Dậy đi chú tiểu

Thơ Nhất Hạnh

Nhạc Anh Việt

Download

Tiếng gì giục giã đêm sương
Trăng khuya tỉnh giấc trong vườn lạnh tanh
Mịt mờ sương bạc vây quanh
Tiếng chim gióng một trên cành cây cao
Trời khuya vắng bóng ngàn sao
Sông ngân hà lạc phương nào biết không ?
Lặng nghe, tiếng dế não nùng
Mọi loài say cả giấc nồng thê lương…

Dậy đi chú tiểu, dộng chuông,
Cho hồn vơi bớt nỗi buồn mênh mông
Cho mau lên ! rạng trời đông
Cho ngân dìu dặt ở lòng muôn sao
Dậy đi thôi, hỡi trời cao
Trăng mây lẳng lặng phương nào lắng nghe
Tiếng chuông thức tỉnh nguồn mê
Gọi hồn tử sĩ nặng thề trong sương

Trời hôm nay nhạt sắc hương
Còn chờ ở chú mở đường bình minh
Dậy đi thôi, tiếng chuông linh
Chú khua lên, với giọng kinh ngạt ngào
Khua lên cho lá lao xao
Và trăng khuya nhạt bớt màu u vương
Dậy thôi, chú tiểu, dộng chuông
Cho hồn vơi bớt nỗi buồn mênh mông .

Chân dung

Thơ & nhạc Nhất Hạnh

Download

Gió sớm mai hồng lật những trang ngà
Tập thơ thời gian vô cùng dệt bằng tơ lụa không gian,
đóng bìa xanh rừng thẳm
Những trang thơ mênh mang lòng đại dương bát ngát
Tôi tìm bài thơ chân dung Em, nét chữ lung linh sắc hoa mầu lá
Trời cao đã cho đại dương sâu ngôi sao đẹp nhất của mình
Muôn đời mắt em ngời sáng
Trùng điệp sóng dồn về cát trắng
Trinh nguyên vừng trán phương Đông.
Gió mai thoảng về hơi thở
Cành lá thì thầm để rơi những giọt sương trời lác đác
Tây phương da trời là suối, những sợi tơ trời vén gọn,
để cho trăng nở tuyệt vời
Mưa, ôi những sáng tuôn mưa – trời đất chuyển mình,
dồn dập thét gào, những đọt cau xa oằn oại,
những con chim trong màn mưa bạc,
Tôi quỳ xuống rưng rưng. Tiếng gọi của em từ bản thể
vọng về, tôi gục đầu lắng hết tâm tư, mắt đầm lệ nhớ
Trưa, ôi những buổi trưa lắng vào tuyệt đối – trời cao xanh ngắt,
bâng khuâng nghe  tiếng gọi tôi về
Tiềm thức dâng tràn u hoài của thăng trầm mấy kiếp
Lá đón nắng hồng mai đến : chiếc áo tháng tư nhẹ sắc,
thoáng hương kỳ ảo mùa Xuân
Em khắp nơi
Và đôi bàn tay em, đôi bàn tay, hoa nở tuyệt vời trên sự sống
Phép mầu hiển hiện khi những ngón tay ngà hé mở :
Chim bồ câu xòe cánh trắng
Cao vút trời xanh hòa bình tỏa rạng – tiếng ngợi ca
vẳng lại tự những tinh cầu xa…
Đêm bình yên. Trời cao. Biển dâng từng đợt sóng
Và đợt sóng cao, to
Hào hùng hơn cả
Đang vươn mình tìm tới tận chân trời.
Nét chữ trăng sao trên tờ thơ mầu nhiệm
Em về : hoa hồng hé cánh
Tia nắng đầu reo vui trên mầu hoa đại còn đẫm ướt sương khuya
Nụ cười tới trên cánh hồng sen úp mi, hé nở :
Bờ xanh xanh, hương xa gọi về muôn huyễn tượng
Long lanh mặt trời chói rạng trong ngàn sương đọng giọt.
Mắt mờ hoen lệ
Trước nhiệm mầu biểu hiện
Tôi mỉm cười nhìn mây nước:
Bài thơ em hé vườn sáng chân như.

Ba sự quay về

Nhạc & lời: Nhất Hạnh

Download

Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.
Namo Buddhaya

Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết
Namo Dharmaya

Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những ai nguyện sống cuộc đời tỉnh thức.
Namo Sanghaya

Buddham saranam gacchami
Dharmam saranam gacchami
Sangha saranam gacchami

Thơ, nhạc thiền ca

Thực tập thiền ca

Thiền ca là những bài hát có công năng nuôi dưỡng chánh niệm và làm lớn lên hạnh phúc cho người thực tập. Những bài hát nào khi hát lên ta cảm thấy thân tâm khỏe nhẹ, an lành và giúp ta trở về tiếp xúc với sự sống mầu nhiệm thì đều được gọi là thiền ca. Thiền ca là một sự cống hiến của Tăng thân Làng Mai cho quá trình hiện đại hóa đạo Bụt. Lời của thiền ca được lấy ra từ những kinh văn và các bài xướng tán hoặc là những thiền ngữ hay những lời thơ, ý tứ của các hành giả, ghi lại những kinh nghiệm và niềm an vui trong khi thực tập. Còn nhạc thì được diễn đạt bằng những giai điệu thanh thoát, vui tươi và giải thoát chứ không phải là thứ âm nhạc chứa nhiều chất ủy mị và hệ lụy mà người đời ưa sử dụng.

“Thơ và nhạc của Làng Mai không vương vấn những nét sầu khổ và đau thương hoặc chán chường. Trái lại, thơ nhạc ở đây lành mạnh cao vút và đầy chất liệu tâm linh”. Đó là lời nhận xét của nhạc sĩ Anh Việt khi được tiếp xúc với thiền ca Làng Mai. Và khi cảm nhận được điều đó, nhạc sĩ đã chuyển hóa rất nhiều. Chúng ta hãy nghe nhạc sĩ nói thêm: “suốt đời tôi, tôi đã sáng tác nhạc tình yêu và tranh đấu. Tiếp xúc được với gốc rễ tâm linh, từ mấy năm nay tôi đã bắt đầu sáng tác nhạc thiền. Thứ nhạc này đem lại cho tôi nhiều bình an, thảnh thơi và vững chải…”

Nếu thiếu sự tìm hiểu thấu đáo thì thấy việc dùng âm nhạc để diễn đạt lời kinh, ‎ý kệ và giúp người thực tập duy trì, phát triển chánh niệm là một điều mới mẻ, và có thể trở thành một điều khó chấp nhận đối với một số người. Nhưng nếu nhìn rõ hơn thì tăng thân Làng Mai chỉ làm công việc tiếp nối chư vị tiền bối và góp phần mình để cho sự thực tập này hợp với thời đại hơn thôi. Từ đầu thế kỉ thứ 3, tại Giao Châu, thiền sư Tăng Hội đã đem âm nhạc để phổ vào lời kinh và sáng tác ra một tác phẩm kinh nhạc lấy tên là Nê Hoàn Phạm Bối. Đó là tập nhạc kinh có mặt sớm nhất ở nước ta và cả ở châu Á. Và trong suốt tiến trình phát triển của Phật Giáo nước nhà, chư vị tổ sư đã khéo léo vận dụng âm nhạc của địa phương và thời đại mình để phổ vào lời kinh, tiếng kệ. Phổ biến nhất hiện nay ta phải nhắc đến các điệu tán rơi, tán xấp, tán trạo của các tự viện ở Huế. Những điệu tán này có nhiều nét tương đồng với âm nhạc cung đình Huế. Ở miền Bắc cũng có những phương thức tán tụng dựa theo các làn điệu xẩm, chầu văn và dân ca Bắc bộ. Miền Nam cũng vậy, cũng có hơi hướng của dân ca Nam bộ, cải lương, trong các giai điệu, nghi thức tán tụng. Điều này chứng tỏ tính nhu nhuyến và mong ước đem đạo Bụt đi vào cuộc đời của liệt vị tổ sư. Chính vì sự khéo léo và tuệ giác của chư tổ nên kinh, kệ, giáo pháp không còn bó hẹp trong phạm vi thiền môn mà đã đi vào dân chúng bằng con đường ÂM NHẠC.

Còn với thực trạng của thế kỉ 21 này, khi nền âm nhạc hiện đại phát triển rất mạnh mẽ và có xu hướng toàn cầu hóa, người trẻ được tiếp xúc nhiều với nền âm nhạc này mà ít có cơ hội tiếp xúc với dân ca, với dòng nhạc dân tộc cổ truyền. Cùng nhiều lí do khác, người trẻ không còn nhiều cảm tình với những phương cách tụng kinh của truyền thống. Nhìn rộng hơn, ta thấy người trẻ thời nay cũng có những biểu hiện cho thấy sự mất cảm tình với đạo Bụt trên nhiều phương diện. Với con mắt quán căn cơ, chúng ta phải tìm cho được những giải pháp để đạo Bụt vừa giữ được cốt lõi của sự thực tập nguyên thủy và giúp cho người trẻ có cơ duyên tiếp xúc với gốc rễ của nền văn hóa đạo học dân tộc mà vừa có những biểu hiện tươi tắn, khỏe mạnh hơn. Đừng để tương lai chùa chiền chỉ còn là nơi lui tới của các ông già, bà lão mong tìm được một nơi nương tựa cuối đời như câu thành ngữ của dân gian “trẻ vui nhà, già vui chùa”. Và thiền ca là một cống hiến bên cạnh hàng loạt các cống hiến tươi mới và đặc thù khác như các pháp môn: thiền ôm, thiền trà, làm mới, soi sáng, ái ngữ lắng nghe… Các pháp môn này không những không làm mất đi tinh thần thiền tập nguyên thủy và căn bản của đạo Bụt mà còn làm cho sự thực tập trở nên vui tươi, mới mẻ và dễ dàng giải quyết những khổ đau thực tế của người trẻ hơn.

Về vấn đề thực tập, khi hát một bài thiền ca ta không thể hát như một bài hát tiêu khiển ngoài đời, ta phải hát bằng tất cả sự thực tập của mình. Thiền ca phải được nhận thức nghiêm túc như các thực tập thiền ngồi, thiền hành, ăn cơm im lặng. Dù đứng hay ngồi ta cũng cần giữ thái độ nghiêm túc và uy nghi khi hát một bài thiền ca hay tụng một bài nhạc kinh. Và một điều rất quan trọng phải ghi nhớ là ta phải thực tập ngay trong lúc hát. Ví dụ ta hát câu “ta hạnh phúc liền giây phút này, lòng đã quyết dứt hết âu lo” thì lúc đó khuôn mặt ta phải tươi vui, âm điệu ta phải hân hoan, và nhất là tâm ta phải thực sự có mặt trong giây phút hiện tại để buông bỏ những ưu sầu lo lắng, để tiếp xúc được với hạnh phúc chân thật do chánh niệm đem tới. Hoặc khi tụng câu “con xin đem ba nghiệp thanh tịnh kính lạy tất cả hằng sa Bụt” ta phải chắp tay thành kính và mở lòng ra để lời kinh đi vào đánh thức những hạt giống tuệ giác trong tâm ta.

Các bài thiền ca có thể được hát lên trước các buổi sinh hoạt chánh niệm như thiền hành, pháp thoại, pháp đàm… Thiền ca còn được sử dụng trong các buổi sinh hoạt cộng đồng như văn nghệ, lửa trại. Với thiền ca văn nghệ không còn mang tính tiêu khiển trần tục mà trở thành thứ văn nghệ có tính cách nuôi dưỡng và trị liệu. Khi đó văn nghệ là văn lang (văn: trong sáng lành mạnh, lang: chữa lành).

Thiền ca được các thầy, các sư cô và các vị cư sĩ thuộc các tu viện và đạo tràng tăng thân Làng Mai thực tập rất thường xuyên. Và nó cũng đang giúp cho biết bao nhiêu người tìm lại được hạnh phúc và an lành trong mỗi câu hát, câu thơ chánh niệm.

Hy vọng với sự thực tập hết lòng chúng ta sẽ làm được như lời cầu nguyện của Thầy chúng ta “Để pháp âm tiếp nối bằng lời ca tiếng hát em thơ” .

Mùa lá chín

Mùa thu đầu tiên tại Làng Mai

Vài chiếc lá trên nhành phong đã bắt đầu chuyển màu, từ xanh sang ửng vàng rồi biến thành màu đỏ chín thật đẹp. Tháng ngày thoáng đi thật mau đang hằng in trên những chiếc lá trĩu cành. Ngày ở đây trôi rất nhanh, nhanh đến nổi những con người nhạy cảm với thời gian nhất cũng không thể bắt theo kịp được. Nắng và mưa thay nhau liên hoàn. Đêm tối ùa về đúng lúc cho những gì đang thay đổi mau lẹ của đất trời ngoài kia.

Trời bắt đầu lạnh dần. Những ngày nắng như ngắn hơn so với lúc chúng bắt đầu khởi nguyên. Và mưa phùn dày hơn, thấm rất nhẹ trên chiếc áo choàng màu khói hương nhuốm bụi thời gian của những vị thiền sư đang mặc. Khung cảnh chung quanh bỗng trở nên thật mềm và nhẹ. Cỏ hoa như khoác trên mình cùng chung một màu ướt lành lạnh nhẹ nhàng nên thơ đến lạ. Chắc phải thêm một lớp chăn nữa mới đủ ấm cho đêm nay.

Thu đẹp đã về rồi!

Sắp bước sang tuần thứ ba của tháng chín. Những người dân bản xứ nói tuần này sẽ là thời gian thu về rõ ràng nhất. Họ cũng nhắc tôi phải chăm sóc mình thật cẩn thận vào mùa này. Mới đầu tôi không hiểu gì, thì ra là trời trở lạnh nên sợ tôi không chịu nổi. Thú thật chịu nóng là sở trường nhưng lạnh thì chưa biết thế nào. Tôi cũng đang nuôi hy vọng mình sẽ được một lần hóa thành tuyết trong mùa đông này.

Sáng nào tôi cũng được đánh thức bằng tiếng chim hót. Có thật nhiều tiếng chim thật hiền và lạ quanh đây, chúng đã tụ họp nơi này như sau khi được trải nghiệm đời sống của những kẻ lữ hành du mục. Những con chim nhỏ xíu cứ đậu trên cành của bụi trúc tím và hót ríu rít vào tai tôi. Có những hôm trời chưa sáng, tôi trùm chăn quanh mình, rồi bước ra ngoài khi đất trời còn im ỉm nằm chìm trong màn sương dày đang giăng kín bên hiên trước cửa phòng. Tôi đã ngồi thật yên, đợi mặt trời lên và chờ để nghe những tiếng chim kia.

Mưa phùn nhiều nên lạnh. Lạnh cùng với cái nắng dìu dịu khiến lá cây già đi rồi chín dần. Lần lượt những chiếc lá thay nhau chuyển màu. Không khí chuyển mùa đang quyện mình vào chén trà nóng. Khói và hương trà cũng hòa lẫn vào cùng nhau với những chiếc lá đang chịu lạnh và bắt đầu chuyển màu ngoài kia. Tôi đã bắt gặp trạng thái yên và lắng như thế này vài lần trong đời. Nhưng với không gian này dường như rất khác, khác không hẳn vì sự biến đổi của tâm lý tính hay vật lý tính, mà sự khác này đã di chuyển đến tôi như một nguồn năng lượng thật dồi dào đã được chế tác lâu ngày, nay đang bao phủ lên thân thể và tâm hồn tôi. Tôi vẫn giữ mình trong tư thế thật yên, tai nghe xôn xao những tiếng líu lo bên rặng tre ven rừng. Rót thêm một ít nước ấm vào chén, hương trà bay ngút lên cao trong tư thế của những vật thể vô hình. Tôi đã thưởng thức được khói hương trà tự do bay lên như thế với một vài tia nắng sớm vừa chớm hé ở tít đằng xa kia.

Tôi bắt đầu thấy quen dần với hoàn cảnh chung quanh. Cũng có vài thứ thật lạ lẫm trong mắt tôi khi mới tiếp xúc ban đầu, nhưng hầu như chỉ là vài sự so sánh khập khiễng của những nền văn hóa trong lối suy tư khác nhau. Ngày đầu tiên được xếp vào phòng ở chung với một người Indonexia, một người Italia và tôi là người thứ ba. Họ nói tôi còn nghe mùi Monhinga hơi nhiều. Đó là món ăn được ưa thích nhất của người dân Miến Điện, nó có mùi bún của quê mình và mùi cà ri Ấn Độ. Có thể họ nói đúng vì tôi thuộc mẫu người thường di cư đến những vùng có mùi quen thuộc như thế. Thật may sau đó, một khoảng thời gian làm biếng dài ngày đã cho phép tôi thích nghi được với không khí sinh hoạt nơi đây. Những buổi ngồi chơi, co ro vì lạnh và kể chuyện tâm tình cho nhau nghe như đã khiến chính tôi quên đi mình đang ở một nơi thật xa nào đó.

Những chiều gần đây, anh em Xóm Thượng hay kéo nhau về Sơn Hạ chơi. Sơn Hạ hiền và đẹp, đơn sơ nhưng nhẹ nhàng. Tôi  bắt gặp những chùm hoa thật lạ, nhiều màu chen lẫn vào nhau trên một chiếc xe kéo bằng gỗ, chúng được trang trí rất tự nhiên nằm im trên nền cỏ xanh mượt. Xung quanh là những cây thông, cây bạch dương và tùng bách đã có mặt ở đây nhiều năm, thân cây vươn thẳng to và cao đủ che mát cho cả khu vườn. Bên cạnh còn có cả hồ nước rong rêu phủ đầy nằm ở phía tây. Trước chiếc cầu có bảng gỗ ghi vài chữ: “Sơn hạ hữu tuyền, tạc chi tắc dũ, quê hương tình người, đất Bụt phương nam”.

Đốt lửa trại ở Sơn Hạ là lúc dễ khiến những người dân xứ núi chúng tôi thích thú nhất.  Trời đang trở lạnh, mưa phùn dày hơn nhưng lửa thì vẫn cháy kiên cường. Trống, ghitar, sáo trúc hòa chung với tiếng côn trùng với tất cả các giai điệu được đến từ nhiều nơi. Chúng được tấu lên một cách tự nhiên như không một lằn ngăn cách bởi vấn đề địa lý. Chúng tôi hát say sưa với nhau bên lửa đỏ, chia nhau từng ly trà ấm, đếm từng vì sao rơi và đợi trăng lên. Những ngày làm biếng đã đi qua thật êm và tuyệt vời như thế.

Sáng nay bước sang ngày mới của tuần thứ ba. Lạnh đến tê người, sương mù phủ kín khắp các lối đi, nên những chú chim kia không còn dậy sớm nữa. Tôi cũng thức giấc hơi trễ hơn mọi ngày. Một vài người bạn đứng từ phòng bên kia nói vội qua bên này “dậy trà sớm đi”. Còn gì tuyệt vời hơn thế khi thức giấc buổi sáng có người mời ta uống trà, ngồi yên và thưởng thức mùi hương của lá sage. Uống trà xong, chúng tôi thiền hành quanh triền đồi. Ngoài trời chớm bước sang thu, từng chiếc lá bắt đầu thay nhau chín đầy cành, khi gió đến thì rụng xuống trải đều uốn quanh theo đôi bên con đường sỏi. Cảnh tượng của chiếc lá phong chín khi rơi cũng tuyệt đẹp như bất kỳ một hình ảnh tuyệt mỹ nào khác. Sao mai vẫn còn ẩn mình sau màn sương sớm dày đặc đang giăng đầy trời. Mặt trời lên!

Thầy Hữu Tấn

Mùa mận chín

Xóm Mới, ngày 23.09.2013

Thầy kính thương!

Mấy hôm nay xóm Mới thơm lừng mùi mứt mận. Cảnh đại chúng cùng nhau làm việc, chỗ thì rửa mận, chỗ thì cắt mận, chỗ thì nấu mận…. ắt hẳn là nuôi dưỡng thiền sinh lắm. Bởi vì con thấy các bạn thiền sinh cứ đứng nhìn chị em con làm việc mà cười, sau đó thì vô phụ giúp.

Cách đây mấy ngày chị em con có đi hái mận ở nhà hàng xóm và nấu được rất nhiều mứt mận. Hôm nay là ngày làm biếng nhưng đại chúng vẫn cùng nhau đi hái mận. Nói là hái nhưng thật ra là đi mót mận ở nhà hàng xóm sau khi họ đã thu hoạch xong.

Để chuẩn bị cho  ngày hái mận thì chiều hôm đó sư chị tri sự đã làm xong rất nhiều cây khèo mận. Vì rất thương đại chúng nên đội nấu ăn đã nấu thật ngon và đầy đủ dưỡng chất  để các chị em có đủ sức làm việc như có lẩu, bánh canh và cả bánh bột lọc nữa…Trước khi đi làm việc, đại chúng có họp chúng để chia sẻ về cách hái mận và cũng để tri sự nói lời cảm ơn đại chúng. Con thấy mình chưa có làm gì mà đã được cảm ơn rồi, thật hạnh phúc biết bao!

Theo con đường mòn đại chúng đi ra đồi mận. Chẳng có ai đi tay không, người thì mang tấm bạt, người thì mang rổ, người thì đẩy xe rùa… Tiếng bước chân cũng rộn ràng niềm vui, một niềm vui khó tả. Dẫu rằng đồi mận của nhà người ta nhưng chị em con thương đồi mận này lắm, ai cũng hái thật nhẹ, khèo cho khéo để không bị gãy cành. Tấm bạt được giăng ra, bốn người cầm bốn góc, một người rung cho mận rụng. Tiếng trái mận rớt xuống bạt rào rào nghe thật thích như là mưa mận. Có các sư chị dùng cả lưới để hứng mận, thấy vậy nên nhiều người buột miệng nói: “Sao mà giống bắt cá quá vậy?” làm cho ai nghe cũng phải cười.

 

Buổi cơm trưa trong ngày hái mận thật vui. Chị em con chẳng ai hẹn ai, tất cả ra ngồi ăn chung dưới bóng mát của bụi tre. Vòng tròn cứ mở thêm mãi. Các bạn thiền sinh cũng tới ngồi cùng và hòa vào tiếng cười của chúng con.

Năm nay tuy mận mất mùa nhưng chỉ trong ngày làm biếng mà chúng con đã thu hoạch được hơn một tấn. Tất cả được mang đi sấy để dùng cho năm tới. Dưới gốc có nhiều  trái mận đã rụng từ lâu  và đang  trở thành chất dinh dưỡng để nuôi cho những trái mận mùa sau. Điều này làm con nhớ tới một bức tranh trong thiền đường Chuyển Hóa ở Xóm Thượng, trong đó có hình ảnh một cái cây đang gục xuống và cũng nơi đó một hạt mầm đang vươn lên như một sự tiếp nối không ngừng của sự sống. Con chưa hỏi ai đã vẽ nó nhưng con tin chắc là Thầy vẽ. Nét chữ, nét vẽ của Thầy thì không lẫn vào đâu được.

 

Để có được một hũ mứt mận phải trải qua nhiều công đoạn, nào là hái mận, rửa, cắt, nấu… Mỗi nhóm một khâu. Chỉ có khâu nấu là hơi cực một chút, còn các khâu còn lại thì rất đơn giản. Một nồi mận nấu khoảng tám tiếng đồng hồ, lửa nho nhỏ và khuấy đều tay. Mỗi khi có tiếng chuông thì ngưng tay thở, khi ấy ai cũng có cơ hội nhìn thấy nồi mận sôi ùng ục như là nấu cơm vậy. Chị em con thay phiên nhau khấy nên cũng không cực là bao. Khi mận đã quánh, chúng con cho vào hũ, đậy nắp lại và úp xuống để mận giữ được lâu. Mận nấu rất nhiều nên bao nhiêu hũ ở trên kho cũng không đủ, chị em con phải đi mượn thêm từ quý Thầy. Ba bếp ga được nấu liên tục, nồi này vừa xong thì đã có nồi khác đặt lên. Mùa mận năm nay ít hơn rất nhiều so với năm ngoái. Nhưng không sao, có nhiều thì làm nhiều, ít thì làm ít, quan trọng nhất là làm việc trong tinh thần vui vẻ và thương nhau. Thời gian này các bạn thiền sinh đến tu tập tuy không có dịp lễ gì đặc biệt nhưng mùa mận năm nay đã hiến tặng cho các bạn rất nhiều niềm vui. Chúng con có tặng cho các bạn thiền sinh những hũ mức nho nhỏ khi các bạn chia tay Làng làm các bạn cảm động quá trời.

Làng đang vào mùa thu, lá cây bắt đầu chuyển sang màu vàng. Còn một tháng nữa Thầy mới về nên chị em con ở nhà tận hưởng mùa thu dùm Thầy. Và điều quan trọng nhất là chị em con luôn thương yêu, nhắc nhở nhau trong sự thực tập để làm quà dâng Thầy khi Thầy về.

Chúng con kính chúc Thầy luôn mạnh khỏe, đi khóa tu vui và sớm về với chúng con.

Kính thư

Các con của Thầy

Con đang sống một mùa thu kỳ diệu

Buổi sáng mùa thu nào cũng thật là kỳ diệu. Một màn sương mỏng giăng giăng trong chút se se lạnh. Lúc mẹ Đất chuẩn bị đón ánh sáng từ cha Mặt trời thì dì Trăng vẫn còn hiền dịu ở trên mái ngói, tỏa bóng xuống cả mảnh sân chim vuông vức. Làm sao mà không hạnh phúc cho được, bạn nhỉ! Chỉ cần đi từng bước chánh niệm qua khuôn viên ấy đến Phật đường cho buổi tọa thiền sớm, lòng người bỗng hòa làm một với lòng đất trời. Trong khoảnh khắc, một niềm giao cảm bừng lên, hạnh phúc.

Tuần này có một em sinh viên ngành văn học từ Mỹ qua Làng để học thiền. Em là người gốc Việt, rất giỏi tiếng tây. Vì ngành học có nhiều áp lực quá nên em bị trầm cảm. Bác sĩ tâm lý đưa cho em một đơn thuốc rất kỳ lạ: “Đi đến Làng Mai ở Pháp”. Bấy giờ Thầy và tăng đoàn lại đang ở Mỹ. Em về Làng, tìm lại được cho mình rất nhiều thứ: nụ cười của em, gốc rễ của em, tiếng mẹ đẻ của em, niềm vui của em, bình an, cảm hứng sáng tác, cách đi mới trên con đường vẫn cũ. Sáng nay, em ăn sáng với bánh mì Pháp có ngon không? Em có thấy miếng bánh mì giòn tan trong miệng em là tặng phẩm tuyệt vời của đất trời, của lòng người? Em hãy đừng ăn miếng suy nghĩ nữa, đừng ăn miếng lo lắng, đừng ăn miếng vội vàng, đừng ăn sự tưởng tượng, đó là những thức ăn nuôi dưỡng trầm cảm. Em hãy chỉ ăn miếng bánh mì giòn tan thôi, nhé em.

Vườn hoa của sư mẹ Bảo Nghiêm vẫn còn lung linh những cánh Thược Dược, cánh Hồng. Trong khi đó bên dưới lại lăn lóc bao nhiêu trái bí, trái bầu xanh um. Sư cô Hạnh Nghĩa vừa từ Thái Lan qua, cuốc đất rồi trồng bên cạnh đó mấy luống cải xanh, cải ngọt, ngò rí…Tôi thích ngắm nhìn vườn rau lớn lên từng chút từng chút, giống như là phép màu vi diệu. Sáng sáng chiều chiều, tôi ra tưới vườn và thực tập bài thi kệ:

 

Nước mát và mặt trời

Cùng làm nên màu xanh

Cam lộ của Bồ tát

Rưới xuống nơi sa mạc

Thành biển xanh mênh mông.

 

 

Bạn là chuyên gia nghiên cứu về trà từ Trung Quốc, bạn cũng tìm về Làng để học thiền, để tìm sự kết nối giữa trà học và thiền học. Bạn ngồi chơi trên chiếc xích đu gỗ, ngắm những bông hoa, cũng để ngắm sư cô làm việc trong chánh niệm. Trong lòng bạn có trà, trong lòng sư cô có thiền. Chúng ta đến với nhau. Bạn mỉm cười, tôi biết bạn đang hạnh phúc. Cuộc sống này thật là ý nghĩa khi mình biết mình đang hạnh phúc và mình cùng tận hưởng hạnh phúc cho nhau, nhỉ!

Lá phong đã chuyển sang màu đỏ nhạt rồi đó. Lá dâu, lá mận cũng chín vàng, đung đưa trên cành trước gió thu. Ngọn cỏ còn đẫm sương mai, lối thiền hành còn đầy bông hoa dại vàng rực, chúng ta đang sống trong mùa thu, cùng tận hưởng gió thu, trăng thu, sương thu, đất trời thu.

Sáng nay, sư chị và sư em cùng làm việc chánh niệm trong hồ sen. Mùa sen nở là mùa hạ. Mùa sen chín là mùa thu. Khi những tán lá sen chín vàng và tàn úa đi, đại chúng dọn hồ cho sạch, để giữ gìn rễ sen, củ sen cho mùa hè năm sau. Những hạt giống lành vẫn nằm yên dưới lớp bùn lầy kia, chỉ cần qua mùa đông băng giá và một một mùa xuân ấm áp thì những cánh sen hồng lại trở lại. Mùa đông cũng là mùa nghỉ ngơi của sen, của bùn, của những chú cá vàng. Dưới đáy sâu bùn lầy, tưởng sự sống là giá băng, nhưng không phải vậy, sự sống vẫn ở đó, chỉ đợi thêm một điều kiện nữa, chúng sẽ trở lại. Điều kiện đó là bạn nắng xuân. Chị em mình mang những đôi ủng thật cao, lội xuống hồ sen, nhổ lên những thân sen đã già và cả những cây cỏ sống cạnh sen. Mặt hồ trở lại yên tĩnh chỉ còn nước mát và bùn lầy dưới đáy. Thỉnh thoảng, mọi người bỗng nghe một tiếng ạch rồi sau đó là một tràn cười giòn tan, thì biết ngay là có một sư cô vừa té xuống bùn.

Các bạn thiền sinh rất thích nhìn quý sư cô làm việc chung và chơi chung với nhau. Có lẽ họ thưởng thức được tình huynh đệ mà chúng tôi chế tác ra trong lúc bên nhau. Tình huynh đệ là đẹp nhất mà. Thầy dạy dỗ chúng ta, Thầy trao truyền cho chúng ta, Thầy mong muốn chúng ta…tất cả cũng chỉ là xây dựng cho được tình huynh đệ. Có tình huynh đệ, chúng ta sẽ chảy ra biển lớn như là một dòng sông. Từng hạt nước nhỏ sẽ bốc hơi giữa dòng vì nắng, vì dốc cao, vì vực sâu… cô đơn và cực khổ lắm.

Chấp tác thật vui!

Mùa thu là mùa chín. Mùa thu là mùa rụng. Cây Hồ Đào nhà hàng xóm chín rụng đầy sân. Nhà hàng xóm sang mời quý sư cô đến nhặt về ăn dùm. Sư chị tri sự cử vài chị em sang đó kết thâm giao. Họ thấy quý sư cô làm việc trong chánh niệm đẹp quá chừng nên cứ lân la đem trà, đem nước ra mời, hỏi thăm đủ thứ chuyện, quên luôn cả việc để thời gian cho quý sư cô nhặt hạt.

Hạt hồ đào nướng lên thơm lắm, hoặc chỉ cần đập lớp vỏ cứng ra là có thể thưởng thức chất liệu béo, giòn và ngọt của nó rồi. Có đội nấu ăn, nấu một nồi cháo trắng, kho thêm hạt hồ đào thành món kho quẹt, làm đại chúng được đãi một bữa ngon tuyệt trần. Thiền sinh ăn cháo trắng với hạt hồ đào kho quẹt đó mà cứ xuýt xoa không hiểu vì sao món này ngon quá vậy. Thiền sinh khắp năm châu về Làng thì cứ ngất ngây vì những món chay do quý sư cô nấu. Có em sinh viên nói quý sư cô mà đi thi nấu ăn thì chỉ có đứng nhất, thức ăn vừa ngon lại vừa lành.

Mấy cây táo, cây sung trong vườn cũng chín rộ. Táo chua thì chấm muối, táo ngọt cắn ăn rất giòn. Sung chín ngọt ghê. Nhưng ăn nhiều sung thì sẽ bị chú aoutat viếng thăm khắp người. Chú sinh vật nhỏ bé ấy núp trong những tán lá, chú ưa ngọt nên mình ăn ngọt nhiều thì sẽ gặp chú. Aoutat cắn thì ngứa lắm, nếu gãi thì càng ngứa. May thay sư mẹ phát hiện được một loại kem sứt vô thì hết ngứa, cho nên đàn sư con tha hồ mà nhâm nhi trái chín mùa thu.

hai man

Mận ơi! Mận rụng rổ chị. Chị để chị… sấy, chứ chị không ăn!

Mùa thu năm trước có Thầy ở nhà cùng hái mận, thật là vui. Mùa thu này Thầy đang ở Mỹ với anh chị em bên đó rồi. Các sư con của Thầy ở Làng hái mận dùm cho Thầy. Hồi cuối xuân trước, đã có một đợt tuyết rơi trái mùa, thành thử nhiều chồi hoa bị lạnh cóng không thể nào nở nổi. Vậy nên mùa trái năm nay ít lắm, song bù lại trái nào cũng mập mạp rất đáng giá.

Hái xong một ngày, được đầy cả xe mận, vừa đem đi sấy khô, vừa bóc hạt ra để làm mứt ăn sáng với bánh mì. Sang năm Thầy sẽ ở nhà, khóa tu sẽ nhiều hơn, nên chị em cũng ráng thêm một chút để làm cho được nhiều mứt mận, để các bạn thiền sinh có cơ hội thưởng thức đặc sản của Làng. Thiền sinh thì mê mứt mận không cần giới thiệu. Nhất là được có cơ hội vừa hái mận, gọt mận, nấu mận rồi thưởng thức mứt mận trong mỗi buổi sáng với bánh mì thì hạnh phúc không thể nào mà kể.

Đợi vài đợt gió lạnh thêm nữa, để lá chín thật chín, màu lá chín đúng độ của nó sẽ rất là đẹp, ép khô thì để được lâu mà màu chẳng phai. Số lá chín mùa thu trước đã ép trong vở, tôi vẫn chưa dùng hết, đợi ai bên Thái Lan qua thì gởi về cho quý sư em cùng gia đình xuất gia bên đó. Lá phong chín vàng, chín đỏ mà ép khô thì làm thiệp đẹp lắm, ghi thêm câu thiền ngữ Thầy dạy vô thiệp nữa thì nó trở thành món quà quý giá với biết bao nhiêu là tình thương và tâm huyết.

Mùa thu cũng là mùa đi bộ. Thời khóa thể thao mỗi buổi chiều từ 16g30 đến 17g30 là giờ cho chị em chúng tôi đi bộ nhanh. Đi bộ rất tốt cho tim. Sau mười tiếng chuông thỉnh báo hiệu giờ thể thao thì chị em tôi bắt đầu khởi hành. Ai muốn đi nhanh thì đi vòng lớn, ai muốn đi chậm một chút thì đi vòng nhỏ. Dù vòng lớn hay nhỏ thì cũng được lên đồi, xuống dốc, tha hồ mà ngắm hoàng hôn. Những cánh đồng hoa hướng dương bây giờ đã gần thu hoạch rồi, nhìn nó không còn đẹp rực rỡ như lúc còn hoa nở nữa. Song những đài hạt nặng chín trĩu, đứng yên giữa đất trời, đợi người đến thu hoạch thì cũng thật là ý nghĩa. Cánh đồng nho chín rộ rồi, trái nho chín chuyển sang màu tím đậm, treo lủng lẳng trên cành, cả hàng dài, nhìn thật là thích. Thỉnh thoảng lại thấy mấy chú sóc, chú nai thơ thẩn trong vườn nho, cứ tưởng ta đang ở vườn thượng uyển.

Tối nay, sư chị hướng dẫn thiền tọa bằng tiếng anh. Lần đầu tiên sư chị ra hướng dẫn, đại chúng ai cũng vui. Mùa này ít thiền sinh hơn nên quý sư mẹ cho cơ hội để chị em mới học tiếng anh như chúng tôi có dịp thực tập và đem lợi lạc đến cho thiền sinh. Bữa nọ, sư chị làm văn phòng kể lại, có một thiền sinh đến làng nhưng không hiểu được tiếng Anh cũng không hiểu được tiếng Việt, quý sư cô không biết làm sao để giúp đỡ vì hai bên nói thế nào cũng không thể hiểu nhau, thiệt là thương quá. Pháp môn Thầy trao truyền thật rõ ràng, thật dễ dàng để thực tập, để hạnh phúc. Chị em chúng tôi biết rõ mình cần học thêm chút ngoại ngữ để giúp người ta, cũng để đưa Thầy đi về tương lai, để mình được là sư con xứng đáng của Thầy.

Mùa thu năm nay là vậy đó, bữa nọ trăng tròn ở xóm Hạ có tổ chức trung thu, múa lân và hát nhạc thiếu nhi, vui chi mà vui. Có sư em đi lại một bài quyền được học từ năm trước khi sư cha Từ Hải ở Chùa Tổ sang dạy, làm ai cũng thích. Ước gì sư cha lại sắp xếp được thời gian qua làng năm tới để dạy võ cho các sư con nữa. Hoặc sư cha Từ Hải bận thì mong có quý sư cha khác sang cũng được, nghe nói ở Tổ Đình Từ Hiếu, quý sư cha nào cũng giỏi võ, thật là thích. Xóm Thượng thì có thầy Pháp Tiến làm bánh trung thu, gởi xuống cho quý sư cô xóm Hạ và xóm Mới, mỗi chị em ai cũng được chia nửa cái bánh, ăn ngon quá chừng luôn.

Tối làm biếng, mấy chị em Sa di ni tổ chức tụng kinh sám hối, bữa này tiếng Anh thì bữa kia tiếng Việt, cứ thay phiên như vậy, cho đến ngày được thọ giới thức xoa, vài tuần sau cũng thấy quý sư chị Thức xoa đến sám hối chung, có thêm năng lượng, tụng kinh thêm hùng. Rồi sư chị Tỳ kheo ni cũng đến nữa, thành ra năng lượng tu học thiệt là vui. Trong mùa thu cứ sau mỗi giờ họp chúng là đại chúng được nghe đọc một chương uy nghi trong sách Bước Tới Thảnh Thơi, thứ tư hằng tuần thì được nghe Thanh Quy của tu viện.

Đợi thêm vài tuần nữa thì đại chúng sẽ đi vô rừng lượm hạt dẻ. Mùa thu là vậy đó, có nhiều hạt lắm, để mùa đông lại nhóm bếp nướng hạt, thơm lừng, hạt nổ tí tách, đại chúng cùng tu học bên nhau thật là vui. Đợi sang đông rồi mình sẽ kể chuyện mùa đông cho bạn nghe sau nha.

Trăng Mùa Thu