Kinh Tuyết Trên Đỉnh Núi

Gần đạo thì danh dự hiển bày như tuyết trên đỉnh núi cao, xa đạo thì ám muội như mũi tên bắn đi trong đêm tối.

 

Quảng Diễn Phẩm Pháp Cú Kinh đệ nhị thập cửu chương

廣衍品法句經第二十九

Kinh Tuyết Trên Đỉnh Núi

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 29

 

Phẩm này có 14 bài kệ. Quảng diễn, có nghĩa là diễn bày cho rộng rãi hơn. Phẩm này bổ túc cho phẩm đi trước. Những bài kệ trong phẩm này nói tới năm căn và năm lực: tín (13), tấn (4), niệm (8, 9), định (9) và tuệ (5 và 6). Bài kệ thứ 7 là một bài thơ có hình ảnh rất đẹp: gần đạo thì danh dự hiển bày như tuyết trên đỉnh núi cao, xa đạo thì ám muội như mũi tên bắn đi trong đêm tối.

 

Bài k 1

Thí an tuy tiểu                                 施  安  雖  小

Kỳ báo di đại                                  其  報  彌  大

Tuệ tùng tiểu thí                              慧  從  小  施

Thọ kiến cảnh phước                       受  見  景  福

 

Hiến tặng sự bình an, dù cho rất ít, cũng đem lại phước báo lớn lao. Hiến tặng tuệ giác, dù cho rất ít, quả phúc nhận được cũng rất lớn lao.

 

Bài kệ 2

Thí lao ư nhân                                施  勞  於  人

Nhi dục vọng hữu                            而  欲  望  祐

Ương cữu quy thân                        殃  咎  歸  身

Tự cấu quảng oán                          自  遘  廣  怨

 

Trong khi làm cho kẻ khác lao đao mà lại mong cầu mình có được sự bảo hộ phò trợ thì tai ương sẽ trở lại với mình và mình sẽ gặp thù oán lớn.

 

Bài kệ 3

Dĩ vi đa sự                                      已  為  多  事

Phi sự diệc tạo                               非  事  亦  造

Kĩ nhạc phóng dật                           伎  樂  放  逸

Ác tập nhật tăng                              惡  習  日  增

 

Đã làm quá nhiều việc trong đó có những việc không đáng làm, lười biếng chỉ lo nghe nhạc và chơi bời thì thói xấu càng ngày càng tăng trưởng.

 

Bài kệ 4

Tinh tấn duy hành                           精  進  惟  行

Tập thị xả phi                                 習  是  捨  非

Tu thân tự giác                               修  身  自  覺

Thị vi chánh tập                              是  為  正  習

 

Biết hành trì tinh tấn, tập làm những điều nên làm và không làm nữa những điều không nên làm, thực tập phép niệm thân mới được gọi là sự thực tập chính đáng.

 

Bài kệ 5

Ký tự giải tuệ                                  既  自  解  慧

Hựu đa học vấn                           又  多  學  問

Tiệm tiến phổ quảng                       漸  進  普  廣

Du tô đầu thủy                                油  酥  投  水

 

Đã biết tự mình thực tập để nuôi lớn tuệ giác, lại còn biết học hỏi cho nhiều thì nhân cách của mình càng ngày càng lớn lao, càng rộng rãi, như dầu loang đi vào trong nước.

 

Bài kệ 6

Tự vô tuệ ý                                     自  無  慧  意

Bất hảo học vấn                              不  好  學  問

Ngưng súc hiệp tiểu                         凝  縮  狹  小

Lạc tô đầu thủy                                酪  酥  投  水

 

Tâm đã không có tuệ mà còn làm biếng học hỏi nữa thì nhân cách mình càng ngày càng ngưng đọng và co rút lại như cục bơ bỏ vào trong nước.

 

Bài kệ 7

Cận đạo danh hiển                         近  道  名  顯

Như cao sơn tuyết                          如  高  山  雪

Viễn đạo ám  muội                         遠  道  闇  昧

Như dạ phát tiến                            如  夜  發  箭

 

Gần đạo thì danh dự hiển bày như tuyết trên đỉnh núi cao, xa đạo thì ám muội như mũi tên bắn đi trong đêm tối.

 

Bài kệ 8

Vi Phật đệ tử                                   為  佛  弟  子

Thường ngụ tự giác                         常  寤  自  覺

Trú dạ niệm Phật                             晝  夜  念  佛

Duy Pháp tư chúng                          惟  法  思  眾

 

Là đệ tử Bụt, phải thường tỉnh thức, đêm ngày niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.

 

Bài kệ 9

Vi Phật đệ tử                                   為  佛  弟  子

Đương ngụ tự giác                           當  寤  自  覺

Nhật mộ tư thiền                             日  暮  思  禪

Lạc quán nhất tâm                            樂  觀  一  心

 

Là đệ tử Bụt, phải thường tỉnh thức, sớm chiều tu tập thiền quán, thực tập nhất tâm an trú, có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại.

 

Bài kệ 10

Nhân đương hữu niệm ý                 人  當  有  念  意

Mỗi thực tri tự thiểu                        每  食  知  自  少

Tắc thị thống dục bạc                      則  是 痛  欲  薄

Tiết tiêu nhi bảo thọ                         節  消  而  保  壽

 

Người nào có thực tập chánh niệm thì mỗi khi ăn biết ăn ít lại. Người ấy sẽ ít khổ đau vì ham muốn, biết tiêu thụ có chừng mực và bảo trì được tuổi thọ.

 

Bài kệ 11

Học nan xả tội nan                          學  難  捨  罪  難

Cư tại gia diệc nan                         居  在  家  亦  難

Hội chỉ đồng lợi nan                        會  止  同  利  難

Nan nan vô quá hữu                        難  難  無  過  有

 

Tu học là chuyện khó, buông bỏ tội chướng là chuyện khó, sống đời tại gia là khó và cùng hưởng lợi lộc chung cũng khó; nhưng cái khó nhất trong tất cả các cái khó là đừng tiếp tục gây ra lầm lỗi nữa.

 

Bài kệ 12

Tỳ-kheo khất cầu nan                     比  丘  乞  求  難

Hà khả bất tự miễn                        何  可  不  自  勉

Tinh tấn đắc tự nhiên                      精  進  得  自  然

Hậu vô dục ư nhân                         後  無  欲  於  人

Vị Tỳ-khưu phải đi xin xỏ người ta là một chuyện khó. Tại sao không tự mình cố gắng, tinh tiến và tự tại để sau này sẽ không cần cầu cạnh ai?

 

Bài kệ 13

Hữu tín tắc giới thành                      有  信  則  戒  成

Tùng giới đa trí bảo                        從  戒  多  致  寶

Diệc tùng đắc hài ngẫu                    亦  從  得  諧  偶

Tại sở kiến cúng dường                  在  所  見  供  養

 

Có niềm tin thì giới pháp sẽ thành tựu. Hành trì giới pháp sẽ làm phát sinh ra những châu báu quý giá nhất và cũng sẽ có những cuộc gặp gỡ tốt đẹp. Ngay tại nơi mình ở, mình không cần phải lo lắng về việc cúng dường.

 

Bài kệ 14

Nhất tọa nhất xứ ngọa                    一  坐  一  處  臥

Nhất hành vô phóng tứ                   一  行  無  放  恣

Thủ nhất dĩ chánh thân                    守  一  以  正  身

Tâm lạc cư thọ gian                        心  樂  居  樹  間

 

Một mình ngồi, một mình nằm, một mình đi, không buông lung, một mình điều phục tự thân, vị Tỳ-khưu tìm được cái an lạc trong cảnh núi rừng.

Kinh Con Đường

Không có con đường đưa tới hạnh phúc. Hạnh phúc chính là con đường.

Không có con đường đưa tới niết bàn. Niết bàn chính là con đường.

 

Đạo Hành Phẩm Pháp Cú Kinh đệ nhị thập bát

道行品法句經第二十八

Kinh Con Đường

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 28

 

Phẩm này có 28 bài kệ. Đạo ở đây là đường đạo (magga). Bài kệ thứ nhất nói ngay rằng Bát chánh đạo là con đường tối thượng và Tứ đế là dấu ấn của chánh pháp. Đã được đi trên con đường này thì mình không còn lý do gì phải e ngại và sợ hãi nữa. Đó là nội dung bài thứ 2. Ở Làng Mai ai cũng biết câu: “Đã có đường đi rồi, con không còn lo sợ.” Câu này được trích từ ‘‘Bài tụng hạnh phúc’’ trong sách Nhật Tụng Thiền Môn.

Bài thứ 7 nhắc rằng chánh niệm là trái tim của sự thực tập. Có chánh niệm thì tà niệm được nhận diện, không còn phát khởi. Chánh niệm thành công sẽ đem tới sự thành công của 7 chi phần khác trong Bát chánh đạo.

Bài 17 dạy rằng sự nghiệp lớn lao nhất là trí tuệ. Đây cũng là một trong tám điều mà các bậc giác ngộ đã đạt tới trong kinh Bát Đại Nhân Giác (Duy tuệ thị nghiệp: sự nghiệp duy nhất là trí tuệ). Các bài 19, 20 và 21 nói tới ba pháp ấn là khổ, không và vô ngã. Bài thứ 23 nhắc lại câu nói của Bụt vào giờ phút thành đạo: người xây cất nhà tù cho ta không còn.

Ba phép quán niệm nói tới trong bài kệ thứ 26 có thể là ba phép quán niệm về vô thường, không và vô ngã; cũng có thể là ba phép tùy niệm: niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng. Bài thứ 28 nói tiếp về phép tùy niệm thứ tư là niệm Giới. Ba định nói trong bài kệ thứ 27 có thể là không, vô tướng và vô tác, còn gọi là ba cánh cửa giải thoát. Ba chữ hành vô lượng có thể là hành trì bốn vô lượng tâm tức là từ, bi, hỷ và xả; cũng có thể có nghĩa là đạt tới chỗ cao nhất của chứng ngộ. Câu ‘‘đắc tam tam quật trừ’’ trong nguyên văn có thể được hiểu là đạt tới ba định ấy thì giải thoát được ba cõi dục, sắc và vô sắc; hoặc thoát được ba con đường dữ là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Chữ khuất hay quật (tam khuất) có nghĩa là hang động.

 

Bài kệ 1

Bát trực tối thượng đạo                  八  直  最  上  道

Tứ đế vi Pháp tích                          四  諦  為  法  迹

Bất dâm hành chi tôn                      不  婬  行  之  尊

Thí đăng tất đắc nhãn                     施  燈  必  得  眼

 

Bát chánh là con đường tối thượng. Tứ đế là dấu tích của Pháp. Nếp sống tịnh hạnh là đáng tôn kính nhất. Cúng dường đèn thì sẽ được pháp nhãn (có ánh sáng).

 

Bài kệ 2

Thị đạo vô phục úy                          是  道  無  復  畏

Kiến tịnh nãi độ thế                          見  淨  乃  度  世

Thử năng hoại ma binh                    此  能  壞  魔  兵

Lực hành diệt tà khổ                       力  行  滅  邪  苦

 

Được đi trên con đường này rồi thì không còn phải lo sợ nữa. Được thanh tịnh hóa rồi thì mới có thể độ đời. Đạo pháp này có thể đánh bại ma quân, tận lực hành trì theo đây thì sẽ diệt được mọi tà khổ.

 

Bài kệ 3

Ngã dĩ khai chánh đạo                   我  已  開  正  道

Vi đại hiện dị minh                         為  大  現  異  明

Dĩ văn đương tự hành                   已  聞  當  自  行

Hành nãi giải tà phược                   行  乃  解  邪  縛

 

Ta đã mở được con đường chánh đạo. Đó là một sự biểu hiện vĩ đại, sáng chói dị thường. Đã có cơ duyên nghe được thì phải tự mình hành trì, hành trì thì cởi bỏ được những dây ràng buộc tà quấy.

 

Bài kệ 4

Sanh tử phi thường khổ                 生  死  非  常  苦

Năng quán kiến vi tuệ                    能  觀  見  為  慧

Dục ly nhất thiết khổ                     欲  離  一  切  苦

Hành đạo nhất thiết trừ                行  道  一  切  除

 

Sinh tử là cái khổ phi thường, có khả năng quán chiếu và thấy được thì đạt được tuệ giác. Nếu muốn lìa bỏ tất cả các khổ đau thì phải chuyên cần hành đạo.

 

Bài k5

Sanh tử phi thường không             生  死  非  常  空

Năng quán kiến vi tuệ                    能  觀  見  為  慧

Dục ly nhất thiết khổ                     欲  離  一  切  苦

Đãn đương cần hành đạo             但  當  勤  行  道

 

Sinh tử là cái không phi thường, có khả năng quán chiếu và thấy được thì đạt tới tuệ giác. Nếu muốn lìa bỏ tất cả các khổ đau thì phải chuyên cần hành đạo.

 

Bài k6

Khởi thời đương tức khởi                 起  時  當  即  起

Mạc như ngu phú uyên                     莫  如  愚  覆  淵

Dữ đọa dữ chiêm tụ                         與  墮  與  瞻  聚

Kế bãi bất tiến đạo                          計  罷  不  進  道

 

Tới giờ thức dậy thì phải dậy, đừng như bọn ngu phu cứ muốn che lấp vực sâu, sống đời sa đọa không có dũng khí; sợ mệt thì không thể đi tới được trên con đường đạo.

 

Bài kệ 7

Niệm ưng niệm tắc chánh               念  應  念  則  正

Niệm bất ưng tức tà                        念  不  應  則  邪

Tuệ nhi bất khởi tà                          慧  而  不  起  邪

Tư chánh đạo nãi thành                   思  正  道  乃  成

 

Khi nhớ nghĩ thì phải sử dụng chánh niệm, không thể là tà niệm. Có tuệ thì tà niệm không khởi, không có chánh niệm thì tà niệm mới khởi. Phải thực tập tư duy về (bát) chánh đạo thì mới thành tựu được (công phu).

 

Bài kệ 8

Thận ngôn thủ ý niệm                    慎  言  守  意  念

Thân bất thiện bất hành                 身  不  善  不  行

Như thị tam hành trừ                     如  是  三  行  除

Phật thuyết thị đắc đạo                  佛  說  是  得  道

 

Nói năng phải thận trọng, giữ ý cho chánh niệm, cái gì bất thiện thì thân mình không làm, như vậy ba nghiệp được thanh trừ. Bụt nói, nếu được như thế là ta đã nắm được đạo lý.

 

Bài kệ 9

Đoạn thọ vô phạt bổn                      斷  樹  無  伐  本

Căn tại do phục sanh                      根  在  猶  復  生

Trừ căn nãi vô thọ                           除  根  乃  無  樹

Tỳ-kheo đắc nê hoàn                      比  丘  得  泥  洹

 

Chặt cây không bứng gốc, rễ lại mọc thành cây, bứng gốc mới hết cây, do đó vị Tỳ-kheo chứng đắc được Niết Bàn.

Bài k10

Bất năng đoạn thọ                          不  能  斷  樹

Thân thích tướng luyến                   親  戚  相  戀

Tham ý tự phược                           貪  意  自  縛

Như độc mộ nhũ                             如  犢  慕  乳

 

Nếu không đốn được cây (ái dục), nếu vẫn còn vướng bận trong lòng luyến ái thân thuộc, nếu còn tự trói mình bằng dục ý thì cũng vẫn như một con bê con suốt ngày quanh quẩn bên vú mẹ.

 

Bài k 11

Năng đoạn ý bổn                             能  斷  意  本

Sanh tử vô cường                           生  死  無  彊

Thị vi cận đạo                                 是  為  近  道

Tật đắc nê hoàn                              疾  得  泥  洹

 

Có khả năng cắt đứt được gốc (của dục ý) thì lãnh thổ của sinh tử không còn. Sự thực tập này đưa mình tới gần đạo, chứng đạt Niết Bàn.

 

Bài k12

Tham dâm trí lão                            貪  婬  致  老

Sân khuể trí bệnh                           瞋  恚  致  病

Ngu si trí tử                                    愚  癡  致  死

Trừ tam đắc đạo                             除  三  得  道

 

Tham dục đem tới cái già, sân nhuế đem tới cái bệnh, si mê đem tới cái chết; trừ diệt được ba cái ấy thì đắc đạo.

 

Bài k13

Thích tiền giải hậu                           釋  前  解  後

Thoát trung độ bỉ                            脫  中  度  彼

Nhất thiết niệm diệt                          一  切  念  滅

Vô phục lão tử                                無  復  老  死

 

Chú thích xong mới nên bình giảng, tự độ thoát rồi mới độ thoát cho người khác; một khi tất cả các (tà) niệm đều đã diệt trừ thì không còn lão tử nữa.

 

Bài kệ 14

Nhân doanh thê tử                         人  營  妻  子

Bất quán bệnh pháp                        不  觀  病  法

Tử mạng tốt chí                              死  命  卒  至

Như thủy thoan sậu                          如  水  湍  驟

 

Con người bận lo âu việc vợ con, không có thời giờ quán chiếu pháp môn điều trị bệnh (khổ), khi cái chết đến thì cũng giống như nước lụt, nó cuốn trôi đi tất cả một cách mau chóng.

 

Bài kệ 15

Phụ tử bất cứu                               父  子  不  救

Dư thân hà vọng                             餘  親  何  望

Mạng tận hỗ thân                           命  盡  怙  親

Như manh thủ đăng                        如  盲  守  燈

 

Cha con mà còn không cứu được nhau thì làm sao cứu được thân tộc? Khi mạng hết, cầu cứu và đến nương tựa vào một người thân để khỏi chết thì cũng như một người mù đang cầm đèn.

 

Bài kệ 16

Tuệ giải thị ý                                  慧  解  是  意

Khả tu kinh giới                              可  修  經  戒

Cần hành độ thế                             勤  行  度  世

Nhất thiết trừ khổ                           一  切  除  苦

 

Tâm ý biết đi theo tuệ giải, có khả năng tu tập, biết đọc kinh, trì giới, siêng năng tu học và độ đời thì ai cũng có thể diệt trừ được khổ đau.

 

Bài kệ 17

Viễn ly chư uyên                             遠  離  諸  淵

Như phong khước vân                      如  風  却  雲

Dĩ diệt tư tưởng                              已  滅  思  想

Thị vi tri kiến                                  是  為  知  見

 

Xa lìa các dòng lũ lụt, như gió thổi tan mây, biết diệt trừ các vọng tưởng thì sẽ đạt tới tri kiến chân chính.

 

Bài kệ 18

Trí vi thế trường                              智  為  世  長

Đàm lạc vô vi                                  惔  樂  無  為

Tri thọ chánh giáo                            知  受  正  教

Sanh tử đắc tận                              生  死  得  盡

 

Xem trí tuệ là sự nghiệp quan trọng nhất trong đời, biết thờ ơ với dục lạc, biết thực tập vô vi, biết tiếp nhận chánh giáo thì có thể chấm dứt được sinh tử.

 

Bài kệ 19

Tri chúng hành không                      知  眾  行  空

Thị vi tuệ kiến                                 是  為  慧  見

Bãi yếm thế khổ                              罷  厭  世  苦

Tùng thị đạo trừ                             從  是  道  除

 

Biết được các hành là không, đó là tuệ giác, biết nhàm chán khổ đau của cuộc đời thì sẽ tìm ra được con đường diệt trừ đau khổ.

 

Bài kệ 20

Tri chúng hành khổ                          知  眾  行  苦

Thị vi tuệ kiến                                 是  為  慧  見

Bãi yếm thế khổ                             罷  厭  世  苦

Tùng thị đạo trừ                             從  是  道  除

 

Biết được các hành là khổ, đó là tuệ kiến, có tâm ý chấm dứt khổ đau trong cuộc đời thì sẽ tìm ra được con đường diệt trừ đau khổ.

 

Bài kệ 21

Chúng hành phi thân                       眾  行  非  身

Thị vi tuệ kiến                                 是  為  慧  見

Bãi yếm thế khổ                             罷  厭  世  苦

Tùng thị đạo trừ                             從  是  道  除

 

Biết được các hành là vô ngã (phi thân), đó là tuệ giác, có tâm ý chấm dứt đau khổ trong cuộc đời thì sẽ tìm ra được con đường diệt trừ đau khổ.

 

Bài kệ 22

Ngô ngữ nhữ Pháp                         吾  語  汝  法

Ái tiến vi xạ                                    愛  箭  為  射

Nghi dĩ tự húc                                宜  以  自  勗

Thọ Như Lai ngôn                         受  如  來  言

 

Tôi nói cho quý vị nghe về các phép tu ấy để quý vị có thể sử dụng mà bắn rơi mũi tên ái dục. Các vị nên tự mình khích lệ và tiếp nhận lời dạy ấy của Như Lai.

 

Bài k 23

Ngô vi đô dĩ diệt                             吾  為  都  以  滅

Vãng lai sanh tử tận                        往  來  生  死  盡

Phi nhất tình dĩ giải                         非  一  情  以  解

Sở diễn vi đạo nhãn                        所  演  為  道  眼

 

Người xây cất nhà tù cho ta không còn. Chuyện qua lại trong cõi sinh tử do đó cũng đã chấm dứt. Không có sợi dây ràng buộc nào mà chưa được mở ra. Những gì được diễn bày ra đều phát xuất từ con mắt đạo.

 

Bài kệ 24

Sử lưu chú vu hải                           駛  流  澍  于  海

Phan thủy dạng tật mãn                 潘  水  漾  疾  滿

Cố vi trí giả thuyết                          故  為  智  者  說

Khả thú phục cam lộ                      可  趣  服  甘  露

 

Sông chảy ra biển, các dòng nước đã đầy, giáo pháp này đã vì các bậc trí giả mà được nói lên, (ai tiếp nhận được) sẽ có khả năng nếm được vị cam lộ.

 

Bài kệ 25

Tiền vị văn Pháp luân                     前  未  聞  法  輪

Chuyển vi ai chúng sanh                 轉  為  哀  眾  生

Ư thị phụng sự giả                         於  是  奉  事  者

Lễ chi độ tam hữu                          禮  之  度  三  有

 

Trước chưa từng được nghe ai chuyển pháp luân. Sở dĩ có chuyển cũng vì thương chúng sinh, những ai biết nghe theo thì có thể vượt được tam hữu.

 

Bài kệ 26

Tam niệm khả niệm thiện                三  念  可  念  善

Tam diệc nan bất thiện                   三  亦  難  不  善

Tùng niệm nhi hữu hành                 從  念  而  有  行

Diệt chi vi chánh đoạn                    滅  之  為  正  斷

 

Nếu thực tập được ba phép niệm thì rất tốt, bởi vì ba phép này có thể giúp ta thoát khỏi con đường bất thiện. Từ niệm mà có hành, chấm dứt được cái bất thiện là Niết Bàn chân chính.

 

Bài kệ 27

Tam định vi chuyển niệm                三  定  為  轉  念

Khí y hành vô lượng                       棄  猗  行  無  量

Đắc tam tam quật trừ                    得  三  三  窟  除

Giải kết khả ưng niệm                    解  結  可  應  念

 

Tam định là để chuyển niệm, buông bỏ cái rườm rà bên ngoài để thực hành vô lượng tâm (dũng mãnh đạt tới đạo vô thượng). Ba định trừ diệt được ba cõi, muốn cởi bỏ nội kết phải thực tập (ba định) này.

 

Bài kệ 28

Tri dĩ giới cấm ác                           知  以  戒  禁  惡

Tư tánh tuệ lạc niệm                      思  惟  慧  樂  念

Dĩ tri thế thành bại                         已  知  世  成  敗

Tức ý nhất thiết giải                      息  意  一  切  解

 

Biết sử dụng giới luật để ngăn cản tội lỗi, biết tư duy thiền tập để đạt tới an lạc, trí tuệ và chánh niệm. Đã biết được bản chất của cái thành bại trong cuộc đời, dừng được sự rong ruổi của tâm ý thì tất cả mọi hệ lụy đều được giải thoát.

Kinh Phụng Trì

Người tu đích thực đang thực sự phục trì chánh pháp không hẳn là người đang nói nhiều về Phật pháp. Có thể kiến thức Phật pháp của người ấy còn ít, nhưng người ấy đang thật sự nương tựa vào chánh pháp để hành trì.

 

Phụng Trì Phẩm Pháp Cú Kinh đệ nhị thập thất

奉持品法句經第二十七

Kinh Phụng Trì

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 27

 

Phẩm này có 15 bài kệ. Phụng trì có nghĩa là vâng theo lời chỉ giáo và thực tập theo những lời chỉ giáo ấy. Các bài kệ thứ 3 và thứ 4 dạy ta thực tập mà đừng ham lý luận và phô trương kiến thức, dù là kiến thức Phật học. Bài 12 dạy rằng sự im lặng chưa hẳn đã là dấu hiệu của minh triết: im lặng chỉ là cái vỏ minh triết nếu bên trong tâm ý còn có những dự tính không trong sáng. Bài 13 định nghĩa một vị Mâu ni: đạt được vô vi, tâm ý thanh khiết, không còn vướng bận, an trú Niết bàn trong giây phút hiện tại.

Các bài 5, 6, 7, 8, 9, 10 và 11 cho thấy thế nào là một vị xuất gia đích thực.

 

Bài kệ 1

Hảo kinh đạo giả                             好  經  道  者

Bất cạnh ư lợi                                 不  競  於  利

Hữu lợi vô lợi                                  有  利  無  利

Vô dục bất hoặc                              無  欲  不  惑

 

Người ưa thích học kinh và hành đạo thì không ham tranh đua về mặt lợi lộc. Dù những cái kia có lợi hay không có lợi thì mình cũng không ham muốn chạy theo, không bị mê hoặc bởi chúng.

 

Bài k 2

Thường mẫn hảo học                      常  愍  好  學

Chánh tâm dĩ  hành                         正  心  以  行

Ủng hoài  bảo tuệ                           擁  懷  寶  慧

Thị vị vi đạo                                   是  謂  為  道

 

Thường có tâm lân mẫn, ưa tu tập học hỏi, đem tâm chính trực của mình để hành trì, ôm ấp chí nguyện đạt tới kho tàng quý báu của tuệ giác, như thế mới gọi là kẻ hành đạo chân chính.

 

Bài k3

Sở vị trí giả                                      所  謂  智  者

Bất tất biện ngôn                             不  必  辯  言

Vô khủng vô cụ                               無  恐  無  懼

Thủ thiện vi trí                                 守  善  為  智

 

Người có trí không phải là người ưa biện luận. Không hề sợ hãi, luôn luôn biết bảo hộ cái thiện, đó mới là người trí.

 

Bài kệ 4

Phụng trì Pháp giả                         奉  持  法  者

Bất dĩ đa ngôn                                不  以  多  言

Tuy tố thiểu văn                               雖  素  少  聞

Thân y Pháp hành                           身  依  法  行

 

Người tu đích thực đang thực sự phụng trì chánh pháp không hẳn là người đang nói nhiều về Phật pháp. Có thể kiến thức Phật pháp của người ấy còn ít, nhưng người ấy đang thực sự nương tựa vào chánh pháp để hành trì.

 

Bài k 5

Thủ đạo bất kị                                  守  道  不  忌

Khả vị phụng Pháp                           可  謂  奉  法

Sở vị lão giả                                    所  謂  老  者

Bất tất niên kì                                 不  必  年  耆

Hình thục phát bạch                         形  熟  髮  白

Xuẩn ngu nhi dĩ                               憃  愚  而  已

 

Không xao lãng công phu tu tập mới là người phụng trì chánh pháp. Không phải do sống lâu mà người ta trở thành một vị trưởng lão trong Phật pháp. Tuy có hình tướng thân già tóc bạc, nhưng người ấy không phải là một vị đạo cao đức trọng, mà vẫn chỉ là một kẻ ngu phu.

 

Bài k 6

Vị hoài đế Pháp                              謂  懷  諦  法

Thuận điều từ nhân                         順  調  慈  仁

Minh viễn thanh khiết                      明  遠  清  潔

Thị vi Trưởng lão                           是  為  長  老

 

Ôm được chánh pháp vào lòng, tu tập theo nếp sống nhân từ, người có đạo hạnh chiếu sáng và thấy xa, nếp sống thanh khiết, mới có thể được gọi là một vị thượng tọa, đại đức hay trưởng lão.

 

Bài k 7

Sở vị đoan chánh                             所  謂  端  政

Phi sắc như hoa                              非  色  如  花

Xan tật hư sức                                慳  嫉  虛  飾

Ngôn hành hữu vi                            言  行  有  違

 

Như một bông hoa chỉ có sắc không hương, xan lẫn, tật đố, chỉ có giả trang hình tướng bên ngoài, lời nói và hành động đi ngược lại với nhau thì chưa có thể gọi là một người thực sự đoan chính.

 

Bài k8

Vị năng xả ác                                  謂  能  捨  惡

Căn nguyên dĩ đoạn                         根  原  已  斷

Tuệ nhi vô khuể                               慧  而  無  恚

Thị vị đoan chánh                            是  謂  端  政

Sở vị Sa môn                                  所  謂  沙  門

Phi tất trừ phát                               非  必  除  髮

Vọng ngữ tham thủ                         妄  語  貪  取

Hữu dục như phàm                        有  欲  如  凡

 

Buông bỏ được tà hạnh, cắt đứt được gốc rễ của ác, có tuệ giác, không còn sân nhuế, đó mới thực sự là người đoan chính. Một người cạo tóc mà còn vọng ngữ, tham đắm, chấp thủ, có nhiều tham dục như một kẻ phàm tục, thì không phải là một vị Sa môn đích thực.

 

Bài k 9

Vị  năng chỉ ác                                  謂  能  止  惡

Khôi khuếch hoằng đạo                     恢  廓  弘  道

Tức tâm diệt ý                                 息  心  滅  意

Thị vi Sa môn                                   是  為  沙  門

 

Chấm dứt được những hành động sai trái, làm sống dậy và quảng bá được chánh pháp, làm lắng dịu nội tâm và diệt trừ được mọi tà ý, đó mới thật là một vị Sa môn.

 

Bài k10

Sở vị Tỳ-kheo                                  所  謂  比  丘

Phi thời khất thực                            非  時  乞  食

Tà hành dâm bỉ                               邪  行  婬  彼

Xưng danh nhi dĩ                             稱  名  而  已

 

Là một vị Tỳ khưu mà đi khất thực phi thời, mà vẫn còn tà hạnh và vọng ngữ thì chỉ là một vị Tỳ khưu hữu danh vô thực.

 

 

Bài k 11

Vị xả tội phước                               謂  捨  罪  福

Tịnh tu phạm hạnh                          淨  修  梵  行

Tuệ năng phá ác                           慧  能  破  惡

Thị vi Tỳ-kheo                                是  為  比  丘

 

Buông bỏ được ý niệm về tội phúc, tu tập thanh tịnh theo nếp sống phạm hạnh, tuệ giác đủ lớn để phá trừ được mọi ác kiến, đó mới đích thực là một vị Tỳ-khưu.

 

Bài kệ 12

Sở vị nhân minh                             所  謂  仁  明

Phi khẩu bất ngôn                         非  口  不  言

Dụng tâm bất tịnh                          用  心  不  淨

Ngoại thuận nhi dĩ                          外  順  而  已

 

Nhà minh triết không phải là một kẻ chỉ biết im lặng không nói, trong khi đó thì tâm mình vẫn còn có những chủ ý không sạch. Im lặng như thế chỉ là cái vỏ bề ngoài.

 

Bài k13

Vị tâm vô vi                                    謂  心  無  為

Nội hành thanh hư                          內  行  清  虛

Thử bỉ tịch diệt                              此  彼  寂  滅

Thị vi nhân minh                             是  為  仁  明

 

Nội tâm thực sự đã đạt tới vô vi, thanh khiết, không còn vướng bận gì, biết an trú Niết Bàn, đó mới thật là một bậc Mâu ni.

 

Bài k 14

Sở vị hữu đạo                                 所  謂  有  道

Phi cứu nhất vật                              非  救  一  物

Phổ tế thiên hạ                                普  濟  天  下

Vô hại vi đạo                                   無  害  為  道

 

Không phải chỉ biết lo cứu độ cho một người, mà biết lo cứu độ cho tất cả mọi loài trong thiên hạ, không bao giờ làm tổn hại đến ai, đó mới thật là một bậc đạo hạnh.

 

Bài k15

Giới chúng bất ngôn                         戒  眾  不  言

Ngã hành đa thành                           我  行  多  誠

Đắc định ý giả                                  得  定  意  者

Yếu do bế tổn                                 要  由  閉  損

Ý giải cầu an                                   意  解  求  安

Mạc tập phàm nhân                         莫  習  凡  人

Sử kết vị tận                                   使  結  未  盡

Mạc năng đắc thoát                        莫  能  得  脫

 

Dù có giữ giới, có thực tập tịnh khẩu, dù có thành khẩn tu tập, đạt được các định nhưng vẫn còn giữ thái độ cầu an, vẫn còn có nhu yếu khép kín, sợ tổn hại đến mình, vẫn còn giữ tập khí của người đời, thì kẻ ấy vẫn không thể nói là đã đạt tới giải thoát thật sự.

Kinh Thanh Lọc Tâm Ý

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán Tạng – Kinh thứ 26


Phẩm Trần Cấu
(Kinh Thanh Lọc Tâm Ý).

    Phẩm này có 19 bài kệ. Trần cấu ở đây là ô nhiễm, là cấu uế (mala).

    Bài kệ thứ 2 dạy ta phải thắp ngọn đèn tâm lên, nghĩa là phải học sống với chánh niệm để từ từ làm hiển lộ tuệ giác, và diệt trừ được mọi ô nhiễm của tâm ý. Cụm từ ‘‘nhiễm ý định’’ trong bài kệ này có nghĩa là thắp lên ngọn đuốc của tâm ý. Chữ định 定 ở đây phải hiểu là định quang 定光 hay 錠光 những từ đã từng được sử dụng để dịch từ dipamkara. Dipamkara có nghĩa là đèn hay đuốc. Quý vị hãy thắp đuốc lên mà đi, đó là một lời nói rất nổi tiếng của Bụt. Dipamkara cũng có nghĩa là hải đảo (của tự thân). Bản Pháp cú Pali đã được hiểu theo nghĩa này.

    Lười biếng, sắc dục, xan tham, si mê, bạo động, phạm giới… đều là những gì tạo ra ô nhiễm, đó là những ngọn lửa đốt cháy rất kinh khiếp. Bài kệ thứ 17 dạy: không có lửa nào nóng bằng lửa dâm, không có lửa nào cháy nhanh bằng lửa giận, không có lưới nào sít sao bằng lưới si, và không có dòng sông nào chảy xiết bằng dòng sông ái.

    Hai bài kệ 18 và 19 dạy các vị xuất gia phải nỗ lực tiến tu, đừng đi tìm những lạc thú bên ngoài. Phải thực tập hết lòng để đạt được cái thấy vô ngã.

     

    1.
    Còn sống đây mà không chịu làm điều lành thì sau khi chết sẽ rơi vào những nẻo ác.
    Rơi vào một cách nhanh chóng, không có thời gian để có thể tạm dừng lại.
    Và khi đã rơi vào rồi thì cũng chẳng có hành trang nào mang theo được để giúp cho mình bớt khổ.

    2.
    Phải phát tâm tìm cầu tuệ giác,
    phải thắp sáng ngọn đuốc của tâm ý,
    phải trừ khử cấu uế, đừng bị ô nhiễm, như vậy thì có thể buông bỏ được những đau khổ của hình hài.

    3.
    Người có trí tuệ biết từ từ đi tới một cách an lành,
    diệt trừ được những cấu uế trong tâm, như người thợ luyện kim (lọc ra ngoài những chất dơ trong quặng).

    4.
    Những ác hành đều phát sinh từ cái tâm, và trở lại hủy hoại cái hình, như chất rỉ của thép từ thép sinh ra trở lại ăn hư cả thỏi thép.

    5.
    Không siêng năng tụng đọc và học hỏi kinh điển thì sẽ đi tới sự cấu uế của cách nói năng
    cũng như không siêng năng dọn dẹp nhà cửa thì sẽ đi tới sự cấu uế của nhà cửa.
    Sắc dục đưa tới sự cấu uế của cách hành xử không đoan nghiêm.
    Biếng lười đưa tới cái cấu uế của sự tan tành cơ nghiệp.

    6.
    Cái xan tham đem lại sự cấu uế cho ân huệ và rộng lượng.
    Cái bất thuận đem lại sự cấu uế cho hành vi.
    Đời này cũng như đời sau, cái ác nào cũng luôn luôn đem tới sự cấu uế.

    7.
    Cái cấu uế nhất trong các cấu uế không có gì bằng sự si mê.
    Vị tỳ khưu phải thực tập buông bỏ những tâm hành bất thiện để đạt tới vô cấu.

    8.
    Người sống cẩu thả, khinh suất, không có liêm sỉ thì cũng như một con quạ mỏ dài, mổ ăn tạp nhạp, đó thật là một nếp sống cấu uế.

    9.
    Kẻ có liêm sỉ tuy sống thanh bần nhưng nghĩa khí thanh bạch, không bao giờ chịu nhục, không bao giờ dối trá, đó gọi là một nếp sống tinh khiết.

    10.
    Kẻ ngu hiếu sát, lời nói không thật, không cho mà lấy, xâm phạm vào vợ con của kẻ khác.

    11.
    Mặc ý phạm giới, cứ mãi say sưa, những kẻ ấy đời đời kiếp kiếp tự đào gốc bản thân mình.

    12.
    Thấy được như thế người ta sẽ không còn dám nghĩ tới việc làm ác,
    cũng không muốn gần gũi những kẻ ngu phu mà làm điều phi pháp để tự mình đốt cháy mình một cách lâu dài.

    13.
    Có người bố thí vì niềm tin, có người bố thí vì muốn được tiếng khen.
    Nếu mình còn ham tham dự vào những cái phù phiếm trang sức bên ngoài của thiên hạ thì mình vẫn chưa có cơ hội đi vào những cõi thiền định thanh tịnh.

    14.
    Phải đoạn trừ mọi dục, phải cắt đứt gốc nguồn của dục nơi tâm ý, đêm ngày một lòng, thì mới đi vào được thiền định an tĩnh.

    15.
    Dục là đối tượng của tâm, vướng mắc vào dục là bị nhiễm ô bởi trần lậu.
    Người hành giả không để bị nhiễm ô, không đi theo dục, biết tịnh hóa tâm mình và lìa xa vô minh trần lậu.

    16.
    Thấy kẻ kia sa đọa thì mình phải thường nội tỉnh:
    còn đi vào trần lậu thì còn bị lừa gạt dối trá. Hết trần lậu thì mới thành vô cấu.

    17.
    Không có lửa nào nóng bằng lửa dâm.
    Không có gì cháy nhanh hơn lửa nộ.
    Không có lưới nào sít sao bằng lưới si.
    Không có dòng sông nào chảy cuồn cuộn bằng dòng sông ái.

    18.
    Nếu hư không không có dấu tích thì vị sa môn cũng không hề có ý tìm cầu bên ngoài.
    Phần lớn người đời đều đi theo những gì trói buộc gây chướng ngại (triền sử) mà lại ưa thích làm như thế.
    Chỉ có đạo Bụt mới chủ trương phải thanh lọc thân tâm, đừng cho cấu uế xâm nhập.

    19.
    Nếu hư không không để lại dấu vết thì vị sa môn cũng không hề có ý tìm cầu bên ngoài.
    Phần lớn người đời đều chạy theo những cái vô thường.
    Chỉ có Bụt mới nói rằng không có cái ta, cũng không có cái của ta.

    Kinh Chế Ngự Phẫn Nộ

    Chế ngự được cơn giận thì cũng như thắng được cỗ xe khi nó đang bon bon tuột dốc. Chỉ có người lái xe giỏi mới làm được như thế. Làm được như thế thì ra khỏi được vùng tăm tối và đi được vào vùng ánh sáng.

     

    Phẫn Nộ Phẩm Pháp Cú Kinh đệ nhị thập ngũ

    忿怒品法句經第二十五

    Kinh Chế Ngự Phẫn Nộ

    Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

    Kinh thứ 25

     

    Phẩm này có 26 bài kệ. Tiếng Pali, kodha là sự giận dữ. Kinh này cho ta thấy nhẫn nhục là sức mạnh lớn nhất, là sự chiến thắng vinh quang nhất, là quà tặng quý nhất. Khi một chiếc xe đang bon bon tuột dốc mà người lái xe làm cho xe dừng lại được, thì đó mới là một người lái xe giỏi. Chế ngự được cơn giận cũng như thế, đó là hình ảnh trong bài kệ thứ 3.

    Các bài kệ thứ 7, 12, 13, 14 và 15 cho biết cần phải duy trì chánh niệm (sự tỉnh thức) để quán sát và bảo hộ thân, miệng và ý. Làm được như thế, ta có thể nhiếp phục được tâm mình và buông bỏ được hờn giận, chế tác được năng lượng nhẫn nhục rất hùng tráng.

    Cái đam mê thường đi đôi với cái sân hận, cho nên ta phải biết đối trị cái si mê cùng lúc với cái sân hận. Cái hiểu và cái thương do chánh niệm đem lại có thể làm phát sinh năng lượng nhẫn nhục. Với nhẫn nhục, ta chiến thắng được cái giận trong ta và giúp được người kia. Bị giận mà không giận lại, đó là kẻ chiến thắng, chiến thắng bằng cái hiểu và cái thương. Cái im lặng của người chiến thắng là một thứ im lặng hào hùng. Đó là ý của hai bài kệ chót.

     

    Bài kệ 1

    Phẫn nộ bất kiến Pháp                    忿  怒  不  見  法

    Phẫn nộ bất tri đạo                         忿  怒  不  知  道

    Năng trừ phẫn nộ giả                      能  除  忿  怒  者

    Phước hỉ thường tùy thân               福  喜  常  隨  身

     

    Phẫn nộ thì không thấy Pháp, không biết đạo

    Trừ được phẫn nộ thì hạnh phúc và niềm vui sẽ đi theo ta.

     

    Bài kệ 2

    Tham dâm bất kiến Pháp                貪  婬  不  見  法

    Ngu si ý diệc nhiên                        愚  癡  意  亦  然

    Trừ dâm khứ si giả                         除  婬  去  癡  者

    Kỳ phước đệ nhất tôn                     其  福  第  一  尊

     

    Tham dục thì không thấy Pháp, si mê cũng như thế

    Trừ được tham và si, đó là phước đức lớn nhất.

     

    Bài kệ 3

    Khuể năng tự chế                           恚  能  自  制

    Như chỉ bôn xa                               如  止  奔  車

    Thị vi thiện ngự                              是  為  善  御

    Khí minh nhập minh                        棄  冥  入  明

     

    Chế ngự được cơn giận thì cũng như thắng lại được cỗ xe khi nó đang bon bon tuột dốc. Chỉ có người lái xe giỏi mới làm được như thế. Làm được như thế thì ra khỏi được vùng tăm tối và đi được vào vùng ánh sáng.

     

    Bài kệ 4

    Nhẫn nhục thắng khuể                     忍  辱  勝  恚

    Thiện thắng bất thiện                      善  勝  不  善

    Thắng giả năng thí                         勝  者  能  施

    Chí thành thắng khi                       至  誠  勝  欺

     

    Nhẫn nhục thắng được sân nhuế, cái lành thắng được cái dữ. Người thắng là kẻ có khả năng hiến tặng. Cái thành thật có thể thắng được cái lừa dối.

     

    Bài kệ 5

    Bất khi bất nộ                                  不  欺  不  怒

    Ý bất đa cầu                                  意  不  多  求

    Như thị tam sự                                如  是  三  事

    Tử tắc thượng thiên                        死  則  上  天

     

    Không lừa dối, không giận dữ, tâm ý không tham cầu. Có được ba cái ấy thì khi chết thế nào cũng được sinh lên các cõi trên.

     

    Bài kệ 6

    Thường tự nhiếp thân                      常  自  攝  身

    Từ tâm bất sát                                慈  心  不  殺

    Thị sanh thiên thượng                      是  生  天  上

    Đáo bỉ vô ưu                                   到  彼  無  憂

     

    Thường tự nhiếp phục tự thân, có tâm từ bi không sát hại, thì sẽ được sinh lên các cõi trời và qua tới bờ vô ưu.

     

    Bài kệ 7

    Ý thường giác ngụ                          意  常  覺  寤

    Minh mộ cần học                            明  慕  勤  學

    Lậu tận ý giải                                 漏  盡  意  解

    Khả trí  nê hoàn                             可  致  泥  洹

     

    Tâm ý thường tỉnh giác, mến chuộng ánh sáng, biết tinh cần tu học thì các lậu sẽ chấm dứt và đạt tới Niết bàn.

     

    Bài kệ 8

    Nhân tướng báng hủy                       人  相  謗  毀

    Tự cổ chí kim                                  自  古  至  今

    Ký hủy đa ngôn                                既  毀  多  言

    Hựu hủy nột nhẫn                             又  毀  訥  忍

    Diệc hủy trung hòa                            亦  毀  中  和

    Thế vô bất hủy                                世  無  不  毀

     

    Từ xưa tới nay bao giờ cũng thế, người đời thường ưa chê trách và hủy báng nhau. Nói nhiều cũng bị chê trách, nói ít cũng bị chê trách, không nói cũng bị chê trách. Ở đời không ai là không bị chê bai.

     

    Bài kệ 9

    Dục ý phi Thánh                            欲  意  非  聖

    Bất năng chế trung                         不  能  制  中

    Nhất hủy nhất dự                           一  毀  一  譽

    Đãn vi lợi danh                              但  為  利  名

     

    Hễ còn dục ý thì chưa phải là Thánh nhân, không có khả năng tự chế ngự và cứ bị lên xuống hoặc theo lời khen chê của kẻ khác. Tất cả đều do tâm lợi danh mà sinh ra cả.

     

    Bài k10

    Minh trí sở dự                                 明  智  所  譽

    Duy xưng thị hiền                             唯  稱  是  賢

    Tuệ  nhân thủ giới                            慧  人  守  戒

    Vô sở ky báng                                 無  所  譏  謗

     

    Kẻ có trí tuệ thì biết giữ giới, biết ngợi khen các bậc minh triết, biết xưng tụng các bậc hiền giả, không nói những lời phỉ báng.

     

    Bài k11

    Như La hán tịnh                             如  羅  漢  淨

    Mạc nhi vu báng                            莫  而  誣  謗      

    Chư nhân tư ta                              諸  人  咨  嗟

    Phạm Thích sở xưng                      梵  釋  所  稱

     

    Người trong sạch như bậc A la hán, đừng nên phỉ báng. Chính Chư Thiên, Phạm Vương và Đế Thích cũng còn xưng tán người ấy nữa là.

     

    Bài k12

    Thường thủ thận thân                       常  守  慎  身

    Dĩ hộ sân khuể                                以  護  瞋  恚

    Trừ thân ác hành                             除  身  惡  行

    Tấn tu đức hạnh                              進  修  德  行

     

    Phải cẩn trọng giữ gìn hình hài của mình để có thể đối phó với tâm niệm sân hận của mình. Chấm dứt các ác hành của thân thì sẽ tiến tu được về mặt đức hạnh.

     

    Bài kệ 13

    Thường thủ thận ngôn                     常  守  慎  言

    Dĩ  hộ  sân khuể                             以  護  瞋  恚

    Trừ khẩu ác ngôn                            除  口  惡  言

    Tụng tập Pháp ngôn                        誦  習  法  言

     

    Phải thận trọng giữ gìn lời nói của mình để có thể đối phó với tâm niệm sân hận của mình, chấm dứt được những ác hành của khẩu và khi nói năng chỉ sử dụng ngôn từ chánh pháp.

     

    Bài k14

    Thường thủ thận tâm                      常  守  慎  心

    Dĩ hộ sân khuể                               以  護  瞋  恚

    Trừ tâm ác niệm                             除  心  惡  念

    Tư tánh niệm đạo                           思  惟  念  道

     

    Phải thận trọng giữ gìn tâm tư của mình để đối phó với tâm niệm sân hận của mình, chấm dứt được những ác niệm của tâm và thực tập tư duy, quán niệm về Đạo đế.

    Bài k 15

    Tiết thân thận ngôn                        節  身  慎  言

    Thủ nhiếp kỳ tâm                           守  攝  其  心

    Xả khuể hành đạo                         捨  恚  行  道

    Nhẫn nhục tối cường                      忍  辱  最  強

     

    Để có khả năng chế ngự được hình hài, để biết thận trọng khi nói năng, nhiếp phục tâm mình, buông bỏ sân hận và hành đạo, thì nhẫn nhục là phương pháp hùng tráng nhất.

     

    Bài k 16

    Xả khuể ly mạn                              捨  恚  離  慢

    Tị chư ái hội                                   避  諸  愛  會

    Bất trước danh sắc                         不  著  名  色

    Vô vi diệt khổ                                 無  為  滅  苦

     

    Buông bỏ sân hận, lìa xa kiêu mạn, tránh xa tham ái, không vướng vào danh và vào sắc thì có thể đạt tới vô vi diệt khổ.

     

    Bài k17

    Khởi nhi giải nộ                               起  而  解  怒

    Dâm sanh tự cấm                           婬  生  自  禁

    Xả bất minh kiện                             捨  不  明  健

    Tư giai đắc an                               斯  皆  得  安

     

    Cởi bỏ được phẫn nộ, chận đường được tham dục, buông bỏ được si mê, những cái ấy đưa mình tới an ổn.

     

    Bài kệ 18

    Sân đoạn ngọa an                         瞋  斷  臥  安

    Khuể diệt dâm ưu                          恚  滅  婬  憂

    Nộ vi độc bổn                                怒  為  毒  本

    Nhuyễn ý Phạm chí                       軟  意  梵  志

    Ngôn thiện đắc dự                         言  善  得  譽

    Đoạn vi vô hoạn                             斷  為  無  患

     

    Diệt trừ được sân hận sẽ có giấc ngủ an lành. Sân hận diệt trừ thì không còn lo lắng. Sân hận là gốc rễ của mọi độc hại. Người tu thì luôn mềm mỏng dễ thương. Nói lời lành thì luôn luôn được khen ngợi và sẽ không bao giờ đem lại tai họa.

     

    Bài k19

    Đồng chí tướng cận                       同  志  相  近

    Tường vi tác ác                             詳  為  作  惡

    Hậu biệt dư khuể                           後  別  餘  恚

    Hỏa tự thiêu não                           火  自  燒  惱

     

    Những người cùng có chí hướng thì cảm thấy gần nhau. Họ biết rõ ràng rằng làm việc thất đức thì thế nào sau này cũng gây ra hận thù, và cái lửa hận thù đó sẽ trở lại thiêu đốt tự thân mình.

     

    Bài k20

    Bất tri tàm quý                                不  知  慚  愧

    Vô giới hữu nộ                                無  戒  有  怒

    Vi nộ sở khiên                                為  怒  所  牽

    Bất yếm hữu vụ                              不  厭  有  務

     

    Kẻ không biết hổ thẹn và không trì giới thì khi cơn giận nổi lên sẽ kéo họ đi theo, bị nó sai sử, như đi trong đêm mà mất cây đèn soi.

     

    Bài k21

    Hữu lực cận binh                           有  力  近  兵

    Vô lực cận nhuyễn                        無  力  近  軟

    Phu nhẫn vi thượng                      夫  忍  為  上

    Nghi thường nhẫn luy                     宜  常  忍  羸

    Có sức thì ưa sử dụng binh khí, không có sức thì cần tới sự mềm dẻo. Nhẫn nhục là trên hết, vì vậy phải học nhẫn nại.

     

    Bài k22

    Cử chúng khinh chi                        舉  眾  輕  之

    Hữu lực giả nhẫn                           有  力  者  忍

    Phu nhẫn vi thượng                        夫  忍  為  上

    Nghi thường nhẫn luy                     宜  常  忍  羸

     

    Nâng lên một vật nặng mà vẫn thấy nhẹ, người đã có sức mạnh mà lại có nhẫn lực nữa thì thấy nhẫn nhục là không có gì cao hơn. Vì vậy, phải biết thường xuyên nhẫn nại.

     

    Bài k23

    Tự ngã dữ bỉ                                   自  我  與  彼

    Đại úy hữu tam                               大  畏  有  三

    Như tri bỉ tác                                   如  知  彼  作

    Nghi diệt kỷ trung                            宜  滅  己  中

     

    Giữa ta và người kia có ba cái sợ lớn: hoặc mình, hoặc người kia, hoặc cả hai sẽ bị tổn thất bởi cái giận. Do đó, nếu ta biết được là người kia đang giận thì ta phải dập tắt cái giận trong ta. Tuy bị thiên hạ coi nhẹ, bậc có nhẫn là người có thực lực. Có nhẫn là không ai hơn được. Do đó, phải luôn luôn thực tập nhẫn hay hơn nữa để mà chiến thắng.

     

    Bài kệ 24

    Câu lưỡng hành nghĩa                   俱  兩  行  義

    Ngã vi bỉ giáo                                我  為  彼  教

    Như tri bỉ tác                                 如  知  彼  作

    Nghi diệt kỷ trung                          宜  滅  己  中

     

    Nếu cả hai bên đều thực tập được như thế, thì là người thực tập ta giúp được người kia, nếu ta biết được người kia đang giận thì ta phải dập tắt cái giận trong ta trước đã.

     

    Bài k 25

    Khổ trí thắng ngu                           苦  智  勝  愚

    Thô ngôn ác thuyết                        麤  言  惡  說

    Dục thường thắng giả                    欲  常  勝  者

    Ư ngôn nghi mặc                          於  言  宜  默

     

    Người ngu nghĩ có thể thắng người trí bằng những lời thô ác của mình. Nếu mình muốn thắng kẻ ấy thì cách hay nhất là mình im lặng.

     

    Bài kệ 26

    Phu vi ác giả                                   夫  為  惡  者

    Nộ hữu nộ báo                                怒  有  怒  報

    Nộ bất báo nộ                                 怒  不  報  怒

    Thắng bỉ đấu phụ                             勝  彼  鬪  負

     

    Thường thì kẻ vũ phu khi bị giận thì giận trở lại. Cái giận này đem tới cái giận kia. Bị giận mà không giận lại thì mình là kẻ thắng.

    Kinh Luyến Ái

    Những ai không chạy theo những gì hòa nhoáng bên ngoài của tham dục, những ai biết tư duy, nói năng theo chánh pháp và tâm không bị cuốn theo tham ái, những vị ấy thế nào cũng cắt ngang được dòng lũ sinh tử.

     

    Hảo Hỉ Phẩm Pháp Cú Kinh đệ nhị thập tứ

    好喜品法句經第二十四

    Kinh Luyến Ái

    Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

    Kinh thứ 24

     

    Phẩm này có 12 bài kệ. Piya là luyến ái. Luyến ái ở đây không phải là tình thương chân thật làm bằng các chất liệu từ, bi, hỷ và xả. Luyến ái ở đây là sự vướng mắc, mất tự do. Cái vướng mắc này tạo ra cái lo, cái sợ, cái ghen, cái giận ghét và cái thù hận. Cho nên bài kệ thứ 3 nói: cái thương là nguyên nhân sinh ra cái ghét. Bài kệ thứ 8 dạy ta không nên để cho cái bóng sắc bên ngoài lôi kéo. Phải tập tư duy cho chính xác, nói năng và hành động cho đúng phép thì mới cắt ngang được dòng lũ sinh tử.

     

    Bài kệ 1

    Vi đạo tắc tự thuận                        違  道  則  自  順

    Thuận đạo tắc tự vi                        順  道  則  自  違

    Xả nghĩa thủ sở hảo                      捨  義  取  所  好

    Thị vi thuận ái dục                          是  為  順  愛  欲

     

    Những gì ngược với đạo lý mình lại thích, những gì thuận với đạo lý thì mình lại không ưa; bỏ cái đạo nghĩa mà theo cái mình đam mê, đó gọi là đi theo ái dục.

     

    Bài kệ 2

    Bất đương thú sở ái                        不  當  趣  所  愛

    Diệc mạc hữu bất ái                        亦  莫  有  不  愛

    Ái chi bất kiến ưu                            愛  之  不  見  憂

    Bất ái kiến diệc ưu                          不  愛  見  亦  憂

     

    Đừng tìm tới cái đối tượng mình thương, đừng tìm cách xa lánh cái đối tượng mình ngét. Thương đem lại ưu phiền mà ghét cũng đem lại ưu phiền.

     

    Bài kệ 3

    Thị dĩ mạc tạo ái                            是  以  莫  造  愛

    Ái tăng ác sở do                             愛  憎  惡  所  由

    Dĩ trừ phược kết giả                       已  除  縛  結  者

    Vô ái vô sở tăng                             無  愛  無  所  憎

     

    Cho nên đừng đan dệt luyến ái, cũng đừng đan dệt thù ghét. Cái thương là nguyên nhân sinh ra cái ghét. Kẻ không muốn ràng buộc thì không ghét cũng không thương.

     

    Bài kệ 4

    Ái hỉ sanh ưu                                 愛  喜  生  憂

    Ái hỉ sanh úy                                  愛  喜  生  畏

    Vô sở ái hỉ                                     無  所  愛  喜

    Hà ưu hà úy                                   何  憂  何  畏

     

    Luyến ái sinh lo, luyến ái sinh sợ, không có luyến ái, thì còn lo gì sợ gì?

     

    Bài kệ 5

    Hảo lạc sanh ưu                             好  樂  生  憂

    Hảo lạc sanh úy                             好  樂  生  畏

    Vô sở hảo lạc                                無  所  好  樂

    Hà ư hà úy                                    何  憂  何  畏

     

    Ham vui sinh lo, ham vui sinh sợ, không có ham vui, thì còn lo gì sợ gì?

     

    Bài kệ 6

    Tham dục sanh ưu                         貪  欲  生  憂

    Tham dục sanh úy                        貪  欲  生  畏

    Giải vô tham dục                            解  無  貪  欲

    Hà ưu hà úy                                  何  憂  何  畏

     

    Tham dục sinh lo, tham dục sinh sợ, không có tham dục, thì còn lo gì sợ gì?

     

    Bài kệ 7

    Tham pháp giới thành                     貪  法  戒  成

    Chí thành tri tàm                            至  誠  知  慚

    Hành thân cận đạo                         行  身  近  道

    Vi chúng sở ái                               為  眾  所  愛

     

    Những kẻ ham học ham tu theo giới và pháp, đem tất cả tâm dạ chí thành để học hỏi, những kẻ ấy biết hổ thẹn là gì và cách hành xử của họ rất gần với chánh đạo, và họ được quần chúng thương mến.

     

    Bài kệ 8

    Dục thái bất xuất                            欲  態  不  出

    Tư chánh nãi ngữ                          思  正  乃 

    Tâm vô tham ái                             心  無  貪  愛

    Tất tiệt lưu độ                                必  截  流  渡

     

    Những ai không chạy theo những gì hào nhoáng bên ngoài của tham dục, những ai biết tư duy, nói năng theo chánh pháp và tâm không bị cuốn theo tham ái, những vị ấy thế nào cũng cắt ngang được dòng lũ sinh tử.

     

    Bài kệ 9

    Thí nhân cửu hành                         譬  人  久  行

    Tùng viễn cát hoàn                        從  遠  吉  還

    Thân hậu phổ an                           親  厚  普  安

    Quy lai hoan hỉ                              歸  來  歡  喜

     

    Có người đi xa lâu ngày trở về nhà được bình an, tất cả bà con quyến thuộc đều ra mừng rỡ đón chào.

     

    Bài kệ 10

    Hảo hành phước giả                       好  行  福  者

    Tòng thử đáo bỉ                             從  此  到  彼

    Tự thọ phước tộ                            自  受  福  祚

    Như thân lai hỉ                                如  親  來  喜

     

    Thì những kẻ tu tập thành công cũng thế, đi tới đâu cũng tiếp nhận ân phước, đi đến đâu cũng được mừng rỡ đón chào như một người thân nhân.

     

    Bài kệ 11

    Khởi tùng Thánh giáo                      起  從  聖  教

    Cấm chế bất thiện                          禁  制  不  善

    Cận đạo kiến ái                              近  道  見  愛

    Ly đạo mạc thân                             離  道  莫  親

     

    Khởi sự tu tập theo thánh giáo, tự chế ngự được bản thân, không dính vào những chuyện bất thiện, kẻ hành giả rất gần với thánh đạo và được mọi người yêu mến. Còn nếu tách xa khỏi con đường đạo thì không còn ai là người thân thích yêu mến mình nữa.

     

    Bài kệ 12

    Cận dữ bất cận                               近  與  不  近

    Sở trụ giả dị                                    所  住  者  異

    Cận đạo thăng thiên                         近  道  昇  天

    Bất cận đọa ngục                            不  近  墮  獄

     

    Những kẻ gần gũi đạo pháp và những kẻ xa lìa đạo pháp không ở chung với nhau. Kẻ gần đạo thì đang ở thiên đường, còn kẻ xa đạo thì đang ở địa ngục.

    Kinh An Lạc

    Kinh An Lạc – Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán Tạng – Kinh thứ 23


    Phẩm An Ninh
    (Kinh An Lạc).

      Phẩm này có 14 bài kệ. An ninh ở đây là an lạc, là hạnh phúc (sukha). An ninh đây cũng có nghĩa là an lành. Hạnh phúc và an lành là khi ta không bị những ngọn lửa phiền não như thèm khát, hận thù, tuyệt vọng, lo lắng và sợ hãi đốt cháy. Bài kệ thứ 8 dạy ta đừng đi tìm những cái vui nhỏ mà phải đi tìm cái vui lớn : đó là cái bình an lớn của Niết Bàn, của sự dập tắt các ngọn lửa phiền não. Đó là vị ngọt của Cam Lộ. Hạnh phúc chân chính là được đi trên con đường chánh đạo, được thực tập giới luật, học hỏi chánh pháp (kệ 11), là được sống với người hiền (kệ 12), được gặp và nương tựa vào các bậc có đức hạnh (kệ 10).

      1. Ta sống an lành không có thù hận, người kia có thù hận nhưng ta không thù hận ai.

      2. Ta sống an lành không có bệnh hoạn, người kia có bệnh nhưng ta không bệnh.

      3. Ta sống an lành không có lo lắng, người kia lo lắng nhưng ta bước đi lòng không lo lắng.

      4. Ta sống an lành, thanh tịnh, vô vi, lấy niềm vui làm thức ăn, cũng như ở cõi trời Quang Âm.

      5. Ta sống an lành, đạm bạc, hiền lành, vô sự, không có thứ lửa nào thiêu đốt được ta.

      6. Thắng thì gây thù, bại thì bẽ mặt; bỏ tâm hơn thua, không còn tranh chấp nữa thì tự nhiên được an.

      7. Không có gì nóng hơn dâm, không có gì độc hơn hận, không có gì khổ hơn thủ uẩn, không có gì hạnh phúc hơn Niết Bàn.

      8. Không tìm cái vui nhỏ, không bình luận về cái biết nhỏ, phải quán sát và tìm cầu cái lớn thì mới đạt tới được bình an lớn.

      9. Ta nhờ Thế Tôn mà hiểu thấu được Vô Ưu, vượt qua được Tam Hữu và hàng phục được chúng ma.

      10. Được gặp các bậc thánh nhân là hạnh phúc, được nương tựa vào các vị ấy là hạnh phúc, không chung đụng với kẻ ngu phu là hạnh phúc, được làm việc lành là hạnh phúc.

      11. Được đi trên con đường chánh đạo là hạnh phúc, được nói (và nghe) pháp là hạnh phúc, không tranh đua với đời là hạnh phúc, được trì giới đầy đủ là hạnh phúc.

      12. Nương vào người hiền mà sống là hạnh phúc, như người thương ở với người thương, gần gũi các bậc trí và bậc nhân, ta được nghe những điều thật cao viễn.

      13. Đời sống thì ngắn ngủi mà kẻ làm hoang phí sự sống thì nhiều. Người tu học chỉ nên giữ lấy cái cốt yếu, để khi tuổi cao vẫn còn được an lành.

      14. Thiểu dục thì đạt được vị ngọt của Cam Lộ và đạt tới hạnh phúc Niết Bàn. Nếu muốn vượt qua khổ sinh tử thì phải biết thưởng thức vị ngọt Cam Lộ ấy.

      Kinh Phật Bảo

      Người đi thuyền biết cách điều phục con nước, người tu lấy tinh tấn làm cầu để bước sang, con người lấy chủng tánh để nối kết, nếu muốn độ người phải có sức kiện hùng.

       

      Thuật Phật Phẩm  Pháp Cú Kinh đệ nhị thập nhị

      述佛品法句經第二十二

      Kinh Phật Bảo

      Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

      Kinh thứ 22

       

      Phẩm này có 21 bài kệ, có mục đích xưng tán đức Thế Tôn bằng cách nói ra được những gì mà Bụt đã có thể thực hiện như một con người. Trước hết, Bụt là người đã đạt được chiến thắng, một thứ chiến thắng oanh liệt nhất: đó là chiến thắng bản thân, chiến thắng phiền não, đạt tới tự do lớn. Bụt là người đã xé toang được màn lưới ái ân, màn lưới vô minh phiền não, là người mà trí tuệ và từ bi không còn có thể đo lường được. Bụt vốn là một con người, nhờ tu tập mà đạt tới vô sinh. Cho nên, là con người ta có thể đi theo Bụt, nương tựa nơi Bụt, nơi giáo pháp và nơi tăng đoàn của người. Bài kệ thứ 21 xưng tán Tam Bảo: Hạnh phúc thay, có Bụt ra đời! Hạnh phúc thay, có chánh pháp đó cho chúng ta tu tập! Hạnh phúc thay, có tăng đoàn đó để hướng dẫn, bảo hộ và soi sáng cho ta trên đường tu học!

       

      Bài kệ 1

      Kỷ thắng bất thọ ác                        己  勝  不  受  惡

      Nhất thiết thắng thế gian                 一  切  勝  世  間

      Duệ trí khuếch vô cường                 叡  智  廓  無  彊

      Khai mông lệnh nhập đạo                開  曚  令  入  道

       

      Đã chiến thắng phiền não, để phiền não không còn làm gì được người, sự chiến thắng này vượt lên tất cả các thứ chiến thắng khác trong thế gian. Trí tuệ thông duệ hoàn toàn không còn có biên cương, Bụt đã mở lối để cho những kẻ u mê có thể đi vào được con đường đạo.

       

      Bài kệ 2

      Quyết võng vô quái ngại                 決  網  無  罣  礙

      Ái tận vô sở tích                           愛  盡  無  所  積

      Phật ý thâm vô cực                        佛  意  深  無  極

      Vị tiễn tích lệnh tiễn                        未  踐  迹  令  踐

       

      Xé toang màn lưới, không còn chướng ngại, ân ái đã tận diệt, không còn sót lại gì, tâm ý của Bụt thâm sâu không cùng, chẳng có thể tìm được dấu tích.

       

       

      Bài kệ 3

      Dũng kiện lập nhất tâm                    勇  健  立  一  心

      Xuất gia nhật dạ diệt                       出  家  日  夜  滅

      Căn đoạn vô dục ý                          根  斷  無  欲  意

      Học chánh niệm thanh minh              學  正  念  清  明

       

      Dũng kiện một lòng, xuất gia đêm ngày qua, quyết đoạn trừ gốc rễ của mọi dục ý, thực tập chánh niệm trong sáng.

       

      Bài kệ 4

      Kiến đế tịnh vô uế                         見  諦  淨  無  穢

      Dĩ độ ngũ đạo uyên                        已  度  五  道  淵

      Phật xuất chiếu thế gian                  佛  出  照  世  間

      Vi trừ chúng ưu khổ                        為  除  眾  憂  苦

       

      Thấy chân lý, đạt thanh tịnh, vô uế, vượt qua năm dòng sông phiền não (tham, sân, si, mạn, nghi kiến). Bụt xuất hiện, chiếu sáng thế gian để giúp trừ diệt mọi ưu khổ của cuộc đời.

       

      Bài kệ 5

      Đắc sanh nhân đạo nan                 得  生  人  道  難

      Sanh thọ diệc nan đắc                    生  壽  亦  難  得

      Thế gian hữu Phật nan                  世  間  有  佛  難

      Phật Pháp nan đắc văn                  佛  法  難  得  聞

       

      Được sinh làm người là dịp hiếm có. Sinh ra và sống lâu cũng hiếm. Sự kiện có một vị Bụt ra đời trên thế gian là chuyện rất hiếm. Được có cơ hội học hỏi pháp Bụt cũng là một dịp rất hiếm.

       

      Bài kệ 6

      Ngã ký vô quy bảo                         我  既  無  歸  保

      Diệc độc vô bạn lữ                        亦  獨  無  伴  侶

      Tích nhất hành  đắc Phật                積  一  行  得  佛

      Tự nhiên thông thánh đạo               自  然  通  聖  道

       

      Ta vốn không có thầy dạy, cũng không được bạn ta chỉ dẫn, chỉ một mình tu tập mà thành công, tự nhiên mà thông đạt được con đường thánh đạo.

       

      Bài kệ 7

      Thuyền sư năng độ thủy                 船  師  能  渡  水

      Tinh tấn vi kiều lương                     精  進  為  橋  梁

      Nhân dĩ chủng tính hệ                   人  以  種  姓  繫

      Độ giả vi kiện hùng                        度  者  為  健  雄

       

      Người đi thuyền biết cách điều phục con nước, người tu lấy tinh tấn làm cầu để bước sang, con người lấy chủng tánh để nối kết, nếu muốn độ người phải có sức kiện hùng.

       

      Bài kệ 8

      Hoại ác độ Phật                              壞  惡  度  為  佛

      Chỉ địa vi Phạm chí                         止  地  為  梵  志

      Trừ cận vi học Pháp                       除  饉  為  學  法

      Đoạn chủng vi đệ tử                        斷  種  為  弟  子

       

      Chỉ có một vị Bụt mới phá hủy được ác đạo và bước qua bờ bên kia. Chỉ có một bậc Phạm chí mới dừng lại được sự tái sinh vào các cõi luân hồi. Chỉ có những pháp môn tu học mới trừ diệt được những cơn đói kém tâm linh. Chỉ có người đệ tử giỏi mới có khả năng đoạn trừ được những hạt giống xấu trong tâm điền.

       

      Bài kệ 9

      Quán hành nhẫn đệ nhất                 觀  行  忍  第  一

      Phật thuyết nê hoàn tối                    佛  說  泥  洹  最

      Xả tội tác sa môn                            捨  罪  作  沙  門

      Vô nhiêu hại ư bỉ                             無  嬈  害  於  彼

       

      Quán sát cho kỹ thì trong các hạnh, nhẫn nhục là hạnh đầu. Bụt dạy Niết Bàn là cái tối thắng (trong tất cả các cái mà ta có thể tìm cầu). Đã là một vị sa môn thì phải buông bỏ mọi tội chướng, không làm hại kẻ khác.

       

      Bài kệ 10

      Bất nhiêu diệc bất não                    不  嬈  亦  不  惱

      Như giới nhất thiết trì                      如  戒  一  切  持

      Thiểu thực xả thân tham                 少  食  捨  身  貪

      Hữu hành u ẩn xứ                           有  行  幽  隱  處

      Ý đế dĩ hữu hiệt                             意  諦  以  有  黠

      Thị năng phụng Phật giáo              是  能  奉  佛  教

       

      Không nhiễu hại, không làm phiền kẻ khác, mỗi hành động đều phù hợp với giới luật, ăn uống có tiết độ, buông bỏ tham dục bản thân, biết sống nơi yên tĩnh, tâm ý vững chãi hướng về chứng đắc chân lý, như vậy mới thực sự là làm theo lời Bụt dạy.

       

      Bài kệ 11

      Chư ác mạc tác                               諸  惡  莫  作

      Chư thiện phụng hành                       諸  善  奉  行

      Tự tịnh kỳ ý                                     自  淨  其  意

      Thị  chư Phật giáo                            是  諸  佛  教

       

      Đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, thanh lọc tâm ý mình, đó là lời chư Bụt dạy.

       

      Bài kệ 12

      Phật vi tôn quý                               佛  為  尊  貴

      Đoạn lậu vô dâm                            斷  漏  無  婬

      Chư thích trung hùng                      諸  釋  中  雄

      Nhất quần tùng tâm                        一  群  從  心

       

      Bụt là bậc tôn quý, đã đoạn trừ mọi lậu hoặc và không còn phóng đãng, đó là bậc anh hùng trong dòng họ Thích, tất cả quần chúng đều hết lòng đi theo Ngài.

       

      Bài kệ 13

      Khoái tai phước báo                      快  哉  福  報

      Sở nguyện giai thành                       所  願  皆  成

      Mẫn ư thượng tịch                          敏  於  上  寂

      Tự trí nê hoàn                                 自  致  泥  洹

       

      Hạnh phúc thay, phúc báo và sở nguyện đều đã thành tựu, đến được nơi vắng lặng cao nhất, tự mình đi tới Niết Bàn.

       

      Bài kệ 14

      Hoặc đa tự quy                               或  多  自  歸

      Sơn xuyên thọ thần                          山  川  樹  神

      Miếu lập đồ tượng                           廟  立  圖  像

      Tế tự cầu phước                             祭  祠  求  福

       

      Có những người đi tìm chỗ nương tựa nơi núi, sông, thần cây, miếu vũ, tượng thần, tế tự, cầu phước.

       

      Bài kệ 15

      Tự quy như thị                                自  歸  如  是

      Phi cát phi thượng                           非  吉  非  上

      Bỉ bất năng lai                                 彼  不  能  來

      Độ ngã chúng khổ                           度  我  眾  苦

       

      Những chỗ nương tựa như thế không phải là những chỗ nương tựa tốt lành, siêu việt, bởi vì những cái ấy không thể che chở ta và giúp cho người ta bớt khổ.

       

       

      Bài kệ 16

      Như hữu tự quy                                如  有  自  歸

      Phật Pháp thánh chúng                     佛  法  聖  眾

      Đạo đức Tứ đế                                道  德  四  諦

      Tất kiến chánh tuệ                            必  見  正  慧

       

      Nếu biết trở về nương tựa nơi Phật, Pháp và thánh chúng, nơi con đường Tứ đế đạo đức thì có thể đạt được ân huệ chân chính.

       

      Bài kệ 17

      Sanh tử cực khổ                              生  死  極  苦

      Tùng đế đắc độ                               從  諦  得  度

      Độ thế bát đạo                                度  世  八  道

      Tư trừ chúng khổ                             斯  除  眾  苦

       

      Cái khổ sinh tử là cái khổ lớn nhất. Nhờ tuệ giác về Tứ diệu đế mà đi đến được giải thoát. Con đường Bát chánh có khả năng độ đời, trừ diệt mọi khổ đau.

       

      Bài kệ 18

      Tự quy tam tôn                               自  歸  三  尊

      Tối cát tối thượng                           最  吉  最  上

      Duy độc hữu thị                             唯  獨  有  是

      Độ nhất thiết khổ                            度  一  切  苦

       

      Quy y Tam bảo là lành nhất, cao nhất, chỉ có con đường ấy mới giúp ta vượt qua được tất cả khổ đau.

       

      Bài kệ 19

      Sĩ như trung chánh                         士  如  中  正

      Chí đạo bất xan                              志  道  不  慳

      Lợi tai tư nhân                                利  哉  斯  人

      Tự quy Phật giả                              自  歸  佛  者

       

      Bậc nhân sĩ cũng như giới trung lưu, nên hết lòng đi theo chánh đạo, đừng chỉ lo bo bo giữ gìn tiền của. Những người như thế quy y theo Phật sẽ có nhiều lợi lạc.

       

      Bài kệ 20

      Minh nhân nan trị                              明  人  難  值

      Diệc bất bỉ hữu                                亦  不  比  有

      Kỳ sở sanh xứ                                 其  所  生  處

      Tộc thân mông khánh                       族  親  蒙  慶

       

      Rất ít có dịp gặp được bậc minh triết, cũng rất hiếm có những địa phương có thể sản sinh ra một bậc minh triết. Khi có một người như thế ra đời thì tất cả các thân tộc đều vui sướng ăn mừng.

       

      Bài k 21

      Chư Phật hưng khoái                    諸  佛  興  快

      Thuyết kinh đạo khoái                  說  經  道  快

      Chúng tụ hòa khoái                      眾  聚  和  快

      Hòa tắc thường an                       和  則  常  安

       

      Hạnh phúc thay có chư Phật ra đời, hạnh phúc thay được nghe kinh pháp, hạnh phúc thay chúng tăng đang sống hòa hợp. Có sự hòa hợp thì sẽ mãi mãi có niềm an vui.

      Kinh Thoát Tục

      Như những con nhạn khôn ngoan giúp cả bày nhạn vượt lưới bay cao; cũng như thế, có những bậc cao minh có tu, có học, có trí tuệ cao vời, có khả năng dẫn dắt người đời người đời vượt thoát lưới tà.

       

      Thế Tục Phẩm Pháp Cú Kinh đệ nhị thập nhất

      世俗品法句經第二十一

      Kinh Thoát Tục

      Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

      Kinh thứ 21

       

      Phẩm này có 14 bài kệ. Thế tục đây là cuộc đời tục lụy (loka). Bài kệ thứ 4 đưa ra những hình ảnh về thế giới tục lụy: mọi hiện tượng đều mong manh như những chùm bọt nổi trên mặt nước, như những cơn mộng huyễn, như những hóa thành (maricika), và tâm ý ta thì lại như một con ngựa hoang chưa được điều phục. Bài thứ 8 đưa ra hình ảnh rất đẹp của những con nhạn khôn ngoan giúp cả bầy nhạn vượt lưới bay cao; cũng như thế, có những bậc cao minh có tu, có học, có trí tuệ cao vời, có khả năng dẫn dắt người đời vượt khỏi lưới tà. Đó là những người có mắt tuệ, phải hết lòng yểm trợ cho những nhóm người như thế. Ba bài kệ đầu nói tới sự cần thiết của con đường chánh đạo: phải giữ vững hướng đi, đừng bao giờ bỏ con đường lớn và bằng phẳng ấy để đi vào một lối nhỏ gập ghềnh. Trục xe đời sẽ gãy, vì thế mà mình không có cơ hội vượt thoát cõi sinh tử.

       

      Bài kệ 1

      Như xa hành đạo                            如  車  行  道

      Xả bình đại đồ                               捨  平  大  途

      Tùng tà kính bại                             從  邪  徑  敗

      Sanh chiết trục ưu                         生  折  軸  憂

       

      Một chiếc xe bỏ con đường lớn và bằng phẳng để đi vào một đường hẻm gập ghềnh ắt phải chịu cái khổ làm gãy trục xe.

       

      Bài kệ 2

      Ly Pháp như thị                             離  法  如  是

      Tùng phi pháp tăng                      從  非  法  增

      Ngu thủ chí tử                               愚  守  至  死

      Diệc hữu chiết hoạn                      亦  有  折  患

       

      Rời bỏ con đường chánh pháp cũng thế: những gì trái với đạo lý càng ngày càng lớn mạnh sẽ đưa người ngu phu tới chỗ chết. Đó là một thứ tai nạn gãy trục xe đời.

       

      Bài kệ 3

      Thuận hành chánh đạo                  順  行  正  道

      Vật tùy tà nghiệp                          勿  隨  邪  業

      Hành trụ ngọa an                          行  住  臥  安

      Thế thế vô hoạn                            世  世  無  患

       

      Vậy nên ta phải tiếp tục hành trì theo chánh đạo, đừng theo đuổi những công việc có tính cách trái với chánh pháp. Có như thế thì trong bốn tư thế đi, đứng, nằm và ngồi ta sẽ có sự an ổn và tai nạn sẽ không xảy tới, trong đời này cũng như trong các đời sau.

       

      Bài kệ 4

      Vạn vật như phao                           萬  物  如  泡

      Ý như dã mã                                 意  如  野  馬

      Cư thế nhược huyễn                      居  世  若  幻

      Nại hà lạc thử                                奈  何  樂  此

       

      Những gì xảy ra trong cuộc đời đều mong manh như chùm bọt nổi trên mặt nước, trong khi ấy thì tâm ý của ta lại như một con ngựa hoang. Ở đời cái gì cũng (vô thường) như mộng huyễn, tại sao ta lại đi tìm lạc thú trong những gì mong manh ấy?

       

      Bài kệ 5

      Nhược năng đoạn thử                     若  能  斷  此

      Phạt kỳ thụ căn                              伐  其  樹  根

      Nhật dạ như thị                              日  夜  如  是

      Tất chí vu định                               必  至  于  定

       

      Nếu chặt đứt được gốc rễ của tham dục thì ngày cũng như đêm sẽ thành tựu được chánh định.

       

      Bài kệ 6

      Nhất thí như tín                             一  施  如  信

      Như lạc chi nhân                            如  樂  之  人

      Hoặc tùng não ý                            或  從  惱  意

      Dĩ phạn thực chúng                        以  飯  食  眾

      Thử bối nhật dạ                             此  輩  日  夜

      Bất đắc định ý                                不  得  定  意

       

      Dù đang thực tập bố thí, dù đang cung cấp thức ăn cho người, dù có tin rằng làm như thế là đang đem lại hạnh phúc cho người; nhưng nếu trong khi đang làm những công việc ấy mà tâm ý mình còn mang nặng những phiền não thì những hành động ấy cũng chưa đem lại được cho mình chánh định, ngày cũng như đêm.

       

      Bài kệ 7

      Thế tục vô nhãn                             世  俗  無  眼

      Mạc kiến đạo chân                        莫  見  道  真

      Như thiểu kiến minh                     如  少  見  明

      Đương dưỡng thiện ý                    當  養  善  意

       

      Trong cuộc đời, người có con mắt tuệ rất hiếm, cho nên ít ai thấy được cái chân thật của đạo lý. Vì vậy nếu có được một nhóm người còn sáng suốt thì phải giúp nuôi dưỡng thiện ý của nhóm người này.

       

      Bài kệ 8

      Như nhạn tướng  quần                      如  鴈  將  群

      Tị la cao tường                                避  羅  高  翔

      Minh nhân đạo thế                            明  人  導  世

      Độ thoát tà chúng                            度  脫  邪  眾

       

      Như những con nhạn khôn ngoan giúp cả bầy nhạn vượt lưới bay cao, những con người cao minh phải dẫn dắt người đời vượt thoát lưới tà.

       

      Bài kệ 9

      Thế giai hữu tử                               世  皆  有  死

      Tam giới vô an                               三  界  無  安

      Chư thiên tuy lạc                            諸  天  雖  樂

      Phước tận diệc tang                       福  盡  亦  喪

       

      Ai rồi cũng phải chết. Cả ba cõi đều không an ổn. Chư thiên tuy đang hưởng lạc thú ở các cõi trời, nhưng khi phước báo đã hết cũng phải đọa lạc trở lại.

       

      Bài kệ 10

      Quán chư thế gian                         觀  諸  世  間

      Vô sanh bất chung                         無  生  不  終

      Dục ly sanh tử                               欲  離  生  死

      Đương hành đạo chân                    當  行  道  真

       

      Phải quán sát thế gian: hễ có sinh là có tử. Muốn lìa bỏ sinh tử, phải hành trì chánh đạo.

       

      Bài kệ 11

      Si phú thiên hạ                              癡  覆  天  下

      Tham lệnh bất kiến                         貪  令  不  見

      Tà nghi khước đạo                         邪  疑  却  道

      Khổ ngu tùng thị                             苦  愚  從  是

       

      Vô minh bao phủ thế gian, lòng tham che lấp không cho người ta thấy được sự thực, tà kiến khiến cho người ta xa lìa con đường chính, do đó mà khổ đau cứ tiếp tục trong u mê.

       

      Bài kệ 12

      Nhất pháp thoát quá                        一  法  脫  過

      Vị vọng ngữ nhân                            謂  妄  語  人

      Bất miễn hậu thế                            不  免  後  世

      Mĩ ác bất cánh                               靡  惡  不  更

       

      Còn một cái tệ hại lớn nữa của thế gian: đó là sự nói dối. Người đã lỡ nói dối một lần rồi thì cứ tiếp tục nói dối mãi, và cứ lặp lại mãi những lỗi lầm mà mình đã phạm.

       

      Bài kệ 13

      Tuy đa tích trân bảo                       雖  多  積  珍  寶

      Tung cao chí vu thiên                     嵩  高  至  于  天

      Như thị mãn thế gian                      如  是  滿  世  間

      Bất như kiến đạo tích                     不  如  見  道  迹

       

      Dù có chất chứa châu báu cao đến tận trời, tràn ngập cả thế gian thì cũng không bằng thấy được con đường đạo.

       

      Bài kệ 14

      Bất thiện tượng như thiện                   不  善  像  如  善

      Ái như tự vô ái                                   愛  如  似  無  愛

      Dĩ khổ vi lạc tượng                            以  苦  為  樂  像

      Cuồng phu vi sở yếm                        狂  夫  為  所  厭

       

      Cái bất thiện mà nói là cái thiện, cái tham ái mà nói không phải là cái tham ái, cái khổ mà nói là cái vui, kẻ ngu phu dại dột bị hại vì những nhận thức đảo ngược như thế.

      Kinh Thương Thân

      Thân mình chưa có lợi lạc, làm sao làm lợi lạc cho người; tâm điều phục, thân ngay vững, thì nguyện nào không thành?

       

      Ái  Thân Phẩm  Pháp Cú Kinh đệ nhị thập

      愛身品法句經第二十

      Kinh Thương Thân

      Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

      Kinh thứ 20

       

      Phẩm này có 14 bài kệ. Thân đây không có nghĩa là hình hài, mà là bản thân (atta). Kinh này dạy phải lo cho tự thân trước khi có thể giúp đời. Lo cho tự thân là phải tìm ra con đường chánh, phải biết trì giới, học hỏi chánh pháp, đừng lo lắng, thực tập để chuyển hóa những tập khí xấu nơi mình. Hành động xấu nghiền nát ta như kim cương cà một viên ngọc, không trì giới sẽ như cỏ dại leo đầy.

       

      Bài kệ 1

      Tự ái thân giả                                 自  愛  身  者

      Thận hộ sở thủ                               慎  護  所  守

      Hy vọng dục giải                             悕  望  欲  解

      Học chánh bất mị                            學  正  不  寐

       

      Thương thân thì phải cẩn thận bảo hộ cho thân biết mong cầu giải thoát, biết thực tập theo con đường chính giữ cho đừng bị hôn trầm.

       

      Bài kệ 2

      Vi thân đệ nhất                              為  身  第  一

      Thường tự miễn học                     常  自  勉  學

      Lợi nãi hối nhân                            利  乃  誨  人

      Bất quyền tắc trí                         不  惓  則  智

       

      Lo cho thân thì trước hết phải gắng sức thực tập, lúc đó dạy người mới có lợi lạc, thực tập không mỏi mệt mới đạt tới trí tuệ.

       

      Bài kệ 3

      Học tiên tự chánh                         學  先  自  正

      Nhiên hậu chánh  nhân                   然  後  正  人

      Điều thân nhập tuệ                        調  身  入  慧

      Tất thiên vi thượng                        必  遷  為  上

       

      Phải tự sửa mình trước khi dạy người, điều phục được thân và phát khởi tuệ giác là việc phải làm trước.

       

      Bài kệ 4

      Thân bất năng lợi                           身  不  能  利

      An năng lợi nhân                            安  能  利  人

      Tâm điều thể chánh                       心  調  體  正

      Hà nguyện bất chí                         何  願  不  至

       

      Thân mình chưa có lợi lạc, làm sao làm lợi lạc cho người; tâm điều phục, thân ngay vững, thì nguyện nào không thành?

       

      Bài kệ 5

      Bổn ngã sở tạo                                本  我  所  造

      Hậu ngã tự thọ                                 後  我  自  受

      Vi ác tự cánh                                   為  惡  自  更

      Như cương toản châu                       如  剛  鑽  珠

       

      Cái gì ta tự tạo ra, sau này ta phải thọ báo, cái ác nghiền nát ta ra như kim cương cà ngọc.

      Bài kệ 6

      Nhân bất trì giới                             人  不  持  戒

      Tư mạn như đằng                           滋  蔓  如  藤

      Sính tình cực dục                           逞  情  極  欲

      Ác hành nhật tăng                           惡  行  日  增

       

      Người không trì giới thì để cho cái dục cái tình làm cho hành vi xấu ác càng ngày càng lớn mạnh, cũng giống cỏ hoang mọc đầy như giây leo.

       

      Bài kệ 7

      Ác hành nguy thân                          惡  行  危  身

      Ngu dĩ vi dị                                    愚  以  為  易

      Thiện tối an thân                            善  最  安  身

      Ngu dĩ vi nan                                 愚  以  為  難

       

      Hành động xấu làm nguy hoại thân, người ngu cho là việc dễ làm; hành động tốt lành làm thân an ổn, người ngu cho là việc khó làm.

       

      Bài kệ 8

      Như chân nhân giáo                        如  真  人  教

      Dĩ đạo pháp thân                            以  道  法  身

      Ngu giả tật chi                                愚  者  疾  之

      Kiến nhi vi ác                                  見  而  為  惡

       

      Như bậc chân nhân dạy, phải lấy đạo làm phép tắc cho thân, dù kẻ ngu ganh t, thấy mình thì ghét.

       

      Bài kệ 9

      Hành ác đắc ác                               行  惡  得  惡

      Như chủng khổ chủng                       如  種  苦  種

      Ác tự thọ tội                                    惡  自  受  罪

      Thiện tự thọ phước                          善  自  受  福

       

      Làm ác thì gặt hái ác, như gieo giống đắng, gieo giống ác thì gặt hái tội; gieo giống thiện gặt hái phúc.

       

      Bài kệ 10

      Diệc các tu thục                              亦  各  須  熟

      Bỉ bất tự đại                                    彼  不  自  代

      Tập thiện đắc thiện                          習  善  得  善

      Diệc như chủng điềm                       亦  如  種  甜

       

      Mỗi người phải biết hành động cho chín chắn, thì kẻ kia không trừng phạt được mình. Làm lành được lành, cũng như gieo hạt giống ngọt thì được quả ngọt.

       

      Bài kệ 11

      Tự lợi lợi nhân                               自  利  利  人

      Ích nhi bất phí                                益  而  不  費

      Dục tri lợi thân                               欲  知  利  身

      Giới văn vi tối                                 戒  聞  為  最

       

      Tự lợi hay lợi người đều có lợi ích cho mình mà không mất đi đâu cả. Muốn thực sự làm lợi cho mình, trì giới và học hỏi là quý nhất.

       

      Bài kệ 12

      Như hữu tự ưu                               如  有  自  憂

      Dục sanh thiên thượng                    欲  生  天  上

      Kính lạc văn Pháp                           敬  樂  聞  法

      Đương niệm Phật giáo                    當  念  佛  教

       

      Nếu biết thương mình, muốn sinh về cõi trời, thì phải kính yêu và ham thích học hỏi Phật pháp và phải nhớ lời Bụt dạy.

       

      Bài kệ 13

      Phàm dụng tất dự lự                       凡  用  必  豫  慮

      Vật dĩ tổn sở vụ                            勿  以  損  所  務

      Như thị ý nhật tu                             如  是  意  日  修

      Sự vụ bất thất thời                         事  務  不  失  時

       

      Đừng để cho sự lo toan thái quá làm hại tới công việc đang làm. Mỗi ngày nếu để tâm ý tu học thì công việc sẽ không làm mất thì giờ của mình.

       

      Bài kệ 14

      Phu trì sự chi sĩ                             夫  治  事  之  士

      Năng chí chung thành lợi                能  至  終  成  利

      Chân kiến thân ưng hành               真  見  身  應  行

      Như thị đắc sở dục                        如  是  得  所  欲

       

      Nếu gặp bậc minh vương thì hãy đem hết lòng phụng sự. Thấy rõ được công việc mới nên bắt tay vào, như vậy mới được mãn ý.