Kệ phó pháp của sư tổ Hải Thiệu Cương Kỷ trao cho các vị đại sư được đắc pháp

II
Đây là những bài kệ phó pháp của sư tổ Hải Thiệu Cương Kỷ
trao cho các vị đại sư được đắc pháp với ngài

1. Trao cho đại sư Thanh Phúc,
pháp tự Chính Lương:

Kỷ niên cổ kính cửu mai trần
Kim nhật trùng ma khí tượng tân
Liễu ngộ phiến thời tâm tức pháp
Pháp cầu ký đắc yếu tinh cần

付法名清福字正良大師偈曰
幾年古鏡久埋塵, 今日重磨氣象新,
了悟片辰心即法, 法求既得要精勤.

2. Trao cho đại sư Thanh Quang,
pháp tự Tuệ Đăng:

Tuệ đăng chiếu triệt mãn hư không
Pháp lực cao đăng hướng thượng tôn
Chân tu nhật dạ thường tinh tiến
Tương thừa tục diệm vĩnh xương long

付清光字慧燈大師偈曰
慧燈炤徹滿虛空, 法力高登向上尊
真修日夜常精進, 相承續焰永昌隆.

3. Trao cho đại sư Thanh Mỹ
pháp tự Dụ Côn, pháp hiệu Tuệ Hương:

Thế thế lưu truyền đức dụ côn
Quang dương tổ ấn vĩnh trường tồn
Tăng tiến bồ đề vô thoái chuyển
Trấn tiếp hậu lai kế pháp môn

付清美字裕昆號慧香大師偈曰
世世流傳德裕昆, 光揚祖印永長存,
增進菩提無退轉, 振接後來繼法門.

4. Trao cho đại sư Thanh Đức,
pháp tự Tuệ Nghiêm:

Diệu pháp quảng vô biên
Chiêu chương vạn cổ truyền
Hà đảm chư Phật tổ
Kế thế vĩnh miên miên

付清德字慧嚴大師偈曰
妙法廣無邊, 昭彰萬古傳,
荷擔諸佛祖, 繼世永綿綿.

5. Trao cho đại sư Thanh Lợi,
pháp tự Hiền Lương:

Tầm chân đáo bảo sơn
Quân tu tử tế khan
Vạn phản quy không thủ
Lâm thời hậu hải nan

付清利字賢良大師偈曰
尋真到寶山, 君須仔細看,
萬返歸空手, 臨辰後海難.

6. Trao cho đại sư Thanh Xán,
pháp tự Tuệ Khánh:

Cổ cảnh cửu mai trần
Kim lai tượng vi tân
Tương ma ngân cấu tịnh
Hạo khiết quýnh thủy luân

付清燦字慧慶大師偈曰
古鏡久埋塵, 今來象為新,
將磨痕垢淨, 皓潔炯水輪.

7. Trao cho đại sư Thanh Hy,
pháp tự Nguyên Cát:
(trú trì Chùa Quốc Ân)

Vạn linh chỉ tại nhất tâm thành
Giải thoát trần căn pháp tánh không
Tảo giác mê vân lung hạo nguyệt
Tuệ phong xuy tán kiến quang minh

付清熙字元吉大師偈曰
(國恩寺住持)

萬靈只在一心誠, 解脫塵根法性空,
早覺迷雲籠皓月, 慧風吹散見光明.

8. Trao cho đại sư Thanh Chân,
pháp tự Viên Giác:

Sơn hoa chính phát sắc phương hưng
Dụng lực tài bồi nhật nhật tân
Tăng tiến bồ đề vô thoái chuyển
Xuân lai kết quả khí phương phân

付清真圓覺大師偈曰
山花正發色方興, 用力栽掊日日新,
增進菩提無退轉, 春來結果氣芳芬.

9. Trao cho đại sư Thanh Hợp,
pháp tự Tuệ Vân:

Xiển đạt thiền quan đại đạo hành
Cần tu tiến bộ thượng vân trình
Siêu nhiên vật ngoại hồn nhàn sự
Liễu đắc tâm không pháp diệc không

付清合字慧雲大師偈曰
闡達禪關大道行, 勤修進步上雲程,
超然物外渾閑事, 了得心空法亦空.

10. Trao cho đại sư Thanh Trường,
pháp tự Minh Chí:

Quang hưng tổ đạo chấn gia phong
Bộ bộ cao đăng hướng thượng thằng
Liễu ngộ tức tâm, tâm tức Phật
Tương thừa tục diệm vĩnh xương long

付清長銘誌大師偈曰
光興祖道振家風, 步步高登向上承,
了悟印心心印佛, 相承續焰永昌隆.

11. Trao cho đại sư Thanh Minh,
pháp tự Đức Nhuận:

Thanh minh trạm trạm tịch hư linh
Đạo pháp hà tằng hữu tượng hình
Tổ thọ tôn thừa truyền thế thế
Bồ đề lộ thượng bộ khinh khinh

付清明德潤大師偈曰
清明湛湛寂虛靈, 道法何曾有像形,
祖授孫承傳世世, 菩提路上步輕輕.

12. Trao cho đại sư Thanh Bạch,
pháp tự Châu Lâm:

Trang nghiêm học địa tịnh đồng băng
Tham cứu thiền cơ liễu thượng thằng
Kiên cố tín tâm vô dị biệt
Nhất đăng truyền điểm bách thiên đăng

付清白珠林大師偈曰
莊嚴覺地淨同冰, 參究禪機了上乘,
堅固信心無異別, 一燈傳點百千燈.

Bị chú: Bài này gần giống bài kệ của tổ Nhất Định trao cho tổ Hải Chiếu, cần khảo sát lại

13. Trao cho đại sư Thanh Tường,
pháp tự Tuệ Chiếu:

Pháp lực phá hồng trần
Quang minh khí tượng tân
Tục diệm truyền phú chúc
Chân thị báo Phật ân

付清祥慧炤大師偈曰
法力破紅塵, 光明氣象新,
續爓傳付囑, 真是報佛恩.

14. Trao cho đại sư Thanh Thái,
pháp tự Chính Sắc, pháp hiệu Huệ Minh

Chính sắc thể viên minh
Tâm pháp bổn tự nhiên
Hư không thu nhất điểm
Kế tổ vĩnh lưu truyền

付清泰字正色慧明大師偈曰
正色体圓明, 心法本自然,
虛空忮一點, 繼祖永留傳.

15. Trao cho đại sư Thanh Đăng,
pháp tự Tự Toản, hiệu Tuệ Đạt:

Tự toản vạn pháp thông
Tâm pháp như hư không
Quang minh Phật phú chúc
Truyền đăng phụng tổ tông

付清燈字緒纂慧達大師偈曰
(南山寺住持)

緒纂萬法通, 心法如虛空
光明佛付囑, 傳燈奉祖尊.

16. Trao cho đại sư Thanh Giáo,
pháp tự Từ Hàng, hiệu Tuệ Quang:

Từ hàng độ vô biên
Diệu dụng chiếu mãn thiên
Viên minh hồi quang chiếu
Kế tổ vĩnh lưu truyền

付清教字慈航慧光大師偈曰
慈航度無籩, 妙用炤滿天,
圓明回光炤, 繼祖永流傳.

17. Trao cho đại sư Thanh Kỳ,
pháp tự Duy Trì, hiệu Tuệ Khai:

Duy trì đạo lý toàn
Trùng ma khí tượng tân
Hà đảm chư Phật tổ
Kế thế vĩnh miên miên

付清淇字維持慧開大師偈曰
維持道理全, 重磨氣象新,
荷擔諸佛祖, 繼世永綿綿.

18. Trao cho đại sư Thanh Tâm,
pháp tự Duy Chân, hiệu Tuệ Lãng:

Duy chân mật ý thông
Chư pháp đức giai không
Phó nhữ an tâm pháp
Kế diệm điểm đăng tông (tôn)

付清心惟真慧朗大師偈曰
惟真密意通, 諸法德皆空,
付汝安心法, 繼焰點燈尊.

19. Trao cho đại sư Thanh Tú,
pháp tự Phong Nhiêu, pháp hiệu Tuệ Pháp:
(tăng cang Chùa Diệu Đế)

Phong nhiêu thọ pháp truyền
Nội ngoại bản tri nhiên
Phù trì chư Phật tổ
Kế thế vĩnh miên miên

付清秀字豊饒慧法大師偈曰 (妙帝寺僧綱)
豊饒授法傳, 內外本知然,
扶持諸佛祖, 繼世永綿綿.


20. Trao cho đại sư Thanh Đảm,
pháp tự Chân Chất, pháp hiệu Tuệ Nhật:

Chân chất pháp tính không
Tâm pháp bản lai đồng
Chân không giai thị Phật
Kế thế phụng tổ tông

付清膽字真質慧日大師偈曰
真質法性空, 心法本來同,
真空皆是佛, 繼世奉祖尊.


21. Trao cho đại sư Thanh Tánh,
pháp tự Lý Chiêm, pháp hiệu Tuệ Điểm:

Lý chiêm khí tượng tân
Tâm nguyệt chiếu bạch vân
Tục diệm truyền phú chúc
Minh đăng phụng tổ tông

付清性字理瞻慧點大師偈曰
理瞻氣象新, 心月炤白雲,
續焰傳付囑, 明燈奉祖尊.

22. Trao cho đại sư Thanh Bổn,
pháp tự Long Thi, pháp hiệu Tuệ Lăng:

Long thi tâm tự tại
Bổn tính tịch thường minh
Chân đăng kim phú nhữ
Hồi quang vạn pháp linh

付清本字隆詩慧崚大師偈曰
隆詩心自在, 本性寂常明,
真燈今付汝, 回光萬法靈.

23. Trao cho đại sư Thanh Lý,
pháp tự Chính Tâm, pháp hiệu Tuệ Nguyên:

Chính tâm pháp quang minh
Trần tảo cảnh trùng viên
Tục diệm truyền phú chúc
Như nguyệt ấn giang thiên

付清理字正心慧源大師偈曰
正心法光明, 塵掃境重圓
續焰傳付囑, 如月印江天.


24. Trao cho đại sư Thanh Nghiệm,
pháp tự Duy Cần, pháp hiệu Tuệ Lực:

Chúng sinh Phật tính cổ kim đồng
Phàm thánh đồng cư thế giới trung
Chỉ tại nhất tâm sinh vạn pháp
Duy nhân không pháp giả hà không?

付清驗字維勤慧力大師偈曰
眾生佛性古今仝, 凡聖同居世界中,
止在一心生萬法, 唯人空法者何空.


25. Trao cho đại sư Thanh Phúc,
pháp tự Vĩnh Gia, pháp hiệu Tuệ Khai:

Vĩnh gia cần giới pháp
Tảo tận trần lao tâm
Quang minh chiếu Phật tính
Diệu cổ cập đằng câm (kim)

付清福字永嘉慧開大師偈曰
永嘉勤戒法, 埽盡塵勞心,
光明炤佛性, 耀古及騰今.

26. Trao cho đại sư Thanh Phúc (?)
pháp tự Hưng Long, pháp hiệu Tuệ Thành:

Hữu tình lai hạ chủng
Xúc địa quả hoàn sinh
Đản yếu tài bồi lực
Chi diệp tự phu vinh

付清福字興隆慧誠大師偈曰
有情來下種, 觸地果還生,
但要栽培了, 枝葉自敷榮.

27. Trao cho đại sư Thanh Kiệm,
pháp tự Huy Tuân, pháp hiệu Tuệ Thông:

Thanh kiệm phá hồng trần
Huy tuân khí tượng tân
Pháp đăng kim phú nhữ
Thường nhiên báo Phật ân

付清儉輝詢慧通大師偈曰
倩儉破紅塵, 輝詢氣象新,
法燈今付汝, 常燃報佛恩.

28. Trao cho đại sư Thanh Trí,
pháp tự Hải Luận, pháp hiệu Tuệ Giác:

Tầm đắc chủ nhân ông
Thỉ tri bản lai đồng
Nhất chân giai thị Phật
Kế thế phụng tổ tông

付清智字海論慧覺大師偈曰 (靈姥寺僧綱)
尋得主人翁, 始知本來仝,
一真皆是佛, 繼世奉祖尊

29. Trao cho đại sư Thanh Bình,
pháp tự Chính Chất, pháp hiệu Tuệ Linh:

Căn trần tu đoạn tuyệt
Chính niệm bản như nhiên
Cần cầu kim phú nhữ
Kế thế vĩnh lưu truyền

付清平字正質慧靈大師偈曰
根塵鬚斷絕, 正念本如然,
勤求今付汝, 繼世永留傳.

30. Trao cho đại sư Thanh Nguyên,
pháp tự Phổ Hiệp, pháp hiệu Tuệ Sinh:

Kinh niên bạo lộ nhã phong trần
Thử nhật tẩy trừ cải hoán tân
Tăng tiến bồ đề vô thoái chuyển
An tường từ bộ thượng cao đăng

付清源字溥洽慧生大師偈曰
經年暴露若風塵, 此日洗除改換新,
增進菩提無退轉, 安詳徐步上高登.

Bị chú: Đệ tử quy y thọ ký của Tổ tổng số là 637 vị. Trong đó có 45 vị trong viện Cung Giám, đệ tử quy y 186 người, đệ tử xuất gia 45 vị, tín nữ quy y 338 vị, tín nữ thọ ký 63 vị, và đệ tử đắc pháp 30 vị.

Các bài kệ phú pháp truyền đăng của Tổ đình Từ Hiếu qua nhiều thế hệ

Tổ Sư Nhất Định, khai sơn Tổ đình Từ Hiếu, đã phú pháp cho mười lăm vị đệ tử xuất gia của Ngài. Vị Đại sư được phú pháp đầu tiên là Tổ Hải Chiếu, pháp tự là Đoan Trang. Trong bài kệ phú pháp này, Tổ Nhất Định có sử dụng danh từ truyền đăng. Câu thứ tư của bài kệ là “nhất đăng truyền chiếu bách thiên đăng” có nghĩa là một cây đèn truyền xuống sẽ trở thành trăm ngàn cây đèn. Vì vậy, phú pháp (trao gửi pháp) cũng là truyền đăng (trao truyền đèn). Và người nhận pháp được gọi là đắc pháp, hoặc người nối pháp (pháp tự).

Sau Tổ Nhất Định, các Tổ khác cũng sử dụng danh từ truyền đăng. Tổ Hải Thiệu trong bài kệ phú pháp trao cho Tổ Thanh Đăng cũng nói “truyền đăng phụng tổ tông” nghĩa là trao truyền ngọn đèn chánh pháp là để phụng sự tổ tiên và tông phái. Trong bài kệ phú pháp trao cho Tổ Thanh Tịnh cũng có câu “tục diệm truyền phú chúc, minh đăng phụng tổ tông” nghĩa là “ngọn lửa được trao gửi lại, làm cho cây đèn sáng lên mà phụng sự chư tổ và tông môn” . Trong bài kệ phú pháp trao cho Tổ Thanh Bản, cũng có câu “chân đăng kim phú nhữ, hồi quang vạn pháp linh”, nghĩa là “ngọn đèn chân lý bây giờ trao lại cho thầy, đem ánh sáng soi trở lại sẽ thấy vạn pháp đều linh ứng”. Tổ Hải Thiệu đã truyền đăng cho 30 vị. Tổ Tuệ Minh đã truyền đăng cho 11 vị, trong đó có Tổ Thanh Quý. Trong bài phú pháp mà Tổ Thanh Quý trao cho Thiền sư Nhất Hạnh cũng có câu “tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể, diệu pháp đông tây khả tự thành” có nghĩa là “nếu đem được ánh sáng của ngọn đèn tâm mà chiếu vào bản tính uyên nguyên, thì sự trao truyền giáo pháp mầu nhiệm sẽ được thành tựu ở cả đông phương và tây phương”.

Tại Mai Thôn Đạo Tràng, phó pháp truyền đăng là một, và để cho cụ thể, các vị giáo thọ đắc pháp đều được nhận một cây đèn trong lễ đắc pháp. Vì vậy ta đã quen nghe danh từ “truyền đăng đắc pháp”.

I

Đây là những bài kệ phú pháp của Sư tổ Tánh Thiên Nhất Định
trao cho các vị Đại sư được đắc pháp với Ngài

 

1. Trao cho Đại sư Hải Chiếu, pháp tự Đoan Trang:

Đoan trang học địa tịnh đồng băng
Tham cứu thiền cơ liễu thượng thằng
Kiên cố tín tâm vô dị biệt
Nhất đăng truyền chiếu bách thiên đăng.

Bản tiếng Việt do Thầy Làng Mai dịch:

Đoan trang giới hạnh sạch làu làu
Tham cứu thiền cơ thấy thật sâu
Niềm tin vững chãi không phân biệt
Đèn nay truyền lại vạn đèn sau.

Bản tiếng Hán:

付海炤字端莊偈曰
端莊學地淨同冰, 參究禪機了上乘,
堅固信心無異別, 一燈傳照百千燈.

2. Trao cho Đại sư Hải Trạch, pháp tự Thiều Hoa:

Thiều hoa chính phát sắc phương hưng
Dụng lực tài bồi nhật nhật tân
Tăng tiến bồ đề vô thoái chuyển
Xuân lai kết quả khí phương phân.

付海擇字韶華偈曰
韶華正發色方興, 用力栽培日日新,
增進菩提無退轉, 春來結果氣芳芬.

3. Trao cho Đại sư Hải Thuận, pháp tự Lương Duyên:
(Trú trì chùa Báo Quốc)

Lương duyên hội ngộ giới châm đầu
Đạo hợp tâm truyền xứng sở cầu
Phúc tuệ song tu vô gián đoạn
Quang dương tổ ấn vĩnh trường lưu.

付海順字良緣偈曰(報國寺住持)
良緣會遇芥針投, 道合心傳稱所求,
福慧雙修無間斷, 光揚祖印永長流.

4. Trao cho Đại sư Hải Phong, pháp tự Vĩnh Mậu:

Vĩnh mậu sum la vạn cổ hằng
Như như bản tính đoạn trần căn
Duy vân cựu các nhàn điền địa
Nhất độ dinh lai đạo nhật tăng.

付海豐字永茂偈曰
永茂森羅萬古恆, 如如本性斷塵根,
雖云舊閣閑田地, 一度營來道日增.

5. Trao cho Đại sư Hải Trường, pháp tự Pháp Lữ:

Pháp lữ đồng vi xứ xứ hoan
Vô tâm vật lũy tiện khinh an
Chân tu nhật dạ thường tinh tiến
Bảo sở cao đăng dã bất nan.

付海長字法侶偈曰 (聖緣寺住持)
法侶同為處處歡, 無心物累便輕安,
真修日夜常精進, 寶所高登也不難.

6. Trao cho Đại sư Hải Hồng, pháp tự Giác Mãn:

Giác mãn công viên đức hạnh toàn
Hứa đa trần sự khởi tương can?
Tâm không cập đệ chân thường lạc
Nhất đạo thần quang vạn cảnh nhàn

付海洪字覺滿偈曰
覺滿功圓德行全, 許多塵事豈相干,
心空及第真常樂, 一道神光萬境閑.

7. Trao cho Đại sư Hải Trạm, pháp tự Diên Miên:

Diên miên tổ đạo trấn gia phong
Bộ bộ cao đăng hướng thượng tông
Liễu ngộ tức tâm, tâm thị Phật
Tương thừa tục diệm vĩnh xương long

付海湛字延綿偈曰 (靈佑寺住持)
延綿祖道振家風, 步步高登向上尊,
了悟即心心是佛, 相承續燄永昌隆.

8. Trao cho Đại sư Hải Tuệ, pháp tự Phúc Ẩn: (Trú trì chùa Linh Hựu)

Phúc ẩn do như ngọc uẩn vi
Y trung hệ bảo kỷ thùy tri
Thân nhân chỉ thị thiêm điêu trác
Kế thế phong lưu dã bất khuy

付海慧字福隱偈曰 (靈佑寺住持)
福隱猶如玊蘊微, 衣中繫寶幾誰知,
親人指示添琱琢, 繼世風流也不虧.

9. Trao cho Đại sư Hải Hoạt, pháp tự Trừng Thanh:

Trừng thanh tính hải khí an nhiên
Xử thế tùy cơ liễu mục tiền
Đạo niệm tinh tu, tình niệm đoạn
Như kim phú pháp vĩnh lưu truyền

付海活字澄清偈曰
澄清性海氣安然, 處世隨機了目前,
道念精修情念斷, 如今付法永流傳.

10. Trao cho Đại sư Hải Hoa, pháp tự Phát Đạt:

Phát đạt thiền cơ đại đạo hành
Cần tu tiến bộ thượng vân trình
Siêu nhiên vật ngoại hồn nhàn tịnh
Liễu đắc tâm không pháp bất sinh

付海華字發達偈曰
發達禪關大道行, 勤修進步上雲程,
超然物外渾閑淨, 了得心空法不空(生).

11. Trao cho Đại sư Hải Ngộ, pháp tự Tâm Thành:

Vạn linh chỉ tại nhất tâm thành
Giải thoát trần căn pháp tánh sinh
Tảo giác mê vân lung hạo nguyệt
Tuệ phong xuy tán kiến quang minh

付海悟字心誠偈曰
萬靈只在一心誠, 解脫塵根法性生,
早覺迷雲籠皓月, 慧風吹散見光明.

12. Trao cho Đại sư Hải Nhu, pháp tự Tín Nhiệm:
(Tăng cang chùa Linh Mụ)

Tín nhiệm vô nghi pháp tự thành
Trần căn tịch tịnh thiện căn sinh
Hoa tâm khai phát phong tư mỵ
Xuy lãnh tai phong giải uẩn tình

付海儒字信任偈曰 (靈姥寺僧綱)
信任無疑法自成, 塵根寂淨善根生,
花心開發丰姿媚, 吹領在風解慍情.

13. Trao cho Đại sư Hải Bạch, pháp tự Thanh Huyền:

Thanh huyền trạm trạm tịch hư linh
Đạo pháp hà tằng hữu tượng hình
Tổ thọ tôn thừa truyền thế thế
Bồ đề lộ thượng bộ khinh khinh

付海白字清玄偈曰
清玄湛湛寂虛靈, 道法何曾有像形,
祖授孫承傳世世, 菩提路上步輕輕.

14. Trao cho Đại sư Hải Nguyệt, pháp tự Trí Viên:

Trí viên nguyệt mãn lưỡng đồng viên
Yên tán vân phi nhất sắc thiên
Phật pháp bất ly ư thế pháp
Hòa quang vô nhiễm tính vi nhiên

付海月字智圓偈曰
智圓月滿兩同圓, 煙散雲飛一色天,
佛法不離於世法, 和光無染性為然.

15. Trao cho Đại sư Hải Thiệu, pháp tự Cương Kỷ:
(Trú trì chùa Từ Hiếu)

Cương kỷ kinh quyền bất chấp phương
Tùy cơ ứng dụng thiện tư lương
Triêu triêu tương thức nan tầm tích
Nhật nhật xuyên y nghiết phạn thường

Bản tiếng Việt do Thầy Làng Mai dịch:

Cương kỷ biết thời không cố chấp
Cơ duyên ứng dụng khéo tư lường
Sáng sáng tìm nhau không dấu vết
Mặc áo ăn cơm giữ chuyện thường.

Bản tiếng Hán:

付海紹字綱紀偈曰 (慈孝寺住持)
綱紀經權不執方, 隨機應用善思量,
朝朝相識難尋跡, 日日穿衣契飯常.

 

Bị chú:
Sư tổ Nhất Định có 41 vị đệ tử xuất gia, vị thứ hai pháp danh Hải Đức, pháp tự Trinh Tường, sau này được đắc pháp truyền đăng với Tổ Bản Giác, chùa Linh Mụ với pháp danh mới là Liễu Tâm và pháp tự mới Viên Cơ. Đây là bài kệ phó pháp do Tổ Bản Giác trao cho Tổ Hải Đức:

Pháp pháp chân như pháp
Tâm tâm cơ dạng thì
Liễu tâm phi nội ngoại
Hướng thượng thị viên ky

法法真如法, 心心機 時,
了心非內外, 向上是圓機.

Khuôn mặt

Trên nguyên hai trang 66 – 67 của tạp chí, ta thấy hình Thiền Sư Nhất Hạnh đang dẫn đoàn người đi thiền hành với những dòng như sau:

Định cư từ ba mươi năm trên nước Pháp, một người Việt tên Thích Nhất Hạnh đã biến cái ngôi làng Loubès Bernac này thành ra một trong những trung tâm Phật Giáo lớn nhất hoàn cầu. Những lời dạy về hòa bình của người đã âm vang tận nước Mỹ sau ngày 11 tháng 9.

Vị Thiền sư vùng Bordeaux

Rạng ngày 22 tháng 11 năm 2001, trời vẫn còn chưa sáng. Ban đầu ta chỉ thấy những luồng ánh sáng rọi từ các xe hơi đến từ khắp hướng, và đều đặn từng loạt người cả nam lẫn nữ đổ ra khỏi xe giữa cảnh đồng quê làng Loubès. Từng nhóm, từng nhóm, họ im lặng đi, hướng về một ngôi nhà trệt bằng đá, xinh xắn và thanh bạch. Một số người mặc áo dài nâu, đầu không tóc; một số khác thì y phục bình thường của khách đến từ xa, y phục của thời đại: giày baskets, quần Jean và áo mùa đông Anorak dày. Trong những ngày đầu này của mùa đông, thính chúng gồm khoảng 250 thiền sinh khách. Họ ngồi thành vòng cung, hướng về một bục gỗ cao, vuông vức, trên đó có một chiếc bình cắm những đóa hoa thanh tú. Bình hoa làm dịu xuống khung cảnh trang nghiêm của thiền đường. Mỗi người ngồi xuống trên gối ngồi thiền của mình và đeo vào tai ống nghe để nghe thứ tiếng mà mình muốn nghe. Đối với “những người đi hành hương’’ đến từ bốn góc của Âu Châu và Mỹ Châu, làng Loubès – Bernac, nằm vùng biên giới ba tỉnh Dordogne, Lot & Garonne và Gironde đã trở thành vùng cao điểm của đạo Bụt. Những vị đi hành hương này, cả nam lẫn nữ, đã từ nhiều phương xa đến tận đây để nghe lời dạy của thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Cánh cửa bên hông thiền đường mở ra, Thiền sư bước vào, theo sau là một thị giả giúp thầy cởi bỏ áo khoác ngoài. Một ông thầy tu nhỏ bé, đầu không tóc, bước vào thiền đường bằng những bước chân nhẹ nhàng của một chú mèo. Ông mặc một chiếc áo màu nâu khiêm tốn, đi về hướng chiếc bục gỗ và ngồi xuống trong tư thế kiết già. Người bắt đầu giảng dạy bằng giong nói thật nhẹ khiến mọi người phải cố gắng lắng nghe. Thỉnh thoảng Người nâng chén trà lên bằng hai tay và uống từng ngụm nhỏ: “Lúc này đây – thiền sư chợt nói – bản năng của chúng ta đang đẩy chúng ta đi về hướng muốn tiêu diệt quân khủng bố. Nhưng chúng ta làm sao tiêu diệt được khủng bố bằng phi cơ? Bóng tối không thể bị phá tan bằng bóng tối, nó chỉ làm cho bóng tối dày đặc hơn. Chỉ có sự hiểu biết và lòng từ bi mới có thể phá tan bạo động và hận thù. Sự khủng bố nằm trong trái tim của con người. Chúng ta phải loài trừ chất liệu khủng bố ra khỏi những trái tim thù hận kia. Nếu không, chúng ta sẽ càng ngày càng tạo thêm nhiều quân khủng bố nữa.

Định cư ở Pháp từ ba mươi năm nay, vị thiền sư Việt Nam mà mọi người đang lắng nghe lời dạy dỗ với một niềm chiêm ngưỡng là một trong những ngọn đèn pha tâm linh của thiền ở Tây Phương. “Đây đúng là một vị đạo sư thực thụ, với những pháp môn tu tập tâm linh rất thâm sâu”. Ông Mathieu Ricard, đồng tác giả với thân phụ của ông là một nhân vật của Hàn Lâm Viện Pháp Jean Francois Revel trong cuốn sách: “ Thầy tu và triết gia” (Nhà xuất bản Pocket) đã xác định như thế. Ở bên Mỹ, Thiền sư Thích Nhất Hạnh được xem là một minh tinh (star) thực sự. Bên ấy, thầy có hơn một trăm nghìn đệ tử. “Đây là người phật tử quan trọng nhất ở Phương tây, cùng với đức Đạt Lai Lạt Ma’’, giáo sư về tôn giáo học Cương T.Nguyễn của trường đại học George Mason ở tiểu bang Virginia đã nói thế. Ông này có biết đến Thầy trong những thập niên 1960 khi Thầy còn ở Sài Gòn.

Ngày 10 tháng 9, chưa đầy 24 giờ trước khi cuộc khủng bố xảy ra ở trung tâm thương mại thế giới  tại Nữu Ước, cuốn sách mới nhất của thiền sư Thích Nhất Hạnh vừa xuất bản, với cái tựa như tiên đoán trước thời cuộc: “Lửa Giận” (Anger). Nhà xuất bản như đã thấy trước rằng cuốn sách này sẽ bán rất chạy. Đây là một tổng hợp giữa tâm lý học và tâm linh học. Cuốn Living Buddha, Living Christ (Bụt ngàn đời, Ky Tô ngàn đời) ra đời năm 1995 của thiền sư đã bán được hơn 200.000 bản và quyển An Lạc Từng Bước Chân (ra đời từ năm 1991) đã có hơn một triệu độc giả. Nhưng nhà xuất bản tiếng Anh không ngờ quyển Anger (Lửa Giận) cũng bán chạy không thua gì sách của Stephen King. Ngay sau ngày có cuộc khủng bố, quyển sách này đã trở thành một hiện tượng thời đại. Đợt in đầu 37.000 cuốn đã hết sạch trong vòng 8 ngày. Và sách này cứ tiếp tục được bán với tốc độ 50.000 cuốn mỗi tuần. “Chúng tôi không ngờ sự việc xảy ra nhanh chóng như thế! – bà Amy Hertz, người của nhà xuất bản đã in sách của thiền sư Thích Nhất Hạnh, bày tỏ sự ngạc nhiên. Thường thì ta phải chờ khoảng hai hay ba tuần lễ thì mới biết được quyển sách có được quần chúng ham chuộng hay không”. Đằng này, cuốn sách Anger (sẽ xuất bản bằng tiếng Pháp vào tháng 2 năm 2002, nhà xuất bản Hachette Lattès), vừa mới xuất hiện tuần đầu mà đã nằm trong danh sách những cuốn sách bán chạy nhất in trên Nữu Ước Thời Báo (New York Times), chỉ tiêu của sự thành công trên nước Mỹ.

Sào huyệt của khủng bố nằm trong trái tim con người.

Ngày 13.9.2001, do những lời truyền miệng, hơn 3.000 người đã chen lấn nhau để vào nghe thiền sư nói chuyện ở rạp hát thành phố Berkeley. Sau thời thuyết pháp, quần chúng đã đứng dậy và nói vọng lên: “We love you! We love you!”. Ngày 25 tháng chín, lại cũng gần 3.000 người tại nhà thờ Riverside Church, Nữu Ước vào nghe thầy giảng và 1.500 người phải đứng chờ ngoài cửa, không được vào vì hết chỗ. Rõ ràng là trong khi số đông quần chúng Hoa Kỳ ngồi dán mắt vào màn ảnh truyền hình để nghe lời hăm dọa trả thù quân khủng bố của Tổng Thống họ thì thông điệp của vị Thiền sư Việt Nam khiến một số không ít người nghe bỗng sững sờ chợt hiểu.

Thầy nói với thính chúng Hoa Kỳ: “Trong chiến tranh Việt Nam, hàng ngàn người bị chết trong đó có bạn bè tôi và các đệ tử tôi. Tôi phẫn nộ, nhưng tôi đã biết chế trị cơn giận. Tôi đã quán chiếu và thấy rằng hành động hay nói năng trong khi căm giận chỉ có thể tạo thêm tan vỡ. Tôi đã hiểu rằng không phải chỉ những người Việt Nam mới đau khổ mà cả những người lính Hoa Kỳ được gửi sang Việt Nam để giết và để bị giết cũng rất khổ đau. Vì thế tôi đã không còn căm giận người Mỹ nữa. Ngày hôm nay tôi cảm thấy tôi cũng là người dân Nữu Ước. Chúng ta phải phục hồi cho được sự bình tĩnh và sáng suốt của chúng ta”.

Sau đó Thiền sư đã nói thêm: “Sào huyệt của khủng bố nằm trong trái tim con người. Càng giết, ta càng tạo thêm nhiều cảm tử quân khủng bố. Cơn bệnh khủng bố đã do những con vi khuẩn có tên là căm thù và cái thấy sai lệch gây ra. Chúng ta cần giết con vi khuẩn và trị bệnh chứ không nên giết người bệnh”. Nhà văn Daniel Odier, tác giả quyển tiểu thuyết Diva, với bút hiệu là Delacorta, được biết Thầy từ năm 1967, đã nói: “Thầy (thiền sư) đã nói rằng chúng ta phải tập nhìn thế giới như là một tấm gương phản chiếu sự bạo động nằm sâu trong tâm thức chúng ta”.

Trong thời gian xảy ra nhiều cuộc khủng bố, giáo sư Jack Weller của viện đại học California đã giảng dạy một khóa về đề tài: “Thiền sư Thích Nhất Hạnh và óc sáng tạo”. Giảng khóa này có quá nhiều sinh viên đăng ký cho đến nỗi Giáo Sư Weller phải giảng dạy lại trong lục cá nguyệt thứ hai cùng một đề tài này. Giáo sư giải thích: “Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã dạy chúng ta chăm sóc cơn giận một cách rất cá nhân đối diện với những biến cố trọng đại của thời cuộc chứ không như một khối tâm vô phân biệt (pas une masse indistincte)”.

Đối với số đông người Hoa Kỳ, những biến cố ngày 11 tháng 9 đánh động đến một giai đoạn đau thương  khác của lịch sử nước họ: chiến tranh Việt Nam. Thật là một cuộc chấn động khủng khiếp, thêm một khám phá phũ phàng nữa, sau ba mươi năm, rằng là Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ không phải là nước không thể bị đánh bại. Khi thiền sư nói với người Hoa Kỳ rằng sự tức giận của họ là hợp lý và họ cần phải sử dụng năng lượng giận dữ ấy để mỗi người tự chuyển hóa và tự biến mình  thành một sứ giả của hòa bình, thành người có khả năng đi gỡ mìn trong trái tim của những kẻ khủng bố. Khi thiền sư nói như thế thì lời của ông lại đáng tin gấp hai lần. Bởi vì Thầy khuyến khích họ cố tìm bình an trong tâm hồn mình – cho dù trong thực tế, họ có cách gì làm khác hơn đâu – bởi vì Thầy cho rằng cơn giận của họ là hợp lý. Thầy Thích Nhất Hạnh – tên Hạnh có nghĩa là hạnh động – đã dạy một loại đạo Bụt dấn thân vừa làm thỏa mãn đầu óc thực dụng của người Hoa Kỳ, vừa nuôi dưỡng được nhu yếu khát khao tâm linh của họ. Đạo Bụt dấn thân này, đó là hình ảnh rất đặc thù (I’originalité), khuôn mặt không thể nhầm lẫn (I’image de marque) và ‘tính ăn khách’ (atout commercial) của thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Ngay trong những thập niên 1960, trên sân trường Đại Học Columbia ở Manhattan Nữu Ước, ông thầy tu trẻ Thích Nhất Hạnh, lúc đó đang nghiên cứu về môn tôn giáo tỷ giáo, đã bắt đầu tổ chức những cuộc diễn hành cho hòa bình rồi. “Hồi đó rất ít người nghe nói đến ông thầy tu trẻ này, nhưng đây là một ông thầy khá đặc biệt đã khiến chúng tôi chú ý vì ông chủ trương và kêu gọi miền Nam và miền Bắc Việt Nam hòa giải với nhau và với Hoa Kỳ. Ông không theo miền Bắc cũng như không theo miền Nam vì ông rất ngán chiến tranh”. Nhà văn và nhà nhân chủng học Joan  Halifax đã nhớ rõ như thế. Hiện giờ Halifax cũng đang ủng hộ những người bị kết án tử hình trong các nhà tù ở Hoa Kỳ. Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã gây được sự cảm phục của người thắng giải Nobel hòa bình năm 1964 là mục sư Martin Luther King. Ông này đã viết thư cho Ủy ban Nobel Hòa Bình ở Stockholm đã đề cử Thầy cho giải Hòa Bình sau đó. Nhưng thái độ độc lập phóng khoáng của thiền sư đã gây cho ông khá nhiều kẻ thù. Nhất là trong chính đất nước của ông mà đã có một thời ông đã bị đài phát thanh của ông Nguyễn Cao Kỳ cũng như của Hà Nội tố cáo ông. Một phần cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng có một cái nhìn không rõ rệt về ông. Có hơn một người Việt Nam ở hải ngoại đã xem ông như là người thân cộng vì những hoạt động hòa bình của ông.

“Đạo Bụt là đạo giúp người quay về nội tâm thiền quán. Trường hợp của thiền sư Thích Nhất Hạnh là ngoại lệ. Trong khi các tín hữu Phật Giáo, nhất là tín hữu của những thập niên 60 đã xem tôn giáo này như là nơi trú ẩn những xáo trộn của xã hội, thì thầy Thích Nhất Hạnh đã chứng minh bằng cuộc đời của Thầy, sự cần thiết dấn thân của đạo Bụt vào đời sống hằng ngày, ví dụ như là dấn thân cho hòa bình”. Giáo sư xã hội học Frédéric Lenoir, tác giả quyển sách La Rencontre du Bouddhisme et de l’Occident (Sự gặp gỡ giữa Phật Giáo và Tây Phương) đã giải thích như thế.

Ở Hoa Kỳ, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã hướng dẫn thực tập kỹ càng cho những cựu chiến binh Hoa Kỳ. Trong thời chiến, anh Lee Thorn  làm công tác tải bom lên các phi cơ đi oanh tạc các thôn Việt Nam và Lào. Bây giờ thì anh làm việc trong Hội Jhai chuyên bảo trợ những dự án hòa giải giữa những cựu chiến binh trong cuộc chiến tranh thảm khốc với người dân nạn nhân của những cuộc oanh tạc đó, như xây cất trường học, bệnh xá v.v.. “Tôi bắt đầu được nghe nói về thiền sư Thích Nhất Hạnh khi tôi trở về Hoa Kỳ và tôi cũng bắt đầu chống chiến tranh Việt Nam’’, anh Lee Thorn thuật như thế này. “Thầy thì yêu tất cả mọi người, còn chúng tôi thì không yêu ai hết. Tôi bắt đầu đọc sách của Thầy mỗi ngày và bắt đầu tu tập theo lời Thầy dạy. Điều mà tôi hiểu được nơi lời dạy của Thầy là tình thương quả là cần thiết cho thế giới chúng ta. Đấy, vì thế mà tôi bắt đầu làm dự án này để giúp đỡ nước Lào”.

Giáo sư Joan Halifax giải thích: “Thầy đã quán sát tâm lý người Tây Phương và đã làm cho đạo Bụt trở nên rất dễ hiểu cho họ. Đạo Bụt của Thầy thật đẹp, đơn giản và đi thẳng vào lòng người”. Sử dụng những phương tiện quảng bá cổ điển, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã sử dụng sách của Thầy như những ống loa để chuyền đi những thông điệp của Thầy. Một trong những đệ tử của Thầy, Arnold Kotler, đã lập một nhà xuất bản chỉ để in sách của Thầy. “Sách của tôi cũng giúp tôi nhiều lắm – Thầy cũng công nhận như thế”. Sách đó giúp độc giả nhận diện những khổ đau của họ qua những khổ đau mà tôi chia sẻ với họ và từ đó biết cách tu tập chuyển hóa như tôi đã đề nghị”.

“Tuy nhiên, nước Pháp đã chần chừ khá lâu mới chịu chấp nhận ảnh hưởng của ông thầy này, chần chừ trong suốt ba mươi năm qua, học giả Fréderic Lenoir nhận xét như thế”.

Nước ta (Pháp), ngay từ lúc đầu đã có sự say mê đạo Bụt Tây Tạng. Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một người có phong thái thanh bạch và giản dị; ông đã không đến với nước Pháp như Phật Giáo Tây Tạng với nhiều hào quang bùa phép. Không có những nghi lễ kèn trống ầm ĩ, không y áo vàng nghệ, không cờ xí màu mè sặc sỡ, không chuông khánh, không bồ tát mặt xanh chuyên trừ ngạ quỷ. Đất nước Việt Nam cũng không gieo được trên tâm trí người Pháp, giữa Hergé và Alexandra David Noel, những ảnh hưởng kỳ bí như đất nước Tây Tạng.

Tuy nhiên, sách của Thầy giờ đây đang bán rất chạy trên nước Pháp. Trung bình là 30.000 cuốn mỗi lần xuất bản – có thể xem như là loại sách bán chạy nhất (best sellers) trong loại sách chuyên về tâm linh. Thiền sư nhờ vào sự mến mộ đạo Bụt hiện tại của người Pháp. Theo thống kê của bộ nội vụ là có khoảng 600.000 người tu tập đạo Bụt với ít nhiều tinh chuyên. Năm 1994, một cuộc thăm dò của hãng Sofres – Le Figaro cho biết hiện giờ đạo Bụt là đạo ưa thích nhất của hai triệu người Pháp. Ngày nay, theo sự điều tra của Psychologies – BVA, số người yêu thích đạo Bụt đã lên đến con số năm triệu.

Theo một số người, đạo Bụt là con đường có thể tạo lại được hứng khởi về sự diệu kỳ của thế giới mà rất đông người Âu Châu thao thức. “Tôn giáo này có cách đưa ta đi vào bằng con đường tuy duy lý mà không hề khô cứng, học giả Fréderic Lenoir giải thích như thế. Nó thu hút những người mệt mỏi vì tâm tư ưa phân tích, họ được lôi kéo bởi một hệ thống tâm linh vi tế hơn, không nhị nguyên và có đủ không gian cho trực giác”. Đạo Bụt đã dạo đúng cung đàn thời đại: chủ trương mỗi cá nhân phải tự lo lấy cho mình, mỗi người phải tự thắp đuốc lên mà đi, tự quán chiếu và tự chuyển hóa cho chính mình. Tôi phải lo giải thích cho tôi trước nhất.

 

“Tôi như một miếng sắt được rèn luyện trong ngọn lửa chiến tranh”.

 

Thiền sư Thích Nhất Hạnh, sinh trưởng tại Trung phần Việt Nam năm 1926, đã đi tu từ khi 16 tuổi. Thân phụ của Thầy làm việc trong chính phủ Nam Triều của vua Bảo Đại tương lai. “Tôi đã nghĩ rằng đạo Bụt có thể là một giải pháp giúp Việt Nam vượt thoát thể chế đô hộ của người Pháp, như là thánh Gandhi đã thành công bên Ấn độ”. Thầy nói như vậy. Sau khi tốt nghiệp cử nhân văn chương, ông viết sách dưới nhiều bút hiệu khác nhau và tu học với một thiền sư của thời đại của Thầy, thuộc dòng thiền Lâm Tế (một thiền sư vào thế kỷ thứ 9). Năm 1954, vào năm 24 tuổi, Thầy thành lập Phật Học Viện Ấn Quang mà sau đó đã trở thành chiếc nôi của những cuộc đấu tranh bất bạo động của người Phật tử chống chiến tranh Việt Nam từ 1963 đến 1975. Những vị xuất gia đã tự thiêu để chống chiến tranh đều là những người quen biết của Thầy.

Năm 1961, ông thầy tu trẻ này đi Hoa Kỳ để học hỏi thêm, ban đầu tại đại học Princeton, New Jersey và sau đó tại Đại học Columbia, New York. Trở về Sài Gòn, Thầy thành lập Viện Đại Học Vạn Hạnh, viện Đại Học Phật Giáo đầu tiên tại Việt Nam, rất khác với những Phật Học Viện dành cho các thầy tu theo truyền thống xưa. “Theo mẫu mực những trường đại học ở Hoa Kỳ – Giáo Sư Cường T Nguyễn đã giải thích như thế – ngoài những chứng chỉ về tôn giáo còn có những chứng chỉ về khoa học, chính trị hay kinh tế”. “Thầy Thích Nhất Hạnh muốn thành lập một trường dạy loại đạo Bụt rất thực tiễn hơn là lý thuyết – sư cô Chân Không đã giải thích như vậy. Đạo Bụt không dạy ta chỉ ngồi thiền dưới gốc cây mà thôi. Khi bom đạn rơi xuống tơi bời thì không thể nào ta ngồi yên dưới gốc cây để thiền quán mà phải đi băng bó người bị thương và cho các cháu đói ăn cơm”.

Thầy Thích Nhất Hạnh đã bắt đầu nổi tiếng vào thời đó. “Thầy rất được hâm mộ bởi hàng trí thức Phật Giáo. Giáo sư Cương T Nguyễn nhớ rõ như thế. Thầy cuốn hút tuổi trẻ vì Thầy là hiện thân của những giấc mơ của họ: Thầy có đi học bên Tây. Hơn nữa, những điều Thầy dạy rất tâm đắc với người trẻ”. Trong một đất nước chiến tranh, những thập niên đã làm nền tảng cho sự dấn thân của Thầy Thích Nhất Hạnh. “Tôi như một miếng sắt được rèn luyện trong ngọn lửa chiến tranh” – Thầy bảo. Thầy đã thành lập trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội một cách nhanh chóng, một tổ chức mà sau mười năm hoạt động đã có đến hàng ngàn người tự nguyện làm việc không lương trước khi bị cấm đoán bởi chính quyền cộng sản năm 1975, sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ. Hoạt động cứu khổ này vẫn còn được tiếp tục cho đến ngày nay. Sư cô Chân Không báo cáo là Thầy và học trò của Thầy đã gửi khoảng 50.000 Mỹ Kim mỗi tháng để giúp gần 1.100 lớp học mẫu giáo ở những làng nghèo khổ xa trong các miền kinh tế mới hay các miền núi chưa có trường học. “Đó là sứ mạng của một vị Bồ Tát đã khước từ Niết Bàn để ở lại độ người”. Ông Nguyễn Hữu Khoa, chủ tịch Portail Internet Buddha Line (Cửa vào đường dây của Bụt) đã phát biểu như vậy.

Năm 1996 thầy Nhất Hạnh bắt đầu lên tiếng kêu gọi chấm dứt chiến tranh Việt Nam và đi một vòng rất nhiều nước Âu Châu và Mỹ Châu. Thầy không ngờ là từ đó Thầy không còn được thấy lại quê hương Việt Nam của Thầy nữa. Vào năm 40 tuổi Thầy bị lưu đày. Thầy bị cấm đoán về nước. Chính quyền Sài Gòn cấm mà chính quyền Hà Nội cũng cấm. Những lời kêu gọi hòa bình của Thầy đã khiến cho cả hai bên bực bội và những công tác xã hội của Thầy cũng chỉ làm cho họ bực thêm. “Tôi là ông thầy tu đầu tiên dám đi xe đạp và cũng là người dám tổ chức thiền tọa trên bãi biển. Đó là cuộc cách mạng lớn của tôi”. Thầy vừa nói diễu vừa mỉm cười hóm hỉnh.

Năm 1968, thầy Thích Nhất Hạnh bước chân đến nước Pháp và đã không thành công lắm trong sự tham gia và ảnh hưởng vào những cuộc đàm phán của hội nghị Paris về Việt Nam. Thầy mở một trung tâm tu học ở Troyes cho một số người tị nạn đến tu tập từng đợt. Năm 1982, vì con số người đến tu học tăng vọt quá nhanh, thầy Nhất Hạnh mở một nơi tu học mới, đặt tên là Làng Mai (Village des Pruniers). Nông trại đầu tiên mua ở Loubès Bernac (tỉnh Lot & Garonne). Với 200.000 Mỹ kim tiền bản quyền của một cuốn sách của Thầy, Thầy đã mua trung tâm thứ ba ở Dieulivol (tỉnh Gionrde). Ngày nay Làng Mai có bảy cơ sở gọi là bảy “Xóm” hay là bảy nhóm nhà, nằm rải rác trên ba ngôi làng thuộc ba tỉnh miền tây nam nước Pháp.

Khi vừa tới Loubès Bernac, Thầy ra lệnh cho nhổ bỏ gần 2 mẫu nho làm rượu và cho trồng 1.250 cây mai (mận) ăn quả – 250 cây mỗi mẫu tây. Chuyện ngẫu nhiên nhưng Thầy cũng hay nhắc nhở là 1.250 cây mai này như là một nháy mắt ra hiệu của Bụt. Con số 1.250 là con số khá linh thiêng thường được nhắc đến trong các kinh: “Bụt thuyết pháp trước 1.250 vị đệ tử”. Sư cô Chân Không lại giải thích rất thực tế là: “Chúng tôi cũng muốn trồng những cây gì có thể đem lại ít tiền cho trung tâm tu học”. Mỗi năm trái mai (mận) sấy khô mang đến khoảng 20.000 quan để nuôi 130 người xuất gia tu học tại Làng Mai. Nhưng phần lớn nhờ vào tiền bản quyền sách của Thầy. Thầy Nhất Hạnh viết hơn 50 quyển sách, ngoài những cuốn đã in trong nhà xuất bản còn có những cuốn truyện dài, những tập thơ và nhất là những cuốn sách dạy nuôi dưỡng đời sống tâm linh. Sách của Thầy bán rất chạy: nhà xuất bản ở Hoa Kỳ vừa trả 600.000 Mỹ kim cho cuốn sách sắp tới của Thầy. Những khách thập phương đến tu học cũng là một nguồn tài chánh đáng kể. Mỗi năm hơn 4.000 người đã từ xa tới nơi này tu học, một nơi được xem như là vùng đất cao điểm của đạo Bụt khiến cho dân địa phương cũng rất ngạc nhiên. “Mùa hè chúng tôi có gần 700 người tu tập mỗi tuần. Không đủ chỗ trong nhà, các bạn cắm lều cùng khắp. Trong mùa hè, chúng tôi phải đi mướn nhiều gites (nhà của dân địa phương cho mướn) quanh vùng cho những thiền sinh khách cần tiện nghi”.

Cuộc sống ở Làng Mai không nhàn hạ lắm đâu. Tiếng chuông thanh thoát vẫn không làm cho ta quên được rằng ta phải thức dậy lúc 5 giờ sáng. Trước khi ăn sáng, mọi người có hai giờ thiền tập. Khi không đi dạy xa, Thầy thường cho hai pháp thoại khá dài mỗi tuần: ngày thứ năm và ngày chủ nhật. Tất cả sự tu tập đều dựa trên hơi thở để giúp ta đạt tới trạng thái “chánh niệm” (Pleine Conscience). Trước khi ăn trưa, có một giờ tập đi trong chánh niệm gọi là đi thiền hành. Khi đi ta để cho bước chân với hơi thở quyện một cách hài hòa vào nhau, đi như thế về chắc ăn cơm ngon lắm. Sau giờ làm việc nhà trong chánh niệm (chấp tác) các thiền sinh còn theo học những môn khác (Phật giáo căn bản, thiền lạy, thiền buông thư, làm mới, uy nghi, giới luật …) và ngồi thiền một tiếng rưỡi trước khi đi ngủ. Sự “Im Lặng Hùng Tráng” về đêm rất cần thiết. Một ngày làm biếng mỗi tuần đã được ghi trong đời sống tu tập nghiêm mật của Làng Mai. Đôi khi thiền sư cũng biết đùa giỡn. Ngày 22 tháng 11 vừa qua, trong lúc đi thiền hành ngang một cây đầy lá vàng, Thầy bỗng dừng lại và rung cây để cho lá vàng rơi lả tả trên đầu các đệ tử. Cả đoàn người đều phá ra cười.

“Tôi hơi lo là người ta sẽ lý tưởng hóa Thầy thái quá, nhà nhân chủng học Joan Halifax cũng đã từng là học trò của Thầy. Một số đệ tử của Thầy than phiền là họ ít được dịp gần gũi Thầy”. “Có lẽ vì Thầy quá nổi tiếng, người thán phục thì nhiều mà sức khỏe Thầy thì mong manh nên Thầy ít có thì giờ trực tiếp với đệ tử. Đó là một vấn đề, bởi vì nếu mình muốn tu tập, sự liên hệ trực tiếp với Thầy mình quả thật là cần thiết. Chỉ có cách ấy Thầy mới trao truyền được nhiều cho mình”. Thầy Nhất Hạnh đi dạy các khóa tu ở khắp nơi mỗi năm nhiều tháng. Thầy đã mở hai tu viện ở Hoa Kỳ, một ở tiểu bang ở Vermont, miền Đông và một ở gần San Diego California, miền Tây. Từ sau ngày 11 tháng 9, Thầy khuyến khích chánh quyền Hoa Kỳ nên thành lập một hội đồng Nhân Sĩ mà vai trò chỉ là “ngồi lắng nghe nỗi khổ của người dân Hoa Kỳ trước tiên để có thể hiểu thêm nỗi khổ của kẻ mà ta thù hận. “Cũng như những hội đồng hòa giải ở Nam Phi, những buổi lắng nghe này có thể cho truyền thanh, truyền hình rộng rãi cho dân chúng theo dõi”. Thầy xác nhận như thế.

Năm 1995, Thầy bắt đầu đi Trung Quốc như một du khách, nhưng dần dà người ta đồn là có một vị đại sư đang du hành trong đất nước này – sư cô Chân Không nhắc lại – và khóa tu đã chấm dứt bằng một khóa tu ba ngày liên tục cho 600 ông thầy tu Trung Quốc. “Đi du lịch mà cũng dạy đạo được, thấy không?”, thầy Nhất Hạnh nhắc lại một cách hóm hỉnh. Sau chuyến đó Thầy đã được Hội Phật Giáo Trung Quốc mời trở lại trong Trung Hoa Lục Địa hai lần với sự đồng ý của nhà nước. Nhiều vị xuất gia tại Trung Hoa ngày nay đang hướng về và mong mỏi được tu tập với Thầy, học hỏi cái giáo pháp mà họ không được học dưới thời Mao Trạch Đông, – ông Nguyễn Hữu Khoa đã giải thích như thế – ảnh hưởng của Thầy về đạo Bụt trong một nước lớn nhất thế giới sẽ vô cùng lớn lao: rồi đây trong thế hệ tới, Thầy sẽ có nhiều đứa con tinh thần người Trung Quốc”. Trong khi đó thì, bản thân Thầy cũng như sách của Thầy, băng giảng của Thầy – băng hình cũng như băng nghe – vẫn còn bị cấm đoán trong nước của chính Thầy, nước Việt Nam. “Tôi không hiểu tại sao người ta đi sợ hãi một ông thầy tu tầm thường như tôi”. Thầy Nhất Hạnh đã than thở như thế. Một ông thầy tu tầm thường. Nhưng ông thầy này, với tất cả sự thong thả, và với cách làm việc rất có phương pháp của ông, ông đã quyết định giúp đạo Bụt chinh phục Tây phương về cho đạo Bụt.

 

Ngày em hai mươi tuổi

Kính thưa đại chúng!

Hôm nay là ngày 13 tháng Chạp năm 2001. Chúng ta đang ở tại xóm Hạ, chùa Cam Lộ, trong khóa tu mùa Đông. Hôm nay Ban Biên Tập của tập kỷ yếu 20 năm Làng Mai yêu cầu tôi nói một bài về Làng Mai để có thể đánh máy ra và in vào. Có nhiều chuyện để kể thành ra tôi không biết nên bắt đầu chỗ nào.

Sáu Cây Tùng Lọng

Ngày 28/9/1982, chúng tôi tìm ra được Xóm Hạ. Trước khi tìm ra Xóm Hạ thì chúng tôi đã tìm ra Xóm Thượng nhưng ông chủ của Xóm Thượng không chịu bán đất. Ông có một người con trai. Vợ ông ta muốn bán đất cho Làng Mai để lấy tiền cho con trai làm vốn. Nhưng ông Dezon, chủ của khu đất thì không muốn vì ông rất yêu quý mảnh đất ấy, ông vốn là một người nông dân nên không nỡ buông mảnh đất đã gắn bó với mình suốt bao năm trời. Lần đầu đến thăm Xóm Thượng tôi ưng ý ngay lập tức vì Xóm Thượng rất đẹp, tôi rất thích con đường thiền hành ở đó. Nhưng vì chủ nhà  chưa chịu bán nên chúng tôi đành phải tìm một chỗ khác, và chúng tôi đã tìm ra Xóm Hạ. Mặc dù tìm được Xóm Hạ rồi nhưng chúng tôi vẫn muốn có Xóm Thượng nên vẫn tiếp tục theo đuổi Xóm Thượng. Năm đó có nhiều mưa đá nên vườn nho của ông Dezon bị hư hoại vì vậy ông ta rất bực mình tăng giá đất lên cao. Thật ra ông tăng giá đất không phải để có nhiều tiền mà tăng để cho mình khỏi mua, vì ông vẫn không muốn bán. Nhưng mình ưng quá nên dù đắt vẫn mua.

Chúng tôi quyết định mở cửa Làng ngay năm đó, tức là năm 1983, mua đất vào mùa đông năm 1982 và mở cửa làng vào mùa hè năm 1983. Vì vậy từ mùa đông 1982 tới mùa hè 1983 thầy trò phải làm việc khá nhiều. Trước đó, mỗi mùa hè chúng tôi mở cửa ở Phương Vân Am cho thiền sinh tới tu tập. Phương Vân Am nằm ở miền Đông Nam của Paris. Nhưng am nhỏ quá, không tiếp đón được nhiều thiền sinh. Thế nên thầy trò tôi đã đi về miền Nam kiếm đất để làm một trung tâm tu học có thể tiếp đón được nhiều người. Bài thơ "Ảo hóa" đã được tôi làm ở Phương Vân Am. Hồi đó không gọi là Làng Mai mà gọi là Làng Hồng tại vì tôi còn hoài niệm về Làng Hồng ở Việt Nam. Làng Hồng là một trung tâm tu học mà Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội và Dòng Tiếp Hiện dự trù thành lập để làm chỗ tu dưỡng cho những người tác viên xã hội. Hồng đây có nghĩa là cây hồng, trái hồng chứ không phải là hoa hồng.

Thật ra trước đó chúng tôi đã có Phương Bối Am ở miền cao nguyên Trung phần, ở Blao. Nếu quý vị từng đọc cuốn  Nẻo Về Của Ý và từng đọc Fragrant Palm Leaves hay là Feuilles odorantes de Palmier thì quý vị đã biết chút ít về Phương Bối Am. Phương Bối Am cũng là một loại Làng Hồng, được thành lập vào những năm 1950, nơi đây cũng là một trung tâm tu học. Nhưng vì nó cách thành phố xa quá đi, nên Dòng Tiếp Hiện và trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đã muốn có một Làng gần hơn. Khi viết quyển Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức tôi cũng đã có nói tới Làng Hồng và mãi tới tám năm sau thì điều tiên đoán trong Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức được thực hiện. Chúng tôi “tậu” được Làng Hồng.

Ban đầu chúng tôi tính trồng hồng nhưng thấy không thực tế nên cuối cùng đã chuyển sang trồng mai. Chúng tôi còn khá ngây thơ, nghĩ là nếu trồng nhiều mai thì đó là một nguồn kinh tế tự túc. Nhưng vốn không phải là nông dân chuyên nghiệp nên chúng tôi đã không thành công lắm. Chúng tôi đã hưởng hoa nhiều hơn là trái. Hồi ấy sư cô Chân Đức từng ghi tên học tỉa mai một tuần lễ và cô cũng có khả năng tỉa mai, nếu không tỉa thì mai không thể lớn lên được và không có trái. Nhưng sức của cô chỉ tỉa được vài chục cây là cùng trong khi mình có tới 1250 cây mai.

Chúng tôi bắt đầu trồng mai ngay vào năm đầu của Làng mở cửa, tức là năm 1983. Trong số những cây mai được trồng đó có những cây được trồng bằng tiền túi của các em thiếu nhi về Làng tu học. Các em nghe rằng trong bảy năm mai sẽ có trái, trái đó sẽ được phơi khô, bán và lấy tiền gởi về nuôi trẻ em đói ở Việt Nam và những nước nghèo đói. Vì vậy nhiều thiếu nhi đã để dành tiền túi mà trồng cây mận. Hồi đó mỗi cây mận mang tên một em bé Việt Nam hay một em bé ngoại quốc nhưng số lượng các em bé Việt Nam đông hơn. Mỗi em phải có 35 quan Pháp thì mới có thể trồng được một cây mai. Còn nếu không có đủ 35 quan Pháp thì em phải chung vốn với một em khác mới có thể trồng được một cây ở Làng Mai, nghĩ rằng cây đó để nuôi trẻ em đói nên các em rất vui sướng. Và chúng tôi đã cố gắng để trồng đủ số lượng 1250 cây. Đó là con số của tăng đoàn nguyên thủy của Bụt. Vào tháng 5 năm 1983, chúng tôi ấn hành tập: Sổ Tay Của Người Về Làng bằng tiếng Việt, sau đó mấy tháng cuốn sách ấy được ấn hành bằng tiếng Anh.

Đầu năm 1983 trên Xóm Thượng chúng tôi bắt đầu trồng cây. Những cây đầu tiên là tùng lọng, phía trên của cây tán xòe ra như một cái lọng. Hôm đó chúng tôi đã trồng được sáu cây tùng lọng dưới sự cộng tác của một bác nông dân trong vùng cùng với chiếc máy đào đất. Đất Xóm Thượng toàn đá, đào tới đâu là có đá ở đó nên phải có máy mới đào được. Ngày hôm ấy trời mưa và mọi người đều ướt nhẹp. Sau khi trồng xong tùng lọng thì tôi ngã bệnh và nằm luôn ba tuần lễ. Trong Làng ai cũng lo. May quá, sau đó tôi dậy được và bắt đầu ăn cháo.

Khóa tu mùa hè gọi là Summer Opening. Mùa hè đầu tiên có 117 thiền sinh về tu học. Trong mùa tu học này chúng tôi chưa có thiền lạy, chưa có thi kệ nhật dụng nhưng đã có thiền tọa, thiền hành, thiền trà và tham vấn. Hồi đó chưa có các thầy các sư cô nên tôi phải hướng dẫn thiền sinh từ đầu tới cuối, từ A tới Z. Từ thiền ngồi qua thiền trà đến thiền hành. Tôi phải đi sửa lưng của từng người cho thẳng, đầu của từng người cho ngay ngắn. Hồi đó chưa có cuốn Thiền Hành Yếu Chỉ tức là tập sách viết về phương pháp thiền đi. Trước khi Làng mở cửa đã có một Lá Thư Làng Mai, nhưng hồi đó gọi là Lá Thư Làng Hồng. Lá Thư đó chỉ có 3 trang nhưng đọc cũng vui lắm.

Tôi xin đề nghị Tết này mình sẽ photocopy Lá Thư Thứ Nhất, Lá Thư Thứ Hai, Lá Thư Thứ Ba dán lên tường cho mọi người đọc. Các bạn của chúng ta sẽ biết những gì xảy ra trong năm đầu của Làng Mai. Những chi tiết như tôi trồng xong tùng lọng và ngã bệnh nằm luôn ba tuần cũng được ghi chép trong ấy. Mùa thu năm đó có Lá Thư Làng Hồng Số Hai, tường thuật đầy đủ về những gì đã xảy ra trong khóa tu mùa hè khiến mọi người rất hạnh phúc.

Ngay mùa hè đầu tiên mà đã có thiền sinh Tây phương về tu chung với người Việt. Vào mùa hè thứ hai có 232 người về tu, mùa hè thứ ba có 305 người, mùa hè thứ tư có 396 người, mùa hè thứ năm có 452 người, mùa hè thứ sáu 463 người, mùa hè thứ bảy 483 người, mùa hè thứ chín 1030 người. Tới 1996 thì vào mùa hè có 1200 người về. Vào mùa hè 1998 có 1450 người về Làng tu học. Mùa hè 1999 thì có 1500 người và vào năm 2000 thì số lượng thiền sinh tăng lên 1800. Cố nhiên không phải là 1800 người về Làng một lần, tại vì có người chỉ về hai tuần, có người về ba tuần, có người về một tuần, và có người về luôn bốn tuần. Có người về hơn bốn tuần vì sau khi về bốn tuần thì thấy thích quá nên đòi ở lại. Nói như vậy không có nghĩa là thiền sinh chỉ về mùa hè. Trong các mùa khác cũng có thiền sinh về để tu học. Những năm đầu thiền sinh ngoại quốc được ở Xóm Thượng. Thiền sinh gốc Việt Nam và Á châu thì ở Xóm Hạ để được ăn thức ăn quê hương.

Những cây tùng gọi là Cedre Atlantica mà quý vị thấy ở Xóm Thượng cũng được trồng vào năm đầu. Hồi mới trồng chúng chỉ cao có 1m20. Những cây đó lên chậm lắm và càng lớn chúng càng đẹp. Ba trăm năm nữa thì sẽ rất đẹp. Cedre Atlantica dịch là Tùng Đại Tây, có hai loại: một màu lục, một màu lam. Mỗi khi đi thiền hành ở Xóm Thượng chúng ta đều xuất phát từ cây tilleul, cây bồ đề. Qua thiền đường Chuyển Hóa, chúng ta gặp bên tay phải những cây tùng đại tây, những cây Cedre Atlantica. Bây giờ chúng đã đẹp rồi. Mỗi khi đi ngang qua những cây tùng đại tây đó tôi hay nghĩ tới các sư chú, các sư cô. Tôi thường hay đứng lại để ca ngợi "sư chú này làm ăn khá quá", tại vì các cây tùng đó lên rất tốt tươi, rất xinh đẹp. Tôi thường nhìn và thấy đó là một sư chú hay một sư cô đang lớn lên rất mạnh khỏe trên đất Làng Mai. Mỗi khi đi ngang qua chúng tôi hay dừng lại để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những cây tùng ấy. Hai mươi năm qua, bây giờ các cây tùng ấy đã lớn, không còn là những cây tùng nhỏ bé một thước hai như ngày xưa. Ở Làng Mai cũng có nhiều cái đã lớn như các cây tùng. Không những là các sư cô sư chú đã lớn, các Phật tử cư sĩ đã lớn, mà những pháp môn thực tập cũng lớn lên. Cả những kinh nghiệm học hỏi và thực tập của mình cũng lớn như những cây tùng.
 

Làng Mai vô tướng

Năm 1983, đứng trên đỉnh đồi nhìn xuống tôi đã thấy hoa mai nở trắng cả đồi. Đó là cái nhìn trong bản môn. Bây giờ chúng tôi đã có thêm các trung tâm Làng Mai tại Mỹ, Việt Nam, Đức, Thái Lan, Úc.

Có nhiều người khi tới Làng Mai rất ngạc nhiên vì nó không giống với những gì mà họ tưởng tượng. Có thể trong đầu quý vị ấy nghĩ rằng Làng Mai chắc phải ghê gớm lắm. Đối với phái đoàn của Hiệp Hội Phật Giáo Trung Quốc, chúng tôi đã cảnh báo trước với họ rằng bên chúng tôi không có gì hết, chỉ toàn là cây thôi, thiền đường và tăng xá được xây dựng lại từ chuồng bò. Đã nói rất nhiều lần mà khi qua tới họ vẫn còn ngạc nhiên như thường. Họ không ngờ Làng Mai lại nghèo, đơn sơ và thanh bạch như thế. Tôi nhớ hồi xưa khi hòa thượng Tắc Phước ở bên Úc qua, ngài đem theo một cái máy thu hình (camcorder). Khi tới Làng ngài rất ngạc nhiên và nói: "Làng Hồng không có gì hết à?" Mà đúng là Làng Hồng không có gì hết: không có một mái chùa cong, không có một tượng Phật lớn. Vì vậy cho nên ý niệm của bạn về Làng Mai và sự thật về Làng Mai rất khác nhau.

Hồi hòa thượng Minh Cảnh sang thăm viếng Làng Mai. Ngài mới tới đây độ chừng hai tuần hay ít hơn hai tuần. Ngài nói: "Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một rờ." Ngài đã thấy, ngài đã rờ, nhưng mà chưa chắc ngài đã biết được sự thật về Làng Mai. Thượng tọa Nguyên Chơn tới trước, và cố nhiên cái thấy của Thượng tọa đã khác với cái thấy của hòa thượng vì thượng tọa Nguyên Chơn đã có cơ hội thấy những yếu tố không phải Làng Mai của Làng Mai. Nhìn vào Làng Mai như thế nào để thấy được những yếu tố không phải Làng Mai của Làng Mai. Thượng tọa Nguyên Chơn đã được đi Hoa Kỳ, đã được tiếp xúc với tăng thân của Làng Mai ở Hoa Kỳ, và vì vậy thượng tọa thấy được Làng Mai sâu hơn hòa thượng Minh Cảnh. Nhưng thượng tọa Giác Trí lại đã được thấy Làng Mai sâu sắc hơn vì thượng tọa Giác Trí đã được đi theo những chuyến hoằng pháp tại Châu Âu, đã đi Đức, đã đi Ý, đã thấy được tăng thân Làng Mai tại Đức, tại Ý; và vì vậy cái thấy của thượng tọa Giác Trí đã rất khác. Vì vậy, mỗi người trong chúng ta có một cái thấy về Làng Mai.

Thầy Pháp Cần lớn lên ở bên Đức, học ở bên Đức và qua tu ở Làng Mai. Năm vừa rồi được tháp tùng phái đoàn đi Đức, thầy Pháp Cần đã khám phá ra một nước Đức rất mới. Trong suốt những năm ở Đức thầy ấy chưa bao giờ được tiếp xúc với tăng thân Làng Mai ở bên Đức. Về Đức lần này thầy thấy rõ ràng rằng ở bên Đức số lượng những người Việt và những người Đức tu học theo pháp môn Làng Mai rất đông. Có những pháp thoại ba ngàn người Đức tham dự, có những pháp thoại bảy ngàn người Đức tham dự, có những buổi thiền hành bốn ngàn người Đức tham dự. Trở về nước Đức, thầy khám phá ra một nước Đức hoàn toàn mới lạ. Làng Mai đang nằm trong nước Đức thế nhưng ở bảy, tám năm bên đó mà thầy không thấy. Chúng ta phải tìm thấy sự thật bằng con mắt vô tướng.

Những yếu tố không – phải – Làng – Mai nằm ở khắp nơi, nằm ở trong lòng mình. Thầy Pháp Đôn cũng vậy, lớn lên ở tiểu bang Florida, đã đi chùa bên đó, đã được gặp tôi trong một khóa tu bên Mỹ, đã qua Làng tu học. Mùa thu vừa rồi được tháp tùng tôi và phái đoàn đi Mỹ, thầy đã khám phá ra một nước Mỹ rất mới. Tại vì lần đầu tiên thầy được tiếp xúc với tăng thân Làng Mai ở bên Hoa Kỳ, khắp nơi, khắp nơi. Vì vậy, tới đây với một cái camcorder để thâu hình chưa chắc thâu được Làng Mai. Làng Mai không phải là một ngôi chùa Việt Nam đặt trên mảnh đất Âu châu. Trong Làng Mai ta thấy có văn hóa Ấn Độ, ta thấy có văn hóa Trung Quốc, ta thấy có văn hóa Việt Nam, ta thấy có văn hóa Tây phương. Vì vậy nhìn Làng Mai cho kỹ ta thấy có những yếu tố không phải là Làng Mai nằm ở trong Làng Mai. Cho nên Làng Mai cũng là một đối tượng thiền quán. Nhìn càng sâu, ta thấy càng rõ. Nếu không thì nhìn Làng Mai ta chỉ có một khái niệm rất cạn, rất mơ hồ về Làng Mai. Nếu nhìn Làng Mai cho kỹ thì mình thấy Làng Mai cũng bất sinh và bất diệt.

Ngày xưa khi đi thăm tu viện Kỳ Viên, Jeta Grove, ở Ấn Độ tôi thấy tu viện Kỳ Viên không còn nữa. Có một phái đoàn khảo cổ Nhật đang khai quật khu đất tu viện Kỳ Viên, phát hiện ra nền móng của nhiều tu viện san sát nhau. Tất cả tu viện Kỳ Viên đều đã bị san bằng theo thời gian và đất cát đã phủ lấp lên. Bây giờ nhờ đoàn khảo cổ đó khai quật nên chúng ta mới thấy rõ ràng những tu viện rất lớn nằm bên nhau san sát. Chúng ta nhận ra được đây là chánh điện, đây là tăng xá, đây là giảng đường. Nhưng tu viện Kỳ Viên đâu phải không còn? Vì khi chúng ta đi qua các nước khác, thấy các tu viện ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên hay Tây Tạng thì chúng ta lại thấy rằng Kỳ Viên vẫn còn đó trong những hình thức mới của nó. Vì vậy Kỳ Viên tính là bất sinh bất diệt. Làng Mai cũng vậy. Ví dụ ngày mai này họ đóng cửa Làng và có người xây cất siêu thị ở Xóm Thượng và Xóm Hạ thì Làng Mai vẫn còn, còn dưới những hình thái mới của nó ở khắp nơi, nhất là trong lòng chúng ta. Vì vậy, tới Làng Mai, ta phải nhìn Làng Mai cho kỹ để thấy được tính bất sanh bất diệt của Làng Mai, thấy thực tại của Làng Mai vượt ngoài các tướng.
 

Đường xưa mây trắng

Năm đầu khi mở cửa Làng Mai vào mùa hè, tôi thường hay cư trú trên phòng của cư xá Hồ Đào gần với cây Tilleul. Ở dưới có quán sách và ở trên là phòng tôi ở. Vào năm đầu và năm thứ hai chúng ta có ít phòng lắm nên tôi đã ngủ chung với mấy thiếu nhi. Bốn năm đứa trẻ ngủ chung với tôi và ban đêm các cháu đã nằm lăn ra khắp nơi. Bài hát: “Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời…” tôi có chủ ý làm cho thiếu nhi hát. Tôi nghĩ là thiếu nhi phải hát chứ tụng thì chưa đủ.

Hôm đó tôi ngồi thiền buổi chiều trong thiền đường Yên Tử. Trước mặt tôi có một tảng đá vì các bức tường của thiền đường Yên Tử đều được xây hoàn toàn bằng đá. Đang ngồi thiền thì tự nhiên những nốt nhạc của bài hát: “Con về nương tựa Bụt, Namo Buddhaya” đi ra. Sau đó tôi sửa lại: “Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời” rồi mới tới: “Namo Buddhaya”. Tôi tự nghĩ: Mình đang ngồi thiền chứ đâu phải đang sáng tác nhạc. Thôi để ngồi thiền xong rồi sẽ sáng tác tiếp”. Nhưng ngồi một lát nữa thì những nốt nhạc lại trở về. Tôi nghĩ: “Thôi, nếu đã như vậy thì mình sáng tác ngay lúc này”. Và trong khi ngồi thiền tôi tiếp tục sáng tác bài: “Con về nương tựa Bụt”. Ngồi thiền xong thì tôi ra thâu bài hát vào băng nhựa vì sợ quên.

Trong thời gian thiền sư Baker Roshi tới thăm Làng Mai, tôi đã khởi thảo tập sách hướng dẫn về thiền đi. Sau đó thì những bài thi kệ nhật dụng bằng tiếng Việt được sáng tác. Tôi còn nhớ là hồi đó tôi viết Đường Xưa Mây Trắng ở trong quán sách của xóm Thượng. Hồi đó chưa có lò sưởi trung ương, trong phòng chỉ có một cái lò sưởi đốt củi thôi và trời rất lạnh. Tay phải tôi viết còn tay trái thì đưa ra hơ trên lò sưởi. Tôi đã viết những chương của Đường Xưa Mây Trắng với rất nhiều hạnh phúc. Thỉnh thoảng tôi đứng dậy pha trà để uống. Mỗi ngày viết mấy giờ cũng như được ngồi uống trà với Đức Thế Tôn. Và tôi biết trước người đọc sẽ rất có hạnh phúc vì khi viết, mình cũng đang có rất nhiều hạnh phúc.

Viết Đường Xưa Mây Trắng không phải là một lao động mệt nhọc mà là cả một niềm vui lớn. Đó là một quá trình khám phá. Có những đoạn tôi cho là khó viết, như đoạn Bụt độ ba anh em ông Ca Diếp. Tài liệu thường nói là Bụt độ ba anh em đó nhờ thần thông của Ngài nhưng khi viết thì tôi đã không để cho Bụt dùng thần thông mà cứ để Bụt sử dụng từ bi và trí tuệ của Ngài để độ ba ông ấy. Bụt có rất nhiều trí tuệ, rất nhiều từ bi, tại sao Bụt không dùng mà lại phải dùng thần thông? Và tôi có một niềm tin rất vững chãi là mình sẽ viết được chương đó. Chương này là một trong những chương khó nhất của Đường Xưa Mây Trắng nhưng cuối cùng tôi đã thành công.

Chương khó thứ hai là chương nói về cuộc trở về của Bụt để thăm gia đình. Mình đã thành Phật rồi, mình đã thành bậc toàn giác rồi, nhưng về thăm gia đình mình vẫn còn là một đứa con của cha, của mẹ, vẫn là một người anh của em. Viết như thế nào để Bụt vẫn còn giữ lại được tính người của Ngài. Cũng nhờ niềm tin đó mà tôi thành công. Quý vị đọc lại, sẽ thấy Bụt về thăm nhà rất tự nhiên. Cách Ngài nắm tay vua cha đi từ ngoài vào, cách Ngài đối xử với Yasodhara và Rahula, rất tự nhiên. Tôi có cảm tưởng là có chư Tổ gia hộ nên tôi mới viết như vậy được. Trong Đường Xưa Mây Trắng chúng ta khám phá ra Bụt là một con người chứ không phải là một vị thần linh. Đó là chủ tâm của tác giả, giúp cho người ta khám phá lại Bụt như một con người và lột ra hết các vòng hào quang thần dị người ta đã choàng lên cho Bụt. Không thấy Bụt như một con người thì người ta sẽ tới với Bụt rất khó.
 

Rue de la goutte d’Or

Tôi rời đất nước năm 1966, vào tháng năm. Lúc đó chiến tranh Việt Nam đã đi đến mức khủng khiếp. Tôi nghĩ rằng mình phải ra đi để cất lên tiếng kêu gọi hòa bình. Tôi chỉ muốn đi vài tháng thôi rồi về. Lúc đó trường đại học Cornell ở Ithaca mời tôi qua để giảng một loạt bài về tình hình ở Đông Nam Á. Người đứng ra mời là George Kahin, giáo sư chính trị học ở tại trường Cornell. Tôi đi ra để nói rõ là dân Việt Nam không muốn đánh nhau nữa, chỉ muốn ngồi xuống thương thuyết với nhau để đi tới một giải pháp hòa bình và các cường quốc lớn trên thế giới đừng dùng Việt Nam làm một chỗ để tranh giành ảnh hưởng nữa, đừng sử dụng ý thức hệ cũng như bom đạn trên đất nước nhỏ bé đó.

Trong chuyến đi này, tôi có nhờ một tổ chức hòa bình là Fellowship of Reconciliation, gọi là hội thân hữu hòa giải sắp đặt. Đó là một tổ chức có tính cách tôn giáo và tâm linh, không phải là một tổ chức chính trị. Họ bảo trợ cho tôi để tôi có thể đi khắp nơi trên nước Mỹ và các nước Âu Châu và Úc Châu để nói lên tiếng nói của những người khao khát hòa bình. Trong chuyến đi đó tôi đã đi Mỹ, đã đi hầu hết các nước Âu Châu và sau đó tôi đi Úc, đi Tân Tây Lan, đi Phi Luật Tân và đi Nhật. Trong quá trình vận động hòa bình này, tôi được báo tin rằng chính quyền Việt Nam không muốn cho tôi về đây nữa. Vì vậy tôi đã bị lưu đày từ tháng năm năm 1966 đến bây giờ. Hồi đó, gần như mỗi đêm đều có nằm mơ về nhà. Tất cả bạn bè, học trò và công việc lý tưởng của mình đều ở Việt Nam. Nào là Viện Cao Đẳng Phật học, Viện Đại Học Vạn Hạnh, tuần báo Hải Triều Âm, trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, nhà xuất bản Lá Bối. Tất cả công việc đó, tất cả học tăng nam và nữ đều ở Việt Nam. Vì vậy không về được Việt Nam tôi rất buồn. Tôi bị lưu đày vì đã dám cất lên tiếng kêu gọi hòa bình.

Trong những giấc mơ tôi thấy tôi đang leo lên một cái đồi rất xanh, có những cây rất đẹp và có những căn nhà rất xinh xắn. Thường thường leo tới lưng chừng đồi thì tôi tỉnh dậy và nhớ rằng mình đang bị lưu đày. Giấc mơ này cứ lặp đi lặp lại nhiều lần. Tôi đi làm việc rất hăng hái. Có khi chỉ ngủ một đêm ở thành phố, và khi làm việc tại thành phố đó xong thì phải bay đi thành phố khác. Thời gian ngồi trên máy bay là lúc nghỉ ngơi vì xuống máy bay, vào đến phi trường là phải họp báo, phải nói chuyện. Tôi đã đi tới rất nhiều các thành phố lớn ở Âu Châu, Mỹ Châu, Úc Châu. Có lúc thức dậy ở khách sạn, tôi không biết là tôi đang ở đâu. Hồi đó các thành phố ở Âu Châu không có chùa. Tổ chức bảo trợ cho tôi là một tổ chức hòa bình có khuynh hướng tôn giáo mà trụ sở đặt ở Newark, New York. Họ lo cho tôi về vấn đề chuyên chở và lưu trú, và họ cử một vị phụ tá đi theo. Hồi đó làm gì có phụ tá người Việt nên mỗi khi bị cảm tôi phải nhờ phụ tá người Mỹ cạo gió. Mà phụ tá người Mỹ làm sao biết cạo gió, nên tôi phải huấn luyện cho người đó để anh ta có thể cạo gió được.

Lúc đó tôi đã biết tu tập chánh niệm, biết cố gắng an trú bây giờ và ở đây, cho nên trong mỗi hơi thở, trong mỗi bước chân tôi đều có thực tập làm quen với cảnh vật và con người ở tại Âu Châu. Cây cối ở đây khác, chim chóc khác, hoa cỏ cũng khác và người cũng khác. Tôi phải tập làm quen và chơi với trẻ em ở Âu Châu: trẻ em Đức, trẻ em Pháp, trẻ em Ý; làm bạn không phải với những ông thầy tu đạo Bụt mà làm bạn với những ông mục sư Tin Lành, những ông linh mục Công giáo, và thực tập nhận diện những cái mầu nhiệm của hiện hữu đang có mặt xung quanh mình. Tôi thực tập rất đàng hoàng và sau đó vào khoảng một năm hay một năm mấy thì giấc mơ kia không trở về nữa. Tôi đã chấp nhận cả trái đất là quê hương của mình.

Từ năm 1968 đến 1975 tôi thành lập và hướng dẫn một phái đoàn hòa bình của giáo hội Phật Giáo Việt Nam tại Paris. Cuối năm 68, đầu 69 đã có hội nghị hòa bình tại Paris và khi thăm dò thì biết bộ ngoại giao chính phủ Pháp đồng ý cho mình mở một trụ sở của Phật Giáo tại Paris. Nhưng khi mình triệu tập hội nghị Phật Giáo Việt Nam tại Paris, mời tất cả các đại diện Phật giáo Việt Nam tại các nước về họp ở Paris thì bộ ngoại giao lại không cho, bộ ngoại giao ép mình phải đem cái hội nghị đó về Fontaienbleau dưới áp lực các phái đoàn Hà Nội, Sài Gòn và Mỹ.

Ban đầu trụ sở của phái đoàn Phật giáo Việt Nam là ở tại Maisons Alfort, ngoại ô Paris. Sau đó, vào tháng 5 năm 1970 thì mới dời trụ sở đó về Paris, đó là số 11 đường La Gtoutte d’Or ở Paris 18 è. Trước đó tôi đã sáng tác được cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa (Lotus in the Sea of Fire), được xuất bản bằng tiếng Anh, rồi bằng tiếng Đức, rồi bằng một số các thứ tiếng khác trong đó có tiếng Nhật. Cuốn này cũng được in chui ở Việt Nam nhiều lần. Sư cô Chân Không hồi đó có giúp vào việc in chui, phát hành chui sách này và bị bắt. Sư cô bị bắt tại Huế vì có trong người một cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa, được xem như tài liệu hòa bình. Sư cô được chuyển về nhà giam ở Sài Gòn.

Hồi đó tôi cũng sáng tác và gửi về nhà một tập thơ gọi là Tiếng Đập Cánh Loài Chim Lớn cũng đã được sư cô in chui. Nhà xuất bản ở bên Mỹ cũng có in của tôi một tập thơ gọi là The Cry of Vietnam, in tiếng Anh và sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng khác. Trong thời gian làm việc tại Maisons Alfort tôi có xuất bản cuốn Love in Action và một tập khảo luận gọi là Đối Thoại Cánh Cửa Hòa Bình, đối thoại giữa những người quốc gia và những người cộng sản, (Dialogue, the Key to Vietnam Peace). Sau đó một thời gian phái đoàn Phật giáo Việt Nam được dời về thành phố Sceaux, 69 Boulevard des Granges mà số điện thoại là 7.02.67.33. Trong thời gian làm việc tại Sceaux tôi có sáng tác được Vấn Đề Nhận Thức Trong Duy Thức Học, tôi có viết được Văn Lang Dị Sử, Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I. Trong thời gian đó tôi được nhận vào dạy ở trường Ecole Pratique des Hautes. Etudes trong ngành gọi là Science Historique et Philologique (khoa học lịch sử và bác ngữ). Chính trong thời gian giảng dạy đó mà tôi tìm ra được sự thật là Tuệ Trung Thượng Sĩ không phải con của Trần Hưng Đạo mà là anh ruột của tướng Trần Hưng Đạo. Hồi đó tôi cũng viết cuốn Nẻo Vào Thiền Học nhưng không phải bằng tiếng Việt. Nó được một nhà xuất bản ở Paris đặt viết bằng tiếng Pháp, và khi xuất bản tên là Clés du Zen.

Sau 1975, khi Mỹ rút khỏi Việt Nam và chính quyền miền Bắc nắm hết cả miền Bắc lẫn miền Nam thì tăng thân ở Paris rút về Phương Vân Am. Phương Vân Am cách một giờ rưỡi từ Paris, và là chỗ mà trước đó mỗi cuối tuần mình đều về để tu dưỡng. Tại Phương Vân Am tôi đã sáng tác được Bưởi, Trái Tim Mặt Trời, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận II Việt Nam Phật Giáo Sử Luận III. Trong thời gian ở Phương Vân Am này, từ 1975 đến 1982, cho đến khi tìm ra Làng Mai thì tôi, sư cô Chân Không và một số các vị khác trong tăng thân đã tổ chức cứu trợ thuyền nhân, đã thuê ba chiếc tàu, một chiếc tên là Leapdal, một chiếc tên là Roland, và một chiếc tên là Saigon 200 để đi cứu thuyền nhân trên biển. Mục đích của mình là vớt người trên biển để chở một cách bí mật tới các nước như Úc… Lúc ấy trên thuyền của mình đã có 550 thuyền nhân, nhưng sau đó công tác bị lộ, tôi cũng như sư cô Chân Không bị dẫn độ, tức là bị đuổi ra khỏi Tân Gia Ba, vì văn phòng của mình hoạt động bí mật ở Tân Gia Ba. Tân Gia Ba có một chính sách rất không nhân từ đối với thuyền nhân. Mình bị lộ vì các nhà báo đi săn tin, nếu không thì mình đã có thể chở các thuyền nhân đó bị giao cho Ủy Ban Tị Nạn của Liên Hiệp Quốc và phải ở trong các trại tị nạn ba năm, bốn năm hoặc năm năm mới có thể đi định cư. Rất tiếc. Trong cuốn Thử Tìm Dấu Chân Trên Cát sư cô Chân Không có kể lại câu chuyện đi cứu trợ thuyền nhân trên biển. Mời quý vị đọc.

Như quý vị đã biết, ở Phương Vân Am, mỗi mùa hè mình cũng mở cửa cho thiền sinh tới tu học nhưng vì cơ sở bé nhỏ quá nên mình mới có ý đi về miền Nam để kiếm một chỗ lớn hơn. Sư cô Chân Không, trước khi rời Việt Nam để qua giúp tôi, đã làm việc với trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội rất đắc lực. Và sư cô Chân Không đã có mặt với tôi bắt đầu từ năm 1968 cho tới bây giờ, đã yểm trợ tất cả các công tác về hòa bình, về xã hội của tôi một cách liên tục, không có một giây phút nào ngưng nghỉ, không có một giây phút nào thối chí và muốn bỏ cuộc. Cố nhiên là tôi có rất nhiều các bạn và các đệ tử khác, nhưng có người đã bỏ cuộc nửa chừng, bởi vì trên đường tranh đấu cho hòa bình, nhân quyền và xây dựng tăng thân, có rất nhiều hiểm nguy, khó khăn và trở ngại. Có thể là vì có những khó khăn nội tâm hay khó khăn ngoại cảnh mà nhiều người phải bỏ cuộc nhưng sư cô Chân Không đã đi bên tôi từ đầu đến cuối như một chiến hữu, chưa bao giờ có tư tưởng bỏ cuộc nửa chừng.
 

Sen búp từng cánh hé

Tôi xuất gia ở Việt Nam, lớn lên ở Việt Nam, học Phật ở Việt Nam, tu tập ở Việt Nam nhưng có chứng đắc ở Tây Phương. Trước đó tôi cũng đã từng dạy nhiều thế hệ học tăng rồi. Chính năm 1962 tại trường đại học Princeton nơi tôi cư trú, tôi bắt đầu có những cái thấy rất sâu sắc, hoa trái của sự thực tập. Nếu đọc cũng giống như chuyện tôi đi tu vậy. Vì hoàn cảnh Việt Nam lúc đó rất căng thẳng, và khi qua tới Princeton tôi thấy trường đại học này giống như một cái tu viện, xa hẳn những đòi hỏi cấp bách của thời thế. Tôi có thì giờ rất nhiều để đi thiền hành, để làm chín những cái thiền quán chưa được chín lúc đó. Mùa hè năm 1962 tôi viết cuốn Bông Hồng Cài Áo. Bông Hồng Cài Áo là một tập văn rất đơn sơ, nhưng đó thực sự là hoa trái của tuệ giác. Đó là lần đầu giáo pháp ‘‘Hiện Pháp Lạc Trú’’ được diễn tả.

Tất cả chúng ta đều có một bà mẹ. Mẹ thơm như chuối ba hương, ngon như xôi nếp một và ngọt như đường mía lau, vì vậy ta đừng sống hờ hững mà phải sống cho có ý thức. Đó là cái thấy Hiện Pháp Lạc Trú. Mình sống như thế nào để những cái thấy mầu nhiệm của cuộc sống đừng vuột khỏi tầm tay mình, mình phải sống sâu sắc với mỗi giây phút trong hiện tại. Vì vậy cho nên có thể coi Bông Hồng Cài Áo là cái hoa đầu tiên nở trên sự giác ngộ của tôi. Và từ đó trở đi thì cái thấy ấy cứ một con đường đó mà đi tới. Bài thuyết pháp hay nhất mà ngắn nhất của tôi là ‘‘đã về, đã tới’’. Chỉ có bốn chữ thôi, và sáng nay tôi đã nói với sư em Châu Nghiêm rằng bốn chữ ‘‘đã về, đã tới’’ có thể coi là pháp ấn của Làng Mai. Bất cứ một bài thuyết pháp nào, bất cứ một giáo lý nào mà đi ngược lại tinh thần ‘‘đã về, đã tới’’ thì đó không phải đích thực là giáo lý và sự thực tập của Làng Mai. Dấu ấn ‘‘đã về, đã tới’’ đã phát hiện ngay từ năm 1962 trong tác phẩm rất nhỏ bé tên là Bông Hồng Cài Áo.

Và trong thời gian hoạt động cho hòa bình ở ngay tại Paris thì tôi cũng đã sáng tác tác phẩm gọi là Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức. Sách này viết năm 1974. Tôi đã viết cuốn đó vì thương các bạn xuất gia và tại gia đang phục vụ tại trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội trong một hoàn cảnh lửa đạn rất là nguy hiểm. Cuốn đó viết xong thì được gửi về Việt Nam in. Bên này tôi nghĩ rằng các bạn Tây Phương của mình đang yểm trợ công cuộc vận động hòa bình cũng có thể được thừa hưởng giáo lý đó cho nên Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức đã được dịch ra tiếng Anh, The Miracle of Mindfulness. Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức là một cuốn sách dạy mình an trú trong hiện tại, sống chánh niệm, biết cái gì đang xảy ra trong giờ phút hiện tại.

Giữa Bông Hồng Cài Áo năm 1962 và Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức năm 1974 là mười hai năm, tôi đã sáng tác rất nhiều. Quý vị có thể thấy trong những sáng tác đó diễn biến của cái thấy của tôi. Đó là quá trình Sen Búp Từng Cánh Hé. Một điều có thể ghi nhận là trong cuộc đời mình, tôi đã có cơ hội mang Đạo Bụt Đại Thừa về tắm lại trong dòng suối Nguyên Thủy thì tôi đã có cái thấy, đã có sự chứng đắc về Hiện Pháp Lạc Trú. Về lại với nguồn suối Nguyên Thủy thì cái thấy đó lại được chứng nghiệm rõ ràng hơn. Cuốn Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức đã được nhà xuất bản Beacon ấn hành, và cho tới nay, sau mấy chục năm, cuốn sách vẫn tiếp tục bán được như thường. Bán dài dài. Vì vậy quý vị có thể nói là Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức là một cuốn sổ tay, là một thiền phổ mà quý vị có thể chia sẻ cho những người muốn thực tập pháp môn của Làng Mai. Người nào chưa đọc Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức thì nên tìm mà đọc. Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức (The Miracle of Mindfulness) đã xuất bản ít nhất là trong ba mươi thứ tiếng. Thiền chánh niệm là phép thực tập căn bản ở Làng Mai, và chánh niệm có nghĩa là an trú trong hiện tại, thấy được cái gì đang xảy ra trong hiện tại, tích cực cũng như tiêu cực. Những cái tích cực để nuôi dưỡng, những cái tiêu cực để chuyển hóa. Hai mươi năm của Làng Mai đã giúp tôi học hỏi được rất nhiều, đã giúp cho tăng thân của Làng Mai lớn lên rất nhiều.
 

Liên hệ thầy trò

Hồi xưa tôi đã từng đào tạo học tăng, nam cũng như nữ. Tôi rất thương yêu thế hệ tăng ni sinh trẻ tuổi, lo cho họ hết mình. Tôi đã nghĩ rằng lo cho họ là đủ, mình khỏi cần phải có đệ tử. Khi sang tới ngoại quốc tôi vẫn giữ tâm niệm đó. Cho tới một ngày tôi thấy rõ ràng rằng nếu không có cái liên hệ thầy trò với người đệ tử thì sự thực tập của người đệ tử không đi xa được. Tôi đã từng giảng dạy ở các thiền viện ở Hoa Kỳ và ở Âu Châu. Trong khi giảng dạy cho họ thì có liên hệ thầy trò, nhưng sau đó thì liên hệ đó trở thành lỏng lẻo, vì vậy họ không lớn lên được. Họ không thực tập một cách miên mật và liên tục giáo lý của mình, vì liên hệ thầy trò không có. Vì vậy sau đó tôi đã quyết định có những người đệ tử xuất gia và những người đệ tử tại gia. Tôi khám phá ra được rằng cái liên hệ thầy trò rất quan trọng, không những cho học trò mà cho cả tôi nữa. Và tôi đã được học rất nhiều khi có những người đệ tử sống và thực tập chung với tôi, những người đệ tử xuất gia và tại gia.

Làng Mai đã đóng góp rất nhiều, không những cho đạo Bụt Âu Châu, Mỹ Châu mà còn đóng góp rất nhiều cho đạo Bụt ở Việt Nam. ‘‘Làm Mới’’ là một pháp môn. Nếu không có những người đệ tử xuất gia ở Làng Mai thì tôi đã không sáng tác được sách Bước Tới Thảnh Thơi. Bước Tới Thảnh Thơi là một cuốn sách giáo khoa, là nền tảng thực tập cho người sadi và sadini. Cuốn sách giáo khoa của sadi và sadini mà hiện giờ các nước Phật Giáo đang sử dụng đã được sáng tác cách đây 400 năm. Các thầy Châu Hoằng và Vân Thê đã sáng tác cuốn đó. Trong 400 năm, các cô các chú đã chỉ dùng một cuốn đó thôi. Tôi nghĩ rằng nó cũ quá, xưa quá, không còn thích hợp nữa. Do đó thầy trò Làng Mai đã ngồi xuống và sáng tác được Bước Tới Thảnh Thơi trong đó có tới 39 thiên uy nghi thay vì 24. Mười giới được trình bày một cách rất thực tế, rất mới, với giới tướng thật đẹp và đầy đủ. Nếu không có giới xuất gia ở đây thì mình cũng không có Nhật Tụng Thiền Môn để cống hiến cho Việt Nam. Hiện bây giờ ở Việt Nam có rất nhiều chùa đang sử dụng Nhật Tụng Thiền Môn. Chúng ta đã có nghi thức tụng giới tỳ kheo, tỳ kheo ni bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp. Chúng ta đã có những giới bản dùng trong các giới đàn truyền giới bằng tiếng Việt, bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Vì cần dạy đệ tử xuất gia ở Làng Mai nên chúng ta đã sáng tác ra những tư liệu đó mà ở quê nhà, các chùa, các tu viện, các Phật học viện có thể sử dụng.

Chúng ta hãy nói tới một ví dụ là tác phẩm Trái Tim Của Bụt. Trái Tim Của Bụt là Phật pháp căn bản để dạy cho người xuất gia và nó đã được sử dụng, đang được sử dụng bởi các giáo thọ trẻ ở Việt Nam để giảng dạy trong các trường Phật học cơ bản. Chính nhờ vào giáo trình đó mà chúng ta có khóa tu 21 ngày cho người Tây phương cũng lấy tên là Trái Tim Của Bụt. Sách Trái Tim Của Bụt cho người Tây Phương là cô đọng cuốn Trái Tim Của Bụt cho người xuất gia tại Làng Mai, vì tại Làng Mai các thầy, các sư cô phải học chương trình này cả năm trong khi Trái Tim Của Bụt cho người Tây Phương chỉ học trong 21 ngày. Vì vậy cuốn Trái Tim Của Bụt bằng tiếng Việt giàu có và nhiều tư liệu hơn cuốn The Heart of the Buddha’s Teachings bằng tiếng Anh và bằng tiếng Pháp rất nhiều. Các vị giáo thọ trẻ ở Việt Nam dùng Trái Tim Của Bụt làm tài liệu giảng dạy và họ cũng sử dụng nhiều tư liệu khác của Làng. Chúng ta có những khóa học cho người xuất gia như là khóa ‘‘Kinh Samidhi, hạnh phúc mộng và thực’’, khóa Đại Tạng Nam Truyền, khóa Đại Tạng Bắc Truyền, khóa Duy Thức Tam Thập Tụng, khóa Duy Biểu 50 bài tụng, khóa Nhiếp Đại Thừa v.v.. Những khóa ấy nhắm vào người xuất gia nhưng những người cư sĩ cũng được thừa hưởng. Chúng ta đã sáng tạo ra chương trình Bốn Năm Đào Tạo Người Xuất Gia. Ngày xưa đào tạo cần mười năm, bây giờ ta đào tạo trên căn bản bốn năm và khi học xong bốn năm thì đã có khả năng tổ chức những khóa tu, hướng dẫn những ngày quán niệm. Và thường thường sau năm năm thì người xuất gia được làm lễ truyền đăng.

Ở Làng Mai chúng ta có ba hình thức giáo thọ: các vị giáo thọ tại gia và các vị giáo thọ xuất gia danh dự. Tuần sau chúng ta sẽ làm lễ truyền đăng cho một số vị xuất gia và tại gia. Nếu kể hết số lượng của những vị xuất gia được truyền đăng tại Làng Mai, kể cả những vị sắp được truyền đăng là chúng ta đã truyền đăng cho khoảng 70 vị. Nếu kể cả những vị giáo thọ tại gia thì số lượng các vị đã được truyền đăng và đi giảng dạy các nơi là trên 100 vị. Những vị xuất gia đã được truyền đăng tại Làng Mai và đang giảng dạy tại Việt Nam cũng nhiều.

Tại Làng Mai, người xuất gia được học những lớp rất dài và rất sâu mà phần lớn nhờ vào những khóa tu mùa đông. Ví dụ như lớp học về Truyền Thống Sinh Động Của Đạo Bụt, như khóa ‘‘Thực tập ở Làng Mai’’ (The practice of Plum Village), khóa ‘‘Đại Tạng Nam Truyền’’ hay khóa ‘‘Đại Tạng Bắc Truyền’’ trong đó có rất nhiều kinh lớn như kinh Duy Ma, kinh Bát Nhã, kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm được giảng dạy. Một số các bài giảng đó đã được làm thành sách để cho những người xuất gia ở Việt Nam được thừa hưởng. Vì vậy cho nên sự học hỏi và tu tập của các vị xuất gia ở Làng Mai cũng đóng góp nhiều cho sự học hỏi và tu tập ở quê hương cũng như ở Âu châu và Mỹ Châu.

Khi bắt đầu có đệ tử xuất gia, tôi học hỏi được rất nhiều. Cái liên hệ thầy trò trực tiếp và thường xuyên làm cho tôi thấy được cách giáo dục nào có thể đưa tới sự thành công chắc chắn. Về sự phối hợp giữa giáo lý và hành trì luật nghi ta không thể phân biệt ra được. Trong quá trình dạy dỗ và thực tập thì mình đã sáng tạo ra được những pháp môn rất mầu nhiệm mà những người tại gia và cư sĩ cũng có thể thừa hưởng được. Những quan niệm như tăng thân, tăng nhãn, làm mới, soi sáng, thiền lạy, đệ nhị thân,v.v.. là những hoa trái của sự thực tập và học hỏi ở Làng Mai, được sử dụng trong giới xuất gia mà cũng được sử dụng trong giới tại gia nữa. Sự có mặt của các sư cô, sư chú ở Làng Mai đã đem lại cho tôi rất nhiều hạnh phúc. Có lẽ một trong những lý do căn bản là sự dấn thân của họ, sự cam kết dâng hiến cả cuộc đời của họ trong sự tu học và quyết tâm đi trên con đường lý tưởng chung.

Ở Làng Mai, các thầy, các sư cô đều có nguyện ước sống với nhau như một gia đình, sống mãi mãi với nhau như một gia đình, tu học với nhau và đi làm việc với nhau.
 

Hạt giống đi xa

Ngày xưa tôi cũng đã từng dạy và đào tạo nhiều lớp tăng sinh, ni sinh nhưng chưa bao giờ tôi có hạnh phúc nhiều như vậy. Vì thầy trò sống với nhau, thực tập với nhau nên mỗi ngày tôi đều kiếm cách để trao truyền tất cả những gì tôi đang có; giống như chiếc lá chuối đầu trao truyền lại cho chiếc lá chuối thứ hai, thứ ba… Hạnh phúc mà các sư cô, sư chú trao cho tôi rất lớn.

Không biết vì lý do gì mà các sư cô, sư chú ở Làng Mai người nào cũng xinh đẹp, dễ thương, có con mắt rất sáng, có nụ cười rất tươi. Không biết có phải là vì trước khi đi tu họ đã đẹp sẵn hay nhờ đi tu mà họ đẹp ra? Hay là vì lý do cha mẹ thường thường thấy con mình đẹp hơn con người khác? Nhưng mà sự thực tôi thấy các sư cô sư chú Làng Mai rất đẹp, dầu họ gốc Âu Châu, Mỹ Châu hay Á Châu. Điều này quý vị chắc cũng có nhiều người đồng ý với tôi. Xong lễ xuất gia thì đã thấy họ đẹp hơn liền. Mới có mấy giờ đồng hồ sau lễ xuất gia mà thấy mặt mày họ đã rạng rỡ hơn, hai mắt họ đã sáng hơn, miệng cười đã tươi hơn. Đó là do quyết tâm, do giới thể, do sự dấn thân của người tu. Và ngồi với các sư cô sư chú để uống trà, để pháp đàm, để nói chuyện hạnh phúc trong hiện tại và trong tương lai là một trong những chuyện tôi ưa làm nhất. Tôi để thì giờ cho các sư cô, sư chú rất nhiều và những giờ đó đem lại cho tôi rất nhiều hạnh phúc.

Tôi rất muốn ở trong các chùa của mình có một số các vị cư sĩ cùng thực tập chung với các sư cô sư chú để trở thành một cây cầu bắc ngang giữa những người xuất gia và những người tại gia bên ngoài. Những người đó thực sự đáng gọi là cận sự: rất gần gũi, rất hiểu biết thì mới chuyển được tuệ giác, hạnh phúc của tăng đoàn xuất gia tới tập đoàn của người cư sĩ. Và đó là một trong những lý do khiến cho mình đi tới trên sự phát triển dòng tu Tiếp Hiện. Trong dòng Tiếp Hiện có rất nhiều người cư sĩ, họ là cư sĩ nhưng không phải như những người cư sĩ khác. Họ có 14 Giới và 14 Giới của họ là một cây cầu nối liền tăng đoàn những người xuất gia với đoàn thể những người cư sĩ.

Hiện bây giờ chúng ta đang có những cố gắng thành lập những cộng đồng những người tại gia do những người tại gia hướng dẫn như cộng đồng Inter Sein bên Đức do ba vị giáo thọ Đức hướng dẫn; cộng đồng Clear View ở Santa Barbara Mỹ cũng do hai vị giáo thọ Mỹ hướng dẫn. Chúng ta mong rằng trong những năm tới của thế kỷ 21 sẽ có những tăng thân tại gia như vậy được thành lập khắp nơi trên thế giới do những người Tiếp Hiện tại gia lãnh đạo. Chúng ta cũng hy vọng rằng có rất nhiều cơ sở, trung tâm thực tập chánh niệm mà không có màu sắc tôn giáo, gọi là Mindfulness Practice Center, được thiết lập ở mỗi thành phố để cho mọi người bất luận tôn giáo nào, chủng tộc nào đều có thể đến để thực tập, cảm thấy thoải mái, cảm thấy mình không cần phải bỏ đạo gốc mà theo một đạo mới. Thực tập của Làng Mai bây giờ phải vượt khỏi ranh giới của tôn giáo. Điều này tôi thấy thật rõ.

Trong chuyến đi Trung Quốc vừa rồi, khi gặp Ủy Ban Tôn Giáo Nhà Nước tăng đoàn của mình có tặng cho họ một bức bút pháp có chữ ‘‘The Spiritual Dimension’’ (Chiều Hướng Tâm Linh). Ý của mình muốn nói là Trung Quốc đang phát triển về mọi mặt: kinh tế, giáo dục, nghệ thuật, chính trị, nhưng mà người ta vẫn khổ nếu mà người ta không có chiều hướng tâm linh trong đời sống và hoạt động của mình. Vì vậy yểm trợ cho đạo Bụt để đạo Bụt có thể đóng góp cho phần tâm linh ấy thì sẽ giúp người ta bớt khổ. Cách đây độ chừng mấy tuần, trường đại học y khoa Genève có mời tôi qua giảng một bài về bộ óc của con người. Họ tổ chức một tuần lễ gọi là Semaine du Cerveau (tuần lễ về bộ óc) và họ quy tụ những nhà khoa học thần kinh, những nhà khoa học về não bộ để chiếu thêm ánh sáng vào lĩnh vực đó. Tôi đâu phải một chuyên gia về óc mà họ vẫn mời. Là tại vì người ta muốn có một cái thấy về phương diện tâm linh. Rồi Davos, tức là hội nghị quốc tế của những nhà doanh thương lớn cũng mời tôi. Tôi đâu phải một nhà doanh thương, vậy mà sao họ cũng mời? Là tại vì họ thấy giới doanh thương và chính trị cũng có những đau khổ, lo lắng, sợ hãi và họ cần tới một chiều hướng tâm linh. Rồi trường y khoa Harvard cũng vậy, mời tôi cho một ngày quán niệm cho các bác sĩ, cho các nhà khảo cứu y khoa. Trong khắp các lãnh vực, người ta đang cần một chiều hướng tâm linh để bớt lo lắng, khổ đau và sợ hãi. Vì vậy đạo Bụt phải vượt khỏi cái giới hạn tôn giáo của mình để đi tới như một nguồn tuệ giác không có màu sắc tôn giáo. Điều này mình thấy rất rõ và đó là sứ mạng của Đạo Tràng Mai Thôn. Các thầy, các sư cô, các phật tử cư sĩ biết rằng mình phải đem đạo Bụt ra phụng sự cho đời không phải với tính cách một tôn giáo mà với tính cách một nguồn tuệ giác, một truyền thống thực tập. Mình phải đem đạo Bụt vào trong nhà tù, mình phải đem đạo Bụt vào trong trường học, trong bệnh viện, trong nhà cảnh sát. Làm thế nào để cho những người đó sống với đời sống của họ một cách thoải mái, giảm bớt khổ đau. Vì vậy cho nên chúng ta rất cần học hỏi cống hiến phương pháp thực tập chánh niệm như thế nào để có thể áp dụng được trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội mà không bị hạn hẹp bởi hình thức tôn giáo.

Đứng về phương diện hoạt động của Làng Mai, chúng ta đã mở những khóa tu không những chỉ ở Làng Mai mà ở khắp các nước Âu Châu, Mỹ Châu và Á Châu. Chúng ta đã mở các khóa tu cho sự thực tập trong các gia đình. Chúng ta đã mở các khóa tu cho các em thiếu nhi (chỉ cho các em thiếu nhi thôi), nhiều lần ở Mỹ, ở Úc và tại Âu Châu. Chúng ta đã mở các khóa tu cho các nhà tâm lý trị liệu tại Mỹ Châu và Âu Châu. Chúng ta đã mở các khóa tu cho các cựu chiến binh, cho các nhà hoạt động sinh môi, cho các bác sĩ và các y tá, cho những nhà hoạt động hòa bình. Chúng ta đã đem đạo Bụt vào trong tù. Mỗi năm chúng ta đều có những khóa tu như vậy, do các vị giáo thọ của Làng Mai tổ chức hoặc do tăng đoàn ở Làng Mai đi tổ chức. Và năm nay trường đại học y khoa Harvard muốn tôi qua để nhận một giải thưởng của họ. Họ nói các khóa tu đó đã giúp người ta trị liệu và bớt khổ rất nhiều. Chúng ta không phải là bác sĩ, không phải là những nhà tâm lý trị liệu nhưng những khóa tu đó đã đã đem lại sức khỏe, niềm vui và hy vọng cho hàng ngàn người mỗi năm. Vì vậy họ muốn công nhận sự thật đó bằng một giải thưởng.

Nói như vậy có nghĩa là chúng ta đã vượt qua được cái ranh giới về tôn giáo và đi vào cuộc đời. Trong quá trình lớn lên của Làng Mai, chúng ta đã hiện đại hóa được sự học hỏi và sự thực tập của đạo Bụt. Giáo lý của chúng ta được quần chúng tiếp nhận một cách rất hồ hởi, một cách hoan hỷ. Mỗi khi chúng ta tổ chức một khóa tu thì Phật tử từ các truyền thống khác nhau đều tới tu tập, không kỳ thị. Dù theo truyền thống thiền Nhật Bản hay thiền Cao Ly, thiền Vipassana hay là thiền Miến Điện, họ đều tới tu học và cảm thấy thoải mái trong các khóa tu của chúng ta. Pháp môn và sự thực tập của chúng ta giống như mẫu số chung cho các hệ phái Phật Giáo. Chúng ta đã cống hiến sự học hỏi đó, sự thực tập đó cho tất cả các giới trong xã hội: giới tâm lý trị liệu, giới bảo vệ sinh môi, giới bác sĩ, giới doanh thương. v.v.. đủ hết. Có những nhà doanh thương sau khi đã dự khóa tu tổ chức tại Làng Mai nói rằng hai ba tháng sau mà họ vẫn tiếp tục có thêm tuệ giác. Những hạt giống được gieo trong khóa tu từ từ nảy sinh và cho họ thêm tuệ giác, cho họ biết nên đi con đường nào và không nên đi con đường nào. Chúng ta đã trình bày được giáo lý và những pháp môn tu tập mà người trẻ và người trí thức Tây phương có thể hiểu được, chấp nhận được và áp dụng được. Đó là một thành công lớn của Làng Mai nhưng không phải là công trình của một người hay công trình của một vài năm. Đây là công trình của ba mươi năm trong đó có hai mươi năm của Làng Mai và công trình của cả tăng thân.

Chúng ta đã trình bày được Năm giới với ngôn ngữ không Phật Giáo. Năm giới là sự biểu hiện rất trung thực, rất sâu sắc không những giáo lý của đạo Bụt mà cả sự hành trì của đạo Bụt. Và Năm Giới được trình bày như là Chánh Niệm, là sự thực tập cụ thể của Chánh Niệm chứ không phải là những cấm cản. Và chúng ta cũng đã trình bày được 14 Giới Tiếp Hiện như là tinh ba giáo lý và sự thực tập của đạo Bụt. Cho đến nỗi những người không thuộc về Phật Giáo cũng tụng Giới Tiếp Hiện. Chúng ta đã thành lập trên dưới 800 tăng thân ở khắp nơi trên thế giới. Tại những thành phố lớn như Luân Đôn cũng đã có gần 10 tăng thân, vì thành phố quá lớn. Tại những thành phố nhỏ cũng có những tăng thân. Ngay tại bên Do Thái cũng đã có những tăng thân của Làng Mai. Ở Việt Nam có hàng chục ngôi chùa và những tăng thân khác đang thực tập theo pháp môn của Làng Mai. Nếu chúng ta chưa thấy được trên dưới 800 tăng thân đó thì ta chưa thấy được Làng Mai. Bên Úc, bên Đức cũng vậy, có rất nhiều tăng thân.

Năm ngoái ngồi ở Luân Đôn trong khóa tu tôi thấy rất cảm động khi các thiền sinh ở Edinburgh viết thư cho tôi. Có mười mấy lá thư từ Edinburgh. Edinburgh ở miền Bắc Anh Quốc, thuộc Tô Cách Lan (Scotland). Tôi chưa bao giờ bước chân đến thành phố Edinburgh, vậy mà thiền sinh ở đó viết thư cho tôi rất tha thiết. Họ nói về sự thực tập của họ, hạnh phúc của họ và về tăng thân được thành lập ở thành phố đó. Tại sao tôi chú ý đến Edinburgh. Tại vì hồi xưa tôi có một người bạn đồng tu xuất gia đã từng đi du học ở Edinburgh. Vị đó đã được gửi đi Colombo để học Phật Giáo, nhưng học được vài năm thì hơi chán nên đã xin qua Anh để học và đã được gửi tới Edinburgh. Vị đó đã học nhân chủng học nhiều năm và đã về Việt Nam nhưng không để lại dấu vết nào cả. Còn tôi chưa bao giờ bước chân tới đó, vậy mà những hạt giống của Làng Mai đã đi tới và mọc lên từ vùng đất đó. Đó là điều làm tôi rất ngạc nhiên và rất vui. Có những vùng đất mình chưa bao giờ bước tới nhưng những hạt giống đã bay tới.

Chúng ta biết rằng ở nước Pháp có một loại cây cỏ nhỏ gọi là Bồ Công Anh (pissenlit, tiếng Anh là dandelion). Khi hoa chín rồi thì trở thành màu trắng và mỗi hạt có những cái cánh, bay đi rất xa. Gió có thể đưa những hạt hoa bồ công anh này bay xa hàng chục cây số. Những hạt giống mà tăng thân Làng Mai gieo cũng đi xa lắm. Nó đi vào trong nhà tù, nó đi vào các tu viện kín của người công giáo.

Hôm chúng tôi kết thúc khóa tu ở Phổ Đà Sơn, trú xứ của bồ tát Quán Thế Âm ở Trung Quốc, thầy trò đang chuẩn bị hành lý để đi ra tàu thì có một thiếu nữ chạy vào. Thiếu nữ Trung Hoa đó từ Thượng Hải tới. Cô ta đã được đọc một cuốn sách của tôi bằng tiếng Hoa, không phải là cuốn Đường Xưa Mây Trắng. Khi tới Phổ Đà Sơn, nghe nói có thầy Nhất Hạnh đang giảng dạy ở chùa Phổ Tế, cô ta rất ngạc nhiên. Cố nhiên là cô ta đã đọc được rất nhiều sách Phật rồi, nhưng khi đọc được tới cuốn sách ấy thì cảm thấy rằng mình tìm ra được con đường, tìm ra được lý tưởng của mình. Đang đi trên cầu thang từ nhà bước xuống sân thì tôi thấy cô ta bước xuống và lạy xuống. Sư cô Chân Không đã hướng dẫn cô ta đến. Cô ta vừa lạy vừa khóc, tại vì không ngờ lại được gặp tác giả cuốn sách mình hâm mộ ngay trên đất nước Trung Quốc của cô ta. Điều này chứng tỏ rằng những hạt giống mà tăng thân gieo trồng đi rất xa, xa lắm và mình không thể tưởng tượng được. Nó đi xa trong không gian và nó sẽ đi xa trong thời gian. Vì vậy nên mình không thể biết Làng Mai nằm ở đâu. Không phải tới Meyrac hay Loubès – Bernac hay Dieulivol thì thấy được Làng Mai đâu.

Còn về dòng Tiếp Hiện: Ngày xưa, hồi sư cô Chân Không và chị Nhất Chi Mai thọ giới thì chỉ có sáu người trong chúng chủ trì thôi. Bây giờ thì dòng Tiếp Hiện đã lên tới khoảng 700 người và hiện có mặt khắp nơi trên thế giới.

 

Fleur de Cactus

Hôm nay là ngày 13 tháng 12 năm 2001, chúng ta đang ở tại xóm Hạ, trong Khóa tu mùa đông. Bây giờ là 11 giờ sáng. Chúng ta nói tiếp bài pháp thoại hồi sáng bằng tiếng Việt.

Hồi sáng tôi có nói tới những Lá Thư Làng Mai số 1, số 2 và số 3 mà mình sẽ phóng lớn ra để cho mọi người cùng được đọc nhân dịp Tết năm nay. Nhân tiện, tôi xin nhắc quý vị là có một tác phẩm khác tôi viết trong năm thứ hai của Làng Mai là . Tý là tên một em bé trai khoảng 10 tuổi tên thật là Hải Triều Âm, là dân làng từ năm đầu. Nó là con của anh Lê Nguyên Thiều, là một trong những người cốt cán của Làng Mai trong năm đầu và năm thứ hai. Anh Lê Nguyên Thiều cũng đã là học trò của tôi ngày xưa ở Việt Nam và cũng đã từng làm tổng thư ký của trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Anh đã vượt biên qua và sau đó được mình mời về để xây dựng Làng. Hồi anh Thiều đưa gia đình về thì anh chị có ba đứa con. Đứa con đầu là Tý, em trai Tý là Miêu – nó sanh năm mèo – và tên thật của nó là Thiều Quang, đứa con thứ ba mới sanh được có mấy ngày thì tới Làng, nó tên là Chó Con, tên chữ là Nhật Tâm. Nhật Tâm tức là trái tim mặt trời. Anh Thiều đã đọc được cuốn Trái Tim Mặt Trời trong trại tị nạn và đặt tên con là Nhật Tâm. Nhật là mặt trời, Tâm là trái tim. Ngày mà gia đình này về tới Làng Hồng là giữa mùa đông, cháu bị bít bùng trong một cái giỏ suốt trên xe lửa. Rồi vì là mùa đông giá buốt nên cháu ở luôn mấy tháng trong phòng. Hôm đó trời hửng nắng, mẹ cháu mới đưa cháu ra ngoài và đó là lần đầu tiên nó được thấy bầu trời. Lần đầu thấy bầu trời xanh rộng lớn như vậy nó hơi hoảng, vì lâu nay nó chỉ thấy những cái nho nhỏ thôi. Cái phòng là cái lớn nhất rồi, bây giờ thấy một khoảng không gian xanh rộng như vậy thì nó hoảng. Nhưng chỉ trong vài giây sau đó nó lấy lại được sự bình tĩnh, và cười lên được. Tôi được chứng kiến giây phút đó. Tý là một em bé mười tuổi. Tôi đã viết một cuốn sách lấy tên là Tý. Cuốn sách đó có hai tập, tập đầu tên là Tý, Chiếc Lá Ổi Non, và cuốn hai là Tý, Cây Tre Triệu Đốt. Sách này ít người được đọc lắm, vì mới in có mấy trăm bản thôi. Nếu quý vị đọc được bộ sách này thì sẽ biết rõ những gì đã xảy ra trong năm đầu và năm thứ hai của Làng Mai. Mình phải tìm cách để tái bản cuốn này. Ngày xuất bản cuốn đó là ngày 22 tháng 2 năm 1984, tức là trước khi mở cửa Làng vào mùa hè năm thứ hai. Ngày 27 tháng 9 năm 1984 thì tôi đã viết xong Thi Kệ Nhật Dụng bằng tiếng Việt và vào ngày 5 tháng 11 năm 1984 thì viết xong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận III. Ngày 23 tháng 5 năm 1985 tôi viết xong kinh Pháp Ấn và ngày 2 tháng 9 năm 1985 thì chúng ta đã có thiền đường Hoa Quỳnh, Fleur de Cactus, ở Paris. Ngày 3 tháng 8 năm 1986 thì chúng ta có Kinh Quán Niệm Hơi Thở bằng tiếng Việt và tháng chạp năm 1986 thì tôi viết Đường Xưa Mây Trắng tới đoạn Bụt nhập Niết Bàn. Tôi đặt bút xuống và thở. Rồi sau đó tôi yêu cầu độc giả đọc tới đó cũng đặt sách xuống và thở. Đó là ngày 22 tháng Chạp năm 1986, tôi ngồi viết bên lò sưởi đốt bằng củi.

 

Đi như một dòng sông.

Hồi tháng 5 năm 1966, khi rời khỏi Việt Nam tôi không nghĩ là sẽ đi lâu, nhưng rốt cuộc đã bị kẹt phải ở lại. Thành ra tôi giống như một tế bào của một cơ thể bị văng ra khỏi cơ thể, rất nguy hiểm. Như một con ong bị tách biệt ra khỏi đàn ong. Chúng ta biết rõ một con ong bị tách biệt ra khỏi đàn không về được thì con ong đó sẽ khô, sẽ chết. Nhưng mà tôi đã không khô, không chết là tại vì tôi đã đi qua xứ người không phải với tư cách một cá nhân mà với tư cách một tăng thân, vì sự nghiệp của tăng thân. Đi để kêu gọi hòa bình vì lúc đó những công tác về văn hóa, giáo dục và xã hội ở Việt Nam rất lớn. Mình có Viện Đại Học Vạn Hạnh, mình có trường Cao Đẳng Phật Học, mình có nhà xuất bản Lá Bối, mình có tạp chí Hải Triều Âm, mình có trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đang làm việc khắp nơi trên đất nước và mình có một phong trào tranh đấu cho hòa bình Việt Nam. Tôi đi với những cái đó trong trái tim nên tôi không thể nào khô được. Nếu đi với tính cách cá nhân, đi kiếm một địa vị, một ít danh lợi thì tôi sẽ khô héo, nhưng vì mang theo được tăng thân cho nên qua bên này, vấn đề sống chết là thành lập tăng thân. Vì vậy tôi đã thành lập tăng thân với những người giúy mình vận động hòa bình. Những người tới để giúp tôi, những ông mục sư, linh mục, giáo sư đại học, sinh viên, học sinh, mình đã đến gặp họ, kết thân và mời họ đi vào con đường phụng sự cho hòa bình. Trong khi tiếp xúc với những cá nhân, những đoàn thể rất ưu tú về hòa bình và công bình xã hội, tôi thấy họ có những khó khăn. Hoạt động một hồi thì họ cũng bị chia rẽ, mỏi mệt và thối chí. Vì vậy đến với nhóm nào, với người nào tôi cũng chia sẻ phương pháp thực tập của tôi. Vì thế trước khi mình có tăng thân quy tụ về một chỗ thì mình đã có tăng thân như từng yếu tố cá nhân ở khắp nơi rồi. Mục sư Kloppenburg ở Bremen bên Đức là một người rất có cảm tình với tôi. Tuy là một vị mục sư Tin Lành nhưng ông đã cổ động, tổ chức cho tôi đi diễn thuyết và kêu gọi khắp nơi trên nước Đức và đã giúp tôi dịch và xuất bản cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa bằng tiếng Đức. Ông cũng đã giúp phương tiện tài chánh để tôi có thể gửi về yểm trợ cho trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội tiếp tục công tác và cũng đã giúp tôi tổ chức những hội nghị hòa bình ở Paris. Trong văn phòng của ông có treo một tấm hình của tôi. Ông không treo hình chúa mà cũng không treo hình của bất cứ ai. Điều đó chứng tỏ ông là một người bạn rất thân.

Ở Hòa Lan có mục sư Hannes de Graff của giáo hội Dutch Reform Church cũng rất yểm trợ tôi. Trên bước đường đi vận động hòa bình cho Việt Nam, tôi đã kết giao với rất nhiều bạn hữu trong giới tôn giáo, trong giới nhân bản, và trong giới trẻ. Khi tôi thành lập Phái Đoàn Phật Giáo Việt Nam tại Paris thì những người trẻ tới tình nguyện giúp tôi nhiều lắm. Họ tới nhận làm không công thôi, bữa trưa thì mình cho họ ăn sơ sài, sau bữa tối thì họ ở lại để ngồi thiền. Có người về nhà ăn cơm rồi trở lại. Có người ở lại để ăn chiều sơ sơ với mình rồi ngồi thiền. Tối nào cũng ngồi thiền cả. Những người tới giúp mình cũng biết thực tập thiền hành, biết ngồi thiền và biết ca hát. Hồi đó mình chưa có những bài hát của Làng Mai như bây giờ nên mình chỉ lựa chọn những bài hát nào lành mạnh, nhất là những bài hát có tính cách tâm linh và nhân bản. Hồi đó những bài hát như là By The River Side hay là Where have all the flowers gone?, đã được hát rất nhiều, sau đó mới có mấy bài của Trịnh Công Sơn. Hồi làm việc cho phái đoàn Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở Paris, mình tổ chức ngồi thiền cho thiền sinh tây phương có mặt ở Paris mỗi tuần một lần tại trụ sở của những người Quaker Center ở đường Vaugirard. Và những người trẻ tuổi, những thanh niên tới văn phòng của phái đoàn thì thường thường được chỉ dạy cho cách buông thư (deep relaxation) và ngồi thiền. Vì vậy hạt giống đã được gieo rất nhiều và mỗi khi mình tổ chức Summer Opening – Mở cửa Làng Mai thì nhiều người tới lắm. Từ một tế bào bị đánh văng ra khỏi tăng thân ở quê hương mà tôi đã làm được một sinh hóa thân (cloning) và không những tôi đã không khô như một con ong lìa tổ mà từ một tế bào tôi đã trở thành một cơ thể. Cơ thể đó đã trở thành một tăng thân như hôm nay ta thấy.Vì vậy điều quan trọng là mình phải đi với một trái tim đầy ắp tăng thân thì mình mới không khô chết. Hôm trước tôi có nói là nếu quý vị tới được Làng Mai rồi thì hãy đem cả Làng Mai về nhà chứ đừng đem ít hơn. Đem Làng Mai về nhà thì mình sẽ sống lâu hơn và mình biết rằng giáo lý và sự thực tập “đã về đã tới” luôn luôn đi đôi với giáo lý “đi như một dòng sông mà đừng đi như một giọt nước”. Đi với tư cách của một giọt nước thì nửa đường mình sẽ bốc hơi, còn đi với tư cách của một dòng sông thì chắc chắn mình sẽ tới biển. Chưa bao giờ tôi đi như một giọt nước cả, luôn luôn đi với dòng sông.

Trong những năm bị lưu lạc tại quê người, chưa bao giờ tôi có cảm tưởng bị cắt đứt với tăng thân ở Việt Nam. Năm nào cũng sáng tác, cũng gởi bản thảo về. Và năm nào ở nhà cũng tìm cách để xuất bản sách của tôi. Đến khi sách bị cấm in thì lại được chép tay hoặc in chui, hoặc in dưới một bút hiệu khác. Ngay từ hồi phe quốc gia chống cộng còn nắm quyền thì sách tôi cũng đã không được ký tên Nhất Hạnh rồi, phải ký bằng hàng chục cái tên khác: B’Su Danglu, hay Thạc Đức, hay Tuệ Uyển, hay Minh Hạnh, tại vì cái tên Nhất Hạnh đã bị kiểm duyệt – đó là tên của một người đang kêu gọi hòa bình – bên chính quyền cộng sản cũng vậy. Sách của tôi được xuất bản dưới những tên khác nhưng rồi độc giả cũng nhận ra được. Trong thời gian những người cộng sản lên nắm chính quyền thì việc in chui rất khó. Vì vậy có phong trào chép tay. Chép tay nhiều quá đến nỗi cán bộ phải triệu tập dân chúng lại để học tập là đừng có chép tay sách của ông nớ. Nhưng sau đó thì từ từ phong trào in chui sách và sang chui băng của tôi trong nước được đồng bào tự động phát động. Nhiều người cán bộ cũng có cơ duyên được đọc sách và nghe băng giảng của tôi. Có nhiều người thích lắm, bề ngoài họ làm ra vẻ muốn tịch thâu, làm khó làm dễ nhưng có khi họ làm lơ, để cho mình có thể in chui hay phát hành chui được.

Hồi mới thành lập phái đoàn Phật Giáo Việt Nam tại Paris, có rất nhiều khó khăn. Hồi đó trụ sở thì nhỏ mà cư trú thì quá đông người. Đủ mọi thứ khó khăn: khó khăn về giấy tờ cư trú, khó khăn về cơm áo. Có những bữa mà sư cô Chân Không – trước đó là giáo sư trường đại học khoa học Sài Gòn – phải đi xin ngủ nhờ ở một nhà hàng ăn vì không có chỗ ngủ. Đại chúng thay vì mua gạo đàng hoàng thì mua tại các tiệm bán đồ ăn súc vật (grainetterie) loại gạo tấm dành bán cho chim ăn vì gạo đó rẻ lắm, gạo bể (broken rice). Có một bữa ông bán hàng hỏi mình: “Nhà quý vị có nhiều chim lắm hả?” Vị mua gạo trả lời: “Nhiều lắm, chín con, con nào con nấy to như thế này này” (giơ tay làm hiệu). Nhưng cuộc sống rất vui. Tôi kiếm được một chỗ dạy học, lương tháng khoảng 1 000 quan Pháp. Và những người khác cũng đi kiếm công việc. Sư cô Chân Không đi dạy toán, kèm trẻ để có thêm tiền. Phương Vân Am mình đã mua được với giá 35 000 quan Pháp, làm chỗ nương tựa cho tăng thân hồi đó và thầy trò đã dụng công xây dựng nó thành một trung tâm tu học. Phương Vân Am hiện nay vẫn còn, mai này mình sẽ tổ chức một cuộc đi hành hương Phương Vân Am cho vui. Nơi đó tôi đã viết được nhiều sách và làm được nhiều thơ. Phương Vân Am ở bên rừng Othe rất đẹp và khí hậu lạnh hơn ở đây. Có một thời gian tôi đi học nghề in. Hiện bây giờ tôi in sách và đóng sách khá giỏi. In trong chánh niệm, đóng sách trong chánh niệm. Tôi đã in hàng chục cuốn sách, đóng hàng chục ngàn cuốn sách. Hồi đó Lá Bối chưa dời sang Mỹ. Bàn tay này (Thầy giơ tay phải lên) tuy làm thơ được, viết thư pháp được nhưng mà in sách và đóng sách cũng được. Tại vì tôi đi học nghề đàng hoàng. Thầy trò đã sống một phần trên tiền bán sách. Sư cô Chân Không đem bản thảo Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức bằng tiếng Pháp đi bán cho nhiều nhà xuất bản. Không có nhà nào mua cả. Có một nhà xuất bản nói rằng: “Cuốn sách này hay quá nhưng ông này chưa ai biết tên, thành ra sợ in ra bán lỗ, không dám mua”. Đó là tình trạng của hồi đó. Nhưng khi tôi đã nổi tiếng bên Mỹ rồi thì các nhà xuất bản bên Pháp lại giành nhau để mua.

Cho đến ngày hôm nay, có nhiều vị trong tăng đoàn ngày xưa vẫn còn tiếp tục ngủ trong những cái nóp gọi là túi ngủ (sleeping bag). Sư cô Chân Không cho đến ngày hôm nay cũng vẫn còn ngủ trong túi ngủ. Còn tôi ở Làng Mai thì thường ngủ trên một tấm ván ở dưới có kê bốn viên gạch và một tấm nệm mỏng. Không phải vì vậy mà không có hạnh phúc. Mình không hề có ý muốn xây dựng một cái chùa rất đẹp ở đây. Khi bán được bản quyền một cuốn sách thì tiền đó mình thường dùng để cứu trợ trẻ em đói, cứu trợ nạn nhân bão lụt. Trong thời gian làm việc tại Paris, Phái đoàn Phật Giáo Việt Nam đã vận động bảo trợ được trên 9 000 cô nhi do chiến tranh Việt Nam tạo ra. Mình không yểm trợ việc thành lập những cô nhi viện mà chỉ đi kiếm những gia đình của các ông chú, bà thím, ông nội, bà ngoại của em bé để gởi em bé vào. Mình gởi về cho mỗi gia đình ấy mỗi tháng 25 quan Pháp để cho em bé đó có đủ cơm ăn và giấy bút đi học. Hồi đó tôi có nhiều công việc lắm, những mỗi ngày vẫn phải dịch hồ sơ cô nhi. Tôi được trao mỗi ngày 20 hồ sơ cô nhi. Những hồ sơ cô nhi do tác viên xã hội của mình ở Việt Nam thiết lập và gởi qua Paris. Trong hồ sơ có hình của em bé, tên cha, tên mẹ, lý do tại sao cha chết, chết ở đâu… Mình phải dịch ra tiếng Hòa Lan, tiếng Pháp, tiếng Đức để đi kiếm người bảo trợ. Những người bảo trợ một em bé phải đóng 25 quan Pháp. Thường thường cách làm việc của tôi là nâng hồ sơ cô nhi lên, nhìn vào mắt em bé và thở. Thở chừng được ba bốn hơi thì năng lượng từ bi trào lên, trái tim mình đầy sự thương cảm và mình bắt đầu dịch. Mình dịch rất mau, dịch rất dễ thương cũng vì đã có chất từ bi tuôn ra ngòi bút. Vì vậy khi người ta đọc đơn xin bảo trợ, họ cho rất mau. Có một cô thiền sinh người Hòa Lan gốc Đan Mạch đã giúp chương trình bảo trợ cô nhi rất hăng hái đến nỗi cô đã đi học tiếng Việt. Tiếng Việt cô đã đủ giỏi để cô có thể dịch được những hồ sơ cô nhi. Hồi đó văn phòng của mình đầy những hồ sơ, hồ sơ cô nhi và hồ sơ Phật Giáo các tỉnh. Hiện bây giờ mình vẫn còn giữ đầy đủ tài liệu hồ sơ của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất từ trung ương đến các tỉnh. Chính ở đây mình có tài liệu nhiều nhất về Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất từ năm 1966 đến 1974 chứ không phải ở Việt Nam.

Ngày hôm qua Fei Fei hỏi tôi: “Thầy làm việc cực nhọc như vậy mà đã gặt hái được kết quả Thầy mong muốn chưa?” Tôi hỏi lại: “Con muốn thầy gặt hái cái gì nữa? Mỗi giây phút của sự sống của thầy đều là hạnh phúc, đều là sự gặt hái cả. Ví dụ như con ngồi uống trà với thầy đây. Thầy trò ngồi với nhau như vậy đâu phải là để phóng tâm tới một cái gì khác. Ngồi uống trà với nhau như vậy là hạnh phúc rồi. Nói pháp thoại cũng là hạnh phúc, đi thiền hành với các con cũng là hạnh phúc. Tổ chức khóa tu, làm nở được những nụ cười trên môi của các thiền sinh cũng là hạnh phúc. Con muốn thầy gặt hái cái gì nữa?” Công việc của mình phải là hạnh phúc, và giáo pháp của mình là “Hiện Pháp Lạc Trú”. Mỗi bài thuyết pháp của tôi phải phản chiếu được pháp ấn của Làng Mai là “Đã Về – Đã Tới”.

Nói chuyện về Làng Mai mà nói vài giờ đồng hồ thì làm sao nói hết. Vì vậy tôi xin tạm chấm dứt ở đây. Có cơ hội mình sẽ nói tiếp.

Ngay trong giây phút hiện tại thiền tập có thể đem tới an lạc

Những người con Bụt đã chuyển đổi một trung tâm luyện tập bắn súng thành một tu viện và thực hiện được những chuyển hóa đầy thử thách

 

Escondido, California ngày 01 tháng 6 năm 2004. Dưới rừng sồi của chen lẫn từng mảng cây đinh hương, California đầy hoa tím, trang nghiêm và ngập nắng, những vị tu sĩ áo nâu đã im lặng nhẹ nhàng cải biến vùng đất mà trước đây cơ quan luật pháp vùng San Diego làm nơi luyện tập quân sĩ sử dụng vũ khí.

Những người học trò của thiền sư Thích Nhất Hạnh đã thay thế những loạt súng đạn của binh sĩ bằng những hồi chuông linh thiêng. Họ đã sơn sửa lại những ngôi nhà tả tơi đầy vết đạn. Trong khu rừng Lộc Uyển với diện tích 400 mẫu Anh của họ, giờ đây đã xuất hiện một thiền đường đầy ánh sáng, một thác nước nhỏ, một hồ cá và những câu thiền ngữ treo khắp nơi: Thở đi, bạn đang còn sống. Trong vòng bốn năm nay, từ khi họ tậu được vùng đất này, những tu sĩ áo nâu kia đã mang lại những chuyển hóa đầy thử thách: giúp đỡ giới điện ảnh Hollywood, giúp những người trẻ trốn nhà sống trên đường phố, giúp những trẻ lêu lổng trong các xóm nghèo nội thành, giới trẻ trong các băng đảng và những thành phần khác, giúp những người kia làm chủ được những tập khí dữ dằn của họ và để họ tìm thấy an lạc cho tự thân.

Trong một khóa tu gần đây cho ngành vô tuyến truyền hình và phim ảnh, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã giảng về tầm quan trọng của ái ngữ cho một hội chúng thuộc giới văn nghệ sĩ, trong đó có diễn viên hài Garry Shandling và nhà làm phim Larry Kasanoff, người đã kêu gọi buổi họp mặt này. “Quý vị không cần phải trở thành một người khác, quý vị không cần phải đến giải phẫu thẩm mỹ”, thầy Nhất Hạnh nói điều đó với một giọng nhỏ nhẹ, đã khiến cho cả thính chúng phá lên cười.

Với những lời dạy như thế, các tu sĩ thuộc Đạo tràng Mai Thôn của thầy Nhất Hạnh nhằm trang bị cho các người đến từ truyền thống tín ngưỡng khác và từ các nền văn hóa khác. Họ học được cách thực tập chánh niệm để nhận diện niềm bình an cho tự thân trong cuộc sống hàng ngày, bằng cách thở sâu hơn, đi đứng thảnh thơi hơn và tập sống được sâu sắc hơn trong giây phút hiện tại. Nhiều khóa tu đã diễn ra từ đầu năm nay, kể từ khi thiền sư Nhất Hạnh từ Pháp (nơi cư trú thường xuyên của Người) sang đây và ở lại an cư trong ba tháng mùa Đông tại Lộc Uyển. Thầy 78 tuổi, đã thành lập được 800 nhóm tăng thân thiền tập trên hai mươi mấy nước. Thầy đã được mục sư Martin Luther King Jr. đề cử giải thưởng Nobel hòa bình qua những cố gắng xây dựng hòa bình của Thầy trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam.

Một tăng thân gồm bốn mươi mấy tu sĩ từ nhiều quốc gia đến, đang sinh hoạt tu tập và làm việc quanh năm ở tu viện Lộc Uyển thuộc vùng  Escondido. Quý vị tu sĩ nam và nữ đều mặc trang phục giống nhau, cùng mặc những chiếc áo dài nâu, đều cạo tóc như nhau.  Trong đó có thầy trụ trì Pháp Dung, một người Việt Nam tị nạn và lớn lên vào thời San Fernando ‘Valley Boy’, thời mà người ta thích nhảy nhót và chơi trượt ván. Thầy nói thầy đã từng tranh đấu trong trường học để xóa bỏ kỳ thị chủng tộc. Cuối cùng thầy tốt nghiệp đại học USC và trở thành một kiến trúc sư làm việc ở Santa Monica. Nhưng sau đó vài năm, thấy rằng nghề nghiệp của thầy chỉ quanh quẩn về tiền bạc và củng cố cái ngã, hiếm có cơ hội để phác họa lên những dự án có ý nghĩa cho xã hội. Thầy đã tham dự vài khóa tu của thiền sư Thích Nhất Hạnh và bị thu hút bởi sự nhẹ nhàng, thanh thoát ở đó. Cuối cùng thầy quyết định đi tu để trở thành một tu sĩ. Thầy thường gần gũi và làm việc với nhiều thanh thiếu niên có nhiều khó khăn trong cuộc sống. Thầy nói: “Tôi đã tìm thấy một cách sống có nhiều ý nghĩa hơn và những cách giúp người trực tiếp hơn”.

Ngoại trừ vào lời phàn nàn từ hàng xóm vì hiện tượng xe cộ quá nhiều; hơn 800 người thường xuyên kéo đến tu viện Lộc Uyển vào những ngày cuối tuần – các viên chức quận San Diego nói rằng đa số không ai chống đối sự có mặt của tu viện. Theo lời ông Bill Ring – chuyên viên về bản đồ địa chính trước đây thì lịch sử vùng đất này rất đa dạng, rằng hơn ba thập kỷ trước, nó là một trại khỏa thân. Vào giữa thập niên 70, sau khi quận San Diego mua vùng đất này, cơ quan bảo vệ Cali (California Conservation Crops) và Phân Viện Cảnh Sát (Sheriff’s Department) đã dùng nó để huấn luyện đội  SWAT và thủy quân từ trại Pendleton gần đó. Vào năm 2000, tăng đoàn đã tậu vùng đất này với giá 4 triệu đô la trong cuộc bán đấu giá.

Thầy Pháp Dung nói rằng các vị tu sĩ đã phải làm việc trong suốt nhiều tháng để tu sửa những cơ sở vật chất bị tổn hại bởi bom đạn và chuyển hóa nguồn năng lượng bạo động kéo dài âm ỉ trong quá khứ. Họ đã tụng kinh và hộ niệm nhiều lần để xin phép thần linh người da đỏ bản xứ cho phép họ dùng mảnh đất này;  và đã dẫn các em đi thu lượm những vỏ đạn và làm nên những bảng hiệu hòa bình trên đó. Ngày nay, dân chúng từ nhiều thành phần khác nhau trong xã hội đã đến viếng thăm tu viện. Trong đó có Kasanoff, một nhà sản xuất phim giàu có mà những bộ phim của ông ta bao gồm “Terminator 2” và “Mortal Kombat”. Ông đã từng mở những tiệc tùng xa hoa trên những chiếc thuyền sang trọng ở Cannes của ông và là chủ của ba hãng phim ở Santa Monica chuyên về phim ảnh, phim hoạt hình, và phim võ hiệp trên vô tuyến truyền hình.

Trong số những người đến tu tại tu viện Lộc Uyển cũng có những người rất khiêm nhường như cô Estrellita Rojas, 18 tuổi, một học sinh trường trung học ở Boston, sống không mẹ cha và làm nghề bán hàng với mức lương rất ít ỏi. Cô đã hết sức vất vả mới vật lộn mà sinh sống được trong môi trường khá bạo động và dẫy đầy tội ác. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Kasanoff đã phải lặp đi lặp lại rằng ông ta là một người Do Thái, không có một ước muốn bỏ đạo để trở thành một phật tử, hoặc đi xuất gia thành một ông thầy tu hay một đạo sĩ, để phải từ bỏ rượu chè và gái đẹp. Ông ta xác nhận rằng ông ta không chủ ý muốn áp đặt ai làm một cái gì cả. Ông ta chỉ kêu gọi hàng trăm người thuộc giới điện ảnh tới tu viện dự một khóa tu dành cho giới Hollywood, và đã mời thiền sư Nhất Hạnh đến nói chuyện tại một buổi họp mặt rất thân mật tại nhà ông. Ông ta đã tặng hơn 100 quyển sách của Thầy cho những người thân quen. Ông ta nói rằng ông ta cũng đưa một vài thông điệp của thầy Nhất Hạnh vào hai bộ phim sắp ra đời – “Mortal Kombat” và làm lại hàng loạt phim hoạt hình gốc Nhật “Ninja Scroll”.

Kasanoff nói rằng ông ta bắt đầu tìm về đời sống tâm linh cách đây khoảng năm năm. Và ông ta nhận ra rằng nhiều người bạn giàu có và nổi tiếng trong giới điện ảnh Hollywood đã từng rất khổ đau và thường xuyên bị sợ hãi chiếm ngự. Trên đường đi tìm nếp sống tâm linh, tình cờ ông ta bắt gặp những quyển sách của thầy Nhất Hạnh và bị lôi cuốn bởi những thông điệp chánh niệm trong ấy. Từ đó ông ta bắt đầu thiền quán, thiền hành và khí công.

Phép lạ hoàn toàn của những thực tập này là bạn có thể được thư giãn hơn, bình an hơn, làm được nhiều công việc hơn và có nhiều năng lượng hơn”. Ông ta nói: “Tôi bớt quýnh quáng. Tôi không còn la hét nhiều như trước đây. Điều đó không có nghĩa là bạn tiếp nhận những thứ này và rút lui khỏi thế giới; cái hay là bạn có thể kết hợp những phương pháp thực tập ấy vào đời sống hàng ngày của bạn”.

Ở một góc độ khác của cuộc sống, cô Rojas kể một câu chuyện giác ngộ tương tự. Một cô gái mười tám tuổi, da màu gốc Nam Mỹ thuộc dòng tộc Nicaraquan (từ một xứ của Châu Phi) đã đến thăm Lộc Uyển vào hồi tháng ba với những thanh niên khác ở Boson. Những em này đã tham gia vào chương trình ngăn ngừa xì ke ma túy và phòng chống HIV. Đây là lần đầu tiên cô ta được đi máy bay, lần đầu tiên gặp những vị tu sĩ, lần đầu tiên ăn chay và đây là thời gian nghỉ ngơi đầu tiên của cô bé từ một môi trường có nhiều băng đảng, đánh nhau và thường xuyên bạo động. Rojas nói: “Thật khác hẳn hoàn toàn. Bỗng dưng một thiên quốc xinh đẹp được mọc lên giữa không trung, ở đó không có bạo lực, không có kỳ thị, không có sự nhiếc mắng, không có gì hết. Mọi người ở đó đều kính cẩn, tôn quý nhau và cùng hạnh phúc”. Phương pháp lắng nghe bằng tâm từ bi mà cô ta học tại đây đã dập tắt được những cuộc cãi vã và la hét mà cô từng hành xử với chị mình trước đó. Cô ta nói sự chấp nhận mà cô ta cảm được ở Lộc Uyển đã làm giảm đi khuynh hướng tìm cầu vật chất trước đây của cô ta, trong cách ăn mặc sang trọng qua những đôi giày, những quần jeans có nhãn mà cô ta đã nghĩ trong quá khứ là có công năng khẳng định giá trị mình. Cô ta ít la lối om sòm hơn và có được nhiều bình an hơn khi cô ta bắt đầu thiền tập hằng tuần. Cô ta có ý định thành lập một tăng thân ở Boston cho các bạn thiếu niên.

Những câu chuyện như thế xảy ra thông thường ở đây. “Người ta yêu cầu chúng tôi sửa sai họ và sửa sai giùm con cái của họ, nhưng ở đây chúng tôi không làm điều đó”. Thầy Pháp Dung nói: “Chúng tôi chỉ trở thành bạn với các em, leo núi chung và cùng đếm sao rơi với các em mà thôi. Chúng tôi thưởng thức sự sống đang hiển hiện. Vì vậy mà các em chuyển hóa. Chúng tôi ý thức được là mình đang còn sống và vui mừng vì ý thức ấy”.

 

Đây là tựa đề bằng tiếng Anh:

It’s Now, It’s Zen and It’s Life – Changing

Buddhists who turned a gun training site into a monastery

Tackle even harder transformations

By Teresa Watanabe

Los Angeles Times Staff Writer, June 01, 2004

Sư Cố Thanh Quý Chân Thật

Kính bạch Sư Ông, kính thưa tăng thân cùng toàn thể đại chúng!

Lâu nay chúng con mong muốn làm thế nào để được sang Làng Mai hầu mong viếng thăm Sư Ông cùng đại chúng. Hôm nay ước mong đó đã được toại nguyện. Chúng con được Sư Ông và đại chúng Làng Mai tạo điều kiện cho thầy trò chúng con sang Làng Mai đảnh lễ Sư Ông, thỉnh mời Sư Ông cùng đại chúng về thăm viếng Tổ Đình và hoằng pháp tại Việt Nam.

Khi thầy trò chúng con tới Làng Mai thì gặp khóa An Cư Kết Thu. Chúng con cùng với tăng thân được tu tập dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Sư Ông và đại chúng. Chúng con theo chúng đi ngồi thiền, nghe pháp thoại, đi thiền hành, ăn cơm chánh niệm. Sống trong tăng thân, chúng con thấy huynh đệ thương yêu nhau rất là ấm áp. Thời gian qua, chúng con tu tập và gặt hái được rất nhiều niềm vui và an lạc. Một niềm vui khác nữa đối với chúng con đó là đến đây và gặp dịp Sư Ông mở Đại Giới Đàn Đoàn Tụ. Con được tăng thân mời nhận đèn trong lễ truyền đăng này. Con xin chia sẻ với Sư Ông và đại chúng về niềm vui lớn của con lúc con làm thị giả cho Sư Cố trong thời gian mà con còn là điệu.

Kính bạch Sư Ông, kính thưa đại chúng!

Công hạnh tu học và cứu độ của Sư Cố vô cùng lớn lao, không thể kể hết. Sư cố có hạnh rất hiền. Hạnh nguyện của Sư Cố là khiêm cung, thể chất hoan hỷ và nhiều lòng từ bi. Liêu Sư Cố nằm bên phải chánh điện nhìn từ bên ngoài vào. Sư Cố đã ngoài tám mươi tuổi thành ra  ngủ rất ít, thường thức dậy lúc hai hoặc ba giờ sáng uống trà, ngồi niệm Phật và lần trang hạt bên hộp tợ với ánh đèn dầu mờ mờ. Đúng giờ thỉnh chuông, Sư Cố đi lắc linh thức chúng dậy đi công phu tu tập.

Vào khoảng năm 1965-1966, trong chùa chỉ có ba điệu, đó là điệu Hồng, điệu Trí và điệu Hải. Sư Cố chia phiên cho ba điệu hầu Sư Cố. Một điệu quét dọn liêu phòng và nấu nước pha trà khi có khách đến thăm. Một điệu thì treo mùng, chải mền và xoa bóp cho Sư Cố. Mùa đông thì điệu lấy than đỏ bỏ vào lồng ấp để Sư Cố sưởi cho đỡ lạnh. Điệu còn lại thì nấu cơm ngày ba  bữa và sắc thuốc. Sư Cố thường hay đi ra vườn ngắm cảnh, ngắm cây lá trong vườn và nhìn các điệu quét sân. Có một lần Sư Cố ra sân thượng thấy cây hoa mộc nở hoa trắng xóa, thơm cả vùng. Sư Cố hái vài hoa và bảo điệu đem vào để khi nào pha trà thì bỏ vào một ít, uống rất thơm, nó còn có tác dụng làm cho sáng mắt. Một lần khác Sư Cố đi xuống sân hạ chơi thì thấy hai điệu ở chùa Châu Lâm và chùa Thọ Đức đi nhặt củi ngoài đồi thông về và ngồi nghỉ dưới cây hồng quân gần hồ Bán Nguyệt. Cây hồng quân rất lớn và ra trái rất nhiều. Hai điệu thấy vậy bèn leo lên cây hái. Khi nhìn thấy Sư Cố đứng trên sân nhìn xuống, hai điệu sợ quá liền tuột xuống. Thấy Sư Cố đứng gần đó hai điệu chắp tay xá. Sư Cố bèn chắp tay xá lại rồi đi lui. Thấy vậy hai điệu ra xầm xì với nhau rằng: “Chà, cố hiền hỉ! Cố hiền hỉ!”.

Có một lần Sư Cố thấy các điệu ham chơi, lơ là học kinh, Sư Cố gọi từng điệu lên liêu và bảo: “Này, Cố có gói kẹo cho con. Khi mô con dùng, nhưng mà  ráng học cho giỏi nghe, gắng  học kinh cho mau thuộc và đừng cho điệu khác biết”. Điệu nào cũng được Sư Cố gọi lên cho kẹo và nói như vậy. Khi các điệu nhận quà ra rồi, điệu nào cũng mừng thầm là mình được Sư Cố cưng nhất nên điệu nào cũng cố gắng học hành để Cố cưng. Thành ra thời gian đó mấy điệu học kinh rất nhanh. Có một lần đến phiên điệu đó nấu ăn. Mùa đông trời lạnh nên điệu dậy trễ. Điệu lật đật chạy vào trong khố lấy gạo ra nấu, loay hoay làm sao đụng cái chảo lớn rơi xuống đất bể ra làm hai. Điệu sợ quá nên chạy ra cây me gần chuồng bò đứng khóc. Thường thường Sư Cố hay chống gậy ra ngoài vườn chơi, Sư Cố nghe tiếng khóc, nhìn quanh thì thấy điệu, Sư Cố bèn tới gần hỏi: “Sao điệu khóc, điệu nhớ nhà à?”. Điệu chắp tay xá Cố và bạch: “Thưa Cố, khi sáng nấu ăn con sơ ý làm bể cái chảo lớn, con sợ thầy tri sự biết và la con thành ra con khóc”. Sư Cố nói: “Thôi, đi theo Cố vô đây. Cố cho tiền đi lên phường Đúc với chú Kiến mua chảo mới về thế lại”. Khi hai chú cháu mua chảo về rồi để lại trong khố, thấy chảo mới hơn các chảo khác nên điệu sợ quá bèn tới thưa với Cố: “Bạch Cố, cái chảo mới quá thế nào thầy tri sự cũng biết và la con”. Cố cười rồi nói: “Cố có cách, tối nay con xách chảo đó ra góc vườn, con để đó và lấy hai bao trấu đổ vô và lấy rác thông đốt. Cháy một đêm thì sáng ngày ra nó sẽ giống chảo cũ liền”. Điệu làm y theo lời Sư Cố dạy, sáng ngày ra bươi đống tro lên thì thấy chảo giống hệt như cũ. Điệu mừng quá, đi vào xá Sư Cố và ghi vào tâm thức niềm biết ơn đến với Cố. Điệu làm bể chảo đó chính là con.

Có một lần trời mùa đông giá rét nên Sư Cố ở trong liêu mà không đi đâu cả. Trưa hôm đó điệu thị giả mang cơm lên cho Sư Cố dùng. Vì trời lạnh nên các điệu khác cũng vào ngồi xung quanh lò ấp cho ấm và  nghe Sư Cố kể chuyện. Lúc đó Sư Cố dùng cơm, còn các điệu thì ngồi xung quanh. Sư Cố hỏi: “Mấy điệu thấy cơm ngon như ri mà Cố ăn hết rồi thì thị giả có buồn không?”. Điệu thị giả trả lời: “Bạch Sư Cố, thấy Sư Cố dùng cơm được thì con mừng lắm”. Sư Cố cười và kể cho các điệu nghe một câu chuyện: “Hồi xưa, có một vị thầy làm trú trì. Thầy còn rất trẻ. Một hôm có một đạo hữu lên chùa cúng cho thầy một số thức ăn khá ngon và khá nhiều. Điệu thị giả dọn hết lên mâm cho vị trú trì dùng. Điệu nghĩ thầm là trưa nay thế nào thầy cũng để dành nhiều thức ăn cho mình. Nhưng vị trú trì còn quá trẻ, thấy thức ăn ngon thì ăn hết mâm cơm mà quên để phần cho vị thị giả. Thấy thức ăn trong mâm sắp hết, vị thị giả đi xuống nhà bếp và quẹt lọ nghẹ trên miệng rồi đi lên. Khi đi lên, thầy thấy miệng điệu như vậy thì hỏi: “Sao miệng điệu chi lạ rứa?”. Điệu chắp tay và nói: “Dạ thưa, miệng thầy thầy lo, miệng con con lo”. Nghe Sư Cố kể vậy mấy điệu lăn ra cười. Câu chuyện đó luôn nằm trong tâm thức con, khi nào nghĩ đến chuyện đó thì con cười.

Có một lần Sư Cố hỏi mấy điệu học kinh Lăng Nghiêm đã thuộc chưa, điệu Hồng trả lời: “Thưa Sư Cố, kinh Lăng Nghiêm khó học quá. Đã ba tháng rồi mà con chưa thuộc. Khi học xong đệ nhị rồi thì con quên đệ nhất, học xong đệ nhất thì con quên đệ nhị”. Cố trả lời: “Mình phải học như ăn cháo thì mới thuộc. Người ta thường nói: “lên đèo thì sợ ngãi, ở sãi thì sợ Lăng Nghiêm”. Lăng Nghiêm khó học lắm. Rồi Sư Cố kể ngày xưa lâu lắm ở đây có một điệu học kinh rất mau thuộc. Kinh Lăng Nghiêm năm đệ mà điệu đó học trong vòng mười hai ngày thôi. Điệu đó tên là Phùng Xuân. Điệu đó thông minh và học giỏi lắm. Rồi Sư Cố kể có một lần điệu đó làm thị giả cho Sư Cố. Sư Cố thì thích ăn canh me đất nấu với khoai lang. Điệu nấu canh đó rất ngon. Mùa hè mà ăn canh me đất nấu với khoai lang thì rất mát. Nhưng đến bữa dọn cơm, điệu làm sao đó mà trên mâm cơm quên đôi đũa, chỉ có muỗng thôi. Hôm đó Sư Cố dùng cơm bằng muỗng và điệu đứng hầu phía sau. Sư Cố hỏi điệu: “Ngoài vườn còn tre nhiều không?”. Điệu trả lời: “Dạ bạch Ôn, ở ngoài vườn tre nhiều lắm, những cây tre cán giáo măng rất nhiều. Dì Tư  mới bẻ vô kho cho chúng ăn rất ngon”. Sư Cố dạy: “Chút nữa ra chặt cho Cố cây tre”. Khi đó điệu nhìn lại mâm cơm thì mới thấy không có đôi đũa. Điệu đi xuống bếp và lấy đôi đũa lên cho Sư Cố. Điệu chắp tay và sám hối Sư Cố. Điệu đó bây giờ lên thầy rồi và hiện đang học ở bên tây. Điệu thông minh lắm. (Đại chúng cười vì ai cũng biết điệu đó là Sư Ông Làng Mai. Họ đã được nghe Sư Ông kể nhiều lần về việc thiếu chánh niệm của mình).

Vào mùa đông trời lạnh và mưa phùn, các điệu trong chùa thường xay lúa giã gạo. Mùa đông giã gạo thì ấm lắm. Lúc đó trong chùa ăn cơm ngày hai bữa, chín giờ sáng và năm giờ chiều. Khi giã gạo thì thầy tri sự đi vắng, Sư Cố chống gậy đi xuống và dạy các điệu rằng: “Các con lấy tấm gạo lức đó đem xay để mỗi buổi sáng múc vài muỗng pha với đường mà ăn. Buổi sáng các con dậy sớm quét sân ăn thứ này vào thì đỡ bị gió và lạnh. Nhưng nhớ đừng cho thầy Tri sự biết mà thầy rầy nghe”. Các điệu rất kính mến Sư Cố qua tình thương mà Sư Cố dành cho các điệu. Thời gian đó, tuổi Sư Cố đã lớn nên Sư Cố rất ít ra ngoài vườn chơi mà chỉ đi trong sân của chùa. Chùa có cái sân trong thành ra từ liêu Sư Cố đi thiền hành ngang qua nhà Tổ, đến nhà Bảo Đức Đường rồi qua Quảng Hiếu Đường. Đứng trên đó nhìn xuống hòn non bộ thì thấy cây khế rất lớn và trái ra rất nhiều. Sư Cố đi xuống hái một trái cho điệu thị giả và Sư Cố cùng dùng. Điệu ăn và khen khế ngon và ngọt. Sư Cố dạy: “Con biết không, có một thời gian người ta đồn rằng cây khế này linh thiêng lắm. Cây khế này đã trên một trăm năm rồi. Khi trồng nó lên thì có trận bão năm Thìn. Trận bão này lớn lắm, nó cuốn bay cầu Trường Tiền và cây khế này cũng bị ngã xuống. Sau đó các thầy mới xây hòn non bộ bên cây khế. Cây khế này có cái đặc biệt hơn các cây khế khác là khi mới ra thì trái nó màu xanh, đến già thì nó màu vàng và khi chín thì chuyển sang màu đỏ. Khi nào trái có màu đỏ thì ăn mới  ngọt thanh mà giòn.

Có một buổi trưa mấy anh sinh viên lên thăm chùa, khi về họ khát nước, thấy khế ngon mắt thì xin Cố hái vài trái. Sư Cố dạy điệu ra hái cho họ. Thường thường khế nhà mình thì mình biết, cho nên mình lựa trái nào đỏ chín mới hái. Anh sinh viên ăn thấy ngọt quá khen thầm trong bụng và muốn hái một trái để về khoe với bạn. Anh liền hái một trái, đem về nhà ăn thì chát ngầm và chẳng có hương vị chi cả. Anh bèn lên thưa với Sư Cố rằng: “Cây khế này, răng Cố hái cho con ăn thì nó ngọt mà con hái thì ăn không có hương vị chi cả. Cây khế ni linh thiêng lắm, hễ ai có tâm gian mà hái thì ăn chẳng có hương vị”. Sư Cố hỏi anh sinh viên tại sao lại nói như vậy thì anh trả lời: “Con đã hái thử mấy lần rồi”. Khi đó Sư Cố mới giải thích là: “Cây khế này khác với những cây khế ở ngoài. Những cây khế ngoài khi chín vàng thì nó rụng ngay, nhưng cây khế này khi vàng thì mới già thôi,  khi mô nó màu đỏ mới chín, lúc đó ăn mới ngọt. Thành ra khi Cố bảo mấy điệu hái thì hái trái đỏ, còn anh hái trái vàng thì nó chát chớ có chi mô mà linh thiêng”.

Hồi đó Sư Cố thường đi dạo xung quanh vườn và hai điệu đi gần bên Sư Cố. Khi nào điệu cảm thấy buồn thì ngồi cạnh Sư Cố để nghe Cố kể những chuyện vui. Có một buổi chiều trời lạnh, Sư Cố dùng cháo còn và các điệu thì ngồi chơi bên cạnh. Sư Cố kể chuyện cho các điệu nghe rằng: “Ngày xưa Cố có hầu Sư Tổ (Đệ nhị Tổ). Vua Thành Thái là người thân với Sư Tổ lắm. Sư Tổ thường dạy điệu buổi chiều nào cũng nên nấu một nồi sắn mì để cho chúng ăn trước khi đi làm vườn. Mỗi ngày điệu thị giả thường xuống bếp lựa củ nào mềm mà ngon, dọn vô đĩa và bưng lên cho Sư Tổ dùng sau giờ nghỉ trưa.

Một hôm vua Thành Thái lên thăm chùa với hai người lính theo sau. Khi vào liêu, vua thấy Sư Tổ đang ngồi thiền. Vua đi vào, đứng một bên rồi dơ một tay đặt nhẹ lên chân Sư Tổ. Sư Tổ hỏi: “Ai đó?”. Vua Thành Thái trả lời: “Dạ bạch! Thành Thái lên thăm Hòa Thượng”. Sư Cố kể là Sư Tổ có hai mí mắt sụp xuống thành ra mỗi khi nhìn ai thì Sư Tổ vén hai mí mắt lên để xem cho rõ. Khi nhìn thấy vua Thành Thái, Sư Tổ cười và mời vua ngồi. Sư Tổ lắc linh kêu mấy điệu lên pha trà nước. Mấy điệu đang làm vườn, nghe lắc linh như vậy thì ùa nhau đến bên liêu Sư Tổ để ngắm nhìn vua Thành Thái. Sư Tổ và vua Thành Thái ngồi uống trà và nói chuyện đạo lý. Sau khi đàm luận xong, Sư Tổ lấy đĩa sẵn và mời vua rằng: “Sắn ở ngoài vườn ngon lắm, vua ăn với ta một miếng cho vui”. Sư Tổ bẻ một nửa cho vua, nửa còn lại phần Sư Tổ. Cả hai cùng dùng một cách ngon lành. Khi đó hai người lính đứng gác bên cửa tái xanh mặt. Họ nói hồi xưa hễ ai mời vua ăn sắn là tội khi quân, răng chừ vua lại ăn ngon lành như vậy? Sau khi chào nhau và tiễn vua ra về, mấy thầy đứng xung quanh và hỏi Sư Tổ: “Bạch Sư Tổ, vua Thành Thái là người nghênh ngang lắm mà sao lên đây đảnh lễ Hòa Thượng một cách cung kính quá vậy?”. Sư Tổ cười và kể lại rằng: “Một kiếp xưa kia, vua Thành Thái với ta cùng tu một chùa. Vua Thành Thái học rộng, nghe nhiều nhưng ham chơi và không lo tu tập. Còn ta thì tinh chuyên tu tập nghiêm tinh giới luật. Hôm nay vua Thành Thái tái sinh trong hoàng cung làm vua, còn ta tái sinh trong chùa làm Hòa Thượng. Cho nên hôm nay vua gặp ta thì kính nể”. Đó là câu chuyện Sư Cố kể lại mà con còn nhớ.

Vào sau cuối mùa đông năm Đinh Mùi 1967, trời tự nhiên lạnh hơn mọi năm. Mưa phùn và gió bấc thổi về rất lạnh. Vào lúc đó chiến tranh khắp nơi, súng đạn nổ suốt ngày đêm. Toàn miền Nam Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng, dân chúng phải gánh chịu một cuộc chiến tranh tàn khốc giữa hai miền Nam Bắc. Tết năm Mậu Thân 1968, quân đội miền Bắc đã tấn công, chiếm thành phố Huế và các vùng quê. Dân chúng phải di tản khỏi vùng bị tạm chiếm. Trong khi đó Tăng Ni các chùa cũng phải di tản. Các Hòa Thượng các chùa trong vùng Thủy Xuân như Hòa Thượng chùa Châu Lâm, Hòa Thượng chùa Thiên Hưng thường hay qua chùa Từ Hiếu để chơi kiệu với Sư Tổ, cũng phải tản cư về chùa Quốc Học. Trong chùa chỉ còn lại Sư Cố, thầy Chí Niệm là tri sự cùng với điệu Trí, điệu Hồng và điệu Hải. Điệu Hồng tức là thầy Chí Viên hiện nay trú trì tại chùa Linh Phong ở Nha Trang. Điệu Hải tức là thầy Chí Thắng trú trì chùa Phước Thành ở An Cựu, còn điệu Trí là con-Chí Mậu. Trong chùa có một kho lúa cũng được vác vào trong liêu để chất làm hầm trú ẩn bom đạn cho Sư Cố. Ngày đêm Sư Cố chỉ ở trong hầm thôi chứ không ra được. Có một lần quả pháo M.79 dội gần ngay liêu nhưng Sư Cố không bị gì cả. Sư Cố rất thương chúng tăng và thường hay nhắc nhở đại chúng gắng tu hành để cho nỗi khổ niềm đau ở ngoài giảm bớt, không thôi chiến tranh ngày đêm cứ tiếp tục nổ thì thiên hạ chắc chết nhiều.

Thật Sư Cố đã hiểu và thương các con của Sư Cố biết chừng nào! Bên cạnh đức từ bi, Sư Cố còn thể hiện đức tính khiêm cung cao cả. Các phật tử lên chùa lễ Phật xin vào đảnh lễ Sư Cố, Sư Cố từ chối mà còn dạy rằng: “Các vị lạy tôi thì tôi lạy lại đó”. Thật ai mà lạy Sư Cố được một lạy là phước lắm! Một hôm, Sư Cố chùa Thuyền Quang bảo điệu đem thư qua mời Sư Cố Từ Hiếu sang chùa Thuyền Tôn chơi. Điệu đem thư qua và đọc cho Sư Cố nghe. Điệu thỉnh Sư Cố ngồi để nghe đọc nhưng Sư Cố cứ đứng chứ không chịu ngồi. Sư Cố đáp rằng: “Khi nghe thư của bậc Tôn Túc nên cung kính như khi có mặt các Ngài”. Về sự sinh hoạt hằng ngày, Sư Cố sống rất giản dị, không làm phiền tới ai. Các điệu thị giả chưa có điệu nào giặt được một bộ áo quần của Sư Cố. Có một lần điệu thị giả lén lấy áo quần dơ của Sư Cố định đem đi giặt, áo quần tuy dơ nhưng Sư Cố xếp rất ngay ngắn để dưới chiếu, Sư Cố biết được và nói: “Bộ đồ mới của Ôn đó!” Làm thị giả mà giặt được của Sư Cố một bồ đồ là phước lắm.

Về sau vì tuổi già sức yếu nên Sư Cố không đi ra vườn như trước, người chỉ đi thiền hành từ Liêu ngang qua nhà Tổ vòng qua Báo Đức Đường, lên Quảng Hiếu đường, đến Lạc Nghĩa Đường rồi Tịnh Trai đường… Tại đây, Sư Cố ngồi nhìn ra phía rừng thông để ngắm cảnh. Tuổi đã ngoài tám mươi nhưng Sư Cố không có bệnh gì nghiêm trọng ngoài bệnh tuổi già. Các điệu thị giả thường hay sắc thuốc bắc để Sư Cố dùng. Ngặt vì lúc đó giặc giã bom đạn khắp nơi, đường xá bị phong tỏa nên các điệu không đi lấy thuốc bắc được. Tuổi càng ngày càng lớn nên sức khỏe của Sư Cố cũng yếu dần đi. Đến ngày mồng tám tháng hai năm Mậu Thân, Sư Cố không dùng cơm nữa mà chỉ uống nước thôi. Đêm đó cả ba điệu thức suốt đêm để hầu Sư Cố. Vào lúc ba giờ sáng, Sư Cố ngồi dậy kêu điệu thị giả đi mời các thầy lớn đến cho Sư Cố nói chuyện. Điệu Hồng thưa cho Sư Cố hay là các thầy lớn đã tản cư hết rồi, trong chùa chỉ còn thầy tri sự và ba điệu thôi. Gần bốn giờ sáng thì Sư Cố xin đi vệ sinh và tẩy rửa sạch sẽ, sau đó các điệu đưa Sư Cố vào giường nằm nghỉ. Sư Cố nằm nghiêng bên phải, chắp tay theo thế cát tường và nằm yên như vậy. Các điệu nghĩ rằng Sư Cố đã khỏe nên để yên cho Sư Cố nghỉ, điệu Hồng và điệu Trí đi tụng kinh khuya, còn lại mình điệu Hải hầu Sư Cố. Khi than trong lò ấp hết rồi thì điệu Hải đi xuống bếp để lấy than bỏ vào thêm cho Sư Cố. Lúc điệu đưa cái lò ấp than vào, đợi một lúc mà không thấy Sư Cố nhúc nhích chi cả nên đi tìm thầy tri sự là thầy Chí Niệm. Nghe tin, thầy đi tới thì Sư Cố đã viên tịch. Lúc đó khoảng sáu giờ sáng. Thầy tri sự cùng các điệu đứng chung quanh tụng kinh niệm Phật khoảng ba phút. Sau đó thầy tri sự bảo điệu Hải qua trình cho Sư Cố Thiền Tôn và đi mời quý thầy đi tản cư từ chùa Bảo Quốc lên. Quý thầy lên và làm lễ cung nghinh nhục thân của Sư Cố nhập kim quan. Vì hoàn cảnh chiến tranh nên tang lễ Sư Cố có khoảng ba mươi vị Tăng đến tham dự và chỉ diễn ra trong vòng ba ngày. Lễ nhập tháp là ngày mười một tháng hai năm Mậu Thân. Có lẽ cuộc đời của Sư Cố sống đơn giản nên Ngài viên tịch cũng thật là vắng lặng. Và đây cũng là hạnh nguyện của Sư Cố lúc sanh tiền. Sư Cố thọ tám mươi sáu tuổi. Khi còn tại thế Sư Cố có dạy rằng: “Khi nào Sư Cố mất thì phải thỉnh một tượng Phật để ở trên tháp. Nếu sau này hễ ai đến tháp lạy tức là lạy tháp Phật”. Cho nên sau khi Huế được tái chiếm, Chư Tôn Túc Tăng Ni trở về lại chùa và đến tháp Sư Cố đảnh lễ. Thật đúng, chư vị đảnh lễ tháp Phật. Cho đến ngày nay, trên tháp của Sư Cố có tượng Phật là vậy.

Kính bạch Sư Ông và tăng thân. Ôn lại đức từ bi và hạnh nguyện khiêm cung của Sư Cố, con không nén nổi xúc động của mình trước đức hạnh cao cả của bậc Thầy. Chúng con nhờ đức từ bao dung của Sư Cố mà hôm nay chúng con mới gặp lại được Sư Ông và tăng thân. Với cả tấm lòng từ bi, yêu thương và hiểu biết mà Sư Ông đã dành cho chúng con nên chúng con mới có mặt trong ngày hôm nay. Chúng con xin thành tâm kính bái.

Sư Ông Làng Mai nói: “Cảm ơn Thượng Tọa Chí  Mậu đã cho chúng ta nghe một bài thuyết pháp có nhiều chi tiết rất quan trọng về cuộc đời của Sư Cố Thanh Quý hồi xưa. Tuy rằng chuyến đi Việt Nam của tăng đoàn Làng Mai chưa biết có thực hiện hay không, nhưng không có nghĩa là trong tương lai sẽ không có một chuyến khác. Mình cứ tưởng tượng ngày hôm nay ngồi đông đủ ở đây, trong thiền đường này là mình có sự đoàn tụ rõ ràng. Tổ Đình ở đây, Làng Mai ở đây và mai mốt mình sẽ ngồi trong thiền đường Trăng Rằm có hàng trăm vị xuất gia cũng như tại gia của ba mươi nước sẽ về đảnh lễ tháp của Sư Cố. Chúng ta sẽ cùng nhau đi thiền hành trong Tổ Đình, leo đồi Dương Xuân và chúng ta sẽ sống với nhau như một đại gia đình và tiếp tục đi với nhau như một dòng sông để tiếp nối sự nghiệp của chư Tổ đã khai sáng”.

———————————————————————————————

Bản dịch tiếng Anh:

Sư Cố Thanh Quý Chân Thật

Stories told by Our Uncle Teacher Chi Mau

Dear Respected Thay, Dear Sangha!

Our Grandfather teacher­­­­`s practice, and his vow to help others was endlessly great and cannot all be told of. He had a very beautiful practice, his practice was being humble, he was always happy, and had plenty of loving kindness and compassion. His room was located on the right of the Main hall if you looked at it from the outside. Being well over 80, Our grandfather teacher slept very little, and regularly woke up around two or three o’clock in the morning to have tea and recite the name of the Buddha, with his recitation beads he sat beside the dim candle light. When time had come to invite the morning bell, Our grandfather teacher would go to ring the handbell and wake up the sangha to begin another day of cultivation and practice.

Between the years of 1965-1966, within the monastery the were only 3 baby monks, Hồng, Trí and Hải. Our Grandfather teacher taught the three of them to take turns in being his attendant. One Baby monks job was to sweep the rooms and boil water to serve tea when guests came to visit. The other baby monk was to hang the mosquito net, and make Grandfather teachers bed as well as attend to his health. In the winter he would also be in charge of putting hot coals into a clay pot so our Grandfather teacher could keep warm, and the last baby monk had the duty to cook three meals a day and brew his medicine. Grandfather teacher would often go out to the garden and look at its scenery, he’d admire the trees as well as plants and watch the his baby monks sweep the templeyard. One time, when he went out into the upper garden, he saw that the Sweet osmantus flower has bloomed in its wonderous white, and that its beautiful scent prevaded the whole complex. Picking a few flowers, he told the baby monks to bring them in, and so that the next time they served tea, they could add in a little. The flower of the sweet Osmantus when brewed with tea and consumed is very fragrant, and also is said to help to improve eyesight. On another occasion making his way down to the lower garden, he saw two baby monks from Châu Lâm Temple and Thọ Đức Temple. They were resting beneath a coffee plum tree after coming back from collecting firewood in the pine hills. The Indian Coffee plum, is big and bears many fruits. Knowing this, the two decided to climb the tree and pick its fruits. When they saw him standing and looking down from the upper garden, they were very scared and quickly slid down. Since he stood not too far away they joined their palms to greet him. Our Grandfather teacher only joined his palms to greet them back and then left. After witnessing this, the two baby monks whispered to each other, “goodness, hes so nice! Hes so kind!”

On one inccident, Grandfather teacher saw that the baby monks only liked to have fun and were lazy to study the Sutras, he called them up to his room one by one to lovingly encourage them “Here, I have a pack of candy and I am giving it to you, try your best to study, and do not let the others know.” Every baby monk was called to his room and were all told the same thing. After receiving the candy, each baby monk was very happy thinking that Grandfather teacher loved him the most and tried his very best to study inorder to receive Grandfather teacher’s affection. And so during that time, all the baby monks memorized the Sutras very quickly. One day during the winter, it was a specific baby monks turn to cook, and he woke up late because of the cold weather. He hurried to the storage to bring out the rice that was to be cooked and some how unmindfully bumped into the biggest pot which fell to the ground and broke into two. The Baby monk was so afraid, he ran out to the tamarind tree near the cow barn to cry. Grandfather teacher frequently went into the garden for visits with his walking stick, and so hereing someone crying he searched around and found the baby monk. Then he approached the baby monk and asked: “ My little one, why do you cry? Is it that you miss your family?” the baby monk joined his palms and replied: “Dear Grandfather teacher, when I was cooking this morning, I accidentally broke the biggest pot, and I am scared that the when work coordinater finds out he will yell at me, and so that is why I cry.” Grandfather teacher comforted him said “Its alright, come, follow Grandpa, I will give you some money, and you can go to town along with Uncle Kien and buy new one to replace it.” After uncle and baby monk bought the pot, brought it home and put it in back the storage, baby monk saw that it was noticablely newer than all the other pots and was still very afriad, and so he told Grandfather teacher: “Dear Grandpa, the pot is so new, sooner or later work coordinating thay will find out and yell at me.” Grandfather Teacher laughed and then said “I have a plan, tonight, you bring the pot to a corner of the field, place it there and use the extra pine twigs to burn it. After burning overnight, the new pot will exactly the same as the old one.” The baby monk did just as he was told and in the morning when he removed the ash it looked exactly the same as the original that he broke. He was really happy, and went to pay his respect to Grandfather teacher. And from then on, deep in his mind and at the bottom of his heart was where he wrote his gratitude for Grandfather teacher. The baby monk who broke the pot was none other…. than myself.

There came a time during winter when it was very cold, and so Grandfather teacher only stayed in his room and did not no anywhere. That noon hour, the attendant baby brought him his lunch. Dueto the cold weather, the baby monks all gathered around the fireplace to stay warm and listen to Grandfather teacher tell stories. As we was having his meals with the baby monks surrounding him he asked his attendant, “you can see that the food looks so tasty, if grandpa eats it all will you be sad?” the attendant baby monk replied “Dear Grandfather teacher, if I get to see you enjoy your meal, I will already be very happy.” Our Grandfather Teacher then smiles.

One time, Our Grandfather teacher asked the baby monks if they had finished memorizing the Surangama Mantra, and Baby monk Hồng replied “Dear Grandpa, The Surangama Mantra is so difficult to memorize, it has already been three months and I haven’t even memorized it. After completing the second section I forget the first, after finishing the first, I forget the second.” Grandfather Teacher said to the baby monks “You must learn it like eating congee, then you can memorize it. They used to say “When the soldier goes to war he is afraid of the dangerous obstables, when the man becomes a monk, he afraid of the Surangama Mantra.” The Surangama Mantra is very difficult to learn by heart.” Then he told them that back then there was a baby monk who was very quick at memorizing Sutras, the Surangama Mantra is composed of 5 sections but he learned it all by heart only within 12 days. His name was Phùng Xuân, Phùng Xuân was very intellegent and was also a very good learner. Then, Grandfather Teacher told of the time where that baby monk was his attendant. Grandfather teacher enjoyed having earth tamrind soup cooked with sweet potatoes. And that soup was also Baby monk Phùng Xuân’s specialty. In the summer if you eat earth tamarind and sweet potatao soup, it can be incredibly refreshing. However when it was time to set the table for the meal, baby monk somehow forgot to set chopsticks, and there was only spoons. That day, Grandfather Teacher ate his meal and he stood behind as the the attendant. Grandfather teacher questioned the baby monk: “out in the garden, is there still a lot of bamboo?”. The baby monk replied “Dear Thay, in the garden there is still a lot of bamboo, and there are many bamboo shoots as well. Recently Auntie four had brought some in to stir fry for the community, it was extremely delicious.” Grandfather teacher told baby monk “later, go out and chop some of bamboo for me.” At that moment baby monk looked at the table and realized that there where no chopsticks. He then hurried down to the kitchen got a pair, and offered it to Grandfather Teacher, and joining his palms he wholeheartly apologized. That baby monk has now become fully ordained and is currently pursiung his studies in the west. He is very intelligent.

In the winter, the weather was cold and there was heavy rain, the baby monks in the temple regularlychurned and pounded wheat. In the winter, pounding wheat keeps you very warm. At that time in the temple, meals were eaten twice, 9:00 in the morning and 5:00 in the evening. When it was time to pound the wheat, and the work co’ordinating thay was not home, Grandfather Teacher, with his walking stick made his way down to were the baby monks were at work and taught them “my dear ones, you should take the rice sheet and grind it, and so that each morning you can stir couple of spoonfuls with sugar and have it for breakfast. In the morning. When you wake up early to sweep the temple yard, if you eat this it will help you withstand the wind and cold. But remember not to let the work coordinater know, for you will be scolded ok?” The baby monks loved and respected Grandfather teacher very much, because of the love he had store for them.

Aside from his compassionate virtue also embodied the characteristic of great humility. When layfriends came to pay their respects to the Buddha, they would also ask to touch the earth at the feet Grandfather Teacher. Not only did he refuse to let them do so, but he also told them: “If your touch the earth at my feet, I will do it to you too,” Truly, if there existed a person who was able to touch the earth at his feet, even if once only, that person would have to possess incredible merit! One fine day, the Grandfather teacher of Thuyen Quang Temple told one of his little monks to deliver an invitation letter to Our Grandfather teacher. Wanting to invite him to Thuyen ton temple for a visit. The little monk respectfully requested that our Grandfather Teacher be seated so the invitation letter could be read, but Grandfather Teacher only stood and would not sit. Then he told the little monk: “When we listen to letters written by the Most Venerables, we should be respectful, just as if they were present.” Speaking of his daily lifestyle, he lived very simply and did not bother anyone. Of all the attendants, none were able to wash his clothes, even if it was only a single set. On on opportunity, an attendant very carefully took a set of Grandfather Teacher’s dirty clothes and was meaning to wash them. Although the clothes were worn, he folded them very neatly and placed them underneath his straw mat. Knowing this he told the attendant “those clothes belong to me, and they are brand new!” Truly, if there existed an attendant who was able to wash a single set of clothes for Grandfather Teacher, that person would recive great merit!

Late in his life due to old age, he could no longer visit the gardens anymore, he only did walking meditation beneath the verandas, where he enjoyed looking out into forest of pine trees. Although being over over 80, he was not burdened by any troubles related to health exceptold age itself. Daily, the baby attendant monk would brew medicine for him to drink. Unfortunately, during that that period of time war was waging on, and roads were blocked off, so the attendants could no longer travel to get his medicine. He slowly grew even older as the days went away, and his health also slowly declined.

On the eighth day of the second month, the year Mau Than, Grandfather teacher did not eat but only drank water. That night the three young monks stayed awake the whole night to be at his service. At three in the morning, he sat up and told the young monk to invite all the senior brothers to come to his room, for he had things he wanted to say. The young monk told him that all the senior brother had gone elsewhere, and the only people left in the temple was the coordinater and the three young monks. Nearing the fourth watch, Grandfather Teacher requested for help to to wash up and then be brought to his bed to rest. He reclined on his right, in the noble posture of the lion, and remained very solid. The young monks thought he wanted to rest and so they went to go take care of their alternative responcibilities. Hồng and Trí went to go begin the morning chanting session, and Hải himself stayed to attend to Grandfather teacher. When the coal in the clay pot ran out, he left to the kitchen inorder to get more for Grandfather Teacher, after moving the pot closer to Grandfather Teacher and noticing that he was extremely still, he went to find Thay Chí Niệm, the work coordinater. Hearing the news, he made his way to Grandfther teacher, but when they got there he had already passed. It was around six o’clock in the morning.

Everyone circumabulated around him chanting the buddha’s name and then when then Sangha was all present they begun his funeral. Because of the conditions that wore brought, his funeral lasted only three day and only over 30 monks we able to attend. Maybye it was through f his beautiful and simple lifestyle he passed away very peacefully. Before he passed away, he wanted that the monks enshrine a statue of the Buddha at the top of his stupa, so that when anyone came to touch the earth at the foot of his stupa, they would touch the earth infront of the Buddha Instead.

 

 

 

Dấu hỏi

Bố!

Cả cuộc đời bố đã vất vả, phấn đấu, lo toan. Cuối đời, chiến lợi phẩm bố thu về là những hoài vọng còn dang dở, là những nhàm chán, thất vọng, buồn phiền. Bố trở về tìm lại nguồn vui nơi vườn tược và tình làng nghĩa xóm. Đã có bao nhiêu niềm vui thật sự trên chặng đường mà bố đã đi qua? Hãy chỉ cho con biết đâu là đường bằng và  đâu là hố thẳm?

Mẹ!

Mẹ từng là cô gái xinh đẹp, tài ba, dịu hiền. Mẹ từng là niềm mơ ước của biết bao chàng trai trong đó có bố. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang. Mẹ trở nên một người phụ nữ như bao người phụ nữ khác: cằn nhằn, trách móc và kể khổ. Có con đường nào dành cho con đi mà đẹp hơn con đường của mẹ hay không?

Thầy cô giáo!

Thầy cô nói với em rằng tri thức là hành trang để đi vào đời. Nhưng sao càng học lên cao em càng có nhiều tham vọng, có nhiều lo toan và căng thẳng. Hành trang vào đời phải chăng chỉ cần tri thức? Hãy nói cho em biết, em phải mang những bằng cấp này tới nơi đâu để đổi lấy sự bình an và thanh thản của tâm hồn?

Anh!

Đang từ một chàng trai dũng khí ngời ngời, cậy sức mình anh muốn bay vút lên mây xanh, cưỡi sóng đạp gió. Nhưng sợi dây tơ hồng oan nghiệt đã cột chân anh vào những bộn bề, lo toan tầm thường của cuộc sống. Dũng khí của anh giảm dần, niềm hăng  say cuộc sống trong anh vơi cạn, những gánh nặng trách nhiệm ngày càng oằn vai. Hồn thảnh thơi đâu, sao lâu rồi em không thấy anh ôm đàn hát lên những bản tình ca, hay huýt gió bước trên con đường im vắng, ngước nhìn những cụm mây trắng bay?

Chị !

Áo quần, phấn son đã chật nhà chật cửa, chị đừng mua thêm nữa. Em luôn thấy chị đẹp như một nàng tiên mỗi khi lòng chị bao dung, hồn chị tươi vui và trái tim của chị lắng nghe được nỗi đau của muôn loài. Có phải là những mỹ phẩm có khả năng che mờ được những khổ đau và xấu xí trong tâm người, hay chính lòng nhân ái đã xóa đi những khiếm khuyết nơi thân thể?

Bạn!

Đâu rồi những ngày hồn nhiên bạn và mình dạo chơi dưới ánh trăng trong vườn hồng thơm ngát, cùng cất tiếng cười vang không một hạt bụi vương lòng? Những ngày bình yên bắt đầu trôi xa khi bạn lao theo bóng hình mà mình thương mến, lao theo những danh, những lợi, những tiền tài. Có phải chúng ta đang mải miết kiếm tìm hạnh phúc trong khi chưa biết hạnh phúc là cái gì và phải tìm nó ở đâu? Chúng ta cứ lao đầu chạy vòng quanh, rồi lại vòng quanh cho tới khi mệt nhoài và gục ngã mà vẫn chưa biết đâu là hơi hướng của hạnh phúc? Ngoài song, nắng đã lên trong vắt, hương xuân đã tới chạm bên thềm. Chiều nay, khi tương phùng nguyên đán bạn có còn nhớ đem về một nhành hoa mai trắng?

Em!

Ánh mắt của em trong veo, nụ cười của em giòn tan tươi thắm. Đôi chân em chạy nhảy tung tăng trên sân cỏ. Vấp ngã, em òa khóc rồi lại nhoẻn cười. Em giận đó rồi thân ngay đó. Ăn no, em lăn khèo ra ngủ. Những muộn phiền, dối trá, lọc lừa, âm mưu, thù hận, chưa bén mảng được tới gần bên em. Nhưng chị biết nó vẫn luôn rình rập để chiếm cứ lấy em. Chị phải làm gì đây để bảo vệ được nụ cười nắng mai và ánh mắt sao trời long lanh trong màn đêm nhung huyền của em?

 

Những câu hỏi lớn dần, ngày đêm nhức nhối. Một sớm đầu hạ cô bé lên đường, áo bạc, nón lá, chân trần, cô hướng về phía mặt trời, tìm về cội nguồn – tính sáng.

Người ẩn sĩ giữa lòng Tăng thân

Sư cô Chân Sứ Nghiêm là người Pháp, thuộc quốc tịch Pháp và đã được xuất gia trong gia đình Cây Sen Trắng (ngày 20 tháng 09 năm 2008), lúc đó sư cô 26 tuổi. Tuy chỉ mới xuất gia được mấy năm nhưng sư cô đã có nhiều cống hiến cho tăng thân bằng sự thực tập vững chãi và bình an của mình. Đây là lá thư sư cô viết (bằng tiếng Pháp) gởi đến Thầy để chia về sự thực tập của mình, và đã được sư cô Chân Duyệt Nghiêm chuyển ngữ ra tiếng Việt, BBT xin được chia sẻ cùng quý vị thân hữu.

Bạch Thầy kính thương!

Đã có nhiều ngày làm biếng thứ hai như thế này con được ngồi trong yên lặng. Con muốn tặng cho mình một món quà thật tuyệt vời là quay trở về với chính mình. Thật vui! Con thích sự tĩnh lặng. Và rằng, con thấy đó cũng là một cách đơn giản để không bị phân tâm đi nơi này nơi kia, qua đó, con có được một món quà của việc Không Làm Gì Cả mà con tự tặng cho mình. Con có thể tận hưởng những bước chân mình vì con không cần đi đâu cả. Con nghỉ ngơi hoàn toàn nhưng mọi thứ vẫn rất sống động. Dù sao, hôm nay con đã hát hơn hai giờ. Vui lắm, thưa Thầy.

Lúc này, con đang thắp lên một ngọn nến thơm mùi sáp ong để đón đêm đang tới. Những ngày yên lặng như vậy nuôi dưỡng trong con một bông hoa bình an rất đẹp và tự trong lòng sự bình an sâu sắc đó, con cảm thấy được một niềm vui lớn lao. Con đã hít thở mùi thơm của bông hoa đó trong suốt tuần lễ. Con có cảm giác mình đang quét dọn một lối đi, dọn dẹp những bụi cây rậm rạp ở đó. Và con thích làm điều đó lắm. Con đường sẽ đưa đến một nơi rất dễ chịu và chắc chắn là có một cái cốc nhỏ trên núi. Khi lối đi đã quang đãng, nó trở nên dễ dàng hơn nhiều để đi trên đó nếu có giông bão bất ngờ đe dọa. Đó là kinh nghiệm hiện giờ của con.

Cũng vậy, mỗi buổi sáng, con thức dậy lúc 4h30 và việc đầu tiên con làm là dừng lại: con pha một bình trà và ngồi bên ngoài để lắng nghe những tiếng chim, ngắm trăng và những tàng cây hiện ra dưới ánh trăng, con ngồi với mẹ con vì con biết ở nhà mẹ con vẫn hay làm như thế. Kể từ lúc thực tập như vậy, buổi sáng khi thức dậy con nói: ‘Youpi !’ để chào đón một ngày mới sắp đến và con cũng nói thầm trước khi đi ngủ là: ‘Alleluia!’.

Sáng hôm qua trong khi con đang uống trà thì bỗng có một con nai xuất hiện trước mặt con, nó đứng đó một chút, cách con khoảng mười mét. Thật là một món quà tuyệt diệu! Sau thời gian lặng yên này, con cảm thấy mình lắng vào một niềm bình an sâu sắc. Lúc đó, con có cảm giác mình là một con cá đang bơi trong nước mà một cái vây của nó là sự an lạc và cái vây kia là niềm vui. Sự cân bằng và phối hợp của cả hai cái giúp con có thể bơi tới trước một cách rất tự nhiên.

Ngày thứ ba vừa rồi, trong buổi ngồi thiền trước pháp thoại ở Sơn Cốc, con thực sự có cảm giác thả mình trong một cái bồn tắm mà nước rất êm và ấm. Con buông thư lưng của mình. Những giây phút đó dễ chịu quá. Con tin rằng từng chút một con đang thực hiện (hoặc làm rõ) cái ước muốn được làm một ẩn sĩ giữa lòng tăng thân của mình, hoặc nói cách khác là thả mình trong một bồn tắm mà cảm thấy rất tự do và an toàn với những mối liên hệ. Cuối cùng con có cảm giác đang tôn trọng chính mình một cách sâu sắc và con thấy có một cái gì đó đang mở ra một cách tự nhiên trong con, con có nhiều không gian hơn để lắng nghe, tiếp nhận, chấp thuận người khác như người đó đang là.

Thật buồn cười và bất ngờ vì con không thấy được điều này một cách rõ ràng trước đó, cho dù con có một trực giác nào đó về điều này. Con chưa bao giờ là  một người ‘cởi mở, thích giao thiệp’, hoặc ‘phải là như vậy’ trước khi đến đây. Con bắt chước những gì con thấy. Con nghĩ phải làm hoặc nói cái này, cái kia và con tự thúc ép mình rất nhiều dù không muốn. Con dò dẫm đi trong mù mịt và tìm kiếm những điểm mốc. Nhưng bây giờ, con thấy mình đã thoát khỏi những điều đó một cách nhẹ nhàng vì con đã bắt gặp được một cái gì đó đẹp và an ổn hơn nhiều. Con cảm thấy rất hạnh phúc trong cái góc phòng nhỏ của mình, mỗi ngày có cái gì đó để ăn và nhìn thấy những sư chị, sư em mình đi ngồi thiền mỗi buổi sáng. Con thấy lòng mình tràn đầy sự biết ơn về tất cả những điều kiện đã hội tụ lại ở đây cho sự lợi lạc của mỗi người cũng như cho sự thức tỉnh của tất cả. Thật đẹp để mở mắt ra và nhìn thấy những điều đó.

Ngay bây giờ đây, con quán chiếu thấy mình không còn cần một thứ gì khác nữa. Mọi thứ quá giản đơn mà con đã không thể nghĩ được cho đến khi con ở đây. Con tin rằng đó cũng là ước mong của con, là đi mãi tới một sự đơn giản hơn và hơn nữa. Con cảm thấy mình quá giàu có. Làm sao con có thể tưởng tượng được có một ngày vị ẩn sĩ sẽ hoàn toàn tương tức với mọi người, với cộng đồng? Dù sao, điều đó là một cái gì rất đẹp. Con là sứ giả của ai? Đúng rồi, con thấy rõ rằng trên con đường an vui mà con đang đi, thực sự không còn là một mình con đang bước đi nữa.

Đôi khi con vẫn nghe được giọng nói của một người phụ nữ rất, rất già (bà ngồi bên ngọn lửa và giữ cho nó còn cháy hoài). Con cũng nghe tiếng của Thầy, nghe tiếng trái đất đang khóc. Con tiếp nhận hết. Và con thấy đau. Cái đẹp của thiên nhiên và của sự sống đã mang con trở về nhà mình. Con mở mắt ra một lần nữa. Con đã nhớ lại được một phần ký ức sâu thẳm của mình. Và con biết rằng tất cả chúng ta đang có nhau.

Choi tuyet

Các sư cô đi leo núi

Con của Thầy,

Chân Sứ Nghiêm

Thầy tôi

chơi với trẻ em

Nếu không viết được về Thầy tôi trước khi chuyển hóa sang một kiếp sống khác, thì đó sẽ là điều tôi ân hận và tiếc nhất đời. Dù chỉ viết được một bài thay vì một cuốn sách, tôi cũng phải bắt đầu hôm nay…

Trước khi được gặp mặt Thầy lần đầu tiên, một buổi sáng mùa Xuân năm 1982 tại thiền viện Mount Tremper thuộc tiểu bang Nữu Ước, tôi không hình dung được là tác giả vĩ đại mà hai thập niên qua, tôi từng đọc say mê hầu hết mọi tác phẩm của ông, lại là một ông thầy tu nhỏ bé, đi đứng và ngôn từ nhẹ nhàng như vậy. Tôi đã có ý hơi lo lắng, về chuyện “vỡ mộng” khi sắp được gặp mặt người mà mình rất kính ngưỡng qua các sáng tác, từ thập niên 1960. Nhưng sự tin tưởng của tôi vào vị Thầy tác giả đó, thật sự đã tăng lên rất nhiều lần sau khi được diện kiến. Thầy cũng chính là người khiến cho tôi quyết định từ năm đó, sẽ dùng hết thì giờ rảnh của mình vào việc học và hành đạo Phật.

Tôi học được từ Thầy thật nhiều điều hay, tưởng như không đếm xuể, và không thể nhớ hết. Năng lượng từ bi của Thầy đã bao phủ con người tôi, sau khi được Thầy tiếp chuyện suốt nửa ngày “làm biếng” của Thầy trong khóa tu dành cho các thiền sinh Mỹ. Thầy ân cần dặn dò trước khi chia tay “Hãy thở và lái xe trong giới hạn 55 miles thôi”, đã khiến tôi cảm thấy vững tâm khi phải vượt qua mấy cái xe vận tải lớn, không còn vừa lái vừa run như bao lần trước nữa.

Khóa tu đầu tại Làng Hồng (mùa Hè 1984) đã khiến tất cả gia đình tôi thay đổi, trong chiều hướng biết sống hạnh phúc hơn. Gia tài lớn nhất mà chúng tôi để lại cho con cháu, chính là những gì chúng tôi học và hành được qua Phật Pháp mà Thầy đã chỉ dạy không ngừng nghỉ, từ ba thập niên qua. Riêng tôi, do thiện duyên được làm “thị thiệt” hầu Thầy trong một số khóa tu, vào những năm chưa có tăng đoàn Làng Mai, tôi học được một số điều từ cách nói năng, hành xử của Thầy –  những bài học riêng tư chỉ có mình tôi – hoặc thêm vài đồng đạo được nghe, được hưởng. Tuy chưa thực hành giỏi, tôi cũng xin kể trong đây được vài chuyện mà tôi còn nhớ rõ.

Trong khóa tu năm 1987 tại tu viện Kim Sơn, đại chúng phiền lòng không ít vì sau mỗi buổi pháp thoại của Thầy, có một ông thi sĩ tự lên cầm micro đọc thơ (không hay gì mấy) của ông. Thầy từ bi ngồi nghe ông cúng dường nên không ai đứng dậy ra về trước, cho tới ngày gần chót, ông tự đề cao “thơ tôi hay hơn thơ Thầy vì tôi dám nói về Sex!” Trên máy bay từ California trở về Montreal cùng Thầy, tôi nhắc lại chuyện làm cho mình và đại chúng bực mình đó, khi bị “mất thì giờ nghe ông ta đọc thơ…”, Thầy nhỏ nhẹ bảo tôi “Mình phải tập thương cả những người như vậy!”

Trong những lúc chỉ có hai Thầy trò, khi nhắc tới tên một người đã từng bỏ Thầy đã viết nhiều bài báo sai sự thật để bôi xấu Thầy, Thầy vẫn luôn luôn gọi người đó là “anh”, không bao giờ có chữ  “thằng”.  Lòng bao dung và từ bi của Thầy khiến cho Thầy thương luôn những người “đánh phá” Thầy bằng ngòi bút hay lời đồn đại. Suốt cuộc đời tu hành, càng nổi danh, Thầy càng bị hàm oan nhiều chuyện do những con người “vô minh”, nhưng Thầy không một lần lên tiếng biện luận. Nhiều học trò xin Thầy lên tiếng cải chính để sự thật được sáng tỏ, Thầy chỉ nghiêm giọng dạy trò “hãy lo tu thôi, đừng mất thì giờ về những chuyện thị phi đó!”

Đem pháp môn Thiền Chánh Niệm và các phép thực tập từ Làng Mai đi giảng dạy cho các thiền sinh đã học từ nhiều truyền thống Thiền khác nhau (Nhật Bản, Trung Hoa, Nam Tông hay Tây Tạng…), hoặc từ các tôn giáo khác (Thiên Chúa, Tin Lành, Do Thái.v.v…), là chuyện không dễ dàng, nếu như Thầy không phải là một bậc chân tu lỗi lạc. Đối với các học trò cư sĩ Tiếp Hiện của thập niên 1980, Thầy cũng đã từ bi khuyến khích họ đi tìm hiểu và thực hành, thử nghiệm các phương pháp Thiền khác, để có lòng tin vững chãi hơn vào pháp môn Làng Mai. Trong một buổi họp với chúng Tiếp Hiện Canada, Thầy nói: “Nếu ba năm gặp lại thầy mà không thấy thầy tiến bộ, thì nên tìm thầy khác mà tu!”

Cũng vào khoảng cuối thập niên 1980, khi Làng Hồng bắt đầu có đông thiền sinh về tu học, dân Làng Cây Phong (Canada) chúng tôi đã phải năn nỉ Thầy để làm lò sưởi trong phòng Thầy ngủ và làm việc. Mỗi khi Đông về, Thầy ngồi viết bài mà tay tê cứng vì lạnh! Dù bản quyền hàng trăm cuốn sách mang lại cho Thầy một số tịnh tài đáng kể, hạnh “sống nghèo hành đạo” của Thầy có lẽ không có một vị Sư nào theo kịp, dù vị đó chỉ có một ngôi chùa nhỏ. Sư cô Như Ngọc (chùa A Di Đà, Orange County) đã có kinh nghiệm vá áo tràng cũ cho Thầy khi cô sang tu tại Làng Mai. Chú Thanh Hương (sinh hoạt bên cạnh Thầy đầu thập niên 1970 tại Paris), cho biết chi tiết Thầy trò thường chỉ sống bằng tiền lương dạy học của Thầy, nấu cơm bằng gạo nuôi chim chứ không mua được gạo thường. Lúc đó, Thầy đã được Phật tử Âu và Mỹ cúng dường hàng triệu Mỹ Kim để giúp các chương trình xã hội Phật giáo bên Việt Nam, nhưng Thầy không bao giờ xài đồng tiền nào trong quỹ đó!

Kiến thức Phật học và kinh nghiệm hành đạo của Thầy tôi mênh mông như biển. Nhưng Thầy có thể dạy cả những bé thơ mới năm, sáu tuổi, cũng như chuyển đổi được tâm tình các cụ đã quá tuổi “Thất thập cổ lai hy” (trên 70). Thầy tôi càng hoằng pháp, càng có nhiều người hâm mộ và tu học theo, dù họ có duyên tham dự các khóa tu trực tiếp hay gián tiếp qua sách vở, băng và đĩa nhựa. Công trình hoằng hóa nhân loại qua Duy Biểu học của Thầy có những dấu ấn sâu xa vào các tâm lý gia Âu và Mỹ. Sách vở của họ sáng tác từ giữa thập niên 1990 về sau, hầu hết đều nói tới Cognition therapy, Live here and now, Be aware.v.v… Theo anh Josepth Emet, một nhạc sĩ Canadian, giáo thọ Làng Mai, thì chữ Mindfulness không có trong tự điển tiếng Anh, trước khi sách The Miracle of Mindfulness được xuất bản đầu thập niên 1970… Trong chuyến bay đi thăm cháu ngoại kỳ này, tôi  bật cười khi nghe cô tiếp viên hàng không nhắc nhở khách du hành: “Please, be mindful when you get back your luggage from the cabin above you!”

Ảnh hưởng của Thầy tôi lên các thế hệ tương lai sẽ còn lớn lao hơn hiện tại rất nhiều. Hòa thượng Mãn Giác khi sinh tiền có nói: “Thầy Nhất Hạnh là một con người đi trước thời đại khoảng 30 tới 50 năm”. Nếu có đủ duyên may được làm người trong kiếp tới, tôi lại mong được thực tập Phật Pháp qua pháp môn Làng Mai.

 

Ngày 30/12/2011