Ấm áp tình người

Kính thưa quý vị thân hữu,

Sau lời kêu gọi của Chương trình Giọt nước cánh chim vào tháng 10 năm 2017, nhân dịp kỷ niệm ngày Tiếp nối lần thứ 91 của Sư Ông Làng Mai, rất nhiều tấm lòng đôn hậu, cảm thông đã đóng góp những giọt tình thương ấm áp để sẻ chia với đồng bào miền Trung đang phải gánh chịu nhiều khổ đau, mất mát trong mùa bão lũ.

Có những câu chuyện chúng con được nghe kể về những em bé như Bảo Đăng, Bảo Chân góp phần tiền quà của mình được 4 đôla 50 cent. Chưa hết, các bé còn đi giải thích và lạc quyên từng anh chị em của mình về chương trình Giọt nước cánh chim và các anh chị đã đóng góp người 90 đô la, người 110 đô la…

Với tình thương và sự yểm trợ hết lòng của quý vị thân hữu khắp chốn, trong các tháng 9, 10 và 11, đoàn cứu trợ của Chương trình Giọt nước cánh chim đã mang 2600 phần quà đến cho đồng bào vùng lũ, trong đó:

  • Tỉnh Hà Tĩnh: 1000 phần quà
  • Tỉnh Quảng Bình (huyện Tuyên Hóa, Minh Hóa): 800 phần quà
  • Tỉnh Quảng Trị: 400 phần quà
  • Tỉnh Thừa Thiên-Huế: Huyện Thủy Dương 200 phần quà, huyện Thủy Phương 200 phần quà
  • Tỉnh Thanh Hóa: Ngày 10 tháng 10 năm 2017, giữa lúc đang mưa bão, anh Chân Giác Hạnh, thầy Pháp Lộ và anh Sanh đã đến Vinh để đem quà cho đồng bào tại tỉnh Thanh Hóa, huyện Nông Cống (nơi mà gia đình Sư Ông đã sống từ năm Sư Ông 5 tuổi đến 16 tuổi). Tại đây đoàn đã chia sẻ gần 1000 phần quà gồm 500 ngàn đồng và một chiếc mền. Riêng có 25 gia đình vừa mất người cha là lao động chính, vừa bị sập nhà mà gia đình lại quá nghèo nên đoàn đã chia sẻ với mỗi gia đình 2 triệu đồng và một chiếc mền. Sau đó một tuần, Ni sư Như Minh tiếp tục mang thêm 300 phần quà nữa tới với đồng bào Nông Cống.
Đoàn cứu trợ đã vượt qua những đoạn đường đèo dốc với vô số điểm sạt lỡ do mưa lũ để đến với đồng bào vũng lũ tại tỉnh Thanh Hóa.
Tại đây đoàn đã chứng kiến cảnh hoang tàn do mưa lũ gây ra. Những vị trí lũ quét qua xô đỗ nhà cửa, cuốn trôi người, để lại cây rừng và đất đá tạo nên nền đất mới có nơi cao từ 1m đến 6m lấp vùi ruộng lúa, ruộng ngô và rau màu.

Đồng bào huyện Nông Cống, Thanh Hóa đang đọc lá thư Giọt nước cánh chim được gửi tặng kèm mỗi phần quà cứu trợ.
Đoàn cứu trợ đã đến thăm và tặng quà cho một số gia đình thuộc diện đặc biệt khó khăn tại Thanh Hóa

 

Tặng quà cứu trợ tại huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình

Mới đây nhất, cơn bão số 12 lại đổ bộ vào các tỉnh miền Trung, bao nhiêu làng xã ngập chìm trong nước lũ dài ngày, vườn tược nhà cửa và tài sản cũng cuốn trôi theo lũ. Trước tình cảnh đó, chương trình Giọt nước cánh chim lại tiếp tục lên đường để mang những món quà tình thương đến với đồng bào vùng lũ.

Để tiếp tục chung tay giúp sức cho đồng bào miền Trung  vượt qua cơn bão lũ, xin quý vị hãy nối kết với chương trình GIỌT NƯỚC CÁNH CHIM. Đóng góp cho chương trình cứu trợ đồng bào miền Trung, xin gửi về cho Chương trình qua ngân hàng, địa chỉ như sau (xin ghi rõ: tiền ủng hộ đồng bào miền Trung):

Tại Việt Nam, xin gửi vào tài khoản có tên sau: Tên người nhận ; Đỗ Thị Hồng Vân

Tài khoản : 0421000419439

Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Phú Thọ tp HoChi Minh;

E-mail: cxcaonguyen2013@gmail.com

Ở Mỹ, xin gửi về địa chỉ: Thich Nhat Hanh Foundation (chương trình Giot Nước Cánh Chim – Love and Understanding), Deer Park Monastery, 2944 Melru Lane, Escondido CA 92026 USA

Ở châu Âu, xin gửi về địa chỉ:

CBZ Village des Pruniers,

Banque CREDIT AGRICOLE – IBAN FR76 1330 6003 4242 9011 9901 196

BIC AGRIFRPP833

Ở Đức qua: Maitreya Fonds e.V.

Spenden-Konto: Munchner Bank e. G.

Konto-Nr. : 2 520 010

BLZ : 701 900 00

I BAN : DE 92701900000002520010

BIC: GENODEF 1M01

E mail: hilfe@maitreya-fonds.de

Ở Hà Lan xin gửi : Stichting Leven in Aandacht p/a Dorpsstraat 25, 7221 BN Steenderen. HOLLAND

E-mail: administratie@aandacht.net

Tăng thân Làng Mai xin thành kính tri ân.

Em là tất cả

 

 

Bình an, không vội vã

Bàn chân em trải dài trên lối nhỏ

Lặng nhìn bông hoa mà lòng thoáng nhớ

Người đi rồi nhưng hồn vẫn còn đây.

 

Trong từng nụ hoa, chiếc lá

Trên mảnh đất thân yêu

Người để lại bao điều

Con gói ghém cất sâu vào ký ức.

Lòng dặn lòng phải luôn tỉnh thức

Sống cho bền lý tưởng Thầy trao

Đừng để hư hao

tình chị,

tình em,

tình bằng hữu

dù vườn kia hoa nở vẫn chưa tròn.

 

 

Dù vườn kia hoa nở vẫn chưa tròn

thì tiết xuân vẫn mang mùa xuân trở lại

trong không gian,

trong cỏ cây,

trong hương hoa ấm áp tình người.

 

Bàn chân của Bụt

Bàn chân của Thầy

Em đi giữa mùa xuân

ấm áp nồng nàn như tình thương của mẹ

dịu dàng ngọt ngào như lời mẹ ru con.

Em là mùa xuân, là hơi ấm

là tình thương, là trẻ thơ

là hương của hoa,

của trời

của đất…

là bình an,

tĩnh lặng…

Em là tất cả

Em có trong tôi, trong tất cả mọi loài

(Chân Hội Nghiêm)

Con đường rộng mở

Thầy Chân Trời Phạm Hạnh, người Hà Lan, xuất gia trong gia đình cây Đỗ Quyên tại Làng Mai trong chương trình 5 năm dành cho người trẻ. Thầy đã hoàn thành chương trình 5 năm vào tháng 10 năm 2016 nhưng vì yêu cuộc sống xuất gia nên thầy đã chọn tiếp tục sống đời phạm hạnh. Thầy lớn lên trong một gia đình theo đạo Thánh Tông đồ (Apostolic), là đạo có nguồn gốc từ Thiên chúa giáo, dựa trên lời dạy của 12 vị Tông đồ của chúa Jesus. Thầy Chân Trời Phạm Hạnh là một vị xuất gia trẻ, rất năng động trong tu tập và phụng sự, nhất là đối với phong trào Wake Up.

Tôi vẫn còn nhớ rất rõ về cộng đồng mà tôi đã sinh hoạt hồi còn nhỏ. Muốn đến đó, chúng tôi phải leo cầu thang để đi lên một cái sảnh lớn có cửa sổ lắp bằng những tấm kính màu. Ở đó rất đông người, vừa lớn vừa nhỏ, mà trẻ con chúng tôi gọi là cô, chú hay bác. Vì còn bé nên tôi thường ngồi cạnh một anh lớn hơn và được cho ăn kẹo bánh, với điều kiện là tôi phải ngồi yên. Cảm giác mà tôi nhớ rõ nhất là tôi có thể được là chính mình, và được thương yêu. Ấn tượng và kinh nghiệm đó vẫn còn ở trong tôi, làm tôi thấy mình giàu có. Tôi không thể giải thích bằng lời một người theo đạo thánh Tông đồ (Apostolic) là gì, nhưng tôi chắc chắn rằng gốc rễ đó chính là nền tảng của cuộc đời tôi. Ba mẹ tôi thật sự đã làm hết khả năng để cho tôi những gì tốt đẹp nhất. Dù chúng tôi cũng có những lúc khó khăn, bão táp nhưng chúng tôi vẫn rất gần gũi với nhau.

Khi tôi tìm ra được Thầy và Làng Mai, tôi cảm thấy như mình đã về nhà. Những mảnh ghép như đã được ráp lại hoàn chỉnh và tôi có thể nhìn thấy chính mình trong một luồng ánh sáng thật mới mẻ. Điều đó thật rõ ràng và mạnh mẽ đến nỗi sau đó tôi đã trở thành một người xuất gia. Bây giờ thì tôi lại có duyên được trải nghiệm con đường tuyệt đẹp này với một cộng đồng thứ hai.

Là một người xuất gia, tôi sống trong một cộng đồng, đó là tăng thân của tôi. Mỗi hai năm một lần, tôi có thể về thăm gia đình huyết thống hai tuần. Hai tuần có vẻ hơi ngắn ngủi, nhưng tôi thường xuyên nói chuyện với gia đình qua mạng và ba mẹ cũng thường đến Làng thăm tôi. Vì thế tôi không thấy mình sống xa gia đình. Mỗi khi về thăm nhà, tôi có cảm giác như mình chưa bao giờ đi xa. Tuy vậy, mỗi khi về thăm nhà, tôi lại rất mong gặp lại cộng đồng Apostolic của mình. Trong một chuyến thăm nhà gần đây, tôi đã đến dự một buổi lễ Chủ nhật ở nhà thờ. Buổi lễ hôm ấy rất đặc biệt bởi vì ba tôi là người làm lễ. Dù ba tôi không còn đứng trong vị trí một giáo sĩ trong nhà thờ vì lý do sức khỏe, nhưng đúng ngày tôi về thăm nhà, ông lại được mời làm người giúp cho buổi lễ.

Sáng hôm đó, tôi ngồi cạnh mẹ trong nhà thờ. Cảm giác rất đặc biệt vì tôi lại được về nhà, với cộng đồng quen thuộc và chia sẻ khoảnh khắc ấy với ba mẹ. Bài giảng của ba tôi thật mạnh mẽ, đầy cảm hứng và rất thật. Giờ “Rondgang” đã đến, đó là nghi lễ rước bánh thánh (biểu tượng của lời Chúa dạy, nó có kích thước cỡ đồng kim loại 2 euro).

Ba tôi được mời giúp lễ. Mọi người lần lượt lên nhận bánh thánh trong khi ban đồng ca nhà thờ tiếp tục các bài thánh ca. Tôi ngồi chờ bên cạnh mẹ, lắng nghe. Đột nhiên tôi nhận ra mình là người cuối cùng đứng trong hàng. Mọi người trong hàng tôi đang đứng di chuyển lên rất chậm, có lẽ vì ba tôi làm gì cũng rất từ tốn. Những hàng khác đã xong hết rồi nên rất nhiều người đứng trước tôi đã đến rước bánh từ những người giúp lễ khác. Việc này làm tôi bị đặt trong một hoàn cảnh khó xử, bởi vì tự đáy lòng, tôi không bao giờ muốn làm phiền người khác, nhưng nếu tôi là người cuối cùng ở trong hàng, mà tôi lại cứ đứng chờ để được nhận bánh thánh từ ba thì mọi người trong cộng đồng sẽ phải chờ tôi. Nhưng dù sao đi nữa tôi cũng đang đứng đó, tôi đã trở về giữa môi trường apostolic thân quen sau một thời gian dài xa cách. Tôi, một thầy tu Phật giáo Apostolic, đứng xếp hàng để chờ đến lượt nhận bánh thánh từ chính cha mình.

Đây là khoảnh khắc dành cho tôi, đây là ba tôi… Tôi phải nắm lấy khoảnh khắc này, để nó không trôi qua một cách oan uổng!

Cuối cùng tôi đã đứng trước mặt ba tôi. Ba tôi nhìn vào mắt của tôi, thật lâu. Và tôi cũng nhìn sâu vào mắt của ba. Cả cộng đồng lặng nhìn hai cha con tôi. Một nụ cười, một sự kết nối giữa hai cha con. Tôi đứng đây, tràn đầy sức mạnh và niềm tin, và ba tôi cũng vậy, cũng đã lấy lại được sức mạnh của mình.

Khi tôi báo cho ba là tôi muốn xuất gia, ba tôi nói: “Có rất ít người thật sự dấn thân để thực hiện cho được những ước mơ sâu sắc nhất của cuộc đời mình. Ba rất hãnh diện về con. Ba ủng hộ con”.  Và tôi đã biến ước mơ đó trở thành sự thật, tôi trở thành một người xuất gia. Và tôi thấy, làm thầy tu thật thích.

Ba tôi đưa cho tôi chiếc bánh thánh và đọc: “Sự dâng hiến linh hồn con cho Thượng Đế đã được chấp nhận và khẳng định”. Bánh thánh trên tay, nét mặt của ba tôi… Trong khoảnh khắc ấy, thời gian như ngưng đọng: ba tôi và con trai, bao nhiêu tình thương ba đã dành cho anh em tôi, cố gắng rồi thất bại, rồi kiên trì làm lại lần nữa. Khoảnh khắc ấy là khoảnh khắc của một sự kết nối đích thực, của tình thương đích thực. Tôi nói: “Amen, thưa ba, con thương ba lắm!”.

Cả cộng đồng im lặng. Khoảnh khắc ấy rất riêng tư, rất thật, và đó chính là một món quà cũng rất thật.

Tôi nhận ra rằng tôi có thể hiến tặng nhiều hơn là tôi nghĩ, bằng cách chỉ cần là chính mình, chỉ tận hưởng không gian dành riêng cho mình. Tôi không cần phải phụng sự cho thế giới bằng cách làm cho tôi nhỏ hơn hoặc lớn hơn con người thật của mình. Tôi chỉ cần là chính tôi, và đó là cách tôi phụng sự chân thật nhất.

Chân Trời Phạm Hạnh

Đông du ký

Sư cô Trăng Linh Dị người Úc gốc Hoa, xuất gia trong gia đình Cây Trắc Bá (tháng 7/2014). Sư cô hiện đang tu tập tại xóm Mới. Dưới đây là bài viết của sư cô chia sẻ niềm vui khi đi khoá tu và thăm nhà lần đầu tiên kể từ khi xuất gia. Bài viết được Ban biên tập chuyển ngữ từ tiếng Anh.

Kính bạch Sư Ông,

Kính thưa quý thầy, quý sư cô,

Con kính cám ơn tăng thân tin tưởng và cho con có cơ hội được cùng sư cô Tuệ Nghiêm đi hướng dẫn khóa tu ở Quảng Châu, sau đó hành hương lên Cửu Hoa Sơn và Ngũ Đài Sơn, rồi cuối cùng được về Thượng Hải thăm gia đình trước khi trở lại Làng.

Khi nghe đến chuyến đi Trung Quốc, con hơi lo là mình sẽ bị nhịp sống hối hả, căng thẳng, và những ham muốn đời thường cuốn đi. Chỉ khi về lại xóm Mới, con mới thấy chuyến đi ấy là một liều thuốc bổ đến thế nào cho tâm bồ đề của con. Về lại Làng, trong con tràn đầy năng lượng, gặp lại quý sư chị, sư em con hạnh phúc vô cùng, rửa nồi thôi cũng làm cho con thấy vui! Những hành giả người Trung Quốc thường hay nói tới “lực gia trì” mà mỗi khi nghe nói đến con đều thấy có vẻ cao siêu mầu nhiệm. Giờ đây cuối cùng con đã hiểu ra đó chính là nguồn năng lượng phát sinh từ lòng tri ân sâu sắc đối với con đường mà mình đang nguyện đi theo.

Thăm nhà

Lúc ở Thượng Hải, sư cô Tuệ Nghiêm cùng con đi thăm và mừng sinh nhật 93 tuổi của bà ngoại con. Ngoại con bị lẫn nặng. Ngoại vẫn còn nhớ con, nhưng khi các cậu các dì hỏi: “Má tên gì? Hôm nay là sinh nhật ai?” thì ngoại đâm ra bối rối và lo lắng.

Con cho ngoại ăn bánh và thủ thỉ kể cho ngoại nghe về mấy hàng cây ở xóm Mới, về các sinh hoạt của đại chúng và luôn cả tiếng cười của quý sư cô dù biết tai của ngoại không còn nghe được. Mắt ngoại sáng lên rồi ngoại mỉm cười. Thình lình ngoại hỏi: “Mình sẽ hát một bài chứ?”. Thế là sư cô Tuệ Nghiêm, mẹ con và con bắt đầu hát bài “Ta hạnh phúc liền giây phút này” bằng tiếng Hoa. Mắt con nhòa lệ. Đó là lần đầu, mà có thể cũng sẽ là lần cuối con cho ngoại ăn. Một hành động nhỏ nhưng đã làm con thấy mình sẵn sàng hơn để nếu sau này khi ba mẹ con sắp qua đời, con sẽ biết cách giúp cho ba mẹ an tâm, và biết làm gì để đừng bị nỗi sợ hãi xâm chiếm.

Ông ngoại con ngồi đó yên lặng với nụ cười chấp nhận. Khi sư cô đứng dậy để sử dụng phòng vệ sinh, ông ngoại nhắc khẽ: “Bật đèn cầu thang lên cho sư cô thấy đường”. Bà ngoại con cũng hỏi: “Cả nhà ăn cơm tối hết chưa?”. Chao ôi, từ bé đến giờ con đã nghe ông bà thốt ra hàng ngàn lời chăm sóc, thương yêu dịu dàng như thế. Vậy mà sao trước đây con chưa bao giờ cảm nhận được điều này?

Chuyến viếng thăm Thượng Hải của con còn giúp cho tám anh chị em của ba con lần đầu tiên đến được với nhau trong suốt ba mươi năm. Con rất biết ơn ông bà tổ tiên đã gieo trồng những hạt giống lành nên các cô chú, bác của con ai cũng được an lành và hạnh phúc.

Các cô chú bác của con đều cùng nhận xét: “Thấy con hạnh phúc và thoải mái nhẹ nhàng hơn trước kia nhiều”. Có thể đối với mọi người hình tượng người tu là phải như vậy. Hay có lẽ trên thực tế con đã có sự chuyển hóa! Dù sao con vẫn thấy mừng khi biết trong lòng của những người thân có hình ảnh lành mạnh về người tu chứ không phải là hình ảnh của những “thầy tu giả” mà người ta thường nhắc đến ở Trung Quốc.

Hành hương

Vì hoàn toàn không có một khái niệm gì về chuyến đi nên ban đầu con hơi lúng túng một chút. Các tôn tượng Bồ tát hoành tráng và các ngọn núi phủ đầy mây rất là ấn tượng. Nhưng cảnh đám đông người mộ đạo tay cầm cả nắm hương nghi ngút khói chen lấn xô đẩy nhau, những vị thầy đứng bên thùng phước sương nhìn có vẻ chán chường, rồi những pho tượng đầy oai nghiêm nhưng lạnh lùng vô cảm chẳng làm con vui một chút nào. Con phải thực tập như thế nào để có mặt cho những cái ấy đây? Con cố hết sức giữ chánh niệm khi bước đi trên những con đường lên núi. May sao, sư cô dạy con quay về tiếp xúc với những cái đẹp và những tinh hoa của tổ tiên tâm linh đồng thời thực tập từ bi ở chốn đông người khi không có thiện cảm với những gì đang xảy ra.

Khi đến Ngũ Đài Sơn, con thấy quen thuộc hơn. Không khí mát lành, bầu trời trong xanh, mọi thứ đều đơn giản. Có nhiều quý thầy, sư cô từ nhiều truyền thống khác nhau cũng hành hương lên Ngũ Đài Sơn. Muốn lên tới mỗi đỉnh của Ngũ Đài Sơn phải chịu đựng một tiếng đồng hồ dằn xóc khi xe chạy trên những con đường sình lầy hiểm trở. Vào giữa tháng 9, đường đi đã đóng băng hết cả. Đỉnh núi phía Bắc (Bắc Đài) đã phủ đầy tuyết, và cây cối chỗ nào cũng hiếm hoi. Thế mới thấy chư Tổ đã từng quyết tâm dũng mãnh đến dường nào!

Chúng con được hai sư cô chùa Phổ Thọ đón tiếp. Đây là Phật học viện rất hưng thịnh và nổi tiếng là Phật học viện lớn nhất thế giới trong truyền thống Trung Hoa dành cho ni chúng. Ni trưởng sáng lập ra Phật học viện này là con gái của ông tỉnh trưởng đương thời. Trong thập niên 1920, ni trưởng đã vào đại học, một việc hiếm xảy ra trong hàng nữ giới Trung Hoa thời đó. Ni trưởng đã xoá đi định kiến cho rằng chỉ có những người phụ nữ nghèo khổ bất hạnh mới vào chùa tu.

Hai sư cô mời chúng con cùng thực tập địa xúc khi leo lên 1080 bậc thang hướng lên một trong năm đỉnh của Ngũ Đài Sơn thiêng liêng. Vừa đi vừa niệm danh hiệu đức Bồ tát Văn Thù, cứ mười bước thì lạy xuống một lạy.

Lúc mới bắt đầu, trong con khởi lên ý nghĩ “Ôi, các bậc thang ở đây dơ quá”. Nhưng rồi thấy quý sư cô chẳng chút ngại ngần nên con cũng làm theo. Rất nhiều vị xuất gia ở các truyền thống khác cũng thực tập như thế. Thực ra, thực tập như thế này cũng rất buông thư bởi vì con chỉ việc để cho từng bước chân mình “tan” vào trong đất. Con cũng rất tập trung, không hề bị khung cảnh bên ngoài lôi cuốn.

Thật chậm rãi và bình an, chúng con xuống núi. Dù đi ngang qua thùng rác, hay qua mấy chiếc cũi nhốt cáo để bán phóng sinh, chúng con vẫn an nhiên đi, thở, rồi lạy xuống. Bỗng dưng, con chợt nhận ra những bậc thang này cũng chính là những bậc thang mà Sư Ông, Hòa thượng Hư Vân và biết bao bậc tiền nhân, tổ sư đã từng bước qua. Con xúc động đến rơi nước mắt.

Một kỷ niệm khác ở Ngũ Đài Sơn để lại ấn tượng sâu đậm trong con là khi chúng con đi kinh hành quanh ngôi Đại Bạch Tháp. Ngôi tháp này có tầm quan trọng và ý nghĩa rất lớn. Người cô ruột 72 tuổi của con tu tập theo truyền thống Tây tạng đã phát tâm thực tập như vậy nên đoàn cũng thực tập theo.

Suốt hai tiếng rưỡi đi nhiễu quanh tháp, định tâm cũng có mà phân tâm cũng có. Có khi là cảm giác buồn tẻ, đau mỏi, có lúc cũng nếm được an lạc, thấy được cái đẹp; lúc khác thì thấy ngưỡng mộ rồi sau đó lại khởi tâm phán xét… Nhiều người đến rồi đi. Có người đi quanh một vòng, có người đi ba vòng, hoặc nhiều hơn, có người đi nhanh, có người đi chậm. Trời lúc mưa, lúc nắng. Một thế giới đang được thu nhỏ lại, trong khi bánh xe nguyện cầu vẫn tiếp tục quay.

Con rất hào hứng khi được viếng thăm chùa Nam Hoa nơi Lục tổ Huệ Năng giảng đạo. Sư cô Tuệ Nghiêm vẫn nhớ như in kỷ niệm của lần viếng chùa Nam Hoa cùng Thầy và tăng đoàn. Sư cô đưa mấy chị em đi trên con đường núi thật đẹp, quanh co xuyên qua một cánh rừng xanh tốt, một con suối róc rách để cuối cùng dẫn tới một thác nước lung linh huyền ảo! Bướm bay rập rờn khắp lối đi như muốn đùa bước chân người. Con cảm thấy mình có thể nếm được pháp lạc mà Thầy và quý thầy, quý sư cô đã từng nếm ngày xưa.

Lúc lạy xuống trước nhục thân của Lục tổ, trong con dâng lên lòng biết ơn sâu xa đối với bậc thầy cao quý, người đã thách thức quan niệm của Trung Hoa cho rằng chỉ những ai học vấn uyên thâm mới có khả năng giác ngộ.

Chúng con cũng viếng thăm chùa Vân Môn, nơi mà có lần Hòa Thượng Hư Vân đã trùng tu. Chùa nằm giữa những khu rừng xanh như ngọc, được bảo hộ bởi những gốc đa cổ thụ. Sư cô Tuệ Nghiêm giải thích “Em biết không, trong bài Tào Khê, ‘một dòng biếc’ chính là con suối có thật ngay trên đất chùa này đây!”. Đây là một hình ảnh rất thân thương đối với các vị xuất sĩ Làng Mai.

Khóa tu.

Sư cô Hoành Tu, trú trì chùa Thuận Đức (Hội đào tạo và tham luận Phật học), qua Làng Mai dự Đại giới đàn năm 2016 và nhận thấy pháp môn Làng Mai sẽ rất hữu ích cho giới cư sĩ Trung Quốc. Vì vậy, sư cô đã tổ chức một khóa tu tại chùa và mời quý sư cô Làng Mai sang hướng dẫn. Sư cô đã chuẩn bị mọi thứ từng li từng tí, từ hệ thống thông dịch cho đến các chậu nước rửa bát. Ngôi chùa nhỏ nằm giữa trung tâm một thị trấn khá sôi động. Đại chúng gần cả trăm người nêm chật ních hai tòa nhà nhỏ, từ đây có thể nghe nhạc từ các hàng quán ngoài phố vẳng vào. Mọi người được khuyến khích thực tập im lặng hùng tráng trong suốt khóa tu.

Thiền sinh rất khao khát tu tập. Họ đến sớm hơn cả nửa giờ để ngồi thiền, hát thiền ca rất hết lòng, và điều làm con ngạc nhiên là họ chịu mở lòng chia sẻ trong những buổi pháp đàm và thực tập Làm mới. Hạnh phúc nhất là khi nhìn thấy mọi người im lặng, thong thả rửa bát, trên môi luôn nở một nụ cười tươi. Nhiều thiền sinh tu pháp môn niệm Bụt A Di Đà nhẹ nhõm hẳn khi nghe rằng pháp môn họ đang hành trì và phương pháp niệm hơi thở không có gì trái chống nhau. Một sư cô người Trung Quốc chia sẻ là thiền sinh Trung Quốc rất nhạy cảm với từ “Chánh niệm” bởi nó khiến một số người nghe có cảm giác như pháp tu của họ là “tà niệm”. Vì vậy chúng con đã khéo léo dùng những từ như “ý thức”, “chú tâm” trong khi hướng dẫn.

Trong khóa tu, con đảm trách việc thông dịch. Trước đó, con tin chắc rằng mình chỉ đủ năng lượng dịch mỗi ngày một thời thôi. Con rất mừng khi thấy niềm tin đó tiêu tan. Có hôm, dù đã xong thời khóa trọn một ngày, buổi tối con vẫn tiếp tục dịch khi sư cô Tuệ Nghiêm và quý sư cô lớn ở chùa chia sẻ với nhau vì câu chuyện quá hấp dẫn. Con thậm chí còn “thông dịch” thành tiếng trong khi đang ngủ.

Một niềm vui khác là mẹ con đã từ Úc bay qua để theo phái đoàn trọn chuyến đi. Ba con cũng đến Ngũ Đài Sơn, và cũng tham dự một phần của khóa tu. Ba còn vui vẻ nhận làm nhiếp ảnh gia cho Tăng thân. Ngay cả mẹ kế của con cũng đến Ngũ Đài Sơn và khi đoàn về lại Thượng Hải, dì rất phấn khởi nhận cuộn giấy in kinh Phước đức và còn hăng hái học mấy bài tập trong Suối nguồn tươi trẻ do sư cô Tuệ Nghiêm giới thiệu.

Được theo sư cô Tuệ Nghiêm trong cuộc hành trình sống động như vậy đối với một sa di ni như con quả thật là một phước duyên. Con học cách sư cô giữ kỷ luật bản thân: đi đâu sư cô cũng duy trì ngồi thiền, thiền hành, tập thể dục, viết sổ công phu. Con thấy hễ có cơ hội là sư cô tận dụng để quay về với chính mình và thở: khi ngồi trong xe, khi trên máy bay, lúc đứng xếp hàng. Sư cô luôn sẵn lòng chia sẻ Phật pháp, thậm chí ngay khi đoàn đang bị thúc giục phải lên xe cho nhanh để khởi hành.

Con kính cám ơn Sư Ông, quý thầy, quý sư cô đã cho con có cơ hội được biểu hiện cùng tăng thân.

Chân Trăng Linh Dị

* Con xin dành tặng bài viết này cho bà ngoại con – Chen Yu Si-  với tất cả tình thương và lòng biết ơn. Bà vừa qua đời ngày 05.01.2017

Chỉ cần một hơi thở nhẹ

Sư cô Chân Trăng Chùa Xưa, một sư cô trẻ rất năng động và nhiều tâm huyết, đến từ Việt Nam. Sư cô hiện đang sống, tu học và phụng sự tại Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, Paris.

Tối làm biếng, màn đêm yên tĩnh đã phủ kín bên ngoài cửa sổ. Con đang ngồi trong phòng học viết lại nhật ký năm qua ở thiền đường Hơi Thở Nhẹ. Thật là một năm sống động!

Thiền đường mở cửa thường xuyên từ năm 2009. Hiện đang có mười sư cô – gồm hai sư cô người Pháp, một sư cô người Lào, một người Đức, một Thụy Sĩ và năm sư cô Việt Nam – cùng tu chung với hai chúng cư sĩ nam và nữ.

Thiền đường mở cửa từ sáng thứ Năm đến chiều Chủ nhật cho cư sĩ, thời gian còn lại được đóng cửa như nội viện cho quý sư cô. Chỉ có hai phòng sinh hoạt là thiền đường và nhà ăn, rộng chừng 40 mét vuông thôi, vậy mà có khi chứa được cả hơn trăm người. Nhất là vào dịp lễ Giáng sinh, Tết tây, Phật đản… thiền sinh đến càng ngày càng đông. Người Pháp đến đông hơn người Việt.

Tăng thân Tiếp Hiện Việt và Pháp là hai tăng thân yểm trợ và thực tập hết lòng cùng chúng con suốt năm qua. Mỗi chiều thứ Sáu, có ngồi thiền, tụng kinh bằng tiếng Việt. Mỗi sáng thứ Bảy tụng giới bằng tiếng Pháp. Thiền đường duy trì mọi sinh hoạt nhờ vào sự cúng dường tùy tâm của người cư sĩ. Mỗi tuần hai ngày quán niệm thứ Năm và Chủ nhật, quý cô chú và các bạn trẻ đem đến cho chúng con thức ăn chay, rau, nấm, củ quả tươi và gạo để chúng con có thể duy trì được cuộc sống và sự tu học. Chúng con chia sẻ trở lại bằng kinh nghiệm chế tác hạnh phúc và chuyển hóa khổ đau của mình, truyền cảm hứng cho quý cô chú, anh chị và các bạn trẻ. Tăng thân đã cùng nắm tay nhau đi qua biết bao nhiêu gian nan thử thách.

Sau này, khi rời khỏi thiền đường, điều con nhớ nhất sẽ là tình tăng thân ấy, mộc mạc và sâu sắc biết bao. Con sẽ nhớ con đường đổ dốc xuống dòng sông Marne, cội phong già xòe tán lá rộng chín vàng mỗi mùa thu, cụm tre xanh nuôi dưỡng cả đàn chim về nương náu hót líu lo bốn mùa và hoa nở khắp nơi trong vườn thiền. Nhớ mỗi buổi chiều, chị em đốt lửa nướng bánh tráng trước sân gạch; những buổi sáng chở nhau trên xe đạp, chạy dọc bờ sông ra đến hồ lớn ngắm thiên nga, hải âu bay lượn và hát cho nhau nghe bài hát Đi như một dòng sông.

Ở kinh đô ánh sáng nhộn nhịp này, nếu rời chánh niệm ra thì người ta rất dễ dàng bị xâm chiếm bởi khổ đau và thử thách. Hạt giống bạo động và sợ hãi được tưới tẩm quá nhiều. Ngoài ga tàu điện ngầm hay trạm xe bus, chỉ cần một người ho thật mạnh thì tất cả mọi người đứng quanh người ấy trong bán kính 5 mét đều giật mình lo ngại. Paris, chỉ cần gọi đến tên là thấy cảnh người đông đúc, nhộn nhịp, bon chen, quay cuồng suốt đêm ngày.

May thay, thiền đường Hơi Thở Nhẹ nằm ở vùng ngoại ô, trong khu vực khá yên tĩnh ven dòng sông Marne. Hạnh phúc lớn nhất là mười chị em xuất sĩ ai cũng ham tu, ham chuyển hóa, khao khát phụng sự giúp đời. Dù sự khác biệt về văn hóa, tính cách, sở thích, nền tảng gia đình huyết thống,… đem đến nhiều thử thách, nước mắt và nụ cười, nhưng tất cả đều cố gắng nâng đỡ nhau để xây cho vững tượng đài của tình thương đích thực.

Một hôm, giận sư cô trú trì quá, con vào phòng sư cô và thưa: “Sư cô ơi, con đang giận sư cô lắm, cho con được để hết cái năng lượng này lên vai sư cô được không?”. Sư cô hoan hỉ nhận lời. Sau khi xoa bóp cho sư cô khỏe lại, con thì thầm: “Sư cô kính thương, xin sư cô bớt cho tham vấn lại, sư cô lắng nghe khổ đau của thiền sinh nhiều quá, có ngày khi chuông im lặng hùng tráng thỉnh xong thì sư cô cũng tắt tiếng luôn không còn nói được, rất là mệt. Xin sư cô nghỉ ngơi thêm và cứ để cho thiền sinh đi theo thời khóa của đại chúng, nương theo lực tu tập của chúng mà chuyển hóa, có được không sư cô?”

Sư cô im lặng một hồi rồi trả lời: “Sư em thương, các sư em đang ở tuổi hai mươi, ba mươi, các sư em còn nhiều thời gian lắm. Sư chị đã 74 tuổi rồi, thời gian không còn bao nhiêu nữa. Nhiều người khổ quá, nhất là người trẻ, họ đánh mất giá trị tích cực của gia đình, những liên hệ tốt đẹp giữa con người… Xin sư em thông cảm chấp nhận cho sư chị.” Làm sao giận được nữa với hạnh nguyện lắng nghe của Bồ tát Quán Thế Âm nơi sư cô, con tiếc mình chưa nói được tiếng Pháp, nên chẳng giúp đỡ được sư cô nhiều đành lủi thủi đi ra.

Ở thiền đường Hơi Thở Nhẹ, chúng con được nghe pháp thoại của Thầy từ DVD vào mỗi thứ Năm, Chủ nhật và ngày xuất sĩ thứ Ba hằng tuần. Năm qua, chúng con có cơ hội học lại Duy biểu học, Lâm Tế lục, Quy Sơn cảnh sách và pháp thoại cho người xuất gia từ những năm mới lập Làng…

Đêm rằm, trăng sáng trong veo. Các sư chị, sư em ngồi nghe CD Thầy dạy Quy Sơn cảnh sách và để ánh trăng phủ lên tình thương. Giây phút hạnh phúc nhất vẫn luôn là những giây phút được thiền hành ven bờ sông Marne, ăn trong im lặng, ngồi thiền, thưởng thức hơi thở có ý thức và nghe pháp thoại của Thầy.

Một buổi sáng, khi ngoài trời còn giăng màn sương mờ thì đã có người gõ cửa xin vào thiền đường. Vị ấy ngồi gục đầu trong cơn bế tắc và trầm cảm. Chúng con mời trà, thỉnh chuông, hướng dẫn cách thở, cách buông thư, mở pháp thoại của Thầy cho vị ấy nghe, nhắc nhở, gợi lại biết bao nhiêu điều kiện hạnh phúc còn đang biểu hiện trong cuộc đời… Vài tiếng đồng hồ sau, khi phần nào đã thoát ra khỏi cơn xúc cảm, người ấy bộc bạch: “Sư cô ơi, tôi vừa mới từ địa ngục trở về, địa ngục có thật nơi trần gian này. Tôi khổ quá, tôi đã không thể làm gì ngoài việc đi bộ trong bóng tối suốt hơn bốn tiếng đồng hồ để tới được đây. Được nghe bài pháp của Thầy, nhận được nguồn năng lượng bình an từ các sư cô, tôi thấy mình như vừa sống lại. Đây là thiên đường đó sư cô!”. Chúng con mỉm cười, thở… phào, “Dạ!”

“Quý sư cô ơi, tại sao mình phải sống?” – Đó là câu hỏi mà chúng con nhận được từ một bạn trẻ Việt Nam, qua Pháp du học mới vài tháng và tìm đến thiền đường. Mất hơn 6 tháng, chúng con mới giúp em đi ra được khó khăn, nội kết trong lòng với ba, với mẹ, với bạn bè. Em mất lý tưởng sống, mất định hướng, không tìm được giá trị hạnh phúc đích thực của cuộc đời. Khi ngồi lắng nghe em kể khổ, thỉnh thoảng chúng con dừng em lại, chỉ cho em thấy chú sóc nâu đang chuyền cành ngậm hạt rất thích thú, đàn chim về trú đêm ríu rít trên đầu bụi tre, nhìn tia nắng vàng xuyên qua kẽ lá rơi xuống vai áo, nghe gió mát thổi qua tai, hướng dẫn em cách theo dõi hơi thở, nhận diện và ôm ấp cảm xúc mạnh… Em thực tập theo, từ đó mà em đã có thể cười trở lại, nụ cười trong veo của ngày xưa. Em được nhận tình thương của chúng con, tình thương không điều kiện. Bây giờ em đã có thể nói thương ba, thương mẹ, yêu đời, thích sống… Đó là món quà lớn nhất cho tăng thân. Em bây giờ trở thành một trong những thành viên tích cực của các buổi tu tập và sinh hoạt của tăng thân Vườn Bông – tăng thân của các bạn trẻ Việt Nam sang Paris du học và lập nghiệp.

Với con, mỗi khi trong lòng thiếu bình an, con hồi tưởng lại những kỷ niệm thời còn là sa di ni, còn được quanh quẩn theo chân Thầy, đi ngắm tuyết, leo đồi, hái mận, hái táo, ngắm hoa mùa xuân… là con vui trở lại. Nhớ ngày đầu tiên làm thị giả thiệt là… dỏm. Cứ tưởng làm thị giả bên ngoài thôi nên vào trong xe hơi con ngoẻo cổ vô thành xe ngủ ngon lành. Về đến xóm, Thầy gọi: “Thị giả, dậy con, tới nhà rồi”. Con “Dạ!” một tiếng thật to, rồi hồn nhiên ra về. Về đến phòng, sư chị hỏi: “Hôm nay sư em làm thị giả vui không?”, “Dạ, vui lắm, thích lắm sư chị ạ!”. Con kể lại cho sư chị nghe tất cả những gì đã diễn ra. Nghe xong sư chị rầy nhè nhẹ: “Thị giả ơi, đáng lý em phải ngồi cho tỉnh táo, chứ ai đợi Thầy gọi. Rồi thỉnh thoảng phải hỏi thưa Thầy có dùng trà không, hoặc nói chuyện nhỏ nhỏ với thị giả lái xe cho vị ấy được tỉnh táo sau giờ cơm trưa, để Thầy nghỉ ngơi chứ!” Con không bao giờ quên kỷ niệm ngày đầu tiên làm thị… dỏm ấy! Mỗi lần nhớ lại là thêm một lần thấy tình thương của Thầy thật bao la. Thầy chấp nhận hết những vụng về, thiếu sót của chúng con.

Hằng năm, trước Tết, chúng con đi đảnh lễ, chúc thọ, tặng sách mới xuất bản trong năm của Thầy, tặng mận của Làng đến quý Tôn túc các chùa và quý cha trong các nhà thờ. Không khí ấm áp bên tách trà nóng nhiều đạo vị, chúng con được nhận nhiều lời giáo huấn quý báu, được mời dùng cơm, được quý Tôn túc kể cho nghe bao nhiêu là chuyện tu hành của ngày xửa ngày xưa với Thầy. Quý Ôn luôn nhắc nhở chúng con: “Hẳn là chúng con đã có rất nhiều phước đức mới được làm đệ tử của Sư Ông Làng Mai, được tu học trong tăng thân vững mạnh, có được pháp môn rõ ràng vi diệu. Vì vậy hãy trân quý và tinh tấn thực tập”. Ra về, quý Ôn còn gói cho chúng con nào là bún khô, dầu ăn, bánh tét, trái cây, nồi chè, hộp bánh, mũ ấm… với đầy tình thương yêu và nâng đỡ. Quý Ôn còn lì xì cho chúng con nữa.

Giờ phút này, con mong cho mau đến Tết và khóa tu xuất sĩ, để được về Làng. Con sẽ có mặt đầy đủ trong mọi thời khóa, tận hưởng năng lượng hùng tráng của đại chúng. Con sẽ chẳng cần làm thêm gì nữa, chẳng cần nói gì hết, chỉ ngồi thở và ngắm nhìn tăng đoàn áo nâu hùng hậu, tận hưởng trọn vẹn cái hạnh phúc được trở về với tăng thân lớn. Trong pháp đàm, con sẽ ngồi nghe như uống từng lời của anh chị em, nghe thật trọn vẹn. Con sẽ ngồi ăn cơm thật chậm rãi giữa lòng tăng thân áo nâu. Con sẽ thở thật sâu, ý thức và buông thư trong giờ thiền tọa cùng đại chúng. Con sẽ đi dạo quanh những ngọn đồi, cánh đồng trải rộng của các xóm cùng các chị em. Con sẽ tận hưởng tất cả thật hết lòng, để “đong cho căng túi gió trăng, chế đầy mây và gầy thêm nhiều nắng” trong lòng mình.

Chân Trăng Chùa Xưa

Hạnh phúc của em và tôi

Niềm háo hức lại xuất hiện trong tôi khi giờ đi bộ thể dục như mọi ngày đã đến. Tôi vui là bởi vì tôi mới phát nguyện thực tập đi bộ như thế mỗi khi thời khóa buổi chiều kết thúc. Tôi quyết định thay đổi hình thức tập thể dục buổi chiều bằng việc đi bộ, vì tôi nhận thấy nó tốt cho tôi trong hiện tại. Bắt đầu bằng lời phát nguyện dũng mãnh đó cho nên chiều nào cũng thế, dù bất kể thời khóa gì thì ngay sau đó tôi cũng sẽ sửa soạn giày, tất, mũ, áo để bắt đầu tận hưởng những bước chân hân hoan qua các cánh đồng sắn xanh tốt, đi xuyên qua những đoạn đường cỏ quanh co dẫn ra đường lộ. Tôi thấy hạnh phúc lắm vì từ khi phát nguyện đến giờ, ngày nào tôi cũng thực hiện được điều đó và vẫn còn cảm thấy rất nhiều hứng thú với việc thực hiện nó. Đây là một niềm vui mới mà tôi dành tặng cho mình và để nuôi dưỡng mình hơn trong đời sống tu tập với những thời khóa công phu cùng đại chúng.

Thầy tôi đã dạy chúng tôi tự hỏi chính mình và phải trả lời thật lòng những câu hỏi. Trong những câu hỏi ấy có câu: mình có thực tập đi bộ mỗi ngày không? Bây giờ thì tôi đã có thể trả lời với tôi và cả Thầy trong tôi nữa rằng: “Dạ thưa có. Con đang đi bộ thể dục mỗi ngày vì con thấy đây là món ăn quan trọng mà con cần ăn và duy trì để có đủ năng lượng tươi vui mà hiến tặng sự có mặt của mình trong các thời khóa, cũng như trong những công việc mà đại chúng giao phó. Và cũng là để cho phẩm chất trong những giờ phút ấy được tốt đẹp hơn”. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn cảm thấy mình không thể không đi bộ mỗi ngày. Nó không thể thiếu không chỉ vì tôi phải đi bộ, bởi vì không đi bộ thì tôi vẫn có thể chọn cho mình một hình thức thể dục khác. Nó không thể thiếu ở đây là bởi trong tôi vẫn đang dạt dào năng lượng của ý chí cùng lời phát nguyện thật quyết tâm của mình. Tôi muốn thực hiện thành công với những phát nguyện mà mình đã đặt ra.

Chiều nay, niềm hân hoan đó còn tiếp tục biểu hiện trong tôi. Và tôi có thể cho mình là người hạnh phúc hơn ai hết trong những vị đi bộ với tôi hôm nay. Nhưng sư em của tôi đã đến và cho tôi cùng thừa hưởng một niềm hân hoan và hạnh phúc đang có trong em lúc đó, và nó có thể còn lớn hơn cơ! Em vừa nghe được tin Thầy sẽ về Thái Lan trong vài tuần nữa. Thông tin này đến quá nhanh và quá bất ngờ. Chính bản thân tôi khi mới nghe như vậy cũng có cảm giác không dám tin và lại còn cho rằng đó là một lời nói vui vì có thể trong em và trong người đã nói chuyện với em đang nuôi ước mong Thầy về Thái. Sự thực thì đó luôn là mong ước của cả Tăng thân Thái Lan mà. Tuy là vậy, càng tiếp tục đi trên đoạn đường đó thì niềm hân hoan và hạnh phúc của sư em càng làm tôi phải nên nhìn nhận nó là một sự thật, một sự thật đầy bất ngờ, khó tin nhưng dường như đang là đúng lắm. Và cũng bởi vì tôi đã cảm nhận được hạnh phúc của em lớn quá, thánh thiện quá khiến tôi phải thực sự trân trọng và hạnh phúc cùng em.

Mặc kệ chúng tôi có đề cập đến vấn đề gì thì em cũng chỉ từ đầu đến cuối vui vẻ với chuyện Thầy sẽ về Thái, xen vào đó còn là một hình ảnh phụ họa rất dễ thương với ánh mắt, nụ cười rạng rỡ đầy sung sướng của em. Không sung sướng sao được. Từ khi em được xuất gia đến giờ, em và các sư em của em chưa bao giờ được gặp Thầy. Chính vì thế mà hạnh phúc bây giờ của em không phải là của riêng em nữa, nếu không nói rộng hơn là của toàn thể đại chúng.

Tôi bắt đầu nghĩ đến các sư em của tôi, những em chưa từng được gặp Thầy qua hình hài năm uẩn một cách trực tiếp. Niềm sung sướng của em làm tôi bỗng dưng không chỉ sung sướng lây mà còn có cảm giác nghẹn ngào xúc động. Chính ánh mắt sáng long lanh và nụ cười tươi vui, mừng rỡ kia là một hạnh phúc em hiến tặng cho tôi và những người xung quanh em trong buổi chiều hôm nay. Không chỉ sáng cho người niềm vui mà với em, em đã cho những người như tôi một buổi chiều bình an nhẹ nhàng, một thứ năng lượng hân hoan, tinh khôi như làn hương thơm ngát lan tỏa trong không khí khởi đầu một ngày mới. Niềm hân hoan đó là cảm xúc tôi dành tặng cho sự kiện sắp xảy ra tại đây.

Thầy về là một điều hy hữu, là điều ước mà cả em và tôi chỉ có thể dám ước mơ mà chưa khi nào dám nghĩ nó lại đến nhanh như vậy. Hạnh phúc đến bất ngờ như vậy sao! Tôi đã nghĩ nếu thông tin này được truyền đi trong chúng thì chắc sẽ có những cảm nhận khác nhau. Tất nhiên là toàn thể đại chúng đều rất vui mừng. Nhưng có thể đâu đó bên cạnh niềm vui chan chứa hồn nhiên của các sư em tôi thì lại là những lo toan của quý sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị của tôi cho chuyến về của Thầy. Những người còn nhỏ như chúng tôi thật sướng vì chẳng bao giờ phải lo nghĩ xa đến vậy, chỉ thấy tin vui là tận hưởng và háo hức đón chờ một cách thật hồn nhiên vô tư. Làm em như em và tôi thật sướng!

Tôi nhớ đến buổi pháp đàm lúc chiều. Có một vị đã chia sẻ ý định sẽ làm gì để đón nếu Thầy về. Ngoài những sửa soạn về không gian bên ngoài để khi Thầy về có thể thoải mái tận hưởng nơi đây thì mình cũng nên chuẩn bị gì để có được một món quà quý giá và ý nghĩa hơn dâng lên Thầy. Và câu trả lời cũng được vị đó chia sẻ là hãy nên quay trở về mà sửa soạn lại mình và thực tập có phẩm chất hơn nữa với những hoa trái của hiểu biết, thương yêu, hạnh phúc để từ đó có thể làm thành một món quà xứng đáng dâng lên Thầy. Những điều chia sẻ đó đến bây giờ còn đọng lại trong tôi và tôi thấy mình cũng nên thực tập như vậy. Chúng tôi còn rất nhỏ để phải lo kế hoạch này kia nhưng chúng tôi có thể phụ giúp cho các sư anh, sư chị làm những công việc chuẩn bị ấy. Và quan trọng là chúng tôi sẽ đầu tư thực tập hơn để xứng đáng với món quà Thầy dành tặng cho chúng tôi lần này.

Cám ơn em đã cho tôi một buổi chiều đi bộ với rất nhiều niềm hân hoan. Tôi sẽ đầu tư vào sự thực tập của mình bằng cách mỗi ngày tham dự thời khóa hết lòng. Và nhất là duy trì thời gian đi bộ thể dục của mình, giữ gìn cho mình đủ sức khỏe để có thể đóng góp vào quá trình chuẩn bị chung của đại chúng. Tôi nghĩ, nếu tôi làm được như vậy có nghĩa là tôi rất hạnh phúc và vì thế mà Thầy trong tôi và cả em nữa cũng sẽ rất hạnh phúc. Tôi thầm biết ơn sự trở về của Thầy cho nơi này. Vì đó chính là hạnh phúc của em và của tôi!

Chân Trăng Núi Na

Một tâm mà động mười phương

(thương kính dâng tặng Sư Cô Chân Không)

Sư Cô Chân Không kính thương,

Con viết những dòng này khi vừa gấp lại trang cuối cùng bộ hồi ký 52-54 năm theo Thầy học đạo và phụng sự của Sư Cô. Dù đã biết Sư Cô qua những thông tin về Làng Mai, qua những bài viết, những trang sách của Sư Ông nhưng con vẫn không khỏi ngạc nhiên và ngưỡng mộ sự dấn thân đến tận cùng của Sư Cô. Mỗi lần nói tới Sư Cô, con luôn nhắc đi nhắc lại một câu hỏi: “Sư Cô làm sao có thời gian để vừa kêu gọi hoà bình, vừa cứu trợ người đói khổ, vừa phụ tá Thầy trong các chuyến hoằng pháp và tổ chức khóa tu khắp nơi trên thế giới như thế?”. Con đã tìm ra câu trả lời khi đọc xong toàn bộ hồi ký này.

Tuần tự từ tập một tới tập bốn, con như thấy mình là sự tiếp nối nhỏ bé của Sư Cô. Trong cách sống và cách phụng sự của Sư Cô, con tìm thấy rất nhiều tương cảm mà con không làm sao lý giải nổi. Mở đầu cuốn hồi ký, trong tập 1 “Con đường mở rộng”, Sư Cô nói về “gốc rễ”, những “hạt giống nhìn sâu” lúc còn nhỏ. Những câu hỏi của Sư Cô hồi bé thật dễ thương: “Má ơi, con dài bằng cái gối dài này rồi, sao con chưa được đi học?”. Đến lứa tuổi học trò, lứa tuổi đẹp nhất của đời người, Sư Cô đã tìm ra đường đi cho riêng mình: “khi có đường đi rồi, con trai con gái đều đẹp ra”. Con đường của Sư Cô là con đường của “khoa học và lý tưởng phụng sự người khổ”. Sư Cô vừa đi học, vừa đi dạy kèm thêm các em bé nghèo, lại phụ giúp những người nghèo khổ tìm kế sinh nhai.

Sư Cô Chân Không (Cao Ngọc Phượng) trong chiếc áo Tiếp Hiện

Tiếp đó Sư Cô góp phần thành lập Đoàn sinh viên Phật tử vào năm 1962 trong “cuộc đấu tranh bất bạo động chống độc tài”. Đỉnh điểm của cuộc đấu tranh là hình ảnh Bồ Tát Thích Quảng Đức và cô Nhất Chi Mai tự thiêu vì hoà bình. Rồi tới các hoạt động của Làng Tình Thương, Sư Cô đã cảm thấy “ruột đau chín khúc” khi chứng kiến những khổ đau của người dân Việt Nam dưới làn bom đạn. Bao nhiêu tâm huyết tuổi trẻ của Sư Cô đã cống hiến cho Chùa Lá Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội cùng những hoạt động dấn thân của Dòng tu Tiếp Hiện. Trong sự kiện Tết Mậu Thân, Sư Cô suýt thiệt mạng khi lọt vào vòng bom đạn trong lúc đi tiếp trợ đồng bào. Sau đó Sư Cô quyết định rời Việt Nam để tiếp tục kêu gọi hòa bình ở nước ngoài.

Tập 2 – “Bước chân hộ niệm, hơi thở từ bi” mở đầu bằng việc thành lập Phái đoàn Hòa Bình tại Paris nhằm cung cấp cho truyền thông những thông tin độc lập và khách quan nhất bên lề Hội nghị Paris về chiến tranh Việt Nam. Sau những chuyến “hành hương cho hòa bình” không mệt mỏi của Sư Ông, Sư Cô và các vị cộng sự, những cuộc thương thảo giữa phái đoàn với các bên tham gia đàm phán, hội nghị Paris cũng đã dần dần tìm được tiếng nói chung và đi tới ký kết. Song song với việc này, Sư Cô vẫn đại diện cho Sư Ông trong việc giúp đỡ các nạn nhân chiến tranh từ cả hai phía ở Việt Nam, vì “trẻ em và nạn nhân súng đạn của bên nào thì cũng khổ đau như nhau”. Sau ngày Việt Nam thống nhất, tất cả những hoạt động cứu trợ này bị ngưng lại, Sư Cô đã tìm cách “làm lại từ đầu” bằng hình thức khác, bắt đầu từ hoạt động cứu trợ thuyền nhân Việt Nam.

Hai tập cuối của bộ hồi ký nói về những việc làm rất nhân văn nhưng cũng rất thiết thực trong giai đoạn Việt Nam còn nhiều khó khăn. Đó chính là việc tìm cách hỗ trợ các văn nghệ sĩ cả hai miền, đặc biệt là các văn nghệ sĩ có tài nhưng bị “thất sủng” ở miền Nam và các văn nghệ sĩ Nhân Văn – Giai Phẩm ở miền Bắc. Sư Ông là người khởi xướng với lời dạy có đại ý rằng: “Những văn nghệ sĩ là những người tài và mỗi người là một tài năng duy nhất. Thế giới cũng chỉ có một Shakespeare, một Victor Hugo…Việt Nam cũng chỉ có một Trần Nhân Tông, một Nguyễn Du, một Nguyễn Trãi…nên chúng ta phải biết trân trọng những viên ngọc quý này”. Tình cảnh lúc này ở Việt Nam như có một màn mây u ám, chán nản bao trùm lên tâm lý các văn nghệ sĩ. Sư Cô đã nhẹ nhàng, tỉ mỉ viết từng dòng thư tưới tẩm những hạt giống yêu thương, hạt giống hạnh phúc, khuyến khích, động viên các văn nghệ sĩ với mong muốn khơi dậy lại nguồn cảm hứng sáng tác của họ.

Tập 3 – “Phương Hương xuôi vạn lý” ghi chép lại những bức thư trao đổi, những suy tư của người nhạc sĩ tài hoa Lê Thương và người em gái – “bác sĩ” Phương Hương (giả danh của Sư Cô). Con đã từng nghe nói tới nhạc sĩ qua trường ca “Hòn vọng phu” nổi tiếng nhưng không ngờ ông lại có gia tài đồ sộ như thế. Nhờ Sư Ông dạy mà Sư Cô đã “khám phá một bậc nghệ sĩ lớn, một bậc cha chú xuất sắc” là nhạc sĩ Lê Thương. Những đồng cảm của nhạc sĩ đối với nỗi đau của đồng bào thuyền nhân cũng được thể hiện qua bài hát “Biển sau giông tố”. Không chỉ có âm nhạc mà ông còn thể hiện quan điểm rất nhân văn và tiến bộ trong nhiều lĩnh vực, ví dụ như quan điểm coi việc đốt vàng mã như một nét đẹp truyền thống, một sợi dây liên kết giữa người âm với người dương. Sư Cô đã “chia sẻ về nếp sống hiện tại” ở “Nông trại Khoai lang” (Phương Vân Am) của Sư Ông và cộng sự với ông. Trong nhiều thư trao đổi, Sư Cô khuyến khích Nhạc sĩ Lê Thương kể lại hoàn cảnh ra đời kiệt tác “Hòn vọng phu” của ông. Nhạc sĩ Lê Thương sau đó cũng viết tặng cho Sư Cô một khổ riêng bổ sung cho phần “Hòn vọng phu 2: Ai xuôi vạn lý”:

Có thơ xuôi vạn lý
Nhắn
Phương Hương mấy lời
Đá non sông tình ý
Vẫn trơ gan dưới đời
Ghi nghĩa nặng tình sâu
Và lòng thân tín với nhau
Vững như đá tảng non đầu
Vẫn chan chứa Tình Bể Dâu

Đất bằng nổi sóng” – cuộc sống những năm cuối đời của nhạc sĩ không được bình an. Ông bị mất trí nhớ do căng thẳng và mất vài năm sau đó.

Tập 4 – “Cần Thơ về Kinh Bắc” ghi lại những trao đổi giữa người “bác sĩ” yêu thơ Hoàng Cầm là Cần Thơ (giả danh của Sư Cô) với nhà thơ Hoàng Cầm. Sư Cô đã chia sẻ rằng biết đến Hoàng Cầm lần đầu là do Sư Ông giảng về tập thơ “Tiếng Hát Quan Họ”, rồi sau đó đã xúc động sâu sắc khi đọc bài thơ “Em bé lên sáu” của nhà thơ. “Tiếng gọi của thơ” Hoàng Cầm đã gây thiện cảm đặc biệt tới Sư Cô. Từ đây, Sư Cô đã tìm mọi cách để “bắc một chiếc cầu” liên lạc với nhà thơ. Sau hơn một năm tìm kiếm, Sư Cô đã có địa chỉ của Hoàng Cầm và bắt đầu công việc “khôi phục niềm hứng khởi sáng tác” bằng “bức thư đầu”. Ngay từ bức thư trả lời đầu tiên, thi sĩ đã gửi tặng em gái Cần Thơ bài “Hương Xa” thể hiện sự bỡ ngỡ, ngạc nhiên:

Một áng hương Em gói lẵng xuân
Từ đâu? Bỡ ngỡ cảnh thiên thần?
Hương xa…lạ thế…mà thân thế
Quấn nửa tinh cầu nửa bước chân…

Và rồi là một loạt câu hỏi như “bài thơ nào đã tác động tới Em Thơ”, “hoàn cảnh gia đình thế nào”:

Bài thơ nào vỗ cánh trong Em?
Để mỗi mười năm một trắng đêm
Là đêm thao thức mơ về Nước
Thon dáng người
Thơ, gió động rèm.

Sau những trao đổi về “vài nét chính trong tác phẩm thơ của Hoàng Cầm”, nhà thơ đã dần dần gửi sang cho Sư Cô những bài thơ đã xuất bản cũng như rất nhiều bài chưa từng được công bố. Thi sĩ đã rất cẩn thận, căn dặn bài nào trong tập thơ nào, từ nào bị tam sao thất bản, quy cách lưu trữ, đánh máy ra sao…và đặc biệt là căn dặn không được in lời phê bình vào tập thơ nào. Cho dù đã tiên liệu được trước những rủi ro có thể xảy ra, nhưng “Hoàng Cầm bị bắt” vẫn là sự thật. “Nguyên do vì sao Hoàng Cầm bị bắt” khó có câu trả lời chính xác, nhưng có thể một phần là do nhạc sĩ Phạm Duy đã cho ra đời album (Hoàng) Cầm Ca trong đó có bài “Lá Diêu Bông” cùng với một album khác bao gồm các bài hát bị cấm khi đó. Bài “Lá Diêu Bông” theo như chính lời tác giả viết: “Lá Diêu Bông không thể ai tìm thấy tên trong bất cứ một sách vở tài liệu nào về khoa học tự nhiên…mà chỉ là một biểu tượng. Biểu tượng cho những mối tình cao đẹp, của những lý tưởng trong sáng, của những gì là Thật, là Lành, là Đẹp vốn có trong mỗi con người” nhưng nhạc sĩ Phạm Duy đã hiểu theo một ý nghĩa khác. Sau ngày đất nước đổi mới, giới văn nghệ sĩ cũng được cởi mở hơn, thi sĩ được ra tù và “từ từ phục hồi”. Cũng trong thời gian ấy, Sư Cô chính thức xuất gia (1988) và bận nhiều công việc Phật sự khác nên hạn chế dần những việc này. Cuối đời, “thi sĩ (đã) gặp em Thơ của Hoàng Cầm: sư cô Chân Không, Thầy và tăng thân Làng Mai tại Hà Nội tháng 1 năm 2005” và một lần nữa vào năm 2008 trước khi mất năm 2010.

Bên cạnh việc ủng hộ về mặt tinh thần, Sư Cô cũng tìm nhiều cách để hỗ trợ về mặt vật chất cho các văn nghệ sĩ trong giai đoạn đất nước cực kỳ khó khăn này. Những lá thư, những gói thuốc tây vẫn đều đặn được gửi về tận tay cho các văn nghệ sĩ mà người nhận không biết ân nhân của mình thực sự là ai. Những sáng tác mới, bản nhạc mới, bài thơ mới lại được ra đời và gửi tới Sư Cô như lời tri ân từ người nhận quà. Sư Cô thật sự xứng đáng với bài kệ truyền đăng của Sư Ông:

“Chân thân vượt thoát sắc cùng hình
Không tánh từ xưa vẫn tịnh minh
Ứng hiện trần gian trăm vạn lối
Từ bi phương tiện độ quần sinh.”

 

Sư Cô kính thương,

Qua bộ hồi ký, con thấy được rõ hơn những việc làm không biết mệt mỏi của Sư Cô để “mở thêm rộng lớn con đường” mà Sư Ông đã dày công xây dựng, như trong bài thơ cùng tên mà Sư Ông đã viết tặng khi Sư Cô xuất gia năm 1988:

Mái tóc vốn màu gỗ quý
Nay dâng thành khói trầm hương
Nét đẹp đi về vĩnh cửu
Vi diệu thay ý vô thường.

Sáng nay cạo sạch mái tóc
Mở thêm rộng lớn con đường
Phiền não vô biên nguyện đoạn
Một tâm mà động mười phương.

Những việc làm thầm lặng của Sư Cô dưới nhiều hình thức khác nhau giúp cho không biết bao nhiêu người, thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội vượt khó. Tấm lòng của Sư Cô đối với con nói riêng, đối với mọi người nói chung thật từ bi và rộng lớn.

Sư Cô đích thực là một vị Bồ tát!

Con – Hoàng Thanh Bình

Hà Nội, ngày 01/11/2017

Chú thích:

Tất cả các cụm từ “in nghiêng trong ngoặc kép” là tên riêng hoặc tên các chương trong bộ hồi ký.

Cái nhìn của Thầy

Con cứ ngỡ sẽ không được gặp Thầy khi Thầy ngã bệnh. Con cứ ngỡ sẽ không được gặp Thầy khi Thầy đang dần bình phục bên Pháp. Thế rồi, không thể ngờ là Thầy quyết định về Thái Lan. Sự có mặt của Thầy trên đất Thái đã làm cho chúng con không dám tin đó là sự thật. Nhiều người mừng quá, trông chờ ngày qua Thái mà không ngủ được.

Mỗi khi thiền hành hay đi dạo qua lối thất Nhìn Xa, đại chúng đều dừng lại ngắm Thầy và thở ba hơi thở thật sâu rồi mới đi tiếp. Nhiều lần đi qua đó, con thấy nhiều vị thiền sinh cũng bày tỏ niềm cung kính Thầy với sự thực tập ấy, những hình ảnh đó đã nuôi dưỡng con rất nhiều.

Ngày đầu đến Tu viện Vườn Ươm, con được thầy thị giả cho lên hầu thăm Thầy, lòng vừa mừng, vừa bối rối. Mình sẽ nói câu gì, kể chuyện gì cho Thầy nghe, rồi … làm sao nhỉ! Nhưng được lên thăm Thầy là một niềm hạnh phúc mà trong cuộc đời con chưa có niềm hạnh phúc nào lớn hơn.

Khi đến thất Nhìn Xa, còn một giờ nữa mới đến phiên trực của thầy H.N nên chúng con chờ ở ngoài. Con đứng bên cửa ngắm nhìn Thầy. Lúc ấy sư cô Đ.N đưa khay thức ăn của Thầy tới, sư cô nhường cho con bưng khay nên con được vào thăm Thầy sớm trước một giờ. Tối hôm đó, con được quỳ một bên nhìn Thầy, được nắm tay Thầy, được hầu Thầy dùng bữa. Vẫn như ngày nào, Thầy chỉ muốn tự mình lấy thức ăn. Thầy không thích thị giả đứng hầu cơm cho mình mà muốn các thị giả cùng ăn cơm với mình. Con đã ăn trước đó nên được ngoại lệ, cầm đôi đũa và thỉnh thoảng giúp Thầy tí xíu.

Con còn nhớ năm năm trước, khi sáu anh em con được lên chơi với Thầy ở Nội viện Phương Khê trước khi về Việt Nam, đó là một buổi chiều bình yên và đẹp lạ. Thầy nấu cơm, kho măng đãi anh em con, bữa cơm không có gì nhiều mà sao ngon đến thế. Ăn xong thầy trò uống trà và Thầy đọc một bài thơ rất cũ của một cố thi sĩ (mà con không nhớ rõ tên) cho chúng con nghe. Thầy đọc thuộc lòng, thích quá nên con xin Thầy đọc lại từng câu để ghi xuống:

“Hôm nay đưa tiễn các anh đi
Không biết tôi nên nói những gì
Với cả những lời thơ quyến luyến
Cũng là thêm bận phút phân ly
Lạnh quá, gió chiều nay lạnh quá
Đường dài phong cả một trời sương
Các anh lát nữa hay mai mốt
Hay có khi nào nhớ đến tôi
Nhớ đến một nhà thơ lận đận
Đọc thơ này lại một lần thôi
Sẽ thấy hồn tôi quyện ở thơ
Và theo dõi mãi đến bao giờ
Các anh trở lại và mang lại
Đạt nguyện cho bao kẻ đợi chờ.”

Bây giờ lên thăm Thầy, không có cơm trắng, măng kho hay thơ gì cả nhưng tất cả như còn ở đó. Cái nhìn của Thầy, cái đưa tay ra cho người học trò nắm như đang gửi gắm hết tình thương và sự tin cậy của Thầy nơi những người học trò. Con nghèo từ, lại dốt thơ văn nên không có từ nào để diễn tả hết được cái nhìn ấy của Thầy. Con chỉ cảm nhận được một điều, trong cái nhìn tràn đầy chánh niệm ấy, Thầy trân quý sự có mặt của người học trò, và người học trò trong khoảnh khắc ấy cũng nhìn Thầy với đôi mắt đó. Thầy trò nhìn nhau, vậy mà hiểu, không cần nói năng gì.

Tối hôm đó, con được ở lại trong thất Nhìn Xa đến quá nửa đêm, đó là khoảng thời gian dài nhất con được ở bên Thầy, được ngồi đó cầu nguyện cho giấc ngủ của Thầy, vì con không biết làm gì khác. Mọi công việc chăm Thầy đã có các thầy thị giả đảm trách. Ngồi đó nhìn Thầy ngủ con mới biết giấc ngủ quý biết dường nào. Con niệm đức Bồ tát Quán Thế Âm gia hộ cho Thầy được ngủ ngon, không bị đau nhức. Con cũng thầm cảm ơn các huynh đệ thị giả, các anh em của con không phải làm thị giả với trách nhiệm mà với cả một tấm lòng, thương quý sự có mặt của Thầy. Dù Thầy ngủ được hay không ngủ được, hai anh em thị giả vẫn túc trực bên Thầy.

Bấy nhiêu năm được duyên lành nương tựa Thầy tu học, con học được cách đối xử của Thầy với những người đệ tử, chắc chắn còn ở đó nhiều cái đẹp khác của Thầy mà con chưa học được. Ở nơi đó, Thầy là một nguồn suối của chánh niệm, gần Thầy, tự khắc thân tâm của chúng con được an trú trong hiện tại, không còn rong ruổi nữa. Thầy là một tấm gương sáng, gần Thầy, tự khắc chúng con nhìn lại những vụng về, thiếu sót của mình để thực tập sao cho xứng đáng là con của Thầy. Thầy là biển Từ mênh mông, gần Thầy, những khổ đau, những lỡ lầm của chúng con được ôm ấp và tha thứ. Thầy là sức sống, gần Thầy, ngọn lửa Bồ đề tâm trong chúng con được thắp sáng và vững bền.

Khi ở xa Thầy, con thực tập để thấy Thầy trong con, con là sự tiếp nối của Thầy; còn được ngồi bên Thầy, con trân quý từng giây, từng phút sự có mặt của Thầy. Con xin chắp tay cảm tạ những hạt bụi nào, những giọt sương nào, những ngọn lá nào đã đến với nhau làm nên pháp thân mầu nhiệm ấy.

Chân Minh Hy

Vào dòng rong chơi

Sau buổi ăn sáng, tôi nhẹ nhàng bước vào văn phòng. Vừa mở cửa, tôi đã nghe tiếng điện thoại reo vang trong nắng sớm. Tin vui đem lại từ cô Hạnh Lưu: “Vài ngày nữa thôi Sư Ông sẽ đến Làng Mai Thái Lan”. Sau khi biết chắc chắn đó là sự thật, chúng tôi ai cũng tấm tắc: “Ôi! thật mầu nhiệm! Ôi! thật mầu nhiệm!”. Không riêng tôi mà tất cả bảy chị em đều tràn ngập hạnh phúc, cảm nhận rõ tình thương của Người bao phủ mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Nếu gọi tên Thầy con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay”. Chưa gọi tên Thầy, chỉ mới nghe tin Thầy về thôi mà các sư em tôi đã hân hoan trong niềm vui sướng: “Sư cô ơi! Mình đi hết cả chúng qua Thái Lan thăm Sư Ông nhé sư cô”. “Nhưng,…tài khoản mình trong ngân hàng gần hết rồi đó”, sư cô Trí Duyên nhỏ nhẹ, e ngại pha lẫn chút lo lắng (vì sư cô làm thủ quỹ đó mà). Tôi trả lời không cần đắn đo, suy tính: “Không sao… không sao! Bụt sẽ cho mình lại thôi, chúng ta ao ước muốn được thăm Sư Ông từ lâu rồi phải không?” Chị em chúng tôi đã bắt đầu xây ước mơ về Làng Mai ở Pháp thăm Người từ ngày hay tin Người bị bịnh. Chúng tôi đã chờ đợi… chờ đợi… và bây giờ cơ hội đã đến thật rồi! Tôi quay qua sư cô: “Thỉnh sư cô Trí Duyên cùng đi cho vui nữa nhé!” (Bởi vì thường thường sư cô ít khi đi đâu, rất tiết kiệm và giữ gìn cho đại chúng). Tất cả đều quay qua nhìn sư cô chờ đợi, sau vài phút sư cô chỉ mỉm cười. Chúng tôi cùng hiểu đó là dấu hiệu của sự đồng ý…

Sư em Phát Nghiêm chắp tay lên tiếng ngay: “Con xin phép quý sư cô, mình có nhiều dầu olive lắm, cho con mang qua cúng dường đại chúng Thái Lan nha. Mình gởi biếu quý sư cô Diệu Trạm, Long Thành, quý thầy Từ Hiếu nữa sư cô nhé”. Sư em quay qua nhìn tôi với nụ cười rạng rỡ… (tình thương của tri khố là rứa đó).

Sư em Trăng Sông Hồng tiếp theo: “Sư cô ơi! Luôn tiện con nhờ quý thầy ở Hong Kong giúp mình mua thêm mấy cái đồng hồ treo tường, nhờ quý thầy đem qua Thái rồi mình mang về Úc cho thiền sinh ở đây thỉnh về nhà thực tập, sư cô nhé.” Tôi thầm cám ơn các sư em tôi đã luôn nghĩ đến mọi người ở khắp nơi.

Chiều hôm ấy, sư em Trăng Thường Trú cười tủm tỉm cho tôi biết đã mua được bảy vé máy bay qua Thái Lan. Niềm vui lan tỏa khắp cả xóm Bạch Vân. Còn bảy ngày nữa chúng tôi mới lên máy bay, thời gian như chậm lại, như đùa với lòng háo hức mong được gặp Sư Ông, mong được hòa vào dòng chảy lớn của tăng thân. Tuy vậy, năng lượng hạnh phúc, bình an của Người đã tràn về trong mỗi chúng tôi, trên mỗi chiếc lá, nụ hoa và len lỏi qua rừng cây, trong từng hơi thở ngay bây giờ và ở đây rồi.

Cuối cùng, chúng tôi đã đến Làng Mai Thái Lan. Sáng nay, 14 tháng 12 năm 2016, tất cả mọi người cùng nhìn về hướng Sư Ông đang ngồi chứng minh buổi lễ truyền giới Sadi và Sadi nữ. Chắc chắn mỗi người có những cảm xúc khác nhau. Riêng tôi, cảm giác thật bình lặng, tưởng như mới gặp Người hôm qua. Đôi mắt ấy vẫn sáng tinh anh như ngày nào, dáng ngồi vẫn kiên định; và tình thương yêu, che chở cho tất cả chúng tôi, những người con còn non dại vẫn dũng mãnh biết bao.

Ý thức gọi tôi về, nghe rõ tiếng Thầy đang nói trong tôi: “Con ơi! Thầy luôn ở trong con và con đang tiếp tục đưa Thầy đi tới tương lai”, khi bàn tay tôi đặt lên mái đầu xanh của em. Với đôi bàn tay búp sen chắp lại, em xin được làm con Thầy, để hôm nay em được tiếp nhận giới Sadi nữ. Niềm tin vào Thầy, vào con đường này đang rúng động trong tôi, cùng hòa với hơi thở ý thức của em, đang quỳ gối chờ đợi cắt mái tóc xanh…

Nhìn các sư em hồn nhiên tung tăng, tíu tít cười đùa như “cá được trở về với nước” trong đại chúng lớn, hạnh phúc trong tôi cũng dâng đầy không kém như khi tôi gặp lại “những người xưa”, từ thuở tôi mới về Làng. Khi ấy, Làng vỏn vẹn chỉ có hơn mười chị em, lại đang có nhiều khó khăn với hàng xóm vì họ chưa hiểu được pháp môn của Làng. Thêm vào đó là những thiếu thốn về cả vật chất lẫn nhân sự, thời khóa và công việc thì dày đặc trong các khóa tu và lễ hội, nhưng niềm vui và hạnh phúc thì quá dư thừa. Đến nỗi các thiền sinh đến Làng tu học thắc mắc hỏi: “Ô! Năng lượng các sư cô làm sao mà nhiều thế, nơi nào, chương trình nào cũng thấy các sư cô xuất hiện và luôn cười được như vậy?” Những kỷ niệm vui trong tôi ùa về khi nhìn thấy “những người xưa ấy vẫn còn đây”. Trong tôi dâng lên niềm biết ơn các sư chị, sư em đã chấp nhận, thương yêu và nâng đỡ, để tôi cùng được đi chung một lối. Nụ cười vừa hé mở, hơi thở buông thả nhẹ nhàng cho đôi bàn chân tôi thêm sức sống trong những bước thiền hành vững chãi trên con đường còn thơm mùi đất mới, khi mặt trời vẫn còn đang say ngủ sáng nay.

Về lại Nhập Lưu, thấy các chú thợ đang loay hoay lắp ráp, lên khung cho dãy nhà mới. Sau hai năm chờ đợi thủ tục xin giấy phép, công trình xây dựng nhà khách đã được bắt đầu giữa tháng 12 năm 2016 và hy vọng đến tháng 7 năm 2017 sẽ hoàn tất theo như hợp đồng đã ký. Đó là niềm vui chung cho Nhập Lưu cũng như các tăng thân cư sĩ trong nước Úc. Bên cạnh đó, chú Vinh và Khoa – là con trai mà cũng là đệ nhị thân của chú, đã đến Nhập Lưu từ giữa tháng Chín tới giữa tháng Mười một. Tuy mùa đông đã qua nhưng chú vẫn còn sợ lạnh. May thay, tình thương con quá lớn đã giúp chú vượt qua bức tường sợ lạnh ấy. Chú đã giúp xây dựng một nơi đậu xe có ba chỗ, cộng thêm một kho chứa dụng cụ máy móc vừa đẹp, vừa rất khang trang rộng rãi, ai đến cũng khen. Chú có nhiều tài năng và khéo tay nên không cần có bằng cấp gì vẫn làm ra được những công trình hoàn hảo. Khoa có nhiều ý tưởng mới và rất thương cha nên hết lòng giúp sức. Qua đó, các sư cô thấy rõ sự tiếp nối của chú trong Khoa thật rõ ràng, như Sư Ông từng dạy “cha có trong con và con có trong cha”, không thể bỏ ai ra khỏi ai được. Có lẽ hai cha con có nhiều chuyển hóa và hạnh phúc trong thời gian ở Nhập Lưu nên con đã dẫn cha về dự An cư kiết đông 2016- 2017 trọn ba tháng với quý thầy xóm Thượng – Làng Mai, Pháp.

Tuy thiền viện Nhập Lưu có số lượng các vị xuất sĩ ít nhất so với những trung tâm khác, nhưng Nhập Lưu vẫn đang nhẹ nhàng, vững chãi vươn mình theo tinh thần tùy duyên và tùy hoàn cảnh cho phép. Dù chỉ có bảy chị em nhưng chúng tôi vẫn cố gắng duy trì, tổ chức những ngày chánh niệm vào thứ Năm và Chủ nhật hằng tuần tại thiền viện và ở những nơi nào cần đến chúng tôi. Những chuyến hoằng pháp vào tháng Tư và khóa tu gia đình ở Cave Hill Creek (một khu nghĩ dưỡng gần Nhập Lưu) vào tháng Chín hàng năm đã mang lại thật nhiều an lạc, hạnh phúc và niềm tin cho những người mới tiếp xúc lần đầu với pháp môn và với tăng đoàn. Đây cũng là cơ hội cho những người đã thực tập lâu năm được trở về cùng tăng thân tắm mát trong dòng sông hiện pháp lạc trú. Hạnh phúc của chúng tôi là sau mỗi khóa tu lại có thêm người tiếp nối đường đi khi nhận “Năm phép thực tập chánh niệm” để mang về thực tập với gia đình.

Lễ Bông hồng cài áo năm nay, số người về tham dự lên đến 300, ngoài dự tính của chúng tôi. Lễ Tắm Bụt cũng vậy, số người tham dự đông hơn năm ngoái, thiền đường hết chỗ phải ngồi ra tận hành lang. May quá, chúng tôi vừa đổ xi-măng làm hành lang mới, chỉ hai tháng trước ngày lễ Bông hồng cài áo theo yêu cầu của Hội đồng thành phố.

Bên cạnh đó, còn có những chuyến hành hương 50 hoặc 100 người đi bằng xe bus lên thăm thiền viện. Thời gian từ phố lên đây (rừng) mất hơn sáu tiếng vừa đi vừa về. Vì vậy, chúng tôi cố gắng hướng dẫn ngày “chánh niệm cấp tốc” cho họ. Nhìn ai cũng hết lòng lắng nghe, ham thực tập và thích thú khi ra về, chúng tôi cũng vui lây, quên hết mọi mệt nhọc trong ngày. Các sư cô rất ngạc nhiên khi thấy những người vừa mới tới, tuy chưa được hướng dẫn tổng quát mà ai cũng đều biết thực tập nghe chuông và ăn cơm im lặng trong chánh niệm. Chúng tôi lên tiếng khen ngợi thì nhiều vị nở nụ cười sung sướng, khoe rằng: “Chúng con bước lên xe bus là được trưởng đoàn dặn dò liền là chùa này khác chùa ở phố đó nhe, nghe chuông là phải đứng lại lắng nghe hơi thở và ăn cơm thì không được nói chuyện ồn ào. Các sư cô ăn chung với mình đấy nên phải nhớ nhé”. À thì ra là thế!  Thiền sinh dưới phố, khi có thân nhân, bạn bè từ xa về thăm đều đưa lên tu học với Nhập Lưu. Khi ai đó có khó khăn, khổ đau, thì Nhập Lưu là nơi cho họ trở về tiếp nhận hạnh phúc và chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau ấy. Nhập Lưu cũng là nơi để những ai nghe nói đến Làng Mai về thực tập cho biết pháp môn Làng Mai ra sao.

Nhập Lưu đang giữa mùa hạ, mùa mà những ai ở Úc đều lo lắng và sợ hãi khi lửa dễ bắt cháy trên những cánh đồng cỏ khô bát ngát, và những cánh rừng rộng thêng thang. Những cơn gió mạnh cuốn hút bụi đường tạo thành những cơn lốc xoáy đưa vào không gian mênh mông, làm cho những thân cây cũng phải nghiêng ngã uốn mình chìu theo từng cơn bão gió trong nắng hạ, những hạt nắng óng ánh rơi trên những nhánh lá xanh cùng nhau nhảy múa khúc hát vô sinh. Tuy thiền viện tọa lạc trong cánh rừng rộng bao la hơn 45 mẫu nhưng chúng tôi không lo lắng. Những thứ cần thiết đã sẵn sàng trong túi đãy, chỉ cần nhận được tin “khẩn” của phòng chữa cháy là chúng tôi lên đường “tỵ nạn” ngay thôi. May mắn thay, trước khi vào hạ, những cơn mưa đã đổ về làm tràn đầy các hồ nước trong đất Nhập Lưu sau vài năm khô cạn vì hạn hán. Màu xanh của nước là màu trời xanh biếc, những bông hoa li li khoe sắc thắm dưới ánh nắng chan hòa của mùa hạ đã thu hút những loài chim trời quay về đoàn tụ dưới bầu trời tĩnh lặng, bình yên.

Sư Ông vẫn thường nhắc chúng tôi: “Hạnh phúc không phải là hạnh phúc riêng”. Chúng ta có trong nhau, chúng ta đều cần nhau. Nhờ nương vào pháp môn “đi như một dòng sông” với mái chèo chánh niệm Thầy đã trao ấy, chị em chúng tôi có thêm năng lượng và sức mạnh để vượt qua những khúc sông đầy cám dỗ, khó khăn và thử thách của cuộc đời.

Cúi đầu với lòng kính ngưỡng chân thành, kính cám ơn Thầy đã trao truyền cho chúng con những kinh nghiệm, những tuệ giác của Người, để hôm nay và ngày mai, chúng con có thể mang những bông hoa hiểu biết và trái ngọt thương yêu hiến tặng cho mọi người và mọi nơi.

Chân Thuần Tiến

Phần V

Tình yêu dành cho đất mẹ không còn là ý niệm về môi trường

(Dưới đây là bài phỏng vấn của Jo Confino cho Guardian Professional Network.
Theo guardian.co.uk thứ Hai, ngày 20 tháng 2 năm 2012.)

Thiền sư Nhất Hạnh nói để đối phó với những thách thức của môi trường, chúng ta cần có một cuộc cách mạng tâm linh.

Thiền sư Nhất Hạnh có 70 năm kinh nghiệm thực tập thiền và chánh niệm. Từ Thầy tỏa ra một sự bình an và tĩnh lặng lạ thường. Đây là con người đang sống những gì mình nói, con người được giới Phật tử coi như một vị Bồ Tát, không ngừng tìm kiếm những cách thức tốt nhất để giúp người.

Ngay từ những ngày tháng trực tiếp sống và đối mặt với cuộc chiến thảm khốc tại Việt Nam, vị Thầy hiện đã 86 tuổi này đã phát nguyện cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp hòa bình và hóa giải xung đột. Năm 1967, mục sư Martin Luther King đã đề cử Thầy cho giải Nobel Hòa Bình vì theo Mục sư “Những phát kiến cho hòa bình của Thích Nhất Hạnh, nếu được áp dụng, sẽ dựng nên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản.

Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi những năm gần đây, Thầy không chỉ chú trọng tới việc hòa giải xung đột trong mối quan hệ giữa người với người, mà còn hướng sự quan tâm tới hành tinh xanh của chúng ta – nơi nương náu của mọi loài.

Thầy, như hàng ngàn thiền sinh và đệ tử vẫn gọi, thấy rằng vì đời sống thiếu ý nghĩa, thiếu sự liên hệ mật thiết với nhau mà chúng ta trở thành con nghiện của chủ nghĩa tiêu thụ. Chúng ta cần phải nhận ra và ứng phó với những áp lực mà chúng ta đang gây cho Trái đất nếu nhân loại muốn sống sót.

Điều mà đạo Bụt có thể đóng góp cho nhân loại là nhận diện những khổ đau ta đang gánh chịu và một con đường thoát khổ là trực tiếp đối diện, mà không phải tìm cách trốn tránh hay khỏa lấp bằng những  công việc, mua sắm, giải trí hay chăm chút làm đẹp. Những ham muốn về danh vọng, giàu sang, quyền lực và tình dục chỉ có tác dụng tạo nên ảo giác về hạnh phúc mà không phải là hạnh phúc đích thực, kết cục chỉ làm trầm trọng thêm những cảm giác trống trải, xa cách.

Thầy lấy ví dụ câu chuyện của một tỷ phú, điều hành một trong những tập đoàn lớn nhất Hoa Kỳ. Ông này tới tham dự một khóa tu với Thầy, kể về những khổ đau, lo lắng và nghi ngờ của ông. Ông nghĩ rằng mọi người đến với ông chỉ vì muốn lợi dụng, nên ông chẳng có ai để làm bạn.

Trong một cuộc phỏng vấn tại Làng Mai –  một trung tâm thiền tập của Thầy gần Bordeaux, Thầy đã chỉ rõ tại sao chúng ta lại cần một cuộc cách mạng tâm linh khi phải đối mặt với vô số thách thức về tình trạng môi trường hiện nay.

Trong khi các chuyên gia khác chỉ tập trung nói về sự phức tạp và khó khăn của vấn đề, như sự hủy diệt của hệ sinh thái, nạn tuyệt chủng của hàng triệu loài sinh vật, thì Thầy nhìn xuyên suốt được vấn đề hóc búa này, và chỉ cần một “lát dao bén’ của Thầy là có thể tháo gỡ được.

Vượt thoát ý niệm “môi trường”

Thầy nói rằng chúng ta phải vượt thoát ý niệm về môi trường, vì điều này khiến mọi người có cảm tưởng bản thân mình và Trái Đất là hai thực thể riêng biệt và trái đất phải phục vụ cho con người.

Chỉ khi ta công nhận con người và hành tinh này hoàn toàn là một và đồng nhất thì mới thay đổi được được tình trạng.

Thầy nói: “Bạn đang mang Mẹ Đất trong bạn. Mẹ Đất không ở bên ngoài. Mẹ Đất không chỉ là môi trường. Mẹ Đất là bạn. Nhìn bằng tuệ giác tương tức đó, chúng ta mới có thể thực sự truyền thông với Mẹ Đất, đó là hình thức cầu nguyện tối ưu nhất. Trong mối tương quan này, bạn có đủ tình thương, sức mạnh và sự thức tỉnh để thay đổi cuộc sống của bạn. Thay đổi, không chỉ là thay đổi những yếu tố bên ngoài ta.

Trước hết, chúng ta cần có chánh kiến – cái thấy đúng – để vượt thoát mọi ý niệm, kể cả ý niệm về có và không, về tạo hóa và tạo vật, về tâm và vật. Tuệ giác này rất cần cho sự chuyển hóa và chữa lành. Chúng ta sợ hãi, xa cách, hận thù, sân giận là do cái thấy sai lầm cho rằng chúng ta và Trái Đất là hai thực thể riêng biệt, Trái Đất chỉ là môi trường. Chúng ta coi mình là tâm điểm và muốn làm điều gì đó cho Trái Đất để chúng ta có thể sống sót. Đó là cái thấy nhị nguyên.

Vì vậy để cứu lấy Đất Mẹ, bạn hãy thở vào, ý thức về cơ thể bạn và nhìn sâu vào cơ thể để thấy rằng bạn là Trái Đất, và tâm thức bạn cũng là tâm thức của Trái Đất. Không chặt phá rừng, không làm ô nhiễm nguồn nước – chừng ấy chưa đủ.”

Đặt cho thiên nhiên một giá trị kinh tế là chưa đủ

Mùa xuân này Thầy sẽ tới nước Anh để hướng dẫn một khóa tu 5 ngày và một ngày hội thảo về chánh niệm trong lĩnh vực giáo dục. Thầy nói hiện nay trong giới kinh tế và kinh doanh xuất hiện trào lưu cho rằng cách tốt nhất để bảo vệ hành tinh là đặt cho môi trường thiên nhiên một giá trị kinh tế, như vậy thì chẳng khác nào băng bột lên một vết thương.

“Tôi không nghĩ là biện pháp đó đem lại hiệu quả. Chúng ta cần một sự thức tỉnh và giác ngộ thực sự để thay đổi cách suy nghĩ và nhìn nhận sự việc của chúng ta.

Muốn thay đổi tận gốc thì thay vì đặt lên cho những khu rừng và thảm san hô những trị giá nào đó, ta phải thương yêu Đất Mẹ trở lại. “Trái Đất không thể được miêu tả bằng vật chất hay tinh thần. Vật chất và tinh thần chỉ là khái niệm. Thực chất chúng là hai mặt của cùng một thực tại. Cây tùng kia không chỉ là vật chất, bởi vì trong nó có chứa cái thấy biết của nó. Một hạt bụi không chỉ là vật chất bởi từng nguyên tử trong hạt bụi đều là một thực thể sống và có trí thông minh. Khi ta nhận ra những đức hạnh, tài năng và vẻ đẹp của Mẹ Đất, thì trong ta sẽ nảy sinh một cái gì đó. Cái đó là sự tương quan mật thiết giữa ta với Đất Mẹ, là tình thương của ta dành cho Đất Mẹ. Chúng ta muốn được kết nối, muốn tương quan, muốn được là một, đó là ý nghĩa của tình thương. Khi thương một người nào đó, ta muốn nói ta cần người đó, ta muốn nương tựa vào người đó. Ta làm tất cả vì lợi ích của Đất Mẹ và Đất Mẹ sẽ làm tất cả cho sự an vui của chúng ta”

Trong giới kinh doanh, Thầy lấy ví dụ  của Yvon Chouinard, người sáng lập và sở hữu của công ty may mặc Patagonia. Ông đã kết hợp giữa việc phát triển kinh doanh thành công với sự thực tập chánh niệm và từ bi. Thầy khẳng định: “Làm giàu theo cách không tàn phá, đề cao công bằng xã hội, làm tăng sự hiểu biết, giảm thiểu khổ đau đang tồn tại quanh ta là điều ta có thể thực hiện được. Nhìn cho sâu, ta thấy ngay trong thế giới kinh doanh ta có thể mang lại nhiều hạnh phúc cho ta và cho người khác. Và như vậy thì công việc của ta có ý nghĩa.”

Thầy, người đã viết hơn 100 cuốn sách, chỉ ra rằng sở dĩ ta đánh mất sự tương quan mật thiết với nhịp điệu tự nhiên của Đất Mẹ là do rất nhiều căn bệnh thời đại gây ra và thậm chí là do ta đổ lỗi cho Đất Mẹ một cách vô thức mà ta không hề hay biết, cũng giống như ta hay đổ lỗi cho những khổ đau bất hạnh của ta là do cha mẹ gây ra.

Trong bài viết Lời Khấn Nguyện Đất Mẹ mới đây, Thầy viết “Trong chúng con, có những người oán hận Mẹ vì mẹ đã sinh ra họ và làm họ khổ, đó là bởi vì họ chưa có khả năng hiểu được Mẹ và chưa biết trân quí Mẹ.”

Chánh niệm giúp ta thiết lập lại mối tương quan mật thiết giữa ta và Đất Mẹ

Thầy đưa ra rất nhiều bằng chứng để chứng tỏ chánh niệm có thể giúp loài người tiếp lập lại mối tương quan mật thiết giữa mình với Đất Mẹ bằng cách sống chậm lại và trân quí tất cả những món quà mà Đất Mẹ hiến tặng cho ta.

“Rất nhiều người đau khổ cùng cực mà không biết là mình đang đau khổ. Họ cố gắng che đậy nỗi khổ đau bằng cách bận rộn. Nhiều người ốm đau bệnh tật chỉ vì họ xa lánh Đất Mẹ. Thực tập chánh niệm giúp chúng ta tiếp xúc được với Đất Mẹ trong ta và sự thực tập này có thể giúp chữa lành bệnh tật. Quá trình trị liệu, chữa lành cho con người phải được tiến hành đồng thời với việc chữa lành cho Đất Mẹ. Đây là tuệ giác và ai cũng có thể thực tập được. Sự giác ngộ này đưa tới sự thức tỉnh cộng đồng. Trong Đạo Phật, thiền là một sự thức tỉnh, thức tỉnh một sự kiện là trái đất đang lâm nguy, mọi loài sinh vật đang trong tình trạng nguy kịch.”

Thầy lấy một ví dụ rất đơn giản và bình dị, là việc uống một ly trà cũng có thể giúp chuyển hóa cuộc đời một con người nếu người đó thực sự để hết tâm ý vào việc uống trà.

“Khi có chánh niệm, tôi thưởng thức ly trà sâu sắc hơn.” Thầy nói và rót cho mình một ly trà rồi chậm rãi nhấp ngụm đầu tiên. “Tôi có mặt hoàn toàn trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây, không bị cuốn đi bởi sợ hãi, buồn đau, dự án, quá khứ và tương lai. Tôi có mặt cho sự sống. Khi ta uống trà, giây phút uống trà là giây phút mầu nhiệm. Ta không cần nhiều quyền lực, danh vọng hay tiền bạc để có thể hạnh phúc. Chánh niệm có thể giúp ta hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Mỗi giây phút đều là giây phút hạnh phúc. Chúng ta hãy thực tập để những người khác theo đó cùng thực tập theo. Chúng ta hãy dành ra vài phút để thực chứng sự thực này.”

Cần phải xử lý cơn giận trong tự thân trước khi muốn trở thành một nhà hoạt động xã hội hiệu quả

Trong hàng thập kỷ qua, Thầy đã dày công phát triển dòng Đạo Bụt Dấn Thân mà nền tảng là sự thực tập 5 nguyên tắc đạo đức – 5 phép thực tập chánh niệm hay còn gọi là 5 Giới – rất rõ ràng và quan trọng đối với việc giải quyết công bằng xã hội.

Tuy nhiên, Thầy nhấn mạnh, nếu các nhà hoạt động xã hội và môi trường muốn làm việc có hiệu quả, trước tiên họ phải xử lý cơn giận trong họ. Chỉ khi nào phát khởi được tình thương và lòng từ bi đối với chính bản thân mình, ta mới có khả năng đối phó với những lực lượng mà ta qui trách nhiệm đang làm ô nhiễm biển và chặt phá rừng.

“Trong Đạo Bụt có nói về hành động cộng đồng. Khi có một điều gì đó sai lầm đang diễn ra trên thế giới, chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng đó là chuyện của người khác, người khác làm mà không phải là ta. Nhưng qua cách sống hàng ngày của ta, ta cũng đang góp một phần vào sai lầm ấy. Nếu ta có khả năng hiểu ra sự thật này, rằng không chỉ ta đang khổ mà người khác cũng đang khổ thì đó đã là một tuệ giác.

Khi thấy ai đó đang khổ, ta không muốn trừng phạt hay lên án người đó, mà ta muốn giúp người đó bớt khổ. Nhưng nếu chính ta đang đầy sợ hãi, giận hờn, vô minh và đau khổ thì ta làm sao giúp được người khác? Khi có hạnh phúc, ta nhẹ nhàng hơn, tươi cười hơn, ai cũng dễ chịu khi ở gần ta và ta có khả năng giúp đỡ người khác. Những nhà hoạt động và tranh đấu cần phải thực tập tâm linh để có khả năng nuôi dưỡng hạnh phúc, xử lý khổ đau và giúp người bớt khổ, như vậy công việc phụng sự thế giới của họ mới có hiệu quả. Nếu trong ta còn đầy giận dữ và bất mãn thì ta không thể làm được gì cả.”

Tiếp xúc Bản môn

Điểm chính trong bài giảng của Thầy là, trong khi sống và sinh hoạt trong thế giới tích môn (thế giới phân biệt, lưỡng nguyên), ta cần hiểu rằng hạnh phúc, an lạc của ta tùy thuộc vào việc nhận diện và tiếp xúc với “bản môn”. Điều này rất quan trọng. “Nếu ta có khả năng tiếp xúc sâu sắc với tích môn – một chiếc lá, một bông hoa, một viên sỏi, một tia nắng, một con chim, ngọn núi, dòng sông và chính thân thể ta – thì khi đó ta cũng đang tiếp xúc được với bản môn. Bản môn không thể được diễn tả là con người hay phi con người, là vật chất hay tinh thần, chủ thể nhận thức hay đối tượng nhận thức. Ta chỉ có thể nói rằng nó luôn luôn tỏa sáng và tự tỏa sáng. Tiếp xúc với bản môn, ta cảm thấy hạnh phúc, thoải mái như con chim tự do trên bầu trời, như con nai được tự do trên đồng cỏ. Ta biết rằng ta không cần phải tìm kiếm bản môn ở ngoài ta, bản môn luôn có trong ta và trong mỗi phút giây.

Trong khi tin rằng có một phương cách tạo ra mối tương quan mật thiết hơn giữa loài người và trái đất, Thầy cũng thấy được một hiểm họa thực sự đang xảy ra là con người vẫn tiếp tục lối sống tàn hoại và nền văn minh này sẽ tới ngày sụp đổ.

Thầy nói tất cả những gì chúng ta cần làm là thấy được rằng chúng ta không làm chủ được trước những phản ứng của thiên nhiên đối với những loài sinh vật khác. “Khi nhu yếu sinh tồn bị thay thế bởi lòng tham lam và ngạo mạn thì bạo động sẽ phát sinh và luôn đưa tới những hủy diệt không đáng có. Chúng ta đã học bài học rằng gây bạo lực cho con người và cho những loài sinh vật khác chính là ta đang gây bạo lực với chính ta, còn khi ta biết bảo hộ mọi loài thì ta cũng đang bảo hộ chính ta.”

Lạc quan trước nguy cơ thảm hỏa

Trong thần thoại Hy Lạp, khi Pandora mở hộp quà, tất cả tai họa được thoát ra ngoài và tràn xuống trái đất. Chỉ có một thứ còn sót lại, đó là “hy vọng”.

Thầy rất rõ ràng khi khẳng định duy trì niềm lạc quan là điều rất cần thiết nếu chúng ta muốn tìm một con đường thoát khỏi nguy cơ hủy diệt do khí hậu thay đổi thất thường, mà điều này sẽ dẫn đến những biến động tiêu cực lớn lao của xã hội.

Tuy nhiên, Thầy không ngây thơ để không nhận ra rằng những lực lượng hùng mạnh vẫn đang tiếp tục không ngừng trừng phạt chúng ta và đẩy loài người tới bờ vực thẳm.

Trong cuốn sách nổi tiếng viết về môi trường, cuốn Hướng Đi Của Đạo Bụt Cho Hòa Bình và Môi Sinh (The World We Have), Thầy viết: “Chúng ta đã tạo nên một hệ thống xã hội mà ta không làm chủ được. Ta để cho tiện nghi vật chất làm chủ đời mình. Để áp lực đè nặng và biến mình thành nạn nhân, nô lệ”.

Chúng ta tạo nên một xã hội mà người giàu càng giàu thêm và người nghèo càng thêm túng quẫn. Ta chỉ biết chăm chút lo cho riêng mình, và chỉ thấy những cái lợi trước mắt mà quên đi những hậu quả về sau, chúng ta ít khi để tâm đến số phận của người khác, đến tương lai của hành tinh mẹ của chúng ta. Chúng ta có khác gì những con gà đang bị nhốt trong chuồng và đang giành xé nhau một vài hạt bắp mà không biết rằng lát nữa mình sẽ bị giết làm thịt.

______________________________________________

dịch từ: Beyond environment: falling back in love with Mother Earth