Các anh đứng dậy

con của tôi nằm

trong nôi

thiên thần bé nhỏ

đt nước nằm trong cơn bão tố

con tôi nằm

trong cơn bão tố.

tôi muốn làm sao

đem thân yếu nhỏ

che chở con tôi

nhưng đất nước chuyển rung

và chiếc nôi con tôi

anh ơi

chị ơi

đã biết bao đêm

thao thức lòng đời

hôm qua và hôm nay

trên dưới ngút rừng khói lửa

bom đạn rung trời tiếng nổ

các anh đứng lên

vì thế hệ chúng nó

cho tôi góp phần công quả

các anh đứng dậy các anh ơi

Bài này Thầy viết để tặng cho những người học trò của Thầy vừa trở thành những bà mẹ mới. Anh Chinh Ba có phổ nhạc bài này và tôi đã hát nhiều lần ở các buổi họp ở Pháp, Hòa Lan, Thụy Sĩ và Anh quốc.

Tươi son bền sắt

trăng sao vẫn đẹp đêm Rằm

bãi dương vẫn mướt, sóng tùng vẫn xao

lòng quê dù vẫn khát khao

hoa mai cứ nở đồi cao gọi mời

tháng Tư lá lục hoa cười

cho trăng thêm tuổi, cho đồi thêm xuân

vườn xanh cây mướp trổ bông

trẻ thơ đùa giỡn trước sân nắng đào

chợ Văn bán sách lầu cao

muối dưa đắp đổi hôm nào cũng vui

xót quê lòng có ngậm ngùi

tin quê dồn dập tới lui chẳng ngừng

ca xưa vắng tiếng chuông ngân

trẻ kia cha mẹ gửi thân tù đày

văn nhân nghệ sĩ bó tay

con thơ nheo nhóc chẳng ai ngó ngàng

sóng xô nghiêng vịnh Thái Lan

bao nhiêu tuổi ngọc chìm làn nước sâu

 

tấm thương, lòng vẫn nguyện cầu

ni đau dường ấy, làm sao đỡ đần?

trước sau xin chớ ngại ngùng

nhng bàn tay ấy tình thâm vẫn tròn

giữ cho bền sắt tươi son

giữ cho tâm lặng giữa cơn ba đào

còn đây nắng gọi đồi cao

còn đây những gốc anh đào trước sân

còn đây trăng đẹp đêm Rằm

còn đây dương mướt sóng tùng năm xưa.

Thầy rất ưa trẻ con. Tại Phương Vân Am, có nhiều anh chị đem trẻ con về. Có đứa ở lại nhiều tuần, trong số đó bé Long, bé Thủy và bé Minh Tâm được ở lại nhiều nhất. Thầy dạy ca dao cho chúng, dạy chúng học và làm cả những bài hát cho chúng nữa. V ì vậy cho nên ta thấy có câu: “trẻ thơ đùa giỡn trước sân nắng đào”. Trong bài thơ Thầy cũng có nói đến việc làm sách nữa. Đó là câu:

chợ Văn bán sách lầu cao

muối dưa đắp đổi hôm nào cũng vui.

Từ 1975 trở đi Thầy không còn dạy học ở Paris nữa, cũng không đi dạy mỗi năm tại các Trường Amsterdam và Nijmegen như trước. Thầy về Phương Vân Am cuốc đất, trồng rau, ngồi thiền, viết văn và làm sách. Thầy đóng sách rất giỏi: ngoài các máy cắt tay, Thầy chỉ cần dùng những viên gạch réfractaire, một cái dũa, một cái bàn chải đánh răng và một cái bánh xe lăn mà có thể đóng sách đẹp và mau không thua gì những máy đóng sách ở thị trường. Tôi học mãi mà làm theo chưa được. Thầy đã dạy cho Vương Hồ, Quỳnh Hoa, Tuk, chú Hương, Triết, Vũ và Lễ, bây giờ người nào cũng biết đóng sách. Tại Phương Vân am chúng tôi cung cấp sách cho nhà Lá Bối ở Sceaux, và bán sách lầu cao ở đây có nghĩa là khỏi phải bước chân xuống đường phố mà vẫn có thể bán sách được. Bản quyền các sách của Thầy xuất bản ở châu Âu và châu Mỹ (khoảng mười bốn cuốn) cũng đủ cho sự mua gạo muối. Thì giờ còn lại, Thầy bảo chúng tôi dành cho cô nhi, cho người tị nạn và những gia đình có người đi học tập. Tôi nhận thấy sáu bảy năm gần đây, Thầy có khuynh hướng chuộng công việc tay chân hơn công việc trí óc. Thầy nói ta có thể thực tập thiền quán dễ dàng hơn khi làm công việc chân tay, miễn là khi công việc chân tay đó không cực nhọc quá như công việc khiêng vác những vật liệu quá nặng. Suy tư và viết văn thường hay làm người ta bị chìm đắm trong dòng tư tưởng, do đó việc quán niệm trở nên khó khăn hơn, nhất là đối với những người mới thực tập. Quét nhà, lau bàn, giặt áo, xếp sách, vào bìa sách, làm cỏ, chăm sóc các luống rau, tưới nước,… Là những việc làm rất thích hợp cho mình quán niệm. Cuốc đất hoặc xới đất, nếu ta làm thật thong thả, cũng có thể đi đôi dễ dàng với việc quán niệm. Thầy thường dạy là nên làm công việc chậm lại một tí để dễ thực tập quán niệm. Thật ra, mỗi khi ta quán niệm, nắm lấy hơi thở, thì tự nhiên động tác của ta nó chậm chạp trở lại và ta nắm được quyền tự chủ. Tôi nhận ra như vậy.

Nhiều lúc đang mải mê làm việc, chúng tôi nghe Thầy hỏi “Mọi người đang làm gì đó?”. Vậy là chúng tôi sực tỉnh giấc mơ “công việc”, vội nắm lấy hơi thở và thực tập thiền quán. Riêng tôi, mỗi lúc đang có quán niệm mà được hỏi như thế thì tôi rất lấy làm vui mừng với chính mình. Mấy người học trò ngoại quốc của Thầy đến làm việc chung như Pierre, Neige, Philippe, Sudarat, Krisana, Martine,… ai cũng đã từng bị hỏi như thế. Có lần nghe Thầy hỏi, Sudarat, người Thái, đã đứng thẳng dậy cười và thưa Thầy bằng tiếng Thái rằng cô “thâm ngàn mi xa ma thí” có nghĩa là cô vừa làm việc vừa quán niệm. “Xa ma thí” là tiếng Thái của chữ Samadhi (tam-ma-đề), có nghĩa là thiền quán. Ngày thứ Bảy nào chúng tôi cũng phải nghỉ việc hoàn toàn vì ngày đó là ngày quán niệm. Chúng tôi tắm giặt, dọn phòng, cắm hoa, làm tất cả những gì mình thích trong tinh thần quán niệm. Về Phương Vân chắc có lẽ có người ngạc nhiên khi thấy một đoàn người, có khi đông tới mười lăm người, cùng leo lên đồi và đi vào rừng chơi mà không ai nói với ai lời nào. Họ đi chầm chậm bên nhau. Đó là họ đang thở và thực tập quán niệm. Có một lần Thầy nói chuyện về phương pháp quán niệm khi sử dụng một cái máy in. Theo Thầy, cái máy in cũng như một con trâu, và mình có thể làm bạn với cái máy in, nhiều khi xóa bỏ được ranh giới giữa mình và máy in nữa, giống như cậu bé chăn trâu và con trâu trong mười bức mục ngưu đồ. Thầy nói: nhiều khi cái máy in cũng khó trị như một con trâu chứng.

Tôi yêu mến đạo Phật và quy y tại Bến Tre năm 1958. Tuy vậy từ đó đến năm 1964, tôi chỉ mới học Phật để biết giáo nghĩa và đi làm cách mạng xã hội theo tinh thần từ bi bình đẳng của Phật giáo chứ chưa nắm được những gì quý báu nhất của đạo Phật. Hồi đó tôi rất ưa đi giới thiệu cái đẹp của đạo Phật và rất sung sướng mỗi khi thuyết phục được một người quy y theo đạo mà mình say mê tôn thờ. Từ 1964 trở đi, tôi mới thật sự tập phép quán niệm do Thầy dạy và thấy cuộc sống biến đổi hẳn. Từ ngày ấy tôi mới biết quý từng giờ phút của sự sống và không để cho thì giờ trôi qua trong quên lãng nữa. Mắt tôi như được mở ra để thấy được nhiều hơn và sâu sắc hơn những nhiệm mầu của sự sống. Tôi không còn nhu yếu thuyết phục các bạn theo “đạo của mình” nữa, nhưng lạ thay, từ đó tôi lại có nhiều bạn quý mến tôi hơn. Nhờ có quán niệm mà chúng tôi có thêm được sự trầm tĩnh và thì giờ để cảm thông được tình cảnh của các em cô nhi bơ vơ, của các chị có chồng đi học tập với một đàn con nheo nhóc, không tìm được sở làm, của những người tị nạn tứ cố vô thân từng bị cướp bóc hãm hiếp.

Trong bài Tươi son bền sắt, Thầy bảo chúng tôi: điều quan trọng nhất là giữ cho tâm lặng giữa cơn ba đào. Muốn có thì giờ và phương tiện để lo cho những người cơ cực lận đận, mình phải sống thật đơn giản về phương diện vật chất mà thâm sâu về phương diện quán niệm. Chúng tôi đã chứng thực được điều ấy, và trong khi có cơ hội làm được một chút gì giúp cho đồng bào cơ cực, chúng tôi vẫn thường xuyên thấy được trăng đẹp đêm Rằm và cảnh dương mướt, sóng tùng của nội tâm.

Bát nhã

nắng là lá cây xanh

lá cây xanh là nắng

nắng chẳng khác lá xanh

lá xanh chẳng khác nắng

bao nhiêu hình sắc kia

cũng đều như vậy cả.

Bài này chắc là Thầy viết trong một khu rừng nào đó nhằm tiết mùa xuân khi lá còn non.

Lời nguyện cầu tìm đất sống

lênh đênh ngoài sóng gió

thuyền nhỏ giữa đại dương

quyết tâm tìm đất sống

đói lạnh bao ngày đường

cng tôi là bọt biển

trôi dạt giữa mênh mông

cng tôi là hạt bụi

trong không gian vô cùng

tiếng chúng tôi lạc mất

trong gió rít từng không

trên thuyền không nước uống

trên thuyền hết thức ăn

con chúng tôi kiệt sức

khóc rã và lịm dần

cng tôi khao khát Đất

nhưng chẳng được tới gần

mặc sức mà kêu cứu

u bè vẫn dửng dưng

bao nhiêu thuyền đã lật

vì sóng gió bất thần

bao nhiêu là mạng sống

đã chìm lòng đại dương

Ca Ki Tô có nghe

lời nguyện cầu rướm máu?

Pht Quan Âm có nghe

li kêu cứu không ngừng?

loài người ơi có nghe

tiếng gọi từ hố thẳm

đt liền ơi có biết

tâm sự này hay không?

 

xin loài người có mặt

xin đất liền dang tay!

cho chúng tôi tìm thấy

Hy Vọng trên đất này!

Bài này Thầy viết nhân danh người tị nạn bằng đường biển. Các đồng bào tị nạn đường biển trên các chiếc Leapdal và Roland đều có bài này cả bằng tiếng Việt lẫn tiếng Anh. Thầy dặn họ “Khi chiếc Koojara qua tới Úc thì xin đồng bào đọc bài kinh này và trao bản tiếng Anh cho giới báo chí có mặt”. Bản Anh văn Thầy cũng cho gửi đến các tổ chức tôn giáo và nhân bản ở khắp nơi trên thế giới. Bài này được một số tạp chí ngoại quốc và Việt ngữ đăng tải nhưng không đề tên tác giả có lẽ là vì họ không biết là của ai. Đây là bản Anh văn:

A Prayer for Land

lost in the tempests

out on the open seas

our small boats drift

we seek for land

during endless days and endless nights

we are the foam

floating on the vast ocean

we are the dust

wandering in endless space

our cries are lost

in the howling wind

without food, without water

our children lie exhausted

until they cry no more

we thirst for land

but are turned back from every shore

our distress signals rise and rise again

but the passing ships do not stop

how many boats have perished

how many families lie beneath the waves

Lord Jesus, do you hear the prayer of our flesh?

Lord Buddha, do you listen to our cries?

o fellow humans, do you hear our voice

from the abyss of death?

o solid shore

we long for you!

we pray for Mankind to be present today!

we pray for Land to stretch its arms to us!

we pray that Hope be given us

today, from this very Land!

Chúng ta hãy trả lời

một bông sen nở trên đại dương

bé sinh ra

giữa muôn trùng sóng nước.

giữa khuya này, đêm ba mươi tháng Giêng

hai trăm tám mươi mốt người trên thuyền lặng im

nghe sóng đêm cầu nguyện.

tám người thủy thủ

yên lặng cho thuyền hướng về phương Nam

nước uống đã cạn rồi

tàu chạy về gần cù lao Tiên An Môn

cầu cứu.

biển đêm

sóng vỗ mạn thuyền

trăng lặn lâu rồi

ánh sao soi đường cho bé vào đời

dưới kia nhấp nhô đầu sóng bạc.

một bà mẹ nằm trên boong tàu

chuẩn bị cho bé vào đời,

cả thuyền không có một phòng riêng:

người bác sĩ

cũng là giới lênh đênh bèo nước.

tiếng khóc chào đời của bé

bị át đi trong tiếng gió

người mẹ mỉm cười yếu ớt

bác sĩ đứng lên loan báo tin mừng

hai trăm tám mươi người vỗ tay.

vị thuyền trưởng hô to:

chúng ta đi về phương Nam

Dân số chúng ta trở thành hai trăm tám hai

xin mọi người cảm ơn trời Phật.

chiếc máy điện thoại nối liền

chuyển niềm vui lên lục địa

khuya nay trên đất liền có người hay tin

bé đã chào đời

bé Rolanda Nguyễn Thị

bé từ đâu tới nhỉ?

và bé đang đi về đâu?

tại sao lại chọn nơi ra đời giữa đại dương

trên chiếc thuyền lưu lạc?

bé không hỏi

nhưng chúng ta hãy trả lời

ai nỡ để bông sen nở nửa đêm

chìm sâu lòng đại dương

bạn ơi hãy trả lời cho chúng tôi

cng ta phải đem bé đi về hướng nào?

tôi cần bàn tay bạn.

Bài này Thầy viết hồi còn làm Giám đốc Chương trình Cứu trợ người tị nạn trên biển, văn phòng đặt tại Singapore, sau khi nghe tin em bé Nguyễn Thị Rolanda vừa sinh trên chiếc tàu cứu trợ Roland. Ba má em đặt tên em là Nguyễn Thị Roland để đánh dấu sự kiện em sinh trên chiếc tàu này, trên biển khơi, nhưng Thầy đã đề nghị chữa lại thành Rolanda cho cái tên bớt có tính cách “nam nhi” đi một chút. Hồi đó ngoài chiếc Roland, chương trình Máu Chảy Ruột Mềm của tổ chức Tôn giáo Thế giới và Hòa bình (World Conference on Religion and Peace) do Thầy điều hành còn có các chiếc Sài Gòn 200 do Allan Crandon làm thuyền trưởng và chiếc Leapdaal do Vương Hồ điều khiển nữa. Chiếc Roland do Mc Mahon làm thuyền trưởng. Chiếc này chở hai trăm tám mươi mốt người tị nạn. Chiếc Leapdal chở trên ba trăm người. Còn chiếc Saigon 200 rất nhỏ, chạy mau, dùng để khám phá sự có mặt của những thuyền tị nạn. Chương trình bắt đầu tháng Chạp năm 1976 sau khi hội nghị Tôn giáo Á châu và Hòa bình bế mạc tại Singapore ngày 30 tháng 11 năm 1976. Tuy Thầy làm giám đốc điều hành của chương trình, chức vụ giám đốc quản trị lại do Giáo sư Yoshiaki Iisaka đứng và thủ quỹ là các ông Willie Tay Kim San và Mahaver Singh. Tôi được hội nghị đánh điện mời làm phụ tá điều hành cho Thầy. Ngoài ra, trong Ủy ban còn có bác sĩ Choy Leng, có Nancy Chug, Mobi Quynh Hoa, Luc Fogarty, Diễm Trang, Bob Allan, Vương Hồ, Kirsten Roep và anh Mừng.

Hồi đó trên thế giới chưa mấy ai nghe nói đến thuyền nhân (boat people). Các tàu bè qua lại vịnh Xiêm La không dám vớt người tị nạn bởi vì không có bến nào chịu cho người tị nạn lên. Ghe đánh cá vớt người tị nạn thì bị phạt và bị tù. Tàu nào vớt người tị nạn sẽ không được phép cập bến dỡ hàng, lấy dầu, lấy nước. Nếu tàu ấy cần ghé Singapore gấp để dỡ hàng, chủ tàu sẽ phải đóng tiền thế chân là mười ngàn Mỹ kim mỗi đầu người tị nạn. Tháng 12 năm 1976 có một tàu Nhật chở hàng hóa Yokohama – Singapore lỡ vớt 92 người tị nạn. Khi cần ghé Singapore ba ngày để bốc hàng, tòa Đại sứ Nhật đã phải đóng cho chính phủ Singapore một triệu Mỹ kim tiền thế chân, phòng khi dân tị nạn lên trốn vào xứ này, chính phủ Singapore sẽ có sẵn tiền bồi thường. Những người đã vào được trại tị nạn là những người đã khôn ngoan đục chìm thuyền của họ trước khi nhà chức trách địa phương bắt được họ. Các trại tị nạn hồi đó cực khổ hơn bây giờ nhiều. Chỗ cư trú có rắn rít rất nhiều; thực phẩm và thuốc men thiếu thốn; lính địa phương đánh đập và thỉnh thoảng cũng có hãm hiếp phụ nữ tị nạn mà không ai dám làm gì cả. Có trại đêm nào cũng phải cung cấp đàn bà cho cảnh sát địa phương, nếu không thì cả trại bị đối xử tàn tệ. Chúng tôi đã phái người đi điều tra về tất cả các trại hồi đó tại các nước Nam Dương, Mã Lai Á và Thái Lan. Có nhiều thuyền tị nạn chỉ được phép neo tại gần trại mà người không được lên bờ. Họ đợi đêm về để bơi lên, vào bờ, bán bớt vật dụng để mua thực phẩm. Hồi đó hải tặc chưa có, hoặc nếu có thì ít lắm.

Đại diện Cao ủy Tị nạn hồi đó làm việc lơ lửng lắm, chớ không như bây giờ. Chiếc Sài Gòn 200 khám phá ra được hai mươi người tị nạn trên đảo Pulau Tioman. Những người này tới đây hơn một tháng rồi mà Cao ủy Tị nạn chưa bao giờ tới thăm họ hoặc gửi cho họ một hạt gạo nào cả. Sau này họ được chiếc Roland đón. Ông Samtap Kumar đại diện Cao ủy Tị nạn bắt lỗi tại sao rước người tị nạn của Liên hợp quốc bảo trợ. Thầy mỉm cười nói “Các ông chưa từng tới thăm họ, cũng chưa từng đem thực phẩm tới cho họ, vậy ông bảo trợ nỗi gì?”. Ông Kumar đáp: “Chúng tôi có tên tuổi họ trong hồ sơ do Hồng thập tự Mã Lai cho”. Thầy nói: “Nếu ông có tên của tất cả các vì sao trên trời, thì ông là chủ sở hữu của tất cả các vì sao ấy sao?”

Ông Kumar chống đối chương trình Máu Chảy Ruột Mềm vì chương trình vạch rõ cho báo chí thấy sự làm việc bê bối của tổ chức ông. Chủ đích của thầy Nhất Hạnh là gây một tiếng vang lớn trên quốc tế về thảm trạng của người tị nạn đường biển, và do đó phương pháp của Thầy rất táo bạo: cho chở chừng vài ngàn thuyền nhân tị nạn đến Úc và đến đảo Guam, địa phận Hoa Kỳ, để đặt các nước Úc và Mỹ vào thế phải chấp nhận người tị nạn và để kích thích báo chí nói nhiều về số phận người tị nạn. Chương trình này táo bạo lắm và phải được thực hành một cách nghiêm mật. Theo chương trình, người tị nạn được ba chiếc Sài Gòn 200, Roland và Leapdal vớt lên sẽ được đón về chiếc Koojara cặp bến Perth thì mới cho báo chí quốc tế biết. Ai ngờ các văn phòng tại Tokyo và New York của tổ chức World Conference on Religion and Peace không chịu giữ bí mật chương trình này và đem cho báo chí biết trước. Ông Kumar và các tòa Đại sứ Úc và Mỹ tại Singapore bèn họp nhau lại để chống. Họ gây áp lực với Homer Jack, tổng thư ký của tổ chức Tôn giáo hòa bình. Ông Jack nghe theo lời của Kumar yêu cầu thầy Nhất Hạnh hủy bỏ chuyện chở người đi Úc và đi Mỹ và nếu cần thì trao trách nhiệm điều hành chương trình cho ông Jack. Nhưng toàn ban điều hành nhất định không chịu. Cuối cùng ông Jack và ông Samp-tap Kumar của Liên hợp quốc đã khéo léo vận động để chính quyền Singapore trục xuất Thầy ra khỏi xứ này. Một đêm lúc hai giờ khuya, cảnh sát Singapore tới văn phòng, tịch thu thông hành của Thầy và ra lệnh buộc Thầy phải rời khỏi Singapore trong vòng ba mươi sáu giờ. Họ báo ngày mốt tới phi trường, họ sẽ trao thông hành lại trước khi lên máy bay. Sau đó, nhờ ông Jacques Gasseau, đại sứ Pháp tại Singapore hết lòng can thiệp, họ mới nhượng bộ để Thầy ở thêm mười ngày. Thời gian ấy chỉ đủ để sắp xếp công việc để cho tôi thay Thầy điều hành trọn Ban Điều hành. Hôm rời Singapore, Thầy rất buồn nhưng vẫn còn yên tâm vì nghĩ tôi cũng tạm quen việc và có thể thay Thầy quán xuyến mọi thứ. Nhưng không ngờ, Thầy vừa lên phi cơ thì đến phiên tôi bị chính quyền Singapore yêu cầu rời khỏi nước này trong vòng ba ngày sau đó. Tôi đành phải trao quyền điều hành cho ông Jack. Ông này quả quyết là sở dĩ ông muốn giữ quyền điều hành chương trình là vì Liên hợp quốc hứa sẽ cấp chiếu khán cho tất cả gần sáu trăm người tị nạn trên hai chiếc tàu bay đi định cư trong vòng ba tuần lễ, khỏi phải đi bằng chiếc Koojara sang tận Úc cho vất vả! Giải thích cách nào, ông Jack cũng không tin đó là những lời hứa láo. Hoặc giả có biết trước là lời hứa láo ông cũng giả đò tin để có cơ đoạt quyền điều hành chương trình và làm vừa lòng Liên hợp quốc và hai tòa Đại sứ Úc và Hoa Kỳ.

Hôm tôi bị bắt buộc rời khỏi Singapore, quả thực như giây phút tôi sắp đắm tàu. Có lẽ tôi sẽ sung sướng nếu được ở luôn trên một trong hai chiếc tàu ấy để chia sẻ gian nguy với đồng bào nằm bềnh bồng trên biển mà tương lai không biết đi về đâu. Sau khi tôi bị buộc rời Singapore, bác sĩ Choy Leng, người nước này, mà cũng bị bắt buộc rời chiếc tàu Leapdal. Mobi và Vương Hồ điều khiển chiếc Leapdal cũng bị trục xuất trong vòng hai tuần sau. Chúng tôi đi rồi, ông Jack chỉ xin được chiếu khán cho 24 người đi Pháp, 6 người đi Áo, 3 người đi Tây Đức và 3 người đi Úc. Hơn 500 người bị giữ lênh đênh trên hai chiếc tàu gần bốn tháng mới được đưa vào trại và nằm chờ tại trại cả năm mới được đi định cư…

Sau đó về Paris, với sự hỗ trợ của hội International Boat People, trụ sở đặt tại Hòa Lan, Thầy tổ chức một chương trình cứu trợ nhỏ chỉ dùng một chiếc thuyền đánh cá Thái để ra biển, không mang biểu ngữ cứu trợ nhưng trên thuyền có đủ thực phẩm, nước ngọt, hải bàn, dầu và hải đồ để hướng dẫn ghe đồng bào đến gần các trại tị nạn hầu tránh việc bị đuổi xua. Chiếc thuyền này tên là Shantisuk. Chương trình đó tôi điều hành và anh Lục làm thuyền trưởng. Chúng tôi chỉ hoạt động được tám tháng. Sau đó vì hải tặc phát sinh nhiều quá, thấy nguy hiểm cho nhân viên cho nên Thầy ra lệnh chấm dứt chương trình.

Chương trình Máu Chảy Ruột Mềm không thành công ở chỗ chiếc Koojara không chở người tị nạn sang được tới Úc và tới Guam, nhưng đã gây khá nhiều chấn động trên quốc tế. Chương trình này được phát khởi bằng một bài thơ Thầy đọc ở hội nghị Tôn giáo Á châu và Hòa bình họp tại Singapore. Bài thơ này Thầy viết bằng Anh ngữ; sau khi nó được hội nghị chấp thuận, hãng thông tấn Agence France Presse đã đánh trọn nguyên văn bài thơ bằng Anh văn đi các nơi:

The Boat People

you stay up late tonight my brothers-this I know

because these boat people

on the high seas

never dare to go to sleep

I hear the cry of the winds

around me

total darkness

yesterday they threw the dead bodies

of their babies and children

in the water.

their tears once again fill up

the ocean of suffering.

in what direction are their boats drifting

at this moment?

you stay up very late tonight, brothers

because these boat people

on the high seas

are not certain at all that mankind exists

because their loneliness

is just immense.

the darkness has become one with the ocean

and the ocean, an immense desert

you stay up all night, brothers

and the whole universe

clings to your being awake.

Có điều buồn cười là AFP lại ghi rằng tác giả bài thơ là ông Isaka, người mà được Thầy trao cho bài thơ trước tiên.

Bé Rolanda năm nay (1979) đã hơn ba tuổi, không biết đã được định cư nước nào. Tôi có gặp ba má bé ở trên chiếc Roland, có trao tận tay anh chị bài thơ của Thầy và có chụp hình chung với bé và mẹ bé. Tấm hình đó tôi còn giữ. Bài Chúng ta hãy trả lời cũng viết bằng tiếng Anh để gửi cho các tổ chức từng ủng hộ chương trình Máu chảy ruột mềm. Bản tiếng Anh như sau:

a lotus just bloomed on the ocean

a baby is born

on the waves.

at mid-night of this January the 30th

two hundred and eighty one people onboard

(their eyes on the ocean)

silently prayed.

an eight member crew

directed the Roland towards the south

the water supplies are out

and the boat is heading to tioman island

hoping to refill the tank.

 

the tapping of the waves on the sides

punctuated their prayers

the moon had already disappeared

only the light of the stars

shone the way for you to come to life, little one.

down there, the waves were shaking their silvery heads.

the mother, lying on the bare deck,

did not have a private room

to welcome her new born

and the doctor

is also one of the wandering people on boats.

the cries of the baby entering life

were swept away by the winds.

the mother smiled faintly

and the doctor stood up to address the people

announcing the news that was good.

281 people clapped their hands,

the captain announced aloud:

“we are heading south.

our population is now 282

let us address our thanks to Buddha, to God”

the small radio linked the ship with the shore

and transmitted the good news to the continent

the human race is still there

tonight, on the solid land, they learned of the

coming into life

of Rolanda Nguyen Thi

where do you come from, little one,

and where are you heading to?

why did you choose to come to life

on this wandering boat?

she does not ask the questions

but we have to give the answers

who has the heart of letting the tiny lotus flower

blooming at mid-night on the waves

to perish in the depth of the ocean?

brother

sister

tell me

where should we bring her to

we need you to help.

Chỗ đứng

quê hương tôi là đây

chỉ có dòng sông, hàng cau, bụi tre, vườn chuối

mặt trái đất dù mang đầy cát bụi

nhưng trăng sao vẫn đẹp những đêm Rằm.

Bài này đã được Thầy phổ nhạc.

Giao cảm

lặng lẽ chiên đàn nhả khói thơm

đỉnh trần xông ngát ý thiền môn

lung linh nến ngọc, ngời sao điểm,

thanh tịnh, trần gian sạch tủi hờn

nhè nhẹ xuân về, lòng đất chuyển

nhạc trời thanh thoát rộn muôn phương

tâm linh một thoáng bừng giao cảm

lặng hết bao nhiêu lớp sóng cồn

trời đất hân hoan mừng nắng dậy

một đàn em nhỏ rộn yêu thương

quần điều áo lục theo chân mẹ

hái lộc mùa xuân chật nẻo đường.

Bài này chắc là một bài khai bút giao thừa Tết Bính Thân. Nó được đăng lần đầu ở báo Pht go Vit Nam số Tết Đinh Dậu (1956).

Đề Thiền Duyệt thất

gối nhẹ mây đầu núi

nghe gió thoảng hương trà

thiền duyệt tâm bất động

rừng cây dâng hương hoa

một sáng ta thức dậy

sương lam phủ mái nhà

hồn nhiên cười tiễn biệt

chim chóc vang lời ca

đời đi về muôn lối

quan san mộng hải hà

chút lửa hồng bếp cũ

ấm áp bóng chiều sa

đời vô thường vô ngã

người khẩu Phật tâm xà

niềm tin còn gửi gắm

ta vui lòng đi xa

thế sự như đại mộng

quên tuế nguyệt ta đà

tan biến dòng sinh tử:

duy còn Ngươi với Ta.

Thiền Duyệt Thất là thảo am của thầy Thanh Từ xây cất trên đất Phương Bối Am cách nhà Thượng không xa. Tháng 9 năm 1961, trước khi đi xa, Thầy đã để lại bài thơ này tại Thiền Duyệt Thất cho thầy Thanh Từ. Theo Nẻo về của Ý, tên Thiền Duyệt Thất là tên Thầy đề nghị đặt cho thảo am nơi thầy Thanh Từ tọa thiền và thầy Thanh Từ rất ưa tên ấy.

Sáu chiếc chèo tay

thuyền đi từ bến sông lầm lạc

gió cuốn mang xa một cánh buồm

sáu chiếc chèo tay khua nước bạc

đi từ mấy nước gọi hoàng hôn

 

mưa rơi từng hạt trên mui vắng

như tiếng than van của mọi trời

sóng nở thành hoa trên mặt nước

sắc hoàng hôn, tím, ngã chơi vơi

u chiếc chèo tay mang nhịp sống

đưa thuyền tách khỏi bến mê mờ

qua ngàn lớp sóng trần xô đẩy

hướng thẳng về nơi bản thể xưa

đây rồi: tràn lan trên đất yêu

ngàn bông hoa lạ nở trong chiều

hương thơm lúa chín say mùi rạ

sắc thắm mây hồng quyện tiếng tiêu

thuyền đến bến sông: ngừng nhịp nước

quay nhìn bến cũ lúc ra đi

thì đâu? Nơi cõi xa xăm ấy

là cả mênh mông chẳng thấy gì!

đã xa ngun ngút bờ mê vọng

sóng gió trần gian cũng lặng rồi

phương xa ngây ngất trời hương khói

bến bờ giải thoát hiện ngàn nơi.

Theo Chắp tay nguyện cầu, bài này được viết từ năm 1950. Anh Tam Ích, trong cuốn Lời văn, ý văn của anh (Lá Bối, 1967) có đề cập tới bài này. Anh rất ưa câu:

“sắc hoàng hôn, tím, ngã chơi vơi”.

Tôi sẽ xin rằng tất cả

nếu hỏi rằng “người muốn bao nhiêu”

tôi sẽ xin rằng “tất cả”

i tham lam hơn ngày xưa, tham lam tột độ,

cả ngài, cả tôi

cả người thiên hạ

xuôi về, sáng hôm nay, trong duy nhất nhiệm mầu.

ôi những mảnh rời nhau, khổ đau.

tách rời ngoài đại thế!

đã từ lâu, ngàn vạn đời,

cng tôi tự tìm, sờ soạng, trong ngục tù giả trá an vui

sáng hôm nay em tôi trở về quỳ dưới Phật đài

mắt đầm đìa lệ,

ôi những linh hồn đi tìm bến đỗ

(hình bóng của tôi xưa

phiêu lưu ngàn năm, một hôm sầu khổ,

khao khát bến bờ)

hãy để yên cho em quỳ lâu trên điện Phật

cho lệ em thầm lặng chảy

cho lệ em mặc sức tràn trề

y để yên cho quỳ lâu thêm nữa

đủ thì giờ cho lệ em khô ráo

bởi vì người ơi, một sáng mai kia,

tôi sẽ đến châm lửa vào túp lều nho nhỏ của em

ở ven đồi

p lều duy nhất còn lại của đời em

cho lửa cháy lên cao

cho tan hoang tất cả

cho chỗ nương tựa cuối cùng tan rã

ng như chiếc bè, trên đại dương, tan rã

để vỏ cứng hồn em, trong hỗn độn nhiệm mầu,

sẽ vỡ toang, tràn trề ánh sáng!

i sẽ gặp em, bên ánh lửa hồng cháy rực của túp lều

nước mắt sung sướng chan hòa

tôi nhìn em

và khi cầm tay em, tôi hỏi rằng: “em muốn bao nhiêu”

tt nhiên em sẽ cười và sẽ xin rằng “tất cả”.

Bài thơ này được in lần đầu trong tạp chí Phật giáo Việt Nam (số 13, rằm tháng 8 Đinh Dậu, 1956), cơ quan ngôn luận chính thức của Tổng hội Phật giáo Việt Nam do hòa thượng Huệ Quang làm chủ nhiệm và Thầy làm chủ bút. Trong Phật giáo Việt Nam (số 16 rằm tháng 11 Đinh Dậu, 1956) có một bài ký tên Thiều Chi đàm luận về bài thơ này. Xin mạn phép trích ra đây một đoạn:

“Chúng ta từ lúc sinh ra, ai nấy cũng đều mang theo một thứ trực giác sai lầm (nhà Phật gọi là tợ hiện tượng): đó là trực giác ngã chấp. Chúng ta tự tách riêng ra khỏi đại thể bao la, tự xem mình là một cá thể biệt lập, một cái Ta trường cửu bất biến. Thứ trực giác sai lầm ấy là nguyên nhân cho tất cả những tham vọng, ích kỷ và khổ đau. Đã có một cái Ta biệt lập (ngã) cố nhiên cũng phải có những vật sở thuộc của cái Ta ấy (phi ngã). Thế là đã có một ranh giới phân biệt cái này và cái kia, ta và người. Ta tham cầu, là tham cầu cho cái Ta nhỏ bé. Ta vui buồn, thương, ghét cũng là vì cái Ta nhỏ bé. Ta khổ đau cũng vì cái Ta nhỏ bé. Nếu nhận thức được (một cách thực nghiệm) rằng cái Ta nhỏ bé chỉ là giả ảnh, ta sẽ thể nhập vào cái Ta rộng lớn tức là cái đại thể.

nếu hỏi rằng “người muốn bao nhiêu”

tôi sẽ xin rằng “tất cả”.

Đó là lối diễn tả. Nếu không muốn “tất cả”, tức là đã muốn một phần. Mà muốn một phần, tức là còn chấp có Ta và những cái thuộc về Ta, nghĩa là còn phân biệt những ranh giới ảo vọng. “Xin rằng ‘tất cả’” có nghĩa là nhận thấy mối liên lạc mật thiết giữa mình và muôn loài, hơn nữa là nhận thấy vạn vật là những hiện tượng diệu dụng cùng chung bản thể nhiệm mầu:

tôi tham lam hơn ngày xưa, tham lam tột độ,

cả ngài, cả tôi, cả người thiên hạ,

núi sông, cây cỏ,

xuôi về sáng hôm nay, trong duy nhất nhiệm mầu.

“Tham lam” ở đây không còn có nghĩa là tham lam nữa. Bởi vì trong đại thể duy nhất làm gì còn có Ta và cái phụ thuộc vào Ta để mà tham lam. Cực độ của sự tham lam chính lại là sự chấm dứt của tham lam vậy. Tất cả đều là cái Ta rộng lớn thì ngoài ra còn có gì nữa mà để tham lam? Cái tiểu ngã đã về hợp nhất với đại ngã. Nếu chưa trở về thì vẫn còn là những mảnh riêng biệt, khổ đau:

ôi những mảnh rời nhau, khổ đau

tách ra ngoài đại thể!

đã từ lâu, ngàn vạn đời

chúng tôi tự tìm, sờ soạng, trong ngục tù giả trá an vui

Có phải cháu đã thắc mắc nhiều về những tiếng “ngục tù giả trá an vui” không? Cháu nên nhớ rằng chúng ta, bất cứ là ai, bao giờ cũng muốn có một chỗ nương tựa, về tinh thần cũng như về vật chất. Về tinh thần, chúng ta mong muốn có một tình yêu bền chặt, một uy thế, một cái danh. Nhưng tất cả đều phờ phỉnh, đều vô thường, đều phản bội ta. Chính chỗ nương tựa cuối cùng của bao nhiêu người sự nương tựa vào một đấng Tạo Hóa cũng lại là mong manh, dễ đổ. V ì sao? V ì tất cả đều được xây dựng trên tư dục, trên ước mong. Về vật chất, ta lại càng thấy rõ. Tiền tài, sắc đẹp, là những thứ không thể nương tựa. Tất cả đều là những vô thường, phờ phỉnh, dối gạt. Ta nương tựa trên nó (nghĩa là nương tựa ngay trên dục vọng của chính ta) thì có ngày ta sẽ khổ đau, vì tất cả những thứ mà ta dựa nương đó, dù là tinh thần hay vật chất, đều là những thứ phải có ngày tan vỡ.

Bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp, chúng ta đã đi tìm một chỗ nương tựa cho bản thân ta. Bao nhiêu lần chỗ nương tựa tan rã là bấy nhiêu lần ta khổ đau sầu hận. Chỉ vì một nguyên nhân duy nhất: đó là vọng chấp hữu ngã. Ta đã đi tìm toàn những chỗ nương tựa giả trá phờ phỉnh và tưởng rằng đó là những chỗ an vui của ta. Cứ như thế, ta loanh quanh luẩn quẩn mải với cuộc đời tư dục, không thoát ra ngoài được. Đó là một chốn ngục tù: ngục tù của dục giới. Lại cũng là ngục tù của bản ngã: cái vỏ cứng mà ta tự bọc mình vào chính là cái vỏ tự ngã ngăn cách ta với thế giới đại thể. Bao giờ ta thoát được vỏ cứng ấy, bao giờ ta không còn tìm những chỗ nương tựa an vui giả trá nữa, ta sẽ hòa mình vào với đại thể bao la.

sáng hôm nay, em tôi trở về quỳ dưới Phật đài

mắt đầm đìa lệ.

ôi một linh hồn đi tìm bến đỗ

(nhìn bóng của tôi xưa

phiêu lưu ngàn năm, một hôm sầu khổ,

khao khát bến bờ)

Hình ảnh của “người em” tức là hình ảnh của một con người đã bao nhiêu phen khổ đau vì cuộc thế vô thường. Đó là một con người, như muôn triệu con người khác, đã buồn đau sau bao nhiêu cuộc biến thiên, đã luống công tìm một nơi nương tựa lâu dài. Tất cả những nơi nương tựa căn cứ trên dục vọng mê lầm đều đã theo luật vô thường tan rã. Trong sự khổ đau vô biên của tâm hồn, con người chỉ biết quay về tìm sự an ủi vỗ về của tín ngưỡng. Hình bóng của một con người mắt đầm đìa lệ trở về quỳ dưới Phật đài, cũng là hình bóng của một chiếc thuyền rã rời đi tìm bến đỗ. Đó cũng có thể là hình bóng của chính chúng ta, và của tác giả ngày xưa:

hình bóng của tôi xưa

phiêu lưu ngàn năm, một hôm sầu khổ,

khao khát bến bờ!

Chúng ta hãy để yên cho người ta khóc! Nước mắt sẽ làm dịu bớt nỗi khổ trong lòng. Tín ngưỡng, tuy chưa phải là yếu tố tối hậu của giải thoát, nhưng là một thứ thuốc nhiệm mầu làm dịu bớt khổ đau:

y để yên cho em quỳ lâu rất lâu

trên Phật điện.

cho lệ em thầm lặng, cho lệ em mặtc sức tràn trề.

cứ để yên cho quỳ lâu thêm nữa

đủ thì giờ cho lệ em khô ráo.

Biết bao nhiêu người đã tìm được sự an tĩnh của tâm hồn trong tín ngưỡng. Nhưng dù sao, tín ngưỡng vẫn là một phương tiện. Ở những tôn giáo thần truyền, tín ngưỡng đóng vai trò giải phóng con người. Ở đạo Phật, tín ngưỡng chỉ là tín ngưỡng. Tín ngưỡng cần thiết cho mọi chúng ta, những con người yếu đuối. Tín ngưỡng để bớt khổ đau, để chữa lành những vết thương tâm hồn mà ta đã mang lấy từ muôn ngàn kiếp khổ. Nhưng một ngày kia ta sẽ lành mạnh. Và có thể ta lại nối kiếp phiêu lãng tử sinh.

Nếu đã nhận thức được cái khổ của cuộc sống bồng bềnh phiêu dạt, ta sẽ không còn muốn trở về với kiếp đau khổ luân hồi. Ta sẽ tìm đường giải thoát. Nhưng giải thoát không phải chỉ là tìm kiếm sự an tĩnh của tâm hồn trong tín ngưỡng. Không, nếu tín ngưỡng là một phương tiện thì mãi mãi nó vẫn là một phương tiện. Không thể để cho người ta an tâm trú ẩn trong túp lều phương tiện đó:

bởi vì, người ơi, một sáng mai kia

tôi sẽ đến châm lửa vào túp lều nho nhỏ của em

ở ven đồi

p lều duy nhất còn lại của đời em.

Đấy, bao nhiêu kiếp khổ đau, rốt cuộc người ta đã rời bỏ tất cả những nơi nương tựa phỉnh phờ; chỗ nương tựa cuối cùng chỉ là một túp lều tín ngưỡng. Nhưng không lẽ để người ta an trú mãi trong túp lều nghèo khổ và tiêu cực đó. Cuộc đời đại ngã, không khổ đau, không ước vọng. Thời gian ẩn náu trong túp lều tín ngưỡng đã giúp người lành mạnh. Người đã đủ sức trở về. Chỉ cần một biến động cuối cùng, một sự khai ngộ để đưa người về cuộc sống. Túp lều sáng nay đã cháy và chỗ nương tựa cuối cùng tan rã.

cho lửa cháy lên cao

cho tan hoang tất cả,

cho chỗ nương tựa cuối cùng tan rã,   

ng như chiếc bè trong đại dương tan rã.

để vỏ cứng của hồn em, trong hỗn độn nhiệm mầu

sẽ vỡ toang. Tràn trề ánh sáng.

Nếu cháu có đọc những sách thiền học, cháu sẽ thấy lối khai thị nhiệm mầu của các vị tổ sư khi truyền tâm ấn. Còn gì hoảng hốt cho bằng khi thấy chiếc bè chở mình tan rã giữa đại dương? Còn gì khổ đau bằng khi chỗ nương tựa cuối cùng của mình tan rã? Sự hỗn độn ấy gây nên một trạng thái khủng hoảng. Ở đây không phải là một sự khủng hoảng thất bại mà là một sự khủng hoảng trưởng thành, một sự khủng hoảng vỡ da (crise de croissance), một sự thoát hình. Sự hỗn độn ở đây, vì vậy, là một sự hỗn độn nhiệm mầu. Và chính trong sự ấy, vỏ cứng của bản ngã tan vỡ.

Dấu chấm sau chữ “toang” diễn tả sự đột biến một cách rõ rệt. Tiếp ngay đó là một kết quả rực rỡ tràn trề ánh sáng.

Bây giờ đây là một cảnh tượng đẹp đẽ, oai hùng và cảm động, cảnh tượng của thành công:

i sẽ đợi em, bên ánh lửa hồng cháy rực của túp lều,

nước mắt sung sướng chan hòa,

tôi nhìn em

Những con người vừa được cởi mở bỗng nhiên đẹp hẳn lên bên ánh lửa hồng rực rỡ của chiếc lều bừng cháy. Hình ảnh tàn tích của bao nhiêu kiếp sống vô minh như đang bị thiêu đốt tan tành theo túp lều tranh cùng với những mảnh vỏ vỡ toang của bản ngã. Nước mắt ở đây không còn là thứ nước mắt sầu đau. Cái nhìn ở đây không còn có lời gì mô tả. Còn nói năng gì được trong cảnh tượng hùng vĩ của giờ giải phóng. Cái nhìn ở đây cô đọng và mênh mang, chứa đầy những ý nghĩa mà ngàn vạn lời nói đi nữa cũng không thể nào diễn tả cho được:

nước mắt sung sướng chan hòa,

tôi nhìn em

Đến đây, ta trở về với ý tưởng đoạn đầu, ý tưởng của sự trực nhận đại ngã:

và khi cầm tay em, tôi hỏi rằng: “em muốn bao nhiêu”

tất nhiên em sẽ cười mà xin rằng “tất cả”.

Lẽ đương nhiên như thế; con người đã trở về với đại ngã, làm gì còn có ý tưởng phân biệt ra những biên giới mê mờ”.