Nếu bạn quên mật khẩu, chúng tôi có thể tạo mật khẩu mới cho bạn.
Với tôi Làng Mai là một công án – Phần 2
Nếu bạn quên mật khẩu, chúng tôi có thể tạo mật khẩu mới cho bạn.
Với tôi Làng Mai là một công án – Phần 1
Nguồn: Phù sa Online
Hoàng Hưng
Trên chuyến bay từ Paris đến Reykjavik, thủ đô Iceland, tôi không khỏi mỉm cười khi thấy trên màn hình giới thiệu du lịch có những từ “mindfulness” (chánh niệm), “meditation” (thiền), “here and now” (bây giờ và ở đây). Hôm trước cũng nghe một thiền sinh ở Làng Mai (LM) chia sẻ rằng cô thích thú khi nghe một nữ tiếp viên hàng không nói với khách: “Please have mindfulness to bring your luggage down…” (xin chánh niệm khi đưa hành lý xuống…). Thiền tập đã đi vào đời sống người châu Âu đến vậy, có phần ảnh hưởng khá lớn của LM.
Với riêng tôi, Làng Mai (LM) là một “công án” ám ảnh nhiều năm.
Tôi biết từ lâu một thi sĩ với những vần thơ tự do khá mới mẻ chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện bên cạnh những bản dịch tuyệt bích thơ tứ tuyệt Lý Trần. Cũng nghe từ lâu dòng tu “nhập thế” nổi tiếng với Phong trào Thanh niên Phụng sự Xã hội, với những vận động hòa bình cho Việt Nam, với con tàu cứu vớt thuyền nhân… Cũng đọc không ít sách Đạo của vị Thiền sư (TS) được coi là tu sĩ Phật giáo lớn thứ nhì thế giới hiện nay mà số người đọc và học trò đã lên tới nhiều triệu trên khắp hành tinh. Tôi ngưỡng mộ ông là chuyện tất nhiên.
Nhưng thú thật, với kinh nghiệm một đời lăn lộn, vỡ mộng cũng nhiều, cộng với “sở tri chướng” của kẻ “đa thư”, luôn e ngại mọi thần tượng, giáo chủ có “charisma” dẫn dụ bầy cừu mê mẩn, tôi vẫn giữ thái độ “quan sát” đối với LM.

Thiền hành từ chùa Pháp Vân (Xóm Thượng) xuống chùa Sơn Hạ
Ấn tượng đầu tiên của tôi với LM có sự mâu thuẫn. Lần đầu tiên tiếp xúc, vào năm 2005 khi TS đưa tăng đoàn về VN, là trong buổi pháp thoại của TS ở Viện Goethe. Ấn tượng này đã được ghi lại gần như tức thời qua bài thơ Bậc thầy (bài này đã in trong tập Hành trình, NXB Hội Nhà văn, HN 2005, bản tiếng Anh The Master in trong chapbook Hoang Hung, Poetry & Memoirs do International Poetry Library of San Francisco xuất bản, và đọc trong đêm thơ-văn “Echoes of Vietnam” tháng 3 năm 2012 ở Santa Cruz):
“Thầy vào như hơi gió
Tăng đoàn rạng rỡ tuệ quang…”
Quả thực hình ảnh khinh khoái hiếm thấy của một ông sư và ánh sáng trên gương mặt các học trò của thầy chinh phục tôi nhiều hơn những lời thuyết giáo.
Nhưng rồi ngay sau đó, tôi bị hẫng khá mạnh khi nghe qua bản thu âm câu hỏi đáp trong một buổi thầy thuyết trình ở Viện Khoa học Xã hội miền Nam. Một “giáo sư” giọng rất gay gắt (nói cho đúng là khiêu khích) nhắc lại hai lần câu hỏi, lần sau gắt hơn lần trước: “Tôi xin hỏi TS, nếu bây giờ tôi quy y thì tôi có còn được quyền yêu Đảng, Đảng do Bác Hồ sáng lập và lãnh đạo, có được quyền yêu nước, nữa hay không?” Có lẽ quá bất ngờ trước câu “truy hỏi”, TS hơi sững một chút, rồi đáp: “Không yêu Đảng không yêu nuớc thì quy y làm gì!”. Thú thật là tôi bất mãn với câu trả lời. Yêu nước, OK, còn “yêu Đảng”? Sao lại phải yêu cái đảng tuy một thời có công lãnh đạo cuộc chiến đấu giành độc lập thống nhất cho đất nước (tuy là với cái giá quá đắt, vấn đề này mang tính lịch sử rất phức tạp, lúc khác sẽ bàn), nhưng gần đây nó đã biến chất, suy thoái rõ rệt, không còn tính chính đáng?
Hình ảnh sơ phác của LM trong tôi thế là trong cái sáng vẫn còn cái “lăn tăn”.
Ba lần đến với Làng Mai:
Ba năm nay, Trời Phật sắp xếp sao đó để tôi có cơ duyên thực sự đi sâu, đi sát LM, để ngày càng hiểu rõ và hiểu đúng về Làng.
Tôi đã đến gần với LM qua những ngày hoạn nạn của các học trò TS ở Bát Nhã. Tôi đã thấy ánh sáng rạng rỡ trên gương mặt người thân của mình sau mỗi chuyến lên Bát Nhã tu tập đợt hai tuần, đợt ba tuần. Tôi đã thấy ánh sáng rạng rỡ trên gương mặt, đã nghe tiếng cười hồn nhiên của những sư em, những thực tập sinh trẻ măng căng tấm ni lông giữa trời hứng nước mưa khi bị các đệ tử của thầy Đức Nghi cúp nước. Tôi đã nghe người thân kể chuyện những người trẻ là con em gia đình “cộm cán”, hay bản thân là trí thức trẻ đầy tương lai, đã dứt bỏ tất cả đi theo con đường LM để thực hiện tâm nguyện Bồ tát trước cứu mình sau giúp người ra khỏi cõi mê.
Tiếp ngay đó, cơ duyên lại đưa tôi đến thẳng LM. Nhân đi làm công việc dịch thuật ở Paris, hai vợ chồng tôi quyết định ghé xuống Làng vài hôm. Không liên lạc được trước, chúng tôi cứ đi, nghĩ có duyên thì gặp. Quả nhiên trong lúc tôi đang nằm thẳng cẳng ngủ giấc trưa “bụi đời” trên ghế băng trước cửa ga xép Sainte Foye La Grande chưa biết cách nào đến được LM, thì xuất hiện một sư cô người Tây trong trang phục màu đà quen thuộc của LM. Tình cờ cô ra đón một khách của Làng từ Paris tới. Thế là cô vui vẻ đưa chúng tôi về Xóm Mới, và cho biết ở đó đang có một khóa tu ngắn ngày. Bước chân vào Xóm, người tiếp đón chúng tôi là một sư cô trẻ măng đồng hương Hà Nội. Sau này tôi biết cô là con gái cưng của một quan chức cao cấp, lại biết cả mẹ cô cũng đã xuất gia theo gót con gái (thật dễ hiểu vì sao những quyền lực thế gian lại “kỵ” Bát Nhã, LM đến vậy!) Ba ngày ngắn ngủi ở LM tóm lại một cảm tưởng: một tiên cảnh giữa trần gian, với cảnh đồng quê đồi rừng thanh bình đẹp đến nao lòng, với những tiên đồng ngọc nữ tươi tắn trong veo và thanh tú, với hàng trăm người trong đại gia đình quốc tế vui vẻ và thành kính thực tập những “pháp môn” rất giản dị để thân tâm an lạc: tập thở vào thở ra, tập bước đi chánh niệm, tập ngừng lại khi nghe tiếng chuông…
Trong lần sơ ngộ này có một chi tiết tình cờ nhưng ít lâu sau thành một yếu tố gắn tôi với LM. Trong màn tự giới thiệu khi chia sẻ trong nhóm “gia đình”, tôi thành thật nói mình là nhà báo, không phải Phật tử (nói cho chính xác là không quy y Thầy nào, không theo tổ chức của chùa nào). Tôi đọc thấy vẻ ngỡ ngàng của quý ni sư và Phật tử. Giờ giải lao, một ông “Tây” to lớn đầu râu tóc bạc xin có vài lời với tôi. Ông bảo: “Tôi xin tự giới thiệu, tôi là cố vấn của Tổng thống Israel, nhưng tôi cũng là đệ tử của Thay (các đệ tử Âu Mỹ của TS đều gọi TS là Thay như một tên riêng) từ chục năm nay. Tôi không hiểu vì sao ông có ý nói ông là nhà báo nên không thể là Phật tử?” Tôi chỉ cười, đáp: “Mỗi nước có một hoàn cảnh khác nhau ông ạ”.

Một gia đình pháp đàm ở Làng Mai
Chỉ vài tuần sau đó, tôi đang ở chơi nhà chị Thụy Khuê dưới Côte d’Azur, một biệt thự màu hồng đẹp như mơ trên đồi nhìn xuống biển Địa Trung Hải mà anh Lê Tất Luyến chồng chị là người tạo dựng và chăm nom, ngôi nhà luôn mở lòng đón tiếp bạn bè tứ xứ… thì dồn dập nghe tin Bát Nhã bị tấn công. Sự xúc động trong lòng tôi nhiều lần trào lên khóe mắt khi xem trên mạng những em thiền sinh ngồi an bình niệm danh hiệu Quán Thế Âm trước sự hung hăng dữ dằn của kẻ ác. (Trong dịp ở LM gần đây, mỗi lần nghe màn tụng Avakilotesvara trước khi Thầy pháp thoại, thì hình ảnh các em Bát Nhã niệm Quán Thế Âm lại hiện lên khiến sự xúc động của tôi lại dâng trào). Đến ngày cao điểm, bọn ác nhân xua đuổi 400 em khỏi Bát Nhã giữa trời mưa như trút thì tôi không nén nổi căm giận và xót thương. Tôi nhờ chị Thụy Khuê liên lạc ngay với Radio France International (RFI) – lúc này chị đã về hưu, chỉ còn cộng tác một chuyên mục với Đài – cho biết tôi muốn phát biểu trên Đài về sự kiện Bát Nhã. Tôi cũng không ngờ, như Thầy cho biết trong phút gặp gỡ đầu tiên ở LM, phát biểu của mình về pháp nạn Bát Nhã trên truyền thông quốc tế đã khởi lên cao trào lên tiếng bênh vực con em của LM đang gặp nạn, và cũng không ngờ việc này kéo tôi tiếp tục dấn thân vào vụ Bát Nhã, viết liên tục 9 bài trên các mạng trong ngoài nước, trong đó có Thư ngỏ và Thư thỉnh nguyện gửi ba nhà lãnh đạo cao nhất của Nhà nước VN thu được trên 400 chữ ký bao gồm nhiều trí thức văn nghệ sĩ nổi tiếng trong ngoài nước và Đảng viên Cộng Sản kỳ cựu. (Đây là một câu chuyện hơi bị “ly kỳ”, dịp khác sẽ kể).
Có một điều là tôi luôn khẳng định: lên tiếng bảo vệ các thiền sinh Bát Nhã không phải vì tôi là Phật tử hay đệ tử của LM (thực ra tôi từng là tín đồ Công giáo, đã chịu lễ rửa tội từ lúc còn nhỏ do các bà cô dẫn dắt, rồi lẳng lặng bỏ đạo khi các bà vào Nam và chính quyền Cụ Hồ về Hà Nội), mà chỉ do lương tâm của một nhà báo “thấy sự bất bằng”. Tôi bảo vệ các thiền sinh Bát Nhã là bảo vệ quyền công dân, quyền con người, quyền chọn đi theo một lý tưởng, một tôn giáo của những người trẻ tuổi – tương lai của dân tộc. Tôi đã trả lời phóng viên hãng AP cũng như các sĩ quan an ninh VN “làm việc” với mình như thế.
Sau khi Bát Nhã tan, tôi biết ngoài hàng trăm thiền sinh được LM bảo lãnh sang Pháp, Đức, Mỹ, còn hàng trăm em ở lại tản mác khắp nước vẫn kiên gan chịu đựng sự truy bức của chính quyền để tu tập theo pháp môn của Thầy. Đôi lúc có dịp gặp, tôi vẫn thấy được vẻ “vững chãi như núi cao, thảnh thơi dường mây trắng” (như lời một thiền ca LM) của những con người ấy mặc dù họ không còn được đi với nhau “như một dòng sông”. Tôi hiểu là LM đã gieo được những hạt hướng dương bất diệt trên quê hương đau thương này.
Vậy đến gần đây, “Công án LM” của tôi có thể “diễn nôm” thế này:
1/ LM có “phép” gì đào tạo được những người trẻ tuyệt vời đến thế, những người quyết tâm thực tập ba đức Bi – Trí – Dũng của Bụt để “độ mình và độ đời”, giữa lúc nhan nhản quanh tôi là đám trẻ mất phương hướng, hoặc chỉ biết chạy theo “lý tưởng” làm giàu, tạo vị thế cho riêng mình, nói gọn là “vinh thân phì gia” bằng mọi giá, chấp nhận “đi với ma”, nhắm mắt che tai thậm chí hùa theo cái xấu cái ác, còn việc của dân của nước thì buông xuôi, mackeno, “đã có Đảng, Nhà nước lo”?
2/ LM làm thế nào hòa hợp được triết lý vô ngã, diệt dục của đạo Phật truyền thống với “chủ nghĩa cá nhân” sáng suốt và tính cạnh tranh là động lực phát triển của xã hội hiện đại?
3/ LM làm thế nào thu hút hàng ngàn người, hàng trăm gia đình Tây phương, trong đó không ít trí thức, doanh nhân thành đạt đến sinh hoạt và tu học theo hướng dẫn của các tăng ni người Việt trẻ măng?
Mùa hè vừa rồi, nhân sinh nhật thứ 30 của LM, tôi có cơ hội được cùng người thân của mình tham dự hai khóa tu liền, của người Việt tại LM và của người Hòa Lan tại cơ sở mới rất đồ sộ của Làng vừa khánh thành bên Đức (EIAB: Học viện Phật giáo Ứng dụng châu Âu). Gần một tháng sống trong đại gia đình quốc tế LM, tôi cảm nhận có sự biến chuyển trong mình, kẻ luôn tự nhận “tên học trò mới bướng bỉnh”.
Xin xem tiếp phần 2 Với tôi Làng Mai là một công án
Với tôi Làng Mai là một công án
Nếu bạn quên mật khẩu, chúng tôi có thể tạo mật khẩu mới cho bạn.
Lễ xuất gia đặc biệt
Nếu bạn quên mật khẩu, chúng tôi có thể tạo mật khẩu mới cho bạn.
Lễ thọ giới tân tu ấn tượng
Trong chuyến đi Thái Lan lần này, nhiệm vụ quan trọng của chúng tôi là tham dự khóa tu “Giờ đây bên nhau” kéo dài 7 ngày. Đoàn chúng tôi có 13 thành viên tất cả. Thành viên lớn nhất gần 70, nhỏ nhất 9 tuổi. Không ai tin được rằng khóa tu lại hay, bổ ích, thực tế và lợi lạc đến vậy.
Xe chạy từ Băng Cốc đến Khaoyai Kirithantip mất hơn 3 giờ đồng hồ. Có thành viên tranh thủ ngủ, nghỉ lấy sức, tôi thì mặc sức ngắm cảnh hai bên đường. Mấy khi có dịp đi về những vùng xa, đi lên những khu núi non thú vị đến vậy!
Tôi cũng chưa bao giờ được ở những khu resort tại đất nước Thái Lan, nhất là khi biết mọi người đều ca ngợi rằng đây là nơi có thể cảm nhận được thiên nhiên, rằng ở đây có thể hít thở khí ôxy trong lành và tinh khiết, được thư giãn hoàn toàn để như chạm vào núi rừng và những suối nước, như được tắm mình trong không gian bao la với những dịch vụ rất “Thái”.

Buổi chiều là các buổi pháp đàm theo gia đình (toàn bộ gần 800 tu sinh được chia thành 30 gia đình nhỏ), rồi tham gia tập yoga. Buổi tối, sau khi ăn luôn là các hoạt động tập thể: cùng tụng kinh, ngồi thiền, cùng thực hành các pháp môn viên mật dưới sự hướng dẫn của các quý thầy, quý sư cô. Để rồi 22h là im lặng hùng tráng kéo dài cho đến sau bữa ăn sáng ngày hôm sau


Sau khi thọ giới
Con đã ý thức được rằng hạnh phúc chân thực phát sinh từ chính tự tâm và cách nhìn của con chứ không đến từ bên ngoài, rằng thực tập phép tri túc con có thể sống hạnh phúc được ngay trong giây phút hiện tại nếu con có khả năng trở về giây phút ấy để nhận diện những điều kiện hạnh phúc mà con đã có sẵn. Con nguyện thực tập theo Chánh Mạng để có thể làm giảm thiểu khổ đau của mọi loài trên trái đất và để chuyển ngược lại quá trình hâm nóng địa cầu.
Con sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa. Con nguyện học hỏi những phương pháp thích ứng để chăm sóc năng lượng tình dục trong con, để thấy được sự thật thân tâm nhất như và để nuôi lớn các đức Từ, B,i Hỷ và Xả, tức là những yếu tố căn bản của một tình yêu thương đích thực để làm tăng trưởng hạnh phúc của con và của người khác. Con biết thực tập Tứ Vô Lượng Tâm ấy, con sẽ được tiếp tục đẹp đẽ và hạnh phúc trong những kiếp sau.
Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hay khổ đau cho người, con nguyện học nói những lời có khả năng gây thêm niềm tự tin, an vui và hi vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói năng gì khi biết cơn bực tức đang có mặt trong con, nguyện tập thở và đi trong chánh niệm để nhìn sâu vào gốc rễ của những bực tức ấy, nhận diện những tri giác sai lầm trong con và tìm cách hiểu được những khổ đau trong con và trong người mà con đang bực tức.
Con nguyện học nói sự thật và lắng nghe như thế nào để có thể giúp người kia thay đổi và thấy được nẻo thoát ra ngoài những khó khăn đang gặp phải. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không nói những điều có thể tạo nên những sự bất hòa trong gia đình và trong đoàn thể. Con nguyện thực tập Chánh Tinh Tấn để có thể nuôi dưỡng khả năng hiểu, thương, hạnh phúc và không kỳ thị nơi con và cũng để làm yếu dần những hạt giống bạo động, hận thù và sợ hãi mà con đang có trong chiều sâu tâm thức.
Con nguyện thực tập thường xuyên trở về với giây phút hiện tại để tiếp xúc với những gì tươi mát, có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu trong con và xung quanh con, không để cho tiếc nuối và ưu sầu kéo con trở về quá khứ và không để cho lo lắng và sợ hãi kéo con đi về tương lai. Con nguyện không tiêu thụ chỉ để khỏa lấp sự khổ đau, cô đơn và lo lắng trong con. Con nguyện nhìn sâu vào tự tính tương quan tương duyên của vạn vật để học tiêu thụ như thế nào mà duy trì được an vui trong thân tâm con, trong thân tâm của xã hội, và trong môi trường sự sống.
Tôi và bạn không chỉ không trộm cắp mà cần hiểu và mang hạnh phúc đích thực đến cho mọi người quanh mình. Ta không chỉ không tà dâm mà cần tôi luyện để có tình yêu thương đích thực. Tôi tự nhắc mình không chỉ không nói dối mà cần học hạnh lắng nghe và ái ngữ, đã nói thì nên nói những lời tốt đẹp. Cuối cùng tôi tự nhủ với chính mình, cần biết chọn thức ăn, đồ uống để lợi mình lợi người.

Chú Hùng đang cầm điệp hộ giới
Tiếng Chim Cúc Cu
Cơn mưa đầu xuân vẫn còn đang lất phất, gió thổi nhẹ mơn man những chiếc lá non và những khóm hoa đang nở rộ. Thiện mở cửa bước ra ngoài, dừng lại đứng yên nơi góc hành lang của phòng mình.
Thiện đang nghĩ gì? Không,Thiện đang lắng lòng nghe. Hình như có tiếng chim lạ. “Không, tiếng chim này không lạ vì mỗi năm Thiện lại nghe giọng hót này trong mùa xuân. Chỉ mùa xuân thôi. Đúng rồi, tiếng chim Cúc Cu.”
Mỗi khi nghe tiếng chim này là Thiện nhớ Thầy quá chừng! Vì mỗi khi Thầy đi hoằng pháp vào mùa xuân thì Thầy luôn dạy: “Mỗi khi nghe tiếng chim Cúc Cu như là nghe tiếng Thầy gọi con.” Thầy ơi! Vậy là sáng nay Thiện đã nghe tiếng Thầy gọi rồi. Lòng Thiện khấp khởi vui, vì biết rằng Thầy vẫn luôn còn đó cho Thiện. Giây phút thiêng liêng ấy, đưa Thiện về với tình thương vô bờ mà Người đã trao. Lúc này, Thiện đang được bao trùm bởi năng lượng thương yêu của sự dạy dỗ mà Thầy không quản ngại.

lắng lòng nghe
Vẫn với dáng vẻ trầm ngâm, Thiện phóng tầm mắt mình nhìn ra cõi xa xăm. Rừng cây đang mặc áo mới, những chiếc lá xanh non đầu mùa thật dễ thương, nó chẳng khác nào là những bông hoa. Nó cứ e ấp, thẹn thùng hay lo sợ… Sợ tia nắng gay gắt làm rát bỏng làn da non, hay sợ những chú sâu đang rình rập… Thiện đang bị dòng suy tưởng cuốn trôi đi. “Cúc cu, Cúc cu”, lại tiếng chim lúc nãy. Tiếng chim đã đưa Thiện trở về với giây phút hiện tại. Thiện đứng yên, lắng lòng mình trở về với hơi thở ý thức. Ý thức tiếng chim, ý thức sự sống màu nhiệm đang dàn trải trước mắt Thiện. Vài câu thơ của Thầy lại đi lên trong tâm ý :
“Sáng nay tôi tới đây, chén trà nóng bãi cỏ xanh, bỗng dưng hiện bóng hình em ngày trước. Bàn tay gió, dáng vẫy gọi những chồi non xanh mướt. Nụ hoa nào, hạt sỏi nào ngọn lá nào cũng thuyết pháp Hoa Kinh.”
Thiện reo lên sung sướng như một đứa bé thơ mới được mẹ cho quà. Quà của Thiện thật đơn sơ nhưng vô cùng quý báu. Thầy đã dạy cho Thiện cách tận hưởng những điều kiện hạnh phúc quanh mình. Một chiếc lá non, một bông hoa đang nở, cách ngắm bình minh, tận hưởng hoàng hôn hay thưởng thức những đêm trăng… Bao nhiêu điều kiện mầu nhiệm và tinh túy mà đất mẹ dâng hiến. “Thầy ơi! Sao Thiện thấy lòng mình lại nhỏ hẹp quá. Thiện dễ dàng đánh mất đi những điều kiện hạnh phúc mà mình đang có!” Mỗi khi có ai đó nói một câu nói nặng, nói những lời không dễ thương hay nói chuyện không đúng về Thiện…Thiện lại dễ dàng bị chi phối hay đánh mất thật nhiều thời gian để tiêu hóa. Vì trong Thiện vẫn còn nhiều sự trách móc, hay phân biệt đúng sai. Vậy là thời gian sống và sự tận hưởng hạnh phúc của Thiện ngắn lại mất rồi Thầy ạ. Thiện đã bỏ qua khá nhiều cơ hội ấy trong thời gian qua.

Sáng nay, tiếng chim Cúc Cu đã đưa Thiện về với đời sống mầu nhiệm, trả Thiện về với giây phút hiện tại tuyệt vời. Thiện đứng yên đó tiếp tục hít thở không khí trong lành. Rồi thầm nhắc mình: “Thiện ơi! Dù chuyện gì có xảy ra hãy nhớ lời Thầy dạy, nhận diện và tận hưởng điều kiện hạnh phúc quanh mình.” Lòng Thiện lại hướng về Thầy với niềm biết ơn vô hạn. Khi bên rừng tiếng Chim Cúc Cu vẫn còn tha thiết gọi con trở về.
Xuân Nguyên
Mây bay trời viễn xứ
Chuyến xe bus từ phi truờng Bangkok đưa chúng tôi, gần ba mươi tăng ni từ Thành Phố Hồ Chí Minh, đến Trung Tâm Phật Giáo Quốc Tế Làng Mai tại Thái Lan để tham dự khóa tu Xuất Sĩ do Thiền Sư Nhất Hạnh hướng dẫn. Chiếc xe bus chạy qua Thủ đô Bangkok, có đức vua Thái Lan trị vì, đưa chúng tôi đi qua những thị trấn, những làng quê. Tôi thấy nơi đây quen thuộc như ở Việt Nam, cũng có những con đường đầy cát bụi, những thửa ruộng lúa mới gặt xong, những cái ao nước tù nho nhỏ bên cạnh mái nhà tôn cũ xiêu vẹo, những người lao động lam lũ trên cánh đồng khô cằn vì nắng hạn, những em bé tung tăng sau buổi tan trường. Chiều xuống, mặt trời nhuộm đỏ cánh đồng. Những vầng mây vàng óng pha tím nhạt đang vắt ngang trên rặng núi trải dài cuối chân trời.
Sau ba tiếng đồng hồ ngồi trên xe nóng bức, chiếc xe bus dừng lại ở Siêu Thị Lotus tại một thị trấn nhỏ, cho chúng tôi nghỉ ngơi và mua sắm. Cách bày trí cũng như các siêu thị khác, nhưng tràn ngập hàng Thái. Sau khi chúng tôi mua sắm ít vật phẩm cần thiết, xe bus lại tiếp tục cuộc hành trình về Tu Viện Làng Mai. Tu Viện nằm trên vùng cao nguyên nước Thái. Những cánh đồng đá vôi trải dài ngút tầm mắt xen lẫn những rặng rừng trồng toàn cây keo thẳng tắp. Cảnh hoang sơ khiến tôi nghĩ đến một tu viện nghèo, còn gặp nhiều khó khăn với toàn nhà tranh, vách đất. Chiếc xe bus cồng kềnh tiến vào con đường nhỏ trong làng. Tôi nghe tiếng sư em reo lên: “Tới chùa mình rồi.” Xuống xe, tôi ngỡ ngàng nhìn Tăng xá của quý thầy, dãy nhà khang trang, kiến trúc theo kiểu người Thái, pha lẫn người Thượng, nền nhà không nằm sát mặt đất, mà nó được xây cất trên nền xi măng cách mặt đất khoảng một mét. Các sư em dẫn chúng tôi về ni xá. Hai dãy ni xá được xây hình chữ nhật vây khít nhau. Phía giữa ni xá là Thiền Đường dành cho Ni Chúng công phu, thiền tập. Cách thiết kế và trang trí của Tu Viện Thái khác hẳn những Tu Viện tôi đã tham dự. Nó có tiện nghi đầy đủ, gần gũi, ấm áp tình huynh đệ. Hai dãy ni xá có được 40 phòng. Một dãy tăng xá có 20 phòng. Một sư cô lớn cho biết: “Mười bốn mẫu đất này được mua bằng sự mầu nhiệm do chư Bụt, chư Tổ gia hộ cho.”

Sư cô Y Nghiêm tại tu viện Làng Mai, Thái Lan
Những năm về trước, Sư Ông đã được chính phủ Thái mời sang nước họ thành lập Phân Khoa Phật Học Ứng Dụng. Những khóa tu mở hàng năm tại Chiangmai cho Phật Tử Thái-Việt do các vị Giáo Thọ Làng Mai hướng dẫn đã được Phật tử đến tham dự nhiệt tình.
Cuối năm 2009, Tăng Thân Bát Nhã bị đuổi khỏi Tu Viện Bát Nhã, Sư Ông và Hội đồng Giáo thọ Làng Mai quyết định chọn nuớc Thái Lan làm nơi xây dựng Viện Phật Học Ứng Dụng Á Châu. Sư cô Linh Nghiêm, một giáo thọ ưu tú quốc tịch Thái Lan được Tăng Thân cử về nước, liên hệ với hội cư sĩ Phật Học, với chính quyền và với Trường Đại Học Thái để trình bày về những khó khăn mà Sư Ông Làng Mai và Tăng Thân Bát Nhã đang gặp. Truớc khi xuất gia, sư cô Linh Nghiêm là một trí thức có tên tuổi, nguyên Phó Giám Đốc UNISET, họat động rất tích cực, thế nên tiếng nói của sư cô được chính phủ và Trường Đại Học Thái hoan hỉ chấp nhận. Họ mời Thiền Sư Nhất Hạnh làm Giáo sư Tiến sĩ danh dự, mời thầy Pháp Ấn, sư cô Chân Đức và một số giáo thọ có học vị tham gia một Phân Khoa Phật Học Ứng Dụng tại trường Đại Học Thái.
Trên cơ sở giáo dục hợp pháp, Tăng thân Làng Mai được chính quyền Thái công nhận, được mua đất, xây Tu viện Phật Học Ứng Dụng Á Châu, mở khóa tu khắp mọi nơi trên nước Thái.
Một cư sĩ Thái đã hết lòng đi tìm mua đất cho Tăng Thân Làng Mai để cho gần bốn trăm Tăng Ni sinh trẻ Bát Nhã có chỗ tu học. Mười bốn mẫu đất rừng trồng toàn cây keo thẳng tắp như rừng thông, có khoảng chừng hai mẫu đất bằng phẳng nhưng mặt đất trải toàn đá vôi. Nghe kể rằng hơn triệu năm về truớc, ở đây là mặt biển. Biển cạn, những san hô hóa đá, bụi thời gian đã phủ lên đá những lớp đất đỏ, cây rừng mọc tốt, khí hậu tuy nóng nhưng rất lành. Đây là vùng khí hậu trong sạch xếp hàng thứ 7 của thế giới. Khu đất này chủ đất bán với giá 845.000 mỹ kim; Làng Mai không đủ tiền, bác Phật tử đó đã vận động các doanh nhân Thái đóng góp mua toàn bộ miếng đất trên cúng duờng Làng Mai.
Có một đại doanh nhân Thái cúng dường 2.000.000 USD cho Sư Ông để xây dựng trung tâm tu học. Nhờ vậy, mới có hơn một năm thôi mà ba cư xá đã hoàn tất. Một căn nhà ăn rộng trên ba trăm mét vuông gần hoàn thành. Mấy căn nhà bếp còn dựng tạm bằng rơm. Ở quê tôi, muốn xây một ngôi chùa hay một công trình công cộng phải kéo dài nhiều năm. Ở đây, mới chỉ có một năm thôi mà mấy cư xá rộng rãi khang trang, một căn nhà ăn có thể chứa cả ngàn người đã sắp hoàn thành. Tôi nhớ, năm 2011 tôi tham gia khóa tu Làng Mai tại Tu viện Mộc Lan, tiểu bang Misisippy, nước Mỹ, tôi cũng ngưỡng mộ, ca ngợi Tăng Thân Mộc Lan đã hoàn tất công trình rất nhanh và đẹp, khang trang giống như hóa thành trong kinh Pháp Hoa. Bây giờ Tu Viện Trời Quang và Trăng Tỏ Thái Lan cũng nhanh và đẹp như vậy. Nhưng hóa thành thì bị biến mất sau một đêm. Còn những tu viện này thì để cho Tăng Thân Bát Nhã vượt biên giới đến đây tu tập.
Thầy Pháp Lâm kể về đoạn đường gian nan các sư em Bát Nhã đã trải qua mà thấy thương quá đi thôi. Chính tôi đã có mặt ở chùa Phuớc Huệ- Bảo Lộc vào những đêm tiễn đưa các em, âm thầm từng đoàn hơn mười em lên xe. Các em đi chạy trốn, chưa biết mình sẽ đi về đâu, nhưng ánh mắt các em vẫn ngời sáng niềm tin yêu, nụ cười các em vẫn ngây thơ, rạng rỡ. Tôi ôm từng em, vẫy tay chào mà nuớc mắt rưng rưng.
Tôi đã gặp lại các em Bát Nhã ở Tu Viện Lộc Uyển, Mộc Lan, Bích Nham bên Mỹ, các em ở Làng Mai bên Pháp và ở Trung Tâm Phật Học Ứng Dụng Âu Châu bên Đức. Nay tôi đựợc gặp lại các em ở Thái Lan, ở Long Thành, Cam Ranh, Huế, Hà Nội, Hải Dương…như những cánh chim lìa đàn, nay hội tụ về đây tu học, trên đất nuớc Thái Lan! Nỗi mừng vui và thương cảm cứ trào dâng, lẫn lộn trong tôi. Mới có 5 năm thôi mà các em đã truởng thành. Nhiều em đã thọ giới tì kheo, sắp làm giáo thọ. Có em đã làm trụ trì bên Tăng. Gặp các em, tôi vui mừng khôn xiết, nắm chặt tay nhau, trao cho em tình yêu thương của hồn nuớc Việt.
Khóa tu bắt đầu ngày 19, có hơn sáu trăm Tăng Ni, hơn phân nửa từ Việt Nam sang gồm các Sư Bà, các Hòa Thuợng, Thượng Tọa, Đại đức Tăng Ni trụ trì các chùa khắp ba miền đất nước.
Năm giờ sáng chư Tăng Ni có mặt truớc trai đường của cả ba xóm, hát vài bài thiền ca để chờ đại chúng đến đông đủ rồi đi thiền hành do Sư Ông Nhất Hạnh huớng dẫn. Vị Đạo sư dừng lại bên bìa rừng, từ từ ngồi xuống thiền tọa, đại chúng lần lượt ngồi xuống trên tọa cụ của mình, ngồi ngay ngắn, im lặng. Tôi ngồi trên chiếc chiếu nhỏ đưa mắt nhìn chung quanh. Trước mắt tôi, hình ảnh tăng đoàn của Bụt gần ba ngàn năm trước hiện diện. Tôi đang được sống ngược dòng lịch sử, được ngồi với đức Bụt trong tôi, bên cạnh bậc Đạo sư khả kính, chư Tôn Đức nam nữ và các huynh đệ từ khắp miền đất nuớc Việt Nam.
Thở vào tôi biết là tôi đang hạnh phúc. Thở ra tôi thấy niềm hạnh phúc đang ngập tràn khóe mắt. Tôi đang thở cho đồng bào tôi, và cho quê hương tôi! Mẹ Việt Nam ơi, con chỉ có một điều ước mong duy nhất là cho chúng con được tự do tu tập theo pháp môn Thiền Chánh Niệm của đức Từ Phụ Thích Ca, do Tăng Thân Làng Mai hướng dẫn. Điều uớc mong nhỏ bé ấy khó lắm sao, hở Mẹ?
Hàng cây keo cao vút, mảnh khảnh đứng lặng im, không một gợn gió. Trên ngọn cây, tiếng chim hót líu lo, vang dội cả khu rừng. Chúng đang truyền tải pháp âm thầm lặng cho đồng bào Thái biết, nơi đây có một vị đạo sư và tăng đoàn gồm người Việt Nam, người Mỹ, người Thái, người Lào, Capuchia, … đang thiền tọa, theo dõi hơi thở chánh niệm, bình an trên đất nước Thái.

Thở vào tôi biết mình đang hạnh phúc …
Sáng nay là buổi cuối cùng của khóa tu. Suốt ba buổi pháp thoại, Sư Ông dạy chúng tôi phương pháp Thiền Chánh Niệm, theo dõi 16 hơi thở trong kinh An Ban Thủ Ý. Sư Ông nhấn mạnh: Tu là chế tác hỷ lạc – nhận diện và chuyển hóa khổ đau. Mình có nhận diện được nỗi khổ đau do tham ái, giận hờn, đố kỵ đang đốt cháy tâm mình, chuyển hóa nó thành niềm vui và hạnh phúc thì mới độ cho người khác được. Chí nguyện của người tu là phát túc siêu phương để giải thoát nỗi khổ niềm đau cho mình và cho người… Bài pháp thoại nghe thì đơn giản nhưng thực tập thì khó làm sao! Muốn thực tập chánh niệm thì phải có bạn đồng tu, phải có tăng đoàn hòa hợp tu cùng một pháp môn, phải có Tăng thân cùng khuyến khích nhắc nhở nhau thực tập.
Chiều nay, chúng tôi họp mặt cùng nhau vui chơi, văn nghệ chia tay. Các thầy, sư cô lên hát bài liên khúc Mẹ Việt Nam của Phạm Duy. Các vị không phải là ca sĩ chuyên nghiệp, nhưng họ đã hát bằng cả trái tim nên gây xúc động cho gần 600 khán giả là tăng ni. Các sư em lên múa nón bài Tôi yêu quê tôi. Những buớc chân uyển chuyển, những chiếc nón lá lả luớt theo điệu múa hòa quyện theo tiếng hát trong veo:
Tôi yêu quê tôi yêu lũy tre dài đẹp xinh
Yêu con sông xanh thơm cát hoe vàng bên đình
Yêu trăng buông lơi trên má cô nàng dệt tơ
Và yêu cánh đồng vợi xa đang dựng mùa hoa.
Tôi yêu đơn sơ qua mái tranh nghèo mẹ quê
Yêu duyên nên thơ trong tiếng khoan hò ước thề
Yêu con đê xưa đưa lối qua chợ làng quê
Và yêu mấy nhịp cầu tre là đây em chờ anh về
Kìa cùng đùa chơi trẻ thơ ca hát say đời
Dù nghèo mà vui hỏi ai không hé môi cười
Mưa nắng ơn trời luống cày thắm đẹp lúa ngời
Xóm làng đón mùa chiêm mới
Ấm no ấp ủ lòng tôi
Tôi yêu quê tôi yêu mãi bây giờ càng yêu
Yêu chim bay qua mang đến tin mừng thái hòa
Yêu anh yêu em yêu nước yêu trời gần xa
Và yêu mối tình nở hoa ngàn năm không hề phai nhòa
Tôi nghe mà cảm động quá đi thôi, tình yêu quê hương dâng ngập trong lòng. Nhìn các em tôi thấy sự hiện diện của khung trời Việt Nam, của mảnh đất hình chữ S, hình hài Mẹ Việt Nam. Các em đã như những cánh chim non, bị xô đẩy ra khỏi tổ vào đêm mưa gió. Nhờ chư Bụt, chư Tổ che chở, nhờ sự tu tập tinh tấn theo pháp môn Thiền Chánh Niệm, lấy hơi thở làm giây neo giữ vững tâm mình, chế tác tứ vô lượng tâm Từ Bi Hỷ Xả, đem đôi mắt thương nhìn cuộc đời mà các em đã vượt thoát mọi khó khăn, như đàn chim đại bàng tung cánh bay khắp muôn phương, tổ chức những khóa tu, giúp cho hàng triệu người trên thế giới thoát khỏi nỗi khổ, niềm đau, xóa bỏ những nội kết, sống hòa hợp thương yêu trong tình cha con, huynh đệ.
Nhìn ra ngoài rừng cây, tôi nghe xôn xao tiếng gió. Vầng trăng sáng xuất hiện trên đỉnh núi, lửng lơ từng đám mây trắng bay bay bên trời viễn xứ.
(Không phải đang bay về cố quận như bài văn tôi viết MÂY VỀ CỐ QUẬN – đăng trên báo Giác Ngộ năm 2005, tả lại cảnh hơn ngàn tăng ni đi khất thực tại chùa Hoằng Pháp do Tăng Thân Quốc Tế Làng Mai về tổ chức)
Chân Y Nghiêm
Viết tại ni xá Vầng Trăng Tỏ 23.4.2013
Hoa Hậu
Giờ này cây Hoa Hậu hẳn đã cho nhiều hoa lắm rồi!Tôi về ở chùa Tây Linh đang khi cây Hoa Hậu bắt đầu nở. Lần đầu tiên tôi ngắm cây Hoa Hậu là một buổi sáng gió lạnh nhưng trời không mưa. Đứng trên hành lang thiền đường mà ngắm Hoa Hậu thì thật là tuyệt. Cành Hoa Hậu vươn thấu hiên thiền đường và muốn đưa tay với hái hoa không khó tí nào.
Hỏi cây bao nhiêu tuổi, Sư bảo là trồng đã đến chừng mười năm. Mười năm, cây vẫn đứng đó, bình an trước bốn mùa. Để ý thì tôi thấy hoa nở bốn mùa nhưng mùa hoa rộ nhất vẫn là cuối Đông đầu Xuân. Lúc tôi và các sư em về Tây Linh cũng vào mùa Đông, đang mùa hoa nở. Sư bé Nhất Nghiêm rất thích Hoa Hậu và muốn tôi vẽ cho sư bé một tấm hình Hoa Hậu. Tôi hứa và ra đứng quan sát cánh hoa, lá hoa, cuống hoa, nhị hoa và thậm chí là những đường gân ở lá và cánh hoa nữa. Sau khi quan sát kỹ, tôi trở vào bàn định ngồi vẽ thì có việc và chuyện vẽ hoa mặc nhiên đình chỉ lại. Cho đến một buổi sáng, sư bé Nhất Nghiêm mang vào cho tôi một cành Hoa Hậu nhỏ và bắt tôi phải vẽ giống y chanh cành hoa đó. Sư bé tự treo cành hoa lên phía trước mặt tôi, tự sư bé chọn thế của hoa, làm y như một nhà đạo diễn đang tạo dáng cho các họa sĩ vẽ tranh không bằng. Tôi chìu sư bé và ngồi vào bàn vẽ. Ngồi vẽ và tôi nghĩ chỉ vài ngày nữa là cành Hoa Hậu này sẽ héo và mất đi, nhưng hình ảnh của hoa thì đã được ghi lại trong tàng thức tôi và trong cuốn sổ vẽ. Tôi không vẽ riêng trên giấy cho sở hữu của sư bé mà vẽ ngay trong cuốn tập vẽ. Vẽ xong tôi đề phía dưới là: “Thương tặng sư út Nhất Nghiêm, Giám niệm con – Những ngày tản cư về Tây Linh – Ngày11/12/2009” (sư bé tự đặt cho tôi là sư Mạ giám niệm và tự phong cho mình là giám niệm con mặc dầu chỉ có sư bé làm giám niệm của phòng).
Chị em tôi về ở chùa Tây Linh từ nhiều nơi trú đến. Sau khi rời Bát Nhã, chị em tôi người thì ra ở chùa Phước Huệ, người về chùa Từ Đức, người thì về nhà làm giấy tờ, v.v… và sau đó thì về ở chùa Tây Linh. Trong thời gian ở chùa Tây Linh, một số các sư em tôi được đưa đi đến các trung tâm khác. Ngày các chị em tôi đến, cây Hoa Hậu có mặt chào đón chúng tôi bằng cái vẫy cành rất thân thiết. Cây đứng đó, cứ đón người này đến rồi đưa người kia đi. Các sư em tôi hiện đang có mặt ở các trung tâm tại Mỹ, Đức, Thái, Pháp, v.v.. nhưng cây Hoa Hậu thì vẫn có mặt ở đó cho bất cứ những ai đến – đi. Tôi thích nhìn những cánh Hoa Hậu rơi trong gió và nằm trên sân. Có những buổi sáng cầm chổi ra quét sân, nhìn những cánh hoa màu đỏ tím rơi đầy mặt đất, tôi hiểu ra thêm ý nghĩa của Tịnh Độ hiện tiền mà Thầy thường dạy, lòng tôi rung động trước cái đẹp tự nhiên của thiên nhiên đất trời ban tặng. Nhìn mảnh sân trải đầy cánh hoa tôi không nỡ quét đi. Nhưng không thể không quét vì ở đây là như vậy, buổi sáng ra mà không quét sân thì y như ngủ dậy không rửa mặt. Cái nhìn này đôi lúc cũng làm cho nghệ thuật “bầm dập” và suy giảm bớt đi phần nào. Rồi một hôm có cơn bão ghé qua, nhánh hoa vươn vào phía thiền đường bị gió quật gãy, vậy là chị em tôi không còn cơ hội đứng ở thiền đường với tay ra để chơi đùa với những bông hoa nữa.

Chị em xóm Cỏ Thơm – Chùa Tây Linh
Chị em tôi thường ngày thứ Năm và Chủ Nhật thì lên xe đi về chùa Tổ để dự ngày quán niệm. Có một nhánh Hoa Hậu vươn ra khá sát đường đi và cành cúi thấp xuống. Mỗi khi lên xe và đóng cửa lại, tôi thường đưa tay ra nâng cánh Hoa Hậu lên để hoa khỏi bị cà mạnh vào xe. Có những lúc thầy Pháp Vượng đậu xe sát nhánh hoa, lên xe ngồi đợi các sư em, cành hoa đưa sát vào trong xe, tôi ngồi trong xe mà cầm được cả nhánh hoa chơi, thích chi lạ. Vậy đó mà một hôm có người cầm rựa chặt nhánh hoa đó đi. Tôi đứng trên lầu nhìn xuống, hỏi sao lại chặt thì được trả lời rằng bởi nó vướng víu. Nhìn nhánh cây bị chặt tôi buồn ơi là buồn. Tôi buồn không phải vì không có nhánh hoa đó để chơi, để ngắm hay làm mất đi vẽ đẹp của cảnh chùa. Tôi buồn bởi khi chặt cành cây, người đó đã chặt với sự thiếu ý thức mà tôi biết mình không thể góp ý được. Trong quá trình người đó chặt nhánh hoa, tôi có mặt đó vừa làm một quan sát viên vừa gởi năng lượng thương yêu tới cho cây Hoa Hậu. Khi nhánh hoa đó đã bị chặt khỏi cành cây, người kia buông rựa với niềm vui chiến thắng. Tôi như cảm được nỗi sợ, nỗi đau của nhánh cây khi bị những lát rựa đốn vào thân và bị kéo đi xềnh xệch. Nó đau lắm chứ, làm sao mà nói cây không có tri giác, không biết đau đớn khi nó cũng là một thực thể sống hiển hiện ra đó, sờ sờ trước mắt đó. Nói vậy không có nghĩa chúng tôi không bao giờ đốn cây hay cắt tỉa loài thực vật. Chị em tôi cũng từng làm vườn, vườn rau, vườn hoa và vườn cây ăn trái. Nhưng mỗi khi cần cắt rau hay cắt một nhánh hoa, tỉa một nhánh cây chúng tôi đều chắp hai tay lại, đọc bài kệ cắt rau hay cắt hoa, xin phép hay báo trước rồi mới cắt. Trong quá trình đưa kéo vào thân cây cho tới khi cắt xong, chúng tôi đều làm rất cẩn trọng, làm trong chánh niệm và gởi niềm biết ơn tới những cọng rau, nhánh hoa hay cành cây vì chúng tôi ý thức rằng những cọng rau, nhành hoa, gốc cây này là những người bạn của mình và sẽ đem hạnh phúc đến cho mọi người với khả năng đóng góp của chúng.
Đã hơn mười năm qua cây Hoa Hậu vẫn đứng đó và cũng hơn một năm, tôi về ở chùa Tây Linh, sự có mặt giữa tôi và cây Hoa Hậu rất sâu sắc và âm thầm. Cây đã vẫy chào đón chị em tôi đến và đưa các sư em tôi ra đi, cũng như cây, tôi cũng đã làm như vậy với các sư em tôi. Tôi và cây đều làm kẻ ở lại.
Mấy ngày liên tục trời trở gió và mưa hoài. Có những đêm nằm nghe gió rít từ phía sau
cánh đồng đưa lại, tôi nghĩ đến cây Hoa Hậu, gió đánh mạnh thế thì hoa rụng hết còn gì. Đúng thật, sáng ra nhìn cây Hoa Hậu với cành lá xác xơ, trông tơi tả làm sao. Dưới mặt đất, những xác hoa rơi vãi đầy trong nước, dính chặt vào mặt đất như thách thức những lát chổi của các chị em tôi. Có một vài nhánh hoa gãy nguyên cả chùm, chị em tôi nhặt đem về phòng, chưng trên kệ ở đầu giường, tới giờ rảnh chúng tôi về ngồi yên nơi “vương quốc” của mình uống trà và ngắm hoa hay học bài, lòng cảm thấy an ổn mặc dù bên ngoài mưa gió không ngừng. Các sư em tôi vẫn thường hái lá của cây Hoa Hậu để tạo hình mặt thỏ, khá giống chú thỏ thật với hai cái tai dài ngộ nghĩnh. Tuy trời mưa gió và Hoa Hậu rụng đầy sân nhưng tôi vẫn thích ra đứng ở hành lang thiền đường để chơi với hoa. Tôi mong sao cho mưa gió thôi ghé thăm để hoa không phải sớm rời cành. Nhưng tôi biết nếu còn gốc, còn nhánh thì qua mùa Đông cây Hoa Hậu sẽ cho ra đời những chiếc lá non xanh, những bông hoa đỏ tím.
Cứ ngỡ là tôi sẽ làm người ở lại, ấy vậy mà rồi tôi cũng ra đi. Thiệt là cuộc đời không ai biết được ngày mai ra sao… Hôm trước ngày tất cả chị em tôi chuyển chúng lên ở Diệu Trạm, đêm đó tôi đã dành thời gian ra đứng ở hành lang thiền đường chơi cùng cây Hoa Hậu. Tôi nói lên lòng biết ơn của tôi, nói lời cảm ơn cây đã cho tôi những phút giây yên tĩnh và tươi mát, đã có mặt đó cho tôi trong những lúc tôi vui cũng như tôi buồn, đã giúp tôi trân quý những cái đẹp của đất trời ban tặng, đã thắp sáng ý thức về cuộc sống vô thường đầy mầu nhiệm để tôi thôi hứa hẹn những gì tôi chưa chịu làm lâu nayJ. Sáng đó khi rời chùa Tây Linh, tôi nhìn cây Hoa Hậu và mỉm cười thay lời tạm biệt và lòng không khỏi… gợn sóng. Tôi biết cũng như tôi, cây không buồn vì chuyện đến đi của cuộc đời bởi chúng tôi biết tất cả luôn còn đó cho nhau mỗi khi trong lòng luôn sống cho nhau, vì nhau.
Chân Như Hiếu
Tuyết Đầu Mùa
Nếu bạn quên mật khẩu, chúng tôi có thể tạo mật khẩu mới cho bạn.
