Ðây là những điều tôi đã được nghe vào một thời mà Bụt còn đang ở tại vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc gần thành Xá Vệ. Hôm ấy, Bụt bảo các thầy khất sĩ: “Có bốn loại thức ăn giúp các loài sinh vật lớn lên và sống còn. Bốn loại thức ăn ấy là gì? Thứ nhất là đoàn thực, thứ hai là xúc thực, thứ ba là ý tư thực và thứ tư là thức thực.
“Này các vị khất sĩ! Vị khất sĩ phải quán chiếu về đoàn thực như thế nào? Ví dụ có một cặp vợ chồng kia có một đứa con trai nhỏ, thường chăm sóc nuôi dưỡng nó với rất nhiều thương yêu, một hôm muốn đem con (đến xứ khác sanh sống) đi qua một vùng sa mạc đầy nguy hiểm và tai nạn. Giữa đường hết lương thực, sa vào tình trạng đói khát cùng cực, không có cách nào giải quyết, họ mới bàn với nhau: “Chúng ta chỉ có một đứa con mà chúng ta thương yêu hết mực. Nếu ăn thịt nó thì ta sẽ sống sót và vượt qua khỏi cơn hiểm nạn này, còn nếu không thì cả ba người sẽ cùng chết”. Bàn tánh như vậy xong, họ giết đứa con, xót thương rơi lệ và gắng gượng ăn thịt con để sống còn mà vượt qua miền sa mạc.
“Này các thầy, các thầy có nghĩ rằng cặp vợ chồng kia ăn thịt con vì muốn thưởng thức hương vị của thịt ấy hoặc vì muốn cho thân thể họ có nhiều chất bổ dưỡng mà trở thành xinh đẹp thêm?
“Các thầy khất sĩ đáp: “Bạch đức Thế Tôn, không”. Bụt lại hỏi: “Có phải cặp vợ chồng ấy bị bắt buộc ăn thịt con để có thể sống sót mà vượt qua khỏi chặng đường hiểm nguy và hoang vắng?” Các thầy khất sĩ đáp: “Bạch đức Thế Tôn, đúng như vậy.”
Bụt dạy: “Này các thầy, mỗi khi tiếp nhận đoàn thực, ta phải tập quán chiếu như thế. Quán chiếu như thế thì sẽ đạt tới được cái thấy và cái hiểu rạch ròi (đoạn tri) về đoàn thực. Có được cái thấy và cái hiểu rạch ròi như thế về đoàn thực rồi thì tâm vướng mắc vào ái dục sẽ được tiêu tán. Tâm vướng mắc đã được tiêu tán thì không còn một kiết sử nào về năm đối tượng ái dục mà không tiêu tán trong con người của vị thánh đệ tử có tu có học. Còn kết sử trói buộc thì mới còn phải trở lại trong cõi đời này.
“Này các thầy khất sĩ! Vị khất sĩ phải quán chiếu về xúc thực như thế nào? Ví dụ có một con bò bị lột da và đi đâu con bò ấy cũng bị các loài côn trùng sống trong đất cát, bụi bặm và cây cỏ bám vào và rúc rỉa. Nằm trên đất thì nó bị các loài côn trùng ở đất bám vào mà ăn, đi xuống dưới nước thì nó bị các loài côn trùng ở dưới nước bám vào mà ăn, đứng ở trong không nó cũng bị các loài côn trùng trong hư không bám vào mà ăn, nằm xuống hay đứng lên nó cũng cảm thấy bức xúc, đau đớn nơi thân thể. Này các thầy, khi tiếp nhận xúc thực, ta cũng phải thực tập quán chiếu như thế. Quán chiếu như thế thì sẽ đạt tới cái thấy và cái hiểu rạch ròi như thế về xúc thực. Có được cái thấy và cái hiểu rạch ròi như thế về xúc thực rồi thì ta hết còn bị vướng mắc vào ba loại cảm thọ. Không còn bị vướng mắc vào ba loại cảm thọ thì các vị thánh đệ tử có học có tu đâu còn phải dụng công gì nữa, bởi vì tất cả những gì cần làm đã được làm xong.
“Này các thầy khất sĩ! Vị khất sĩ phải quán chiếu về ý tư thực như thế nào? Ví dụ có một đô thị hay một thôn làng gần bên bốc cháy, cháy cho đến khi không còn thấy khói lửa. Lúc bấy giờ có một trang sĩ phu thông minh, có trí tuệ, không muốn đi về phía khổ đau chỉ muốn đi về phía an lạc, không muốn đi về nẻo chết, chỉ muốn hướng về nẻo sống. Người ấy nghĩ rằng: nơi chốn kia có cháy lớn, tuy không còn khói, không còn ngọn lửa nhưng nếu ta không tránh mà lại đi vào trong chốn ấy thì chắc chắn sẽ chết, không còn nghi ngờ gì nữa. Suy tư như thế, người kia quyết định bỏ đô thị hoặc thôn làng ấy mà đi. Về ý tư thực, vị khất sĩ cũng phải quán chiếu như thế. Quán chiếu như thế thì sẽ đạt được cái thấy và cái hiểu rạch ròi như thế về ý tư thực. Ðạt được cái thấy và cái hiểu rạch ròi như thế về ý tư thực rồi thì ba loại tham ái sẽ được đoạn trừ. Ba loại tham ái đoạn trừ rồi thì vị thánh đệ tử có tu có học kia đâu còn phải lao tác gì nữa, vì cái gì cần làm đã được làm xong.
“Này các thầy khất sĩ! Vị khất sĩ quán chiếu về thức thực như thế nào? Ví dụ quân lính canh tuần của vị quốc vương kia vừa bắt được một tên đạo tặc, trói người ấy lại và điệu tới nơi vua. Vì tội trộm cướp, kẻ đạo tặc bị phạt bằng cách để cho người ta đâm qua thân hình mình ba trăm mũi giáo, đau đớn khổ sở suốt cả đêm ngày. Về thức thực vị khất sĩ cũng phải quán chiếu như thế. Quán chiếu như thế thì sẽ đạt được cái thấy và cái hiểu rạch ròi về thức thực. Ðạt được cái thấy và cái hiểu rạch ròi về thức thực rồi thì cũng sẽ đạt được cái thấy và cái hiểu rạch ròi về danh sắc. Ðạt được cái thấy và cái hiểu rạch ròi về danh sắc rồi thì vị thánh đệ tử có tu có học kia đâu còn phải dụng công gì nữa, vì cái gì cần làm đã được làm xong.”
Bụt nói kinh này xong, các vị khất sĩ đều hoan hỷ phụng hành.
Những vị Bồ Tát nào vì đời Diệt trừ chướng ngại và phiền não Phát tâm tịnh tín nơi Niết Bàn Đều nên noi theo Bát Nhã độ.
Các sông lưu nhuận Châu Diêm Phù Làm tươi dược thảo và hoa quả Đều do uy lực của Long Vương Cư trú nơi hồ Vô Nhiệt Trì.
Các giới thanh văn đệ tử Bụt Phương tiện thuyết pháp độ được người Vui hưởng phước báo hạnh tối thắng Đều do uy lực Tối Thắng Tôn.
Bụt truyền con mắt của chánh pháp Đệ tử theo đó mà hành trì Thực hiện tự chứng và dạy người Tất cả đều do uy lực Bụt.
Đối tượng tuyệt vời không nắm bắt Không có sở chứng, không bồ đề Nghe vậy mà không thấy khiếp sợ Là Bồ Tát kia hiểu được Bụt.
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là không Không dính mảy may, không xứ sở Bồ Tát không trú nơi pháp nào Là chứng bồ đề không nắm bắt.
Bồ Tát khi cầu trí xuất gia Soi thấy năm uẩn không thật tướng Biết vậy không tìm cầu tịch tĩnh Mới thật là hạnh trí Bồ Tát.
Sở đắc của trí này là gì? Là soi thấy tất cả đều không Một soi thấy rồi không hoảng sợ Bồ Tát tự giác và giác tha.
Các uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức Khi hành phải hiểu được tự tánh Bồ Tát soi thấy uẩn đều không Hành theo vô tướng, không danh tự.
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là không Không hành nên gọi vô tướng hành Có hành nên không trí tối thắng Không định, vô tướng và tịch tĩnh.
Nếu hành tịch tĩnh được như thế Chư Bụt quá khứ đều thọ ký Bản tính nhân duyên đã biết rồi Khổ vui không còn chạm tới được.
Hành mà không thấy pháp sở hành Là hành theo trí bực Thiện Thệ Hành theo được pháp vô sở hành Mới là Bát Nhã Hành tối thượng.
Vô sở hành ấy không thể nắm Kẻ ngu chấp tướng nói có không Có Không cả hai đều chẳng thật Bồ Tát liễu tri nên thoát khỏi.
Bồ Tát biết được là huyễn hóa Năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức Thoát ly các tướng tịch tĩnh hành Đó là Bát Nhã Hành tối thượng.
Thầy hiền bạn tốt mách bảo cho Nghe Kinh Phật Mẫu không hoảng sợ Thầy hư bạn xấu đưa lầm đường Là vò chứa nước nung chưa chín.
Thế nào được gọi là Bồ Tát ? Là kẻ đạt tới đệ nhất nghĩa Chặt hết tà kiến trong quần sanh Vì vậy nên gọi Ma Ha Tát.
Đại thí, đại huệ, đại uy đức Ngồi xe tối thượng của Phật thừa Phát tâm bồ đề độ chúng sanh Cho nên gọi là Ma Ha Tát.
Như nhà ảo thuật giữa ngã tư Hóa hiện đám đông chặt đầu người Mọi cõi thế giới đều huyễn hóa Biết thế Bồ Tát không sợ hãi.
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức buộc ràng Biết chúng không thật không cần cởi Hành tâm Bồ Tát không vướng mắc Đó gọi là Bồ Tát tối thượng.
Thế nào mệnh danh là Bồ Tát ? Cỡi xe Đại Thừa độ chúng sanh Thể tướng Đại Thừa như hư không Bồ Tát được niềm vui an ổn.
Cỗ xe Đại Thừa không nắm được Tới cõi Niết Bàn, đi mọi nơi Nơi về không thấy, như lửa tắt Vì thế nên gọi là Niết Bàn.
Sở hành Bồ Tát không nắm được Tất cả ba thời đều thanh tịnh Thanh tịnh, vô úy, không hý luận Là hành Bát Nhã Hành tối thượng.
Khi Bồ Tát hành hạnh đại trí Phát đại từ bi độ chúng sanh Không hề phát khởi niệm chúng sanh Là hành Bát Nhã Hành tối thượng.
Bồ Tát khởi niệm vì chúng sanh Tu các khổ hạnh, có khổ tướng Là còn tướng ngã, tướng chúng sanh Không phải Bát Nhã Hành tối thượng.
Biết rõ tự thân và chúng sanh Biết rõ các pháp cũng như thế Sinh diệt không hai, không phân biệt Là hành Bát Nhã Hành tối thượng.
Bỏ hết danh từ và tên gọi Các pháp sinh diệt thế gian này Đạt trí cam lộ vô tỷ ấy Là hành Bát Nhã Hành tối thượng.
Bồ Tát hành sở hành như thế Biết rõ phương tiện, không mong gì Bản tính pháp này biết không thật Là hành Bát Nhã Hành tối thượng.
Nếu không trú sắc không trú thọ Cũng không trú tưởng, hành và thức Mà chỉ an trú nơi chánh pháp Là hành Bát Nhã Hành tối thượng.
Thường và vô thường, khổ và lạc Ngã và vô ngã đều là không Không trú hữu vi, không vô vi Trú vô tướng hành như Bụt vậy.
Thanh văn, duyên giác quả muốn cầu Hay cầu quả Bụt cũng như thế: Không trú nhẫn này không đạt được Như sang sông lớn chẳng thấy bờ.
Nếu nghe pháp này nhất định đắc Thành chánh đẳng giác, chứng bồ đề Thấy nơi tất cả như tự thân Đó là đại trí Như Lai nói.
Đại trí Bồ Tát hành như thế Không học duyên giác và thanh văn Chỉ học nhất thiết trí Như Lai Học cái phi học mới là học.
Học không thọ sắc, không tăng giảm Lại cũng không học những pháp khác Chỉ vui học theo nhất thiết trí Thọ, tưởng, hành, thức cũng như thế.
Sắc không hữu trí, không vô trí Thọ, tưởng, hành, thức cũng như thế Tự tính của sắc như hư không Bình đẳng, vô nhị, không phân biệt.
Bản tính vọng tưởng không biên giới Bản tính chúng sanh cũng thế kia Tự tính hư không không ngằn mé Trí Thế Gian Giải cũng như vậy.
Trí tuệ không sắc, Bụt đã nói Lìa tất cả tưởng, đến Niết Bàn Nếu ai lìa được các tưởng rồi Ngữ ý người ấy trú chân như.
Người ấy ở đời hằng sa kiếp Không nghe Bụt nói tiếng “chúng sanh” Chúng sanh bất sanh, vốn thanh tịnh Là hành Bát Nhã Hành tối thượng.
Tất cả ngôn từ ta nói ra Đều mang nghĩa tối thượng Bát Nhã Bụt quá khứ vì ta thọ ký Sẽ chứng Bồ Đề đời vị lai.
Nếu ai thường thọ trì Bát Nhã Hành tung chẳng khác Bụt sở hành Đao kiếm, thuốc độc, lửa và nước Cho đến loài ma không chạm được. (CCC)
(Đại Tạng Đại Chánh, kinh thứ 229)
Kinh Bát Nhã Hành: Kinh này được dịch từ phần trùng tụng của kinh Phật Mẫu Bảo Ðức Tạng Bát Nhã Ba La Mật trong tạng Hán do thầy Pháp Hiền dịch vào đầu thế kỷ thứ 11 (229, tạng kinh Ðại Chính). Ðây là kinh Bát Nhã xuất hiện sớm nhất trong nền văn học Bát Nhã. Những tư tưởng căn bản của Bát Nhã đều đã được hàm chứa trong kinh này.
Hồi đó Bụt đang ở thành Xá Vệ với đầy đủ quý vị trong cộng đồng khất sĩ. Một hôm Ngài nói với đại chúng:
– Có pháp ấn mầu nhiệm, quý vị có biết không? Hôm nay tôi muốn phân tích và diễn giải pháp ấn này cho quý vị nghe. Quý vị hãy đem nhận thức thanh tịnh ra để nghe cho kỹ, tiếp nhận cho thấu đáo, khéo léo sử dụng tâm ý để ghi nhớ mà hành trì.
Các vị khất sĩ bạch:
– Hay quá, thưa đức Thế Tôn! Xin người chỉ dạy cho, chúng con muốn được nghe.
Bụt dạy:
– Tự tính của không là không nằm trên bình diện có không, không nằm trong khuôn khổ các vọng tưởng, không có tướng sinh, không có tướng diệt và vượt thoát mọi tri kiến. Tại sao thế? Vì tự tính của không không có vị trí trong không gian, không có hình tướng, không thể khái niệm được, chưa bao giờ từng sinh khởi, tri kiến không nắm bắt được và thoát ly mọi sự nắm bắt. Vì thoát ly được mọi sự nắm bắt nên nó bao hàm được tất cả các pháp và an trú nơi cái thấy bình đẳng không phân biệt. Cái thấy ấy là cái thấy chân chính và xác thực. Quý vị khất sĩ! Quý vị nên biết rằng không những tự tính của không như thế mà tự tính của tất cả các pháp cũng đều như thế. Đó gọi là pháp ấn.
Quý vị khất sĩ! Pháp ấn này chính là ba cánh cửa đi vào giải thoát, là giáo lý căn bản của chư Bụt, là con mắt của chư Bụt, là chỗ đi về của chư Bụt. Vì vậy quý vị nên nghe cho kỹ, tiếp nhận cho thấu đáo, để ghi nhớ mà tư duy và quán chiếu ngay trong lòng thực tại. (C)
Quý vị khất sĩ! Người tu hành nên tìm nơi tĩnh mịch như vào rừng, ngồi dưới gốc cây để thực tập quán chiếu về tự thân thực tại. Phải thấy mọi hình sắc là khổ, không và vô thường để thoát ly cho được sự bám víu vào hình sắc và trở về an trú trong cái thấy bình đẳng không phân biệt đối với hình sắc. Đối với cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức cũng thế: người ấy nên quán chiếu rằng chúng là khổ, không và vô thường để có thể thoát ly cho được cái thấy có tính cách sai lạc về cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức để đạt tới cái thấy bình đẳng không phân biệt về chúng. Này quý vị khất sĩ, các uẩn vốn là không, vốn được sinh khởi từ tâm, khi tâm không còn hiện hành thì uẩn cũng không còn tác dụng. Thấy biết được như thế tức là đạt được giải thoát chân chính. Giải thoát chân chính rồi thì thoát được mọi tri kiến. Phép quán sát này được gọi là KHÔNG, cánh cửa giải thoát thứ nhất. (C)
Lại nữa, an trú trong định mà quán sát các đối tượng thì hành giả thấy các đối tượng hình sắc đều tan biến hết và người ấy thoát ly được tính cách hư ảo của tri giác về hình sắc. Các đối tượng khác là thanh, hương, vị, xúc và pháp cũng đều tan biến hết và hành giả thoát ly được tính cách hư ảo của mọi tri giác về thanh, hương, vị, xúc và pháp. Phép quán sát này gọi là vô tướng, cửa giải thoát thứ hai. Vào được cánh cửa giải thoát này rồi thì tri kiến sẽ được thanh tịnh; và vì tri kiến đã được thanh tịnh nên hành giả diệt trừ được hết các phiền não tham, sân và si. Tham, sân và si đã tận diệt thì hành giả an trú được trong cái thấy bình đẳng. An trú được trong cái thấy này thì lìa được những cái thấy về ta và về của ta, nghĩa là chấm dứt được mọi cái thấy sai lầm. Cái thấy này không còn cơ hội và căn cứ để sinh khởi nữa. (C)
Lại nữa, các vị khất sĩ! Thoát ly được cái thấy về ta rồi, thì hành giả không còn cho rằng những sự vật mà ta thấy, nghe, cảm và biết là những sự vật có thật ngoài nhận thức nữa. Vì sao thế? Vì nhận thức cũng chính là do nhân duyên mà phát sinh. Nhận thức và các nhân duyên làm phát khởi ra nhận thức đều biến chuyển vô thường, mà vì thức vô thường cho nên ta cũng không nắm bắt được. Thức đã không như bất cứ hiện tượng nào khác thì còn có gì cần được tạo tác nữa đâu? Phép quán sát này được gọi là VÔ TÁC, cửa giải thoát thứ ba. Vào được cửa giải thoát này rồi thì hành giả thấy được chân tướng các pháp một cách triệt để, không còn bị kẹt vào một pháp nào nữa và thể nghiệm được tính cách tịch diệt của các pháp. (C)
Bụt bảo quý vị khất sĩ:
– Pháp ấn mầu nhiệm là như thế. Đó là ba cánh cửa đi vào giải thoát. Quý vị khất sĩ, nếu quý vị tu học theo pháp ấn này thì chắc chắn là sẽ đạt được tri kiến thanh tịnh.
Toàn thể các vị khất sĩ nghe pháp này đều tỏ ra rất sung sướng. Họ làm lễ Bụt sau khi đã tiếp nhận giáo pháp này để hành trì. (CCC)
(Kinh số 104, Tạng Kinh Đại Chánh)
Kinh Ba Cửa Giải Thoát: Kinh này dịch từ kinh Pháp Ấn của tạng Hán (kinh 104 của tạng kinh Ðại Chính) do thầy Thi Hộ dịch vào đầu thế kỷ thứ mười. Ta có thể tham khảo thêm kinh Thánh Pháp Ấn (103, tạng kinh Ðại Chính) do thầy Pháp Hộ dịch vào cuối thế kỷ thứ ba, và kinh số 80 của bộ Tạp A Hàm (99, tạng kinh Ðại Chính).
Đây là những điều mà tôi đã được nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Trùng Các, trong rừng Đại Lâm, không xa thành phố Tỳ Xá Ly. Lúc bấy giờ đại đức A Nậu La Độ đang cư trú tại một cái am trong rừng, không xa nơi Bụt ở.
Một hôm có một số các du sĩ ngoại đạo đến thăm đại đức A Nậu La Độ. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi và chúc tụng, họ hỏi đại đức: “Này hiền hữu A Nậu La Độ, đức Như Lai mà người ta tôn xưng là bậc đã chứng ngộ quả vị cao nhất, thế nào cũng đã nói và giảng giải cho hiền hữu nghe về bốn mệnh đề sau đây: một là sau khi chết, đức Như Lai vẫn còn; hai là sau khi chết, đức Như Lai không còn; ba là sau khi chết, đức Như Lai vừa còn vừa không còn; bốn là sau khi chết, đức Như Lai vừa không còn vừa không không còn. Hiền hữu nói cho chúng tôi nghe đi.”
Đại đức A Nậu La Độ trả lời: “Này các hiền hữu, đức Như Lai, bậc tôn quý trên đời, người đã từng chứng ngộ quả vị cao nhất, chưa bao giờ từng nói và giảng giải trong khuôn khổ bốn mệnh đề mà các vị hiền hữu vừa đưa ra.”
Nghe đại đức nói như thế, các vị du sĩ ngoại đạo nói với nhau: “Có thể là ông thầy tu này mới đi xuất gia, hoặc giả nếu ông ta đã đi tu lâu rồi, thì ông ta chỉ là một kẻ ngu độn.” Không vừa ý với đại đức, họ bỏ đi.
Sau khi các vị du sĩ đi rồi, đại đức A Nậu La Độ suy nghĩ: “Nếu các vị du sĩ ngoại đạo này cứ tiếp tục hỏi như thế thì ta phải trả lời thế nào cho đúng với sự thật và không sai với ý của Bụt ? Ta sẽ trả lời như thế nào cho đúng với chánh pháp và để đừng bị người đồng đạo chê trách?”
Rồi đại đức A Nậu La Độ đi tới nơi Bụt ở, cung kính làm lễ và thăm hỏi Người. Sau đó đại đức trình lên Bụt những điều đã xảy ra. Bụt hỏi: “Này đại đức A Nậu La Độ, thầy nghĩ sao? Có thể tìm Như Lai trong hình sắc không?”
– Bạch đức Thế Tôn, không.
– Có thể tìm Như Lai ngoài hình sắc không ?
– Bạch Thế Tôn, không.
– Có thể tìm Như Lai trong cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức không ?
– Bạch Thế Tôn, không.
– Có thể tìm Như Lai ngoài cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức không ?
– Bạch Thế Tôn, không.
– Này đại đức A Nậu La Độ, thầy có nghĩ rằng Như Lai là một cái gì vượt ra khỏi cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức không ?
– Bạch Thế Tôn, không.
– Này, A Nậu La Độ, đi tìm Như Lai ngay trong khi Như Lai còn sống đây mà còn không tìm ra được thì thử hỏi đi tìm Như Lai sau khi Như Lai đã ẩn diệt trong khuôn khổ bốn mệnh đề còn, không còn, vừa còn vừa không còn, vừa không còn vừa không không còn, đó có phải là một chuyện có thể làm được hay không ?
– Bạch Thế Tôn, không.
– Hay lắm, thầy A Nậu La Độ! Từ trước đến nay, Như Lai chỉ giảng dạy về KHỔ và con đường Diệt KHỔ.” (CCC)
Kinh A Nậu La Độ: Kinh này được dịch từ Tương Ưng Bộ của tạng Pali (Samyutta Nikàya IV, 380). Kinh tương đương trong tạng Hán là kinh số 106 của bộ Tạp A Hàm (99, tạng kinh Ðại Chính). Kinh này tuy ngắn nhưng lại là một đề tài quán chiếu quan trọng vào bậc nhất giúp ta vượt được các ý niệm sinh / diệt, có / không, tới / đi và một / khác. Các tư tưởng của hệ thống Trung Quán đều được phát xuất từ các kinh căn bản như kinh này.
Đây là những điều tôi đã được nghe Bụt nói vào một thời người còn cư trú ở tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây của thái tử Kỳ Đà. Hồi đó cùng ở bên Bụt có một ngàn hai trăm năm mươi vị khất sĩ, trong đó có những vị A La Hán đệ tử lớn của Bụt mà ai cũng biết đến như các thầy Xá Lợi Phất, Mục Kiện Liên, Ca Diếp, Ca Chiên Diên, Câu Hy La, Ly Bà Đà, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lư Đà Di, Kiếp Tân Na, Bạt Câu La và A Nậu Lâu Đà. Lại cũng có mặt các vị Bồ Tát đại nhân như Văn Thù, A Dật Đà, Càn Đà Ha Đề, Thường Tinh Tấn, và rất nhiều các vị Bồ Tát lớn như thế, cùng với chư thiên như Thích Đề Hoàn Nhân, nhiều đến vô lượng, đều cùng có mặt.
Lúc bấy giờ Bụt gọi thầy Xá Lợi Phất và bảo: “Từ đây đi qua phương Tây, cách khoảng mười vạn ức cõi Bụt, có một thế giới gọi là Cực Lạc, trong cõi ấy có một vị Bụt tên là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp.
“Này Xá Lợi Phất, đất nước ấy vì sao tên là Cực Lạc? Bởi vì dân chúng trong nước ấy không biết khổ là gì, chỉ hưởng thụ mọi thứ an lạc, cho nên cõi ấy được gọi là Cực Lạc.
“Này nữa, Xá Lợi Phất, ở nước Cực Lạc, có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, tất cả đều được làm bằng bốn thứ châu bảo, bao quanh giáp vòng, vì vậy cõi ấy được gọi là Cực Lạc.
“Này nữa, Xá Lợi Phất, ở nước Cực Lạc có rất nhiều hồ thất bảo chứa đầy thứ nước có tám công đức, dưới đáy hồ toàn là cát vàng; bốn bên hồ có những lối đi làm bằng vàng, bạc, lưu ly và pha lê; phía trên các con đường ấy lại có vô số lâu đài, cũng được xây dựng và trang trí bằng các chất liệu vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu và mã não. Sen trong các hồ lớn như những chiếc bánh xe, sen xanh chiếu hào quang xanh, sen vàng chiếu hào quang vàng, sen đỏ chiếu hào quang đỏ, sen trắng chiếu hào quang trắng, hương sen tỏa ra vi diệu và tinh khiết.
“Xá Lợi Phất! Nước Cực Lạc được tô điểm bằng những cái đẹp như thế.
“Này nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Bụt ấy, người ta thường được nghe nhạc từ hư không vọng xuống. Đất được làm bằng vàng ròng. Mỗi ngày sáu lần có mưa hoa mạn đà la rơi xuống. Dân chúng nước ấy có thói quen buổi sáng lấy lẵng hứng đầy các bông hoa mầu nhiệm ấy để đem đi cúng dường các vị Bụt đang cư trú ở vô số các cõi Bụt khác. Đến giờ cơm trưa, mọi người đều về kịp nước mình để ăn cơm rồi đi kinh hành. Xá Lợi Phất, nước Cực Lạc đẹp tuyệt vời như thế đấy.
“Này nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Cực Lạc kia, thường có nhiều loại chim đủ màu rất kỳ diệu như Hạc trắng, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già và Cọng mạng… Những con chim ấy, sáu buổi mỗi ngày, thường hót lên những thanh âm hòa nhã: trong giọng hót của chúng, người ta nghe được tiếng diễn xướng các pháp môn ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần… Dân chúng trong nước nghe được những pháp âm như thế đều nhiếp tâm trở về thực tập niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.
“Xá Lợi Phất, thầy đừng tưởng rằng các loài chim ấy đã được sinh ra trên căn bản nghiệp báo. Tại sao? Tại vì ở nước Bụt kia không có ba nẻo đường đen tối là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Xá Lợi Phất! Ở nước ấy danh từ ác đạo mà còn không có, huống hồ là sự thực về ác đạo. Những con chim kia đã được Bụt A Di Đà biến hóa ra với mục đích là làm cho pháp âm được tuyên lưu rộng rãi trong xứ của ngài.
“Xá Lợi Phất, ở nước Bụt ấy, mỗi khi có gió nhẹ xao động các hàng cây và các màn lưới châu báu thì người ta được nghe những âm thanh vi diệu, giống như là có trăm ngàn nhạc khí cùng được tấu lên một lần. Người dân nước ấy mỗi khi nghe các âm thanh kia thì đều nhiếp tâm niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng. Xá Lợi Phất, nước Cực Lạc đẹp tuyệt vời như thế đấy.
“Xá Lợi Phất! Thầy nghĩ sao? Đức Bụt kia tại sao có tên là A Di Đà? Xá Lợi Phất! Tại vì đức Bụt ấy là ánh sáng vô lượng có thể chiếu soi được tất cả các cõi nước trong mười phương mà ánh sáng ấy không hề bị ngăn cách. Vì vậy nên ngài được gọi là A Di Đà.
“Hơn nữa, Xá Lợi Phất! Thọ mạng của đức Bụt ấy cũng như của dân chúng trong nước ngài là thọ mạng vô lượng kéo dài tới vô lượng vô biên kiếp A Tăng Kỳ, vì vậy cho nên danh hiệu của ngài là A Di Đà.
“Xá Lợi Phất! Từ khi Bụt A Di Đà thành đạo đến nay tính ra là đã mười kiếp. Này nữa, Xá Lợi Phất! Số đệ tử thanh văn đã đắc quả A La Hán của đức Bụt ấy nhiều vô lượng, không thể đếm được bằng toán học, số đệ tử Bồ Tát của ngài cũng đông đảo như thế.
“Này Xá Lợi Phất! Nước Bụt kia đã được xây dựng bằng những công đức đẹp đẽ như thế.
“Này nữa Xá Lợi Phất! Tất cả những ai sinh về nước Cực Lạc đều có tư cách bất thối chuyển, trong số ấy có nhiều vị đã là Bồ Tát nhất sinh bổ xứ. Số lượng của các vị này đông đảo vô cùng, không thể dùng toán học mà kiểm đếm được, ta chỉ có thể dùng danh từ vô số A Tăng Kỳ để diễn tả mà thôi.
“Xá Lợi Phất! Chúng sinh mọi nơi khi nghe nói tới nước Cực Lạc đều nên phát nguyện sanh về nước ấy. Tại sao? Tại vì sanh về nước ấy thì sẽ được sống chung và gần gũi với rất nhiều các bậc thiện nhân cao đức.
“Xá Lợi Phất! Những kẻ thiếu phúc đức và căn lành thì ít hy vọng được sinh về cõi ấy. Vì vậy, Xá Lợi Phất, người con trai lành hay người con gái lành nào muốn sinh về cõi ấy thì khi nghe đến danh hiệu Bụt A Di Đà phải nắm lấy danh hiệu ấy mà hết lòng thực tập quán niệm theo phương pháp nhất tâm bất loạn, hoặc trong vòng một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày hay bảy ngày. Người ấy, đến khi lâm chung, sẽ được thấy Bụt A Di Đà và các vị thánh chúng nước ấy hiện ra trước mặt. Trong giờ phút ấy, tâm ý người kia sẽ an trú trong định, không hề điên đảo và tán loạn, do đó người ấy được vãng sinh ngay về nước Cực Lạc.
“Xá Lợi Phất! Vì thấy được cái lợi ích lớn lao này cho nên tôi muốn nói với quý vị rằng những ai đang nghe tôi nói đây hãy nên phát nguyện sinh về nước ấy.
“Xá Lợi Phất, nếu trong giờ phút hiện tại tôi đang ca ngợi những lợi ích và công đức không thể nghĩ bàn của Bụt A Di Đà thì tại phương Đông có các vị Bụt A Súc Bệ, Bụt Tu Di Tướng, Bụt Đại Tu Di, Bụt Tu Di Quang, Bụt Diệu Âm và các vị Bụt khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: ‘Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Bụt trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.’
‘Xá Lợi Phất, tại phương Nam có các vị Bụt Nhựt Nguyệt Đăng, Bụt Danh Văn Quang, Bụt Đại Diệm Kiên, Bụt Tu Di Đăng, Bụt Vô Lượng Tinh Tấn và các vị Bụt khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: ‘Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Bụt trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.’
‘Xá Lợi Phất, tại phương Tây có các vị Bụt Vô Lượng Thọ, Bụt Vô Lượng Tướng, Bụt Vô Lượng Tràng, Bụt Đại Quang, Bụt Đại Minh, Bụt Bảo Tướng, Bụt Tịnh Quang và các vị Bụt khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: ‘Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Bụt trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.’
‘Xá Lợi Phất, tại phương Bắc có các vị Bụt Diệm Kiên, Bụt Tối Thắng Âm, Bụt Nan Trở, Bụt Nhựt Sanh, Bụt Võng Minh và các vị Bụt khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: ‘Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Bụt trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.’
‘Xá Lợi Phất, tại phương Hạ có các vị Bụt Sư Tử, Bụt Danh Văn, Bụt Danh Quang, Bụt Đạt Ma, Bụt Pháp Tràng, Bụt Trì Pháp và các vị Bụt khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: ‘Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Bụt trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.’
‘Xá Lợi Phất, tại phương Thượng có các vị Bụt Phạm Âm, Bụt Tú Vương, Bụt Hương Thượng, Bụt Hương Quang, Bụt Đại Diệm Kiên, Bụt Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân, Bụt Ta La Thọ Vương, Bụt Bảo Hoa Đức, Bụt Kiến Nhất Thiết Nghĩa, Bụt Như Tu Di Sơn và các vị Bụt đông khác như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: ‘Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Bụt trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.’
“Xá Lợi Phất! Thầy nghĩ sao? Tại sao gọi kinh này là kinh mà tất cả các Bụt đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm?
“Sở dĩ như thế, là vì những người con trai hoặc con gái nhà lành nào nghe được kinh này và nghe được danh hiệu Bụt A Di Đà, hết lòng hành trì và thực tập theo phép niệm Bụt thì những vị ấy sẽ được tất cả các vị Bụt hộ niệm, và tất cả sẽ đạt tới quả vị giác ngộ cao tột, không còn bị thối chuyển. Vì vậy cho nên quý vị hãy tin vào lời tôi đang nói, và cũng là lời chư Bụt đang nói.
“Xá Lợi Phất, nếu có người đã, đang, hay sẽ phát nguyện sinh về nước Bụt A Di Đà, thì người ấy ngay trong giờ phát nguyện đã đạt được quả vị giác ngộ cao tột không thối chuyển và đã có mặt tại cõi nước ấy rồi, không kể đến sự kiện là người ấy đã sinh, đang sinh, hay sẽ sinh về đó.
“Xá Lợi Phất, trong khi tôi đang ca ngợi công đức không thể nghĩ bàn của chư Bụt, thì chư Bụt cũng đang xưng tán công đức không thể nghĩ bàn của tôi, và nói: ‘Bụt Thích Ca Mâu Ni thật là hiếm có. Ngay trong cõi ta bà đầy dẫy năm yếu tố ô nhiễm là kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược và mạng trược mà ngài có thể chứng đắc được quả vị giác ngộ vô thượng và còn tuyên thuyết được cho chúng sinh những pháp môn mà bất kỳ ở đâu, mới nghe qua người ta cũng rất khó mà phát sinh niềm tin.’
“Xá Lợi Phất! Thầy nên hiểu cho rằng cư trú trong thế giới đầy năm loại ô nhiễm này mà đạt tới được quả vị giác ngộ vô thượng và còn diễn giải được cho mọi giới những pháp môn rất khó tin như pháp môn này, đó là một việc làm quả là cực kỳ khó khăn.”
Nghe Bụt nói kinh này, thầy Xá Lợi Phất, tất cả các vị khất sĩ, và mọi giới Thiên, Nhân, A Tu La, v.v… ai cũng phát lòng tin tưởng, tiếp nhận, làm lễ Bụt và lui về trú sở của mình. (CCC)
Kinh A Di Ðà: Kinh này được dịch từ tạng Hán, đây là kinh số 366 của tạng kinh Ðại Chính do thầy Cưu Ma La Thập dịch từ kinh Sukhàvàtivyùhasùtra vào đầu thế kỷ thứ năm. Ở đây ta có một bản dịch quốc văn rất đẹp, gọn và sáng sủa. Người trì tụng kinh này có thực tập thiền quán sẽ thấy những gì nói tới trong kinh đều có thể nhận diện được ngay trong tâm thức và thế giới hiện tại. Xin tham khảo sách Thiết Lập Tịnh Độ của thiền sư Nhất Hạnh chú giải và do nhà xuất bản Lá Bối ấn hành.
Bản dịch Tâm Kinh mới của Sư Ông Làng Mai (Tháng 8 năm 2014)
BẢN DỊCH TÂM KINH MỚI BẰNG VĂN TRƯỜNG HÀNG
Tâm kinh Tuệ Giác Qua Bờ
Bồ-tát Avalokiteśvara, trong khi quán chiếu sâu sắc với tuệ giác qua bờ, bỗng khám phá ra rằng tất cả năm uẩn đều trống rỗng, tất cả đều là cái không. Giác ngộ điều ấy xong, bồ-tát vượt qua được mọi khổ đau ách nạn.
“Này Śāriputra, hình hài này chính là cái không và cái không cũng chính là hình hài này. Hình hài này không phải là một cái gì khác với cái không và cái không cũng không phải là một cái gì khác với hình hài này. Điều này cũng đúng với các cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức.
“Này Śāriputra, tất cả mọi hiện tượng đều mang theo tướng không, không hiện tượng nào thực sự có sinh, có diệt, có có, có không, có dơ, có sạch, có thêm và có bớt.
“Chính vì vậy mà trong cái không, năm uẩn là hình hài, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức đều không có mặt như những thực tại riêng biệt. Mười tám lĩnh vực hiện tượng là sáu căn, sáu trần và sáu thức cũng đều không có mặt như những thực tại riêng biệt; mười hai khoen nhân duyên cùng sự chấm dứt của chúng, bốn đế là khổ, tập, diệt và đạo cũng không có mặt như những thực tại riêng biệt; tuệ giác và chứng đắc cũng đều như thế.
“Vị bồ-tát khi thực tập phép quán tuệ giác qua bờ không thấy có gì cần được chứng đắc, nên không thấy còn có gì chướng ngại trong tâm. Và vì tâm không còn chướng ngại nên vị ấy vượt thắng được mọi sợ hãi, đập tan được mọi tri giác sai lầm và đạt được nirvāṇa tuyệt hảo.
“Tất cả các Bụt trong quá khứ, hiện tại và vị lai nhờ nương vào phép thực tập tuệ giác qua bờ mà đạt tới chánh giác toàn vẹn.
“Cho nên, này thầy Śāriputra, ai cũng cần biết rằng tuệ giác qua bờ là một linh chú lớn, là linh chú sáng nhất, là linh chú cao nhất, là linh chú không thể so sánh được. Đó là tuệ giác chân thực có khả năng diệt trừ tất cả mọi khổ nạn. Vì vậy ta nên đọc lên câu linh chú sau đây để tán dương tuệ giác qua bờ:
Avalokita Khi quán chiếu sâu sắc Với tuệ giác qua bờ, Bỗng khám phá ra rằng: Năm uẩn đều trống rỗng. Giác ngộ được điều đó, Bồ-tát vượt ra được Mọi khổ đau ách nạn.(C)
“Này Śāriputra, Hình hài này là không, Không là hình hài này; Hình hài chẳng khác không, Không chẳng khác hình hài. Điều này cũng đúng với Cảm thọ và tri giác, Tâm hành và nhận thức. (C)
“Này Śāriputra, Mọi hiện tượng đều không, Không sinh cũng không diệt, Không có cũng không không, Không dơ cũng không sạch, Không thêm cũng không bớt. (C)
“Cho nên trong cái không, Năm uẩn đều không thể Tự riêng mình có mặt. Mười tám loại hiện tượng Là sáu căn, sáu trần Và sáu thức cũng thế; Mười hai khoen nhân duyên Và sự chấm dứt chúng Cũng đều là như thế;
Khổ, tập, diệt và đạo Tuệ giác và chứng đắc Cũng đều là như thế. (C)
“Khi một vị bồ-tát Nương tuệ giác qua bờ Không thấy có sở đắc Nên tâm hết chướng ngại. Vì tâm hết chướng ngại Nên không còn sợ hãi, Đập tan mọi vọng tưởng, Đạt niết-bàn tuyệt hảo. (C)
Chư Bụt trong ba đời Nương tuệ giác qua bờ Đều có thể thành tựu Quả chánh giác toàn vẹn. (C)
“Vậy nên phải biết rằng Phép tuệ giác qua bờ Là một linh chú lớn, Là linh chú sáng nhất, Là linh chú cao tột, Không có linh chú nào Có thể so sánh được.
Là tuệ giác chân thực
Có khả năng diệt trừ
Tất cả mọi khổ nạn. (C)
Vậy ta hãy tuyên thuyết
Câu linh chú qua bờ:
“Gate, gate,
pāragate,
pārasamgate,
bodhi, svaha!” (CC)
LÝ DO TẠI SAO PHẢI DỊCH LẠI TÂM KINH
Các con của Thầy,
Sở dĩ Thầy phải dịch lại Tâm kinh, vì vị tổ sư biên tập Tâm kinh đã không đủ khéo léo trong khi sử dụng ngôn từ; do đó, đã gây ra nhiều hiểu lầm qua các thời đại.
Thầy muốn kể cho các con nghe hai câu chuyện: câu chuyện của một vị sa-di tới tham vấn một thiền sư và câu chuyện một thầy khất sĩ tới tham vấn Tuệ Trung Thượng Sĩ.
1
Vị thiền sư hỏi chú sa-di:
– Con hiểu Tâm kinh như thế nào, nói cho Thầy nghe đi.
Chú sa-di chắp tay đáp:
– Con học được rằng, tất cả năm uẩn đều là không. Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp; không có sáu thức, mười tám giới cũng không có, mười hai nhân duyên cũng không có, mà cả tuệ giác và chứng đắc cũng không có.
– Con có tin vào lời kinh ấy không?
– Dạ con rất tin vào lời kinh.
Thiền sư bảo:
– Con xích lại gần thầy đây.
Khi chú sa-di xích lại gần, vị thiền sư liền dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ của mình nắm lấy cái mũi của chú sa-di và vặn một cái mạnh. Chú sa-di đau quá la lên:
– Thầy ơi, thầy làm con đau quá!
Vị thiền sư nhìn chú và hỏi:
– Vừa rồi chú nói rằng không có mũi. Nếu không có mũi thì cái gì đau vậy?
2
Tuệ Trung Thượng Sĩ là một vị thiền sư cư sĩ, đã từng làm y chỉ sư cho vua Trần Nhân Tông hồi vua còn nhỏ tuổi. Hôm ấy, có một thầy tỳ-kheo tới hỏi ngài về Tâm kinh:
– Bạch Thượng Sĩ, hình hài chính là cái không, cái không chính là hình hài, câu này có nghĩa gì?
Ban đầu, Thượng Sĩ im lặng. Sau đó, Thượng Sĩ hỏi:
– Thầy có hình hài không?
– Dạ có.
– Vậy thì tại sao lại nói hình hài là không?
Thượng sĩ hỏi tiếp:
– Thầy có thấy trong cái không gian trống rỗng kia, có cái hình hài không?
– Dạ con không thấy có.
– Vậy thì tại sao lại nói cái không tức là hình hài?
Vị khất sĩ đứng lên xá và đi ra. Nhưng thầy bị Thượng Sĩ gọi lại và đọc cho nghe bài kệ sau đây:
“Sắc tức thị không, không tức thị sắc, Chư Bụt ba đời tạm thời bày đặt. Không chẳng phải sắc, sắc chẳng phải không, Thể tính sáng trong không hề còn mất.”
Căn cứ vào câu chuyện này, ta thấy Tuệ Trung Thượng Sĩ đã nói ngược lại với Tâm kinh và đã động tới cái công thức “sắc tức thị không, không tức thị sắc” linh thiêng, bất khả xâm phạm của nền văn học Bát-nhã.
Thầy thấy Thượng Sĩ đã đi quá đà. Thượng sĩ chưa thấy được rằng cái lỗi không nằm ở công thức “sắc tức thị không” mà nằm ở chỗ vụng về nơi câu “Thị cố không trung vô sắc”. Cách dùng chữ của Tâm kinh Bát-nhã ngay từ câu đầu cho đến câu: “không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt”, theo Thầy đã là tuyệt hảo. Thầy chỉ hơi tiếc là vị tổ sư biên tập Tâm kinh đã không thêm vào bốn chữ không có, không không ngay sau bốn chữ không sinh, không diệt mà thôi. Bởi vì bốn chữ ấy có thể giúp người thoát khỏi ý niệm có và không, và người ta sẽ không còn dễ bị kẹt vào những cái như “không mắt, không tai, không mũi, không lưỡi…” Cái mũi của chú sa-di đến bây giờ vẫn còn đỏ, các con thấy không?
Vấn đề bắt đầu từ câu kinh: “Này Śāriputra, vì thế mà trong cái không, không có hình hài, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức” (tiếng Phạn: Tasmāc śāriputra śūnyatayāṃ na rūpaṃ na vedanā na saṃjñā na saṃskārāḥ na vijñānam). Ô hay! Vừa nói ở trên là cái không chính là hình hài, và hình hài chính là cái không, mà bây giờ lại nói ngược lại: Chỉ có cái không, không có hình hài. Câu kinh này có thể đưa tới những hiểu lầm tai hại: Nó bốc tất cả các pháp ra khỏi phạm trù hữu và đặt chúng vào trong phạm trù vô (vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức…). Trong khi đó, thực tính của vạn pháp là không hữu cũng không vô, không sinh cũng không diệt. Kiến chấp hữu là một biên kiến. Kiến chấp vô là một biên kiến khác. Cái mũi của sư chú còn đau tới bây giờ là vì sự vụng về này. Cho đến bài kệ kiến giải tương truyền là của tổ Huệ Năng cũng bị kẹt vào ý niệm vô đó: “bản lai vô nhất vật!”:
“Cây bồ đề vốn chưa bao giờ từng có
Đài gương sáng cũng vậy
Từ xưa nay, chưa thực sự có một cái gì
Vậy thử hỏi bụi bặm có chỗ nào để bám?”
Thật là:
“Một ángmây qua che cửa động
Bao nhiêu chim chóc lạc đường về.”
Tuệ giác Bát nhã là thứ tuệ giác siêu việt giúp chúng ta vượt thoát mọi cặp ý niệm đối lập như sinh diệt, có không, nhiễm tịnh, thêm bớt, chủ thể đối tượng, v.v… và tiếp xúc được với thực tại bất sinh bất diệt, phi hữu phi vô, v.v… : thực tại này chính là thực tính của vạn pháp. Đó là trạng thái của sự mát mẻ, lắng dịu, bình an, vô úy, có thể chứng nghiệm được ngay trong đời sống hiện tại với hình thể năm uẩn của mình. Đó là nirvāna. “Chim chóc ưa trời mây, hươu nai ưa đồng quê, các bậc thức giả ưa rong chơi nơi niết bàn.” Đây là một câu rất hay trong phẩm Nê Hoàn của Kinh Pháp Cú trong tạng kinh chữ Hán.
Tuệ giác Bát nhã là sự thật tuyệt đối, là thắng nghĩa đế, vượt lên trên mọi sự thật ước lệ. Nó là cái thấy cao nhất của Bụt. Những đoạn kinh nào trong Đại Tạng, dù là trong các bộ Kinh Bát Nhã đồ sộ, nếu không phản chiếu được tinh thần trên, thì đều còn nằm trong bình diện sự thật ước lệ, chưa phải là đệ nhất nghĩa đế. Rủi thay, ngay trong Tâm Kinh, ta cũng thấy có một đoạn khá dài như thế.
Cũng vì vậy mà trong bản dịch mới này, Thầy đã đổi luôn cách dùng chữ trong nguyên văn tiếng Phạn và bản dịch chữ Hán của thầy Huyền Trang. Thầy dịch: “Chính vì vậy mà trong cái không, năm uẩn là hình hài, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức đều không có mặt như những thực tại riêng biệt, (They do not exist as separate entities). Các pháp từ duyên khởi mà biểu hiện, không có tự tính riêng biệt, không thể tự riêng mình có mặt; đó là điều kinh Bát-nhã muốn tuyên giải. “Cả tuệ giác và chứng đắc cũng không có mặt như những gì riêng biệt.” Câu kinh này cũng sâu sắc không kém gì câu “sắc tức thị không”. Thầy cũng đã thêm vào bốn chữ không có, không không vào sau bốn chữ không sinh, không diệt. “Không có, không không” là tuệ giác siêu việt của Bụt trong kinh Kātyāyana (Ca Chiên Diên), khi Bụt đưa ra một định nghĩa về chánh kiến. Bốn chữ này sẽ giúp cho các thế hệ sa-di tương lai không còn bị đau lỗ mũi.
Tâm kinh Bát-nhã có chủ ý muốn giúp cho Hữu Bộ (Sarvāstivāda) buông bỏ chủ trương ngã không pháp hữu (không có ngã, mà chỉ có pháp). Chủ trương sâu sắc của Bát-nhã thật ra là để xiển dương tuệ giác ngã không (ātma sūnyatā) và pháp không (dharma sūnyatā) chứ không phải là ngã vô và pháp vô. Bụt đã dạy trong kinh Kātyāyana rằng phần lớn người đời đều bị kẹt vào ý niệm hữu hoặc vô. Câu kinh: “Chính vì vậy mà trong cái không, không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức…” rõ ràng là đang bị kẹt vào ý niệm vô, cho nên câu kinh ấy không phải là một câu kinh liễu nghĩa. Ngã không (ātma sūnyatā) chỉ có nghĩa là sự trống rỗng của cái ngã, mà không phải là sự vắng mặt của một cái ngã, cũng như chiếc bong bóng trống rỗng bên trong chứ không phải là không có chiếc bong bóng. Pháp không (dharma sūnyatā) cũng thế, nó chỉ có nghĩa là sự trống rỗng của các pháp mà không phải là sự vắng mặt của các pháp, cũng như bông hoa chỉ được làm bằng những yếu tố không phải hoa chứ không phải là bông hoa đang không có mặt.
Tâm kinh Bát-nhã ra đời muộn khi tín ngưỡng mật giáo đã bắt đầu thịnh hành. Vị tổ sư biên tập Tâm kinh đã muốn tín đồ Mật giáo đọc tụng Tâm kinh, nên trong đoạn cuối đã trình bày Tâm kinh như một linh chú. Đây cũng là một phương tiện quyền xảo. Thầy sử dụng cụm từ “tuệ giác qua bờ”, vì trong câu linh chú ấy có từ pāragate có nghĩa là qua tới bờ bên kia, bờ của trí tuệ. Pārāyana cũng như Pāramitā đều được dịch là Đáo Bỉ Ngạn. Trong Kinh Tập (Sutta Nipāta), có một kinh gọi là Pārāyana được dịch là đáo bỉ ngạn, qua tới bờ bên kia.
Chúc các con tập tụng bản dịch mới cho hay. Mình đã có bản dịch tiếng Anh rồi và thầy Pháp Linh đang phổ nhạc mới. Thế nào trong ấn bản mới của Nhật Tụng Thiền Môn, ta cũng đưa bản dịch mới này vào. Hôm qua dịch xong, có một ánh trăng đi vào trong phòng Thầy. Đó là khoảng ba giờ khuya ngày 21.08.2014.
Viết tại Viện Vô Ưu, Waldbrӧl, Thầy của các con, thương và tin cậy
BẢN DỊCH TÂM KINH MỚI BẰNG TIẾNG ANH
The Insightthat Brings Us totheOtherShore
Avalokiteshvara
while practicing deeply with
the Insight that Brings Us to the Other Shore,
suddenly discovered that
all of the five Skandhas are equally empty,
and with this realisation
he overcame all Illbeing.
“Listen Shariputra,
this Body itself is Emptiness
and Emptiness itself is this Body.
This Body is not other than Emptiness
and Emptiness is not other than this Body.
The same is true of Feelings,
Perceptions, Mental Formations,
and Consciousness.
“Listen Sariputra,
all phenomena bear the mark of Emptiness;
their true nature is the nature of
no Birth no Death,
no Being no Nonbeing,
no Defilement no Immaculacy,
no Increasing no Decreasing.
“That is why in Emptiness,
Body, Feelings, Perceptions,
Mental Formations and Consciousness
are not separate self entities.
The Eighteen Realms of Phenomena
which are the six Sense Organs,
the six Sense Objects,
and the six Consciousnesses
are also not separate self entities.
The Twelve Links of Interdependent Arising
and their Extinction
are also not separate self entities.
Illbeing, the Causes of Illbeing,
the End of Illbeing, the Path,
insight and attainment,
are also not separate self entities.
Whoever can see this
no longer needs anything to attain.
“Bodhisattvas who practice
the Insight that Brings Us to the Other Shore
see no more obstacles in their mind,
and because there are no more
obstacles in their mind,
they can overcome all fear,
destroy all wrong perceptions
and realize Perfect Nirvana.
“All Buddhas in the past, present and
future by practicing
the Insight that Brings Us to the Other Shore
are all capable of attaining
Authentic and Perfect Enlightenment.
“Therefore Sariputra,
it should be known that
the Insight that Brings Us to the Other Shore
is a Great Mantra,
the most illuminating mantra,
the highest mantra,
a mantra beyond compare,
the True Wisdom that has
the power
to put an end to all kind of
suffering.
Therefore let us proclaim
a mantra to praise
the Insight that Brings Us to the Other Shore:
Gate, Gate, Paragate, Parasamgate,
Bodhi Svaha!”
Nghe Tụng Tâm kinh bằng tiếng Anh “The Insight That Bring Us To The Other Shore”
Hồi ấy, có những vị thượng tọa khất sĩ cùng cư trú tại vườn Lộc Uyển ở Isipatana thành Vārānasi. Đức Thế tôn vừa mới nhập diệt không lâu.
Lúc bấy giờ khất sĩ Chanda (Chiên Đà), vào buổi sáng khoác y, mang bát đi vào thành phố Vārānasī để khất thực.
Khất thực và thọ trai xong, thầy Chanda cất y bát, rửa chân, cầm theo chiếc chìa khoá cửa, đi từ cụm rừng này đến cụm rừng kia, từ tịnh thất này đến tịnh thất kia, từ con đường thiền hành này tới con đường thiền hành khác. Đến đâu khất sĩ Chanda cũng thưa với các vị thượng tọa khất sĩ :
– Xin quý thượng tọa dạy cho con, thuyết pháp cho con, để con có thể hiểu được Pháp, thấy được Pháp và như thế có thể thật sự hiểu được Pháp và quán chiếu Pháp đúng pháp.
Lúc bấy giờ các vị thượng tọa khất sĩ nói với thầy Chanda :
– Sắc là vô thường, thọ, tưởng, hành và thức cũng là vô thường. Tất cả các hành đều vô thường, tất cả các pháp đều vô ngã, và niết bàn là sự yên ổn lắng dịu.
Thầy Chanda bạch với các vị thượng tọa khất sĩ :
– Con cũng đã biết sắc là vô thường, thọ, tưởng, hành và thức cũng vô thường. Con biết tất cả các hành đều vô thường, tất cả các pháp đều vô ngã, và niết bàn là sự an ổn lắng dịu. Nhưng con không vui khi nghe nói rằng tất cả các hành đều không, không thể nắm bắt được, và chỉ khi nào ái dục chấm dứt thì mới có niết bàn.
« Nếu như thế thì có một cái ngã (một cái chủ thể) nào có thể biết [sự thật] một cách chân thực, có thể thấy [sự thật] một cách chân thực để ta có thể nói rằng “thấy được Pháp”? »
Thầy Chanda lặp lại câu ấy hai rồi ba lần. Rồi thầy tự hỏi : « Ai trong số các vị thượng tọa này có dạy cho mình để mình có thể hiểu được Pháp và thấy được Pháp? »
Thế rồi thầy Chanda lại nghĩ : « Tôn giả Ānanda hiện đang cư trú tại vườn Ghosita trong vùng Kosambi. Tôn giả là người đã từng được gần gũi và làm thị giả cho đức Thế tôn, đã từng được Bụt khen ngợi và được tất cả các bậc tu phạm hạnh biết đến. Tôn giả ấy chắc chắn sẽ có khả năng thuyết pháp cho ta, để ta có thể biết được Pháp và thấy được Pháp. »
Thầy Chanda nghỉ ngơi qua đêm. Sáng hôm sau, khoác y và mang bát, thầy đi vào thành phố Vārānasī để khất thực.
Khất thực và thọ trai xong thầy xếp dẹp chiếc giường nằm của thầy lại. Xếp dẹp xong, thầy khoác y cầm bát lên đường đi về Kosambi. Đi nhiều chặng, thầy tới nơi. Rồi thầy đặt y bát xuống, đi rửa chân và đi tới chỗ tôn giả Ānanda cư trú. Sau khi chào hỏi tôn giả, thầy ngồi xuống một bên tôn giả.
Lúc bấy giờ, thầy Chanda hỏi tôn giả Ānanda :
– Thưa tôn giả, hồi ấy nhiều vị thượng tọa khất sĩ đang cư trú tại vườn Lộc Uyển ở Isipatana thuộc thành phố Vārānasī. Buổi sáng ấy con mang y cầm bát đi vào thành Vārānasī để khất thực. Khất thực và thọ thực xong, con cất y bát, rửa chân, cầm theo chiếc chìa khóa, đi từ cụm rừng này đến cụm rừng kia, từ tịnh thất này đến tịnh thất kia, từ con đường thiền hành này tới con đường thiền hành khác. Đến đâu gặp các vị thượng tọa khất sĩ, con cũng đều xin quý vị dạy dỗ trao truyền cho con, thuyết pháp cho con, để con có thể biết Pháp và thấy Pháp.
« Lúc bấy giờ các vị thượng tọa khất sĩ thuyết pháp cho con, dạy con rằng :
– Sắc là vô thường, thọ, tưởng, hành và thức cũng vô thường. Tất cả các hành đều vô thường. Tất cả các pháp đều vô ngã, và niết bàn là sự yên ổn lắng dịu.
« Khi ấy con có thưa với các vị thượng tọa khất sĩ :
– Con đã biết sắc là vô thường, thọ, tưởng, hành và thức cũng vô thường. Tất cả các hành đều vô thường. Tất cả các pháp đều vô ngã, và niết bàn là sự an ổn lắng dịu. Nhưng con không được vui khi nghe nói rằng tất cả các hành đều rỗng không, không thể nắm bắt được, và chỉ khi nào ái dục chấm dứt thì mới có niết bàn.
« Nếu như thế thì trong đó có một cái ngã (chủ thể) nào có thể biết được [sự thật] một cách chân thực, thấy được [sự thật] một cách chân thực, để ta có thể nói rằng “thấy được Pháp”?
« Lúc ấy con mới tự hỏi rằng trong số các vị khất sĩ thượng tọa, ai là người có khả năng vì ta mà thuyết pháp khiến cho ta biết được Pháp và thấy được Pháp?
« Rồi con nghĩ : “ Tôn giả Ānanda hiện giờ đang ở tại vườn Ghosita trong vùng Kosambi. Tôn giả là người đã từng được gần gũi và làm thị giả cho đức Thế tôn, đã từng được Bụt khen ngợi và đã được tất cả các bậc tu phạm hạnh biết đến. Tôn giả ấy chắc chắn sẽ có khả năng thuyết pháp cho ta, để ta có thể biết được Pháp và thấy được Pháp.”
« Lành thay, tôn giả Ānanda! Xin tôn giả bây giờ đây thuyết pháp cho con, khiến cho con biết được Pháp và thấy được Pháp. »
Lúc bấy giờ tôn giả Ānanda nói với thầy Chanda :
– Hay thay, Chanda! Tôi rất vui. Tôi mừng cho thầy vì thầy có khả năng đứng trước người tu phạm hạnh mà không che dấu [những gì trong tâm mình] để mong phá trừ những gai gốc hư ngụy [trong tâm mình].
« Thầy Chanda! Những kẻ phàm phu si mê không có khả năng hiểu được sắc là vô thường, thọ, tưởng, hành và thức là vô thường, không biết rằng tất cả các hành đều vô thường, tất cả các pháp đều vô ngã và niết bàn là sự an ổn lắng dịu. Giờ này đây khi thầy đã có khả năng tiếp nhận giáo pháp thâm diệu thì hãy lắng nghe, tôi sẽ vì thầy mà nói. »
Lúc bấy giờ, thầy Chanda nghĩ : « Ta có được niềm vui, có được tâm trạng mầu nhiệm hết sức này, bởi vì ta biết giờ đây ta có được khả năng tiếp nhận giáo pháp thâm diệu. »
Lúc ấy, tôn giả Ānanda nói với thầy Chanda :
– Tôi đã được đích thân nghe Bụt dạy cho tôn giả Mahakatyayana (Ca Chiên Diên) như sau :
– Người đời thường bị vướng vào hai cái thấy cực đoan : đó là cái thấy có và cái thấy không. Người đời vì bị kẹt vào trong các cảnh giới [của nhận thức] cho nên tâm họ bị ràng buộc. Nếu không tiếp nhận, không nắm bắt, không đứng ở [trong cái kẹt] ấy, không kế độ chấp vào một cái ngã, thì người ta sẽ thấy rằng khi [điều kiện có đủ để] sinh thì cái khổ sinh, khi [điều kiện hết để cái khổ] diệt thì cái khổ diệt (trong đó không cần một cái ngã, và trong đó những ý niệm có và không không thể áp đặt vào được). Này Kaccāyana, [khi một người thấy được như thế thì] người ấy không còn hồ nghi gì nữa, không bị phiền não nào [sai sử] nữa, và cái thấy ấy không do ai trao truyền mà chỉ mình tự biết. Cái thấy ấy gọi là chánh kiến mà Như lai đã nói đến.
« Tại sao như thế, Katyayana? Tại vì khi một người quán chiếu sự tập khởi của thế giới một cách đúng phép, thì người ấy không làm phát khởi ý niệm không, và khi người ấy quán chiếu sự hoại diệt của thế giới một cách đúng phép thì người ấy cũng không làm phát khởi ý niệm có. Này Katyayana, Như lai loại bỏ cả hai ý niệm cực đoan ấy và thuyết pháp về trung đạo. Nghĩa là cái này có vì cái kia có, cái này sinh vì cái kia sinh, vì vô minh nên có hành, v.v… cho đến sinh, lão tử, ưu, bi, não. Đó là sự tập khởi của đau thương. Nghĩa là cái này không vì cái kia không, cái này diệt vì cái kia diệt, vì vô minh diệt nên hành diệt, v.v… cho đến sinh, lão, bệnh, tử, ưu, bi, não, v.v… Đó là sự chấm dứt của đau thương. »
Trong lúc tôn giả Ānanda thuyết pháp, khất sĩ Chanda đạt tới tình trạng viễn trần ly cấu, đắc được pháp nhãn thanh tịnh. Bấy giờ, khất sĩ Chanda thấy Pháp, đắc Pháp, biết Pháp, làm cho Pháp hưng khởi, vượt thoát được mọi hồ nghi. Cái thấy ấy của thầy không do kẻ khác trao truyền lại. Trong giáo pháp của vị đại sĩ, thầy đạt được trạng thái vô sở uý. Thầy cung kính chắp tay thưa với tôn giả Ānanda :
– Quả thật như thế, tôn giả đúng là một vị tu hành phạm hạnh, một vị thiện tri thức, một vị giáo thọ có khả năng dạy bảo, giáo giới và thuyết pháp [rất hay].
« Bây giờ đây, từ tôn giả Ānanda, ta đã được nghe một giáo pháp như thế, và ta đã thấy được rằng tất cả các pháp đều trống không, đều có tính cách an lắng, không thể nào nắm bắt được, và chỉ khi nào hết ái, lìa dục thì mới có được cái tuyệt đối an lắng là niết bàn. Tâm ta an lạc, an trú ngay trong giải thoát, không còn thối thất nữa, không còn thấy cái ngã nữa mà chỉ thấy chánh pháp. »
Bấy giờ tôn giả Ānanda nói với thầy Chanda :
– Giờ đây thầy đã đạt tới được cái lợi ích lành mạnh to lớn, đã có được con mắt tuệ thánh thiện trong giáo pháp thậm thâm của Bụt.
Rồi cả hai vị đại sĩ cùng vui mừng cho nhau, cả hai cùng đứng dậy, mỗi người trở về trú xứ của mình.
Kinh An trú Thanh tịnh trong Thời gian Đi khất thực (Thanh Tịnh Khất Thực Trú Kinh, Tạp A Hàm kinh 236)
Đây là những điều tôi được nghe trong thời gian Bụt ở tại vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc ở thành Vương Xá. Lúc bấy giờ, Tôn giả Xá Lợi Phất, vào buổi sáng khoác y, ôm bát, đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Khất thực xong, thầy trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong, mang toạ cụ vào rừng, thực tập toạ thiền buổi ban ngày. Sau đó, thầy Xá Lợi Phất xuất thiền, tới chỗ Đức Thế Tôn ở, làm lễ dưới chân Bụt, rút lui và ngồi xuống một bên, phía trước Đức Thế Tôn.
Lúc bấy giờ, Bụt hỏi thầy Xá Lợi Phất: “Thầy từ đâu tới đây?”
Thầy Xá Lợi Phất đáp: “Lạy Đức thế Tôn, con vừa mới thực tập thiền toạ buổi ban ngày trong rừng. Thực tập xong, con tới đây.”
Bụt hỏi thầy xá lợi Phất: “Trong buổi thiền tập hôm nay, thầy an trú trong loại thiền định nào?”
Thầy Xá Lợi Phất trả lời Bụt: “Thế Tôn, con ở trong rừng, đi vào an trú trong pháp thiền định “không tam muội”.
Bụt bảo thầy Xá Lợi Phất: “Hay lắm, hay lắm, Thầy Xá Lợi Phất. Đó là Thầy đang thực tập một loại thiền định cao cấp gọi là thượng toạ thiền.
“Này Xá Lợi Phất, nếu các vị tỳ khưu nào muốn đi vào thượng toạ thiền thì phải thực tập như sau:
“Trong khi đi vào thành phố để khất thực, hoặc trong khi đi ra khỏi thành phố, (vị khất sĩ) phải thực tập tư duy như sau: trong khi mắt tôi đang thấy sắc, thì tâm tôi có phát khởi dục tưởng (vào sắc ấy) hay không? Tôi đang có bị tâm niệm ân ái ràng buộc hay không?
“Này Xá Lợi Phất, nếu trong khi vị khất sĩ thực tập quán niệm như thế, mà thấy trong khi mắt đối sắc có tâm niệm ái nhiễm phát sinh thì vị khất sĩ ấy lập tức tìm cách đoạn trừ ngay tâm niệm ái nhiễm ấy, tâm niệm không có lợi lạc cho đường tu ấy. Vị khất sĩ ấy phải có thao thức tìm ra những phương pháp có thể giúp mình nắm lấy tâm ý mà tu tập (hệ miên tu học).
“Ví như có một người kia biết là lửa đang cháy trên chiếc khăn chít đầu của mình, liền lập tức tìm mọi cách dập tắt ngọn lửa, vị khất sĩ cũng phải làm như thế, nỗ lực tìm ra phương tiện để nắm lấy tâm ý mà tinh tiến tu học. Nếu vị khất sĩ đang đi trên đường, hoặc đang đi khất thực ở trong xóm làng, hoặc đang rời bỏ xóm làng mà biết phát khởi chánh niệm để quán sát và nhận thấy rằng khi con mắt mình tiếp xúc với hình sắc, mà trong tâm mình không có sự nhiễm trước của ái niệm, thì vị khất sĩ này nên có ý nguyện gìn giữ gốc rễ tốt đẹp của cái niềm vui và cái hạnh phúc này để tinh cần nắm lấy tâm mình mà tu học ngày đêm. Như vậy vị khất sĩ này trong bốn tư thế đi, đứng, nằm, ngồi, thực tập được pháp tịnh hoá trong suốt thời gian đi khất thực. Ta có thể gọi kinh này là Kinh Thanh Tịnh Khất Thực.”
Bụt đã nói kinh này xong. Tôn giả Xá Lợi Phất nghe lời Bụt dạy vui mừng đem ra thực tập theo những lời ấy.
Hoa Hương Phẩm Pháp Cú Kinh đệ thập nhị 華香品法句經第十二 Kinh Hoa Hương Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng Phẩm thứ 12
Phẩm này có 16 bài kệ. Có hoa lại còn có hương. Hoa mà không hương thì chưa phải là cái mà ta mong ước. Hương là hương đức hạnh, hương tuệ giác; gần người hiền, ta được thưởng thức và được thấm nhuần. Bài kệ thứ 8 và thứ 9 nhấn mạnh về điểm ấy.
Hoa cũng có hoa thật và hoa giả. Những tràng hoa giả là những tràng hoa cạm bẫy của dục lạc do ma vương hóa hiện để đánh lừa ta, như những con mồi hấp dẫn trong ấy có giấu một lưỡi câu. Hoa thật là những đóa hoa có hương thơm đức hạnh. Bài kệ thứ 4 và thứ 5 cho ta thấy tuy hình hài kia xinh đẹp như một bông hoa, nhưng nó vô thường như bọt nước, ta phải tìm cầu một cái gì có giá trị cao khiết hơn, đó là đóa hoa giác ngộ, đóa hoa giải thoát sinh tử.
Bài kệ thứ 7 nói về phong thái cần có của một vị xuất gia: Vị Sa Môn đi vào xóm làng để khất thực phải như một con ong đi thăm hoa, chỉ lấy chút vị ngọt của hoa mà không làm hại đến sắc hương của hoa, không nên la cà, lợi dụng, khai thác, vướng mắc. Bài kệ này đã được đưa vào Giới kinh để các vị xuất gia đọc tụng mỗi tháng hai lần.
Bài kệ thứ hai nói rằng ai trong chúng ta nếu hết lòng tu học thì cũng có khả năng tuyển chọn Pháp cú, giảng giải Pháp cú và hái được những đóa hoa đức hạnh. Ta không cần phải đợi đến khi chứng đắc mới làm được điều này. Một người đang tu học (sekha, hữu học) nếu có tâm tu học là đã có khả năng làm việc này, chứ không phải chỉ khi tu học thành công và chứng đắc rồi (asekha, vô học) mới có thể làm được. Hai bài kệ 15 và 16 khuyên ta nên tu học tinh chuyên để trở thành những đóa sen tinh khiết hiến tặng cái đẹp và hương thơm đức hạnh cho cuộc đời đầy dẫy khổ đau hệ lụy. Sự có mặt của những người Phật tử chân chính trong cuộc đời là sự có mặt của hoa sen giữa chốn bùn lầy nước đọng. Đây chính là sứ mạng của người con Bụt.
Bài kệ 1
Thục năng trạch địa 孰 能 擇 地
Xả giám thủ thiên 捨 鑑 取 天
Thùy thuyết pháp cú 誰 說 法 句
Như trạch thiện hoa 如 擇 善 華
Ai là người tuyển chọn được các cõi, bỏ các vùng địa ngục mà chỉ giữ lại các tầng trời? Ai là người có thể tuyển chọn được Pháp Cú như một kẻ chuyên nghiệp có tài chọn hoa và kết thành tràng hoa?
Ai chọn các cõi
Bỏ các địa ngục
Giữ lại tầng trời
Tuyển chọn Pháp cú
Như kẻ chọn hoa
Kết thành tràng hoa.
Bài kệ 2
Học giả trạch địa學 者 擇 地
Xả giám thủ thiên 捨 鑑 取 天
Thiện thuyết pháp cú 善 說 法 句
Năng thái đức hoa能 採 德 華
Một người đang thực tập tu học có thể hiểu thấu được các cõi, chọn lựa, giám sát được cả các tầng trời, có thể nói Pháp Cú, có thể hái được những đóa hoa đức hạnh.
Người đang thực tập
Hiểu thấu các cõi
Chọn các tầng trời
Khéo giảng Pháp cú
Hái hoa đức hạnh.
Bài kệ 3
Tri thế khôi dụ 知 世 坏 喻
Huyễn pháp hốt hữu幻 法 忽 有
Đoạn ma hoa phu 斷 魔 華 敷
Bất đổ sanh tử不 覩 生 死
Biết rằng cuộc đời cũng như đồ gốm chưa nung và các pháp đều như huyễn không thật có, thì có thể phá tan được tràng hoa mà ma vương đã phô diễn ra và chấm dứt được sinh tử.
Biết đời gốm mềm
Các pháp như huyễn
Phá được hoa ma
Chấm dứt sinh tử.
Bài kệ 4
Kiến thân như mạt 見 身 如 沫
Huyễn pháp tự nhiên幻 法 自 然
Đoạn ma hoa phu斷 魔 華 敷
Bất đổ sanh tử不 覩 生 死
Thấy hình hài này như bọt nước, thấy thực chất các pháp là huyễn hóa thì có thể phá tan được tràng hoa của ma vương đã phô bày và chấm dứt được sinh tử.
Thấy thân bọt nước
Các pháp như huyễn
Phá được hoa ma
Chấm dứt sinh tử.
Bài kệ 5
Thân bệnh tắc nuy身 病 則 萎
Nhược hoa linh lạc 若 華 零 落
Sanh mạng lai chí死 命 來 至
Như thủy thoan sậu 如 水 湍 驟
Thân mà bị bệnh thì héo úa cũng giống như bông hoa rơi rụng. Cái chết đến như một cơn lũ kéo phăng tất cả đi rất nhanh.
Thân bệnh héo úa
Như hoa rơi rụng
Tử thần như lũ
Kéo nhanh tất cả.
Bài kệ 6
Tham dục vô yểm貪 欲 無 厭
Tiêu tán nhân niệm消 散 人 念
Tà trí chi tài 邪 致 之 財
Vi tự xâm khi為 自 侵 欺
Cứ để tham dục lôi cuốn, không biết nhàm chán thì tâm ý con người sẽ bị tán loạn, đưa đến bao nhiêu tà niệm để cho tự thân mình bị lừa gạt và xâm chiếm.
Tham dục lôi cuốn
Không biết nhàm chán
Tâm ý tán loạn
Tà niệm xâm chiếm
Tự thân bị lừa.
Bài kệ 7
Như phong tập hoa如 蜂 集 華
Bất nhiêu sắc hương 不 嬈 色 香
Đản thủ muội khứ 但 取 昧 去
Nhân nhập tụ nhiên仁 入 聚 然
Bất vụ quan bỉ 不 務 觀 彼
Tác dữ bất tác作 與 不 作
Thường tự tỉnh thân 常 自 省 身
Tri chánh bất chánh 知 正 不 正
Như những con ong đi thăm hoa, không làm nhiễu hại đến sắc hương của bông hoa, chỉ lấy chút vị ngọt của nhị hoa. Vị khất sĩ nhân từ vào xóm làng cũng thế, không mãi nhìn kẻ khác, biết cái gì cần làm và cái gì không cần làm, biết tự tỉnh, biết cái gì là chính, cái gì là bất chính.
Như ong kiếm hoa
Không hại sắc hương
Chỉ lấy vị ngọt
Khất sĩ vào làng
Không mãi nhìn người
Biết gì cần làm
Biết thân tỉnh thức
Biết chính, bất chính.
Bài kệ 8
Như khả ý hoa 如 可 意 華
Sắc hảo vô hương 色 好 無 香
Công ngữ như thị 工 語 如 是
Bất hành vô đắc 不 行 無 得
Như một đóa hoa ưng ý, có sắc mà không hương, nói lý thuyết suông cũng như thế, không thực tập thì làm gì có chứng đắc?
Như hoa vừa ý
Có sắc không hương
Người lý thuyết suông
Không làm sao chứng.
Bài kệ 9
Như khả ý hoa 如 可 意 華
Sắc mỹ thả hương色 美 且 香
Công ngữ hữu hành工 語 有 行
Tất đắc kỳ phước 必 得 其 福
Như một đóa hoa ưng ý, có sắc đẹp mà cũng có hương thơm, có nói có làm thì chắc chắn sẽ đạt được phước đức.
Như hoa vừa ý
Có sắc thêm hương
Có nói có làm
Đạt được phước đức.
Bài kệ 10
Đa tác bảo hoa多 作 寶 花
Kết bộ diêu ỷ 結 步 搖 綺
Quảng tích đức giả廣 積 德 者
Sở sanh chuyển hảo所 生 轉 好
Biết trồng nhiều loại hoa quý kết thành những tràng hoa đẹp, những ai biết chất chứa phước đức, sẽ chuyển sinh được trong những đời sống tốt đẹp.
Trồng nhiều hoa quý
Kết tràng hoa đẹp
Ai chất phước đức
Hưởng đời tốt đẹp.
Bài kệ 11
Kỳ thảo phương hoa奇 草 芳 花
Bất nghịch phong huân 不 逆 風 熏
Cận đạo phu khai近 道 敷 開
Đức nhân bức hương 德 人 逼 香
Những kỳ hoa dị thảo thơm tho, khi đứng không ngược chiều gió thì mình được hưởng hương thơm, gần gũi với các bậc có đạo đức, thì ta được hưởng lây hương thơm đức hạnh của các vị ấy.
Kỳ hoa thơm tho
Đứng không ngược gió
Mình hưởng hương thơm
Gần vị đạo đức
Hưởng lây đức hạnh.
Bài kệ 12
Chiên đàn đa hương旃 檀 多 香
Thanh liên phương hoa青 蓮 芳 花
Tuy nhựt thị chân 雖 曰 是 真
Bất như giới hương不 如 戒 香
Hương thơm chiên đàn, hương thơm sen xanh, tuy là có thật cũng chẳng sánh được với hương thơm giới hạnh.
Hương thơm chiên đàn
Hương thơm sen xanh
Tuy là có thật
Sao bằng hương hạnh.
Bài kệ 13
Hoa hương khí vi 華 香 氣 微
Bất khả vị chân 不 可 謂 真
Trì giới chi hương持 戒 之 香
Đáo thiên thù thắng到 天 殊 勝
Hương thơm của hoa tuy là vi diệu, nhưng chưa chân thật bằng hương thơm của giới hạnh.
Mùi thơm của hoa
Tuy là vi diệu
Nhưng chưa chân thật
Bằng hương giới hạnh.
Bài kệ 14
Giới cụ thành tựu 戒 具 成 就
Hành vô phóng dật 行 無 放 逸
Định ý độ thoát 定 意 度 脫
Trường ly ma đạo 長 離 魔 道
Thành tựu giới hạnh một cách đầy đủ, tu tập không buông lung, tâm ý để hết vào thiền định thì có thể độ thoát được bản thân và viễn ly được ma đạo.
Giữ giới đầy đủ
Giữ không buông lung
Tâm ý chánh định
Độ thoát bản thân
Xa rời ma đạo.
Bài kệ 15
Như tác điền câu如 作 田 溝
Cận vu đại đạo近 于 大 道
Trung sanh liên hoa中 生 蓮 華
Hương khiết khả ý香 潔 可 意
Như ngồi bên một cái hố gần sát đại lộ, trong ấy mọc lên mấy đóa sen xinh đẹp, ta được mãn ý thưởng thức hương thơm tinh khiết của các đóa sen.
Gần hồ bên đường
Mấy đóa sen xinh
Tha hồ thưởng thức
Hương thơm tinh khiết.
Bài kệ 16
Hữu sanh tử nhiên有 生 死 然
Phàm phu xứ biên凡 夫 處 邊
Tuệ giả lạc xuất 慧 者 樂 出
Vi phật đệ tử 為 佛 弟 子
Ngay trong cõi sinh tử, giữa đám phàm phu có các bậc tuệ giác xuất hiện, tạo ra được niềm vui cho sự sống. Làm được như thế là xứng đáng với danh hiệu Phật tử.