Con đã thỉnh ý tăng thân chưa

Khoảng một tuần sau khi xuất gia vào tháng 2 năm 1998, chúng tôi – chín sư chú, sư cô thuộc gia đình cây Táo – ngồi lại với nhau để bàn về việc tổ chức những sinh hoạt có thể đem đến sự kết nối và truyền thông giữa các thành viên trong gia đình cây Táo cũng như với những sư anh, sư chị đã xuất gia trước đây. Chúng tôi có đề nghị tổ chức một buổi đi dã ngoại vào ngày làm biếng đầu tiên của mỗi tháng. Mỗi lần đi, chúng tôi mời một vài sư anh, sư chị của các cây xuất gia trước đi cùng. Chúng tôi thỉnh ý quý thầy, quý sư cô lớn và sau đó lên xin phép Thầy. Thầy gật đầu chấp thuận sau khi hỏi chúng tôi: tăng thân đã cho phép chưa?

Lần đầu tiên ở Làng các sư chú, sư cô mới xuất gia được phép đi sinh hoạt với nhau. Là sư anh lớn của cây Táo, lớn lên trong gia đình huyết thống có đến mười anh chị em, tôi biết nhu cầu để các sư anh, sư chị, sư em cùng cây hiểu nhau là có thật và rất lớn. Tuổi đời của chúng tôi lúc đó cũng không nhỏ gì lắm, đa số đều trên dưới ba mươi, người lớn tuổi nhất lúc đó đã năm mươi, nhỏ nhất là sư em út Kính Nghiêm – “baby nun” đầu tiên của Làng, mười bốn tuổi. Tuy nhiên, khi mới xuất gia, đi sinh hoạt với nhau cần phải có các sư anh, sư chị lớn có mặt và hướng dẫn. Khi xin phép, chúng tôi nói rõ lý do là những buổi sinh hoạt này có tính cách xây dựng tăng thân chớ không phải là chỉ đi chơi với tính cách cá nhân. Những đề nghị mình xin thực hiện mà đem lại lợi ích cho tăng thân thì tăng thân thường chấp thuận. Chúng tôi thay phiên nhau tổ chức những ngày đi chơi đó.

Buổi đầu tiên gồm có các thầy, các sư cô lớn như thầy Nguyện Hải, thầy Vô Ngại, thầy Pháp Ấn, thầy Pháp Dụng, sư cô Trung Chính… đi cùng, trên dưới ba mươi người. Chúng tôi đi thăm thành phố cổ Saint-Emilion và ăn trưa, ca hát ở một khuôn viên nhà thờ. Các buổi đi chơi chấm dứt sau khi mỗi người chúng tôi đã có cơ hội tổ chức một lần, tất cả là chín lần. Chúng tôi có dịp đi thăm hầu hết các thắng cảnh trong vùng. Sau này, việc đi chơi của các gia đình xuất gia đã trở thành một truyền thống của Làng.

Khi tổ chức một sinh hoạt, ban điều hợp sinh hoạt đó có nhiệm vụ tổ chức những buổi họp trong đại chúng để thảo luận và đi đến quyết định chung, sau đó thì trình lên Thầy để Thầy chỉ dạy. Thường thì Thầy giữ nguyên những quyết định đó, trừ khi thật cần thiết mới đổi. Trong chuyến đi Bắc California năm 2002, thầy Pháp Dụng và tôi phụ trách tổ chức khóa tu xuất sĩ tại tu viện Kim Sơn. Vì thời gian tổ chức hơi gấp và đã tổ chức khóa tu tại đó nhiều lần, nên chúng tôi dựa theo thời khóa cũ và vào trình với Thầy. Thầy hỏi đã thỉnh ý tăng thân chưa. Chúng tôi thưa là vì thời gian eo hẹp, nên thỉnh ý Thầy trước rồi trình với tăng thân sau. Thầy nói vậy là không được, phải bắt đầu từ tăng thân trước.

Khi tôi đứng trong vai trò của một sư anh lớn, cần lắng nghe hết ý kiến của tăng thân rồi mới đưa ra ý kiến của mình, tôi hiểu hơn về quá trình làm một quyết định. Trong các buổi họp, các vị lớn thường hay phát biểu sau cùng. Vì nếu các vị lớn đưa ra ý kiến của mình sớm quá, các vị nhỏ hơn sẽ ngại đưa ra những ý kiến khác với ý kiến của những vị lớn. Thầy là một thành viên của tăng thân, khi Thầy chưa cho ý kiến thì những đề nghị mà tăng thân trình lên chưa là ý kiến của toàn thể tăng thân. Thầy không dùng vị trí của một vị thầy, của một người lớn để áp đảo ý kiến của đệ tử. Trong mô hình dân chủ, mỗi người có một lá phiếu, giá trị của mỗi lá phiếu đều như nhau. Điều đó đúng khi làm quyết định, nhưng khi thảo luận thì ý kiến của Thầy được lắng nghe nhiều vì đức độ và tuệ giác của Thầy tạo một niềm tin trong đại chúng. Tăng thân nghe theo những đề nghị của Thầy để quyết định vì những điều đó đúng. Những điều đúng khi nói ra thì được lắng nghe, cho dù là được nói bởi các thầy, các sư cô trẻ. Tăng thân chúng ta đang từ từ tập nghe những lời chia sẻ của các thầy, các sư cô lớn. Quý vị đang thay mặt Thầy hướng dẫn các sư em, vì bây giờ Thầy không còn trực tiếp dạy. Các thầy, các sư cô lớn cũng có đức độ, tuệ giác đã được huân tập và phát triển sau nhiều năm tu học. Vai trò của các thầy, các sư cô lớn từ từ được biểu hiện cụ thể hơn.

Tiếng Hoa có sự phân biệt rõ ràng giữa hai cụm từ “sư phụ/đệ tử” và “thầy/trò”. Sư phụ có nghĩa vừa là thầy vừa là cha; đệ tử có nghĩa vừa là em, vừa là con. Cha con, anh chị em thì có sự truyền thừa. Ở Tây phương cũng vậy, họ dùng hai cụm từ “master/disciple” và “teacher/student”. Chữ “master” được định nghĩa là người mà những điều họ dạy được người khác nghe và làm theo, ví dụ như Zen Master. Chữ “disciple” được định nghĩa là người học và làm theo những điều mà thầy mình dạy. Nó khác nhiều so với cụm từ thầy/trò. Học trò không gọi thầy cô giáo dạy toán, lý, hóa… là sư phụ, là master, mà là teacher. Theo định nghĩa của sự liên hệ trao đổi kiến thức thuần túy, học trò không phải làm theo những điều mà thầy dạy. Sư phụ/đệ tử thì thường dùng trong lãnh vực tâm linh, có sự truyền thừa của một tông phái. Ở Làng Mai thì cụm từ thầy/trò được dùng nhiều hơn nhưng được hiểu theo nghĩa sư phụ/đệ tử. Vì trong truyền thống văn hóa Việt Nam, người thầy thường đóng vai trò của cha mẹ và người học trò thường đóng vai trò của người con/người em.

Một vị vua Trung Hoa đời nhà Tề, sau khi họp nội các về thì khóc ròng. Hoàng hậu hỏi vì sao, nhà vua nói là triều đại của ông sẽ không có tương lai. Trong các buổi họp, các quan đều đồng ý với những điều nhà vua nói, ai cũng gật đầu. Vua nói là vua cần nghe những lời phản biện, chớ cái gì cũng đồng ý với vua hết thì đâu cần họp nội các làm gì, quyết định một mình cho khỏe. Các vị minh quân, các vị lãnh đạo giỏi đều có thái độ cởi mở như vậy. Họ biết những ý kiến khác biệt sẽ giúp sáng tạo hơn và sẽ dẫn đất nước, đoàn thể  đi lên. Tăng thân Làng Mai cũng sinh hoạt theo tinh thần đó. Trong một buổi họp, nếu có nhiều ý kiến khác nhau thì đó là một điều đáng mừng. Cần tạo ra không gian và sắp xếp thời gian để những ý kiến mới được nói ra. Tôi nhận thấy trong các buổi họp hạnh phúc, khi không bị giới hạn về thời gian và không phải làm quyết định thì nhiều ý kiến hay được đưa ra hơn là trong các buổi họp để quyết định những điều cần phải làm.

Những con ong, ví dụ như loài ong mật, sống trong một cộng đồng có tổ chức quy mô và chặt chẽ. Có ba loại ong: ong chúa, ong đực và ong thợ. Ong chúa sống từ hai đến ba năm và chỉ có nhiệm vụ sinh nở. Ong đực sống từ vài tuần đến năm tháng, có nhiệm vụ giao hợp với ong chúa rồi chết. Ong thợ, chiếm hơn 95% dân số,  quyết định và lo hết tất cả các việc khác như kiếm ăn, xây tổ, nuôi em, bảo vệ… Ong thợ nếu sinh vào mùa sản xuất mật, tức là mùa xuân hay mùa hè, thì chỉ sống được khoảng sáu tuần, vì phải làm việc rất nhiều. Nếu sinh vào mùa thu/đông thì sống khoảng năm tháng. Cho nên, cộng đồng ong luôn luôn được đổi mới và trong thời gian sống ngắn ngủi đó, các con ong thợ phải học hỏi, thực tập và trao truyền kinh nghiệm sống cho thế hệ kế tiếp. Một công trình đòi hỏi sự kiên trì và liên tục. Dĩ nhiên là chúng không cần phải biết tất cả. Có những lãnh vực chuyên môn chỉ được giao cho một nhóm, do toàn cộng đồng ong chỉ định ra. Chỉ định xong rồi thì tin tưởng, giao khoán việc đó cho nhóm đó thực thi. Chúng có những nguyên tắc sống còn được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Ví dụ như xây dựng tổ thì phải theo bốn tiêu chuẩn: cách mặt đất ít nhất là 4,5m để các loài thú khác khó phá; lỗ ra vào tổ khoảng 20cm2, lớn vừa đủ để ra vào và nhỏ đủ để các loài vật khác khó vào; lớn khoảng 40 lít khối cho một cộng đồng mấy chục ngàn ong; và ở trên/trong thân cây còn sống. Khi có nhu cầu tạo chỗ mới, cộng đồng mấy chục ngàn con ong này giao cho ban xây dựng, gồm khoảng 500 con ong thợ thâm niên và có nhiều kinh nghiệm. 500 con ong thuộc ban xây dựng này nghiêm túc theo bốn nguyên tắc trên mà kiếm chỗ, xong về bàn bạc với nhau, khi có quyết định rồi thì cả đàn mấy chục ngàn con đi theo thôi.

Và nếu vì nhu cầu sống còn hay nhu cầu phát triển mà phải thay đổi bốn tiêu chuẩn xây tổ trên thì chúng cũng làm. Nhưng sự thay đổi đó cần phải qua kinh nghiệm sống và phải hiểu rõ những cái cũ. Cần phải biết rõ truyền thống trước khi thay đổi.

Trong đời sống tăng thân Làng Mai, sự thay đổi cần được làm theo tinh thần “Bồi đắp gốc rễ, khai thông suối nguồn”. Trong sự nghiệp duy trì và phát triển các pháp môn sau này, Thầy dạy là cần phải có bốn pháp ấn – đã về đã tới, đi như một dòng sông, thời đế tương tức và sát na dị thục – nền tảng của các pháp môn giảng dạy và thực tập của Làng Mai.

Khóa tu An cư kiết đông năm 2010 – 2011, tôi có dịp về Làng ba tháng và được giao nhiệm vụ hướng dẫn nhóm thiết kế trang nhà Làng Mai mới. Các sư em hỏi tôi: “Thầy dạy nên có mục ‘Đài Mây Tím’, nhưng các sư em không hiểu nó là gì, nghe hơi lạ tai, không biết có nên làm không?”. Tôi trả lời: “Chưa nghe Thầy nói về điều đó, có thể không làm, nhưng nên thỉnh ý Thầy lại cho chắc”. Một tuần sau, khi đang ngồi uống trà với thầy Pháp Ứng thì Thầy và thị giả ghé qua phòng chơi. Thầy gọi tôi lại gần và nói: “Ngày xưa các thầy tu rất thảnh thơi, mỗi chùa thường có một đài để ngắm mây tím, lại có hiên để nghe mưa nữa, cho nên cần có mục Đài Mây Tím”. Tôi mắc cỡ sám hối với Thầy vì không biết nên mới khuyên các sư em như vậy. Có nhiều điều tôi chưa biết, thật may mắn khi có người chỉ những điều đó cho mình.

Tôi đến Làng lần đầu tiên vào năm 1987, lúc 26 tuổi. Hồi đó tôi gặp khó khăn về tình cảm, cần có nhu cầu chuyển hóa khổ đau nên tôi đến Làng để hiểu về tâm lý học chứ không phải vì quan tâm đến tôn giáo. Tu học được vài năm, tôi thật sự có chuyển hóa nên rất có niềm tin vào pháp môn. Mùa thu năm 1998, lần đầu tiên được tiếp xúc với Duy biểu học, tôi thấy những lời dạy trong đó giống nhiều điều tôi đã trải qua. Ta không thể nào hiểu Duy biểu qua ngôn từ được, chỉ có thể sống, kinh nghiệm và thực chứng Duy biểu mà thôi. Sau đó, tôi có dịp đọc cuốn Duy biểu học – phiên tả những bài pháp thoại Thầy giảng trong khóa tu mùa đông 1993-1994. Trong mục mong muốn của tác giả, Thầy nói: “Nếu nội dung của năm chục bài kệ Duy biểu có thể dùng làm tài liệu trong các khóa tu dành cho ngành tâm lý trị liệu để trị các bệnh tâm thần thì những bài kệ đó đã làm được vai trò của chúng”. Câu nói đó ở mãi trong tâm thức tôi, là tư niệm thực để hướng dẫn tôi tìm hiểu và làm một cái gì ý nghĩa về lĩnh vực này.

Từ năm 2007, khi bắt đầu sinh hoạt tại Hồng Kông, tôi thích tìm hiểu về lãnh vực chánh niệm trong y học thân tâm (mind-body medicine). Vào mùa hè năm 2012, Centre of Behaviorial Health (Trung tâm Sức khỏe Hành vi) của Đại học Hồng Kông mời tôi hướng dẫn chánh niệm cho nhóm chuyên gia trong lĩnh vực y tế và phụng sự xã hội (Health care and social service professionals). Tôi bắt đầu nghiên cứu thêm về thần kinh học, sinh học tế bào (Cellular biology) và các ngành tâm lý Tây phương. Tôi chia sẻ những việc này với Thầy và bắt đầu tổ chức các khóa tu chuyên ngành cho các chuyên gia y tế và tâm lý học. Thầy khuyến khích và nhắc tôi nên kết hợp việc hướng dẫn của mình với những kiến thức khoa học, vì với giới hàn lâm thì “nói có sách, mách có chứng”. Thầy cũng gởi cho tôi tập tài liệu tại hội nghị Chánh niệm – Y học thân tâm mà Thầy đã hướng dẫn tại đại học Harvard vào tháng 9 năm 2013. Sau một khóa tu chuyên ngành dài tám ngày cho ba mươi bác sĩ tâm lý trị liệu vào tháng 11 năm 2013 tại Thái Lan, tôi xin phép Thầy cho AIAB thành lập “Trung tâm Thân tâm kiện an thở và cười”. Sau hơn 2 năm chuẩn bị, trung tâm đi vào hoạt động vào tháng 4 năm 2016. Nhìn lại, hạt giống của trung tâm này đã được nuôi dưỡng mười tám năm, từ khi tôi đọc câu nói của Thầy trong cuốn Duy biểu học.

Trong tập tài liệu “Trăng sao là tâm thức”, Thầy nhắc “Duy biểu trong thế kỷ của ta phải đi sát với sinh học và lý học, chứ không phải chỉ đi sát với luận lý học như ở thời kỳ Pháp Xứng và Trần Na. Tâm lý học và sinh lý học phải đi đôi với nhau. Nghiên cứu về quá trình phát sinh tư tưởng và cảm thọ, ta phải có kiến thức về thần kinh và não bộ…” và Thầy dạy các sư anh, sư chị tìm hiểu thêm về lĩnh vực này để hướng dẫn cho các sư em. Những khám phá về thần kinh học kể từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay cho biết là hệ thống thần kinh cảm xúc (limbic system) có những hành vi tương tự như ý căn (mạt na căn) và tình thức (ý, mạt na thức) vậy. Nó cũng giải thích cách làm việc của tàng thức, ý thức và năm thức giác quan khá rõ ràng. Tôi cũng thấy rằng Duy biểu học có thể được xem là nền tảng cho những trường phái tâm lý học Tây phương. Trong khóa tu mùa đông năm nay tại EIAB, tôi có hướng dẫn một lớp về đề tài này cho các thầy, các sư cô trẻ. Tôi có một ước mơ đưa Duy biểu học trở thành một ngành học Tâm lý hiện đại. Cho nên tôi cũng gieo hạt giống này cho các vị cư sĩ nữa, nhất là cho các chuyên gia tâm lý học. Nhiệm vụ của người hoằng pháp là gieo hạt. Hạt giống có thành cây hay không là tùy duyên. Tạo duyên nhưng tùy duyên.

Xin tạ ơn Thầy đã gieo những hạt giống tốt cho tôi và cũng đã tạo điều kiện cho những hạt giống đó được nẩy mầm và phát triển thành hoa trái.

Chân Pháp Khâm

Có một góc riêng

Mùa Giáng sinh lại về.

Không biết sao, một người tu Phật như ri mà mỗi khi tới mùa Giáng sinh là lòng cứ như được quà.

Sáng nay, nhìn ngọn đèn dầu trên bàn học và vài bóng đèn Noel trước hành lang khu vực phòng học của quý sư cô, nghe lòng… một chút thổn thức. Có lẽ vì, những ngày đầu mới đi tu nằm ở thời điểm này và lại ở ngay cái xứ Vermont đầy tuyết trắng nên sâu đậm cái chất Giáng sinh như vậy.

Thầy chúng ta thường nói và Bụt cũng dạy là không nên nhớ nghĩ về quá khứ hay lo lắng về tương lai mà hãy an trú trong hiện tại. Nhưng cũng đâu có hề chi nếu nhớ về một quá khứ đẹp, phải vậy không?! Không những nhớ Noel là vì lễ Giáng sinh đẹp ngay xứ tuyết thôi đâu, mà có thể còn nhiều kỷ niệm khác nữa. Nhớ cái sinh khí tươi vui và tu học của các anh chị em trong buổi đầu “sơ khai lập quốc”, lúc đó “các vị tướng” non choẹt, ngơ ngác nơi xứ người ở Rừng Phong sâu thẳm ấy. Anh chị em thời ấy bây giờ dù xa hay gần đâu đó trên trái đất này… thì ai cũng là “một thời để nhớ”.

Kể lại để chúng ta cùng nhau nuôi dưỡng tâm mình bằng những gì mình đã từng có và được cất giữ đâu đó nơi góc riêng của tâm hồn. Có thể không đẹp với ai khác, nhưng là một “thời vàng son” đáng nhớ. Và cũng để nhắc cho nhau những lời Thầy dạy: Nếu ai chưa thấy mình có quá khứ đẹp thì nên bắt đầu tạo cho mình. Tạo bằng cả trái tim và sự nhiệt huyết để nó cũng sẽ ở mãi trong dòng huyết quản và trái tim của mình.

 

 

Cách đây mấy ngày, thấy vài sư cô và các bạn thiền sinh mang đồ Noel ra trang trí, thêm nhận được thư của vị thầy y chỉ sư nhắn nhủ, lại thấy mình may mắn vô cùng. Muốn được chia sẻ những sự ngọt ngào mạnh mẽ ấy của các bậc thầy để chúng ta cùng tận hưởng thêm những tháng ngày mà mình còn được cái quyền làm y chỉ muội, nằm trong vòng tay thương yêu và che chở của vị y chỉ sư mình, trọn vẹn và ấm áp (nhưng đừng nhõng nhẽo quá mức mà nhọc y chỉ sư nhe): ” …thầy cũng có mơ ước an cư nơi một vùng trời hơi lạnh, có mưa, có tuyết để hứng trên hai tay, có rất nhiều anh chị em chung quanh để giận người này một chút, cười với người kia một chút. Gẫm ra mọi thứ mình gieo hôm nay sẽ gặt hái ngày mai. Trên con đường mình đi có Bụt, có Tăng thân và có những kinh nghiệm tu tập gọi là Pháp bảo. Đầy đủ và trọn vẹn. Con nên đưa hai tay để đón nhận những gì người trao cho mình. Với tất cả trân trọng, …”.

Truyền thống của mình là An cư mùa mưa nên mình có cơ hội nếm trải cái lạnh của đông.

Ở Làng, rừng mận của xóm Hạ, mùa đông nó như cây khô, trơ xương suốt mấy tháng dưới cái lạnh không tuyết mà buốt như cắt của vùng thung lũng. Ấy vậy mà, khi có nắng xuân về thì hoa thôi là hoa, “không thể dùng toán học mà kiểm đếm được” – hằng hà sa số. Nếu những cây mận ấy không được trải qua một mùa đông băng giá thì hoa trái không thể kết nụ dâng mầm được. Hoặc có chăng nữa cũng rất ít. Như ở Lộc Uyển nè, mùa đông lạnh và mưa ít quá nên những cây mận cứ như cây mới trồng hoài, hoặc già cỗi đi mà chẳng thấy hoa và trái đâu. Mùa đông mà không mưa không lạnh thì con người ta thấy khỏe đó. Nhưng rồi… có sức sống gì trên sa mạc đâu! Thành ra, những cánh hoa tuyết rơi khi đông về tuy hơi lạnh, nhưng đưa hai tay ra mà hứng hoa tuyết, mà cười mà vui. Hóa ra, cái khắt khe của “bác đông già” hay sự “khổ luyện” của tuyết mưa lại là chất liệu chính yếu cho hoa xuân được biểu hiện một cách tròn trịa và có ý nghĩa.

Thôi, không viết nữa. Mượn chút tuyết của Rừng Phong – Vermont ngày xưa để có dịp trò chuyện cho nhau nghe vậy.

Nhiều nhân duyên lành và ân nghĩa lớn vẫn trải đầy quanh ta, mong rằng chúng ta nuôi mãi ý thức chánh niệm để những nhân duyên lành ấy không lướt qua trước mặt một cách đáng tiếc vì sự hời hợt của mình!

Bên cạnh tuyết là mưa, xin mượn hai câu thơ của một vị thầy, gởi tặng các bạn tôi nhân mùa Giáng sinh về nhé:

“Mưa làm trễ tràng hơn công việc, nhưng để cỏ xanh hơn lá xanh hơn.” – QN

Và Thầy chúng ta vẫn nhắc hoài: “Đừng phụ suối đồi”. Thành thử, tiết đông tuy buốt, nhưng hãy “mang áo ấm vào và đừng mang theo cuốn sách nào cả. Hãy để cho ngày nay là của hôm nay và sống mãi đến muôn cùng.”

Mong tất cả chúng ta có một mùa đông nữa thật nhiều tin yêu và sáng tạo trên đường tu của mình.

 

Chân Hằng Nghiêm

Lễ xuất gia cây Sơn Thù Du (Dogwood Tree) ngày 20.10.2017

Nơi ấy vẫn còn thu

Mùa thu vẫn chờ mình
Trên kia còn ít lá
Bước chân ai thật nhẹ
Đi về giữa thênh thang.

Chuông chùa vẫn ngân vang
Cứ mỗi chiều mỗi sớm
Làng quê nào tĩnh lặng
Thấp thoáng bước chân thiền.

Ai che nghiêng chiếc nón
Lặng ngắm lá thu rơi
Giữa bao la đất trời
Nghe ra lòng thảnh thơi.

Mùa thu còn đứng đó
Thả lá vàng bay bay
Ai sắp về có hay
Chiếc là vàng năm ấy.

Vẫn ngàn năm ngàn năm
Cùng mùa thu trở lại
Cùng hẹn mùa thu tới
Kể bao chuyện đầy vơi.

Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Lắng vào trong tĩnh mặc
Đi qua mùa tháng năm
Đón đợi người năm cũ.

Ngày nao ai trở lại
Gặp đúng mùa thu sang
Chuông chùa lại ngân vang
Chiếc lá vàng sẽ kể
Chuyện ngày xưa ngày sau
Bao lần mình gặp nhau
Vẫn thấy mùa thu đợi!

(Chân Trăng Hương Tích)

Ngồi cho yên để bắt đầu thấy rõ

Ngồi xuống đi bạn sẽ nhìn thấy rõ
Giây phút này đẹp lắm, mỉm cười vui
Mưa đang rơi, mưa mùa thu lạnh
Cho hạt mầm trong đất nảy chồi tươi.

Hãy ngồi xuống và lặng yên, thật khẽ
Lòng thảnh thơi, nhè nhẹ thở vào, ra
Tâm lắng rồi, ánh sáng sẽ chan hoà
Soi thật rõ những khoảng trời tăm tối.

Những nội kết lâu rồi chưa gỡ rối
Sâu trong tâm gây đau khổ triền miên
Và giờ đây ánh sáng được thắp lên
Thì bóng tối sẽ lui dần, xa mãi.

Giờ rõ mặt thì không còn sợ nữa
Hãy vuốt ve xoa dịu vết thương lòng
“Đứa trẻ” trong ta hờn giận đã bao năm
Rồi mỉm cười ôm dịu dàng “em bé”.

Nỗi khổ đau sẽ tan như viên đá
“Hiểu và Thương” ấm áp ánh mặt trời
Chỉ vậy thôi “em bé”ở trong tôi
Sẽ bừng tỉnh và thấy mình vụt lớn.

Hãy ngồi xuống, lặng im và nhận diện
Vững chãi, bình an, sáng suốt, tỏ tường
Soi tâm mình trong pháp “Hiểu và Thương”
Ngay giây phút này đã thấy mình hạnh phúc.

Bây giờ, ở đây, bình an là có thực
Dù mưa thu tí tách, lạnh tê người
Khi trong lòng đã nở đoá hoa tươi
Thì sẽ thấy sự nhiệm mầu cuộc sống.

Diệu Minh 

Sen nở vườn tâm

Thầy kính thương,

Con là học trò Hà Nội của thầy từ năm 2005 khi lần đầu tiên Thầy về Việt Nam. Thế là đã 12 năm kể từ lần đầu tiên con được gặp Thầy. Và con đã được gặp Thầy không chỉ ở Hà Nội mà ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam yêu quý, trong đó có Cố đô Huế trong lần Thầy về Việt Nam mới đây. Con cũng đã may mắn được gặp thầy nhiều lần tại Pháp và Thái Lan.

Hoa sen không thể mọc và tỏa hương trên đá quý hay kim cương. Sen chỉ nở và tỏa ngát trên bùn. Hạnh phúc và khổ đau cũng vậy, chúng nương vào nhau. Chúng ta không thể thấy được hạnh phúc ngọt ngào nếu chưa nếm trải vị cay đắng của khổ đau.
Nếu chưa bao giờ bị đói, ta sẽ không biết trân quý món ăn.
Nếu chưa bao giờ thấy chiến tranh, ta sẽ không thấy được giá trị lớn lao của hòa bình.
Vì thế, nếu có được những kinh nghiệm đau buồn, 
đó là điều rất tốt. Nhờ thế mà trên nền tảng ấy ta nhận diện được hạnh phúc.”

Cậu học trò Hà Nội của Thầy đang ở Frankfurt của nước Đức. Con đọc và cứ nghĩ rằng Thầy viết những câu này dành riêng cho cậu ấy. Bởi con chính là cậu bé sinh ra trong khó khăn gian khổ, trong bùn đen hôi để sau này và bây giờ đang được thưởng thức hạnh phúc ngọt ngào. Con cũng đã chứng kiến chiến tranh nên cảm nhận rất rõ hòa bình thật vi diệu và rằng chúng con đang vô cùng may mắn được sống trong hòa bình.

12 năm trước lần đầu tiên con được gặp Thầy, người mà tất cả đều gọi là Sư Ông Làng Mai. Trong 12 năm qua con được tiếp xúc với rất nhiều học trò khác của Thầy cũng là cư sỹ tại gia như con từ khắp thế giới và con đã trực tiếp nghe họ tâm sự rằng họ quá may mắn được học tập và chuyển hóa chính mình dưới sự hướng dẫn của Thầy, một ông thầy tu Việt Nam. Chỉ lắng nghe và cảm nhận những chuyển hóa trong họ và người thân mà con đã thấy hạnh phúc lắm lắm rồi.

Tu tập cũng giống như chuyện sen nở vậy. Con may mắn gặp Thầy và cứ vậy sen trong đầm con nở từ đó đến nay. Sen hiểu biết và thương yêu cũng nở trong con suốt những năm qua. Và kết quả là hạnh phúc và bình an trong con là kết quả của bao năm thực hành. Mỗi ngày trôi qua là bình an và hạnh phúc tăng lên, nhanh đến bất ngờ.

Con nhớ rằng thời gian ban đầu khi mới tập tu thấy khó quá. Thất niệm dài dài. Đau khổ vẫn triền miên, mặc dù con đã có đủ thứ trên tay. Nhưng nếu những ngày đó không trồng sen, không bắt đầu, không dốc sức thì làm gì có được những bông sen đầu tiên.

Thầy thương kính,

Bao năm qua con đã đọc “Đường xưa mây trắng” và rồi nghe “Đường xưa mây trắng” mỗi đêm, có khi nghe suốt đêm, kể cả khi con đã ngủ. Con đọc và nghe mà như thấy Thầy chính là đức Phật của 2.600 năm trước. Đây là một trong những tác phẩm mà con thích nhất, đã làm thay đổi con nhiều nhất.

Nhân sinh nhật của Thầy con ngồi xem lại một loạt sách do Thầy viết như “Nẻo về của ý”, “An lạc từng bước chân”, “Phép lạ của sự tỉnh thức”, “Gieo trồng hạnh phúc”, “Muốn an được an”, “Thiền sư Khương Tăng Hội”, “Hạnh phúc cầm tay”, “Con đường chuyển hóa”, “Đạo Phật của tuổi trẻ”, “Đạo Phật đi vào cuộc đời” và “Tay thầy trong tay con”. Đêm qua con đã đọc lại hai cuốn mới nhất, xuất bản nhân dịp Thầy về Việt Nam năm 2017 này là “Tìm bình yên trong gia đình” và “Tĩnh lặng”.

Con đã bình yên và tĩnh lặng một mình để cảm nhận Thầy đang và luôn có mặt bên con ngay bây giờ, trong mọi nẻo đường, trong từng bước chân, trong từng hơi thở. Rồi con cùng các đồng nghiệp, bạn hữu đang ngồi tại khắp bốn phương trời để nguyện cầu và gửi năng lượng yêu thương tới Thầy. Thầy có biết rằng, sức khỏe và bình an cũng như sự có mặt của Thầy là món quà quý giá nhất mà chúng con nhận được.

Con nhắm mắt lại và nhớ đến câu nói thân thương và những lời dặn của Thầy. Rằng: Này con, có rất nhiều khách sẽ đến viếng nhà con. Khách thích con hay không thích con, khách hạnh phúc hay khổ đau, khách như ý hay bất như ý, khách thị phi hay hiểu biết, yên lặng hay mỉm cười …. Con phải giữ nguyên vị trí chủ nhân ngôi nhà. Sống với khách nhưng không là khách. Con không cần phải trốn tránh! Khách đến rồi khách đi. Hãy nhớ câu chuyện của Bụt, ai đem đến những gì mà con không nhận, những cái đó sẽ trả về cho chính họ!

Con đang ngồi tĩnh lặng theo đúng lời dạy của Thầy. Tĩnh lặng là điều cốt lõi. Chúng ta cần tĩnh lặng như chúng ta cần không khí, như cái cây cần ánh sáng mặt trời. Nếu tâm trí của chúng ta luôn chứa đầy những toan tính và lo lắng thì chúng ta chẳng thể tìm được một khoảng trống cho chính mình.

Con và các cộng sự thực tập ngồi yên trong tĩnh lặng để bên Thầy từ nay đến ngày sinh nhật lần thứ 91 của Thầy và dài lâu hơn nữa. Chúng con đang bình yên và hạnh phúc bên Thầy, với Thầy, cùng Thầy. Ngày tiếp nối của Thầy cũng là ngày tiếp nối của con, của chúng con mà.

Tâm Thiện Đức Nguyễn Mạnh Hùng

Công ty sách Thái Hà

Gom lá mùa thu

CÁI NHÌN ĐẦU TIÊN

Trước khi đến Làng, những danh từ như Xóm Thượng, Xóm Hạ, Xóm Mới, hay Sơn Hạ, Sơn Cốc…, tôi nghe có một cảm xúc rất lạ. Cái gì đó tương phùng, vừa gần, vừa xa. Hôm nay tôi đến Làng, thấy mình như cậu bé. Một cậu bé lạc giữa khu rừng cổ tích; khu rừng Xóm Hạ, khu rừng Xóm Thượng, khu rừng Xóm Mới… Bị lạc nhưng không sợ hãi, chỉ thấy thoả lòng.

Ngày nào tôi cũng tranh thủ lắng nghe và ngắm nhìn mọi thứ chung quanh. Tôi nhớ rất rõ cái ngày chiếc xe chở tôi từ nhà ga rẽ vào cổng chùa Sơn Hạ, hai hàng phong đã niềm nở thế nào. Cái lần đầu tiên thấy tượng Bụt được đặt trong bức tường đá ở thiền đường, nó linh thiêng làm sao; hay khi thấy mùa thu về trên ngọn đồi Xóm Mới, tôi đều nhớ hết. Có lần thiền hành ở Xóm Hạ ngắm lá bạch dương nhẩn nha rơi, tôi biết pháp thân đã được hiện ra bằng sắc màu và âm hưởng. Tôi chăm chú nhìn vào tất cả những gì mình thấy đầu tiên. Nghe ai đó bảo tâm đầu tiên là tâm trong sáng.

Có người bạn bảo là ở Làng thì mùa xuân rất tuyệt, hay là rừng phong ở EIAB còn nhỉnh hơn. Tôi chỉ gật gù vì chưa thấy mùa xuân ở đây, cũng chưa đến EIAB bao giờ. Nhưng cảm nhận của tôi với Làng thật đẹp. Nó đẹp vì là “cái nhìn đầu tiên”. Rừng tùng, vườn Bụt, hoa cẩm tú cầu, hay tháp chuông đều thiền vị, hữu tình. Đặt chân trên con đường Huyền Thoại, tôi nhận ra mình đã thật sự ở Làng. Sư Ông và quý thầy quý sư cô đi trước đã để lại trên mảnh đất này biết bao tinh hoa, làm cho Làng khác thường và sống động. Làng đơn giản nhưng có dư vị thánh hiền, công phu tu tập phảng phất ngay cả nơi những giọt sương vương trên đầu ngọn cỏ. Chỉ ngắm nhìn thôi cũng đủ cho lòng đầy vơi sung sướng!

Con đường mùa thu, xóm Thượng

NHÀ THỜ, CÁNH ĐỒNG, VÀ TRĂNG

Từ Sơn Hạ muốn lên Xóm Thượng sẽ đi qua rừng tùng, muốn lên thăm nhà thờ sẽ qua cánh đồng nho. Ai đó nói khuôn mặt khi ngủ của đứa trẻ đẹp như một cánh đồng. Sư Ông nói nếu con yêu cánh đồng thì hãy làm cho nó một bài thơ. Còn tôi thì thấy những gì Sư Ông để lại cho đời bao la như cánh đồng vậy. Tôi nghĩ đến Làng Mai Thái, nơi cũng có những thung lũng rộng mênh mông. Thay vì nho, ở đó là cánh đồng dệt bằng ngô và sắn. Ở đó có chùa làng, với một tượng Bụt rất lớn nằm trên đỉnh đồi. Con đường qua đồng nho ở đây thì không có tượng Bụt, nhưng có nhà thờ, với thánh giá gắn ở nóc cao, cũng nằm trên một ngọn đồi thanh tao như thế!

Không biết nhà thờ này có tự bao giờ, nhưng chắc là sớm hơn Làng Mai rồi, vì tường đá cũ thế cơ mà. Tôi thích cứ mỗi chiều đi bộ lên thăm nhà thờ. Khi thì đi với một hai người bạn, khi thì một mình. Đi để thấy mình lên cao hơn ngọn đồi Xóm Thượng, để nắng chiều soi rõ vào màu chiếc áo tôi mặc, hay để phóng mắt ngắm thung lũng lồng lộng dài đến tận chân trời. Ngắm nhìn thung lũng lúc về chiều, thoạt đầu thì thấy mình nhỏ bé, sau đó lại thấy mình vô cùng. Có lẽ khi nhìn kỹ một khung cảnh nào, tâm tư trọn vẹn, chúng sẽ đi vào trong ta, ta bỗng trở lên rộng rãi lạ thường!

Đứng trên sân nhà thờ, ngoài việc ngắm thung lũng, còn được nghe tiếng chuông treo trên cửa chính ra vào. Mỗi lần chuông điểm, tôi nhắm mắt; thở; thấy đâu có khác gì với tiếng chuông của Làng đâu. Ở đây, ai cũng xem tiếng chuông nhà thờ làm tiếng chuông của Làng. Nhờ đó mà tôi thấy gần gũi với nhà thờ ngay từ cái ngày đầu tiên ấy.

Có người bạn nói với tôi, vào mùa này, tức là mùa thu, muốn thấy hết vẻ đẹp của Sơn Hạ, thì phải đứng ngắm từ nhà thờ. Ra là vậy, đứng đó tôi mới thấy rừng phong ngả màu đang ôm lấy Sơn Hạ, mới thấy khu rừng cổ tích mà cậu bé đang sống, nó “cổ tích” thế nào! Con đường dẫn lên nhà thờ được ai đó đặt những chậu hoa, nở vô tư bên bức tường rêu cũ, đẹp đến lạ lùng!

Cái đêm trung thu, trăng tròn vành vạnh, tôi và một thầy khác lại lên nhà thờ ngắm trăng, nó treo lơ lửng trên cánh đồng. Thầy ấy còn kể những năm trước, vào những ngày làm biếng, thầy cùng nhiều vị khác còn đem cả trà, cả chiếu lên nhà thờ uống trà ngắm trăng đến khuya sương xuống, lạnh lắm mới về. Thầy nói rằng những đêm đó, cũng như đêm nay, thầy là người tự do và giàu có nhất. Thật vậy, đi chơi nhà thờ, bạn sẽ thấy thênh thang, vì góc nào cũng đẹp. Đứng ở đó một hồi lâu, tôi bỗng thấy nơi đây cũng cần tình thương và tấm lòng rộng rãi của con người, để mỗi khi chiều về nó không cảm thấy mình riêng lẻ. Tôi nhớ đến đoạn thơ của Sư Ông, đoạn thơ mà tôi thường lẩm nhẩm một mình mỗi khi thấy lòng trống vắng:

“…Bóng dáng tiên trần còn thôi xuất hiện

Gương nga lặng lẽ

Nhìn vào đâu cũng thấy nụ tinh khôi.”

MÙA THU

Mùa thu ở đây rõ ràng quá! Tôi muốn viết về mùa thu. Diện mạo của mùa thu là những chiếc lá phong đỏ thắm rơi theo gió. Nó cứ đến từng ngày trên khu rừng, khi những chiếc lá cứ đua nhau đỏ dần, làn gió se lạnh cho hơi thở được dài hơn. Thở thật chậm và sâu để mùa thu đi vào trong cơ thể. Những người nông dân tất bật tối ngày với ruộng nho; tôi xem họ là những người hoạ sĩ điểm tô màu sắc cho cánh đồng. Sau mỗi ngày làm việc họ sẽ tranh thủ ngước mắt trông mùa thu, bớt đi một chút nhọc nhằn. Đại chúng Sơn Hạ mỗi lúc thiền hành đều còn một góc thật đẹp để yên lặng ngắm nhìn. Nhìn mùa thu mà khởi niệm yêu thương, buông xuống những muộn phiền nhân thế. Mùa thu là một món quà ý nghĩa về hình thức và nội dung, hễ ngước mắt lên thì con người sẽ lắng đi những âu lo toan tính. Tôi gửi tôi trong chiếc lá phong màu đỏ, ngoạn mục lìa cành về an trú ở cội nguồn. Mùa xuân năm sau lại biểu hiện qua những chồi, những búp, thêm một chu kỳ, và niềm tin vào con đường vui vẫn còn y nguyên, không hề thay đổi.

NGÔI NHÀ NỘI TÂM

Tối hôm đó, sau giờ công phu, có thầy nhen trước phòng một đống lửa. Thầy bảo chút xíu nữa trăng lên. Vì có chút se lạnh nên việc đốt lửa trở thành có lý. Tôi khoác thêm áo bước ra, các thầy khác thấy bếp lửa cũng tự mình mang ghế lại. Trăng đã lên rồi, chúng tôi nhắc nhau như thế. Bếp lửa cũng dần kêu tí tách, những chiếc áo nâu co cụm lại hàn huyên, nhưng không quên lâu lâu ngẩng mặt lên nhìn trăng sáng. Chúng tôi thích những phút giây ngồi lại vòng quanh với nhau, những mẩu chuyện cứ đến rồi đi nhưng cái gần gũi thân quen thì ai cũng cảm nhận được. Nó cũng giá trị như khi ngồi yên, đi thiền. Như những viên gạch được xây thêm trong tâm tư mỗi người; dần tạo nên dáng hình của một ngôi nhà nội tâm ấm áp, nơi có bóng dáng của những người anh em sẽ đi chung với nhau thật lâu trên cùng một con đường. Tôi lại nhớ đến một đoạn thơ của Thầy, khung cảnh trong bài thơ hiện ra cũng na ná với những gì anh em tôi đang có:

“…Về Xóm Mới chúng tôi đi! tất cả vẫn mong chờ

Em tôi vẫn còn trông nom chút lửa hồng bếp cũ

Mái chèo xuôi nước sông

Thuyền về không do dự

Sao đêm an lành thuyền anh đi mãi

Nhìn bóng chiều sa không ngại

Vì biết tình thương hôm nay còn đủ sưởi ấm ngày mai…”

HOÀI BÃO

Tôi vừa đến Làng thì có một sư anh lại sắp đi đến một Làng Mai khác. Tôi tự hứa là sẽ lên chơi với sư anh mỗi ngày, thế mà không làm được điều này đều đặn. Khi ai đó sắp đi, sắp rời xa một nơi nào đó gắn bó đã lâu, họ cần mình đến chơi không chỉ là để cho đi những vật dùng không mang theo được. Họ muốn cùng ngồi uống trà để kể về những kỷ niệm đáng nhớ họ có nơi đây. Họ muốn trân quý những tháng ngày còn lại được ở trên vùng đất đó; hay là để chia sẻ cho mình những hoài bão họ mong muốn làm trong những tháng năm sắp tới. Và đặc biệt là, họ muốn thấy họ có ở trong mình để được tiếp tục ở lại; không cảm thấy phải chia tay với cái nơi họ rất mến, rất thương. Có gì chưa làm được ở đây, sư anh nhờ tôi làm dùm. Sư anh nói hoài bão là hoài bão chung.

Những lúc như vậy với sư anh không nhiều, nhưng đủ cho chúng tôi hiểu nhau, xem nhau là tri kỷ. Sư anh tặng tôi cái gối, bảo là tôi sẽ ngủ ngon. Rồi cho thêm cái đèn, bảo là đèn này ngồi học thì không lo đau mắt. Tôi thì chỉ biết đến ngồi, thế thôi; vậy mà tôi cũng nghĩ là mình đã tặng sư anh một cái gì to lớn lắm. Tôi vui khi được nhận, sư anh vui khi cho đi. Mơ ước của tôi là đá bóng sau mỗi ngày quán niệm, mơ ước của sư anh là làm vơi bớt khổ đau của cuộc đời. Sư anh nói mùa thu ở đây êm đềm lắm, cứ ở yên mà tận hưởng. Sáng hôm đó sư anh rời Làng, tôi tiếc vì mải chơi quên không ra tiễn. Tôi còn chưa kịp nói rằng những hoài bão nơi đây tôi mong là sẽ thay sư anh làm nốt phần còn lại. Thôi thì sẽ trả lời khi nào thấy lòng yên lắng nhất. Không biết khi nào sư anh mới thực hiện hết những hoài bão của mình. Nhưng hoài bão ban đầu; xây dựng ngôi nhà nội tâm có lẽ đang được trợ duyên hết mực. Hoài bão về một kiếp thảnh thơi, hoài bão về một cái gì nhỏ thôi mà tóm thâu tất cả!

Những cảm nhận ban đầu ở Làng làm cho tôi thấy mình mới mẻ và biết ơn, bạn ạ. Có cái đó thúc đẩy tôi đến gần hơn với nắng, mưa, với bước chân, rừng tùng và cả những dáng hình áo nâu nơi đây nữa. Những ngày đầu sao mà dễ thương quá đỗi; tôi sẽ gom chúng như gom lá mùa thu, cất vào trong túi áo, để lâu lâu yên ắng lại mang ra ngắm nhìn. Tôi xem chúng là vốn liếng, là gia tài, và cũng là phương thuốc để xử lý khổ đau. Nhìn Làng hôm nay mà thấy Làng ngày xưa, nhìn nhau hôm nay mà thấy nhau ngày xưa, mới toanh và đề huề, bạn nhỉ?

Chân Pháp Khả

Đi cùng Thầy

(Chia sẻ của nhóm tăng thân Sài Gòn – Indonesia – Trung Quốc sau hành trình 8 ngày xuyên Việt tìm về quê hương tâm linh.)

Sài gòn những ngày đầu tháng 10.

Không khí tấp nập và ồn ã của thành phố làm con hơi lao xao. Con tự nhắc mình quay về với hơi thở để thư giãn toàn thân, quay về với những gì nuôi dưỡng nơi tự thân mình. Thế rồi khung cảnh của những ngọn núi xanh ngập trong mây hiện lên trong tâm trí con, những bậc đá nối nhau đưa bước chân con lên đỉnh cao Yên Tử, nơi con như hòa tan vào không gian bao la. Con thấy mình là ngọn cỏ xanh, là bông hoa dại trắng, là hòn đá, là cơn gió nhẹ. Cảm giác tự do và trọn vẹn. Cùng anh chị em, chúng con đã bước những bước vững chãi đến nơi chân mây, cùng cất lời ca “mình là cụm mây bay cũng như trời xanh cao, là cánh chim ngàn dang đôi cánh bay thật xa…”. Hòa cùng sương khói, đỉnh thiên bỗng trở nên vang vọng và đi vào lòng người. Con thấy trong thoáng chốc những người khách du lịch đã dừng lại và lắng nghe mình. Tình anh chị em thật đẹp trong giờ phút ấy!

Chúng con đang nuôi dưỡng niềm bình an và hạnh phúc của nhau. Chúng con đang cùng nhau trên hành trình trở về với chính mình để tiếp xúc với những nhiệm màu của sự sống, để cởi bỏ mọi ràng buộc quá khứ và tương lai, để sống trọn vẹn với thiên nhiên, với anh chị em.

Sau chuyến đi, điều làm con nhớ nhất không phải là những cảnh đẹp thiên nhiên mà là vẻ đẹp của tăng thân, là tình cảm ấm áp của tăng thân khắp chốn dành cho nhau ở mỗi nơi chúng con có mặt, là những buổi ngồi yên và uống trà với anh chị em… Và con biết rằng chừng nào con còn có sự thực tập thì chừng đó con còn có tăng thân trong tim mình.

Trăng khuya đã lên, tuy không tròn như trăng 16 nhưng trăng đêm nay vẫn là trăng thu. Cũng như vậy, dù là tăng thân ở Sài Gòn, Đà Nẵng hay Hà Nội, chúng con vẫn cùng hòa vào một dòng sông lớn của sự thực tập đang làm lan tỏa tỉnh thức, bình an và hạnh phúc.

(Chia sẻ của Phan Thị Hiếu – Tâm Hạnh Nguyện tăng thân Trăng Rằm)

 

Trong chuyến trở về với quê hương tâm linh – Việt Nam, con rất biết ơn miền đất xinh đẹp và bao dung đã sinh ra Thầy. Con đã tiếp xúc sâu sắc hơn với Thầy, với tăng thân Làng Mai, đã có cơ hội được gặp gỡ tăng thân khắp chốn từ Nam ra Bắc. Con rất biết ơn rằng mình đang cùng hòa vào dòng sông tăng thân ấy.

Thầy từng nói rằng: Cuộc đời Thầy là một thông điệp. Chúng con cũng chuyên chở thông điệp riêng của mình, có thể là khác nhau nhưng không hề tách biệt mà hòa hợp như nước của một dòng sông. Thầy kính thương, kính mừng ngày tiếp nối của Thầy. Nhờ những lời dạy của Thầy mà Thầy luôn có trong chúng con và chúng con luôn có trong Thầy. Chúng con chính là sự tiếp nối của Thầy. Cùng với nhau chúng ta là một.

(chuyển ngữ từ bài viết của Andie Yu – tăng thân Trung Quốc)

Những chặng đường mà con qua, những nơi mà con đến – Huế hay Bảo Lộc, Từ Hiếu hay Phương Bối Am – đều mang dấu chân Thầy. Thầy đã cống hiến cuộc đời mình cho mảnh đất này và trải qua bao thăng trầm cho đến khi Thầy tìm ra được con đường xây dựng tăng thân.

Chuyến đi đã cho con nhiều trải nghiệm quý giá, được tiếp xúc với tăng thân khắp nơi và học được cách kết nối tăng thân trong sự hòa hợp như Thầy luôn căn dặn. Con được tiếp xúc với những ánh mắt, nụ cười ấm áp và vô tư của quý thầy và quý sư cô mặc dù điều kiện sinh hoạt rất giản đơn và xa rời chốn phố thị. Điều này làm cho con thêm niềm tự tin vào con đường thực tập.

Con nghe thấy tiếng gọi: Hãy bước cùng Thầy! Vâng, con đang bước đi cùng Người trên con đường Hiểu và Thương. Cùng với tăng thân, chúng con đi về biển lớn.

(chuyển ngữ từ bài viết của Finny- Owen True Island of Loving Kindness Chân Từ Châu – tăng thân Indonesia)

Tiếp nối hạnh nguyện Bồ tát

 Thư kêu gọi nhân ngày Tiếp Nối của Sư Ông Làng Mai (Sư Cô Chân Không)

Thưa các bạn,

Ngày 11.10.2017 là ngày kỷ niệm 91 năm Sư Ông Làng Mai biểu hiện trong cuộc đời này. Thật may mắn và hạnh phúc khi Sư Ông vẫn có cho chúng ta!

Nhớ lại rạng sáng ngày 11.11.2014, Sư Ông đang nằm ở bệnh viện Polyclinique ở Bordeaux thì bị đột quỵ. Theo chẩn đoán của các bác sĩ lúc đó, trường hợp của Sư Ông quá nặng, có thể sẽ ra đi trong vài giờ; nhưng nếu sau hai ngày, Sư Ông vẫn chưa tắt thở thì bệnh viện sẽ cố gắng.

Biết tin Sư Ông bị đột quỵ, hàng triệu đệ tử – xuất gia và tại gia – cũng như những người quý mến Sư Ông, đã cầu nguyện Bồ tát Quán Thế Âm hết lòng để cho Sư Ông được phục hồi sức khỏe và sống lâu thêm. Nhiều bạn đã mua rất nhiều cá, chim, cua, ghẹ, sò ốc… và đem ra sông, ra rừng thả cho các bạn sinh vật kia có được tự do. Nhờ vào năng lượng cầu nguyện và những công đức hồi hướng của bao nhiêu người mà giờ đây Sư Ông đang dần hồi phục sau cơn đột quỵ.

Nhân ngày Tiếp Nối của Sư Ông, nếu các bạn thương quý Sư Ông và muốn làm một điều gì đó có ý nghĩa để hồi hướng công đức cho Sư Ông sớm phục hồi sức khỏe thì các bạn hãy phát nguyện trở về với hơi thở, bước chân chánh niệm và chế tác năng lượng từ bi trong tự thân, buông bỏ những giận hờn, trách móc; nguyện tha thứ, bao dung với những lỗi lẫm của người khác. Nếu có một chút công đức trong hạnh từ bi này thì xin hồi hướng cho sức khỏe của Sư Ông được tăng trưởng.

Cũng nhân dịp này, tăng thân Làng Mai mong muốn kêu gọi những tấm lòng nhân ái từ khắp nơi trên thế giới hướng về đồng bào các tỉnh miền Trung. Từ năm 2016, vết thương do thảm họa Formosa chưa hết nhức nhối thì người dân nghèo bốn tỉnh miền Trung (Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh) lại gánh chịu những trận lũ lụt nặng nề. Gần đây nhất (tháng 9.2017), cơn bão số 10 lại đổ bộ vào các tỉnh miền trung, khiến cho tình cảnh của người dân nơi đây lại càng thêm khốn đốn.

Sư Ông và tăng thân Làng Mai niệm Bụt và chư Bồ tát để cầu nguyện cho đồng bào miền Trung (ngày 20.10.2016)

Để giúp sức cho đồng bào miền Trung vượt qua cơn bão lũ, xin các bạn hãy chung tay nối kết với chương trình GIỌT NƯỚC CÁNH CHIM. Được khởi động vào tháng 8 năm 2016, chương trình Giọt nước cánh chim đã mang hàng ngàn phần quà nhỏ cùng với lá thư của chương trình “Giọt nước cánh chim” – những giọt nước mang thông điệp của Hiểu và Thương gửi đến đồng bào miền Trung.

Tin vui vừa mới đến là một số các bác – cựu tác viên của trường Thanh niên Phụng sự Xã hội từ năm 1964 – thay vì sang Làng Mai Thái Lan để mừng ngày Tiếp Nối của Sư Ông, đã hồi hướng công đức bằng cách đem 2600 phần quà (từ tiền cứu trợ 60 ngàn USD do quý thân hữu xa gần đóng góp cho chương trình Giọt nước cánh chim) để giúp đồng bào miền Trung. Mỗi phần quà gồm một cái mền, một bao thư có 500.000 đồng cùng một lá thư Giọt nước cánh chim. Quý bác sẽ cùng Ni Sư Như Minh đem những phần quà ấm áp tình người ấy đến tận tay cho đồng bào vùng lũ từ ngày 9 – 11.10.2017.

Để đóng góp cho chương trình cứu trợ đồng bào miền Trung, xin gửi về cho Chương trình qua ngân hàng, địa chỉ như sau (xin ghi rõ: đây là tiền ủng hộ đồng bào miền Trung nhân ngày Tiếp nối của Sư Ông; và số phần quà mà bạn muốn đóng góp là bao nhiêu – mỗi phần quà trị giá 23 Euros hay 25 USD hay 500 000 đồng VN):

Tại Việt Nam, xin gửi vào tài khoản có tên sau: Đỗ Thị Hồng Vân
Tài khoản : 0421000419439
Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Hùng Vương, Tp. HoChi Minh;
E-mail: cxcaonguyen2013@gmail.com
Tel: (+84)0918 060 161

Ở Mỹ, xin gửi về địa chỉ: Thich Nhat Hanh Foundation (chương trình Giot Nước Cánh Chim – Love and Understanding), Deer Park Monastery, 2944 Melru Lane, Escondido CA 92026 USA ;

Ở châu Âu, xin gửi về địa chỉ:
Ban Cứu Bão Lụt – 13 Martineau , 33580 DIEULIVOL FRANCE
CBZ Village des Pruniers,
Banque CREDIT AGRICOLE – IBAN FR76 1330 6003 4242 9011 9901 196
BIC AGRIFRPP833

Xin thành kính tri ân.

Tăng thân Làng Mai.

 

Mùa thu 2017