mê thường lấy sợi dây tham dục để tự trói mình, người ấy chưa có ước mong vượt sang bờ bên kia. Tâm tham dục là ruộng đất, tham sân si là hạt giống. Cái tham dục đó gây bại hoại cho mình và cho người khác. Trái lại, đối với người có khả năng bố thí và độ đời thì những phước đức thu hoạch được không thể đo lường.

 

Bài kệ 28

Bạn thiểu nhi hóa đa                       伴  少  而  貨  多    

Thương nhân truật dịch cụ              商  人  怵  惕  懼

Thị dục tặc hại mạng                      嗜  欲  賊  害  命

Cố tuệ bất tham dục                       故  慧  不  貪  欲

Người đồng hành thì ít, hàng hóa chuyên chở thì nhiều, kẻ thương nhân lâm vào trạng thái lo lắng, kinh sợ. Biết rằng cái đam mê dục lạc là tên giặc có thể làm tổn hại thân mạng của mình, bậc trí giả không còn chạy theo tham dục.

 

Bài kệ 29

Tâm khả tắc vi dục                         心  可  則  為  欲

Hà tất độc ngũ dục                         何  必  獨  五  欲

Vi khả tuyệt ngũ dục                       違  可  絕  五  欲

Thị nãi vi dũng sĩ                            是  乃   為  勇  士

 

Năm thứ tham dục phát sinh khi tâm mình cảm thấy có sự khả ý. Phải mau chóng chấm dứt cả năm thứ tham dục, đó mới

thật là người dũng sĩ.

 

Bài kệ 30

Vô dục vô hữu úy                           無  欲  無  有  畏

Điềm đạm vô ưu hoạn                     恬  惔  無  憂  患

Dục trừ sử kết giải                          欲  除  使  結  解

Thị vi trường xuất uyên                    是  為  長  出  淵

 

Hết tham dục thì không còn sợ hãi, lúc ấy ta mới được thảnh thơi an lạc. Dục hết thì kết sử cũng hết, do đó hành giả ra khỏi được vực sâu.

 

Bài kệ 31

Dục ngã tri nhữ bổn                        欲  我  知  汝  本

Ý dĩ tư tưởng sanh                         意  以  思  想  生

Ngã bất tư tưởng nhữ                     我  不  思  想  汝

Tắc nhữ nhi bất hữu                        則  汝  而  不  有

 

Nầy ái dục ta ơi, ta biết gốc gác của mi rồi! Dục ý là từ ước muốn và nhận thức sai lầm mà phát khởi. Nay ta không còn ước muốn và nhận thức sai lầm về mi thì làm sao mi còn có thể phát sinh.

 

Bài kệ 32

Phạt thọ hốt hưu                              伐  樹  忽  休

Thọ sanh chư ác                              樹  生  諸  惡

Đoạn thọ tận chu                              斷  樹  盡  株

Tỳ-kheo diệt độ                               比  丘  滅  度

 

Đốn cây ái dục mà không đốn tận gốc thì cây ái dục sẽ mọc trở lại. Đốn cây ái dục mà tận gốc thì vị xuất sĩ đạt tới Niết Bàn.

Bài kệ 33

Phu bất phạt thọ                             夫  不  伐  樹

Thiểu đa dư thân                            少  多  餘  親

Tâm hệ ư thử                                 心  繫  於  此

Như độc cầu mẫu                           如  犢  求  母

 

Nếu không chịu chặt cây ái dục thì cành lá ái dục ít nhiều sẽ còn phát sinh. Tâm còn vướng vào ái dục thì người vẫn còn như một con bê, luôn luôn cần đến vú mẹ.

 

 

Kinh Điều Phục Chính Mình

Là người tu phải như voi ra trận, không sợ trúng tên. Đã có chí nguyện và đức tin thì không còn e ngại những khó khăn trên con đường học đạo.

 

Tượng Dụ Phẩm Pháp Cú Kinh đệ tam thập nhất

象喻品法句經第三十一十有八章

Kinh Điều Phục Chính Mình

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 31

 

Phẩm này có 18 bài kệ. Tượng là con voi. Voi và ngựa là những loài có thể được huấn luyện để phục vụ cho con người. Có những con voi rất giỏi và có những con ngựa rất giỏi, có thể ra trận, có thể chiến thắng, có thể giúp con người làm được những gì con người không làm nổi. Bài kệ thứ nhất nói rằng, là người tu ta phải như voi ra trận, không sợ trúng tên. Đã có chí nguyện và đức tin thì không còn e ngại những khó khăn trên con đường học đạo. Bài kệ thứ hai dạy ta là muốn trở thành pháp khí thì phải đi qua một quá trình luyện tập, như những con voi đã được huấn luyện thành thục mới để cho vua cỡi lên. Bài thứ ba lại nói: những con voi con ngựa đã được điều phục ấy dù có hay có giỏi mấy cũng không so sánh được với cái hay cái giỏi của người điều phục được chính mình. Bài thứ 14 cho ta thấy rằng trong quá trình tu tập, ta chế tác được nhiều hạnh phúc để nuôi dưỡng ta. Bài thứ 17 dạy rằng chính nhờ cái hạnh phúc ấy mà hành giả thực tập thành công các thiền định. Tu thiền là hạnh phúc chứ không phải là khổ hạnh. Đó là ý chỉ của hai chữ thiền duyệt.

 

Bài kệ 1

Ngã như tượng đấu                        我  如  象  鬪

Bất khủng trung tiễn                       不  恐  中  箭

Thường dĩ thành tín                       常  以  誠  信

Độ vô giới nhân                             度  無  戒  人

 

Là người tu, ta phải như voi ra trận, không sợ súng tên. Phải biết sử dụng tâm thành và đức tin để độ cho được những người không biết hành trì giới luật.

 

Bài kệ 2

Thí tượng điều chánh                     譬  象  調  正

Khả trung vương thừa                    可  中  王  乘

Điều vi tôn nhân                             調  為  尊  人

Nãi thọ thành tín                            乃  受  誠  信

 

Những con voi đã được huấn luyện thuần thục mới để cho vua cưỡi lên. Những ai có trải qua sự luyện tập mới thành được bậc tôn quý, mới trở nên đối tượng của tâm thành và đức tin.

 

Bài kệ 3

Tuy vi thường điều                          雖  為  常  調

Như bỉ tân trì                                  如  彼  新  馳

Diệc tối thiện tượng                     亦  最  善  象

Bất như tự điều                             不  如  自  調

 

Những con ngựa và những con voi kia tuy đã được huấn luyện thật hay, thật giỏi, nhưng những cái hay, cái giỏi ấy cũng không sánh được bằng cái hay, cái giỏi có được khi mình tự điều phục được chính mình.

 

Bài kệ 4

Bỉ bất năng thích                             彼  不  能  適

Nhân sở bất chí                              人  所  不  至

Duy tự điều giả                               唯  自  調  者

Năng đáo điều phương                    能  到  調  方

 

Những phương tiện chuyên chở kia dù có hay giỏi cách mấy cũng không đưa mình tới được nơi mình muốn tới. Chỉ khi nào mình tự điều phục được mình thì mình mới có thể tới được nơi ấy.

 

Bài kệ 5

Như tượng danh tài thủ                 如  象  名  財  守

Mãnh hại nan cấm chế                  猛  害  難  禁  制

Hệ bán bất dữ thực                     繫  絆  不  與  食

Nhi do bạo dật tượng                    而  猶  暴  逸  象

 

Con voi Dhanapalaka khi phát dục, trở nên hung hăng không thể kiềm chế, dù bị trói lại, dù bị bỏ đói.

 

Bài kệ 6

Một tại ác hành giả                         沒  在  惡  行  者

Hằng dĩ tham tự hệ                       恒  以  貪  自  繫

Kỳ tượng bất tri yếm                      其  象  不  知  厭

Cố số nhập bào thai                       故  數  入  胞  胎

 

Những kẻ tự đánh mất mình trong hành động xấu ác là do họ lấy sợi dây tham dục mà tự trói lấy mình, cũng như con voi hoang hung hăng không biết dừng lại, do đó cứ tiếp tục đi vào sinh tử.

 

Bài kệ 7

Bản ý vi thuần hành                       本 意  為  純  行

Cập thường hành sở an                 及  常  行  所  安

Tất xả hàng phục kết                     悉  捨  降  伏  結

Như câu chế tượng điều                如  鉤  制  象  調

 

Bản nguyện của ta là thực tập cho thuần thục, để có được sự an ổn bất cứ nơi nào ta tới, vì vậy ta phải buông bỏ tất cả những thói hư tật xấu, hàng phục các kết sử như người luyện voi sử dụng móc và xích để điều phục con voi.

 

Bài kệ 8

Lạc đạo bất phóng dật                   樂  道  不  放  逸

Năng thường tự hộ tâm                能  常  自  護  心

Thị vi bạt thân khổ                         是  為  拔  身  苦

Như tượng xuất vu thao                 如  象  出  于  塪

 

Có niềm vui trong đời sống tu tập, không phóng dật, thường xuyên bảo hộ tâm ý mình thì có thể nhổ được mọi gốc rễ của khổ đau bản thân, như con voi ra khỏi hố sình lầy.

 

Bài kệ 9

Nhược đắc hiền năng bạn               若  得  賢  能  伴

Câu hành hành thiện hãn                 俱  行  行  善  悍

Năng phục chư sở văn                     能  伏  諸  所  聞

Chí đáo bất thất ý                           至  到  不  失  意

 

Nếu may mắn có được một bậc hiền nhân làm bạn thì hãy cùng với người ấy dũng mãnh đi trên con đường hành trì tốt đẹp, để có thể nắm vững được tất cả những điều mình có cơ duyên học hỏi và để tâm ý đạt tới được trạng thái không còn thất niệm.

 

Bài kệ 10

Bất đắc hiền năng bạn                    不  得  賢  能  伴

Câu hành hành ác hãn                    俱  行  行  惡  悍

Quảng đoạn vương ấp lý               廣  斷  王  邑  里

Ninh độc bất vi ác                          寧  獨  不  為  惡

 

Nếu không đủ may mắn có được một bậc hiền nhân làm bạn thì không nên làm bạn với kẻ xấu để sự hành trì càng lúc càng trở nên tồi tệ. Thà rằng ở một mình để đừng đi vào con đường xấu, như một ông vua mất nước cần bỏ thành trì của mình mà ra đi.

 

Bài kệ 11

Ninh độc hành vi thiện                    寧  獨  行  為  善

Bất dữ ngu vi lữ                           不  與  愚  為  侶

Độc nhi bất vi ác                          獨  而  不  為  惡

Như tượng kinh tự hộ                    如  象  驚  自  護

 

Thà sống một mình để có thể tiếp tục đi trên con đường lành hơn là có bạn đồng hành không tốt, như con voi trong cơn nguy biến biết sống một mình trong rừng để tự bảo hộ lấy mình.

 

Bài kệ 12

Sanh nhi hữu lợi an                       生  而  有  利  安

Bạn nhuyễn hòa vi an                    伴  軟  和  為  安

Mạng tận vi phước an                   命  盡  為  福  安

Chúng ác bất phạm an                  眾  惡  不  犯  安

 

Sống có ích cho đời là hạnh phúc, có bạn hiền là hạnh phúc, được làm chuyện phúc thiện cho đến cuối đời là hạnh phúc, không bao giờ bị buộc phải làm chuyện ác đức là hạnh phúc.

 

Bài kệ 13

Nhân gia hữu mẫu lạc                    人  家  有  母  樂

Hữu phụ tư diệc lạc                        有  父  斯  亦  樂

Thế hữu sa môn lạc                        世  有  沙  門  樂

Thiên hạ hữu đạo lạc                      天  下  有  道  樂

 

Được chăm sóc mẹ là hạnh phúc, được phục vụ cho cha là hạnh phúc, được cúng dường cho các bậc sa môn là hạnh phúc, được chia sẻ sự thực tập đạo lý giải thoát với người trong xã hội là hạnh phúc.

Bài kệ 14

Trì giới chung lão an                       持  戒  終  老  安

Tín chánh sở chánh thiện                信  正  所  正  善

Trí tuệ tối an thân                           智  慧  最  安  身

Bất phạm ác tối an                         不  犯  惡  最  安

 

Được hành trì giới luật suốt đời là hạnh phúc, được có niềm tin và đi trên con đường chánh là hạnh phúc, đạt được trí tuệ để sống an ổn là hạnh phúc, không bị ép buộc phải làm điều tàn ác là hạnh phúc.

 

Bài kệ 15

Như mã điều nhuyễn                        如  馬  調  軟

Tùy ý sở như                                  隨  意  所  如

Tín giới tinh tấn                              信  戒  精  進

Định pháp yếu cụ                             定  法  要  具

 

Như con ngựa đã được điều phục thuần thục, biết ý của chủ, người hành giả có đủ các pháp như niềm tin, giới luật, tinh tiến và thiền định.

 

Bài kệ 16

Minh hạnh thành lập                       明  行  成  立

Nhẫn hòa ý định                             忍  和  意  定

Thị đoạn chư khổ                           是  斷  諸  苦

Tùy ý sở như                                隨  意  所  如

 

Đã có đủ cái hiểu, cái hành, cái kiên nhẫn, cái an hòa và cái định tâm thì hành giả sẽ đoạn diệt được mọi khổ đau và thảnh thơi tùy ý rong chơi.

 

Bài kệ 17

Tùng thị vãng định                         從  是  往  定

Như mã điều ngự                           如  馬  調  御

Đoạn khuể vô lậu                           斷  恚  無  漏

Thị thọ thiên lạc                             是  受  天  樂

 

Nhờ hạnh phúc đó mà hành giả đi tới và thành tựu được các thiền định, như con ngựa đã thuần, diệt trừ được sân hận, đạt tới vô lậu và hưởng thụ được niềm vui của các cõi trời.

 

Bài kệ 18

Bất tự phóng tứ                             不  自  放  恣

Tùng thị đa ngụ                              從  是  多  寤

Luy mã bỉ lương                             羸  馬  比  良

Khí ác vi hiền                                棄  惡  為  賢

 

Nhờ không lười biếng mà hành giả đạt được giác ngộ, như con ngựa giỏi, lìa bỏ được phiền não, trở nên bậc hiền nhân.

Kinh Địa Ngục

Địa ngục có mặt ngay trong hiện tại, nếu mình phạm giới, nếu mình làm chứng nhân gian dối, nếu mình gây ra oan ức cho người vô tội.

 

Địa Ngục Phẩm Pháp Cú Kinh đệ tam thập

地獄品法句經第三十

Kinh Địa Ngục

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 30

 

Phẩm này có 16 bài kệ. Các bài kệ 2, 3, 6, 7 và 8 đặc biệt nói tới sự hành trì của người xuất gia, là những tiếng chuông chánh niệm gióng lên cho người xuất gia. Những bài khác là để răn dạy cho cả hai giới xuất gia và tại gia. Địa ngục có mặt ngay trong hiện tại, nếu mình phạm giới, nếu mình làm chứng nhân gian dối, nếu mình gây ra oan ức cho người vô tội. Bốn bài kệ chót đưa ra những tiêu chuẩn hành động chính xác để đừng tạo nhân địa ngục.

Bài thứ 8 nêu lên phương châm thật đơn giản: những gì thường nhật cần làm thì phải nên làm và làm hết lòng. Nên tránh xa những tập tục dị đoan, đừng học thói quen tung lên bụi mờ.

 

Bài kệ 1

Vọng ngữ địa ngục cận                  妄  語  地  獄  近

Tác chi ngôn bất tác                      作  之  言  不  作

Nhị tội hậu câu thọ                        二  罪  後  俱  受

Thị hành tự khiên vãng                  是  行  自  牽  往

 

Nói dối sẽ đi vào địa ngục. Có làm mà nói không làm, cả hai tội ấy đều sẽ đưa tới sự tiếp nhận quả báo. Tự mình gây nghiệp, nghiệp kéo mình đi.

 

Bài kệ 2

Pháp y tại kỳ thân                          法  衣  在  其  身

Vi ác bất tự cấm                           為  惡  不  自  禁

Cẩu một ác hành giả                      苟  沒  惡  行  者

Chung tắc đọa địa ngục                  終  則  墮  地  獄

 

Pháp y còn khoác trên thân mà cứ tiếp tục làm điều ác, không biết tự chế, khinh suất, tự đánh mất mình trong hành động xấu, cuối cùng vị Tỳ-khưu sẽ phải rơi vào địa ngục.

 

Bài kệ 3

Vô giới thọ cúng dường                 無  戒  受  供  養

Lý khởi bất tự tổn                           理  豈  不  自  損

Tử đạm thiêu thiết hoàn                  死  噉  燒  鐵  丸

Nhiên nhiệt kịch hỏa thán                然  熱  劇  火  炭

 

Phạm giới mà vẫn tiếp nhận sự cúng dường thì làm sao mà tránh khỏi sự tổn hại của phước đức tự thân? Chết đi sẽ phải nuốt viên sắt nóng và hình hài sẽ bị lửa đốt cháy thành than.

 

Bài kệ 4

Phóng dật hữu tứ sự                      放  逸  有  四  事

Hảo phạm tha nhân phụ                  好  犯  他  人  婦

Ngọa hiểm phi phước lợi               臥  險  非  福  利

Hủy tam dâm dật tứ                      毀  三  淫  泆  四

 

Phóng túng và có ý muốn xâm phạm đến tiết hạnh của người sẽ đưa tới bốn tai hại: thứ nhất là gặp tai họa, thứ hai là đánh mất tất cả mọi phúc lợi, thứ ba là bị chê bai, thứ tư là trở nên dâm dật.

 

Bài kệ 5

Bất phước lợi đọa ác                      不  福  利  墮  惡

Úy ác úy lạc quả                             畏  惡  畏  樂  寡

Vương pháp trọng phạt gia              王  法  重  罰  加

Thân tử nhập địa ngục                     身  死  入  地  獄

Những kẻ ấy đánh mất phước đức, đi về nẻo tối tăm, sợ hãi, mất an vui, bị pháp luật trừng phạt và khi chết sẽ đọa xuống địa ngục.

 

Bài kệ 6

Thí như bạt gian thảo                      譬  如  拔  菅  草

Chấp hoãn tức thương thủ               執  緩  則  傷  手

Học giới bất cấm chế                      學  戒  不  禁  制

Ngục lục nãi tự tặc                         獄  錄  乃  自  賊

 

Nắm quá chặt một nắm cỏ Kusa thì sẽ bị đứt tay, kẻ thọ giới rồi mà không hành trì giới thì thế nào cũng tự làm hại mình, sổ sách địa ngục thế nào cũng có ghi chép những gì mình đã phạm.

 

Bài kệ 7

Nhân hành vi mạn nọa                   人  行  為  慢  惰

Bất năng trừ chúng lao                   不  能  除  眾  勞

Phạm hạnh hữu điếm khuyết           梵  行  有  玷  缺

Chung bất thọ đại phước                 終  不  受  大  福

 

Hành đạo mà kiêu mạn và lười biếng thì không có khả năng diệt trừ được trần lao. Đời sống phạm hạnh mà bị hoen ố thì cuối cùng người hành đạo cũng không đạt được hạnh phúc lớn.

 

Bài kệ 8

Thường hành sở đương hành             常  行  所  當  行

Tự trì tất lệnh cường                         自  持  必  令  強

Viễn ly chư ngoại đạo                        遠  離  諸  外  道

Mạc tập vi trần cấu                            莫  習  為  塵  垢

 

Những gì thường nhật cần làm thì phải nên làm và phải làm với tất cả khả năng mình. Nên tránh xa những tập tục dị đoan, đừng học thói quen tung lên bụi mờ.

 

Bài kệ 9

Vi sở bất đương vi                          為  所  不  當  為

Nhiên hậu trí uất độc                       然  後  致  欝  毒

Hành thiện thường cát thuận            行  善  常  吉  順

Sở thích vô hối lận                           所  適  無  悔  恡

 

Làm những việc không nên làm thì sau này sẽ gánh chịu nhiều độc hại. Làm điều lành thì đem tới nhiều điều may mắn và thuận lợi, sau đó cảm thấy thoải mái và sẽ không bao giờ hối hận.

 

Bài kệ 10

Kỳ ư chúng ác hành                       其  於  眾  惡  行

Dục tác nhược dĩ tác                      欲  作  若  已  作

Thị khổ bất khả giải                        是  苦  不  可  解

Tội cận nan đắc tị                           罪  近  難  得  避

 

Những hành vi sai trái mà mình định làm hoặc đã làm, các khổ đau do chúng gây ra khó mà giải trừ được. Khi quả báo đến thì khó mà tránh thoát.

 

Bài kệ 11

Vọng chứng cầu bại                        妄  證  求  敗

Hành dĩ bất chánh                           行  已  不  正

Oán trấm lương nhân                      怨  譖  良  人

Dĩ  uổng trị sĩ                                 以  抂  治  士

Tội phược tư nhân                          罪  縛  斯  人

Tự đầu vu khanh                             自  投  于  坑

Như bị biên thành                            如  備  邊  城

Trung ngoại lao cố                          中  外  牢  固

Làm chứng nhân gian dối để cho kẻ khác bị hại, làm những việc bất chánh, gây ra oan ức cho người vô tội, dùng những biện pháp không ngay thẳng để hại người, những việc làm như thế sẽ trói buộc mình và làm cho mình rơi xuống hầm hố của địa ngục.

 

Bài kệ 12

Tự thủ kỳ tâm                                 自  守  其  心

Phi pháp bất sanh                          非  法  不  生

Hành khuyết trí ưu                           行  缺  致  憂

Lệnh đọa địa ngục                           令  墮  地  獄

 

Như kẻ cố thủ thành quách ở biên ải, trong ngoài đều phải kiên cố, ta phải giữ gìn tâm ta để cho những việc phi pháp đừng có dịp phát sinh. Bởi vì mọi sơ sót đều có thể đem tới lo âu và làm cho mình rơi vào địa ngục.

 

Bài kệ 13

Khả tu bất tu                                可  羞  不  羞

Phi tu phản tu                                 非  羞  反  羞

Sanh vi tà kiến                                生  為  邪  見

Tử đọa địa ngục                            死  墮  地  獄

Cái sai lạc mà nói không sai lạc, cái không sai lạc mà nói là sai lạc, lúc sống cứ mang tà kiến này thì khi chết sẽ sa vào địa ngục.

 

Bài kệ 14

Khả úy bất úy                                可  畏  不  畏

Phi úy phản úy                               非  畏  反  畏

Tín hướng tà kiến                           信  向  邪  見

Tử đọa địa ngục                             死  墮  地  獄

 

Cái đáng sợ mà không sợ, cái không đáng sợ mà sợ, tin tưởng vào cái thấy sai lạc ấy thì khi chết sẽ sa vào địa ngục.

 

Bài kệ 15

Khả tị bất tị                                     可  避  不  避

Khả tựu bất tựu                              可  就  不  就

Ngoạn tập tà kiến                           翫  習  邪  見

Tử đọa địa ngục                             死  墮  地  獄

 

Cái đáng trách mà không chịu trách, cái không đáng trách mà cứ trách, cứ theo cái thói quen ấy thì khi chết sẽ sa vào địa ngục.

 

Bài kệ 16

Khả cận tắc cận                              可  近  則  近

Khả viễn tắc viễn                            可  遠  則  遠

Hằng thủ chánh kiến                       恒  守  正  見

Tử đọa thiện đạo                            死  墮  善  道

 

Cái đáng thân cận thì nên thân cận, cái cần lánh xa thì nên lánh xa, thường xuyên duy trì chánh kiến thì khi chết sẽ đi về nẻo an lành.

Kinh Tuyết Trên Đỉnh Núi

Gần đạo thì danh dự hiển bày như tuyết trên đỉnh núi cao, xa đạo thì ám muội như mũi tên bắn đi trong đêm tối.

 

Quảng Diễn Phẩm Pháp Cú Kinh đệ nhị thập cửu chương

廣衍品法句經第二十九

Kinh Tuyết Trên Đỉnh Núi

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 29

 

Phẩm này có 14 bài kệ. Quảng diễn, có nghĩa là diễn bày cho rộng rãi hơn. Phẩm này bổ túc cho phẩm đi trước. Những bài kệ trong phẩm này nói tới năm căn và năm lực: tín (13), tấn (4), niệm (8, 9), định (9) và tuệ (5 và 6). Bài kệ thứ 7 là một bài thơ có hình ảnh rất đẹp: gần đạo thì danh dự hiển bày như tuyết trên đỉnh núi cao, xa đạo thì ám muội như mũi tên bắn đi trong đêm tối.

 

Bài k 1

Thí an tuy tiểu                                 施  安  雖  小

Kỳ báo di đại                                  其  報  彌  大

Tuệ tùng tiểu thí                              慧  從  小  施

Thọ kiến cảnh phước                       受  見  景  福

 

Hiến tặng sự bình an, dù cho rất ít, cũng đem lại phước báo lớn lao. Hiến tặng tuệ giác, dù cho rất ít, quả phúc nhận được cũng rất lớn lao.

 

Bài kệ 2

Thí lao ư nhân                                施  勞  於  人

Nhi dục vọng hữu                            而  欲  望  祐

Ương cữu quy thân                        殃  咎  歸  身

Tự cấu quảng oán                          自  遘  廣  怨

 

Trong khi làm cho kẻ khác lao đao mà lại mong cầu mình có được sự bảo hộ phò trợ thì tai ương sẽ trở lại với mình và mình sẽ gặp thù oán lớn.

 

Bài kệ 3

Dĩ vi đa sự                                      已  為  多  事

Phi sự diệc tạo                               非  事  亦  造

Kĩ nhạc phóng dật                           伎  樂  放  逸

Ác tập nhật tăng                              惡  習  日  增

 

Đã làm quá nhiều việc trong đó có những việc không đáng làm, lười biếng chỉ lo nghe nhạc và chơi bời thì thói xấu càng ngày càng tăng trưởng.

 

Bài kệ 4

Tinh tấn duy hành                           精  進  惟  行

Tập thị xả phi                                 習  是  捨  非

Tu thân tự giác                               修  身  自  覺

Thị vi chánh tập                              是  為  正  習

 

Biết hành trì tinh tấn, tập làm những điều nên làm và không làm nữa những điều không nên làm, thực tập phép niệm thân mới được gọi là sự thực tập chính đáng.

 

Bài kệ 5

Ký tự giải tuệ                                  既  自  解  慧

Hựu đa học vấn                           又  多  學  問

Tiệm tiến phổ quảng                       漸  進  普  廣

Du tô đầu thủy                                油  酥  投  水

 

Đã biết tự mình thực tập để nuôi lớn tuệ giác, lại còn biết học hỏi cho nhiều thì nhân cách của mình càng ngày càng lớn lao, càng rộng rãi, như dầu loang đi vào trong nước.

 

Bài kệ 6

Tự vô tuệ ý                                     自  無  慧  意

Bất hảo học vấn                              不  好  學  問

Ngưng súc hiệp tiểu                         凝  縮  狹  小

Lạc tô đầu thủy                                酪  酥  投  水

 

Tâm đã không có tuệ mà còn làm biếng học hỏi nữa thì nhân cách mình càng ngày càng ngưng đọng và co rút lại như cục bơ bỏ vào trong nước.

 

Bài kệ 7

Cận đạo danh hiển                         近  道  名  顯

Như cao sơn tuyết                          如  高  山  雪

Viễn đạo ám  muội                         遠  道  闇  昧

Như dạ phát tiến                            如  夜  發  箭

 

Gần đạo thì danh dự hiển bày như tuyết trên đỉnh núi cao, xa đạo thì ám muội như mũi tên bắn đi trong đêm tối.

 

Bài kệ 8

Vi Phật đệ tử                                   為  佛  弟  子

Thường ngụ tự giác                         常  寤  自  覺

Trú dạ niệm Phật                             晝  夜  念  佛

Duy Pháp tư chúng                          惟  法  思  眾

 

Là đệ tử Bụt, phải thường tỉnh thức, đêm ngày niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.

 

Bài kệ 9

Vi Phật đệ tử                                   為  佛  弟  子

Đương ngụ tự giác                           當  寤  自  覺

Nhật mộ tư thiền                             日  暮  思  禪

Lạc quán nhất tâm                            樂  觀  一  心

 

Là đệ tử Bụt, phải thường tỉnh thức, sớm chiều tu tập thiền quán, thực tập nhất tâm an trú, có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại.

 

Bài kệ 10

Nhân đương hữu niệm ý                 人  當  有  念  意

Mỗi thực tri tự thiểu                        每  食  知  自  少

Tắc thị thống dục bạc                      則  是 痛  欲  薄

Tiết tiêu nhi bảo thọ                         節  消  而  保  壽

 

Người nào có thực tập chánh niệm thì mỗi khi ăn biết ăn ít lại. Người ấy sẽ ít khổ đau vì ham muốn, biết tiêu thụ có chừng mực và bảo trì được tuổi thọ.

 

Bài kệ 11

Học nan xả tội nan                          學  難  捨  罪  難

Cư tại gia diệc nan                         居  在  家  亦  難

Hội chỉ đồng lợi nan                        會  止  同  利  難

Nan nan vô quá hữu                        難  難  無  過  有

 

Tu học là chuyện khó, buông bỏ tội chướng là chuyện khó, sống đời tại gia là khó và cùng hưởng lợi lộc chung cũng khó; nhưng cái khó nhất trong tất cả các cái khó là đừng tiếp tục gây ra lầm lỗi nữa.

 

Bài kệ 12

Tỳ-kheo khất cầu nan                     比  丘  乞  求  難

Hà khả bất tự miễn                        何  可  不  自  勉

Tinh tấn đắc tự nhiên                      精  進  得  自  然

Hậu vô dục ư nhân                         後  無  欲  於  人

Vị Tỳ-khưu phải đi xin xỏ người ta là một chuyện khó. Tại sao không tự mình cố gắng, tinh tiến và tự tại để sau này sẽ không cần cầu cạnh ai?

 

Bài kệ 13

Hữu tín tắc giới thành                      有  信  則  戒  成

Tùng giới đa trí bảo                        從  戒  多  致  寶

Diệc tùng đắc hài ngẫu                    亦  從  得  諧  偶

Tại sở kiến cúng dường                  在  所  見  供  養

 

Có niềm tin thì giới pháp sẽ thành tựu. Hành trì giới pháp sẽ làm phát sinh ra những châu báu quý giá nhất và cũng sẽ có những cuộc gặp gỡ tốt đẹp. Ngay tại nơi mình ở, mình không cần phải lo lắng về việc cúng dường.

 

Bài kệ 14

Nhất tọa nhất xứ ngọa                    一  坐  一  處  臥

Nhất hành vô phóng tứ                   一  行  無  放  恣

Thủ nhất dĩ chánh thân                    守  一  以  正  身

Tâm lạc cư thọ gian                        心  樂  居  樹  間

 

Một mình ngồi, một mình nằm, một mình đi, không buông lung, một mình điều phục tự thân, vị Tỳ-khưu tìm được cái an lạc trong cảnh núi rừng.

Kinh Con Đường

Không có con đường đưa tới hạnh phúc. Hạnh phúc chính là con đường.

Không có con đường đưa tới niết bàn. Niết bàn chính là con đường.

 

Đạo Hành Phẩm Pháp Cú Kinh đệ nhị thập bát

道行品法句經第二十八

Kinh Con Đường

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 28

 

Phẩm này có 28 bài kệ. Đạo ở đây là đường đạo (magga). Bài kệ thứ nhất nói ngay rằng Bát chánh đạo là con đường tối thượng và Tứ đế là dấu ấn của chánh pháp. Đã được đi trên con đường này thì mình không còn lý do gì phải e ngại và sợ hãi nữa. Đó là nội dung bài thứ 2. Ở Làng Mai ai cũng biết câu: “Đã có đường đi rồi, con không còn lo sợ.” Câu này được trích từ ‘‘Bài tụng hạnh phúc’’ trong sách Nhật Tụng Thiền Môn.

Bài thứ 7 nhắc rằng chánh niệm là trái tim của sự thực tập. Có chánh niệm thì tà niệm được nhận diện, không còn phát khởi. Chánh niệm thành công sẽ đem tới sự thành công của 7 chi phần khác trong Bát chánh đạo.

Bài 17 dạy rằng sự nghiệp lớn lao nhất là trí tuệ. Đây cũng là một trong tám điều mà các bậc giác ngộ đã đạt tới trong kinh Bát Đại Nhân Giác (Duy tuệ thị nghiệp: sự nghiệp duy nhất là trí tuệ). Các bài 19, 20 và 21 nói tới ba pháp ấn là khổ, không và vô ngã. Bài thứ 23 nhắc lại câu nói của Bụt vào giờ phút thành đạo: người xây cất nhà tù cho ta không còn.

Ba phép quán niệm nói tới trong bài kệ thứ 26 có thể là ba phép quán niệm về vô thường, không và vô ngã; cũng có thể là ba phép tùy niệm: niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng. Bài thứ 28 nói tiếp về phép tùy niệm thứ tư là niệm Giới. Ba định nói trong bài kệ thứ 27 có thể là không, vô tướng và vô tác, còn gọi là ba cánh cửa giải thoát. Ba chữ hành vô lượng có thể là hành trì bốn vô lượng tâm tức là từ, bi, hỷ và xả; cũng có thể có nghĩa là đạt tới chỗ cao nhất của chứng ngộ. Câu ‘‘đắc tam tam quật trừ’’ trong nguyên văn có thể được hiểu là đạt tới ba định ấy thì giải thoát được ba cõi dục, sắc và vô sắc; hoặc thoát được ba con đường dữ là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Chữ khuất hay quật (tam khuất) có nghĩa là hang động.

 

Bài kệ 1

Bát trực tối thượng đạo                  八  直  最  上  道

Tứ đế vi Pháp tích                          四  諦  為  法  迹

Bất dâm hành chi tôn                      不  婬  行  之  尊

Thí đăng tất đắc nhãn                     施  燈  必  得  眼

 

Bát chánh là con đường tối thượng. Tứ đế là dấu tích của Pháp. Nếp sống tịnh hạnh là đáng tôn kính nhất. Cúng dường đèn thì sẽ được pháp nhãn (có ánh sáng).

 

Bài kệ 2

Thị đạo vô phục úy                          是  道  無  復  畏

Kiến tịnh nãi độ thế                          見  淨  乃  度  世

Thử năng hoại ma binh                    此  能  壞  魔  兵

Lực hành diệt tà khổ                       力  行  滅  邪  苦

 

Được đi trên con đường này rồi thì không còn phải lo sợ nữa. Được thanh tịnh hóa rồi thì mới có thể độ đời. Đạo pháp này có thể đánh bại ma quân, tận lực hành trì theo đây thì sẽ diệt được mọi tà khổ.

 

Bài kệ 3

Ngã dĩ khai chánh đạo                   我  已  開  正  道

Vi đại hiện dị minh                         為  大  現  異  明

Dĩ văn đương tự hành                   已  聞  當  自  行

Hành nãi giải tà phược                   行  乃  解  邪  縛

 

Ta đã mở được con đường chánh đạo. Đó là một sự biểu hiện vĩ đại, sáng chói dị thường. Đã có cơ duyên nghe được thì phải tự mình hành trì, hành trì thì cởi bỏ được những dây ràng buộc tà quấy.

 

Bài kệ 4

Sanh tử phi thường khổ                 生  死  非  常  苦

Năng quán kiến vi tuệ                    能  觀  見  為  慧

Dục ly nhất thiết khổ                     欲  離  一  切  苦

Hành đạo nhất thiết trừ                行  道  一  切  除

 

Sinh tử là cái khổ phi thường, có khả năng quán chiếu và thấy được thì đạt được tuệ giác. Nếu muốn lìa bỏ tất cả các khổ đau thì phải chuyên cần hành đạo.

 

Bài k5

Sanh tử phi thường không             生  死  非  常  空

Năng quán kiến vi tuệ                    能  觀  見  為  慧

Dục ly nhất thiết khổ                     欲  離  一  切  苦

Đãn đương cần hành đạo             但  當  勤  行  道

 

Sinh tử là cái không phi thường, có khả năng quán chiếu và thấy được thì đạt tới tuệ giác. Nếu muốn lìa bỏ tất cả các khổ đau thì phải chuyên cần hành đạo.

 

Bài k6

Khởi thời đương tức khởi                 起  時  當  即  起

Mạc như ngu phú uyên                     莫  如  愚  覆  淵

Dữ đọa dữ chiêm tụ                         與  墮  與  瞻  聚

Kế bãi bất tiến đạo                          計  罷  不  進  道

 

Tới giờ thức dậy thì phải dậy, đừng như bọn ngu phu cứ muốn che lấp vực sâu, sống đời sa đọa không có dũng khí; sợ mệt thì không thể đi tới được trên con đường đạo.

 

Bài kệ 7

Niệm ưng niệm tắc chánh               念  應  念  則  正

Niệm bất ưng tức tà                        念  不  應  則  邪

Tuệ nhi bất khởi tà                          慧  而  不  起  邪

Tư chánh đạo nãi thành                   思  正  道  乃  成

 

Khi nhớ nghĩ thì phải sử dụng chánh niệm, không thể là tà niệm. Có tuệ thì tà niệm không khởi, không có chánh niệm thì tà niệm mới khởi. Phải thực tập tư duy về (bát) chánh đạo thì mới thành tựu được (công phu).

 

Bài kệ 8

Thận ngôn thủ ý niệm                    慎  言  守  意  念

Thân bất thiện bất hành                 身  不  善  不  行

Như thị tam hành trừ                     如  是  三  行  除

Phật thuyết thị đắc đạo                  佛  說  是  得  道

 

Nói năng phải thận trọng, giữ ý cho chánh niệm, cái gì bất thiện thì thân mình không làm, như vậy ba nghiệp được thanh trừ. Bụt nói, nếu được như thế là ta đã nắm được đạo lý.

 

Bài kệ 9

Đoạn thọ vô phạt bổn                      斷  樹  無  伐  本

Căn tại do phục sanh                      根  在  猶  復  生

Trừ căn nãi vô thọ                           除  根  乃  無  樹

Tỳ-kheo đắc nê hoàn                      比  丘  得  泥  洹

 

Chặt cây không bứng gốc, rễ lại mọc thành cây, bứng gốc mới hết cây, do đó vị Tỳ-kheo chứng đắc được Niết Bàn.

Bài k10

Bất năng đoạn thọ                          不  能  斷  樹

Thân thích tướng luyến                   親  戚  相  戀

Tham ý tự phược                           貪  意  自  縛

Như độc mộ nhũ                             如  犢  慕  乳

 

Nếu không đốn được cây (ái dục), nếu vẫn còn vướng bận trong lòng luyến ái thân thuộc, nếu còn tự trói mình bằng dục ý thì cũng vẫn như một con bê con suốt ngày quanh quẩn bên vú mẹ.

 

Bài k 11

Năng đoạn ý bổn                             能  斷  意  本

Sanh tử vô cường                           生  死  無  彊

Thị vi cận đạo                                 是  為  近  道

Tật đắc nê hoàn                              疾  得  泥  洹

 

Có khả năng cắt đứt được gốc (của dục ý) thì lãnh thổ của sinh tử không còn. Sự thực tập này đưa mình tới gần đạo, chứng đạt Niết Bàn.

 

Bài k12

Tham dâm trí lão                            貪  婬  致  老

Sân khuể trí bệnh                           瞋  恚  致  病

Ngu si trí tử                                    愚  癡  致  死

Trừ tam đắc đạo                             除  三  得  道

 

Tham dục đem tới cái già, sân nhuế đem tới cái bệnh, si mê đem tới cái chết; trừ diệt được ba cái ấy thì đắc đạo.

 

Bài k13

Thích tiền giải hậu                           釋  前  解  後

Thoát trung độ bỉ                            脫  中  度  彼

Nhất thiết niệm diệt                          一  切  念  滅

Vô phục lão tử                                無  復  老  死

 

Chú thích xong mới nên bình giảng, tự độ thoát rồi mới độ thoát cho người khác; một khi tất cả các (tà) niệm đều đã diệt trừ thì không còn lão tử nữa.

 

Bài kệ 14

Nhân doanh thê tử                         人  營  妻  子

Bất quán bệnh pháp                        不  觀  病  法

Tử mạng tốt chí                              死  命  卒  至

Như thủy thoan sậu                          如  水  湍  驟

 

Con người bận lo âu việc vợ con, không có thời giờ quán chiếu pháp môn điều trị bệnh (khổ), khi cái chết đến thì cũng giống như nước lụt, nó cuốn trôi đi tất cả một cách mau chóng.

 

Bài kệ 15

Phụ tử bất cứu                               父  子  不  救

Dư thân hà vọng                             餘  親  何  望

Mạng tận hỗ thân                           命  盡  怙  親

Như manh thủ đăng                        如  盲  守  燈

 

Cha con mà còn không cứu được nhau thì làm sao cứu được thân tộc? Khi mạng hết, cầu cứu và đến nương tựa vào một người thân để khỏi chết thì cũng như một người mù đang cầm đèn.

 

Bài kệ 16

Tuệ giải thị ý                                  慧  解  是  意

Khả tu kinh giới                              可  修  經  戒

Cần hành độ thế                             勤  行  度  世

Nhất thiết trừ khổ                           一  切  除  苦

 

Tâm ý biết đi theo tuệ giải, có khả năng tu tập, biết đọc kinh, trì giới, siêng năng tu học và độ đời thì ai cũng có thể diệt trừ được khổ đau.

 

Bài kệ 17

Viễn ly chư uyên                             遠  離  諸  淵

Như phong khước vân                      如  風  却  雲

Dĩ diệt tư tưởng                              已  滅  思  想

Thị vi tri kiến                                  是  為  知  見

 

Xa lìa các dòng lũ lụt, như gió thổi tan mây, biết diệt trừ các vọng tưởng thì sẽ đạt tới tri kiến chân chính.

 

Bài kệ 18

Trí vi thế trường                              智  為  世  長

Đàm lạc vô vi                                  惔  樂  無  為

Tri thọ chánh giáo                            知  受  正  教

Sanh tử đắc tận                              生  死  得  盡

 

Xem trí tuệ là sự nghiệp quan trọng nhất trong đời, biết thờ ơ với dục lạc, biết thực tập vô vi, biết tiếp nhận chánh giáo thì có thể chấm dứt được sinh tử.

 

Bài kệ 19

Tri chúng hành không                      知  眾  行  空

Thị vi tuệ kiến                                 是  為  慧  見

Bãi yếm thế khổ                              罷  厭  世  苦

Tùng thị đạo trừ                             從  是  道  除

 

Biết được các hành là không, đó là tuệ giác, biết nhàm chán khổ đau của cuộc đời thì sẽ tìm ra được con đường diệt trừ đau khổ.

 

Bài kệ 20

Tri chúng hành khổ                          知  眾  行  苦

Thị vi tuệ kiến                                 是  為  慧  見

Bãi yếm thế khổ                             罷  厭  世  苦

Tùng thị đạo trừ                             從  是  道  除

 

Biết được các hành là khổ, đó là tuệ kiến, có tâm ý chấm dứt khổ đau trong cuộc đời thì sẽ tìm ra được con đường diệt trừ đau khổ.

 

Bài kệ 21

Chúng hành phi thân                       眾  行  非  身

Thị vi tuệ kiến                                 是  為  慧  見

Bãi yếm thế khổ                             罷  厭  世  苦

Tùng thị đạo trừ                             從  是  道  除

 

Biết được các hành là vô ngã (phi thân), đó là tuệ giác, có tâm ý chấm dứt đau khổ trong cuộc đời thì sẽ tìm ra được con đường diệt trừ đau khổ.

 

Bài kệ 22

Ngô ngữ nhữ Pháp                         吾  語  汝  法

Ái tiến vi xạ                                    愛  箭  為  射

Nghi dĩ tự húc                                宜  以  自  勗

Thọ Như Lai ngôn                         受  如  來  言

 

Tôi nói cho quý vị nghe về các phép tu ấy để quý vị có thể sử dụng mà bắn rơi mũi tên ái dục. Các vị nên tự mình khích lệ và tiếp nhận lời dạy ấy của Như Lai.

 

Bài k 23

Ngô vi đô dĩ diệt                             吾  為  都  以  滅

Vãng lai sanh tử tận                        往  來  生  死  盡

Phi nhất tình dĩ giải                         非  一  情  以  解

Sở diễn vi đạo nhãn                        所  演  為  道  眼

 

Người xây cất nhà tù cho ta không còn. Chuyện qua lại trong cõi sinh tử do đó cũng đã chấm dứt. Không có sợi dây ràng buộc nào mà chưa được mở ra. Những gì được diễn bày ra đều phát xuất từ con mắt đạo.

 

Bài kệ 24

Sử lưu chú vu hải                           駛  流  澍  于  海

Phan thủy dạng tật mãn                 潘  水  漾  疾  滿

Cố vi trí giả thuyết                          故  為  智  者  說

Khả thú phục cam lộ                      可  趣  服  甘  露

 

Sông chảy ra biển, các dòng nước đã đầy, giáo pháp này đã vì các bậc trí giả mà được nói lên, (ai tiếp nhận được) sẽ có khả năng nếm được vị cam lộ.

 

Bài kệ 25

Tiền vị văn Pháp luân                     前  未  聞  法  輪

Chuyển vi ai chúng sanh                 轉  為  哀  眾  生

Ư thị phụng sự giả                         於  是  奉  事  者

Lễ chi độ tam hữu                          禮  之  度  三  有

 

Trước chưa từng được nghe ai chuyển pháp luân. Sở dĩ có chuyển cũng vì thương chúng sinh, những ai biết nghe theo thì có thể vượt được tam hữu.

 

Bài kệ 26

Tam niệm khả niệm thiện                三  念  可  念  善

Tam diệc nan bất thiện                   三  亦  難  不  善

Tùng niệm nhi hữu hành                 從  念  而  有  行

Diệt chi vi chánh đoạn                    滅  之  為  正  斷

 

Nếu thực tập được ba phép niệm thì rất tốt, bởi vì ba phép này có thể giúp ta thoát khỏi con đường bất thiện. Từ niệm mà có hành, chấm dứt được cái bất thiện là Niết Bàn chân chính.

 

Bài kệ 27

Tam định vi chuyển niệm                三  定  為  轉  念

Khí y hành vô lượng                       棄  猗  行  無  量

Đắc tam tam quật trừ                    得  三  三  窟  除

Giải kết khả ưng niệm                    解  結  可  應  念

 

Tam định là để chuyển niệm, buông bỏ cái rườm rà bên ngoài để thực hành vô lượng tâm (dũng mãnh đạt tới đạo vô thượng). Ba định trừ diệt được ba cõi, muốn cởi bỏ nội kết phải thực tập (ba định) này.

 

Bài kệ 28

Tri dĩ giới cấm ác                           知  以  戒  禁  惡

Tư tánh tuệ lạc niệm                      思  惟  慧  樂  念

Dĩ tri thế thành bại                         已  知  世  成  敗

Tức ý nhất thiết giải                      息  意  一  切  解

 

Biết sử dụng giới luật để ngăn cản tội lỗi, biết tư duy thiền tập để đạt tới an lạc, trí tuệ và chánh niệm. Đã biết được bản chất của cái thành bại trong cuộc đời, dừng được sự rong ruổi của tâm ý thì tất cả mọi hệ lụy đều được giải thoát.

Kinh Phụng Trì

Người tu đích thực đang thực sự phục trì chánh pháp không hẳn là người đang nói nhiều về Phật pháp. Có thể kiến thức Phật pháp của người ấy còn ít, nhưng người ấy đang thật sự nương tựa vào chánh pháp để hành trì.

 

Phụng Trì Phẩm Pháp Cú Kinh đệ nhị thập thất

奉持品法句經第二十七

Kinh Phụng Trì

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 27

 

Phẩm này có 15 bài kệ. Phụng trì có nghĩa là vâng theo lời chỉ giáo và thực tập theo những lời chỉ giáo ấy. Các bài kệ thứ 3 và thứ 4 dạy ta thực tập mà đừng ham lý luận và phô trương kiến thức, dù là kiến thức Phật học. Bài 12 dạy rằng sự im lặng chưa hẳn đã là dấu hiệu của minh triết: im lặng chỉ là cái vỏ minh triết nếu bên trong tâm ý còn có những dự tính không trong sáng. Bài 13 định nghĩa một vị Mâu ni: đạt được vô vi, tâm ý thanh khiết, không còn vướng bận, an trú Niết bàn trong giây phút hiện tại.

Các bài 5, 6, 7, 8, 9, 10 và 11 cho thấy thế nào là một vị xuất gia đích thực.

 

Bài kệ 1

Hảo kinh đạo giả                             好  經  道  者

Bất cạnh ư lợi                                 不  競  於  利

Hữu lợi vô lợi                                  有  利  無  利

Vô dục bất hoặc                              無  欲  不  惑

 

Người ưa thích học kinh và hành đạo thì không ham tranh đua về mặt lợi lộc. Dù những cái kia có lợi hay không có lợi thì mình cũng không ham muốn chạy theo, không bị mê hoặc bởi chúng.

 

Bài k 2

Thường mẫn hảo học                      常  愍  好  學

Chánh tâm dĩ  hành                         正  心  以  行

Ủng hoài  bảo tuệ                           擁  懷  寶  慧

Thị vị vi đạo                                   是  謂  為  道

 

Thường có tâm lân mẫn, ưa tu tập học hỏi, đem tâm chính trực của mình để hành trì, ôm ấp chí nguyện đạt tới kho tàng quý báu của tuệ giác, như thế mới gọi là kẻ hành đạo chân chính.

 

Bài k3

Sở vị trí giả                                      所  謂  智  者

Bất tất biện ngôn                             不  必  辯  言

Vô khủng vô cụ                               無  恐  無  懼

Thủ thiện vi trí                                 守  善  為  智

 

Người có trí không phải là người ưa biện luận. Không hề sợ hãi, luôn luôn biết bảo hộ cái thiện, đó mới là người trí.

 

Bài kệ 4

Phụng trì Pháp giả                         奉  持  法  者

Bất dĩ đa ngôn                                不  以  多  言

Tuy tố thiểu văn                               雖  素  少  聞

Thân y Pháp hành                           身  依  法  行

 

Người tu đích thực đang thực sự phụng trì chánh pháp không hẳn là người đang nói nhiều về Phật pháp. Có thể kiến thức Phật pháp của người ấy còn ít, nhưng người ấy đang thực sự nương tựa vào chánh pháp để hành trì.

 

Bài k 5

Thủ đạo bất kị                                  守  道  不  忌

Khả vị phụng Pháp                           可  謂  奉  法

Sở vị lão giả                                    所  謂  老  者

Bất tất niên kì                                 不  必  年  耆

Hình thục phát bạch                         形  熟  髮  白

Xuẩn ngu nhi dĩ                               憃  愚  而  已

 

Không xao lãng công phu tu tập mới là người phụng trì chánh pháp. Không phải do sống lâu mà người ta trở thành một vị trưởng lão trong Phật pháp. Tuy có hình tướng thân già tóc bạc, nhưng người ấy không phải là một vị đạo cao đức trọng, mà vẫn chỉ là một kẻ ngu phu.

 

Bài k 6

Vị hoài đế Pháp                              謂  懷  諦  法

Thuận điều từ nhân                         順  調  慈  仁

Minh viễn thanh khiết                      明  遠  清  潔

Thị vi Trưởng lão                           是  為  長  老

 

Ôm được chánh pháp vào lòng, tu tập theo nếp sống nhân từ, người có đạo hạnh chiếu sáng và thấy xa, nếp sống thanh khiết, mới có thể được gọi là một vị thượng tọa, đại đức hay trưởng lão.

 

Bài k 7

Sở vị đoan chánh                             所  謂  端  政

Phi sắc như hoa                              非  色  如  花

Xan tật hư sức                                慳  嫉  虛  飾

Ngôn hành hữu vi                            言  行  有  違

 

Như một bông hoa chỉ có sắc không hương, xan lẫn, tật đố, chỉ có giả trang hình tướng bên ngoài, lời nói và hành động đi ngược lại với nhau thì chưa có thể gọi là một người thực sự đoan chính.

 

Bài k8

Vị năng xả ác                                  謂  能  捨  惡

Căn nguyên dĩ đoạn                         根  原  已  斷

Tuệ nhi vô khuể                               慧  而  無  恚

Thị vị đoan chánh                            是  謂  端  政

Sở vị Sa môn                                  所  謂  沙  門

Phi tất trừ phát                               非  必  除  髮

Vọng ngữ tham thủ                         妄  語  貪  取

Hữu dục như phàm                        有  欲  如  凡

 

Buông bỏ được tà hạnh, cắt đứt được gốc rễ của ác, có tuệ giác, không còn sân nhuế, đó mới thực sự là người đoan chính. Một người cạo tóc mà còn vọng ngữ, tham đắm, chấp thủ, có nhiều tham dục như một kẻ phàm tục, thì không phải là một vị Sa môn đích thực.

 

Bài k 9

Vị  năng chỉ ác                                  謂  能  止  惡

Khôi khuếch hoằng đạo                     恢  廓  弘  道

Tức tâm diệt ý                                 息  心  滅  意

Thị vi Sa môn                                   是  為  沙  門

 

Chấm dứt được những hành động sai trái, làm sống dậy và quảng bá được chánh pháp, làm lắng dịu nội tâm và diệt trừ được mọi tà ý, đó mới thật là một vị Sa môn.

 

Bài k10

Sở vị Tỳ-kheo                                  所  謂  比  丘

Phi thời khất thực                            非  時  乞  食

Tà hành dâm bỉ                               邪  行  婬  彼

Xưng danh nhi dĩ                             稱  名  而  已

 

Là một vị Tỳ khưu mà đi khất thực phi thời, mà vẫn còn tà hạnh và vọng ngữ thì chỉ là một vị Tỳ khưu hữu danh vô thực.

 

 

Bài k 11

Vị xả tội phước                               謂  捨  罪  福

Tịnh tu phạm hạnh                          淨  修  梵  行

Tuệ năng phá ác                           慧  能  破  惡

Thị vi Tỳ-kheo                                是  為  比  丘

 

Buông bỏ được ý niệm về tội phúc, tu tập thanh tịnh theo nếp sống phạm hạnh, tuệ giác đủ lớn để phá trừ được mọi ác kiến, đó mới đích thực là một vị Tỳ-khưu.

 

Bài kệ 12

Sở vị nhân minh                             所  謂  仁  明

Phi khẩu bất ngôn                         非  口  不  言

Dụng tâm bất tịnh                          用  心  不  淨

Ngoại thuận nhi dĩ                          外  順  而  已

 

Nhà minh triết không phải là một kẻ chỉ biết im lặng không nói, trong khi đó thì tâm mình vẫn còn có những chủ ý không sạch. Im lặng như thế chỉ là cái vỏ bề ngoài.

 

Bài k13

Vị tâm vô vi                                    謂  心  無  為

Nội hành thanh hư                          內  行  清  虛

Thử bỉ tịch diệt                              此  彼  寂  滅

Thị vi nhân minh                             是  為  仁  明

 

Nội tâm thực sự đã đạt tới vô vi, thanh khiết, không còn vướng bận gì, biết an trú Niết Bàn, đó mới thật là một bậc Mâu ni.

 

Bài k 14

Sở vị hữu đạo                                 所  謂  有  道

Phi cứu nhất vật                              非  救  一  物

Phổ tế thiên hạ                                普  濟  天  下

Vô hại vi đạo                                   無  害  為  道

 

Không phải chỉ biết lo cứu độ cho một người, mà biết lo cứu độ cho tất cả mọi loài trong thiên hạ, không bao giờ làm tổn hại đến ai, đó mới thật là một bậc đạo hạnh.

 

Bài k15

Giới chúng bất ngôn                         戒  眾  不  言

Ngã hành đa thành                           我  行  多  誠

Đắc định ý giả                                  得  定  意  者

Yếu do bế tổn                                 要  由  閉  損

Ý giải cầu an                                   意  解  求  安

Mạc tập phàm nhân                         莫  習  凡  人

Sử kết vị tận                                   使  結  未  盡

Mạc năng đắc thoát                        莫  能  得  脫

 

Dù có giữ giới, có thực tập tịnh khẩu, dù có thành khẩn tu tập, đạt được các định nhưng vẫn còn giữ thái độ cầu an, vẫn còn có nhu yếu khép kín, sợ tổn hại đến mình, vẫn còn giữ tập khí của người đời, thì kẻ ấy vẫn không thể nói là đã đạt tới giải thoát thật sự.

Kinh Thanh Lọc Tâm Ý

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán Tạng – Kinh thứ 26


Phẩm Trần Cấu
(Kinh Thanh Lọc Tâm Ý).

    Phẩm này có 19 bài kệ. Trần cấu ở đây là ô nhiễm, là cấu uế (mala).

    Bài kệ thứ 2 dạy ta phải thắp ngọn đèn tâm lên, nghĩa là phải học sống với chánh niệm để từ từ làm hiển lộ tuệ giác, và diệt trừ được mọi ô nhiễm của tâm ý. Cụm từ ‘‘nhiễm ý định’’ trong bài kệ này có nghĩa là thắp lên ngọn đuốc của tâm ý. Chữ định 定 ở đây phải hiểu là định quang 定光 hay 錠光 những từ đã từng được sử dụng để dịch từ dipamkara. Dipamkara có nghĩa là đèn hay đuốc. Quý vị hãy thắp đuốc lên mà đi, đó là một lời nói rất nổi tiếng của Bụt. Dipamkara cũng có nghĩa là hải đảo (của tự thân). Bản Pháp cú Pali đã được hiểu theo nghĩa này.

    Lười biếng, sắc dục, xan tham, si mê, bạo động, phạm giới… đều là những gì tạo ra ô nhiễm, đó là những ngọn lửa đốt cháy rất kinh khiếp. Bài kệ thứ 17 dạy: không có lửa nào nóng bằng lửa dâm, không có lửa nào cháy nhanh bằng lửa giận, không có lưới nào sít sao bằng lưới si, và không có dòng sông nào chảy xiết bằng dòng sông ái.

    Hai bài kệ 18 và 19 dạy các vị xuất gia phải nỗ lực tiến tu, đừng đi tìm những lạc thú bên ngoài. Phải thực tập hết lòng để đạt được cái thấy vô ngã.

     

    1.
    Còn sống đây mà không chịu làm điều lành thì sau khi chết sẽ rơi vào những nẻo ác.
    Rơi vào một cách nhanh chóng, không có thời gian để có thể tạm dừng lại.
    Và khi đã rơi vào rồi thì cũng chẳng có hành trang nào mang theo được để giúp cho mình bớt khổ.

    2.
    Phải phát tâm tìm cầu tuệ giác,
    phải thắp sáng ngọn đuốc của tâm ý,
    phải trừ khử cấu uế, đừng bị ô nhiễm, như vậy thì có thể buông bỏ được những đau khổ của hình hài.

    3.
    Người có trí tuệ biết từ từ đi tới một cách an lành,
    diệt trừ được những cấu uế trong tâm, như người thợ luyện kim (lọc ra ngoài những chất dơ trong quặng).

    4.
    Những ác hành đều phát sinh từ cái tâm, và trở lại hủy hoại cái hình, như chất rỉ của thép từ thép sinh ra trở lại ăn hư cả thỏi thép.

    5.
    Không siêng năng tụng đọc và học hỏi kinh điển thì sẽ đi tới sự cấu uế của cách nói năng
    cũng như không siêng năng dọn dẹp nhà cửa thì sẽ đi tới sự cấu uế của nhà cửa.
    Sắc dục đưa tới sự cấu uế của cách hành xử không đoan nghiêm.
    Biếng lười đưa tới cái cấu uế của sự tan tành cơ nghiệp.

    6.
    Cái xan tham đem lại sự cấu uế cho ân huệ và rộng lượng.
    Cái bất thuận đem lại sự cấu uế cho hành vi.
    Đời này cũng như đời sau, cái ác nào cũng luôn luôn đem tới sự cấu uế.

    7.
    Cái cấu uế nhất trong các cấu uế không có gì bằng sự si mê.
    Vị tỳ khưu phải thực tập buông bỏ những tâm hành bất thiện để đạt tới vô cấu.

    8.
    Người sống cẩu thả, khinh suất, không có liêm sỉ thì cũng như một con quạ mỏ dài, mổ ăn tạp nhạp, đó thật là một nếp sống cấu uế.

    9.
    Kẻ có liêm sỉ tuy sống thanh bần nhưng nghĩa khí thanh bạch, không bao giờ chịu nhục, không bao giờ dối trá, đó gọi là một nếp sống tinh khiết.

    10.
    Kẻ ngu hiếu sát, lời nói không thật, không cho mà lấy, xâm phạm vào vợ con của kẻ khác.

    11.
    Mặc ý phạm giới, cứ mãi say sưa, những kẻ ấy đời đời kiếp kiếp tự đào gốc bản thân mình.

    12.
    Thấy được như thế người ta sẽ không còn dám nghĩ tới việc làm ác,
    cũng không muốn gần gũi những kẻ ngu phu mà làm điều phi pháp để tự mình đốt cháy mình một cách lâu dài.

    13.
    Có người bố thí vì niềm tin, có người bố thí vì muốn được tiếng khen.
    Nếu mình còn ham tham dự vào những cái phù phiếm trang sức bên ngoài của thiên hạ thì mình vẫn chưa có cơ hội đi vào những cõi thiền định thanh tịnh.

    14.
    Phải đoạn trừ mọi dục, phải cắt đứt gốc nguồn của dục nơi tâm ý, đêm ngày một lòng, thì mới đi vào được thiền định an tĩnh.

    15.
    Dục là đối tượng của tâm, vướng mắc vào dục là bị nhiễm ô bởi trần lậu.
    Người hành giả không để bị nhiễm ô, không đi theo dục, biết tịnh hóa tâm mình và lìa xa vô minh trần lậu.

    16.
    Thấy kẻ kia sa đọa thì mình phải thường nội tỉnh:
    còn đi vào trần lậu thì còn bị lừa gạt dối trá. Hết trần lậu thì mới thành vô cấu.

    17.
    Không có lửa nào nóng bằng lửa dâm.
    Không có gì cháy nhanh hơn lửa nộ.
    Không có lưới nào sít sao bằng lưới si.
    Không có dòng sông nào chảy cuồn cuộn bằng dòng sông ái.

    18.
    Nếu hư không không có dấu tích thì vị sa môn cũng không hề có ý tìm cầu bên ngoài.
    Phần lớn người đời đều đi theo những gì trói buộc gây chướng ngại (triền sử) mà lại ưa thích làm như thế.
    Chỉ có đạo Bụt mới chủ trương phải thanh lọc thân tâm, đừng cho cấu uế xâm nhập.

    19.
    Nếu hư không không để lại dấu vết thì vị sa môn cũng không hề có ý tìm cầu bên ngoài.
    Phần lớn người đời đều chạy theo những cái vô thường.
    Chỉ có Bụt mới nói rằng không có cái ta, cũng không có cái của ta.

    Kinh Chế Ngự Phẫn Nộ

    Chế ngự được cơn giận thì cũng như thắng được cỗ xe khi nó đang bon bon tuột dốc. Chỉ có người lái xe giỏi mới làm được như thế. Làm được như thế thì ra khỏi được vùng tăm tối và đi được vào vùng ánh sáng.

     

    Phẫn Nộ Phẩm Pháp Cú Kinh đệ nhị thập ngũ

    忿怒品法句經第二十五

    Kinh Chế Ngự Phẫn Nộ

    Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

    Kinh thứ 25

     

    Phẩm này có 26 bài kệ. Tiếng Pali, kodha là sự giận dữ. Kinh này cho ta thấy nhẫn nhục là sức mạnh lớn nhất, là sự chiến thắng vinh quang nhất, là quà tặng quý nhất. Khi một chiếc xe đang bon bon tuột dốc mà người lái xe làm cho xe dừng lại được, thì đó mới là một người lái xe giỏi. Chế ngự được cơn giận cũng như thế, đó là hình ảnh trong bài kệ thứ 3.

    Các bài kệ thứ 7, 12, 13, 14 và 15 cho biết cần phải duy trì chánh niệm (sự tỉnh thức) để quán sát và bảo hộ thân, miệng và ý. Làm được như thế, ta có thể nhiếp phục được tâm mình và buông bỏ được hờn giận, chế tác được năng lượng nhẫn nhục rất hùng tráng.

    Cái đam mê thường đi đôi với cái sân hận, cho nên ta phải biết đối trị cái si mê cùng lúc với cái sân hận. Cái hiểu và cái thương do chánh niệm đem lại có thể làm phát sinh năng lượng nhẫn nhục. Với nhẫn nhục, ta chiến thắng được cái giận trong ta và giúp được người kia. Bị giận mà không giận lại, đó là kẻ chiến thắng, chiến thắng bằng cái hiểu và cái thương. Cái im lặng của người chiến thắng là một thứ im lặng hào hùng. Đó là ý của hai bài kệ chót.

     

    Bài kệ 1

    Phẫn nộ bất kiến Pháp                    忿  怒  不  見  法

    Phẫn nộ bất tri đạo                         忿  怒  不  知  道

    Năng trừ phẫn nộ giả                      能  除  忿  怒  者

    Phước hỉ thường tùy thân               福  喜  常  隨  身

     

    Phẫn nộ thì không thấy Pháp, không biết đạo

    Trừ được phẫn nộ thì hạnh phúc và niềm vui sẽ đi theo ta.

     

    Bài kệ 2

    Tham dâm bất kiến Pháp                貪  婬  不  見  法

    Ngu si ý diệc nhiên                        愚  癡  意  亦  然

    Trừ dâm khứ si giả                         除  婬  去  癡  者

    Kỳ phước đệ nhất tôn                     其  福  第  一  尊

     

    Tham dục thì không thấy Pháp, si mê cũng như thế

    Trừ được tham và si, đó là phước đức lớn nhất.

     

    Bài kệ 3

    Khuể năng tự chế                           恚  能  自  制

    Như chỉ bôn xa                               如  止  奔  車

    Thị vi thiện ngự                              是  為  善  御

    Khí minh nhập minh                        棄  冥  入  明

     

    Chế ngự được cơn giận thì cũng như thắng lại được cỗ xe khi nó đang bon bon tuột dốc. Chỉ có người lái xe giỏi mới làm được như thế. Làm được như thế thì ra khỏi được vùng tăm tối và đi được vào vùng ánh sáng.

     

    Bài kệ 4

    Nhẫn nhục thắng khuể                     忍  辱  勝  恚

    Thiện thắng bất thiện                      善  勝  不  善

    Thắng giả năng thí                         勝  者  能  施

    Chí thành thắng khi                       至  誠  勝  欺

     

    Nhẫn nhục thắng được sân nhuế, cái lành thắng được cái dữ. Người thắng là kẻ có khả năng hiến tặng. Cái thành thật có thể thắng được cái lừa dối.

     

    Bài kệ 5

    Bất khi bất nộ                                  不  欺  不  怒

    Ý bất đa cầu                                  意  不  多  求

    Như thị tam sự                                如  是  三  事

    Tử tắc thượng thiên                        死  則  上  天

     

    Không lừa dối, không giận dữ, tâm ý không tham cầu. Có được ba cái ấy thì khi chết thế nào cũng được sinh lên các cõi trên.

     

    Bài kệ 6

    Thường tự nhiếp thân                      常  自  攝  身

    Từ tâm bất sát                                慈  心  不  殺

    Thị sanh thiên thượng                      是  生  天  上

    Đáo bỉ vô ưu                                   到  彼  無  憂

     

    Thường tự nhiếp phục tự thân, có tâm từ bi không sát hại, thì sẽ được sinh lên các cõi trời và qua tới bờ vô ưu.

     

    Bài kệ 7

    Ý thường giác ngụ                          意  常  覺  寤

    Minh mộ cần học                            明  慕  勤  學

    Lậu tận ý giải                                 漏  盡  意  解

    Khả trí  nê hoàn                             可  致  泥  洹

     

    Tâm ý thường tỉnh giác, mến chuộng ánh sáng, biết tinh cần tu học thì các lậu sẽ chấm dứt và đạt tới Niết bàn.

     

    Bài kệ 8

    Nhân tướng báng hủy                       人  相  謗  毀

    Tự cổ chí kim                                  自  古  至  今

    Ký hủy đa ngôn                                既  毀  多  言

    Hựu hủy nột nhẫn                             又  毀  訥  忍

    Diệc hủy trung hòa                            亦  毀  中  和

    Thế vô bất hủy                                世  無  不  毀

     

    Từ xưa tới nay bao giờ cũng thế, người đời thường ưa chê trách và hủy báng nhau. Nói nhiều cũng bị chê trách, nói ít cũng bị chê trách, không nói cũng bị chê trách. Ở đời không ai là không bị chê bai.

     

    Bài kệ 9

    Dục ý phi Thánh                            欲  意  非  聖

    Bất năng chế trung                         不  能  制  中

    Nhất hủy nhất dự                           一  毀  一  譽

    Đãn vi lợi danh                              但  為  利  名

     

    Hễ còn dục ý thì chưa phải là Thánh nhân, không có khả năng tự chế ngự và cứ bị lên xuống hoặc theo lời khen chê của kẻ khác. Tất cả đều do tâm lợi danh mà sinh ra cả.

     

    Bài k10

    Minh trí sở dự                                 明  智  所  譽

    Duy xưng thị hiền                             唯  稱  是  賢

    Tuệ  nhân thủ giới                            慧  人  守  戒

    Vô sở ky báng                                 無  所  譏  謗

     

    Kẻ có trí tuệ thì biết giữ giới, biết ngợi khen các bậc minh triết, biết xưng tụng các bậc hiền giả, không nói những lời phỉ báng.

     

    Bài k11

    Như La hán tịnh                             如  羅  漢  淨

    Mạc nhi vu báng                            莫  而  誣  謗      

    Chư nhân tư ta                              諸  人  咨  嗟

    Phạm Thích sở xưng                      梵  釋  所  稱

     

    Người trong sạch như bậc A la hán, đừng nên phỉ báng. Chính Chư Thiên, Phạm Vương và Đế Thích cũng còn xưng tán người ấy nữa là.

     

    Bài k12

    Thường thủ thận thân                       常  守  慎  身

    Dĩ hộ sân khuể                                以  護  瞋  恚

    Trừ thân ác hành                             除  身  惡  行

    Tấn tu đức hạnh                              進  修  德  行

     

    Phải cẩn trọng giữ gìn hình hài của mình để có thể đối phó với tâm niệm sân hận của mình. Chấm dứt các ác hành của thân thì sẽ tiến tu được về mặt đức hạnh.

     

    Bài kệ 13

    Thường thủ thận ngôn                     常  守  慎  言

    Dĩ  hộ  sân khuể                             以  護  瞋  恚

    Trừ khẩu ác ngôn                            除  口  惡  言

    Tụng tập Pháp ngôn                        誦  習  法  言

     

    Phải thận trọng giữ gìn lời nói của mình để có thể đối phó với tâm niệm sân hận của mình, chấm dứt được những ác hành của khẩu và khi nói năng chỉ sử dụng ngôn từ chánh pháp.

     

    Bài k14

    Thường thủ thận tâm                      常  守  慎  心

    Dĩ hộ sân khuể                               以  護  瞋  恚

    Trừ tâm ác niệm                             除  心  惡  念

    Tư tánh niệm đạo                           思  惟  念  道

     

    Phải thận trọng giữ gìn tâm tư của mình để đối phó với tâm niệm sân hận của mình, chấm dứt được những ác niệm của tâm và thực tập tư duy, quán niệm về Đạo đế.

    Bài k 15

    Tiết thân thận ngôn                        節  身  慎  言

    Thủ nhiếp kỳ tâm                           守  攝  其  心

    Xả khuể hành đạo                         捨  恚  行  道

    Nhẫn nhục tối cường                      忍  辱  最  強

     

    Để có khả năng chế ngự được hình hài, để biết thận trọng khi nói năng, nhiếp phục tâm mình, buông bỏ sân hận và hành đạo, thì nhẫn nhục là phương pháp hùng tráng nhất.

     

    Bài k 16

    Xả khuể ly mạn                              捨  恚  離  慢

    Tị chư ái hội                                   避  諸  愛  會

    Bất trước danh sắc                         不  著  名  色

    Vô vi diệt khổ                                 無  為  滅  苦

     

    Buông bỏ sân hận, lìa xa kiêu mạn, tránh xa tham ái, không vướng vào danh và vào sắc thì có thể đạt tới vô vi diệt khổ.

     

    Bài k17

    Khởi nhi giải nộ                               起  而  解  怒

    Dâm sanh tự cấm                           婬  生  自  禁

    Xả bất minh kiện                             捨  不  明  健

    Tư giai đắc an                               斯  皆  得  安

     

    Cởi bỏ được phẫn nộ, chận đường được tham dục, buông bỏ được si mê, những cái ấy đưa mình tới an ổn.

     

    Bài kệ 18

    Sân đoạn ngọa an                         瞋  斷  臥  安

    Khuể diệt dâm ưu                          恚  滅  婬  憂

    Nộ vi độc bổn                                怒  為  毒  本

    Nhuyễn ý Phạm chí                       軟  意  梵  志

    Ngôn thiện đắc dự                         言  善  得  譽

    Đoạn vi vô hoạn                             斷  為  無  患

     

    Diệt trừ được sân hận sẽ có giấc ngủ an lành. Sân hận diệt trừ thì không còn lo lắng. Sân hận là gốc rễ của mọi độc hại. Người tu thì luôn mềm mỏng dễ thương. Nói lời lành thì luôn luôn được khen ngợi và sẽ không bao giờ đem lại tai họa.

     

    Bài k19

    Đồng chí tướng cận                       同  志  相  近

    Tường vi tác ác                             詳  為  作  惡

    Hậu biệt dư khuể                           後  別  餘  恚

    Hỏa tự thiêu não                           火  自  燒  惱

     

    Những người cùng có chí hướng thì cảm thấy gần nhau. Họ biết rõ ràng rằng làm việc thất đức thì thế nào sau này cũng gây ra hận thù, và cái lửa hận thù đó sẽ trở lại thiêu đốt tự thân mình.

     

    Bài k20

    Bất tri tàm quý                                不  知  慚  愧

    Vô giới hữu nộ                                無  戒  有  怒

    Vi nộ sở khiên                                為  怒  所  牽

    Bất yếm hữu vụ                              不  厭  有  務

     

    Kẻ không biết hổ thẹn và không trì giới thì khi cơn giận nổi lên sẽ kéo họ đi theo, bị nó sai sử, như đi trong đêm mà mất cây đèn soi.

     

    Bài k21

    Hữu lực cận binh                           有  力  近  兵

    Vô lực cận nhuyễn                        無  力  近  軟

    Phu nhẫn vi thượng                      夫  忍  為  上

    Nghi thường nhẫn luy                     宜  常  忍  羸

    Có sức thì ưa sử dụng binh khí, không có sức thì cần tới sự mềm dẻo. Nhẫn nhục là trên hết, vì vậy phải học nhẫn nại.

     

    Bài k22

    Cử chúng khinh chi                        舉  眾  輕  之

    Hữu lực giả nhẫn                           有  力  者  忍

    Phu nhẫn vi thượng                        夫  忍  為  上

    Nghi thường nhẫn luy                     宜  常  忍  羸

     

    Nâng lên một vật nặng mà vẫn thấy nhẹ, người đã có sức mạnh mà lại có nhẫn lực nữa thì thấy nhẫn nhục là không có gì cao hơn. Vì vậy, phải biết thường xuyên nhẫn nại.

     

    Bài k23

    Tự ngã dữ bỉ                                   自  我  與  彼

    Đại úy hữu tam                               大  畏  有  三

    Như tri bỉ tác                                   如  知  彼  作

    Nghi diệt kỷ trung                            宜  滅  己  中

     

    Giữa ta và người kia có ba cái sợ lớn: hoặc mình, hoặc người kia, hoặc cả hai sẽ bị tổn thất bởi cái giận. Do đó, nếu ta biết được là người kia đang giận thì ta phải dập tắt cái giận trong ta. Tuy bị thiên hạ coi nhẹ, bậc có nhẫn là người có thực lực. Có nhẫn là không ai hơn được. Do đó, phải luôn luôn thực tập nhẫn hay hơn nữa để mà chiến thắng.

     

    Bài kệ 24

    Câu lưỡng hành nghĩa                   俱  兩  行  義

    Ngã vi bỉ giáo                                我  為  彼  教

    Như tri bỉ tác                                 如  知  彼  作

    Nghi diệt kỷ trung                          宜  滅  己  中

     

    Nếu cả hai bên đều thực tập được như thế, thì là người thực tập ta giúp được người kia, nếu ta biết được người kia đang giận thì ta phải dập tắt cái giận trong ta trước đã.

     

    Bài k 25

    Khổ trí thắng ngu                           苦  智  勝  愚

    Thô ngôn ác thuyết                        麤  言  惡  說

    Dục thường thắng giả                    欲  常  勝  者

    Ư ngôn nghi mặc                          於  言  宜  默

     

    Người ngu nghĩ có thể thắng người trí bằng những lời thô ác của mình. Nếu mình muốn thắng kẻ ấy thì cách hay nhất là mình im lặng.

     

    Bài kệ 26

    Phu vi ác giả                                   夫  為  惡  者

    Nộ hữu nộ báo                                怒  有  怒  報

    Nộ bất báo nộ                                 怒  不  報  怒

    Thắng bỉ đấu phụ                             勝  彼  鬪  負

     

    Thường thì kẻ vũ phu khi bị giận thì giận trở lại. Cái giận này đem tới cái giận kia. Bị giận mà không giận lại thì mình là kẻ thắng.

    Kinh Luyến Ái

    Những ai không chạy theo những gì hòa nhoáng bên ngoài của tham dục, những ai biết tư duy, nói năng theo chánh pháp và tâm không bị cuốn theo tham ái, những vị ấy thế nào cũng cắt ngang được dòng lũ sinh tử.

     

    Hảo Hỉ Phẩm Pháp Cú Kinh đệ nhị thập tứ

    好喜品法句經第二十四

    Kinh Luyến Ái

    Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

    Kinh thứ 24

     

    Phẩm này có 12 bài kệ. Piya là luyến ái. Luyến ái ở đây không phải là tình thương chân thật làm bằng các chất liệu từ, bi, hỷ và xả. Luyến ái ở đây là sự vướng mắc, mất tự do. Cái vướng mắc này tạo ra cái lo, cái sợ, cái ghen, cái giận ghét và cái thù hận. Cho nên bài kệ thứ 3 nói: cái thương là nguyên nhân sinh ra cái ghét. Bài kệ thứ 8 dạy ta không nên để cho cái bóng sắc bên ngoài lôi kéo. Phải tập tư duy cho chính xác, nói năng và hành động cho đúng phép thì mới cắt ngang được dòng lũ sinh tử.

     

    Bài kệ 1

    Vi đạo tắc tự thuận                        違  道  則  自  順

    Thuận đạo tắc tự vi                        順  道  則  自  違

    Xả nghĩa thủ sở hảo                      捨  義  取  所  好

    Thị vi thuận ái dục                          是  為  順  愛  欲

     

    Những gì ngược với đạo lý mình lại thích, những gì thuận với đạo lý thì mình lại không ưa; bỏ cái đạo nghĩa mà theo cái mình đam mê, đó gọi là đi theo ái dục.

     

    Bài kệ 2

    Bất đương thú sở ái                        不  當  趣  所  愛

    Diệc mạc hữu bất ái                        亦  莫  有  不  愛

    Ái chi bất kiến ưu                            愛  之  不  見  憂

    Bất ái kiến diệc ưu                          不  愛  見  亦  憂

     

    Đừng tìm tới cái đối tượng mình thương, đừng tìm cách xa lánh cái đối tượng mình ngét. Thương đem lại ưu phiền mà ghét cũng đem lại ưu phiền.

     

    Bài kệ 3

    Thị dĩ mạc tạo ái                            是  以  莫  造  愛

    Ái tăng ác sở do                             愛  憎  惡  所  由

    Dĩ trừ phược kết giả                       已  除  縛  結  者

    Vô ái vô sở tăng                             無  愛  無  所  憎

     

    Cho nên đừng đan dệt luyến ái, cũng đừng đan dệt thù ghét. Cái thương là nguyên nhân sinh ra cái ghét. Kẻ không muốn ràng buộc thì không ghét cũng không thương.

     

    Bài kệ 4

    Ái hỉ sanh ưu                                 愛  喜  生  憂

    Ái hỉ sanh úy                                  愛  喜  生  畏

    Vô sở ái hỉ                                     無  所  愛  喜

    Hà ưu hà úy                                   何  憂  何  畏

     

    Luyến ái sinh lo, luyến ái sinh sợ, không có luyến ái, thì còn lo gì sợ gì?

     

    Bài kệ 5

    Hảo lạc sanh ưu                             好  樂  生  憂

    Hảo lạc sanh úy                             好  樂  生  畏

    Vô sở hảo lạc                                無  所  好  樂

    Hà ư hà úy                                    何  憂  何  畏

     

    Ham vui sinh lo, ham vui sinh sợ, không có ham vui, thì còn lo gì sợ gì?

     

    Bài kệ 6

    Tham dục sanh ưu                         貪  欲  生  憂

    Tham dục sanh úy                        貪  欲  生  畏

    Giải vô tham dục                            解  無  貪  欲

    Hà ưu hà úy                                  何  憂  何  畏

     

    Tham dục sinh lo, tham dục sinh sợ, không có tham dục, thì còn lo gì sợ gì?

     

    Bài kệ 7

    Tham pháp giới thành                     貪  法  戒  成

    Chí thành tri tàm                            至  誠  知  慚

    Hành thân cận đạo                         行  身  近  道

    Vi chúng sở ái                               為  眾  所  愛

     

    Những kẻ ham học ham tu theo giới và pháp, đem tất cả tâm dạ chí thành để học hỏi, những kẻ ấy biết hổ thẹn là gì và cách hành xử của họ rất gần với chánh đạo, và họ được quần chúng thương mến.

     

    Bài kệ 8

    Dục thái bất xuất                            欲  態  不  出

    Tư chánh nãi ngữ                          思  正  乃 

    Tâm vô tham ái                             心  無  貪  愛

    Tất tiệt lưu độ                                必  截  流  渡

     

    Những ai không chạy theo những gì hào nhoáng bên ngoài của tham dục, những ai biết tư duy, nói năng theo chánh pháp và tâm không bị cuốn theo tham ái, những vị ấy thế nào cũng cắt ngang được dòng lũ sinh tử.

     

    Bài kệ 9

    Thí nhân cửu hành                         譬  人  久  行

    Tùng viễn cát hoàn                        從  遠  吉  還

    Thân hậu phổ an                           親  厚  普  安

    Quy lai hoan hỉ                              歸  來  歡  喜

     

    Có người đi xa lâu ngày trở về nhà được bình an, tất cả bà con quyến thuộc đều ra mừng rỡ đón chào.

     

    Bài kệ 10

    Hảo hành phước giả                       好  行  福  者

    Tòng thử đáo bỉ                             從  此  到  彼

    Tự thọ phước tộ                            自  受  福  祚

    Như thân lai hỉ                                如  親  來  喜

     

    Thì những kẻ tu tập thành công cũng thế, đi tới đâu cũng tiếp nhận ân phước, đi đến đâu cũng được mừng rỡ đón chào như một người thân nhân.

     

    Bài kệ 11

    Khởi tùng Thánh giáo                      起  從  聖  教

    Cấm chế bất thiện                          禁  制  不  善

    Cận đạo kiến ái                              近  道  見  愛

    Ly đạo mạc thân                             離  道  莫  親

     

    Khởi sự tu tập theo thánh giáo, tự chế ngự được bản thân, không dính vào những chuyện bất thiện, kẻ hành giả rất gần với thánh đạo và được mọi người yêu mến. Còn nếu tách xa khỏi con đường đạo thì không còn ai là người thân thích yêu mến mình nữa.

     

    Bài kệ 12

    Cận dữ bất cận                               近  與  不  近

    Sở trụ giả dị                                    所  住  者  異

    Cận đạo thăng thiên                         近  道  昇  天

    Bất cận đọa ngục                            不  近  墮  獄

     

    Những kẻ gần gũi đạo pháp và những kẻ xa lìa đạo pháp không ở chung với nhau. Kẻ gần đạo thì đang ở thiên đường, còn kẻ xa đạo thì đang ở địa ngục.

    Kinh An Lạc

    Kinh An Lạc – Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán Tạng – Kinh thứ 23


    Phẩm An Ninh
    (Kinh An Lạc).

      Phẩm này có 14 bài kệ. An ninh ở đây là an lạc, là hạnh phúc (sukha). An ninh đây cũng có nghĩa là an lành. Hạnh phúc và an lành là khi ta không bị những ngọn lửa phiền não như thèm khát, hận thù, tuyệt vọng, lo lắng và sợ hãi đốt cháy. Bài kệ thứ 8 dạy ta đừng đi tìm những cái vui nhỏ mà phải đi tìm cái vui lớn : đó là cái bình an lớn của Niết Bàn, của sự dập tắt các ngọn lửa phiền não. Đó là vị ngọt của Cam Lộ. Hạnh phúc chân chính là được đi trên con đường chánh đạo, được thực tập giới luật, học hỏi chánh pháp (kệ 11), là được sống với người hiền (kệ 12), được gặp và nương tựa vào các bậc có đức hạnh (kệ 10).

      1. Ta sống an lành không có thù hận, người kia có thù hận nhưng ta không thù hận ai.

      2. Ta sống an lành không có bệnh hoạn, người kia có bệnh nhưng ta không bệnh.

      3. Ta sống an lành không có lo lắng, người kia lo lắng nhưng ta bước đi lòng không lo lắng.

      4. Ta sống an lành, thanh tịnh, vô vi, lấy niềm vui làm thức ăn, cũng như ở cõi trời Quang Âm.

      5. Ta sống an lành, đạm bạc, hiền lành, vô sự, không có thứ lửa nào thiêu đốt được ta.

      6. Thắng thì gây thù, bại thì bẽ mặt; bỏ tâm hơn thua, không còn tranh chấp nữa thì tự nhiên được an.

      7. Không có gì nóng hơn dâm, không có gì độc hơn hận, không có gì khổ hơn thủ uẩn, không có gì hạnh phúc hơn Niết Bàn.

      8. Không tìm cái vui nhỏ, không bình luận về cái biết nhỏ, phải quán sát và tìm cầu cái lớn thì mới đạt tới được bình an lớn.

      9. Ta nhờ Thế Tôn mà hiểu thấu được Vô Ưu, vượt qua được Tam Hữu và hàng phục được chúng ma.

      10. Được gặp các bậc thánh nhân là hạnh phúc, được nương tựa vào các vị ấy là hạnh phúc, không chung đụng với kẻ ngu phu là hạnh phúc, được làm việc lành là hạnh phúc.

      11. Được đi trên con đường chánh đạo là hạnh phúc, được nói (và nghe) pháp là hạnh phúc, không tranh đua với đời là hạnh phúc, được trì giới đầy đủ là hạnh phúc.

      12. Nương vào người hiền mà sống là hạnh phúc, như người thương ở với người thương, gần gũi các bậc trí và bậc nhân, ta được nghe những điều thật cao viễn.

      13. Đời sống thì ngắn ngủi mà kẻ làm hoang phí sự sống thì nhiều. Người tu học chỉ nên giữ lấy cái cốt yếu, để khi tuổi cao vẫn còn được an lành.

      14. Thiểu dục thì đạt được vị ngọt của Cam Lộ và đạt tới hạnh phúc Niết Bàn. Nếu muốn vượt qua khổ sinh tử thì phải biết thưởng thức vị ngọt Cam Lộ ấy.