Nẻo về tiếp nối đường đi

Chùa Pháp Vân ngày 18.05.2014

Các cô chú kính thương!

Thật là mầu nhiệm khi bây giờ đây chúng con đang thực sự có mặt tại chùa Lá Pháp Vân để hiến tặng sự bình an và thảnh thơi như là một món quà tri ân dành cho các cô chú tác viên đã chối từ bạo động hy sinh vì lý tưởng phụng sự xã hội.

Chúng con vừa được nghe kể,về những người trẻ đến với nhau trên con đường phụng sự, về dòng tu Tiếp Hiện với ngọn lửa cháy bỏng yêu thương cùng với những nguyện ước, những hoài bão và những hy sinh âm thầm mang nhiều đại nguyện của các cô chú.

Chúng con cũng được nghe kể về hình ảnh những người trẻ đó đã mỉm cười nằm xuống cho hòa bình, cho tình thương được thắp sáng. Theo con nghĩ các cô chú ấy không bao giờ mất đi mà đang ẩn tàng dưới hình thức nào đó. Để rồi biểu hiện ở khắp nơi giữa đất trời, cây cỏ cũng như trong mỗi nụ cười, hơi thở và bước chân bình an của chúng con.

“Nước mắt bỗng ngừng trôi, khi người đã nguyện dâng
Thân mình làm đuốc hồng, cho đồng lúa trổ bông
Cuộc sống chết nào đây? Đau buồn sẽ đổi thay
Đem mình vào kiếp người, thoát khỏi nỗi tử sinh.

Cành mai đã rụng rơi, rơi rụng xuống cuộc đời
Một cành mai rụng rời, làn hương vẫn chẳng phai
Người không riêng của ai, nhân loại vẫn của người
Đặt mình trong dòng đời, tử sinh cũng là vui…”

Thời gian thấm thoát trôi qua, mới đó mà đã 47 năm. Mặc dù đất nước thôi không còn chiến tranh và bom đạn nữa, nhưng vẫn còn trong tình cảnh đói hiểu và nghèo thương, gia đình mất truyền thông, môi sinh bị tàn hoại khiến cho môi trường xung quanh và trong tự tâm chúng con vẫn còn có nhiều nội kết và mất mát.

Thế nhưng, chúng con vẫn có niềm tin vào cuộc sống vì chúng con đã có con đường đi, chúng con đã có nẻo về để tiếp nối. Biển gia tài các cô chú để lại cho chúng con là dòng sữa Pháp, là hơi thở chánh niệm, là bước chân thảnh thơi và tình thương lớn. Có tình thương lớn rồi chúng con có được tự do lớn để ôm ấp, trị liệu và chuyển hóa những niềm đau nổi khổ của chính tự thân và những người thân xung quanh mình.

Các cô chú kính thương,

47 năm đã trôi qua những câu chuyện phụng sự bằng con đường bất bạo động của các cô chú luôn được trao truyền và tiếp nhận qua bao thế hệ. Trong thời chiến giữa hai làn bom đạn đầy gian nguy và thử thách mà các cô chú vẫn vững chãi bên nhau, cùng xây dựng Làng Tình thương, trường TNPSXH để đến với dân nghèo thiếu ăn thiếu học thiếu sức khỏe.

Điều khâm phục nhất vẫn là khả năng sống an lạc và hạnh phúc của các cô chú cùng với niềm tin vững chắc vào giáo Pháp và sự tu tập mang lại hoa trái của chuyển hóa, chữa trị và niềm vui cho mọi người. Nguồn vui sống của các cô chú là làm việc giúp người và giúp chuyển hóa xã hội. Đó chính là tình thương đích thực, tình thương lớn và cũng là một bài pháp sống vượt xa những gì ngôn từ có thể diễn tả được.

Đất nước đã đi qua chiến tranh và tìm lại được hòa bình. Tuy vậy các thế hệ sau vẫn tiếp tục đi trên con đường hiểu thương của các cô chú. Những người tác viên của khóa 1,2,3,4 và 5 giờ đây đang là những cây đại thụ cho chúng con nương tựa và tiếp nối. Chúng con đã được đi theo các cô chú trong những chuyến đi từ thiện của chương trình Hiểu và Thương. Nhiều chiếc cầu nhỏ đã được xây ở những vùng xa xôi hẻo lánh, hàng trăm giếng nước hoa màu đến với vùng nông thôn khô cằn sõi đá, cả ngàn học bổng cho trẻ em nghèo hiếu học và cả những trường mẫu giáo hiểu thương hay quà Tết cho người dân nghèo.

Mỗi một hành trình, mỗi một chuyến đi chứa đựng biển tình thương bao la vô bờ bến. Các cô chú đã lớn tuổi rồi, có người đầu bạc trắng xóa. Thế mà lúc nào tác phong cũng nhanh nhẹn và luôn nở nụ cười hiền khô. Những lần như thế, hình ảnh các tác viên xã hội năm xưa lại hiện ra trong chúng con. Và chúng con như những giọt nước nhỏ hòa vào dòng sông yêu thương để cùng nhau chảy ra biển Từ Bi chan hòa và rộng lớn.

Chúng con được ngồi bên nhau, có mặt cho nhau trong những ngày tụng giới hay những khóa tu chánh niệm. Chúng con thật may mắn được tiếp nhận gia tài là sự bình an là tình thương đích thực, là sự buông bỏ những ý niệm đúng sai và phân biệt, lại biết trở về để an trú trong giây phút hiện tại khi bên ngoài đang có dông bão. Chúng con ý thức rõ ngoài kia đang sục sôi bạo động và hận thù nhưng tự thân chúng con nhờ nương theo tình thương và sự hiểu biết. Chúng con tập quay về chăm sóc tâm hành của mình bằng hơi thở thức và tập dừng suy nghĩ để giữ cho lòng tĩnh lặng và bình an.

Các cô chú kính thương!

Chúng con Tự thấy mình vẫn còn nhiều yếu kém trên con đường thực tập, chúng con xin nguyện giữ vững ngọn đèn chánh niệm, tim vẫn cháy một tình thương không phân biệt và nụ cười an nhiên trên con đường tiếp nối. Chúng con xin nguyện an trú trong hiện tại, đem mắt thương nhìn cuộc đời để có thể tiếp xúc được với sự sống nhiệm mầu, tiếp xúc được với chư Bụt, Tổ và tiếp xúc được với Thầy cùng tăng thân ở khắp mọi nơi.

Thương kính

Con – Chân Xuân Tản Viên.

Bền bỉ lửa trái tim

Chị thương kính của em,

Như vậy là chị đã xa chúng em thấm thoát 47 năm rồi. Ngày chị ra đi, em không thế nào quên được, em đã ngồi khóc như mưa bên nhục thân của chị. Thời gian tuy đã xa lắm, nhưng bây giờ hồi tưởng lại, em vẫn còn khóc và thấy mọi chuyện như mới xảy ra.

Ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch năm Đinh Mùi (1967), lúc 7 giờ 20 sáng tại chùa Từ Nghiêm, đường Bà Hạt, quận 10 mọi người đang tất bật chuẩn bị cho một ngày lễ lớn, ngày vía đức Phật đản sanh. Trên chánh điện tầng một của chùa, các sư cô đang lau chùi bàn thờ, trang hoàng cờ xí, sắp xếp hương hoa, trà quả để dâng cúng chư Bụt và Bồ tát. Mọi người chú tâm lo phần việc của mình nên không để ý đến những gì sắp xảy ra chung quanh.

Đến khi thấy ngọn lửa bùng lên thật mãnh liệt ở ngay trước chánh điện và sức nóng lan tỏa khắp nơi, các sư cô mới hốt hoảng tri hô lên. Mọi người sững sờ nhìn thân chị ngã gục phía trước trong tư thế ngồi chắp hai tay.

Khi ấy em đang ở nhà ôn bài thi tốt nghiệp sư phạm. Mẹ em từ ngoài chợ về cho hay chị Mai đã tự thiêu ở chùa Từ Nghiêm hồi sáng sớm. Nhà em ở gần chùa, nên mỗi lần chị chở hai bác đến chùa lễ Phật, tụng kinh, chị hay ghé qua nhà em để nhắn nhủ những việc cần thiết hoặc rủ em đi tụng kinh, chị Mai nhớ không?

Em vội lấy xe đạp chạy như bay đến chùa. Khi bước vào trong giảng đường thì thấy nhục thân chị đã được đặt ở đấy và được che phủ bằng lá cờ Phật giáo. Em buông mình quì phục xuống bên cạnh chị và khóc nức nở trong thương tiếc. Chị Tuyết Hoa cũng đang cúi đầu khóc thút thít.

Thôi rồi! Chị đã thật sự xa chúng em rồi! Em thẫn thờ như người mất hồn ngồi ôm đầu khóc như một đứa trẻ. Em không thể nào tin được, chị Mai ơi.

Quê hương mình thì chiến tranh, bom đạn. Thầy mình thì làm Phật sự nơi xa. Chị giờ đã ra đi  thật rồi! Mỗi khi có nỗi niềm sâu kín, em biết lấy ai tâm sự bầu bạn, vì chị là người hiểu rõ em nhiều.

Chị hiền lắm, giọng chị nhỏ nhẹ từ tốn và luôn lắng nghe những khổ đau, u uất của mọi người. Em vẫn như còn nghe văng vẳng bên tai giọng khuyên nhủ của chị: “Hổng được làm vậy nghe Hiệp, nghe lời chị khuyên đi! Hiệp biết không, em có nhiều điều kiện hạnh phúc lắm mà em không biết đó. Em có một cơ thể khỏe mạnh, lành lặn, đẹp đẽ nè, có điều kiện học hành, có văn hóa tri thức nè. Em không phải đi buôn gánh bán bưng cực khổ để kiếm sống. Ba má có bất hòa, gia đình có xào xáo nhưng rồi cũng qua đi, vì đời là vô thường mà em, vài năm nữa ba má hòa thuận lại cho coi.”

Và chị hướng dẫn em đi vào những xóm nghèo để phát gạo hoặc quần áo cũ. Lần đầu theo chị vào Xóm nghĩa địa ở sau rạp Quốc Thanh, em sửng sốt nói nhẹ bên tai chị: “Trời Phật ơi! Sao người ta sống khổ quá vậy chị?” Con đường lầy lội nước bùn loi ngoi, lóp ngóp, nhà ở của những gia đình này là những ngôi mộ, được che bởi những tấm carton dày hoặc những manh chiếu rách. Rồi những đêm mưa to, gió lớn, họ phải sống ra sao?

Tất cả vợ chồng con cái đều trú ẩn trong những túp lều rách nát, mong manh như thế! Em đứng mím môi thật chặt để khỏi bật ra tiếng khóc mà nước mắt cứ thi nhau chảy quanh. Chị nắm nhẹ tay em dẫn đi sâu vào trong xóm tiếp tục phát quà và thăm hỏi.

Nhất Chi Mai (tóc dài, bên phải)

Tối hôm ấy về nhà em buồn không ngủ được. Hình ảnh những mảnh đời cơ cực, bất hạnh nơi xóm  nghèo nghĩa địa Quốc Thanh luôn ám ảnh em trong giấc ngủ. Và từ đây con tim phụng sự đã theo em trọn đời không quên lãng.

Chị lại dẫn chúng em đi giúp dân làng làm trường học ở Cầu Kinh hoặc Thảo Điền, bên kia cầu Xa lộ. Các anh chị tác viên Trường Thanh Niên Phụng sự Xã hội dễ thương và nhiệt tình quá. Chú Tâm Thể, anh Dương, anh Lưu, anh Thơ, chị Lành, chị Đồng, cô Mai và nhiều nhiều những anh chị khác đều hiền lành dễ mến nên làm việc tuy vất vả nhưng vui quá. Em bỗng nhớ nụ cười thật hiền của chị!

Các anh chị dạy người dân biết cách ăn ở vệ sinh hơn, biết làm hố tiêu để tiêu tiểu đúng chỗ, biết uống nước đun sôi để nguội để tránh bị tiêu chảy. Chị Chín dạy các cháu nhỏ đừng bắt chước người lớn hút thuốc, uống rượu. Làng Thảo Điền ở cạnh sông, ban đêm dân làng thường đi giăng câu, bắt cá. Trời lạnh nên người ta hay uống rượu và hút thuốc cho ấm. Con nít độ 9 hoặc 10 tuổi đi theo chú, bác thả câu cũng tập tành uống rượu như người lớn.

Những ngày cuối tuần đi giúp dân làng của chị em mình đẹp và vui quá phải không chị? Thỉnh thoảng em được chị Chín đọc thư Thầy cho em nghe ké để chia sẻ hạnh phúc. Em thích nhất câu: “Các em hãy rửa mắt trên những cánh đồng lúa xanh.” Thơ mộng và lãng mạn quá! Hình bóng Thầy vẫn lung linh sáng ngời trong lòng chị em mình tuy Thầy đang ở xa.

Rồi tai họa liên tiếp đổ ập lên trường chúng ta: sáu tác viên của Trường trong lúc đi thực tập đã bị bắt cóc cho đến bây giờ cũng không biết dấu tích.

Sau đó ít lâu, vào một đêm thứ bảy, bỗng có một toán người lạ mặt xông vào trường, dùng súng đạn bắn giết các anh chị đang nằm nghỉ trong phòng. Hai chị Liên và Vui bị thiệt mạng. Chị Hương bị cưa một bàn chân. Anh Vinh bị lưu đạn trúng đầu, lòi não ra ngoài nên bị liệt cả tay chân phải nằm điều trị ở bệnh viện Chợ Rẫy suốt cả năm.

Các anh chị tác viên và những vị thân hữu của Trường thay phiên nhau vào nuôi anh Vinh. Mỗi ngày phải hai người túc trực bên giường bệnh để chăm sóc cho anh. Các vị thân hữu thì tình nguyện nấu cơm và ngày hai buổi đem vào phục vụ cho người nuôi bệnh. Gia đình em tình nguyện nấu cơm mỗi ngày thư tư và đích thân em đem cơm vào nhà thương cho các anh chị.

Chị sợ em làm lâu ngày rồi nản lòng bỏ cuộc, nên đã nhắc nhở em trước khi chị tự thiêu một ngày, mà em đâu có biết: “Hiệp ơi, ráng đi thăm anh Vinh và lo cơm nước đàng hoàng nghe em. Đừng bỏ rơi các anh chị lúc này tội nghiệp lắm!” Chị nhìn em với đôi mắt thành khẩn, thương yêu nhắn nhủ trước khi ra đi. Em vẫn vô tình nên chỉ trả lời nhẹ: “Dạ!”

Chị đã chuẩn bị cho việc ra đi nên mấy tháng trước, chị đã nhắn nhủ, khuyên bảo mà em không biết. Có lần hai chị em ngồi chơi ở phía sau chùa lá, nhìn ra cách đồng lúa bát ngát mênh mông, chị đã nói với em:

“Dù sau này không còn Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội nữa, em nhớ luôn giữ tấm lòng phụng sự trong tim nghe Hiệp.”

Em lật đật cãi lại chị: “Trường mình sẽ tồn tại mãi chị Mai ơi! Các anh chị tác viên của Trường hiền lành, dễ thương, chỉ đi giúp đồng bào xây nhà, làm trường, giúp nông dân trồng tỉa, chăn nuôi gia súc, giúp đủ thứ hết. Mình đâu có làm chính trị hoặc làm điều gì xấu ác mà chính quyền không cho Trường mình hoạt động hả chị?”

Chị buồn buồn, hướng mắt nhìn ra xa trả lời: “Đời vô thường lắm em ơi! Không có gì chắc chắn cả. Hiệp phải hứa với chị, lúc nào trái tim thương yêu và phụng sự cũng phải luôn cháy trong em bền bỉ đó nha. Quê mình còn chiến tranh, dân còn khổ nạn nhiều. Chị em mình phải làm gì để xoa dịu những đau thương, tang tóc do chinh chiến gây ra. Như vậy cuộc sống mình mới có ý nghĩa!”

Rồi chị quay đi làm mặt giận :”Hổng thôi, chị giận, nghỉ chơi luôn cho coi!”

Em ôm chị nũng nịu và hứa chắc với chị: “Em sẽ mang lý tưởng thương yêu, phụng sự đi suốt cuộc đời, chị Mai chịu chưa?”

Chị cười rạng rỡ trên đôi mắt hiền từ. Em đâu ngờ đó là những điều chị trối trăn cùng em trước lúc ra đi!

Em cũng không thể ngờ một người nhỏ nhắn, nhu mì, dịu dàng, hiền hòa như chị lại có thể can đảm hiên ngang làm công việc của một đại trượng phu như thế: chị đã đem thân mình làm đuốc hồng để cảnh tỉnh lương tri loài người!

Hôm tiễn đưa chị về An Dưỡng Địa làm lễ hỏa thiêu, đồng bào mình đi dài hàng mấy cây số. Đọc mười bức thư của chị để lại, gửi cho cha mẹ, chính quyền hai miền Nam Bắc và cho quý Tôn đức trong Giáo Hội Phật giáo, mọi người đã thấy hạnh nguyện của một vị Bồ Tát.

Em vẫn khóc sướt mướt đi theo dòng người để tiễn đưa chị. Em không ngờ chị Mai của em cũng văn thơ bay bướm lắm. Đọc thư chị, em thật kính ngưỡng và trân trọng đại nguyện của chị:

Chắp tay tôi quỳ xuống

Chắp tay tôi quỳ xuống

Chịu đau đớn thân này

Mong thoát lời thống thiết !

Dừng tay lại người ơi !

Dừng tay lại người ơi !

Hơn hai mươi năm rồi

Nhiều máu xương đã đổ

Đừng diệt chủng dân tôi !

Đừng diệt chủng dân tôi !

Chắp tay tôi quỳ xuống …

Bây giờ em không còn khóc nữa. Em sẽ hát chị nghe bài hát Một Cành Mai tức Đạo Ca 5 của Nhạc sĩ Phạm Duy :

“… Nước mắt bỗng ngừng trôi, khi người đã nguyện dâng

Thân mình làm đuốc hồng, cho đồng lúa trổ bông ….

Cành mai đã rụng rơi, rơi rụng xuống cuộc đời

Một cành mai rụng rời, làn hương vẫn chẳng phai

Người không riêng của ai, nhân loại vẫn của người

Đặt mình trong dòng đời, tử sinh cũng là vui…”

Và đây chính là ca khúc nhạc sĩ Phạm Duy viết về chị Nhất Chi Mai đó, chị thương kính của em.

Gần 50 năm trôi qua, đất nước mình cũng đã “thưở trời đất nổi cơn gió bụi ” bao phen. Đã hết chiến tranh nhưng vẫn còn rất nhiều niềm đau nỗi khổ, vì vậy hạnh nguyện của Thầy và của anh chị em mình vẫn phải tiếp tục.

Thầy mình bây giờ đã gần 90 tuổi nhưng vẫn bôn ba đó đây để dạy cho mọi người biết cách sống hạnh phúc, bớt thù hận, khổ đau. Thầy và chị Chín (nay là sư cô Chân Không) và một số thân hữu đã lập ra làng Mai ở miền Nam nước Pháp. Làng càng ngày càng lớn rộng, nay đã có tất cả 4 Xóm lớn là: Xóm Thượng, Xóm Hạ , Xóm Mới và Chùa Sơn Hạ, lại thêm những Xóm nhỏ như Xóm Trung, Xóm Đoài, Xóm Lưng Đồi…

Pháp môn tu tập của Thầy đã đem đến hạnh phúc cho không biết bao nhiêu người trên thế giới. Bây giờ đã có hàng ngàn các thầy và sư cô trẻ ở khắp nơi tu học và thực tập theo pháp môn Chánh Niệm của Thầy.

Dòng tu Tiếp Hiện, khởi đầu với 6 người mà chị Mai là chị Cả, nay đã lên đến hàng chục ngàn anh chị hay nhiều hơn nữa, đang tiếp nối cánh tay Thầy đem pháp môn Chánh niệm đến khắp các quốc gia.

Sáu thành viên đầu tiên của dòng tu Tiếp Hiện (Nhất Chi Mai đứng thứ ba từ bên trái)

Mỗi lần nhớ chị, em ngậm ngùi rưng rưng nước mắt. Song Thầy đã dạy chị Mai không bao giờ mất. Chị vẫn ẩn tàng đâu đó và biểu hiện trong mỗi thành viên Tiếp Hiện chúng em. Nụ cười, hình ảnh và đại nguyện của chị vẫn luôn ấp ủ trong lòng chúng em, lời hứa năm xưa em vẫn thủy chung giữ tròn cùng chị.

Em vừa gầy dựng một blog để trình bày những sinh hoạt tu học mà chúng em đã thực hành trong cuộc sống. Qua những bài viết của các cô, chú bác, hy vọng rằng sau này giới trẻ sẽ hiểu được những nguyện ước, những hoài bão cùng những hy sinh âm thầm mang nhiều đại nguyện của những người đi trước.

Em sẽ trân trọng dành ưu ái cho chị khai trương trang blog này, vì chị là người đã trao cho em ngọn lửa cháy bỏng yêu thương, phụng sự của Thầy. Và trang blog này sẽ được vinh dự mang tên Nhất Chi Mai, người chị thương kính muôn đời của chúng em.

Chị kính yêu ơi! Chị hãy vào đọc cùng chúng em nha!

Đứa em hay nũng nịu và “mít ướt” của chị

Chân Bảo Nguyện.

Để tìm hiểu thêm về Nhất Chi Mai, xin đọc hồi ký của sư cô Chân Không: Dòng tiếp hiện và những hoạt động dấn thân

Lòng từ bi sẽ đem lại tự do

Trong những năm qua, Làng Mai thường xuyên gửi các vị giáo thọ xuất sĩ và cư sĩ vào trong các nhà tù ở khắp nơi trên thế giới để hướng dẫn tu tập, giúp cho các tù nhân chuyển hóa và tìm lại được niềm vui sống ngay trong những ngày tháng bị giam cầm. Sau đây là một lá thư của Zachary – người hiện đang hướng dẫn tu học cho một tử tù bị kết án khi mới 19 tuổi và đã ở trong tù suốt 13 năm qua (lá thư được chuyển ngữ từ tiếng Anh).

18.2.2014

Thầy thương kính,

Tên con là Zachary. Trong năm vừa qua con có liên lạc với một tử tù tại nước Mỹ này, người đó tên là Daniel. Daniel lãnh án tử hình vào năm 2000 và đã ở trong tù suốt 13 năm qua. Khi phạm tội, cậu ấy chỉ mới 19 tuổi, và từ đó tuổi thanh niên của cậu đã trôi qua sau chấn song nhà tù.

Daniel là một người thực tập đạo Bụt – cậu ấy biết đến đạo Bụt khi ở trong tù. Con đã cùng cậu ấy đọc quyển sách “Trái Tim Của Bụt” do Thầy viết, rồi sau đó chúng con chia sẻ với nhau về những gì đã đọc bằng cách viết thư cho nhau.  Đó là một trải nghiệm tuyệt vời mà chúng con đã có, đặc biệt là nó đã mang đến cho Daniel rất nhiều lợi lạc. Bởi vì ngày Daniel bị tử hình không còn xa nữa.

Con viết thư này để cám ơn Thầy vì quyển sách của Thầy chính là một món quà cho chúng con. Thầy là một người có ảnh hưởng vô cùng quan trọng trong cuộc đời con. Những hoạt động dấn thân của Thầy đã và đang khuyến khích, thúc đẩy con đấu tranh cho công bằng xã hội.

Ngoài ra con lấy hết can đảm để xin Thầy làm một việc. Con không biết Thầy có thể viết một bức thư cho Daniel để động viên khuyến khích cậu ấy hay không? Con biết là lá thư của Thầy sẽ vô cùng có ý nghĩa cho cậu ấy và ngay cả cho con nữa.

(Con xin gửi kèm địa chỉ của cậu ấy)

Viết trong sự bình an

Con

Zachary.

Lá thư bằng tiếng Anh:

Dear Thay,

My name is Zachary. For the last year, I’ve been corresponding with a man on death row here in the United States. Daniel was sentenced to death in 2000 and has spent the last 13 years behind bars. He was only 19 when he committed the crime, and has spent the entirely of his adulthood behind bars.

Daniel is a practicing Buddhist,  a tradition he came to in prison. Together we have been reading your book. The Heart of the Buddha’s Teaching and are discussing it in our letters. It has been a wonderful experience for both of us, and a particularly helpful resource for Daniel as his execution draws closer.

I’m writing first to thank you for the gift of this book. You have been an important figure in my life, as your activism has been encouraging and prompted me in the fight for justice.

Secondly, I’d like to be so bold as to ask a small favor of you. I’m wondering if you would be willing to write a letter of encouragement to Daniel. I know it would mean a lot to us both. His address is…

Peace,

Zachary.


Sau đây là bức thư và tấm thư pháp mà Thầy Làng Mai viết cho Daniel (được chuyển ngữ từ tiếng Anh):

Làng Mai, ngày 14.3.2014

Daniel thương,

Thế giới bên ngoài hiện có rất nhiều người đang bị giam hãm trong vòng buồn giận, hận thù và tuyệt vọng. Họ không có tự do. Những người ấy không thể tiếp xúc với không khí trong lành, với bầu trời xanh trong và với bông hoa hồng đang tỏa hương thơm ngát.

Thế nhưng nếu con thực tập lòng từ bi, nếu con có khả năng thấy và hiểu được những khổ đau trong họ, thì con sẽ muốn nói hoặc làm điều gì đó để giúp họ bớt khổ. Lòng từ bi sẽ mang đến cho con sự tự do, và con sẽ có khả năng thưởng thức bầu trời xanh trong, không khí trong lành và bông hồng đang tỏa hương thơm ngát.

Sống một ngày mà có lòng từ bi thì giá trị hơn sống 100 trăm ngày mà không có nó.

Thương chúc con mỗi ngày đều thưởng thức từng bước chân và hơi thở của mình!

Thầy,

Nhất Hạnh.

(Dưới đây là bức thư pháp mà Thầy gửi tặng Daniel cùng với lá thư này: Home is every step – Quê hương đi về trong mỗi bàn chân)

 

Lá thư bằng tiếng Anh:

Plum Village, 14 March, 2014

Dear Daniel,

Many of us around there are caught in their anger, hate and despair. They do not have freedom. They can not get in touch with the fresh air, the blue sky and the fragrant rose.

But if you practice compassion, capable of seeing and understanding their suffering, you will be motivated to say or to do something to help them suffer less. Compassion sets you free and you will be able to enjoy the blue sky, the fresh air and the fragrant rose. One day with compassion is more than 100 days without it.

Enjoy breathing and walking every day!

Thầy,

Nhất Hạnh.


BBT cũng xin được chia sẻ với các bạn một số lá thư khác mà Thầy Làng Mai đã nhận được từ các tù nhân từ nhiều năm trước :

Đây là một lá thư nhận được từ anh Nicolas người Mỹ. Nicolas đã bị kết án tử hình và đang chờ ngày lên ghế điện. Anh cũng đã có dịp được đọc cuốn Living Buddha Living Christ trong tù. Nhà tù này ở tiểu bang Pennsylvania. Thư được dịch từ tiếng Anh:

Ngày 28 tháng 12 năm 1997

Thưa Thầy,

Con không biết lá thư này có tới được tay Thầy hay không. Nhưng con mong rằng có một người nào cùng địa chỉ của Thầy mở được lá thư này ra mà đọc để cho con bớt khổ. Địa chỉ của Thầy con tìm ra sau cuốn sách Living Buddha Living Christ mà người ta cho con. Con đã bị kết án tử hình mười bảy năm rồi và tuy cuộc đời của con trong thời gian đó có bao nhiêu khổ đau, bao nhiêu thất vọng, nhưng trong con lại có ý chí muốn vượt thắng những vết thương, những vết sẹo tâm lý và tình cảm đã hằn lên tâm hồn con. Những vết thương đó con đã mang theo vào trong tù, chúng đã được chất chứa và lớn lên trong tù. Con đã từng tranh đấu, đã từng vùng vẫy rất khó khăn với sự thù hận trong lòng.

Có những lúc con nghĩ là con không thể vượt thoát được. Những lúc đó con cảm thấy bị chúng đè bẹp và nghiến nát. Nhưng lạ thay, con đã học được cách sống sót từ những giờ phút khổ đau quằn quại đó, những giờ phút hờn oán hận thù ấy. Và ước muốn duy nhất bây giờ của con là có thể sống sót được mà không bị điên loạn bởi những hận thù kia, hận thù đối với những người đã bắt con, đã hành hạ con, đã làm cho con khổ đau đến mức cùng tận. Con không biết tại sao con lại có thể làm được chuyện đó, nghĩa là con có thể vượt thoát được những giờ phút mà con sắp hóa điên, để còn có thể giữ được sự an lành trong con. Con đâu có bao giờ nghĩ là con hơn ai, hơn người bên cạnh con chút nào đâu. Con chỉ là một con người tầm thường và con rất biết ơn dù sống trong tù qua mười bảy năm, con còn giữ được cái thăng bằng trong con và con chưa trở thành điên loạn.

Với niềm biết ơn đó, con đã có thể trân quý được những gì xảy ra trong đời sống hằng ngày của con. Mỗi khi con nhìn mặt trời lặn, con cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Chỉ cần ngồi sau khung cửa sắt nhìn ra ngoài, con cũng có khả năng hưởng thụ được cái đẹp của cảnh mặt trời lặn. Trong nhà tù trước, con đã ở mười hai năm, và ngày nào con cũng chỉ được nhìn bức tường. Khi con được chuyển sang nhà tù này cánh cửa sổ trong nhà tù mới đã cho phép con thấy được một phần của thành phố với rất nhiều cây xanh. Lần đầu tiên được tiếp xúc với cây cối và một phần của thành phố, con cảm động quá cho đến nỗi con đã khóc nức nở.

Khi con đọc cuốn Peace is Every Step của Thầy và nghe được giáo pháp an trú trong hiện tại thì con lập tức hiểu ngay được giáo lý đó. Lâu nay con có thái độ thù ghét các tôn giáo, tại vì tôn giáo nào cũng có khuynh hướng loại trừ những người không đi theo mình. Vì thế nên con đã theo con đường trở về với nội tâm để mong tìm sự an lành bên trong mà thôi.

Con biết rằng con chỉ mới bắt đầu học Phật thôi, nhưng con đã có thể thấy được cái đẹp đơn giản trong sự đi tìm và chứng nhập với giây phút hiện tại và nhu yếu phải sống trong chánh niệm. Đời sống trong tù của con rất khó khăn, rất lao khổ, nên con đã học được phương pháp biết trân quý những giây phút ngắn ngủi, và nhờ vậy mà những lo lắng, sợ hãi về tương lai và cái chết không làm cho con điên loạn nữa và không có thể tiêu diệt được tính người trong con. Nhờ vậy mà bây giờ con đã học được cách hành xử như một người Phật tử.

Con tin rằng nếu con tiếp tục thực tập thì con sẽ tìm được sự cải hóa từ từ cho đời sống tâm linh của con. Điều mong ước sâu sắc nhất của con là dầu con có bị hành xử một cách tàn tệ và bạo động đi nữa thì con cũng hy vọng rằng từ cái rác đó con có thể biến nó thành hoa, và con có thể tìm ra cái an bình trong con. Và trong khi đi tìm sự an bình trong con, con có thể chấp nhận được con và con có thể sống rất thoải mái với chính con. Ước mơ của con là một ngày nào đó con được thả ra, và có người tới gặp con, nhìn con một lát rồi nói: “À, anh này đã ở trong tù hai mươi năm với tư cách của một người tử tội vậy mà bây giờ xem cũng còn được quá chứ.” Con chỉ có ước mơ như vậy thôi.

Con viết cho Thầy lá thư này, hy vọng rằng lời nói của con có thể chia sẻ được với Thầy cái chất người ở trong con, không phải với tư cách của một người tử tù đợi ngày hành quyết, nhưng với tư cách một người đã được gởi vào đây để học hỏi và lớn lên trong một hoàn cảnh không có một hy vọng tối thiểu nào cho tương lai. Xin Thầy hãy bảo trọng sức khỏe của Thầy, hoặc ai đó đang đọc lá thơ này cũng nên tự bảo trọng lấy mình. Cám ơn Thầy hoặc ai đó đã đọc những lời này của con. Nicolas.

Sau khi đọc xong lá thư của Nicolas, Thầy Làng Mai có nhờ sư cô Thục Nghiêm gởi cho Nicolas một cuốn Thiền Hành Yếu Chỉ, và có viết cho anh một lá thư ngắn như sau:

Tôi muốn nói rằng nếu trong tù mà anh chưa điên loạn và anh còn giữ được chất người trong anh, và anh không hiểu tại sao anh làm được như vậy thì anh nên biết rằng cái châu báu đó là do tổ tiên tâm linh và tổ tiên huyết thống đã truyền cho anh. Nhờ đó mà bây giờ anh còn sống sót được. Và tuy ở trong tù nhưng anh có tự do nhiều hơn chúng tôi, những người ở ngoài này nhưng đang bị hận thù, thèm khát và hối hận giam giữ.

Chúng tôi gởi cho anh tập Thiền hành yếu chỉ. Anh thực tập đi, trong phòng giam của anh và nếu được thì thực tập ở bên ngoài. Anh có thể mời những người bạn tù khác thực tập với anh, giúp đỡ những người đó và làm cho họ nếm được chút ít an lạc và hạnh phúc mà anh có trong khi tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống.

Chúng tôi ở đây sẽ rất sung sướng nếu được biết anh thực tập thành công ở trong đó. Anh có thể là một người tự do dầu anh đang ở trong tù. Hãy nuôi dưỡng chất liệu từ bi và hiểu biết trong anh, điều này sẽ làm cho anh tự do và hạnh phúc. Và nếu cần anh cứ viết thơ cho nhà xuất bản Parallax hay Community of Mindful Living để xin thêm sách và băng giảng. Viết thơ cho chúng tôi thì anh đề cho sư cô Thục Nghiêm vì sư cô là người Mỹ, có thể hiểu và viết tiếng Anh một cách rất dễ dàng, sư cô sẽ đại diện tất cả chúng tôi. Hãy bảo trọng. Thầy.

Đây là một lá thơ khác từ trong nhà tù gởi ra. Nhà tù này ở tiểu bang Washington. Đây là một người tù gốc Việt.

Đầu thư con xin chúc Thầy được dồi dào sức khỏe và mọi sự được thuận lợi ở Làng Mai. Đệ tử tên là Hùng, là một người rất ngưỡng mộ Thầy và hiện đang cư ngụ tại trại cải huấn Airway Correction Center. Trong thời gian qua, đệ tử nhờ ơn những cuốn sách của Thầy chỉ dạy mà đã hấp thọ được rất nhiều về đời sống tươi đẹp và thương yêu. Thời gian xa cha mẹ hiền và bỏ nước ra đi, đệ tử đây đã đi vào con đường tội lỗi. Vì quá ham vui nên đệ tử đã quên mất con đường về nhà mà tổ tiên đã chỉ bảo cho. Nhờ ơn Thầy chỉ dạy qua các cuốn sách mà đệ tử đã may mắn được đọc trong tù, cuốn Being Peace và cuốn A Joyful Path. Những cuốn đó đã giúp cho đệ tử rất nhiều như sự thực tập trở về nguồn gốc và đi trên lối đi của tổ tiên.

Trong dòng họ của đệ tử ai nấy đều hướng về Phật giáo và có đôi người đã từng xuất gia. Đệ tử đội ơn Thầy đã mở rộng tầm mắt của đệ tử và mở đường cho đệ tử trở về với con đường của tổ tiên. Nhờ cuốn A Joyful Path, trang 14, mà đệ tử đã có thể viết cho ba của đệ tử một lá thơ để nối lại tình cha con. Ba đệ tử là một người say mê rượu chè và thường đánh đập má đệ tử lúc đệ tử còn nhỏ. Lớn lên con không hết lòng thương ba con.

Qua cuốn sách của Thầy con mới thấy được những đau khổ mà ba con đã chịu đựng và con đã có thể viết thơ để hòa giải với ba con và con biết phải làm thế nào để độ cho gia đình con và để cho mọi người có thể hiến tặng nhiều tình thương cho nhau. Đệ tử xin hết lòng cảm tạ công lao của Thầy đã bỏ ra để soạn những cuốn sách quý báu cho con và cho tất cả mọi người. Những cuốn sách của Thầy đã giúp cho rất nhiều người ngay ở trong nhà tù này. Con cũng đồng thời xin thay mặt cho những anh em nào đến sau mà cảm tạ ơn Thầy đã biếu cho những cuốn sách quý đó để chúng con có thể tu luyện trong tù. Con xin chúc cho toàn thể chúng sanh và cho gia đình con nhiều điều an lành. Hùng.

 

Một tù nhân thực tập thiền hành trong một nhà tù ở California đã viết thư cho Thầy như sau:

“Con đứng ở trên đầu cầu thang, đang thở và định đi xuống cầu thang có chút việc. Con thấy có những người tù khác đang đi lên và đi xuống. Họ chạy như bị ma đuổi, và nhìn cách đi đứng của họ con thấy được tất cả những đau khổ của họ. Con thấy họ như những trái bom sắp nổ. Con ao ước rằng người nào cũng có thể leo lên cầu thang và bước xuống cầu thang một cách nhẹ nhàng và chánh niệm như con để cho họ bớt khổ.”

 

Câu chuyện của Jarvis Master

Có một người tù đã viết được nguyên một cuốn sách về sự thực tập của mình ở trong tù và sách đã được một nhà xuất bản tên là Padma Publishing House in ra. Anh ta đã có cơ hội được quy y với một Thầy người Tây Tạng. Thầy đó đã vào trong tù để truyền tam quy và ngũ giới cho anh. Anh tên là Jarvis Master. Trong sách này anh kể nhiều chuyện vui. Có một hôm anh tù ở phòng bên đập cửa và chửi ầm lên, trong khi Jarvis đang thực tập: thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười. Anh Jarvis phải ngưng thực tập vì anh chàng bên kia đập phá quá. Chàng kia đang nổi điên. Chàng la: “Thằng chó chết nào đang hút thuốc bên kia, mày phải cho tao nửa điếu.” Anh ta chắc là Jarvis đang hút thuốc mà không chịu chia cho nó hút. Nhưng Jarvis đã bỏ thuốc từ khi mới bắt đầu tập thiền.

Anh ta lớn tiếng với người bạn tù bên kia: “Mày là thằng chó chết nào? Tao đã bỏ thuốc từ lâu rồi. Mày xin thuốc hút mà la lối như vậy thì chó nào mà cho. Nếu mày dễ thương nói năng có lễ độ thì họa may tao cũng tìm cách kiếm thuốc cho mày”. Anh bên kia nghe như vậy thì ngưng đập phá. Jarvis tuy đã bỏ thuốc lâu rồi nhưng vẫn còn giữ một gói thuốc rê. Anh tính cho, nhưng anh nghĩ là chỉ nên cho một chút ít thôi. Anh lấy ra một tờ giấy, gói lại một phần nhỏ của gói thuốc rồi chuyền qua cho người bạn tù. Tờ giấy anh ta dùng để gói thuốc là một tờ photocopie trang đầu của sách Being Peace mà tác giả là Nhất Hạnh.

Chính nhờ nhận được từ ngoài gởi vào một bản photocopie của sách này mà anh Jarvis mới biết thực tập thiền. Anh ta tự nói là nếu mình gởi cho anh chàng kia trang một, có thể nó sẽ đọc và sẽ hưởng được chút ít pháp bảo. Anh bạn tù bên kia có vẻ rất sung sướng khi nhận được gói thuốc của Jarvis. Ba bốn ngày sau Jarvis chuyền qua một ít thuốc nữa và dùng trang thứ hai của sách Being Peace để gói. Rốt cuộc ước mơ của Jarvis đã thành tựu, vì khi đã chuyền hết cả cuốn sách qua rồi thì anh bạn tù trở nên rất im lặng dễ thương, vì anh cũng đang thực tập thiền ở khám bên kia.

Từ đó về sau, phòng tù bên phải của Jarvis rất yên, vì người kia không những đã nhận được thuốc, được tình thương mà còn nhận thêm giáo lý trong sách Being Peace nữa. Sau đó mấy tháng, anh kia được thả. Ngày được phóng thích, anh đi qua và dừng lại để cám ơn Jarvis. Hai người, một người ở trong, một người ở ngoài, cùng đọc lên một câu trong sách Being Peace: If you are peaceful, if you are happy, if you can smile, then everyone in our family in our entire society will benefit from our peace (Nếu anh tĩnh lặng, hạnh phúc, nếu mà anh có thể mỉm cười thì tất cả mọi người ở trong gia đình của anh và ở trong xã hội của anh đều được thừa hưởng sự tĩnh lặng và hạnh phúc của anh).

Hai bên dị khẩu đồng âm cùng đọc lớn lên câu đó vì cả hai đều thuộc nằm lòng câu kia, trước con mắt ngơ ngác và thán phục của những người cai tù. Cuốn sách của Jarvis viết nhan đề là Finding Freedom: writings from Death row (Tìm thấy tự do: chia sẻ từ chốn tử tù), do nhà xuất bản Padma Publishing ấn hành năm 1997.

 

Chúng ta đều biết rằng hiện giờ có rất nhiều người đang khổ đau và tuyệt vọng trong chốn lao tù, trong đó có thể có người thân hay bạn bè của chúng ta. Vì vậy, chúng tôi mong quý vị có thể đem những lời chia sẻ này của Thầy Làng Mai đến được với những người đó và giúp họ tìm lại sự bình an và tự do trong chính tự thân. Quý vị có thể in những dòng thư pháp của Thầy Làng Mai như An lạc từng bước chân, An trú thảnh thơi, Thở, v.v. để gửi kèm (xin bấm vào đường link này: http://langmai.org/dai-may-tim/thu-phap/da-ve-da-toi ). Làm như vậy là quý vị đang thực hiện công việc của bồ tát Địa Tạng, đưa cánh tay ra mà tiếp xúc với những khổ đau không bờ không bến trong những địa ngục đang có mặt ở khắp nơi trên thế giới. Nam Mô Bồ Tát Địa Tạng Vương!

Con không trốn chạy nữa

Ireland, 4.2.2014

Thầy kính thương

Khoảng chín hay mười năm về trước, buổi chiều sau khi tan sở, cứ vài ngày là con lái xe đến đậu trên một ghềnh đá cheo leo. Ở đó, con hút cần sa, hết điếu này tới điếu khác. Vừa hút con vừa khóc. Con lái xe đến bờ vực và cố thu hết can đảm để lao xe xuống, mong kết liễu cuộc đời mình. Đó là một nơi rất đẹp, có những ngọn núi ở hai bên dẫn xuống một thung lũng xanh tươi với một dòng sông chảy ngang qua. Vậy mà con không tài nào làm nổi. Rồi con lái xe về, vừa lái vừa khóc suốt dọc đường. Về đến nhà, con lại lên giường đi ngủ.

Sáng hôm sau con thức dậy. Mỗi một ngày mới đến chỉ thêm một sự tra tấn đối với con. Và những buổi sáng tiếp theo cũng đều như thế … Đến cuối tuần con lại đắm mình trong men rượu, con uống, uống và lại uống. Con hút cần sa, điếu này nối điếu khác. Con dùng tất cả những cái đó để cố làm lu mờ đi nỗi đau ở trong lòng. Đó là lúc con ở trong giây phút khốn cùng nhất của đời mình.

Con làm việc văn phòng. Công việc của con lúc ấy được coi là “rất thành công”. Nhưng chính nó lại đang giết chết con. Mỗi buổi sáng bước chân vào sở làm, con thấy như mình đã bỏ linh hồn lại bên ngoài. Phần đẹp nhất ấy không bao giờ theo con đến văn phòng, và con thấy mình như đang chết dần chết mòn. Lúc ấy con khoảng chừng 35 tuổi. Vài năm trước đó, một người bạn chí thân của con đã tự tử. Đó là một người rất dễ thương. Chúng con đã cùng nhau lớn lên, cùng nhau chơi đùa, và trở thành một đôi bạn khắng khít. Cái chết của anh ấy là một cú sốc cho con, bởi con luôn nghĩ rằng con sẽ chết trước bạn mình.

Trong giây phút khốn cùng ấy, tự dưng trong đầu con vang lên một giọng nói: “Này bạn, nếu bạn chết thì điều gì sẽ là điều bạn ân hận nhất?” Và câu trả lời đã đến liền tức khắc: Thơ ca.  Con là một người yêu thơ ca nhưng chưa bao giờ được sống với niềm yêu thích đó. Ngay giây phút ấy, con nhận ra rằng con đang sống  một cuộc đời mà cha mẹ kỳ vọng nơi con. Hay nói một cách khác, con luôn cố gắng gò mình để đạt tới tiêu chuẩn “thành công” mà cha mẹ đặt ra.

Cha con là một người rất hung bạo. Ông đánh đập mẹ con liên miên. Ông đánh cả con và ba anh em trai của con nữa. Con luôn sống trong nỗi sợ cha khủng khiếp. Con rất căm ghét cha. Ông thường xuyên bảo rằng con không đáng giá một xu, rằng con sẽ là một thằng thất bại. Trong khi đó, ông lại nói rằng em trai con sau này sẽ trở thành một người rất thành đạt. Đã hai lần, con bị hai người không thân thích lạm dụng tình dục. Vì thế khi tuổi còn rất nhỏ, con đã có ý muốn tự tử.

Tuy vậy, thời thơ ấu của con cũng có những mùa hè rất vui. Chúng con về nghỉ hè ở nông trại của chú con và chính nơi đó chúng con thực sự được là những đứa trẻ con. Chúng con chơi đùa từ sáng sớm đến tối mịt như những đứa trẻ cùng lứa tuổi được chơi trong những mùa hè của tuổi thơ. Chú con đã nói thẳng với cha là khi nào chú còn sống thì không ai có thể làm chúng con tổn thương được. Những lời này được nói với cha một cách rất nhã nhặn. Ở nông trại của chú, chỉ có niềm vui và sự bình yên mà thôi.

Từ giờ phút lắng nghe được tiếng nói trong lòng, con quyết định sẽ làm hết sức mình để sống, và sống theo ý muốn của chính mình. Con như trút bỏ một gánh nặng ngàn cân. Con đăng ký một chương trình học để lấy bằng về thơ ca. Con thấy như mình đã về nhà. Con không cần phải cố gắng để “học” một chút xíu nào. Con bước vào một lĩnh vực có thể giúp con khám phá được chính mình. Con rời bỏ “công việc ngon lành” mà mình đang làm để đầu tư hoàn toàn vào thơ ca. Thật ra con không làm thơ mà con quyết định sẽ sống với thơ ca, thưa Thầy. Sống thật hết mình. Lần đầu tiên trong đời con cảm thấy mình đang sống.

Con bắt đầu bớt uống rượu, mỗi tháng chỉ uống một lần, đúng hơn là 6 tuần một lần. Con vẫn còn hút cần sa, và thỉnh thoảng vẫn còn xài khá nhiều ma túy (cocaine). Thực tế là con đã lâm vào tình trạng nghiện ngập. Nhưng Thầy biết đó, một khi con đã đi vào ngưỡng cửa của thơ ca thì con không thể quay lại con đường trước đây được nữa. Con phải cai nghiện thôi. Đúng ra con không cần phải cai gì cả. Đơn giản là con bỏ không xài nữa mà thôi.

Rồi con gặp một người bạn thật tuyệt vời tên là C.S, anh ấy đã giới thiệu pháp môn thực tập chánh niệm cho con. Trước khi gặp được C.S, con đã nhiều lần muốn tự tử. Con nhớ lần đó, trong một đêm Giáng Sinh con đã uống say khướt. Con muốn đi đến một bãi biển tuyệt đẹp ở miền Tây Ireland để lái xe xuống biển tự tử. Trên đường đi đến đó, xe bị hư. Lúc đó đã khuya lắm rồi. Có một chiếc xe cảnh sát ngừng lại phía sau. Một viên cảnh sát đến gõ vào cửa kính xe con, con quay cửa xe xuống. Ông ta hỏi con có ổn không và bỗng dưng con bắt đầu khóc nức nở. Con bảo ông ấy rằng con đang rất say và chỉ muốn kết thúc cuộc đời mình. Viên cảnh sát đã ở lại an ủi con. Con không biết tên của ông ấy. Đó là một người tốt bụng. Ông ấy bảo con là mọi việc rồi sẽ ổn thôi.

Một người bạn khác của con làm nghề chụp ảnh và muốn làm một cuộc triển lãm về những người đã từng có ý định tự tử. Anh ấy hỏi con có biết ai như vậy không bởi anh biết con có một người bạn đã chết vì tự tử. Con kể cho anh ấy nghe chuyện của chính mình. Thế là anh tập họp những người vẫn còn sống sót sau khi đi qua các cơn khủng hoảng như con lại thành một nhóm. C.S. là một thành viên trong nhóm này. Và anh chính là người đã giúp con làm quen với sự thực tập chánh niệm.

Sau lớp học đầu tiên (mỗi tuần một lần), con bắt đầu ngồi thiền mỗi ngày. Con bỏ hút cần sa. Con không uống say sưa nữa (tuy rằng cứ khoảng 3 ngày con vẫn còn uống một ly rượu vang), và con không còn xài ma túy nữa. Con chưa bao giờ phải cai một món nào. Những thứ đó có vẻ như tự rời con ra thôi. Cuộc sống của con đã thật sự thay đổi. Năm cuối cùng trong chương trình học lấy bằng về thơ ca là năm đẹp nhất trong suốt khóa học.

Mỗi buổi sáng trước khi ăn điểm tâm, con hành thiền từ 40 phút tới một giờ. Một ngày của con bắt đầu như thế. Con đến gặp một chuyên viên tâm lý trị liệu và mở lòng ra chia sẻ tất cả sự bạo hành và bị lạm dụng tình dục mà con đã đi qua. Sau một năm thì con không đến điều trị nữa. Con luôn muốn sống ở miền Tây Ireland nên đã theo trực giác thơ ca của mình mà dời về đó. Tuy thế, tim con vẫn còn rất tổn thương. Con tự cô lập mình, nhưng vẫn thiền tập mỗi ngày. Rồi C.S. cho con một CD của … Thầy Thích Nhất Hạnh. Thật là tuyệt diệu. Thiền tập một mình cũng rất tốt nhưng theo lời Thầy dạy, con quyết định tìm hiểu xem có tăng thân nào ở địa phương không.

Trong khi ấy, sức khỏe của chú con đang suy sụp trầm trọng. Trước giờ chú vẫn là một nông dân sống độc thân. Vào thời điểm ấy, chú không còn có khả năng tự chăm sóc cho mình được nữa, chú đã là một ông già 70 -75 tuổi. Bấy giờ chú sống trong một căn nhà dơ bẩn – ngôi nhà đã có lúc là một nông trại đẹp đẽ – và chú không tiếp bất kỳ ai. Chú có một mụt u ở chân và không thể nào đi xa được. Chuột chạy khắp nơi còn nhà vệ sinh thì bị nghẹt. Chú chỉ có một cái máy sưởi nhỏ mà chú mở rất thấp. Chú ngồi gần như cả ngày trong một chiếc ghế bành. Ngày nắng, chú ra ngoài và leo lên ngồi trong chiếc xe hơi cũ mà bây giờ không còn chạy được nữa, ngủ trong đó một vài tiếng đồng hồ. Chú không leo cầu thang để lên lầu ngủ trong cái phòng lạnh lẽo của chú được nữa. Do vậy khi đêm xuống, chú trùm một cái mền qua đầu rồi ngủ luôn trên ghế. Chú sống như thế đã 5 năm. Người ta bắt đầu lợi dụng chú trong việc sử dụng nông trại.

Đã có người đề nghị chú bán nông trại cho họ với giá 1.2 triệu Euro bởi vì miếng đất ấy dẫn tới một cái hồ rất đẹp. Chú nói “không”. Người ta trả lên 1.5 triệu. Chú hỏi sau khi bán, con đường dẫn tới hồ có thể được giữ nguyên để cho mọi người vẫn có thể đến thưởng thức cảnh đẹp của hồ hay không. Ngoài ra trên mảnh đất ấy còn có một cây cổ thụ 100 tuổi nên chú ngại là nó sẽ bị đốn đi. Họ không thể bảo đảm được hai điều đó nên chú không bán. Chú con là một người dễ thương như thế đó.

Trong khi tất cả những cái đó đang diễn ra cho chú, con không thể nào thăm nom gì chú được, bởi vì bản thân con lúc đó cũng đang phải vật lộn với những khó khăn của chính mình. Con không thể nào đến ngôi nhà đẹp đẽ đã từng là nơi nương tựa cho con. Con không có đủ sức để đi đến đó xem xét tình trạng của chú mình. Con không thể làm bất cứ một cái gì cho chú hết.

Con tiếp tục hành thiền và tìm kiếm một tăng thân tại địa phương thực tập theo pháp môn Làng Mai, theo lời dạy của … Thầy Nhất Hạnh. Mỗi tối thứ hai vào lúc 8 giờ tối là lúc con đi thực tập với tăng thân. Càng ngày sự thực tập của con càng sâu hơn một chút. Con bắt đầu đi thăm chú một cách thường xuyên. Con cảm thấy đi thăm chú là một việc rất khó khăn, bởi vì chú đang bị bủa vây bởi sự tuyệt vọng và khốn cùng, giống như là đi trong một đám mây đen dày đặc vậy. Cả đời chú không hút thuốc, không uống rượu. Chú lúc nào cũng rất mạnh khỏe, chú đã từng là vận động viên môn chạy và môn đi bộ cho đội tuyển Ireland. Và chú luôn là một người rất hiền lành hòa nhã. Chú là người duy nhất trong số những người con quen biết chưa bao giờ mất bình tĩnh, lúc nào cũng đối xử với người khác một cách rất tử tế. Vì vậy mà thật khó cho con khi nhìn thấy chú ở trong một tình trạng đáng thương như thế. Cuộc sống thường nhật của chú bây giờ không còn nữa, một số bạn bè của chú đã qua đời, ngành nông nghiệp bây giờ cũng đã phát triển rất xa so với trước đây. Lần nào từ nhà chú ra về con cũng khóc, đồng thời con cũng cảm thấy nhẹ nhõm khi rời khỏi đó.

Rồi con bắt đầu đem chú đến bệnh viện để được chữa trị thường xuyên, bởi vì mụt u ở chân chú càng lúc càng trầm trọng hơn. Con cũng mang chú đến Dưỡng đường Y tế Công cộng mỗi tuần hai lần để được chăm sóc. Và mỗi sáng, con lại “thở vào…thở ra…”. Nhờ vậy mà con có đủ sức để tiếp tục thăm nom cho chú.

Tháng 11 năm 2000, trước khi đi dự Lễ hội thi ca (poetry festival) vào cuối tuần ở miền Bắc Ireland, con đến thăm chú. Mùa đông năm ấy, nhiệt độ xuống đến âm 10 – 15 độ C. Ngày con đến thăm chú, tuyết rơi và trời lạnh cắt da. Con biết nếu chú còn ở lại trong căn nhà ấy, chú sẽ không thể nào sống nổi. Vì vậy con mang chú đến bệnh viện và tìm cách để chú được nhập viện. Nhưng sau khi cho chú ăn một bữa ăn chiều và băng chân cho chú, họ không cho chú nhập viện. Con hoảng lên vì trong lòng rất muốn tham gia Lễ hội thi ca đó. Nhưng họ nhất định không cho chú nhập viện. Buộc lòng con phải mang chú về. Thay vì rẽ trái về nông trại của chú, con quyết định mang chú về nhà mình. Con không nói gì với chú hết. Con chỉ đem chú về nhà và sửa soạn căn phòng không sử dụng trong nhà cho chú ở. Từ đó đến nay, chú sống với con.

Năm 2012, con nghe nói Thầy sẽ đến Ireland. Tới Killarney!!! Con vội đăng ký một chỗ trong khóa tu. Và đó chính là sự bắt đầu cho một cái gì rất đặc biệt đối với con. Buổi tối đầu tiên, Thầy cho hướng dẫn tổng quát và lời Thầy là những giọt nước cam lộ mát lành. Thầy đã khuyên chúng con nên trở về với gốc rễ của mình. Dường như con đã chờ đợi Thầy suốt cả cuộc đời để nghe những lời mà Thầy đã nói trong đêm ấy, và trong những ngày kế tiếp. Sức mạnh của khóa tu ấy đến tận bây giờ vẫn không hề suy giảm mảy may. Vào cuối khóa tu, Thầy nói rằng mấy ngày tu cuối tuần đã trôi qua, nhưng không có nghĩa là khóa tu đã chấm dứt. Quả thật là như thế, bạch Thầy. Khóa tu ấy vẫn nằm trong trái tim con. Nó đã cứu vớt đời con.

Thầy khuyên chúng con nên gọi điện thoại cho cha hoặc mẹ nếu đã không liên lạc với họ quá lâu và sử dụng ái ngữ. Sau bài pháp thoại ấy, con đã mượn một cái điện thoại di động và gọi cho cha con. Con nói với cha là dù lâu nay con không liên lạc, con vẫn rất thương cha. Con hơi nói dối một chút. Tuy vậy con cũng có nhắc đến một vài việc cha đã làm cho con mà con thật sự biết ơn. Thầy đã dạy con làm sao đối diện với những cảm thọ và những hoàn cảnh khó khăn nhất để có thể vượt thắng được sự tự ái, lòng căm ghét hay bất cứ một cái gì khác đang làm cho những mảnh vỡ không thể hàn gắn được. Đó là một việc cực kỳ khó thực hiện.

Nhưng một trong những câu mà con tâm đắc nhất khi nghe Thầy nói là: “Mình có thể làm được” (It’s possible) Con rất thích câu nói này của Thầy. Cái cách Thầy nói câu ấy thật dễ thương, bạch Thầy. “Mình có thể làm được!” Mỗi khi nghe Thầy nói câu đó con đều mỉm cười. Nó làm cho con thấy thật ấm áp và hạnh phúc. Con thấy mình được thương khi nghe Thầy nói câu đó. Giờ thì con đã hiểu là mọi chuyện đều có thể xảy ra (Everything is possible).

Sau khóa tu ấy, con hoàn toàn không uống một giọt rượu nào nữa. Một phụ nữ hỏi Thầy nghĩ sao khi bà chỉ uống mỗi tuần có một cốc rượu mà thôi. Thầy trả lời là có thể bà nên nghĩ đến việc bỏ rượu, không phải cho cá nhân bà, mà cho tất cả những người đang nghiện rượu. Quả là một câu trả lời tuyệt hảo. Con đã đọc câu chuyện ấy. Thế là con quyết định bỏ hẳn rượu. Con đã hồi hướng công đức của sự thực tập ấy cho một cô bé rất đáng yêu nhưng lại đang nghiện rượu, tên cô ấy là K.O. Bây giờ thì cô ấy không còn uống nữa và tham dự Hội Những Người Nghiện Rượu Vô Danh (Alcoholics Anonymous, viết tắt AA) rất thường xuyên.

Trong khóa tu năm 2012, con đã tiếp nhận Năm giới. Sau đó con đến Làng dự khóa tu 21 ngày “Nhà Khoa học nắm tay nhà Phật học”. Trong khóa tu mùa hè và khóa tu sức khỏe vừa qua, con là một tình nguyện viên của Làng. Con về lại Ireland vào cuối tháng tám và sau đó trở lại Làng 2 tuần để dự khóa tu mùa thu.  Mỗi lần về Làng, con thấy như trở về nhà. Lần nào con cũng được tiếp đón rất nồng hậu. Tình thương mà con cảm được ở Làng rất là đặc biệt, con không đủ lời lẽ để diễn đạt. Con chỉ có thể cố gắng sống thật đẹp để bày tỏ lòng biết ơn của mình mà thôi.

Suốt thời gian này, chú của con đã dần dần bình phục và khỏe hơn lên. Mọi người khuyên con nên đem chú vào viện dưỡng lão nếu con thấy hơi quá sức. Có người thấy tội cho chú, lại có người nghĩ là chắc chú không qua khỏi. Người khác thì cho là mọi sự cố gắng đều vô dụng. Họ nghĩ chuyện chú khỏe lại là không thể, bạch Thầy. Nhưng con thì lại tin là có thể. Bởi vì Thầy đã nói như thế. Các thầy và các sư cô tuyệt vời của Làng Mai cũng nói với con như thế. Và bây giờ thì nó đã trở thành hiện thực.

Thầy kính thương, con chưa bao giờ từng biết tình thương là gì. Cho đến khi Thầy bước vào thính đường ở Killarney vào năm 2012 để hướng dẫn tổng quát cho khóa tu, con đã thấy được bóng dáng của tình thương. Thầy biết không, khi ấy con không thể nào ngồi phía trên của khán phòng để được gần Thầy, bởi vì tình thương trong thầy như đang tỏa rạng chung quanh, giống như là một vầng hào quang chiếu sáng vậy. Con không nghĩ là mình xứng đáng với tình thương ấy và vì thế con đã ngồi ở tận cuối phòng. Khi sang Làng, con cũng ngồi ở cuối thiền đường, nép qua một bên.

Bây giờ thì tất cả đã khác hẳn rồi. Khác là bởi vì con đã biết được giá trị của bùn, nhờ bùn mà có hoa sen. Tổn thương của một bé trai bị lạm dụng tình dục thật khó mà chữa lành, nó vẫn còn đó trong con. Nhưng nhờ sự thực tập và nhờ vào sự giúp đỡ của S.P., một nhà tâm lý học Phật giáo, sự chữa lành thật lớn lao đã xảy ra cho con.

Sự chuyển hóa và trị liệu nơi con cũng giúp ích rất nhiều cho chú của con. Vài hôm trước đây, hai chú cháu đã trở lại thăm nông trại. Đây là lần đầu tiên sau 3 năm, chú được trở về ngôi nhà của mình. Chú đến thăm hàng xóm và khóc. Chú nói với họ rằng chú đã ngủ một giấc dài trong 3 năm qua, rằng nếu con không mang chú về chăm sóc thì chú đã chết rồi. Gặp ai chú cũng nói như vậy. Nghe chú nói, con cảm động lắm, con đã khóc vì thương chú.

Chú luôn là một con người thật đẹp theo đúng nghĩa của nó. Thật là tuyệt vời khi thấy chú tươi tắn trở lại như thế. Chú đã đi được, chú không ăn sô cô la hay các thức ăn ngọt nữa. Chú đã bắt đầu có khả năng tự chăm sóc cho chính mình. Chú lên kế hoạch sửa chữa lại căn nhà ở nông trại và con sẽ giúp cho chú. (Khi con nói chuyện này với những người khác, họ không tin là điều ấy khả thi.) Chú còn nghĩ đến việc dọn trở lại đó để ở. Chú đã bắt đầu có những ước mơ!!! Thầy ơi, như thế có phải là một điều quá tuyệt vời không?

Con sẽ giúp chú thực hiện ước mơ đó. Bởi vì con tin điều này có thể làm được. Nhìn thấy một người đã đi đến tận cùng của khổ đau và vươn vai đứng dậy… Giống như một người bạn của con nhận xét: “Chú ấy không chỉ trở lại như xưa, mà còn tuyệt vời hơn bao giờ hết.” Và đó là sự thật. Bây giờ chú đầy năng lượng tái sinh. Người khác không thể tin được, nhưng con thì tin. Thầy ơi, con đang được chứng kiến một phép mầu! Thật là gian nan nhưng con đã gặt hái được hoa trái của mình. Con đã cầu nguyện cho chú của con. Con cầu Thánh Thérèse của Liseux – vị Thánh này từng nói: “Tôi muốn dùng thời gian ở thiên đàng để làm những điều tốt lành cho trần gian.” Thánh Thérèse thật tuyệt vời, người đã phù trợ cho chú của con.

Ireland.4

Con đến với Thầy, con đến với các thầy các sư cô Làng Mai. Thầy đã mang chú của con trở về. Đây là một phép lạ, thưa Thầy. Đó là Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức. Đó quả thực là một bài thơ về những điều có thể xảy ra. Đã biết bao lần con dự định viết một lá thư ngắn cho Thầy để kể cho Thầy nghe về người chú dễ thương của con và về việc pháp môn của Thầy đã có ảnh hưởng như thế nào đến cuộc đời con. Bây giờ thì nó đã biểu hiện thành một lá thư thật là dài. Thầy nói một câu hỏi hay là một câu hỏi ngắn và bao giờ con cũng cười vui khi nghe Thầy nói như vậy. Con hy vọng một câu hỏi ngắn sẽ không kéo dài thành một bức thư!

Con sẽ giúp chú của con thực hiện ước mơ của mình. Căn nhà cũ kỹ ở nông trại sẽ hồi sinh trở lại, như chú con đã hồi sinh. Chính con cũng đã hồi sinh, thưa Thầy. Bây giờ con có nhiều từ bi cho mình hơn trước. Con không uống rượu, hút thuốc hay xài ma túy nữa. Con đang thực tập 14 giới Tiếp Hiện để trở thành một thành viên trong chúng Chủ trì. Và chú của con chính là một trong những hoa trái thực tập mà con đã gặt hái được. Hai chú cháu sẽ dời về nông trại ở S…. Con không biết chuyện này sẽ diễn ra như thế nào nhưng con có thể làm được. Con đang theo học một khóa “Chăm sóc người cao niên” và sẽ hoàn tất vào cuối tháng 6 tới đây. Con hy vọng sẽ đi làm và kiếm một ít tiền. Thầy thấy đó, con đang cố gắng tìm một nghề đúng theo tinh thần Chánh mạng. Con dự định sẽ lại nộp đơn xin làm tình nguyện viên cho Làng Mai trong khóa tu mùa hè sắp tới. Con rất muốn được tham dự khóa tu 21 ngày vào tháng 6 với chủ đề “Điều gì sẽ xảy ra sau khi chết”, nhưng khóa học của con kéo dài đến cuối tháng nên con không tham dự được khóa tu ấy.

Vào ngày thứ tư hàng tuần, con đến Dưỡng đường dành cho những người bệnh nan y sắp qua đời để trò chuyện với họ. Đây là một hoa trái thực tập khác của con. Con đang nộp đơn xin học một khóa về Tư vấn để có thể làm việc với những người đang hấp hối và với cả những người bị mất người thân. Đây là chí nguyện của con, và sự thực tập chánh niệm giúp con biến nó thành hiện thực.

Con viết lá thư này chỉ để nói với Thầy một điều là con rất, rất thương Thầy. Đây chỉ là câu chuyện của một cuộc đời – một cuộc đời bé nhỏ. Thầy lúc nào cũng đang có mặt trong căn nhà nhỏ của con, thưa Thầy. Con biết là như thế, bởi vì dù cho con đã rời khỏi Làng Mai, không có nghĩa là Làng Mai đã rời khỏi trái tim con. Dù con không có mặt ở Làng Mai nhưng con lại đang ở Làng Mai còn hơn là khi con ở đó. Tất cả các thầy và các sư cô cũng đang có mặt ở đây với con. Thầy đã cứu con. Cuộc đời con đã hoàn toàn thay đổi từ ngày con tìm ra pháp môn do Thầy chỉ dạy. Cách duy nhất để con có thể cảm ơn Thầy là tiếp tục thực tập và chế tác cái đẹp trong đời sống của mình bằng cách chuyển hóa khổ đau trở thành an lạc.

Con không còn trốn chạy nữa, thưa Thầy.

Con cảm ơn Thầy vì tất cả những cái đẹp mà Thầy đã mang đến cho cuộc đời con.

Ngàn vạn lần tri ân Thầy.

Con – T.K.

TB: Mùa hè vừa rồi con đã lên ngồi hàng đầu trong tất cả các buổi pháp thoại của Thầy.

(Các tên riêng trong bài đều được viết tắt theo đề nghị của tác giả)

Để đọc bản tiếng Anh, xin xem tại đây: http://plumvillage.org/blog/friends/i-dont-run-away-anymore/

Con đường vui

Biết ơn Con Đường Vui

Thầy ơi, con biết ơn thầy đã cho con nhiều sư anh sư chị sư em quá dễ thương. Tất cả đã và đang nâng bước cho con đi êm trên lộ trình đầy những khai phá thú vị. Đã có thời con đi tìm cái gì là bản tâm chân thật của con. Những kiến thức về tự nhiên, về xã hội, những vốn sống ít ỏi giữa cõi đời phù tạm, những hiểu biết về tâm lý học chưa đủ thỏa mãn khát khao đi tìm kiếm chính mình trong con những mong mang lại lợi lạc cho người khác.

Con hay nhìn quá khứ và cũng hay tưởng tới tương lai. Nhìn quá khứ để thấy rằng hiện tại con được lớn lên nhiều từ dưỡng chất mà Thầy và tăng thân đã chăm bón cho con. Tưởng tới tương lai, con ấp ủ nhiều mơ ước tu học, nhiều công trình cần dựng xây cho nội lực thêm vững vàng. Những ước mơ của con phải là những ước mơ có khả năng thành hiện thực- con luôn tự nhắc mình như vậy. Con nhớ mình đã phải khổ công như thế nào để tập ngồi thiền, ngồi được yên lắng về thân, chứ chưa nói gì tới yên lắng cái tâm. Ấy thế mà bây giờ, một khi ngồi xuống, con đã có thể chế tác hỷ lạc cho mình bằng hơi thở thật sự là hơi thở của con. Đó là bài học kiên nhẫn mà con thực chứng được.

Con biết ơn lắm vũ khúc tình đệ huynh đẹp như bản hùng ca trác tuyệt. Con như chấn động khi sư em Pháp Biểu dạo đàn mở đầu cho bản Khúc Hải Triều (The Sound of the Rising Tide) do thầy Pháp Linh sáng tác. Khúc Hải Triều cũng là khúc đệ huynh giao hòa giữa người hát, người đàn, người đánh trống. Tất cả phối hợp nhịp nhàng, hòa điệu. Phải chăng đây là khúc diệu đem ra cử xướng? Đêm văn nghệ duy nhất trong khóa tu xuất sĩ này đã trả lại cho con luồng gió mới trong lòng mà con cứ ngỡ như nó đã ngủ yên lâu lắm rồi, từ ngày rời phố lên núi, từ ngày rời núi phiêu bạt khi Bát Nhã chỉ còn trong kí ức. Tất cả những tiết mục trình diễn trong đêm văn nghệ này, đối với con đều là khúc diệu cả! Mỗi bài mỗi vẻ, độc đáo, thấm đượm tình nghệ sĩ tâm linh trong mỗi người xuất sĩ trẻ.

Mỗi bước chân con đi thiền hành tựa như những nốt nhạc mà con gởi vào lòng đất. Dù đường có bùn lầy, gai góc nhưng Thầy đã đi trước, dọn đường cho đàn hậu lai chúng con bước theo. Con thương lắm những con đường lấm bùn ở Làng mình, làm con nhớ tới lời dạy của Thầy “không có bùn thì làm sao có sen”. Bước tới trong hơi thở ý thức con thấy rõ ràng trước mặt con là một ngày mới với mỗi giây phút đều mới tinh, trước mặt con đây là Con Đường Vui, như chủ đề của khóa tu xuất sĩ lần này vậy.

Chúng con, 245 xuất sĩ trẻ từ các nơi như Pari, Đức, Làng, hội tụ về đây cùng đi trên Con Đường Vui ấy, được tu, học, làm việc, chơi trong tình thầy, tình đệ huynh.

Những bàn tay khéo léo, những tấm lòng đã làm nên sân chơi Đường Về Làng lần 2, với những câu hỏi từ dễ đến khó, từ xa tới gần, từ nội điển tới ngoại điển. Dù cách thức tương tự như những sân chơi trí tuệ mà con từng dự như Bảy Sắc Cầu Vòng, Đường Lên Đỉnh Olympia nhưng đến với sân chơi này con không có cảm giác phải chiến thắng, phải chinh phục đỉnh cao của tri thức mà con thấy mình rất thư thả, sự gắn kết đồng đội mới là quý bởi tinh thần vui chơi là chính, còn quà thì đội nào cũng có quà và phần quà nào thì cũng như nhau cả.

Con mang trong con tình thương của tăng thân, niềm tin yêu hi vọng của Thầy, của gia đình huyết thống, của cuộc đời. Những lời pháp Thầy trao cũng là thao thức của Thầy với tất cả những kinh nghiệm mà thầy đã nếm trải trong hơn bảy mươi năm tu hành. Thầy bảo ban, vỗ về chúng con bằng mưa pháp. Những vấn đề thường gặp của người tu trẻ, làm sao chế tác được hỷ lạc trong đời sống hàng ngày qua bước chân hơi thở, làm sao để bảo hộ mình và bảo hộ tăng thân, làm sao giữ gìn cho đoàn thể được thanh tịnh, không nhiễm ô bằng những thực tập uy nghi, giới luật. Biết bao khó khăn, thắc mắc đã được tháo gỡ.

Tình Thầy ngọt ngào như trái chín cây. Và con cũng có chút ngậm ngùi vì biết rằng Thầy tuổi đã cao mà chúng con còn quá thơ dại, cho nên con luôn trân quý, hết lòng với những gì Thầy đang gởi gắm cho thế hệ trẻ chúng con.

Con Đường Vui vang vọng mãi tiếng hát tiếng cười của Thầy và huynh đệ chúng con khi cả nhà mình cùng nhịp thở, cùng chung ước mơ.

Tâm Phước Hải.

 

Trái tim người xuất sĩ

(Thương gửi các sư em Trăng ở Diệu Trạm)

Các sư em thương!

Hôm nay, một trong mười ngày làm biếng sau khóa tu xuất sĩ. Khóa tu đi qua từ mấy ngày nay rồi mà sư chị thấy như mới hôm qua. Cũng như khi nghĩ về các sư em, sư chị thấy hiện ra trước mắt mình nụ cười thiên thần của các sư em. Qua khóa tu, sư chị thấy rõ hơn trái tim của người xuất sĩ. Trái tim ấy mới mạnh mẽ làm sao. Sự mạnh mẽ đáng kính nể được thể hiện qua những đóng góp anh chị em huynh đệ đã hiến tặng cho đại chúng. Khóa tu đúng là một ngày hội của gia đình xuất sĩ. Sư chị kể vài chuyện vui cho các sư em nghe nhé.

Ban đầu, nghe nói sẽ lên xóm Thượng ở một tuần, sư chị không muốn đi. Sư chị không hiểu, lên đó thì chỗ ngủ nghỉ sẽ như thế nào. Sư chị soạn ba lô mà lòng buồn rười rượi. Cuối cùng sư chị nghĩ: Thôi kệ, để tăng thân đưa đi. Thế mà, sư em biết sao không? Ngày về sư chị lại không muốn về. Vui quá. Nghĩ về chị lại thấy buồn. Sư chị buồn cười cho cái tâm của mình.

Vì là khóa tu xuất sĩ nên xóm Thượng không có bóng dáng cư sĩ nào cả. Thiền sinh dài hạn chuyển xuống Sơn Hạ, nên đi đâu cũng gặp người áo nâu. Huynh đệ của mình đông lắm. Bên Đức về, thiền đường Hơi Thở Nhẹ trên Pari về; rồi xóm Hạ, xóm Mới, xóm Trung, tất cả tập trung về xóm Thượng. Thì ra xóm Thượng rất rộng. Các dãy nhà dành cho thiền sinh thì nay dành cho quý sư cô. Quý sư chị cây Hướng Dương là hạnh phúc nhất. Vì đông nên cả cây được ở chung trong thiền đường Chuyển Hóa. Ấm cúng lắm các sư em ạ. Còn sư chị cũng được ở cùng gia đình Sen Trắng ở dãy nhà Bamboo, gần nhà ăn xóm Thượng. Các cây khác cũng vậy. Có cơ hội được ở chung với nhau thì còn gì vui bằng, các sư em nhỉ.

Giờ ngồi thiền sáng và tối, năng lượng của đại chúng mới thật hùng. Thiền đường Nước Tĩnh rộng thế mà nay chị cũng thấy hẹp. Sư Ông khi nào cũng là người đi sớm nhất. Công phu sáng không có tụng kinh. Thay vào đó là Sám Pháp Địa Xúc bằng hai thứ tiếng Anh và Việt. Người hô canh và người đọc Địa Xúc, ai cũng có giọng đọc rất hay, truyền cảm. Công phu chiều có tụng kinh.

Trong khóa tu xuất sĩ, gần như ngày nào đại chúng cũng được nghe pháp thoại, đặc biệt là có hai buổi vấn đáp với Sư Ông, được Sư Ông chỉ dạy hết lòng về những điều thiết yếu trong đời sống của người xuất sĩ. Sư chị nhớ nhất là lời Sư Ông dạy: “…Mình không cần thành Bồ Tát, thành Phật mới có thể độ đời. Mình chỉ cần có nghệ thuật chuyển rác thành hoa là mình có tư cách độ đời. Và mình phải độ đời trên kinh nghiệm của mình. Kinh nghiệm gì? Kinh nghiệm chuyển rác thành hoa trong bản thân và trong đại chúngMình không nên sợ rác, chỉ sợ là không biết chuyển rác thành hoa mà thôi…Mình phải làm thế nào để đi từng bước chân cho có hạnh phúc. Đó là một sự thách thức, đó là chuyện mình phải làm hàng ngày, đó là một sự đầu tư, là vốn liếng của mình.” Chị em mình cùng ghi nhớ những điều này để thực tập mỗi ngày một hay hơn, các sư em nhé!

Các em biết không, khóa tu xuất sĩ năm nay có một chương trình đặc biệt, đó là chương trình Đường Về Làng. Là Đường Về Làng 2 vì mùa thu vừa qua, khi Sư Ông cùng tăng đoàn đi Mỹ thì chúng ở nhà có chơi rồi. Vì hay quá nên bây giờ chơi tiếp. Mà vui thiệt. Rất hay và nuôi dưỡng. Sư chị thầm cám ơn ban tổ chức. Ban tổ chức đã làm việc rất giỏi, hy sinh hết cả giờ cá nhân của mình để cống hiến cho tăng thân. Cảm giác chơi cũng hồi hộp, không khác gì chương trình Đường Lên Đỉnh Olimpia trên vô tuyến truyền hình. Sau những lần chơi như vậy sư chị thấy mình ham học hơn. Các câu hỏi được đưa ra ở mọi lĩnh vực, cả về nội điển và ngoại điển. Vui nhất là quý sư cha sư mẹ cũng lên chơi mà chơi rất hết lòng. Anh chị em huynh đệ cùng chơi, không hề phân biệt tuổi tác, màu da, quốc tịch. Sư chị rất hạnh phúc khi nghe huynh đệ người tây phương nói tiếng Việt. Dễ thương lắm sư em à. Không biết chị em mình khi nói tiếng Anh có dễ thương như vậy không.

Trong khóa tu này sư chị làm thị giả Sư cô Chân Không nên được phép không tham gia đội luân phiên nhưng nhìn các huynh đệ của mình cùng nhau làm việc chị hạnh phúc lắm. Đại chúng cùng nhau nấu ăn, rửa dọn, lau nhà ăn, làm vệ sinh, sắp xếp thiền đường… và cùng chơi bóng bàn. Phòng chị ở gần ngay chỗ chơi bóng bàn, đi ra đi vô chị đều thấy đại chúng chơi bóng bàn cùng nhau. Vui quá chừng. Nhiều khi các sư em chơi còn quý sư cha, sư mẹ ngồi coi các sư em của mình chơi với nhau thôi cũng đủ hạnh phúc rồi.

Các bữa ăn trong khóa tu cũng phong phú về món. Vì tăng thân mình đến từ nhiều nước khác nhau nên đại chúng được thưởng thức nhiều món của nhiều miền. Những buổi ăn trưa cũng được Ban Tổ chức khéo sắp xếp để anh chị em có cơ hội chơi và hiểu thêm về nhau. Vì vậy có khi đại chúng được ăn trưa cùng Sư Ông trong thiền đường Nước Tĩnh, có bữa thì ăn theo tuổi, rồi theo cây, rồi theo gia đình pháp đàm. Viết đến đây sư chị mới nhớ, nhờ có khóa tu xuất sĩ mà sư chị có cơ hội được nghe tiếng nói của huynh đệ người tây phương. Những ngày quán niệm bình thường, vì có thiền sinh nữa nên khi nào cũng pháp đàm theo ngôn ngữ. Ban tổ chức đã khéo sắp xếp để có người phiên dịch. Có những người, nhìn bề ngoài thì có vẻ như rất khó gần nhưng sự thực không phải là như vậy các sư em ạ. Khi nghe người đó chia sẻ sư chị hiểu thêm về người đó hơn.

Mấy ngày đầu của khóa tu có mưa nhưng không nhiều. Ngày gần cuối trời bỗng dưng nắng đẹp. Hình như ông trời cũng hiểu ý của đại chúng. Hoa thủy tiên nở rồi, đẹp quá. Vậy nên đại chúng có một buổi, gọi là lễ hội hoa Thủy Tiên. Cũng giống như lễ hội hoa Mâng ở chùa Tổ đó các sư em. Ngày đó, sau giờ pháp thoại Sư Ông dẫn đại chúng xuống vườn hoa Thủy Tiên. Hoa nở vàng rực cả mặt đất. Sư Ông ngồi giữa, đàn con ngồi quây quần xung quanh. Những nhạc sĩ, nghệ sĩ của tăng thân được thể hiện tài năng của mình để cúng dường Sư Ông và đại chúng. Có bánh, trà, nước trái cây. Sư em biết không. Sư chị thấy rằng dù ngồi ở đâu, làm gì, hễ có tăng thân thì nó đều trở thành rất đẹp. Sư chị nhớ những lần đi làm ruộng ở Huế. Đẹp làm sao khi cả một cánh đồng lúa vàng rực thấp thoáng tà áo nâu, nón lá. Cả những lần đi nhổ mạ nữa. Dù trời rất lạnh nhưng vui thiệt là vui.

Đêm cuối cùng của khóa tu là đêm thật khó quên. Đó là chương trình văn nghệ. Khác những đêm văn nghệ trong dịp tết hay noel. Văn nghệ lần này là văn nghệ monastic nên không có thiền sinh. Đúng thực là tăng thân. Mầu nhiệm quá. Văn nghệ hay quá chừng. Sư Ông có mặt cho các sư con và xem đến tận 10g, Sư Ông mới về. Hôm sau Sư Ông còn khen trong pháp thoại nữa. Sư chị thấy mình còn mê nữa là các bạn trẻ ở ngoài. Nếu sư chị là người chưa xuất gia, chỉ cần coi văn nghệ đó thôi sư chị cũng đi xuất gia liền.

Các sư em thương!

Mỗi khi nghĩ về các sư em sư chị thấy mình đang được tiếp thêm năng lượng. Các sư em tuổi còn nhỏ mà tu tập thật giỏi giang, thật dễ thương. Nhìn vào tăng thân sư chị thấy mình yêu màu nâu hơn bao giờ hết. Ngày xưa, khi còn học phổ thông, mỗi tuần có hai ngày mặc đồng phục quần xanh, áo trắng. Bây giờ đây ngày nào mình cũng được mặc đồng phục. Khỏi phải chọn lựa, khỏe quá sư em nhỉ. Mình ăn mặc thì giản đơn mà trái tim phụng sự thì không biết mệt mỏi là gì.

Làng đang mùa xuân. Những cây như cây khô mà giờ đây nở đầy hoa. Sư chị cũng không hiểu là hoa từ đâu ra nữa. Mà chỉ có hoa thôi. Cây nó ra hoa trước rồi mới ra lá sư em ạ. Hay vậy đó. Bây giờ đã là tháng ba. Ở Huế có lẽ đang nhiều nắng, cái nắng giống cái nắng mùa hè. Cây bồ kết trước ni xá đã ra hoa chưa hở các sư em.  Sư chị nhớ tiếng ve sầu, nhớ hương bồ kết. Mùi của trái bồ kết khi đốt cháy thật dễ chịu. Nó thoang thoảng mà không gắt.

Vài dòng tâm sự cùng các sư em cho vui. Sắp hết kỳ làm biếng rồi. Làng lại bắt đầu khóa tu nối tiếp khóa tu nhưng có tăng thân thì sư chị chẳng lo gì. Mình là người xuất sĩ mà. Người xuất sĩ có trái tim của người xuất sĩ. Sư chị có viết mấy câu thơ như thế này:

Cây bút nhỏ viết nên đời tu sĩ

Gởi vào đây tất cả mọi tâm tình

Người tu sĩ cũng là người thi sĩ

Và cũng là người chiến sĩ anh hùng

Thư  sư chị viết chưa dài nhưng sư chị xin phép được dừng bút tại đây. Thương chúc các sư em mãi giữ được nụ cười thiên thần của mình để mang lại hạnh phúc cho đại chúng. Tạm biệt các sư em.

Xóm Mới, ngày  9 tháng 3 năm 2014

Chuẩn Nghiêm.

Con đường vui

Thêm một lần tái sinh

(BBT xin giới thiệu lá thư xin xuất gia của Nguyễn Thị Bảo Nguyên – nay là sư cô Trăng Nến Ngọc. Sư cô được xuất gia trong gia đình Cây Đoàn vào ngày 8.12.2013 tại Trung tâm Làng Mai quốc tế Thái Lan).

 

Nam mô Đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni

Con kính bạch Sư Ông!

Con kính xin dâng lên Sư Ông bức Tâm thư của con.

Con tên là Nguyễn Thị Bảo Nguyên, pháp danh là Tâm Diệu Khai, năm nay con 17 tuổi, hiện con đang tập sự xuất gia tại ni xá Diệu Trạm – Huế.

Gia đình huyết thống của con có ba, mẹ và bảy anh chị em, con là con út. Vì là con út nên con đã nhận được rất nhiều tình thương yêu. Cuộc sống từ nhỏ đến lớn êm đềm, sướng và ít gặp phải khó khăn nên con chịu khó cũng dỡ lắm. Ba con là người theo đạo Công giáo, làm nghề nuôi tôm cá và hiện giờ cũng đang gặp nhiều trở ngại trong công việc. Ba con có nhiều tính tốt như: rất thương con cái, có trách nhiệm, chu đáo, v.v…Chỉ có điều là ba con không chấp nhận cho chị em con tu học theo đạo Bụt.

Từ nhỏ cả nhà con đều đi lễ nhà thờ. Ngay chính con cũng có rất nhiều thành kiến với chùa chiền, với các sư thầy, sư cô. Mà đi lễ nhà thờ con cũng hờ hững lắm, chỉ nghĩ là nhiệm vụ mình phải làm theo thôi. Nói chung là con không thích thú gì mấy với bất kì nền tảng tôn giáo, đạo đức nào.

Mẹ con lại là một Phật tử thường đi chùa, nghe kinh và pháp thoại. Từ khi lấy ba, mẹ chỉ đi chùa vài lần và nghe đĩa pháp thoại khi không có ba ở nhà. Lỡ ba về bất chợt mà thấy mẹ đang nghe đĩa Phật Pháp là ba đập đầu đĩa, la mắng và có khi còn dọa đánh. Con nhớ có những lần mẹ lén dẫn tụi con lên chùa chơi (dù con không thích). Cũng có những lần ba cầm dao rượt, khiến mẹ té chảy máu đầu và bất tỉnh. Ba khóc, ba xin lỗi, ba nói ba sẽ nghe lời mẹ, nhưng sau đó thì đâu lại vào đấy. Con thấy ba rất đau khổ, phản ứng mạnh, còn mẹ thì lúc nào cũng bình tĩnh nghe chửi và “dạ.dạ,”. Con nghĩ tại mẹ đi chùa nên nhà mình mới xào xáo. Vì vậy mà khi mẹ bật băng đĩa Phật thì con không bao giờ coi. Nếu có lỡ coi mà thấy hay thì cũng không chịu thừa nhận. Con nghĩ rằng: “Ai chứ mình đã theo đạo Chúa rồi thì phải trung thành với Chúa”. Bây giờ nghĩ lại mình lúc đó con thấy mắc cười. Còn nhỏ mà tư tưởng, suy nghĩ ràng buộc, mắc kẹt hơn bây giờ nữa.

Trong bảy anh chị em, con có chị đầu (chị Hai) đã là một sư cô hiện đang tu học tại Trung tâm Làng Mai quốc tế Thái Lan, rồi đến bốn anh trai chưa vợ đang đi làm và đi học, đến chị tiếp theo cũng xuất gia theo pháp môn của Sư Ông hiện đang tu học ở Long Thành và cuối cùng là đến con. Các anh chị em biết thương yêu nhau nhưng cũng có lúc bất đồng ý kiến, cũng cãi nhau, đánh nhau và giận hờn. Lúc còn ở nhà, con giận các anh con lắm, có khi con còn hỗn với các anh nữa. Nhưng cứ mỗi lần được nói chuyện với chị Hai con (sư cô ở Thái Lan) là con được nguôi bớt. Nhờ chị Hai về thăm nhà, con với anh con mới hiểu và thương nhau, nói được những câu yêu thương nhau – chuyện khó xảy ra trong 5 năm ở chung nhà. Mỗi lần được gặp chị Hai, được nói chuyện với chị Hai, con đều được tưới tẩm những hạt giống lành, lắng dịu, bớt trách móc, đòi hỏi và không hơn thua với người khác. Hình ảnh của chị Hai bây giờ rất đẹp trong con.

Lúc còn sống ở nhà, con thích ăn thịt gà. Có lần đi học về, con thấy ba mua hai con gà còn sống về chuẩn bị cắt tiết làm thịt. Thấy con xuống bếp nhìn, ba cười và nói rất thương: “Ba làm thịt gà cho con ăn nha” Có thịt gà ăn thì vui nhưng hai con gà đó phải chết, con thấy hình như có cái gì đó không đúng, hình như mình không nên làm như vậy. Dù đắn đo trong lòng nhưng con đã không hành động gì cả. Rồi đến những lần khác là con cua còn sống nằm trong nồi nước dần sôi lên, nắp nồi đã bị cái cối nặng đè. Con cua không biết kêu, bò qua bò lại trong cái nồi kêu lục cục lục cục. Con hỏi: “Con cua còn sống hở ba?” Ba nói không phải. Nếu con không thích ăn thịt như rứa thì ba đâu phải nói dối. Rồi tới mấy con cá còn sống, ba lấy kéo cắt mang, vây. Nó giãy đành đạch rớt khỏi tay ba, ba chụp lại rồi cắt tiếp. Tất cả các con vật con đã ăn: tôm, heo, vịt,… nếu con không có nhu cầu thì đáng ra tụi nó không chết. Nhiều lần con cứ nhắm mắt làm ngơ: “Nó chết rồi, người ta giết nó chứ đâu phải mình đâu!”

Từ khi được ở Diệu Trạm với đại chúng – một môi trường rất an lành và bình an, con mới biết nhìn lại cái sai và cái cố chấp của mình. Ăn chay ngon và vui hơn ăn mặn nhiều! Ăn mặn chết mấy con vật và tội cho người làm nghề giết mấy con đó. Tại sao phải lấy sinh mạng của tụi nó trong khi mình ăn chay vẫn sống vui, sống khỏe? Tại ham ăn ngon, nếu ai cũng bớt cái ham ăn thịt và hiểu cho hoàn cảnh những con vật đó thì sẽ không có nhiều đau khổ như vậy.

Lúc còn đi học, sống trong môi trường vô lo cùng với bạn bè. Con và những đứa bạn con chỉ đi học theo trường lớp một cách thụ động, không ý thức được có trường, có thầy cô, bạn bè là may mắn. Con thấy nhiều lúc chỉ vì không vừa lòng một quyết định của trường, học sinh chúng con cũng buông những lời bất kính.

Nhiều người trong chúng con sống trong môi trường điều kiện đầy đủ, tưởng là có sẵn nên không biết quý. Cứ hưởng thụ ngày đêm, cho việc hưởng thụ mới là hạnh phúc. Vì quá đầy đủ, quá bận rộn với cái hưởng thụ đó nên sống không có ước mơ, không có mục đích.

Nhưng con may mắn hơn rất nhiều bạn bè của con vì được sống với tăng thân trong thời gian qua. Con được học cách sống bình an, có cơ hội nhìn lại và khơi dậy những trăn trở cũng như tình thương trong lòng mình, dù là nhỏ bé.

“Sống cho đáng một kiếp người” là như thế nào? Là gầy dựng tình thương giữa con người với nhau và với muôn loài, giảm bớt đau khổ cho cuộc đời. Muốn thế giới hòa bình, con người rộng mở, thương yêu bất bạo động, trước hết con phải làm cho tâm mình bình an trước đã rồi mới có thể khơi dậy sự bình an trong những người mà con tiếp xúc. Con tin như vậy! Con tin đây là con đường mà mình cần.

Nhờ sống với tăng thân, con nhận ra mình ích kỷ, thiếu hiểu biết, thụ động trong suy nghĩ như thế nào. Nhờ tăng thân, con khơi dậy được ước mơ, lý tưởng của mình. Và con tin tưởng rằng những con người đang lòng vòng, lẩn quẩn ngoài kia cũng có ước mơ sâu thẳm, có cái hướng thiện, chỉ là chưa có cơ hội được tưới tẩm mà thôi.

Nhờ tăng thân, quý sư cô lớn mà con được thảnh thơi, chỉ lo tu học chế tác bình an và chuyển hóa những tập khí của mình. Nhiều lúc con quên mất, con thất niệm, lại để thời gian trôi qua uổng phí, phụ lòng quý sư cô và đại chúng. Mỗi ngày con cần phải thực tập nhận diện tập khí, chế tác bình an, sống hòa hợp và thương yêu nhau, con phải nhớ điều này.

Con được sống và tu tập cùng đại chúng đã tám tháng rưỡi. Con không mặc cảm vì tập sự lâu. Thời gian đầu, con chỉ tu nửa vời, chưa hết lòng. Nhưng con cứ tưới tẩm ngày tháng. Tưới đến bây giờ và sau này vẫn tiếp tục tưới. Chỉ cần nhớ đến ước mơ của mình thường xuyên, con tin là mình sẽ thực hiện được.

Thời gian qua, con học cách đi, đứng, nằm, ngồi đẹp hơn, ý tứ hơn. Con chú ý hơn đến lời nói của mình để tránh gây đổ vỡ. Con thấy nói gì để gầy dựng thương yêu có ích hơn và hát gì để gầy dựng bình an có ích hơn. Con học cách chân thật với bản thân mình, chấp nhận mình mà không đòi hỏi nữa. Con cũng học buông cái ý “phải nhớ cho hết, phải hiều cho được” mỗi khi nghe pháp thoại, tụng kinh. Học lắng nghe một cách bình tĩnh khi tiếp nhận những lời nhắc nhở. Học bết ơn những gì biểu hiện chung quanh mình. Học buông bỏ cái “muốn lấy điểm” trong mắt quý sư cô lớn, đồng thời buông bỏ những tri giác, suy đoán của mình về người khác, về những cử chỉ và hành động mà họ làm. Học không kết luận những điều mà mình chưa tường tận. Những điều này con đã thực tập được và vẫn đang tiếp tục thực tập.

Từ khi xa nhà, sống ở Diệu Trạm, con mới nhìn nhận lại công lao và tình thương của ba mẹ. Con thấy mình đã quá hờ hững với ba mẹ cũng như những người bạn của con. Khi lần đầu tiên được nghe chị Hai nói đến Sư Bá và pháp thoại của Sư Ông, con thấy mình chuyển biến được nhiều cái trong tâm. Đó là: con thấy thoải mái hơn, được khai mở và thấy được những hẹp hòi trong nhận thức mình. Con rất là hạnh phúc! Con ước gì thầy cô, bạn bè con và những người đang chưa thấy mục đích sống cũng được nghe những lời này. Và con muốn được ở gần sư Hai, gần Sư Bá. Nhưng chính con phải hành động cho ước mơ của mình, chính con phải thực tập và thấy được lợi ích của pháp môn một cách rõ ràng thì mới có thể giúp được người khác.

Con cảm ơn Sư Ông đã gây dựng nên Tăng thân, đã đem đạo Bụt đến với mọi người, tạo được nhiều bình an, làm vơi bớt khổ đau để những người thụ động và mê muội như con được có cơ hội gia nhập vào con đường thương yêu và tỉnh thức. Sư Ông là tấm gương vượt khó, giữ vững ý chí mà con suốt đời con phải noi theo. Nhờ đó mà cuộc đời một con người sắp bước qua một trang mới, rực rỡ và đầy hữu ích, đó là con. Con xin đem hết tấm lòng để nói rằng con biết ơn Sư Ông, biết ơn tăng thân và những người đã và đang dành cuộc đời cho sự nghiệp gây dựng hòa bình và thương yêu.

Con kính xin sư Ông cho con gia nhập tăng đoàn, được cùng đi chung với những người cùng lý tưởng, để cùng nhau vượt khó, giúp đỡ lẫn nhau, thực hiện cho được lý tưởng chung. Xin cho con được có môi trường, có cơ hội học hỏi, bồi đắp và sống cho đáng một kiếp người.

Con xin cảm ơn Sư Ông đã lắng nghe nỗi lòng của con.

Con kính thư

Con Tâm Diệu Khai (Bảo Nguyên)

Huế, ngày 19 tháng 11 năm 2013.

Cả nhà bên nhau

Mùa đoàn tụ

Mẹ kính yêu của con!

Mẹ ơi! Đây là lần đầu tiên con xa nhà nhằm dịp Giáng Sinh và cũng là lần đầu tiên ngày Sinh nhật của mẹ mà con không về với mẹ được. Nhân dịp sinh nhật này, con kính chúc mẹ thật nhiều sức khoẻ, luôn an vui và hạnh phúc cùng chúng con.

Mẹ kính yêu của con, từ hôm con xa nhà đến nay chắc là mẹ nhớ con nhiều lắm nhỉ? Vì con cũng nhớ mẹ nhiều lắm. Nhưng mẹ hãy an tâm mẹ nhé, con ở bên này khoẻ và vui lắm. Giáng sinh ở Làng thật vui, để con kể mẹ nghe một vài chuyện về Giáng sinh ở đây.

Mẹ biết không! Ở phương Tây, lễ Giáng Sinh là ngày lễ mà mọi người mong đợi nhất trong năm. Ngày mà mọi người trở về với đời sống tâm linh của mình. Hay Giáng sinh cũng là ngày đoàn tụ gia đình. Nhưng lạ lắm mẹ ơi! Sao Làng Mai lại là nơi mà mọi người trở về mẹ nhỉ? Mọi người trở về đây với niềm hân hoan vui vẻ như là về nhà mình vậy đó. Làm con cũng thấy vui lây và hưởng được thật nhiều năng lượng vui tươi trẻ trung của các bạn ấy.

Mẹ kính yêu! Tuy con không về nhà với ba mẹ, nhưng con luôn cảm thấy cả nhà luôn bên con. Vậy là ở bên này con cũng có cơ hội được “đoàn tụ” đó. Nói riêng hơn một chút cho mẹ dễ hiểu là: Sự đoàn tụ này là đoàn tụ của thân và tâm con với nhau. Mẹ ơi! Trong hai tuần qua con được sống ở tu viện, nhờ có nguồn năng lượng tu tập chung, nhờ sự yểm trợ của đại chúng mà niềm vui và hạnh phúc đến với con thật dễ dàng.

 

 

Với nguồn tuệ giác cao sâu của Sư Ông, của quý thầy quý sư cô, cả đại chúng hàng mấy trăm người được trở về an trú trong sự nhẹ nhàng, thanh thoát. Dường như con có một cảm nhận là ai về đây cũng đều nếm được vị ngọt của pháp cả mẹ ạ. Hay nhờ sự thực hành miên mật của tự thân mà con thấy người con nhẹ nhàng hẳn ra, mọi lo toan, căng thẳng bên nhà như không còn nữa. Con thấy thật vui, thật hạnh phúc trong thời gian này.

Mẹ biết không! Con cứ luôn tưởng rằng chỉ có con mới có cảm giác hạnh phúc như thế. Ấy vậy mà khi có cơ hội nói chuyện với các bạn thiền sinh Tây phương, họ cũng chia sẻ những cảm nhận giống như con thấy vậy đó. Khu nhà mà con đang ở như một đại gia đình hợp chủng quốc vậy. Thiền sinh các nước trên khắp thế giới về dự khoá tu đông lắm, các bạn đến từ nhiều đất nước khác nhau như từ Đức, Mỹ, Úc, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Singapore, Hàn quốc…

Tuy Giáng sinh là ngày sum họp gia đình nhưng họ vẫn dành những ngày đặc biệt này để về Làng tu tập và tham dự Giáng sinh cùng Làng. Những ngày tháng ở đây, con học được nhiều bài học quý, và có nhiều trải nghiệm thú vị về sự thực tập của bản thân. Thời gian ở Làng cũng giúp con có cách nhìn mới về nếp sống tu học nơi đây. Con thấy pháp môn tu học mà Sư Ông đang giảng dạy ở đây có ảnh hưởng thật lớn đến đời sống của xã hội Tây phương. Pháp môn tu học này đã giúp con người giải quyết được những khổ đau, bế tắt trong lòng và tìm thấy được niềm vui và hạnh phúc trong đời sống hằng ngày, nhờ vậy nên pháp môn Làng Mai mới có sức lan rộng khắp nơi như thế.

Mẹ thương yêu! Thời tiết bên này cũng dễ chịu không khắc nghiệt lắm đâu ạ. Ban đầu thì con cũng hơi lo ngại vì nghe nói có lúc xuống âm độ mà con thì không mang theo nhiều đồ ấm lắm. Còn bây giờ thì con luôn ấm áp, vì quý sư cô mang cho con nhiều áo ấm lắm, và còn ấm áp vì tình thương và sự chăm sóc của mọi người dành cho con nữa mẹ ạ. Con không thấy mình thiếu gì cả, mà còn thấy quá ấm cúng và đầy đủ nữa, nên mẹ đừng lo mẹ nhé.

 

Ở đây cứ trước Giáng sinh một tuần thì quý Thầy và quý sư cô đã chuẩn bị trang hoàng hay sửa sang phòng ốc để đón các bạn thiền sinh về tu tập. Xóm con ở là xóm Trung. Ở đây, quý sư cô trang trí cây thông Noel thật đẹp, và ở những xóm khác cũng vậy.  Mỗi ngày, trước giờ chấp tác, các bạn được hát những bài thiền ca thật vui và nuôi dưỡng.

 

Con đã có một buổi tối ngồi ca hát, đốt lửa cùng với quý sư cô và thiền sinh thật ấm cúng. Khi đó trong con dâng lên một niềm biết ơn vô hạn, biết ơn Sư Ông, biết ơn ba mẹ, biết ơn quý thầy, quý sư cô và cả những người bạn đang tu học cùng con nữa. Tất cả đã yểm trợ cho con và tạo điều kiện cho con cả về không gian, thời gian. Mẹ ơi! con làm sao kể xiết niềm biết ơn thâm sâu ấy.

Đêm Giáng sinh được xem là đêm đặc biệt nhất mẹ ạ. Chiều hôm đó, Sư Ông cho pháp thoại, rồi dẫn mọi người đi thiền hành. Tiếp theo là giờ ngồi thiền. Khi ngồi yên, mọi người sẽ có sự tĩnh lặng và bình an nhiều hơn, đặc biệt là nếm được niềm vui thật sâu lắng vào những ngày cuối năm mà không quá bận rộn như trong những dịp lễ hội mà trước đây con tham dự. Trong lúc đại chúng đang lắng yên trở về với giây phút “đoàn tụ” thì một hồi chuông của nhà thờ gióng lên.

 

 

Con đã lắng nghe, nghe một cách sâu lắng và cảm thấy hay làm sao ấy mẹ ạ. Như là lần đầu tiên mà con được nghe và cảm nhận hết được cái hay từ tiếng chuông ấy. Vừa thanh thoát vừa thiền vị, tiếng chuông ấy đem đến cho con một niềm vui nhẹ nhàng và bình an nữa. Sau đó đại chúng được dùng tối chung với nhau nhưng một đại gia đình và ai cũng hết lòng có mặt cho nhau khi được dùng cơm trong im lặng. Và cuối cùng là chương trình văn nghệ.

Văn nghệ thì thật là đặc biệt. Tuy không ồn ào, náo nhiệt, không kèn, trống ầm ĩ nhưng những bài hát mà quý thầy, cô thể hiện thì thật hay, thật xúc động. Thiền sinh chúng con cũng đóng góp chương trình văn nghệ này nữa, nên niềm vui lại cứ tăng lên. Kết thúc buổi lễ đón Giáng sinh là những vòng tay ấm áp, những nụ cười tươi và câu chúc trên môi mỗi người   “Merry Christmas – Giáng sinh vui vẻ”. Thật đằm thắm và đầy sự thân thiện mà mọi người trao nhau.

 

 

Mẹ ơi! Ở đây có nhiều điều thú vị làm con hạnh phúc lắm. Như cách mọi người sống và cư xử với nhau, cách  tặng quà cho nhau. Tối hôm sau là ngày sinh hoạt riêng của từng xóm, là ngày thiền sinh chúng con trao quà cho nhau. Ở đây có một chương trình thật vui là bốc thăm để biết mình sẽ tặng quà cho ai trong đêm Giáng sinh. Quà là thứ mà tụi con phải chuẩn bị lâu nhất, công phu và nhiều tình thương trong đó nhất mà không cần phải là đồ đắc tiền và sang trọng. Mẹ biết không, món quà con nhận được thật dễ thương, là một bài hát mà một bạn thiền sinh người Bỉ viết cho con. Bài hát đó được bạn ấy vừa đàn, vừa hát làm con thật  xúc động. Giáng sinh nay con nhận được nhiều quà đáng yêu quá đi!

Mẹ ơi! Bên mình mùa này chắc lạnh hơn rồi. Mẹ nhớ giữ gìn sức khoẻ mẹ nhé. Chân mẹ đã hết đau chưa, Ba vẫn khoẻ phải không ạ? Con sẽ viết thư sau cho ba mẹ cho con gởi lời thăm cả nhà, anh chị Hai và 2 cháu dùm con mẹ nhé. Con sẽ tận hưởng không khí nơi đây và tu tập cho cả nhà nữa mẹ nhé.

(Lời BBT: Bài viết này được bạn Phương Chi viết tại Làng Mai ngày 26 tháng 12 Năm 2013. Từ đó đến nay – tháng 12 năm 2026 – tuy đã hơn 10 năm trôi qua, Sư Ông đã biểu hiện dưới những hình thức mới, ngoại trừ các thầy các sư cô thay Sư Ông cho pháp thoại, và thiền sinh Việt không còn ở xóm Trung nữa, không khí của mùa Giáng Sinh tại Làng Mai cũng không khác gì so với năm xưa. )

Thư tình cho các sư em tương lai

-Viết cho các sư em tương lai-

6-9-2013

Các sư em yêu quý!

Giây phút hạnh phúc của các anh em tập sự

Sư anh đến đây như vậy cũng được một tuần rồi. Đã là mùa thu nhưng ve vẫn còn kêu râm ran suốt cả ngày. Cũng có cái nắng như ở Huế vậy, không có hồ nước, không có suối, bù lại chùa có cả một vườn cây xà cừ rợp bóng mát. Trong vườn còn lại một ít xoài, sư anh quên đem theo muối Diệu Trạm nên chẳng thèm ăn. Ăn xoài sống mà không có muối thì không ngon mấy. Nhìn mấy trái xoài treo lủng lẳng bên cửa sổ thật vui mắt.

Các sư em biết không! Chùa Tổ trong quá khứ đã từng là một cõi tịnh độ khi Sư Tổ khai sơn – Thiền sư Nhất Định – đặt chân đến núi đồi Dương Xuân. Từ thuở đó cho đến bây giờ, đất tổ vẫn còn là một cõi tịnh độ, nơi trở về cho đàn con cháu của chư tổ. Sau khi cùng với các học trò dựng xong am tranh, Sư Tổ đã làm hai câu thơ treo trước am:

“Thân mang chuỗi hạt nhàn năm tháng

Tay chống gậy thiền dạo núi sông”

Thân mang chuỗi hạt là để lòng được nhàn; thiền cũng vậy, là có khả năng rong chơi, lên non xuống suối. Đó là cái tịnh độ trong hiện tại mà Sư Tổ đã thích ý rong chơi. Hôm nay, tăng thân mình cũng đang rong chơi, các sư em nhớ khám phá những mầu nhiệm ở đất tổ để thưởng thức.

Các sư em đừng lo lắng quá cho tương lai. Hãy để tương lai đến một cách tự nhiên. Bởi vì hạnh phúc của mình không phải ở tương lai, mà ở ngay trong mỗi hơi thở và mỗi bước chân của mình. “Đừng bỏ cái hiện tại để đi tìm cái hạnh phúc trong tương lai”. Đó là câu nói ở trong kinh nào các sư em biết không?

Hồi sư anh còn ở Xóm Thượng, có một bữa đang ngồi viết bài cảm niệm cho buổi lễ húy nhật Sư Tổ Nhất Định. Vì không thích viết bằng ngôn ngữ không thôi, mà muốn có nội dung của sự thực tập, cho nên sư anh ngồi viết với tất cả sự chánh niệm, thành kính của mình. Đang viết bỗng dưng sư anh chạm vào được thế giới của bản môn, tiếp xúc được với Sư Tổ. Sư anh thấy mình có mặt cùng một lần với Sư Tổ khi Người đặt bước chân đầu tiên đến núi đồi Dương Xuân, rồi cũng thấy mình có mặt một lần với Sư Tổ khi Người xuống núi làm Người vô sự. Cái thấy đó đến nhanh như một làn sấm sét rồi tan biến; nhưng cảm giác bình an vẫn còn ở lại. Đặt bút xuống, sư anh viết tiếp cái thấy đó:

“… Kính bạch Sư Tổ! Chúng con thấy là chúng con cũng đã có mặt một lần cùng với Người, khi Người đặt bước chân đầu tiên đến núi Dương Xuân. Chúng con cũng đã có mặt trong những người học trò của Người và hằng ngày cùng cuốc đất trồng rau với Người. Chúng con cũng đã có mặt với Người khi Người xuống núi làm một người vô sự, và bây giờ đây, Người cũng có mặt với chúng con trong giờ phút hiện tại, trong mỗi hơi thở, mỗi nụ cười và mỗi bước chân vững chãi của chúng con …”

Cái không gian và thời gian vô cùng khác nhưng thật là không có sự ngăn cách nào trong thế giới của bản môn. Sư anh thực tập chưa giỏi cho nên chỉ “giật mình” một cái trong bản môn rồi trở lại thế giới hiện tại, nhưng thấy rất rõ là cái bản môn và tích môn đan xen vào nhau, hòa vào nhau. Vì thế cho nên, trở về với cái thực tại nhưng cái bản môn vẫn nuôi dưỡng cho sự thực tập của mình. Cái bản môn đến rất tự nhiên, sư anh không có chủ ý đi tìm, chỉ có sự thực tập hết lòng thôi.

Ở đây, sư anh có rất nhiều thì giờ để chơi với các Thầy, các sư chú và với các anh em tập sự. Mỗi buổi sáng, sau giờ ngồi thiền, đi thiền, sư anh còn có thời gian để ngồi chơi với anh em tập sự. Ngồi uống trà và lắng nghe sự tu học của các em. Sư anh làm công việc của người hướng dẫn nhưng chính mình lại được nuôi dưỡng từ sự thực tập của các anh em tập sự. Thời gian làm tập sự có thể nói là thời gian vui nhất của người xuất gia. Có bỡ ngỡ, có hồn nhiên, có hạnh phúc, có vụng về và có cả ước mơ cháy bỏng. Uớc mơ được làm người xuất gia.

Những nụ cười tỏa rạng tin yêu

Sư anh nhớ trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ năm ngoái, các chú sadi đã được hướng dẫn thực tập theo cuốn Sám Pháp Địa Xúc. Dù bận thế nào các sư chú cũng có mặt tại thiền đường tăng xá của Xóm Thượng để thực tập trước khi đi ngủ. Mỗi lần thực tập một bài thôi nhưng tối nào cũng thực tập. Ở đây, sư anh cũng hướng dẫn cho các anh em tập sự thực tập pháp môn này. Bởi vì nếu duy trì được sự thực tập này thì mình gìn giữ được sự tu học và rất dễ thành công.

Trong cuốn Sám Pháp Địa Xúc đó có đầy đủ những pháp môn tu mà mình đang thực tập trong tăng thân. Mỗi bài đều có một lời khải bạch. Trong lúc đọc hay nghe lời văn thì mình đang được trở về tâm sự với Bụt về sự tu học của mình. Lời văn sẽ đi thẳng vào lòng và sự nuôi dưỡng, trị liệu sẽ đến ngay trong lúc mình thực tập. Mình sẽ có cơ hội làm mới lại sự thực tập qua mỗi bài tập. Đọc lời văn xong thì đến phần địa xúc, tức là lễ lạy. Năm vóc sát đất, mình nuôi dưỡng lại những cái thấy mà mình đã tiếp nhận được khi đọc hay lắng nghe lời khải bạch.

Cái quý giá thứ hai mà mình gặt hái được khi thực tập Sám Pháp Địa Xúc là trong đó có trái tim củaThầy mình và qua Thầy, mình cũng có cơ hội tiếp xúc với Bụt. Trái tim đó rực sáng và cháy bỏng như một khối lửa. Dù thời gian cứ trôi nhưng trái tim đó vẫn còn tinh anh và mới mẻ. Thực tập hết lòng mình có thể đem trái tim của Thầy vào trong trái tim mình.

Trong mỗi buổi lễ mình đều có xưng danh hiệu của đức Bổn sư Bụt Thích Ca Mâu Ni. “Bổn sư” có nghĩa là “Thầy gốc”. Mạch nguồn tâm linh đạo Bụt đã được khơi nguồn từ đức Bổn sư, cho nên Bụt được gọi là “Thầy gốc” của mình. Một lòng kính lễ Thầy gốc của con, đức Bụt Thích Ca Mâu Ni, mình cũng có thể xướng như vậy trước khi lạy xuống.

Huynh đệ mình may mắn lắm vì đến bây giờ mà mình vẫn còn có cơ duyên được thực tập những pháp môn mà chính ngày xưa Bụt và Tăng đoàn thực tập. Nắm được sự thực tập và đem được trái tim của Thầy, của Bụt vào trong trái tim mình thì các sư em xứng đáng là sự tiếp nối đẹp đẽ củaThầy, của Bụt. Khi ấy dù có ở xa Thầy, dù chưa xuống tóc, mình cũng đã cảm thấy rất gần gũi với Thầy.

Có khi người ta nói “tầm sư học đạo”, tìm Thầy để học đạo hay tìm ra được Thầy rồi mới học đạo. Nhưng ở đây mình thấy khác, nhờ tu đạo mà mình tìm ra được Thầy, vị Thầy đó không phải ở ngoài mà ở trong mình. Ban đầu mình đi tìm Thầy, vị Thầy đó ở ngoài mình; đến khi tìm được Thầy và tu học với Thầy thì mình tìm ra được Thầy ở trong mình. Mình bắt đầu có hướng đi. Đó là một niềm hạnh phúc lớn, rất lớn của người xuất gia.

Chúc các sư em thực tập thành công!

Sư anh Minh Hy

Hành trình cứu trợ bão lụt tại các tỉnh miền Trung

MẮT THƯƠNG NHÌN CUỘC ĐỜI

Hành trình cứu trợ bão lụt tại các tỉnh Quảng Bình và Quảng Nam

– tháng 10/2013 –

(Ghi chép của các sư cô trong đoàn cứu trợ)

 

Ngay khi có những thông tin đầu tiên về cơn bão lũ số 10 đổ bộ vào các tỉnh miền Bắc Trung Bộ, chúng con – ni chúng Long Thành cùng với quý thầy tổ đình Từ Hiếu – đã bắt đầu mở cuộc quyên góp để vận động tịnh tài đi cứu trợ.

Ngày 15/10, chúng con chuẩn bị lên đường vào Quảng Bình thì đã nghe tin cơn bão số 11 vừa ập vào Quảng Nam, Đà Nẵng gây thiệt hại nặng. Quý Sư cô lớn cho phép chị em chúng con quyết định có đi hay không. Mặc dù biết sẽ gặp nhiều khó khăn nhưng chị em con vẫn quyết định đi. Buổi chiều hôm đó, chúng con lên xe vào Quảng Bình, hành trang của mỗi người là một chiếc ba lô nhỏ gọn với một ít đồ khô để ăn dọc đường.

Tại tỉnh Quảng Bình

Khoảng 10h đêm ngày 16/10, chúng con tới Quảng Bình. Đón chúng con là cô Quảng Hương – Trưởng Ban Từ Thiện – Xã Hội của Ban Trị Sự Phật Giáo Tỉnh Quảng Bình.

Chúng con mang theo 1.500 phần quà, tăng lên rất nhiều so với số lượng dự tính ban đầu là 400 suất, vì số gia đình nghèo bị thiệt hại quá nhiều, nên chúng con đành chia nhỏ số tiền ra để có thể đến được với nhiều người hơn.

Quà cứu trợ đã đến được với người dân vùng lũ

Ngày 18.10.2013

Chúng con bắt đầu phát quà cho 4 xã bị thiệt hại nặng nhất của huyện Quảng Trạch là:  Quảng Phương, Quảng Lộc, Quảng Hòa và Quảng Sơn.

Tại xã Quảng Phương, điểm đầu tiên phát quà là thôn Pháp Kệ. Tại đây có những người già neo đơn, người khuyết tật, phụ nữ mang thai và các em bé. Cơn bão đi qua, lũ lụt lại tới liền, không tha một ai. Chúng con hỏi thăm được một cụ già đã 85 tuổi, con cái có nhà riêng, cụ ở một mình, nhà thì tốc ngói, nước ngập tới ngực. Có cụ đến 91 tuổi cũng đến để nhận quà, nhà ông bị bão “trốc hết rồi” (tốc mái). Rồi có một em gái bị tật, không chồng, vừa nuôi con, vừa nuôi mẹ già, nhà cũng bị ngập lụt, hư hại. Món quà tuy đơn sơ gồm một bao gạo nhỏ, một thùng mì gói, chai dầu, bịch bột ngọt, bịch đường, một phong bì tiền, nhưng cũng đủ làm nở những nụ cười ấm áp trên môi những người không may.

Món quà tuy đơn sơ nhưng đủ làm nở những nụ cười ấm áp

Điểm phát quà thứ hai là Thôn Đông Dương. Những cảnh đời cũng giống như ở Thôn Pháp Kệ, với rất nhiều người già cô đơn, không có đủ ăn trong những ngày bão. Tổng cộng ở hai điểm là 200 phần quà.

Tại xã Quảng Lộc, thiệt hại còn nặng nề hơn xã Quảng Phương. Lúc 11:00, xe đến UBND Xã Quảng Lộc, đây là điểm tập trung để người dân của 6 thôn trong xã đến nhận quà. Quang cảnh đầu tiên đập vào mắt chúng con là sân Ủy Ban xã bị ngập giống như ao nước. Bên trong hội trường phía sau Ủy Ban, mái nhà bị bão và lốc lột gần như sạch sẽ, còn trơ sườn. Bà con cho biết nơi này bị cúp điện đã nửa tháng nay, vì đường dây điện bị bão làm hư. Nay thì chỗ có điện chỗ không. Đã có hai người chết. Trẻ em không đi học trong mấy ngày bão, nay lụt lại tiếp tục phải nghỉ học. Nhiều nhà nước cao tới ngực, không có nước ngọt để uống, có lúa mà không có điện để xay, cũng không thể nấu nước gì, có gói mì sống để ăn là hạnh phúc rồi.

Tại đây, chúng con thấy một chuyện làm chúng con chú ý, đó là bà con ở thôn Vĩnh Lộc nhận quà và bì thư tiền xong thì gộp lại chung hết vào một chiếc xe nhỏ. Chúng con hỏi thăm thì được biết là ở thôn này số hộ nghèo quá nhiều, nên số phần quà này được gom lại, mang về thôn mỗi phần quà sẽ được chia làm hai để có nhiều người hơn được nhận. Có chị nói một câu làm chúng con rất cảm động: thà có một chén cháo mà chia ra cho nhau chứ mình ăn riêng, người khác không có ăn thì coi không được. Có lẽ ý thức đùm bọc nhau đó khiến cho người Việt mình dù nghèo mấy vẫn sinh tồn được.

Tại Quảng Lộc, chúng con phát được 203 phần quà. Có 3 phần phát sinh vì có 3 người không có tên nhưng đáng thương quá nên Quý Thầy, quý Sư cô chúng con cho nhận.

Tại xã Quảng Hòa, một chú làm trong ủy ban xã cho biết ở đây có 5 thôn, mà từ bữa bão (30.9.2013) tính tới sáng nay thì mới có 4 thôn có điện, còn một thôn vẫn chưa. Tại xã không có ai bị thiệt mạng do bão, nhưng có một người già bị bệnh mất đã 4 ngày nay chưa an táng được vì nhà bị nước ngập chưa đưa cụ đi được. Đến 12:50 thì chúng con phát xong quà, tổng cộng 200 phần quà và bì thư.

Tại xã Quảng Sơn: vừa ăn trưa xong là chúng con lên đường ngay đến văn phòng UBND xã Quảng Sơn. Đến nơi là 13:40 chiều. Chúng con ngạc nhiên khi thấy không có ai đến nhận quà, hỏi thăm thì các vị trực văn phòng trả lời qua loa, không rõ vì sao. Bây giờ phải làm sao với 310 phần quà dành cho địa phương nghe nói là thiệt hại nặng nhất? Chúng con quyết định lên xe để đến với những thôn bị ảnh hưởng bão lũ nhiều nhất.

Trên đường đi, chúng con nhìn thấy nước ngập mênh mông, đi ngang qua đồng ruộng mà cảm tưởng giống như đang đi dọc sông Tiền, sông Hậu mênh mông là nước. Những cột điện nhiều cái xiêu vẹo, nằm chơ vơ giữa đồng. Đến một ngã rẽ, chúng con thấy một bồn nước loại giống như phao cao su to đùng để chứa nước ngọt cho bà con đến lấy dùng, vì nhà của bà con bị bão rồi đến lụt ngập nước đã hơn nửa tháng, không có nước để uống. Ở đó có giăng biển của Hội Chữ Thập Đỏ.

Vừa đến đầu thôn Linh Cận Sơn, thì chúng con thấy xa xa có nhiều anh bộ đội đang giúp dọn dẹp những đống đổ nát sau thiên tai, và nhiều người dân cùng bộ đội đang sửa sang lại những mái nhà bị tốc hết mái và tôn.

Nhiều ngôi nhà bị sập hoàn toàn, chỉ còn là một đống gạch vụn.

Vừa mới thấy đoàn cứu trợ đặt chân xuống thì đã có mấy người dân chạy lại, bức xúc chỉ cho chỗ ngôi nhà nát và kể cho chúng con nghe là nhà đó có hai vợ chồng, các con nhỏ đang trọ học chỗ khác. Khi bão đổ vào, tường nhà sập xuống, chồng vội vàng lấy thân che cho vợ nên chết ngay tại chỗ, vợ bị dập nát hết phần sườn đến nay vẫn còn đang nằm viện. Chúng con hỏi có ai là bà con thân nhân người bị nạn không để chúng con đến gửi tiền cứu trợ. Chúng con được chỉ đến ngôi nhà đang đặt bàn thờ anh ở gần đó. Đầu nhà cũng bị sập một mảng tường rộng. Đến nơi, chúng con thắp hương cho người xấu số rồi gửi 2.000.000 đ (hai triệu đồng) cho người nhà. Người mất tên là Phan Xuân Sơn, mất năm 1965. Hai triệu đồng với vật giá ngày nay chẳng đáng bao nhiêu. Chỉ tính tiền viện phí chữa bệnh cho người phụ nữ tội nghiệp kia thì cao lắm cũng chỉ đủ thanh toán vài ngày thuốc thang nằm viện. Gia đình như vậy lấy gì để trả tiền thuốc, cho các con tiếp tục đi học, chưa kể đến lấy gì để xây dựng lại nhà, tất cả đều là những câu hỏi lớn không có lời giải đáp.

Xe chạy tiếp đến Nhà Văn Hóa Thôn Linh Cận Sơn, nóc Nhà Văn Hóa không còn gì cả. Bà con đang cùng bộ đội tập trung sửa chữa nhà cửa, thấy đoàn cứu trợ đến thì mới bỏ việc để từ từ kéo đến. Bác Mai Trung Kiên, Chủ Tịch Xã nhiệt tình đến gặp và kể ngay cho chúng con nghe những chuyện gì đã xảy ra trong mấy ngày thiên tai vừa qua. Xã Quảng Sơn, địa bàn rất rộng, bão quét qua nặng nhất là 3 thôn, vào lúc 2 giờ kém 20, trong vòng chỉ vài phút là phá tan tành. Trong đó thiệt hại nặng nhất là thôn Linh Cận Sơn và thôn Hà Sơn. Khi cán bộ xã, huyện và nhân dân đang khắc phục bão, giải thoát người, giải phóng đường ách tắc, thì 6 giờ sáng lại có lũ ống, trong vòng 2 tiếng là ngập hết đường sá, đường tàu. Tính tới nay có 3 người bị nhà sập làm chết, 23 người đang điều trị tại bệnh viện, 24 nhà bị sập hoàn toàn, hơn 200 nhà bị lốc làm tốc mái hoàn toàn và sập một phần nhà. Tính toàn xã có trên 1.000 nhà bị ngập lụt, ngập sâu trên 2 mét là 185 nhà, từ 2 mét trở xuống là 265 nhà, và 160 nhà bị ngập từ 1 mét trở xuống.

Làng xã hoang tàn sau cơn lũ

Quan sát những người đang chờ cứu trợ đứng trong mưa, chúng con chú ý thấy có hai người đeo khăn tang trắng, một phụ nữ và một bé gái. Đến hỏi thăm, chúng con được biết người phụ nữ tên là Nguyễn Thị Thống, nhà của chị và nhà mẹ chồng ở bên kia đường, từ Nhà Văn Hóa nhìn chéo qua. Nhìn theo tay chị chỉ, chúng con chỉ thấy hai đống đổ nát tương tự như nhà anh Phan Xuân Sơn. Chị cho biết bão và lốc đổ bộ đã làm hai căn nhà sập nát hết. Mẹ chồng là bà Trần Thị Thuấn bị thương nặng cấp cứu không được đã qua đời. Hai vợ chồng có hai con gái thì đứa con thứ hai học lớp năm bị nhà sập làm chấn thương sọ não, đang mổ não ở bệnh viện, chồng đang ở bệnh viện nuôi con. Còn chị với con gái đầu đang ở nhờ nhà người quen để dọn dẹp chỗ đổ nát và lo một số việc gia đình. Nhận quà cứu trợ xong thì chị với con gái sẽ vào bệnh viện phụ chồng. Vì quà phát theo từng đơn vị một, thành ra chưa tới phiên, chị với con đứng tạm ngoài mưa, che tấm bìa cạc-tông từ một thùng quà mà chúng con mới khui ra.

Chúng con lập tức chia ra hai nhóm, một nhóm tiếp tục phân phát quà và tiền, mền và quần áo cho bà con, một nhóm đi thăm những ngôi nhà có người chết.

Nơi đầu tiên chúng con đến thăm là nhà – đúng hơn là nền nhà – của cô Nguyễn Thị Thống, Thầy Từ Hải đại diện Tăng thân gửi thêm cho cô phong bì 2 triệu đồng, ngoài phần quà và bì thư mà cô đã được phát.

Kế đó, chúng con đi đến nhà có người thứ hai bị nhà sập đè chết là anh Mai Xuân Phụ (sinh năm 1961). Anh Mai Xuân Phụ ở xa về thăm nhà, đêm đó bị tường nhà sập làm chết ngay tại chỗ. Hiện có vợ mới từ chỗ mở cửa mả về, chúng con trao phong bì tiền cho vợ người bị mất. Cũng là món tiền 2 triệu đồng, trao phong bì mà lòng chúng con ray rứt vì biết những gì mình giúp được chỉ là sự an ủi về tinh thần làm ấm lòng người. Chút tiền mọn để bà con gặp nạn cảm nhận rằng mình không cô đơn trong hoạn nạn, rằng vẫn còn có những trái tim nhân hậu đang trông về mình, rằng trong cuộc sống tình người vẫn đẹp. Chứ còn về vật chất, số tiền ấy có thấm vào đâu với nỗi đau mất chồng, mất nhà cửa của người góa phụ.

Một chút quà nhỏ cũng sưởi ấm được phần nào trái tim của những người dân vùng lũ

Nhìn nụ cười nở trên khuôn mặt héo hắt của những người phụ nữ không may, chúng con thương cảm vô cùng, lòng an ủi rằng ít ra mình cũng đã sưởi ấm được phần nào trái tim của những người khổ đau do thiên tai hoạn nạn. Để họ có niềm tin vào cái đẹp của tình người, lấy lại được chút niềm vui mà tiếp tục sống và đối mặt với những khó khăn còn ngổn ngang sau cơn bão lũ.

Đến khoảng hơn 16:00 giờ thì phát xong quà và tiền ở Thôn Linh Cận Sơn. Còn lại 69 suất quà cho người ở Thôn Hà Sơn, là thôn bị nặng nhất đang ngập trong nước thì chúng con không đến tận thôn được, vì thôn đang ở bên kia sông, và đoạn đường đến bờ sông thì bị lầy, xe khách chạy không được. Mà bà con cũng không đến được để nhận quà.

Thương quá, chúng con nghĩ cách làm thể nào để vẫn cứu trợ được cho bà con. Trước đó, thầy Từ Hải có gọi điện để xin Nhà nước cho mượn một chiếc ca-nô để chúng con qua tận nơi. Nhưng vì chúng con gọi và muốn mượn liền nên Nhà nước họ không giải quyết được, vì họ phải qua nhiều thủ tục mới cho mượn được. Vì vậy, phát quà cho Thôn Linh Cận Sơn xong, chúng con mượn xe máy của thôn để cử người mang tiền đến khúc sông gần nhất và xe hàng sẽ theo sau. Tới đó sẽ đợi người đại diện của thôn Hà Sơn ở bên kia sông đánh thuyền qua nhận. Chú Chủ tịch xã vẫy một chú bộ đội chạy xe máy đến, chú bộ đội chở thầy Từ Hải cầm phong bì tiền đi đến bờ sông. Chúng con đợi hơn nửa tiếng sau thì thầy về, cho biết hai xe tải chở hàng đã bị sa lầy, vừa mới kéo lên được. Vì vậy cả xe, cả người chúng con đi đường vòng khác khá xa để đến được bờ sông.

Xe tải chở hàng cứu trợ bị sa lầy

Đến nơi thì đã có thuyền và người đại diện là chú trưởng thôn Hà Sơn cùng với mấy người nữa đang đứng chờ. Chú cảm động cám ơn chúng con rối rít và …nắm chặt tay sư cô mà cảm ơn (chú không biết là không nên nắm tay sư cô lâu). Chúng con chuyển hàng xuống thuyền, và gửi 69 phong bì tiền cho chú trưởng thôn.

Tổng cộng ở Xã Quảng Sơn, vì đến tận nơi trao quà, những trường hợp phát sinh tăng nhiều, chúng con trao 310 phần quà và tiền cho người dân, cộng với 3 suất đặc biệt cho gia đình người chết.

Ngày 19.10.2013

Điểm đầu tiên chúng con đến là Chùa Thanh Quang, xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch. Đến đây thấy giữa xã nghèo, có một ngôi chùa tuy nhỏ nhưng đẹp, chúng con thấy vui vì bà con ở đây có lòng tu tập. Vì ở đây tình trạng thiệt hại ít hơn nên chúng con chỉ phát 80 phần quà rồi lên đường đi tiếp. Còn 16 phần quà chúng con trao lại cho 16 trường hợp khác ở xã Hạ Kiến Sơn.

Ngày hôm nay, chúng con đến những nơi cũng bị thiệt hại, nhưng đã được khắc phục phần nào. Vì vậy chúng con không mua hàng mà chỉ bỏ phong bì cho bà con, nhưng phần tiền trong phong bì thì tương đương với tổng giá trị tiền và vật phẩm của các suất cứu trợ đã phát. Chúng con đã phát 100 suất cho xã Phú Định, 150 suất cho xã Hải Ninh và 50 suất cho xã Duy Ninh.

Kế tiếp chúng con đến nhà văn hóa thôn Hiển Lộc. Tại đây chúng con phát 100 phần quà cho bà con. Điểm đặc biệt ở điểm này là toàn người già đến nhận tiền. Phát được 88 phần quà thì đọc hết danh sách, còn một danh sách khoảng 40 người thì không ai đến nhận. Hỏi ra thì được biết là một phần quà được chia cho 3 người. 88 phần là sẽ có 264 người già được nhận tiền. Còn danh sách kia thì người tổ trưởng nhóm người cao tuổi đó bệnh đang nằm viện không thông báo cho bà con, nên không ai đến nhận được.

Bà con ai cũng xôn xao, muốn cho những người vắng mặt cũng được nhận tiền. Khi chúng con giải thích là chúng con muốn trao tiền tận tay người gặp khó khăn, không có chứng cứ rõ ràng thì chúng con không dám giao tiền lại, thì ai nấy cũng buồn xo. Giải quyết như vậy thì đúng lý, nhưng về tình thì trong lòng chúng con cũng day dứt. Sau một hồi bàn thảo, chúng con quyết định trao cho một người đại diện do bà con cử ra, trước mặt toàn thể bà con, và thông báo rõ với bà con rõ ràng về tình trạng. Nhìn nét mặt những người già nở ra, ai nấy cười hoan hỉ mà lòng chúng con cũng nở ra.

Đó cũng là điểm cứu trợ cuối cùng của tỉnh Quảng Bình. Vừa xong việc là chúng con ra quốc lộ, chia tay chú Bình tài xế chiếc xe thuê và những tình nguyện viên ở Quảng Bình, rồi đón xe khách về Huế. Chúng con lên được xe lúc 16:00 giờ. Đến được Huế là hơn 19:00 tối.

Tại tỉnh Quảng Nam

Ngày 22.10.2013

Chúng con cứu trợ xong tại tỉnh Quảng Bình thì còn lại được vài chục triệu. Quá ít ỏi, nhưng chúng con quyết tâm đi cho đến khi hết số tiền thì thôi, và vẫn hy vọng sẽ tiếp tục nhận được sự tài trợ từ những tấm lòng bác ái. Nhờ Bụt Tổ gia hộ, sau đó chúng con được sự yểm trợ rất lớn từ tổ chức Mắt thương nhìn cuộc đời (Eyes of Compassion Relief Org. – Canada), nên có thể đi thêm, phát quà thêm cho nhiều trường hợp nữa. Chúng con vô cùng cảm kích tổ chức EOCRO đã tin tưởng uỷ thác cho chúng con một số tiền lớn đến 200 triệu đồng Việt Nam để cứu trợ cho đồng bào mình trong khổ nạn.

Vì vậy sau khi có được đầy đủ thông tin của các bạn cư sĩ thuộc tăng thân Mây Thong Dong khảo sát ở địa phương thì chúng con lên đường rời Huế lúc 3 giờ chiều ngày 22.10.2013.

Ngày 23.10.2013

Chúng con bắt đầu cuộc hành trình vào lúc 7:20 sáng, chương trình là sẽ đi đến xã Điện Ngọc vào buổi sáng và đến khu Cửa Đại vào buổi chiều. Chúng con mang theo nhiều quần áo để tặng bà con. Trong chuyến đi này, ngoài Quý Thầy và Sư Cô trong chuyến đi cứu trợ Quảng Bình thì có thêm thầy Pháp Căn thuộc Tổ Đình Từ Hiếu và sư cô thuộc ni xá Diệu Trạm tham gia.

Thôn Giang Tắc, xã Điện Ngọc, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Thôn đầu tiên chúng con đến là thôn Giang Tắc. Tại đây chúng con đến cứu trợ cho 10 ngôi nhà bị sập. Có một điểm chung là các ngôi nhà này đều là những ngôi nhà nhỏ, chủ hộ quá nghèo khó nên chỉ xây nhà cấp 4, không có trụ bê tông cốt thép, nên bão đến thì sập ngay. Cũng may là vì có thông tin báo bão kịp thời nên bà con thấy tình hình nguy cấp thì chạy khỏi nhà đến trú ẩn ở chỗ khác nên không có ai thiệt mạng.

Nhà nào cũng giống nhau, chỉ là những đống đổ nát sau cơn bão. Gia đình vốn đã nghèo nay lại màn trời chiếu đất. Chưa kể có những trường hợp đặc biệt, không có khả năng lao động, khổ chồng thêm khổ. Hiện nay, có người thì che tạm mấy tấm tôn cũ, hoặc che bạt ở tạm ở hông nhà, hoặc ở nhờ nhà mẹ, nhà thờ họ, tội nghiệp hơn, có gia đình phải ngủ tạm trong… nhà vệ sinh (!).

Gia đình này phải ngủ tạm trong nhà vệ sinh

Trong cuộc sống, có nhiều khi ngày nào báo, đài cũng đưa tin chiến tranh, thiên tai ở khắp nơi, nghe riết thành quen. Đôi khi mình thấy mình trở nên vô cảm với những tin tức đó. Lần này, nhờ tiếp xúc trực tiếp những cảnh khổ mà chúng con được đánh thức hạt giống của tình thương, của sự đồng cảm với những đồng bào đang trong khổ nạn. Chúng con đặt mình ở vị trí những người đó, người già, phụ nữ, trẻ con, và cả những thanh niên nghèo, trong một đêm gió bão lạnh giá, chứng kiến ngôi nhà mà mình chắt chiu dành dụm để xây nên từ từ sụm xuống. Trời đất lạnh lẽo mà lòng người càng tê tái. Rồi đây, lấy gì để xây sửa nhà, để sinh nhai, hoặc giả lại tiếp tục nợ nần thêm nhiều năm tháng nữa.

Vào lúc 10 giờ kém 5 phút, chúng con thăm và tặng phong bì tiền xong cho 10 gia đình, mỗi gia đình 3 triệu; và thêm 1 trường hợp ngoại lệ của anh Lê Minh Hải là 500.000 đồng.

Thôn Viêm Đông, xã Điện Ngọc, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Tại đây chúng con đi thăm và trao tiền cho 6 trường hợp. Nhà đầu tiên chúng con đến là nhà của cô Phan Thị Mẹo, 55 tuổi. Cô bị hỏng một mắt, người gầy yếu, mất sức lao động, mà còn phải nuôi con. Nhà bị sập hết. Rồi đến nhà của chị Đặng Thị Dung, 40 tuổi, làm công nhân, lương tháng được 2 triệu rưỡi. Chồng chị thất nghiệp. Vợ chồng có 2 con nhỏ. Cách đây 8 năm, vay mấy chục triệu để xây ngôi nhà nhỏ, cho đến nay nợ thì trả chưa xong mà nhà lại bị sụp mất. Nhà nước thì chưa hỗ trợ gì.

Các nhà khác cũng 2 đến 4 con nhỏ, đều nghèo, bán rau hành, làm công nhân hoặc làm ruộng. Chỉ có một trường hợp nhà của chị Huy tuy nhà sập nhưng cũng có chút vật dụng tiện nghi còn cứu lại được, vẫn tiếp tục bán quán và ở nhờ nhà mẹ, là trường hợp ít khổ hơn các nhà khác, nên chúng con hỗ trợ 2 triệu đồng. Còn các trường hợp kia đều hỗ trợ 3 triệu đồng.

Thôn Viêm Minh, xã Điện Ngọc, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Ở thôn này có những trường hợp rất đáng thương. Như trường hợp của bà Đặng Thị Xô, nhà bà không sập mà chỉ bị tốc mái. Nhưng bác Trưởng thôn tha thiết xin chúng con lưu tâm giúp đỡ. Vì bà bị bệnh thần kinh, ngơ ngơ ngác ngác; có một con trai cũng bị di truyền như mẹ mà nhẹ hơn. Hàng ngày bà giữ bò cho bà con trong thôn. Ai cho gì thì ăn nấy, mẹ con không biết nấu nướng gì cả. Cả hai hiện đang lưu trú trong ngôi nhà tình thương của nhà nước xây cho. Nhưng qua cơn bão số 6 rồi đến cơn bão số 11, ngôi nhà đang xuống cấp trầm trọng. Còn người con trai khi sửa nhà sau cơn bão số 6 thì bị thương nặng. Hiện nay trong thôn ai cũng đang gặp khó khăn do cơn bão, nên cũng không giúp được gì nhiều. Vì vậy chúng con quyết định cũng hỗ trợ cho gia đình bà một suất 3 triệu đồng. Nhìn ánh mắt thất thần của hai mẹ con bà, chúng con không biết bà có cảm nhận được tình thương mà chúng con mang đến cho mẹ con bà hay không.

Thôn Hà Dừa, xã Điện Ngọc, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Tại đây, chúng con đi thăm và trao tiền cho 4 hộ gia đình bị sập nhà. Trong đó, có gia đình anh Nguyễn Văn Bình, hai vợ chồng có 4 người con. Bão vô làm sập nhà hết. Nhà rất khó khăn. Khi đoàn chúng con đến thăm thì thấy bé gái không mặc áo, thương quá, chúng con vội tìm quần áo trong những bộ đồ đang tặng cho mặc. Chúng con chụp hình bé gái khi chưa mặc áo, định sẽ chia sẻ cho bà con xem để cảm thông cho hoàn cảnh những người khốn khổ. Nhưng đôi mắt bé nhìn có cái gì đó khiến chúng con thấy không nỡ đưa hình ảnh đó lên. Nó là sự mặc cảm, nỗi buồn lo, sự thẹn thùng. Hai tay bé ôm lấy thân hình mảnh dẻ như muốn che hết thân mình trước ống kính máy ảnh.

Thôn Cồn Nhàn, xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An,  tỉnh Quảng Nam

Thôn này do anh Hùng cư sĩ địa phương giới thiệu cho chúng con, ở đây có rất nhiều trường hợp quá nghèo, nhà cửa còn tệ hơn nhà cấp 4, nên bão đến là sập ngay. Vì vậy, mang đến cho bà con tiền cứu trợ của chương trình, chúng con mong bà con có thể sử dụng món tiền ấy để làm vốn làm ăn hoặc để góp vào tiền xây nhà cho đỡ cơ cực. Câu hỏi lớn trong lòng chúng con là không biết có cách nào để họ có thể thay đổi cuộc đời, khi nhìn thấy cái nghèo dường như là cái gì rất chắc chắn phủ vây đời họ.

Hy vọng bà con có được một chút niềm vui để đối diện với những khó khăn trước mắt

Trong lúc đi vào thôn, chúng con đi ngang qua những nhà tội nghiệp quá, mà không có trong danh sách. Nên cầm lòng không đậu, chúng con ghé vào thăm. Có nhà của bà Phạm Thị Ngơi, 53 tuổi, sống với mẹ già 85 tuổi. Bà Ngơi có 4 con nhưng đều ở xa. Giờ lớn tuổi, sức khỏe yếu, trong làng ai nhờ gì thì làm nấy để mẹ con sống qua ngày, đau không có tiền uống thuốc. Bà Ngơi kể mà rơm rớm nước mắt. Vậy là chúng con lại phát sinh thêm một phần quà.

Rồi đến cô Trần Thị Nga, nhà nghèo mà mới có con nhỏ, lại thêm 2 đứa sinh đôi. Rồi nhà cô Nguyễn Thị Vân, nhà sập, phải ở nhà vệ sinh. Hay cô Phan Thị Hiền, bị tàn tật, chân không đi lại được, ở nhà tình nghĩa với con, mà nhà thì xuống cấp trầm trọng. Thế là chúng con lại không thể cầm lòng.

Lại thêm nhà anh Lê Văn Dũng, nhà sập nát tan, chưa được nhà nước cứu trợ, chồng làm thuê, vợ thì thất nghiệp, không có hướng làm ăn. Chúng con bỏ bao thư 4 triệu đồng.

Kết thúc buổi chiều cứu trợ, chúng con ra về với tâm trạng hoan hỉ, vì thấy khi mình đến tận nơi, đã có thể giúp được thêm những trường hợp thực sự khó khăn, nằm ngoài danh sách. Và dựa trên thực tế, chúng con hỗ trợ ngoài những suất 3 triệu, thì trong chiều nay có 1 suất 1 triệu, 1 suất 2 triệu, 1 suất 5 triệu và 1 suất 4 triệu, tùy theo hoàn cảnh.

Ngày 24.10.2013

Xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam

Trong 4 nhà chúng con đi thăm, có 2 nhà không khó khăn nhiều bằng các nhà kia, chúng con hỗ trợ một nhà 1 triệu đồng, và 1 nhà 500.000 đ. Ngoài ra, có một nhà được hỗ trợ 3 triệu đồng.

Xã Điện Nam Bắc, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Trong trao đổi với các cán bộ xã, chúng con được biết ở đây có 16 nhà sập, 18 nhà tốc mái 100%, 28 nhà tốc mái 50 – 70% (cũng giống như thông tin tiền trạm mà chúng con đã có). Ở đây chúng con phát 50 phần, 1 phần phát sinh, hầu hết là người già.

Trong lúc một sư cô trong đoàn đang đứng một góc để chụp hình thì có bà Phạm Thị Diệp đến gửi lời cảm ơn đoàn, và chia sẻ nỗi khổ tâm của bà. Bà cho biết nhà bà chỉ có hai mẹ con, con gái bà nay 35 tuổi bị tâm thần thường hay quậy phá trong nhà. Bà làm nghề mua bán ve chai, trồng trọt chút đỉnh trên mảnh đất rộng mấy chục thước vuông. Nhìn thấy chúng con là những người trẻ trạc tuổi con bà, có thể đi khắp nơi làm việc thiện, bà nghĩ tới con gái mà buồn cho con, tủi thân bà. Nhìn những giọt lệ lăn dài trên má bà, chúng con rất xúc động, biết rằng mình chỉ có thể gửi đến bà chút quà mọn với đôi lời an ủi. Dẫu biết ai cũng chịu nghiệp lực của chính mình, nhưng những đau khổ do nghiệp báo mang lại thật là nặng nề quá.

Xã Điện Dương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Tại đây chú Trưởng ban Mặt trận cho biết xã Điện Dương là một trong những xã đông dân nhất tỉnh, có 17.000 người. Từ lúc bị bão đến nay đã có 7 đoàn đến cứu trợ, nhờ có đài truyền hình đến đưa tin và quay phim tại địa phương. Dù ảnh hưởng của cơn bão số 11 lên bà con cũng gây khó khăn nhiều, nhưng xã cũng quyên góp để đi cứu trợ đồng bào thiên tai ở Quảng Bình, để thực hiện tinh thần tương thân tương ái của người Việt.Tại đây, chúng con trao 300 phần quà và phong bì tiền, thêm 1 phần phát sinh cho một cụ bà không có tên trong danh sách. Trong những người đến nhận quà, có đủ thành phần, người già, phụ nữ, trẻ con, và cả thương binh phải đi xe lăn đến nhận.

Người thương binh này phải đi xe lăn đến để nhận cứu trợ

Ngày 25.10.2013

Xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam

Sáng hôm nay, chúng con đi đến địa phương xa xôi vùng núi phía bắc của Tỉnh Quảng Nam. Chúng con khởi hành lúc 7:00. Trên đường, vừa qua Thị trấn Ái Nghĩa là đoạn đường nhỏ khó đi. Đến xã Đại Đồng thì đường bị sình lầy kéo dài cho tới xã Đại Lãnh, xe bị dằn xóc liên tục.

Qua làng Hà Dục Bắc thì tới xã Đại Lãnh. Chúng con tới chùa Hoa Yên vào lúc 9:00. Bà con đã đợi ở đây từ sớm. Tới nơi, chúng con chia hai nhóm, một nhóm sắp xếp quà, một nhóm trò chuyện thăm hỏi bà con. Được sự yểm trợ dễ thương của Sư Cô Trụ Trì, chúng con chia sẻ đôi điều về niềm hạnh phúc khi còn có các giác quan tốt, khi còn thở, v.v… và mời bà con hát cùng chúng con vài bài thiền ca. Những khuôn mặt già nhăn nheo hay những khuôn mặt trẻ chất phác đều thư giãn ra, nở những nụ cười vui tươi làm chúng con ấm lòng.

Những nụ cười tươi vui làm chúng con ấm lòng

Tại điểm cứu trợ này có rất nhiều người già, nhiều người trên 70, 80 tuổi. Có những cụ đã trên 80 tuổi mà ở một mình, tự nấu ăn lấy, rất tội nghiệp. Bão vô làm nhà tốc mái, nhiều người chưa có điều kiện lợp lại.

Ngoài hình ảnh những người già neo đơn, đập vào mắt chúng con còn có hình ảnh những người khuyết tật nhưng rất sốt sắng giúp việc cho chùa, có người bị câm điếc, có người bị gù lưng.

Tại đây tổng cộng chúng con phát 200 phần theo danh sách và 1 phần phát sinh.

Hội người khiếm thị, huyện Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam

11:15 chúng con lên đường tới văn phòng Hội người mù huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Chúng con đến nơi sớm hơn giờ hẹn nhưng những người khiếm thị đã có mặt đầy đủ.

Người mắt sáng khi gặp bão đã khó khăn thì người khiếm thị càng khó khăn. Khi con hỏi thăm, một chú chia sẻ rằng nhà chỉ có hai mẹ con. Mẹ chú già yếu còn chú thì tật nguyền. Chú sống nhờ tham gia Hội người khiếm thị, được học và làm nghề xoa bóp, bấm huyệt và bán hàng rong. Những lúc trời khô ráo thì dễ kiếm tiền hơn khi mưa gió. Khi bão tới làm tốc mái nhà, thì nhờ bà con thương tình lợp lại mái giùm. Thật là càng đi càng thấy nhiều cảnh khổ khác nhau, và chúng con càng thấy mình quá may mắn trong cuộc đời.

Quà cứu trợ cũng đến được với những người khiếm thị tỉnh Quảng Nam

Lúc 13:00, chúng con phát xong 46 suất quà và phong bì tiền, cộng thêm 4 suất phát sinh ngoài danh sách.Trên đường trở về, ai cũng thấy nhẹ nhàng vì đã hoàn thành nhiệm vụ mà tăng thân và quý thí chủ xa gần giao phó, trong đó đặc biệt là Tổ chức thiện nguyện Mắt thương nhìn cuộc đời (Eyes of Compassion Org. – Canada) là đơn vị đã tài trợ cho chúng con phần lớn số tịnh tài cho chuyến cứu trợ tại Tỉnh Quảng Nam này.

Cùng đi với chúng con trong đợt cứu trợ này còn có em Uy là tình nguyện viên cư sĩ thuộc tăng thân Mây Thong Dong, và cô Nga là vị cư sĩ tiếp hiện ở Quảng Nam. Cứ mỗi lần nhìn thấy nhà nào khổ quá là cô Nga lại bỏ thêm một phong bì nữa phụ với đoàn tặng cho người nghèo. Cô Thu, mẹ của sư cô Tạng Nghiêm cũng có mặt và yểm trợ cho đoàn việc ăn uống, để chúng con có thể tập trung làm việc cứu trợ mà thôi.

Những hình ảnh ấy làm chúng con nhớ đến bác Đính (ba của sư cô Trang Nghiêm và thầy Pháp Nhĩ), và mẹ Diệu Hiền (mẹ của thầy Pháp Độ) đã đồng hành với chúng con trên chặng đường Quảng Bình. Hai mái đầu bạc phơ luôn nhanh nhẹn phụ giúp chúng con trong việc cứu trợ. Chúng con nhớ nụ cười và dáng vẻ dong dỏng cao của bác Đính. Chúng con nhớ mẹ Diệu Hiền vẫn tươi cười đứng phụ phát quà, trong lúc đôi chân mẹ sưng húp lên vì bệnh ở chân mẹ không cho phép đi lại nhiều hay đứng lâu.

Và cả những anh tài xế xe 16 chỗ, xe tải chở hàng đều rất hết lòng với đoàn, với công việc thiện nguyện.

Tất cả những hình ảnh ấy làm chúng con biết ơn vô bờ, và chính là niềm động lực cho chúng con trên con đường phụng sự.

Cuộc cứu trợ ở Quảng Bình và Quảng Nam vừa mới hoàn tất nhưng cũng chỉ là bước khởi đầu trong hành trình cứu trợ của chúng con. Mỗi năm miền Trung nước Việt Nam mình đều bị bão lũ. Dù nhà nước và những tổ chức thiện nguyện phi chính phủ có giúp tới đâu thì cũng không giúp hết được. Năm nào cũng có những đoàn cứu trợ lên đường. Có khi chính những đoàn cứu trợ cũng gặp nạn phải thiệt mạng dọc đường. Nhưng là con của Bụt, nhiệm vụ của chúng con là thực hành hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền, Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Địa Tạng. Chỗ nào khổ đau nhất, chỗ đó chúng con phải có mặt. Vì thế, nói đi là chúng con đi ngay.

Có đi mới thấy bát cơm mình ăn mỗi ngày, chiếc giường mỗi đêm mình ngủ, thật sự là tịnh độ, là thiên đường, mà rất nhiều người mơ ước không có được. Đi mới hiểu “tu” là cái gì rất thật, không phải là chuyện xa vời, “giúp đời” là cái gì rất cụ thể, ở ngay trong từng miếng cơm tấm áo. Bằng mọi giá phải đưa được phẩm vật đến tận tay người dân, bằng mọi giá phải đưa được tin trung thực và phản ánh được khổ đau của người dân đến mọi người trên thế giới trong thời gian sớm nhất. Để làm được những điều đó, những an nguy của cá nhân, những suy nghĩ cảm thọ riêng tư chỉ là chuyện nhỏ bên lề mà chúng con không màng đến.

Và trong lòng chúng con bắt đầu hướng về Hà Tĩnh, vùng đất đang chịu hậu quả nặng nề của cơn bão số 11 và trận lũ lụt sau đó. Đoàn của chúng con có những lúc cảm thấy rất mệt tưởng là mình không đi nổi nữa. Nhưng rồi nghe thấy đồng bào Hà Tĩnh đang gặp nạn, thì tình thương lại cho chúng con thêm sức mạnh. Chúng con lại sẵn sàng chờ đợi những tấm lòng từ bi ủy thác cho chúng con mang quà và tịnh tài đến giúp đỡ bà con vùng bão lũ. Những tình nguyện viên mà chúng con liên lạc được cũng đã tiến hành khảo sát những địa phương cần cứu cấp ở Hà Tĩnh. “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng”, “Môi hở răng lạnh”, “Một miếng khi đói bằng gói khi no”, truyền thống đẹp đùm bọc lẫn nhau khi khó khăn của người Việt có lẽ chính là nét đẹp đã khiến cho dân tộc ta luôn đứng vững trong những thời kỳ khó khăn nhất của lịch sử.

Chúng con xin thành tâm tri ân tất cả những vị ân nhân đã từ bi phát tâm cúng dường tịnh tài để cứu người, công đức ấy dù được nêu tên hay không, cũng đã trở thành phước đức vô lượng của Chư Liệt Vị. Rất nhiều hoa trái của niềm vui đã mọc lên giữa những vùng bão lũ, là nhờ ơn đức của chư vị, và chúng con cũng đã rất hạnh phúc được thay mặt chư vị đến với bà con, mang theo những món quà có ý nghĩa cả về vật chất lẫn tinh thần. Chính trong lúc thiên tai, cũng là lúc chúng ta nhận ra nhân tâm ấm áp. Sự an ủi, niềm vui của những người khốn khổ mà chúng ta khơi dậy được chính là tịnh độ trong tâm mà cả người cho và người nhận cùng được hưởng.

Chúng con kính chúc tất cả có thêm nhiều sức khỏe và vạn sự hanh thông, để lại có thêm nhiều điều kiện để cứu người, giúp đời. Thành kính nguyện cầu cho bà con vùng bão lũ sớm vượt qua khổ nạn, đời sống an vui, cầu mong cho đất nước luôn được thái bình.

Chúng con ni chúng Long Thành kính cẩn tri ân!

Nam mô Công Đức Lâm Bồ Tát!

Nam mô Hoan Hỉ Tạng Bồ Tát!

Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát!

 

Thêm một số hình ảnh về đợt cứu trợ:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thư kêu gọi cứu trợ lũ lụt

Nam mô Đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni,

Ngưỡng bạch Sư Ông,

Kính thưa Quý Thầy, Quý Sư Cô và Tăng Thân khắp chốn,

Nước Việt Nam ta có câu “máu chảy ruột mềm”, trong giờ phút này đây chắc hẳn những ai đang thực tập hạnh từ bi của Chư Bụt, Chư Bồ Tát không thể làm ngơ trước những thông tin đang được phát liên tục trên các phương tiện truyền thông về sự hung hãn và những thiệt hại do thiên tai bão lũ đang xảy ra khắp các tỉnh miền Trung từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi,… Có nơi sóng biển cao từ 10m đến 30m, có nhiều nơi bị ngắt điện, giao thông tắc nghẽn, nhiều căn nhà bị tốc mái, đổ nát do gió bão gây ra, nhiều gia đình thiếu ăn, trẻ con không được đến trường, và có thể có nhiều thiệt hại về người và của chưa thống kê được. Người thường nào nghe tin này hẳn cũng đau lòng, huống hồ là con của Bụt.

Vì tất cả có trong nhau, nên chúng con thấy rằng niềm thống khổ của những người đang gặp nạn cũng là nỗi khổ của chính mình, và ý thức được sự may mắn của mình khi còn được ở trong một không gian an toàn và ấm cúng, đầy đủ về ăn, mặc, ở. Nếu mình và thân nhân của mình đang ở trong vùng bão lũ thì chắc rằng sẽ rất khổ tâm và thiết tha mong đợi những bàn tay Bồ Tát mười phương cứu giúp.

Chúng con tự nhủ không thể khoanh tay ngồi yên trong lúc đồng bào mình gặp nạn. Nên chúng con rất mong muốn có thể tổ chức một chuyến đi cứu trợ do chính Quý Thầy, Quý Sư Cô và một số tình nguyện viên cư sĩ đem tịnh tài và phẩm vật đến chia sẻ khó khăn với đồng bào trong hoạn nạn. Vì vậy, chúng con viết thư ngỏ này, khẩn thiết kêu gọi những tấm lòng bác ái chung tay góp sức. Về phần Ni chúng Long Thành, chúng con xin trích quỹ chi dùng hàng ngày, số tiền là hai mươi triệu đồng cho hoạt động cứu trợ này. Nếu mỗi người góp thêm một ít tịnh tài theo khả năng của mình thì hy vọng sẽ đủ để chúng con tổ chức một chuyến đi cứu trợ càng sớm càng tốt.

Cứu người như cứu hỏa, một lần nữa chúng con tha thiết thỉnh cầu Quý Thầy, Quý Sư Cô, và Tăng Thân khắp chốn mang tin này đến với mọi người, mọi nhà; để chúng con sớm có thể thay mặt mọi người mang niềm vui đến cho những người đang gặp nạn, đúng như hạnh nguyện của Chư Bụt và Chư Bồ Tát mười phương. Chúng con xin thành kính tri ân.

Cứu người đang buổi lâm nguy

Hiện thân Bồ Tát từ bi giữa đời

Khó khăn chẳng quản vì người

Để cho Bụt hiện sáng ngời trong tâm.

Nam mô Bồ Tát Đại Bi Quán Thế Âm,

Nam mô Bồ Tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương,

Nam mô Bồ Tát Công Đức Lâm,

Thay mặt Ni chúng Long Thành kính thư,

Chúng con:

Thích Nữ Chân Phúc Nghiêm

Thích Nữ Chân Tịnh Quang

Thích Nữ Chân Thùy Nghiêm

Tb: Mọi đóng góp xin gởi về:

Nguyễn Thị Lê. cphucnghiem@gmail.com

TK: 101010001498265 Vietinbank. Chi nhánh 10 PGD Ngô Quyền, TPHCM. Nội dung: Cứu trợ lũ lụt.