Vũ điệu của đôi chân

CHƯƠNG 3

Vũ điệu của đôi chân

Thế giới này thật là kỳ lạ, có những điều tưởng chừng như cũ rích, cổ lỗ sĩ, quá thân quen, gần gũi đến độ chúng ta cảm thấy sự có mặt của chúng là điều tất nhiên, chẳng có gì hay ho để chúng ta chú ý, quan tâm cả. Chỉ vì chúng ta cứ nghĩ còn quá nhiều điều mới mẻ khác đang chờ chúng ta khám phá, tìm hiểu. Nào ngờ đâu, từ những điều bình thường ấy, Thầy đã mở ra một khung trời mới mẻ, mầu nhiệm biết bao. Nơi đó, đôi chân chúng ta tạo nên nhiều điều kỳ diệu, như một nhà họa sĩ với cây cọ của mình vẽ lên mặt đất những đường nét tuyệt tác của mình. Tâm An rất thích những bước chân của mình, đối với chú bước chân không phải là cây cọ vẽ mà là những vần thơ đi theo chú trong suốt con đường thiền hành mỗi sáng. Những câu thơ chạy dài được đệm bằng những bước chân đặt nhẹ như hôn vào mặt đất. Khi bước một bước chú thầm đọc: “Đã về, đã về” bước tiếp theo “đã tới, đã tới” từng bước, từng bước chậm rãi, nhẹ nhàng. Chú cảm nhận rõ lòng bàn chân tiếp xúc với mặt đất. Chú rất thích trò chơi này, bởi mỗi bước chân như một sợi dây dệt nên một bài thơ đẹp:

“Đã về, đã tới

Bây giờ, ở đây

Vững chãi, thảnh thơi

Quay về, nương tựa.

Nay con đã về

Nay con đã tới

An trú bây giờ

An trú ở đây

Vững chãi như núi xanh

Thảnh thơi dường mây trắng

Cửa vô sinh mở rồi

Trạm nhiên và bất động.”

Lời bài thơ rất hay, nhưng Tâm An chưa hiểu hết được. Ngộ nhỉ? Dù không hiểu hết nhưng vẫn cứ thích như thường. Chú nhớ hôm Thầy dạy thiền hành Thầy có nói:

– Đây là một phương pháp giúp ta trở về khám phá chính mình, rồi các con sẽ thấy sự kỳ diệu của đôi chân. Trước tiên, các con phải đặt tâm ý xuống lòng bàn chân, đi từng bước vững chãi, cảm nhận sự tiếp xúc giữa bàn chân với mặt đất. Ta đi thật tự nhiên, chánh niệm giúp ta đi an lạc và thảnh thơi như đi trong Tịnh Độ. Nếu cần đi đến đâu, dù khoảng cách không xa, ta cũng nên sử dụng phép đi thiền này. Phép thực tập này giúp ta sống sâu sắc trong từng phút giây của đời sống hàng ngày. Các con có thể kết hợp hơi thở với bước chân.Ví dụ như: thở vào ta bước hai bước, thở ra ta bước ba bước. Để hơi thở tự nhiên, không gò ép theo số lượng bước chân. Nếu hơi thở ngắn ta bước hai bước, hơi thở dài bước ba hay bốn bước tùy theo hơi thở của mình. Hoặc các con có thể bước theo bài thi kệ thiền hành như bài “đã về, đã tới”…

Với Tâm An, thì bước theo bài thơ là thích nhất, chú chưa thể theo dõi hơi thở và bước chân được. Lúc đầu chú đã thử nhưng đi một lát thấy mệt mỏi, tức ngực, khó thở. Chú chia sẻ với Thầy, Thầy bảo: chú đã gò ép hơi thở ,cố kéo dài ra nên có hiện tượng này xảy ra. Tâm An cảm thấy không thích thú với trò chơi này lắm, nên chú đổi lại bước theo bài thơ. Thế mà hay ra phết nhé! Tâm An cảm thấy vui, thấy thích giờ thiền hành hơn trước nhiều.

Đừng tưởng là bước chân chỉ có vậy thôi đâu. Còn rất nhiều điều mới lạ trong bước chân nữa. Hôm bốn thầy trò Tâm An ngồi lại với nhau, nói cho nhau nghe kinh nghiệm thực tập thiền hành. Tâm An rất sung sướng khi biết được nhiều điều kỳ diệu của đôi chân. Chú rất thích cách đi thiền của anh Tâm Từ. Anh Tâm Từ nghệ sĩ lắm, anh đã đi theo bài hát thầm. Tâm Từ chia sẻ:

– Dạ con kính thưa Thầy! Con đi thiền hành rất vui, con thấy đôi chân mình nhịp nhàng như đang nhảy theo một vũ điệu nào đó. Từ đó con không đọc thi kệ và hát các bài thiền ca chậm rãi và hai chân trở thành những bước nhảy kiểu mới, con thích gọi nó là vũ điệu của đôi chân. Không phải như các ca sĩ nhảy đâu, không phải Rock, Hiphop như lúc trước con biểu diễn cho hai anh xem đâu. Có lẽ đây là vũ điệu của bình an, của hòa bình, của những gì đẹp nhất, lành nhất mà con được biết. Dạ kính thưa Thầy, điều kỳ lạ từ lúc đó con còn khám phá ra rằng đôi chân cũng là một loại nhạc cụ đệm vào trong dòng thiền ca tuôn chảy. Một loại nhạc cụ kỳ lạ mà chưa nhạc sỹ nào tìm ra cả, nó tạo ra các khoảng lặng trong lòng, nó làm cho câu hát không vội vã mà trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát. Con để ý kỹ thì thấy khoảng cách giữa hai bước chân có một dấu lặng nhỏ xíu, mỗi lần nhận được, bắt gặp được khoảnh khắc bé nhỏ đó trong con luôn rúng động, hạnh phúc lâng lâng khó tả. Thật là tuyệt diệu. Dạ con kính thưa Thầy và các anh, con đã chia sẻ sự thực tập thiền hành của mình. Con xin Thầy từ đây cho con đặt tên pháp môn thiền hành này là vũ điệu của đôi chân nhé.

Tâm An nhìn anh Tâm Từ khâm phục lắm. Anh nói như một nhạc sỹ tài ba lỗi lạc đang bình phẩm về tuyệt tác của mình, say sưa, tràn đầy cảm hứng. Nghe Tâm Từ chia sẻ, Thầy vui lắm. Thầy biết Tâm Từ có năng khiếu âm nhạc, Thầy sẽ tưới tẩm và cho chú học nhạc để phát triển tài năng bẩm sinh của chú. Nhưng Thầy biết chưa đến lúc, Thầy muốn chú có chiều sâu tâm linh làm nền tảng trước, thì âm nhạc mới có chất thiền vị, mới đẩy tả được hạt giống thanh lương, trong sáng của cuộc sống, mở ra một dòng nhạc mới cho thế hệ trẻ bây giờ. Một dòng nhạc đưa người trẻ về với con người chân thật, về với thiên nhiên, với tình yêu thương nhân loại, con người. Một dòng nhạc đi xuyên qua hai thái cực, hoặc là quá sầu thảm, bi thương; hoặc là quá nhộn nhịp, kích động, đưa con người vào những tâm trạng không lành. Âm nhạc là một loại thức ăn không thể thiếu của cuộc sống. Âm nhạc vốn dĩ nó không xấu nhưng do các nhạc sĩ sáng tác đã được nuôi dưỡng, được tưới tẩm trong một môi trường xã hội như vậy, nên phản ánh lại vào âm nhạc các chất liệu sầu thương, kích động, đứt ruột… Bởi vậy, chỉ cần nhìn vào một số bài hát của thời nay, ta có thể thấy được xã hội bây giờ đã nuôi dưỡng con người, đặc biệt là giới trẻ bằng các loại thức ăn nào. Thầy biết Tâm Từ có khả năng đó, nhưng hãy còn quá sớm gieo vào đầu một đứa trẻ mười ba tuổi, hãy để chú sống thực tập đi sâu hơn vào thiền học thì thiền ca là một loại hoa trái mà chú có thể dâng tặng cho cuộc đời. Thầy mỉm cười rồi nói với Tâm Từ:

– Tâm Từ con! Thầy rất vui khi nghe con chia sẻ sự thực tập thiền hành, Thầy cảm nhận được niềm hạnh phúc của con. Thầy cũng biết con rất có năng khiếu âm nhạc, Thầy hứa sẽ cho con học nhạc, nhưng chưa phải lúc này. Thời gian này, con nên đào sâu hơn vào sự thực tập từng uy nghi, tế hạnh mà thầy đã dạy. Con có biết tại sao như vậy không?

– Dạ thưa, tại Thầy muốn con là một đứa con ngoan.

– Chỉ một phần thôi, còn chính yếu thầy muốn con có chiều sâu trong cuộc sống, con sống chánh niệm trong mỗi phút giây, tức là con cảm nhận được cuộc sống một cách sâu sắc nhất, trọn vẹn nhất. Khi đời sống tâm linh của con được nâng cao, thì khả năng nhìn nhận của con bén nhạy, thực tế và đầy đủ hơn. Lúc đó, con có làm cái gì cũng trở nên tốt đẹp cả. Nếu con sáng tác ra các bản thiền ca, thì lời ca của con trở thành một dòng suối thanh lương, trong mát. Chỉ có con đường thiền tập nó mới giúp con đi đến đỉnh cao của nghệ thuật. Lúc đó con mới là một nghệ sĩ chân chính. Một người nghệ sĩ mà thiếu chất tu sĩ làm nền tảng thì chỉ là một dòng nước nhỏ không đủ khả năng gột rửa những nhiễm ô dơ bẩn của cuộc đời, mà trái lại nó sẽ bị cuộc đời làm ô nhiễm luôn, dòng nước đó uống vào lâu ngày sinh bệnh. Các con có muốn tạo ra những dòng nhạc bệnh hoạn không? Hay các con muốn những bài ca của mình là dòng nước cam lộ thanh lương tươi mát, chữa lành vết thương của nhân loại? Tất cả những gì các con làm ra đều phản ảnh tâm thức của các con. Tâm thức bệnh hoạn đầy dẫy những hạt giống si mê, giận hờn, thèm khát, kích động, sợ hãi… thì sản phẩm của các con làm ra sẽ chứa đựng những hạt giống đó. Ngược lại, nếu tâm các con chứa đựng sự hiểu biết, thương yêu thì các con cho ra những tác phẩm mang đầy hạt giống chân thiện. Do đó, thiền hành là một phương pháp giúp các con lắng dịu lại những tâm hành bất thiện, gây khổ đau cho mình và cho mọi người và khơi lên những tâm hành thiện. Tâm hành thiện càng nuôi lớn thì cuộc sống của các con trở nên thánh thiện hơn, các con biết thương yêu nhiều hơn.

Ba chú ngồi nghe Thầy chia sẻ một cách say mê, không chán, đôi mắt ai cũng sáng long lanh nhìn Thầy chăm chú như nuốt từng câu, từng chữ, từng lời. Thầy tiếp tục:

– Khi các con thấy mình buồn bực, giận hờn, ganh ghét, các con đừng vội làm điều gì cả, chỉ nên ra ngoài trời đi thiền khoảng mười phút thì sự giận hờn trong các con lắng dịu bớt, lúc đó các con có thể thấy được tại sao mình lại giận, nguyên nhân từ đâu. Nếu biết cách nhìn sâu, trung thực không bảo vệ mình mà chê người, thì các con sẽ thấy được nguồn gốc của nó. Có thể do sự hiểu lầm. Tri giác, suy nghĩ của chúng ta thường hay sai lầm, không thực, mình thường cho là mình đúng, người kia sai, mình luôn bảo vệ ý kiến, những suy nghĩ của mình mà không thấy được cái hay, cái đẹp của những ý kiến khác, từ đó sinh ra nhiều chuyện không hay, sinh ra hiểu lầm, trách móc nhau đủ thứ. Nhờ đi thiền chúng ta làm lắng dịu tâm ý, dừng lại bớt các suy nghĩ không lành trong đầu đang dấy khởi. Lúc đó chúng ta luôn bình tâm hơn mà nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, nếu các con giữ vững được từng bước thiền hành thì cuộc sống của các con ít gặp khó khăn, anh em không có sự bất hoà, lúc nào cuộc sống cũng tươi đẹp.

Hôm đó, Thầy đã hát cho các chú nghe bài Tâm An, Tâm An rất thích, bài hát mới hay làm sao, mà đặc biệt tên bài hát là tên mình nữa chứ.

“Quê hương đi về trên mỗi bàn chân

Bao nhiêu con đường mở ra độ lượng

Tâm không mong cầu bình an là vậy

An vui nơi này, an khắp mọi nơi

Niềm vui trải dài sự sống.

Tôi đi vững đôi bàn chân

Mắt tôi mở to giữa đời này đây.

Lòng không cầu làm mây trắng bay

Khổ đau từng nuôi ta lớn lên

Xin cho nắng mưa ngày sau

Vững một niềm tin chẳng hề nhạt phai

Hạnh phúc chưa từng là hạnh phúc mình tôi

Vì biết thương mình là đã biết thương trần gian.”

Giọng Thầy hát rất hay, Thầy như khơi dậy trong tâm hồn các chú một sự hiểu biết sâu sắc, một tình thương rộng lớn mênh mông -Tình người. Tâm Từ ước gì sau này mình cũng làm được những bài thiền ca như vậy. Còn Tâm An, lòng chú như mở hội. Bài hát như một lời nhắn nhủ rằng: nếu chú sống được như tinh thần bài hát thì chú mới thực sự là Tâm An. Đến bây giờ chú cảm thấy tên mình hay đến lạ. Chú tự nói với lòng giờ đây mình phải tập đi sao cho “mỗi bước chân là quê hương” mình không cầu làm một nghệ sĩ như anh Tâm Từ, mình chỉ muốn mỗi con đường mình đi qua đều trải dài sự bình an, độ lượng, tha thứ bao dung thôi. Chú thắc mắc không hiểu tại sao “Tâm không mong cầu bình an là vậy, an vui nơi này, an khắp mọi nơi”. Chú định hỏi Thầy nhưng lại thôi. Chú nghĩ biết đâu được mình thực tập thiền đi rồi mình hiểu ra nó, chứ đụng cái gì mình cũng hỏi, có lúc Thầy trả lời có khi Thầy chỉ nói, con cứ thực tập đi rồi dần dần con tự hiểu, tự cảm nhận. Do đó có nhiều thắc mắc chú không hỏi nữa, chỉ lâu lâu chú thấy điều gì đó không hỏi chú không chịu được chú mới hỏi thầy thôi.

Sáng nào cũng vậy, bốn thầy trò cùng đi thiền hành quanh sân chùa, đi qua các hàng cây, những luống rau xanh mơn mởn. Không khí buổi sáng trong lành, êm ả, yên tĩnh. Từ khi thực tập nghe chuông, Tâm An đã biết lắng nghe mọi thứ âm thanh của thiên nhiên. Sự lắng nghe của Tâm An bây giờ khác trước nhiều. Thầy từng dạy các chú phải học hạnh lắng nghe của Bồ Tát Quan Thế Âm. Lắng nghe để giúp người bớt khổ, lắng nghe với tâm không thành kiến, không phán xét. Nói như vậy chứ khó lắm đó. Nghe âm thanh của đất trời thì còn dễ hơn là nghe hai anh Tâm Chánh, Tâm Từ nói lúc buồn bực, hoặc lúc Tâm An phạm những sai sót được nhắc nhở, nhưng mình ít khi nào nghe với tâm không thành kiến, không phán xét mà trái lại mặc cảm tự ti nổi lên tràn trề.

Những vũ điệu của đôi chân không chỉ dừng ở đó, mỗi bước chân là mở ra một khung trời mới, lý thú vô cùng, nó dẫn dắt con người vào ba cánh cửa tự do, thảnh thơi, an lạc. Thầy đã chia sẻ điều đó với anh Tâm Chánh khi anh nói cho Thầy nghe kinh nghiệm thiền hành của mình.

– Dạ con kính thưa Thầy! trước đây Thầy dạy con đi thiền cho ba, cho mẹ để nối lại sự truyền thông với gia đình. Con đã thực hành ba tháng nay, bước một bước con đi cho ba, bước một bước con đi cho mẹ. Qua một thời gian, tự nhiên trong con cảm thấy mình có thể thương được mẹ, thông cảm được cho ba. Con thấy sự tất bật của ba, không bao giờ có thời gian bước được những bước chân chậm rãi, thảnh thơi như con. Ba đi như chạy, như đuổi với thời gian, ba con đầu tư tất cả thời gian cho công việc, ba đã đem về nhà nhiều thứ đắt tiền nhưng quanh năm con ít khi nào được gần ba nhiều cả. Mẹ con cũng vậy, nhiều khi đi làm về mệt, mẹ còn la con vô cớ nữa. Con buồn mẹ nhiều lắm. Ngày còn ở nhà, con chỉ có một ước muốn nho nhỏ thôi mà khó ơi là khó, được nắm tay ba mẹ vào mỗi buổi chiều cuối tuần đi dạo chơi trong công viên. Con cảm thấy ba nẹ không thương con, hắt hủi con, con đã từng nghĩ mình không thể nào thương được ba mẹ, những người suốt ngày ra lệnh, nếu không làm theo lệnh thì bị úp mặt vào tường, nhiều khi không phải lỗi của con mà cũng bị phạt, bị đánh, tức ơi là tức. Thế mà, kỳ diệu lắm, con đã đi thiền cho ba, cho mẹ con mới thấy được sự mệt mỏi, đau khổ của ba, ba không còn thời gian cho chúng con. Rồi con thấy thương mẹ nhiều hơn, con nhìn thấy sự chán chường, buồn bực nơi mẹ mỗi tối. Càng đi như thế thì bao nhiêu giận hờn, bực tức rơi rớt lại trên đường. Con đã biết cảm thông, biết thương yêu ba mẹ. Nhiều khi con ao ước một ngày nào đó ba mẹ được bước đi những bước chân thảnh thơi, bình an như con đi, nhưng điều đó chắc khó lắm, bởi đến bây giờ mà ba mẹ vẫn chưa hết giận con, vì con đã bỏ nhà vào chùa ở. Dạ thưaThầy! nếu mình tiếp tục đi như vậy thì mình sẽ chuyển hoá được những giận hờn của ba mẹ phải không Thầy? Nếu con đã thương được thì ba mẹ sẽ thương con, hiểu con nhiều hơn phải không Thầy?

– Tâm Chánh! Con giỏi lắm, con đã tự tháo gỡ những ngục tù trong lòng mình, con đã bỏ đi gánh nặng trên vai mà bước vào sự nhẹ nhàng, sự thanh thản của tâm hồn. Lòng con đã chuyển hoá dần dần con sẽ cảm hoá được ba mẹ mình. Các con, người ngoài đời như ba mẹ Tâm Chánh chỉ biết đi cho mau tới, chỉ biết chạy đuổi mục đích xa vời trong tương lai mà đánh mất giây phút hiện tại. Nhưng tương lai được làm trong hiện tại các con ạ. Còn chúng ta đi chỉ để mà đi thôi, không cầu mau tới, không mong mỏi một điều gì, chỉ biết một việc là an trú trong từng bước chân, trong từng hơi thở thôi, thưởng thức, cảm nhận sâu sắc những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại, nhận diện được sự an lạc, thảnh thơi, hạnh phúc với những gì mình đang có, tức là ta đang xây dựng cho một tương lai bình an, tươi đẹp đó các con. Tâm Chánh, con đã đi để mà dừng lại. Mỗi bước chân chánh niệm là sự dừng lại của các tâm hành bất thiện, dừng lại được thì mới có thể thấy rõ hơn, nhìn sâu hơn vào sự vật hiện tượng. Đó là những bước chân thành công, những bước chân như thế sẽ nâng chúng ta lên, sẽ là chiếc chìa khoá mở cánh cửa tự do thứ nhất. Giờ đây, các con cố gắng thực tập thiền hành rồi các con sẽ gặt được nhiều hoa trái của nó đem lại.

Thật vậy, hoa trái đầu tiên của Tâm An là niềm hạnh phúc khi hiểu ra được “tâm không mong cầu, bình an là vậy”. Khi nghe thầy giảng cho Tâm Chánh, chú đã mơ hồ nhận ra điều gì đó, nhưng một thời gian sau, khi đang thiền với Thầy, chú cảm nhận lòng mình thật yên tĩnh, mỗi bước chân như dạo chơi không một ước muốn nào tồn tại trong đầu chú lúc đó. Sự bình an xuất hiện một cách nhẹ nhàng. Chú tự mỉm cười, chú hiểu nếu an trú trong bước chân hiện tại thì sự mầu nhiệm, phép lạ hiển bày ra trước mắt. Chú thích thú với khám phá này lắm. Chú cảm thấy con đường thiền hành có xa bao nhiêu cũng không quá một bước chân. Đó mới là điều kỳ lạ, một điều mà người lớn có quá nhiều bận rộn, lo toan khó mà tiếp xúc được. Tự nhiên chú cảm thấy tình yêu thương dâng trào trong lòng. Chú muốn chia sẻ niềm hạnh phúc với mọi người, mọi loài, và cả con chó Kinô, con mèo nữa. Chú thầm hát:

“Hạnh phúc chưa từng là hạnh phúc mình tôi

Vì biết thương mình là đã biết thương trần gian”

Chà! thiền hành chỉ là đi thôi mà vi diệu lắm. Vũ điệu của đôi chân sẽ mãi mãi nhịp nhàng trên vạn nẻo đường, mỗi bước chân là thông điệp của tình thương và sự hiểu biết:

Em có nghe chăng ?

Lời yêu thương trong từng bước chân

Em có thấy không?

Gót sen hồng nở hoa chân lý

Từ bi và trí tuệ

Bừng sáng từng sát na

Thân tâm thường an trú

Xin nguyện thoát trầm luân.Mỉm cười

 

Những trang viết trước:

Chương 1: Tiếng gọi của Thế Tôn

Chương 2: Thế giới của thơ và nhạc

Mời quý bạn đọc đón xem phần tiếp theo của Phương Trời Lạ do sư cô Chân Vỹ Nghiêm viết tặng khung trời tuổi thơ.

Chương 4: Những chiếc bình ngồi yên

 

Thế giới của thơ và nhạc

 

CHƯƠNG 2

Thế giới của thơ và nhạc


Cuộc sống ở trong chùa sao mà đẹp quá! Tâm An hạnh phúc được học những điều kỳ lạ từ cuộc sống đời thường mang lại. Chú được chơi đùa với hai anh, được làm việc chung, lúc quét sân, lúc thì lau thiền đường, lúc thì ở nhà bếp tập nấu ăn. Làm việc gì chú cũng thấy vui vẻ cả, bởi trong mắt chú cái gì cũng có một bí mật cần được khám phá và tìm hiểu.

Đã mười ngày rồi, từ khi bước chân vào nơi này, chú cảm thấy cuộc sống thật nhẹ nhàng, làm việc gì cũng cảm thấy thú vị. Công việc ở đây cũng như lúc ở nhà thôi. Thỉnh thoảng chú cũng phụ mẹ nhặt rau, quét nhà, dọn cơm mà sao lúc đó mình chẳng thấy thích thú chút nào cả. À! Chú biết tại sao rồi. Ở đây, cái gì cũng có thể biến thành thơ cả, mỗi cử chỉ mỗi hành động đều có một bài thơ. Vừa mới thức dậy thôi mà cũng có thơ nữa đó, ngộ nhỉ, lời thơ hay tuyệt:

“ Thức dậy miệng mỉm cười

Hai bốn giờ tinh khôi

Xin nguyện sống trọn vẹn

Mắt thương nhìn cuộc đời.”

Chú rất thích bài thơ này, mỗi buổi sáng thức dậy chú đều đọc thầm trong miệng rồi tự mỉm cười. Bài thơ giúp Tâm An nhiều lắm, chú không còn uể oải, lồm cồm bò dậy rồi ngủ lại như trước nữa. Nó như bơm vào người chú một sinh lực, một niềm vui khi được thức dậy, được sống hai mươi bốn giờ trong chánh niệm và nhìn đâu chú cũng thấy thương yêu. Bắt đầu một ngày mới đẹp thì cả ngày tốt đẹp. Ừ lạ nhỉ? Hèn gì mấy cô, mấy bác bán hàng đều muốn mở hàng gặp được người dễ thương, bán nhanh để hôm đó hàng bán đắt. Không phải là mê tín đâu nhé. Cái đó là kinh nghiệm của các người bán hàng truyền lại với nhau như vậy, lâu dần thành một tục lệ, một lối nghĩ chung. Chú dự định hôm nào sẽ hỏi Thầy  tại sao bắt đầu một ngày có niềm vui, có hạnh phúc là trọn một ngày an lành trôi qua.

Có nhiều hôm, khi nghe chuông thức chúng, chú cũng ngồi dậy, cũng đọc thi kệ và mỉm cười, nhưng nụ cười còn ngái ngủ lắm, nó nhăn nhó, méo xệch, nhìn khó coi làm sao. Thỉnh thoảng chú thấy hai anh cũng cười như vậy.

Sau khi đọc thi kệ thức dậy, chú từ từ xếp mền và thầm đọc:

“ Xếp mền cho niềm vui

Sống ngăn nắp cuộc đời

Thân và tâm thúc liễm

Phiền não phải rụng rơi”.

Hay nhỉ, chỉ xếp mền thôi mà phiền não rụng rơi lả tả như lá mùa thu. Ủa! Như vậy có cây phiền não thật sao? Cây phiền não nó ở đâu nhỉ? Ở trong tâm chứ ở đâu, mình đọc “ thân và tâm thúc liễm, phiền não phải rụng rơi” mà còn suy nghĩ lung tung. Chợt chú nhớ lại lời Thầy dạy: “Con làm gì cũng nên tập trung, biết việc mình đang làm, đừng để tâm trí đi lang thang đâu đó”. Chú giật mình, mới biết mình đang xếp mền. Ồ! Chỉ có chừng đó thôi mà mình quên hoài. Chú nhoẻn miệng cười với cái tật hay suy nghĩ lung tung của mình. Rồi chuẩn bị bước xuống giường, cũng có một bài kệ xuống giường nữa.

“ Sáng trưa chiều và tối

Mọi loài hãy giữ gìn

Nếu dưới chân lỡ đạp

Xin nguyện chóng siêu sinh

Nam mô Bồ Tát Siêu Lạc Địa (ba lần)”

Bài kệ này làm cho chú phát khởi được tâm thương yêu, chú biết quý trọng sự sống của mọi loài từ loài lớn đến loài bé. Đọc bài kệ lên chú cảm thấy rằng nếu mình không cẩn thận, không chú ý thì sẽ gây ra bao nhiêu là đau khổ cho những loài côn trùng ở dưới đất. Cho nên mỗi khi lỡ đạp chết một con sâu, con kiến, thì chú thầm niệm: “ Nam mô Bồ Tát Siêu Lạc Địa” để cầu siêu cho chúng.

Từ trong tâm hồn trẻ thơ của chú, ngọn lửa yêu thương đang được nhen nhúm. Tâm An hạnh phúc khi phát hiện ra rằng các bài thi kệ đã nuôi lớn những ước mơ cao đẹp, làm cho trái tim chú mở ra, hạt Từ Bi đang nẩy mầm. Chú ao ước mọi người cũng được học, được thực hành các bài thi kệ này, thì cuộc sống họ đẹp hơn, hạnh phúc hơn. Chú đã chia sẻ điều này với Thầy và các anh. Thầy khuyên các chú nên viết ba bài thi kệ này dán trên đầu giường để mỗi buổi sáng nhìn thấy và để nhắc nhở cho các anh em cùng thực tập. Cả ba chú vui lắm. Sau khi về lại phòng, ba anh em tụm lại với nhau chép, trang trí, vẽ các bài thi kệ sao cho đẹp nhất. Anh Tâm Chánh vẽ đẹp lắm, Tâm An, Tâm Từ mừng rỡ, vỗ tay hoan hô anh khi thấy các bức tranh hiện ra theo ý muốn của các chú. Anh Tâm Chánh thực xứng đáng là một anh cả. Anh đã hỏi ý kiến của hai chú nên vẽ những gì. Thật là gay go, bởi ý của Tâm An thì thích vẽ chú tiểu đang thao tác những sinh hoạt trong thi kệ, như thức dậy thì vẽ chú tiểu ngồi trong mùng, dụi mắt, vươn vai, mỉm cười… Còn Tâm Từ thì thích vẽ cảnh hoa lá, cỏ cây, bầu trời xanh, con mèo, con kiến, con sâu… Hai chú cứ cãi nhau, cho ý mình hay hơn. Chỉ có Tâm Chánh ngồi im lắng nghe hai chú. Thấy hai chú đi quá xa, anh lên tiếng:

– Thôi được rồi hai em, anh sẽ vẽ bài thức dậy như ý của Tâm An, xếp mền mùng anh sẽ vẽ chú tiểu xếp mền và những chiếc lá rơi rơi trong không gian đó, còn xuống giường anh sẽ chìu ý Tâm Từ vẽ con sâu, con kiến, con mèo dưới chân giường. Như vậy có được không?

Nghe anh nói, hai chú cười tít mắt, cuối cùng ai cũng được thỏa nguyện rồi. Tâm An rất thích cách giải quyết của anh Tâm Chánh. Càng lúc chú càng thấy anh ấy kỳ lạ, tuy ít nói hơn anh Tâm Từ nhưng anh biết lắng nghe và luôn làm người hòa giải các ý kiến của hai chú. Thầy khen anh thực tập tốt “ý hòa đồng duyệt” giờ thì Tâm An mới hiểu thế nào là “ý hòa đồng duyệt”, thực tập được điều này thì anh em không có cãi nhau, không giận nhau khi cùng làm việc chung. Chú nhìn qua Tâm Từ rồi cười, Tâm Từ cũng cười lại, ánh mắt hai chú ngời sáng niềm thương yêu.

Mười ngày đầu tiên, Thầy chỉ dạy Tâm An thực tập ba bài thi kệ đó thôi. Rồi Thầy trao cho chú cuốn sách “Bước tới thảnh thơi” để học thi kệ. Cầm quyển sách lên mở ra chú thấy rất nhiều bài thơ. Chú không biết liệu mình có học hết được không nữa. Ba bài thi kệ đó chú đã thuộc lòng, đã quen đọc nó trước khi làm, hoặc vừa theo dõi hơi thở vừa đọc.

Đến bây giờ, chú đã thực tập thêm năm bài thi kệ nữa: Vào nhà cầu, vặn nước, đánh răng, rửa mặt và soi gương. Chú thấy đi tu vui thật. Những chuyện làm vệ sinh cá nhân mà cũng thành một sự thực tập. Thầy có nói rằng: “Người biết cách thực tập thì nơi nào cũng tu được, ngồi trên bàn cầu cũng tu được, không nhất thiết là phải ngồi trên thiền đường mới tu, mình phải tu trong mỗi hành động, mỗi lời nói. Do đó, việc vào nhà vệ sinh cũng quan trọng như vào thiền đường. Chú thấy lời nói đó rất đúng, rất  hay.

Tâm An để ý thấy hai anh Tâm Chánh và Tâm Từ thường gõ cửa ba tiếng trước khi bước vào nhà vệ sinh. Lạ nhỉ? Có ba anh em trong phòng rồi, thì trong nhà vệ sinh không có ai, sao lại gõ cửa? Chú đem thắc mắc của mình hỏi anh Tâm Chánh, Tâm Chánh trả lời:

– Mình gõ cửa là thắp lên ý thức chánh niệm, để khi bước vào nhà vệ sinh mình sinh hoạt nhẹ nhàng hơn, có ý tứ hơn. Mình không thể vào nhà vệ sinh mà tạo ra quá nhiều tiếng ồn, rất thô tháo, không đẹp chút nào. Anh đã từng được Thầy chia sẻ vì trước đây, anh cứ để bị thúc bách mới vội vàng chạy ù vào toilet, vào trong rồi, anh lại mở nước ào ào, múc ca nước lên dội thì thả đại cái ca xuống xô. Không ngờ, Thầy biết hết, chờ anh đi ra khỏi nhà vệ sinh Thầy gọi lại bảo:

– Tâm Chánh, là người tu chánh niệm con nên để ý hơn. Khi thấy mình muốn đi vệ sinh thì nên đi ngay, đừng để chần chừ, đến lúc thúc bách mà vội vội vàng vàng. Con nhớ phải gõ ba tiếng trước khi vào, dầu biết trong ấy không có người. Thầy có dạy con các bài thi kệ vào nhà cầu, vặn nước… chỉ để con làm với ý thức chánh niệm. Khi có chánh niệm, mọi hành động của con sẽ trở nên đẹp, nhẹ nhàng, khoan thai. Con để ý mình nên dội nhà vệ sinh sao cho càng ít nghe tiếng động càng tốt, mình nên để ca múc nước xuống xô, đừng thả như vậy. Con biết không, nhà cầu cũng là nơi để thực tập và thiền quán.

Lúc đó, Tâm Từ từ nhà vệ sinh bước ra, chú nghe anh Tâm Chánh giải thích rồi nói thêm:

– Tâm An biết không? Dù biết không có người nhưng anh vẫn phải gõ cửa. Bởi vì trong ấy có những loài sinh vật ăn đồ dơ, nghe đâu có cả các loài ngạ quỷ nữa đó. Cho nên khi gõ ba tiếng là để báo hiệu xin phép cho mình được sử dụng nhà vệ sinh, để họ tránh mà mình cũng không thải đồ dơ lên trên đầu họ, tạo cho họ sinh tâm sân hận tội lắm. Mình làm như vậy là vì thương họ. Do đó, mình đừng tưởng mình vào nhà cầu là không có ai, mình làm gì cũng được không ai biết. Họ biết đó, nên mình phải thực tập cho đàng hoàng, đừng làm quá ồn và trước khi đi ra phải nhìn lại xem nhà vệ sinh đã sạch sẽ, tươm tất như lúc mới vào chưa? Nếu chưa, thì phải làm sạch rồi mới ra.

Nghe như vậy, Tâm An sợ lắm. Có ma ở trong toilet ư? Vậy ai mà dám đi cầu lúc ban đêm. Chú nói:

– Em sợ lắm! Lỡ ban đêm em muốn đi vệ sinh thì làm sao đi được, hai anh dẫn em đi nghe. Em sợ gặp ma.

Tâm Chánh cười:

– Không sao đâu, mình thực tập thi kệ bước vào nhà cầu, làm trong chánh niệm là em sẽ không còn thấy sợ. Khi em sợ là do em không để hết tâm ý vào các động tác của mình, đọc thi kệ như một cái máy, mà tâm ý thì vẽ vời lên nhiều hình ảnh ma quái thôi. Đừng sợ, nếu thấy sợ, em theo dõi hơi thở, hơi thở sẽ là lá bùa trừ ma quái đó. Đó là cách Thầy chỉ cho anh lúc mới vào chùa, vì sợ ma nên anh được sống chung phòng với Thầy, sau đó có Tâm Từ, Thầy mới cho hai đứa ở phòng bên cạnh. Nhưng ở hai anh em, buổi tối đi toilet cũng sợ, nên Thầy cho thêm các bài thần chú để tụng thầm, em có biết các bài thần chú đó không?

– Dạ không. Anh dạy cho em đi.

Tâm Chánh ngồi lại ngay ngắn chắp tay đọc:

Vào nhà cầu

“ Không dơ cũng không sạch

Không bớt cũng không thêm

Trí tuệ Ba La Mật

Không có pháp nào trên”.

– Đó là thi kệ, không phải thần chú, anh xạo quá. Thần chú đó em cũng biết như:

Đi tiểu

Đi tiểu trong bản môn

Đổi trao nào kỳ diệu

Ta và người không hai

Không dư mà không thiếu.

– Em không tin đâu, các anh ghẹo em thôi.

Cùng lúc đó có tiếng gõ cửa, ba chú đứng dậy mở cửa rồi xá chào Thầy. Thầy cười hỏi:

– Các con đang nói chuyện gì mà vui quá vậy?

– Dạ thưa Thầy, Tâm Từ nói với Tâm An là trong toilet có các loài ngạ quỷ… làm em sợ, không dám vào toilet một mình vào ban đêm ạ. Tâm Chánh thưa.

– Dạ thưa Thầy! Anh Tâm Chánh chỉ các bài thần chú cho Tâm An nhưng em nói là các anh xạo, ghẹo em thôi. Thần chú kiểu đó em cũng biết.

Thầy nhìn Tâm An rồi hỏi:

– Con thuộc được bao nhiêu bài thần chú rồi?

–  Dạ thưa Thầy, con học được thêm năm bài nữa ạ. Con đọc cho Thầy nghe nhé.

Thầy gật đầu.

Vặn nước

Nước từ nguồn suối cao

Nước từ lòng đất sâu

Nước mầu nhiệm tuôn chảy

Ơn nước luôn tràn đầy.

– Giỏi lắm. Sao con không tin đây là thần chú trị ma quái?

– Dạ thưa Thầy, con thấy mấy bài thần chú toàn là : Nam mô hắt ra đá ra đá dô… gì đó chẳng thể hiểu được. Đó mới là thần chú, còn các bài thơ này Sư Ông nói nó là thi kệ thôi.

– Con có biết ma quái từ đâu mà có không?

– Dạ con thưa Thầy, từ những nơi u tối.

– Thật ra, ma quái từ trong tâm tưởng chúng ta thôi. Lúc nhỏ chúng ta bị nhát kẹ để sợ và người lớn, các bậc làm cha làm mẹ cứ dọa con mình bằng cách đó mà không biết là vô tình tưới tẩm hạt giống sợ hãi trong các con, làm các con sợ hãi. Khi con không để cho đầu óc mình tưởng tượng lung tung mà chú tâm vào hơi thở, vào từng hành động của cơ thể, vào mỗi câu thi kệ thì hình ảnh ma quái không có cơ hội xuất hiện. Vậy thi kệ cũng có công năng đánh đuổi ma quái như thần chú. Hạt giống sợ hãi sẽ không xuất hiện trong tâm tưởng của các con nữa. Như vậy, nếu ta xem thi kệ như thần chú cũng không sai, đúng không các con?

– Dạ thưa đúng ạ!

– Cho nên muốn thi kệ có công năng đặc biệt đó, thì các con phải hết lòng, phải đặt tất cả tâm ý mình vào thi kệ, theo dõi hơi thở và các động tác của cơ thể, thì thi kệ mới linh nghiệm được. Còn đọc chỉ như trả bài thuộc lòng xong rồi là để tâm ý suy nghĩ lung tung, rong chơi với những chuyện ma quái thì chẳng ích lợi gì đâu các con.

Thầy quay qua nhìn Tâm Chánh rồi hỏi:

– Từ hồi đó đến giờ, thần chú có còn linh nghiệm không con? Có đỡ sợ ma chưa?

– Dạ chỉ mới đỡ sơ sơ thôi, nhiều khi đi ra vườn ban đêm con cũng sợ, vì thần chú đó chỉ có hiệu nghiệm trong toilet thôi.

Thầy cười rồi bảo:

– Con có thể áp dụng các bài thi kệ khác bằng phương pháp thầy đã dạy. Có thể lớn hơn một chút nữa thì mình bớt sợ ma hơn. Các con cố gắng thực tập những gì thầy đã chỉ dạy nhé.

Cả ba chú xá xuống cùng thưa:

– Dạ, chúng con sẽ nhớ ạ!

– Thôi bây giờ bốn thầy trò mình cùng ra vườn nhổ cỏ trồng cây nhé!

Ba chú hớn hở, đứng dậy cùng đi theo Thầy. Được làm việc chung với Thầy rất thích. Thỉnh thoảng, những lúc nghỉ tay Thầy còn kể chuyện cho ba chú nghe, dạy các chú hát các bài thiền ca rất hay. Tâm Từ hát hay nhất, do đó chú rất thích được hát. Ba chú cứ xúm xít quanh thầy, đứa nhổ cỏ, đứa quét lá, đứa hốt rác vào bao mang đi đổ. Nhìn cảnh bốn thầy trò thật vui, thật hạnh phúc.

– Tâm Từ, con có đọc thi kệ khi nhổ cỏ không con?

– Dạ thưa, con quên chưa đọc, giờ con đọc được không thưa Thầy?

– Được, khi nào nhớ thì làm ngay, đừng có nghĩ là lỡ quên rồi thôi khỏi đọc cũng được. Con đọc cho thầy nghe đi.

– Dạ thưa Thầy, đọc bài nào ạ?

– Bài nào con thích nhất.

– Dạ, con đọc nghen.

Thầy gật đầu, Tâm Từ thong thả đọc:

Nhổ cỏ

Nhổ cỏ nơi bản môn

Ta nhớ chú điệu xưa

Bụt che chở ngàn đời

Cho muôn ngàn cậu bé.

– Tại sao con thích bài này?

– Dạ thưa, con thích nó vì có hình ảnh chú điệu, thích được Bụt che chở.

– Còn Tâm Chánh, con thích bài nào?

– Dạ thưa Thầy, con thích bài:

Nhổ cỏ nơi tích môn

Nhớ đến Trần Thái Tông

Nhổ cỏ dùm Chiêu Hoàng

Cho sông dài biển rộng.

– Dạ thưa Thầy, Trần Thái Tông và Chiêu Hoàng là ai vậy Thầy?

– Trần Thái Tông là ông vua đầu tiên của thời Trần, Lý Chiêu Hoàng là hoàng hậu của vua Trần Thái Tông và là con gái của vua Lý Huệ Tông. Đây là một câu chuyện lịch sử khá dài. Các con có muốn nghe không?

– Dạ muốn ạ.

Thầy chậm rãi kể:

– Cuối thời nhà Lý, lúc đó Lý Huệ Tông lên làm vua, sinh ra được hai nàng công chúa, người chị là Lý Thuận Thiên và người em là Lý Chiêu Thánh. Khi Lý Chiêu Thánh lên tám tuổi, triều đình rối ren, mọi thế lực đều nằm trong tay Trần Thủ Độ, vua Lý Huệ Tông thế cô lực kiệt đã nhường ngôi cho cô con gái út là Lý Chiêu Thánh. Sau này gọi là Chiêu Hoàng. Khi đó Chiêu Hoàng có một người bạn thân tên là Trần Cảnh, cháu của Trần Thủ Độ. Hai đứa trẻ rất thương nhau, dưới sự sắp xếp của người lớn, hai đứa trẻ được tổ chức đám cưới. Sau đó, Chiêu Hoàng nhường ngôi lại cho chồng là Trần Cảnh, tức là vua Trần Thái Tông, mở đầu cho triều đại nhà Trần. Khi Trần Thái Tông được hai mươi tuổi mà vẫn chưa có con nối dõi, nên Trần Thủ Độ ép vua bỏ Chiêu Hoàng mà cưới chị dâu của mình, vợ của người anh ruột Trần Liễu, tức công chúa Thuận Thiên, lúc đó công chúa Thuận Thiên đã có thai ba tháng. Trước sự ép buộc phải bỏ người yêu mà cưới chị dâu, trái với luân thường đạo lý, khiến vua đau khổ cùng cực, nên vua quyết định bỏ ngôi báu trốn vào núi Yên Tử xin đi tu. Nhưng không được mấy ngày, Trần Thủ Độ đã lên núi và ép vua phải về cung. Khi vua từ chối thì Thiền Lão Trúc Lâm mới khuyên vua: “Bệ Hạ là vua của một nước, trăm họ đang cần vua, khi mình là một vị vua thì phải lấy cái muốn của muôn dân làm cái muốn của mình, lấy hạnh phúc của muôn dân làm hạnh phúc của mình. Là một ông vua, Bệ Hạ cũng có thể tu tập được, đâu nhất thiết phải ở trên núi mới thành người tu. Kính xin bệ hạ nhớ những lời này mà trở thành một vị minh quân, thương dân như con, lấy đức độ mà trị vì thiên hạ”.

Rồi vua từ giã thiền sư trở về lại cung cấm. Vua tu hành rất miên mật. Vì mặc cảm tội lỗi, nên vua thường xuyên sám hối. Vua tự viết “Lục thời sám hối khoa nghi” để cho mình thực tập, cứ bốn giờ đồng hồ vua đều dành mười lăm phút để lạy sám hối. Mỗi thời sám hối một căn. Ví dụ như ngủ dậy sám hối ý căn rồi đến mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Dưới triều đại của vua, nhân dân an bình, vua luôn luôn lấy đức để trị quốc, nên trên dưới một lòng. Thời nhà Trần là một triều đại thuần từ nhất trong lịch sử Việt Nam.

Thầy ngừng lại, nhìn các chú đang lắng nghe một cách chăm chú, bị cuốn hút vào câu chuyện, thầy mỉm cười.

– Dạ con thưa Thầy! Tâm Từ hỏi:

– Vậy Chiêu Hoàng thì sao? Chiêu Hoàng chắc khổ lắm Thầy nhỉ?

– Chiêu Hoàng sau đó bị giáng xuống làm công chúa và gả cho người khác. Sau này nàng có được hai người con, một trai một gái.

– Các con à! Các bài thi kệ nhổ cỏ đều hay, mỗi bài có một hình ảnh khác nhau như các chú bé, hay vua Trần Thái Tông… nhưng tất cả cũng chỉ nhắc nhở ta nên quay về chăm sóc tâm ta. Tâm ta cũng là một mảnh vườn có đầy cỏ và hoa, khi nhổ đi những thói hư tật xấu, những tâm niệm không an lành là chúng ta đang làm cho vườn tâm ta ngày một sạch đẹp. Là người tu chúng ta phải biết cách chăm sóc, vun bón cho vườn tâm của mình. Tuy nhổ cỏ là công việc đơn giản nhưng nó có một ý nghĩa sâu xa.

Ngồi chơi một lát, rồi bốn thầy trò tiếp tục công việc. Ba chú im lặng ngồi nhổ cỏ, khu vườn dường như sáng lên, sạch sẽ gọn gàng hơn. Cả ba chú đều nghĩ rằng khu vườn này sạch là vườn tâm của mình cũng được sắp xếp ngăn nắp, nên cả ba đặt hết lòng mình vào công việc, moi tất cả các ngóc ngách, xếp lại ngay ngắn từng chậu cây. Làm việc như thế thích thật. Đôi mắt ai cũng sáng ngời một niềm vui.

Không chỉ nhổ cỏ mới có thi kệ mà hầu như tất cả các công việc đều có thi kệ cả như: trồng cây, tưới cây, quét sân, rửa chén, lặt rau đến cả việc dọn vệ sinh, đổ rác nữa. Tất cả các bài thi kệ đều hay, có ý nghĩa, tạo cho công việc có thêm nguồn năng lượng mới mẻ hơn. Nhiều khi Tâm Từ còn hát thi kệ nữa, vì học, đọc hoài cũng chán nên chú nghĩ ra cách làm mới thi kệ. Chú có giọng hát hay, chú hát đủ kiểu. Có hôm cả ba chú dắt nhau ra vườn chơi, đùa giỡn chán, Tâm Chánh đề nghị Tâm Từ hát thi kệ nghe. Tâm Từ đứng lên làm ngay một màn trình diễn Rock thi kệ, chú nhún nhảy, uốn éo đủ kiểu làm cho hai chú kia cười ngặt nghẽo, cả ba đứa trẻ cùng đề nghị từ đây mình sẽ đọc thi kệ kiểu này mới vui. Ví dụ như:

Thất niệm là bóng đêm bóng đêm bóng đêm

Chánh niệm là ánh sáng ô là là, á lồ lồ

Đưa tỉnh thức trở về hê hế, hê hế

Cho thế gian tỏ rạng tỏ rạng, tỏ rạng.

Chà! Cái trò này thích thật, vừa hiện đại, vừa hợp thời lắm đó. Bây giờ người ta thích Rock, Hiphop thôi chứ ai thích ngâm nga, ê a hoài cũ lắm. Mình đi tu nhưng phải hợp thời đại chứ. Cả ba đều đồng ý với nhau như thế, rồi cùng chế biến ra bao nhiêu là cách hát vui ơi là vui.

Chưa hết đâu, thi kệ còn bị chế nữa, có lần Tâm An nghe anh Tâm Chánh đọc thi kệ nghe chuông:

Nghe chuông phiền não lên phơi phới

Ý loạn thân đau, mặt ỉu xìu

Hơi thở đi đâu rồi chánh niệm

Vườn tâm cỏ dại nở muôn nơi.

Nghe cũng thích chứ bộ, nhưng đọc hoài, đùa mãi cũng bị nhiễm. Có lần Tâm Chánh thỉnh chuông đại hồng, chú nghiêm trang dõng dạc hô:

Nghe chuông phiền não lên phơi phới

Ý loạn thân đau mặt ỉu xìu

Hơi thở nương chuông về chánh niệm

Vườn tâm hoa tuệ nở muôn nơi.

Trong tâm Tâm Chánh cứ nghĩ mình hô chuông đại hồng đúng. Ai dè, sáng hôm đó, ba anh em được mời lên ngồi trong phòng Thầy, nghe lời dạy rất nghiêm nghị của Thầy làm ba chú ỉu xìu thật. Giờ mà nghe chuông chắc cả ba đều ỉu xìu chứ phiền não không tan theo mây khói được đâu. Điều đáng buồn nữa là ba anh em không được chơi cái trò sửa thi kệ, không được hát Rock thi kệ nữa rồi. Còn gì buồn hơn khi không được nhìn Tâm Từ vừa hát, vừa giựt giựt. Mất rồi các thú vui. Vĩnh biệt Rock, Hip hop nhé! Thôi thế từ nay ta trở lại với cách xưa. Ba đứa trẻ ngồi nhìn nhau, thấy chú nào cũng hối tiếc cái trò ấy lắm. Bây giờ Tâm An mới thấy Thầy cũng như người lớn, chả hiểu con nít tí nào cả. Mặc dù cả ba đều biết rằng điều Thầy cấm là đúng, nhưng các chú vẫn cứ ưng ức trong lòng, giống như ai đó ra lấy mất món đồ chơi quý của mình vậy.

Trưa hôm đó, ba chú vác ba bộ mặt rầu rầu đi ăn cơm. Nhìn ba chú không còn vui vẻ như mọi hôm, Thầy biết các chú đang còn giận mình, Thầy mỉm cười rồi thỉnh chuông, đọc lời quán niệm. Giọng Thầy trầm ấm, lúc này sao Thầy dễ thương, nhẹ nhàng hơn hồi sáng. Nhìn Thầy Tâm An cảm thấy lòng mình mềm ra, muốn nhoẻn miệng cười với Thầy, nhưng cả ba chú đã ký hiệp ước đóng mặt lạnh, nghỉ thương Thầy một ngày luôn. Mới có mấy tiếng đồng hồ thôi mà Tâm An đã muốn hủy bỏ hiệp ước này rồi. Không biết giờ đến tối chú có giữ vững lời hứa với các anh không? Chú liếc nhìn Tâm Chánh, Tâm Từ thấy hai anh im lặng cúi đầu ăn cơm, mặt lạnh như tiền. Chà! Sao hai anh đóng vai này giỏi thế. Khâm phục, khâm phục quá đi mất thôi.

Thỉnh thoảng Thầy gắp những miếng đậu khuôn chiên chia cho ba chú, nhưng chả ai nhìn Thầy cười cả. Tâm An cũng thế, chú không muốn ngước lên vì sợ chú sẽ cười với Thầy mất thôi. Bây giờ thật là gay cấn, chú cứ phân vân: “bên Thầy bên bạn bên nào nặng hơn?”. Cả giờ ăn cơm chú chẳng để tâm đến bát cơm mà chỉ suy nghĩ lung tung, với bao nhiêu là tâm hành phát khởi lên triền miên không dứt. Giờ cơm chấm dứt bằng hai tiếng chuông, mọi người đứng dậy đi rửa bát. Tâm An sợ gặp Thầy lúc này lắm, nên chú cứ chần chừ mãi, để Thầy rửa bát xong ba chú mới đi rửa và đổ nước. Thế là thoát được, suýt nữa mình phá vỡ cam kết rồi.

Về phòng, Tâm Chánh, Tâm Từ nhìn Tâm An rồi phá lên cười:

– Thích thật mình đóng kịch giỏi quá mà, chắc Thầy nghĩ mình giận Thầy thật rồi.

– Ủa! Vậy hai anh không giận Thầy à? Tâm An ngạc nhiên hỏi.

– Ừ! Mình không thể nào giận Thầy quá năm phút đâu. Tại anh bị Thầy la hoài nhưng không thấy ghét Thầy chút nào cả. Chỉ ỉu xìu một chút thôi. Nhưng lần này anh thử đóng kịch coi em có giữ lời hứa không? Chứ hai anh đã thương Thầy lại rồi. Tâm Chánh vừa cười vừa nói.

– Hú hồn! Mừng quá đi mất. Chứ kéo dài nữa chắc em không giữ được lời hứa đâu. Lúc Thầy gắp thức ăn cho anh em mình, em chẳng dám nhìn Thầy, vì sợ mình cười hòa với Thầy. Giờ mình vui lại với Thầy nghe các anh.

Tâm Từ cười:

– Ừ! Thôi đừng đùa như vậy làm Thầy buồn. Mà hình như Thầy buồn thật rồi. Thế này nhé, trưa nay mình đi hái hoa cắm một bình tặng Thầy nghe.

– Thôi đi, chỉ có con gái mới hái hoa, bắt bướm thôi, ai con trai làm vậy, kỳ lắm. Tâm Chánh không đồng ý.

– Nhưng, Thầy thích hoa mà. Con trai cũng chơi hoa được chứ bộ. Mình vẫn thường cắm hoa cúng Bụt có sao đâu. Tâm An bàn vào.

Hai chú đã thuyết phục được Tâm Chánh, cả ba len lén đi ra sau vườn hái hoa, lá để cắm vào một chiếc bình con con, nhẹ nhàng đặt trên bàn trà của Thầy. Rồi trở về phòng ngủ. Đối với ba chú, ngủ trưa chẳng thích thú gì cả, giá như giờ đó mà chuồn ra sau vườn chơi thì vui hơn nhiều.

Riêng Tâm An, sau khi được hủy bỏ hiệp ước “làm mặt lạnh” chú cảm thấy trong lòng nhẹ nhàng, thoải mái. Chú có thể nhìn Thầy, cười và thương Thầy như trước. Chú nghĩ tới chiều nay, khi thức dậy nhìn bình hoa làm bằng cỏ dại trên bàn trà, chắc Thầy vui lắm, Thầy không còn buồn nữa. Chú thầm mỉm cười, rồi chìm vào giấc ngủ.Mỉm cười

 

Những trang viết trước:

Chương I: Tiếng Gọi Đức Thế Tôn

Mời quý bạn đọc đón xem phần tiếp theo của Phương Trời Lạ do sư cô Chân Vỹ Nghiêm viết tặng khung trời tuổi thơ.

Chương 3: Vũ điệu của đôi chân

Tiếng gọi của Thế Tôn

 

CHƯƠNG 1

Tiếng gọi của Thế Tôn

 

Từng tiếng chuông ngân lên trong màn đêm tĩnh mịch, vang dài trên khắp núi đồi, như gọi mời vạn loài thức dậy sau một giấc ngủ dài. Chú Tâm An cũng miễn cưỡng lồm cồm bò dậy, hai con mắt còn nhắm cứng, khuôn mặt nhăn nhó trông đến tội nghiệp. Chú gục xuống giường ngủ tiếp, nhưng có tiếng của Thầy gọi nhẹ:

– Tâm An ! Dậy đi con.

Chỉ một câu thôi mà chú ngồi bật dậy, vội vả xếp mền mùng, rồi đi vào nhà vệ sinh. Khuôn mặt còn ngái ngủ, tay cứ dùi dụi vào hai mắt để giúp mình tỉnh hẳn.

Thầy nhìn chú mỉm cười cảm thông, Thầy nhớ hình ảnh của chú tuần trước còn bỡ ngỡ đứng trước sân chùa mân mê từng chiếc lá, từng cành hoa một cách trìu mến. Chú rụt rè khi gặp cái nhìn của Thầy, rồi chắp tay xá chào. Chú nói nhỏ xíu trong miệng:

– Thầy ơi! Con muốn đi tu, con muốn ở chùa.

Nói xong, chú cúi đầu chờ đợi một hồi lâu mới dám ngước lên nhìn Thầy, Thầy nhìn chú yêu thương và nở một nụ cười hiền hậu làm chú yên tâm hơn. Trong đôi mắt thơ ngây ấy hiện lên những dấu chấm hỏi và sự mong đợi một câu trả lời. Thầy đến gần nắm tay chú dắt đến phiến đá rồi bảo chú ngồi xuống. Thầy từ tốn hỏi:

– Con mấy tuổi rồi?

– Dạ thưa, con đã mười hai tuổi rồi ạ!

– Con tên gì?

– Dạ, con tên là Nguyên Khang.

– Con đến đây với ai?

– Dạ, con đi một mình.

– Thế ba mẹ con đâu?

– Dạ, ba con đã bỏ mẹ con đi theo người khác, mẹ con giờ đang đi tìm ba về, mẹ không còn nhớ đến con nữa, lúc nào cũng buồn bực gắt gỏng, la mắng con.

– Vậy mẹ con có biết con đi đâu không? Lỡ mẹ về không thấy con, mẹ con buồn khổ lắm.

Nghe nói mẹ sẽ buồn khổ, lòng chú hơi chùng lại một lát rồi nói:

– Dạ thưa Thầy, con có viết thư xin mẹ cho con đi tu rồi, nhưng con không nói cho mẹ biết con đi tu ở đâu để mẹ không tìm ra con nữa, khi nào con xuất gia rồi con sẽ viết thư báo cho mẹ biết.

Thầy ngồi đó lắng nghe, chợt thở dài rồi hỏi:

– Có phải con giận ba mẹ mà bỏ đi tu không?

– Dạ… dạ… – chú ngập ngừng không dám trả lời.

– Mình muốn đi tu thì mình phải ngay thẳng, có thì nói có, không thì nói không, sao con lưỡng lự vậy?

– Dạ, thực ra, con cũng giận ba mẹ lắm, mà con cũng thương mẹ nhiều lắm, nên con không biết phải trả lời sao nữa, nhưng con thích làm thầy tu, con thích ở chùa. Con thấy quý thầy hiền lành, không chửi mắng, đánh đập ai cả nên con muốn được như vậy.

– Đi tu khổ lắm, con có chịu được không?

– Dạ khổ là sao thưa Thầy?

– Trước hết là con phải thức khuya dậy sớm, bốn giờ kém mười lăm là con phải dậy rồi, con không được ngủ thoải mái như ở nhà được. Con còn phải học văn hóa, học kinh kệ, giáo lý… con có chịu nổi không?

Nghe Thầy nói, chú hăng hái trả lời liền:

– Dạ thưa Thầy, con làm được mà.

Thầy nhìn chú mỉm cười, cái tuổi thơ là như vậy, tâm hồn trong sáng, thuần khiết. Động cơ thúc đẩy một đứa trẻ muốn xuất gia chỉ vì thấy thích một nét đẹp nào đó như hình ảnh một vị tu sĩ bước đi nhẹ nhàng, chậm rãi, hoặc chỉ thích nghe tiếng tụng kinh… Cái tâm ban đầu ngây thơ, thanh lương ấy mới đẹp làm sao. Thấy Thầy im lặng, chú chắp tay thưa:

– Dạ con thưa Thầy, con có được ở đây tu không ạ?

Thầy gật đầu, đưa tay xoa đầu chú rồi nói:

– Con hứa mình sẽ làm được những điều khó khăn nho nhỏ như thầy đã nói thì con cứ ở lại đây một thời gian xem sao? Khi nào thầy thấy đủ duyên thầy sẽ cho con xuất gia. Thầy sẽ liên lạc với gia đình con, báo cho mẹ con biết con đang ở đây để mẹ con khỏi lo lắng.

Chú nghe đến đó trong lòng lo sợ:

– Thưa Thầy, nếu mẹ biết con ở đây rồi vô chùa dắt con về thì sao? Con muốn tu mà. Chú nói như mếu.

– Thầy sẽ giúp con, nhưng tất cả đều phụ thuộc vào sự quyết tâm của con. Nếu có chuyện đó xảy ra, con phải thể hiện cho mẹ con thấy được tấm lòng, ước mơ của con với con đường xuất gia. Thầy hy vọng con sẽ làm được.

Nói xong, Thầy mỉm cười, đứng dậy, dắt chú vào chùa. Chú vui vẻ trở lại, bước theo Thầy đến phòng các bạn nhỏ như chú đang ở, đến cửa Thầy gõ ba tiếng rồi vào trong. Thầy gọi:

– Tâm Chánh, Tâm Từ! Hai con ở đâu?

Từ trong hốc tủ, hai chú bé lò mò bước ra, chắp tay chào:

– Dạ thưa, Thầy gọi con?

– Hai con lại bày trò gì nữa vậy?

Hai chú lấm lét nhìn Thầy, chú lớn hơn thưa:

– Dạ thưa Thầy! Chúng con chui vô đó đọc sách ạ!

– Sao các con không ngồi trên bàn mà đọc?

– Dạ… dạ… Hai chú ấp úng.

Thầy như đi guốc trong bụng các chú:

– Hai con đọc chuyện tranh phải không? Sợ Thầy la nên chui vô đó đọc để không ai biết đúng không?

– Dạ. Hai chú lí nhí trong miệng. Đôi mắt các chú ánh lên vẻ ngạc nhiên như tự hỏi: “ ao Thầy lại biết vậy kìa? Chuyện gì mình cũng không dấu được Thầy cả?”.

– Tâm Từ, Tâm Chánh! Các con cho bạn mượn một bộ vạt hò, mai thầy kiếm người may cho mỗi đứa một bộ mới. Các con phải thương yêu giúp đỡ Nguyên Khang nhé.

Nói xong, Thầy giao Nguyên Khang cho hai chú, rồi đi về phòng.

Tâm Chánh năm nay mười bốn tuổi, chú lớn hơn Tâm Từ một tuổi, chú cao hơn Tâm Từ một cái đầu. Còn Nguyên Khang thì bé hơn hai anh một chút, nên chú mặc quần áo của hai anh rộng thùng thình. Lần đầu tiên được mặc bộ đồ vạt hò chú thấy vui và hạnh phúc chi lạ, dù bộ quần áo cũ mềm, nhăn nhó. Thay áo quần xong, chú bước ra và nhoẻn miệng cười:

– Cảm ơn hai anh.

Hai chú nhìn Nguyên Khang cười ngặt nghẽo. Tâm Từ tinh nghịch hỏi:

– Sao bạn ôm cái quần hoài vậy?

– Dạ, tại cái quần lỏng dây thun nên mở ra là nó tụt.

Tâm Chánh đến gần đưa cho chú một sợi dây thun cột đỡ.

Trẻ con thật vui, trong một tiếng đồng hồ là chúng quen nhau và trở nên thân mật liền.

Vài ngày sau  Nguyên Khang được Thầy cho thọ Tam quy ngũ giới và chú có cái tên mới là Tâm An. Chú rất thích cái tên này, bởi nó giống với các chú Tâm Chánh, Tâm Từ. Kể từ đó chú được Thầy và hai anh gọi là Tâm An.

Hơn một tuần qua, chú đi theo Tâm Chánh và Tâm Từ để biết cách sinh hoạt trong chùa. Tất cả mọi thứ đều xa lạ từ cái chuông, cái mõ, cái linh, cái tang… chú phải học tên gọi của chúng. Hai chú lớn rất vui khi được làm “thầy” chỉ vẽ cho Tâm An. Chú nào cũng giành nhau nói, giành nhau kể những chuyện mà các chú được biết:

– Tâm An! Em có biết tại sao cái mõ có hình con cá không?

Tâm An lắc đầu:

– Em không biết, anh kể cho em nghe đi.

Tâm Từ nhanh nhảu trả lời:

– Con cá đó là một ông thầy tu bị đọa đó. Nghe đâu ổng tu hành không miên mật, phá giới nên sau đó chết hóa ra con cá. Vì ân hận và muốn sám hối tội lỗi, nên mỗi khi con cá nghe tiếng tụng kinh đều ngoi đầu lên mặt nước để lắng nghe. Từ đó người ta khắc hình con cá lên mõ để răn dạy các vị thầy tu phải giữ gìn giới luật mà mình đã thọ nhận để hành trì.

– Vậy nếu em không thực tập năm giới mà Thầy mới trao là em cũng bị biến thành cá ư?

– Ừ, chớ sao nữa. Tâm Chánh gật đầu trả lời:

Chú lè lưỡi rồi nói:

– Ồ ! Sợ quá, em phải cố gắng thực tập chứ không bị biến thành cá, rồi lại bị người ta bắt làm thịt đau lắm.

Ba đứa trẻ đang huyên thuyên với nhau đủ điều, thì tiếng chuông báo hiệu giờ ăn chiều đã đến. Cả ba không ai bảo ai, tức khắc im lặng nghe chuông, thở và mỉm cười. Rồi trở về phòng mặc áo xuống nhà ăn dùng cơm chiều.

Về chuyện dừng lại nghe chuông cũng làm cho Tâm An ngạc nhiên. Chú thắc mắc không biết tại sao lại như thế. Tự nhiên con người đang hoạt động, nghe chuông thì dừng lại, đứng như tượng, thấy kỳ kỳ sao ấy. Chú đi quanh hai pho tượng sống, méo miệng, le lưỡi, quơ tay mà hai anh vẫn đứng im không nhúc nhích, cũng không cười với chú nữa. Tiếng chuông dứt, một lát sau, hai pho tượng mới hoạt động trở lại. Tâm Chánh, Tâm Từ nói với chú:

– Tâm An, em nên tập dừng lại để lắng nghe tiếng chuông, theo dõi hơi thở. Lần sau, em đừng múa máy tay chân trước mặt các anh đang thực tập nghe chuông nhé!

– Nhưng tại sao lại phải làm kỳ cục như vậy chứ?

– Tại em chưa biết đó thôi, nghe chuông là một pháp môn rất mầu nhiệm đó. Thầy đã từng dạy, khi nghe chuông thì dừng lại mọi câu nói, mọi động tác, mọi suy nghĩ để trở về hơi thở và thực tập bài kệ nghe chuông:

“ Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe

Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm”.

Tâm Chánh từ tốn giảng giải. Tâm Từ thêm vào:

– Tiếng chuông là tiếng gọi của đức Thế Tôn gọi mình trở về với chánh niệm. Mình nghe chuông là nghe những âm thanh vi diệu của Bụt gọi mình đó. Có nhiều khi anh cảm thấy trong tiếng chuông có tiếng Bụt gọi tên mình nữa.

Tâm An trố mắt nhìn, vừa ngạc nhiên vừa vui mừng:

– Thật hả anh? Bụt đã gọi anh à? Anh sướng ghê. Anh kể Bụt đã nói gì đi.

– Bụt gọi anh: “Tâm Từ, về đi con, về sống với giây phút này”.

– Vậy Bụt có thật à? Pho tượng kia đã nói với anh như thế ư? Sao mà linh thiêng quá.

– Ừ! Thầy từng nói: Trong cuộc đời của chúng ta ai cũng sẽ có lần nghe được tiếng gọi của Đức Thế Tôn mà mở rộng lòng thương yêu, tha thứ, bao dung. Từ tiếng gọi ấy khai thông suối nguồn tâm linh, khơi dậy ước mơ cao đẹp: đem niềm vui đến cho mọi người và làm vơi bớt khổ đau cho người nữa. Em có muốn làm điều đó không?

– Dạ có, em rất thích. Nghe chuông tưởng bình thường, kỳ quái như vậy mà lại linh ghê anh nhỉ? Em sẽ tập nghe chuông để được nghe tiếng gọi của Bụt.

Từ lúc đó, chú quen với việc dừng lại nghe chuông như một tiếng gọi thiêng liêng. Qua sự giải thích của hai anh, Tâm An háo hức làm ngay. Có lần, đang ăn cơm với Thầy và hai anh, mọi người nghe chuông đồng hồ đổ, dừng lại thở. Nhưng chú vừa đưa muỗng cơm vào miệng nên cứ để im tư thế đưa cơm như vậy nghe chuông. Chiều hôm đó, Thầy gọi ba anh em vào, bảo các chú lấy tọa cụ ngồi xuống, rồi Thầy chỉ dạy:

– Mấy hôm nay, Thầy có một số công việc nên chưa chỉ dạy cho Tâm An cách thực tập căn bản ở chùa mình. Thầy rất vui khi thấy ba con chơi với nhau như anh em, lại còn chỉ bày cho em mình cách thực tập nữa. Vậy các con đã chỉ cho Tâm An những gì nào?

Tâm Từ nhanh nhẹn chắp tay thưa:

– Chúng con nói cho em Tâm An nghe chuyện cái mõ, cách nghe chuông.

Rồi các chú lần lượt thuật lại những gì đã nói một cách vui vẻ. Thầy mỉm cười khen:

– Các con giỏi lắm, đã nhớ rõ những lời thầy dạy. Nhưng các con còn thiếu sót một số điều nên Tâm An lúc trưa đã ngậm muỗng cơm mà nghe chuông. Có đúng như vậy không con, Tâm An?

– Dạ thưa, đúng ạ. Chú lí nhí mắc cỡ, trước tiếng cười của hai anh. Thầy cũng cười, làm như chú là một chú hề trong rạp xiếc vậy.

– Tâm An con! Tại chùa này chúng ta thực tập chánh niệm. Chánh niệm tức là con biết được những gì con đang làm trong giây phút này, ở đây. Ví dụ như các con đang ngồi nghe thầy nói chuyện, các con biết rằng mình đang ngồi nghe. Tương tự như vậy, các con tập nhận biết trong tứ uy nghi: đi, đứng, nằm, ngồi, làm cái gì mình cũng đem ý thức sáng tỏ soi rọi vào. Đó là phép thực tập căn bản nhất.

Thầy ngừng lại, nhìn ba chú như xem thử các chú có hiểu những gì Thầy giảng giải không? Rồi Thầy tiếp tục:

– Vì con người chúng ta hay quên, nên Sư Ông đã tạo ra nhiều cách giúp chúng ta ghi nhớ và quay về trong chánh niệm. Nghe chuông cũng là một phương tiện nhắc nhở ta. Cho nên khi nghe chuông, chúng ta đem tâm ý chạy lung tung đâu đó về lại với thân mình thông qua hơi thở. Các con có hiểu ý của thầy không?

Ba chú chắp tay xá xuống:

– Dạ hiểu ạ.

– Tâm An, các anh của con quên nói cho con biết khi thực tập mình phải áp dụng một cách khôn ngoan, khéo léo, đừng có quá cứng ngắc. Giống như hồi trưa, con có thể đưa cơm vào miệng, để muỗng xuống bát rồi ngừng lại thở cũng được, nếu con thao tác như vậy trong chánh niệm thì cũng như con đang đem tâm về với thân vậy. Nhưng cách thiết lập chánh niệm nhanh nhất, tốt nhất là theo dõi hơi thở.

Tâm An nhìn Thầy, chú cảm nhận được tình thương của Thầy thông qua giọng nói trầm ấm, ánh mắt trìu mến. Trong lòng chú trào dâng một niềm thương kính vô hạn. Thầy không như cha chú, khi lầm lỡ, thì Thầy chỉ bảo cặn kẽ, còn cha chú nếu có lỗi thì bị la, bị đánh mà chú chẳng biết sau này mình nên làm cái gì, không nên làm cái gì, cũng không hiểu tại sao mình làm như vậy là sai trái nữa. Sau mỗi lần bị la, bị đánh chú chỉ biết rằng nếu mình làm lại việc đó thì sẽ bị phạt. Chú sợ bị đánh, sợ bị la nên không làm thôi, chứ chú chẳng hiểu được người lớn. Người lớn kỳ lắm, lúc vui thì chú làm hư cái gì cũng không bị la, lúc buồn thì bị mắng ngay. Người lớn thật khó hiểu quá. Thầy cũng là người lớn, mà sao Thầy không hành xử như ba chú nhỉ. Tâm hồn chú cứ thả theo suy nghĩ. Vậy Thầy có phải là người lớn không? Nếu nhìn bề ngoài Thầy cũng lớn như ba chú ấy chứ. Bất chợt Thầy gọi:

– Tâm An, con đang suy nghĩ gì thế?

– Dạ thưa, con … con đang nghĩ… con nghĩ Thầy có phải là người lớn không? Chú nói xong rồi nhìn Thầy chờ đợi sự phản ứng của Thầy.

Thật bất ngờ, chú thấy Thầy cười, Thầy cười rất vui và hai anh cũng cười. Chợt chú đỏ mặt, mình lại ngớ ngẩn nữa rồi, Thầy nhìn chú hỏi:

– Tại sao con hỏi vậy?

– Dạ thưa, tại con thấy Thầy hành xử không như những người lớn mà con gặp. Họ chỉ bảo con là con nít thì không được làm cái này, làm cái nọ mà chẳng giải thích tại sao không được làm kia chứ? Người lớn họ lạ lắm, có nhiều điều họ nói không được làm vì nó không tốt nhưng họ vẫn làm. Còn Thầy không giống họ, Thầy chỉ dạy con làm gì thì con thấy Thầy cũng làm như lời Thầy dạy. Con nghe mẹ con nói: “chỉ có con nít mới nói chi làm nấy, nghĩ gì nói nấy thôi. Còn người lớn họ muốn nói gì cũng phải suy xét trước sau, thiệt hơn”. Cho nên con phân vân không biết Thầy có phải là người lớn không? Và tại sao Thầy lại biết con nít cũng cần được giải thích mọi chuyện khi yêu cầu chúng con làm?

Nghe chú trả lời Thầy thấy vui vui. Thầy bảo:

– Từ từ rồi con sẽ biết thầy là con nít hay người lớn. Nhưng thầy muốn nhắc con một điều, là khi đang nghe giảng, hoặc làm bất cứ việc gì con cũng phải tập trung, đừng để tâm ý lôi kéo mình đi như vừa rồi. Con có thấy không? Tâm ý của mình như một con khỉ cứ nhảy từ cành này sang cành khác mà không chịu đứng yên. Con đang nghe thầy giải thích việc nghe chuông, thì để tâm ý đâu đâu, con thấy mình có nên như vậy không?

– Dạ thưa, không nên ạ.

Chú rất khâm phục Thầy mình, Thầy nói như vậy chứ không bắt ép chú mà chỉ khơi lên để chú tự nhìn ra là mình không nên như vậy. Chú cảm thấy thật nhẹ nhàng. Ngồi bên Thầy, nghe Thầy dạy bảo sao mà thích thế! Lời dạy nào cũng dễ hiểu, khuyến khích chú thực tập.

Đến đây, Thầy bảo:

– Thôi chúng ta ngừng nhé. Các con có thể đi chơi, nhưng phải tắm rửa sạch sẽ trước giờ cơm chiều.

Nói xong Thầy thỉnh ba tiếng chuông, bốn thầy trò nghe chuông, thở, mỉm cười. Tâm An cảm thấy càng lúc việc thực tập nghe chuông càng có ý nghĩa. Chú mơ hồ cảm nhận ra rằng đằng sau việc thực tập này có nhiều điều mầu nhiệm mà chú chưa khám phá ra được.Mỉm cười

 

Mời quý bạn đọc đón xem phần tiếp theo của Phương Trời Lạ do sư cô Chân Vỹ Nghiêm viết tặng khung trời tuổi thơ.

Chương 2: Thế giới của thơ và nhạc

Nha Trang ngày về (hết)

Donna Donna

8h’05’: Cũng bởi vì chúng ta đã có nhau rồi từ lâu

Buổi văn nghệ và thiền trà như thường lệ là những hoạt động cuối cùng của khóa tu. Tôi đã cùng những người bạn mình hát thật nhiều. Hát cho ý thức mình bừng tỉnh.

Đâu bao giờ có chia ly. Chưa bao giờ là đoạn kết.

Biết vậy, nhưng tôi thấy có rất nhiều những giọt lệ rơi trong những ngày cuối. Tôi được biết rằng có một số thanh thiếu niên đã phải miễn cưỡng đến đây để rồi sau bốn ngày ba đêm chợt nhận ra mình sắp phải mất đi một điều gì đó thiêng liêng và ý nghĩa. Ta cứ tưởng đoá Đỗ Quyên trước hiên nhà không sắc không hương, bỗng một hôm dừng bước ngỡ ngàng thì hương hoa đã phai nhạt cành lá đã rụng rời. Nhưng các bạn ấy đâu có biết rằng, dưới lớp đất đen màu mỡ vẫn còn đó những hạt giống. Ai đó đã nói với tôi rằng Khoá Tu Kim Sơn là một vườn ươm.

 

09. Choi tro choi tap the

Nắng trên hòn Gành chưa bao giờ tắt. Trăng chưa hề tàn trong những đêm liên hoan. Mỗi một thiền sinh đến với nơi đây khi ra về đã mang trong mình một chủng tử. Chủng tử của Ánh Sáng. Nhật Nguyệt – hai nguồn năng lượng lớn lao đó đã đi vào trong tâm thức mỗi người. Tình thương diệu ngọt tựa mảnh trăng vàng. Trí tuệ bừng sáng như mặt trời đỏ. Tất cả hạt giống đã được trao truyền để đợi những mùa sang năm tuôn dậy, trình hiện trên khắp những hàng quán chói chang cuộc đời.

 

Bài hát Donna

Khóa tu lần này tôi được dịp ngồi bên thầy Đại Hỷ và được nghe thầy giải thích về 14 bài kệ Chỉ và Quán. Khánh Chung có biết tôi luôn ghi nhớ bài nào không? Đó là…

Như chim có hai cánh
Thiền tập có chỉ quán
Hai cánh chim nương nhau
Chỉ và Quán song hành”

Khi học nếp sống tỉnh thức, chúng ta thường có cảm tưởng là mình phải thực tập Chỉ (Dừng Lại) rồi mới đến Quán (Nhìn Sâu). Nhưng thực tế hai phương pháp ấy chỉ là hai mặt của đồng xu, hai cánh của loài chim biển. Ví như khi ta xem một bức tranh thì giây phút ta Nhìn Sâu cũng tức là mình đã Dừng Lại. Càng có thời gian dừng lại thật lâu thì ta càng có cơ hội nhìn sâu và ta có thể phát giác cái hay đẹp của bức tranh ấy. Cho nên khi thục tập Dừng Lại thì tức là ta cũng đang Nhìn Sâu. Khi Nhìn Sâu tức là ta cũng đang Dừng Lại.

Bốn câu xúc tích đã đánh động tôi về một bài hát tuổi thơ. Một đoản khúc đồng quê đã làm say mê bao trái tim, thổn thức vạn tâm hồn. Khúc ca ngắn ngủi đó kể về câu chuyện một chú bò đáng thương. Suốt đời mình, chú chỉ mải miết kéo chở những cỗ xe rau quả, ngũ cốc. Chú luôn mộng ước được bay cao. Chú luôn mong mỏi được là cánh nhạn tung cánh về phương Nam. Chú mơ mình là gió ngàn rong chơi bốn mùa hoa lá. Thực tế là Donna đang bị đem ra chợ bán và sắp phải sang tay một người chủ mới. Kết thúc bài ca là một tiếng vọng về trong hư không. Đó cũng là câu quan trọng nhất toàn bài…

“Whoever treasure the freedom has learn to fly.”

Bạn ơi nếu muốn cất cánh thì phải học cách bay. Nếu không muốn đánh rơi tự do thì phải học cách bay. Chỉ vậy thôi đừng than thở nữa.

Tôi biết rằng bạn cũng như tôi đã bao lần ngần ngại, ngập ngừng khi đứng trước cánh cửa Phật Giáo. Ba tạng kinh điển, 84 vạn pháp môn dễ khiến cho vị hành giả khổ trí lao tâm. Đó như khu rừng mênh mông làm nản lòng lão tiều phu. Đó như biển xanh sâu thẳm bào mòn chí người ngư phủ. Nhưng bạn cùng tôi đã có Chỉ và Quán. Ta có thể yên lòng. Ta không còn lo sợ nữa. Chỉ cần thực tập Dừng Lại và Nhìn Sâu là ta đã có cây gậy băng rừng, chiếc bè vượt biển. Chúng ta có một con đường thật sáng rõ, phải không Khánh Chung?

Đôi cánh của Chỉ và Quán đã có nơi tự tâm mỗi người. Liệu ta có đủ dũng cảm để học, để vài lần vấp ngã, đôi lần trượt té rồi được bay cao hay không? Hay ta giống như Donna, tiếp tục lê bước quanh quẩn trên những nẻo đường bụi bặm. Bài ca Donna là bài hát về tự do. Và nếu ta biết thế nào là “Nhìn Lại” thế nào là “Nhìn Sâu” thì ta có đôi cánh chim trời. Ta có tất cả. Bao la trời cao, mênh mông biển rộng. Không tù ngục nào có thể giam hãm thân xác ta. Không mùa đông nào có thể làm trái tim ta lạnh giá.

Tự do! Ai mà không trân quý tự do, phải không Khánh Chung? Nhưng chúng ta phải bay, phải học cách cất mình khỏi những điều hữu hạn nơi thế gian này. Bạn có thể cùng tôi mừng vui vì ta đã biết được bí mật muôn đời. Bí mật của hạnh phúc. Chúng ta là những người giàu sang và may mắn nhất trần thế. Mình đã được truyền trao đôi cánh. Và với sự thực tập mỗi ngày, ta sẽ có cơ hội được vỗ đập lên không trung âm thanh của đại bàng. Với đôi cánh này, chúng ta sẽ không như chú bò tủi hờn kia nữa. Ta sẽ không đứng giữa chợ than thân trách phận, hơn thua với những điều nhỏ nhoi, vụn vặt. Ta vươn mình bay cao khỏi ngọn Tứ Sơn chật hẹp, đến với phương trời tự tại, dập dìu áng mây vàng.

Khánh Chung sẽ chọn như thế nào đây? Ngoan ngoãn với những lối cùng hẽm cụt hay phiêu diêu nơi mây trắng, trời xanh…?

 

Tin nhắn của Thầy Quảng Kim

Trong khoá tu, tôi được đọc lá thơ của Thầy Quảng Kim. Tôi muốn chia sẻ với Khánh Chung những cảm nhận của mình. Tôi biết rằng trong thời điểm viết thư, thầy đang gặp nhiều gian khó. Tuy vậy, suốt trong những dòng thơ không thấy một lời trách, tiếng than. Thay vào đó, chỉ là những niềm vui, những kỉ niệm đẹp ở thị xã Vĩnh Ngọc thành phố Nha Trang này. Thầy nhắn chúng tôi rằng dẫu phải chia xa nhưng tâm hồn thầy vẫn dõi theo từng tiếng thở nhịp đập của quê hương yêu dấu. Thầy còn nói đến hai cánh cửa kỳ diệu Bản môn và Tích môn. À phải rồi, Thầy còn nhắc cho chúng tôi về những thanh âm quen thuộc… Đó là những tiếng khua vang ngày mới, xé rách màn đêm…

t.u…..t..u……….t……u……t………u…….t………u.…………t…..u

Tôi xin dành chút câu chữ cuối cùng này để kể cho Khánh Chung về những chiếc hỏa xa chạy dưới chân đồi Kim Sơn. Mỗi khi đi qua thì tiếng còi tàu luôn đánh động tôi về sự sống, ánh sáng, niềm tin, hy vọng và tuổi trẻ. Tất cả đang có mặt. Mọi thứ vẫn hiện hữu.

Khi tôi viết thư thì mỗi dòng chữ cũng là một đoàn tàu. Và âm thanh đánh thức tôi chính là “Khánh” và “Chung”. Tiếng khánh, tiếng chung luôn là pháp khí, là vật thiêng liêng đỡ nâng cho tôi trong sự thực hành nếp sống tỉnh thức. Và khi viết nên hai chữ thân quen “Khánh Chung” cũng là lúc tôi có cơ hội dừng lại. Ý thức tôi có mặt. Ý thức những con chữ bình lặng cũng có thể tạo ra niềm vui hay nỗi khổ. Tôi cẩn trọng từng nét bút giọng văn. Tôi biết rằng viết thư cũng là một sự thực tập Nói Lời Đúng Đắn…Tôi biết rằng có những người người đã vui, đã hạnh phúc khi nghe tôi bày tỏ nỗi lòng. Nhưng bạn của tôi ơi, bạn có biết không? Sự thật là khi trao một bức thông điệp lành, truyền một tin vui thì chính tôi mới là người sung sướng nhất. Bạn có biết không? Chính tôi đã được nuôi dưỡng bởi những trang thơ của mình. Khi trút hết tâm tư vào giấy trắng cũng là lúc tôi thấy rõ khuôn mặt của mình hơn, thấu tận nguồn cơn dòng nước tâm hành ….

Đời người ngắn ngủi. Tri âm khó tìm. Đọc thư của những người thương như anh Lữ như thầy Quảng Kim tôi như em bé thơ hằng đêm bắt ghế trông ngóng theo những toa hàng rực rỡ, chói loá. Những dòng chữ như đoàn tàu lấp lánh, ấm áp giúp tôi có thêm nhiều ước mơ và hy vọng. Và nay tôi lại viết cho Khánh Chung. Con tàu mang tên Thống Nhất, kết nối hai miền Nam Bắc đã lại lên đường, bắt đầu lăn bánh tiếp nối một chu kỳ. Và trong bức tranh tuổi thơ huyền diệu đó, tôi nguyện ước thấy bóng hình Khánh Chung. Thêm một em nhỏ nữa. Hai đứa trẻ. Hai tâm hồn thơ dại cùng nhau dõi theo những khoang tàu cổ tích, ngập tràn mảnh mảnh trăng vỡ sao rơi…

t.u…..t..u……….t……u……t………u…….t………u.…………t…..u

 

Tim an bình. Tâm rộng mở.

HẾT

Và vẫn còn……Những hàng chữ vẫn nối dài….

 

Hương ngả đầu ra sau lên giọng:

– Tên bạn dài quá hà. Từ nay mình sẽ gọi bạn là Xê.

Khánh Chung suy nghĩ, gật gù trả lời:

– Cũng được. Nhưng mà, tên bạn cũng dài. Cái dzì mà Dạ Lai Hương. Hỏng hiểu. Từ nay, mình đặt lại tên cho bạn. Mình sẽ gọi bạn là Hắc.

Hương lắc đầu ngầy ngậy. Khánh Chung chợt la lớn:

-AAA! Tới rồi! Tới rồi! Tàu tới rồi!

-Ờ. Tới rồi!

Hai đứa im lặng hồi lâu. Rất lâu. Hương lim dim, hỏi:

– Xê có nghe cái dzì hôn?

-Nghe dzì?

-Thì tiếng còi tàu đó.

-Ừ, mình thích nó lắm. Mà tại sao người lớn lại ghét nó nhỉ?

– Hương cũng hỏng biết nữa? Chắc tại nó ồn?

-Nhưng Chung thấy nó có ồn cái dzì đâu.

Khánh Chung tỏ vẻ hiểu biết:

-Ê, Hắc. Mình thấy có những người hay nói dzống tiếng còi tàu đó.

Hương ngạc nhiên, quay đầu:

-Ai dzậy?

-Thì mấy ông thầy tu đó.

-À, hi hi. Đúng rồi. Họ hay đi chung dzới nhau như một đoàn tàu.

Khánh Chung nhìn Hương chờ đợi. Hương chợt vỗ tay:

– À, hiểu ý rồi. Mấy ổng cũng suốt ngày  t.u…..t..u……….t……u…t……u..

Hai đứa khoái chí cười vang. Hương nghĩ ngợi:

– Mình thích họ. À không, thật ra thì mình thích tiếng còi tàu.

– Ừ, mình cũng thích tiếng còi tàu.

– Bạn xem mình làm có giống không?

– T..u….t…u…..t…….u………..t…………u

– Ha ha! Mình sẽ t…u….t……u như dzậy hoài nhé?

– Ừ, bạn dzà mình sẽ là hai toa tàu không rời.

t…..u…….t….u……t…….u……………tttttttttttttt……….uuuuuuuuuuuuuu

 

Nha Trang ngày về (p5)

 

A Cappella cho tất cảc

7h45’: Vấn đáp

Khoá tu lần này vì được tổ chức vào mùa hè nên rất đông các bạn trẻ tham dự. Tôi được thông báo số lượng phải hơn 400 người. Những điều nghe thấy…

… Và hôm nay sẽ có buổi vấn đáp.

41. No mud no lotus

Làm thế nào để biết được tình thương chân thật? Tình yêu đến từ rung động của trái tim hay là thể xác?

Thế nào là đồng tính luyến ái? Kết hôn với một người đồng giới có phải là một tội ác hay không?

Khi cái sai, cái xấu, cái giả liên tục xuất hiện trên những kênh thông tin đại chúng thì dần dần chúng cũng được chấp nhận như một sự thật hiển nhiên. Vậy làm sao để ta không phải trở thành nạn nhân của những phương tiện truyền thông đó?

Nền văn hoá Á Đông vốn coi trọng sự khiêm tốn, đề cao những hình mẫu hoàn hảo. Nhưng sự khiêm tốn và hoàn hảo dần khiến cho người ta trở nên dối trá, giả tạo. Vậy làm sao để không phải trở thành nạn nhân của chính nền văn hoá đó?

Làm thế nào an vui khi xung quanh ta có quá nhiều khổ đau?

 

Những phương pháp tu tập vốn có nhiều sự khác biệt. Vậy ta phải làm sao có thể dung hòa để không gây ra sự đổ vỡ, nghi kỵ?


Thật là lạ thường, phải không Khánh Chung? Tại sao những thắc mắc như vậy lại xuất hiện giữa nơi đạo tràng thanh tịnh? Chúng ta có thể tự vấn mình: Gia đình, học đường và xã hội đã giữ một vai trò như thế nào, đã vận hành ra làm sao để rồi những dấu chấm than, chấm hỏi đó lại lưu vết in dấu trên mảnh đất già lam yên bình này? Dưới nơi Phật đài, tôi đã nghe không biết là bao những băn khoăn, hoang mang về giới tính, tình yêu, tuổi trẻ và lý tưởng…

Trên đường lên Kim Sơn, tôi đã chứng kiến một sự thật đau lòng. Hai con người chỉ vì một va chạm nhỏ trên đường đi đã lao vào nhau như loài thú dữ. Không cần một lời giải thích, họ trút hết tất cả cơn giận dữ lên thân thể nhau. Và xung quanh dòng người vẫn còn đang chen chúc, giành giựt từng không gian ngã tư chật hẹp để tiến lên phía trước. Đây không còn là những hình ảnh hiếm gặp ít thấy. Tại sao kinh tế phát triển, đời sống đi lên mà máu vẫn chảy, nước mắt vẫn rơi?

Chúng ta hỏi nhau: Ai đã gây ra tình trạng này?
Loạn lạc, chiến tranh vẫn còn đang tiếp diễn khắp mười phương. Sự phát triển của khoa học chỉ có thể giảm bớt những bệnh tật về thân. Nhưng đứng trước những vấn đề của tâm, nhân loại bỗng trở nên nhỏ bé, bất lực. Những tiện nghi của công nghệ không thể thiết lập được truyền thông giữa cá nhân với gia đình và xã hội. Loài người đã mất dấu nhau. Đau thương đã tràn lấp. Bóng tối vẫn trực chờ. Và trong đêm thâu hun hút đó một tia lửa nhỏ – ánh Đạo vàng – đã chớp loé, soi rọi, dẫn chiếu cho bao nhiêu linh hồn lạc bước tìm về lối cũ đường xưa….

Thông điệp của Khoá Tu

Tôi đã được dạy rằng khi ta có những khó khăn thì điều hay nhất ta có thể làm là thở một hơi thật sâu và mỉm một nụ cười thật nhẹ. Thở và Cười. Chỉ đơn giản vậy thôi. Đó chính là câu trả lời cho tất cả. Đó cũng là thông điệp của khóa tu lần này. Khi ta thật sự trở về với hơi thở, khi ta mỉm được nụ cười chân thật thì ta có bình an, thanh thản. Năng lượng của sự hay biết, của ý thức có mặt thì nỗi khỗ, niềm đau của ta sẽ không còn cơ hội vùng vẫy, khuấy động. Chúng sẽ lại là những hạt giống được ngủ yên trở về với mảnh đất tâm hồn. Vì vậy cho nên nếu mỗi ngày ta hết lòng thực tập theo từng câu kinh bài kệ, nếu ta đặt trọn tâm trí vào từng bước chân, hơi thở, nụ cười thì ta đang tích luỹ cho mình một nguồn năng lượng vĩ đại. Năng lượng đó sẽ như đất, nước, gió, lửa tưới tẩm những hạt giống mà ta đã gieo trồng. Để rồi một sớm mai kia, bạn của tôi ơi! Khi thăm lại khu vườn tâm thức bạn chỉ còn bắt gặp những dãy màu đỏ thắm vàng tươi ngập tràn. Vỏ cứng đã vỡ nát. Hạt mầm năm xưa đã là đoá xuân ngời trong bình minh toả rạng…

Có thể trong ta vẫn còn những vấn nghi, những khắc khoải. Có thể ta vẫn chưa tìm ra một câu trả lời rốt ráo cho những khó khăn bản thân. Nhưng chủ đích của một buổi vấn đáp hay pháp đàm không nhất thiết phải tìm ra một giải pháp hay một lối thoát. Tu học không phải là công trình của những khối óc. Mục đích của ta là được ngồi với nhau, có mặt cho nhau. Khi tham gia một buổi như vậy tức là ta có cơ hội được ngồi yên bên người anh người chị của mình. Ta thực tập sống trong tình anh chị em. Ta lắng nghe nỗi niềm của nhau, nói bằng lời ái ngữ và nghe với tâm buông bỏ. Ngồi lắng nghe người khác trút bớt nỗi lòng là ta có cơ hội được tiếp xúc gần hơn với thực tại của người ấy. Chỉ vậy thôi mà người kia bớt khổ. Trong buổi vấn đáp hôm nay, tôi thấy nhiều người đã ngồi thật tĩnh lặng. Tôi thấy mình đang được nuôi dưỡng bởi sự vững chãi và bất động đó. Khi ta còn hơi thở, còn nụ cười thì ta có thể yên lòng. Lời giải đáp, một nẻo thoát, lối về chắc chắn sẽ sáng tỏ. Tôi mong sao mình sẽ luôn duy trì được nguồn năng lượng lớn lao này. Tôi nguyện ước: Trước mọi biến cố khó khăn, tôi vẫn sẽ luôn Thở và Cười được. Giữ được hơi thở và nụ cười thì mọi vết thương sẽ liền da, bao ách nạn sẽ đóng khép. Tôi có niềm tin như thế đó, Khánh Chung! Tôi có niềm tin nơi Bụt Dược Sư. Tin vào Bụt Dược Sư. Tin vào năng lực chuyển hoá, chữa lành mọi khổ đau, tật bệnh…

Quản lý năng lượng
Trong các câu hỏi được đưa ra, có một thắc mắc làm tôi giật mình chú ý. Đây cũng chính là tình trạng mà tôi đang mắc phải. Một bác Phật tử đã nhắc đến vấn đề “quản lý năng lượng” và hỏi rằng:

Làm sao tận dụng được thời gian tu học một cách hiệu quả?

Đầu tiên, ai trong chúng ta cũng đều thấy rằng quản lý thời gian sao cho thật khoa học là một điều cần thiết. Nhưng sau khi đã sắp xếp cho mình một thời khoá hoàn chỉnh “giờ nào việc đó” thì đôi lúc ta lại đánh mất mình trong chính thời khắc ấy. Vậy thì điều thứ hai là ta phải biết cách quản lý năng lượng của sự hay biết. Tức là ta phải biết cách duy trì Niệm Lực của mình. 

Ví dụ như ta có hơn nửa tiếng đồng hồ để đi thiền hành với một người bạn đồng tu. Nhưng sao sự vững vàng của ta rất ít ỏi, nhưng khi nhìn sang người bên cạnh thì có khi chỉ vài bước chân thì niềm vui, sự bình an của họ đã toả chiếu. Khánh Chung có thấy sự khác biệt ấy không? Ba mươi phút của người này là thiên thu nhưng với người kia thì có khi chỉ là một cái ngoảnh mặt chuyển mình.

Câu hỏi ở đây là làm sao ta có thể quản lý Niệm Lực sau khi đã biết cách quản lý thời gian? Làm sao có thể làm cho năng lượng tỉnh thức của mình thật sự có mặt?  
Trong đời sống hằng ngày, tôi đã sắp xếp một giờ phút để có thể nhìn lại bản thân . Tôi có thể thực tập một mình rất kiên định rất miên mật. Nhưng sao hiệu quả vẫn chưa thấy. Đến khi tôi thực tập cùng tăng thân thì Niệm Lực trở nên sâu dày. Khi tham gia vào ngày Quán Niệm thì tôi thấy mình có nhiều thăng tiến hơn. Bước chân mình vững vàng hơn. Tiếng nói mình yêu thương hơn. Thế ngồi mình thanh thoát hơn. Khánh Chung đã thấy câu trả lời rồi phải không?

Khi ta chỉ là một hạt nước nhỏ thì làm sao có thể dưỡng nuôi, tưới tẩm cho gốc rễ thân tâm? Nhưng khi ta đã hòa điệu với hải hà thì ta có thể đi tới rất nhanh, rất mạnh. Ta hòa vào biển lớn, nương theo dòng ra tới đại dương…

Thoạt nhìn thì mình chỉ tu tập cho bản thân mình thôi. Nhưng khi mình thực tập hết lòng cùng đại chúng thì năng lượng bé nhỏ của ta được ôm ấp trong lòng tăng thân. Và sức mạnh của tăng thân – nguồn lực vĩ đại đó sẽ đi vào châu thân mình. Muốn quản lý năng lượng của sự hay biết thì ta nên nương vào sức mạnh của bốn chúng (Tâm thức của cộng đồng). Nếu muốn thành công trên phương diện tu học thì phải biết nương vào sức mạnh của tăng đoàn. Chân lý giản dị này tôi và Khánh Chung đã được nghe, được dạy. Ấy vậy mà tôi vẫn đôi lần bỏ quên đánh mất trên con đường dưỡng tánh tu tâm…

Ba sự quay về

Trưa nay, tôi thầm lặng cúi đầu quỳ gối dưới ngôi Tam Bảo. Khi năm vóc trở về với đất cũng là lúc tôi lãnh trọn cơn mưa trắng xóa cõi lòng.

Con về nương tựa Tăng
Đã về nương tựa Tăng
Về nương Tăng trong con

3 câu ngắn ngủi, vỡ lòng mà đến nay tôi vẫn chưa thuộc, khi nhớ khi quên.

Tôi nào có khác chi hình bóng ca nhân nơi đất khách quê người. Vì buồn giận tủi hờn mà chàng nghệ sĩ đã vội vã chia tay gánh hát của mình lang thang trên đường xa vạn dặm. Anh nghĩ là có thể an ổn một mình làm thân dế hát rong sau khi nắm bắt âm luật điệu thức. Anh nghĩ rằng mình có thể hát không cần nhạc đệm. Nhưng anh đâu có biết để hát A Cappella thật hay thì phải cần ít nhất 4 người. Rồi ngày trôi đi… Trôi đi… Bốn mùa thay lá…  Một sớm mai tĩnh lặng, khi chân chùng gối mỏi, những dấu hỏi dấu chấm bắt đầu thành hình, thổn thức trái tim, cào xé da thịt…

Ba nghìn thế giới mà ta vẫn
Không biết về đâu? Trụ ở đâu?
Chùa xưa đã đốt. Ta đi vậy
Tam Bảo và em ở cõi nào?

Nhà thơ Du Tử Lê đã hỏi mình và cũng hỏi thay cho bao nhiêu linh hồn vô chủ. “Trụ ở đâu?” “Về đâu?”

Ta có thể trả lời. Sẽ không quá khó khăn để ta đáp lại. “Về nương tựa Tăng”. Nếu được nói một câu về Đạo Bụt thì tôi cũng xin chỉ cất lên bốn tiếng đơn sơ ấy. Nhưng tôi cũng biết rằng có những điều dung dị, giản đơn mà ta học hết kiếp này vẫn chưa xong, trả suốt đời sau cũng mãi còn.

Kim Sơn Tự đã giúp tôi trở về. Trưa nay, tôi đã về lại ngôi trường xưa cũ. Và nguyện ước luôn là kẻ học trò, mãi là người tập sự. Trưa nay, một lần nữa trong tư thế sát đất, tôi thầm ôn lại bài học Nương Tựa Quay Về…

Tim an bình. Tâm rộng mở.

(còn tiếp…)

Nha Trang ngày về (p4)

 

Luân khúc Canon sớm mai

NhaTrangngayve45h30’ :Iha Shaariputra 
sarva-dharmaah shuunyataa-lakshanaa………..

Sáng nay tôi cùng đại chúng ôn tụng Bát Nhã Tâm Kinh. Nghe kinh mà như nghe mưa rơi. Rơi trên mái dạ linh hồn. Từng giọt, từng giọt vỗ về  bao khối hờn đau kết tụ từ muôn vạn kiếp. Trên nền sân của ngôi cổ tự chỉ còn là những “hạt lụy phiền”. Cứ mỗi lần đọc lại những lời dạy của Đức Thế Tôn dành cho người đại đệ tử của mình trong tôi luôn là một cảm giác thanh bình và lân mẫn. Từng dòng kinh kệ như bản luân khúc vỗ vào bờ giác quan, thấm ướt những nơi héo úa khô cằn. Người tôi nhẹ nhõm. Lòng tôi rỗng rang. Hương kinh thơm phức như dòng sữa mà mật ngọt vẫn còn lưu luyến trên đầu lưỡi vành môi. Cánh chim hồn tôi được yên nghỉ ấm êm trong lòng đạo lớn. Từng bước đi là từng hạt giận buồn rụng rơi. Cảm giác này tôi không thể diễn tả bằng lời mình mà đành phải vay mượn thi sĩ Xuyên Trà. Tôi muốn đọc cho Khánh Chung những dòng thơ mà tôi luôn ghi khắc…

Thời kinh ai tụng thơm trời đất
Mà cánh chim về cũng ngủ yên
Sáng ra Bát Nhã bừng tâm thất
Rụng trắng đầy sân hạt lụy phiền.

Bốn câu thơ ngắn ngủi mà nói thay tôi biết bao nhiêu ý tình. Trong những ngày đầu tiên bước vào Cửa Tịnh, tôi đã thầm ước ao mình cũng là Thầy Xá Lợi Phất để được kề cận Bụt, được Bụt chỉ dạy mỗi ngày. Giờ đây tôi đã có thể mỉm cười với ước vọng đó của mình. Bụt có bao giờ xa cách với tôi đâu! Bụt đã hoá hiện trong hình ảnh của một tăng thân. Và tôi đã có thêm nhiều tri kỷ. Những người như Khánh Chung như Xuân Phong như Về Nguồn và còn biết bao những trái tim hai mươi nữa – những người thương của tôi – đoàn thể luôn nhắc nhở tôi, luôn chỉ bày cho tôi nghệ thuật hiểu sâu thương lớn.

Bữa ăn cuối cùng

Bốn ngày tu học thì có đến ba ngày tôi được ăn cùng đại chúng dưới ánh bình minh. Ngồi xoay lưng về phía Đông, hướng mặt vào nhau. Bữa ăn chỉ là một ít xôi và chén sữa đậu nành thôi mà sao ngon và vui quá! Niềm vui vỡ đê tâm hồn. Ánh dương tỏa chiếu, đưa hơi ấm lan truyền trong từng tế bào cơ thể. Những mạch máu trào dâng, lấn chen nhau đón chào khí trời trong tinh khiết. Dòng sông cảm thọ trong tôi sau bao mùa bão lũ đã trở nên hiền hòa, bình lặng. Và trong khoảnh khắc lung linh dịu êm đó, một bức tranh đang nổi trôi, dập dìu giữa khơi chừng sóng xô. Tôi tìm về với những trang kỉ niệm, đọc lại những dòng ký ức của đời mình. À! Thì ra đây là vật phẩm mà tôi đã cất giữ trong tầng sâu tâm thức. Tưởng chừng tôi đã lạc mất đi nhưng hôm nay lại biểu hiện dưới lấp lánh nắng vàng…

Bức bích họa ấy đã rung chuyển cả thế giới. Một bản vẽ chỉ miêu tả khung cảnh của một bữa ăn nhưng đã mất gần 7 năm để hoàn tất. Tài năng của họa sư ở chỗ ông vẽ trên một mặt phẳng nằm ngang nhưng người xem lại thấy được một vòng tròn đa diện. Không gian hai chiều nhưng nhìn kỹ thì đó là một không gian vô cùng tận. Thức ăn được vẽ bằng những hình tròn. Tất cả những người tham dự ngồi quây quần bên nhau hướng về người thầy của mình…Và đó cũng là bữa ăn cuối cùng của họ.

Khánh Chung có biết tác phẩm nổi tiếng ấy không? Ấy là The Last Supper. “Bữa ăn chiều cuối cùng”. Họa phẩm ấy đã đem đến cho nhân loại một nguồn sức mạnh tâm linh siêu việt. Ấn tượng đậm sâu nhất chính là trung tâm của bản vẽ với hình ảnh của Chúa hiền mơ. Khi xem tranh, ta thấy hai sắc thái tương phản nhau rõ rệt. Đức Jesus sau khi thông báo sẽ có người bội phản mình đã ngồi thật thanh thản với hai cánh tay mở rộng sẵn sàng đón nhận tất cả. Trong khi đó, 12 môn đồ của Người thì chia thành 4 nhóm nhỏ hoảng loạn, ngã nghiêng. Giây phút có một không hai đó đã được lưu giữ bởi bàn tay tài hoa của người nghệ sĩ thiên tài Leonardo Da Vinci.

Khi ăn sáng cùng đại chúng tôi thấy rằng lòng mình vẫn còn nhiều trăn trở. Những vết thương sâu kín vẫn chưa lành. Tâm can vẫn còn chưa thôi đau nhức. Nhưng hình ảnh của Chúa Kitô đã truyền đến tôi nguồn cảm hứng vô biên, trao cho tôi nguồn phúc lạc nồng ấm. Người như một hòn sỏi nhỏ rơi nhẹ vào hồ xanh để rồi trên mặt nước tĩnh lặng kia là bao dư ba lan tỏa. Dòng nước hung hãn của những thế lực đen tối cứ mãi dâng cao, tràn lấp. Ấy vậy mà Người vẫn ngồi bình yên như một trái núi. Nước càng lên cao. Núi càng đứng vững. Sự bình an trên khuôn mặt, sự vững chãi trong dáng ngồi của Người đã làm tan chảy biết bao trái tim lạnh lẽo giá băng, đem hừng đông về cho địa cầu sau những đêm dài huyền hoặc, tăm tối …

Sáng hôm nay, tôi thấy một vòng tròn thật đẹp. Tôi được ngồi tĩnh lặng giữa vòng tròn tăng thân trân quý. Mặt trời hồng đã lên cao và trong tôi mặt trời ý thức cũng đang rực cháy. Ý thức rằng đây có thể là Bữa Ăn Cuối Cùng, đây có thể là cơ hội có mặt duy nhất với người thương của mình đang thiêu đốt muôn vạn hồng cầu trong tôi. Vì thế cho nên tôi cẩn trọng từng miếng nhai, hay biết từng hơi thở. Và những giọt tịnh lạc, an định bắt đầu rơi nhẹ lặng lẽ khẽ khàng trên thềm tâm. Tôi chợt thấy rằng khung cảnh mầu nhiệm mà mình đang tham dự chính là sự tiếp nối tuyệt phẩm của Leo.

Chúng ta đâu cần phải là chàng họa sĩ vĩ đại của thành Firenze. Từng nhịp thở, mỗi miếng nhai ý thức đang là những đường nét tạo dựng cho nhân gian thêm một báu vật nữa. Khánh Chung cũng đâu cần phải đến nhà ăn của tu viện Santa Maria delle Grazie ở thành phố Milano xa xôi để chiêm ngưỡng L’Ultima Cena. Vào tuần lễ thứ ba trong tháng của mỗi quý, khi đến với mái chùa cổ ở thị xã Vĩnh Ngọc, thành phố Nha Trang này thì bạn sẽ lại được như tôi vẽ lại tuyệt tác năm nào. Và chắc chắn đó sẽ là những mảng màu, nét bút tươi sáng, rực rỡ gấp ngàn lần hơn. Chủ đề của tác phẩm sẽ là tình anh chị em, tình bạn hữu bao la cao rộng. Tiêu đề cũng sẽ khác đi. Không phải là Bữa Ăn Cuối Cùng nữa mà sẽ là bữa ăn đầu tiên, Bữa Sáng Đầu Tiên. La prima colazione. Vì tình thương không bao giờ cho phép chúng ta nói rằng đây là lần cuối, có phải không Khánh Chung? Sẽ không còn bất cứ một âm mưu, một toan tính nào nữa mà chỉ có sự xót thương, lòng lân mẫn. “Xứng đáng chỉ có lòng xót thương”. Thông điệp của tình thương và hiểu biết ấy tôi đã được nghe. Và tôi lại thêm một lần nữa được nhắc nhở trong buổi ăn sáng thiêng liêng này…

Nha Trang ngày về (p3)

 

Sonata dưới ánh trăng


19h45’: Trăng lên tự bao giờ?

trang-NhatrangTối nay tôi được thông báo sẽ có thiền trăng. Tôi bắt đầu viết nên những dòng tâm nguyện của mình. Mọi người cũng sẽ như tôi, cũng sẽ gửi vào trang giấy thơm bao nhiêu là nỗi ước niềm mong của mình. Nếu có cơ hội được viết thì Khánh Chung sẽ viết gì?  Có phải bạn sẽ khởi đầu như thế này hay không?
“Mong sao cho con

Mong sao cho gia đình con
Mong sao cho những người con thương
Mong sao cho những người con chưa thương…

…được an lạc và nhẹ nhàng trong thân tâm
…được sống an toàn, không vướng vào tai nạn
…được thoát khỏi những giận hờn, phiền não, sợ hãi và lo lắng
…biết nhìn mình bằng con mắt hiểu biết và thương yêu
…nhận diện và tiếp xúc được với những hạt giống của niềm vui và hạnh phúc
…nhận diện và thấy được cội nguồn của những giận hờn, tham đắm và si mê trong bản thân
… biết nuôi dưỡng mình bằng những niềm vui mỗi ngày
…được sống mát mẻ, vững chãi, thảnh thơi
…không rơi vào thái độ dửng dưng và không kẹt vào hai mặt vướng mắc và ghét bỏ.”

Ai mà không có nhu yếu được đem đến niềm vui, được chia xớt nỗi khổ phải không Khánh Chung? Ai mà không muốn được yêu thương chân thật? Khi lòng ta phát khởi một ý muốn hướng thượng, một thiện nguyện thì dù chưa thành tựu chính ta cũng được tưới tẩm, dưỡng nuôi. Đó chính là thức ăn bổ dưỡng mà ta phải nhận diện mỗi ngày. Thế cho nên, tối hôm nay tôi hạnh phúc lắm. Tôi được ngồi trong vòng tròn đại chúng và chứng kiến vô lượng hạt giống hiểu biết và thương yêu đang được tung rải trên vườn hoa ý thức lòng mình…

Hoà bình trong lòng người

Ta có thể hỏi nhau mình tham gia một Khóa Tu thì có thể đóng góp gì cho xã hội hay không? Mọi người đến với khóa tu đâu phải để làm kinh tế hay tìm kiếm lợi danh. Tất cả chỉ đi với nhau, ngồi ăn cơm với nhau, chỉ có mặt cho nhau. Tất cả chỉ muốn dừng lại. Như những người nông dân khôn ngoan để cho mảnh đất của mình ngơi nghỉ sau một vụ mùa gặt hái. Đất đai sẽ có được một thời gian bình yên, an ổn để có thể tái tạo sự sống, phục hồi những dưỡng chất trong chính lòng mình. Hơn bốn trăm con người chúng tôi cũng vậy thôi. Chúng tôi cũng ngồi thật vững chãi, an nhiên như lòng đại địa. Chúng tôi cũng muốn để cho cánh đồng tâm thức của đại chúng được dịp ngơi nghỉ, ngủ yên. Không khí im lặng hùng tráng này sẽ nuôi dưỡng, tịnh hoá mảnh đất thân tâm. Đêm hôm nay là đêm nguyện cầu cho hoà bình nhân loại. Nguyện ước cho một vụ mùa sum suê những hoa trái Bi-Trí-Dũng. Cầu mong cho những mùa Lạc – mùa của an vui – sẽ tuôn dậy tràn lấp khi gió xuân về.  

Lúa trên đồng có thể lên đòng đơm bông từ đâu nếu không nhờ những hạt giống nảy mầm nằm sâu trong đất ruộng? Hoà bình dân tộc, hòa bình thế giới khởi đầu từ đâu nếu không phải là trong tự tâm của mỗi người?

Khánh Chung có biết rằng nơi chúng tôi tĩnh tọa cách đây chỉ vài mươi năm còn là vùng diễn ra chiến sự hay không? Những họng súng cùng những viên đạn đồng đen nay đã phải nhường chỗ cho tượng đài Quan Thế Âm. Không gian chết chóc và bầu khí quyển đầy tràn uất hận đó nay đã được thay bằng năng lượng bình an, thuần từ. Thật là nhiệm màu quá phải không Khánh Chung? Ta nghĩ rằng giữa sa mạc không một bóng cây ngọn cỏ của sự sống ấy vậy mà một ngày kia nước trong tĩnh lặng từ đâu tuôn trào. Đóa hoa vô thường không ai biết đã lặng lẽ ươm mầm để hôm nay bung cánh tỏa hương. Cuộc đời vẫn đẹp sao! Tình người vẫn còn lấp lánh lắm!

Khánh Chung có biết rằng nơi đây đã từng lưu giữ bóng hình của một vị cao nhân hay không? Chỉ với đôi chân trần mà Người đã trao truyền Năm Giới cùng Mười Điều Lành khắp non sông Đại Việt. Chỉ với hai bàn tay trơn nhưng Người đã đặt nền móng hòa bình, đoàn kết và thịnh vượng cho dân tộc trong hơn 150 năm. Tôi đang nói đến bậc Điều Ngự Giác Hoàng – Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Trên con đường đi vào lòng muôn dân, Tổ đã đến núi Gành và trùng tu tại ngôi Kim Sơn cổ tự này. Mảnh đất này đã là thánh địa. Kim Sơn đã là một huyền thoại rồi đó, Khánh Chung!

Công trình của Trúc Lâm Đại Sĩ đã được tiếp nối. Không phải bằng chùa vàng điện ngọc, mà bằng những hơi thở nhẹ sâu. Chỉ cần duy trì hơi thở thôi là tôi biết mình đã góp thêm chút ít cát đá để làm nên con đường Tùng thênh thang trong mát. Chỉ cần giữ chặt yên cương tâm ý thì tôi sẽ về được rừng Trúc xanh miên man thuở nào.

Đêm nay cũng là đêm năm xưa…
Và chiếc võng thời gian vẫn đang chậm rãi đong đưa ru sâu hồn người..
…tìm về những tháng ngày hoàng kim, châu báu

Ông lão đánh cá và hòn tuyết lăn

Đến với Kim Sơn tôi đã hứa với lòng là phải làm được một chuyện. Đó là Dừng Lại. Thực tập “Dừng Lại” là công tác của tôi mỗi ngày. Khánh Chung có biết không, tôi vẫn sống, vẫn ăn, vẫn đi, vẫn ngồi và vẫn thở. Nhưng sống như thế nào, ăn, đi, ngồi và thở như thế nào để có thể Dừng Lại. Dừng Lại cho bằng được dòng nghiệp lực của mình.

Hầu hết chúng ta đều bị cuốn theo những suy tư, lời nói và hành động. Dòng chảy đó đôi khi chỉ là những con kênh lạch bé nhỏ nhưng có khi cũng như những đợt sóng thần bạo tàn cuốn trôi tất cả và để lại không biết bao bất hạnh đau thương.

Chúng ta bị chìm đắm theo con nước hôm qua. Chúng ta xuống lên theo triều cường hôm nay. Và những ước vọng về một sớm mai huy hoàng, những mơ tưởng về một ngày kia tươi sáng lại đánh động tâm hồn chàng thuỷ thủ. Người thuyền nhân lại tiếp tục giong cánh buồm đỏ thắm ra khơi, tìm về hải đảo xanh ngát của tự do, của ánh sáng. Không bao giờ ngơi nghỉ. Không bao giờ dừng chân. Anh ta đâu có hay rằng mình đã bỏ lại sau lưng một điều thiêng liêng nhất. Đó là thực tại mầu nhiệm – chốn thần tiên, quê hương đích thực của mình.

Tôi không muốn làm ngư ông suốt đời chạy theo một con cá trên đại dương vô tận. Ông lão ấy cuối cùng cũng có được thứ mà mình mong muốn. Nhưng than ôi! Giờ đây trong tay ông chỉ là một bộ xương khô trắng. Tôi không muốn trở thành hòn tuyết trôi lăn trên đồi núi dài rộng. Hòn tuyết ấy cứ xoay tròn ngày càng nhanh hơn và trở nên to lớn hơn. Nhưng kết cuộc rồi nó cũng sẽ vỡ tan, nát vụn thành bụi cát… Tôi chỉ muốn một điều thôi. Tôi muốn ngưng đọng tâm tư. Tôi muốn neo đậu con thuyền ý thức vào giữa mặt nước của trái tim mình. Và may mắn thay! Trong đêm thanh vắng hôm nay, tôi có thêm cơ hội ngồi thật thảnh thơi đi thật vững vàng…

Khánh Chung biết không, trăng bấy giờ đã lên cao rồi đó. Ánh vàng toả chiếu, soi rọi trên ao nước hồn tôi. Thanh Lương Nguyệt – người bạn cũ lâu năm –  quàng cánh tay ấm lên bờ vai, hàn huyên với tôi niềm phúc lạc của sự sống…

Phóng tầm nhìn lên trên, đôi mắt tôi chứng kiến mùa trăng đang nở chín khắp vùng trời. Và bên dưới chỉ còn là hai màu trắng đen le lói, nối tiếp nhau như những phím đàn dương cầm. Mỗi bước chân như một nhịp chạm đập vào lòng thực tại. Khúc Tâm Từ dần dần rung vang những nốt nhạc đầu tiên. Đoàn người vẫn bước đi, lưu dấu lại trong thực địa âm giai thân thuộc. Bài ca Tâm Từ cất lên rồi đó, Khánh Chung! Bản Sonata Dưới Ánh Trăng phát xuất từ muôn trái tim khởi đi từ bao tấm lòng…

avera hontu
abyapajjha hontu
anigha hontu
sukhi – attanam pariharantu…

Trên  sân khấu của đất trời chỉ còn là bản hợp xướng Từ-Bi-Hỷ-Xả. Và tấm màn nhung huyền Khổ-Đau-Sầu-Vướng đã khép lại tự bao giờ…

Nha Trang ngày về (p2)

 

7 giờ 45’ sáng. Điểm đến: Kim Sơn. Ánh sáng toả rạng

Sermon on the Mountain

Vậy là tôi đã có mặt tại khoá tu Mùa Hè ở Kim Sơn. Tôi thích con đường lên núi lắm. Lối đi ấy không quá dài để làm khách bộ hành thấm mệt và cũng không quá ngắn để xa rời sự nhộn nhịp chốn đô thành. Đây cũng chính là con đường Phượng Bay. Màu đỏ hồng của hoa phượng rực rỡ điểm tô giữa nền xanh thăm thẳm. Và trên núi cao là cả một dòng sông mát trong đang tuôn chảy dạt dào. Mỗi sớm mai, khi hừng đông tỏa chiếu thì người dân xung quanh lại được chứng kiến một cảnh tưởng hùng tráng: Con sông khởi đầu từ đỉnh đến chân núi, dừng lại rồi lại trở lên, về với gốc rễ cội nguồn.

Khánh Chung chắc là sẽ ngạc nhiên phải không? Làm gì có dòng nước nào có thể từ vùng thấp chảy ngược lên cao?
Bạn thân mến, tôi đang nói về tăng thân trân quý. Vì tăng thân thì luôn đi với nhau như một dòng sông. Đó chẳng phải là điều chúng ta thường hay đem ra cho nhau ghi nhớ đó sao?

nhatrang_ngayve

Trong khoá tu, sáng nào Ôn Kim Sơn cũng đi thiền hành cùng đại chúng. Hình ảnh Ôn dẫn đầu tăng thân như cơn mưa giao mùa lấp lánh, dịu ngọt. Ôn rất kiệm lời nhưng bao nhiêu đó thôi cũng đã làm tròn đầy khỏa lấp niềm hỷ lạc trong tôi. Đó là bài giảng trên núi. Sermon on the Mountain. Mỗi buổi sáng là tôi lại được nếm lại bài thuyết pháp thơm ngát này. Diệu âm tuy vô thanh nhưng đã làm rung chuyển biển sông núi đồi. Chỉ là những bước chân thầm thì bé nhỏ mà đã làm người khách tang hải phong trần giấc tỉnh mộng tan. Ôn như con sóng đầu đàn và theo sau là muôn trùng những đợt sóng nối tiếp đưa thuyền tôi về lại bến bờ yên vui, không còn phải lênh đênh, chìm nổi.

Retreat nghĩa là gì?

Khánh Chung có biết là lần đầu tiên nghe đến danh từ Summer Retreat tôi đã không hiểu Retreat nghĩa là gì không?  Tôi chỉ biết rằng  “Retreat” diễn đạt một sự rút lui. Như một đoàn quân lui khỏi chiến trường, di tản khỏi vùng nguy hiểm. Như một lữ khách đã mệt mỏi sau bao chuyến đi muốn tìm về cho mình nơi chốn nương thân.

Sau đó tôi mới được biết Retreat nghĩa là khoá tu. Khánh Chung thấy đó, nếu mình liên kết các ý lại với nhau thì ta sẽ có một cách định nghĩa cho riêng mình. Khoá tu là một cơ hội của chính ta để rút lui khỏi đời sống bận rộn. Đó là một dịp may để ta từ bỏ ánh đèn thị thành, trở về thắp lên ngọn lửa sơn lâm. Ta sẽ xa rời những hầm hố, bẫy sập trên những con đường đầy gió bụi. Ta sẽ lại về đắp xây ngôi nhà của chính mình. Ngôi nhà của thân và tâm.

Ngoài đời bây giờ có rất nhiều hội thảo, khoá học, chương trình đào tạo, những chuyến đi xa để người tham dự có điều kiện nhìn lại mình, xác định lại mục tiêu của đời mình. Tìm lại cho mình một giá trị, một đường hướng. Khánh Chung cũng thấy chi phí để tham gia vào những sự kiện như vậy không hề rẻ và ngày một tăng lên. “Được là mình”, “hiểu mình” là một nhu cầu rất lớn. Ai cũng đều có những khát khao, ước vọng như vậy. Tôi cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ. Tôi cũng muốn tìm lại nhiều niềm vui bé nhỏ mà mình đã quên lãng bên vệ đường. Tôi cũng muốn chào tạm biệt, đi thật xa khỏi bao lắng lo, phiền muộn. Tôi không muốn mình cứ mãi rong ruổi ngược xuôi theo những chuyến xe cuộc đời. Tôi không muốn lòng mình cứ mãi ấp ôm muôn vạn hộc sầu thương tiếc.

Vậy nên tôi đã đến. Đến với Kim Sơn. Đến với khóa tu Mùa Hè, tôi được ăn trong im lặng, nói và nghe với tâm yêu thương. Tôi được đi, đứng, nằm, ngồi thật đoan nghiêm. Tôi được dạy cách gói lại tất cả những sầu thương để mở ra niềm thanh thản. Tôi được học cách chắt chiu từng thời khắc, trân quý mỗi phút giây mình sở hữu. Tôi được sống như một con người đích thực. Tôi có cơ hội để tìm lại giá trị đích thực của mình. Một khóa tu với sự yểm trợ của bốn chúng đã nâng đỡ cho tôi nhiều lắm. Lần tới nếu có ai đó hỏi Khánh Chung rằng “Tham gia khoá tu để làm gì?” thì Khánh Chung sẽ trả lời như tôi có được không? Ta đi tìm lại mình, tìm lại giá trị đích thực của mình. Bạn có bằng lòng với tôi không?… Mình sẽ trả lời như thế nhé……

Serenade số 2

Chiều nay tôi ngồi an ổn trên một phiến đá và lặng lẽ quán sát vùng trời biển quê hương. Từng vạt nắng chói chang đang tan dần, rót vào lòng tôi triệu triệu sắc màu sáng loá. Những hôn hoàng nối tiếp những hoàng hôn. Tựa mình vào vách núi cho phép tôi có một thế nhìn nghiêng nghiêng trong thời khắc chạng vạng. Trời đất đẹp lạ lùng và mang đến cho tôi một xúc cảm bùng cháy. Đã như thế bao năm rồi tôi chưa từng nhìn ánh chiều rơi? Khung cảnh diệu vợi này ngày qua ngày vẫn diễn tập sau hôm nay tôi mới hay, mới biết? Hơi ấm của đất đá len vào từng ngõ ngách sắc thân. Mắt nhìn về khung trời tím hồng hoang ngời ngợi. Gió biển từng cơn mang theo vị mặn thấm tan nơi đầu lưỡi. Khí trời thanh trong phủ kín ấm lồng ngực. Và đôi tai tôi rộn ràng, vang vọng bao nhiêu là thanh âm.

Những ngón tay khẽ rung chạm vào hư không. Từng ngón tay đang lay động. Tất cả như đang bay lên. Những giọt sương trong đang lặng lẽ về với mây trắng. Những sợi tơ trời đang giăng lưới bủa vây cùng khắp vũ trụ. Lòng tôi như những cánh sen hồng phai theo gió ngàn đi khắp thiên hà đại địa.

Vàng rơi? Vàng rơi?

Tôi tự hỏi mình như thế đó, Khánh Chung! Tôi ngồi yên như thế lâu lắm. Như em bé thơ trong câu hát quen thuộc. “Mê trời mây tím không nghe mẹ gọi về”. Lòng tôi đâu có khác gì quyển Tâm Kinh dạt trôi trên muôn trùng sóng bạc. Những dòng chữ, câu kệ đã bị dòng thời gian phai dấu, hương thời gian thấm ướt thì nay được hong khô, hiện rõ dưới mặt trời.

Màu áo tôi được nhuộm ánh hoàng hôn. Và lòng tôi cũng như loài hải âu chuyên chở trên đôi cánh mình bao sắc màu thanh khiết. Những ngón tay thon dài vẫn còn lay động. Âm thanh, giai điệu khúc ca ngày mùa này đã biểu hiện tự lúc nào. Thanh âm vốn đã sẵn có. Chỉ chờ một tâm hồn đồng điệu khai phá. Chỉ chờ một trái tim biết rung cảm. Chỉ chờ một thế ngồi vững chãi. Có khó gì đâu, phải không Khánh Chung? Chỉ cần đôi mắt, đôi tai, tất cả giác quan ta có mặt…thì bản nhạc chiều hoàng hôn, khúc Serenade bất tử này này sẽ lại ngân vang. Khung cảnh thần tiên này sẽ lại tái hiện. Đâu có khó phải không Khánh Chung? Ta có thể và cần phải sắp xếp cho đời sống mình một khoảnh khắc như vậy. Tôi muốn ôm giữ mãi mãi phút giây đẹp đẽ này. Mãi mãi cho đến những mai sau. Và thật lòng mong ước bạn cũng sẽ như tôi: Cầm chắc Vàng không để Vàng rơi nữa!

Nha Trang ngày về (p1)

 

(Viết cho Khánh Chung và tất cả những người chị thân thương của tôi)

Chương đầu tiên: Bản Overture

Khánh Chung thân mến!
Tôi trở về với Nha Trang vì đọc được một lá thơ, một lời mời gọi của người anh nơi phương xa. Bạn có muốn biết nội dung của bức thơ ấy hay không?

THƯ MỜI
***

Xin mời em/chị: ……………Áo Trắng…………………
Dành ít thời gian quý báu để tham dự vào Cuộc Sống,
Đang được tổ chức tại: Trái Đất 
Vào lúc: Sáng Hôm Nay
Sự hiện diện của: ……em……
Sẽ mang lại rất nhiều niềm vui cho buổi họp mặt
Người tổ chức: Nắng Sớm
Nhà tài trợ: Gió Mát, Lá Non, Bướm Tím, Trời Xanh

Người anh ấy tên Lữ. Đó là tất cả thông tin mà tôi biết về anh. Nhưng có một sự truyền thông sâu sắc giữa hai trái tim. Có một tiếng nói trong thinh lặng giữa hai tâm hồn. Tôi biết trong âm thầm đó chính là người anh, người thương bấy lâu nay tôi ngóng tìm, chờ trông…

Có những người ta biết ơn, ta trân quý vì họ nói lên sự thật, giúp ta khám phá sự thật. Vì ai mà không cần sự thật? Ai cũng có nhu yếu được làm một con người chân thật, được đối xử chân thật, được tiếp xúc với những gì chân thật, phải không Khánh Chung?

18. Fresh as flowers

Và sự thật đầu tiên là gì, bạn có biết không? Đó là hạnh phúc. Phút giây này chính là hạnh phúc. Trang thơ của anh Lữ luôn là những câu chuyện về hạnh phúc. Hạnh phúc chính là một sự thật. Hạnh phúc đang hiện hữu trên mọi miền sông núi. Dòng sông an vui đang tuôn chảy trên khắp chốn nhân gian. Nhưng chúng ta vốn là những người con trai, con gái khờ dại. Mỗi một ngày trôi qua, thiên nhiên luôn gọi ta về. Cha mẹ luôn kêu tên ta: Này con ơi, con có thấy bầu trời hôm nay đẹp và trong lắm hay không? Anh chị đang nhắc ta: Em ơi, em có ngửi thấy đóa tường vy thơm ngát đang nở rộ trong vườn hay không? Em ta đang gọi ta: Anh ơi, anh có nghe tiếng hoạ mi lảnh lót trên cành hay không?

Những âm thanh vi diệu của đời sống cứ rung ngân trong từng thời khắc, trong 24 giờ. Tiếng biển hát. Tiếng sóng reo. Âm thanh những tầng trời bao la. Âm thanh hải triều bát ngát. Mẹ gọi ta về. Nhưng ta đâu có nghe. Ta cứ đi trong hờn tủi. Ta cứ bơi trong vô vọng. Ta đâu có để ý những Biển Báo: Hãy Dừng Lại. Ta quyết chạy tới dù đã được nhắc nhở: Phía trước là Núi Lở Đường Trơn. Ta cứ phóng nhanh dù cho Đây là Con Đường Thường Hay Xảy Ra Tai Nạn. Ta vô tình giẫm đạp lên không biết bao nhiêu viên gạch diệu kỳ của thực tại. “Em đi bỏ mặc con đường”. Đó là tình trạng chung của chúng ta và cũng là của rất nhiều những người khác. Thật là khờ dại quá phải không, Khánh Chung?

Ta đã bỏ lỡ chuyến tàu đi về miền hạnh phúc. Và ta cũng lỡ hẹn với biết bao những mầu nhiệm trong cuộc đời…

Lễ hội ngày mới

Anh Lữ luôn có mặt tại sân ga để đợi chờ tôi. Anh Lữ đã gọi tôi. Gọi thiết tha lắm, gọi tên tôi bốn mùa, gọi tên tôi trong suốt những ngày nắng đổ mưa rơi. Và lần này tôi đã về, đã nghe anh mà trở về. Về với anh, về với biển. Nha Trang ngày về! Ngày của đoàn tụ. Ngày của nhịp cầu nối dài những bờ vui. Không than van, không hờn trách. Tôi đã tới để cùng anh hát lên khúc hoan ca Mùa Hè. Bản Overture này chỉ có phần Prelude. Và sẽ mãi luôn mới tươi như những cái nhìn đầu tiên, tinh khôi như những lần đầu gặp gỡ…

Khánh Chung có thấy rằng: Lá thơ của tôi cũng là sự tiếp nối của anh Lữ hay không? Lá thơ này cũng là một thư mời. Tôi đã nắm giữ Phong Thư Mời Về Với Tuổi Thơ và nay trao cho bạn. Hãy cùng tôi, nối gót nhau vào chốn thực tại mầu nhiệm. “Mời người đem theo toàn vẹn thương yêu”… Mời bạn lên xe, cùng tôi, ta dìu nhau về miền tỉnh thức. Chúng ta không cần phải đeo mang gì nhiều. Ta chỉ cần hát ca.

Ta sẽ không sợ lạc vào những nẻo tối tăm. Vì ta đã cầm chắc trên tay mình địa chỉ và nơi chốn. Buổi tiệc trần gian ta nhất định không bao giờ đánh trượt.

Địa chỉ: Ở đây.
Thời gian: Bây giờ

Ta chỉ cần nhớ 2 chi tiết ấy thôi, thì tiệc vui sẽ mãi không tàn. Những festival sẽ nối dài những festival.

Tất nhiên rằng đón đợi tôi tại ga cuối của cuộc hành trình đâu chỉ có anh Lữ mà còn có rất nhiều người khác nữa. Không phải ai tôi cũng quen mặt nhớ tên. Nhưng tôi biết màu áo của họ. Chỉ có hai màu thôi. Màu của vách núi và màu của sương mây. Những người thương của tôi. Đó là đoàn thể, cộng đồng mà tôi đã may mắn gia nhập. Mối tâm giao này đã có tự bao giờ? Hình như chỉ mới một năm. Sự liên hệ ấy giống như một bộ phim. Mà tôi thì luôn cầm chắc chiếc vé trong tay mình. Và tôi cứ xem đi, xem lại không biết bao nhiêu lần… Nâng niu và gìn giữ…. Bộ phim ấy chưa từng có đoạn kết và sẽ không thôi ngừng quay.

Tim rộng mở. Tâm bình an

(Còn nữa…)