Trong Má có Bụt – Trong Má có Con

Còn nhớ 4 năm về trước, cái ngày không thể nào quên khi mà đứa con trai duy nhất của tôi đã vĩnh viễn ra đi khi mới 26 tuổi đời. Không để lại một lời nào để nhớ!… Ngày ấy, tôi chưa hề biết gì về Đạo Bụt cũng chưa biết gì về pháp môn Sư Ông Làng Mai. Những ngày tháng ấy thật là kinh khủng! Đó là địa ngục giữa trần gian, chỉ mong ai đó giúp mình chết đi thì sẽ biết ơn người ấy lắm!

Nhưng mà mọi việc đã đổi thay một cách mầu nhiệm… Một buổi chiều mưa như thác đổ ở Tu Viện Bát Nhã, Sư Cô Thanh Ý ngồi yên nghe từng tiếng nấc và từng lời kêu cứu của tôi: “Sư cô hãy giúp con làm sao để có thể tiếp tục sống!”. Lời khai thị của Sư Cô như một liều linh dược cấp cứu và giành lại sự sống cho một con người hoàn toàn tuyệt vọng…

Bốn năm tu học và thực tập pháp môn Làng Mai đã thay đổi cuộc đời tôi. Từ một con người chỉ muốn đi về cõi chết, tôi đã trở thành một con người khác. Có thể tự chuyển hoá những khổ đau phiền não, tự làm chủ những cảm xúc giận hờn, bức bối… để đem lại cho mình niềm vui và bình an trong cuộc sống. Tôi nhớ mãi lời dạy của Sư Ông: Dù trong bất cứ tình huống nào, khó khăn và đau khổ đến đâu cũng phải thực tập cho được bình an. Dù có chết cũng chết trong bình an. Lời dạy này của Sư Ông như một bảo bối mà lúc nào tôi cũng mang nó theo bên mình để thực tập, để sống tỉnh thức từng giây phút.

Những lúc khó khăn nhất tôi đều nương tựa vào quý thầy và quý sư cô, các bạn đồng tu. Bởi vì tôi biết mình chưa đủ lực để có thể hoàn toàn nương tựa hải đảo tự thân. Có một điều là càng ngày tôi càng thực chứng được những lời dạy của Sư Ông khi hết lòng thực tập. Một buổi chiều, khi người đưa thư trao cho tôi một phong bì lớn, có ghi nơi gửi là xóm Thượng Làng Mai Pháp Quốc. Người gửi là Thầy Pháp Toại. Tôi mở phong bì ra. Đó là một bức thư pháp của Sư Ông nhỏ nhắn, xinh xinh và dễ thương với dòng chữ : “trong má có Bụt – trong má có con”. Tôi bồi hồi xúc động bởi vì thật sự tôi đã cảm nhận được điều ấy. Con kính biết ơn Sư Ông, biết ơn Thầy!


Người ta thường nói: Tình mẫu tử, tình phụ tử rất thiêng liêng cao cả! Tôi là người cảm nhận điều này hơn ai hết. Khi mình còn trẻ, còn khoẻ mạnh thì cái ý niệm này đối với mình rất bình thường, không có gì đáng lưu tâm. Nhưng mà khi vô thường đến, nhất là khi sự chia ly đột ngột xảy ra thì mình mới hiểu hết sự thiêng liêng ấy.

Từ ngày con trai mất, tôi đã hết lòng thực tập những điều Sư Ông dạy, đi theo sự dìu dắt của quý thầy và quý sư cô nên tôi luôn tiếp xúc được với con trai mình. Tôi nhận ra một điều: Đúng là tình mẹ con, tình cha con là thứ tình cảm không ai có thể chia lìa. Dù người cha, người mẹ hay đứa con ấy có chết đi thì vẫn còn ở mãi trong nhau. Mẹ vẫn có thể chăm sóc cho con. Con vẫn có thể báo hiếu cho mẹ… Những lúc thiền hành, ngồi thiền, tụng kinh, ăn cơm chánh niệm… tôi luôn cảm nhận có con trai mình bên cạnh. Hai mẹ con cùng tu học. Sự bình an và hạnh phúc lan truyền từ mẹ sang con và từ con sang mẹ. Tôi vẫn thấy nụ cười rất tươi của con trai mình ở một nơi rất đẹp, rất bình an.

Có một điều thật lạ, những đứa học trò cấp 3 của con trai tôi dù không biết gì về pháp môn của Sư Ông, nhưng những cảm nhận của các em sao mà như một người đã thực tập pháp môn lâu lắm rồi vậy. Các em thường tâm sự với thầy trên FB : “ Chúng con nhớ thầy lắm! Thương thầy những lúc chúng con chưa ngoan, chưa chăm chỉ học tập, thầy dẫn chúng con đi ăn kem, khuyên nhủ chúng con, không bao giờ to tiếng rầy la chúng con. Thế mà chúng con chưa kịp nói với thầy rằng: Con thương thầy nhiều lắm! Thầy đâu có đi xa. Thầy đang ở trong mỗi chúng con. Thầy sẽ nâng bước khi chúng con vấp ngã, thầy sẽ mỉm cười khi chúng con thành công. Chúng con sẽ sống thật vui, thật hạnh phúc và sẽ tiếp nối công việc và tình thương của Thầy. Chúng con lúc nào cũng sẽ sống hết lòng với mọi người như thầy đã từng sống với chúng con. Gửi gió mang về nơi xa ấy có thầy của chúng con !”. Lời lẽ của những học sinh lớp 10 chỉ mới 15 tuổi mà như những người thấm nhuần Đạo Bụt và đang thực tập lời dạy của Bụt vậy. Những đứa học trò vẫn đến thăm mẹ của thầy. Những lúc ấy, tôi biết rằng có con trai mình đang ở trong các em và chính con trai tôi đã dẫn dắt học trò mình về thăm mẹ.


Trong số bạn bè của con trai tôi, H. Nam là người bạn thân nhất của nó và cũng là học trò cấp 3 mà tôi đã dạy. Nam đã nói: “ Con muốn thay Hải để lo cho thầy cô. Con là một thành viên của gia đình. Con không phải là người ngoài đâu“. Câu nói này đã làm tôi không cầm được nước mắt. Tôi biết rõ rằng: Dù không còn trên cõi đời này nữa, nhưng con trai tôi vẫn tìm cách báo hiếu cho cha mẹ theo cách của mình. Vậy là tôi có thêm một đứa con trai nữa, chứ tôi đâu có mất con trai! Ai bảo chết là hết? Không! Đối với tôi như chưa hề có cuộc chia ly nào cả. Con trai tôi vẫn ở cạnh bên tôi đó thôi.

Một điều kỳ diệu khác đã xảy ra. Trên trang Blog của mình, tôi đã trải lòng ra về sự thực tập pháp môn và thường tâm sự với con trai . Có một bạn rất bằng tuổi con trai tôi đã xúc động. Hai cô cháu kết bạn trên FB, bạn trai này cũng đang thực tập pháp môn sư ông. Trong một lần tâm sự với con trai, tôi có nói : “Mẹ nhớ mãi một buổi chiều mưa rất to, con đi dạy về đội mưa mang bánh xèo vào cho mẹ ăn khi mẹ đang nằm bệnh viện vì con biết mẹ rất thích bánh xèo. Chiếc bánh xèo hôm ấy chưa bao giờ ngon như vậy!” Đọc được điều này, cứ mỗi lần sinh nhật tôi là bạn trẻ ấy gửi một chiếc bánh xèo trên FB. Rồi hai cô cháu trở thành bạn đồng tu và lúc nào cũng rủ nhau đi tu. Có một lần thiền hành ở chùa Tuệ Uyển Long Thành, bạn ấy đã nắm tay tôi đi thiền hành. Lần ấy , tôi nghe hơi ấm của con trai tôi trong lòng bàn tay ấy. Tôi lại có thêm một đứa con trai nữa rồi! Cám ơn Cát Tường vì đã làm ấm áp thêm tình mẹ con trong cô.

Còn rất nhiều và rất nhiều điều nữa… Tất cả những điều mầu nhiệm ấy nằm trong tình thương lớn mà quý thầy cô và tăng thân đã dành cho tôi, đã ôm ấp tôi những lúc khó khăn nhất và cô đơn nhất. Nhưng mà vượt lên trên tất cả chính là vì: “Trong má có Bụt, trong má có con”. Hãy sống và thực tập hết lòng theo những gì Sư Ông dạy thì chắc chắn điều mầu nhiệm sẽ xảy ra thôi các bạn ạ. Xin tri ân vì tất cả…!

Mùa Vu Lan 2013

Tâm Tự Tại

 

Với tôi Làng Mai là một công án – Phần 1

Nguồn: Phù sa Online

Hoàng Hưng

Trên chuyến bay từ Paris đến Reykjavik, thủ đô Iceland, tôi không khỏi mỉm cười khi thấy trên màn hình giới thiệu du lịch có những từ “mindfulness” (chánh niệm), “meditation” (thiền), “here and now” (bây giờ và ở đây). Hôm trước cũng nghe một thiền sinh ở Làng Mai (LM) chia sẻ rằng cô thích thú khi nghe một nữ tiếp viên hàng không nói với khách: “Please have mindfulness to bring your luggage down…” (xin chánh niệm khi đưa hành lý xuống…). Thiền tập đã đi vào đời sống người châu Âu đến vậy, có phần ảnh hưởng khá lớn của LM.

Với riêng tôi, Làng Mai (LM) là một “công án” ám ảnh nhiều năm.

Tôi biết từ lâu một thi sĩ với những vần thơ tự do khá mới mẻ chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện bên cạnh những bản dịch tuyệt bích thơ tứ tuyệt Lý Trần. Cũng nghe từ lâu dòng tu “nhập thế” nổi tiếng với Phong trào Thanh niên Phụng sự Xã hội, với những vận động hòa bình cho Việt Nam, với con tàu cứu vớt thuyền nhân… Cũng đọc không ít sách Đạo của vị Thiền sư (TS) được coi là tu sĩ Phật giáo lớn thứ nhì thế giới hiện nay mà số người đọc và học trò đã lên tới nhiều triệu trên khắp hành tinh. Tôi ngưỡng mộ ông là chuyện tất nhiên.

Nhưng thú thật, với kinh nghiệm một đời lăn lộn, vỡ mộng cũng nhiều, cộng với “sở tri chướng” của kẻ “đa thư”, luôn e ngại mọi thần tượng, giáo chủ có “charisma” dẫn dụ bầy cừu mê mẩn, tôi vẫn giữ thái độ “quan sát” đối với LM.

 

Thiền hành từ chùa Pháp Vân (Xóm Thượng) xuống chùa Sơn Hạ

Ấn tượng đầu tiên của tôi với LM có sự mâu thuẫn. Lần đầu tiên tiếp xúc, vào năm 2005 khi TS đưa tăng đoàn về VN, là trong buổi pháp thoại của TS ở Viện Goethe. Ấn tượng này đã được ghi lại gần như tức thời qua bài thơ Bậc thầy (bài này đã in trong tập Hành trình, NXB Hội Nhà văn, HN 2005, bản tiếng Anh The Master in trong chapbook Hoang Hung, Poetry & Memoirs do International Poetry Library of San Francisco xuất bản, và đọc trong đêm thơ-văn “Echoes of Vietnam” tháng 3 năm 2012 ở Santa Cruz):

“Thầy vào như hơi gió

Tăng đoàn rạng rỡ tuệ quang…”

Quả thực hình ảnh khinh khoái hiếm thấy của một ông sư và ánh sáng trên gương mặt các học trò của thầy chinh phục tôi nhiều hơn những lời thuyết giáo.

Nhưng rồi ngay sau đó, tôi bị hẫng khá mạnh khi nghe qua bản thu âm câu hỏi đáp trong một buổi thầy thuyết trình ở Viện Khoa học Xã hội miền Nam. Một “giáo sư” giọng rất gay gắt (nói cho đúng là khiêu khích) nhắc lại hai lần câu hỏi, lần sau gắt hơn lần trước: “Tôi xin hỏi TS, nếu bây giờ tôi quy y thì tôi có còn được quyền yêu Đảng, Đảng do Bác Hồ sáng lập và lãnh đạo, có được quyền yêu nước, nữa hay không?” Có lẽ quá bất ngờ trước câu “truy hỏi”, TS hơi sững một chút, rồi đáp: “Không yêu Đảng không yêu nuớc thì quy y làm gì!”. Thú thật là tôi bất mãn với câu trả lời. Yêu nước, OK, còn “yêu Đảng”? Sao lại phải yêu cái đảng tuy một thời có công lãnh đạo cuộc chiến đấu giành độc lập thống nhất cho đất nước (tuy là với cái giá quá đắt, vấn đề này mang tính lịch sử rất phức tạp, lúc khác sẽ bàn), nhưng gần đây nó đã biến chất, suy thoái rõ rệt, không còn tính chính đáng?

Hình ảnh sơ phác của LM trong tôi thế là trong cái sáng vẫn còn cái “lăn tăn”.

Ba lần đến với Làng Mai:

Ba năm nay, Trời Phật sắp xếp sao đó để tôi có cơ duyên thực sự đi sâu, đi sát LM, để ngày càng hiểu rõ và hiểu đúng về Làng.

Tôi đã đến gần với LM qua những ngày hoạn nạn của các học trò TS ở Bát Nhã. Tôi đã thấy ánh sáng rạng rỡ trên gương mặt người thân của mình sau mỗi chuyến lên Bát Nhã tu tập đợt hai tuần, đợt ba tuần. Tôi đã thấy ánh sáng rạng rỡ trên gương mặt, đã nghe tiếng cười hồn nhiên của những sư em, những thực tập sinh trẻ măng căng tấm ni lông giữa trời hứng nước mưa khi bị các đệ tử của thầy Đức Nghi cúp nước. Tôi đã nghe người thân kể chuyện những người trẻ là con em gia đình “cộm cán”, hay bản thân là trí thức trẻ đầy tương lai, đã dứt bỏ tất cả đi theo con đường LM để thực hiện tâm nguyện Bồ tát trước cứu mình sau giúp người ra khỏi cõi mê.

Tiếp ngay đó, cơ duyên lại đưa tôi đến thẳng LM. Nhân đi làm công việc dịch thuật ở Paris, hai vợ chồng tôi quyết định ghé xuống Làng vài hôm. Không liên lạc được trước, chúng tôi cứ đi, nghĩ có duyên thì gặp. Quả nhiên trong lúc tôi đang nằm thẳng cẳng ngủ giấc trưa “bụi đời” trên ghế băng trước cửa ga xép Sainte Foye La Grande chưa biết cách nào đến được LM, thì xuất hiện một sư cô người Tây trong trang phục màu đà quen thuộc của LM. Tình cờ cô ra đón một khách của Làng từ Paris tới. Thế là cô vui vẻ đưa chúng tôi về Xóm Mới, và cho biết ở đó đang có một khóa tu ngắn ngày. Bước chân vào Xóm, người tiếp đón chúng tôi là một sư cô trẻ măng đồng hương Hà Nội. Sau này tôi biết cô là con gái cưng của một quan chức cao cấp, lại biết cả mẹ cô cũng đã xuất gia theo gót con gái (thật dễ hiểu vì sao những quyền lực thế gian lại “kỵ” Bát Nhã, LM đến vậy!) Ba ngày ngắn ngủi ở LM tóm lại một cảm tưởng: một tiên cảnh giữa trần gian, với cảnh đồng quê đồi rừng thanh bình đẹp đến nao lòng, với những tiên đồng ngọc nữ tươi tắn trong veo và thanh tú, với hàng trăm người trong đại gia đình quốc tế vui vẻ và thành kính thực tập những “pháp môn” rất giản dị để thân tâm an lạc: tập thở vào thở ra, tập bước đi chánh niệm, tập ngừng lại khi nghe tiếng chuông…

Trong lần sơ ngộ này có một chi tiết tình cờ nhưng ít lâu sau thành một yếu tố gắn tôi với LM. Trong màn tự giới thiệu khi chia sẻ trong nhóm “gia đình”, tôi thành thật nói mình là nhà báo, không phải Phật tử (nói cho chính xác là không quy y Thầy nào, không theo tổ chức của chùa nào). Tôi đọc thấy vẻ ngỡ ngàng của quý ni sư và Phật tử. Giờ giải lao, một ông “Tây” to lớn đầu râu tóc bạc xin có vài lời với tôi. Ông bảo: “Tôi xin tự giới thiệu, tôi là cố vấn của Tổng thống Israel, nhưng tôi cũng là đệ tử của Thay (các đệ tử Âu Mỹ của TS đều gọi TS là Thay như một tên riêng) từ chục năm nay. Tôi không hiểu vì sao ông có ý nói ông là nhà báo nên không thể là Phật tử?” Tôi chỉ cười, đáp: “Mỗi nước có một hoàn cảnh khác nhau ông ạ”.

 

Một gia đình pháp đàm ở Làng Mai

Chỉ vài tuần sau đó, tôi đang ở chơi nhà chị Thụy Khuê dưới Côte d’Azur, một biệt thự màu hồng đẹp như mơ trên đồi nhìn xuống biển Địa Trung Hải mà anh Lê Tất Luyến chồng chị là người tạo dựng và chăm nom, ngôi nhà luôn mở lòng đón tiếp bạn bè tứ xứ… thì dồn dập nghe tin Bát Nhã bị tấn công. Sự xúc động trong lòng tôi nhiều lần trào lên khóe mắt khi xem trên mạng những em thiền sinh ngồi an bình niệm danh hiệu Quán Thế Âm trước sự hung hăng dữ dằn của kẻ ác. (Trong dịp ở LM gần đây, mỗi lần nghe màn tụng Avakilotesvara trước khi Thầy pháp thoại, thì hình ảnh các em Bát Nhã niệm Quán Thế Âm lại hiện lên khiến sự xúc động của tôi lại dâng trào). Đến ngày cao điểm, bọn ác nhân xua đuổi 400 em khỏi Bát Nhã giữa trời mưa như trút thì tôi không nén nổi căm giận và xót thương. Tôi nhờ chị Thụy Khuê liên lạc ngay với Radio France International (RFI) – lúc này chị đã về hưu, chỉ còn cộng tác một chuyên mục với Đài – cho biết tôi muốn phát biểu trên Đài về sự kiện Bát Nhã. Tôi cũng không ngờ, như Thầy cho biết trong phút gặp gỡ đầu tiên ở LM, phát biểu của mình về pháp nạn Bát Nhã trên truyền thông quốc tế đã khởi lên cao trào lên tiếng bênh vực con em của LM đang gặp nạn, và cũng không ngờ việc này kéo tôi tiếp tục dấn thân vào vụ Bát Nhã, viết liên tục 9 bài trên các mạng trong ngoài nước, trong đó có Thư ngỏ Thư thỉnh nguyện gửi ba nhà lãnh đạo cao nhất của Nhà nước VN thu được trên 400 chữ ký bao gồm nhiều trí thức văn nghệ sĩ nổi tiếng trong ngoài nước và Đảng viên Cộng Sản kỳ cựu. (Đây là một câu chuyện hơi bị “ly kỳ”, dịp khác sẽ kể).

Có một điều là tôi luôn khẳng định: lên tiếng bảo vệ các thiền sinh Bát Nhã không phải vì tôi là Phật tử hay đệ tử của LM (thực ra tôi từng là tín đồ Công giáo, đã chịu lễ rửa tội từ lúc còn nhỏ do các bà cô dẫn dắt, rồi lẳng lặng bỏ đạo khi các bà vào Nam và chính quyền Cụ Hồ về Hà Nội), mà chỉ do lương tâm của một nhà báo “thấy sự bất bằng”. Tôi bảo vệ các thiền sinh Bát Nhã là bảo vệ quyền công dân, quyền con người, quyền chọn đi theo một lý tưởng, một tôn giáo của những người trẻ tuổi – tương lai của dân tộc. Tôi đã trả lời phóng viên hãng AP cũng như các sĩ quan an ninh VN “làm việc” với mình như thế.

Sau khi Bát Nhã tan, tôi biết ngoài hàng trăm thiền sinh được LM bảo lãnh sang Pháp, Đức, Mỹ, còn hàng trăm em ở lại tản mác khắp nước vẫn kiên gan chịu đựng sự truy bức của chính quyền để tu tập theo pháp môn của Thầy. Đôi lúc có dịp gặp, tôi vẫn thấy được vẻ “vững chãi như núi cao, thảnh thơi dường mây trắng” (như lời một thiền ca LM) của những con người ấy mặc dù họ không còn được đi với nhau “như một dòng sông”. Tôi hiểu là LM đã gieo được những hạt hướng dương bất diệt trên quê hương đau thương này.

Vậy đến gần đây, “Công án LM” của tôi có thể “diễn nôm” thế này:

1/ LM có “phép” gì đào tạo được những người trẻ tuyệt vời đến thế, những người quyết tâm thực tập ba đức Bi – Trí – Dũng của Bụt để “độ mình và độ đời”, giữa lúc nhan nhản quanh tôi là đám trẻ mất phương hướng, hoặc chỉ biết chạy theo “lý tưởng” làm giàu, tạo vị thế cho riêng mình, nói gọn là “vinh thân phì gia” bằng mọi giá, chấp nhận “đi với ma”, nhắm mắt che tai thậm chí hùa theo cái xấu cái ác, còn việc của dân của nước thì buông xuôi, mackeno, “đã có Đảng, Nhà nước lo”?

2/ LM làm thế nào hòa hợp được triết lý vô ngã, diệt dục của đạo Phật truyền thống với “chủ nghĩa cá nhân” sáng suốt và tính cạnh tranh là động lực phát triển của xã hội hiện đại?

3/ LM làm thế nào thu hút hàng ngàn người, hàng trăm gia đình Tây phương, trong đó không ít trí thức, doanh nhân thành đạt đến sinh hoạt và tu học theo hướng dẫn của các tăng ni người Việt trẻ măng?

Mùa hè vừa rồi, nhân sinh nhật thứ 30 của LM, tôi có cơ hội được cùng người thân của mình tham dự hai khóa tu liền, của người Việt tại LM và của người Hòa Lan tại cơ sở mới rất đồ sộ của Làng vừa khánh thành bên Đức (EIAB: Học viện Phật giáo Ứng dụng châu Âu). Gần một tháng sống trong đại gia đình quốc tế LM, tôi cảm nhận có sự biến chuyển trong mình, kẻ luôn tự nhận “tên học trò mới bướng bỉnh”.

Xin xem tiếp phần 2 Với tôi Làng Mai là một công án

Lễ thọ giới tân tu ấn tượng

 

Trong chuyến đi Thái Lan lần này, nhiệm vụ quan trọng của chúng tôi là tham dự khóa tu “Giờ đây bên nhau” kéo dài 7 ngày. Đoàn chúng tôi có 13 thành viên tất cả. Thành viên lớn nhất gần 70, nhỏ nhất 9 tuổi. Không ai tin được rằng khóa tu lại hay, bổ ích, thực tế và lợi lạc đến vậy.

Xe chạy từ Băng Cốc đến Khaoyai Kirithantip mất hơn 3 giờ đồng hồ. Có thành viên tranh thủ ngủ, nghỉ lấy sức, tôi thì mặc sức ngắm cảnh hai bên đường. Mấy khi có dịp đi về những vùng xa, đi lên những khu núi non thú vị đến vậy! 

Tôi cũng chưa bao giờ được ở những khu resort tại đất nước Thái Lan, nhất là khi biết mọi người đều ca ngợi rằng đây là nơi có thể cảm nhận được thiên nhiên, rằng ở đây có thể hít thở khí ôxy trong lành và tinh khiết, được thư giãn hoàn toàn để như chạm vào núi rừng và những suối nước, như được tắm mình trong không gian bao la với những dịch vụ rất “Thái”.

Bạn có biết rằng, có một số bạn bè thu xếp đươc thời gian nên sang Thái Lan sớm để tham gia các chương trình trước đó cùng Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Phải kể đến triển lãm thư pháp tại Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật Bangkok, khóa tu quốc tế đạo đức ứng dụng  tại trường Đại Học Phật giáo Mahachulalongkornrajavidyalaya, buổi pháp thoại công cộng tại hội trường Royal Paragon, Bangkok, khóa tu quốc tế dành cho gia đình tại resort Wang Ree ở Nakornnayok, khóa tu quốc tế dành cho người trẻ tại thung lũng Rabiangprai. Một chuỗi các hoạt động mà nếu tham gia được đầy đủ thì thật quý giá.

 


 

Cũng cần nói thêm rằng, trong suốt 7 ngày đó, ngày nào chúng tôi cũng ngủ dậy quãng 4 giờ sáng để lên tọa thiền Sau đó là thiền hành, rồi ăn sáng trong im lặng. Mỗi ngày vào buổi sáng chúng tôi đều được nghe một thời thoại của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, và sau ăn trưa nếu ai muốn có thể tham gia thiền buông thư. 

Buổi chiều là các buổi pháp đàm theo gia đình (toàn bộ gần 800 tu sinh được chia thành 30 gia đình nhỏ), rồi tham gia tập yoga. Buổi tối, sau khi ăn luôn là các hoạt động tập thể: cùng tụng kinh, ngồi thiền, cùng thực hành các pháp môn viên mật dưới sự hướng dẫn của các quý thầy, quý sư cô. Để rồi 22h là im lặng hùng tráng kéo dài cho đến sau bữa ăn sáng ngày hôm sau

 

Tôi sẽ không đủ thời gian để viết hết về các nội dung của tất cả 7 ngày nhưng lại không thể không viết về lễ truyền 5 giới tân tu. Đây là chương trình dành riêng cho những ai muốn tiếp nhận 5 giới. Tôi cũng như một vài thành viên khác đã nhận giới từ lâu nhưng vẫn muốn xin được thọ nhận lại một lần nữa. Ít nhất là thêm một lần tụng giới cũng giúp chính tôi soi xét lại chính mình, phát nguyện giữ giới tốt hơn.

 

Bạn có thể không tin nhưng cả một hội trường chắc khoảng 300 phật tử tề tựu đầy đủ và chỉnh tề. Tất cả được chào đón trang nghiêm và thanh tịnh. Ai nấy đều cảm nhận được nguồn năng lượng chính niệm từ mình và các bạn tu. Chúng tôi có mặt bên nhau, trước hết là để tận hưởng cuộc sống bình an và giản dị, từ đó nuôi dưỡng nội lực của chính chúng tôi. Chúng tôi đến bên nhau để có thêm cơ hội nhìn sâu để chuyển hóa những khó khăn và vướng mắc của thân và tâm mình. Để sống tốt hơn và ý nghĩa hơn. Để làm đẹp cho minh và cho đời.

 

Chú Hùng (chắp tay) cùng Đại chúng trong khóa tu Giờ đây bên nhau

 

Không khí rất trang nghiêm. Lần đầu tiên tôi chứng kiến có đông quý tăng và ni tham gia cùng Hòa thượng Thích Nhất Hạnh cho chúng tôi nhận giới đến vậy. Tôi không biết là bao nhiêu nhưng chắc phải trên 100 quý thầy, quý cô. Đông lắm. Khắp nơi là màu y vàng. Một màu vàng đẹp vô cùng. Thanh tịnh và linh thiêng đến lạ thường. Có lẽ sau lần tôi tham gia Đại hội Phật giáo Toàn quốc lần thứ VII vừa qua tại cung Văn hóa Hữu nghị Việt Xô Hà Nội thì đây là lần thứ hai có may mắn thấy nhiều y vàng đến vậy!

 

Tiếng chuông và khánh vang lên. Tiếng thầy ấm và ngấm sâu vào tâm tôi (và cả quãng ba trăm người con của Phật nữa). Rằng, “bây giờ là lúc chúng ta có cơ hội tụng chung Năm Giới với nhau. Năm Giới tức là năm phép thực tập chánh niệm, biểu hiện được một cách cụ thể giáo lý Tứ Đế và Bát Chánh Đạo, con đường của đức Phật, con đường của hiểu biết và thương yêu đích thực có khả năng đưa tới trí tuệ, chuyển hóa và hạnh phúc cho bản thân và cho thế giới. Năm giới mang theo tuệ giác Tương Tức, tức là Chánh Kiến, có khả năng tháo bỏ mọi cuồng tín, cố chấp, kỳ thị, sợ hãi, hận thù và tuyệt vọng. Sống và thực tập theo Năm Giới là chúng ta đã đi vào con đường mà các vị Bồ tát đang đi. Năm Giới này đại diện cho cái thấy của đạo Phật về một nền tâm linh và đạo đức toàn cầu. Biết rằng đang được đi trên con đường của đức Phật, chúng ta không còn lý do gì để lo lắng cho hiện tại và sợ hãi cho tương lai”.

 

Tôi lắng nghe từng lời, hiểu từng ý, thấm từng câu. Ngay trong những giây phút này tôi và các bạn tu thực tập sống trong chánh niệm để mang những ý này vào cuộc sống hàng ngày sau khi trở về cuộc sống đời thường. Nương theo 5 giới, theo cách sống trong tỉnh thức và chánh niệm, chúng tôi mong muốn áp dụng thiền và sống tốt trong lúc ăn, lúc đi, trong làm việc và nghỉ ngơi, trong khi ngồi thiền hay uống trà với nhau.

 

Sau khi thọ giới

 

Nếu thực hành tốt 5 giới, mỗi chúng tôi sẽ có an lạc ngay cả khi dọn nhà, nấu ăn, rửa bát, làm việc tại cơ quan… Việc tuân thủ cách sống chánh niệm và đạo đức theo tinh thần của 5 giới thực tập chánh niệm làm nền tảng đạo đức cho một cuộc đời thành công, hạnh phúc và bình an. Nếu vậy, sẽ mang lại lợi ích tuyệt diệu cho chính bản thân mỗi người.
Giờ phút thiêng liêng cùng nhau nghe Sư ông Thích Nhất Hạnh truyền giới đã đến. Sư ông đọc từng giới một cho chúng tôi, những tu sinh muốn thọ giới. Chúng tôi đã nhất tâm quán tưởng. Chúng tôi đã thành tâm lạy xuống để thọ nhận từng giới. Quả thật, tôi không nhớ rằng mình đã tụng năm giới bao nhiêu lần, nhưng đã thấy xúc động vô cùng khi được đích thân một vị cao tăng truyền giới. Những lần trước tôi thọ 5 giới truyền thống, còn lần này là thọ 5 giới tân tu. Khi Sư ông truyền đọc năm giới, tôi đã thành tâm nhẩm theo trong đầu. Tôi muốn nhắc mình hiểu và nhớ để thực tập một cách cụ thể giáo lý và con đường của đức Phật Thích Ca Mâu Ni

 

Tôi vẫn ghi nhớ rất rõ và xin ghi ra đây những gì mình đã đích thân nghe Thiền sư Thích Nhất Hạnh truyền đọc.

 

Giới thứ nhất là bảo vệ sự sống. Ý thức được những khổ đau do sự giết chóc gây ra, con xin nguyện thực tập nuôi dưỡng tuệ giác Tương Tức và lòng Từ Bi để có thể bảo vệ sinh mạng của con người, của các loài động vật, thực vật và môi trường của sự sống. Con nguyện không sát hại, không để kẻ khác sát hại và không yểm trợ cho bất cứ một hành động sát hại nào trên thế giới, trong tư duy cũng như trong đời sống hằng ngày của con. Thấy được rằng tất cả những bạo động do sự sợ hãi, hận thù, tham vọng và cuồng tín gây ra đều bắt nguồn từ cách tư duy lưỡng nguyên và kỳ thị, con nguyện học hỏi thái độ cởi mở, không kỳ thị và không cố chấp vào bất cứ một quan điểm, một chủ thuyết hay một ý thức hệ nào để có thể chuyển hóa hạt giống cuồng tín, giáo điều và thiếu bao dung trong con và trong thế giới.

 

Giới thứ hai là hạnh phúc chân thực. Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cắp, áp bức và bất công xã hội gây ra, con nguyện thực tập san sẻ thì giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ thiếu thốn, trong cả ba lĩnh vực tư duy, nói năng, và hành động của đời sống hằng ngày. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do tự mình tạo ra. Con nguyện thực tập nhìn sâu để thấy rằng hạnh phúc và khổ đau của người kia có liên hệ mật thiết đến hạnh phúc và khổ đau của chính con, rằng hạnh phúc chân thực không thể nào có được nếu không có hiểu biết và thương yêu, và đi tìm hạnh phúc bằng cách chạy theo quyền lực, danh vọng, giàu sang và sắc dục có thể đem lại nhiều hệ lụy và tuyệt vọng. 

Con đã ý thức được rằng hạnh phúc chân thực phát sinh từ chính tự tâm và cách nhìn của con chứ không đến từ bên ngoài, rằng thực tập phép tri túc con có thể sống hạnh phúc được ngay trong giây phút hiện tại nếu con có khả năng trở về giây phút ấy để nhận diện những điều kiện hạnh phúc mà con đã có sẵn. Con nguyện thực tập theo Chánh Mạng để có thể làm giảm thiểu khổ đau của mọi loài trên trái đất và để chuyển ngược lại quá trình hâm nóng địa cầu.

 

Giới thứ ba là tình thương đích thực. Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con xin học hỏi theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo hộ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người, mọi gia đình và trong xã hội. Con biết tình dục và tình yêu là hai cái khác nhau, rằng những liên hệ tình dục do thèm khát gây nên luôn luôn mang tới hệ lụy, đổ vỡ cho con và cho kẻ khác. Con nguyện không có liên hệ tình dục với bất cứ ai nếu không có tình yêu đích thực và những cam kết chính thức và lâu dài. 

Con sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa. Con nguyện học hỏi những phương pháp thích ứng để chăm sóc năng lượng tình dục trong con, để thấy được sự thật thân tâm nhất như và để nuôi lớn các đức Từ, B,i Hỷ và Xả, tức là những yếu tố căn bản của một tình yêu thương đích thực để làm tăng trưởng hạnh phúc của con và của người khác. Con biết thực tập Tứ Vô Lượng Tâm ấy, con sẽ được tiếp tục đẹp đẽ và hạnh phúc trong những kiếp sau.

 

Giới thứ tư là lắng nghe và ái ngữ. Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm và do thiếu khả năng lắng nghe gây ra, con xin nguyện học các hạnh Ái Ngữ và Lắng Nghe để có thể hiến tặng niềm vui cho người, làm vơi bớt nỗi khổ đau của người, giúp đem lại an bình và hòa giải giữa mọi người, giữa các quốc gia, chủng tộc và tôn giáo. 

Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hay khổ đau cho người, con nguyện học nói những lời có khả năng gây thêm niềm tự tin, an vui và hi vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói năng gì khi biết cơn bực tức đang có mặt trong con, nguyện tập thở và đi trong chánh niệm để nhìn sâu vào gốc rễ của những bực tức ấy, nhận diện những tri giác sai lầm trong con và tìm cách hiểu được những khổ đau trong con và trong người mà con đang bực tức. 

Con nguyện học nói sự thật và lắng nghe như thế nào để có thể giúp người kia thay đổi và thấy được nẻo thoát ra ngoài những khó khăn đang gặp phải. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không nói những điều có thể tạo nên những sự bất hòa trong gia đình và trong đoàn thể. Con nguyện thực tập Chánh Tinh Tấn để có thể nuôi dưỡng khả năng hiểu, thương, hạnh phúc và không kỳ thị nơi con và cũng để làm yếu dần những hạt giống bạo động, hận thù và sợ hãi mà con đang có trong chiều sâu tâm thức.

 

Giới thứ năm là nuôi dưỡng và trị liệu. Ý thức được những khổ đau do thói tiêu thụ không chánh niệm gây nên, con nguyện học hỏi cách chuyển hóa thân tâm, xây dựng sức khỏe cơ thể và tâm hồn bằng cách thực tập chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện nhìn sâu vào bốn loại thực phẩm là đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực để tránh tiêu thụ những thực phẩm độc hại. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ bất cứ một sản phầm nào có độc tố, trong đó có mạng lưới internet, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, sách báo, bài bạc và cả chuyện trò.

Con nguyện thực tập thường xuyên trở về với giây phút hiện tại để tiếp xúc với những gì tươi mát, có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu trong con và xung quanh con, không để cho tiếc nuối và ưu sầu kéo con trở về quá khứ và không để cho lo lắng và sợ hãi kéo con đi về tương lai. Con nguyện không tiêu thụ chỉ để khỏa lấp sự khổ đau, cô đơn và lo lắng trong con. Con nguyện nhìn sâu vào tự tính tương quan tương duyên của vạn vật để học tiêu thụ như thế nào mà duy trì được an vui trong thân tâm con, trong thân tâm của xã hội, và trong môi trường sự sống.

Bạn có biêt rằng, trong những lần nhận và tụng giới trước tôi chỉ nhắc mình không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không dùng rượu và các chất kích thích. Nhưng những gì chính bản thân tôi thọ nhận đêm nay khác hẳn. Không tin, bạn cứ đọc kỹ lại mà xem. Chúng ta không chỉ không sát sinh mà có trách nhiệm bảo vệ sự sống. 

Tôi và bạn không chỉ không trộm cắp mà cần hiểu và mang hạnh phúc đích thực đến cho mọi người quanh mình. Ta không chỉ không tà dâm mà cần tôi luyện để có tình yêu thương đích thực. Tôi tự nhắc mình không chỉ không nói dối mà cần học hạnh lắng nghe và ái ngữ, đã nói thì nên nói những lời tốt đẹp. Cuối cùng tôi tự nhủ với chính mình, cần biết chọn thức ăn, đồ uống để lợi mình lợi người.

 

Chú Hùng đang cầm điệp hộ giới

Bạn có biết rằng, ngay đêm đó về phòng, tôi đã ba lần đọc lại nội dung của 5 giới này. Bởi thấy rất hay và thực tế. Bởi thấy lạ nhưng rất phù hợp với cuộc sống hiện tại. Đọc lần sau lại thấy hay hơn lần trước.
Tất cả những câu, chữ tuyệt vời này nằm trọn trong tấm Điệp Hộ Giới mà chúng tôi được lĩnh. Điệp Hộ Giới cũng ghi rõ rằng tôi đã tiếp nhận và nguyện hành trì 3 phép quay về nương tựa và năm giới quý báu. Tôi vẫn nhớ như in trong Điệp còn ghi rõ, rằng nếu trong 3 tháng mà không tụng giới ít nhất một lần thì lễ truyền quy giới này mất hiệu lực.
Tôi cũng rất xúc động khi tôi được Thiền sư Thích Nhất Hạnh truyền thêm chữ Tâm. Vậy là từ đây, pháp danh của tôi chính thức là Tâm Thiện Đức. Rằng tôi cần toàn tâm để hành thiện, tích đức.

Tôi sẽ còn nhớ rất lâu khung cảnh đêm đó. Tôi vẫn đang nhớ giọng truyền đọc ấm và đầy năng lượng của Sư Ông. Tôi vẫn thấy tâm thành của chính mình trong giờ phút thiêng liêng này. Tôi biết rằng trách nhiệm của mình giờ đây cao hơn nhiều lắm. Rằng, Điệp Hộ Giới là minh chứng của những ai từ hôm nay chính thức trở thành người con của đức Phật. Tôi đã xuýt bật khóc khi chứng kiến nhiều giot nước mắt từ những người quanh mình. Những giọt nước mắt của hạnh phúc. Hạnh phúc giản đơn và chân thật.